Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những nỗi khổ sở mới

❊ ❊ ❊

Đại tá Schröder thích thú theo dõi khuôn mặt nhợt nhạt với đôi mắt thâm quầng của trung úy Lukáš. Còn trung úy thì lúng túng không nhìn thẳng vào đại tá, ông đưa mắt nhìn trộm sang phía khác, như thể muốn tìm một cái gì, nhưng mắt ông dừng lại ở sơ đồ phân bố quân ở trại quân đội, đó cũng là vật trang trí duy nhất trong văn phòng của đại tá.

Ở trên bàn phía trước đại tá có mấy tờ báo với những bài báo được gạch chân bằng bút chì xanh. Đại tá nhìn chúng rồi quay sang trung tá Lukáš và bảo: “Như vậy anh đã biết là lính hầu của anh đang bị bắt giam và rất có thể sẽ bị chuyển đến tòa án của sư đoàn, phải không?”

“Vâng ạ, thưa đại tá.”

“Tất nhiên là,” đại tá nói dứt khoát và khoái trá nhìn gương mặt trắng bệch của trung úy, “giải quyết thế thì việc ấy cũng chưa thể kết thúc được. Điều rõ ràng là dân chúng địa phương rất bực bội vì vụ này của lính hầu của anh, và việc này có liên quan cả đến tên anh, thưa trung úy. Ban chỉ huy sư đoàn đã gửi cho chúng tôi một tài liệu, còn ở đây chúng tôi có một số báo viết về việc đó. Anh có thể đọc to lên cho tôi nghe.”

Đại tá đưa cho trung úy Lukáš một tờ báo có bài viết được gạch chân. Trung úy bắt đầu đọc tên bài báo Cái gì đảm bảo cho tương lai của chúng ta bằng giọng đều đều đơn điệu, hệt như khi đọc câu “Mật có nhiều dinh dưỡng và dễ tiêu hóa hơn đường.” trong sách tập đọc của trẻ con.

“Bài ấy ở tờ Pester Lloyd⦾, có phải không?” đại tá hỏi.

“Vâng, thưa đại tá,” trung úy trả lời và tiếp tục đọc.

Việc lãnh đạo chiến tranh đòi hỏi cộng tác của tất cả các tầng lớp nhân dân của nhà nước quân chủ Áo–Hung. Nếu muốn nhà nước an toàn thì tất cả các dân tộc phải ủng hộ lẫn nhau và điều đảm bảo cho tương lai của chúng ta nằm chính ở sự tôn trọng tự nguyện tự phát giữa các dân tộc. Các binh sĩ của chúng ta đang dũng cảm tiến lên ở ngoài tiền tuyến; sự hy sinh lớn nhất của họ là điều không thể, nếu mà ở hậu phương, tức là ở tuyến tiếp viện quân sự và chính trị của các quân đội vẻ vang chúng ta, không có sự đoàn kết, nếu mà sau lưng quân đội có những phần tử phá hoại kết cấu vững chắc của nhà nước, làm suy yếu quyền lực nhà nước bằng tuyên truyền kích động và hoạt động ác ý, gây mâu thuẫn trong liên minh các quốc gia của Đế chế chúng ta. Trong giây phút lịch sử này, chúng ta không thể im lặng nhìn nhóm người vì lý do dân tộc địa phương mà muốn phá hoại công việc chung, gây cản trở cho cuộc chiến đấu của tất cả các dân tộc chúng ta trong vấn đề trừng phạt công minh bầy lũ khốn kiếp đã tấn công không lý do Đế chế của chúng ta để cướp đi tất cả mọi di sản văn hóa và văn minh. Chúng ta không thể thờ ơ bỏ qua những biểu hiện ghê tởm của bọn bệnh hoạn chỉ có mong ước duy nhất là phá vỡ tinh thần nhất trí trong trái tim của các dân tộc chúng ta. Tờ báo của chúng tôi đã nhiều lần có dịp đưa tin về hiện tượng này, cả về việc các cơ quan quân đội đã phải thẳng tay can thiệp như thế nào để chống lại những cá nhân ấy của các trung đoàn lính người Séc, những kẻ không hề quan tâm đến truyền thống vẻ vang của trung đoàn mà lại hung hăng gây bạo loạn một cách vô nghĩa, khiến cho người dân các thành phố Hungary của chúng ta căm giận dân tộc Séc, một dân tộc mà tự bản thân nó không có tội lỗi gì và luôn luôn đứng vững vàng vì lợi ích của Đế chế. Điều này đã được chứng tỏ bằng hàng loạt các vị tướng quân sự tài giỏi người Séc, chúng ta nhớ đến những danh tướng vẻ vang như nguyên soái Radecký và những người bảo vệ khác của Đế chế Áo–Hung. Đối diện với những tấm gương xán lạn này là một vài kẻ vô lại thuộc hạng đồi bại, tục tằn, vô học của xã hội Séc, những kẻ lợi dụng Thế chiến, tình nguyện gia nhập quân đội để có thể phá hoại tinh thần nhất trí của các dân tộc trong Đế chế, và chúng làm những việc đó với bản năng thấp hèn nhất của mình. Chúng tôi cũng đã có lần viết về những cuộc gây rối loạn của trung đoàn số… ở thành phố Debrecen⦾, những hành động hỗn loạn ấy đã làm chấn động Quốc hội Hungary và đã bị Quốc hội lên án, sau này ở ngoài mặt trận, quân kỳ của trung đoàn đã bị kiem duyet cat bo Ai đã gây ra tội lỗi ghê tởm ấy? kiem duyet cat bo Ai đã đẩy những người lính Séc đến kiem duyet cat bo Hành vi trắng trợn của bọn người nước ngoài trên đất nước Hungary của chúng ta đã thể hiện rõ rệt nhất qua vụ hỗn loạn ở Királyhida. Những người lính ở trại quân đội tại Bruck an der Leitha đã tấn công và hành hạ ông thương gia Gyula Kákonyi ở Királyhida là người dân tộc nào? Điều tra tội ác này dứt khoát phải là nghĩa vụ của các cơ quan thẩm quyền, kể cả việc hỏi Ban chỉ huy quân đội, mà chắc chắn cũng đang giải quyết vụ này, yêu cầu cho biết xem trong trường hợp gây kích động có một không hai chống lại người dân của Vương quốc Hungary này thì trung úy Lukáš đóng vai trò gì. Theo thông tin của phóng viên chúng tôi tại địa phương, người đã thu thập được nhiều tài liệu về toàn bộ vụ gây hỗn loạn rõ ràng gây phẫn chí dân chúng trong thời gian nghiêm trọng hiện nay, thì tên của trung úy được nhắc đến thành phố trong mối liên quan đến những sự kiện xảy ra những ngày gần đây. Độc giả của Pester Lloyd chắc chắn sẽ quan tâm theo dõi quá trình điều tra và chúng tôi muốn khẳng định với độc giả là sẽ thông báo tỉ mỉ về sự kiện hết sức quan trọng này. Nhưng đồng thời, chúng tôi cũng chờ đợi thông báo chính thức về tội ác đã xảy ra đối với người dân Hungary ở Királyhida. Việc Quốc hội Hungary sẽ xem xét vấn đề này là điều hiển nhiên, để cuối cùng chỉ rõ rằng, trên đường qua Vương quốc Hungary ra mặt trận, binh lính người Séc không được phép coi đất nước của Thánh Stefan⦾ là cái gì thuộc quyền sở hữu của mình. Nếu như một số thành viên nào đó của một dân tộc đã thể hiện sự liên minh các dân tộc trong Đế chế của chúng ta bằng cách đẹp đẽ như thế, và cho đến tận bây giờ vẫn chưa hiểu được tình hình, thì tốt nhất họ hãy im đi, vì trong thời chiến thì viên đạn, dây thòng lọng, nhà tù và lưỡi lê sẽ dạy những kẻ như họ biết thế nào là tuân lệnh và phục tùng lợi ích tối cao của nhà nước chung của chúng ta.

“Ai ký tên dưới bài báo, hả trung úy?”

“Béla Barabas, biên tập viên và Nghị sĩ quốc hội ạ, thưa đại tá.”

“Đấy là con thú nổi tiếng, trung úy ạ. Nhưng mà trước khi bài báo này lên Pester Lloyd thì nó đã được đăng ở tờ Pesti Hirlap⦾ rồi. Bây giờ thì anh đọc cho tôi bản dịch chính thức bài báo viết bằng tiếng Hungary đăng ở tờ Sopronyi Napló[⦾].”

Trung úy đọc to bài báo mà ở đó, biên tập viên đã hết sức cố gắng đưa vào hàng loạt những từ ngữ như: mệnh lệnh của trí tuệ quốc gia, trật tự nhà nước, con người sa đọa, sự chà đạp lên tình cảm và nhân phẩm, bữa tiệc ăn thịt người, xã hội loài người bị thảm sát, lũ nô lệ, bóc trần mặt nạ của chúng. Tiếp theo đó, bài báo mang lại cảm giác rằng người Hungary là những sinh linh bị săn đuổi ráo riết nhất trên đất nước của chính họ. Cứ như thể là binh lính người Séc tới đó để đánh gục biên tập viên, giẫm đạp bằng giấy của lính lên bụng ông ấy làm ông ấy gào thét vì đau đớn và một người nào đó đã tốc ký lưu lại.

“Về một số vấn đề quan trọng nhất,” tờ nhật báo Sopronyi Napló than vãn, “thì điều đáng báo động là việc người ta im lặng và không ai viết gì cả. Người nào trong chúng ta cũng biết thế nào là lính Séc ở Hungary cũng như ở ngoài mặt trận. Tất cả chúng ta biết người Séc làm những việc gì, có những hoạt động gì ở đây, tình hình của người Séc ra sao và lý do tại ai. Tất nhiên, các cơ quan có thẩm quyền đang phải tập trung vào giải quyết những vấn đề quan trọng khác, nhưng dù sao cũng phải kết hợp thích đáng với việc giám sát tình hình chung, để không thể xảy ra điều tương tự như đã xảy ra trong những ngày này ở Királyhida. Ngày hôm qua, bài báo của chúng tôi bị kiểm duyệt cắt bỏ mười lăm chỗ. Vì vậy, chúng tôi không còn cách nào khác là tuyên bố rằng ngay cả hôm nay, vì lý do kỹ thuật, chúng tôi không có quá nhiều cơ hội để phản ánh rộng rãi hơn về những sự kiện tại Királyhida. Phóng viên chúng tôi gửi đến đó đã phát hiện tại chỗ là trong vụ này, các cơ quan thẩm quyền đều tỏ ra rất hăng hái và điều tra rất tích cực. Duy có một điều chúng tôi cảm thấy lạ, là cho đến tận bây giờ, một số những kẻ đã tham gia vụ đánh người tàn bạo đó vẫn còn đang được ngang nhiên tự do. Điều này đặc biệt có liên quan đến một người, nghe nói cho đến nay còn đang ở trại quân đội mà chưa bị trừng phạt gì, vẫn còn mang quân hiệu của cái trung đoàn con vẹt ấy, và ngày hôm kia tên của ông ta đã được nêu công khai ở tờ Pester LloydPesti Hirlap. Đó là một người Séc tên là Lukáš, một kẻ theo chủ nghĩa Sô-vanh được nhiều người biết đến. Về hành động hung hăng của ông ta thì nghị sĩ Géza Savanyú của chúng tôi, đại biểu của quận Királyhida, sẽ đưa kiến nghị chất vấn Quốc hội.”

“Trung úy ạ,” đại tá Schöder lên tiếng, “tương tự như vậy, tờ tuần tạp chí ở Királyhida cũng viết rất hay về anh, cả báo của Pressburg cũng thế, nhưng mà chắc anh sẽ không quan tâm đến nó, vì nói cho cùng thì các báo ấy đều viết giống hệt nhau. Về mặt chính trị mà nói thì có thể giải thích được, bởi vì người Áo chúng ta, cho dù là người Đức, hay người Séc, dẫu sao thì chúng ta cũng vẫn còn tư tưởng chống lại người Hungary rất mạnh mà… Anh hiểu tôi chứ trung úy? Trong vấn đề này thì có một chiều hướng nhất định như thế. Cái mà tôi nghĩ có thể trung úy quan tâm đến là bài báo đăng ở Tin tức buổi chiều Komárno. Bài báo ấy khẳng định là anh đã định hãm hiếp bà Kákonyi ngay ở trong phòng ăn vào giờ ăn trưa và ngay trước mặt chồng bà ấy. Anh lại còn lấy kiếm dọa chồng bà ấy và ép ông ấy nhét khăn mặt vào miệng bà ấy để bà ấy khỏi kêu. Đó là tin cuối cùng viết về anh đấy, trung úy ạ.”

Đại tá mỉm cười rồi tiếp tục: “Các cơ quan thẩm quyền đã không thi hành nhiệm vụ của mình. Kiểm duyệt báo chí phòng ngừa cũng nằm cả trong tay người Hungary, thành ra họ muốn làm gì với chúng ta thì làm. Sĩ quan của chúng ta không được bảo vệ trước sự xúc phạm của những biên tập viên dân sự đểu cáng như thế, mà phải cho đến lúc trên cơ sở phản đối cực lực của chúng ta, nói cho đúng hơn là của bức điện từ tòa án quân sự sư đoàn chúng ta, thì công tố viên ở Budapest mới thi hành các bước để tổ chức bắt biên tập viên ở các tòa soạn ấy. Tay biên tập viên của tờ Tin tức buổi chiều Komárno bị buộc tội nặng nhất, cho đến chết hắn cũng không thể quên được bài báo đã đăng ấy. Là cấp trên trực tiếp của anh, tôi được tòa án sư đoàn trao cho nhiệm vụ hỏi anh, đồng thời tôi cũng nhận được toàn bộ tài liệu điều tra. Tất cả mọi việc lẽ ra trôi chảy cả, giá mà không có cậu Švejk bất hạnh của anh. Cùng với anh ta còn có một lính công binh tên là Vodička. Khi giải họ đến phòng cảnh sát quân sự sau cuộc ẩu đả, người ta đã phát hiện ra là Vodička mang bức thư mà trung úy đã gửi cho bà Kákonyi. Khi bị tra hỏi, anh chàng Švejk của anh khẳng định rằng đó không phải là thư của trung úy, mà là thư do chính anh ta viết. Khi người ta đưa bức thư ra yêu cầu Švejk chép lại để có thể so sánh chữ viết thì Švejk nhai nuốt mất nó. Văn phòng trung đoàn đã lấy những bản báo cáo mà trung úy đã viết rồi gửi lên tòa án quân sự sư đoàn để so sánh với chữ viết của Švejk, và đây là kết quả, trung úy ạ.”

Đại tá lật các trang của tập tài liệu và đưa cho trung úy xem câu “Bị cáo Švejk từ chối viết chính tả và khẳng định rằng qua một đêm bị cáo đã quên không biết viết như thế nào.”

“Trung úy ạ, tôi hoàn toàn không coi là quan trọng những gì mà Švejk của anh, hay tay lính công binh đã nói ở tòa án quân sự sư đoàn. Cả hai đều khẳng định là đó chỉ là một trò đùa nhỏ không được hiểu đúng, rằng chính họ bị những người dân thường tấn công và họ đã chống đỡ để bảo vệ danh dự người lính. Qua điều tra thì thấy là Švejk của anh là một người rất ranh mãnh. Thí dụ theo biên bản thì trả lời câu hỏi tại sao không nhận tội anh ta nói: ‘Tôi đang ở trong tình trạng tương tự như người hầu của họa sĩ hàn lâm Panuška⦾ đã một lần bị lâm phải vì mấy bức tranh vẽ Đức Mẹ Maria. Tay này, khi bị tra hỏi vì lấy cắp tranh, đã không nghĩ ra được cái gì hơn, ngoài việc bảo rằng: ’Thế tôi phải hộc máu mồm hay sao?’’ Tất nhiên là thay mặt ban chỉ huy trung đoàn và nhân danh tòa án quân sự sư đoàn, tôi đã thu xếp để đưa tới báo chí đính chính tất cả những bài báo bẩn thỉu của các tờ báo đây. Ngày hôm nay sẽ gửi nó đến các tòa soạn và tôi hy vọng là đã làm tất cả mọi việc để sửa cái đã xảy ra do hành vi dối trá khốn nạn của những con thú dân thường ấy trong bọn nhà báo Hungary.

Tôi nghĩ là tôi đã viết hay:

Tòa án sư đoàn số… và ban chỉ huy trung đoàn số… tuyên bố rằng bài báo về hành vi gây náo động của quân lính trung đoàn số… đăng tờ báo này hoàn toàn không dựa vào thực tế nào cả, từ dòng đầu đến dòng cuối đều là bịa đặt, và cơ quan điều tra chống các tờ báo này sẽ đưa ra hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với những kẻ phạm tội.”

“Trong bức công văn gửi đến ban chỉ huy trung đoàn chúng ta,” đại tá tiếp tục nói: “tòa án quân sự sư đoàn đi đến kết luận rằng vấn đề ở đây không là cái gì khác, mà là sự tuyên truyền kích động một cách có hệ thống chống lại những bộ phận binh lính đi từ Cisleithanien tới Transleithanien. Và trung úy thử so sánh xem có bao nhiêu quân của chúng ta đi ra mặt trận và bao nhiêu quân từ phía họ. Nói thật với anh là đối với tôi thì người lính Séc đáng quý hơn so với cái bọn người Hungary đáng khinh ấy. Tôi nhớ lại tình hình khi ở Beograd, lính Hungary đã bắn vào tiểu đoàn hành quân thứ hai của chúng ta. Tiểu đoàn này vì không biết là lính Hungary bắn mình, bèn bắt đầu nã đạn vào trung đoàn bộ binh Deutschmeister⦾ ở cánh bên phải, và lính Deutshcmeister cũng lại nhầm và chĩa súng bắn vào trung đoàn lính Bosna ở ngay bên cạnh. Thế đấy, tình hình hồi đó là thế đấy! Vừa đúng lúc ấy, tôi đang ăn trưa ở Phòng Tham mưu lữ đoàn. Ngày hôm trước, chúng tôi đã ăn qua loa, chỉ có giăm bông với súp đóng hộp và ngày hôm ấy thì có bữa trưa với súp gà mái rất ngon, rồi phi lê cá với cơm, rồi bánh nướng rưới kem vanilla. Buổi chiều hôm trước chúng tôi đã treo cổ một chủ quán rượu trong thành phố, và ở tầng hầm của quán ấy đầu bếp của chúng tôi đã tìm thấy rượu vang trữ đến ba mươi năm, vì thế đủ thấy chúng tôi đã mong bữa trưa đến như thế nào! Chúng tôi vừa ăn súp xong, bắt đầu ăn thịt gà thì chợt nghe tiếng súng bắn, rồi thấy bắn nhiều hơn và pháo binh của chúng ta, vì hoàn toàn không biết là các đơn vị của quân ta bắn nhau nên bắt đầu bắn vào phòng tuyến của chúng tôi và một quả đạn pháo rơi xuống ngay bên cạnh Phòng Tham mưu lữ đoàn. Chắc là tưởng rằng trong chúng tôi có cuộc nổi dậy hay sao mà quân Serbia đã tấn công chúng tôi từ mọi phía, rồi vượt sông tiến quân về phía chúng tôi. Người ta gọi chỉ huy lữ đoàn tới máy điện thoại và ở đầu bên kia, chỉ huy sư đoàn hét ầm lên hỏi bộ phận lữ đoàn làm cái gì ngu xuẩn vậy, rằng ông vừa nhận được lệnh của Bộ tổng tham mưu là lúc 2 giờ 35 phút sáng sẽ bắt đầu tấn công vào vị trí quân Serbia ở cánh bên trái. Còn chúng tôi là lực lượng dự bị thì phải ngừng bắn ngay. Nhưng trong tình hình đó thì làm sao mà có thể muốn ngừng bắn được. Tổng đài của lữ đoàn thông báo là không gọi được đến đâu, chỉ có Ban Tham mưu trung đoàn 75 báo cáo rằng nhận được lệnh của sư đoàn ở bên cạnh là phải giữ vững thế trận, rằng không thống nhất được với sư đoàn của chúng tôi, rằng quân Serbia đã chiếm các vị trí 212, 226 và 327, rằng yêu cầu gửi đến một tiểu đoàn làm nhiệm vụ liên lạc và kết nối điện thoại với sư đoàn chúng tôi. Chúng tôi chuyển cuộc gọi sang sư đoàn, nhưng liên lạc đã bị cắt đứt, bởi vì trong khi đó thì quân Serbia đã tiến tới phía sau ở cả hai cánh và cắt phần trung tâm của chúng tôi thành hình tam giác, tất cả mọi thứ bị dồn cả đó: các trung đoàn, pháo binh, cả một đoàn xe, kho và cả bệnh viện dã chiến nữa. Tôi đã rong ruổi trên yên ngựa hai ngày trời, chỉ huy sư đoàn cùng với chỉ huy lữ đoàn bị bắt làm tù binh. Và tất cả những chuyện ấy xảy ra là do lỗi của bọn người Hungary, bởi vì họ đã bắn vào tiểu đoàn hành quân thứ hai của chúng ta. Tất nhiên là chúng đổ lỗi cho trung đoàn chúng tôi.”

Đại tá nhổ bọt: “Bây giờ thì chính trung úy thấy là có thể lợi dụng một cách tuyệt vời chuyện của anh ở Királyhida.”

Trung úy Lukáš lúng túng húng hắng ho.

“Trung úy ạ,” đại tá quay sang thân mật nói, “nói thực đi, anh đã ngủ với bà Kákonyi bao nhiêu lần rồi?”

Xem ra ngày hôm nay đại tá Schröder rất vui vẻ.

“Trung úy ạ, đừng bảo tôi là anh mới chỉ bắt đầu viết thư. Khi ở tuổi của anh bây giờ, tôi đã theo khóa học đo lường ba tuần ở Eger⦾.” Anh phải biết là suốt ba tuần ấy, tôi chẳng làm việc gì khác ngoài việc ngủ với bọn đàn bà con gái Hungary, mỗi ngày với một người. Trẻ có, già có, còn chưa chồng, đã có chồng, gặp người nào với người ấy. Tôi làm việc ấy chăm chỉ đến mức là khi trở về trung đoàn, tôi bước mà chân nọ quấn vào chân kia. Người làm tôi mệt nhất là cô vợ một tay luật sư. Cô ấy đã cho tôi biết con gái Hungary biết làm gì. Vừa chơi, cô ấy vừa cắn vào mũi tôi, suốt cả đêm cô ấy không hề cho tôi chợp mắt. Ồ,… anh mới bắt đầu viết thư…” đại tá thân mật vỗ vai trung úy, “chúng ta biết thừa đi rồi. Anh đừng nói gì cả, tôi có nhận xét của tôi về chuyện ấy. Anh lôi thôi với cô ấy, chồng cô ấy phát hiện ra, tay Švejk ngu ngốc của anh… Nhưng mà trung úy ạ, tay Švejk của anh chẳng gì cũng là người có tính cách, khi mà anh ta làm như vậy với bức thư của anh. Một người như thế thật là hoài của. Tôi khẳng định rằng xử sự như thế là người có giáo dục. Tôi rất thích điều này ở anh ta. Dứt khoát về mặt này thì phải ngừng việc điều tra. Trung úy ạ, người ta đã vu khống anh trên báo, sự có mặt của anh ở đây bây giờ là hoàn toàn thừa. Trong vòng một tuần sẽ có một đại đội hành quân ra chiến trường Nga. Anh là sĩ quan nhiều tuổi nhất ở đại đội 11, anh sẽ đi theo làm đại đội trưởng. Mọi việc đã được quyết định ở lữ đoàn rồi. Anh hãy nói với trung sĩ hậu cần phụ trách tài chính tìm cho một người lính hầu khác thay cho Švejk.”

Trung úy Lukáš nhìn đại tá bằng con mắt biết ơn và đại tá tiếp tục: “Còn Švejk thì tôi quyết định cho làm liên lạc viên đại đội của anh, trung úy ạ.”

Đại tá đứng dậy, bắt tay trung úy Lukáš đang nhợt nhạt và bảo: “Mọi việc như vậy đã giải quyết xong. Chúc trung úy nhiều may mắn và thành tích ở mặt trận phía Đông. Nếu mà sau này còn có dịp gặp nhau thì anh hãy đến chơi với chúng tôi, chứ đừng lẩn tránh như hồi ở Budějovice…”

Trên suốt đường về nhà, trung úy Lukáš cứ nhắc đi nhắc lại: “Đại đội trưởng, liên lạc viên đại đội.”

Và phía trước mặt, trung úy nhìn thấy rõ ràng hình ảnh của Švejk.

Khi trung úy Lukáš yêu cầu một lính hầu mới thay cho Švejk, trung sĩ quân nhu Vaněk nói: “Tôi cứ tưởng trung úy hài lòng với Švejk.”

Nghe nói là đại tá chỉ định Švejk làm liên lạc viên cho đại đội 11, trung sĩ kêu lên: “Ối trời, xin trời cứu chúng con.”

Liên lạc viên đại đội Josef Švejk

Trong ngôi nhà có chấn song sắt của tòa án quân sự sư đoàn, mọi người thức giấc theo quy định từ lúc bảy giờ sáng rồi sắp xếp gọn gàng những cái nệm rơm trên sàn nhà đầy bụi bặm. Ở đây, đến cả cái giường gỗ cứng cũng không có. Ở sau vách ngăn trong căn phòng dài, mọi người đã xếp gọn những cái chăn trên nệm rơm theo đúng quy định, và khi làm xong, họ ra ngồi ở ghế dài kê sát tường, rồi hoặc là bắt chấy rận, đó là những ai từ mặt trận về, hoặc kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện.

Švejk và người lính công binh Vodička ngồi ở chiếc ghế gần cửa ra vào, cùng với một số người lính từ các trung đoàn và đơn vị khác nhau.

“Này, các cậu,” Vodička lên tiếng, “trông cái thằng người Hungary ngồi ở gần cửa sổ kia kìa, hắn đang cầu nguyện để được may mắn đấy. Các cậu có muốn rạch mồm nó ra đến mang tai không?”

“Nhưng mà đấy là người hiền lành,” Švejk nói, “hắn bị ở đây là vì không muốn nhập ngũ. Hắn chống chiến tranh, hắn là người của một giáo phái nào đấy, và bị giam tại vì không muốn giết người, hắn tuân theo điều răn của Chúa Trời, nhưng rồi người ta sẽ cho hắn biết thế nào là điều răn. Trước chiến tranh, ở Morava có một ông tên là Nemrava, khi phải nhập ngũ thì ông ấy thậm chí còn không muốn cả khoác súng lên vai, bởi vì khoác súng là trái với nguyên tắc của ông ấy. Vì thế mà ông ấy bị giam rất lâu, sau đó lại bị dẫn đi tuyên thệ và ông ấy bảo là không tuyên thệ gì cả, vì thế là trái với nguyên tắc của ông ấy, ấy vậy mà ông ấy giữ vững được đấy.”

“Cái ông ấy thế là ngu,” người lính công binh Vodička nói, “ông ấy có thể cứ tuyên thệ, đồng thời kệ cha tất cả mọi chuyện, kể cả lời tuyên thệ nữa!”

“Tôi đã tuyên thệ ba lần rồi,” một người lính bộ binh thông báo, “cũng đã ba lần tôi ngồi đây vì tội đào ngũ, mà giá như không có giấy của bác sĩ chứng nhận là trước đây mười lăm năm vì loạn trí mà đập chết cô mình, thì có lẽ tôi đã bị bắn chết đến ba lần ở ngoài mặt trận rồi. Thế là bà cô tôi bao giờ cũng cứu tôi lúc gian nan. Rồi có thể thì cuối cùng tôi thoát được cuộc chiến tranh này một cách an toàn.”

“Thế vì sao mà anh đập chết bà cô của mình, hả anh bạn?” Švejk hỏi.

“Người ta đánh đập nhau vì cái gì nào?” Người đàn ông dễ chịu trả lời, “Ai cũng có thể nghĩ rằng vì tiền. Bà già có năm quyển sổ tiết kiệm, vừa vặn khi người ta gửi tiền lãi thì tôi đến chơi, lúc bấy giờ tôi đang rất đói khát rách rưới. Ngoài bà cô ra, tôi chẳng còn ai trên đời này nữa. Thế là tôi đến xin bà cưu mang tôi, nhưng mẹ già bảo tôi đi kiếm việc mà làm, rằng một người trẻ tuổi, to lớn khỏe mạnh như tôi chẳng lẽ lại đi nhờ vả bà già. Lời qua tiếng lại và tôi lấy que cời than đập mấy nhát vào đầu bà già, rồi cứ thế tôi nện nát mặt bà, đến mức tôi không biết đấy có phải là bà cô tôi, hay không phải là bà cô tôi. Sau đấy tôi ngồi dưới đất bên cạnh bà rồi cứ lảm nhảm mãi: ‘Đây là cô, hay không phải là cô?’ Ngày hôm sau, hàng xóm sang trông thấy tôi ngồi đấy cạnh bà già. Thế rồi tôi phải vào viện tâm thần ở Slupy. Trước chiến tranh, tất cả chúng tôi ở Bohnice phải ra trình diện hội đồng, và người ta đã chứng nhận là tôi khỏi bệnh, thế là ngay lập tức tôi phải nhập ngũ để làm đủ nghĩa vụ những năm tôi bỏ lỡ.”

Một người lính gầy gò, cao nghều với vẻ mặt khổ sở, mang một cái chổi đi qua.

“Đấy là một thầy giáo của đại đội hành quân mới,” người thợ săn ngồi cạnh Švejk giới thiệu, “bây giờ anh ấy đi quét dọn ở chỗ mình. Anh ấy là người rất cẩn thận sạch sẽ. Anh ấy phải ngồi ở đây vì đã viết một bài thơ. Thầy giáo ơi, lại đây!” người thợ săn gọi. “Cho chúng tôi nghe bài thơ đi!”

Người đàn ông mang cái chổi bước tới ghế, vẻ mặt trang nghiêm. Anh ho lấy giọng rồi cất tiếng đọc bài thơ:

Rận ở chiến trường, ai cũng gãi

Kìa chú rận lớn bò lên ai

Ông tướng trên giường lăn lộn mãi

áo quần chăn đệm thay hằng ngày.

Rận ở quân đội sung sướng quá

quen thân gần gụi cả sĩ quan

ngủ luôn cả với cô rận Phổ

con rận đực già nhà Áo ta.

Người lính, người thầy giáo buồn bã ngồi xuống ghế và thở dài: “Chỉ có thế thôi. Thế mà vì nó tôi đã bị ông thẩm phán hỏi cung đến lần thứ tư rồi đấy.”

“Kể ra thì nó chẳng có gì đáng nói,” Švejk bình thản bảo, “chỉ có điều không biết ở tòa người ta sẽ nghĩ ai là con rận đực Áo già nua. May là anh đã viết về việc các con rận ngủ với nhau, người ta sẽ phải ngây ra vì ngạc nhiên. Nhưng anh hãy giải thích cho họ rằng con rận đực ở đây quả thật chỉ là con rận đực, ngược với nó là con rận cái, rằng chỉ có con rận đực mới bò lên con rận cái thôi. Không giải thích như thế thì anh chẳng thoát đi đằng nào được đâu. Tất nhiên là anh không viết thế để nhằm xúc phạm một ai cả, cái đó là rõ ràng. Nhưng mà người Séc chúng ta lại thường ví con rận đực với những kẻ đểu cáng, vì vậy anh phải nói cho ông thẩm phán biết là anh viết bài thơ ấy chỉ để làm vui cho bản thân thôi, rằng nếu như người ta thường bảo chồng của con lợn nái là con lợn đực, thì ở đâu người ta cũng bảo chồng của con rận cái là con rận đực.”

Người thầy giáo thở dài: “Nhưng mà ông thẩm phán không biết nhiều tiếng Séc. Tôi cũng đã giải thích cho ông ấy tương tự như thế, nhưng ông ấy lại cắt nghĩa cho tôi là tiếng Séc thì phải gọi con rận đực bằng từ khác, chứ không phải bằng từ tôi đã viết trong bài thơ, rồi lại còn bảo chúng tôi nhìn thấu tâm can các anh.”

“Nói tóm lại,” Švejk bảo, “tình hình của anh không được tốt đẹp cho lắm, nhưng anh đừng thất vọng, vì như ông Janeček người Digan ở Plzeň đã nói, tình hình có thể trở nên tốt hơn. Ông ấy nói thế năm 1879, khi bị kết án treo cổ vì tội đã giết hai người. Và quả là ông ấy đoán đúng, đến phút cuối cùng trước khi thi hành án, người ta dẫn ông ấy đi khỏi pháp trường, người ta không thể xử tử ông ấy bởi vì ngày hôm ấy trùng vào ngày sinh của Hoàng đế. Thành ra mãi ngày hôm sau, qua sinh nhật của Hoàng đế, người ta mới treo cổ ông ấy. Đó là một người nhiều may mắn, bởi vì đến ngày thứ ba thì ông ấy được đặc xá và sẽ được xét xử lại, lý do là tất cả mọi bằng chứng đều chỉ ra rằng việc ấy do một ông Janeček khác đã làm. Thế là để phục hồi danh dự cho ông ấy, người ta đào ông ấy lên, chuyển từ nghĩa trang chôn phạm nhân sang nghĩa trang Công giáo của Plzeň, nhưng rồi người ta lại phát hiện ra rằng ông ấy là người theo đạo Tin lành, thế là họ chuyển ông ấy sang nghĩa trang của người theo đạo Tin lành, rồi sau đó….”

“… rồi sau đó thì cậu sẽ ăn vài cái tát,” người lính công binh Vodička lên tiếng, “chẳng biết còn cái gì mà hắn không bịa ra. Trong lúc mọi người đang lo lắng không biết tòa án quân sự sư đoàn sẽ ra sao, và ngày hôm qua khi người ta giải chúng tôi đi hỏi cung thì thằng điên lại giảng giải về hoa hồng Jericho⦾.”

“Nhưng đấy không phải là giảng giải của tớ, mà là của Matěj, người hầu của họa sĩ Panuška, khi anh ấy giải thích cho một bà già biết hoa hồng Jericho hình dáng ra sao. Anh ấy bảo bà già thế này: ‘Bà lấy một cục cứt bò khô, để nó vào cái đĩa rồi tưới nước vào, nó sẽ chuyển sang màu xanh rất đẹp, đấy là hoa hồng Jericho.’” Švejk cãi, “Chuyện dở hơi này tớ không bịa tí nào, hơn nữa khi đi hỏi cung thì mình cũng phải nói với nhau một chuyện gì chứ! Vodička ạ, tớ chỉ muốn làm cho cậu vui thôi…”

“Ừ, cậu muốn làm cho tớ vui,” Vodka khinh khỉnh nhổ bọt, “đang bù cả đầu lên vì lo lắng làm sao thoát khỏi chuyện lôi thôi khó chịu này, để được ra ngoài thanh toán với bọn Hungary, thế mà cậu lại muốn làm vui bằng cục cứt bò. Làm sao mà tớ có thể trả thù lũ Hungary được, khi mà tớ bị giam ngồi ở đây, mà hơn nữa lại còn phải giả bộ nói với thẩm phán viên là chẳng có hận thù gì đối với người Hungary. Trời đất ạ, thật là cái đời con chó. Nhưng mà khi nào có thằng nào sa vào tay tớ thì tớ bóp cổ nó như bóp cổ con chó con, tớ sẽ cho chúng nó biết thế nào là Chúa ban phúc cho người Hungary, tớ sẽ cho chúng nó biết tay, rồi thì bọn chúng sẽ còn phải nhớ đến tớ.”

“Đừng lo gì cả,” Švejk nói, “mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy, cái chính là ở tòa án thì không bao giờ được nói thật. Ai chịu để dụ dỗ mà nhận tội thì người ấy xong đời, chả được cái gì tử tế cả. Dạo tới làm việc ở Moravská Ostrava thì có một trường hợp thế này: Một người thợ mỏ giết một kỹ sư, nhưng không một người nào trông thấy. Luật sư bào chữa bảo anh ta là cứ chối phắt đi, rằng không có gì có thể xảy ra với anh ta được, còn ông chánh án thì thuyết phục anh ta là nhận tội sẽ được tình tiết giảm nhẹ. Nhưng anh ta cứ bảo rằng không thể nhận tội được, thế là được trả tự do, bởi vì anh ta đã có bằng chứng ngoại phạm. Đúng ngày hôm ấy anh ta đã ở Brno…”

“Ối trời đất ơi,” Vodička nổi cáu, “tớ không chịu nổi được nữa. Tớ chẳng hiểu vì sao cậu kể những chuyện này. Ngày hôm qua ở chỗ hỏi cung cũng có một người giống hệt. Khi ông thẩm phán hỏi anh ta làm nghề gì khi còn là dân thường thì anh ta bảo là: ‘Tôi thổi ở Kříž, rồi mất đến hơn nửa tiếng đồng hồ nữa anh ta mới giải thích được cho ông thẩm phán là anh ta kéo bễ cho ông thợ rèn tên là Kříž. Và khi người ta bảo: ’Thế tức là anh đã làm công nhân phụ việc.’ thì anh ta trả lời: ‘Không đâu, tôi có làm phu đâu.’”

Ngoài hành lang vang lên tiếng chân bước và tiếng gọi bằng tiếng Đức của lính canh: “Thêm người.”

“Thế là chúng ta sẽ đông hơn.” Švejk phấn khởi nói, “chắc hẳn họ giấu được thuốc lá đem vào đây.”

Cánh cửa mở ra và người ta đẩy vào phòng người lính tình nguyện một năm đã ngồi cùng phòng giam với Švejk ở Budějovice, người sau đó được phân công xuống nhà bếp của một đại đội hành quân.

“Ngợi khen Chúa Jesus Kitô,” anh bước vào phòng rồi chào tất cả và Švejk trả lời thay mặt mọi người. “Đời đời chẳng cùng, amen.”

Người lính tình nguyện một năm hài lòng nhìn Švejk, đặt cái chăn mang theo người xuống sàn nhà, ngồi xuống ghế cạnh những người Séc, tháo xà cạp và khéo léo lấy ra những điếu thuốc lá để trong các nếp gấp rồi chia cho mọi người. Sau đó anh rút từ giấy ra một mảnh hộp diêm quẹt và mấy que diêm được chẻ đôi.

Anh quẹt diêm, cẩn thận đốt điếu thuốc và đưa cho mọi người cùng châm rồi thản nhiên nói: “Tôi bị tố vì tội nổi loạn.”

“Không sao đâu,” Švejk nhẹ nhàng an ủi, “trò đùa thôi mà.”

“Tất nhiên rồi,” người lính tình nguyện một năm nói, “nếu chúng ta muốn chiến thắng bằng tòa án. Khi mà họ dứt khoát muốn xử tôi, thì xin cứ việc. Nói cho cùng thì một vụ án cũng chẳng làm thay đổi được toàn bộ tình hình.”

“Thế cậu đã nổi loạn như thế nào?” người lính công binh Vodička hỏi và nhìn người lính tình nguyện một năm một cách thiện cảm.

“Tớ không muốn cọ rửa nhà xí ở phòng bảo vệ,” anh trả lời, “thế là tớ bị giải đến gặp đại tá, đồ con lợn khốn kiếp! Hắn bắt đầu quát rằng tớ bị giam trên cơ sở báo cáo ở trung đoàn, rằng tớ là thằng tù nhân tầm thường, rằng hắn lấy làm ngạc nhiên là tại sao tớ vẫn còn ở trên trái đất này. Vậy mà trái đất thì vẫn cứ quay bên trên sự nhục nhã là trong quân đội còn tồn tại một kẻ mang quyền lợi của lính tình nguyện một năm, có quyền mang quân hàm sĩ quan, nhưng bằng cư xử của mình thì kẻ ấy chỉ đáng để cấp trên thấy kinh tởm và khinh thường. Tớ đã trả lời là nếu chỉ vì trên trái đất còn tồn tại một người lính tình nguyện một năm như tớ thì trái đất cũng không thể ngừng quay, rằng quy luật của tự nhiên mạnh hơn những cái vạch quân hàm của những người lính tình nguyện một năm. Tớ cũng bảo rằng tớ muốn biết ai có thể bắt tớ phải cọ rửa nhà xí mà tớ không làm dây bẩn, cho dù cả chuyện làm bẩn nhà xí tớ cũng có quyền, nhất là sau khi làm việc ở cái nhà bếp bẩn thỉu của trung đoàn, sau khi ăn thứ rau bắp cải thối và thịt cừu hôi mùi nước đái. Sau đó tớ còn bảo việc đại tá ngạc nhiên hỏi vì sao tớ vẫn còn ở trên trái đất này là điều hơi lạ lùng, bởi lẽ sẽ không vì tớ mà có thể xảy ra động đất. Trong suốt thời gian tớ nói, ngài đại tá chẳng làm gì, ngoài việc lập cập răng như con ngựa bị rét rồi gào lên:

‘Thế anh sẽ đi cọ rửa nhà xí, hay không đi?’

‘Báo cáo, tôi sẽ chẳng cọ rửa một cái nhà xí nào cả.’

‘Nhưng anh sẽ cọ rửa nhà xí, anh lính tình nguyện ạ.’

‘Báo cáo, tôi sẽ không làm.’

‘Đồ trời đánh, anh sẽ cọ rửa không phải một nhà xí, mà một trăm nhà xí!’

‘Báo cáo, tôi không cọ rửa một trăm nhà xí, cũng chẳng cọ rửa một cái nhà xí nào cả.’

Thế rồi cứ lời qua tiếng lại như thế, nhà xí bay từ bên này sang bên kia giống như kiểu lời một bài đồng dao của Pavla Moudrá⦾. Đại tá lồng lộn như điên trong phòng, cuối cùng ngồi xuống và bảo: ‘Anh suy nghĩ cho kỹ đi, tôi sẽ đưa anh sang tòa án quân sự sư đoàn vì tội nổi loạn. Anh đừng nghĩ rằng anh là người lính tình nguyện một năm đầu tiên bị xử bắn trong cuộc chiến tranh này. Ở Serbia, chúng tôi đã treo cổ hai người lính tình nguyện một năm của đại đội 10, chúng tôi cũng bắn như bắn con cừu non người lính tình nguyện một năm của đại đội 9. Anh có biết vì sao không? Vì sự bướng bỉnh cứng đầu cứng cổ của bọn chúng. Hai người bị treo cổ vì đã không muốn đâm vợ con của một thằng người địa phương ở gần Šabac, còn người lính tình nguyện ở đại đội 9 thì bị bắn chết vì không chịu tiến lên phía trước, viện cớ là bị sưng chân và có bàn chân phẳng. Thế bây giờ thì anh sẽ cọ rửa nhà xí, hay không?’

‘Báo cáo, không!’

Đại tá quay sang nhìn tớ rồi hỏi: ‘Này, anh có phải là người ngưỡng mộ dân Slav không đấy?’

‘Báo cáo, không.’

Sau đấy người ta giải tôi đi và thông báo là tôi bị tố vì tội nổi loạn.”

“Tốt nhất là bây giờ,” Švejk nói, “cậu sẽ giả làm người ngu. Hồi tớ bị giam ở trại giam quân đội thì ở đấy có một người rất thông minh, có học thức, một giáo sư ở trường kinh tế. Ông này chạy trốn từ mặt trận và người ta muốn làm việc ấy thành vụ thật lớn, muốn xử và treo cổ ông ấy để gây sợ hãi cho mọi người, thế nhưng mà ông ấy đã thoát được. Ông ấy bắt đầu làm người bị bệnh di truyền và khi bác sĩ quân y khám bệnh thì ông ấy tuyên bố là không hề đào ngũ, rằng ngay từ nhỏ vốn đã thích ngao du, rằng luôn luôn có ước mơ biến đi đến một chỗ nào thật xa. Rằng có lần tỉnh giấc ở Hamburg, lần khác thì ở London, nhưng mà hoàn toàn không biết làm sao mà đến được những nơi ấy. Bố ông ấy thì là người nghiện rượu và đã tự tử trước khi ông ấy chào đời, còn mẹ ông ấy là gái điếm, cũng nghiện rượu và đã chết vì bệnh mê sảng lú lẫn tâm thần. Chị gái của ông ấy thì bị chết đuối, một chị gái nữa thì lao xuống dưới tàu hỏa, anh trai thì nhảy cầu sắt ở Vyšehrad, ông nội thì giết bà nội rồi tẩm dầu tự thiêu, bà ngoại thì lang thang với dân Digan rồi bị vào tù và ở đấy thì bị chết vì ngộ độc bằng mấy que diêm. Một người anh họ thì đã mấy lần bị kết tội đốt phá, rồi đã lấy mảnh chai tự cứa cổ, chị họ con ông bác ruột bên nội thì nhảy từ tầng sáu một ngôi nhà ở Vienna. Chính bản thân ông ấy thì cũng chẳng được dạy dỗ gì cả, mãi cho đến năm mười tuổi vẫn chưa biết nói, bởi vì khi ông ấy được sáu tháng tuổi, người nhà thay tã lót cho ông ấy ở trên bàn, nhưng đang dở tay thì có việc đi khỏi đấy, một con mèo đã kéo ông ấy rơi từ bàn xuống làm ông ấy bị ngã đập đầu xuống sàn nhà. Thỉnh thoảng ông ấy cũng bị đau đầu dữ dội và những lúc như thế thì ông ấy không biết mình làm gì, và chính vào lúc bị như thế, ông ấy đã đi khỏi mặt trận về Praha, mãi đến khi cảnh sát quân sự bắt ông ấy ở quán U Fleků thì ông ấy mới tỉnh lại. Ối trời, các anh phải thấy là người ta đã sung sướng đến mức nào khi cho ông ấy giải ngũ. Để dự phòng cho trường hợp cần thiết, có năm cậu cùng ngồi phòng giam với ông ấy đã ghi lại chuyện của ông ấy như thế này:

Bố nghiện rượu.

Mẹ gái điếm.

Chị gái thứ nhất (chết đuối)

chị gái thứ hai (tàu hỏa)

Anh trai (nhảy cầu)

Ông nội ♰ vợ, dầu hỏa, đốt.

Bà ngoại (Digan, diêm) ♰ … v.v

Và có một cậu cũng nói y nguyên như thế với bác sĩ quân y, nhưng cậu ấy mới chỉ trình bày đến người anh họ, vả lại cậu ấy đã là người thứ ba làm như vậy, thì bác sĩ quân y bảo: ‘Ừ, chị họ con ông bác ruột bên nội của anh thì nhảy từ tầng sáu xuống đất ở Vienna, còn anh thì chẳng được dạy dỗ gì cả, nhưng mà sẽ có cách để chữa cho anh.’ Rồi người ta đem cậu ấy đi xử lý, trói quặt người cậu ấy lại. Thế là ngay lập tức, cậu ấy không còn ‘chẳng được dạy dỗ gì cả, cũng không có bố nghiện rượu, mẹ gái điếm’ nữa, mà tự nguyện xin đi ra mặt trận.”

“Bây giờ,” người lính tình nguyện một năm nói, “trong quân đội chẳng còn ai tin vào bệnh di truyền, bởi vì nếu tin thì phải đưa cả Bộ Tham mưu vào nhà thương điên.”

Có tiếng chìa khóa lạch cạch ở ngoài tấm cửa bọc sắt rồi người giám thị đi vào phòng:

“Lính bộ binh Švejk và lính công binh Vodička đến gặp thẩm phán viên.”

Cả hai đứng dậy và Vodička bảo Švejk: “Cậu thấy chưa, bọn khốn kiếp, ngày nào cũng hỏi cung mà mãi chẳng có kết quả gì. Mẹ kiếp, giá mà bọn nó cứ kết tội chúng mình đi để chúng mình khỏi bị tha lôi như thế này, chứ chúng mình vớ vẩn cả ngày ở đây, trong khi đó có biết bao nhiêu lũ người Hungary đang chạy rông ngoài kia…”

Cả hai tiếp tục đi đến nơi hỏi cung ở các văn phòng của tòa án quân sự sư đoàn trong một ngôi nhà khác ở phía đối diện. Họ suy đoán xem bao giờ thì sẽ đứng trước tòa án thật sự.

“Cứ chỉ toàn hỏi cung thôi,” Vodička nổi cáu, “giá mà ít ra có được một kết quả nào đấy, chứ tốn kém biết bao nhiêu giấy mực mà chả biết lúc nào tòa xử. Cứ gọi là ngồi mục xác ở sau song sắt thôi. Cậu nói thực đi, cái thứ súp này có ăn được không? Còn bắp cải với khoai tây bị đông cứng nữa, có tọng được không? Mẹ kiếp, tớ chưa từng bao giờ phải qua một cuộc chiến nào ngu xuẩn như cái Thế chiến này. Tớ đã tưởng tượng nó hoàn toàn khác.”

“Còn tớ thì tương đối hài lòng,” Švejk nói, “trước đây, khi tới còn là lính chính quy thì một người lính tình nguyện lâu năm tên là Solpera đã thường bảo mọi người là trong quân đội thì ai cũng phải ý thức được nghĩa vụ của mình, đồng thời vả cho mỗi người một cái tát nhớ đời. Hay là trung úy Kvajser quá cố, khi đến kiểm tra súng đạn thì bao giờ cũng giảng giải cho chúng tớ biết là người lính nào cũng phải biết thể hiện tinh thần nhẫn nhục lớn nhất, bởi vì người lính chỉ là đồ trâu bò, được nhà nước cho ăn, cho uống cà phê, cho thuốc lá để hút tẩu, và bù lại, người lính sẽ phải làm mọi việc như con bò kéo xe.”

Người lính công binh Vodička ngẫm nghĩ một lúc rồi lên tiếng:

“Khi đến chỗ thẩm phán thì cậu đừng nhầm lẫn đấy, cậu hãy nhắc lại những gì cậu đã khai trong cuộc hỏi cung ngày hôm qua để tớ khỏi bị nguy. Cái chính là cậu đã trông thấy bọn Hungary đánh tớ trước. Thì chúng mình đã cùng làm những chuyện ấy mà!”

“Cậu đừng sợ gì cả,” Švejk an ủi Vodička, “cứ bình tĩnh, đừng cuống quýt làm gì, đứng trước tòa án quân sự sư đoàn thì có là cái gì! Cậu phải biết là trước đây thì tòa án quân sự xử nhanh lắm. Cùng phục vụ chính quy với chúng tớ có một thầy giáo tên là Herál. Một lần, chúng tớ bị phạt không được rời doanh trại, thế là cả lũ nằm trên giường nghe thầy giáo kể chuyện, rằng ở Viện Bảo tàng Praha có một quyển ghi chép văn bản của một tòa án quân sự như thế ở thời Marie Terezie⦾. Hồi ấy, mỗi trung đoàn đều có đao phủ để xử tử hình lính của mình. Cứ giết một người thì đao phủ được trả công một tolar⦾. Theo những văn bản ở sách ấy thì có ngày có đao phủ được trả công tới năm tolar. Tất nhiên là,” Švejk thận trọng nói thêm, “ngày ấy các trung đoàn đều rất mạnh và liên tục được bổ sung bằng người từ các làng xã.”

“Hồi tớ ở Serbia,” Vodička nói, “thì những người lính nào xung phong đi treo cổ dân địa phương đều được trả công bằng thuốc lá. Ai treo cổ một người đàn ông thì được mười điếu thuốc lá, ai treo cổ một người đàn bà hay một đứa trẻ con thì được trả năm điếu. Sau đó, hậu cần bắt đầu tiết kiệm, thành ra người ta xử bắn tập thể. Cùng đơn vị với tớ có một thằng người Digan, và lúc đầu chúng tớ chẳng biết gì cả, chỉ thấy lạ là đêm nào cũng thấy người ta gọi hắn đến văn phòng. Lần ấy chúng tớ đóng quân ở bên sông Drina. Một đêm, khi hắn lại đi vắng, một người trong bọn tớ nảy ra ý định lục đồ đạc của hắn và thấy là trong ba lô, hắn có tới ba hộp thuốc lá đầy, mỗi hộp một trăm điếu. Đến gần sáng thì hắn trở về kho chứa rơm mà tất cả chúng tớ đang ở, chúng tớ đã xử tội hắn. Chúng tớ vật hắn ra, một tay người Belarus đã lấy dây thắt lưng xiết cổ hắn. Phải nói rằng hắn khỏe như vâm.”

Người lính công binh Vodička nhổ bọt: “Xiết mãi mà hắn vẫn chưa chết, hắn đã ỉa ra quần, mắt lồi ra, nhưng mà vẫn cứ ngắc ngoài như con gà trống bị cắt cổ không đúng mạch. Thế là phải làm như giết mèo, hai người giữ đầu hắn, hai người giữ chân, rồi vặn gẫy cổ. Sau đó, chúng tớ đeo vào vai hắn cái ba lô với tất cả các hộp thuốc lá rồi quẳng hắn xuống sông Drina, chứ thuốc lá ấy ai mà hút được. Buổi sáng người ta đã tìm hắn.”

“Đúng ra thì các cậu phải đi báo là hắn đã đào ngũ,” Švejk bình thản nói, “rằng hắn đã chuẩn bị từ lâu và ngày nào cũng nói là sẽ bỏ đi.”

“Ôi chà, ai mà nghĩ đến chuyện ấy,” Vodička trả lời, “chúng tớ làm xong việc của mình rồi, còn những thứ khác thì không quan tâm. Ở đấy thì mọi việc rất dễ dàng. Ngày nào cũng có người biến mất, cũng chẳng ai buồn vớt xác từ Drina lên nữa. Cái xác trương phềnh của một thằng người địa phương bơi bên cái xác bị bắn nát của người lính Landwehr, cả hai trôi theo dòng Drina rồi đổ vào sông Danube. Lần đầu tiên trông thấy cảnh ấy thì những người không có kinh nghiệm nào cũng bị phát sốt.”

“Những người ấy phải cho uống thuốc ký ninh.” Švejk nói.

Cả hai bước vào căn nhà có các văn phòng của tòa án quân sự sư đoàn và lính canh lập tức đưa họ đến văn phòng số 8, nơi có thẩm phán viên Ruller, một người còn trẻ, ngồi sau một cái bàn dài chất đầy công văn giấy tờ.

Trước mặt thẩm phán là một tập của bộ luật, bên trên nó là cốc nước chè uống dở. Ở góc bàn phía tay phải anh là cây thánh giá làm bằng ngà voi giả, trên cây thánh giá có gắn tượng Đức Chúa Jesus Kitô phủ đầy bụi. Chúa đang cúi nhìn một cách vô vọng xuống chân cây thánh giá đầy tàn thuốc lá và những đầu mẩu thuốc.

Người thẩm phán vừa gẩy tàn từ điếu thuốc mới đốt xuống chân cây thánh giá, làm Chúa thêm buồn phiền, tay kia nhấc cốc nước chè, nhưng nó dính vào bìa cuốn sách luật.

Thẩm phán cố nhấc cốc nước chè khỏi vòng tay sách luật, đồng thời tiếp tục lật trang quyển sách mượn của casino sĩ quan.

Đó là cuốn sách của Friedrich Krauss⦾ với cái tên mang nhiều hứa hẹn Nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển đạo đức tình dục.

Thẩm phán đang chăm chú xem những bức vẽ ngây thơ về bộ phận sinh dục nam và nữ kèm những câu thơ thích hợp mà học giả Friedrich Krauss đã tìm thấy trong các nhà vệ sinh công cộng ở nhà ga Tây Berlin. Vì thế, anh không để ý đến hai người đã bước vào phòng.

Chỉ khi Vodička cất tiếng ho, anh mới giật mình rời mắt khỏi những bức vẽ in lại trong sách.

“Cái gì thế hả?” anh hỏi bằng tiếng Đức, tay tiếp tục lật trang sách để tìm những bức vẽ và những phác họa ngây thơ khác.

“Báo cáo ngài thẩm phán,” Švejk trả lời, “anh bạn Vodička đây bị cảm lạnh và bây giờ bị ho ạ.”

Đến lúc này, thẩm phán Ruller mới đưa mắt nhìn Švejk và Vodička. Anh cố gắng tỏ vẻ nghiêm khắc:

“Bây giờ mới đến à,” anh nói và lật lật đống giấy tờ ở trên bàn, “tôi cho gọi các anh đến đây vào lúc chín giờ, mà bây giờ thì đã gần mười một giờ rồi.”

“Này đứng thế nào đấy, hả đồ con bò?” thẩm phán gào lên hỏi Vodička, lúc ấy đã mạo muội đứng ở tư thế nghỉ. “Chỉ khi nào tôi nói nghỉ thì anh mới được đứng thế nào tùy anh, hiểu chưa?”

“Báo cáo ngài thẩm phán,” Švejk lên tiếng, “anh ấy bị thấp khớp ạ.”

“Câm mồm đi,” thẩm phán Ruller quát, “bao giờ tôi hỏi gì thì anh mới được nói. Anh đã đến đây hỏi cung ba lần rồi, nhưng mà lôi được thông tin từ anh thì lâu lắm.” Vẫn lật chồng giấy tờ, thẩm phán càu nhàu: “Tìm được nó, hay không tìm được nó đây? Sao mà tôi nhiều tội nợ với các anh thế này. Đấy, các anh thấy là làm bận tòa án một cách vô bổ thế này là có vấn đề. Đây, các anh nhìn đây, lũ khốn kiếp,” thẩm phán nói và rút từ đống giấy tờ một tập văn bản dây cộp mang dòng chữ Schwejk & Woditschka. “Đừng tưởng là các anh sẽ nhởn nhơ mãi ở tòa án quân sự sư đoàn vì một cuộc ẩu đả ngu ngốc để không phải ra mặt trận đấu. Vì các anh mà tôi phải gọi điện lên đến tận tòa án quân sự đấy, lũ ngu ngốc ạ.”

Thẩm phán viên thở dài.

“Đừng ra mặt nghiêm trang như thế, Švejk ạ, ra đến mặt trận thì anh sẽ hết muốn ẩu đả với lính Honvédség luôn,” anh nói tiếp, “việc điều tra các anh đã được đình lại, bây giờ thì các anh ai trở về đơn vị người ấy, sẽ bị phạt ở đơn vị mình rồi sẽ đi theo đoàn tiến quân ra mặt trận. Nếu mà rơi vào tay tôi lần nữa thì tôi sẽ làm cho các anh trắng mắt ra hiểu chưa? Đây là lệnh thả, và các anh phải cư xử cho tử tế! Dẫn họ sang phòng số 2!”

“Báo cáo ngài thẩm phán,” Švejk nói, “chúng tôi sẽ vâng lời ngài và rất cảm ơn lòng tốt của ngài ạ. Giá mà ở đời thường thì tôi sẽ xin phép được nói rằng ngài có tấm lòng vàng ạ. Đồng thời hai chúng tôi phải xin ngài tha thứ cho, vì chúng tôi mà ngài phải mất nhiều thời gian như thế ạ. Quả thật chúng tôi không xứng đáng được ngài quan tâm đến thế ạ.”

“Thôi, xéo đi,” thẩm phán viên quát Švejk, “giá mà không có đại tá Schröder nói vào thì tôi không biết các anh sẽ ra sao.”

Phải đến lúc ra tới hành lang để cùng lính canh sang văn phòng số 2, Vodička mới thấy mình lại là Vodička.

Người lính dẫn họ đi sợ sẽ bị muộn bữa ăn trưa nên bảo họ:

“Này, các cậu nhanh nhanh lên một tí, làm gì mà chậm như sên thế!”

Vodička bèn lên tiếng bảo anh ta câm mồm, rằng anh ta có may mắn là người Séc, chứ nếu là người Hungary thì sẽ bị xéo nát như con giun.

Khi tới văn phòng, tất cả thấy là các thư ký đều đi lĩnh bữa trưa, người lính đành phải tạm giải hai người trở lại nhà giam của tòa án quân sự sư đoàn. Thành ra anh ta nổi cáu chửi bới các thư ký quân đội, rằng đó cái hạng người rất đáng ghét.

“Các cậu ạ, thế này thì mọi người lại vớt hết thịt ở súp rồi,” anh lính buồn rầu than phiền, “lúc tớ đến thì lại chỉ còn toàn gân thôi. Hôm qua tớ phải giải hai người đến nhà giam, thế là có ai đã ăn mất một nửa cái bánh mì khẩu phần của tớ.”

“Xem ra ở tòa án quân sự sư đoàn các anh chẳng nghĩ đến gì ngoài chuyện ăn.” Vodička nói. Anh đã cảm thấy hoàn toàn khỏe khoắn.

Khi cả hai nói cho người lính tình nguyện một năm biết vấn đề của họ ở tòa đã kết thúc ra sao, anh kêu lên: “Thế là các cậu sẽ tiến quân! Việc này giống như lời trong một tạp chí của những người du lịch Séc: Thuận buồm xuôi gió! Mọi chuẩn bị để lên đường đã xong xuôi. Mọi việc đã được các bộ phận hành chính quân sự quang vinh lo toan thu xếp đầy đủ. Cả các anh cũng đã được đăng ký nhập đoàn du lịch tới Galicia. Các anh hãy lên đường với tinh thần phấn khởi và tấm lòng thanh thản vui vẻ. Các anh hãy tỏ ra hết sức yêu mến những vùng đất có chiến hào chào đón mà các anh sẽ tới. Đó là những vùng đất đẹp đẽ và rất thú vị. Ở những nơi xa xôi không quen thuộc ấy, các anh sẽ cảm thấy như ở nhà, thậm chí gần như ở quê cha, ở quê hương yêu dấu của mình. Với cảm xúc phấn khích cao cả, các anh sẽ lên đường hành hương tới những vùng đất mà Humboldt đã từng nói ‘Tôi chưa bao giờ trông thấy cái gì hùng vĩ hơn vùng đất Galicia ngu xuẩn.’ Kinh nghiệm phong phú và quý giá mà quân đội quang vinh của chúng ta rút ra được khi rút lui khỏi Galicia lần đầu tiên chắc chắn sẽ là cơ sở tốt để lập chương trình cho chuyến đi tới đó lần thứ hai. Bây giờ thì chỉ cần cứ tiến thẳng tới Nga và ở đấy thì vì sung sướng mà các anh hãy bắn chỉ thiên tất tật mọi ổ đạn các anh có.”

Sau giờ ăn trưa, trước khi Švejk và Vodička quay trở lại văn phòng thì người thầy giáo bất hạnh, tác giả bài thơ về con rận, đi tới kéo họ sang một bên rồi nói một cách bí ẩn: “Khi sang phía quân Nga, các cậu đừng quên nói bằng tiếng Nga với họ như thế này: ‘Chào các anh em người Nga, chúng tôi là anh em người Séc, chúng tôi không phải là người Áo.’”

Khi ra khỏi phòng giam, vì muốn tỏ rõ sự căm ghét của mình đối với người Hungary và chứng tỏ rằng những ngày bị giam vừa qua không hề làm giảm đi sự căm ghét ấy, Vodička giẫm lên chân người lính Hungary không muốn ra trận và gào lên: “Đồ chó chết, đi giày vào đi!”

“Đáng lẽ nó phải nói một cái gì,” Vodička bực dọc bảo Švejk, “đáng lẽ nó phải nói, để tớ được rạch cái mõm Hungary của nó ra đến tận mang tai. Thế mà thằng ngu lại chịu để giẫm chân mà chẳng nói năng gì cả. Mẹ kiếp, Švejk ạ, thế thì có tức không? Tớ tức lắm, tớ tức là tớ không được xử tội. Họ không xử chúng mình, thành ra như thể họ cười chúng mình, rằng cái chuyện xảy ra với lũ Hungary chẳng là cái gì đáng nói. Thế nhưng mà chúng mình đã chẳng đánh nhau với bọn chúng là gì. Tại cậu, cái này là tại cậu. Cậu làm cho người ta không xét xử chúng mình, cứ như thể là họ chứng minh rằng cả đánh nhau cho ra trò chúng mình cũng không biết. Họ nghĩ thế nào về chúng mình cơ chứ! Chuyện ấy đã chẳng phải là một sự kiện to tát hay sao?”

“Cậu ạ,” Švejk hiền lành nói, “tớ chẳng hiểu vì sao cậu lại không lấy làm mừng là tòa án quân sự sư đoàn chính thức công nhận chúng mình là những người tử tế và chẳng tìm ra được cái gì chống lại chúng mình. Quả thật là khi bị hỏi cung, tớ đã nói dối đủ cách, nhưng mà phải làm như thế, nói dối là nghĩa vụ, như luật sư Bass vẫn thường nói với khách hàng của mình. Khi ông thẩm phán hỏi tại sao chúng mình xông vào nhà ông Kákonyi thì tớ đã trả lời đơn giản là: Chúng tôi nghĩ rằng khi đến nhà thăm ông ấy thì chúng tôi có thể làm quen được dễ dàng với ông ấy. Ông thẩm phán chẳng hỏi gì thêm nữa, vì ông ấy cũng đã thấy đủ mệt rồi. Cậu hãy nhớ,” Švejk tiếp tục bày tỏ suy nghĩ của mình, “là trước tòa án quân sự thì không ai được phép thú nhận một cái gì cả. Tớ nhớ hồi còn ngồi ở trại giam ở Hradčany thì một người lính ở phòng bên cạnh đã nhận tội. Khi biết điều đó thì tất cả mọi người ở đây đã cho anh ấy một trận và bắt anh ấy phải khai lại.”

“Ừ, nếu mà làm một việc gì không trung thực thì tớ cũng sẽ không thú tội,” người lính công binh Vodička nói, “nhưng mà đằng này thì khi tay thẩm phán hỏi thẳng: ‘Anh đã đánh nhau à?’ Tớ phải trả lời: ‘Vâng, tôi đã đánh nhau.’ ‘Anh đã giần cho ai một trận à?’ ‘Tất nhiên rồi, thưa ngài thẩm phán.’ ‘Anh có làm ai bị thương không?’ ‘Chắc chắn rồi, thưa ngài thẩm phán.’ Tớ trả lời thế để hắn biết đang nói chuyện với ai. Chính vì thế mà việc họ cho chúng mình tự do là một điều nhục nhã. Cái đó cũng tương tự như là hắn không muốn tin là tớ đã lấy thắt lưng quật cho lũ Hungary một trận nhừ tử, làm chúng chảy mũi dãi, bị sưng vều, bị tím bầm. Thì cậu cũng đã trông thấy có lúc có tới ba thằng người Hungary đè lên tớ, thế mà chỉ một lúc sau là cả lũ bị vật ngã lăn ra đất và tớ đã giẫm lên chúng nó. Ấy thế mà bây giờ cái thằng thẩm phán miệng còn hơi sữa lại ngừng điều tra chúng mình. Thế cũng có nghĩa là hắn bảo tớ: ‘Xì, lôi thôi thế, anh mà cũng đòi đánh nhau ư?’ Cứ chờ đấy, sau chiến tranh, tớ xuất ngũ rồi sẽ tìm đến hắn để cho hắn thấy tớ biết đánh nhau hay không. Sau đó, tớ sẽ quay lại Királyhida làm một trận lôi đình chưa từng thấy trên thế giới, mọi người sẽ phải chạy trốn xuống tầng hầm khi nghe thấy tớ đến trừng trị bọn du côn mất dạy khốn kiếp ở Királyhida.”

Ở văn phòng, mọi việc được giải quyết rất nhanh chóng. Một trung sĩ, miệng còn bóng nhoáng mỡ sau bữa trưa, với gương mặt vô cùng nghiêm trang, đưa giấy tờ cho Švejk và Vodička rồi tranh thủ cơ hội nhắc nhở họ về tinh thần quân đội, nhưng đã pha trộn đủ thứ tiếng địa phương, bởi vì anh ta là người vùng nói tiếng Ba Lan, tiếng Séc và tiếng Đức. Thí dụ anh ta nói tiếng Ba Lan: ăn cà rốt, cá ngâm giấm ngu ngốc, con bài xấu, con lợn cái bẩn thỉu, tôi vả mấy cái tát vào mặt anh.

Khi chia tay với Vodička, vì mỗi người được giải về đơn vị của mình, Švejk bảo anh ấy: “Khi nào hết chiến tranh thì cậu đến chơi với tớ nhé. Ngày nào tớ cũng đến quán U Kalicha ở phố Na Bojišti từ sáu giờ chiều.”

“Dứt khoát là tớ sẽ đến,” Vodička trả lời, “ở đấy có gì vui không?”

“Ngày nào cũng có chuyện,” Švejk hứa, “nếu mà quá yên tĩnh thì chúng tớ sẽ tìm cách làm cho vui.”

Họ chia tay nhau, nhưng khi đã đi cách nhau khá xa rồi thì Vodička lại gọi Švejk: “Thế thì cậu dứt khoát phải làm cái gì thật vui khi tớ đến đấy nhé!”

Và Švejk trả lời thật to: “Nhưng mà sau chiến tranh này thì nhất định cậu phải đến nhé!”

Họ đi xa nhau hơn, nhưng một hồi lâu sau lại có tiếng của Vodička: “Švejk ơi, Švejk ơi, ở quán U Kalicha có bia gì?”

Tiếng trả lời của Švejk vang lên như tiếng vọng: “Velkopopovický⦾!”

“Tớ cứ tưởng Smíchovský⦾.” Tiếng Vodička vang tới từ đằng xa.

“Ở đấy cũng có bọn con gái.” Švejk gào to.

“Thế thì sau chiến tranh, vào lúc sáu giờ,” Vodička gào to từ phía dưới.

“Tốt hơn là cậu đến lúc sáu rưỡi, ngộ tớ có việc gì mà đến muộn.” Švejk trả lời.

Sau đó, lại có tiếng Vodička từ phía rất xa vọng đến: “Thế cậu không đến được vào lúc sáu giờ à?”

“Thế thì tớ đến lúc sáu giờ.” Vodička nghe thấy tiếng trả lời của người bạn đang đi xa dần.

Người lính tốt Švejk và anh bạn lính công binh Vodička đã chia tay nhau như thế. Tiếng Đức có câu “Khi chia tay nhau, người ta bảo nhau hẹn gặp lại.”

← Tờ báo viết bằng tiếng Đức, phát hành ở Budapest trong những năm 1854–1944 (theo svejkmuseum.cz).

← Thành phố lớn thứ nhì của Hungary, sau Budapest.

← Thánh Stefan của Hungary, tiếng Hungary còn gọi là Szent István (969?–1038), vị vua đầu tiên của Hungary, con trai trưởng của Đại Vương công Géza, người đã thống nhất các bộ tộc trên đất Hungary, được tuyên Thánh năm 1083.

← Báo viết bằng tiếng Hungary, phát hành từ năm 1841 đến khi bị đình bản vào năm 1849, phát hành trở lại trong những năm 1879–1944 (theo svejkmuseum.cz).

← Báo phát hành ở Sopron trong thời kỳ 1897–1914, lúc đầu một tuần hai số, sau đó sáu số (theo svejkmuseum.cz).

← Jaroslav Panuška (1872–1958) họa sĩ người Séc, ông đã vẽ chân dung Hašek ngay sau khi Hašek tắt thở (theo svejkmuseum.cz).

← Trung đoàn bộ binh 4 thuộc về một Đại Công tước Áo (theo svejkmuseum.cz).

← Một thành phố lớn ở miền Bắc Hungary.

← Hồng Jericho, tên khoa học Seleginnella lepidophilla, cây nhỏ thuộc loài dương xỉ mọc trên sa mạc.

← Pavla Moudrá (1861–1940), nhà văn nữ và dịch giả người Séc.

← Marie Theresie (1917–1780), tên đầy đủ Marie Terezie Valpurga Amalia Christiana thuộc dòng họ Habsburg, là nữ Đại Công tước Áo, đồng thời là Nữ hoàng của Hungary, Bohemia …

← Đơn vị tiền tệ từ cuối thế kỷ thứ 15 ở các nước nói tiếng Đức, đúc bằng bạc. Đồng tolar đầu tiên ở Bohemia được đúc năm 1519. Ở Áo–Hung giai đoạn giữa thế kỷ 19, 1 tolar = 100 krejcar.

← Friedrich Krauss (1859–1838) người Áo gốc Croatia, là nhà phân loại học, tình dục học và Slavic học.

← Velkopopovický Kozel là tên loại bia của nhà máy bia Velké Popovice ở vùng Trung Séc, cách Praha 24km.

← Smíchovsky Staropramen là tên loại bia của nhà máy bia Smíchovský Staroprament ở Praha.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.