Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Từ Bruck đến Sobal

❊ ❊ ❊

Trung úy Lukáš bực bội đi lại trong văn phòng của đại đội hành quân số 11. Đó là một góc tối tăm trong căn nhà của đại đội, được ngăn với hành lang bằng những lát gỗ. Trong văn phòng chỉ có một cái bàn, hai chiếc ghế, một cái đèn dầu và một chiếc giường gỗ đơn sơ.

Phía trước trung úy là trung sĩ hậu cần phụ trách tài chính mang tên Vaňek. Trung sĩ chịu trách nhiệm lập danh sách phát lương cho lính, giữ sổ sách thanh toán cho nhà bếp, làm bộ trưởng bộ tài chính cho cả đại đội, đóng chốt suốt ngày trong văn phòng và cũng ngủ luôn tại đó.

Bên cạnh cửa ra vào có một người to béo, râu ria xồm xoàm như Krakonoš⦾.

Đó là Baloun, lính hầu mới của trung úy Lukáš, khi còn là dân thường thì làm người xay bột ở một nơi nào đó gần Česky Krumlov.

“Anh đã chọn cho tôi một lính hầu tuyệt vời,” trung úy nói với trung sĩ hậu cần, “tôi xin chân thành cảm ơn anh. Ngày đầu tiên tôi bảo hắn đi nhà ăn sĩ quan lĩnh cơm trưa, nhưng mà hắn đã ăn vụng mất một nửa suất.”

“Tôi chỉ làm sánh thôi ạ,” con người khổng lồ to béo ấy nói.

“Ừ, làm sánh, thế thì chỉ làm sánh súp, hay nước xốt thôi, chứ làm sánh thế nào được thịt nướng, hả? Anh đã chỉ mang về cho tôi một miếng nhỏ tí bằng đốt ngón tay. Thế còn bánh táo thì anh đã để vào đâu, hả?”

“Tôi… dạ…”

“Anh đã ngốn nó rồi, nhận đi!”

Trung úy nói những từ cuối cùng bằng giọng nghiêm khắc đến nỗi Baloun bất giác lùi lại hai bước.

“Tôi hỏi nhà bếp bữa trưa hôm nay có gì, họ bảo có món súp với gan viên. Thế anh để những viên gan ấy vào đâu rồi, hả? Dọc đường về đây anh đã lấy ra ăn hết rồi, đấy là sự thật. Sau đó là món thịt bò với dưa chuột. Anh đã làm gì với nó, hả? Tất nhiên là anh đã chén sạch. Rồi hai lát thịt nướng, anh chỉ mang về đây có một nửa lát. Còn hai miếng bánh táo, anh để vào đâu? Anh đã nhồi nhét cả hai, phải không hả đồ con lợn khốn kiếp nhục nhã? Nói đi, anh đã để bánh táo vào đâu? Nó đã rơi xuống vũng bùn hả? Đồ khốn nạn! Anh có thể chỉ cho tôi xem cái vũng bùn ấy được không? Rằng vừa vặn lúc ấy có một con chó chạy ngay đến, ngoạm luôn miếng bánh rồi chạy mất, hả? Ôi trời ơi, tôi vả cho anh mất mặt bây giờ! Đã ăn vụng rồi mà đồ con lợn lại còn chối bai bải nữa! Anh có biết ai đã trông thấy anh không? Trung sĩ hậu cần Vaňek đây! Trung sĩ đã đến bảo tôi: ‘Báo cáo trung úy, Baloun, đồ con lợn của trung úy đã ăn cơm trưa của trung úy ạ. Tôi nhìn từ cửa sổ thấy hắn đang nhồi nhét như thể cả tuần chẳng được ăn gì cả.’ Này trung sĩ hậu cần, anh không thể tìm được cho tôi một con bò nào khác con bò này hay sao?”

“Báo cáo trung úy, hắn có vẻ là người đứng đắn nhất đại đội. Hắn vụng về ngốc nghếch đến nỗi chẳng nhớ nổi được một thao tác nào với súng đạn, nếu mà giao súng vào tay hắn thì thế nào cũng có lúc xảy ra chuyện chẳng lành. Trong lần tập bắn với đạn không nạp chì vừa rồi, chỉ một ly nữa thì hắn bắn vào mắt người nằm bên. Thế là tôi nghĩ ít ra hắn có thể làm lính hầu được.”

“Ừ, có thể, nhưng hắn cũng có thể luôn luôn ăn hết cả cơm trưa của cấp trên hắn,” trung úy nói, “cứ như là suất ăn của hắn không đủ no cho hắn. Thế nào, anh có đói không hả?”

“Báo cáo trung úy, lúc nào tôi cũng đói. Nếu thấy ai còn thừa bánh mì là tôi mang thuốc lá đến đổi, nhưng mà thế cũng vẫn còn ít. Tôi ăn nhiều như thế từ xưa đến nay rồi. Bao giờ tôi cũng nghĩ là no rồi, nhưng mà chả bao giờ no. Chỉ một lúc nữa thôi là tôi lại đói như trước bữa ăn, tôi lại bắt đầu sôi bụng, đấy, lại sắp rồi. Cũng có khi tôi nghĩ là no lắm rồi, không thể ăn thêm gì được nữa, nhưng mà chả phải. Chỉ cần trông thấy ai ăn, hay ngửi thấy mùi thức ăn là dạ dày tôi lại rỗng không ngay, bụng lại sôi ùng ục ngay, lúc ấy thì gì tôi cũng ăn. Báo cáo trung úy, tôi đã xin được ăn hai suất. Vì thế mà hồi ở Budějovice tôi đã đến bác sĩ trung đoàn, nhưng mà đáng ra cho tôi ăn thêm, bác sĩ cho tôi nằm trạm xá ba ngày, mỗi ngày chỉ cho tôi một bát nước súp, lại còn bảo: ‘Đồ khốn ạ, tôi sẽ cho anh biết thế nào là đói. Cứ thử đến đây một lần nữa mà xem, anh sẽ đi khỏi đây, sẽ gầy như một que củi!’ Báo cáo trung úy, tôi không cần phải ăn thức ngon, chỉ trông thấy những thứ bình thường thôi là tôi đã chảy nước dãi rồi. Báo cáo trung úy, tôi cắn rơm cắn cỏ xin trung úy cho phép được ăn hai suất. Nếu không có thịt thì ít ra là khoai tây, bánh bao hay một tí nước xốt cũng được, những thứ ấy bao giờ ở nhà bếp cũng thừa…”

“Được, tôi đã nghe tất cả chuyện xấc xược của anh rồi, anh Baloun ạ,” trung úy Lukáš trả lời, “Trung sĩ ạ, anh đã bao giờ nghe thấy là trước đây, binh lính hỗn láo đến mức như hắn chưa? Hắn đã ngốn hết bữa trưa của tôi mà lại còn xin được ăn hai suất! Nhưng mà tôi sẽ cho anh biết tay, Baloun ạ, sẽ để cho anh tiêu hóa. Trung sĩ ạ,” ông quay sang trung sĩ Vaňek, “anh dẫn hắn đến hạ sĩ Weidenhofer, bảo hạ sĩ trói hắn ở ngoài sân bếp hai tiếng đồng hồ cho đến lúc chia thịt bò sốt vang chiều nay, mà trói lên cao, chỉ để mũi giày chạm đất thôi, cho hắn trông thấy nồi thịt hầm. Cứ để hắn bị trói như thế đến lúc chia thịt bò sốt vang, cho hắn chảy dãi như con chó đứng bên cửa hàng thịt vậy. Anh cũng bảo đầu bếp lấy khẩu phần của hắn chia cho mọi người.”

“Xin tuân lệnh, thưa trung úy. Nào, anh Baloun, ta đi thôi.”

Khi họ đi ra, trung úy còn chặn họ ở cửa phòng và nhìn vào bộ mặt kinh hoàng của Baloun rồi đắc thắng bảo: “Thấy chưa, anh thấy có xứng đáng không? Chúc anh ăn ngon! Và nếu anh còn làm như thế một lần nữa thì tôi gửi anh thẳng đến tòa án quân sự, không thương tiếc gì cả, nghe chưa?”

Khi trung sĩ Vaňek quay trở về báo tin là Baloun đã bị trói, trung úy Lukáš nói:

“Anh Vaňek ạ, anh biết tôi rồi. Tôi không muốn làm những chuyện như thế, nhưng mà không thể không làm. Thứ nhất, anh phải công nhận là nếu con chó bị anh lấy mất cái xương đang gặm thì nó sẽ gầm gừ. Tôi không muốn có bên mình một thằng cha giả dối không trung thực. Thứ hai, chỉ nguyên việc trói hắn lại cũng có ý nghĩa lớn về mặt đạo đức và tâm lý cho cả đại đội. Dạo này, khi biết chỉ ngày một ngày hai là ra mặt trận, quân lính ở đơn vị hành quân thường tự do làm tất cả những gì họ muốn.”

Trung úy Lukáš tỏ ra rất bị dằn vặt và tiếp tục nói khẽ:

“Anh biết là ngày hôm kia chúng tôi có buổi tập trận ban đêm chống lại trường huấn luyện lính tình nguyện một năm ở đằng sau nhà máy đường. Nhóm thứ nhất đi tiền trạm do chính tôi chỉ huy thì còn im lặng đi trên đường, nhưng nhóm thứ hai với nhiệm vụ đi sang phía trái để rải quân canh gác bên dưới nhà máy đường thì đã làm như là đang đi chơi ở đâu về. Bọn hắn hò hát, giậm chân thình thịch, chắc chắn là tận ở trong trại quân đội cũng nghe thấy tiếng. Nhóm thứ ba ở cánh phải với nhiệm vụ thăm dò địa hình chiến trường ở bìa rừng cách chỗ chúng tôi ít nhất mười phút đi bộ, thế mà từ đằng xa cũng nhìn thấy bọn hắn hút thuốc, toàn những đốm sáng nhấp nháy trong bóng tối. Nhóm thứ tư có nhiệm vụ bảo vệ đằng sau, nhưng có trời biết cái gì đã xảy ra, tự nhiên bọn hắn xuất hiện ngay phía trước nhóm tiền trạm, chúng tôi đã nghĩ rằng đây là quân địch, thế là tôi đã phải cho lùi lại trước quân yểm hộ của chính mình, còn bọn chúng thì cứ tiến thẳng về phía chúng tôi. Đó là đại đội 11 mà tôi được thừa hưởng đấy anh ạ. Tôi biết huấn luyện họ thế nào? Họ sẽ làm sao khi thực sự phải chiến đấu?”

Vừa nói, trung úy vừa chắp tay lại, khuôn mặt ông như khuôn mặt của người khổ hạnh tử vì đạo và cái mũi ông thì như dài ra.

“Thưa trung úy, xin trung úy đừng buồn phiền về chuyện ấy làm gì,” người trung sĩ hậu cần phụ trách tài chính cố gắng an ủi, “trung úy đừng đau đầu về chuyện ấy làm gì. Tôi đã đi theo ba tiểu đoàn hành quân rồi, tiểu đoàn nào cũng bị đánh tan tành, rồi chúng tôi lại đi lập tiểu đoàn hành quân mới. Tất cả các đại đội hành quân đều giống nhau như đúc, chẳng đại đội nào tốt hơn đại đội của trung úy lấy một tẹo nào đâu. Nhưng phải nói tồi tệ nhất là đại đội 9. Tất cả binh lính đều tự nguyện để bị bắt làm tù binh, rồi lôi theo toàn bộ sĩ quan các cấp, kể cả đại đội trưởng. Tôi thoát được là nhờ hôm ấy đến hậu cần trung đoàn để lĩnh Rum và rượu vang, bọn hắn kéo nhau đi mà quên mất tôi. Thế trung úy vẫn còn chưa biết là trong buổi tập trận ban đêm mà trung úy đã nói tới, thì học viên trường lính tình nguyện một năm, đáng lẽ phải đi vòng đại đội của chúng ta, đã đi đến tận hồ Neusiedler à? Bọn hắn cứ đi xa dần và đi mãi đến sáng rồi cuối cùng các nhóm tuần tra bị sa vào bùn lầy. Chính đại úy Ságner đã chỉ huy họ. Giá mà trời không sáng dần thì có lẽ họ tiến đến tận Sopron cũng nên,” trung sĩ hậu cần tiếp tục bằng giọng đầy bí mật, ông là người rất thích những trường hợp như vậy và có ghi chép lại tất cả các sự kiện tương tự.

“Thế trung úy có biết,” trung sĩ thân mật nháy mắt, “là đại úy Ságner sẽ được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn hành quân của chúng ta không? Trung sĩ hậu cần Hegner ở Phòng Tham mưu nói là lúc đầu cứ nghĩ là trung úy sẽ được bổ nhiệm, tại vì trung úy là sĩ quan cao tuổi nhất ở đây, thế nhưng mà nghe bảo có lệnh của sư đoàn gửi xuống lữ đoàn, rằng sẽ bổ nhiệm đại úy Ságner.”

Trung úy Lukáš cắn môi rồi châm điếu thuốc lá. Ông biết về việc đó và tin chắc rằng mình đang bị đối xử không công bằng. Đã hai lần đại úy Ságner gây cản trở sự thăng tiến của ông, nhưng trung úy không nói gì khác ngoài câu: “Đâu chỉ có đại úy Ságner…”

“Tôi chẳng lấy gì làm vui vẻ trong việc này,” trung sĩ hậu cần tài chính thân mật nói, “trung sĩ Hegner kể là hồi đầu chiến tranh, tại mặt trận Serbia, đại úy Ságner muốn lập thành tích ở trên núi gần Montenegro và đã lần lượt cho các đại đội của tiểu đoàn mình xung trận tấn công phòng tuyến của quân Serbia, tiến quân thẳng tới súng máy của địch, mặc dù trong tình thế ấy thì đưa quân bộ binh ra là vô tác dụng, bởi vì chỉ pháo binh mới có thể lôi cổ quân Serbia từ trên cao xuống được thôi. Cả tiểu đoàn chỉ còn sống sót tám mươi người, chính đại úy Ságner cũng bị thương ở tay và khi nằm viện thì bị lây bệnh kiết lỵ, rồi sau đó đại úy lại về Budějovice. Nghe bảo tối ngày hôm qua đại úy đã nói ở casino, rằng rất mong được ra mặt trận, rằng sẽ để lại ở đấy cả tiểu đoàn, nhưng mà sẽ lập được chiến công và sẽ được tặng huy chương vẻ vang Signum Laudis, rằng sau trận ở Serbia chẳng được khen thưởng gì cả, nhưng lần này thì hoặc bị ngã xuống với cả tiểu đoàn, hoặc sẽ được thăng chức trung tá, nhưng mà tiểu đoàn hành quân sẽ phải đau đớn. Thưa trung úy, tôi nghĩ đây là mối nguy hiểm đe dọa tất cả chúng ta. Cách đây không lâu, trung sĩ hậu cần Hegner đã kể là trung úy không hợp lắm với đại úy Ságner, rằng đại đội 11 của chúng ta sẽ là đại đội bị đại úy gửi ra trận trước tiên và đến những chỗ khủng khiếp nhất.”

Người sĩ quan hậu cần tài chính thở dài: “Tôi nghĩ là trong một cuộc chiến tranh như cuộc chiến tranh này, khi có nhiều quân tham gia và ở chiến trường dài rộng như thế này, thì nên tập trung vào phòng thủ cho thật vững, còn hơn là mở các đợt tấn công vô vọng. Tôi đã thấy như thế với đại đội 10 ở trận Dukla⦾. Hồi ấy mọi việc đã rất trôi chảy, có lệnh không bắn, thế là ngừng bắn và quân ta đã chờ đến lúc quân Nga tiến đến gần mình. Đáng lẽ bắt gọn chúng làm tù binh được mà không phải nổ phát súng nào, nhưng mà lần ấy ở bên cánh trái quân ta là bọn Ruồi sắt và khi trông thấy quân Nga tiến tới gần, lũ Landwehr ngu xuẩn ấy hoảng sợ đến mức mà cả bọn tụt xuống phía dưới cái dốc phủ đầy tuyết như là trượt cầu trượt vậy. Còn quân ta lại nhận được lệnh tiếp là quân Nga đã phá vỡ cánh trái nên phải tìm cách quay về lữ đoàn. Tôi thì lúc ấy cũng đang ở lữ đoàn để xin chứng nhận vào sổ tiếp tế của đại đội là tôi đã không tìm thấy nơi đóng quân của hậu cần trung đoàn. Vừa vặn lúc đó thì nhóm lính đầu tiên của đại đội 10 trở về lữ đoàn. Cho đến chiều thì có một trăm hai mươi người trở về, số còn lại nghe bảo khi trượt được xuống dưới dốc để rút lui thì đã bị lạc đến các chiến hào của quân Nga, cứ như thể họ đã trượt cầu trượt nước vậy! Lần ấy ở đấy kinh khủng lắm trung úy ạ, quân Nga có chiến hào ở phía trên lẫn phía dưới. Rồi sau đó, đại úy Ságner…”

“Để cho tôi yên thân, đừng nói gì về đại úy Ságner nữa,” trung úy bảo, “tôi biết cả rồi. Anh cũng đừng có tưởng là đến lúc nghe thấy những từ đơn vịchiến đấu là anh lại ngẫu nhiên đang ở chỗ hậu cần trung đoàn để lĩnh Rum và rượu vang. Tôi được mọi người bảo là anh rượu chè rất ghê. Thì cũng chỉ cần nhìn cái mũi đỏ của anh là biết ngay anh là ai rồi.”

“Thưa trung úy, cái này là hậu quả những ngày ở Karpat đấy ạ. Ở đấy chúng tôi đã phải làm việc rất nhiều, thức ăn đem về đến nơi thì đã nguội lạnh cả, chiến hào thì đào dưới tuyết, lửa thì không được đốt, thế là chỉ có Rum cứu vớt chúng tôi thôi. Giá ngày ấy mà không có tôi thì chắc là hậu quả phải giống như các đại đội không có Rum khác, vì mọi người bị lạnh cóng cả. Còn ở đại đội chúng tôi thì ai cũng có cái mũi đỏ vì được sưởi ấm bằng Rum. Chỉ có điều bất lợi là sau đó tiểu đoàn đã ban lệnh, rằng chỉ những đơn vị có mũi đỏ mới phải đi canh gác thôi.”

“Bây giờ đã qua mùa đông rồi,” trung úy nói một cách bí ẩn.

“Thưa trung úy, ở ngoài mặt trận thì Rum là thứ cần thiết cho bất kỳ mùa nào, giống như rượu vang vậy. Nó đem lại cho chúng ta, nói thế nào nhỉ, đem lại cho chúng ta một sự vui vẻ phấn khởi. Chỉ cần một nửa cặp lồng rượu vang và một phần tư lít Rum là mọi người có thể đi đánh nhau với bất kỳ ai… Ôi, đồ con bò nào cứ gõ cửa ngoài kia, chẳng lẽ nó không nhìn thấy biển Không gõ cửa! hay sao! Mời vào!”

Từ ghế, trung úy xoay người nhìn cánh cửa đang nhẹ nhàng và từ từ mở ra. Cũng nhẹ nhàng như thế, người lính tốt Švejk bước vào văn phòng của đại đội 11 và giơ tay chào ngay từ cửa. Chắc hẳn là khi gõ cửa, anh cũng đã nhìn vào tấm biển bằng tiếng Đức Không gõ cửa! rồi.

Cái giơ tay chào của Švejk là bức tranh có nhạc đệm làm nền cho gương mặt vô cùng hài lòng không một chút lo lắng nào của anh. Trông anh như thần Mercur, vị thần trộm cướp của thần thoại Hy Lạp, trong bộ quân phục giản dị của người lính bộ binh quân đội Áo.

Trong khoảnh khắc, trung úy Lukáš nhắm mắt lại, tránh cái nhìn như muốn ôm hôn ông của người lính tốt Švejk.

Chắc chắn là cũng với cái nhìn âu yếm như thế, đứa con trai hoang đàng, người đã mất đi mà bây giờ lại trở về, đã nhìn cha mình khi ông cho nướng con cừu non để ăn mừng ngày nó trở về.⦾

“Báo cáo trung úy là tôi lại về đây rồi ạ,” ngay từ cửa, Švejk nói bằng giọng hồn nhiên trung thực đến mức làm trung úy Lukáš tỉnh lại ngay tức khắc. Kể từ giây phút đại tá Schröder thông báo là sẽ gửi Švejk trở lại, ngày nào trung úy cũng thầm mong được lùi cuộc gặp mặt ấy. Sáng nào ông cũng tự nhủ: “Ngày hôm nay hắn cũng sẽ không về, chắc hẳn đã lại gây ra chuyện gì đấy và người ta vẫn còn giữ hắn ở đó.”

Nhưng Švejk trở về khẳng định một cách đơn giản và đáng yêu, rằng tất cả những điều tự nhủ ấy của trung úy chỉ là những điều mong ước mà thôi.

Švejk quay sang nhìn trung sĩ hậu cần tài chính Vaňek, rồi với nụ cười thân thiện anh rút giấy tờ từ túi áo khoác và đưa cho trung sĩ: “Báo cáo trung sĩ, đây là những giấy tờ mà văn phòng trung đoàn đã viết và tôi phải nộp cho trung sĩ ạ. Đây là giấy lĩnh lương, còn đây là giấy đăng ký tên tôi vào sổ nhà ăn ạ.”

Švejk đi đứng và xử sự rất thoải mái ở văn phòng của đại đội 11, cứ như anh là người bạn thân nhất của trung sĩ Vaňek, còn trung sĩ thì chỉ nói ngắn gọn: “Anh đặt nó lên bàn cho tôi.”

“Trung sĩ ạ,” trung úy thở dài bảo, “tốt hơn hết là anh để tôi nói chuyện riêng với Švejk.”

Vaňek đi ra khỏi phòng, nhưng dừng lại ở bên ngoài cửa để nghe hai người ở bên trong sẽ nói gì với nhau.

Lúc đầu, ông chẳng nghe thấy gì cả, vì Švejk và trung úy đều im lặng nhìn nhau. Trung úy nhìn Švejk như muốn thôi miên anh, giống gà trống đứng trước gà con và chuẩn bị tấn công nó.

Còn Švejk thì nhìn trung úy như mọi khi, cái nhìn ấm áp, dịu dàng, như muốn bảo: “Thế là chúng mình lại ở cùng nhau, chẳng cái gì có thể làm chúng mình phải xa nhau nữa, anh bạn của tôi ơi.”

Thấy trung úy vẫn ngồi yên không nói, ánh mắt Švejk giục giã: “Nói đi chứ, nói cái gì đi chứ, anh bạn vàng của tôi ơi.”

Cuối cùng, trung úy lên tiếng phá im lặng bằng những lời rất châm biếm: “Tôi xin chào anh, Švejk ạ. Cám ơn anh đã đến thăm tôi. Thật quý hóa quá!”

Nhưng trung úy không kìm được nữa, ông nắm tay trút xuống bàn cái tức giận của những ngày đã qua, khiến lọ mực nhảy lên, bắn tung mực ra tờ giấy phát lương.

Đồng thời trung úy cũng nhảy lên, ông tiến tới sát mặt Švejk và gào to: “Đồ con bò,” rồi bắt đầu đi đi lại lại trong văn phòng chật hẹp và nhổ bọt mỗi khi đi qua mặt Švejk.

“Báo cáo trung úy,” Švejk lên tiếng khi thấy trung úy vẫn không dừng bước, mỗi khi qua bàn ông lại vớ một tờ giấy rồi điên cuồng vò nó thành cục ném vào góc văn phòng, “báo cáo là tôi đã trao bức thư ấy tận tay. Tôi đã tìm thấy bà Kákonyi và có thể nói rằng đó là một phụ nữ rất xinh đẹp. Tuy tôi chỉ trông thấy bà ấy lúc bà ấy đang khóc…”

Trung úy Lukáš ngồi xuống chiếc giường của người hạ sĩ quan hậu cần và rền rĩ, giọng ông khàn đi: “Bao giờ thì mới xong chuyện, hả Švejk?”

Như thể không nghe rõ, Švejk tiếp tục nói: “Sau đó thì tôi gặp một chuyện nhỏ xíu hơi khó chịu một chút, nhưng mà tôi đã nhận hết lỗi về mình. Người ta đã không tin là chính tôi đã viết thư cho bà ấy, thành ra khi hỏi cung tôi đã nuốt bức thư để phi tang, làm cho họ lẫn lộn dấu vết. Sau đó hoàn toàn tình cờ, vâng, hoàn toàn tình cờ, vì tôi không sao cắt nghĩa khác đi được, mà tôi bị vướng vào một va chạm hết sức nhỏ, vô cùng nhỏ, rất không đáng kể ạ. Cả việc này tôi cũng qua được và người ta công nhận tôi vô tội và gửi tôi đến báo cáo trung đoàn, rồi ở tòa án quân sự sư đoàn thì người ta ngừng toàn bộ việc điều tra. Tôi đã chỉ ở văn phòng trung đoàn có vài phút thôi, rồi ngài đại tá đến, có mắng tôi một tí, sau đó bảo là tôi sẽ làm liên lạc viên và phải đến gặp trung úy ngay ạ. Đại tá cũng bảo tôi báo cáo lại với trung úy, rằng đại tá yêu cầu trung úy đến gặp đại tá ngay vì việc đại đội hành quân. Nhưng mà cũng đã nửa tiếng rồi đấy ạ, ấy là tại vì đại tá đã không biết là người ta còn phải kéo tôi đến văn phòng trung đoàn trưởng, rằng ở đấy tôi đã phải ngồi chờ đến hơn mười lăm phút, tại vì tiền lương bị giữ lại suốt thời gian vừa rồi của tôi thì sẽ được trung đoàn phát, chứ không phải đại đội phát, tại vì tôi đã là tù nhân của trung đoàn. Nhìn chung mà nói thì ở đấy họ lẫn lộn linh tinh chẳng sao mà lần ra được ạ…”

Khi nghe nói là cách đây nửa tiếng đã phải đến gặp đại tá Schröder, trung úy Lukáš đứng dậy mặc áo khoác thật nhanh rồi bảo Švejk: “Anh lại giúp đỡ tôi rất nhiều đấy.” Trung úy nói câu đó bằng giọng buồn bã đầy thất vọng đến mức Švejk phải an ủi khi thấy ông vội vàng lao ra cửa: “Nhưng mà ngài đại tá sẽ chờ, ngoài cái này ra thì đại tá cũng chẳng có việc gì mà làm đâu ạ.”

Một hồi sau khi trung úy đi khỏi, trung sĩ hậu cần tài chính Vaňek bước vào văn phòng. Švejk đang ngồi trên ghế và ném từng cục than nhỏ qua cánh cửa ngỏ vào bếp lò sưởi đang đỏ lửa. Cái bếp lò bốc khói sặc sụa nhưng Švejk vẫn tiếp tục trò tiêu khiển mà không để ý thấy Vaňek. Ông này đứng nhìn Švejk một lúc rồi giơ chân đá vào cửa bếp lò và bảo anh hãy đi khỏi văn phòng.

“Thưa trung sĩ hậu cần tài chính,” Švejk trịnh trọng đáp lời, “tôi xin phép được tuyên bố là ngay cả khi rất muốn, tôi cũng không thể tuân theo lệnh của trung sĩ mà rời khỏi đây, khỏi trại quân đội này, bởi vì tôi phụ thuộc vào lệnh tối cao. Vì tôi là liên lạc viên,” Švejk tự hào nói thêm, “đại tá Schröder phân công tôi về đại đội 11 của trung úy Lukáš, trước đây tôi là lính hầu của trung úy, nhưng nhờ trí thông minh vốn có của mình mà tôi được nâng lên chức liên lạc viên. Tôi với trung úy Lukáš là bạn cũ của nhau đấy. Ông đã làm gì khi còn là dân thường, hả trung sĩ?”

Trung sĩ hậu cần tài chính Vaňek ngạc nhiên vì giọng nói thân mật bạn bè của Švejk đến mức quên cả sĩ diện của mình, cái sĩ diện ông vẫn thường rất thích tỏ ra trước binh lính của đại đội, và trả lời Švejk như thể ông là cấp dưới của anh:

“Tôi là người bán hàng vệ sinh và mỹ phẩm Vaňek ở Kralupy.⦾”

“Tôi cũng đã từng theo học bán hàng vệ sinh mỹ phẩm ở cửa hàng của một ông tên là Kokoška ở Perštýně Praha. Ông ấy là người rất kỳ cục, một lần ở dưới tầng hầm nhà ông ấy, tôi đã nhầm mà đốt thùng xăng làm cháy rụi nhà ông ấy, thế là ông ấy đuổi tôi, rồi cũng chẳng ở đâu nhận tôi vào học nữa, thành ra vì cái thùng ét xăng dở hơi mà việc học hành của tôi bị dở dang. Ông có pha chế thuốc chữa đầy hơi cho bò không?”

Vaňek lắc đầu. “Ở cửa hàng của chúng tôi thì có sản xuất thuốc ấy cho bò, có kèm cả các bức tranh mang hình Đức Thánh nữa. Ông chủ Kokoška của chúng tôi là người rất sùng đạo, một lần ông ấy đọc đâu là Thánh Pelegrinus có phép màu chữa bệnh đầy hơi của bò. Thế là ông chủ cho in các bức tranh Thánh Pelegrinus ở nhà in Smíchov rồi mang đến Emauzy trả hai trăm zlatý để làm lễ Thánh hóa. Sau đó chúng tôi đã cho tranh vào các gói thuốc chữa bệnh đầy hơi cho bò. Thuốc ấy đem hòa vào nước nóng, đổ vào máng cho bò uống, đồng thời phải đọc cho nó một bài cầu Đức Thánh Pelegrinus do ông Tauchen, người giúp việc của chúng tôi viết. Ông chủ quyết định là khi in tranh thì đằng sau các bức tranh cũng còn phải in một bài cầu nguyện ngắn nữa. Thế là buổi tối hôm trước đó, ông Kokoška cho gọi ông Taucher đến và bảo ông ấy là cho đến sáng phải nghĩ ra được một bài cầu nguyện để in vào bức tranh đặt trong các gói thuốc. Ông Kokoška nói rằng ngày hôm sau vào lúc mười giờ sáng ông sẽ đến cửa hàng, lúc ấy thì ông Tauchen phải viết xong để ông mang đến nhà in, rằng các con bò đang chờ bài cầu nguyện ấy. Ông Tauchen chỉ có hai khả năng, hoặc là viết được và sẽ được thưởng một đồng zlatý, hoặc không viết được và hai tuần sau sẽ bị đuổi việc. Thế là ông ấy ngồi nghĩ suốt đêm, đến toát mồ hôi mà chẳng nghĩ ra được cái gì cả. Sáng hôm sau, rũ rượi vì buồn ngủ, ông đến mở cửa hàng. Thậm chí, ông còn quên không nhớ được tên vị thánh ấy là gì nữa. Nhưng Ferdinand, người hầu của chúng tôi, đã cứu vãn tình thế cho ông ấy. Ferdinand là người thành thạo đủ thứ, thí dụ khi chúng tôi phơi trà hoa cúc ở trên tầng mái thì bao giờ ông ấy cũng lên, tháo giày ra và bảo chúng tôi là làm thế thì không bị ra mồ hôi chân. Ông ấy biết bắt chim bồ câu ở trên tầng mái, biết mở két sắt và còn dạy chúng tôi nhiều mánh khóe làm hàng nữa. Hồi còn theo học nghề, tôi đã mang từ cửa hàng về nhà một hộp thuốc mà cả đến các tu sĩ của dòng Trợ thế Thánh Gioan Thiên Chúa cũng không có được. Và ông Ferdinand đã giúp ông Tauchen, ông nói: ‘Ông đưa tôi xem nào.’ Còn ông Tauchen thì sai tôi đi mua bia. Tôi mang bia về thì người hầu Ferdinand của chúng tôi đã viết được một nửa bài và đọc to:

Thánh xuống từ trời

Mang theo thuốc quý

Thuốc cửa hàng tôi

cho cả nhà bò

uống vào rất bổ

bò thấy nhẹ nhàng.

Sau khi uống cạn bia và nhấm nháp một chén rượu thuốc, ông Ferdinand đã nghĩ rất nhanh và chỉ trong khoảnh khắc đã nghĩ nốt được đoạn kết:

Thuốc này rất rẻ

chỉ hai đồng thôi

Bò nào cũng khỏe

Đội ơn Đức Thánh

Pe-le-gri-nus

cứu bò lẫn bê.

Khi ông Kokoška đến thì ông Tauchen theo ông ấy vào văn phòng và sau đó, ông Tauchen cho chúng tôi xem hai đồng zlatý, chứ không phải một đồng như ông Kokoška đã hứa. Ông ấy muốn chia đôi với Ferdinand, thế nhưng người hầu ấy tự nhiên nổi cơn tham của và bảo rằng hoặc là tất cả, hoặc là không. Ừ thì không, thế là ông Tauchen giữ lại cả mà chẳng đưa cho Ferdinand đồng zlatý nào cả, rồi ông lôi tôi vào nhà kho, cho tôi một cái bạt tai và bảo tôi sẽ ăn một trăm cái bạt tai như thế, nếu mà tôi dám mở mồm nói ở đâu rằng bài thơ cầu nguyện ấy không phải là của ông ấy, rằng ngay cả khi Ferdinand đi kêu ca với ông chủ thì tôi cũng phải nói rằng Ferdinand là thằng nói điêu. Tôi đã phải thề với ông ấy trước một lọ giấm ngâm ngải thơm. Nhưng người hầu của chúng tôi bắt đầu ngấm ngầm trả thù, hắn nhằm vào thuốc cho bò mà trả thù. Chúng tôi thường trộn thuốc ở trên tầng mái, trong những cái thùng rất lớn, và Ferdinand đi quét cứt chuột ở khắp nơi, lẻn mang đến đó trộn vào thuốc. Sau đó, hắn còn nhặt phân ngựa ở ngoài đường, phơi ở nhà cho khô, giã nhỏ nó ra và bỏ vào các gói thuốc có bức hình Thánh Pelegrinus. Nhưng thế vẫn chưa đủ, hắn còn đái ỉa vào các thùng thuốc rồi trộn lẫn, làm cho thuốc giống như bột nấu vậy…”

Có tiếng chuông điện thoạo réo. Trung sĩ hậu cần tài chính chạy tới cầm ống nghe, rồi buồn bực bỏ nó xuống: “Tôi phải đến văn phòng trung đoàn. Gọi đột ngột thế này, tôi chẳng thích tí nào.”

Švejk ở lại một mình trong văn phòng. Một lúc sau, lại có chuông điện thoại.

Švejk bắt đầu nói: “Vaňek ư? Ông ấy vừa đi đến văn phòng trung đoàn rồi. Ai đang nói ư? Liên lạc viên của đại đội 11. Thế ai đang nói ở bên ấy? À, liên lạc viên của đại đội 12 hả? Xin chào đồng nghiệp nhé! Tớ tên là gì ư? Švejk. Còn cậu? À, Braun. Cậu có họ hàng gì với ông Braun, thợ làm mũ ở đường Pobřežní ở Karlín không? Không à, cậu không biết ông ấy à… Tớ cũng không biết ông ấy, chỉ có một lần tớ đi tàu điện qua đấy nhìn thấy biển hiệu của cửa hàng ấy thôi. Có gì mới không ư? Tớ chẳng biết gì cả. Bao giờ thì chúng tớ phải đi ư? Tớ vẫn chưa nói với ai về việc đi đâu cả. Thế chúng tớ phải đi đâu?”

“Ra mặt trận, đồ ngốc ạ!”

“Về cái ấy thì tớ chưa nghe thấy ai nói gì cả.”

“Thế mà cậu là liên lạc viên ư? Cậu có biết nếu thiếu úy của cậu…”

“Sếp của tớ là trung úy…”

“Thì cũng thế cả, thế trung úy của cậu đã đi họp ở chỗ đại tá chưa?”

“Đại tá đã mời trung úy đến rồi.”

“Đấy, cậu thấy chưa, sếp của chúng tớ cũng đến đấy, sếp của đại đội 13 cũng thế, tớ vừa mới nói chuyện điện thoại với liên lạc viên của đại đội ấy. Tớ không thấy thích cái vội vã này một tí nào cả. Thế cậu có biết sẽ có quân nhạc khi lên đường không?”

“Tớ chẳng biết gì cả.”

“Này, đừng làm thằng ngu nhé! Cậu có biết là trung sĩ hậu cần tài chính của các cậu đã có thông tin về tàu hỏa rồi không? Các cậu có bao nhiêu người?”

“Tớ không biết.”

“Thằng ngu ạ, cậu tưởng tớ tin cậu ư? (Phía đằng kia, có tiếng người nói chuyện bảo một người bên cạnh:”Franta, cậu nhấc ống nghe thứ hai để thấy đại đội 11 có thằng liên lạc viên ngu đến thế nào.) Alo, cậu ngủ hay sao thế hả? Thế thì trả lời đi chứ, khi mà đồng nghiệp hỏi cậu! Thế cậu vẫn chưa biết gì cả à? Đừng có chối! Thế trung sĩ hậu cần của các cậu không bảo gì về chuyện các cậu đi lĩnh đồ hộp à? Rằng cậu không nói chuyện với ông ấy về những việc như thế à? Cậu thật là thằng ngu xuẩn. Thế việc ấy chẳng liên quan gì đấy cậu ư? (Có tiếng cười ở đầu dây đằng kia) Cậu điên hay sao thế hả? Nếu biết thêm cái gì thì gọi điện cho chúng tớ đến đại đội 12 nhé, quý tử ạ. Cậu người ở đâu đấy?”

“Ở Praha.”

“Thế thì đáng lẽ cậu phải khôn ngoan hơn… À, còn chuyện này nữa: trung sĩ hậu cần của các cậu đi đến văn phòng lúc nào?”

“Người ta vừa mới gọi điện cho ông ấy.”

“Ờ, thế mà cậu chẳng nói ngay. Hậu cần của chúng tớ cũng vừa đi, chắc chắn là đang có chuẩn bị cái gì đây. Thế cậu đã nói chuyện với bên hậu cần chưa?”

“Chưa.”

“Ối trời đất ơi, thế mà cậu bảo cậu là người Praha. Sao ngu thế! Cậu chẳng quan tâm chăm lo đến việc gì cả. Cậu làm gì cả ngày, hả?”

“Tớ vừa từ tòa án quân sự sư đoàn về cách đây một tiếng.”

“A, thế thì là chuyện khác, anh bạn ơi, thế thì ngày hôm nay tới phải đến thăm cậu. Đặt máy xuống hai lần nhé.”

Švejk định châm tẩu hút thì lại có tiếng chuông điện thoại. Anh nghĩ thầm: “Đừng quấy rầy mệt xác, tôi chẳng chuyện trò gì với các anh.”

Nhưng chuông điện thoại cứ réo mãi không ngừng, Švejk không chịu được nữa, anh cầm ống nghe và gào vào máy: “Alo, ai đấy hả? Švejk đây, liên lạc viên của đại đội 11 đây!”

Qua câu trả lời, Švejk nhận ra giọng trung úy Lukáš: “Các anh đang làm gì ở đấy hả? Vaňek đâu? Gọi ông ấy đến điện thoại ngay lập tức!”

“Báo cáo trung úy là mới có chuông điện thoại ạ.”

“Này Švejk, tôi không có thời giờ nói chuyện với anh. Các cuộc điện thoại trong quân đội không phải là tán gẫu qua điện thoại, như là khi ta mời ai đến nhà chơi ăn trưa. Các cuộc điện thoại phải rõ ràng và ngắn gọn. Khi nói qua điện thoại thì cũng không phải thưa gửi báo cáo trung úy gì cả. Bây giờ tôi hỏi anh, Vaňek có ở chỗ anh không? Bảo ông ấy đến nhận điện thoại ngay!”

“Ông ấy không ở chỗ tôi ạ, báo cáo trung úy. Người ta đã gọi ông ấy đi đến văn phòng trung đoàn, cách đây có lẽ chưa đầy mười lăm phút ạ.”

“Khi nào về tôi sẽ làm việc với anh! Anh không thể trình bày ngắn gọn được hay sao? Bây giờ thì nghe tôi bảo anh đây. Anh phải nghe thật chú ý, kẻo rồi lại viện cớ là máy rè không nghe rõ, hiểu không? Ngay lập tức sau khi đặt máy…”

Im lặng. Chuông điện thoại lại réo. Švejk nhấc máy, ở đầu bên kia là một tràng câu chửi mắng: “Đồ con bò, đồ ngu độn, quân khốn kiếp. Anh làm cái gì thế hả? Vì sao anh dập máy, hả?”

“Thưa, trung úy bảo là tôi đặt máy ạ.”

“Một tiếng nữa tôi sẽ về, rồi anh biết tay tôi… Còn bây giờ thì anh ra ngoài nhà, tìm một trung đội trưởng nào đấy, thí dụ anh Fushs, bảo anh ta lấy mười người lính rồi đi ngay với họ đến kho lĩnh đồ hộp. Anh nhắc lại đi, anh ấy phải làm gì?”

“Đi với mười người đến kho lĩnh đồ hộp cho đại đội ạ.”

“Ừ, ít ra thì một lần anh không làm chuyện ngớ ngẩn. Bây giờ thì tôi đi gọi điện đến văn phòng trung đoàn cho Vaňek để ông ấy cũng đi đến nhà kho nhận đồ hộp ấy. Nếu mà trong khi ấy ông ấy trở về văn phòng thì anh bảo ông ấy chạy thật nhanh đến kho. Anh hiểu không? Còn bây giờ thì anh đặt máy được rồi.”

Švejk tìm mãi mà không gặp được trung đội trưởng Fuchs, kể cả các sĩ quan khác. Bởi lẽ lúc đó, tất cả mọi người đang gỡ xương ở nhà bếp và thích thú nhìn người khổng lồ Baloun bị trói. Mặc dù anh ấy được đứng cả hai chân trên đất, vì người ta đã thương tình mà không trói anh lên cao hơn, nhưng trông anh ấy rất buồn cười. Một đầu bếp mang ra một cái xương sườn nhét vào miệng con người khổng lồ đầy râu ria xồm xoàm ấy. Vì tay bị trói, Baloun thận trọng xoay miếng xương ở trong miệng, rằng anh nhần gặm cái xương, trông anh như người rừng vậy.

“Ai ở đây là trung đội trưởng Fuchs?” Švejk hỏi khi đã tìm thấy mọi người ở bếp.

Trung đội trưởng Fuchs không cảm thấy đáng phải lên tiếng khi thấy người tìm mình là một người lính bình thường.

“Ối trời,” Švejk nói, “tôi sẽ phải hỏi đến bao giờ? Trung đội trưởng Fuchs ở đâu?”

Và trung đội trưởng Fuchs đứng ra, vô cùng hãnh diện lên tiếng chửi rủa, rằng anh chẳng phải là một trung đội trưởng nào cả, mà là ngài trung đội trưởng, rằng không được phép hỏi: “Trung đội trưởng ở đâu?” mà phải hỏi: “Báo cáo, ngài trung đội trưởng ở đâu ạ?” rằng ở trung đội của anh, nếu người nào không nói báo cáo bằng tiếng Đức thì sẽ bị vả vào mồm liền.

“Này, từ từ!” Švejk nghiêm khắc nói, “bây giờ anh hãy vào nhà ngay, lấy mười người rồi đi thật nhanh với họ đến kho lĩnh đồ hộp.”

Trung đội trưởng Fuchs ngạc nhiên đến nỗi chỉ thốt ra được một câu “Cái gì hả?”

“Chẳng cái gì cái giầm nào cả,” Švejk trả lời, “tôi là liên lạc viên của đại đội 11 và tôi vừa mới nói chuyện qua điện thoại với trung úy Lukáš. Trung úy đã bảo đi thật nhanh với mười người đến kho. Nếu anh không đi, trung đội trưởng Fuchs ạ, thì tôi sẽ quay trở về máy điện thoại ngay tức thì. Trung úy đã đặc biệt muốn anh đi, vì vậy nói lôi thôi về chuyện ấy cũng chỉ bằng thừa. ‘Cuộc điện thoại,’ như trung úy Lukáš đã bảo ‘phải ngắn gọn, rõ ràng. Khi bảo trung đội trưởng Fuchs đi thì trung đội trưởng Fuchs phải đi. Đấy là mệnh lệnh, chứ không phải là việc tán gẫu qua điện thoại như là khi ta mời ai đến nhà ăn trưa. Ở trong quân đội, đặc biệt trong chiến tranh, thì bất kỳ mọi sự chậm trễ nào cũng là tội ác. Khi mà tay trung đội trưởng Fuchs không đi ngay sau khi anh báo tin, thì anh gọi điện lập tức cho tôi và tôi sẽ cho hắn biết tay. Trung đội trưởng Fuchs sẽ chẳng còn lại đến một cái lông chân.’ Thế đấy, các anh vẫn còn chưa biết trung úy đâu!”

Švejk đắc thắng nhìn các sĩ quan, lời diễn thuyết của anh làm họ thật sự kinh ngạc và đồng thời cũng thấy buồn nản.

Trung đội trưởng Fuchs lầm bầm một cái gì không rõ ràng và bước nhanh khỏi đó. Švejk gọi với theo: “Tôi có thể gọi điện để trung úy biết là mọi việc đều ổn cả chứ?”

“Tôi với mười người lính sẽ có mặt ở kho ngay,” trung đội trưởng Fuchs nói từ phía căn nhà. Švejk không nói gì thêm nữa, anh rời khỏi nhóm sĩ quan, những người cũng đang ngạc nhiên như trung đội trưởng Fuchs.

“Thế là bắt đầu rồi,” hạ sĩ Blažek với dáng người nhỏ bé nói, “chúng ta sẽ chuẩn bị phải đi.”

Khi trở về văn phòng của đại đội 11, Švejk vẫn không có thời gian để châm lửa hút tẩu, bởi vì lại có tiếng chuông điện thoại. Trung úy Lukáš nói với Švejk:

“Anh cứ đi đâu thế hả Švejk? Tôi đã gọi đến lần thứ ba rồi mà không ai nhấc máy.”

“Thưa trung úy, tôi đã đi giải quyết việc đến kho ạ.”

“Họ đã đi chưa?”

“Tất nhiên là đi rồi, nhưng tôi không biết họ đã đến chưa. Hay là tôi phải ra đấy một lần nữa ạ?”

“Anh có tìm thấy trung đội trưởng Fuchs không?”

“Có ạ, thưa trung úy. Lúc đầu anh ấy bảo là ‘Cái gì hả?’ rồi mãi sau khi tôi giải thích cho anh ấy biết là các cuộc nói chuyện qua điện thoại phải ngắn gọn và rõ ràng…”

“Này Švejk, đừng lắm chuyện… Vaňek vẫn chưa về à?”

“Thưa trung úy, vẫn chưa về ạ.”

“Đừng có hét ầm vào điện thoại như thế. Anh có biết tay Vaňek chết tiệt ấy đang ở đâu không?”

“Thưa trung úy, tôi không biết tay Vaňek chết tiệt ấy đang ở đâu ạ.”

“Ông ấy đã ở văn phòng trung đoàn, nhưng rồi đi đâu mất. Tôi nghĩ là có lẽ ông ấy ở căng tin. Vậy anh đi tìm ông ấy, bảo ông ấy đến kho ngay. Còn một việc này nữa: anh đi tìm hạ sĩ Blažek, bảo anh ta cởi trói ngay cho Baloun rồi anh bảo Baloun đến gặp tôi. Anh hãy đặt máy đi!”

Švejk thật sự bắt đầu phải làm nhiều việc. Khi anh tìm được hạ sĩ Blaček và truyền lại mệnh lệnh của trung úy về việc cởi trói cho Baloun thì hạ sĩ lầu bầu: “Chắc là họ sợ, khi mà họ có vấn đề.”

Švejk ra xem cởi trói cho Baloun rồi đi cùng với anh ta, bởi vì đến căng tin để tìm trung sĩ hậu cần tài chính thì cũng theo hướng ấy.

Baloun nhìn Švejk như nhìn vị cứu tinh của mình và hứa với Švejk là nếu nhận được gói quà nào từ gia đình thì cũng sẽ chia cho anh.

“Ở nhà tớ sắp có mổ lợn,” Baloun buồn buồn nhớ nhung, “cậu thích tlačenka trắng, hay có tiết?⦾ Cứ bảo tớ đi, tối hôm nay tớ viết thư về nhà. Con lợn của tớ dễ chừng phải được tạ rưỡi rồi, nó có cái đầu giống chó bò Anh, loại lợn ấy là loại ngon nhất đấy. Thịt của nó tử tế chứ chẳng phải bỏ đi tí nào đâu. Giống lợn ấy tốt lắm, khỏe mạnh chóng lớn lắm. Chắc chắn nó sẽ có mỡ khổ rất dày cậu ạ. Hồi còn ở nhà, tớ làm dồi gan với thịt và bao giờ tớ cũng ăn đến nứt bụng. Con lợn năm ngoái được đến một trăm sáu mươi ký. Ôi chao, lợn ra lợn nhé,” Baloun nói rất hào hứng và nắm chặt tay Švejk khi mỗi người rẽ sang một đường, “tớ đã chỉ cho nó ăn khoai tây thôi mà nó lớn như thổi, chính tớ cũng phải ngạc nhiên. Giăm bông thì tớ ngâm nước muối. Rồi cắt một miếng thịt nướng thật ngon ăn với bánh khoai tây có rắc tóp mỡ, với rau bắp cải chua, cậu thử tượng tượng xem nó ngon đến chừng nào, rồi sau đấy còn uống cốc bia nữa chứ. Con người ta lúc ấy phải thấy sung sướng biết bao. Ấy thế mà chiến tranh đã cướp đi mất tất tật mọi thứ của chúng ta.”

Người đàn ông với bộ râu xồm xoàm buồn bã thở dài và đi về phía văn phòng trung đoàn, còn Švejk thì rẽ sang con đường dưới hai rặng cây đoạn⦾ cao đã có tuổi.

Trung sĩ hậu cần tài chính đang ngồi rất thoải mái trong căng tin và kể cho một người bạn sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu về việc trước chiến tranh có thể kiếm được bao nhiêu khi bán sơn và xi măng quét tường.

Ông sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu đang ở trạng thái mệt mỏi khó chịu. Buổi sáng hôm nay có một ông chủ trang trại ở Pardubice đến thăm con trai đang ở trong trại quân đội. Ông chủ trang trại đã đút lót ông sĩ quan hậu cần một món quà to và suốt buổi sáng đã thết ông rất hậu hĩnh ở dưới thành phố.

Bây giờ ông ngồi đấy, rất mệt mỏi chán chường và chẳng thấy cái gì ngon miệng nữa, cũng chẳng biết đang nói cái gì, thành ra ông không có phản ứng gì trong câu chuyện về sơn và xi măng quét tường.

Ông chỉ đang mải bận tâm về những tưởng tượng của chính mình và lảm nhảm nói một cái gì về việc cần phải có tuyến tàu hỏa từ Třeboň đến Pelhřimov và ngược lại.

Švejk bước vào văn phòng đúng lúc trung sĩ Vaňek đang cố nói một lần nữa cho ông bạn hậu cần của Ban Tham mưu biết về số lãi kiếm được qua một kilo xi măng quét tường, nhưng ông bạn trả lời bằng câu hoàn toàn ngoài chủ đề:

“Trên đường trở về đã chết, chỉ để lại các bức thư.”

Khi trông thấy Švejk, ông ấy đã nhầm anh với một người đáng ghét nào đó và bắt đầu lên tiếng rủa, rằng anh là người có giọng nói ồm ồm.

Švejk tiến tới Vaňek, lúc này cũng đã say sưa, nhưng đồng thời vẫn còn tỏ ra là người rất dễ chịu đáng yêu.

“Thưa trung sĩ,” Švejk nói với ông ấy, “ông phải đi đến kho ngay, trung đội trưởng Fuchs với mười người lính đang chờ ông ở đấy, nhà kho sẽ phát đồ hộp. Ông phải chạy thật nhanh đến đấy. Trung úy đã gọi điện hai lần rồi.”

Vaňek he he cười: “Thế thì họa có là điên, chú lính yêu quý ạ. Chẳng lẽ tôi không tin mình hay sao, hả thiên thần? Còn nhiều thời gian lắm, đi đâu mà phải vội vàng, mà phải chạy thật nhanh, hả chàng trai trẻ? Đến khi nào trung úy Lukáš đưa lính hành quân ra mặt trận bằng ấy lần như tôi, thì lúc ấy mới có thể hiểu được vấn đề, rồi sẽ không đi nhũng nhiễu người khác, bắt người ta phải thật nhanh, biết không?

Ở văn phòng trung đoàn người ta đã bảo tôi là ngày mai chúng ta đi, rằng chúng ta phải chuẩn bị hành trang và đi lĩnh mọi thứ để lên đường. Thế nhưng tôi đã làm gì nào? Tôi đã thong thả đến đây làm một cốc rượu vang, tôi ngồi đây rất thoải mái, để mặc cho mọi việc đến đâu thì đến. Đồ hộp thì mặc đồ hộp, lĩnh hàng cũng mặc lĩnh hàng. Tôi biết về nhà kho rõ hơn trung úy và cũng biết trong cuộc họp của ngài đại tá với các ngài sĩ quan người ta đã nói những gì. Ngài đại tá chỉ tưởng tượng ra là trong kho có đồ hộp thôi. Kho của chúng ta chưa bao giờ có một hộp dự trữ nào cả, mà chỉ được lữ đoàn phát cho tùy theo từng trường hợp, hay là đi vay của các trung đoàn quen biết khác thôi. Chỉ riêng trung đoàn ở Benešov thôi chúng ta đã nợ hơn ba trăm hộp rồi. Vì thế, mặc họ muốn nói gì ở cuộc họp thì nói, chẳng phải vội vàng mà làm chi. Tất nhiên là khi người của chúng ta đến kho thì thủ kho sẽ bảo họ điên hay sao. Chưa có một đại đội nào được phát đồ hộp trước khi ra chiến trường. Có phải không, hả ngốc?” Vaňek quay sang nói với người sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu. Nhưng người này hoặc đã bắt đầu thiếp đi, hay là đang mê sảng, vì đã trả lời: “Khi đi, cô ấy cầm một cái ô che đầu.”

“Tốt nhất là,” Vaňek tiếp tục, “anh cứ để mặc mọi việc. Nếu ngày hôm nay ở văn phòng trung đoàn nói là ngày mai lên đường, thì đến đứa trẻ con cũng không được tin điều ấy. Không có tàu thì anh có thể đi được đến đâu? Lúc tôi còn ở văn phòng, người ta đã gọi điện ra nhà ga, ở đấy bây giờ chẳng có lấy một toa nào còn trống. Lần hành quân trước đây của một đại đội cũng tương tự như thế. Lần ấy, chúng tôi đã chờ ở nhà ga hai ngày, cho đến lúc có người rủ lòng thương thu xếp cho một con tàu. Nhưng sau đó chúng tôi lại chẳng biết sẽ đi đâu, kể cả đại tá cũng không biết. Chúng tôi đã đi xuyên Hungary mà vẫn chưa ai biết sẽ đi tới Serbia, hay sang Nga. Ở nhà ga nào người ta cũng nói trực tiếp với Ban Tham mưu sư đoàn. Té ra chúng tôi chỉ đi lấp chỗ trống thôi. Cuối cùng thì họ đưa chúng tôi đến Dukla, ở đây chúng tôi đã bị đánh tan tành, thế rồi lại quay về lập đại đội mới. Cứ từ từ đã, dần dần mọi việc sẽ rõ ràng, chẳng việc gì mà phải vội vàng. Anh cho tôi cốc nữa nhé. Hôm nay ở đây có rượu vang ngon tuyệt vời,” Vaňek tiếp tục nói và chẳng hề để ý đến người sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu đang lầm bầm: “Ông tin tôi đi, nào tôi đã được hưởng thụ gì mấy đâu, tôi đã tự hỏi câu này.”

“Sao mà tôi phải lo lắng bằng thừa với việc lên đường của tiểu đoàn hành quân. Khi tôi đi lần đầu tiên cùng với một đại đội ra trận thì chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ là mọi thứ đã đâu vào đấy. Còn ở các đại đội khác của tiểu đoàn chúng tôi ngày ấy thì việc chuẩn bị kéo dài đến hai ngày. Nhưng thiếu úy Přenosil, một người rất bảnh trai, đại đội trưởng của chúng tôi, thì bảo chúng tôi là: ‘Các cậu cứ từ từ!’ Ấy thế mà mọi việc đều suôn sẻ cả. Hai tiếng đồng hồ trước khi tàu chạy chúng tôi mới bắt đầu sắp xếp hành lý. Tốt nhất là anh cứ ngồi xuống đây…”

“Tôi không thể ngồi đây được,” người lính tốt Švejk hết sức tự cưỡng lại mình, “tôi phải về văn phòng, ngộ nhỡ có người gọi điện…”

“Thế thì về đi, anh bạn vàng ạ. Nhưng mà hãy nhớ đời là việc anh làm chẳng có gì là đẹp đẽ cả, bởi vì liên lạc viên thực thụ không bao giờ được phép có mặt ở nơi nào người ta cần anh ta. Anh không được lao vào công việc một cách quá nhiệt tình như thế. Quả thật không có gì xấu hơn người lính liên lạc viên hoảng sợ muốn nhai nuốt cả quân đội, linh hồn yêu quý ạ.”

Nhưng Švejk đã ra cửa để trở về văn phòng đại đội mình.

Vaňek lại bị bỏ rơi ở đó, vì dứt khoát không thể nói được rằng sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu có thể ngồi cùng tâm sự với ông được. Người sĩ quan ấy đang vừa vuốt ve cốc rượu, vừa tâm sự với chính mình, toàn những chuyện không đầu không đuôi và cũng bằng một mớ lẫn lộn cả tiếng Séc lẫn tiếng Đức:

“Tôi đã đi qua cái làng ấy rất nhiều lần mà không hề biết rằng nó tồn tại ở trên đời. Hồi giữa năm tôi đã thi quốc gia xong và bác sĩ của tôi đã làm. Tôi đã trở thành người què quặt rồi, cảm ơn cô, Lucie ạ. Chúng được phát hành thành từng tập dày.”

Trung sĩ hậu cần Vaňek buồn chán gõ gõ lên bàn một điệu hành khúc, nhưng chỉ một lúc sau, cửa mở ra và Jurajda, đầu bếp của nhà bếp sĩ quan, bước vào rồi ngồi ngay xuống ghế.

“Hôm nay,” anh lè nhè, “chúng tôi được lệnh đi lĩnh Cognac để lên đường. Tại vì trong bình đựng rượu vẫn còn một ít rượu Rum, thành ra chúng tôi phải uống cạn. Ối trời, uống mãi mới hết. Tất cả nhân viên nhà bếp đều bị say. Tôi đã tính nhầm khẩu phần nên khi đại tá đến thì chẳng còn sót giọt nào cho ông ấy, thế là bây giờ trong bếp đang làm trứng tráng cho đại tá, anh bảo thế có buồn cười không?”

“Ừ, quả thật là chuyện rất mạo hiểm hấp dẫn.” Vaňek nhận xét. “Khi rượu vào thì bao giờ ông cũng thích những lời lẽ đẹp đẽ.”

Người đầu bếp Jurajda chuyển sang triết lý, nói cho cùng thì nó đúng với nghề anh đã làm khi còn là dân thường. Trước khi nhập ngũ thì anh đã phát hành tạp chí huyền bí và hàng loạt sách Những bí ẩn về cuộc sống và cái chết.

Trong quân đội, anh lần được vào nhà bếp của sĩ quan trung đoàn. Anh rất hay làm cháy thịt nướng vì thường vừa nấu ăn vừa dán mắt đọc sách dịch Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa Sự toàn hảo của Trí huệ.

Đại tá Schröder quý Jurajda như quý một cái gì đặc biệt của trung đoàn, bởi vì có nhà bếp trung đoàn nào có thể tự hào với đầu bếp là người hiểu biết về những điều huyền bí đâu! Và người đầu bếp có hiểu biết về những bí ẩn của cuộc sống và cái chết ấy lại có thể làm cho tất cả mọi người ngạc nhiên về món thịt bò thăn hầm với nước xốt rất ngon, hay món ragu ngon đến mức mà thiếu úy Dufek trước khi mất vì bị thương ở Komárov cứ gọi mãi tên Jurajda.

Phải khó khăn lắm Jurajda mới ngồi vững được trên ghế, từ người anh toát ra nặng mùi rượu Rum. Anh nói: “Vâng, khi thấy chẳng còn sót giọt rượu nào, mà lại chỉ trông thấy khoai tây hầm, đại tá bị rơi vào trạng thái gaki. Ông có biết gaki là gì không? Đấy là trạng thái của ma đói. Thế là tôi bảo: ‘Thưa đại tá, ngài có đủ nghị lực vượt qua được cái định mệnh là bây giờ không còn món thận bê cho đại tá không? Luật nhân quả có định là bữa chiều ngày hôm nay, đại tá sẽ ăn món trứng tráng với gan bê hầm băm nhỏ rất ngon ạ.’ Ông bạn thân mến ơi,” Jurajda ngừng một lúc, rồi lại nói với trung sĩ hậu cần, đồng thời bất giác vung tay làm đổ tất cả mọi cốc chén ở trên bàn phía trước mặt mình, “có sự tồn tại về cái hư vô của tất cả mọi hiện tượng, hình tượng và sự vật,” người đầu bếp tin vào sự huyền bí nói một cách u sầu sau khi gạt đổ mọi thứ trên bàn, “hình tượng là hư vô và hư vô là hình tượng. Hư vô không khác hình tượng và hình tượng không khác hư vô. Cái gì là hư vô, cái đó là hình tượng, cái gì là hình tượng, cái đó là hư vô.”

Hai tay chống trán, người đầu bếp im lặng nhìn xuống mặt bàn ướt. Sĩ quan hậu cần của Ban Tham mưu còn lầu bầu một cái gì rắc rối nữa, chẳng có đầu có đuôi:

“Lúa mì biến khỏi ruộng, biến khỏi ruộng – trong trạng thái ấy anh nhận lời đến thăm cô ấy. Ngày lễ Chúa Thánh thần hạ trần rơi vào mùa xuân.”

Trung sĩ Vaňek lại gõ tay lên bàn, tiếp tục uống rượu và thỉnh thoảng nhớ đến việc mười người lính cùng trung đội trưởng đang đứng chờ ông ở nhà kho. Và nhớ đến chuyện đó, ông lại phẩy tay mỉm cười.

Trở về văn phòng đại đội 11 khi đã muộn, trung sĩ Vaňek thấy Švejk đang ngồi bên điện thoại. “Hình tượng là hư vô và hư vô là hình tượng,” ông nói, rồi cứ để nguyên quần áo trên người, ông lăn ra giường ngủ ngay.

Còn Švejk thì ngồi suốt bên máy điện thoại, bởi vì trước đó hai tiếng, trung úy Lukáš đã gọi điện cho anh, rằng ông vẫn còn đang họp ở chỗ đại tá, nhưng ông quên mất không bảo là Švejk có thể đi khỏi máy điện thoại.

Sau đó, cả trung đội trưởng Fuchs cũng gọi điện cho anh. Cùng với mười người lính, trung đội trưởng cũng chờ suốt thời gian, không những chỉ phí công chờ trung sĩ hậu cần tài chính Vaňek, mà thậm chí còn thấy là nhà kho đóng cửa. Cuối cùng, trung đội trưởng bỏ đi đâu mất và những người lính thì lần lượt trở về phòng mình.

Thỉnh thoảng, Švejk tiêu khiển bằng cách cầm ống điện thoại để nghe. Đó là điện thoại của một hệ thống mới mà người ta đưa vào sử dụng trong quân đội. Nó có cái thuận lợi là qua ống nghe có thể nghe thấy rất rõ các cuộc nói chuyện của người khác trên toàn tuyến.

Nào là quân nhu chửi các doanh trại pháo binh, nào là công binh đe dọa bưu điện quân đội, rồi trường bắn gầm gừ với bộ phận súng máy…

Và Švejk thì cứ ngồi suốt bên máy điện thoại…

Đại tá Schröder nói về lý thuyết mới nhất trong lĩnh vực dịch vụ quân sự và đặc biệt nhấn mạnh vào máy bắn mìn.

Đại tá nói chẳng ra đầu cuối gì về việc cách đây hai tháng, mặt trận đã đứng vững được như thế nào ở phía dưới và bên phía đông, về tầm quan trọng của kết nối chính xác giữa các bộ phận, về khí độc, về bắn hạ máy bay của quân địch, về tiếp tế cho binh lính ngoài mặt trận và sau đó ông chuyển sang nói về tình hình nội bộ của quân đội.

Ông nói về quan hệ của các sĩ quan đối với quân lính, về quan hệ của quân lính với các hạ sĩ quan, về việc chạy sang phía quân thù ở ngoài chiến tuyến, về các sự kiện chính trị, đến vấn đề năm mươi phần trăm lính người Séc là những phần tử có nghi ngờ về chính trị.

“Vâng, thưa các ngài, Kramář, Schneider và Klofáč.”⦾ Phần lớn các sĩ quan đều nghĩ bao giờ thì lão già thôi không nói chuyện ngớ ngẩn nữa, nhưng đại tá lại tiếp tục huyên thuyên về những nhiệm vụ mới của các tiểu đoàn hành quân, về những sĩ quan đã hy sinh của trung đoàn, về tàu bay Zeppelin, về các kỵ sĩ Tây Ban Nha, về sự tuyên thệ.

Nghe đến lời tuyên thệ, trung úy Lukáš chợt nhớ ra rằng khi cả tiểu đoàn làm lễ tuyên thệ thì người lính tốt Švejk đã không tham dự, bởi vì lúc đó anh còn đang ở tòa án quân sự sư đoàn.

Tự nhiên, trung úy cảm thấy mọi chuyện rất buồn cười. Một số sĩ quan ngồi quanh ông cũng bị lây cái cười không nín được ấy và tất cả rúc rích cười, làm đại tá phải nhìn họ. Đồng thời, đại tá chuyển sang nói về kinh nghiệm rút quân của quân đội Đức Ardennes. Ông đã nhầm lẫn lung tung rồi kết thúc: “Thưa các ngài, đây không phải là chuyện đáng cười.”

Sau đó, vì đại tá Schröder có điện thoại từ Phòng Tham mưu lữ đoàn nên tất cả mọi người rời văn phòng đi đến casino sĩ quan.

Švejk ngồi gà gật bên máy điện thoại, chợt tiếng chuông reo làm anh tỉnh giấc.

“Alo, văn phòng trung đoàn đây,” anh nghe thấy tiếng từ đầu dây bên kia.

“Alo,” anh trả lời, “văn phòng đại đội hành quân 11 đây!”

“Đừng lôi thôi mất thời gian,” tiếng bên kia nói, “lấy giấy bút viết đi! Nhận điện báo đây: Đại đội hành quân 11…”

Rồi tiếp theo đó là một chuỗi câu lộn xộn nghe chẳng rõ ràng, bởi vì chúng bị xen lẫn vào tiếng nói đồng thời của đại đội 12 và 13, thành ra tiếng đọc điện báo hoàn toàn bị chìm trong cái âm thanh hỗn loạn ấy. Švejk chẳng hiểu được lấy một lời. Cuối cùng thì những tiếng ấy ngừng lại và Švejk nghe được câu nói từ đầu dây bên kia:

“Alo, alo, đọc lại đi, nhanh lên!”

“Đọc lại cái gì?”

“Đọc lại cái gì ư? Đồ con bò! Đọc lại bức điện!”

“Bức điện nào?”

“Mẹ kiếp! Điếc hay sao đấy hả? Bức điện mà tớ vừa đọc cho cậu ấy, đồ ngu ạ!”

“Tớ chẳng nghe thấy gì cả, đã có tiếng ai cứ nói xen vào.”

“Đồ con khỉ! Cậu nghĩ là tớ chỉ nói chuyện với cậu thôi hay sao? Thế cậu nhận điện, hay là không hả? Cậu có giấy bút không? Không có hả? Đồ khốn kiếp, rằng tớ phải chờ đến lúc cậu tìm thấy hả? Trời ơi, lính với tráng! Thế nào, xong chưa? Rằng cậu đã sẵn sàng rồi hả? Gớm, cậu đã sẵn sàng, cậu đã đi thay cả quần áo hay sao thế? Thôi, nghe đây!”

Và người ở đầu dây bên kia bắt đầu đọc lại bức điện bằng tiếng Đức:

“Đại đội hành quân số 11. Nhắc lại đi!”

“Đại đội hành quân số 11…”

“Đại đội trưởng… Xong chưa? Nhắc lại đi!”

“Đại đội trưởng!…”

“Buổi sáng đi họp… Xong chưa? Nhắc lại đi!”

“Buổi sáng đi họp…”

“Lúc chín giờ. Đã ký. Cậu có biết đã ký là gì không, đồ con khỉ? Đấy là chữ ký. Nhắc lại đi!”

“Lúc chín giờ, đã ký. Cậu – có – biết – đã – ký – là – gì – không, đồ con khỉ, đấy – là – chữ – ký.”

“Thằng ngu ạ! Ừ, chữ ký đây: Đại tá Schröder. Đồ con lợn! Xong chưa? Nhắc lại đi!”

“Đại tá Schröder, đồ con lợn.”

“Được rồi, thằng ngu ạ! Ai đã nhận bức điện ấy đấy?”

“Tớ.”

“Mẹ kiếp! Tớ là ai?”

“Švejk. Còn gì nữa không?”

“Nhờ trời, không còn gì nữa. Nhưng mà cậu thì đáng lẽ phải tên là Bò. Ở chỗ các cậu có gì mới không?”

“Chẳng có gì mới, vẫn như thường.”

“Cậu lấy làm mừng, phải không? Nghe bảo hôm nay chỗ các cậu có trói một người.”

“À, lính hầu của trung úy. Hắn đã ăn mất thức ăn của trung úy. Cậu có biết bao giờ chúng ta đi không?”

“Ối trời, hỏi gì thế? Cái ấy thì đến cả lão già cũng không biết. Chúc cậu ngon giấc. À, ở chỗ các cậu có rận không?”

Švejk đặt máy rồi đánh thức trung sĩ Vaňek. Trung sĩ chống cự kịch liệt, khi Švejk bắt đầu lay mạnh thì ông đấm vào mũi anh, rồi nằm sấp bụng xuống và giơ chân đạp tứ tung.

Nhưng cuối cùng thì Švejk đã đánh thức được, trung sĩ dụi mắt, nằm ngửa lại và hốt hoảng hỏi có chuyện gì xảy ra.

“Chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Tôi chỉ muốn hỏi một tí thôi. Chúng ta vừa mới nhận được điện báo là sáng ngày mai lúc chín giờ trung úy Lukáš phải đi họp ở chỗ đại tá. Bây giờ tôi chẳng biết phải làm thế nào. Tôi phải báo cho trung úy biết ngay, hay là để đến sáng mai? Tôi cứ băn khoăn mãi không biết có nên đánh thức ông dậy không, khi thấy ông ngáy ngon như thế, nhưng mà cuối cùng tôi tự nhủ là không biết thì nên đi hỏi…”

“Giời đất ơi, xin anh để cho tôi ngủ,” Vaňek rền rĩ và ngáp dài, “mãi đến sáng mới đi họp cơ mà. Để cho tôi ngủ!” Nói đoạn, trung sĩ xoay người nằm nghiêng rồi lại nhắm mắt ngủ ngay tức khắc.

Švejk quay trở lại máy điện thoại, ngồi xuống bên bàn và cũng bắt đầu thiu thiu ngủ. Tiếng chuông điện thoại làm anh thức giấc.

“Alo, đại đội 11 phải không?”

“Vâng, đại đội 11 đây. Ai đấy?”

“Đại đội 13. Alo. Mấy giờ rồi? Tớ không làm sao gọi được đến tổng đài. Mãi chẳng có ai đến thay cho tớ.”

“Đồng hồ ở đây không chạy.”

“Thế thì các cậu cũng giống chúng tớ. Này, cậu có biết bao giờ chúng ta đi không? Cậu có nói với ai ở văn phòng trung đoàn không?”

“Ở văn phòng cũng chẳng ai biết cái cứt gì, giống như chúng mình.”

“Đừng nói tục thế cô em ạ. Các cậu đã lĩnh đồ hộp chưa? Người đại đội chúng tớ đi lĩnh nhưng mà về không. Nhà kho đóng cửa.”

“Người của đại đội chúng tớ cũng về không.”

“Tớ nghĩ cái đó chỉ gây hoảng loạn không cần thiết. Cậu nghĩ là chúng ta sẽ đi đâu?”

“Đi Nga.”

“Nhưng tớ nghĩ là chắc đi Serbia hơn. Chúng mình sẽ biết khi tới được Budapest. Nếu người ta chở chúng mình sang phía tay phải thì tức là đi Serbia, nếu sang phía trái thì là Nga. Các cậu đã có túi đựng bánh mì chưa? Nghe bảo sẽ có tăng lương phải không? Cậu có chơi bài con bốn không? Có hả? Thế thì ngày mai đến nhé! Tối nào chúng tớ cũng chơi. Chỗ các cậu có mấy người trực điện thoại? Chỉ mình cậu thôi ư? Thế thì kệ cha nó, đi ngủ đi. Chỗ các cậu sao mà có quy định lạ đời thế. À, cậu như mèo mù vớ cá rán hả? Thôi, tớ thôi đây, có người đến trực thay phiên cho tớ rồi. Chúc cậu ngủ ngon nhé!”

Và tất nhiên Švejk ngủ rất ngon ở bên bàn. Anh quên đặt máy, thành ra chẳng ai làm anh phải thức giấc, chỉ có điều điện thoại viên của văn phòng trung đoàn đã điên tiết chửi rủa vì không thể gọi được đến đại đội 11 để gửi tới đó một bức điện mới, yêu cầu đến mười hai giờ ngày hôm sau phải báo cáo lên văn phòng trung đoàn con số những người chưa tiêm chủng phòng bệnh thương hàn.

Trong khi đó ở casino sĩ quan, trung úy Lukáš vẫn còn ngồi với bác sĩ quân y Šancler. Bác sĩ ngồi xoay mặt về lưng ghế như đang ngồi trên lưng ngựa, cây cơ bida trong tay ông đập đập xuống sàn nhà theo từng quãng thời gian đều đặn, đồng thời ông nói các câu sau theo từng nhịp đập của nó:

“Sultan Saladin lần đầu tiên công nhận sự trung lập của quân đoàn cứu thương.

Phải chăm sóc cho thương binh ở cả hai bên trận tuyến.

Tiền thuốc và tiền chữa bệnh cho thương binh phía bên này phải được chi trả bằng tiền của phía bên kia.

Các bác sĩ và những người phụ việc đi chăm sóc thương binh phải được phép mang hộ chiếu như các vị tướng.

Tù binh bị thương cũng phải được trao trả lại dưới sự bảo vệ và bảo lãnh của các vị tướng, hay bằng cách trao đổi tù binh.

Không được bắt làm tù binh hoặc giết binh lính bị ốm của cả hai bên, mà phải đưa họ về nơi an toàn đến các bệnh viện. Giống như họ, phải cho phép lính đi hộ tống cũng được mang hộ chiếu như các vị tướng. Điều này cũng phải áp dụng cho cả các tuyên úy quân đội, cho các bác sĩ, các nhà phẫu thuật, các nhà thuốc, các y sĩ y tá, những người phụ việc và những nhân viên chăm sóc người ốm. Không được phép bắt những người kể trên làm tù binh mà phải trao trả họ bằng cách tương tự.”

Bác sĩ Šancler đã làm gẫy hai cây cơ bida mà vẫn chưa nói xong thuyết trình kỳ dị của mình về việc chăm sóc thương binh trong chiến tranh, và cứ đưa lẫn vào đó những quyển hộ chiếu của các vị tướng.

Trung úy Lukáš uống cạn cốc cà phê đen rồi đi về phòng mình. Trong phòng, ông thấy người khổng lồ râu rậm Baloun đang ngồi rán một khúc salami trên cái bếp cồn của ông.

“Tôi mạn phép,” Baloun lắp bắp, “báo cáo, tôi xin phép…”

Trung úy nhìn anh ta. Lúc ấy, ông thấy Baloun như một đứa trẻ to xác còn ngây thơ và bỗng nhiên ông thấy ân hận là đã cho trói hắn lại chỉ vì cái bụng luôn đói mèm của hắn.

“Ừ, cứ rán đi, Baloun ạ.” Vừa nói ông vừa tháo thanh kiếm, “ngày mai tôi sẽ bảo người ta phát thêm một suất bánh mì cho anh.”

Trung úy ngồi vào bàn với tâm trạng tình cảm khiến ông lấy bút viết thư cho cô mình.

Cô yêu quý!

Cháu vừa nhận được lệnh chuẩn bị đi cùng đại đội mình ra mặt trận. Có thể đây là bức thư cuối cùng cô nhận được của cháu, bởi vì cuộc chiến đang diễn ra khốc liệt ở mọi nơi và chúng ta đang tổn thất lớn. Vì thế mà cháu thấy khó có thể kết thúc thư này bằng lời tạm biệt, mà đúng hơn là cháu xin vĩnh biệt cô!

“Những thứ khác thì để ngày mai viết,” trung úy nghĩ thế rồi đi ngủ.

Khi thấy trung úy đã ngủ say, Baloun bắt đầu lục lọi tìm tòi trong phòng như con gián tìm mồi trong đêm. Anh mở cái va-li của trung úy, lấy ra thanh chocolate và cắn một miếng, nhưng rồi giật mình khi thấy trung úy cọ quay trong giấc ngủ, anh vội đặt thanh chocolate đã cắn vào va-li và bình tĩnh trở lại.

Sau đó Baloun đi đến bàn để đọc bức thư trung úy đã viết.

Đọc xong bức thư, Baloun thấy rung động xốn xang, đặc biệt vì hai chữ vĩnh biệt.

Anh nằm xuống cái đệm rơm ở gần cửa và thấy nhớ nhà, nhớ những lần mổ lợn.

Anh không thể nào dứt ra khỏi cái tưởng tượng sống động, thấy mình đang làm tlačenka. Anh nhớ cả đến việc hàng xóm của mình cũng làm tlačenka. Rồi anh ngủ thiếp đi. Một giấc ngủ chập chờn không yên.

Baloun mơ thấy mình thuê một người thợ mổ lợn không khéo tay và khi nhồi jitrnice⦾ ông ấy đã làm thủng. Sau đó, anh lại mơ thấy người thợ mổ lợn quên không làm jelito⦾, rồi để vào đâu mất cái thủ lợn, rồi thiếu dây buộc dồi. Tiếp nữa, anh mơ thấy tòa án quân sự, vì anh đã bị bắt khi lấy trộm một miếng thịt của nhà bếp. Cuối cùng thì anh thấy mình bị treo cổ trên một cây đoạn ở rặng cây trong trại quân đội ở Bruck an der Leitha.

Švejk tỉnh dậy khi trời đã về sáng, một buổi sáng tới cùng với mùi thơm lừng của cà phê đóng hộp tỏa ra từ các nhà bếp đại đội. Như thể vừa nói xong một cuộc điện thoại, anh cầm ống nghe đang buông thõng đặt vào máy, rồi đi đi lại lại làm một chuyến dạo buổi sáng trong văn phòng, đồng thời cất tiếng hát.

Anh bắt đầu ngay bằng đoạn giữa của bài hát, kể về một người lính đi đến cối xay nước thăm người yêu là con gái ông chủ cối xay. Người lính được ông chủ đưa đến chỗ con gái ông nhưng trước đó anh gọi mẹ cô gái:

Mẹ ơi đã nấu xong chưa

cho con gái mẹ no nê bữa chiều.

Vợ ông chủ cối xay cho người lính đốn mạt ăn chiều. Rồi sau đó là cái thảm họa của gia đình:

Mẹ cha dậy lúc sáng nay

thấy trên cửa có viết to dòng này:

An-na, cô gái nhà ta,

không còn trinh nữa, kính thưa ông bà.

Švejk hát to đến mức làm cả văn phòng như sống lại, trung sĩ Vaněk mở mắt hỏi lúc ấy là mấy giờ.

“Vừa mới có kèn đánh thức ạ.”

“Thế thì tôi sẽ dậy sau giờ uống cà phê,” trung sĩ quyết định như vậy, ông bao giờ cũng thong dong, làm việc gì cũng có thừa thãi thời gian, “thế nào rồi ngày hôm nay người ta cũng lại hành hạ chúng mình, bắt chúng mình phải vội vàng không cần thiết giống như với chuyện lĩnh đồ hộp ngày hôm qua…” Ông ngáp dài rồi hỏi ngày hôm qua khi trở về văn phòng, ông có nói năng gì nhiều không.

“Chỉ nói hơi dớ dẩn một tí thôi ạ,” Švejk nói, “ông cứ lè nhè mãi về cái… Ờ, về bức tượng, rằng bức tượng không phải là bức tượng, rằng cái không phải là bức tượng thì là bức tượng, rằng bức tượng lại không phải là bức tượng. Nhưng mà cái bức tượng ấy làm ông mệt ngay thành ra ông ngủ luôn rồi ngáy như sấm ạ.”

Švejk im lặng đi đến cửa rồi quay trở lại dừng trước giường của trung sĩ hậu cần và bảo:

“Về tôi mà nói thì hôm qua khi nghe ông nói về những bức tượng, tôi chợt nhớ đến một ông tên là Zátka, thợ khí đốt. Ông này làm việc ở trạm phân phối khí đốt ở Letná và có nhiệm vụ thắp đèn tắt đèn ở ngoài đường. Đó là một người chuyên thắp sáng đèn và được khai sáng, và thường đi đến đủ các loại quán ở Letná, bởi vì thời gian từ lúc thắp đèn cho đến lúc đi tắt đèn là khoảng thời gian khá dài. Thế rồi lúc về sáng ông ấy cũng nói ở trạm khí đốt những chuyện tương tự như ông nói đêm qua, chỉ có điều ông ấy bảo: ‘Hình lập phương có cạnh, vì thế hình lập phương còn được gọi là hình lập phương cạnh.’ Tôi tận mắt được thấy ông ấy nói như thế, bởi có lần vì làm bẩn đường phố mà tôi bị cảnh sát bắt. Nhưng mà vì chính cảnh sát cũng say bí tỉ, thành ra đáng lẽ giải tôi đến trạm cảnh sát thì hắn lại giải đến trạm phân phối khí đốt. Sau này,” Švejk nói khẽ, “ông Zátka đã gặp chuyện rất xấu. Số là ông ấy gia nhập Hiệp hội Marián thuộc dòng Tên, thường cùng với những mụ già ngoan đạo rất ngu xuẩn đi nghe giảng đạo của cha Jemelka ở nhà thờ Thánh Ignacio ở quảng trường Karel. Một lần, khi các nhà truyền giáo đến nhà thờ ấy thì ông ấy quên mất không đi tắt đèn ở khu mình phụ trách, thế là tất cả những cái đèn thắp bằng khí đốt ở đó chiếu sáng liên tục trong suốt ba ngày ba đêm. Bỗng nhiên dính dáng đến chuyện triết lý,” Švejk tiếp tục, “là một điều rất xấu, bao giờ nó cũng dẫn đến chứng mê sảng của người nghiện rượu nặng. Trước đây, người ta chuyển một ngài thiếu tá tên là Blüher từ trung đoàn bảy mươi lăm đến chỗ chúng tôi. Cứ mỗi tháng một lần, thiếu tá lại cho triệu tập chúng tôi tới xếp hàng thành đội hình hình vuông để nói với chúng tôi về quyền lực của cấp trên trong quân đội. Ông này không uống gì ngoài rượu mận. Các anh lính ạ, mỗi một người sĩ quan, ông giảng giải cho chúng tôi ở ngoài sân doanh trại, tự bản thân đã là một sinh linh hoàn thiện nhất, trí khôn của người ấy lớn gấp trăm lần trí khôn của tất cả các anh gộp lại. Các anh không thể tưởng tượng ra được một người nào hoàn thiện hơn người sĩ quan, cho dù các anh suy nghĩ về điều ấy suốt cuộc đời mình. Người sĩ quan nào cũng là một người cần thiết, còn các anh thì chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên, các anh có thể tồn tại, nhưng không nhất thiết phải tồn tại. Nếu xảy ra chiến tranh mà các anh ngã xuống vì Hoàng đế thì chẳng có thay đổi gì mấy, nhưng nếu người sĩ quan ngã xuống trước thì lúc ấy các anh mới thấy các anh phụ thuộc vào người đó đến mức vào, và cái thiệt hại ấy lớn đến mức nào. Sĩ quan phải tồn tại, còn sự tồn tại của các anh thì bắt đầu từ họ, các anh sinh ra từ họ, các anh không thể không có sĩ quan, nếu không có cấp trên của mình thì đến đánh rắm các anh cũng chẳng làm nổi. Đối với các anh, người sĩ quan là luật pháp về đạo đức, cho dù các anh hiểu điều ấy hay không, và bởi vì mỗi một điều luật phải có người lập pháp của nó, chính người sĩ quan và chỉ có người sĩ quan mới là người lập pháp. Đối với sĩ quan, các anh cảm thấy, và phải cảm thấy rằng các anh có nghĩa vụ chấp hành vô điều kiện tất cả các mệnh lệnh của họ, ngay cả khi các anh không muốn Một lần, sau khi đã thuyết trình, thiếu tá đi vòng quanh chúng tôi và hỏi từng người một:

‘Anh cảm thấy gì, khi anh quá chén?’

Mọi người trả lời rất lúng túng, thí dụ là vẫn chưa bao giờ quá chén, hay là những lúc uống quá nhiều thì họ bị nôn nao khó chịu, có người còn nói là cảm thấy sẽ bị phạt không được ra khỏi doanh trại, vân vân và vân vân. Những người ấy lập tức bị thiếu tá ra lệnh đứng sang một bên, rằng họ bị phạt và buổi chiều họ sẽ phải ra sân tập thể dục bởi vì đã không biết diễn đạt như thế nào cả về cái gì họ cảm thấy.

Trước khi đến lượt bị hỏi, tôi nhớ lại những gì ông ấy đã nói với chúng tôi lần trước, và lúc ông ấy hỏi thì tôi bình thản trả lời:

‘Báo cáo đại tá là khi quá chén thì bao giờ tôi cũng có trong người một cảm giác không yên, một nỗi lo sợ và thấy lương tâm cắn rứt. Nhưng mặc dù quá chén mà tôi vẫn kịp trở về doanh trại một cách êm thấm thì tôi có một cảm giác yên bình tuyệt vời và trong nội tâm tôi cảm thấy hài lòng ạ.’

Tất cả mọi người ồ lên cười và thiếu tá Blüher quát vào mặt tôi:

‘Những lúc ấy thì rận leo lên người anh thì có, chứ cảm giác cảm giếc gì, khi mà anh lăn ngay ra giường ngáy khò khò. Đồ láo lếu, thế mà anh lại còn lấy đó làm trò đùa.’

Hôm ấy, tôi bị một trận trói treo đã đời.”

“Trong quân đội thì không thể khác được,” trung sĩ hậu cần uể oải vươn mình ở trên giường, “cái đó đã thành thói quen rồi, anh có trả lời thế nào đi nữa, có làm bất kỳ cái gì đi nữa thì trên đầu anh cũng có mây đen và sấm sét. Không thế thì không thể có kỷ luật được.”

“Ông nói đúng,” Švejk trả lời, “tôi không bao giờ quên chuyện người ta bắt giam cậu tân binh Pech. Ở đại đội chúng tôi có một thiếu úy tên là Moc và ông này cho tập hợp tất cả các tân binh rồi lần lượt hỏi từng người quê ở đâu.

‘Lũ tân binh ngờ nghệch khốn kiếp các anh,’ thiếu úy bảo họ, ‘các anh phải học cách trả lời rõ ràng, chính xác như cái máy. Bây giờ thì ta bắt đầu học cách trả lời. Anh người ở đâu, hả anh Pech?’ Cậu tân binh Pech là người thông minh, cậu ấy trả lời thế này: “Làng Dolní Boušov, tiếng Đức là Unter Bauzen, 267 ngôi nhà, 1.936 dân người Séc, thuộc tỉnh Jičín, huyện Sobotka, lâu đài quý tộc Kost, nhà thờ Thánh nữ Catarina từ thế kỷ 14, được Bá tước Václav Vratislav Netolický tu sửa lại, trường học, bưu điện, phòng đánh điện, nhà ga đường sắt thương mại, nhà máy đường, nhà máy cưa, trang trại hẻo lánh Valcha, sáu hội chợ…’ Nghe đến đấy, thiếu úy Moc nhảy chồm lên và bắt đầu vừa tát anh ta vừa thét: ‘thì cho anh một hội chợ này, hai hội chợ này, ba, bốn, năm, sáu hội chợ này.’ Thế là Pech ta, mặc dù mới chỉ là tân binh, đã phải đi trình diện lên đến tận tiểu đoàn. Ngày ấy ở văn phòng toàn người vui tính nên họ đã viết là tân binh Pech đi tiểu đoàn trình diện vì các hội chợ ở Dolní Boušov. Tiểu đoàn trưởng ngày ấy là thiếu tá Rohell. Ông ấy hỏi Pech bằng tiếng Đức: ‘Thế nào, có chuyện gì vậy?’ và Pech trả lời: ‘Báo cáo thiếu tá là ở Dolní Boušov có sáu hội chợ ạ.’ Thiếu tá Rohell gầm lên, giậm chân thình thịch và cho giải Pech ngay tức khắc đến phòng tâm thần của bệnh viện quân y. Từ đó, Pech trở thành người lính tồi tệ nhất, toàn bị phạt thôi.”

“Giáo dục binh lính là việc khó,” trung sĩ hậu cần Vaňek ngáp dài và nói, “trong quân đội, người lính nào chưa bị kỷ luật không phải là người lính. Có thể là trong thời bình thì người lính nào hết nghĩa vụ quân sự mà không bị kỷ luật một lần nào trong thời gian tại ngũ sẽ được ưu tiên khi tìm việc dân sự. Còn bây giờ trong chiến tranh thì những người lính xấu xa nhất, những kẻ mà trong thời bình không bao giờ ra khỏi được nhà tù, lại trở thành những người lính tốt nhất. Tôi nhớ ở đại đội 8 có một tay lính bộ binh tên là Sylvanus. Trước đó hắn luôn luôn bị xử phạt, mà toàn vì những tội ghê gớm. Hắn chẳng hề đắn đo lấy cắp đồng xu cuối cùng của bạn mình, nhưng khi ở mặt trận thì hắn là người đầu tiên cắt hàng rào dây thép gai và bắt luôn được ba tù binh, trên đường giải tù binh về thì hắn bắn chết một người, nghe bảo vì người lính ấy không chịu tin hắn. Sau đó, hắn được tặng huy chương bạc, được gắn thêm hai sao, giá mà sau này người ta đừng treo cổ hắn ở Dukla thì có thể hắn đã là trung đội trưởng từ lâu rồi. Nhưng mà người ta phải treo cổ hắn, bởi vì sau một trận đánh, hắn đã xung phong đi kiểm tra trận tuyến và một nhóm tuần tra của trung đoàn khác bắt quả tang hắn đang lục túi các xác chết. Họ tìm thấy túi hắn khoảng tám chiếc đồng hồ và nhiều cái nhẫn. Thế là hắn bị treo cổ ở bên phòng tham mưu lữ đoàn.”

“Cứ theo đó mà suy ra thì mỗi một người lính phải tự tìm được chỗ đứng của mình.” Švejk kết luận đầy triết lí.

Có tiếng chuông điện thoại. Trung sĩ Vaněk đi đến máy điện thoại và ở đầu bên kia là tiếng của trung úy Lukáš hỏi về chuyện đồ hộp. Cũng nghe thấy cả tiếng trách móc.

“Quả thật là không có, thưa trung úy,” Vaňek hét vào máy điện thoại, “lấy ở đâu ra mà có, cái ấy chỉ là trong tưởng tượng của bên tiếp tế từ hậu phương thôi. Gửi người đến kho để lĩnh là việc hoàn toàn thừa. Tôi đã muốn gọi điện cho trung úy. Rằng tôi đã ở căng tin ư? Ai đã bảo trung úy thế? Tay đầu bếp huyền bí của nhà bếp sĩ quan ư? Vâng, tôi tự cho phép mình đến đấy ạ. Thưa trung úy, ông có biết tay đầu bếp huyền bí ấy đã nói gì về cái hoảng loạn xung quanh chuyện đồ hộp không? Hắn bảo đấy là nỗi kinh hoàng của trẻ chưa sinh. Ồ không ạ, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Švejk đang làm gì ư? Anh ấy đang ở đây. Tôi gọi anh ấy ạ? Švejk ơi, điện thoại!” trung sĩ gọi Švejk và nói nhỏ với anh, “nếu trung úy có hỏi tôi đã về đây như thế nào thì anh bảo là mọi chuyện ổn cả nhé.”

Švejk cầm máy: “Švejk đây ạ, báo cáo trung úy.”

“Này anh Švejk, chuyện đồ hộp thế nào rồi hả? Ổn cả chứ?”

“Thưa trung úy, không có đồ hộp ạ, cũng chẳng biết tình hình thế nào ạ.”

“Chừng nào chúng ta còn ở trong trại quân đội thì tôi muốn anh sáng nào cũng phải thông tin cho tôi. Khi chúng ta lên đường thì anh sẽ luôn luôn ở bên tôi. Đêm hôm qua anh đã làm gì?”

“Tôi đã ở bên máy điện thoại cả đêm ạ.”

“Có gì mới không?”

“Có ạ, thưa trung úy.”

“Này, lại bắt đầu lôi thôi đấy hả? Có ai gọi báo tin gì quan trọng không?”

“Có ạ, có người báo tin ạ, thưa trung úy, nhưng mà lúc chín giờ cơ ạ.”

“Thế thì anh nói đi chứ, cái gì quan trọng vào lúc chín giờ, hả?”

“Thưa trung úy, bức điện ạ.”

“Tôi không hiểu anh nói gì.”

“Thưa trung úy, tôi đã ghi lại đây ạ: ‘Anh hãy nhận bức điện. Ai đang nói đấy? Xong chưa? Đọc lại đi.’ Và nhiều thứ tương tự như thế ạ.”

“Ối trời ơi, thật là khổ với anh. Hãy nói cho tôi nội dung bức điện đi, không thì tôi cho anh cái tát bay đầu bây giờ. Bức điện ấy nói gì?”

“Lại một cuộc họp, thưa trung úy, vào lúc chín giờ sáng ở văn phòng đại tá ạ. Ban đêm tôi đã muốn đánh thức trung úy, nhưng rồi nghĩ lại nên thôi ạ.”

“Ừ, may cho anh đấy, chứ nếu đánh thức thì quả là anh táo tợn, dám đánh thức tôi vì những cái nhỏ mọn ngu ngốc, khi có để đến sáng cũng còn thừa thời gian. Lại có chuyện rồi, đồ quỷ chỉ chuyên hành hạ! Anh bỏ máy đấy đi gọi Vaňek cho tôi!”

Trung sĩ Vaňek nhấc máy và nói bằng tiếng Đức: “Sĩ quan hậu cần Vaňek, thưa trung úy.”

“Anh tìm ngay cho tôi một lính hầu khác. Thằng Baloun mất dạy đêm hôm qua đã ăn vụng tất cả chocolate của tôi. Trói hắn lại ư? Không, chúng ta đưa hắn sang bên quân y. Hắn to lớn như hộ pháp, hắn có thể kéo thương binh từ mặt trận về. Tôi gửi hắn đến anh ngay bây giờ. Anh giải quyết việc này ở văn phòng trung đoàn rồi quay về đại đội lập tức, hiểu không? Anh có nghĩ là chúng ta sắp đi không?”

“Chẳng đi đâu mà vội, thưa trung úy. Hồi tôi phải đi với đại đội 9 thì người ta đã giục làm chúng tôi sốt ruột đến bốn ngày. Với đại đội 8 cũng thế. Chỉ với đại đội 10 thì khá hơn. Lúc ấy chúng tôi đang phục vụ ở địa phương thì buổi trưa nhận được lệnh và ngay chiều hôm ấy chúng tôi đã lên đường rồi, nhưng chỉ có điều là sau đó họ để chúng tôi đi từ chỗ này sang chỗ khác ở Hungary mà không biết sẽ đi bổ sung lấp lỗ hổng cho quân đội ở mặt trận nào.”

Trong suốt thời gian làm đại đội trưởng đại đội 11, trung úy Lukáš rơi vào tình thế mà theo triết học ta gọi là tình thế có tính nguyên hợp, hay cũng còn gọi là hổ lốn, khi ông cố gắng làm cân bằng những mâu thuẫn về khái niệm thông qua các nhượng bộ cho đến mức pha lẫn mọi quan điểm.

Vì thế ông cũng trả lời: “Vâng, có thể như thế, nó đã như thế. Tức là anh cho rằng ngày hôm nay ta không đi à? Lúc chín giờ chúng tôi sẽ có cuộc họp với đại tá. À, anh có biết rằng anh là sĩ quan hậu cần đang thường trực không? Ấy là tôi chỉ nhắc thế thôi. Anh hãy chuẩn bị cho tôi… Khoan đã, anh phải chuẩn bị cái gì cho tôi nhỉ…? À, danh sách hạ sĩ quan và ngày tháng phục vụ từ bao giờ… Cả dự trữ của đại đội nữa. Dân tộc ư? Vâng, vâng, cả dân tộc nữa. Nhưng chủ yếu là anh tìm cho tôi một lính hầu mới… Hôm nay thiếu úy Pleschner phải làm cái gì với đại đội? À, chuẩn bị lên đường. Phiếu thanh toán ư? Sau bữa trưa tôi sẽ đến ký. Anh đừng cho phép ai xuống phố. Đến căng tin trong trại ư? Sau bữa trưa, chỉ một tiếng thôi… Bây giờ anh gọi Švejk đến đây cho tôi!… Švejk đấy hả? Anh hãy chờ bên máy điện thoại.”

“Báo cáo trung úy, tôi vẫn chưa uống cà phê ạ.”

“Thế thì anh mang cà phê vào văn phòng rồi ngồi bên máy chờ tôi gọi. Anh biết liên lạc viên là gì không?”

“Là chân chạy ạ, thưa trung úy.”

“Đừng chạy đi đâu cả, anh ngồi tại chỗ mà chờ tôi gọi. Bảo Vaňek một lần nữa là phải tìm cho tôi một lính hầu mới. Alo, Švejk, anh còn ở đây không?”

“Dạ, còn ạ, thưa trung úy, người ta vừa mang cà phê đến ạ.”

“Alo, Švejk!”

“Dạ tôi nghe đây, thưa trung úy, cà phê nguội lạnh cả rồi ạ!”

“Này Švejk, anh đã biết rõ thế nào là lính hầu. Khi Vaňek dẫn người ấy đến thì anh hãy xem hắn là người thế nào rồi cho tôi biết. Bây giờ thì đặt máy xuống đi.”

Nhấm nháp cốc cà phê có pha thêm rượu Rum đựng kín đáo trong cái lọ mang nhãn hiệu Mực (cho cẩn thận), trung sĩ Vaňek nhìn Švejk và bảo: “Trung úy gào vào điện thoại to quá nên tôi nghe rõ được từng lời. Švejk ạ, anh phải là người rất thân quen với trung úy.”

“Vâng, chúng tôi hai mà một,” Švejk trả lời, “và rất bao che cho nhau. Chúng tôi đã cùng nhau trải qua nhiều sự kiện. Rất nhiều lần người ta muốn tách chúng tôi ra, nhưng bao giờ chúng tôi cũng lại tìm thấy nhau. Trung úy bao giờ cũng tin tưởng tôi trong tất cả mọi việc, làm chính tôi nhiều lần phải thấy ngạc nhiên. Ông chắc hẳn cũng đã nghe thấy nói là một lần nữa tôi phải nhắc ông tìm cho trung úy một lính hầu mới, còn tôi thì sẽ xem đó là người thế nào để đảm bảo cho trung úy. Không phải với lính hầu nào trung úy cũng thấy hài lòng đâu.”

Khi triệu tập hợp tất cả các sĩ quan của trung đoàn hành quân, đại tá Schröder lại thấy rất sung sướng là có thêm dịp thuyết trình. Bên cạnh đó, cũng còn cần phải đi đến quyết định về vụ người lính tình nguyện một năm Marek không chịu cọ rửa nhà xí và bị đại tá kết tội nổi loạn, vì phải gửi quyết định đến tòa án quân sự của sư đoàn.

Từ đêm hôm qua, người ta đã giải người lính tình nguyện Marek từ tòa án quân sự sư đoàn trở về trung đoàn, hiện anh bị tạm giữ ở phòng bảo vệ chính của trung đoàn. Người ta cũng gửi kèm theo một văn bản của tòa án quân sự sư đoàn tới văn phòng trung đoàn. Nhưng văn bản ấy hết sức rắc rối, trong đó có chứng minh là trường hợp này không phải là nổi loạn, bởi vì những người lính tình nguyện một năm không có nghĩa vụ phải cọ rửa nhà vệ sinh, nhưng dù sao thì đây cũng là trường hợp vi phạm kỷ luật không phục tùng cấp trên, và hành động vi phạm kỷ luật đó có thể được tha thứ nếu bị cáo có thái độ cư xử tốt ở ngoài mặt trận. Vì những lý do đó, tòa gửi bị cáo, người lính tình nguyện một năm Marek, trở lại trung đoàn và việc điều tra về vi phạm kỷ luật sẽ tạm ngừng cho đến lúc kết thúc chiến tranh, nhưng sẽ lại tiếp tục điều tra trong trường hợp bị cáo phạm tội mới.

Cùng với người lính tình nguyện một năm Marek có một trường hợp nữa, còn một người nữa cũng được tòa án quân sự sư đoàn gửi tới phòng bảo vệ chính của trung đoàn. Đó là trung đội trưởng giả tên là Teveles, người cách đây không lâu được chuyển đến trung đoàn sau khi ra viện ở Zagreb. Anh ấy có một huân chương bạc, mang quân hàm ba sao của lính tình nguyện một năm. Anh ấy kể về những chiến công anh hùng của đại đội 6 tại Serbia, rằng chỉ còn một mình anh sống sót. Khi điều tra thì người ta phát hiện ra là hồi đầu chiến tranh, đại đội 6 quả có một người tên là Teveles, nhưng người ấy không phải lính tình nguyện một năm. Theo thông tin nhận được từ lữ đoàn mà đại đội 6 đã sáp nhập vào khi rút chạy khỏi Beograd ngày 2 tháng 12 năm 1914, thì thấy là trong danh sách đề cử khen thưởng, cũng như danh sách người đã được khen thưởng, không có người nào tên là Teveles. Nhưng thông tin về việc nếu người lính bộ binh Teveles có được bổ nhiệm chức vụ đại đội trưởng trong chiến dịch ở Beograd hay không thì cũng không thể tìm thấy được ở đâu, vì toàn bộ đại đội cùng với các sĩ quan đã bị hy sinh ở bên nhà thờ Thánh Sava ở Beograd. Teveles đã tự bào chữa ở tòa án quân sự sư đoàn rằng thật sự anh ta được đề nghị khen thưởng huân chương bạc, và vì thế mà khi ở trong bệnh viện anh ta đã mua lại của một người Bosna. Còn nói về những vạch quân hàm của lính tình nguyện một năm thì anh ấy tự khâu vào lúc say rượu, rằng anh ấy cứ tiếp tục đeo quân hàm ấy bởi vì anh ấy vẫn say, và còn đang yếu nữa bởi bệnh kiết lỵ.

Khi cuộc họp bắt đầu và trước khi bàn luận về vấn đề của hai trường hợp kể trên, đại tá Schröder nói rằng trước khi lên đường mọi người cần phải gặp gỡ nhau thường xuyên hơn, rằng thời điểm lên đường đã đến rất gần. Đại tá đã nhận được thông tin từ lữ đoàn, rằng lữ đoàn đang chờ lệnh từ sư đoàn. Quân lính phải ở tình trạng báo động, các đại đội trưởng phải theo dõi ráo riết để không một ai được vắng mặt. Đại tá nhắc lại một lần nữa tất cả những gì ông đã nói trong cuộc họp ngày hôm qua, lại đưa tổng quan về tình hình chiến sự, rằng không được phép ngăn cản tinh thần chiến đấu cũng như những sáng kiến quân sự của binh lính.

Trên bàn phía trước mặt đại tá là tấm bản đồ chiến trường với những lá cờ nhỏ ghim bằng đinh ghim. Nhưng những lá cờ nhỏ ấy đã bị xáo trộn và các chiến trường thì bị xê dịch. Những chiếc đinh ghim có gắn cờ bị nhổ ra khỏi bản đồ đang nằm bừa bãi dưới gầm bàn.

Đêm hôm qua, toàn bộ chiến trường bị con mèo đực của các thư ký văn phòng trung đoàn leo lên phá tan tành. Nó đã ỉa lên các vùng chiến trường của Đế quốc Áo–Hung, rồi khi muốn bới để giấu phân, nó đã kéo bật những lá cờ nhỏ cắm trên đó, nó bôi phân lên tất cả các chiến hào, đái lên các trận tuyến và các cầu nối, làm ô uế tất cả mọi quân đoàn.

Đại tá Schröder là người cận thị rất nặng.

Tất cả các sĩ quan của trung đoàn hành quân hồi hộp nhìn ngón tay đại tá đang tiến gần đến những cục phân.

“Thưa các ngài, từ đây tới Sokal ở Bug⦾,” đại tá Schröder tiên đoán và theo trí nhớ, ông dịch ngón tay trỏ về phía dãy núi Karpat rồi chọc đúng vào một cục mà con mèo đã để lại khi muốn biến tấm bản đồ chiến trường phẳng thành bản đồ địa hình nổi.

“Ôi, cái gì thế này hả các ngài?” đại tá kinh ngạc hỏi khi thấy một cái gì đó dính vào ngón tay mình.

“Rất có thể đó là phân mèo ạ, thưa đại tá,” thay mặt tất cả mọi người, đại úy Ságner vô cùng lịch sự trả lời.

Đại tá Schröder lao sang văn phòng bên cạnh. Từ đó vọng ra tiếng sấm gầm rung trời chuyển đất và lời đe dọa khủng khiếp, rằng đại tá sẽ bắt tất cả liếm sạch thứ con mèo đực để lại trên tấm bản đồ.

Cuộc tra hỏi diễn ra rất nhanh, qua đó mới phát hiện ra rằng cách đây mười bốn ngày, anh Zwiebelfisch, người thư ký trẻ nhất, đã mang con mèo ấy đến văn phòng. Ngay sau bị phát hiện, Zwiebelfisch đã phải vơ vội đồ đạc của mình và bị một thư ký lớn tuổi hơn dẫn ra phòng bảo vệ. Anh ấy sẽ phải ngồi chờ ở đấy cho đến lúc đại tá ra lệnh mới.

Nói cho đúng thì sự kiện ấy đã kết thúc cuộc họp. Khi đại tá mặt đỏ tía tai quay trở lại văn phòng với các sĩ quan, ông đã quên biến đi rằng vẫn còn phải ra quyết định về số phận của người lính tình nguyện một năm Marek và Teveles, người đội lốt trung đội trưởng.

Đại tá đã nói rất ngắn gọn: “Tôi yêu cầu tất cả các ngài giữ tình thế báo động, chờ tôi ra lệnh và chỉ thị mới.”

Thế là người lính tình nguyện một năm và anh Teveles tiếp tục ngồi ở phòng bảo vệ. Khi có thêm anh Zwiebelfisch, họ đã có thể chơi bài lá mariáš và sau khi chơi mariáš, họ còn nhũng nhiễu yêu cầu lính của phòng bảo vệ bắt rận ở những cái đệm rơm nữa.

Sau đó, người ta còn giải đến phòng bảo vệ cả anh binh nhất Peroutka của đại đội 13. Ngày hôm qua, khi trong trại quân đội có tin chuẩn bị lên đường ra mặt trận thì anh này biến đi đâu mất, mãi đến sáng thì đội tuần tra mới tìm thấy anh ấy ở quán Bông hồng trắng dưới thành phố Bruck an der Leitha. Anh ấy viện lý do là trước khi lên đường còn muốn đến xem nhà kính nổi tiếng của Bá tước Harrach trong thành phố Bruck, và trên đường quay trở về doanh trại thì anh ấy bị lạc, rồi mãi đến sáng khi mệt lử đi anh ấy mới đến được quán Bông hồng trắng. (Trong thực tế thì anh ấy nằm ngủ với cô Hoa Hồng của quán Bông hồng trắng.)

Tình hình vẫn cứ không rõ ràng. Mọi người không biết sẽ đi hay ở. Trong văn phòng của đại đội 11, Švejk nghe thấy đủ mọi quan điểm, cả bi quan lẫn lạc quan. Đại đội 12 gọi điện nói là có người nào đó ở văn phòng bảo rằng sẽ còn chờ đến lúc tập bắn mục tiêu di động, rằng sẽ lên đường sau khi tập bắn với vũ khí hạng nhẹ. Đại đội 13 không có chung quan điểm lạc quan ấy và gọi điện tới thông báo rằng hạ sĩ Havlík vừa mới từ thành phố về, rằng anh ấy đã nghe một nhân viên phục vụ nhà ga bảo rằng các toa tàu đã đỗ ở nhà ga rồi.

Trung sĩ Vaněk giật ống nghe từ tay Švejk và điên tiết hét vào máy, rằng nhân viên phục vụ nhà ga biết cái đếch gì, rằng ông vừa mới từ văn phòng trung đoàn về.

Švejk ngồi trực bên máy điện thoại với một tình yêu thực thụ và tất cả mọi câu hỏi có cái gì mới đều được anh trả lời là vẫn chưa biết cái gì cụ thể.

Cũng bằng cách đó, anh trả lời trung úy khi ông gọi điện về hỏi: “Ở đại đội có gì mới?”

“Thưa trung úy, vẫn chưa biết cái gì cụ thể ạ,” anh nói như đã nói với những người khác.

“Đồ con bò! Đặt máy xuống!”

Tiếp đó là hàng loạt các bức điện mà Švejk đã nhận sau một hồi lâu không hiểu. Trước hết là bức điện mà người ta không thể chuyển cho anh trong đêm, bởi lẽ anh đi ngủ mà không đặt ống nghe vào máy. Đó là bức điện liên quan đến danh sách những người đã tiêm chủng và những người chưa tiêm chủng.

Tiếp nữa là bức điện đến muộn, nói về đồ hộp, nhưng vấn đề này đã được làm sáng tỏ ngay vào buổi chiều ngày hôm qua rồi.

Sau đó là bức điện gửi tất cả các tiểu đoàn, đại đội và các bộ phận của trung đoàn với nội dung như sau:

Bản sao bức điện số 75692 của lữ đoàn

Lệnh số 172 cho lữ đoàn

Căn cứ vào báo cáo thống kê về hoạt động của nhà bếp quân đội, bảng danh sách các loại thực phẩm dùng trong nhà bếp sẽ có quy định thứ tự như sau: 1. thịt tươi, 2. đồ hộp, 3. rau tươi, 4. rau khô, 5. gạo, 6. mì ống, 7. hạt mì thô, 8. khoai tây, thay cho thứ tự trước đây loại 4. rau khô, 5. rau tươi.

Khi nghe Švejk đọc lại, trung sĩ hậu cần Vaňek trang trọng tuyên bố rằng những bức điện như thế xứng đáng được ném vào hố xí.

“Một thằng ngu nào đó ở Bộ Tham mưu ngồi nghĩ ra, thế là đã đem gửi xuống tất cả các sư đoàn, lữ đoàn và trung đoàn.”

Sau đó Švejk còn nhận được một bức điện nữa, nhưng người ta đọc nhanh đến mức anh chỉ ghi ra giấy được mấy chữ giống như mật mã:

trong hậu quả ấy, tạo điều kiện, chính xác hơn, hoặc, thậm chí, ngược lại, dù sao??? sẽ

“Toàn những thứ thừa không cần thiết,” trung sĩ Vaňek nói khi thấy Švejk kinh ngạc nhìn dòng chữ anh đã ghi lại và đọc to lên liền ba lần, “toàn chuyện ngu xuẩn, biết đâu cũng có thể là một mã, nhưng mà ở đại đội của chúng ta không có hướng dẫn giải mã nào hết, vậy thì cũng có thể vất đi luôn.”

“Tôi cũng nghĩ thế,” Švejk nói, “nếu mà tôi nói cho trung úy biết là trung úy có gì trong hậu quả ấy tạo điều kiện chính xác hơn hoặc thậm chí ngược lại, dù sao sẽ thì có thể là trung úy sẽ tự ái. có nhiều người hay tự ái đến kinh khủng,” Švejk tiếp tục nói và nhớ lại những kỷ niệm xưa. “Một lần, tôi đi tàu điện từ Vysočany vào Praha, đến bến Libeň thì có một ông tên là Novotný lên tàu. Khi nhận ra ông ấy, tôi bèn đến nói chuyện, rằng cả hai chúng tôi đều là người ở Dražov. Nhưng ông ấy quát tôi đừng quấy rầy, rằng ông ấy không biết tôi. Tôi đã giải thích để ông ấy nhớ ra, rằng khi còn là đứa trẻ tôi thường đi với mẹ đến nhà ông ấy. Mẹ tôi tên là Antonie còn bố tôi là Prokop làm quản lý ở trang trại. Ngay cả sau đó ông ấy cũng không muốn thừa nhận là chúng tôi quen biết nhau. Tôi quyết định nói cho ông ấy nghe thêm nhiều chi tiết nữa, rằng ở Dražov có hai người tên là Novotný, một người là Novotný Tonda, còn người kia là Novotný Josef, và ông ấy thì là Novotný Josef, rằng tôi nhận được thư từ Dražov, trong thư có kể về ông ấy, rằng ông ấy đã bắn bị thương bà vợ mình vì bà ấy đã rầy la chuyện ông uống rượu. Thế là ông ấy vung tay lên, tôi né được và ông ấy thụi thẳng tay làm vỡ tấm kính che phía trước người lái tàu. Người ta bắt chúng tôi xuống tàu và giải đến trạm cảnh sát. Ở đấy mới biết vì sao mà ông ấy tự ái đến thế. Té ra ông ấy chẳng phải là Josef Novotný nào cả, mà là ông Eduard Doubrava, sống ở Montgomery ở Mỹ, lúc đó về Praha thăm họ hàng.”

Chuông điện thoại ngắt câu chuyện của Švejk. Tiếng khàn khàn của một người ở bộ phận súng máy lại hỏi bao giờ thì đi. Anh ấy nghe bảo là buổi sáng hôm nay đã có cuộc họp ở chỗ đại tá.

Ở cửa văn phòng xuất hiện một người mặt mày nhợt nhạt. Đó là Biegler, học viên trường quân sự, một kẻ ngu nhất đại đội, bởi vì ở trường huấn luyện một năm anh ấy đã hết sức cố gắng muốn nổi trội bằng những hiểu biết của mình. Biegler hất đầu ra hiệu cho Vaňek đi theo anh ra ngoài hành lang rồi nói chuyện với ông rất lâu.

Khi trở lại phòng, Vaňek khinh bỉ cười:

“Thằng ấy ngu như bò,” ông nói với Švejk, “đại đội chúng ta quả thật có nhiều danh nhân! Hắn cũng có mặt ở cuộc họp chỗ đại tá, khi giải tán, đại tá yêu cầu trung úy ra lệnh cho các trung đội trưởng cho kiểm tra vũ khí, và phải thật nghiêm khắc. Bây giờ hắn đến hỏi tôi xem có phải đem trói cậu Žlabek không, bởi vì cậu ấy đã lau súng bằng dầu hỏa.”

Vaňek nổi cáu. “Hắn hỏi những chuyện vớ vẩn như thế, trong khi biết rằng sẽ đi ra mặt trận. Cũng may là hôm qua trung úy đã nghĩ lại việc trói lính hầu của mình. Tôi đã bảo cậu lính trẻ ấy là nên suy nghĩ kỹ khi hắn cư xử với binh lính như đối với súc vật.”

“Ấy, ông nói đến lính hầu,” Švejk bảo, “thế ông đã chọn được cho trung úy một người nào chưa?”

“Anh phải sáng dạ chứ!” Vaňek trả lời, “làm việc gì cũng còn nhiều thời gian, hơn nữa tôi nghĩ là trung úy sẽ quen dần với Baloun, ở đây thỉnh thoảng hắn còn ăn vụng, chứ ở ngoài mặt trận thì hắn phải thôi. Ở ngoài ấy thì nhiều khi cả hai đều còn chẳng có cái gì mà ăn. Khi mà tôi bảo rằng Baloun sẽ ở lại với trung úy, thì hắn sẽ ở lại đây với trung úy, chẳng làm gì khác được. Đây là quyết định của tôi và trung úy không nói vào đây được. Bình tĩnh, không đi đâu mà vội.”

Vaňek lại nằm xuống giường mình và bảo Švejk: “Anh hãy kể cho tôi một chuyện cười về đời lính đi!”

“Cũng được,” Švejk nói, “nhưng mà tôi e lại có người gọi điện.”

“Thế thì tắt máy đi, tháo dây ra, hay là buông ống nghe xuống.”

“Được rồi,” Švejk nói và buông ống nghe, “tôi sẽ kể cho ông nghe một chuyện rất phù hợp với tình hình hiện nay, chỉ khác ở chỗ bây giờ là chiến tranh thực sự, còn ngày đó thì chỉ là tập trận thôi, ấy thế mà cũng có trạng thái hoang mang hoảng loạn giống như bây giờ, lý do là vì chúng tôi đã không biết bao giờ rời khỏi doanh trại. Cùng đơn vị với tôi ngày đó có cậu tên là Šic, một người hiền lành, ngoan đạo và nhút nhát. Cậu ta tưởng tượng rằng tập trận là một cái gì kinh khủng lắm, rằng mọi người sẽ bị chết khát và y tá sẽ phải gom nhặt họ như thu nhặt thương binh ở ngoài mặt trận vậy. Thế là anh chàng uống rõ nhiều để khỏi bị khát. Khi chúng tôi rời doanh trại đi đến Mníšek thì hắn bảo: ‘Các cậu ơi, tớ không kìm được nữa đâu, bây giờ thì chỉ trời mới cứu được tớ.’ Sau đó, chúng tôi đi tiếp đến Hořovice và được nghỉ ở đấy hai ngày, bởi vì có sai lầm nhỏ là chúng tôi đã tiến quá nhanh. Giá mà cứ đi tiếp với tốc độ như thế thì chúng tôi sẽ cùng với những trung đoàn khác ở các cánh quân bắt tất cả Bộ Tham mưu của quân địch. Nếu để xảy ra như thế thì chúng tôi sẽ làm quân địch hổ thẹn, tại vì theo kế hoạch thì quân của chúng tôi phải thua đến vãi ra quần, còn quân địch thì phải thắng, cũng bởi vì bên ấy có một ngài Đại Công tước mệt mỏi già nua chỉ huy. Trước tình hình đó, anh chàng Šic của chúng tôi đã làm như thế này. Khi chúng tôi đóng quân xong, anh chàng bỏ đi mua một cái gì đó ở một làng gần Hořovice. Đến trưa, hắn quay trở về trại. Trời thì nóng, hắn thì uống vừa đủ say. Hắn nhìn thấy bên đường một cây cột, trên cây cột là một cái hộp nhỏ có cửa kính, bên trong hộp là bức tượng nhỏ, và đó là tượng Thánh Jan Nepomucký. Hắn dừng lại cầu nguyện trước bức tượng và nói với Đức Thánh: ‘Thưa Đức Thánh, ngài cũng nóng, Thánh phải uống cái gì cho đỡ khát, chứ đứng cả ngày dưới nắng thế này thì chắc ra nhiều mồ hôi lắm!’ Rồi hắn rút cái bình bi-đông ra, lắc lắc, tu một hơi dài và bảo: ‘Con để lại một ít cho Thánh uống đây ạ.’ Nhưng mà hắn hốt hoảng nhận ra rằng hắn đã uống cạn, trong bi-đông chẳng còn lại một giọt rượu nào cho Thánh nữa. ‘Ối Jesus Maria,’ hắn nói, ‘cái này thì Thánh phải tha tội cho con. Rồi con sẽ đền ơn Thánh, con mang Thánh về trại quân đội rồi đảm bảo để Thánh uống đến không đứng vững được nữa thì thôi.’ Hắn ân hận và cũng thấy thương Thánh nên đập vỡ cửa kính, lấy Thánh ra khỏi hộp, kẹp vào dưới áo rồi mang về chỗ đóng quân. Sau đó, hắn để Thánh ngủ chung trên nệm rơm, cho Thánh vào ba lô mang theo khi hành quân và gặp nhiều may mắn khi đánh bài. Nơi nào chúng tôi đóng quân, ở nơi ấy hắn thắng bài. Nhưng đến khi chúng tôi tới Pracheňsko và đóng quân ở Drahenice thì hắn thua ráo cả. Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường thì trông thấy Thánh Jan Nepomucký bị treo cổ trên cây lê bên đường. Đấy, đấy là chuyện cười mà tôi muốn kể cho ông nghe, còn bây giờ thì tôi phải đặt máy điện thoại đây.”

Và máy điện thoại lại tiếp tục mang đến sự nôn nóng hồi hộp mới, làm phá rối không khí yên tĩnh hài hòa trước đây trong trại quân đội.

Vào thời gian đó, tại phòng của mình, trung úy Lukáš ngồi nghiên cứu các mật mã thông tin từ Ban Tham mưu trung đoàn gửi xuống cùng với hướng dẫn giải mã như thế nào, đồng thời cả mệnh lệnh viết bằng mật mã về hướng di chuyển của tiểu đoàn hành quân tới biên giới Galicia (giai đoạn thứ nhất).

7217 – 1238 – 457 – 2121 –35 = Moson

8922 – 375 – 7282 = Raab

4432 – 1238 – 7217 – 35 – 8922 – 35 = Komárom

7282 – 9299 – 310 – 375 – 7881 – 298 – 475 – 7979 = Budapest

Giải mã những con số ấy, trung úy Lukáš thở dài: “Đồ quỷ lại giở trò.”

← Tên của vị Thần dãy núi Krkonoše.

← Dukla là tên của một làng nhỏ ở Ba Lan, cũng là tên con đèo thấp của dãy Karpat biên giới Ba Lan với Slovakia. Mùa đông năm 1914/1915 ở đèo Dukla có nhiều trận đánh khốc liệt giữa quân đội Nga và quân đội Áo–Hung.

← Theo Dụ ngôn Đứa con hoang đàng, Phúc âm Luca 15; 11–32

← Kralupy là thành phố nhỏ ở phía tây Praha. Thực sự ở đây có cửa hàng bán đồ vệ sinh và mỹ phẩm của ông Vaňek. Những người yêu quý Švejk của Kralupy rất lấy làm tự hào về câu nói này. Tại quảng trường ở Kralupy có bức tượng Švejk ngồi ở ghế dài, trên đùi có một con chó nhỏ, mắt hướng về nơi có cửa hàng của ông Vaňek. Cho đến nay, đó là một trong những bức tượng Švejk đẹp nhất ở Séc.

← Một món ăn đặc biệt, tương tự như món thịt đông của người Việt, nhưng nấu từ thịt lợn có bì cùng với gan và lưỡi, hoặc có thêm cả tiết, sau đó đổ vào túi nilon dài, trông giống như hình chiếc giò, để vào chỗ lạnh cho động lại. Khi ăn cắt thành từng lát, thường rưới nước giấm pha loãng, rắc hành tươi thái nhỏ, ăn với bánh mì.

← Cây đoạn (Tilia), tiếng Séc lípa, là loại cây sống chủ yếu ở vùng ôn đới, có thể cao đến 40m, có lá hình tim và hoa rất thơm. Cây đoạn là cây biểu tượng của các dân tộc Slav và là quốc thụ của Séc.

← Karel Kramář (1860–1937), một trong những đại diện của phong trào chống nhà nước Áo–Hung, sau này là Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Tiệp Khắc. Joseph Schneider (1861–1932), luật sư, người đưa phong trào Sokol vào hoạt động chống nhà nước Áo–Hung. Václav Klofáč (1868–1942), nhà báo, đại biểu Quốc hội Áo–Hung, đại diện cánh đối lập chống nhà nước Áo–Hung (theo svejkmuseum.cz).

← Món ăn đặc biệt làm từ thịt thủ và gan lợn xay kỹ, trộn với gia vị rồi nhồi vào lòng lợn, nướng hoặc rán khi ăn.

← Món ăn đặc biệt làm từ thịt thủ, thịt ba chỉ xay nhỏ, trộn với tiết, hạt lúa mì và gia vị rồi nhồi vào lòng lợn, nướng hoặc rán khi ăn.

← Một thành phố thuộc Lviv, Ukraina. Sokal nằm bên sông Tây Bug.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.