Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk ở sở cảnh sát

❊ ❊ ❊

Vụ ám sát ở Sarajevo đẩy đến sở cảnh sát nhiều nạn nhân. Người nọ kế người kia, họ bị giải đến đó, và ông thanh tra cảnh sát già ở phòng tiếp nhận bảo họ bằng giọng tử tế:

“Dính vào chuyện Ferdinand liệu có bõ không hả?”

Người ta giam Švejk ở một trong nhiều phòng tạm giam trên tầng hai. Có sáu người làm bạn cùng phòng với anh. Năm người trong số ấy ngồi xung quanh bàn, người đàn ông trung tuổi còn lại thì ngồi trên cái giường sắt ở góc phòng, như thể muốn tránh xa những người kia.

Švejk bắt đầu hỏi từng người lý do tại sao bị giam. Năm người ngồi ở bàn đều trả lời hầu như hoàn toàn giống nhau: “Tại vì Sarajevo!” – “Tại vì Ferdinand!” – “Tại vì vụ ám sát ngài Đại Công tước!” – “Vì Ferdinand!” – “Tại vì người ta giết ngài Đại Công tước ở Sarajevo!”

Người đàn ông thứ sáu, người cố tránh xa năm người kia, thì nói rằng không muốn dính líu gì đến họ cả, để khỏi bị đổ vấy lên đầu chuyện ám sát Đại Công tước, rằng anh ta bị giam ở đây chỉ vì giết một ông già ở Holice để cướp của thôi.

Švejk ngồi vào bàn giữa những kẻ chống đối, những người đã kể đến chục lần về chuyện vì sao họ bị bắt.

Trừ một trường hợp riêng biệt, còn thì tất cả đều gặp họa hoặc ở quán ăn, ở quán rượu, hay ở quán cà phê. Trường hợp riêng biệt đó là chuyện của một ông to béo khác thường, có đeo kính, với đôi mắt mọng lên vì khóc. Ông này bị bắt ở nhà, bởi vì hai ngày trước khi xảy ra vụ ám sát ở Sarajevo, ông đã trả tiền ăn ở quán Brejška cho hai sinh viên, đồng thời là hai kỹ thuật viên người Serbia. Rồi thám tử Brix đã tận mắt thấy ông ấy say rượu và ngồi cùng với hai người ấy trong quán Montmart ở phố Řetožová, và theo biên bản ông đã ký tên khẳng định, thì ông cũng lại trả tiền ăn cho họ. Trả lời các câu hỏi điều tra sơ bộ ở sở cảnh sát, ông cứ kêu và lặp đi lặp lại:

“Tôi có cửa hàng giấy.”

Và ngược lại, người ta cũng nói đi nói lại với ông là “Cái ấy chẳng thanh minh được cho ông!”

Người đàn ông bé nhỏ bị bắt ở quán rượu là một giáo sư dạy môn lịch sử, ông đã kể cho ông chủ quán ở đấy nghe về lịch sử các vụ ám sát. Ông bị bắt đúng vào lúc nói lời kết thúc phân tích khía cạnh tâm lý của từng vụ ám sát:

“Ý tưởng ám sát đơn giản như quả trứng của Colombus.”

“Cũng đơn giản như việc ông sẽ đi Pankrác,” khi hỏi cung giáo sư, ủy viên cảnh sát bổ sung tuyên bố của giáo sư như vậy.

Người chống đối thứ ba là chủ tịch một hội từ thiện mang tên Dobromil⦾ ở Hodkovičky. Đúng vào ngày xảy ra vụ ám sát, hội Dobromil tổ chức một buổi tiệc sân vườn có kèm biểu diễn ca nhạc. Ông hạ sĩ hiến binh đến yêu cầu mọi người giải tán, rằng nước Áo đang có tang, nhưng ông chủ tịch của hội Dobromil nói một cách nhẹ nhàng: “Xin ông đợi một chút, để họ hát xong Hei, Slované⦾ đã.” Bây giờ, ông ấy ngồi đó, cúi gục đầu và than vãn:

“Tháng Tám này chúng tôi bầu ban chấp hành mới, nếu đến lúc ấy tôi vẫn chưa về nhà thì có thể là người ta sẽ không bầu tôi. Mà tôi thì đã làm chủ tịch hội được mười nhiệm kỳ rồi, tôi chịu sao nổi cái nhục nhã ấy.”

Ngài Ferdinand quá cố còn gây trớ trêu cho người bị giam thứ tư. Đó là người đàn ông phẩm cách trong sạch và chưa từng có điều tiếng gì bao giờ. Suốt hai ngày trời, ông né tránh hết thảy mọi chuyện trò về Ferdinand. Mãi cho đến tận lúc chơi mariáš⦾ vào buổi tối ở quán cà phê, khi cắt quân vua mang hình quả sồi bằng quân bài chủ là con bảy mang hình quả cầu,⦾ ông mới nói:

“Bảy viên giống như ở Sarajevo!”

Còn người đàn ông thứ năm, như đã tự kể là bị giam “tại vì người ta giết ngài Đại Công tước ở Sarajevo,” thì cho đến bây giờ vẫn còn đang dựng tóc gáy, thành ra cái đầu ông trông giống như đầu của con chó Schnauzer. Người ta bắt ông ở cửa hàng ăn, mặc dù ở đấy ông đã không hề nói một lời nào, thậm chí cũng không hề đọc báo, về việc Ferdinand bị giết. Lúc ấy, ông đang ngồi một mình ở bàn thì có một người đàn ông đi tới, ngồi xuống chiếc ghế đối diện và hỏi nhanh:

“Ông đã đọc chưa?”

“Chưa đọc.”

“Ông có biết việc ấy không?”

“Không biết.”

“Nhưng mà ông biết đó là việc gì chứ?”

“Không biết, tôi không bận tâm đến.”

“Nhưng mà ông nên quan tâm đến việc ấy chứ!”

“Tôi không biết nên quan tâm đến việc gì. Tôi hút điếu xì gà, uống mấy cốc bia, ăn chiều, nhưng báo thì không đọc. Báo chí viết giả dối, tôi bực bội để mà làm gì?”

“Thế ông không quan tâm cả đến vụ giết người ở Sarajevo à?”

“Tôi chẳng quan tâm đến bất kỳ một vụ giết người nào cả, cho dù nó ở Praha, ở Vienna, ở Sarajevo, hay là ở London. Cái ấy là việc của chính quyền, của tòa án và cảnh sát. Nhưng mà nếu có lúc nào, ở đâu, có ai bị người ta giết thì đáng đời hắn thôi, chứ sao lại ngu, lại không thận trọng đến nỗi để bị giết chết.”

Đấy là những lời cuối cùng ông ấy nói về chuyện này. Từ lúc đó, cứ năm phút một lần, ông lại kêu: “Tôi vô tội, tôi vô tội!”

Ông đã kêu như thế ở cổng vào sở cảnh sát, rồi sẽ kêu như vậy khi bị giải đến tòa án hình sự ở Praha, rồi cũng với những lời ấy ông bước vào phòng giam trong nhà tù.

Sau khi nghe tất cả những câu chuyện chống đối khủng khiếp ấy, Švejk thấy nên giải thích cho mọi người về tình trạng hoàn toàn vô vọng của họ.

“Tất cả chúng ta đang ở trong tình thế xấu lắm,” anh bắt đầu những lời an ủi, “các ông bảo rằng không thể có gì xảy ra được với các ông và với tất cả chúng ta là không đúng. Chúng ta có cảnh sát để làm gì, nếu mà cảnh sát không trừng phạt chúng ta vì cái mồm ba hoa của ta. Phải cái thời nguy hiểm, khi mà các Đại Công tước bị bắn chết, thì không ai được phép ngạc nhiên là bị giải đến sở cảnh sát. Người ta làm tất cả những việc này là vì tiếng tăm của Đại Công tước, để khuếch trương danh tiếng của ngài trước khi người ta chôn ngài. Còn ở đây, chúng ta càng đông bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, vì sẽ vui hơn. Hồi tôi còn phục vụ trong quân đội, có khi đến một nửa số chúng tôi bị giam. Và có biết bao nhiêu người vô tội đã bị kết án. Và cái điều ấy không chỉ trong quân đội, mà còn ở tòa án nữa. Tôi nhớ một lần, có một cô bị kết tội là đã bóp chết hai đứa con sinh đôi mới đẻ. Cho dù cô ấy đã thề là không thể bóp chết hai đứa sinh đôi được, khi mà cô ấy chỉ đẻ ra có mỗi một đứa con gái, rằng cô ấy đã bóp chết được nó mà con bé hoàn toàn không đau đớn gì, rốt cuộc cô ấy vẫn bị kết án về tội giết hai người. Hay là chuyện một tay Digan⦾ vô tội ở Záběhlice. Trong đêm Giáng sinh, hắn lẻn vào cửa hàng thực phẩm và tạp hóa. Hắn đã thề là chỉ vào đấy để sưởi ấm thôi, nhưng nói thế cũng chẳng đỡ hơn được tí nào. Một khi mà tòa án đã chạm tay vào cái gì thì nguy cái đó. Nhưng mà cái nguy ấy cũng phải có các ông ạ. Có thể không phải tất cả mọi người đều là những kẻ tồi tàn, như vẫn thường có giả thiết như vậy, nhưng ngày nay thì làm sao mà phân biệt được ai là người tốt, ai là kẻ xấu, nhất là bây giờ đang lúc hệ trọng, khi mà người ta giết chết ngài Ferdinand. Hồi tôi còn phục vụ trong quân đội tại Budějovice, thì có kẻ đã bắn chết con chó của ông đại úy ở trong rừng phía sau sân tập. Khi biết chuyện, ông ấy cho gọi tất cả chúng tôi đến, rồi đứng đấy và bảo cứ đếm đến mười, trúng ai là thứ mười thì hãy đứng ra khỏi hàng. Còn tôi thì khỏi phải nói, tất nhiên tôi cũng là người thứ mười. Thế là chúng tôi đứng nghiêm không hề chớp mắt. Ông ấy đi quanh chúng tôi và nói: ‘Bọn đốn mạt, đồ khốn nạn, lũ khốn kiếp, quân độc ác bất nhân, vì con chó mà tôi chỉ muốn biệt giam các anh, bắn chết các anh, băm xác các anh ra, bỏ các anh vào chảo. Để các anh biết là tôi chẳng thương tiếc gì các anh, tất cả sẽ bị phạt mười bốn ngày không được rời doanh trại?’ Đấy, các ông thấy chưa, ấy là hồi đó mới chỉ vì con chó thôi đấy, chứ bây giờ thì đến tận ngài Đại Công tước cơ mà. Vì thế phải có thứ gây kinh hãi tột độ, để xứng tầm với cái đám tang ấy chứ.”

“Tôi vô tội, tôi vô tội,” người đàn ông có tóc dựng đứng lại kêu lên.

“Đức Chúa Jesus cũng là người vô tội,” Švejk nói, “vậy mà vẫn bị người ta đóng đinh trên thập tự giá. Không ở đâu, không bao giờ, và không ai quan tâm đến một người vô tội nào cả. Như người ta vẫn thường nói với chúng tôi trong quân đội là Maul halten und weiter dienen!⦾ Đó là cái tốt nhất và tuyệt vời hơn cả.”

Nói đoạn, Švejk ngả lưng xuống cái giường sắt và ngủ ngon lành.

Trong khi đó, có hai người nữa bị giải đến. Một người là người Bosna, ông này đi đi lại lại trong phòng, nghiến răng kèn kẹt và cứ mở miệng ra là chửi: ‘Jebem ti dušu.’⦾ Ông ấy đang rất sợ là cái rổ hàng bán rong của mình sẽ bị mất ở sở cảnh sát.

Người thứ hai chính là ông chủ quán Palivec. Nhìn thấy Švejk là người quen, ông bèn đến đánh thức Švejk dậy và nói với anh bằng một giọng đầy bi thảm:

“Tôi cũng đã đến đây rồi.”

“Quả thật là tôi mừng lắm. Tôi biết là ông ấy sẽ giữ lời, khi bảo ông rằng họ sẽ đến dẫn ông đi. Chính xác như thế là cái tốt.”

Nhưng ông Palivec nói rằng sự chính xác ấy chẳng là cái cứt gì cả, và hỏi khẽ Švejk xem đám người bị bắt này có phải là bọn trộm cắp không, vì nếu thế thì có thể làm tổn hại đến thương nhân như ông. Švejk nói cho ông Palivec biết là ở đây, ngoài một người bị bắt vì giết ông già ở Holice để cướp của, tất cả mọi người còn lại cùng phe với họ, tức là đều bị bắt vì ngài Đại Công tước.

Ông Palivec lấy làm tự ái và bảo rằng ông đến đây không phải vì một Đại Công tước ngu ngốc nào cả, mà là vì Hoàng đế. Và bởi vì mọi người bắt đầu tỏ ra quan tâm đến việc đó, ông kể cho họ nghe về chuyện lũ ruồi phóng uế lên Hoàng đế như thế nào.

“Quân vô loại, chúng làm ô uế ngài,” ông kết thúc chuyện của mình “cuối cùng thì lũ ruồi ấy đẩy tôi vào nhà tù. Tôi sẽ không tha tội cho chúng đâu!” ông thêm lời đe dọa.

Švejk lại ngủ tiếp, nhưng không được lâu, bởi vì có người tới dẫn anh đi hỏi cung.

Thế là bước lên bậc thang dẫn tới nơi hỏi cung ở bộ phận thứ ba, Švejk mang cây thập tự giá của mình lên đỉnh đồi Golgotha mà không hề ý thức rằng mình là tử đạo.

Khi nhìn thấy tấm biển Cấm khạc nhổ ra hành lang, Švejk xin viên cảnh sát cho phép nhổ vào ống nhổ, rồi với gương mặt rạng rỡ hồn nhiên, anh bước vào văn phòng và cất tiếng chào:

“Xin chào tất cả các ông ạ!”

Thay cho câu trả lời, một người nào đó huých vào sườn anh, rồi đi đến đứng trước cái bàn. Ngồi phía sau bàn là một người đàn ông có bộ mặt viên chức lạnh lùng với những đường nét hung ác của thú dữ, trông như thể ông ta vừa bước ra từ sách Các kiểu tội phạm của Lombroso⦾.

Người đàn ông ấy nhìn Švejk một cách hung tợn và bảo: “Đừng ngây cái mặt đần độn ra như thế!”

“Biết làm sao được ạ?” Švejk nghiêm trang trả lời, “tôi đã bị xuất ngũ vì ngu ngốc, hội đồng đặc biệt đã chính thức tuyên bố tôi là người ngu độn. Vâng, tôi là thằng ngu chính thức.”

Người đàn ông có vẻ mặt giống kiểu tội phạm nghiến răng: “Cứ theo cái anh bị buộc tội và các tội anh có thì anh là người bình thường.”

Rồi ông ta kể ra một loạt đủ các tội của Švejk, trước tiên là tội phản quốc và cuối cùng là tội xúc phạm Hoàng đế và các thành viên của triều đình. Nổi bật trong những tội ấy là việc tán thành vụ ám sát ngài Đại Công tước Ferdinand, từ đó dẫn đến một loạt tội phạm mới mà trong đó rõ ràng có tội kích động, bởi nó xảy ra nơi công cộng.

“Thế nào, anh bảo sao, hả?” người đàn ông có vẻ mặt hung dữ thú vật đắc thắng hỏi.

“Dạ, cái đó nhiều thật,” Švejk trả lời một cách hồn nhiên, “cái gì nhiều quá thì cũng không tốt.”

“Đấy, thấy chưa, anh thừa nhận điều ấy!”

“Tôi thừa nhận tất cả mọi thứ ạ, phải nghiêm khắc, chứ không nghiêm khắc thì chẳng ai làm được việc gì. Giống như hồi tôi còn phục vụ trong quân đội…”

“Câm mồm!” ông ủy viên cảnh sát hét lên, “chỉ khi nào tôi hỏi thì anh mới được nói, hiểu chưa?”

“Sao mà không hiểu ạ?” Švejk nói, “xin báo cáo là tôi có thể hiểu được ngọn ngành tất cả những gì ông nói.”

“Anh có quan hệ với ai?”

“Với bà giúp việc của tôi ạ, thưa ông?

“Thế trong số các nhóm chính trị ở đây, anh có quen biết ai không?”

“Có ạ, thưa ông. Con chó cái ạ, tôi mua báo buổi chiều Chính trị dân tộc⦾.”

Bà Müllerova

“Xéo!” người đàn ông có bộ mặt như thú vật gào lên.

Khi bị giải đi khỏi văn phòng, Švejk nói: “Thưa ông, xin chúc ông ngủ ngon ạ.”

Trở về phòng tạm giam, Švejk báo cho tất cả mọi người bị giam biết rằng hỏi cung chỉ là trò đùa. “Họ quát tháo ta một tí, nhưng cuối cùng thì họ đuổi ta đi. Còn trước đây ư,” Švejk tiếp tục, “trước đây thì nó tàn bạo hơn nhiều. Ngày xưa, tôi có đọc một quyển sách, ở đấy viết là bị cáo phải đi trên sắt nung đỏ, phải uống chì nóng chảy, làm thế để biết bị cáo có phải là người vô tội không. Hay nếu anh ta không chịu thú tội thì người ta lồng giày Tây Ban Nha⦾ vào chân anh ta rồi kéo lên thang, hay người ta đốt mạng sườn bị cáo bằng đuốc cứu hỏa, giống như ngày xưa đã làm như vậy với Đức Thánh Jan Nepomucký⦾. Nghe bảo Đức Thánh kêu gào ghê lắm, kêu cho đến tận lúc bị bỏ vào bao không thấm nước rồi bị quẳng từ cầu Eliška xuống sông. Những trường hợp như vậy rất nhiều, ấy là chưa kể còn bị chẻ làm tư, hay bị cắm vào cọc ở chỗ nào đó gần Viện Bảo tàng nữa. Thành ra khi chỉ bị giam vào ngục tối thôi thì kẻ bị giam cảm thấy như được sống lại. Thời nay thì bị bắt giam chỉ là trò đùa thôi,” Švejk hào hứng tiếp tục, “ta không bị chẻ làm tư này, chẳng bị mang giày Tây Ban Nha này, ta có giường sắt này, ta có bàn này, ta có ghế này, chẳng bị chen chúc nhau này, người ta cho ta ăn súp này, cho ta ăn bánh mì này, cho nước uống này, chỗ đi vệ sinh thì ở sát bên mũi này. Ở đâu đâu cũng thấy sự tiến bộ. Chỉ có điều là quả thật chỗ hỏi cung hơi xa, phải đi qua ba hành lang ở tầng trên, nhưng mà được cái ngoài hành lang sạch sẽ và nhộn nhịp. Người ta giải người này đến chỗ này, giải kẻ khác đến chỗ kia, người trẻ người già, đàn ông đàn bà, đủ cả. Ta thấy vui vì không phải ở đó một mình. Ai cũng hài lòng đi đường mình và không phải sợ sẽ nghe thông báo ở phòng hỏi cung là: ‘Chúng tôi đã bàn với nhau rồi, ngày mai anh sẽ bị chẻ làm tư, hoặc bị thiêu sống, tùy theo nguyện vọng cuối cùng của anh.’ Chắc chắn đó là cái khó chọn, tôi cho rằng vào lúc ấy thì nhiều người trong chúng ta cũng sẽ bối rối lúng túng, các ông ạ. Thế đấy, các điều kiện thời nay tốt hơn nhiều cho chúng ta.”

Vừa lúc Švejk kết thúc lời biện hộ cho nhà tù hiện đại của công dân thì người coi phòng gian mở cửa gọi:

“Švejk, mặc quần áo vào để đi hỏi cung.”

“Vâng tôi sẽ mặc quần áo,” Švejk trả lời, “tôi chả phản đối gì chuyện đó cả, nhưng mà tôi e rằng có nhầm lẫn gì chăng, vì tôi đã bị đuổi khỏi phòng hỏi cung rồi. Hơn nữa, tôi sợ là các ông ở cùng phòng đây sẽ giận tôi, rằng tôi được đi hỏi cung liền hai lần, còn họ thì cho đến tận bây giờ, chiều tối rồi mà vẫn chưa được đến đấy lần nào. Họ có thể ghen tị với tôi.”

“Ra đây ngay, đừng lôi thôi!” Đó là câu đáp lại lời nói quân tử của Švejk.

Thế là Švejk lại đứng trước người đàn ông có khuôn mặt tội phạm. Không hề nói lời mở đầu, ông ta hỏi Švejk thẳng thừng và nghiêm khắc:

“Anh có thú nhận tất cả không?”

Švejk nhìn kẻ tàn nhẫn đó bằng đôi mắt xanh hiền hậu và nhẹ nhàng trả lời:

“Thưa ông, nếu ông muốn tôi thú nhận thì tôi thú nhận, cái đó chẳng có hại gì cho tôi. Nhưng mà nếu ông bảo rằng: ‘Švejk, anh đừng thú nhận một tội nào cả,’ thì tôi sẽ quanh co chối cãi cho đến hơi thở cuối cùng.”

Người đàn ông nghiêm khắc ấy viết cái gì đó lên giấy rồi đưa bút cho Švejk, bảo anh hãy ký tên vào đấy.

Thế là Švejk ký tên vào tờ tố giác của Bretschneider có chú thích này:

Tất cả những lời buộc tội tôi trên đây đều dựa trên sự thật.

Josef Švejk

Sau khi ký, Švejk quay sang hỏi người đàn ông nghiêm khắc:

“Tôi có còn phải ký thêm gì nữa không ạ? Hay là sáng mai lại đến đây?”

“Sáng ngày mai người ta sẽ giải anh đến tòa án hình sự.” Švejk nhận được câu trả lời.

“Vào lúc mấy giờ ạ, thưa ông? Ối trời, để tôi khỏi ngủ quên mất.”

“Xéo!” Lần thứ hai trong ngày, tiếng gầm ấy vang lên từ phía bên kia chiếc bàn trước mặt Švejk.

Khi trở lại nơi ở mới sau song sắt, Švejk nói với viên cảnh sát dẫn anh:

“Tất cả mọi thứ ở đây đều dễ dàng và nhanh như chớp.”

Ngay sau khi cửa đóng lại, tất cả mọi người trong phòng giam đều tới tấp hỏi anh đủ thứ, và Švejk trả lời rõ ràng:

“Tôi vừa mới thú tội là có lẽ tôi đã giết ngài Đại Công tước.”

Cả sáu người đàn ông kinh hoàng rúc vào các mảnh chăn đầy rận, chỉ có ông người Bosna nói:

“Dobro došli.”⦾

Ngả mình lên cái giường sắt, Švejk nói:

“Dở quá, ở đây chẳng có đồng hồ báo thức.”

Buổi sáng hôm sau, người ta đánh thức Švejk dậy mà không cần đến đồng hồ báo thức, rồi đúng vào lúc sáu giờ người ta chở anh đến tòa án hình sự trong chiếc xe cảnh sát màu xanh lá cây chuyên vận chuyển tù nhân.

“Dậy sớm thì làm được nhiều việc.” Švejk nói với những người đồng hành, khi chiếc xe màu xanh lăn bánh rời cổng sở cảnh sát.

Dobromil trong tiếng Séc có nghĩa là “người yêu thích điều tốt đẹp, tử tế.”

Hei, Slovane (Hỡi người Slav) là tên bài ca yêu nước của người Slav – các tộc người thuộc nhóm dân tộc Ấn-Âu, nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn-Âu. Bài hát ra đời năm 1834 này là của Samuel Tomášik, một cha cố người Slovakia thuộc giáo hội Luther. Năm đó, khi đến Praha, thấy tiếng Đức được nói nhiều hơn tiếng Séc, ông đã tỏ ra rất phẫn nộ và đã sáng tác nó. Câu đầu tiên của bài hát là “Hỡi người Slav, tiếng Slav của chúng ta còn, nếu trái tim trung thành của chúng ta còn đập vì dân tộc.” Nó trở thành bài hát chính của phong trào toàn Slav dưới thời Đế quốc Áo. Trong Đại chiến thứ nhất, nó là bài hát cổ vũ tinh thần dân tộc cho quân lính người Slav ở cả hai bên trận tuyến. Bài hát cũng đã từng là quốc ca của Slovakia, của Nam Tư cũ, hay của Liên bang Serbia và Montenegro (theo svejkmuseum.cz).

Mariáš là tên bộ bài lá có nguồn gốc từ Đức. Cô bài có 32 lá bài, gồm 8 quân mang hình quả sồi, 8 quân mang hình chiếc lá, 8 quân mang hình trái tim và 8 quân mang hình quả cầu. Về giá trị từ thấp đến cao, có con 7, 8, 9, 10, con dưới, con trên, vua, eso. Mariáš là trò chơi ăn tiền xu rất được ưa chuộng ở các quán ăn uống của Séc. Người ta cũng dùng cỗ bài này để xem bói.

Quả cầu trong tiếng Séc là koule, còn có nghĩa khác là viên đạn.

← Người Digan, hay Rom khoảng 15 triệu người, vốn là tộc người du mục, nhưng nay sống định cư rải rác ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Do phong cách sống của mình mà người Rom thường bị đứng ngoài rìa xã hội ở những nơi họ định cư.

← Câm mồm và tiếp tục phục vụ!

“Tao đ. hồn mày.” Một trong những câu chửi tục của người Slav, chủ yếu là người ở phía Nam. Tương tự, người ta còn chửi trời, hoặc chửi cha mẹ của đối phương.

← Cesare Lombroso (1835–1909) là bác sĩ và nhà nghiên cứu tội phạm học nổi tiếng người Ý, người đưa ra thuyết tội phạm học bẩm sinh.

Chính trị dân tộc (tiếng Séc Národní politika) là nhật báo phát hành trong những năm 1883–1945 ở Séc. Con chó cái (tiếng Séc čubička) là biệt danh trong dân chúng để chỉ tờ nhật báo này (theo svejkmuseum.cz).

← Dụng cụ tra tấn thời Trung cổ.

← Jan Nepomucký (1340/1350–1393) là tử đạo người Séc, được Giáo hoàng Benedict thứ XIII tuyên Thánh vào năm 1729, một trong những vị Thánh bảo hộ của Séc.

← Xin chào.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.