Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk ở phòng cảnh sát tại phố Salmova

❊ ❊ ❊

Sau những ngày rạng rỡ tuyệt đẹp ở bệnh viện tâm thần, Švejk bắt đầu phải trải qua các thời khắc bị ngược đãi. Viên thanh tra cảnh sát Braun bố trí cuộc gặp gỡ với Švejk bằng sự tàn bạo của của các vệ sĩ La Mã thời hoàng đế Nero dễ thương. Tàn nhẫn như thời xưa, khi vệ sĩ La Mã nói ‘Quẳng tên Cơ đốc giáo vô lại ấy cho sư tử,’ viên thanh tra cảnh sát Braun ra lệnh: “Tống hắn vào phòng tạm giam!” Không hơn không kém một lời nào, đồng thời đôi mắt ông ta sáng lên một sự khao khát đồi bại.

Švejk cúi đầu và hãnh diện tuyên bố: “Tôi xin sẵn sàng, thưa các ông. Tôi nghĩ phòng tạm giam có nghĩa như nhà tù, thế thì nó cũng chẳng đến nỗi nào.”

“Này, đừng quá trớn!” viên cảnh sát nói. Và Švejk trả lời: “Tôi là người hoàn toàn khiêm tốn, tôi biết ơn về tất cả những gì các ông làm cho tôi.”

Trong phòng tạm giam, một người đàn ông đang ngồi nghĩ ngợi trên cái giường gỗ. Vẻ mặt thờ ơ của ông ta chẳng hề tỏ ra một sự mong đợi nào về việc khi có tiếng lạch cạch trong ổ khóa cửa phòng giam thì cánh cửa ấy sẽ mở ra trả lại tự do cho ông.

“Xin kính chào ông,” Švejk nói và ngồi xuống chiếc giường gỗ, “bây giờ là khoảng mấy giờ ông nhỉ?”

“Giờ giấc chả là gì đối với tôi,” người đàn ông đang nghĩ ngợi trả lời.

“Ở đây xem ra không đến nỗi nào,” Švejk tiếp tục gợi chuyện, “cái giường này đóng bằng gỗ ván đây.”

Người đàn ông đáng kính không trả lời, ông ta đứng lên và bắt đầu đi đi lại lại thật nhanh ở cái khoảng trống bé con từ giường ra đến cửa, trông như thể đang vội vàng đi cứu vớt cái gì đó.

Trong lúc ấy, Švejk chăm chú nhìn các dòng chữ nguệch ngoạc trên tường. Có câu của một tù nhân thề với trời sẽ chiến đấu một mất một còn với cảnh sát. Câu ấy viết thế này: “Chúng mày sẽ phải chịu tội.” Một tù nhân khác viết: “Để cho tao yên, đồ chó ghẻ!” Một tù nhân nữa thì khẳng định sự thật: “Tôi bị giam ở đây ngày 5.6.1913, được đối xử tử tế. Josef Mareček, thương nhân ở Vršovice.” Ở đó còn có cả một câu sâu sắc làm rung động: “Xin Chúa rủ lòng thương…” Ngay bên dưới câu ấy thì lại có câu: “Liếm đ. tao” Nhưng chữ ‘đ.’ bị gạch đi, cạnh nó là chữ viết hoa ĐUÔI ÁO. Có một tâm hồn thi sĩ nào đó còn viết bài thơ ở bên cạnh:

Anh ngồi ủ rũ bên bờ suối,

nhìn mặt trời qua lúc cuối ngày,

ánh hoàng hôn sáng đồi xa ấy

anh thấy em yêu chốn quê nhà.

Người đàn ông chạy đi chạy lại giống như chạy marathon ở khoảng trống giữa giường và cửa. Bây giờ ông ngừng lại, quay trở về giường ngồi xuống chỗ cũ, gục đầu vào lòng bàn tay rồi bỗng nhiên gào lên: “Thả tôi ra!”

“Không, chúng nó không thả,” ông ta lẩm bẩm một mình, “không thả và không thả. Tôi đã ở đây suốt từ sáu giờ sáng đến bây giờ.”

Ông ta đột nhiên cởi mở hơn, ngồi thẳng người lên và hỏi Švejk: “Tôi kết thúc cho xong nợ ở đây thôi, anh có dây thắt lưng không?”

“Tôi rất sẵn lòng giúp ông,” Švejk vừa nói vừa tháo dây thắt lưng, “tôi chưa bao giờ trông thấy người treo cổ bằng dây thắt lưng trong phòng giam… Chỉ có điều đáng tiếc là,” Švejk nói và nhìn quanh, “ở đây chẳng có cái móc nào cả. Nắm đấm cửa sổ không giữ nổi ông đâu. Họa chăng ông quỳ xuống mà treo cổ ở giường, giống như cậu tu sĩ ở tu viện Emauzy đã treo cổ ở cây thánh giá, mà cũng chỉ vì một cô gái trẻ người Do Thái thôi. Tôi rất thích những người tự tử, vậy thì xin ông vui vẻ mà làm ngay đi!”

Švejk dúi dây thắt lưng vào tay người đàn ông đang buồn bã ủ ê. Ông này nhìn cái dây, quẳng nó vào xó phòng rồi bật khóc, đưa hai bàn tay đen đúa lên quệt nước mắt và gào lên: “Tôi có con nhỏ. Tôi bị giam vì say rượu, vì sống vô đạo đức, ối Jesus Maria, khổ thân vợ tôi, người ta sẽ nói gì về tôi ở công sở hả trời? Tôi có con nhỏ, tôi bị giam vì say rượu và sống vô đạo đức…” Ông ấy cứ thế nói mãi không thôi.

Nhưng cuối cùng thì ông ấy cũng bình tĩnh lại một chút, đi đến cửa rồi bắt đầu co chân đạp và đấm tay vào cánh cửa. Bên ngoài có tiếng chân bước và tiếng người hỏi: “Muốn gì đấy hả?”

“Thả tôi ra!” người đàn ông nói bằng giọng của người hoàn toàn không còn mục đích sống.

“Ra đâu?” phía bên ngoài hỏi.

“Ra công sở!” ông bố, người chồng, viên chức, kẻ nghiện rượu và tên trụy lạc bất hạnh trả lời.

Một tiếng cười vang lên, tiếng cười kinh khủng phá tan cái im lặng bên ngoài hành lang, rồi tiếng chân bước từ từ xa dần.

“Tôi có cảm giác là ông ấy thù ghét ông, khi mà ông ấy cười ông như thế,” Švejk nói, trong khi đó người đàn ông tuyệt vọng ngồi xuống giường với anh. “Một người coi tù như hắn ta, khi mà có tức giận về điều gì thì có thể làm nhiều việc ghê gớm lắm, khi mà tức giận nhiều hơn thì hắn làm tất cả mọi chuyện. Nếu không muốn thắt cổ tự tử thì ông hãy ngồi yên, chờ xem sự thể biến chuyển ra sao. Nếu ông là nhân viên công sở, ông có vợ, nếu lại có con nhỏ, thì thú thực tôi thấy đó là điều khủng khiếp. Nếu tôi không nhầm thì chắc ông cho là ông sẽ bị đuổi khỏi công sở?”

“Tôi không thể nói được,” người đàn ông thở dài, “bởi vì tôi không nhớ tôi đã làm gì, chỉ biết là người ta đuổi tôi khỏi một chỗ nào đó, nhưng tôi thì muốn trở lại chỗ ấy để hút điếu xì gà. Ấy thế mà trước đó, mọi việc đã bắt đầu rất đàng hoàng. Ông trưởng ban của chúng tôi ăn mừng ngày tên thánh, ông ấy mời chúng tôi đến quán rượu thứ nhất, rồi đến quán thứ hai, rồi đến quán thứ ba, đến quán thứ tư, đến quán thứ năm, quán thứ sáu, quán thứ bảy, thứ tám, thứ chín…”

“Ông có muốn tôi giúp ông đếm không?” Švejk hỏi. “Cái ấy thì tôi thạo lắm, có lần chỉ trong một đêm, tôi đã đi đến hai mươi tám quán. Nhưng có trời chứng giám, chỗ nào tôi cũng chỉ uống nhiều nhất là ba cốc bia thôi.”

“Nói tóm lại,” kẻ cấp dưới bất hạnh của ông trưởng ban, người đã ăn mừng ngày tên thành một cách hoành tráng như thế, tiếp tục kể, “khi đã đi đến khoảng hơn chục các ổ bia rượu thì chúng tôi phát hiện ra là ông trưởng ban biến đi đâu mất rồi, mặc dù chúng tôi đã buộc ông ấy bằng sợi dây rồi kéo đi theo cùng như dắt chó. Thế là chúng tôi đi tìm ông ấy ở khắp nơi, cuối cùng thì chúng tôi lạc nhau. Tôi bị kẹt lại ở một trong những quán cà phê đêm ở Vinohrady, một quán rất tử tế đấy. Tôi đã uống thẳng từ chai một thứ rượu mùi hay gì gì ấy. Tôi không nhớ sau đó tôi đã làm gì, chỉ biết là ngay khi giải tôi đến trạm thì hai ông cảnh sát đã báo là tôi say rượu, rằng tôi đã có hành vi vô đạo đức, rằng tôi đã đánh một quý bà, đã lấy dao nhíp rạch cái mũ của ai đấy mà tôi đã lấy xuống từ cái móc áo, rằng tôi đã đuổi ban nhạc nữ, rằng trước mặt tất cả mọi người tôi đã buộc tội người bồi bàn là ăn cắp hai mươi koruna⦾, rằng tôi đã hất đổ cái mặt bàn bằng đá cẩm thạch bàn chỗ tôi ngồi, rằng tôi cố ý nhổ nước bọt vào cốc cà phê đen của một quý ông ngồi ở bàn bên cạnh. Thế thôi, chứ tôi không làm gì nhiều hơn, ít ra thì tôi không thể nhớ ra được tôi còn làm gì thêm nữa không. Nhưng anh hãy tin tôi, rằng tôi là người tử tế, thông minh, là người không nghĩ đến cái gì khác ngoài gia đình mình. Anh bảo sao? Tôi đâu có phải là kẻ côn đồ kia chứ!”

“Ông phải bỏ nhiều công sức để lật phiến đá cẩm thạch ấy, hay chỉ hất một cái là nó đổ?” Thay câu trả lời, Švejk quan tâm hỏi.

“Chỉ hất có một cái thôi.” Người đàn ông thông minh trả lời.

“Thế thì hỏng rồi,” Švejk trầm ngâm. “Người ta sẽ chứng minh là ông đã chuẩn bị làm việc đó và luyện tập chăm chỉ từ trước. Thế cà phê mà ông đã nhổ bọt vào là cà phê có pha rượu Rum, hay không pha?” Không đợi trả lời, Švejk giải thích: “Nếu mà có pha rượu Rum thì gay hơn, bởi lẽ nó đắt hơn. Ở tòa án thì cái gì cũng được tính gộp lại, để ít ra nó đủ tới mức quy tội phạm.”

“Ở tòa án…” ông bố có lương tâm của gia đình thất vọng lẩm bẩm, ông cúi gục đầu xuống trong trạng thái bứt rứt khó chịu, khi mà con người bị lương tâm nuốt chửng…⦾

“Thế ở nhà mọi người đã biết chuyện ông bị bắt chưa,” Švejk hỏi, “hay là còn chờ cho đến khi báo đăng tin?”

“Anh nghĩ là chuyện này mà báo cũng đăng tin ư?” Nạn nhân cuộc liên hoan mừng ngày tên thánh của người bề trên ngây thơ hỏi lại.

“Cái đó thì quá là rõ ràng rồi,” Švejk trả lời thẳng thừng, bởi đối với mọi người, anh không bao giờ giấu giếm điều gì. “Chuyện của ông sẽ làm độc giả báo chí vô cùng thích thú. Tôi cũng thích đọc mục về những người say rượu và các chuyện lộn xộn phá phách họ gây ra. Cách đây không lâu, ở quán U Kalicha có một người khách tự đập vỡ đầu mình bằng cốc thủy tinh. Hắn tung cốc lên cao rồi hứng nó cho rơi trúng đầu. Người ta giải hắn đi, và chỉ sáng hôm sau là chúng tôi đã đọc tin ấy ở báo rồi. Hay ở Bendlovka, tôi cho tay nhân viên dịch vụ tang lễ một cái tát, hắn tát trả lại tôi một cái, thế là người ta đã bắt chúng tôi để cả hai giảng hòa với nhau, chỉ có vậy thôi mà báo buổi chiều đã đăng tin ngay lập tức. Hay chuyện một ông ủy viên hội đồng làm vỡ hai cái đế lót ly ở quán cà phê U Mrtvoly. Ông nghĩ là người ta bỏ qua cho ông ấy ư? Ngay ngày hôm sau ông ấy đã bị lên báo. Từ nhà tù, ông chỉ có thể gửi đăng báo lời đính chính, rằng cái tin mà báo đã viết về ông chẳng có liên quan gì đến ông, rằng ông chẳng có họ hàng gì, cũng chẳng có chung đụng gì với người mang cái tên giống ông, rồi ông viết thư về nhà bảo người nhà cắt giữ cho ông cái tin đính chính ấy, để ông có thể đọc khi ra tù. Ông rét hay sao đấy?” Švejk ân cần hỏi, khi nhìn thấy người đàn ông thông minh đang run cầm cập. “Những ngày cuối hè năm nay xem ra rất lạnh.”

“Thôi chết tôi rồi,” người đồng phòng với Švejk thổn thức, “thôi thế là thôi rồi, chẳng được thăng tiến nữa rồi.”

“Vâng, thế là thôi rồi,” Švejk sẵn sàng tán thành. “Không biết khi ông ra tù người ta có nhận lại ông vào công sở không, nếu không thì không biết trong thời gian ngắn như thế ông tìm đâu ra được chỗ làm khác, bởi vì cho dù ông chỉ xin làm việc cho người chuyên đi chôn súc vật ốm chết thôi, thì người ta cũng đòi hỏi giấy chứng nhận hạnh kiểm tốt. Ấy là còn chưa kể đến chuyện là làm các công việc sung sướng ấy cũng chẳng bõ bèn gì. Thế vợ con ông sống bằng gì trong lúc ông ngồi tù? Hay là bà ấy phải đi ăn xin, rồi dạy bọn trẻ nhà ông đủ thói hư tật xấu?”

Tiếng nức nở vang lên: “Tội nghiệp các con tôi! Tội nghiệp nhà tôi!”

Kẻ sám hối vô ý thức đứng lên và bắt đầu kể chuyện về các con mình: ông ấy có năm con, thằng lớn nhất mười hai tuổi, là hướng đạo sinh. Nó chỉ uống nước thôi, và là tấm gương mẫu mực cho bố nó, người lâm vào cảnh này lần đầu tiên trong đời.

“Hướng đạo sinh ư?” Švejk thốt lên. “Tôi thích nghe chuyện về hướng đạo sinh lắm. Một lần, ở Mydlovary gần Zliv, huyện Hluboká, tỉnh lỵ České Budějovice, đúng lúc trung đoàn 91 chúng tôi tập trận thì nông dân vùng đó tổ chức vào rừng để lùng bắt hướng đạo sinh mà số lượng của chúng càng ngày càng tăng. Họ bắt được ba hướng đạo sinh. Khi bị trói, đứa nhỏ nhất trong bọn chúng rền rĩ, gào thét, than vãn làm cho đến cả chúng tôi, những người lính cứng rắn, cũng không thể nhìn nổi mà phải bỏ đi chỗ khác. Cả ba hướng đạo sinh lúc bị trói đã cắn tám người nông dân. Sau đó, bị ăn roi ở chỗ ông thị trưởng, cả bọn thú nhận rằng không có một đồng cỏ nào ở trong vùng đó mà chúng không lăn lộn khi nằm tắm nắng. Tiếp nữa thì cánh đồng lúa mạch đen chuẩn bị gặt ở Ražice bị cháy là chuyện hoàn toàn tình cờ, khi mà chúng nổi lửa nướng con nai non ở đó, và con nai ấy thì chúng đã đâm trộm bằng dao ở trong rừng. Tại đại bản doanh của chúng ở trong rừng, người ta tìm thấy hơn nửa tấn xương gia súc và xương động vật hoang dã, một đống cực to toàn hạt anh đào, rất nhiều táo xanh cắn dở và nhiều đồ ăn ngon khác nữa.”

Nhưng ông bố tội nghiệp của chú hướng đạo sinh vẫn không thể lấy lại bình tĩnh được.

“Tôi đã làm gì thế này hả trời?” ông than vãn, “Tôi đã làm mất danh dự rồi.”

“Ừ, ông làm mất rồi.” Švejk trả lời bằng cái thẳng thắn vốn có của mình. “Những gì đã xảy ra sẽ làm ông mất danh tiếng cả đời, bởi vì đến lúc đọc báo, những người thân quen của ông sẽ thêm mắm dặm muối vào đó. Đấy là cái bao giờ người ta cũng làm, nhưng mà ông đừng bận tâm đến điều ấy làm gì. Trên thế gian này, con số những người bị mang tiếng xấu, bị mất danh tiếng ít ra cũng nhiều gấp mười lần so với những người có danh tiếng trong sạch. Đó chỉ là một điều vô cùng nhỏ mọn thôi.”

Ngoài hành lang có tiếng chân bước mạnh, tiếng chìa khóa lạch cạch trong ổ khóa rồi cửa mở ra, người cảnh sát gọi tên Švejk.

“Xin ông thứ lỗi cho,” Švejk hào hiệp nói, “tôi mới đến đây lúc mười hai giờ, nhưng mà ông này thì đã ở đây suốt từ sáu giờ sáng. Tôi không vội đâu.”

Thay vào câu trả lời, cánh tay lực lưỡng của người cảnh sát kéo Švejk ra ngoài hành lang rồi người ấy im lặng đưa anh lên cầu thang tới tầng hai.

Ngồi sau bàn ở trong phòng thứ hai là ủy viên cảnh sát, một người đàn ông béo mập với vẻ mặt vui tươi thân thiện. Ông nhìn về phía Švejk:

“Vậy ra anh là Švejk hả? Nhưng làm thế nào mà anh lại đến đây được?”

“Bằng cách hoàn toàn bình thường, thưa ông,” Švejk trả lời, “tôi được một ông cảnh sát đưa đến đây, bởi vì tôi đã không chịu để người ta đuổi khỏi nhà thương điên mà không được ăn trưa. Vì như thế thì chẳng khác gì việc người ta coi tôi như một con điếm.”

“Này, anh Švejk ạ,” ông ủy viên cảnh sát ân cần nói, “việc gì mà chúng tôi phải bận tâm với anh ở đây? Chúng tôi chuyển anh đến sở cảnh sát thì có phải là tốt hơn không?”

“Vâng, như ta thường nói,” Švejk hài lòng trả lời, “thì ông là người làm chủ tình hình. Trời về chiều rồi, bây giờ mà đi sang sở cảnh sát thì cũng như là làm chuyến đi dạo ngắn thoải mái.”

“Tôi lấy làm mừng là chúng ta nhất trí được với nhau.” Ông ủy viên cảnh sát vui vẻ nói, “Thống nhất được với nhau thì tốt hơn, có đúng không, hả anh Švejk?”

“Vâng ạ, bao giờ tôi cũng rất thích hỏi ý kiến mọi người,” Švejk đáp lời. “Thưa ông ủy viên cảnh sát, tôi sẽ không bao giờ quên ơn ông, xin ông tin là như vậy.”

Švejk kính cẩn cúi chào và đi cùng với một cảnh sát xuống phòng bảo vệ. Mười lăm phút sau, Švejk đã đi cùng với người cảnh sát thứ hai tới góc phố Ječná và quảng trường Karel. Người này cắp nách một quyển sách dày với cái tên bằng tiếng Đức Danh sách người bị bắt giam.

Ở đầu phố Spálená, Švejk và người tháp tùng của anh gặp một nhóm người đứng chen chúc nhau trước một tấm áp phích treo ở đó.

“Đấy là công bố tuyên chiến của Hoàng đế,” viên cảnh sát nói với Švejk.

“Tôi đã đoán trước mà,” Švejk đáp, “nhưng mọi người ở nhà thương điên vẫn chưa biết gì, mặc dù ở đấy họ phải là người biết trước nhất.”

“Anh nghĩ thế là thế nào?” viên cảnh sát hỏi Švejk.

“Tại vì ở đấy có rất nhiều sĩ quan bị giam.” Švejk giải thích. Khi đi tới một nhóm người khác đang xúm quanh tấm áp phích, Švejk hô to:

“Xin chào Hoàng đế Franz Josef! Chúng ta sẽ thắng trong cuộc chiến tranh này.”

Một người trong đám đông đang hào hứng ấn cái mũ của Švejk xuống đến tận tai. Thế là đám đông đưa người lính tốt Švejk trở lại cổng vào sở cảnh sát.

“Tôi nhắc lại một lần nữa, là cuộc chiến tranh này nhất định chúng ta sẽ thắng!” Bằng những lời đó, Švejk chia tay mọi người đã đi theo anh.

Và từ một nơi nào đó trong lịch sử xa xưa, một sự thật đã quay trở về với châu Âu, rằng tương lai làm vỡ cả các kế hoạch của hiện tại.

← Đơn vị tiền tệ của nhà nước Áo–Hung trước kia và Séc ngày nay.

← Có một số nhà văn viết “lương tâm cắn rứt.” Tôi không cho đó là lối diễn đạt hoàn toàn thích hợp. Ngay cả con hổ cũng nuốt chửng con người, chứ không cắn rứt (chủ thích của tác giả – TG).

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.