📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nghi Vấn Truyện Kiều.

58 trả lời, 4.049 lượt xem — Trang 1 / 2
Xưa nay, những câu Kiều bất hủ vẫn nằm trên cửa miệng của mỗi người Việt. Là bởi tại vì sao?
Tại vì sao vậy?
Phạm Quỳnh đã khôn ngoan vô mực khi bảo rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn."
Phải chăng vì Phạm Quỳnh đã thấy gì từ Truyện Kiều?
Không biết. Thật không dám biết!
Nhưng hôm nay, chúng ta, kẻ hậu sinh... khả ố, hãy thử mon men mà bước vào Vườn Thúy mà nghe tiếng kêu đoạn trường. Đoạn Trường!
Thật là, Nguyên chẳng hiểu Tố Như Tử nói cái gì ráo sau khi đọc Truyện Kiều. Có khi mần mò chợt thấy, thì cái thấy đã bay vụt vào hư không. Quái lạ khôn lường.
Có ai, có ai muốn cùng Nguyên vấn đáp cho ra lẽ của Truyện Kiều, xin hãy vào đây mà giải thích cho Nguyên.
Chỉ xin, chúng ta, lũ người phàm tục, đừng phán xét, mà cùng suy ngẫm. Nguyên mong hồi âm từ bốn hướng tám phương trời hiện diện về đây xôn xao cho một nghi vấn. Nghi vấn Truyện Kiều.
Tạ ơn ai sẽ vào đây mở mắt cho Nguyên.
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Sao bài này lại để ở đây vậy nè [:)]


Mỗi trái tim có một lối về  
Thôi cứ như mây kề nước biển  
Chỉ một thời dành cho dâng hiến  
Còn lại là những chuyến chơi rong  

Ai cố dành bẻ nửa số 0  
Cho ngăn tim bập bồng bọt thổi  
Bước chân trần đạp lên đá sỏi  
Để đôi ta chấp vá nổi trời..
  
( trich Nguoi tinh hu vo 11 -BN )
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Huyên Nguyên

Với đề mục này Huyên Nguyên nên đặt ở mụcBình Luận Văn Học thì đúng hơn.

Thân,

HB,

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
Đăng nhập để trả lời
0
.

Chào Huyennguyen,


Trích đoạn: huyennguyen

Xưa nay, những câu Kiều bất hủ vẫn nằm trên cửa miệng của mỗi người Việt. Là bởi tại vì sao?



Tôi xin bạn bỏ hai chữ "nghi vấn" đi nhé. Vì điều bạn nêu lên là một thực tế đã được kiêm nghiệm qua gần 300 năm. Cho đến hôm nay, tại xứ người, tôi vẫn còn thuộc lòng Kim Vân Kiều, mà Huyênnguyen biết ai dạy cho tôi không? Bà Ngoại tôi đấy. Một Bà Cụ Việt Nam không hề biết chữ Hán, không cả biết chữ Nôm hay chữ Quốc Ngữ.

Vậy mà tôi ngạc nhiên khi bà thuộc tất cả cảc câu thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh, khi hát ru tôi ngủ. Và tôi, hôm nay, lưu lạc xa quê vạn dặm, mọi bài học được từ trường lớp tại Việt Nam đã quên hết, nhưng lạ thay, vẫn nhớ không quên các câu lục bát Kim Vân Kiều.

Tôi tạm giải thích thế này:

1. Truyện Kiều viết theo tiếng Nôm, thể thơ lục bát, loại ca dao, nên tự nó đã là tình tự dân tộc. Dễ đọc, dễ ngâm, dễ nghe, dễ thấm, khó quên.

Điều này làm truyện Kiều đứng ra ngoài hẳn các tác phẩm văn chương viêt bằng chữ Hán, hay viết theo lối thơ Đường, hoặc các thể thơ du nhập từ Trung Quốc. Những bài thơ này dù có hay cách mấy, cũng không thấm vào lòng dân Việt được, nói gì ở lại trong tim chúng ta.

2. Truyện Kiều nói lên nhiều tâm thức Việt, trong đó đề cao tính nhân, đạo hiếu, quan niệm Nhân Quả của Phật, và bàng bạc nhiều tính tam giáo đồng nguyên của Việt (ít có tại Trung Quốc). Cùng lúc, nói lên được khả năng chịu đựng, nhẫn nhịn, kèm với một sức phấn đấu không ngừng tìm cách cải mệnh và tin vào một kết quả tốt đẹp hơn tạo ra từ chính cái "tâm" của mình. Do đó, truyện Kiều vừa có khả năng chia sẻ các nỗi đau của người Việt, vừa cho người Việt một niềm tin vào khả năng biến đổi định mệnh của chính mình, để tiếp tục hy vọng, lạc quan mà sống qua bao dâu bể.

3. Truyện Kiều đáp ứng nhu cầu "nói, hát, ngâm" tiếng Mẹ Đẻ của Việt, sau trên ngàn năm chịu sự đô hộ của ngoại bang, hết Tàu tới Tây, do đó, đã trở thành một "đại thi phẩm truyền khẩu" trong dân gian. Nhờ đó, mà truyện Kiều sống mãi qua bao đợt đốt sách, loạn ly.

Tôi cũng có tiếc, phải nói là bực mình, và ngậm ngùi nữa, là Nguyễn Du đã phải dùng cốt truyện của một người văn sĩ hạng tồi của Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn lại hoàn cảnh chung của đất nước chúng ta trong giai đoạn ấy, thì tôi lại thán phục cái khả năng "Việt Hóa" mà Nguyễn Du đã chứng minh trong di sản văn hóa Việt.

Tôi nghĩ điều chúng ta có thể làm hôm nay, là tiếp tục phát huy tâm tình, suy tư của chúng ta qua thơ văn Việt, mà hãy tránh bắt chước hay chạy theo các trào lưu ngoại quốc. Có như thế, chúng ta mới thực sự tỏ được lòng biết ơn và tưởng nhớ đến thi hào Nguyễn Du, người đã để vào di sản văn học Việt một đại thi phẩm chữ Nôm, thơ lục bát, và làm mốc cho một sự tự chủ của thơ Việt.

Trên đây chỉ là vài ý tưởng của riêng tôi.
Mong được sự bổ túc của các bạn.
Cám ơn Huyennguyen đã nêu lên câu hỏi.


[;)]

Đăng nhập để trả lời
0



Huyên Nguyên chỉ nghi vấn thôi có sao đâu. Huyên Nguyên không cảm nhận thấy cái hay, cái đẹp của Truyện Kiều nên mới cần người khác giúp.
Các bác, bố, mẹ, anh, chị của tôi và tôi thuộc laù Truyện Kiều. Hồi nhỏ tôi thường đươc ngồi nghe cả nhà đố Kiều, tức là người này đọc bất kỳ một câu nào thì người khác phải đọc ngay câu tiếp, chậm thì phạt búng tai. Xin nói rõ hồi đó anh tôi học lớp 10/10, chị gái thôi học lớp 7/10 và tôi mới lớp 4/10. Các cụ thì...lớp 1 Bình dân học vụ. Tôi thường chăn trâu, giã gạo những lúc ấy luôn cầm Truyện Kiều. Truyện Kiều thấm vào tôi và thường lây hay phỏng tác khi giao tiếp. Tôi yêu Kiều. Tuy nhiên, nếu nói về hạn chế của tác phẩm thì hầu như mọi tác phẩm văn học đều có. Riêng Truyện Kiều tôi viết 2 bài. Một bài lạm bàn về nhân vật Thuý Kiều - nhân vật tôi yêu. Yêu mà phê phán. Phê phán mà vẫn yêu. Một bài vạch mặt kẻ mà Thuý Kiều hàm ơn và người đời vẫn khen. Đó là "Họ Chung có kẻ lại già/ Cũng trong nha dịch lại là từ tâm". Thuý Kiều nhầm, nhiều người khác nhầm bởi chính cụ Nguyễn Du nhầm.
Cảm thông với Huyên Nguyên, nhưng tôi không đủ sức giúp bạn tìm thấy cái hay cái đẹp từ tác phẩm này. Mong bạn thứ lỗi!
Hai Ly
Hai Ly
Đăng nhập để trả lời
0
Rất vui khi vẫn còn các bạn quan tâm đến truyện Kiều, và thuộc lòng truyện Kiều nữa.

Bạn huyennguyen chỉ muốn nêu thắc mắc của bạn vì bạn nhận mình chưa hiểu nhiều về truyện Kiều và muốn học hỏi thêm qua sự bàn luận của các thành viên trên diễn đàn. Vậy thì bạn vẫn đúng được... 50% với chữ vấn [:)] (hỏi, thắc mắc) Còn chữ "nghi" (không tin, ngờ vực) thì đúng là không nên dùng

Bạn Ngọc Lý chắc cũng nhạy cảm giống vvn khi có ai "đụng chạm" đến Kiều "của mình". [:D] Tuy nhiên, vvn thiển nghĩ bạn nên giải thích nhè nhẹ một chút cho các bạn trẻ đừng "hãi quá không dám hỏi nữa".

Mặc dù không ai dám nhận mình "hiểu hết, biết hết" truyện Kiều, chúng ta cũng nên mạnh dạn tham gia bàn luận để trau giồi và học hỏi lẫn nhau.

Để mở đầu vvn xin đóng góp một bài viết vvn đã post bên thuvien-ebook.com, và vài bài sưu tầm các nơi.
Đăng nhập để trả lời
0
http://www.thuvien-ebook.com/forum/viewtopic.php?t=165

SẦU ĐONG CÀNG LẮC CÀNG ĐẦY...

Tôi xin bắt đầu cái topic nầy. Mong các bạn nào từng "trót yêu nàng Kiều" cùng tham gia nhé.

Bàn về chữ "Sầu", người ta có nhiều chữ để diễn tả nỗi sầu ở các mức độ khác nhau: sầu da diết, sầu thê lương, sầu vạn cổ, sầu man mác, sầu đau sầu đớn,....

Nhưng tả được nỗi sầu một cách cụ thể, rất bình dân nhưng cũng rất văn hoa thì chỉ có Nguyễn Du:

"Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê."


Tôi vốn là học sinh chuyên toán. Khi nghe câu nầy lần đầu thì chẳng hiểu gì cả. Lại nghĩ "sầu đong" là cái gì nhỉ? Có lẽ "sầu đông" mà người ta in nhầm chăng? Mà cây sầu đông mà "càng lắc" thì chỉ có nước ... rụng lá chứ càng đầy là nghĩa gì? Hay là lá rụng đầy sân? Cụ Tố Như có linh thiêng thì xin thứ cho chứ thực tình hồi trung học tôi nghĩ như vậy.

Cho đến khi lên lớp, thầy Phan An, giáo viên kỳ cựu về Kiều của trường cấp ba TX Thủ Dầu Một, giảng nghĩa, tôi mới "vỡ" ra và khâm phục cách dùng chữ của cụ Tố Như quá xá.

Thường cái gì đong trong lon, trong thúng, khi ta "càng lắc "thì nó "càng vơi" xuống. Không tin thì bạn thử xúc một .. lon gạo rồi lắc thử xem. Rõ ràng là "càng lắc càng vơi" Thế nhưng nỗi sầu thì không biết Nguyễn Du đong bằng cái gì nhưng lại "càng lắc càng đầy"! Quả thật nỗi buồn khi ta càng gặm nhấm nó thì nó lại càng lớn thêm lên chứ chẳng bớt đi chút nào.

Sầu đong "càng lắc càng đầy"

Mà đối với tuổi mới lớn thì còn nỗi buồn nào thấm thía cho bằng chia tay với người yêu. Gặp nhau cả ngày trời, vừa mới chia tay đã nhớ, đã muốn gặp lại ngay. Trong lòng lúc nào cũng bồn chồn, không yên, chỉ muốn gặp lại người yêu ngay lập tức. Mà gặp không được thì sinh buồn sầu, xem mỗi giờ trôi qua dài cả thế kỷ (mà nhất là khi không có cả cái "a-lô" thì còn khổ đến mức nào). Chỉ mong sao trời mau sáng để có dịp gặp lại người yêu.

Vừa mới sáng đã mon men đến nhà em (hay nhà anh) thì mới hay cả nhà em ... đi chơi xa, lâu lắm đến ... chiều mai mới về. Ối giời ơi, sao không bảo nhau tiếng nào ...

Kinh Thi có câu "Nhất nhật bất kiến như tam thu hề" nghĩa là "một ngày không gặp dài như ba năm" mà cụ Nguyễn Du đã "phiên dịch" sang Việt ngữ rất tài tình, rất chuẩn và cũng rất bình dân: "Ba thu dọn lại một ngày dài ghê."

Thế mà em đến mãi tối mai mới về. Cơ khổ. Cứ mỗi lần nhớ là mỗi lần "lắc" (lắc cái nỗi sầu chứ không phải thuốc lắc nhé, đừng có mà vớ vẫn) và càng lắc thì cái nỗi buồn cứ thế mà dâng lên, đầy lên mãi, muốn không nghĩ cũng không được.

Sầu đong càng lắc càng đầy

Thời gian trôi qua thật mau, thoắt cái đã hơn chục năm, nhưng tôi vẫn còn cái cảm giác như tiết học văn vừa mới tan sáng nay. Khi thầy Phan An nói lời cuối sau tám tiết học truyện Kiều.

Đứng trên bục giảng, thầy chầm chậm nhìn quanh cả lớp và nhè nhẹ gấp quyển sách giáo khoa trên tay. Giọng thầy chẫm rãi nhưng thật ấm áp và trân trọng: "Thôi. Chúng ta đã khuấy động và làm phiền nàng Kiều suốt mấy tuần qua. Giờ thì chúng ta hãy khép cánh cửa lại để nàng Kiều bạc mệnh của chúng ta được nghỉ một giấc bình yên. Vâng, một giấc thật bình yên trong lâu đài văn chương văn học Việt Nam."

Xin cảm ơn thầy đã truyền cho chúng em sự hiểu biết, niềm cảm hứng và say mê với truyện Kiều.


Sầu đong "càng lắc càng đầy"
...
Đăng nhập để trả lời
0
Khảo sát Truyện Kiều từ những câu thơ 'dịch' Đường thi
Nguyễn Ngọc Bảo Trâm



Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ Nôm thành công nhất của nước ta. Tác phẩm ra đời trong thời Trung đại nên chịu sự chi phối của lý tưởng thẩm mỹ phong kiến. Một trong những nét đặc trưng của thi pháp thời kỳ này là sử dụng điển cố, điển tích, tập cổ… Trong Truyện Kiều những hình thức này không ít. Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều điển cố, điển tích của Trung Quốc được lấy từ Kinh Thi, Tình sử, Tả truyện, Kinh Dịch, Lễ ký, Hán thư, Tây sương, Thần tiên truyện… Qua bàn tay tài hoa của ông, những điển cố này đã được sử dụng rất sáng tạo và đã trở nên quen thuộc hơn, gần gũi với tâm hồn dân tộc Việt Nam hơn. Nhờ thế ngôn ngữ Việt cũng trở nên giàu có và phong phú hơn khi du nhập những từ ngữ mới. Chẳng hạn từ bể dâu trong câu Trải qua một cuộc bể dâu là mượn từ câu Thương hải biến vi tang điền (Bể xanh hóa thành nương dâu - Thần tiên truyện) diễn tả những thay đổi trong cuộc đời, vũ trụ. Hay như câu:

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê! (câu 247-248)


là hình thức tập cổ của câu Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (một ngày không trông thấy mặt lâu như là ba tháng mùa thu) trong Kinh Thi.

"Truyện Kiều" có nhiều câu thơ lấy ý từ Đường thi. Chắc chắn Nguyễn Du không làm công việc dịch thơ. Tuy nhiên, cũng có một số câu thơ trong tác phẩm của ông xét theo một khía cạnh nào đó chính là những câu thơ dịch từ Đường thi. Chúng tôi làm một việc là lượm lặt những câu thơ ấy nhằm nhìn "Truyện Kiều" của Nguyễn Du dưới một góc độ mới.

Khảo sát thơ “Kiều” như những bản dịch không phải là một việc làm máy móc, vì theo chúng tôi từ đó sẽ nhận thấy thêm nhiều những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du cũng như hiểu thêm về quá trình sáng tác của ông. Cũng có thể nói rằng nhờ Nguyễn Du mà nhiều câu thơ Đường được biết đến nhiều hơn, trở nên quen thuộc hơn với người đọc Việt Nam. Ông đã sử dụng thơ của nhiều nhà thơ Đường như Đỗ Mục, Bạch Cư Dị, Mạnh Giao, Lý Thương Ẩn, Thôi Hộ,…

Nếu chỉ kể những câu thơ mượn điển cố, điển tích thì trong Truyện Kiều đã có rất nhiều câu có chất liệu Đường thi. Những câu như: Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa (câu 226) gợi cho người đọc nhớ đến câu:

Ngọc dung tịch mịch lệ lan can,
Lê hoa nhất chi xuân đái vũ.
(Mặt ngọc âm thầm, nước mắt chan hòa
Như một cành hoa lê ướt đẫm nước mưa xuân)


Hay câu Trong khi chắp cánh liền cành (câu 515) là mượn từ câu:

Tại thiên nguyện tác ty dực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lý chi…
(Trên trời nguyện làm chim liền cánh,
Dưới đất nguyện làm cây liền cành.)


trong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị. Ở đây chúng tôi muốn nói đến những câu thơ trong Truyện Kiều có thể coi là những câu thơ dịch thực sự. Một trong những câu thơ Đường nhờ Nguyễn Du mà nổi tiếng hơn là câu:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
(Đề tích sở kiến xứ)

(Không biết mặt người ở nơi nào
Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)


của Thôi Hộ.

Nguyễn Du mượn câu thơ này, mượn chuyện của Thôi Hộ mà nói tâm sự của chàng Kim khi trở lại vườn Thúy. Cũng như Thôi Hộ, Kim Trọng trở lại tìm người đẹp, cảnh vẫn như xưa, vẫn hoa đào, vẫn gió xuân… nhưng người xưa thì không tìm thấy nữa. Nguyễn Du “dịch”:

Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. (câu 2747-2748)


Một câu thơ thần tình nếu là thơ, tài hoa nếu là dịch!

Bởi vì Nguyễn Du không dụng tâm làm một người dịch thơ Đường nên giữa câu thơ của ông với nguyên tác của Thôi Hộ có nhiều khác biệt. Nếu Thôi Hộ viết hà xứ khứ thì Nguyễn Du chỉ viết đơn giản là trước sau. Thôi Hộ nhớ về một khuôn mặt đã ửng hồng cùng với hoa đào mùa xuân trong lần gặp gỡ trước (Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng, còn với chàng Kim có lẽ ký ức về nàng Kiều trong vườn Thúy là hình ảnh Dưới đào dường có bóng người thướt tha (câu 290). Do vậy Nguyễn Du dùng từ bóng người là phù hợp hơn với văn cảnh, với tâm trạng của chàng Kim. Câu thơ của Nguyễn Du mang nghĩa khẳng định, còn câu thơ của Thôi Hộ là một sự băn khoăn, không thể nói được ai là người viết hay hơn, sâu sắc hơn ai, bởi cả hai đều thể hiện được một nỗi thất vọng thật sự.

Ở câu thứ hai, Nguyễn Du đã có một sự sáng tạo độc đáo khi ông thay từ y cựu bằng từ năm ngoái. Y cựu là vẫn như cũ, hoa đào sau một năm, mùa xuân đến lại trổ ra những bông hoa y như trước kia, vẫn thắm tươi để cười với gió mùa xuân. Nguyễn Du có ý khẳng định hơn khi ông dùng từ năm ngoái. Không phải những bông hoa mới trổ trong một mùa xuân mới, mà chàng Kim tưởng như đó là những bông hoa của năm ngoái. Chính là hoa đào của năm ngoái! Vậy thì bóng người thướt tha dưới hoa đào năm ngoái ở đâu? Nỗi xót xa dường như tăng thêm một bậc. Cảnh cũ vẫn còn mà người xưa đã vắng! Hoa đào cười với gió đông trở nên một hình ảnh quen thuộc trong lòng người yêu thơ, yêu Truyện Kiều.

Một đoạn thơ dịch chứng tỏ tài năng của Nguyễn Du nữa là đoạn tả tiếng đàn của nàng Kiều trong đoạn đoàn viên:

Khúc đâu đầm ấm dương hòa!
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu dỏ duềnh quyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông! (câu 3199-3204)


Một đoạn thơ tả tiếng đàn đến độ tuyệt diệu. Nhưng không hoàn toàn là sáng tạo của Nguyễn Du mà đúng hơn đó là những câu thơ “dịch” từ bài Cẩm sắt - của Lý Thương Ẩn đời Đường:

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên.
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền ngọc noãn nhật sinh yên.


(Tiếng đàn như: Khi Trang sinh lầm mình là bướm trong giấc mộng buổi sáng,
Tấm lòng xuân của Thục đế gửi gắm vào chim đỗ quyên.
Dưới biển xanh, trăng sáng chiếu xuống những hạt châu thành nước mắt
Chốn Lam Điền, nắng ấm soi trên những hạt ngọc tỏa khói)

Nguyễn Du chọn một đoạn thơ tả tiếng đàn tuyệt hay của Lý Thương Ẩn mà tặng cho nàng Kiều, tặng cho Kim Trọng. Trong buổi tái hợp của mối tình xa cách những mười lăm năm, tiếng đàn gảy nên tấm lòng yêu thương của những con người vừa tìm ra được hạnh phúc.

Tiếng đàn của Kiều không còn thảm sầu, oán thán, ngậm đắng nuốt cay như xưa nữa. Tiếng đàn lúc này rất đầm ấm như giấc mơ hóa bướm trong buổi sớm, êm ái như xuân tình, trong trẻo như hạt ngọc rơi xuống mặt nước (duềnh) có ánh trăng (quyên) soi vào, ấm áp như ánh mặt trời, như những viên ngọc vừa ngưng kết. Nguyễn Du vì muốn cho cuộc đoàn viên của Kim Kiều được trọn vẹn nên ông cũng làm cho tiếng chim đỗ quyên trở nên êm ái lạ thường. Êm ái như xuân tình! Không còn là tiếng kêu than não ruột của một vị vua mất nước. Tấm lòng xuân của Thục đế trong lốt chim đỗ quyên trở nên êm ái lạ thường.

Những câu thơ của Nguyễn Du nồng nàn, tha thiết quá với những thán từ sao (trong sao, ấm sao). Nhờ hơi thơ lục bát mượt mà, những câu thơ Đường mang đậm hồn thơ Việt.

Bài thơ Cầm sắt của Lý Thương Ẩn là một bài thơ hay và được nhiều người dịch. Trần Trọng San dịch những câu thơ đó như sau:

Mơ màng giấc bướm Trang sinh;
Lòng xuân Vọng đế, đỗ quyên gửi vào.
Biển xanh trăng chiếu lệ châu;
Ngọc phơi nắng ấm, khói cao Lam Điền…


Trần Trọng San đã dịch thật sát nghĩa so với những câu thơ của Lý Thương Ẩn. Vì tâm thế dịch thuật hoàn toàn khác với Nguyễn Du nên những câu thơ dịch của ông thật hoàn chỉnh, đúng nghĩa là những câu thơ dịch. Nhưng cũng cần nói lại một lần nữa là Nguyễn Du của chúng ta không hề có chủ tâm dịch mà chỉ mượn những câu thơ của Lý Thương Ẩn mà thôi. Ông đã vận dụng chúng thật sáng tạo để viết nên những câu thơ tả tiếng đàn tuyệt vời của mình.

Nguyễn Du còn dùng nhiều câu thơ Đường khác trong sáng tác của mình. Chẳng hạn như câu:

Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng,
Nhất trạo giang sơn tận địa duy.


của Hoàng Sào để tả Từ Hải: Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo (câu 2174). Một sự chọn lựa rất phù hợp để khắc họa hình tượng người anh hùng Từ Hải, nhân vật lý tưởng trong tác phẩm.

Rồi một câu thơ cũng rất quen thuộc trong bài Vô đề của Lý Thương Ẩn:

Xuân tàm đáo tử ty phương tận
(Con tằm xuân đến lúc chết thì tơ mới hết)


Nguyễn Du còn làm cho nỗi lưu luyến day dứt hơn nữa khi viết Con tằm đến thác, cũng còn vương tơ (câu 1976). Không phải khi tằm chết thì hết nhả tơ, mà tơ vẫn còn vương vấn bên xác tằm. Chỉ có điều ông lại để câu này thốt ra từ miệng của Thúc Sinh, trong khi chàng Thúc này lại sợ hãi Hoạn Thư đến nỗi đã bỏ rơi nàng Kiều tội nghiệp, đẩy Kiều vào con đường đau khổ một lần nữa.

Câu thơ kết thúc của Trường hận ca nổi tiếng của Bạch Cư Dị cũng được “dịch” trong Truyện Kiều:

Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ
(Mối hận này triền miên không lúc nào chấm dứt).


Mối hận chia ly của Kim Kiều có khác gì mối hận chia ly của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi thời Đường chứ. Cũng đều là Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên (câu 2786). Dịch được chữ miên miên thành dằng dặc thật đã đến độ tuyệt vời. Nguyễn Du sử dụng ý thơ này là đã thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc với mối tình của họ.

Rồi cả câu thơ:

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô


là dịch từ câu:

Kim tỉnh ngô đồng thu diệp hoàng

trong bài Trường tín thu từ của Vương Xương Linh.

Khi Thúy Kiều trở về với gia đình có hẹn sẽ lập am rước Giác Duyên. Nhưng khi cho người trở lại tìm thì Giác Duyên đã không còn ở đó nữa. Đúng như hoàn cảnh Tầm ẩn giả bất ngộ của Giả Đảo:

Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ

(Dưới cây tùng hỏi tiểu đồng
Trả lời rằng thầy đã đi hái thuốc
Chỉ nội trong núi này thôi
Mây dày không biết ở chốn nào)


Nguyễn Du mượn lại câu trả lời đó để trả lời cho sự vắng mặt của Giác Duyên:

Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay, hạc lánh, biết là tìm đâu (câu 3231-3232)


Một câu thơ dịch như vậy thật chưa chỉnh nhưng vận dụng nó từ một bài thơ bốn câu vào trong một tác phẩm dài đến hơn ba ngàn câu đúng lúc, đúng chỗ thật là quá khéo. Cái cớ hái thuốc trong mây dày không tìm ra được Nguyễn Du khéo nắm lấy để làm cái kết cho cả nhân vật Giác Duyên lẫn Thúy Kiều. Giác Duyên là một người tu hành, hay đi đây đó, không thể để bà về chỗ Kiều được, mà nàng Kiều trong đoạn đoàn viên chẳng thể nào lại đi tu lần nữa. Một giải pháp hợp lý để mỗi nhân vật trong tác phẩm đi theo hướng đi phù hợp với mình.

Như trên đã nói, Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều không hề nghĩ rằng mình đang làm công việc dịch thơ. Chỉ có những kẻ hậu thế là mạo muội gán cho ông cái công việc đó mà thôi. Tuy vậy, chúng tôi cho rằng xét Nguyễn Du dưới góc độ là một dịch giả sẽ không bao giờ là thừa. Với thiên tài của mình Nguyễn Du nếu muốn dịch thơ Đường chắc chắn cũng sẽ có những bản dịch thành công. Những câu Kiều của ông vô tình trở thành những câu thơ dịch mà đã rất hay rồi. Chúng thành công ở nhiều điểm, đầu tiên là khả năng kết hợp những ý thơ riêng lẻ ấy vào chung một cốt truyện thật thông suốt và liền mạch. Sau đó nếu xét ở góc độ dịch phẩm thì chúng đã thành công với vai trò giới thiệu cho độc giả về thơ Đường, đồng thời gợi hứng thú cho họ đi tìm đọc thêm nguyên tác, cũng như đọc thêm nhiều bài Đường thi khác nữa. Cách “dịch” của Nguyễn Du không thật bám sát ý thơ, hình ảnh thơ và mang nhiều dấu ấn cá nhân. Nhưng ông đã dịch thật đạt tinh thần cũng như tình cảm mà tác giả gửi gắm qua nguyên tác, để những câu thơ dịch ấy xuất hiện trong những tình tiết thật phù hợp, giúp chúng một lần nữa thể hiện những nội dung mà chúng đang mang. Con người thiên tài làm việc gì cũng chứng tỏ mình là thiên tài. Những câu thơ dịch của Nguyễn Du thể hiện điều đó. Chỉ là một việc ngẫu nhiên thôi nhưng tất cả chúng ta đều phải thừa nhận giá trị của những câu thơ đó, và chắc chắn chúng còn có nhiều điều để cho các dịch giả đời sau học tập theo.
Đăng nhập để trả lời
0
Trao duyên - tiếng thơ của Nguyễn Du - tiếng lòng của nàng Kiều

Hà Quang Năng



Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756) được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10. Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt do có kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót cho quan lại cứu cha và em. Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả nghĩa, lấy Kim Trọng.

Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, "Trao duyên", ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.

Mở đầu đoạn thơ là 8 câu tâm sự của Thúy Kiều, về mối tình của mình với chàng Kim. Kể ra, với người xưa, một mối tình thiêng liêng như Thúy Kiều - Kim Trọng thường được giấu kín trong lòng ít khi người ta thổ lộ với người thứ ba. Vậy mà, ở đây, Thúy Kiều phải bộc lộ tất cả với Thúy Vân. Hơn thế nữa, nàng phải lạy em như lạy một ân nhân, một bậc bề trên, phải nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van vỉ:

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.


Không phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em.

Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn giữ, minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim, dễ gì trong phút chốc lại phải trao sang tay người khác, cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút ít ích kỉ bên trong, đó cũng là lẽ thường tình. Chiếc thoa với bức tờ mây, Phím đàn với mảnh hương nguyền... vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều, kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của nàng. Bây giờ, những kỉ vật thiêng liêng ấy, nàng phải trao cho em, không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Nàng thuyết phục em mới khéo làm sao:

Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.


Trên hết giữa chị với em là tình máu mủ; vì tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Vì vậy, suốt từ đầu đến cuối đoạn thơ không hề thấy lời nói của Thúy Vân. Thúy Kiều như người đang dốc bầu tâm sự, nàng phải dốc cạn với em mới có thể thanh thản ra đi. Nàng tưởng tượng đến lúc mình đã chết, oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. Khi đó, âm dương cách biệt, chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. Lời tâm sự sao mà thương!

Cuối đoạn thơ nàng tưởng như mình đang nói với người yêu. Nỗi lòng vẫn ngổn ngang tâm sự, vẫn còn trăm nghìn điều muốn nói với chàng, vẫn không làm sao kể cho xiết muôn vàn ái ân giữa nàng với chàng; không giữ được trọn lời thề nguyền với chàng, nàng đành gửi chàng trăm nghìn lạy. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi, đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lí của con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ, mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc, Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn:

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp dã phụ chàng từ đây!

...
Đoạn thơ, trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân, trao duyên cho Thúy Vân, còn thực chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. Với nghệ thuật thể hiện tài tình, Nguyễn Du giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. Càng hiểu nàng bao nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó chẳng đáng cảm phục lắm sao?
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Kiều qua các thời đại

--- không rõ tác giả ---

Truyện Kiều ra đời đã được chừng một trăm tám mươi năm (1). Những ý kiến phát biểu về Truyện Kiều nhiều không kể xiết. Bài này chỉ điểm qua một số thơ văn khen chê Truyện Kiều viết trước Cách mạng Tháng Tám.

Tương truyền khi sáng tác xong Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), Nguyễn Du đưa bản thảo cho người bạn văn chương tri kỷ của mình là Phạm Quý Thích xem. Phạm rất tán thưởng, nhuận sắc lại một vài chỗ, đổi tên sách thành Kim Vân Kiều tân truyện, làm bài thơ ề từ, rồi cho đem khắc ván in ở phố Hàng Gai, Hà Nội.

Bài thơ đề từ ấy, sau này được khắc lên đầu tất cả các bản Kiều nôm, và hơn một trăm năm sau được in lại nguyên văn trên bản Kiều quốc ngữ của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Vĩnh Hưng Long xuất bản năm 1925:

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Bản thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng tỉnh căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân thanh đáo để vị thùy thương


Dịch nghĩa:

Người giai nhân (Kiều) ví chẳng đến sông Tiền Đường (thì) cái nợ yên hoa nửa đời vẫn chưa trả xong. Nét mặt ngọc của nàng sao lại phải vùi xuống dưới nước; tấm lòng trong sạch của nàng lúc nào cũng không thẹn với chàng Kim. Giấc mộng đoạn trường khi đã tỉnh ra thì cái căn duyên cũng đã giũ sạch; tiếng đàn bạc mệnh tuy đã hết khúc mà nỗi oán hận vẫn còn dài. (Thế mới hay) một mảnh tài tình là cái lụy chung muôn đời. (Vậy thì) quyển Tân thanh này cốt để thương xót ai? (2)

Bài thơ trên đây là bài thơ vịnh Kiều đầu tiên, cũng là bài tựa Truyện Kiều đầu tiên.

Ngày từ khi ra đời, Truyện Kiều đã được dùng làm đề tài cho một trào lưu văn nghệ cung đình. Ngoài bài thơ đề từ của Phạm Quý Thích còn có những lời bình luận của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng, bài tổng thuyết của Minh Mệnh, 30 bài thơ đề vịnh của Hà Tông Quyền, tập Kim Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng, bài tổng từ của Tự Đức...

Nhưng đánh giá cao nhất Truyện Kiều lại là một bài tựa Truyện Kiều, bài của Tiên Phong Mộng liên đường (3) viết vào cuối thời Minh Mệnh.

Mộng liên đường hết sức đề cao tầm nhìn của Nguyễn Du, hết lời ca ngợi tấm lòng của Nguyễn Du: "Nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõ, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có các bút lực ấy (4). Có thể nói Mộng liên đường đã khám phá được tâm sự của Nguyễn Du vậy.

Mộng liên đường cũng hết lời ca ngợi thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du thể hiện qua Truyện Kiều "Dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột". (5)

Cuối thế kỷ XIX, với bài tựa Đoạn trường tân thanh viết năm 1898, Đào Nguyên Thổ cũng hết sức đề cao thiên tài Nguyễn Du và nêu tác dụng kỳ diệu của Truyện Kiều:

(Truyện Kiều) "Nói tình thì vẽ được hình trạng hợp ly cam khổ, mà tình không rời cảnh, tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa mà cảnh tự vướng mình, mực muốn múa mà bút muốn bay, chữ hay phô mà câu hay nói, khiến người khóc, khiến người vui, khiến người buồn, khiến người giở đi giở lại ngàn lần, càng đọc thuộc lại càng không biết chán, thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng. Ngày nay nào khách văn chương, bạn thoa quần, cho đến kẻ buôn bán, người thôn hào, không ai là không có một quyển Kiều cầm tay để thưởng thức. Ngay như cả những người không biết lấy một chữ mà cũng học thuộc dăm câu, cũng thường khi nằm khi ngồi đem ra ngâm ngợi. Ôi! Sao mà lại có thứ văn làm say người đến thế!..." (6)

Thật đúng! Biết bao nhiêu người đã mê Truyện Kiều. Ngay Tự Đức tuy rất bất bình khi đọc những câu ca ngợi "tên giặc" Từ Hải (7) cũng phải nói:

Mê gì? - Mê đánh tổ tôm
Mê ngựa hậu bổ, mê nôm Thúy Kiều


Nhưng mê Truyện Kiều thì không ai bằng Chu Mạnh Trinh. Chu Mạnh Trinh không chỉ mê Truyện Kiều, mê văn chương Truyện Kiều, mà chính là mê cả nàng Kiều, y như mê một giai nhân có thật.

Chu Mạnh Trinh ca ngợi đạo đức Thúy Kiều là "Người thục nữ đủ đường hiếu nghĩa", ca ngợi tài sắc Thúy Kiều "hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu trăn măm cũ còn ghi tên tuổi hão, người chép sách tiếc vì tài sắc, ngàn thu sau còn nhặt chút phấn hương thừa". Chu Mạnh Trinh mơ tưởng sẽ dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều, mơ tưởng mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, rồi như thấy bóng Kiều hiện về đâu đó: "Hỡi ơi! Hồn còn biết hay chăng? Bóng hoàn bội tưởng ra vào Lạc Phố!" (8)

Mê Kiều không ai bằng Chu Mạnh Trinh thì bênh vực Kiều, Chu Mạnh Trinh cũng đã bênh vực một cách tài tình hơn ai hết. Để bênh vực cái việc Kiều tự tiện thề thốt với Kim, Chu Mạnh Trinh đã mượn ý hai câu thơ cổ (9) tả một cái vườn đóng kín với một cành hạnh đỏ vươn ra ngoài tường nở hoa. Hoa hạnh đã nở ngoài tường chỉ vì sắc xuân trong vườn đầy dẫy không sao giữ lại được. Kiều tự tình với Kim thì chẳng qua cũng như bông hạnh kia. Ai lại nỡ khe khắt với một cành hoa vươn ra nở ngoài tường, nhất là nó vẫn giữ được tiết sạch giá trong: "Cũng có kẻ bảo tại nước chảy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân. Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường chưa để con ong qua tới".

Nếu có nhiều người mê Truyện Kiều thì số người chê Thúy Kiều cũng không phải ít. Trong số những người ấy ta thường nhắc đến Nguyễn Công Trứ. Trong một bài hát nói, Nguyễn Công Trứ đã dõng dạc lên án Thúy Kiều:

Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!


Ai tà dâm? Người con gái phải bán mình chuộc cha hay người khách làng chơi đi tìm thú vui trụy lạc? Phong tình có tiếng như Nguyễn Công Trứ đáng lẽ nên dè dặt mới phải!

Tản Đà rất thích Truyện Kiều nhưng đối với nhân vật Thúy Kiều, nhà thơ mang một thành kiến nặng nề thể hiện trong bài Thúy Kiều hầu rượu Hồ Tôn Hiến:

... Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan
Tổng đốc có thương người bạc phận
Tiền đường chưa chắc mả hồng nhan...


Thật là tàn nhẫn! Rõ ràng Tản Đà không thông cảm một chút nào với nỗi đau đớn của Thúy Kiều sau khi Từ Hải bị giết.

Chê Thúy Kiều không chỉ có Nguyễn Công Trứ, Tản Đà mà còn nhiều nhà nho nữa. Ngay trong thôn xóm ngày xưa cũng lưu hành lời lên án Truyện Kiều:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều


Nói về thân phận Thúy Kiều, sư Tam Hợp có câu:

Vậy nên những chốn thong dong
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.


Có thể nói lịch sử Truyện Kiều cũng long đong như thế!

[...]

Đúng là tiếng thơ ấy, yêu thương như tiếng ru của mẹ, thân thiết như tiếng gọi của quê hương, nghìn năm sau sẽ còn vọng mãi.


-------------------------------------------------------------------

(1) Cho đến nay vẫn chưa biết đích xác năm ra đời của Truyện Kiều.
(2) Bản dịch trong quyển Truyện Kiều - Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích.
(3) Tên thật là Nguyễn Đăng Tuyển, người huyện Tiên Du - Bắc Ninh (không rõ năm sinh và năm mất), đậu tú tài năm Minh Mệnh thứ 17, làm sử quán biên tu rồi tri phủ Thuận Thành (theo Lược truyện tác gia Việt Nam).
(4, 5) Theo bản dịch của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim.
(6) Theo bản dịch của Trần Lê Nhân.
(7) Tương truyền Tự Đức đòi đánh Nguyễn Du ba chục roi giá thử Nguyễn Du còn sống, vì Tự Đức không thể chịu được cái ngang tàng của Từ Hải.
(8) Thanh Tâm tài nhân thi tập tự Đoàn Tư Thuật dịch.
(9) Xuân sắc mãn viên quan bất trú
Nhất chi hồng hạnh xuất tương lai
(Sắc xuân đầy vườn đóng cửa không giữ được
Một cành hồng hạnh vươn ra ngoài tường).
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Kiều: chuỗi nghĩa lịch đại, chuỗi nghĩa đồng đại

--- không rõ tác giả ---


Việc nghiên cưú, phê bình, tiếp nhận "Truyện Kiều" đã gần hai trăm năm mà vẫn chưa bao giờ kết thúc. Dù có ý thức hay không có ý thức, các nhà nghiên cứu và bạn đọc qua nhiều thời đại đã tiếp nhận "Truyện Kiều" và đem đến cho tác phẩm những cách hiểu khác nhau, những quan niệm khác nhau về giá trị của nó. Đó là những "Chuỗi nghĩa lịch đại" và "Chuỗi nghĩa đồng đại".

Ngay từ khi mới ra đời "Truyện Kiều" đã được dân gian tiếp nhận khá đa dạng. Cảm nhận của dân gian về "Truyện Kiều" vừa gần gũi vừa thiêng liêng nhưng cũng rất chân thành với các hình thức bói Kiều, thơ vịnh Kiều, hát tuồng Kiều, diễn kịch Kiều... Người dân biết Kiều, hiểu Kiều, thưởng thức Kiều như thế nhưng họ đã từng bảo nhau:

Đàn ông chớ đọc Phan Trần
Đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều


(Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm)

Tự Đức trong bài "Dục Tông Anh hoàng đế ngự chế tổng tứ" cũng đi đến kết luận giá trị cơ bản của "Truyện Kiều" là ở chỗ nó phát ngôn cho đạo đức phong kiến:

Ngẫm lại cổ kim người hào kiệt
Một thân mà gánh đạo cương thường
Được thua sướng khổ, thôi đừng nói
Hẵng đem lời ngọc phủ văn chương!


Ở đây Kiều được tiếp nhận như là hiện thân của sự hy sinh thân mình để bảo vệ "luân thường đạo lý" phong kiến. Sức thuyết phục của "Truyện Kiều" đối với Tự Đức là rất đáng kể:

Mê gì như đánh tổ tôm
Mê ngựa hậu bổ, mê nôm Thuý Kiều


(Vịnh Kiều)

Đứng trên quan điểm đạo đức, tiêu biểu cho quan niệm "trung, hiếu, tiết, nghĩa", "tam cương, ngũ thường", Minh Mệnh trong bài "Thánh Tổ Nhân hoàng đế ngự chế tổng thuyết" đã ca ngợi Thúy Kiều là con người biết giữ tròn "đạo hiếu", "biết tiết, biết nghĩa".

Nguyễn Văn Thắng cũng ca ngợi Thuý Kiều:

Xét sau trước đủ trung trinh, tiết nghĩa

Còn đối với Nguyễn Công Trứ thì trái lại, Thuý Kiều chẳng có hiếu hạnh, tiết nghĩa gì cả:

Đã biết mà hồng thời phận bạc
Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng
Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang
Nặng vì hiếu, nhẹ vì tình thời cũng phải.


(Vịnh Kiều)

để rồi

Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải
Tấm thân tàn đem bán lại thanh lâu
Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.


(Vịnh Kiều)

Nguyễn Công Trứ đã lên án Thúy Kiều một cách gay gắt:

Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn tường cho đáng kiếp tà dâm
Bán mình trong bấy nhiêu năm
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai
Nghĩ đời mà ngán cho đời.


(Vịnh Thuý Kiều)

Đứng trên quan đểm nhân sinh, quan điểm xã hội để bình luận, nhiều nhà tri thức không chịu sự ràng buộc bởi quan niệm đạo đức, lễ giáo phong kiến và ít nhiều bất mãn với xã hội đương thời thì trong chừng mực nào đó, họ tìm thấy hình bóng cuộc đời mình trong cuộc đời chìm nổi của Thuý Kiều. Phạm Quý Thích đã than thở:

Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cẩm chung oán hậu trường


"Caí nợ sầu của hai chữ tài tình tuy khác đời mà cùng chung một dạ..." là vậy. Chu Mạnh Trinh thì đau xót và cũng nói đến "tình thương người đồng điệu":

Than ôi! Một bước phong trần mấy phen chìm nổi
Trời tình mù mịt, bể hận mênh mông
Sợi tơ nhành theo gió đưa đi
Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch


(Vịnh Kiều)

Chu Mạnh Trinh tỏ ra thông cảm và thương xót đối với cuộc đời bất hạnh của Thúy Kiều.

Nếu như "Mộng Liên Đường chủ nhân" cắt nghĩa "Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy" thì Chu Mạnh Trinh cao hơn một mức: ông cho rằng nguyên nhân sâu xa của bấy nhiêu đau khổ trong cuộc đời Thúy Kiều cũng như cái chết của Từ Hải là do bất công của xã hội. Chu Mạnh Trinh thì nhất định biện hộ cho Kiều trước những lời kết án gay gắt của những người đứng trên quan điểm phong kiến cố chấp.

Còn Nguyễn Khuyến thì nhận thức sâu sắc về thế lực ma quái của đồng tiền. Đó là nguyên nhân sâu xa của muôn vàn tội ác:

Số kiếp ở đâu mà lận đận
Sắc tài cho lắm cũng lôi thôi
Cành hoa vườn Thúy duyên còn bén
Ngọn nước sông Tiềh nợ chẳng xuôi


(Tống vịnh Kiều)

Nhưng Tản Đà lại thông cảm với nỗi lòng đầy bi kịch của Thúy Kiều:

Đôi hàng nước mắt đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan


(Thúy Kiều hầu rượu Hồ Tôn Hiến)

Phạm Quỳnh cũng ca ngợi Thúy Kiều "phong tình mà tiết hạnh". Phạm Quỳnh đã lớn tiếng rằng: "Một nước không thề không có quốc hoa, "Truyện Kiều" là quốc hoa của ta, một nước không thể không có quốc tuý, "Truyện Kiều" là quốc túy của ta, một nước không thể không có quốc hồn, "Truyện Kiều" là quốc hồn của ta... Truyện Kiều còn tiếng ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ" (Nam Phong tạp chí)

Phạm Quỳnh cho rằng "Thúy Kiều có cái đức nghiêm của người phụ nữ mà lại có cái vẻ phong tình của khách phong lưu, đức hạnh đủ khiến kính, tài tình đủ khiến yêu, giá trị đủ khiến quý, thân thể đủ khiến thương, vì cảnh ngộ mà nặng kiếp đào hoa, trọng tình ý vẫn người tiết nghĩa ; ở nơi ô nhục mà vẫn giữ được tiết hạnh thanh cao, gặp gian nan mà không hề đắm đuối, Kiều nương thật là gồm được bấy nhiêu tư cách nên ai cũng phải kính, phải thương, phải yêu, phải trọng" (Nam Phong số 30-1919)

Cụ Huỳnh Thúc Kháng lại ví "Truyện Kiều" với chiếc hộp sơn son thiếp vàng, "Về mặt mỹ thuật rõ là cực tốt, mà ở trong lại đựng những vật có chất độc". Rồi mấy lần cụ gọi Thúy Kiều là "Con đĩ Kiều", "Cái giống độc con đĩ Kiều"

Theo trai gác xỏ lời cha mẹ
Làm đĩ đành phận kiếp ngựa trâu.


Cụ Huỳnh Thúc Khánh cho rằng: "Chuyện phong tình hồi tâm kia không đáng làm sách dạy, gieo cái nộc gió trăng hoa liễu trong tâm não thiếu niên nam nữ ta". (Tạp chí Tiếng Dân - 1934)

Do ý thức yêu nước và quan niệm đạo đức phong kiến, Ngô Đức Kế cho rằng "Truyện Kiều tuy hay mà truyện là truyện phong tình, thì cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo dục, tăng bi, tám chữ ấy không tránh đằng naò cho khỏi. Thế mà ngày nay đức văn sĩ giả dối ta biểu dương "Truyên Kiều" lên để khai hoá cho quốc dân, đem "Truyện Kiều" mà làm sách "Quốc văn giáo khoa" (sách dạy), làm sách "Sư phạm giảng nghĩa" (sách thầy)". Ông còn chê Phạm Quỳnh là "Một anh giả dối lóp lép đứng đầu sùng bái Kiều, một bọn u mê hờ hững gào hơi, ráng sức để hoạ theo, còn một lớp người chỉ nghe lóm, nhìn mồm thì vỗ tay tán thưởng, khiến người bịt tai, bưng mũi, phải nhức đầu long óc vì những tiếng hô "Quốc văn! Kim Vân Kiều! Nguyễn Du!".

Ngô Đức Kế còn cho rằng "Truyện Kiều là sách quốc văn ăn vào trong óc, thấm vào trong đầu tỉ như ngoại tà đã nhập vào ngũ tạng, quỷ tà ám mất linh hồn thời dù lang y giỏi đến đâu, pháp sư cao tay ấn đến đâu cũng không cưú được nữa" (tạp chí Hữu Thanh - 1924)

Hoài Thanh thì nói về "Truyện Kiều" như sau: "Cái đẹp ở "Đoạn trường tân thanh", cái chất thơ bàng bạc ở trong "Truyện Kiều" cũng cần phải được cảm thấy một cách hồn nhiên. Cứ phân tích, cứ giảng giải, nó sẽ tan đi. Đến đây phải im hơi, phaỉ nhẹ bước mới hòng nhận thấy cái đẹp khi dịu dàng, thùy mị, khi tráng lệ, huy hoàng" (Nghìn thu vọng mãi Hoài Thanh. Tháng 3-1974)

"Truyện Kiều" trước hết là tiếng kêu bi thương, một lời nguyền rủa, một giấc mơ, tất cả bắt nguồn từ tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người.

Tiếp nhận "Truyện Kiều" qua "cảm hứng tố cáo chế độ phong kiến", Hoài Thanh đề cao "Từ Hải đã thực hiện một cách gián tiếp ước mơ có lẽ tha thiết nhất trong cuộc đời của Nguyễn Du". Đó chính là ước mơ công lý "Giữa cuộc đời cơ cực của Kiều, Từ Hải đã xuất hiện như một vì sao lạ làm sáng rực cả đời Kiều"

Lan Khai cho rằng cái đẹp của "Truyện Kiều" là ở chỗ nó diễn đạt được "cái hay nhất của lòng người qua thời gian, cái con người vĩnh viễn":

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nữa soi dặm trường

Lưu Trọng Lư tiếp nhận "Truyện Kiều với đầy đủ nghĩa "Kiều như một người của nhân tính muôn thuở".

Xuân Diệu, với tư cách là một nhà thơ, ông có những rung động thật rằng "Chết mà không nhục, mà còn đánh lại quân thù cho đến hơi thở cuối cùng, rồi ngang nhiên đứng sững đó. Từ Hải chết đứng, bao nhiêu người vùng lên đã bao phen chết đứng. Nhưng qua đời này đến đời nọ, gián tiếp rồi trực tiếp, họ đều đóng góp cho cuộc cách mạng cuối cùng thành công: cách mạng vô sản!"

Đó chính là cảm hứng xuất phát từ hiện thực rối ren, thối nát của một thời đại đã qua. Nhưng ý kiến tiếp nhận của Trần Trọng Kim lại khác, ông viết "Tình ái như Kiều, trước sau biết nặng lời non nước, biết lấy hiếu làm trinh, biết nhân, biết nghĩa, thì làm sao không cho là luân lý cho được ?" (Minh Văn và Xuân Tước - 1964)

Đó là những "lời nói", những "giá trị" đã tạo nên chuỗi nghĩa trong lịch sử tiếp nhận "Truyện Kiều" - "chuỗi nghĩa lịch đại".

Từ sau 1945 đến nay, việc phê bình và tiếp nhận "Truyện Kiều" không đặt ra vấn đề luân lý, đạo đức, không đi vào những chi tiết vụn vặt, không tuyệt đối hoá giá trị văn chương của "Truyện Kiều", không thần bí hoá thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du.

Ở Nguyễn Du, nếu là một tâm hồn không bị sóng gió vùi dập, một trái tim không hồi hộp trước những nỗi đắng cay của bức tranh thế sự, một lương tâm không phẫn nộ trước những thói đời vô nhân bạc nghĩa, thì nghệ sĩ, dẫu có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng không tìm ra được nhưng âm điệu, những vần thơ khiến cho người đọc trong cuộc nghe như khóc, như than, như uất ức, như oán hờn.

Chế Lan Viên thì thổn thúc trước số phận nàng Kiều:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên
Bỗng quý Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường


(Văn học lớp 10)

Lê Đình Kỵ lại có ý kiến thật là khác lạ: "Nguyễn Du không nặn ra một Thúy Kiều để làm rạng danh cho vấn đề đạo đức (tức nói về trung, hiếu, tiết, nghĩa) mà Nguyễn Du xây dựng nhân vật Thuý Kiều theo cái riêng của mình, khác xa chế độ phong kiến".

Đặng Thanh Lê cho rằng: "Truyện Kiều là một thành tựu đạt đến giá trị mẫu mực cổ điển. Kiệt tác văn học đã tở thành sự kiện văn hoá lớn, thành một tổng thể giá trị văn hoá cộng đồng, xuất hiện và tái sinh trong nhiều lĩnh vực văn hoá khác của một đất nước".

Nhận xét về Thúy Kiều, Nguyễn Lộc viết: "Thúy Kiều không còn là con người bình thường mà phải là một nhân cách, một thước đo, một nguyên lý cuộc sống để mọi giá trị thực hay giả của đời sống đối chiếu với nó hay soi mình vào đó sẽ bộc lộ tất cả những bản chất tuyệt vời, cao đẹp hay bỉ ổi, xấu xa không thể nguỵ trang che dấu được".

Mạnh Quân thì bộc bạch cảm nghĩ riêng: "Truyện Kiều dù nhiều người khen tôi vẫn không thích vì các nhân vật trong đó chẳng có mống nào ra hồn, toàn thứ thư sinh ẻo lả hay man trá, lưu manh, chỉ được chút Từ Hải thì lại vì quá mê gái mà tiêu tan sự nghiệp và tính mạng" (Truyện ngắn: Thần tượng của tôi)

Các nhà lý luận văn học lại nhận xét: "Truyện Kiều là vấn đề số phận con người bị áp bức trong xã hội, đồng thời là tiếng nói nhân đạo chủ nghĩa cất lên tha thiết từ xã hội đó. Đó là tiếng nói của tầng lớp người đau khổ, đòi tự do yêu đương, đòi công lý".

"Chuỗi nghĩa lịch đại" và "Chuỗi nghĩa đồng đại" để trên đã tạo nên lịch sử tiếp nhận "Truyện Kiều". Lịch sử tiếp nhận "Truyện Kiều" sẽ còn được nối tiếp bằng ý kiến của bạn đọc hiện tại cũng như bạn đọc trong tương lại, kể cả "các bạn đọc" ở dưới mái nhà trường.
Đăng nhập để trả lời
0
Đòn ghen của Hoạn Thư
Võ Thu Tịnh
12/11/2005


Một bi hài kịch chống tục đa thê

Hoạn Thư là một nhân vật trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du (1765-1820), cốt chuyện dựa vào quyển "Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, mà nhân dịp đi sứ ở Trung Hoa (1813) cụ đã đem về nước. Đầu đuôi chuyện Hoạn Thư đánh ghen Kiều thế nào? Tưởng có thể tóm lược lại như sau:

Vương viên ngoại có hai gái Thúy Kiều và Thúy Vân rất đẹp. Nhân tiết thanh minh, Kim Trọng gặp Kiều, cả hai "tình trong như đã, mặt ngoài còn e ". Kim Trọng liền mượn cớ du học thuê nhà cạnh vườn họ Vương. Kiều và Kim Trọng có dịp hội ngộ, trao tặng thoa và quạt làm tin.

Cha mẹ và cả nhà về quê ngoại, Kiều cáo bệnh không đi, đêm sang nhà Kim Trọng, cùng thề ước sẽ lấy nhau. Bất ngờ Kim Trọng phải về Liêu Dương phục tang. Trong lúc ấy, nhà họ Vương mắc nạn. Kiều quyết hy sinh bán mình cho Mã Giám Sinh để có tiền chuộc cha, rồi nhờ em là Thúy Vân thay nàng đáp tình Kim Trọng.

Mã Giám Sinh lừa Kiều đưa vào lầu xanh. Kiều không chịu, bị Tú Bà đánh đập, nàng rút dao tự tử nhưng không chết. Tú Bà lo thuốc men, hứa gả chồng cho nàng. Kiều mắc mưu Sở Khanh dẫn đi trốn, bị Tú Bà bắt lại đánh đòn tàn nhẫn, cuối cùng nàng phải chịu tiếp khách.

Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư, con quan Lại bộ, nhưng chàng lấy cớ theo cha kinh doanh, để đi xa vợ cho được tự do ăn chơi. Thúc Sinh đến lầu xanh gặp Kiều, nghe nàng đàn và họa thơ, thì say mê, bỏ tiền chuộc ra. Thúc ông biết con trai ăn ở với một gái giang hồ liền làm đơn kiện. Quan phủ xử phạt Kiều phải chọn hai điều: "Một là cứ phép gia hình. Một là lại cứ lầu xanh phó về". Kiều xin chịu "gia hình" bị đánh roi, nhất quyết không thuận trở về lầu xanh. Thúc Sinh thấy Kiều bị đòn tơi tả, động lòng khóc rằng: "Kiều đã nhiều lần khuyên chàng phải về xin phép cha và vợ cả, vì chàng không chịu nghe nên mới xảy ra oan khốc này!" Quan phủ hỏi lại nguồn cơn, rồi khen rằng: "Trăng hoa song cũng thị phi biết điều! " Lại nghe Kiều có ăn học, nên bảo làm một bài thơ vịnh cái gông mà Kiều đang mang ở cổ. Kiều tuân lệnh, làm xong trình lên, phủ đường khen hay và khuyên cha Thúc Sinh: "Ngoài thì là lý, song trong là tình", rồi truyền cho phép Thúc Sinh cưới Kiều làm bé. Thương vì nết, trọng vì tài của Kiều, Thúc ông chấp thuận.

Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư, vốn con nhà quan, phong cách lịch sự, khôn ngoan:

Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.


Nàng ứng xử khéo léo, đúng khuôn phép, nhưng khi cần ra tay đối phó, nàng cũng thừa đủ mưu chước, thủ đoạn để làm cho ra lẽ mới thôi.

Thúc Sinh vắng nhà đã một năm. Trong thời gian ấy, nghe được tin chồng lấy Kiều, miệng người đã lắm, tin nhà thì không, Hoạn Thư vẫn nhẫn nhịn, nhưng càng nhẫn nhịn, càng thấy căm tức, đau khổ. Nàng cho đó là trò trẻ con, làm sao Thúc Sinh có thể giấu được mãi. Nếu Thúc Sinh biết điều, xin phép, nàng cũng sẽ ưng thuận, để tỏ ra là một chính thất hiền đức, khoan dung.

Thế kẹt của Hoạn Thư

- Tuy vậy, là người khôn ngoan, hiểu biết, Hoạn Thư hẳn cũng thấy rằng mình hiện đang ở vào thế kẹt lớn: Cha Thúc Sinh và quan trên đã chính thức cho phép Thúc Sinh cưới Kiều rồi. May mà Thúc Sinh hèn nhát, quen thói sợ vợ, nên chưa dám nghĩ đến việc cùng cha đưa Kiều về nhà nàng. Nếu ở trường hợp ấy, nàng cũng khó mà từ chối.

Hoạn Thư lại còn bị một thế kẹt nữa là nàng không có con. Đó là một cớ trong "thất xuất" ngày xưa để người đàn ông ly dị vợ (không con, dâm đãng và biếng nhác, bất hiếu với cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật). Đã không con mà còn cản không cho chồng lấy vợ bé để có con thừa tự nhà chồng, là bất hiếu ("Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" : có ba điều bất hiếu với cha mẹ, mà điều lớn nhất là"vô hậu", không có con nối dòng). Rồi nếu sinh chuyện gây gổ, hành hung thì còn bị ghép vào tội ghen tuông trong "thất xuất" nữa.

Cho nên, Hoạn Thư phải làm cách nào tránh không để cho ai có thể buộc mình vào các tội bất hiếu, ghen tuông thất lợi cho nàng. Điều đó cũng không khó khăn gì cho lắm, vì nàng vốn là con nhà nề nếp, có ghen cũng không dại gì ra mặt đánh ghen một cách lỗ mãng vũ phu, đã trái với gia phong, mà còn rước tiếng ghen vào người, cho thiên hạ cười chê. Điều khó, là Hoạn Thư phải làm sao cho Thúc Sinh phải tiếp tục giấu.

Làm cho Thúc Sinh tiếp tục giấu, tức là chàng không mở miệng xin lấy Kiều, Hoạn Thư sẽ có thời gian dùng tình cảm lôi kéo chồng, làm cho chồng quên Kiều mà trở lại với nàng.

Giải pháp tình cảm

- Về phần mình, Hoạn Thư cũng giấu không cho ai biết là nàng đã biết việc Thúc Sinh lấy Kiều. Trái lại, nàng cố làm cho mọi người tưởng nàng đã triệt để tin vào lòng thủy chung của Thúc Sinh. Thủ hạ đứa nào báo tin Thúc Sinh có vợ bé, đều bị Hoạn Thư sai vả miệng bẻ răng. Sau một năm, theo lời Kiều khuyên, Thúc Sinh về nhà, định bụng xin phép cưới Kiều. Hoạn Thư dư biết, song không gây gổ, giận dữ, hay tra gạn gì, mà vẫn một mực vui vẻ, chiều chuộng, âu yếm, tỏ ra tin yêu, quí trọng chồng. Nàng còn cho Thúc Sinh biết ở nhà thiên hạ xấu miệng dèm pha chàng có vợ bé, mà nàng đâu có tin những lời xuyên tạc vu vơ ấy. Nàng không để cho bị lung lạc, làm tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng, để phải mang tiếng xấu chung. Thúc Sinh thấy vợ không nghi ngờ gì, thì:

Nghĩ đà bưng kín miệng bình.
Nào ai có khảo mà mình lại xưng!


Nhưng suốt một năm trời nàng tận lực dùng tình cảm giành lại chồng mà vẫn vô hiệu quả. Trái lại, Hoạn Thư nhận thấy Thúc Sinh càng ngày càng tưởng nhớ, yêu thương Kiều.

Một năm trời nàng và Thúc Sinh sống với nhau có vẻ êm ấm, thuận hòa, đó chỉ là một cảnh "đồng sàng dị mộng", gần gũi xác thân mà không hảo hợp tâm hồn, ngàn lần sầu thảm, thê thiết, tủi thân hơn cả cảnh chồng lén đi khuất mắt ở riêng với vợ bé nào đó!

Giải pháp cứng rắn

- Nhu không được thì phải cương. Bây giờ phải cứng rắn đối phó thế nào làm cho Thúc Sinh và Kiều phải xa nhau: Hoặc làm cho Kiều biến đi, hoặc làm Kiều tự ý bỏ đi.

1- Làm cho biến đi

tức là làm cho mất tích, không tìm ra được, hay "thủ tiêu" (ám sát) như trong cổ tích "Vợ hai ghen ngược vợ cả" sau đây:

"Xưa có một người lấy hai vợ. Hai người ngày nào cũng cãi nhau, đánh nhau, chồng không sao chịu được, cho mỗi người ở riêng một nhà, nhưng không cách xa nhau mấy. Có một thời gian, người chồng đi buôn bè vắng, vợ cả nghe thấy vợ hai ở bên nhà nghêu ngao hát rằng: "Chồng chung, chồng chạ, ai khéo hầu hạ, thì được chồng riêng! Chi mà sợ, chi mà kiêng!" Vợ cả biết nó gây sự với mình, tuy tức giận như vẫn làm thinh không nói năng gì.

Hôm sau về nhà kể chuyện cho mẹ, cho em nghe. Mẹ khuyên: "Một sự nhịn là chín sự lành. Con đừng đối đáp nó làm gì. Đợi chồng con về sẽ hay!" Em gái cũng bảo rằng: "Cần chi phải để tâm. Người ta thường nói: Dù anh năm bảy nàng hầu, Em đây cũng cứ ngồi đầu chính thê". Vợ cả nghe mẹ, em nói như thế, nên không gây gổ gì với vợ hai.

"Không ngờ vợ hai lại thuê côn đồ bắt vợ cả đem đi giết chết, chôn một nơi, rồi sẵn có thây chết trôi sông, chúng lôi bỏ vào nhà vợ cả phóng lửa đốt cháy. Sau chồng về, tưởng vợ cả bị chết vì nhà cháy, rất thương xót, không nghi ngờ gì.

"Một hôm ngồi trong hiên trông ra, vợ hai đang giặt áo quần ngoài ao, bỗng có con xanh xanh bay đến đậu trên cây hót to lên:

Phơi áo chồng tao thì phơi trên sào,
Đừng phơi hàng rào, tao cào mặt ra.


"Người chồng nghe phảng phất như tiếng vợ cả xưa, liền đến gốc cây, rũ tay áo ra nói rằng:

Xanh xanh kia hỡi xanh xanh!
Có phải vợ anh, chui vào tay áo!


"Thì quả nhiên chim xanh xanh bay vào trong tay áo thật, rồi một chốc biến đâu mất. Người chồng nghi ngờ, đem vợ hai ra tra khảo. Vợ hai phải thú tội, rồi sợ quá, đến đêm ra đâm đầu xuống ao tự tử." (1)

Nhưng Hoạn Thư không giết Kiều như ở cổ tích nầy, nhưng...

2- Làm cho Kiều tự ý bỏ đi,

là chủ đích trọng yếu của Hoạn Thư. Trong kế hoạch nầy, đoạn đầu, (phải chăng do một trùng hợp nào?) lại giống như cốt truyện trong cổ tích trên, nhưng khác nhau là sau khi bắt cóc xong, nàng không giết Kiều mà tìm cách làm cho Kiều và Thúc Sinh phải bị nhục nhã, ê chề cho hả dạ trước đã:

Làm cho nhìn chẳng được nhau
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên
Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay!


Nàng mớm ý cho Thúc Sinh nên về Lâm Tri thăm cha cho phải đạo làm con. Khi Thúc Sinh vừa ra khỏi nhà, Hoạn Thư liền về bàn với mẹ sai hai tên Khuyển và Ưng đi đường tắt đến bắt cóc Kiều. Xong, đốt nhà, ném một thây chết vô chủ vào lửa để phi tang, xông thuốc mê cho Kiều ngất đi, nhưng không đem Kiều về nhà Hoạn Thư ngay cho khỏi bị lộ, mà đem về nhà mẹ nàng.

Khi Kiều tỉnh dậy, mẹ của Hoạn Thư tra gạn lý lịch, Kiều vừa khai vốn là con nhà khá giả... thì bà liền cắt lời, quát mắng Kiều là đồ "trốn chúa lộn chồng" mà đến đây còn phách lối, và sai đánh 30 gậy để cho "biết tay một lần", rồi đổi tên Kiều ra "Hoa Nô" (đứa ở gái), ghép vào hàng tôi tớ trong nhà. Mụ quản gia thương tình thuốc men, an ủi và dặn Kiều rằng:

Ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi!


Mấy ngày sau, Hoạn Thư đến thăm mẹ, nói cần một nữ tỳ. Bà mẹ sai Hoa Nô qua nhà Hoạn Thư giúp việc. Một hôm, Hoạn Thư hỏi Kiều nghề chơi biết được môn gì? Kiều thưa biết chơi hồ cầm. Nàng đưa đàn cho Kiều gảy. Nghe tiếng đàn:

Nỉ non, thanh thót, dễ say lòng người!
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.


Bản Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử (2) cũng kể như vậy, nhưng nói rõ hơn là "Tiểu thư nghe xong tỏ ý vui mừng, bảo ngươi đã giỏi ngón đàn, vậy thì từ đây về sau cứ ở bên ta, để lúc thư nhàn giúp thêm cảm hứng, khỏi phải ở lẫn trong đám tôi đòi như trước. Kiều ngỏ lời cảm tạ tiểu thư có lòng cất nhắc, từ hôm ấy, ngày đêm được ở bên cạnh tiểu thư, nhờ có cung đàn cũng tạm bớt được nỗi bất bình".

Thúc Sinh khi về thăm cha, thấy Kiều bị thiệt mạng vì nhà cháy, buồn rầu, than khóc một thời gian, rồi trở về quê. Hoạn Thư vồn vã đón Thúc Sinh vào nhà. Vợ chồng hàn huyên xong, Hoạn Thư cho gọi Hoa Nô ra chào ông chủ. Kiều sửng sốt, không ngờ đây là Thúc Sinh, biết ngay mình đã bị sa vào tròng rồi. Sực nhớ đến lời dặn của mụ quản gia, Kiều đành phải cúi đầu quì xuống thi lễ. Thúc Sinh chợt nhìn thấy Kiều thì phách lạc hồn xiêu, thấy mình đã bị mắc mưu Hoạn Thư, biết làm sao mà cứu nhau được, quá xúc động nước mắt tuôn ra tràn trề.

Hoạn Thư gạn hỏi:

- Mới về mà chàng có việc gì phải động lòng như thế?

Thúc Sinh dối rằng:

- Vì mẹ mất sắp hết tang, bỗng nhớ lại thân mẫu ngày trước mà ứa lệ.

Hoạn Thư rằng: Nếu quả những giọt nước mắt của chàng vì thương thân mẫu nên mới trào ra, thực cũng đáng khen là bậc hiếu tử! Vậy thiếp xin bày tiệc rượu "tẩy trần" để chàng giải khuây (tiệc mừng "rửa bụi" cho người đi đường xa đến thăm).

Rồi : Vợ chồng chén tạc, chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan, bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay.


Thúc Sinh : ...Lại càng như dại, như ngây,
Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi.
Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười,
Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.


Thúc Sinh thấy không sao chịu nổi, muốn xô bàn rượu mà ôm lấy Kiều để khóc rống lên, nhưng... sợ vợ, nên không dám. Hoạn Thư thì cứ ngọt ngào mời mọc, mà chàng thì một mực cứ chối từ. Hoạn Thư liền thét bảo Kiều:

Khuyên chàng chẳng cạn, thì ta có đòn!

Thúc Sinh rụng rời chân tay, đành phải gắng uống cho hết một chén to đầy rượu. Tiệc chưa xong, Hoạn Thư đã bày ra trò khác: bảo Kiều đem đàn ra gảy cho Thúc Sinh nghe:

Bốn giây như khóc, như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ,
Người trong khóc thầm!


Hoạn Thư lại quát mắng:

- Hoa Nô! Tiệc vui mà ngươi lại đàn bài đoạn trường. Sao chẳng biết ý tứ gì? Làm cho ông buồn, tội ngươi khó tha!

Thúc Sinh kinh hãi sợ Kiều bị hành hạ,vội vàng gượng nói, gượng cười cho qua... Tấn bi hài kịch kéo dài mãi đến canh ba:

Tiểu thư nhìn mặt, dường đà cam tâm,
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm :
"Vui nầy đã bõ đau ngầm xưa nay!".


Hoạn Thư đau khổ suốt hai năm trời, nay chỉ đứng đạo diễn tấn bi hài kịch nầy chưa trọn một đêm mà đã hả lòng. Nhưng nàng lại thấy rằng để Thúc Sinh và Kiều ở gần nhau mãi cũng rắc rối. Phải làm thế nào cho Kiều tự ý bỏ đi, không đợi nàng mở miệng xua đuổi.

Thế rồi, thường thấy đôi mắt Kiều sưng và đầy nước mắt, Hoạn Thư bảo Thúc Sinh tra khảo vì nguồn cơn gì ? Kiều viết tờ khai, đại ý nói quê nàng ở Bắc kinh, vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào thanh lâu, có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng bị bắt đưa vào cửa nhà quan... buồn khổ, mong được vào chùa tu cho nhẹ nợ trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn Thư:

Dường có ngẩn ngơ chút tình.
Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương!
Ví chăng có số giàu sang,
Giá nầy dẫu đúc nhà vàng cũng nên.
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài, thương nỗi vô duyên lạ đời!


Hoạn Thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Ăm các sau vườn để chép kinh.

Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử, cũng kể y như thế, song đầy đủ chi tiết hơn: "Hôm sau, Thúc Sinh cùng Hoạn Thư tắm gội trai giới, cùng lên kiệu để tiễn Thúy Kiều vào Quan Ăm các. Nàng toan thi hành đại lễ (bái phục), tiểu thư rằng: "Bây giờ ngươi đã là hạng thượng nhân (tu đạo), chép kinh thay ta để tròn ý nguyện, tức là đệ tử của Phật, không cần thi hành đại lễ ấy nữa". Hoạn Thư khấn rằng: "Trước kia đã hứa sao lục bộ Hoa Nghiêm kinh, nay xin..." Vừa khấn đến hai tiếng trên, thì tiểu thư bỗng nhiên ngừng lại, quay hỏi Thúc Sinh: "Trước đức Bồ Tát mà nói hoa nô (đứa ở gái) chép thay, há chẳng khinh nhờn quyển kinh đó sao?" Thúc Sinh đáp: "Nếu nói về danh phận người chép kinh, thì nên xưng là cúng dạng mới phải." Hoạn Thư nói: "Nghĩ nên thay cho nàng một đạo hiệu gì?" Thúc Sinh nhìn trên biển treo thấy có hai chữ "Trạc Tuyền" bèn bảo vợ: "Thôi lấy hai chữ ấy đặt đạo hiệu cho nàng". Hoạn Thư khấn tiếp: "Nguyên trước đệ tử hứa chép bộ Hoa Nghiêm kinh, nay đặc biệt trao cho cúng dạng Trạc Tuyền, một tay sao lục, hôm nào hoàn thành, xin tu bổ công đức". Khấn xong Hoạn Thư truyền bảo hai nữ tỳ Xuân Hoa, Thu Nguyệt rằng: "Chép kinh không phải công việc tầm thường, hai ngươi phải siêng năng phục dịch, nếu có lỗi lầm, khi ta xét thấy, nhất định sẽ trị tội nặng." Hai thị nữ cúi đầu vâng dạ. Đoạn hai vợ chồng Thúc Sinh quay ra. Thúy Kiều toan đi tiễn chân. Hoạn Thư bảo: "Thôi, cứ ở lại chép kinh, đừng câu nệ lễ nghi lai vãng." (3)

Rồi Hoạn Thư tạo hoàn cảnh cho Kiều bỏ trốn. Nàng tuyên bố về thăm mẹ. Thúc Sinh tưởng thật, lén đến chùa cùng Kiều kể lể, than khóc dông dài. Kiều hỏi có cách gì cứu nàng không? Thúc Sinh chỉ trả lời:

Liệu mà xa chạy, cao bay,
Ái ân ta có ngần nầy mà thôi!


Vừa lúc đó, Hoạn Thư bước vào, cười cười nói nói ngọt ngào, hỏi Thúc Sinh "mới ở chốn nào lại đây?" Thúc Sinh đáp đi dạo ngắm hoa, quá bước tạt vào coi viết kinh thế nào.

Hoạn Thư liền cầm bản chép kinh xem:

Khen rằng: Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan-đình, (4) nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!


Hoạn Thư và Thúc Sinh ra về, Kiều hỏi hai tỳ nữ Hoạn Thư đến lúc nào? Đáp bà đến đã lâu, núp nghe câu chuyện giữa hai người từ đầu chí cuối. Kiều sợ hãi vô cùng, nghĩ rằng Hoạn Thư quả là một con người rất thâm độc, ở lâu chắc khó toàn tánh mạng. Câu "liệu mà xa chạy cao bay!" của Thúc Sinh lại hiện ra trong trí nàng. Phải, nàng phải tìm cách trốn thoát ra khỏi nơi nầy mới yên thân, nhưng đất khách quê người, ra đi tay không, ai mà chứa chấp? Buộc lòng nàng phải lấy trộm các đồ thờ bằng vàng, bạc trên bàn Phật đem theo hộ thân. Rồi thừa lúc hai nữ tỳ ngủ say, Kiều leo tường trốn đi. Nhưng Hoạn Thư bỏ qua, không cho người lùng bắt Kiều.

*
Về đòn ghen của Hoạn Thư, Nguyễn Du cho đó là một đòn: "nhẹ như bấc, nặng như chì " (câu 1879) và chỉ than một câu "Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen" (câu 1874). Còn những lời chỉ trích Hoạn Thư như "tinh ma, miệng hùm nọc rắn, nham hiểm giết người... " là của Kiều, nạn nhân của Hoạn Thư, chủ quan thốt ra. Rồi, vì thương Kiều, chúng ta hùa nhau lặp lại như thế mãi cho đến ngày nay. Có ai thông cảm được với nỗi đoạn trường của Hoạn Thư, một nạn nhân đáng thương của chế độ đa thê hà khắc ngày xưa không?

Có người chồng ngoại tình, địch thủ lại tài hoa, nhan sắc hơn mình, cha chồng và quan trên tác hợp, còn mình, vợ cả, lại bị luật lệ "thất xuất", lễ tục "phụ quyền" kiềm cặp, ràng buộc. Tưởng không có nỗi đau khổ, uất ức, nhục nhã nào hơn!

Mà "đố kỵ, ghen tuông là một trong bản chất con người tư hữu và chiếm hữu. Tình yêu là thứ đòi hỏi chiếm hữu mãnh liệt nhất. Nhất là khi đã thành vợ chồng, vì được luật pháp cho phép. Thúc Sinh đã tự ý làm mất sự phối hiệp giữa chàng và Hoạn Thư, nên Hoạn Thư đòi lại, thế thôi! Dù thương Kiều bao nhiêu, ta cũng khó trách cứ Hoạn Thư về mặt nầy. Nàng quá nặng tay với Kiều chăng? Có thể, nhưng nếu không thế thì làm sao dứt được Thúc Sinh khỏi Kiều? " (5)

Thật ra, từ khi Kiều bước chân vào nhà Hoạn Thư cho đến khi bỏ trốn, Hoạn Thư không hề đánh Kiều một roi nào. Cách hành hạ trả thù của Hoạn Thư không phải là làm cho Kiều phải đau đớn mà làm cho Kiều phải nhục nhã, và Thúc Sinh phải lộ chân tướng hèn nhát, bội bạc ra:

Liệu mà xa chạy cao bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!


Khiến cho tình nghĩa giữa Thúc Sinh và Kiều ắt phải bị tan vỡ từ đây.

Con người Hoạn Thư thiện ác thế nào? Một buổi tối làm cho Kiều và Thúc Sinh phải ê chề nhục nhã, Hoạn Thư đã hả lòng. Từ đó, nàng hòa hoãn hơn. Hai lần nàng nói với Kiều, ngay trước mặt Thúc Sinh, rằng nàng trọng tài, quí nết, cùng xót thương cho số phận truân chuyên của Kiều. Điều nầy, có kẻ cho là giả dối, nhưng riêng chúng tôi, thì thấy rằng Hoạn Thư đã có phần thành thật, vì nàng đâu có bắt buộc phải nói như thế để làm gì? Nếu không phải là để an ủi, đem lại cho Kiều một ít tự tin vào giá trị của mình đã bị chà đạp, mất mát!

Thông cảm với nỗi khổ tâm của kẻ tình địch, phải là người có từ tâm và tri kỷ tri bỉ, mới có thể ứng xử như thế được. Xưa Hoàn Ôn đi đánh Hung Nô, đem về một công nương vùng ấy làm vợ hầu. Vợ cả ghen tìm đến tận nhà để hành hung. Nhưng vừa bước vào, thấy vợ hầu của chồng nhan sắc tuyệt trần, nhất là phong cách cung khiêm, lịch sự, dịu dàng, liền than rằng: "Con người như thế nầy, ta thấy còn phải mê thay, trách gì lão gia nhà ta!"

Hoạn Thư có hiểm ác không? Kiều trộm đồ trốn đi, nàng có thể bắt để quan trên gia hình, tù tội. Sau, Kiều có ra tù, nàng có quyền không cho chồng lấy Kiều, vì Kiều đã trộm cắp, ("thất xuất" điều 5). Nhưng Hoạn Thư có làm như thế đâu?

Hoạn Thư đã ứng xử theo thường tình hiện hữu của dân gian, là "chút dạ đàn bà, ghen tương thì cũng người ta thường tình!...Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai ?", nhưng đặc biệt Hoạn Thư ứng xử "ngoài thì là lý, song trong là tình ", có nhu mà có cương, có thù ghét mà cũng có xót thương, có cột mà cũng có mở, nặng tay đó nhưng vẫn giữ được "cái nhân hậu", chớ không "cạn tàu ráo máng", đúng theo bản tính trung hòa hằng hữu của con người Việt Nam.

Đòn ghen của Hoạn Thư là một tấn bi hài chống chế độ đa thê, nhiều giá trị kịch tính, tình địch trực diện biết rõ lai lịch nhau, mà lại đứng vào những cương vị ngụy tạo để ứng xử, đối đáp "người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm".

Đây cũng là một đoạn văn nhiều giá trị thẩm mỹ nghệ thuật nhất nhì trong Đoạn Trường Tân Thanh, đáng được nghiên cứu thấu đáo hơn. Chúng ta thương những nỗi đoạn trường của Kiều, nhưng sao lại quên được những nỗi đau khổ, nhục nhã của Hoạn Thư, một nạn nhân cũng như muôn vàn nạn nhân khác, của chế độ đa thê hà khắc phi nhân.


CHÚ THÍCH

(1)- Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, Hà Nội 1932, t. 1, tr. 51.

(2)- Phạm Đăng Quế, Truyện Kiều đối chiếu, Hà Nội, 1991, tr. 300, 301 - trình bày Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử (Nhân), hồi 14, (Nguyễn Đình Diệm dịch).

(3)- Phạm Đăng Quế, s.đ.d., hồi 14.

(4)- Lan-đình: xưa Vương Hy Chi, đời Tấn, viết tại Lan-đình bài tựa tập thơ, chữ rất đẹp, đời sau lấy làm mẫu, gọi là chữ "Lan-đình".

(5)- Nguyễn Thùy & Trần Minh Xuân, Đoạn Trường Tân Thanh, Tiếng Vui Trong Lời Buồn, Mékong Tỵ Nạn, CA. H.K., 1983, tr.158-160.
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: haicun

Huyên Nguyên chỉ nghi vấn thôi có sao đâu. Huyên Nguyên không cảm nhận thấy cái hay, cái đẹp của Truyện Kiều nên mới cần người khác giúp.
....Cảm thông với Huyên Nguyên, nhưng tôi không đủ sức giúp bạn tìm thấy cái hay cái đẹp từ tác phẩm này. Mong bạn thứ lỗi!
Hai Ly



Oh, xin lỗi bạn, Huyền Nguyên thuộc Truyện Kiều lắm.
Có lẽ Huyền Nguyên không được như bạn, hiểu cho thấu đáo, nhưng bạn không giúp, phải chăng, bạn cũng đang tự huyễn hoặc chính mình?

http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi cũng có tiếc, phải nói là bực mình, và ngậm ngùi nữa, là Nguyễn Du đã phải dùng cốt truyện của một người văn sĩ hạng tồi của Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn lại hoàn cảnh chung của đất nước chúng ta trong giai đoạn ấy, thì tôi lại thán phục cái khả năng "Việt Hóa" mà Nguyễn Du đã chứng minh trong di sản văn hóa Việt.


Mình nghĩ văn chương tự nó không sang hèn, không lỗi phải. Cốt truyện hay dở đều là vô thường, của ai chẳng thế. Hà tất phải phân tách thứ bậc. Mỗi người đều có thần tượng của mình, quan điểm sống của mình, nhân vật yêu thích của mình,... và dân tộc của mình có đúng không ^_^ vì vậy mình thiết nghĩ dù là hạ bút viết bất cứ cái gì, chúng ta đều nên điều tiết con chữ, gia cố giọng văn sao cho mềm mại mà thuyết phục. Đừng nặng nhẹ trong lời lẽ. "Văn sĩ hạng tồi" lẽ nào không phải "văn sĩ"? khách văn chương đã tao nhã lắm thay. Nếu tự hào dân tộc, cũng không nên vì thế nhìn thấp vai trò của cái gọi là "văn sĩ hạng tồi" của nước khác. Thêm nữa, văn hóa mỗi quốc gia suy cho cùng đều là trộn lẫn, đan xen, cải tiến... từ nền văn hóa văn minh nhân lọai nói chung. Nếu nói là văn hóa riêng biệt, có quốc gia nào có nền văn hóa đặc chủng được đâu. Văn hóa mỗi quốc gia ít nhiều đều phản ánh một chút cái đẹp của các quốc gia khác. Đáng khen hay đáng chê, đáng mừng hay đáng tủi... đều đưa văn minh văn hóa nhân lọai tiến lên thêm một bước. Không nên phủ nhận, bực mình, và ngậm ngùi cho tất cả.

Ngoài ra, mình cũng không nghĩ "nghi vấn" có điều chi khuất tất. Nghi vấn, đơn giản là một "dấu chấm hỏi" của người muốn hỏi, vậy thôi mà. Điều này đâu có nghĩa Truyện Kiều có nghi vấn.

Một ý khác mình muốn nói, là Truyện Kiều nguyên bản. Khi sáng tác, không chỉ Truyện Kiều mà tất cả các tác phẩm khác nữa, không phải tác giả nào cũng suy nghĩ và hàm ý rốt ráo mọi ý tưởng sẽ thể hiện. Có khi do vô tình, có khi do hữu ý mà người đời sau chúng ta suy cùng tưởng tận, chiêm nghiệm mà thấy được. Do đó nếu mình hay bất cứ ai thắc mắc ý nghĩa Truyện Kiều trong "cái thuở ban đầu" khi sáng tác của cụ Nguyễn Du, thì nghi vấn cũng không lấy gì làm lạ.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Đăng nhập để trả lời
0

" Bất tri tam bách dư niên hậu
thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? "

Diễn đàn của chúng ta sẽ hay ho, bổ ích hơn rất nhiều khi có người "kiếm chiện" đặt nghi vấn một cách "thâm nho" như HUYỀN NGUYÊN. Cám ơn bạn.
Nguyễn Du và Bùi Giáng (về phương diện văn thuật) đã gián tiếp (qua các tác phẫm của mình) truyền lại cho con cháu Lạc Hồng phương pháp dịch thuật tuyệt kỹ bí truyền là: CÁC CON XEM TA DỊCH MÀ HỌC CÁI KIỂU DỊCH MÀ:
- DỊCH PHẪM LẠI LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT VÌ BỞI TIẾNG VIỆT TA HOÀN TOÀN ĐỦ KHẢ NĂNG DIỄN ĐẠT NHƯ CÁC THỨ TIẾNG KHÁC.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT Ở CHỔ TIẾNG VIỆT TA HOÀN TOÀN ĐỦ KHẢ NĂNG DIỄN ĐẠT NHƯ CÁC THỨ TIẾNG KHÁC VÀ THẬM CHÍ CÒN HAY HƠN NỮA.
.....
Vấn đề là con cháu làm sao NGỘ được tiếng VIỆT để tiếp bước ông cha?...
Mấy lời thô thiển trộm nghĩ.
Lê Thường Nhiên xin trân trọng góp lời.
Di như lưu thủy...hề... thệ như phong
bất tri hà xứ lai...hề...hà sở chung
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-16 20:45:42huyennguyen>

Trích đoạn: Lê Thường Nhiên

" Bất tri tam bách dư niên hậu
thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? "

Diễn đàn của chúng ta sẽ hay ho, bổ ích hơn rất nhiều khi có người "kiếm chiện" đặt nghi vấn một cách "thâm nho" như HUYỀN NGUYÊN. Cám ơn bạn.



Cuộc đời.
Và thời gian.
Trôi qua, trôi qua...
Còn lại?
Còn lại điều gì?
Chẳng điều gì còn lại!
Thế mà, còn!
Còn những điều vì còn, vì không mất, vì được gọi là còn...
Truyện Kiều (từ dưới đây, xin được viết tắt là TK) còn lâu đến thế, là vĩnh viễn còn hay sẽ mất?
Chẳng bao giờ biết được hết tất cả, với triển hạn ba vạn sáu ngàn ngày, hà huống tam bách niên? Nguyễn Du phải là muốn nói thế?
Cũng chẳng ai biết...
Cảm ơn Nhiên huynh đã mở lời bênh vực cho Nguyên, lại còn bào chữa rằng Nguyên "thâm nho", quả tình Nguyên không dám nhận. Chỉ là thấy nhiều cái trần trụi cứ được phơi bày, còn góc tối, cứ mãi lẩn khuất núp né tận đâu...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-02 09:06:48Ngọc Lý>
Trích đoạn: huyennguyen

Cuộc đời.
Và thời gian.
Trôi qua, trôi qua...
Còn lại?
Còn lại điều gì?
Chẳng điều gì còn lại!
Thế mà, còn!
Còn những điều vì còn, vì không mất, vì được gọi là còn...




mai sau dù có bao giờ
đốt lò hương ấy so tơ phím này



Khuya nay, đốt lò hương, thử viết đến Huyennguyen vài giòng...

Những giòng chữ này không suy tư, mà chỉ từ tâm... mong đáp được cái nghi vấn... của Huyennguyen...

Vì khi "nghi"... và "vấn"... thì bao giờ đạt được một câu trả lời khả dĩ?

Bao nhiêu câu trả lời đã thử vang lên...
Mà nghi vấn vẫn còn treo lơ lửng...
Con tim chưa mở
Tiếng tơ chưa rung
Thì biết đâu là câu trả lời thích hợp?


"Đã hay tình lại gặp tình...
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ..."


Có phải đó là cái rung động từ ngàn xưa tới ngàn sau?

Từ khi Thúy Kiều động tâm trước tình cảnh Đạm Tiên:

"Lòng đâu sẵn mối thương tâm
Thoáng nghe nàng đã đầm đầm châu sa
Đau đớn thay, phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung..."


Thì sợi giây tơ đồng cảm đã rung...
và sợi tơ tri âm mỏng manh đã vượt không gian,
vượt thời gian,
rung lên một một hơi thở mới: Đoạn Trường Tân Thanh.

Sợi tơ đồng cảm ấy kéo Đạm Tiên từ ngàn xưa
đến với Thúy Kiều ngàn sau:

"Đã lòng hạ cố đến nhau
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng..."


"Mới hay tình đã gặp tình..."


Đó chính là cái đồng cảm mà Nguyễn Du thắc mắc:

"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"


Và sợi tơ rung tới bây giờ...

"Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về..."


Tại sao Thanh Tâm Tài Nhân viết cùng cốt truyện, mà không thành công?

Tại sao Nguyễn Du dùng cùng cốt truyện, sửa thành thơ Nôm thể Lục Bát, mà tiếng tơ rung đến tận bây giờ?

Khác nhau ở âm thanh rung lên nỗi đau đoạn trường. Tự trong lòng.
Đoạn Trường Tân Thanh.

"Tiếng trong như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu
Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
Rằng hay khi thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào! "


"Đoạn Trường Tân Thanh", tự cái tên đã là một rung động.
Vì đó là những thanh âm thăng hoa từ tình cảm thật sự trong tâm khảm, từ tiềm thức đã mang vào âm điệu:

"Nên câu tuyệt diệu ẩn trong tính tình"...



Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, khởi trên hai trăm năm trước, tiếng vang còn rung động đến hôm nay, vì xác định bởi sự giao hưởng giữa những tâm tư tài hoa bạc mệnh, khao khát một tri âm:

"Dễ hay tình lại gặp tình"



Thiên bạc mệnh của Thúy Kiều rung lên những âm sáu tám, bằng tiếng Việt, nên thấm ngay vào tâm tình Việt, tạo ra những đồng cảm sâu xa vượt không gian, vượt thời gian, rung mãi trong tâm hồn Việt.

Một tác phẩm khi ra đời, là tâm huyết của tác giả.

Định mệnh của tác phẩm, là ở sự đón nhận của tha nhân.

Có những tác phẩm nổi tiếng ngay tức khắc.

"Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến oanh..."


Nhưng có những tác phẩm rung động mãi vượt không gian và thời gian.

Những tác phẩm này tấu lên khúc tâm thức của người bằng những giây tơ ngôn ngữ đồng thanh, giao hưởng với những tâm hồn đồng khí, sự tương cầu qua không gian và thời gian tạo một bản hợp tấu muôn đời.

Đoạn Trường Tân Thanh thành công vì đã dùng giây tơ lòng của tâm thức Việt, phát tiết qua thanh quản ngôn ngữ Việt, rung lên một âm điệu Việt, và giao hưởng với tâm hồn Việt qua nhiều thế hệ.



Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này...



Sự tuyệt diệu thoảng như hương
Mỏng manh như tơ
Mà rung mãi
như âm thanh giao động
giữa những tâm tình đồng cảm


Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện này ai cũng biết cả. Nhiều khi đứng dưới góc độ người hiện đại chúng ta cứ hay nghĩ về Truyện Kiều với sự đóng góp và danh tác hơn là chịu khó nghĩ thêm về ý nghĩa đứng đằng sau những điều Nguyễn Du muốn gửi gắm.
Thế nên huyennguyen mới có can đảm mà đặt ở đây hai chữ Nghi Vấn. Bạn hữu từ thập phương, nếu vì rộng lòng mà lại, Nguyên thật lòng đa tạ. Nếu vì hẹp lòng mà đi, Nguyên cũng đành ngậm ngùi đứng tiễn.
Nguyên.


Thi thoảng chợp nghe một bài hát nào đó của Trịnh Công Sơn, chợp nhận ra mình đang chơi vơi giữa những điệu đàn lời hát đó, chợt thấy hình bóng mình đâu đó giữa những quãng thăng nốt trầm, chợt hiểu mình hiểu người hơn. Nhạc Trịnh đã đến với người nghe bằng sự trải nghiệm cuộc đời cuả chính người nghe, chí ít là đối với mình.
Truyện Kiều cũng vậy. Có lẻ sự so sánh này hơi khập khiểng nhưng cảm giác thì thật sự giống nhau. Mình đã cảm và yêu Truyện Kiều chủ yếu từ cảm giác đó. Những câu thơ là đời hay ảo tưởng? Vì sao người ta vẫn cố lôi những lời vô tri vô giác đó vào đời bể ải trầm luân bằng này bằng những cuộc bói Kiều?
Mọi người cố dùng những câu chữ, minh chứng rõ ràng nhất thuyết phục nhất hầu mong làm rõ nghiã những nghi vấn ảo mờ của HuyenNguyen. Có lẻ NgocLy phần nào bắt được nhịp cuả Huyen Nguyen. Mình thì không hiểu. Dù có lòng, dù mong là không tự "huyễn hoặc" bản thân nhưng cũng đành lặng lẽ ra đi không dám nhận lời tiễn (chắc cũng đáng-hihihi).
Honam
PS:
Giống như là "phân khúc thị trường", mỗi một lớp người với những đặc điểm và chịu những điều kiện tác động khác nhau, họ sẽ đi tìm thấy một lời gưỉ gắm riêng cuả tác giả từ tác phẩm. Hy vọng một ngày nào đó sẽ có một người tìm ra đúng tâm sự cuả Nguyễn Du mà nói cho HuyenNguyen hay, nhưng làm sao để biết điều đó là đúng khi ông đã đâu đó trong cõi vô thường?
Ngoc Lý, HuyenNguyen, ThuongNhien... các bạn có giọng văn bình phẩm rất hay, nhưng sao văn học nước nhà vẫn chưa thật sự có thêm một "Thi Nhân Việt Nam" thứ 2, phaỉ chăng vì các bạn chỉ dùng câu chữ, thiếu cái gọi là "đời". Mình hy vọng thật sự tài năng cuả các bạn không chỉ bó hẹp trong những forum này (quan điểm riêng: rất thích giọng văn của NgocLy). Chân thành.
Đăng nhập để trả lời
0
Lắm điều còn phải bàn cùng CTLM và tieuboingoan.
Chỉ có điều, đừng đem sách vở làm dẫn chứng cho biện luận của mình. Có lẽ các bạn cho Nguyên là người ko đọc sách chăng?


HuyenNguyen à nói mình đừng mang sách vở làm dẫn chứng nhưng mình thấy bạn cũng thế mà đọc lại bạn viết ở đây của bạn đi nha. nghi vấn là gì thế nào khi chính mình làm ngược những gì mình nói chứ??????
Trong cõi phù sinh đời mấy kiếp
Tung hoành thiên địa có mấy ai?
Khổ luỵ kỳ danh khôn lưu lại
Oán quỷ vô thường dưới âm ty
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-22 19:00:26huyennguyen>
Giá mà huyennguyen có tài năng kiệt xuất để có thể nói được cái điều cần nói từ Truyện Kiều.
Khi chết, khi êm ái hân thưởng, là khi trái tim đập những lẽ thường nhiên.
Khi đó, tụ dưng xòe nở những riêng tư mật ngọt và những đắng cay chung phần.
Nghi vấn mãi mãi là nghi vấn...?

Gửi honam:
Khi tôi viết topic này, không thật sự mong nó trở thành tiêu điểm cho sự phán xét, chỉ lòng yêu điên cuồng. MÀ ĐIÊN CUỒNG THÌ KHÓ CHUNG SỐNG LẮM THAY. Nên thôi, honam nghĩ gì cuối cùng mọi việc vẫn nhu bạn nghĩ. Hiệu quả hay không, tôi vẫn là người cảm nhận được nhiều nhất, bởi lỡ là người lập ra topic.
Gửi tieuboi ngoan:
Khi huyennguyen đặt ra nghi vấn, không chuyện gì mà nghĩ ra. Thi thoảng ngày xưa có đọc Bùi Giáng trong những ngày rãnh rỗi, nhưng không nghĩ như Bùi Giáng BAO GIỜ. Hôm nay, nghivan được xác định, nghi vấn có khi tồn tại mãi mãi trong những vấn nghi mơ hờ thường tình.
Sách vở môn vạn quyển, nào chỉ có huyennguyen biết đọc? Có điều, khi nói bằng ting61 nói của sách vở, điều đó đồng nghĩa với việc ta không suy nghĩ, mà ng khác suy nghĩ giúp ta.
HY vọng, câu trả lời này cuối cùng không thành vô dụng cho honam va tieuboingoan và CTLM.

Thân.
Nguyên.
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Huyen Nguyen,
Chính kiến của mình về tác phẩm đã có,
Tình cảm cuả mình về tác phẩm đã có,
Thể hiện thái độ với tác phẩm mình cũng đã có,
Thời gian với mình là hạn hẹp.
Có nên đi chứng minh tiên đề "hai đường thẳng song song sẽ gặp nhau ở vô cực" không?
Không hiểu "tự huyễn hoặc" và "phán xét" có phải là 2 từ nên dùng cho người có thành ý hay không.
Nhận thức được đúng sai cũng là suy nghĩ, và đôi khi không cần thiết phải suy nghĩ nếu đó không phaỉ là công việc cuả mình.
"Hiệu quả" là từ mình dùng cho mục đích chia sẻ thông tin và tự do ngôn luận.
Có một lần mình nói trên diễn đàn rồi: "mình không thích cách nói (- giọng văn) cuả Huyen Nguyen" nó không đồng nghiã với không thích Huyen Nguyen hay không thích suy nghĩ cuả Huyen Nguyen.
PS: Mong có nhiều topic hay khác. Ví dụ: Taị sao một cô học trò giỏi văn lại có thể chỉ trích bài văn tế nghiã sĩ cần giuộc cuả Nguyễn Đình Chiểu"
Đăng nhập để trả lời
0
Cuộc rong chơi phù phiếm nhất đã diễn ra là cội phù du đã sinh thành Kiều Vân.
Cuộc đùa vĩ đại nhất của Tồn Sinh Nghi Ngẫu là Kiều gặp Mã Lâm Thanh.
Cuộc ly tán bi thiết thống hận nhất là cuộc chia tay Kim Kiều.
Cuộc hạnh phúc ngỡ ngàng nhất là cuộc Từ Hải cứu Kiều, long phượng hòa đôi.
Cuộc lỡ lầm vĩ đại nhất ấy chính là " Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào?" để Từ "hẹn kì thúc giáp, quyết đường giải binh".
..........
Rất nhiều cuộc như thế đã diễn ra trong suốt "Đoạn trường truyện", tưởng không bao giờ ngừng sóng như dòng Tiền Đường. Tưởng nơi bắt đầu cũng chính là nơi kết thúc. Tưởng rằng hy sinh, nào đâu hay lưu lạc? Tưởng giũ được áo phong trần, nào đâu biết Tân đoạn trường lả lơi trêu ghẹo...
Rất nhiều cái "tưởng" cũng đã diễn ra.
Lời rằng chắp nhặt qua loa, mở toang cánh cửa ta bà hỗn mang, lời rằng trí tưởng đa đoan, mang thân dâu bể hồng hoang ngạo đời, lời rằng muôn vạn tơi bời, gồm thâu nấm mộ bên lời Đạm Tiên, lời rằng biển biếc non tiên, phù vân dệt mộng bên miền trăng tơ, lời rằng phong vận lơ thơ, lắt lay lau phủi bụi mờ vết xưa...
Lời rằng, ta nói dạ thưa, nàng Kiều vẫn cứ đợi chờ tình tang... Tình tang rêu phủ hai hàng, nửa bên khép mở, nửa mang u hồn... U hồn réo gọi ví von, biệt ly từ đó héo hon dạ trường...
Thưa anh, cái sự đời thường, còn phiêu du mãi tang thương lỡ lầm...
Thưa anh, cái hạt nảy mầm, còn mang dưỡng chất từ tâm nở xoè...

Dạ thưa bà con cô bác, em ức cái anh honam, anh ấy cứ chọc em nói điệu ngang tàng, làm cho con vợ em nó cứ chửi em suốt ngày rằng, anh cứ lảm nhảm hoài những điều vớ vẩn, gạo cơm đà thiếu, anh còn điêu linh...

Lâu lắm không vào topic, thấy bước chân anh honam để lại, không nỡ phụ lòng kì vọng của anh, trả lời anh mấy câu. Quấy quá, thì mong anh mở lượng hải hà...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Topic này đã bị bỏ quên lâu rồi, nay Leo tình cờ lật lại "án" cũ, chẳng hay chủ topic có muốn tiếp tục hôn?
Trong quá trình bàn luận, ngôn ngữ không cấm nên Leo đồng ý hai từ "Nghi Vấn" của HuyenNguyen. Chỉ đơn giản một điều, khi anh tự đặt ra hai từ Nghi Vấn thì anh nghĩ vì anh không hiểu chứ không có ý xúc phạm cụ Nguyễn Du. Hm nay chúng ta cùng tiếp tục bình luận cho đến khi nào anh nói là "à.ra.thế à !"
Nếu bình luận mà "cấm" thì không còn gì để bình luận, nhưng với tinh thần nghệ thuật khi có người đặt "nghi vấn" thì tất phải có người trả lời "nghi vấn" đó. Thay vì chờ người khác trả lời tại sao chúng ta không tự mình tìm ra những câu trả lời Nghi Vấn do mình đặt ra HN nhỉ? Nếu anh còn muốn tiếp tục tìm câu giải đáp về Kiều thì hôm nay Leo sẽ cùng anh tiếp tục "bàn"về Kiều.
Thân,
Leo.
[:)]
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Ct.Ly vừa đọc bài viết này thấy hay hay, nên đem vô cho các bạn cùng " nghi vấn " nhé

NGUYỄN PHÚ LONG
Đọc truyện Thúy-Kiều
[/align]
VÃI GIÁC-DUYÊN[/align]NGƯỜI VÀ VIỆC[/align] [/align]Nhắc đến Truyện Thúy-Kiều ai ai đều dễ dàng hình dung ra bao nhiêu nhân vật sống động: Thúy Kiều, Thúy-Vân, Kim-Trọng, Từ-Hải, Sở-Khanh....[/align]Nhưng ít có người để ý đến một vài vai trò khá quan trọng, hiện diện suốt một đoạn thật dài, thí dụ như Vãi Giác-Duyên, người mà ngay như Chu-Mạnh-Trinh, sáng tác cả một tập thơ vịnh Truyện Kiều cũng chẳng làm cho vãi được một bài thất ngôn bát cú, thế có bất công hay không!!![/align]Thúy-Kiều thì:[/align]... sắc sảo mặn mà,[/align]So bề tài sắc lại là phần hơn,[/align]Làn thu thủy nét xuân sơn[/align]Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.[/align]

Từ Hải thì:[/align]Râu hầm hàm én mày ngài,[/align]Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.[/align]

Nhưng đến Vãi Giác Duyên thì chẳng ai biết hình dáng vãi như thế nào, bởi tác giả tuyệt nhiên không có một câu thơ nào mô tả vãi, do đó nay đề cập đến vãi thật cũng khó, thật là:[/align]Ma đưa lối, quỷ đưa đường,[/align]Lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi.[/align]

Đến đây tôi phải xin phép quý vị cao niên, quý vị thuộc lòng truyện Thúy-Kiều nhuyễn như cháo, quý vị đã từng bói Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều, để nói qua về cốt truyện một chút.

[/align]Như ai nấy đều biết, Truyện Thúy-Kiều là một truyện dài phóng tác bằng thơ của Nguyễn-Du từ một bản văn xuôi của Trung Hoa, kể lại cuộc đời nàng Kiều tài sắc, đào tơ mơn mởn, tương lai đầy hứa hẹn, đang ươm một mối tình đẹp như mộng, nhưng định mệnh đã éo le đưa đẩy vào những nghịch cảnh, phải bán mình chuộc cha, rơi vào thanh lâu, được một nhà buôn tên Thúc Kỳ Tâm cứu ra, những tưởng từ đây sống cuộc đời an phận, êm đềm, nào ngờ lại gặp vợ của Thúc Sinh quá ghen, làm tình làm tội đủ điều nên mặc dù:

[/align]“Sót vì cầm đã bén giây, [/align]Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta.”[/align]


[/align] Thúy-Kiều cuối cùng phải quyết định:[/align]“Liệu mà xa chạy cao bay, [/align]Ái ân ta có ngần này mà thôi.” [/align]Thế là một hôm, đang đêm Thúy-Kiều đã:[/align]“Cất mình qua ngọn tường hoa, [/align]Lần đường theo bóng trăng tà về tây.”[/align]
 Thúy-Kiều cuối cùng phải quyết định:[/align]

[/align]để tình cờ trên đường vô định gặp vãi Giác-Duyên. Vãi Giác Duyên có mặt trong Truyện Thúy Kiều kể từ lúc đó:

[/align]Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,[/align]Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.[/align]Thấy mầu ăn mặc nâu sòng,[/align]Giác-Duyên sư trưởng lành lòng liền thương.[/align]

Vãi Giác-Duyên được bao nhiêu tuổi, sinh ngày nào, tháng năm nào, không ai biết rõ.. Nhưng truyện Thúy-Kiều được bắt đầu kể ”Vào năm Gia-Tĩnh Triều Minh.” Rồi sau đó trong khoảng mười lăm năm vãi Giác-Duyên đã gặp Thúy-Kiều ba lần, và ngay lần đầu, vãi đã là sư trưởng đang cai quản, điều hành tại một ngôi chùa đàng hoàng [/align]Ta thử nghĩ coi, chẳng lẽ một vị sư trưởng đứng đầu cả một ngôi chùa, quán xuyến mọi việc từ ngoại giao cho đến nội bộ, từ vật chất cho đến tinh thần, từ lớn đến nhỏ mà chưa được mười lăm tuổi sao! Vậy tôi có thể kết luận, với sự dè dặt thường lệ, là, năm sinh của vãi Giác-Duyên phải trước năm Gia-Tĩnh khá lâu!!!

[/align]Câu chuyện tuổi tác của vãi Giác-Duyên vừa được bàn sơ, nhưng ta nên ngưng ở đây thôi! Dù sao vãi cũng là phái nữ. Nói rõ ràng về tuổi tác của phái nữ thời buổi này là không lịch sự.

[/align]Bây giờ ngẫm về bốn câu thơ tả lúc Thúy-Kiều gặp vãi Giác-Duyên nơi chùa trên đây, bàn về cách xưng hô sao cho chỉnh, có lẽ ta phải gọi là sư bà mới đúng. “Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong.” Trụ trì là sư đã thụ giới lên hạng sư ông, sư bà. Nhưng xưng hô như vậy lại không được tự nhiên, thân tình. Mà gọi là vãi thì vẫn tỏ được cái ý kính trọng, mới lại chính trong truyện cũng có chỗ kêu Giác-Duyên là vãi:

[/align]Mụ quản gia, vãi Giác-Duyên,[/align]Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.[/align]

Do đó tôi cũng chọn chữ VÃI để nói về vãi Giác-Duyên.[/align]Thường, một bà vãi thì còn ở tại gia. Tôi nghĩ, để được kể là một bà vãi, điều kiện cần và đủ, chỉ là năng đi lễ chùa, thuộc một ít Kinh Phật phổ thông và có tinh thần sẵn sàng làm công quả, sẵn sàng tham dự vào các việc hiếu sự trong cộng đồng làng xã thế thôi. Nếu chấp nhận hiểu như vậy là đúng thì vãi Giác-Duyên cũng hơi khiêm nhường. Thực ra tiếp tục đọc truyện Thúy-Kiều ta thấy vãi Giác Duyên đã không lưu tâm gì đến cách xưng hô của người đời đối với vãi. Xưng hô còn biểu lộ danh vị. Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, Ông Tú Vị Xuyên. Vãi là nhà tu nên coi thường danh vị và ngay cả lợi lộc nữa. Ai gọi sao cũng được, chẳng bao giờ thấy vãi phản đối, ưu phiền, đính chính. Có lúc vãi được gọi là THẦY: 
        
[/align]Nhớ lời lập một am mây[/align]Khiến người thân tín rước thầy Giác-Duyên.[/align]


[/align]Chỗ khác vãi lại được gọi là PHÁP SƯ:[/align]Thật tin nghe đã bấy lâu,[/align]Pháp-sư dậy thế sự đâu lạ dường![/align]

Và một lần nữa lại được gọi là SƯ HUYNH:[/align]Bản sư rồi cũng đến sau,[/align]Dậy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh![/align]

Thuý Kiều đã nói thế khi gặp vãi Giác-Duyên ở chùa Chiêu-Ẩn-Am và đưa tặng lễ vật ra mắt, dối rằng mình là đệ tử của sư bà Hằng Thủy sẽ đến sau. Lễ vật ra mắt là đồ lấy từ nhà Hoạn-Thư để phòng thân thì còn dễ hiểu, nhưng làm sao tình cờ mà lại biết chuyện sư bà Hằng-Thủy để kể ra như thật vậy nhỉ! Câu chuyện hai người gặp gỡ cũng dản dị nhưng đã chứng tỏ nhà tu lòng dạ thực thà chất phác, còn Thúy Kiều thì đúng là “Thông minh vốn sẵn tính trời.”  [/align]Theo bản chữ, xin mô tả diễn tiến đại khái như sau: từ xa, khi trông thấy ngôi chùa với “rành rành” ba chữ Chiêu-Ẩn-Am thì Thúy Kiều “xăm xăm” tới gõ cổng (cửa ngoài) và được một ni cô ra tiếp xúc. Thúy-Kiều nói rằng đi vân du đến đây xin vào nghỉ chưn. Ni cô cho biết việc này phải hỏi sư đương gia. Kiểu hỏi sư đương gia tên là gì ? Ni cô trả lời Giác-Duyên. Kiều nhớ lấy tên ấy rồi vào nói với Giác-Duyên rằng: “Tôi cùng với thầy tôi định đi đến “Chiêu Ẩn Am” thăm sư Giác-Duyên. Không ngờ thầy tôi đi lạc đâu, tìm không thấy, mãi mới thấy chùa đây, không biết thầy tôi đã đi đến chưa?  Giác Duyên nghĩ một lúc rồi hỏi có phải sư Hằng Thủy ở Trấn-Giang không? Kiều nhận là phải. Nếu Giác-Duyên hỏi, chẳng hay thầy của ni cô là ai, thì có lẽ Thúy-Kiều cũng hơi lúng túng![/align]Chiêu Ẩn Am là một kiểng chùa ở bên Trung Quốc. Theo diễn tiến câu chuyện thì nó phải nằm trong vùng Vô-Tích thuộc tỉnh Giang-Tô, cho nên trong chúng ta chắc không ai có duyên tri ngộ, họa chăng chỉ có một người. Đó là tướng Nguyễn-Sơn của Việt Nam cộng sản, kẻ đã từng theo Mao-Trạch-Đông làm cuộc vạn lý trường chinh vòng vo Trung-Quốc.  Mà giả thử Chiêu Ẩn Am có tọa lạc ngay trên đất nước ta chăng nữa chắc cũng ít người biết đến vì nước ta, nhất là Bắc Việt có rất nhiều chùa: Chùa Thầy, chùa Tây-Phương, chùa Long-Giáng…, ở đâu cũng thấy chùa!

[/align]Đến nỗi, “Năm Bính Ngọ 1786 khi Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, thấy làng nào cũng đầy dẫy chùa chiền, người có đưa ra ý kiến là Đàng Ngoài nhiều chùa quá, mà những người đi tu thì không mấy đạt được cái đạo cao siêu của Phật, nên về sau người xuống chiếu bắt bỏ các chùa nhỏ ở các làng đem gỗ gạch làm ở mỗi phủ huyện một ngôi chùa thật to, thật đẹp rồi chọn lấy tăng nhân có học thức, đạo đức ở coi chùa thờ Phật, còn những người không xứng đáng thì bắt về làm ăn. Ý Vua Quang-Trung muốn rằng chỗ thờ Phật thì phải cho trang nghiêm, mà những người đi tu thì phải là bực chân tu, mộ đạo mới được.” Theo VNSL Trần-Trọng-Kim.

[/align]Mới đầu gặp gỡ thì vãi Giác-Duyên đã hoan hỷ chấp nhận Thúy Kiều vào ở tạm trong chùa vì đinh ninh Kiều là người nhà của sư bà Hằng Thủy, một người bạn tu ở tận Trấn-Giang. Nhưng trường hợp nếu Thúy Kiều không giới thiệu là đệ tử của Hằng Thủy thì chắc quyết định của vãi cũng không thay đổi gì vì cho tá túc kẻ lỡ độ đường là phản ứng bình thường của các vị tu hành. Song ít lâu sau, khi biết Kiều bỏ chốn từ nhà Hoạn-Thư, vợ của Thúc Sinh thì vãi thương quá, sợ quá!

[/align]Giác-Duyên nghe nói rụng rời,[/align]Nửa thương nửa sợ bồi hồi chẳng xong.[/align]


[/align]Sợ vì vãi thấy đây không phải là chuyện bình thường; Còn thương là thương cho một kiếp hồng nhan lận đận. Cũng vì thương, vì sợ nên vãi đâu nỡ phủi tay đẩy nàng ra khỏi cổng chùa, vãi đã phải cố gắng tìm cho Kiều một lối thoát, một chỗ dung thân. À phải rồi! Gửi nàng sang nhà họ Bạc, một người vẫn thường tới chùa dâng hương cúng phật vào những ngày ràm mồng một. Nhưng vãi có ngờ đâu, với con mắt đầy tình người chân thật của kẻ mặc áo cà sa vãi đã không có kinh nghiệm nhìn thấu cuộc đời giả dối và làm như vậy vãi đã vô tình đẩy Kiều vào con đường lầu xanh cũ.  Bởi vì Bạc bà thì  cũng chính là một tay tổ bợm già như Tú Bà, cả hai đều nuôi những tay em, ”đi dạo lấy người, Đem về rước khách kiếm lời mà ăn.” Thế nên khi Thúy Kiều sa vào tay Bạc bà thì cũng như lúc trước lọt vô hệ thống của Tú bà  vậy. Thân gái yếu đuối cô đơn, làm sao vùng vẫy thoát khỏi. Đã từng có một bài học, lần này nàng chẳng chống cự nhiều, chẳng toan tự tử, sau những lừa đảo, sau những áp bức đe dọa nàng đành chấp nhận bằng một lời oán than chua sót:

[/align]Chém cha cái số hoa đào[/align]Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi![/align]

Trở lại lầu xanh, Thúy Kiều có oán than gì vãi Giác Duyên không??? Không, tuyệt nhiên không. Tản-Đà Nguyễn Khắc Hiếu, trong một bài hát nói đã viết:

[/align]Cô Thúy Kiều xưa kia còn má phấn môi son,[/align]Lầu xanh chưa mãn (ấy chứ) cô lại bon đi ở chùa.[/align]

Ý nói chưa hết hạn ở lầu xanh thì đi ở chùa làm gì để lại phải trở về lầu xanh! Thúy Kiều hình như cũng đã biết cái số kiếp hẩm hiu như vậy nên ta thấy nàng đã không hờn giận gì vãi cả!

[/align]Hơn thế nữa, Thúy-Kiều còn luôn luôn nhớ ơn vì đã được cưu mang những ngày tuy ngắn ngủi nhưng thật êm đềm thanh thản dản dị đượm mùi dưa muối nâu sồng ở Chiêu Ẩn Am.[/align]Cái ơn này ví như sự tích Bát Cơm Phiếu Mẫu, Kiều nghĩ, dù cho có ngàn vàng cũng không thể đền bồi được tấm lòng thương bao la của vãi đối với nàng. Thế nên khi được chuộc ra lần thứ hai từ lầu xanh rồi trở thành phu nhơn Từ Hải, một người một mình một cõi đất Hàng Châu, Kiều đã sai đem lệnh tiến mời vãi đến để báo đáp phần nào:

[/align]Nhớ khi lỡ bước sẩy vời[/align]Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương[/align]Nghìn vàng gọi chút lễ thường,[/align] Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân.[/align]
[/align]


Khi nhìn thấy người cầm lệnh tiến mời vãi đi gặp Thúy Kiều thì vãi Giác Duyên cảm nghĩ thế nào nhỉ? Trong truyện không cho biết gì cả. Cho đến lúc đó vãi cũng không còn bận tâm nhiều về Thúy-Kiều nữa. Nàng đến chùa tá túc ít bữa rồi đi, cũng như nhiều kẻ khác trước nàng và sau nàng. Cổng chùa rộng mở. Hoàn cảnh của nàng có đặc biệt, nhưng hoàn cảnh nào chẳng đặc biệt. Chuyện nàng đã cũ, coi như là đã giải quyết xong.

[/align]Về sau có thể là Bạc bà vẫn đến chùa dâng hương cúng phật tại Chiêu-Ẩn-Am như thường lệ…và khi Bạc bà trở lại đôi khi vãi Giác-Duyên có hỏi thăm nàng nhưng thiếu gì cách để trả lời qua mặt vãi, chẳng hạn Bạc bà sẽ kể lể, nào là kiếm được chỗ tử tế, cũng con cháu nhà, cho cưới hỏi xong xuôi, hiện đã yên bề gia thất, chưa biết chừng nay đã con dắt, con địu vân... vân... toàn là tin lành làm vãi đã nghe, vãi đã tin và vãi đã nhầm. Sự thực không phải như vậy.[/align]Đây là lần thứ nhì vãi Giác Duyên xuất hiện và cũng là lần thứ nhì vãi gặp Thúy-Kiều. Còn nhớ lần trước vãi nhờ Bạc bà đưa Kiều ra khỏi cổng chùa, để nàng phải dấn thân vào một cuộc phiêu lưu tối tăm mờ mịt, bao nhiêu gió dập mưa vùi nỗi tủi nhục làm sao kể xiết... để về sau may mắn lọt vào tay Từ-Hải, một người trai anh hùng đang trọc trời, khuấy nước ở đất Hàng-Châu.[/align] Không giống lần trước, bận này vãi chẳng chủ động chuyện gì, vãi đến đây trong tư cách một người khách được mời. Vãi cũng chẳng có ý kiến gì về những việc sẩy ra mà vãi mới biết. Thời gian gặp gỡ thật là ngắn ngủi. Có lẽ ngắn ngủi vì vãi không muốn nhìn thấy cảnh phồn hoa phú qúy chăng?

[/align]Giác Duyên vâng dặn ân cần,[/align]Tạ từ thoắt đã rời chân cõi ngoài.[/align]

Như ta biết, Giác-Duyên là một vai phụ trong truyện Thúy Kiều, nên chỉ được nói đến thấp thoáng qua những nút thắt mở cần thiết cho câu chuyện, tuy nhiên ở giữa những nút thắt mở ấy, Giác-Duyên cũng chắc chắn còn một đời sống riêng liên tục, đời sống đó dù không được giới thiệu ra rõ ràng song ta cũng hình dung được qua những hoạt động rải rác như là :

[/align]“Đeo bầu quẩy níp.”, “Hành cước phương xa.”, “Ngao du sơn thủy.”  Đời sống đó vô cùng thanh thản, nhẹ nhàng, thơ thới như một áng mây đẹp lững lờ trôi, làm ta ao ước có khi suốt đời chả mong thực hiện được![/align]Chuyến này, sau khi gặp Kiều lần thứ nhì, nhớ lời dặn dò ân cần, vãi đã đi tìm Tam Hợp đạo cô, một nhà tiên tri, để hỏi giùm về tương lai hậu vận Thúy-Kiều. Vậy sư Tam Hợp đã nói gì về cuộc đời Thúy-Kiều? Hung kiết ra sao? Và bởi lẽ “Xưa nay nhân đinh thắng thiên cũng nhiều!” nên sau khi nghe sư Tam-Hợp, vãi Giác-Duyên có cần phải hành động gì để phụ giúp không?

[/align]Căn cứ vào áng văn chương bất hủ Truyện Thúy-Kiều của Nguyễn Du, người viết xin được trình bầy tiếp như sau:[/align]Giác-Duyên đi rồi, Thúy Kiều ở lại với cuộc sống “Thong dong cá nước vui vầy”, “Eâm đềm trướng rủ màn che”, “Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”… Nhưng tiếc thay thời gian hạnh phúc ngắn ngủi chỉ được năm năm. Sau năm năm “Giây cát được nhờ bóng cây” biết bao nhiêu biến cố dồn dập xẩy đến, nguyên do từ một quyết định lầm lẫn của Từ-Hải, một tính toán thiển cận của Thúy-Kiều khiến cho chàng thì chết đứng giữa đám ba quân tan nát, khói lửa mịt trời, nàng thì bị xô đẩy đến con đường cùng, phải nhẩy xuống Sông Tiền Đường tự tử.

[/align]Sư Tam-Hợp đã tiên tri việc này, và cũng báo trước rằng dù Thúy Kiều có tự tử “song chẳng hề chi!” nên đã dặn dò Giác Duyên những việc phải đề phòng:

[/align]Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,[/align]Tiền-Đường thả một bè lau rước người.[/align]Trước sau cho vẹn một lời[/align]Duyên ta mà cũng phúc trời chi không.[/align]

Theo lời khuyên trên đây, vãi Giác-Duyên bèn bắt tay ngay vào việc. Vãi thuê người túc trực canh chừng dưới bến, vãi cho làm nhà tranh ngay ven sông, vãi mua thuyền thả trên dòng nước, đan lưới kết chài giang ngang… đợi chờ tất cả mọi sự đều sẵn sàng cho khi chửng nịch! (Chửng nịch là vớt người chết đuối, trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi có câu: “Do kỷ chi thành, thẩm ư chửng nịch.”) [/align]Thế là sau khi Thúy-Kiều vừa gieo mình xuống lòng sông thì lập tức ngư ông đã vớt ngay lên thuyền rồi đem ngay về nhà tranh cất ven sông phục cho nàng tỉnh lại để nàng nhìn thấy vãi Giác Duyên với nét mặt lo lắng ngồi bên cạnh thì không hiểu đang ở nơi đâu, đang sống hay là đã chết rồi![/align]Đến đây ta mới thấy công ơn của vãi Giác-Duyên thực sự to lớn dường nào! Đúng như Kiều nghĩ, núi vàng cũng không sánh bằng! Mặt khác ta lại thấy mối liên hệ giữa Kiều và vãi Giác Duyên thật là NGƯỜI. Mối liên hệ này Giác-Duyên cũng nhìn thấy từ lâu nhưng dưới con mắt nhà phật qua câu nói “Sư rằng nhân quả với nàng…”, thật vậy, Kiều gặp hoạn nạn tới gõ cổng chùa, Giác Duyên mở lòng từ bi cứu khổ, nếu không có DUYÊN với nhau thì sự gặp gỡ giữa hai người chỉ có thế thôi, đường đời muôn vạn ngả, sau đó mỗi kẻ đi một phương, dễ gì còn tương ngộ.

[/align]Nhưng sự thể đã diễn ra không thường tình như vậy. Một bên là Thúy Kiều thì sau khi từ giã, lúc nào cũng ghi nhớ, canh cánh bên lòng để rồi khi có dịp là bầy tỏ, thực hiện ngay bằng cách mời vãi đến kể lể điều ân nghĩa. Mặt khác, cử chỉ hành động của Kiều đã khiến cho vãi Giác-Duyên cảm động về một tấm lòng chung thủy, nên cũng chẳng tiếc gì, đã tận tụy lo cho cuộc đời Thúy-Kiều hệt như một bà mẹ lo cho con. Thật vậy, công việc vãi sửa soạn cứu vớt Kiều, hình ảnh vãi ngồi lo lắng chờ Kiều nằm thiêm thiếp trong khoang thuyền, quần áo nàng ướt sũng đúng là một người mẹ lo cho con.

[/align]Đặt trường hợp nếu truyện Thúy-Kiều không có nhân vật Giác-Duyên thì mọi tình tiết sẽ biến chuyển ra sao nhỉ?  Khi Thúy Kiều chốn khỏi nhà Hoạn-Thư chắc là thay vì đến Chiêu Ẩn Am sẽ gõ cửa thẳng tới nhà Bạc bà, đoạn báo ân báo oán sẽ không có vãi, những người ân đền oán trả chỉ có vợ chồngThúc Sinh, đám khuyển ưng, mụ quản gia thế thôi!... Đến đây mọi sự vẫn bình thường, nhưng đoạn sau cùng thiếu vãi thì không biết Nguyễn-Du sẽ đưa đẩy câu chuyện như thế nào! Và dù như thế nào, ta tin tưởng là với thiên tài Nguyễn Tiên-Điền thì chúng ta vẫn có một kết thúc có hậu, hấp dẫn cho truyện Thúy-Kiều.

[/align]Đặt trường hợp vậy thôi, chứ thực sự thì vai trò Giác Duyên là rất cần thiết, nhờ ba giai đoạn vãi tiếp xúc với Thúy Kiều, ngoài việc đưa đẩy nàng đến những hoàn cảnh lúc chìm lúc nổi, làm mủi lòng người, hấp dẫn cho câu chuyện vãi còn cộng tác với sư Tam-Hợp để tạo ra cái không khí lãng đãng của đạo Phật, có chùa có cảnh có thuyết định mệnh, nhân quả, luân hồi và đó cũng là một số điều mà tác giả muốn câu chuyện chuyên chở mang theo.[/align]Xem vậy nhiệm vụ của vãi do Nguyễn Du trao cho cũng lớn và cũng vô cùng quan trọng.  Như thế Nguyễn-Du tất phải giới thiệu vãi như là một người khả kính trong xã hội, có chức vị, có học thức.[/align]Về chức vị thì hiện Giác-Duyên đang là sư trưởng trụ trì tại chùa Chiêu Ẩn Am vậy là ổn rồi. Tuy nhiên còn chứng minh cái “học thức” của vãi Giác Duyên cũng hơi lòng vòng. Như ai nấy đều biết, trong xã hội Á-Đông xưa, chẳng có người đàn bà nào đỗ đạt, làm quan. Lý do là các bà phần nhiều đi học nhưng tuyệt nhiên không đi thi, hãn hữu mới có trường hợp như truyện Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài còn thì con gái học cho biết ấy mà! Thế nên nói rằng phái nữ ngày trước vô học thì không chấp nhận được!  Bà Đoàn-thị Điểm học giỏi nổi tiếng từ năm lên sáu; Bà Hồ Xuân Hương cha mất sớm vẫn được mẹ tiếp tục cho đi học. Có điều các bà đi học nhưng không phải ai cũng trở thành thi sĩ. Lại nữa, vì xã hội không chấp nhận họ tham gia thi cử thành ra chẳng biết thực sự trình độ học vấn của họ đến đâu, do đó phần lớn ta được biết tới những người phụ nữ có học vì một lẽ dản dị là thấy họ đọc được chữ thánh hiền.[/align]Vãi Giác Duyên cũng đọc được chữ thánh hiền vậy thì phải kể vãi là người học thức đáng kính, chẳng thế mà khi cơ duyên đưa đẩy vãi tới một đàn tràng lễ chiêu hồn cho một vong linh quá vãng trên Sông Tiền Đường vãi nhác trông lên linh vị thấy tên tuổi của Thúy Kiều bèn

[/align]Thất kinh mới hỏi :”Những người đâu ta?[/align]Với nàng thân thích gần xa [/align]Người còn sao bỗng làm ma khóc người!”[/align]


[/align]“Những người đâu ta ”gồm đầy đủ mẹ cha Thúy Kiều, chàng Kim-Trọng, cô Thúy Vân,những người mà Thúy Kiều đã hy sinh cả đời mình vì thương mến, những người mà nàng đã xa cách mười lăm năm nhưng trong lòng lúc nào cũng nôn nóng nhớ nhung![/align]“Những người đâu ta” cũng vậy. Cũng rất đáng thương trước nỗi đau khổ ly tan thiếu vắng nàng. Sau một thời gian dài khổ công tìm kiếm cả mười mấy năm, bây giờ đến đây, được tin nàng đã thực sự gieo mình xuống Sông Tiền-Đường, vậy là hết!  Không còn gì nữa! Lễ chiêu hồn được tổ chức là hành động cuối cùng nói lên sự thất vọng hoàn toàn. Nhìn ngọn sóng bạc nhấp nhô trước rặng núi trùng trùng mọi người còn tưởng tới lúc Thúy Kiều gieo mình xuống nước, giờ không biết linh hồn nàng đang phiêu bạt chốn nào! Có hóa thành con chim Tinh Vệ như chuyện công chúa con Viêm Đế thuở xưa.

[/align]Trong tình trạng tuyệt vọng đó, thật xững xờ, mọi người lại được gặp vãi Giác-Duyên và câu hỏi mở đầu của vãi thực tình cũng đã làm mọi người …thất kinh! Tá hỏa!  Để rồi nỗi hy vọng từ đâu đột ngột trở về, càng lúc càng lớn, ai nấy  mừng như thể chết đi vừa sống lại. Mọi việc đảo lộn thật không ngờ! “Dụi mắt tưởng mình mơ mới tỉnh, Tỉnh rồi ngơ ngác lại chiêm bao.”(TVL)

[/align]Sau cùng thì còn biết làm gì hơn là mọi người riu ríu theo vãi Giác Duyên về thảo am ven sông gặp lại Thúy Kiều. Cố nhân ngộ cố tri, người cũ gặp người xưa. Mười lăm năm dài hay ngắn?  Mười lăm năm đã qua. Cảnh bây giờ đã khác, ở đây không có “Cỏ non xanh tận chân trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa.” nhưng người xưa vẫn còn đó với chút thời gian phảng phất trên hình hài, nó khiến cho ánh mắt nhìn nhau càng gần gụi, thân tình xao xuyến bâng khuâng. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Cuộc trùng phùng vui đến rơi nước mắt, thực không bút mực nào tả xiết.[/align]Rồi sau cơn xúc động, Thúy Kiều đã gạt lệ, như một cách giới thiệu, kể cho gia đình nghe “đầu đuôi câu chuyện” giữa nàng và vãi Giác-Duyên. Cuối cùng kết luận ngỏ ý muốn ở lại chùa với vãi cho trọn tình trọn nghĩa.

[/align]Mùi thiền đã bén muối dưa,[/align]Mầu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng,[/align]Sự đời đã tắt lửa lòng,[/align]Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi.[/align]

Nhưng chắc chẳng nói thì mọi người  cũng biết là ý kiến của nàng bị gạt bỏ ngay, không được ai hoan hỷ chấp nhận, thiểu số phục tòng đa số, cưỡng sao được, gia đình nàng đã phủ phục lạy tạ vãi Giác-Duyên rồi sửa soạn đem nàng về sum họp dự trù xong xuôi sau này “Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung!”[/align]Ông Vũ-Trinh (1759-1828) quan tham tri bộ hình, anh rể Nguyễn-Du, đọc truyện Thúy Kiều có phê rằng “Thúy Vân xuất hiện ba lần mà lần nào cũng trơ như hòn đá nàng chỉ đáng cho theo thói giầu sang làm bà quan là phải!” ý muốn so sánh với ba lần xuất hiện của vãi Giác-Duyên. Ý muốn chê Thúy-Vân đã chẳng giúp đỡ chị em khi hoạn nạn được việc gì.[/align]Nhưng đem so sánh như thế cũng hơi khe khắt, vị trí Giác-Duyên và Thúy Vân khác nhau, Thúy Vân không có cơ hội tiếp xúc với xã hội, trước sau vẫn chỉ là “thiếp trong cánh cửa” sống trọn vẹn với tinh thần “Tại gia tòng phụ, xuất gía tòng phu, phu tử tòng tử”. Hơn nữa, ý kiến của Giác Duyên thì trước sau chắc mọi người còn nhớ, vãi đã giải thích những liên hệ giữa vãi và Thúy Kiều là vì hai người có nhân quả với nhau![/align]Và nếu đúng như thế thì cái nhân quả ấy lại đang bước sang một chuyển biến mới. Vãi và Thúy Kiều đã đến lúc chia tay như thể ai sẽ đi con đường của người ấy![/align]Vãi là kẻ tu hành, chuyện hợp tan trong cõi tạm này coi cũng nhẹ. Suy nghĩ như vậy sẽ giúp vãi phần nào trong việc dứt ra cái tình quyến luyến do khoảng thời gian gần gụi bên nhau. Cuối cùng, khi đôi uyên ương Thúy-Kiều Kim Trọng đã thu xếp yên bề gia thất, cho người đi thỉnh vãi về thì không tìm thấy vãi đâu cả!

[/align]Sư đà hái thuốc phương xa,[/align]Mây bay hạc lánh biết là về đâu.[/align]
[/align]


NGUYỄN-PHÚ-LONG[/align]Virginia, USA - (Trích trong Ai Đắp Lũy Thầy)[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-16 22:07:17huyennguyen>
Trích đoạn: Lê Thường Nhiên

Nguyễn Du và Bùi Giáng (về phương diện văn thuật) đã gián tiếp (qua các tác phẫm của mình) truyền lại cho con cháu Lạc Hồng phương pháp dịch thuật tuyệt kỹ bí truyền là: CÁC CON XEM TA DỊCH MÀ HỌC CÁI KIỂU DỊCH MÀ:
- DỊCH PHẪM LẠI LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT VÌ BỞI TIẾNG VIỆT TA HOÀN TOÀN ĐỦ KHẢ NĂNG DIỄN ĐẠT NHƯ CÁC THỨ TIẾNG KHÁC.
- DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT Ở CHỔ TIẾNG VIỆT TA HOÀN TOÀN ĐỦ KHẢ NĂNG DIỄN ĐẠT NHƯ CÁC THỨ TIẾNG KHÁC VÀ THẬM CHÍ CÒN HAY HƠN NỮA.
.....
Vấn đề là con cháu làm sao NGỘ được tiếng VIỆT để tiếp bước ông cha?...
Mấy lời thô thiển trộm nghĩ.
Lê Thường Nhiên xin trân trọng góp lời.


Thật ra, thì cái điều Nguyễn Du và Bùi Giáng đã nói, như anh Nhiên bảo, đã tồn tại từ lâu trong mỗi trang viết gấp khúc gập ghềnh của ngôn ngữ vốn tại ngoại nhà tù ngữ ngôn. Nay, HN cũng chỉ góp vài ý để mở ra mấy lời anh Nhiên đã khơi...

Thứ 1. - DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM.

Một tác phẩm, vốn dĩ tạo ra bằng ngôn ngữ. Mỗi ngôn ngữ, mỗi quốc gia, lại có những tinh thể riêng biệt về kí tự, để chở tiếng nói và tư duy đi xa trên đường về bến lãng du. Không có ngôn ngữ hay dở, chỉ có suy nghĩ về hay dở. Khi Nguyễn Du dịch Kim Vân Kiều, Bùi Giáng dịch "Khung cửa hẹp", " Cõi người ta", "Nhà sư vướng lụy"... thì tác phẩm nguyên bản lồ lộ thị hiện qua một ngôn ngữ khác, ngôn ngữ Việt Nam. Mà đã là Việt Nam, thì phải nói yêu bằng yêu, chứ không phải bằng "love" như tiếng Anh, Mỹ. Tự thân đã khác. Người dịch tác phẩm nước ngoài, mà dịch như nguyên bản ngữ nghĩa, có ma nó hiểu cho. Nên là một tác phẩm khác rồi. Lại nữa, với tài hoa người dịch, tác phẩm ló ra những luồng ánh sáng mới dưới tư tưởng giấu thân vào con chữ mênh mông.

Thứ 2. DỊCH PHẪM LÀ MỘT SÁNG TÁC PHẪM CÓ GIÁ TRỊ HƠN NGUYÊN TÁC VỀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT.

Là cũng tại bởi tài hoa. Vì tài hoa mà Nguyễn Du đưa Kim Vân Kiều bước sang một rẽ ngoặt với những vần lục bát thâm uyển siêu nhiên. " Hòa âm điền dã" của Andre Gide, với Bùi Giáng trở thành mênh mang khí vị trắc trở của một kiếp nhân sinh khi sáng tỏ, khi mờ mịt những nhận định, những tình cảm, những hiểu biết, những khái niệm, những rạng tỏ của một khuôn mặt ban đầu... Nói có giá trị hơn, là bởi tại, nó trở thành điều dễ hiểu, khơi gió lũ luồn tuôn trong cõi bình yên sâu lặng của linh hồn Việt, thức cùng nguồn loài người ẩn hiện lan man. Bằng bàn tay và khối "tư duy" (tạm gọi thế), những "long lanh đáy nước in trời, cành lê trắng điểm một vài bông hoa", trở thành đỉnh cao (lại tạm gọi như thế), của một nền văn học Nam Việt. Và những biểu tượng, những tư tưởng hòa quyện trong nghệ thuật thuần nhiên như nằng đầu ngày, hiển lộ nét phai phôi của tháng năm qua xác thân dấn chốn bụi hồng... mà, "bụi hồng lẽo đẽo chiêm bao..." như cụ Nguyễn viết trong Kiều.

Thứ 3. Vấn đề là con cháu làm sao NGỘ được tiếng VIỆT để tiếp bước ông cha?...

Nan vấn. Nan giải.
Bởi tất cả, hầu như, những tác phẩm tuyệt liệt, đều ẩn mình đằng sau một màn sương mờ hỗn mang của chữ nghĩa. Chữ nghĩa làm người tiếp nhận trở thành tên nô lệ ngoan ngoãn của mù sương hàm hỗn khôn lường... Việt ngữ vốn thiên về âm, càng gây ra nhiều rắc rối với dị biệt là một đơn ngữ. Không ở đâu, một chữ, một tiếng, lại diễn được nhiều nghĩa như ở ta.
Mà NGỘ, là NGỘ làm sao? Là thấy, là nghe, là hiểu, là cảm...? Là giỏi về lý thuyết "Ngôn ngữ học", dưới ánh sáng của tư duy triết học rõ ràng? Hay là một lúc nào, khi cô tịch dồn đọng lại thành một đêm tối mênh mang, khi dư ba ấm ì bỗng thành sóng thần từ tầng sâu đại dương, khi thuần khiết về ôm chầm lấy óc nghĩ đa đoan, hôn riết, quấn quít, u nùng thâm thiết... bỗng linh giác xoè nở, vụt thăng qua bao đỉnh trời, không về, không đi, không ở, không còn, không mất, không hay, không dở, chẳng sạch cùng trong, chẳng trên chẳng dưới, chẳng đầu chẳng cuối, vô thủy vô chung, như nguồn mạch chảy rạt rào tươi mát hiền hòa dưới trí huệ miên miên u uẩn khôn cùng vô lượng ma kha...?
Ối, chết, chết thật rồi, đi đến đâu rồi thế? Tới đoạn nói về "Ngộ", hay là "ma kha vô lượng", hoặc "đi đến đâu rồi thế"? Nguyên đâu mất rồi anh Nhiên ơi!? Níu, níu Nguyên về cội cô đơn cạn kiệt cho Nguyên bình thường trở lại coi!
.......
Mệt ghê, cơn mơ đã dứt, mà quái mộng còn ủ ấp chửa tan, lâng lâng tưng tửng man man...
Ối Nguyên ơi là Nguyên ới, về đi!
Ừ thì về đây, tới chỗ này mỏi con mắt quá, chắc phải uống một chén thôi. Mời anh Nhiên nhé?!
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-17 16:11:31Lê Thường Nhiên>
[size=1]Lay tỉnh bớ Huyền Nguyên....

Muốn nhậu hả, có ngay:
" Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
mục đồng diêu chỉ Hạnh Hoa Thôn..."
đoạn nầy Thường-Nhiên mới đọc trong báo Thanh-Niên xuân đó (Hạnh Hoa Thôn ngày nay là Mao Đài Trấn).
Tuy nhiên có điều là LTN đã nếm thử vài lần Mao Đài Tửu rồi: Hương không thanh (có mùi hèm cám cao lương), vị cũng chẳng có hậu ân tình luyến lưu là mấy...không thể bằng các lọai nước mắt quê hương của mình. Nhất là và dịp tết nầy mà được nếm Hoàng Mai Tửu của xứ Kinh Bắc (Làng Vân) thì phải biết. Cho nên chắc phải ngâm lại rằng:
" Tá vấn tửu gia hà xứ hửu
Giao Châu đệ nhất tửu: Hoàng Mai"
Nói thế thôi chứ
" rụ ai thì nấy say vùi
Tàu Tây Nga Việt ngậm ngùi như nhau "
Chử Ngộ mà LTN cả gan dùng trong bài trước thật tình là " Đạo khả đạo phi thường đạo" chỉ có thể trục cảm chứ không thể dùng ngôn ngử để giảng minh vì càng giải càng rối, càng muốn sáng thì càng mịt mờ, càng muốn nắm bắt thì càng xa vời...
Thôi thì đành mượn vài thí dụ minh họa về cái ĐẠO dùng chử Việt của cha anh vậy:


" Cửa động đầu non đường lối cũ
ngàn năm thơ thẫn bóng trăng CHƠI (Tản Đà)
" Bây giờ là mùa thu, mùa hoa cúc vàng nở bên bờ dậu" (Tô Hòai)
" Nhớ ôi Tây-Tiến cơm lên khói
Mai-Châu mùa em thơm nếp xôi" (Quang Dũng)
" Nước ròng cạn một bến sông.." (Trương Phi Bảo - VN Thu quan)
.....rồi các ca từ của Văn Cao, Trịnh Công Sơn...
làm sao mà kể hết...Ôi Việt Nam văn hiến !!!
.... thôi nói nhiều quá...hẹn tái ngộ.
Di như lưu thủy...hề... thệ như phong
bất tri hà xứ lai...hề...hà sở chung
Đăng nhập để trả lời
0
Sao các bạn lại nói ông NDu sử dụng một quyển truyện tồi của TQ để viết TK?

Thế là các bạn hạ thấp ND đó.

1 dịch giả nổi tiếng Vn hiện nay, ông Trịnh Lữ vừa nói trong 1 bài fỏng vấn: Truyện Kiều thực chất là 1 bản dịch...

Đăng nhập để trả lời
0
Zhang!
HN xin thứ lỗi trước vì nghịch nhĩ.
Zhang có nên dùng chữ các bạn? nói? Truyện Kiều dịch từ một quyển truyện tồi?
Thứ cho, xin hỏi Zhang các bạn là những ai?
Nguyên.
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Còn điều mà tôi cảm nhận được chính là nghệ thuật ngôn từ của truyện Kiều.Có thể nói những câu thơ đã đạt đến đỉnh cao trong thơ ca,vừa gần gũi,vừa có tính nghệ thuật.Nếu để ý sẽ thấy không một câu thơ nào của truyện không để lại sự yêu thích trong lòng người đọc.Những nhân vật lại vô cùng đặc sắc,ngay như Sở Khanh cũng đủ làm đau đầu các nhà phê bình,trong vẻ chải chuốt của hắn vẫn bật lên bản chất xấu xa.tiếc là mình không thuộc truyện Kiều,nhưng thử lật lại suy ngẫm các bạn thấy mình nói không sai đâu,mình sẽ giới thiệu với các bạn một số bài của những giáo sư có uy tín.Hẹn lần sau sẽ nói đầy đủ hơn(tại mình đi học mà chưa về tới nhà[;)])Bye !
Đăng nhập để trả lời
0
Đúng là bạn huyennguyen dùng từ "nghi vấn truyện Kiều" chẳng ổn chút nào cả, nhất là về mặt ngữ nghĩa; song khi đọc nội dung thì có thể thông cảm được với cách dùng từ của bạn.

Cung cấp cho bạn một vài tư liệu về Nguyễn Du và truyện Kiều


NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU




Cụ Nguyễn Du, tên tự là Tố Như, hiệu Hồng Sơn Liệp Lộ, sanh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh. Là con thứ bảy của ông Nguyễn Nghiễm, thủ tướng dưới triều Lê. Bác ruột của thi sĩ là Nguyễn Huệ (không phải là anh hùng Tây Sơn) đã đậu Tiến sĩ. Anh ruột là Nguyễn Khản cũng đậu Tiến sĩ và cũng cùng làm quan dưới triều Lê tới chức Lại Bộ Thượng Thư (bộ trưởng bộ Tư Pháp). Người anh thứ hai là Nguyễn Điềm cũng làm quan trấn thủ Sơn Tây. Cả nhà, cha con, chú bác, anh em đều là người thi đậu cao và làm quan to dưới đời nhà Lê. Đây là một gia đình rất trí thức. Mẹ của thi sĩ Tố Như là người Bắc Ninh, có bốn người con trai (cha của Nguyễn Du có nhiều bà) tên là: Trụ, Nễ, Du và Ức. Nguyễn Du là con thứ ba. Chúng ta không biết ngày sinh, chỉ biét thi sĩ sinh vào năm 1765 (năm Cảnh Hưng thứ 26.) Nguyễn Du rất thông minh. Mười chín tuổi đậu tú tài (khi đậu tú tài thì có thể đi thi Hội). Nhà Lê tàn rụi, nhà Nguyễn Tây Sơn lên. (Trong khi Tây Sơn dấy lên, gia đình Nguyễn Du không còn đóng vai trò quan trọng trong chính quyền nữa.) Nguyễn Du tham dự vào kháng chiến chống lại Tây Sơn nhưng không thành. Ông rất trung thành với nhà Lê. Nguyễn Du bỏ về quê, đi chơi. Nghe nói ở nhà quê đó có tới chín mươi chín ngọn núi Hồng Lĩnh, tha hồ đi rong chơi. Thất bại trong công việc khôi phục nhà Lê nên ông bỏ đi chơi. Nghe nói không có ngọn núi nào trong chín mươi chín ngọn núi mà Nguyễn Du không trèo lên để chơi. Khi vua Gia Long đã đánh bại Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế. Vua muốn phục hồi những người đã từng lmà việc cho nhà Lê ngày xưa, mời ra làm quan trở lại. Nguyễn Du cố từ chối nhưng không được. Bắt buộc phải ra làm quan. Ông có cảm tưởng ra làm quan với triều Nguyễn tức là không trung thành với triều Lê. Giống như một cô gái giang hồ. Đó là quan niệm ngày xưa. Năm 1802 (năm Gia Long thứ nhất) Nguyễn Du phải ra làm tri huyện ở Thái Bình. Sau đó là tri phủ. Nguyễn Du cáo bệnh xin về. Nhưng đến năm Gia Long thứ sáu (bốn năm sau) Nguyễn Du lại được gọi và Kinh Đô, giao cho chức Đông Các Đại Học Sĩ. Năm 1809, được cử làm quan Bố Chánh ở tỉnh Quảng Bình. Năm 1813, được thăng làm Cần Chánh Điện Học Sĩ, sung chức Chánh Sứ sang Trung Hoa. Có lẽ trong khi làm Chánh Sứ sang Trung Hoa Nguyễn Du đã mua và đọc được nguyên lục của truyện Kiều. Trong thời gian đi sứ đó Nguyễn Du cũng làm thơ và viết văn rất nhiều. Những bài thơ làm trong thời gian đi sứ góp lại có tên là Bắc Hành Thi Tập. Đi sứ thành công về được thăng chức Lễ Bộ Tham Tri (chức Hữu Tham Tri trong Bộ Lễ). Có lẽ Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều vào khoảng năm 1813-1815 hay 816. Sau đó thì sáng tác Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, muốn gửi thi sĩ đi sứ lần thứ hai. Chưa kịp đi thì thi sĩ bị bệnh và mất ngày 16 tháng 9 (10 tháng 8 năm Canh Thìn). Giai thoại vua Minh Mạng ngồi uống trà và phê bình câu ‘Dọc ngang nào biết trên đầu có ai’ có lẽ xảy ra vào năm 1820, khi vua vừa mới lên ngôi.



Truyện Kièu là một áng văn chương toàn bích về phương diện văn chương. Nhưng đứng về phương diện tư tưởng Phật học thì còn có những khuyết điểm. Cách sử dụng ngôn từ và điển tích rất khéo léo. Tả về tình tiết trái tim con người thì thi sĩ rất tài ba, sâu sắc. Nhận xét tâm lý tinh té cho đến nỗi chúng ta phải giật mình nhiều phen. Nguyễn Du đã thật sự sống trong cuộc đời. Những ánh sáng lóe lên (mà chúng ta nhận diện như những tuệ giác đạo Bụt) không phải do học Bụt mà có mà do tác giả sống trong cuộc đời và tìm ra. Ví dụ như nhận xét ‘Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?’ hay ‘Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.’ Tuệ giác Phật giáo có trong này nhưng không phải do thi sĩ học Phật mà nói ra. Thi sĩ đã sống rất sâu sắc, trân quý từng giờ từng phút của sự sống mà tìm dra và diễn tả sự thật đó một cách khéo léo.



Phần sau, chúng ta sẽ xét về kiến thức, cái gọi là triết học Phật giáo trong truyện Kiều. Chúng ta tìm ra quan niệm của tác giả về Nghiệp, Nhân quả, quan niệm còn có tính đại chúng hóa, chưa tới mức độ của người học Phật thâm uyên. Có những người nói cụ Nguyễn Du tinh thông về Nho học và Phật học. Đó là do thương quá mà nói. Sự thật, Nguyễn Du rất tài tình như một thi sĩ nhưng kiến thức Phật học của cụ trong khi sáng tác truyện Kiều còn chưa chín. Sau khi viết truyện Kiều, Nguyễn Du đã tiếp tục học thêm văn học Phật giáo. Phật học của cụ sẽ sâu sắc hơn. Bằng chứng là tác phẩm (chữ Nôm) Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (‘Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt). Có cơ hội chúng ta sẽ cùng đọc Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.







NHÌN SÂU VÀO TRIẾT LÝ TRUYỆN KIỀU





Chúng ta đọc phần kết thúc truyện Kiều (từ câu 3241):



Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Có đâu thiên vị người nào

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Lời quê chắp nhặt dông dài,

Mua vui cũng được một vài trống canh.



Thơ rất hay mà lời lại rất khiêm nhường: ‘Lời quê chắp nhặt dông dài.’ Nếu thơ của cụ Nguyễn Du mà quê thì thơ mình còn… quê tới chỗ nào nữa!



Câu chót của truyện Kiều (mua vui cũng được một vài trống canh) có vần với câu đầu (trăm năm trong cõi người ta) nên khi các cô miền Bắc hát đối thường hỏi:



Truyện Kiều anh học đã làu

Đố anh kể được một câu hết Kiều?



Bên con trai trả lời:



Trăm năm trong cõi người ta

Mua vui cũng được một vài trống canh.



(Một và hay một vài đều cùng nghĩa.) Có nghĩa là trong cuộc sống trăm năm người ta thấy sự việc đi qua một cách chớp nhoáng giống như chỉ trong một vài trống canh thôi. Câu này cũng có ý nghĩa lắm.



‘Cho hay muôn sự tại trời.’ Câu này hầu như nói rằng tất cả mọi sự mọi việc trên đời đều được ông Trời sắp đặt như trong thuyết Thiên mệnh. Trời ở đây có thể là ông Trời nhưng cũng có thể là mạng lưới nhân quả. Tuy nói ‘muôn sự tại trời’ nhưng sau đó cụ Nguyễn Du lại nói: ‘Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.’ Hai điều có vẻ như chống trái nhau, nhưng lại có thể bổ túc cho nhau. Đứng về phương diện văn chương, tư tưởng, tâm lý thì không nói gì, nhưng đứng về phương diện Phật học thì cái thấy của cụ Nguyễn Du chưa được rạch ròi lắm.



Trời kia đã bắt làm người có thân.’ Như vậy làm người, có cái thân này có thể không phải là một điều vui mà là một sự đày đọa (‘Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai?). Nhiều người nói ‘Tôi không muốn làm người. Tôi không muốn có thân. Tôi chống đối lại ý tưởng của Trời Đất của Thượng Đế vì tôi thấy làm người mệt quá!’ Trong khi đó được làm người có thể là một niềm vui. Tùy theo cách nhìn của mình. ‘Trời kia đã bắt làm người có thân’ là tư tưởng có khuynh hướng yếm thế.



‘Bắt phong trần phải phong trần’ nghĩa là nếu trời bắt mình phải sống cuộc đời gió bụi (truân chuyên, đau khổ, rủi ro) thì con người phải sống cuộc đời giớ bụi. Thuở trời đất nổi cơn gió bụi.’ Trời đã làm ra con người rồi lại làm ra gió bụi để cho con người lãnh đủ. Nhiều người chống đối ông Trời, chống đối Thiên mệnh là vì vậy. – ‘Cho thanh cao mới được phần thanh cao.’ Thanh cao có nghĩa là nhàn hạ, có hạnh phúc, không bị rủi ro nhiều (ngược lại với phong trần.) Có một lực lượng nào đó quyết định việc mình sẽ bị phong trần hay sẽ được thanh cao. Vận mệnh con người như đã được viết sẵn trong một cuốn sổ ở Thiên Đình. Con người chết cứng. Vùng vẫy thế nào cũng không thoát được. Nếu số mình là gió bụi phong trần thì mình sẽ là gió bụi phong trần suốt đời. Còn nếu số mình được thanh cao thì dù mình làm biếng, không tranh đấu gì hết cũng vẫn được thanh cao, khỏe khoắn. Đó là thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh. Thiên là trời; mệnh là mệnh lệnh hay mạng. Chữ ‘mạng’ cũng có nghĩa là đời sống. Thiên mệnh nghĩa là ông Trời nắm giữ vận mạng, quyết định đời sống của mình. Có những trường hợp người ta không dùng chữ ‘ông Trời’ ; tuy không có ông Trời nhưng số mạng con người đã được quyết định trước. Đó là thuyết Định mệnh. Tất cả đều đã được xếp sẵn, con người cứ việc vâng chịu thôi chứ không thể nào phản đối, xoay sở hay cựa quậy gì được hết. Định là déterminé. Khuynh hướng tin vào Thiên mệnh hay Định mệnh rất mạnh trong tâm trí con người. Con người tuy vùng vẫy cũng khá, mưu mô cũng nhiều nhưng rốt cuộc cũng cảm thấy mình bị kẹt trong lưới Thiên mệnh. Vùng vẫy khó quá cho nên cuối cùng phải tin rằng có một Thiên mệnh hay Định mệnh. Khi còn trẻ, chúng ta hay phản đối tư tưởng Thiên mệnh hay Định mệnh này. Chúng ta nói: ‘Mình có sức mạnh, có trí tuệ, nhiều thứ lắm… Mình sẽ chống lại!’



Hồi Thúy Kiều còn nhỏ, một ông thầy tướng nói: ‘Suốt đời cô sẽ khổ vì tất cả những tinh hoa (tài sắc) trong con người cô đều phát tiết ra ngoài hết. Cô không giấu giữ được cái gì ở bên trong nên phải khổ suốt đời.’ - Ông thầy tướng này nguy lắm! người ta còn con nít mà nói như vậy là gieo một hạt giống dau khổ thắc mắc và lo sợ vào trong lòng người ta! Người ta cứ yên chí rằng mình sẽ khổ suốt đời, đó là cái không hay. - Trong đêm đầu tiên gặp Kim Trọng, Thúy Kiều nói: ‘Nhìn anh em thấy anh là người có phước đức. Em thì không. Vì vậy em không biết cuộc tình của chúng ta có thành tựu được hay không?



‘Nhớ từ năm hãy thơ ngây,

‘Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:

‘Anh hoa phát tiết ra ngoài,

‘Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

‘Trông người lại ngẫm đến ta,

‘Một dày một mỏng biết là có nên?’



Kim Trọng nghe Thúy Kiều lo lắng như vậy đã dùng đủ cách để trấn an”



Sinh rằng: ‘Giải cấu là duyên,

‘Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!

‘Ví dù giải kết đến điều,

‘Thì đem vàng đá mà liều với thân.’



- Trong lịch sử, con người đã quyết định và đã chiến thắng ông Trời nhiều lần rồi. Em đừng lo! Chúng ta là những người còn trẻ, chúng ta là những người thông minh. Chúng ta sẽ tranh đấu! Nếu cần anh sẽ hy sinh cái thân này!’ Ai trong chúng ta khi còn trẻ cũng đều như Kim Trọng cả. Cố nhiên khi yêu mình có rất nhiều ‘xí quách’. Và mình cứ hứa tùm lum mà không biết sức mình làm được tới đâu. Rốt cuộc mười lăm năm mình mới biết là mình làm được gì.



Tư tưởng Thiên mệnh trong truyện Kiều còn rất mạnh. Tư tưởng đó được ông thầy tướng trình bày và trước Kim Trọng, người yêu, cố tình chống lại. Nhưng rốt cuộc Đạm Tiên, con ma, đã phát triển và củng cố niềm tin đó, ít hay nhiều. Ta phải nhìn lại, xét thử mình tin bao nhiêu phần trăm ở thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh đó. Đây là bốn câu xác định tuyệt đối về thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh:



Cho hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.



Nhưng đến những câu kế thì ta thấy thuyết đó bắt đầu lung lay: ‘Có đâu thiên vị người nào.’ Nghĩa là ông Trời rất công minh. Không phải ông muốn cho mình thanh cao thì mình được thanh cao, cho mình phong trần thì mình phải phong trần; phải có lý do gì đó thì người này mới phong trần, người kia mới thanh cao. Lý do đó nằm ở chỗ nào?



Có đâu thiên vị người nào,

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.



Hai yếu tố tài và mệnh đóng một vai trò nhất định trong sự quyết đinh một người phải đau khổ hay hạnh phúc: Theo triết lý của nguyên lục (mà cụ Nguyễn Du cũng bị ảnh hưởng khi viết truyện Kiều) thì giữa tài và mệnh có sự chống đối nhau. Càng có tài bao nhiêu thì số mạng càng ngang trái bấy nhiêu. Người càng có tài thì càng khổ. Những người có tài mà nhiều người thấy được sẽ bị ganh ghét. Sắc và tài là hai cái khi phát hiện ra ngoài nhiều quá thì sẽ làm người mang nó khổ. ‘Anh hoa phát tiết ra ngoài’ một trăm phần trăm thì: ‘Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.’ Căn cứ vào nhận thức đó thì lỡ mà mình đã có tài và có sắc rồi thì mình phải làm sao để giấu tài, giấu sắc của mình đi. Mặt hơi đẹp thì phải lấy lọ nghẹ hoặc bùn đất bôi lên cho bớt đẹp. Có tài thì giả bộ như mình ngu để người ta khỏi ghét. Mấy cô gái không đẹp thì các cô sợ ít. Mặt cô mà xinh thì cô sợ nhiều. Đức tin của người ta cũng có căn cứ vào sự thật xảy ra chứ không phải chỉ nghe một lý thuyết mà tin liền. Ở Đông phương chúng ta phải biết ở ẩn, phải làm như ngu, như điếc, như câm trong những lúc khó khăn thì mới sống được. Còn nếu mình nói thẳng, chứng tỏ mình là người có dũng, có tài thì mình chết rất mau. Ở Tây phương người ta cũng nói rằng nếu muốn sống hạnh phúc thì phải sống ẩn danh. Pour être heureux vivons cachés: Muốn được hạnh phúc thì phải ở ẩn đi. Chứ nếu người ta thấy mình có hạnh phúc thì người ta sẽ ghen, sẽ đập cho mình tan nát. Cho nên hạnh phúc không bao giờ nên phô trương ra cả. Mà loài người rất dại dột! Loài người không có hạnh phúc nhưng hay giả đò là mình có hạnh phúc. Có những cặp trong nhà thì lục đục đánh nhau, đi ra ngoài thì lmà như là mình có hạnh phúc nhiều lắm. Trong khi đó trí tuệ là khi có hạnh phúc thật sự thì phải giả bộ là không có hạnh phúc, che dấu đi, nếu không sẽ bị ganh tuông. Thuyết tài mệnh tương đố ở đây chỉ nói rằng có tài và có sắc thì khổ chứ không nói rõ là vì tâm lý ganh ghét của con người.



‘Có đâu thiên vị người nào. Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.’ Chúng ta thấy ở đây đã bắt đầu có sự đóng góp của con người trong khổ đau hay hạnh phúc của mình rồi. ‘Có đâu thiên vị người nào’ tức là ông Trời công minh. Trời công minh có nghĩa là con người có đóng một vai trò nào đó. Người tốt thì được cái này, người xấu thì bị cái kia. Không phải ông Trời muốn gì thì được đó. Quyết định của ông Trời phải căn cứ trên thái độ, hành vi của con người. Từ thuyết Định mệnh đi tới thuyết Nghiệp. ‘Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai’ có nghĩa là cả hai đều quan trọng.Tuy tài năng và số mệnh chống trái nhau nhưng cách sống (hành động) của con người cũng có thể đóng góp vào sự quyết định vận mạng của mình.



Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài cùng với chữ tai một vần.



Chơi chữ rất khéo. Nếu có tài mà khoe khoang và hống hách thì sẽ bị tai nạn. Chúng ta không biết những chi tiết về đời sống hàng ngày, những rủi ro và may mắn của cụ Nguyễn Du; chúng ta chỉ biết khi được lệnh phải ra làm quan dưới triều Nguyễn thì cụ làm như ngu như điếc. Trong những buổi họp nội các cụ không nói gì hết. Không khoe tài của cụ ra; trong khi Nguyễn Du là người có tài! Có một hôm vua Gia Long nói: ‘Này khanh, nhà nước dùgn người là để có thêm trí tuệ, thêm nhận thức để chính trị có thể đem thêm lợi ích cho nước cho dân. Tại sao khanh không chịu nói gì hết mà cứ ngồi im lặng như vậy?’ Lý do mà mọi người đều nói là cụ Nguyễn Du có cảm tưởng là ra làm quan với triều đình Nguyễn tức là không trrung thành với nhà Lê, giống như một người đàn bà phản bội chồng mình. ‘Trung thần bất sư nhị quân’, người thần tử trung kiên thì không bao giờ thờ hai vua cả. Đã thờ vua Lê mà lại ra thờ vua Nguyễn thì không còn trinh tiết nữa. Lâu nay dạy truyện Kiều người ta thường nói tới điều đó. Nhưng ít ai nói tới lý do thứ hai: người có tài mà hợm hĩnh, khoe khoang thì sẽ đau khổ. Có lẽ thái độ giả ngu giả điếc của cụ Nguyễn Du trong triều đình là để tự bảo vệ tấm thân của mình. Và như vậy có nghĩa là trước đó cụ đã từng đau khổ vì cụ là người có tài. ‘Chữ tài liền với chữ tai một vần’ câu thơ này có thể đến trực tiếp từ kinh nghiệm của cụ. Khi có nhận thức ‘Có tài mà cậy chi tài’ cụ Nguyễn Du đã thực tập điều đó. Có lẽ cụ cũng chưa quên được những khổ đau của mình ngày xưa do chỗ chưa biết áp dụng triết lý này cho nên bây giờ quyết định giấu tài giấu sắc của mình đi cho được an ổn.



Từ thuyết Thiên mệnh và Định mệnh chuyển sang cách sống sự khôn khéo của con người có thể làm cho cuộc sống con người bớt khổ đau. Bây giờ cụ lại nói tới thuyết Nghiệp báo:



Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.



Nghiệp báo này là do đâu? Do người hay do Trời? Không được rõ ràng lắm. Chữ nghiệp trong câu thơ này chỉ có nghĩa tiêu cực thôi. Trong khi đó chữ nghiệp (karma) trong Phật giáo có nghĩa là hành động (action.) Nghiệp tốt đưa đến quả báo tốt, nghiệp xấu đưa đến quả báo xấu. Thường thường trong văn chương ngoài đời, chữ nghiệp luôn được dùng trong nghĩa xấu. Điều này chứng tỏ trong quần chúng sự hiểu biết về giáo lý Nghiệp báo không được vững chãi. Ở Tây phương cũng vậy, karma nghĩa là ‘bad karma’ chứ không hàm chứa ‘good karma’. Bổn phận người tu là phải giải thích cho quần chúng để điều chỉnh cách sử dụng chữ nghiệp này. Nghiệp có hai loại: thiện nghiệp (kusala) và ác nghiệp (akusala). Thiện nghịêp là hành động đem lại an lạc cho mình và người trong hiện tại và trong tương lai. Ác nghiệp ngược với Thiện nghiệp. Hành động (nghiệp) phát xuất từ thân, miệng và ý gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Ba nghiệp này có thể là thiện hay ác. Nghiệp có nghiệp nhân (karma hetu) và nghiệp quả (karma phala.) Phải phân biệt nghiệp nhân và nghiệp quả, nghiệp thiện và nghiệp ác. Khi nói ‘Đã mang lấy nghiệp vào thân’ cụ Nguyễn Du hiểu rằng nghiệp là nghiệp xấu chỉ đem tới quả xấu thôi. ‘Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa’: con người đã có nghiệp trong người rồi thì đừng nói rằng tại Trời quyết đinh thế này thế kia. Câu này làm sụp đổ câu ‘Ngẫm hay muôn sự tại trời.’ Vừa mới nói: ‘Tất cả đều do Trời!’ Tư tưởng Nghiệp báo và Nhân quả của cụ Nguyễn Du vì vậy chưa được rõ ràng.



Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.



Căn là gốc rễ, Thiện căn là gốc rễ của cái thiện. ‘Thiện căn ở tại lòng ta’ nghĩa là gốc rễ cái thiện nằm ngay ở trong lòng mình chứ không ở đâu xa. ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Tâm này là tâm gì? Tâm có tâm ác, tâm thiện, tâm chánh, tâm tà. ‘Chữ tâm’ dùng trong này nghiêng về phía thiện: ‘Thiện căn ở tại lòng ta.’ Chữ Thiện căn (kusala mula) là một danh từ thuần túy Phật học; cụ Nguyễn Du đã được nghe những nhận thức của cụ chưa được hệ thống hóa. Cụ Nguyễn Du đã thấy trong lòng chúng ta có những hạt giống thiện. Chịu khó trở về vun tưới những hạt giống đó thì tâm của chúng ta sẽ thiện và ta sẽ được nhờ và vào đó rất nhiều, vì: ‘Chứ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nếu mình không có tài mà có thiện tâm thì mình vẫn có hạnh phúc và hạnh phúc hơn những người có tài mà không có thiện tâm. Đó là triết lý của cụ Nguyễn Du. Trong đoạn này chúng ta thấy chữ nghiệp được dùng theo nghĩa nghiệp xấu và chữ tâm dùng theo nghĩa thiện tâm. Cách dùng từ không được chính xác. Vì nghiệp có thể là nghiệp lành hay nghiệp dữ, tâm có thể là tâm xấu hay tâm tốt. Và nếu tâm mà xấu thì ‘chữ tâm’ đâu có thể ‘bằng ba chữ tài’ được!



Triết lý truyện Kiều cũng được phát biểu qua lời bình phẩm và tiên đoán của nhân vật Tam Hợp Đạo Cô. Sau khi Thúy Kiều đã đền ân báo oán, sư chị Giác Duyên từ giã ra đi. Kiều xin sư chị ở nán lại với mình:



Nàng rằng: ‘Thiên tải nhất thì,

‘Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.

‘Rồi đây bèo hợp mây tan,

‘Biết đâu hạc nội mấy ngàn là đâu!’



Đây là một đoạn văn xác nhận thuyết Định Mệnh:



Sư rằng: ‘Cũng chẳng mấy lâu,

‘Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.

‘Nhớ ngày hành cước phương xa

‘Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri,

‘Báo cho hội ngộ chi kỳ,

‘Năm nay là một nữa thì năm năm.

‘Mới hay tiền định chẳng lầm,

‘Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau.

‘Còn nhiều ân ái với nhau,

‘Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?’

Nàng rằng: ‘Tiền định tiên tri,

‘Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai.



Theo thuyết tiền định và định mệnh thì những gì xảy ra trong đời mình đều đã được viết trước rồi; chúng ta cứ việc đợi, đến lúc đó thì việc đó sẽ xảy ra. Nếu là người có khiếu tiên tri, nhìn cho kỹ thì có thể đoán trước cái gì sẽ đến. Tất cả đã có sẵn, đã được quyết định trước. Như vậy thì chuyện tu hành có ích lợi gì đâu! Tu hay không tu thì nó cũng đã được quyết định sẵn rồi! Tại sao phải tu? Vấn đề được đặt ra là con người có tự do hay không? Con người có thể can thiệp vào mạng lưới của Nhân Quả để thay đổi hay không? Đạo Phật trả lời như thế nào?



Hôm trước bên trung tâm Tây Tạng có người đặt câu hỏi vấn đề quyết định: làm thế nào để có một quyết định thông minh? Tôi trả lời: Trước khi mình quyết định thì sự việc đã được quyết định rồi. Mình có cảm tưởng mình có tự do quyết định, ai dè tất cả đều đã được quyết định trước! Tôi đưa ra một ví dụ: Bữa đó tôi vào trong một gian hàng Nhật Bổn để mua một vuông lụa về cột mấy cuốn kinh mới thỉnh. Họ treo một dọc dài mấy trăm tấm hình vẽ, màu sắc khác nhau. Mình đi ‘chọn’. Cô tiếp viên hỏi: ‘Thầy chọn cái nào?’ Tôi cười nói: ‘Tôi đâu có chọn. Tôi để nó chọn tôi mà!’ Cô ta ngạc nhiên. Nhưng sự thực là như vậy. Mình có cảm tưởng, ảo tưởng là mình có đầy đủ tự do, muốn chọn cái nào thì chọn; kỳ thực sự chọn lựa đã được hoàn tất từ bao giờ rồi. Khiếu thẩm mỹ của mình, giáo dục của mình, những hạt giống ông bà trao truyền, sự tu học của mình, cái thấy của mình về vẻ đẹp, cái trang nhã… tất cả những cái đó đều viết sẵn trong mình rồi. Mình trình diện ra trước những tấm khăn đó, khi đi ngang qua ‘nó’ thì mình bị ‘nó’ bắt. Cái gọi là ‘tiếng sét ái tình’ cũng vậy. Tại sao có ‘tiếng sét’ khi gặp anh đó hay cô đó mà không có tiếng sét khi gặp những người kia? Tại vì đã được quyết định trước. Con người thường có ảo tưởng là mình có tự do trong khi chọn lựa. Những người tin ở thuyết định mệnh và tiền định không có ảo tưởng nhiều về sự tự do của mình. Tôi còn nói thêm: Ví dụ có hai hoặc ba con đường chọn lựa. Mình tưởng rằng mình chọn lầm một cái thì mình sẽ khổ suốt đời: ‘Ngày xưa nếu mình chọn đi con đường kia thì mình sẽ không khổ như bây giờ!’ Giả dụ có ba anh chàng mà mình bắt buộc phải chọn làm chồng. Mình đã lớn rồi, cha mẹ buộc: ‘Mày phải chọn một trong ba đứa!’ Mình phân vân… Chọn bừa anh chàng thứ hai rồi đau khổ suốt đời. Mình nói: ‘Phải chi ngày xưa mình chọn anh chàng thứ nhất hay thứ ba thì chắc mình không đau khổ như thế này!’ Mình mà như thế thì chọn anh chàng nào mình cũng làm cho anh chàng ấy đau khổ mà thôi. Tâm mình chứa nhiều phiền não và u mê thì sống ở Mỹ cũng khổ, ở Pháp cũng khổ, mà ở Anh cũng khổ… Không phải từ trại tỵ nạn xin đi nước này hay nước khác thì mình có hạnh phúc. Mình thường nghĩ vì đã chọn con đường đó cho nên bây giờ mới có nhiều vấn đề. Biết vậy ngày xưa mình đừng đi con đường này! Đi con đường khác thì sẽ khá hơn! Đó là tự an ủi vậy mà thôi. Chỉ là đứng núi này trông núi nọ. Thấy được điều này thì mình sẽ không có ảo tưởng nhiều về cái tự do của mình.



Có nhiều người tin rằng mình không làm gì được hết. Mạng lưới nhân quả trùng trùng như vậy, quyết định hết rồi thì có vùng vẫy cách nào cũng không thể thoát ra khỏi. Mình chỉ là nạn nhân! Sống như vậy thì rất đau khổ, chịu không nổi. Cho nên có thuyết ngược lại, chủ trương rằng con người có tự do, có ý chí tự do (free will.) Đứng về phương diện triết học, con người có tự do chọn lựa hay không? Khi hành động, mình có tự do trong hành động đó không, hay những nguyên do từ quá khứ đã quyết định dùm mình rồi? Một số trong chúng ta đứng về phía tin tưởng rằng chúng ta có không gian, có tự do - nếu không thì đời sống không có ý nghĩa. Trong đạo Bụt chúng ta học về mạng lưới trùng trùng nhân quả. Chúng ta thấy tự do của mình nằm chỗ nào? Bây giờ chúng ta hãy tạm gác vấn đề lại. Hãy trở về chuyện Kiều đọc thêm một đoạn nữa. Từ câu 2653, khi sư chị từ giã sư em đi vân du và gặp lại Tam Hợp đạo cô, hỏi thêm về tương lai của nàng Kìêu:



‘Người sao hiếu nghĩa đủ đường,

‘Kiếp sao gặp những đoạn trường thế thôi?’



Đây là lời đạo cô Tam Hợp:



Sư rằng: ‘Phúc họa đạo trời,

‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.

‘Có trời mà cũng tại ta,

‘Tu là cỗi phúc tình là dây oan.



Mọi tai nạn và mọi may mắn đều do trời quyết định. Tuy nhiên: ‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.’ Lý thuyết này phù hợp với những câu chúng ta đọc ở cuối truyện Kiều. Tuy rằng trời định nhưng cỗi ngụồn lại vẫn ở trong tâm của con người. ‘Có trời mà cũng tại ta’: tức là hai yếu tố, Trời (định mệnh) và con người. Nếu đi xa hơn chúng ta có thể nghĩ Trời là cộng nghiệp và ta là biệt nghiệp. Cái gì xảy ra không phải chỉ do cá nhân và biệt nghiệp ta làm ra mà cũng do cộng nghiệp làm ra. Ví dụ ngồi trên máy bay đều có thể chết, đó là cộng nghiệp. Nếu có một người thoát được, không chết mà chỉ bị thương sơ sơ, đó là biệt nghiệp. Biệt nghiệp trong cộng nghiệp. Chữ ‘trời’ ở đây có thể được hiểu là cộng nghiệp (collective karma) và ‘ta’ ở đây là biệt nghiệp individuel karma. Ta đang cùng ngồi ở Làng Mai. Chúng ta có cộng nghiệp Làng Mai do đó mới ngồi chung. Nhưng trong khi ngồi đây, cảm giác của chúng ta có khác. Người thì thanh thoát nhiều hơn, người thi lo lắng nhiều hơn. Đó gọi là biệt nghiệp. Không phải ngồi chung một chỗ mà ta có cảm tưởng giống nhau.



‘Phúc họa đạo trời’ là thuyết Định mệnh (determinism). ‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra’ đó là thuyết do tâm tạo. Con người cũng đóng được một vai trò nào đó, mấy chục phần trăm. ‘Có trời mà cũng tại ta’ là tiền đề để đi đến kết luận: ‘Tu là cỗi phúc tình là dây oan.’ Ta có thể làm gì? Ta có thể tu, làm nhẹ đi nghiệp của ta và đem lại một ít hạnh phúc. Còn nếu ta không tu, cứ để cho sợi dây tình cảm kéo buộc thì ta tọa cho mình những oan nghiệp đau khổ.



Và đây là lời phán quyết của ‘bác sĩ tâm lý trị liệu’ Tam Hợp Đạo Cô phân tích tâm lý Kiều:



‘Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,

Vô duyên là phận hồng nhan đã dành.



Tuy có thông minh, tài năng và sắc đẹp nhưng Kiều không có điều kiện hạnh phúc. Đáng lý sắc sảo khôn ngoan thì phải thành công trong cuộc đời và hạnh phúc chứ! Nhưng vì không có cái căn bản là những thiện duyên cho hạnh phúc nên Kiều phải đau khổ. Cái nghiệp của Kiều là vô duyên. Điều này đã được viết trước rồi. Nhưng nếu chỉ như vậy thì chưa đến nỗi gì cho lắm. Vì những cái này nữa nên mới khổ thêm.



‘Lại mang lấy một chữ tình,

‘Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong.

‘Vậy nên những chốn thong dong,

‘Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.

‘Ma đưa lối quỷ dẫn đàng,

‘Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.



Ở những chỗ đáng lý mình được tự do, thong dong mà mình vẫn ngồi không yên, đi không vững. Những con ma sầu não, ma quá khứ, ma tương lai, ma hờn giận từ bên trong hiện ra để kéo mình đi. Tuy cùng đi thiền hành với những người khác nhưng kỳ thực mình không đi cùng một hướng, mình bị những ma quỷ đưa về những nẻo tối tăm. Và vì ma quỷ đưa về những nẻo đó cho nên mình gặp những tai nạn chớ có gì đâu!



‘Hết nạn ấy đến nạn kia,

‘Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần,

‘Trong vòng giáo dựng gươm trần,

‘Kề răng hùm sói gởi thân tôi đòi.

‘Giữa dòng nước dẫy sóng dồi,

‘Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh.

‘Oan kia theo mãi với tình,

‘Một mình mình biết một mình mình hay.

‘Làm cho sống đọa thác đày,

‘Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!’



Đạo cô nói rằng Kiều sẽ khổ suốt đời. Đó là một lời kết án. Án này không phải chỉ do Định mệnh tuyên đọc. Trời định như vậy nhưng Thúy Kiều đã không tranh đấu được. Chưa biết nắm lấy tâm mình để tìm một nẻo thoát. Cứ bị ‘những sợi dây tình vướng víu kéo đi234, vì vậy trước sau gì cũng đi tới chỗ tự tử ở sông Tiền Đường. Tuy là một nhà tiên tri nhưng Tam Hợp đạo cô đã không nói rằng tất cả đều do những điều kiện khách quan, cộng nghiệp (Trời.) Tam Hợp nói: ‘Có trời mà cũng tại ta.’ Biệt nghiệp của Thúy Kiều cũng góp phần vào hạnh phúc khổ đau của cô. Thúy Kiều tự buộc mình vào những tình cảm giận hờn, những nhận thức và ước muốn của mình. Và chính những con ma, những con quỷ đó kéo Thúy Kiều đi về nẻo tai nạn, rốt cuộc cô phải tự tử ở sông Tiền Đường. Tam Hợp nói tới hai điều: một là tiền định và hai là cách hành xử của Thúy Kiều. Không tìm ra nẻo thoát cho mình mà cứ đi theo con đường của ma quái.



Giác Duyên nghe nói rụng rời:

‘Một đời nàng nhé thương ôi còn gì!’



Sau đây là lời của Đạo Cô, chúng ta hãy nghe với nhận thức khách quan của mình chứ đừng bị Đạo Cô ảnh hưởng: Đạo Cô có thể lầm, cụ Nguyễn Du cũng có thể lầm.



Sư rằng: ‘Song chẳng hề chi,

‘Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.



- ‘Trong thời gian lần lần và đi vào nẻo ma quỷ Kiều cũng có làm một vài thiện nghiệp có thể đưa tới chỗ giải thoát nghiệp cũ và đi vào một nghiệp mới tốt đẹp hơn’. Đạo cô bây giờ không làm phận sự của một bác sĩ tâm lý nữa là quay sang làm trạng sư bào chữa cho Thúy Kiều:



‘Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,

‘Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.



Đó là một điểm son của Thúy Kiều. Tuy vướng vào tình ái nhưng thoát được tà dâm. Không để Kim Trọng làm cho phạm giới thứ ba.



‘Lấy mình thâm trả nghĩa thâm,

‘Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!



Đó là hành động tốt thứ hai. Hy sinh cuộc đời một cô gái khuê các, bán mình chuộc cha. Đó là hành động có thể làm cảm động cả Trời. Trời đã cảm động nhưng vẫn để cho Kiều khổ mười lăm năm như thường! Ông Trời cũng sắt đá thiệt! Thấy ông trời như vậy mình không phục. Ông trời có thể là dễ chịu hơn! Những lý luận của Đạo Cô, chấp nhận hay không là do mình. Họ có một lý thuyết, họ lý luận để chứng minh lý thuyết của họ. Nhưng chứng minh đó hợp lý hay không là chuyện khác.



‘Hại một người cứu muôn người,

‘Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.



Nói chuyện giặc giã tàn sát sinh linh và Kiều lừa cho Từ Hải chết để cứu sinh linh. ‘Hại một người cứu muôn người.’ Chuyện này rất giả tạo. Cô Kiều có bao giờ muốn giết chồng đâu! Chúng ta phải thấy điều này. Tam Hợp Đạo Cô nói không đúng sự thật. Cụ Nguyễn Du không thấy điều đó hoặc đã thấy nhưng vì sơ sót nên cứ lập lại như thường. Khi khuyên Từ Hải về hàng, Kiều nói: ‘Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào’, ‘Đống xương Vô-định đã cao bằng đầu’ - 'Được làm vua thua làm giặc.’ Thôi anh đừng tiếp tục gây nạn binh đao nữa, không để tiếng tốt mà người ta chết nhiều tội lắm! Anh về quy thuận triều đình đi. Anh được làm quan lớn mà em cũng được cơ hội đoàn tụ gia đình.’ Nói những câu đó là ‘Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.’ Câu này đúng. Nhưng ‘Hại một người cứu muôn người.’ Thì không đúng. Ở câu 2550, Kiều nói thật:



Rằng: ‘Từ là đấng anh hùng,

‘Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi.

‘Tin tôi nên quá nghe lời,

‘Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.

‘Ngỡ là phu quý phụ vinh,

‘Ai ngờ một phút tan tành thịt xương.

‘Năm năm trời bể ngang tàng,

‘Dẫn mình đi bỏ chiến trường như không.

‘Khéo khuyên kể lấy làm công,

‘Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.



- ‘Đừng nói là tôi có công! Nói tôi có công là tôi đau khổ lắm!’ Kiều nói rất đúng, rất hay. Nhưng hai câu này thì lại không đúng, không hay gì hết:



‘Xét mình công ít tội nhiều,

‘Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!



Công nhận rằng mình có công, dù là công ít. Không đúng. Công gì? Công giết (oan) chồng hay công gì? Trước khi gieo mình xuóng sông Tiền Đường (từ câu 2629, Kiều than: ‘Giết chồng mà lại lấy chồng. Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời?’ ‘Giết chồng’ ở đây không phải là cố ý giết. Cố vấn cho anh chàng nhưng cố vấn không hay nên anh chàng bị giết. Cái mặc cảm ‘giết chồng’ này có thể chấp nhận được.



Chủ trương của Thanh Tâm Tài Nhân (tác giả nguyên lục), cũng là chủ trương của cụ Nguyễn Du, là Kiều có hai nghiệp: một nghiệp xấu và một nghiệp tốt. Con sông Tiền Đường là ranh giới giữa mười lăm năm khổ đau và quãng đời hạnh phúc sau này. Làm nền tảng cho mười lăm năm khổ đau đó có Thiên mệnh, những vốn liếng từ quá khứ, ông bà và kiếp trước đi xuống. Vốn liếng của Thúy Kiều còn có tài, sắc, tình (vướng mắc) và tâm (thiện tâm.) tài sắc và tình, ba cái làm lưng tựa cho mười lăm năm khổ đau (theo lý thuyết của Nguyễn Du.) Nhưng cái tâm tốt đồng thời cũng tạo ra được vài thiện nghiệp (giữ giới không tà dâm, bán mình cứu cha và ‘giết’ Từ Hải để cứu muôn dân khỏi nạn can qua.) Nhờ tâm giữ giới, tâm hiếu và tâm từ bi này mà thiện nghiêp tạo ra được giai đoạn thứ hai của đời Kiều, giai đoạn tu hành với sư chị và chuyển hóa được cho gia đình. Đó là phân tích của cụ Nguyễn Du và của Đạo Cô Tam Hợp. Đạo Cô Tam Hợp và lý thuyết gia mà tác giả nguyên lục và cụ Nguyễn Du đã đi theo. Tuy mỗi tác giả có thay đổi đôi chút trong khi trình bày cuộc đời Thúy Kiều nhưng đại khái thì cả hai vẫn đi theo cách phân tích của Đạo Cô Tam Hợp.



Thuyết âm dương ‘âm cực dương hồi’ sẵn có của Đông phương cùng đã được nói tới. Âm là negative energy. Đau khổ (âm cực) khi tới chỗ cùng cực thì hạnh phúc được sinh ra (dương hồi). Âm cực của cuộc đời Thúy Kiều là khi tới sông Tiền Đường.



Chúng ta cũng thấy lý thuyết nhân quả trong truyện. Tuy có nghiệp quá khứ hay Thiên định nhưng không phải là cái khối nghiệp của quá khứ và của tiền định đó chịu trách nhiệm hoàn toàn về mười lăm năm đau khổ. Thúy Kiều cũng có trách nhiệm. Tài, sắc và tình của cô ràng buộc, làm cho cô cứ đi theo riu ríu mà không mở ra được con đường máu thoát khỏi vòng vây. Điều đó được cực tả trong câu ‘Ma đưa lối quỷ dẫn đàng. Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.’ Cố nhiên khi bước vào những chốn như thanh lâu hay quân đội thì mình bị kéo theo, đau khổ đã đành rồi. Nhưng khi được bước vào những hoàn cảnh thanh thản như ở chùa mà mình vẫn không an lạc. Không có khả năng an lạc. Bởi vì mình vẫn khư khư giữ lấy ba cái tài, sắc, tình và không nắm vững được cái tâm tu học để chuyển hóa, thoát khỏi vòng vây. Thay vì đau khổ có thể chỉ là mười năm mà lại kéo tới mười lăm năm. Mười lăm năm đó là thiên mệnh tạo ra mà cũng do Thúy Kiều, một phần nào đó, tạo ra. ‘Có trời mà cũng tại ta, Tu là cỗi phúc tình là dây oan.’ Thúy Kiều tu được ba chuyện còn bao nhiêu chuyện khác đều là tình hết. Nhưng nhờ có tu ba chuỵện, nên mới tạo được giai đoạn sau.



Chúng ta đọc truyện Kiều. Chúng ta thấy Giác Duyên là một yếu tố rất đặc biệt đưa tới sự chuyển hóa của đời Kiều. Ai đưa giác Duyên tới cho Thúy Kiều? Kiều đi tìm mới gặp Giác Duyên hay gặp Giác Duyên là một điều tiền định đã có sẵn? Giác Duyên là những điều kiện để bừng tỉnh. Giác Duyên không phải chỉ là một con người. Giác Duyên là tất cả những điều kiện có tác dụng làm cho mình thức dậy, biết rằng mình đang làm cái đó, đang đi con đường của ma quỷ. Những điều kiện có tác dụng làm cho mình thức dậy, biết rằng mình đang làm cái đó, đang đi con đường của ma quỷ. Những điều kiện đó do ai tạo ra? Cách đây hai ngàn sáu trăm năm có một người ngồi dưới gốc cây Bồ Đề và đã giác ngộ, người đó đã truyền lại cho nhân loại những tia sáng của chánh niệm. Một tia hào quang đã được phóng về hai ngàn năm trăm năm sau cho Thúy Kiều. Người mang hào quang đó là một sư cô. Tia hào quang phóng từ cội bồ đề là một trong những yếu tố khiến cho Thúy Kiều có thể chuyển hóa được vận mệnh của mình. Nhưng những điều kiện để được bừng tỉnh có thể là bất cứ điều kiện nào. Ví dụ như những khổ đau cùng cực của Thúy Kiều. Khi mình thấy mình khổ nhiều quá thì tự nhiên mình có thể bừng tỉnh được. Có những người khổ mà không bừng tỉnh được, nhưng có những người khổ bừng tỉnh được. Không phải ánh sáng giác ngộ từ cây Bồ Đề là điều kiện duy nhất giúp mình bừng tỉnh. Những đau khổ, trui luyện trong vòng trầm luân cũng có thể giúp mình tỉnh dậy… Nếu không có kinh nghiệm trực tiếp từ những đau khổ đó thì ánh sáng kia có thể không đủ để làm mình tỉnh dậy. Phải khốn khổ mới học hiểu được. Có những người sinh ra là tự nhiên biết, gọi là sinh nhi trí. Có những người phải học mới biết, đó là khổ nhi trí. Phải cùng khốn thì mới hiểu được. Đó là một trong những điều kiện để bừng tỉnh. Giác Duyên là một người tượng trưng cho những điều kiện đó đến với Kiều. Giác Duyên nằm ở chỗ nào? Ví dụ một cô thiếu nữ nói rằng: ‘Con không lấy chồng. Ba anh chàng mà ba má đề nghị con không thể chấp nhận anh nào cả vì con nghĩ rằng con sẽ không có hạnh phúc với ai. Con đi tu. Con đề nghị một giải pháp thứ tư.’ Theo nguyên tắc thì giải pháp thứ tư cũng vậy thôi. Dầu anh chọn người thứ tư hay thứ ba nhưng nếu con người anh cứ như vậy thì anh cũng vẫn đau khổ. Anh đi tu anh cũng có thể đau khổ như thường. Phải vậy không? Nhưng khi đi tu thì anh có một điều kiện mới mà giải pháp một, hai, ba không có. Tuy anh vẫn còn y nguyên là con người của anh, nhưng khi đi tu anh được đặt vào một khung cảnh khác, mà anh không có khi anh cưới người thứ nhất, thứ hai hay thứ ba. Anh sống với tăng thân. Tăng thân không phải là một môi trường có thể gọi là Giác Duyên, tức là những điều kiện để cho mình tỉnh thức. Nếu bốn cái giống hệt như nhau và anh quyết định với những nội kết của anh thì anh có thể vẫn đau khổ như nhau. Nhưng trong trường hợp thứ tư anh có Giác Duyên, một tia sáng của Bụt chiếu tới từ hai ngàn năm trăm năm trước cho nên anh có cơ hội để thoát. Tự do và giải thoát nằm ở chỗ Giác Duyên. Nếu chúng ta thoát được màng lưới của nghiệp báo, đó là nhờ những tia hào quang phóng tới từ những người giải thoát.



Thuyết định mệnh chúng ta có thể thấy trong ba lĩnh vực:



Lĩnh vực thứ nhất là đời sống thông thường. Trong đời sống thông thường, chúng ta đặt câu hỏi: Có định mệnh hay không? Ta có nên vâng theo hay không? Nếu vâng theo thuyết Định mệnh thì chúng ta thấy rã rời, không có không gian thênh thang. Và nếu còn trẻ, chúng ta muốn phấn đấu, chống lại định mệnh. Vì vậy có hai phe: một phe định mệnh và một phe chống lại định mệnh.



Lĩnh vực thứ hai là trong phạm vi khoa học. Trong phạm vi khoa học chữ déterminisme có nghĩa rất rõ ràng là nếu cùng những điều kiện như vậy thì thế nào cũng đi tới những kết quả như vậy. Ví dụ làm đậu hũ mà đúng theo những phương thức a, b, c, d thì thế nào cũng có đâu hũ để ăn. Nhưng thỉnh thoảng không biết tại sao chúng ta làm giống hệt như vậy mà đậu hũ lại ra hơi khác. Trong lĩnh vực khoa học, nhất là lĩnh vực khoa học nguyên tử (mécanique quantique) chuyện này xảy ra rất thường. Tất cả điều kiện hội đủ mà kết quả lại khác. Luật xác xuất (la loi de la probabilité) cũng do khoa học tìm ra (cố nhiên đạo học cũng đã tìm ra) cho phép những kẽ hở. Kết quẩ có thể xảy dra khác mặc dầu có những điều kiện. Trong khi những nhà bác học nguyên tử quán sát những vật thể li ti, chất điểm hay điện tử, họ dùng trí tuệ và nhận thức của mình để quán chiếu và ảnh hưởng được đối tượng của sự nghiên cứu. Có sự tham dự của tâm con người vào thì sự thực có thể biến dạng đi. Khi cần nhìn vào một vật thể li ti để quán sát người ta cần phải chiếu ánh sáng vào. Vật thể vi tế là một loại năng lượng, ánh sáng cũng là một loại năng lượng. Khi ánh sáng chiếu vào thì vật thể đó đã thay đổi rồi. Tâm thức cũng là năng lượng.Khi dùng tâm để quán chiếu vào điện tử thì trong bản chất của điện tử cũng có sự thay đổi. Tâm của nhà khoa học có ảnh hưởng tới sự thật gọi là khách quan của thế giới nguyên tử vật chất. Vì vậy luật xác suất tới bổ túc cho luật định mệnh nói kết quả như nhau. Điều này đã được chứng minh bằng khoa học. Tâm của Bụt, tâm của chúng ta đang có mặt và đang ảnh hưởng tới thế giới vật chất, thế giới xã hội, thế giới nhân quả. Yếu tố của tâm là một yếu tố có thể can thiệp vào hoàn cảnh, về vật chất cũng như về kinh tế, xã hội.



Đứng về phương diện của những định luật tâm lý mà xét, chúng ta thấy rằng khi những hạt giống của si mê, giận hờn, ganh tị, khi những nội kết cũ… có mặt, chúng ta sẽ phản ứng như thế này hay thế kia. Chúng ta có thể tiên đoán trước phần nào căn cứ theo thuyết định mệnh. Ví dụ chúng ta nói: Nếu mình gởi anh này vào buổi họp, thì khi những người khác nói ra sự thật này anh ta sẽ phản ứng như thế, chắc chắn như vậy, không thể sai được. Vì tâm của anh ta đang có những tâm hành này, tâm hành kia nên mình tiên đoán anh ta sẽ phản ứng như thế, không sai. Đó là mình theo thuyết Định Mệnh. Căn cứ trên sự thật là trong buổi họp mà có những người nói như vậy là anh ta đều phản ứng như thế. Một trăm lần đều xảy ra như một. Quyết định không cho anh ta vào buổi họp là hành động theo đức tin của mình về thuyết định mệnh và mình thấy không có tự do gì trong con người của anh ta hết. Nhưng Giác Duyên ở đâu? Giác Duyên nói: ‘ Hôm nay anh đi với tôi và anh sẽ cầm tay tôi trong suốt buổi họp. Khi nào tôi bấm tay anh một cái là anh không nói gì hết.’ Tất cả mọi người đều sửng sốt vì anh chàng tự nhiên xuất hiện trong buổi họp. Nhưng quan sát viên hôm đó rất lấy làm lạ là tại sao buổi họp đã xong rồi mà anh không nổi điên. Đâu biết rằng có một nguyên do ẩn dấu là bàn tay anh ta đang được sư Giác Duyên nắm. Mỗi lần biết anh này sắp phản ứng thì sư Giác Duyên lại nắm chặt bàn tay anh lại và anh ta ngồi yên. Đó là yếu tố Giác Duyên, chỉ có tăng thân mới tạo ra được và sẽ giúp được anh chàng thay đổi, nhờ sự có mặt của Giác Duyên. Giác Duyên là điều kiện của sự tỉnh thức. Chánh niệm của anh ta rất yếu. Dù là được học một năm hay một năm rưỡi rồi nhưng những lúc như vậy anh ta vãn không có khả năng nắm lấy chánh niệm và cứ phản ứng một cách rất là… ‘tự nhiên’ Anh dã được hướng dẫn rằng mỗi khi gặp trường hợp như vậy thì phải nắm lấy hơi thở. Anh cũng cố gắng thực tập nhưng chất lượng của những hạt giống kia nặng quá. Anh ta biết rằng những lúc đó thở được thì rất hay, nhưng lúc đó tại sao anh ta không nhớ và không thở! Vì vậy ta mới cần phải có Giác Duyên. Giác Duyên cần phải đưa ta đi một đoạn đường thì ta mới có thể tự mình di được. Sau mỗi lần anh ta phản ứng, ta hay nói: ‘Tôi đã dặn anh là những lúc như vậy thì phải thở mà tại sao anh không thở?; Anh ta trả lời: ‘Tại vì lúc đó sự kiện xảy ra mau như chớp nhoáng, tôi không làm gì được hết!’ Có nhớ thở mình thở cũng không được!’ Nếu chúng ta buông xuôi, chịu thua thì anh ta không bao giờ có cơ hội. Ta phải đóng cho hay vai trò của Giác Duyên. Có nhiều cơ hội. Ta có thể nắm bàn tay anh, hướng dẫn anh. Ban đầu anh ta ngưng được không phải là do tự điều phục bằng hơi thở mà nhờ có một lời giao ước với mình là khi nào mình xiết chặt tay anh thì anh dừng lại.



Sự xuất hiện của Giác Duyên trong đời Thúy Kiều là sự xuất hiện của Bụt. Và cũng nhờ Thúy Kiều đã đau khổ, chạm đến đáy vực thẳm cho nên cái nắm tay của Giác Duyên càng có hiệu nghiệm. Truyện Kiều không nói rõ điều đó. Sự chuyển nghiệp là do công phu tu tập và do tăng thân, do sự hướng dẫn chứ không phải là do chỉ làm ra được ba việc mà Tam Hợp viện dẫn (không để Kim Trọng lấn tới, bán mình và giết Từ Hải.) Trạng sư Tam Hợp nói sở dĩ Thúy Kiều thoát được nghiệp xấu là nhờ có ba thiện căn đó. Chúng ta thấy lý do không đầy đủ. Nói rằng ‘Bán mình đã động hiếu tâm đến trời’ tại sao Trời lại để cho tiếp tục khổ trdong mười lăm năm? Lý luận này không xác đáng. Nói Thúy Kiều giết Từ Hải để cứu người, đó là hoàn toàn giả tạo, không đúng. Vậy thì tại sao có sự chuyển hóa? Có sự chuyển hóa là vì có những điều kiện giúp mình tỉnh thức và tu tập. Sự tu tập với Giác Duyên trước và sau khi tự tử đưa tới sự chuyển hóa của Thúy Kiều sau này.

Theo "Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán" của Nhất Hạnh




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»