KHÔNG KHÍ TIỂU THUYẾT QUỲNH DAO
Hồi 1
Hồi 1
Nguồn: blviet.com
Khi Quỳnh Dao viết những truyện ngắn đầu tiên, bà mới có mười sáu tuổi. Mười năm sau, hăm sáu tuổi, bà trở thành một nhà văn nổi tiếng, thu hút một số độc giả có thể gọi là phi thường. Cũng từ đó, viết văn trở thành một sinh kế của bà. Cái quá trình mười năm đó được kể lại trong phần mở đầu cuốn Hạnh Vân Thảo, do tạp chí Hoàng Quan xuất bản năm Dân Quốc thứ 53 (1964). Tác phẩm này được tái bản mười lăm lần.
Như vậy, sự thành công của Quỳnh Dao thật ra không phải là một sự thành công đột ngột. Bà đã trải qua những năm dài lận đận, khổ cực, khi tên tuổi còn ở trong bóng tối, chưa ai biết tới. Giai đoạn đầy gian nan này thường được chính bà ôn lại sau này. Ðây, Quỳnh Dao đã bùi ngùi kể lại cho chúng tôi nghe:
“Ba năm trước đây, cô dọn tới Cao Hùng thị, ở trong một gian nhà giản lậu của chính phủ. Thằng con cô mới được hơn một năm. Lúc đó, là lúc cô vô cùng quẫn bách, có bữa, trong nhà không có lấy một thưng gạo. Cô phải đi vay mượn ở quanh xóm, để hai mẹ con sống hẩm hút với nhau cho qua ngày. Tiền đâu mà thuê nổi người giúp việc, cô phảI tự tay làm hết các việc bếp núc và chăm bẫm con. Như vậy cô chỉ đợi lúc nào thằng nhỏ ngủ, mới được ngồi vào bàn viết. Sự làm việc quá độ làm cho cô gầy yếu, mệt mỏi. Ấy thế mà, nhiều đêm, thức giấc, cô rón rén bò ra khỏi giường, lấy giấy báo che bớt ngọn đèn, để cho con ngủ yên, rồi viết cho tới khi sáng bạch. Về mùa đông, giá lạnh, chân tay đều cóng rét, mùa hạ thì nóng bức và muỗi đốt. Ấy thế mà, trong cái cảnh nghèo nàn, thiếu thốn cực nhọc đó, cô đã viết được ba tác phẩm: Lục Cá Mộng, Song Ngoại, và Yên Vũ Mông Mông.”
“Có một hôm, nhân đứa con ngoan ngoãn không khóc quấy, cô đưa cho nó một cây bút, để nó nghịch, khỏi vòi và để yên cho cô làm việc. Khi tả xong một chương tiểu thuyết, cô quay lại, thì thấy con đã vẽ bậy lên những tờ cảo cô vừa viết, trong đó, một số cũng đã bị vò nát hay xé rách bươm. Cô cáu quá, đánh nó, nó khóc thét lên, vì nó có hiểu đâu tại sao nó phải đòn. Cô hối, ôm lấy nó, rồi cả hai mẹ con cùng òa lên khóc ròng.”
Như vậy, có thể nói, chỉ cho đến khi tác phẩm Song Ngoại ra đời, Quỳnh Dao mới thực sự được độc giả chú ý tới, và đến tác phẩm Thố Ty Hoa, thì bà mới thực sự bước lên hàng đầu trong số những nhà văn được độc giả ái mộ. Chính vào giai đoạn đã đặt chân lên ngưỡng cửa thành công này, bà thu thập một số truyện ngắn “viết trong vòng hai năm qua” để in thành tập Hạnh Vân Thảo. Bà cũng cho biết, về những truyện ngắn khác viết trong vòng mười năm trở lại, phần lớn không được đắc ý, và bà đã chỉ cho in chúng một cách miễn cưỡng.
Vậy, hai mươi truyện ngắn trong Hạnh Vân Thảo phần nào có thể được coi như những truyện đã được chính tác giả tuyển chọn để đưa tạp chí Hoàng Quan xuất bản, và đã được sáng tác trong khoảng 1962-1964. Người ta nhận thấy gì qua những truyện ngắn ấy?
Trước hết, nếu thời điểm nêu trên thực sự chính xác, cái không khí tiểu thuyết trong giai đoạn 1962-1964 này của Quỳnh Dao chính là cái không khí được chuẩn bị để chi phối nội dung những tác phẩm trong giai đoạn từ 1964 về sau, tức là giai đoạn mà Quỳnh Dao thực sự bước vài “nghề viết văn”. Thật thế, ngay từ những truyện ngắn nói trên, người đọc đã có thể bắt gặp Quỳnh Dao khai thác một số đề tài về sau sẽ trở thành quen thuộc, xây dựng một số bối cảnh gần như sẽ trở thành cố định, và chọn lấy một bút pháp thích hợp nhất để thể hiện một đường hướng sáng tác rõ rệt, cái đường hướng mà, như chúng ta đã biết, sẽ đưa bà đến bước thành công. Những truyện ngắn nói trên chẳng khác nào những tiếng gõ cửa, rụt rè, rồi dần dần mỗi lúc một mạnh dạn hơn, trên cánh cửa khép hờ của một tòa nhà bí mật. Vài năm sau, chính Quỳnh Dao sẽ tự tay mở cánh cửa đó.
Nhưng trước hết, hãy trở lại với Quỳnh Dao của Hạnh Vân Thảo. Quỳnh Dao đóng vai trò của một cô gái mang tên Ðường Tâm Văn, ngơ ngác trước cánh cổng ngôi biệt thự mang tên Tầm Mộng Viên (Vườn Mộng). Tâm Văn sẽ bước vào trong ngôi biệt thự ấy, và trong đó, nàng sẽ thấy mình bỗng dưng thuộc về một thế giới mới mẻ, hoàn toàn mới mẻ một thế giới gồm đủ kỳ hoa dị thảo, một thế giới của thù hận và của tình yêu, của kỷ niệm và của mơ ước. Chúng ta nhận thấy Quỳnh Dao xử dụng ở đây một kỹ thuật cổ điển. Bà thắt một cái gút cho câu chuyện bằng cách tạo nên một không khí đầy bí mật, đôi chút ma quái - với một vài chi tiết tương cận rõ rệt với không khí của Wuthering Heights (Ðỉnh Gió Hú) - rồi bà mở cái gút đó bằng một kết thúc êm đẹp, thỏa đáng. Cũng kỹ thuật này, sẽ được xử dụng vài năm sau, với sự khai thác chu đáo hơn, tinh tế hơn. Một Ðường Tâm Văn khác sẽ lạc vào thế giới của một Tầm Mộng Viên khác, nhưng dưới cái tên Mẫn Ức My (trong Thố Ty Hoa). Và cái hình ảnh mơ hồ, xa xôi được nhắc tới của người đàn bà yếu đuối, mảnh mai Từ Mộng Hoa sẽ được hiện thực hóa bằng hình ảnh mong manh, tha thướt, đầy thơ mộng của người thiếu phụ mang tên Nhã Trúc. Từ Tầm Mộng Viên đến Thố Ty Hoa, ngườI ta có thể ghi nhận một bước tiến rõ rệt của kỹ thuật bố cục và kết cấu tác phẩm của Quỳnh Dao: bà đã tự nhìn ra sở trường của mình và bà đã tìm ra phương cách thích ứng để khai thác cái sở trường đó. Bước tiến này cũng có thể còn được minh chứng qua sự đối chiếu giữa Phong Tranh và Hôn Sự, rồi Vân Phi Hoa Hạ.
Trong Hạnh Vân Thảo, có lẽ chúng ta nên chú ý đến truyện ngắn Mê Thất. Ðây là một trong những đoản thiên có kết cấu tương đối mới lạ nhất của Quỳnh Dao, không những trong giai đoạn 1962-1964, mà còn trong cả những năm sau này. Với Mê Thất, Quỳnh Dao không đặt nặng vấn đề xử dụng cái kỹ thuật đang được trắc nghiệm với mục đích khai thác đề tài mà bà lựa chọn: tình yêu. Người ta nhận thấy bà nghiêng nhiều sang cái kỹ thuật dung hợp giữa ấn tượng và tâm lý, thay vì thắt một cái gút bằng những chi tiết éo le rồi tìm cách mở cái gút ấy. Do đó bà có thể gọi là thành công khi trình bày ở đây sự diễn biến linh động của tâm trạng nhân vật chính, ít ra trên một khía cạnh nhỏ bé: sự chi phối của lòng tự ái trên sinh hoạt tâm lý ấy. Ở đây người ta có cảm tưởng bà chịu ít nhiều ảnh hưởng của Jane Austen; nhưng, khác hơn Jane Austen, bà đã pha trộn giữa sự tinh tế và sự tươi mát, giữa chất bi hài và chất thơ mộng để cũng khai thác một khía cạnh của cái đề tài vốn rất gần gũi với tuổi trẻ.
Tuy nhiên, điểm chúng ta vừa ghi nhận không phải là điểm chính trong toàn thể chiều hướng sáng tác của Quỳnh Dao, nhất là khi bà bước sang lãnh vực trường thiên tiểu thuyết. Không phải bà đã chuyển hướng. Ðúng ra, phải nói bà đã bắt đầu quyết định về một đường đi. Như nhân vật Ðường Tâm Văn đã từng băn khoăn “…tôi còn đang dọ dẫm tìm một đường lối… tôi mong rằng sẽ viết những điều mắt thấy tai nghe, nhưng còn quá nhiều khó khăn, có lẽ tại vì tôi ít để tâm trau dồi, và thiếu kinh nghiệm”, Quỳnh Dao cũng đã phân vân giữa những dự tính khác nhau. Nhưng khi bước sang lãnh vực trường thiên tiểu thuyết, thì bà cũng đồng thời bắt đầu nhìn thấy cánh cửa được hé mở.
Năm 1963, Song Ngoại ra đời. Sách gây nhiều phản ứng trong độc giả, đón nhận những lời phê bình nhiều khi trái ngược hẳn nhau. Nhưng chính những phản ứng ấy đã khiến người ta thật sự chú ý đến Quỳnh Dao, và đã khiến bà quyết định đi thẳng vào con đường sáng tác như một thứ “chức nghiệp”. Chúng ta sẽ thấy Song Ngoại mở đường cho một loạt tác phẩm tiếp theo. Năm 1964 sẽ là năm quan trọng đối với tác giả.
Song Ngoại kể lại mối tình của một cô bé nữ sinh và một giáo sư đứng tuổi. Mối tình gặp đủ mọi trở ngại: dư luận, gia đình cô gái…v.v… và cuối cùng đi đến chia cách. Cô gái lấy chồng nhưng rồi cuộc hôn nhân cũng trở thành địa ngục. Trở lại tìm người tình cũ và hoàn toàn thất vọng vì sự thay đổi trụy lạc của chàng, nàng bỏ đi về một phương trời vô định nào đó.
Song Ngoại, nhìn một cách đại cương, chỉ là tác phẩm khai thác một số chủ đề cổ điển:
Cuộc tình ngang trái (chênh lệch tuổi tác, hoàn cảnh…
Sự xung đột giữa hai thế hệ: cha mẹ và con cái
Cuộc hôn nhân thất bại.
Sự tan vỡ những ảo vọng thời tuổi trẻ…
Ðề tài là như vậy, còn bút pháp được xử dụng trong Song Ngoại cũng chẳng phải là một bút pháp quá độc đáo, quá mới mẻ, đến độ gây ngạc nhiên cho độc giả. Có thể nói ngược lại, đó chỉ là một bút pháp bình thường, giản dị, nhẹ nhàng, đượm đôi chút thơ mộng. Nếu nói đến sự hòa hợp giữa bút pháp ấy và đề tài kia, thì người ta có cảm tưởng sự hòa hợp đó đúng ra khó mà đưa Quỳnh Dao đến mức thành công vượt hẳn lên trên nhũng nhà văn khác, trong cuộc chạy đua sáng tác gay go và bất tuyệt của sinh hoạt văn chương hiện đại.
Vậy mà bà đã thành công. Tất phải có những lý do khác, không liên quan đến yếu tố tân kỳ và độc đáo của đề tài hay của bút pháp, hoặc ngược hẳn lại những yếu tố ấy. Trong khi chờ đợi vấn đề này được trở lại cặn kẽ hơn ở một chương sau, chúng ta có thể tạm ghi nhận sự tinh tế (cùng với đôi phần may mắn) của Quỳnh Dao khi bà quyết định xử dụng ngay cái đề tài cổ điển và cái bút pháp bình dị nói trên, như một chiếc chìa khóa, để mở đúng cánh cửa dẫn đến độc giả, một tầng lớp độc giả đầu tiên của bà, với những tâm hồn tươi trẻ, mơ mộng, dễ dãi, đòi hỏi sự xúc động nhiều hơn là sự phân tích, suy nghĩ. Ðáp lại những tâm hồn đó, một không khí tiểu thuyết thơ mộng, buồn bã, lồng vào một cốt truyện éo le, linh động hóa bởi những mẫu nhân vật quyến rũ, tất cả đã làm tròn vai trò thu hút độc giả, ít ra là trong buổi hội ngộ đầu tiên. Vấn đề còn lại là duy trì và khai triển mối cảm tình vừa chớm nở ấy, bằng những tác phẩm kế tiếp.
Lúc đó là trung tuần tháng 5 năm 1963. Quỳnh Dao khởi đầu tác phẩm thứ hai: Lục Cá Mộng, in từng kỳ trên tạp chí Hoàng Quan: “Khi đó, tôi vừa hoàn tất cuốn truyện dài đầu tay, Song Ngoại. Nhận thấy viết truyện dài đòi hỏi nhiều công phu khó nhọc, tôi nghĩ đến việc thay đổi một phương thức khác: viết một số truyện ngắn riêng rẽ, mà lại kết hợp được thành một tác phẩm vào loại trung thiên. Do đó, tôi liền thu thập chất liệu cho Lục Cá Mộng, dùng một ông cụ già kể chuyện làm nhân vật mở đường, để khai triển sáu câu truyện tình khác nhau. Trong sáu truyện này, có truyện dựa phần nào vào sự thực, có truyện hoàn toàn do trí tưởng tượng. Ðiểm tương đồng là thảy đều có chung một kết thúc bi thảm. Thời gian của tác phẩm là giai đoạn từ Dân Quốc sơ niên cho đến ngày Kháng Chiến thắng lợi. Trong khoảng thời gian viết tác phẩm này, tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, chẳng hạn như về bối cảnh thời đại cũng như về việc miêu tả cảnh sắc địa phương; mà riêng phần mình thì kinh nghiệm quá ít ỏi, nên khó tránh được những điều lầm lẫn… Tôi không hề có ý mượn sáu giấc mộng này để ám chỉ điều gì, cũng chẳng hàm ý gì đặc biệt, ngoại trừ việc thuật lại sáu câu truyện cũ, với hy vọng giúp các bạn tiêu khiển chút thời giờ nhàn rỗi, trong một buổi chiều hè hay một đêm đông cô quạnh…” Sáu giấc mộng của Quỳnh Dao lần lượt mang tên:
Á Thê
Tam Ðóa Hoa
Sinh Mệnh Ðích Tiên
Mộng Ảnh Tàn Ngân
Quy Nhân Ký
Lưu Vong Khúc
Và một truyện “phụ lục” mang tên Truy Tầm, mà Quỳnh Dao giải thích rằng thoạt đầu cũng là một trong Sáu Giấc Mộng, bị tách ra đem in trên báo Liên Hiệp, tuy nhiên thể cách cũng như đề tài vẫn là thuần nhất đối với tác phẩm. Nếu Song Ngoại thật ra cũng chỉ là một giấc mộng dài đã mang thành công đến cho tác giả, một giấc mộng vô hình chung hướng dẫn cuộc đời cô học trò Giang Nhạn Dung và người thầy học Khang Nam, để đi đến kết thúc ngỡ ngàng, buồn thảm; thì sáu giấc mộng của Lục Cá Mộng lại một lần nữa thu hút số đông độc giả, cũng chẳng phải là điều đáng ngạc nhiên. Ngoại trừ Lưu Vong Khúc bi đát và kinh hoàng như một cơn ác mộng, sáu giấc mộng còn lại, kể cả Truy Tầm, đều là những giấc mơ đẹp và buồn. Quỳnh Dao, khi viết Lục Cá Mộng, có lẽ đã quyết định thực hiện cái ý định mà bà trình bày trong lời tựa, nghĩa là đạt tới một điểm đồng nhất cho toàn thể tác phẩm: kết thúc như một bi kịch. Bà cố gắng tìm sự giải thích bằng những ngẫu nhiên khả hữu, nhưng những ngẫu nhiên ấy đôi lúc làm cho sự kết cấu trở thành quá mơ hồ, quá đột ngột, chẳng hạn như cuộc ra đi vô vọng của Niệm Thám, cái chết oan ức của Niệm Kỳ, sự điên dại của Niệm Du.
Căn nguyên của mỗi tấn bi kịch ấy là những căn nguyên khác nhau: Thói tục cổ truyền (Á Thê, Truy Tầm), thành kiến cố chấp (Tam Ðóa Hoa) v.v…; tựu trung, những yếu tố không lấy gì làm mới lạ. Nhưng trong Á Thê, có lẽ Quỳnh Dao chủ tâm khai thác những nét đẹp của lòng chung thủy, cũng như trong Tam Ðóa Hoa, bà diễn tả cái bản chất đam mê, mù quáng nhưng cũng đầy thơ mộng của mối tình đầu. Hình như chính sự khéo léo ấy mới là một trong những yếu tố thu hút độc giả, sự khéo léo như một chìa khóa kỹ thuật chủ yếu chung cho hầu hết các tác phẩm.
Trong năm 1964, ngoài Hạnh Vân Thảo, Quỳnh Dao lần lượt cho ra mắt một loạt truyện ngắn và truyện dài:
Lục Cá Mộng
Yên Vũ Mông Mông
Triều Thanh
Thố Ty Hoa
Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng
Trong Triều Thanh, đề tài nói chung không có gì đặc biệt so với những truyện ngắn khác. Hôn Sự, như chúng ta đã nói, bắt nguồn từ một ý niệm tương tự như truyện Mê và Khởi Trạm Dữ Chung Trạm xử dụng một hình ảnh biểu tượng trùng hợp, với mục đích làm nổi bật cái bản chất được đề cao của lòng chung thủy. Ðáng lưu ý là hai truyện Triều Thanh và Húc Cầm. Truyện thứ nhất dựng lên một bối cảnh khá đẹp và buồn, với tiếng sóng biển xử dụng như một thứ fond sonore, và một gút kỹ thuật khiến người ta liên tưởng đến Love Story. Truyện thứ hai có thể nói là đầy ý vị và khá mớI mẻ, trong đó nếu đốI chiếu, ngườI ta có thể nhận thấy một vài nét dường như phảng phất cuộc hôn nhân thất bạI của chính tác giả. Húc Cầm là tên một nữ văn sỹ được nhiều độc giả ái mộ, nhưng quá say mê trong thú sáng tác đến độ xao lãng việc gia đình, để ngườI chồng cảm thấy bị bỏ quên trong nỗI cô đơn, mặc dù trong thâm tâm nàng vẫn luôn luôn thương yêu chồng. Sự cô đơn đã đẩy chồng nàng vào vòng tay một cô gái, nữ độc giả của Húc Cầm, đồng thờI cũng là ngườI mà nàng yêu mến như em gái ruột thịt. Câu truyện kết thúc bằng sự bừng tỉnh đau đớn của Húc Cầm, khi nàng chấp thuận lờI đề nghị của chồng để ký giấy ly dị.
Quỳnh Dao đã xử dụng trong Húc Cầm một bút pháp khá xúc tích, cô đọng. Ðoạn tranh luận giữa Húc Cầm và Nhiễu Lâm về ảo tưởng tình yêu và ảnh hưởng của tiểu thuyết trên tâm hồn lứa tuổi mới lớn có thể kể là một đoạn có ý vị. Và sự xung đột nội tâm cũng như niềm ân hận của Húc Cầm không khỏi khiến người ta liên tưởng đến lời phát biểu dè dặt và chua chát của chính Quỳnh Dao:
“Tôi chỉ là một phụ nữ rất tầm thường, đối với cuộc hôn nhân đổ vỡ của tôi, tôi nghĩ phần lớn là do nơi tôi không thể làm tròn bổn phận một người vợ và một người mẹ gương mẫu,vì trong đời sống viết văn của tôi, thường bắt buộc tôi vùi mài ngày đêm trong việc viết lách nên không thể làm tròn trách nhiệm của một người vợ hiền. Ngoài ra, tôi nghĩ có lẽ tại vì chúng tôi không hợp tính với nhau. Dù sao, cuộc hôn nhân gãy đổ của tôi là một tấn bi kịch, ở trên phương diện này tôi không thể nói gì nhiều hơn, xin quý vị độc giả thứ lỗi cho.”
Cái chất bi kịch từ Lục Cá Mộng vẫn tiếp tục chi phối những tác phẩm kế tiếp của Quỳnh Dao. Nhưng nó không còn tạo nên một điểm tương đồng (tình cờ hay cố ý) là bi kịch tính nằm trong phần kết thúc mỗi câu chuyện nữa. Ba cuốn truyện dài: Yên Vũ Mông Mông, Thố Ty Hoa, và Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng, mỗi cuốn mang một cách kết thúc khác nhau. Ðiểm tương đồng ở đây, nếu người ta muốn tìm điểm tương đồng, vẫn là cái chất bi kịch, nhưng bi kịch như một căn nguyên, khởi đi từ thế giới dĩ vãng, để len lỏi vào (hay phủ lên) thế giới hiện tại của mỗi câu chuyện. Thế giới dĩ vãng là thế giới của Lục Chấn Hoa, Ðặng Bình Bình trong Yên Vũ Mông Mông; của La Nghị, Tú Lâm, Nhã Trúc trong Thố Ty Hoa; của Hà Mộ Thiên, Minh Viễn, Mộng Trúc trong Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng. Thế giới hiện tại là thế giới của Lục Y Bình, Hà Thư Hoàn; của Mẫn Ức My, Từ Trung Ðan, La Hạo Hạo; của Dương Nhiễu Ðồng, Ngụy Như Phong, Hà Sương Sương…
Quỳnh Dao đã tìm cách nối liền những thế giới ấy bằng những sợi dây nhiều màu sắc khác nhau. Yên Vũ Mông Mông là tấn thảm kịch giữa một số chị em cùng cha khác mẹ. Nhân vật chính trong chuyện, cô gái mang tên Lục Y Bình, sống với người mẹ bị bỏ rơi và oán trách người cha bạc bẽo. Vì thù hận, Y Bình không từ khước bất cứ hành động nào: tranh giành tình yêu với Như Bình, người em gái cùng cha khác mẹ, tố cáo những hành vi bất chánh của người dì ghẻ, xô đẩy cả một gia đình đến chỗ tan nát. Như Bình tự tử, người dì ghẻ vào tù, người cha ngã bệnh và chết trong cảnh túng quẫn. Cuối cùng, chính Thư Hoàn, người yêu của Y Bình, cũng cảm thấy bị vò xé bởi một niềm ân hận không rõ rệt, và bỏ đi ngoại quốc. Câu chuyện khép lại bằng sự cô đơn vô vọng của Y Bình.
Yên Vũ Mông Mông có thể coi như một bi kịch của tình yêu và thù hận. Suốt cuốn truyện, chỉ có hận thù đóng vai chính, hận thù chi phối tình yêu, vò xé hạnh phúc, bóp nát những ước mơ. Hận thù kéo dài, biến thành tội ác, một thứ tội ác không thành hình trên thực tế nhưng hằn sâu trong lương tâm, trở thành nỗi ám ảnh nghiệt ngã. Hận thù đã khiến cho Lục Y Bình, trong giây phút tuyệt vời nhất của mối tình đầu, chỉ có thể nghĩ được rằng mình đã thắng, đã trả được thù đối với đứa em gái cùng cha khác mẹ; và đã khiến cho Hà Thư Hoàn đã có cảm tưởng rằng chính bàn tay chàng vấy máu, và chàng phấn đấu tuyệt vọng với cái cảm tưởng ấy. Trong phần kết thúc, Quỳnh Dao cho Y Bình nhìn thấy con đường giải thoát mà Phương Du, bạn nàng, đã chọn, con đường duy nhất đưa tâm hồn đến sự bình yên. Nhưng đồng thời, Y Bình, ngay khi ngồi trong giáo đường theo dõi lễ rửa tội của Phương Du, đã tự hiểu rằng mình sẽ “không bao giờ chọn con đường Phương Du đã đi, vì không đồng ý với sự lựa chọn đó.” Câu hỏi còn lại dành cho Y Bình chỉ có thể là câu hỏi không có lời giải đáp: “Món nợ giữa chúng ta chưa thanh toán. Mối thù sẽ kéo dài đến bao giờ? Một ngày, một tháng hay một ngàn năm?”
Thố Ty Hoa, một trong những tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất của Quỳnh Dao, khác hơn Yên Vũ Mông Mông, không tự mang lấy bản chất một bi kịch, mặc dù nhận bi kịch như một căn nguyên tiềm ẩn từ những giòng chữ đầu tiên. Có lẽ câu truyện của Thố Ty Hoa cũng chỉ nên được coi như một thứ “xuân mộng”, đúng như sự hàm ý ở đoạn kết cuốn sách. Trở lại một nhận xét ở trên, người ta ghi nhận một nét thơ mộng phảng phất từ truyện ngắn Tầm Mộng Viên, nhưng đã được đem vào một kết cấu chặt chẽ hơn, tạo cho không khí truyện tính chất huyền ảo, quyến rũ.
Mẫn Ức My, một cô gái mười tám tuổi, được mẹ trước phút lâm chung gửi gắm đến gia đình một vị giáo sư địa chất học ở Ðài Bắc. Tại đây Ức My cảm thấy bị lạc vào một thế giới đầy dẫy những bí ẩn. Nàng yêu Từ Trung Ðan, môn sinh của giáo sư La Nghị, nhưng đồng thời nàng cũng bang khuâng trước tình yêu của Hạo Hạo, con trai giáo sư. Trong khi đó, Nhã Trúc, người vợ bị suy nhược thần kinh của giáo sư, và Khởi Khởi, em gái Hạo Hạo, luôn luôn tỏ lộ những thái độ đầy oán hận đối với nàng. Sau nhiều biến cố kỳ dị, cuối cùng Ức My phát giác rằng nàng chính là con gái giáo sư La Nghị. Mười mấy năm trước, gia đình cha mẹ nàng đang yên ấm bỗng bị xáo trộn vì sự hiện diện của một cô gái xa lạ do mẹ nàng đem về nuôi. Ðó là bà Nhã Trúc, người đàn bà yếu đuối, suốt đời “mang số kiếp một cánh Thố Ty Hoa.”
Người ta có cảm tưởng, với cái nhan đề rút từ ý thơ Lý Bạch, Quỳnh Dao như muốn thuật lại một giấc mơ dài, trong đó không có ai cố tình gây nên tội ác, chỉ có bàn tay vô tình và tinh quái của định mệnh đã tạo nên những oan khiên, và ngay chính những oan khiên ấy rồi cũng được cởi mở vào phút chót. Từ ý niệm ấy, tác giả đi đến một kết thúc gần như toàn mỹ, nhưng có lẽ do đó, sự sắp xếp các chi tiết cá nhân không tránh khỏi đôi chút gượng gạo: cái chết của Nhã Trúc, cuộc ra đi của Hạo Hạo, sự thay đổi của Khởi Khởi, tất cả được nối liền một cách dồn dập với nhau, và tất cả được gián tiếp giải thích bởi sự hướng dẫn của cái biểu tượng chủ yếu là cánh Thố Ty Hoa, dường như đã đưa câu chuyện vào không khí của một giấc mơ hơn là vào một thế giới thực tại khả hữu. Có lẽ chính cái không khí huyễn hoặc ấy đã thu hút độc giả, hơn là sự tinh xảo trong kỹ thuật kết cấu; bởi vì về phương diện kết cấu, người ta có cảm tưởng những yếu tố của một câu chuyện tình bị chi phối quá mức bởi những yếu tố của một câu truyện trinh thám, và sự kiện này gây nên bởi việc tác giả cố gắng nối liền thế giới dĩ vãng với thế giới hiện tại qua những điểm trùng hợp của cá tính mỗi nhân vật. Sau này tác giả còn tiếp tục sử dụng kỹ thuật nói trên trong Nguyệt Mãn Tây Lâu, và bà còn đi xa hơn nữa trong Ðình Viện Thâm Thâm. Bà muốn tạo cho người đọc một cảm giác luôn luôn căng thẳng và hoang mang để theo dõi câu chuyện, nhưng điều này đôi lúc không mấy cần thiết, thứ nhất vì sự lập đi lập lại cái kỹ thuật ấy khiến cho “tấm màn đen kỹ thuật” trở thành mất dần bí mật khi độc giả đã quen với tính chất bí mật đó; thứ hai vì sự quyến rũ của không khí tác phẩm thật ra không nằm trong tính chất bí mật, căng thẳng (vốn chẳng phải sở trường của Quỳnh Dao) mà là trong tính chất thơ mộng, lãng mạn. Hình như bà khó dứt ra khỏi vùng ảnh hưởng của Wuthering Heights, và khi bà muốn làm mới cái không khí huyền bí đó, thì bà lại rơi vào sự chi phối của kịch tính (hay điện ảnh) trong Tinh Hà và Thái Vân Phi.
Thật ra người ta có thể nhận thấy cái hơi thở của điện ảnh đã thổi vào tiểu thuyết Quỳnh Dao, ít ra là trên phương diện kỹ thuật bố cục, trong Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng. Toàn thể cuốn truyện, khoảng bốn trăm ngàn chữ, được chia làm ba phần và một đoạn kết. Phần thứ nhất lấy bối cảnh ở Ðài Bắc, thời gian là mùa hè năm Dân Quốc thứ 51 (năm 1962). Phần thứ hai, phần hồi tưởng, lấy bối cảnh ở Trùng Khánh, thời gian là năm Dân Quốc thứ 32 (năm 1943). Phần thứ ba, trở lại hiện tại, nối tiếp câu chuyện của phần thứ nhất. Và đoạn kết, lấy bối cảnh miền trung châu, mùa thu năm Dân Quốc thứ 52 (năm 1963).
Nhiễu Ðồng, mười tám tuổi, sống với cha mẹ và em trai trong một căn nhà lụp xụp ở Ðài Bắc. Nàng gặp và yêu Ngụy Như Phong, cháu họ một thương gia giàu có tên Hà Mộ Thiên. Mối tình của nàng gặp nhiều trắc trở, phần vì sự ghen tức của Sương Sương, em họ Như Phong, phần vì sự cản trở của gia đình, mối xung khắc giữa cha mẹ. Về sau, nàng biết được sự thật: nàng chính là con của Hà Mộ Thiên. Vì một sự ngộ nhận, cha mẹ nàng ngày xưa bỗng trở nên thù nghịch và xa cách nhau. Tuy nhiên, sau cùng, mọi việc sáng tỏ và được dàn xếp êm đẹp nhờ sự hy sinh của mỗi người trong cuộc.
Cái “gút” chính yếu của đề tài dường như không được Quỳnh Dao thay đổi từ Thố Ty Hoa đến Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng, hiểu theo nghĩa tương quan “nhân quả” giữa một mối tình thời dĩ vãng của thế hệ trước với một mối tình hiện tại của thế hệ sau. Nhưng ở Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng, không có sự đe dọa của một định mệnh oan khiên, mà chỉ có sự trêu cợt của những ngộ nhận, và sự vò xé của những vết thương quá khứ. Ngoài ra, khác với cái kết cấu mang màu sắc trinh thám của Thố Ty Hoa, ở Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng chỉ thuần túy là một truyện tình. Người ta bắt gặp cả một thế giới thơ mộng, đẹp và buồn của những mối tình đầu: mối tình Mộ Thiên - Mộng Trúc, mối tình Như Phong - Nhiễu Ðồng, và mối tình vô vọng của Sương Sương. Những đoạn văn miêu tả và thuật sự ý vị nhất cũng được tìm thấy ở đây, chẳng hạn đoạn gặp gỡ giữa Mộ Thiên và Mộng Trúc bên bờ sông Gia Linh (chương 17), đoạn hội họp của nhóm sinh viên trong quán cà phê (chương 16).
Như một bản nhạc, cái nhạc đề của Kỷ Ðộ Tịch Dương Hồng có lẽ là sự biến thiên hay giòng luân lưu của tình yêu, từ thế hệ này qua thế hệ khác, miên viễn, bất tuyệt. Một mối tình đã tàn phai, đã lùi về dĩ vãng, cũng là để mở đầu cho một mối tình khác chớm nở, như một bông hoa bắt đầu đời sống mới, cứ như thế, chẳng khác nào những đời người xoay tròn theo vòng thời gian. Ðó chính là ý nghĩ của Mộ Thiên trong đoạn kết, khép lại câu chuyện: “Mặt trời chiều nào cũng đỏ như nhau, để rồi ngày mai lại sáng… Cuộc đời vì thế cũng quay vòng theo khối huyết luẩn quẩn đó chẳng bao giờ dứt…”