📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN TRIỆU BÔN

1 trả lời, 19 lượt xem — Trang 1 / 1
TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

TRIỆU BÔN

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012



Nguồn pdf: Sưu tầm

Chuyển sang text: hoi_ls

  
 
PHẦN 1

TRUYỆN NGẮN



 

BẾN PHÀ ĐEN LẶNG GIÓ

Bà Đà thường đi làm từ sáng sớm, chiều chạng vạng mới về. Chiếc khăn thâm trùm cách nào đó mà bịt kín cả gáy cả cổ, ngoài cái khe rất nhỏ dành cho hai con mắt lấp loáng nhìn ra.
Dẫu là một người đẹp lộng lẫy mà trùm bịt như thế cũng thành khó hiểu, huống chi bà Đà là con người có thân hình cứng cỏi, vai ngang dáng đàn ông, mà tính nết cứ mưa, nắng, nắng mưa luân chuyển nhau không ngừng.
Chiều nào không thấy đồ nghề của ông Đà - chiếc gánh toòng teng một bên đựng bốn, năm hòn đá mài các loại, và một bên là cái chậu đồng sứt vành dùng đựng nước - để ngoài hè, bà Đà liền rít lên:
- Mất thây mất xác ở đâu giờ này chưa chịu vác mặt về.
Còn như, nếu thấy ông Đà ngồi hút thuốc lào trên cái giường do mấy tấm ván thùng kê sát nhau, việc đầu tiên của bà Đà là lấy từ chiếc túi xách ra chai rượu, thuồi xuống trước mặt ông, kèm theo một lời đay đá:
- Này mồ hôi của tôi đấy. Nước mắt của tôi đấy. Nốc đi!
Không mấy khi bà để cho ông uống rượu suông, mà thường có thêm vài thứ nhắm đạm bạc; miếng đậu phụ bôi nghệ nướng lem nhem, một miếng vó bò quăn queo như vỏ cây, năm thì mười họa còn có quả trứng vịt lộn hoặc bộ lòng gà.
Mỗi tội thức nhắm càng ngon, ông Đà càng phải nghe nhiều lời nhiếc móc của vợ.
- Đội thúng than từ xà lan lên bãi được mấy, ông biết không? Ba hào! Thế mà một quả trứng vịt lộn những năm đồng. Không nhờ cái đận phát tiền năng suất thì có khối ra đấy mà hốc.
Bà Đà vừa nói chồng sa sả vừa móc túi lên vách, cởi khăn trùm, nhen bếp, bắc nồi, lấy gạo đi vo... Công việc thoăn thoắt trôi chảy qua đôi bàn tay ngấm bụi than đen kịt của bà.
Chai rượu trước mặt ông Đà cạn, vừa lúc bà Đà bưng mâm cơm lên, hai vợ chồng cùng ăn. Bấy giờ bà Đà dù có nói trời nói đất, ông Đà cũng không lấy làm điều, thậm chí ông cỏn thấy khoái nữa. Nhịn đói suốt ngày, mỏi rạc cẳng đi diễu qua các phố xá, được nhấm chút rượu là chất men chạy rần rật như kiến bò mười đầu ngón tay ngón chân và làm tê dại mang tai ông, khiến người ông lâng lâng.
Tuy vậy đã vài bận ông Đà xô cả mâm cơm xuống đất rồi xông vào bà vợ khốn khổ mà đấm đá túi bụi. Đó là những lần bà Đà nhiếc ông là giết chết con để ăn một mình cho sướng mồm.
Cánh đàn ông hàng xóm tuy không phải là lũ ác bụng nhưng đều đồng thanh ủng hộ ông Đà thẳng tay trừng trị bà vợ tai quái.
- Thế! Giã nữa!
- Vợ tôi mà thế tôi tẩn nhừ xương!
- Đem mà trôi sông cái của nợ ấy đi!
Trước sự “chi viện” nhiệt tình ấy, ông Đà quắc mắt đáp lại:
- Việc nhà tôi, ai mượn các ông chõ vào. Người ta khổ quá rồi phải để người ta nói cho hả bớt cái khổ đi chứ!
Nói vậy nhưng sau mỗi lần xô xát, ông Đà sợ, không dám nhìn vào mặt vợ mấy ngày liền.
... Cái năm Nhật kéo sang ta, ông Đà đương làm anh chân sào trên một chiếc thuyền đinh bề thế chẳng kém ngôi nhà ngói năm gian. Cứ bẩy ngày một lần ông chủ lại chất đầy gạo, muối, dầu tây, vải, lụa lên thuyền, cho nhổ sào ở bến Lục Dầu để ngược lên mạn Đồng Trâu, Hố Sếu, qua Ngàn Trâu Danh, lên tận Bãi Thải. Đến Bãi Thải, nhiều khi dỡ hàng xong không kịp nghỉ, đã nhận khách vội vàng để bắt con nước trở xuôi luôn.
Cánh chân sào thuyền gồm mười tay trai lực lưỡng, năm người chạy be tả, năm người chạy be hữu.
Công việc bao giờ cũng bắt đầu từ phía mũi thuyền, hai hàng người nhất tề lao phập những cây sào trẩy dài đầu bịt sắt xuống lòng sông, đuôi sào tỳ vào hõm vai, một người cất giọng: “Bớ dô hò...” chín người kia “dô huậy”, mặt nước trước mũi thuyền rẽ thành hai làn sóng trắng hình mũi tên, mấy người chân sào cúi gầm mặt, gò lưng bước xuôi để con thuyền nặng nề lao ngược dòng. Tới đuôi thuyền, tất cả lại nhất tề rút sào, trở về đằng mũi, và lại bắt đầu đúng y như thế.
Một buổi sáng thuyền về đến bến Lục Dầu, hành khách chen nhau qua mảnh ván cầu để lên chợ, có một cô gái cứ quẩn quanh dưới khoang. Đà bước lại gần cô, cất tiếng hỏi:
- Nhà chị này có hàng nặng, không ai đỡ, hử?
- Không không - Cô gái giật mình hoảng hốt - Tôi có hàng gì đâu!
- Sao còn loanh quanh mãi.
Cô gái bỗng òa khóc:
- Tôi sợ...
- Sợ gì?
- Sợ người ta đón bắt tôi trên ấy...
Đà hiểu ngay ra tình thế của cô gái:
- À. Lại trốn chúa lộn chồng chứ gì? Phải thế cứ nói thật thì tôi giúp...
Việc nên vợ nên chồng giữa hai người đã bắt đầu một cách rất đơn sơ. Tới năm giáp khởi nghĩa, gặp nạn đói khủng khiếp, khắp nơi người chết xếp chồng đống thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông Đà đã biết chạy lon ton theo bố mẹ đi xin ăn.
Vợ chồng ông Đà dẫn cu Than - tên đứa con - phiêu dạt từ Phả Lại lên Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi quay xuống Hà Nội. Họ uống nước lã cầm hơi nằm ở sân ga một đêm, một ngày.
Tối hôm sau bà Đà nói với chồng:
- Cái chết là cầm chắc rồi. Nhà xem còn cách nào cứu lấy con?
Ông Đà lẳng lặng đứng dậy bỏ đi. Ông vào một cửa hàng ăn trước cửa ga đèn điện sáng trưng, đứng xòe hai bàn tay đợi hồi lâu không thấy ai cho mình chút gì. Ông đành liền thò tay vào thúng bún của chị chủ hàng, chộp một nắm. Nhưng ông vừa quay ra được vài bước, chưa xuống khỏi vỉa hè, đã ngã sấp mặt vì một cái ghế ném theo đúng giữa lưng. Vốc bún trên tay ông, không hiểu bị những người ăn mày chung quanh xô lại cướp hay bị chủ hàng giật lại lúc nào ông không hay.
Lê lết về được chỗ vợ con nằm, ông Đà nghĩ ra được một kế để họa may cứu sống được bé Thấn. Ông bế nó đến giữa chỗ đông hàng quán nhất, cắn con một miếng chảy máu ở má rồi bỏ nó lại, vùng chạy.
Suốt mấy chục năm, từ thời Nhật rồi Việt Minh, rồi Pháp tạm chiếm, tới ngày thủ đô được giải phóng và mãi tận bây giờ bà Đà trở thành công nhân ở cảng than, còn ông Đà vẫn chỉ làm độc một cái nghề đi mài dao thuê.
Chẳng ai nghĩ chuyện làm giàu bằng cái nghề nhỏ mọn này. Nhưng với ông Đà thì lại không thể bỏ mà tìm công việc khác. Ngoài cơm gạo ra, vợ chồng ông còn phải nuôi sống lẫn nhau bằng một nguồn hy vọng. Sáng sáng, ông quẩy chiếc gánh nhẹ tênh, một bên đá mài một bên chậu nước, tha bước đến khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, gặp bất kỳ người đàn ông trai tráng nào vào trạc tuổi bé Thấn năm xưa ông cũng nhìn chằm chằm vào bên má phải của họ.
Bé Thấn “khi xưa” giống mẹ nhiều nên nó cao lớn, vai hơi ngang, mắt lá răm, khi cười có một lúm đồng tiền ở bên má bị bố cắn, chắc là thành sẹo.
Hai mẹ con giống nhau ở cái dáng đi lúc nào cũng vội vàng “chân không bén đất”.
Ông Đà tin vào câu tục ngữ “trai giống mẹ thì khó ba đời”. Nếu trời để bé Thấn qua cái nạn đói kinh sợ ấy mà còn tới ngày nay, may mắn nó chí đủ tay vo miệng lốm như bố mẹ nó là cùng. Vì vậy, hễ thấy có người đàn ông nào ăn mặc sang trọng lại có chút gì hao hao giống vợ mình là ông run lẩy bẩy vì hồi hộp. Ông như bị thôi miên, chân chạy theo, mắt nhìn, miệng lắp bắp: “Lạy trời! Biết đâu!...”. Dĩ nhiên lát sau ông Đà lại ỉu xìu và tự nhủ: mình mơ tưởng thế làm gì, nên để mắt vào đám làm thuê làm mướn, chữa xe đạp, đánh xe trâu, quạt bễ lò rèn, gác cổng, thợ nề, thợ mộc...
thì hơn.
Chẳng bao lâu kể từ khi ông Đà cất tiếng rao “Mài dao, mài kéo đây”, ông đã có cả một đội ngũ bạn “áo ngắn” rải rác từ Gia Lâm xuống tới Ngã Tư Vọng, từ dốc Vĩnh Tuy lên tới làng Láng, làng Cót. Ông lân la nhờ các “chiến hữu” tìm thằng cu Thấn hộ mình.
Những đứa trẻ bị cha mẹ bán, hoặc bị cha mẹ bỏ đường bỏ chợ trong nạn đói Ất Dậu tới nay còn nhiều lắm, họ đều đã phương trưởng và đã có bố mẹ anh em gặp lại nhau. Duy có thằng cu Thấn màu da trắng, vai hơi ngang, và có nốt răng của bố để lại trên má, chưa ai gặp.
Ông Đà vẫn rong ruổi qua các phố xá nội thành, cả những làng ngoại ô. Buổi sáng, vợ chồng ông mỗi người mỗi ngả ra khỏi nhà với chút hy vọng cầu may, để rồi buổi chiều về thấy căn nhà lợp giấy dầu vẫn trống lạnh như xưa, làm bà Đà lại nổi tam bành, nhè ông chồng mà trút hết những lời cay độc.
Lâu dần hàng xóm đâm quen. Đám đàn ông thôi làm hậu thuẫn cho ông Đà “thi hành những biện pháp cứng rắn” đối với bà. Vài người phụ nữ vô công rồi nghề cũng thưa dần câu chuyện về bà trong những cuộc ngồi lê đôi mách. Mặc dù, khi tuổi mỗi ngày một nhiều thì sự căng thẳng giữa vợ chồng ông Đà lại càng ngày càng khó gỡ hơn.
Một ngày chủ nhật, bà Đà ở nhà một mình, ông vẫn quẩy gánh đi như mọi khi. Thoạt tiên bà lẩm bẩm nhiếc móc cho riêng mình nghe, sau đó ngọn lửa ma quái xông lên ngực bà, thế là bà bỏ hết mọi việc ngồi ghé mép giường mặc sức réo tên ông ra mà nguyền rủa.
“Cứ vác mặt về đây. Chuyến này thì bà xé xác!” - Bà tuyên án vắng mặt ông như thế, và nhăm nhăm đợi mặt trời chóng lặn để ông “vác mặt” về.
Bà Đà chẳng phải đợi lâu. Xế chiều hôm ấy ông Đà lử khử quẩy cái gánh thợ mài dao về. Ném cho bà một nắm tiền lẻ toàn loại năm xu, một hào, rồi ông đi nằm. Bà Đà thấy chồng khang khác, không những đã quên những lời đay nghiến được mài dũa suốt từ sáng, bà còn sờ tay lên trán ông. Người ông Đà nóng chín, làm bà Đà cuống cuồng. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu bà Đà nói ra những lời dịu dàng với chồng:
- Nhà ơi. Tôi nấu cho nhà bát cháo đậu xanh ăn cho nó giã sốt, nhé?
Ông lắc đầu, mắt vẫn nhắm nghiền. Bà lại vuốt ve bộ râu lởm chởm bạc gần hết trên cằm ông.
- Dậy tôi bảo này! Chịu khó uống chén rượu. Nhé? Nhà bị cảm nắng đây!
Ông Đà thương vợ, ứa hai hàng nước mắt. Ông muốn ngồi dậy nhích nhắc tay chân cho bà vui, nhưng sức ông đuối quá rồi.
Sáng hôm sau thì ông “đi”. Bà Đà bật ngọn điện tù mù ở giữa nhà, ôm lấy thi hài ông mà lay, lắc, nhày nhã như đang đánh vật. Lúc đã kiệt sức mà vẫn không sao làm cho chồng sống lại được, bà Đà rú lên:
- Ông ơi là ông! Chai rượu tôi mua còn kia. Từ nay mua cho ai uống nữa hở trời!
Tiếng khóc xé ruột gan của bà Đà cất lên từ lúc còn tối đất. Nghe giọng bà, hàng xóm ngỡ ông bà lại xảy ra chuyện gì, nhiều người lẩm bẩm rủa bà vài tiếng rồi lại ngủ. Mãi lúc nghe kỹ, biết ông Đà đã chết, mọi người mới choàng dậy chạy túa sang.
Xưa nay cái cảnh góa bụa vẫn thường xảy ra cho loài người. Nỗi đau dội lên, uất lên một thời gian rồi dịu dần. Sự quên lãng là một trong những bản năng tự vệ giúp cho con người tồn tại được.
Nhưng hình như ở bà không có cái “bản năng tự vệ” ấy. Liền mấy tháng, đêm nào bà cũng kêu thét gọi ông suốt từ đầu hôm đến sáng. Trời thì đã sang đông, gió lạnh từ mặt sông Hồng thổi thốc vào căn nhà giấy dầu thủng tan hoang do chính tay chủ nhân của nó xô, đập, cào, xé.
Sang tới mùa xuân, giữa lúc cỏ cây đến con người đều xanh tươi trở lại thì bà Đà chỉ còn da bọc xương. Một đêm không nghe tiếng bà kêu thét, sáng hôm sau hàng xóm chạy sang đã thấy bà nằm bất tỉnh giữa những mảnh chăn rách, trên mình chỉ một tấm áo dệt kim đã mốc meo và chiếc quần bảo hộ lao động bạc phếch.
Ở bệnh viện người ta hết lòng cứu chữa cho bà Đà. Vài ngày sau, bà tỉnh lại biết thều thào cảm ơn những người hàng xóm đã mang cam, mang đường và luân phiên vào chăm sóc bà.
“Khổ đến thế. Con người cay cực suốt đời. Khi cái sung sướng nằm trong tay thì lại lăn ra chết” - Cả khu phố bờ sông tới nay mỗi khi nhớ đến bà Đà, bà con lại chép miệng nói thế.
Số là, ở nơi bệnh viện bà Đà nằm cấp cứu, có một bác sĩ trưởng khoa tên là Dũng, tuổi xấp xỉ bốn mươi, vai hơi ngang, nước da trắng và đôi mắt dài rất linh lợi. Một lần, khi bà Đà đã qua khỏi cơn nguy kịch, bác sĩ Dũng đến khám bệnh cho bà theo thường lệ trong ngày. Bác sĩ bảo bà tháo áo để đặt ống nghe vào ngực bà. Anh đang chăm chú nghe tiếng tim dội thì thụp tự dưng bà Đà cứ nhổm người vừa nhìn sát mặt anh vừa sờ lên vết sẹo trên má anh. Bảo bà nằm yên mấy lần không được, bác sĩ Dũng phát bực gắt:
- Cụ làm sao thế!
Bà già không trả lời bác sĩ Dũng mà thét lên một tiếng: “Con!” làm cho cả phòng bệnh giật mình. Rồi bà tắt thở. Mọi cách cứu chữa của bệnh viện đều vô hiệu.
Khi phải tự thú nhận mình hoàn toàn bất lực, bác sĩ Dũng ngồi cạnh bà Đà, ôm mặt khóc rưng rức.
Dũng là con nuôi của một cán bộ trong quân đội. Ông có tới sáu người con, thêm Dũng là bảy. Những khi gia đình tụ hội, con cháu chật nhà, ông vẫn kín đáo dành riêng cho Dũng chút chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, càng lớn lên Dũng càng thấy mình đang âm thầm ngóng đợi một con người, dù sớm muộn thế nào sẽ có một ngày con người ấy tìm ra anh...
Nhiều năm về sau, vào những ngày giỗ ông bà Đà, bác sĩ Dũng thường đưa vợ con về thăm những gia đình hàng xóm của ông bà, và thế nào anh cũng có quà đến thăm hỏi những người là bạn “hạt gạo cắn đôi” của bà Đà hiện đang nghỉ hưu trong khu tập thể của cảng.
Những người bạn của bà Đà đều gọi Dũng bằng con, và đối xử với anh đúng như cách xưng hô. Mặc dù bà Đà không còn, nhưng tình thương bầu bạn bà để lại vẫn còn khắp nơi nơi. Ngày nay hễ nhắc đến bà là những người bạn già của bà lại nghẹn ngào.
Họ kể rằng: vào tiết đông và tiết xuân, lòng sông Hồng cạn rặc, những cồn cát nổi vờ vờ bên dưới mặt nước lắng trong dần dần, ấy là những ngày trời đất gió thổi vô hồi. Cứ sáng ra, những người công nhân phát khổ lên vì những ngọn gió lạnh như dao cắt vào da thịt. “Ấy nhưng mà cháu ạ - Các bà già nói với bác sĩ Dũng - cái buổi sáng mẹ cháu “đi”, trên mặt sông cũng như trên bến cảng, trời bỗng dưng lặng phắc, không một hồi gió.
Như thế là hồn thiêng lắm!”.


8/1985
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
BỤI HOÀNG HÔN



Dăm năm trước, cái tin ông Trọng lên làm bí thư huyện ủy, chỉ người biết người không. Nhưng vừa rồi ông bị kỷ luật thì khắp bàn dân thiên hạ đều xôn xao bàn tán. Chuyện đồn một hóa mười, mười hóa trăm, ông Trọng bỗng trở thành nhân vật nổi tiếng. Nhiều chi tiết về ông dân huyện ngoài kháo nhau nghe còn hãi hùng hơn cả dân huyện nhà.
“Ông Trọng thôi giữ chức bí thư huyện ủy”, ấy là cách nói tế nhị của những người có lòng kính trọng ông, thương ông. Họ không muốn đụng tới hai tiếng cách chức để ông đỡ đau lòng.
Những người ghét ông thì sung sướng truyền nhau rằng ông đã bị công an ngoài trung ương về còng tay, tống vào nhà giam.
Phàm là những việc cơ mật chẳng hiểu vì sao dân lại biết tin nhanh hơn cả những nhà chức trách.
Theo những hãng thông tin vỉa hè, ông Trọng biết tin mình sẽ bị cách chức từ vài tháng trước khi ông nhận được quyết định chính thức bằng giấy.
Để giải thích cái “giác quan thứ sáu” của dư luận, có thuyết cho rằng dù làm tới đâu, các đức ông chồng vẫn không chừa được thói mang chuyện “triều đình” về nói với các bà vợ. Một phải chiến thắng, một phải chiến bại. Trong lúc một số người vỗ tay reo mừng, thì một số người khác ngậm ngùi ôm hận - mà nhẽ ra đó là những chuyện bất cứ một người có lương tâm nào cùng phải xót xa mới đúng.
Nhưng thôi. Tác giả truyện này hoàn toàn không có ý dám luận công, luận tội của ông Trọng, hoặc đóng góp ý kiến với cấp này cấp khác. BỤI HOÀNG HÔN chỉ muốn thuật lại một đoạn chuyện kể từ khi ông Trọng thôi làm bí thư huyện ủy huyện Sông Nho.
Vào một buổi chiều thứ sáu cuối mùa hè, ông Trọng đang ngồi điều khiển cuộc họp thường vụ huyện ủy bàn cách lãnh đạo thu hoạch vụ chiêm và nhanh chóng triển khai việc làm vụ mùa, thì trưởng ban tổ chức tỉnh ủy xuống truyền đạt hai quyết định: Một quyết định ông Trọng “thôi giữ chức bí thư huyện ủy”, một quyết định ông Doãn nguyên phó bí thư huyện ủy nay giữ chức quyền bí thư huyện ủy huyện Sông Nho.
Trưởng ban tổ chức tỉnh ủy đọc xong, nói thêm chừng vài chục phút rồi lên xe về tỉnh, để lại một không khí giống như có tiếng sét vừa nổ giữa phòng họp. Những người ngồi kín hai dãy bàn đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác, ai cũng cảm thấy đây là giây phút mình phải thận trọng đến từng hơi thở nếu không muốn mang vạ lây vào thân. Ông Trọng ngồi yên, cầm hai tờ quyết định trên đôi bàn tay run run, đọc lại một lần nữa. Ông đột ngột phá tan im lặng:
- Quyết định của cấp trên, các đồng chí vừa nghe. Vậy đề nghị các đồng chí cho ý kiến, ngay từ phút này, đồng chí Doãn điều khiển hội nghị hay là tôi?
Ông Doãn đứng dậy đề nghị ông Trọng cứ cho họp tiếp, được mọi người đồng tình.
- Vậy chúng ta bàn sang việc phân công xuống “nằm” các cơ sở - ông Trọng tiếp tục điều khiển công việc. Tôi dự kiến thế này: Đồng chí Mai, hội trưởng hội phụ nữ huyện chuyên lo việc đặc biệt giữ gìn sức khỏe cho chị em xã viên trong thời kỳ “cao điểm” này. Cô Mai nhớ nhé: Song song với việc tổ chức bữa ăn trưa ngoài đồng cô cần kiểm tra đôn đốc thật sát hoạt động của các nhà trẻ. Nhà trẻ có tốt, các bà mẹ mới yên tâm gửi con mà đi gặt.
Hội trưởng phụ nữ trả lời hết sức lễ độ :
- Thưa anh. Vâng.
- Đồng chí Bình - ông Trọng lại nói - thì đôn đốc sửa chữa các kho lương thực. Năm ngoái bà con xã viên nhập kho thóc rất khô, nhưng mái nhà kho thì lại dột nát như mặt sàng, thành thử mưa xuống một cái là kho thóc biến ngay thành lò thúc mầm! Yêu cầu đồng chí Bình hạ quyết tâm cho thường vụ biết, năm nay liệu có chấm dứt được cái bài học chết người ấy hay không?
Người tên là Bình đứng dậy, nhìn thẳng vào ông Trọng trả lời:
- Báo cáo anh, tôi đã trực tiếp lên kiểm tra các kho thóc ở làng Hành, làng Chĩnh, làng Vạc. Xin hứa là năm nay các kho thóc huyện ta đều đảm bảo đúng tiêu chuẩn.
Ông Trọng phân công thêm cho mấy người nữa rồi tuyên bố giải tán cuộc họp với một nỗi ngạc nhiên không hiểu sao đầu óc mình vẫn tỉnh táo, và mọi người vẫn nhất nhất tuân thủ sự điều khiển của mình? Ông vừa bước ra khỏi phòng đã thấy cậu Vĩ - người lái chiếc U-oát - đứng chờ bên cạnh sân bóng chuyền.
- Thưa chú - Vĩ chạy lại đón ông Trọng - chú lên làng Khánh bây giờ hay để mai ạ?
- Lên làng Khánh làm gì?
- Chú dặn cháu sáng nay mà. Chú lên kiểm tra trạm máy kéo...
Ông Trọng vỗ tay lên trán:
- À phải. Trời ơi. Quên đấy! Cậu chuẩn bị chưa?
- Thưa đã.
- Thế thì đi. Đi ngay bây giờ.
- Nhưng... Chú chưa xơi cơm.
Ông Trọng xua tay:
- Đi cái đã.
Chiếc xe lẹ làng lăn bánh khỏi trụ sở huyện ủy, lao xuống một con dốc thoai thoải. Một bên dốc là cánh rừng thông già, những cây thông cao vút chảy rớt nhựa xuống lớp lá khô rơi lẫn với đá sỏi. Mặt rừng thoang thoảng mùi nắng, và mùi tinh dầu thơm. Bên kia con dốc là cánh đồng gặt dở dang, nơi này trơ gốc rạ, nơi kia lúa mới đỏ đuôi, lại còn đôi vạt lúa cấy muộn vẫn xanh rờn trông như những mụn nhung lụa vá lạc vào tấm áo nâu sồng, khắc khổ. Ở một thửa ruộng đã cắt rạ, nước mưa đêm trước đọng đầy những dấu chân in trên bùn. Ông Trọng bất giác mỉm cười phát hiện ra một chú cua kềnh đứng trước cửa mà, như thể đang “ngóng đợi ai”. Hôm qua, hôm kia, hay lâu hơn không nhớ rõ, ông phàn nàn với vợ là ông thèm một bữa canh cua nấu với rau khoai lang. Bà vợ già phúc hậu không nín được cười:
- Ai bảo ông canh cua nấu với rau khoai lang?
- Ừ thì rau khoai lang, rau mùng tơi, rau ngót rau gì cũng được.
Bà vợ lại cười thành tiếng dài:
- Ông thật rõ là. Canh cua thứ nhất nấu với rau bợ. Không hái được rau bợ thì nấu rau đay. Ông nhớ chưa. Đừng nói thế người ta cười.
Nhớ lại lời vợ, ông Trọng thấy vui vui. Có một bà vợ việc gì cũng chõ vào thì thật mệt. Nhờ trời bà Trọng không có tính ấy. Bà chỉ cần biết ông khỏe hay ông yếu, ông ăn có ngon miệng không, và thỉnh thoảng nhìn trộm gương mặt ông để đoán xem ông đang vui hay buồn. Nếu biết ông bận lo nghĩ, ngay cả từng bước đi bà cũng khép nép, giữ cho không một tiếng động phát ra làm phiền ông. Thế là đủ. Còn công việc chung? Mọi sự vẫn tuần tự, có gì khác lạ đâu nhỉ - ông thầm nghĩ. Nhiệm vụ lãnh đạo vẫn được bàn một cách nghiêm túc, cả ban thường vụ vẫn tôn trọng mình. Ngay như cậu Vĩ, mình yêu nhất cái tính ít lời của cậu ta. Có lần đi đường xa, mình giục cậu ta nói chuyện cho đỡ buồn ngủ, cậu ta bảo “Chú mệt mỏi chú cứ tranh thủ nghỉ, đừng lo cho cháu. Cháu sợ nói chuyện làm ảnh hưởng đến chú...”.
Suốt buổi tối hôm ấy ông Trọng hầu như quên bẵng cái quyết định cách chức mình. Kiểm tra trạm máy kéo xong, ông tạt vào nhà một thầy giáo hiệu trưởng trường cấp hai, hỏi xem công việc chuẩn bị cho mùa thi tới đâu. Mãi hơn chín giờ tối cậu Vĩ mới đưa ông về tới nhà riêng cách cơ quan huyện ủy gần năm cây số.
- Thưa chú - cậu Vĩ hỏi sau khi đã mở cửa mời ông Trọng bước xuống - mai chú có đi đâu không?
- Có. Cậu lại đón tôi sơm sớm một chút.
Khi chiếc xe con đi khuất, ông Trọng mới như sực tỉnh, nghe như có gì giá buốt lan nhanh trong người. Dù không muốn dù cố quên đi, tờ quyết định cách chức ông vẫn là một sự thật hiện đang nằm trong cặp tài liệu của ông. Theo chương trình vạch ra từ đầu tuần, ngày hôm sau ông Trọng sẽ lên làm việc với ban nông nghiệp của tỉnh ủy.
Nhưng tình hình này, mình còn lên tỉnh ủy làm gì?
Ông Trọng đứng tần ngần một lúc lâu trước vòm cổng nhà ông được uốn khá công phu bằng những cây dâm bụt. Đầu óc ông rỗng không. Ông lơ đãng nhìn những tia sáng từ cây tọa đăng hắt qua khung cửa sổ cạnh bàn làm việc của mình. Cách đây không lâu, tức là cái thời ông còn vượng, dù cả phố mất điện thì riêng nhà ông vẫn sáng xanh ánh đèn nê-ông thắp bằng điện máy phát riêng. Nhưng từ khi những vụ kiện tụng nổ ra, trong huyện loan đồn tin ông sắp mất chức bí thư huyện ủy, cái máy phát hỏng rồi bỏ xó luôn, ông có nhắc nhở văn phòng, người ta chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện.
- Bà cái Thảo ơi - ông Trọng cất tiếng gọi ngoài mảnh sân tối và không đợi vợ trả lời, ông hỏi luôn - bà có gì cho tôi ăn không. Tôi đói lắm.
Tội nghiệp bà Trọng mọi khi hễ thấy chồng về muộn là bà biết ông được mời dùng bữa ở đâu, cả huyện chỉ một ông bí thư huyện ủy, chẳng những không ai chịu để ông nhịn đói mà lắm kẻ còn coi việc được bưng cơm rót nước hầu hạ ông là một sự hãnh diện nhớ đời. Vì vậy khi chồng kêu đói bụng bà luống cuống thật sự.
- Ông nói thật hay nói đùa?
- Thật chứ.
- Thế thì... thế thì... Thảo ơi. Cháu nghỉ học một lúc, nhóm bếp hộ bà. Mau lên!
- Đừng. Chẳng lẽ tôi với bà không nhóm nổi cái bếp, nấu nồi cơm hay sao? Hay là... Này bà, còn cơm nguội không?
Bà Trọng đắn đo một lát.
- Ai lại thế? Ông!
- Sao lại không nhỉ. Hồi trẻ ở chiến khu, được bát cơm nguội là sáng mắt ra đấy.
Không muốn gây cản trở cho việc học của đứa cháu ngoại, bà Trọng đơm một đĩa cơm nguội, gắp vài miếng cá kho ra bát, bưng lên cái bàn làm việc bằng gỗ lát có ép kính của chồng. Ông Trọng vui vẻ cầm thìa xúc cơm ra bát, bà Trọng cẩn thận gỡ từng cái xương găm trong khúc cá. Ông bật cười:
- Bà gỡ xương cá cho tôi đấy à. Bà tưởng tôi còn bé lắm?
Bà Trọng cũng cười, mắt vẫn không rời khúc cá dưới tay. Ánh đèn dầu giúp ông nhận ra mái tóc của vợ đã bạc gần hết, mà bao lâu nay vì công việc cứ lu bù, ông không để ý tới. Ông định bưng bát cơm lên ăn lại vội đặt xuống, xòe bàn tay che ngang mặt.
- Ông làm sao thế? - Bà Trọng hốt hoảng.
- Không không. Con gì bay vào mắt tôi.
Bà Trọng chạy ra hè rút chiếc khăn mặt ông vẫn vắt trên dây phơi, và bà múc thêm một chậu nước nữa, khệ nệ bê vào. Ông Trọng chỉ dám giơ tay ngăn vợ, không nói nói nên lời. Nếu nói, ông sợ lúc này ông sẽ bật lên thành tiếng khóc. Đã gần hết đời người ông Trọng quen nghĩ đến tập thể, mọi sự, từ việc chung đến việc riêng, đều lấy ý tập thể làm chuẩn mực, do tập thể quyết định, và ông bao giờ cũng vui lòng được gửi gắm vào tập thể. Nào ngờ tới một lúc, như lúc này, ông ngoái nhìn lại và bỗng hiểu ra: Trên cõi đòi này chẳng có gì có thể thay thế được đôi bàn tay người vợ vụng về, bé nhỏ, nhẫn nhục nhưng ấm áp làm sao!
 
*

 

Sáng hôm sau theo đúng lời ông Trọng dặn, cậu Vĩ đánh xe đến đón ông sớm hơn giờ quy định. Khi ông đã ngồi yên trên đệm. Vĩ cắm chìa khóa điện vào xe, và hỏi:
- Đi đâu, thưa chú?
- Lên ban nông nghiệp tỉnh ủy.
Đêm qua nằm vắt tay lên trán, ông Trọng đã tìm được một lý do khác xác đáng cho cuộc đi này. Nhưng buồn thay, ông Trọng mào đầu công việc, anh phó ban nông nghiệp tỉnh ủy mặt lạnh băng đã chặn đứng lời ông lại:
- Báo cáo anh Trọng. Vấn đề anh vừa đề cập, chúng tôi sẽ bàn với anh Doãn. Xin rất cảm ơn anh.
Ông Trọng chưng hửng đứng dậy, quên cả bắt tay chủ nhà. Cái anh phó nông nghiệp tỉnh ủy trẻ hơn ông tới mười lăm mười sáu tuổi, từ trước hễ gặp ông ở đâu là kính cẩn cúi đầu chào “Em chào thầy ạ”. Kiểm lại trong đời mình, ông Trọng từng làm liên lạc cho các tổ chức bí mật năm xưa, từng lên chiến khu, từng làm nhiều công việc khác nhau ở bên Đảng cũng như bên chính quyền, nhưng ông không thể nhớ có hồi nào mình từng làm thầy giáo. Một lần gặp anh phó ban trẻ tuổi nọ, ông Trọng gọi lại hỏi:
- Xin lỗi anh, tôi chưa hiểu vì sao anh lại chào tôi bằng thầy?


- Ấy ấy, - anh phó ban vò đầu gãi tai như một chú học trò nhỏ đứng trước thầy giáo cũ của mình. Thầy quên rồi sao? Năm 1963, thầy có lên thị trấn Bồng để giảng cho chúng em về công tác vận động thanh niên...
- Ôi - ông Trọng kêu lên - ngượng đỏ mặt - vào những năm ấy quả là tôi có làm chút ít công tác Đoàn. Nhưng nếu chỉ có thế mà được gọi là “thầy” thì e là chúng ta hơi lạm dụng vinh dự của các nhà giáo đấy.
- Nhất định không! Thưa thầy. Các cụ dạy nhất tự vi sư bán tự vi sư kia mà. Vả lại, thưa thầy chẳng lẽ cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng như thế lại không xứng đáng tôn thầy lên bậc tiền bối của chúng em?
Đến là khổ, muốn từ chối một vinh dự gượng ép cũng không xong. Đành chịu vậy. Được nghe mãi điệp khúc “em chào thầy ạ”, lâu dần ông Trọng cũng đâm ra quen tai. Và, một vài lần, ông đã thử tận dụng cái danh nghĩa thầy giáo để yêu cầu ban Nông nghiệp tỉnh ủy nới tay ủng hộ huyện Sông Nho, ông đều thấy rất “hiệu nghiệm”. Vì thế mà thời gian gần đây ông đã tự trách mình quá khắt khe với lớp trẻ, chứ thật ra cái anh phó ban ấy tuy gặp quá nhiều thuận lợi trên con đường “tiến bộ” nhưng anh ta quả là một người có nề nếp gia phong, có lòng khiêm tốn, nhũn nhặn, và sống có trước có sau. Vậy mà đúng vừa lúc ông nghĩ tới anh ta như một chỗ dựa, thì đùng một cái, anh ta tự xé toang cái mạng che mặt, để ông thấy thật đích xác anh ta là con người như thế nào.
Ông Trọng rút chiếc mùi xoa trong cặp thấm những giọt mồ hồi lớn đang thấm ra trên mặt, và ở đôi cánh tay mặt áo cộc nhớp nháp chỗ ông tựa vào thành ghế khi chiếc xe về tới sân bóng của huyện ủy. Một vài người nghe tiếng xe tắt máy, đẩy cửa sổ ngó ra.
Thấy ông Trọng vẫn còn xuất hiện ở cơ quan này, tự dưng họ khó chịu, khép ngay cửa lại.
Ông Trọng cố nén tiếng thở dài ngán ngẩm khi nhận được những ánh mắt hững hờ, xa lạ đang hướng về mình. Ông thẳng bước tới phòng ông Doãn, định hỏi đồng chí quyền bí thư huyện ủy xem bao giờ thì ông ta chính thức nhận bàn giao công việc với mình.
Ông Doãn đi vắng, ông Trọng vội quay lại xe. Và, lần đầu tiên trong đời ông nghe cái giọng cầu cạnh rất lạ từ chính miệng mình thốt ra:
- Vĩ ơi. Nhờ cháu cho chú về nhà. Được không?
May mà Vĩ không nỡ từ chối ông, nhưng ngay ở cậu lái xe chân chất, tận tụy này cũng đang có gì khang khác rồi. Khi Vĩ quay xe rời khỏi ngõ nhà ông Trọng, đáng lẽ theo thường lệ mọi khi, cậu ta không quên hỏi xem sắp tới ông có định đi đâu, thì lần này Vĩ nhìn ông bí thư cũ bằng ánh nhìn ái ngại và buồn thăm thẳm: “Chú ơi. Cháu về đây...”.
Trong giọng nói bùi ngùi của Vĩ, ông Trọng hiểu thêm một ý khác mà Vĩ không nói thành lời: Cháu hiểu tâm trạng chú. Cháu thương chú. Nhưng cháu không thể làm khác được. Mong chú thông cảm cho. Tạm biệt...
Từ buổi chiều hôm ấy, chẳng bao giờ ông Trọng có ý nghĩ chờ đợi chiếc xe con của huyện ủy nữa. Chờ cho nắng dịu, ông dắt chiếc xe đạp Điamăng nữ của con gái - mẹ cái Thảo, là giáo viên dạy ngay ở trường làng - lủi thủi đạp về phía thị xã. Lâu ngày không đi xe đạp, tay lái của ông Trọng chệnh choạng mất một quãng, nhưng chẳng bao lâu ông đạp đã khá dẻo chân. Những ngọn gió cuối chiều thổi tràn qua cánh đồng, như thoa lên da thịt ông Trọng một lớp phấn rất nhẹ. Giá như trẻ lại được mươi tuổi hẳn là ông đã vừa đạp xe vừa hát. Cuộc đời cứ thế này mà lại hóa hay. Đi lúc nào, về lúc nào, hoàn toàn tùy thích, chẳng còn gì phải tất bật phải câu thúc. Hãy nhìn xem kìa. Trên đường có biết bao người, già hơn mình, trẻ hơn mình, đều có. Sao mình thèm cái dáng đi ung dung, thanh thản của họ đến thế.
Ông Trọng vừa đạp xe vừa nghĩ ngợi. Vui vẻ. Chua cay. Hài hước. Lúc lúc lại sợ cố người nhìn thấy mình. Nhưng đến thế rồi mà duyên nợ với cái ghế bí thư huyện ủy vẫn chưa thôi bắt ông phải trả giá. Lúc đi ngang qua phố huyện, có một gã thanh niên cao lớn từ đâu chạy ra giữa đường nắm lấy ghi đông xe của ông, cười nhăn nhở, phả hơi rượu ra nồng nặc:
- Ông bí thư! Xe con đâu rồi mà đi xe đạp. Hử?
Ông Trọng dừng xe, ngỡ ngàng nhìn cái bộ mặt đầy mụn trứng cá với đôi tròng mắt trắng dã của gã thanh niên, trong lòng vừa run sợ, vừa bực bội, vừa nhục nhã.
- Hử? Hử? - Gã lại trợn mắt, dậm chân bành bạch - Xe con đâu rồi?
Ông Trọng giận tím người. Phải hết sức tự kìm chế ông mới khỏi đấm thẳng vào cái bộ mặt trâng tráo kia.
- Dẹp ra cho tôi đi! - Ông nói.
Lập tức gã say rống lên:
- A a. Ông ăn nói thế phỏng. Đừng quen thói hống hách. Đả đảo! Đả đảo!
Đằng sau gã trai này còn một bọn bảy, tám người đứng trong quán nước nhìn ra, vỗ tay reo ầm ĩ. Thật rắc rối. Ông Trọng đưa mắt cố tìm một anh công an, một trật tự viên, hoặc một người quen biết ở cơ quan huyện ủy, cơ quan ủy ban huyện, mà chẳng thấy, ông xuống xe, đặt chiếc xe ngăn cách ông với kẻ gây sự, đề phòng hắn bất ngờ xông tới tấn công mình.
Sự việc không biết rồi sẽ ra sao nếu như giữa lúc ấy không có một người đàn ông từ góc phố bước ra. Người đàn ông này gầy gò, bận bộ quân phục cũ mồ hôi loang trắng từng khoang trước ngực áo. Anh ta lật chiếc mũ lá đang đội quăng xuống vệ đường, lẳng lặng tiến lại chỗ ông Trọng, rồi bất ngờ thộp lấy áo gã say, với một sức mạnh phi thường đẩy gã bật ngửa, và quát:
- Cút! Cả các anh nữa - anh ta nẩy tay về phía đám “cổ động viên” đứng trong quán - Một lũ dậu đổ bìm leo. Bọn trơ trẽn! Bọn ăn cắp!
Có cái lạ là bọn kia đông gấp chục lần, bị mắng nhiếc thậm tệ như thế mà đứa nào đứa ấy vẫn im thin thít. Tình thế xoay chuyển đến nỗi ông Trọng đứng bàng hoàng, lúc sau mới sực nhớ chìa bàn tay cho người đàn ông mặc quân phục:
- Cảm ơn anh!
Người đàn ông khẽ lắc đầu:
- Có gì đâu, bác! Mời bác đi đi, để một mình tôi nói chuyện với bọn này là đủ.
Đoạn đường từ đó trở đi ông Trọng cắm cúi đạp xe như người mất hồn. Người đàn ông vừa cứu mình là ai? Vì sao anh có được một uy lực ghê gớm nhường ấy? Còn gã say kia, và cái bọn đứng trong quán, họ ở đâu ra? Vì sao họ lại gây sự với mình?... Có một hòn đá to như cái nón do đám xe trâu đánh rơi giữa đường, ông Trọng không hề nhìn thấy. Ông chỉ kịp kêu “ố” một tiếng thì đã quá muộn. Ba cô gái đi đường thấy vậy dừng xe chạy lại đỡ ông dậy, líu lô mừng cho ông không bị gãy tay gãy chân. Còn chiếc Điamăng đã hỏng thật sự. Vành bánh phía trước bị bẻ cong như một cái bánh đa nướng.
- Bác đừng lo - một trong ba cô gái tốt bụng nói - bạn cháu về đèo chiếc xe, còn cháu thì đèo bác.
Khoảng dăm phút sau, bốn người gặp một hiệu chữa xe đạp bên đường. Ba cô gái gửi ông Trọng cùng cái xe đạp bị nạn ở lại rồi đi tiếp.
Chủ hiệu chữa xe đạp chưa già nhưng cũng không còn trẻ. Anh ta cởi trần, mặc quần cộc, lưng cháy sém, hai bả vai rôm mọc chi chít như trát kê. Thấy đầu gối quần ông Trọng loang máu, anh thốt kêu lên, cuống quýt chạy vào nhà trong lấy bông thuốc đỏ ra, với hai bàn tay lem nhem dầu mỡ, anh vừa xít xoa vừa chăm sóc cho ông:
- Đau lắm. Chết chửa... Bác chịu khó vén quần lên cho tôi xem. Vâng. Thế. Tay bác sạch, bác chịu khó...
Dĩ nhiên là khi được giúp bông băng, thuốc sát trùng, ông Trọng tự lo liệu được vết thương của mình. Trong khi đó người chủ hiệu chữa xe đạp ra sức quát tháo, sai khiến mấy đứa con quét dọn nhà cửa, lau bộ sa lông, đánh ấm chén cho sạch sẽ. Xong, anh pha một ấm chè búp, lại sai con chạy sang cửa hàng bên cạnh mua một bao thuốc lá đầu lọc, đặt ngay ngắn trên mặt bàn gỗ lát, rồi quay sang ông khách nói giọng rất từ tốn:
- Mời bác ngồi nghỉ. Có nước, có thuốc đây. Xin bác cứ cự nhiên. Thông cảm cho em...
Anh chợ bắt tay vào vặn ốc, tháo lốp, nắn vành, chạy chữa cho chiếc xe của ông Trọng. Thỉnh choảng anh nhìn vào trong nhà, cao giọng mời ông uống nước, hút thuốc, rồi lại hì hục làm. Có ba bốn người dắt xe đến đều bị anh từ chối, nói là phải chữa xe gấp cho khách quen.
Nể lời mời chân tình của chủ hiệu, ông Trọng bóc bao chuốc rút một điếu nhưng chỉ kẹp giữa hai ngón tay, không hút. Ông cũng quên cả cái cảm giác nhức, rát ở vết thương nơi đầu gối. Ông ngồi, đầu nghiêng nghiêng, gần như bất động để được chìm đắm theo dòng suy nghĩ.
Ông Trọng đi theo cách mạng từ khi còn là một cậu thiếu niên. Bốn chục năm có lẻ, ông học được cơ man những bài học cách mạng, về chỉ huy, lãnh đạo, đấu tranh với kẻ thù, đấu tranh nội bộ, những bài học thành công, những bài học thất bại. Những bài học cấp trên và đồng đội dạy cho ông, kể cả những bài học ông mang dạy lại cho lớp người bên dưới mình. Nhưng, hình như chưa một lần, chỉ trong vòng vài chục tiếng đồng hồ, từ chiều qua tới giờ, ông được tận mắt chứng kiến những bài học về đồng chí, đồng đội, xã hội, con người, với đầy đủ hương vị đắng cay, ngọt bùi như thế này. Phải chăng số phận đang làm một phép tính cộng để bông đùa: Suốt nhiều năm được thiên hạ đón đưa, chiều lụy, để rồi chỉ một ngày bắt “lĩnh đủ” những trò nâng lên hạ xuống?
Là một người rất hà tiện thời gian, lúc này ngồi một mình, ông Trọng liền tranh thủ mở một cuộc “sơ kết” nho nhỏ. Những gương mặt tráo trở, hỗn hào, xấc xược lần lượt hiện lên trước mắt ông. Ông đau lòng tự nhận một phần trách nhiệm của mình - của một bí thư huyện ủy - trong đó. Còn, những gương mặt trung thực, những tấm lòng thơm thảo lại đang cổ vũ ông đừng vội nản chí trước cuộc sống phong phú này. Có điều hy vọng bạn đọc sẽ thông cảm cho cách diễn đạt của những người như ông Trọng, ông không quen gọi thẳng, gọi đúng, gọi đủ những phẩm chất của bọn người xấu là đểu, là ba que xỏ lá, là mất dạy, là sâu bọ... mà chỉ quen đưa ra một khái niệm mờ nhạt, cùn mòn, là những phần tử tiêu cực, để rồi đối với những phẩm chất tốt đẹp của con người cũng bị ông cào bằng đi như thế, tất cả gói trong một cái gói, gọi là quần chúng tích cực.
Với cách nói, nhất là cách nghĩ luôn luôn quy gọn một cách biếng nhác này, ngay cả những người bạn thân của ông Trọng cũng không dám hy vọng ông tìm ra cái gì mới mẻ, là sức sống, nếu như một mai trời đất xoay vần biết đâu ông lại chẳng trở lại với nhiệm vụ một bí thư huyện ủy, hoặc hơn thế...
Ông Trọng như giật mình choàng tỉnh, ngẩng lên thì đã thấy anh thợ chữa xe đạp đứng trước mặt. Anh nhoẻn cười với ông:
- Thưa bác. Xe của bác đi được rồi đấy ạ.
Ông vội mở cái cặp da đặt trên bàn. Nhưng anh thợ đã xòe bàn tay ngăn lại:
- Bác định mở cặp làm gì thế?
- Tôi gửi tiền lại cho anh. Hết bao nhiêu, anh nhỉ?
Anh thợ chữa xe ngồi xuống chiếc sa lông đối diện với ông, rót mời ông thêm một chén trà.
- Bác Trọng ạ - giọng anh thoắt trở nên trang trọng, nhưng hoàn toàn không khách sáo - Chắc chắn là bác không biết tôi, nhưng tôi thì biết bác. Thấy bác lễ mễ mang cái xe đạp vào đây, thật tình tôi rất thương...
- Đừng vì thế mà anh...
- Bác cho phép tôi nói hết đã. Những việc tốt đẹp bác làm cho huyện nhà, chúng tôi biết cả, chỉ có bọn vô ơn mới làm ngơ mà thôi. Còn những việc bác làm chưa được, làm hỏng, chúng tôi cũng biết. Nhưng... ở đời ai chẳng muốn làm nên. Không nên, tức là tài trí của mình còn mỏng. Tôi khuyên bác đừng quá lo nghĩ mà tổn hại đến thân thể.
Anh thợ ngừng một lát, nhìn lướt trên mái tóc bạc quá sớm của ông Trọng, buông thêm một câu:
- Các bác khổ hơn chúng tôi nhiều!
 
*

 
Ánh sáng của một ngày mùa hè chỉ còn đọng lấp loáng trên những chiếc lá bàng non ở hai bên hè phố huyện. Tiếng ve sầu giục giã một điều gì không chịu nguội lạnh trong gan ruột con người. Đành bỏ cuộc thăm viếng dưới thị xã, ông Trọng lững thững dắt xe quay về nhà. Đến cuối núi Thông, ông sững sờ đứng ngắm về phía tây mặt trời đang lặn. Mảng không gian bên dưới những áng mây và bên trên những ngọn núi bỗng rực rỡ, dầy đặc một quầng bụi lửa như bắn lên từ một lò gang đang bùng sôi.
Cảnh vật đẹp đến nhức nhối lòng người. Và vì vậy ông Trọng vội cắm cúi đi tiếp, để khỏi phải nhìn cái giây phút quầng lửa cuối cùng kia biến mất dưới chân trời.
 

2/9/1988
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0