📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Những truyện ngắn của Trọng Huân

19 trả lời, 2.957 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 19:49:06Ct.Ly>
Truyện ngắn của Trọng Huân,


Con nhà sẩm

Giáp căn hộ nhà tôi là nhà ấy - vợ làm báo, chồng PTS, nay gọi tiến sĩ. Ngay buổi đầu họ mới dọn tới, nhìn anh chồng tôi đã ngờ ngợ. Lục mãi trí nhớ, vẫn không ra. Anh chàng trán dô, tai chuột. Dù cố ra cái vẻ khinh khỉnh, khuồn mặt vẫn không dấu được cái nét tồi

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 19:50:20Ct.Ly>
Kỷ Vật



Tốt nghiệp ra trường, tôi về dạy học ở một huyện vùng trung du. Cái thị trấn nho nhỏ. Ngôi trường ngự ngay trên đồi. Từ khu trường có thể nhìn bao quát xuống thị


Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 19:51:25Ct.Ly>
Truyện ngắn của Trọng Huân,


Hàng xóm


Cô nghe tiếng cửa căn phòng bên cạnh mở, tiếng líu ríu cười đùa, đun đẩy của đám trẻ.
-

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 19:52:28Ct.Ly>
Khi người ta đói



Có kẻ từng mỉa mai về người viết sự đói, người đói, rằng tầm nhìn không thoát khỏi miếng ăn(!) Đúng rồi, nếu người ta no thì miếng ăn quá khẩu thành tàn, còn nếu đói,


Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện ngắn của Trọng Huân

Kỷ niệm thơ




Thấy tôi mở cái hộp, ?n và ?n, hai con gái rượu của tôi xán lại. Vốn chúng vẫn tò mò muốn xem trong cái hộp ấy của mẹ chúng có gì. Mấy thứ linh tinh thôi, của tuổi thơ và riêng tư thời con gái, ai mà chẳng có: cuốn nhật ký, cái nhẫn duya za, tập thư từ...
- Mẹ, cái gì thế này? Cho con nhé!
Tiếng con gái cắt dòng suy nghĩ tôi.
- Đồng xu đấy con ạ! Đồng năm xu.
Đồng xu trên tay con, chợt nhắc tôi nhớ đến câu chuyện thời thơ ấu của mình.
Ông già ấy hom hem lắm. Bao giờ cũng thấy ông khoác bị, lốc cốc gậy và đội chiếc nón rách. Không hiểu dãi dề mưa nắng hay lâu ngày huơ huơ ra xin làm chiếc nón tả tơi, nó chỉ còn cái chóp cũn cỡn như nón anh tốt rỉn. Cứ định kỳ dăm bữa nửa tháng, ông lão lại đến xin ở xóm tôi, một xóm nghèo hẻo lánh.
Đường vào xóm gập ghềnh, quanh co trên cánh đồng. Nhà tôi ngay rìa làng. Hễ ai vào xóm, từ nhà tôi đều trông thấy. Giáp cánh đồng và kế xóm có bãi trống, chơ vơ cây si già.
Các cụ trong làng bảo, cây si trồng từ hồi xửa hồi xưa, buổi mới lập làng, dễ đến mấy trăm năm.
Còn thày tôi bảo, hồi nhỏ ông đã thấy cây si xum xuê. Không hiểu sao tôi hay đem so cây si với ông lão ăn mày nọ, cây si và ông lão giông giống nhau, đều già nua và tội nghiệp.
Mỗi lần vào xin xóm tôi, hành trình của ông không thay đổi, lão cứ chầm chậm lần gậy, diễu khắp các nhà trong xóm. Có điều lạ, không bao giờ ông già ghé vào nhà ai, chỉ lóc cóc gậy, dừng lại gần cổng ngõ nhà ai đó, tận bên ngoài hàng rào, miệng lầm rầm và mắt thẫn thờ, chẳng ra chờ đợi, chẳng ra cầu xin. Tiếng lầm rầm nhỏ, lại đứng mãi xa, người trong nhà sao nghe rõ. ấy thế mà khi ông già tới, dừng cổng nhà ai, nhà đó khắc biết.
Xóm tôi nuôi nhiều chó. Con người già nua khốn khổ kia, dù bao lần đến cái xóm quạnh hiu của chúng tôi, lũ chó vẫn không nhận đấy là người quen, chúng cứ xúm lại, sủa râm ran. Rồi con này truyền con kia, ngõ này truyền ngõ khác, lão ăn mày tới đâu là người xóm biết tới đấy. Có con chó sủa chưa hả, còn nhũng nhẵng đuổi theo. Một bận có con chó đẻ không sủa, lão ăn mày vừa lóc cóc khua gậy dừng trước hàng rào chủ nhà nó, con chó xô ra đớp ngay một nhát. Vết cắn sâu quá, có người thương tình, cho lão nắm thuốc lào tướng, rịt vào máu còn chảy đẫm gấu quần, lướt thướt ướt xuống cả gót chân. Mấy tuần sau, lão già ăn mày quay lại xóm tôi xin, chân đi còn cà nhắc.
Xóm tôi nghèo, ông già đến xin ít người cho. Vậy mà dù nắng mưa, chả bao giờ lão thay đổi vệt hành trình.
Không như các nhà khác, lão ăn mày chỉ đứng ngoài xa, duy nhất với nhà tôi, bao giờ lão cũng vào tận sân. Rất chiếu lệ lão lầm rầm cầu xin, lời cầu xin hình như nhỏ hơn các nhà khác. Và thường là sau đó, lão chầm chậm tệt xuống đầu hè, để cái gậy, cái nón xuống một bên, ngả bị trên vai. Lần nào tôi cũng tò mò ngó nghiêng bị của lão, xem trong ấy xin được những gì. Hôm thì mấy củ khoai lang, hôm ít lát sắn khô, hôm củ hùng tinh, nhà ai mới bới, chưa kịp rửa, vỏ còn bám đất. Trong bị có cái ruột tượng đen rách, vá buộc chằng túm. Cái ruột tượng ông già dùng đựng gạo người ta cho.
Nhà tôi không nuôi chó, nhưng mỗi khi lão tới, bu tôi vẫn biết. Nếu không do tiếng lục vấn đủ điều, hay tôi đòi xem trong bị có gì, thì tiếng gậy lóc cóc của lão đã đủ báo hiệu lão ăn mày đến. Từ trong nhà tiếng bu tôi vọng ra, trách mắng tôi sao lục vấn ông lão và cấm tôi không được thóc mách nhòm ngó bị của lão. Rồi bà chạy ra.
Một bận ông già đến vào đúng bữa cơm trưa nhà tôi. Chắc nghe tiếng bát đũa lách cách và cả mùi cơm độn khoai khô thơm lừng, lão ăn mày biết đang bữa cơm nhà người. Hình như lão đã định bước đi, rồi lại thấy gậy lốc cốc gõ xuống sân. Tiếng gậy ngập ngừng, nhỏ hơn mọi bận. Bu tôi biết ông lão đến. Bà sai tôi lấy thêm bát đũa, tự tay xới bát cơm đơm đầy, rưới tương và gắp mấy gắp rau lang, rồi bà dời mâm. Tiếng mẹ tôi mời ông lão vào nhà, đến mấy lần bà giục, mới thấy ông lão thập thò ở cửa. Dù cả thày tôi mời nữa, nhưng ông cụ chỉ run rẩy đón bát cơm, lùi lùi ra, lặng lẽ ngồi ở bờ hè ăn. Lúc thày bu tôi mời, tôi nghĩ ghê ghê, chỉ sợ lão ăn mày ngồi xuống, người ông ta hôi bẩn lắm.
Ông lão tới nhà tôi, không bận nào là bu tôi không cho, lần thì dúm khoai lang khô, lần dúm gạo... Cứ mỗi lần, nếu cho khoai thì bà nói, hôm nay nhà cháu không có gì, chỉ có mấy củ khoai đãi cụ; hôm dúm gạo thì bà nói, hôm nay nhà cháu không có gì, chỉ đãi cụ giúm gạo. Tôi rất lạ, sao đã cho, mà lại cho một ông ăn mày, việc gì phải nói “đãi”. Tôi thắc mắc hỏi bà:
- Bu ơi, sao phải nói vậy? ông ấy là ăn mày cơ mà!
- Ăn mày là ai? Ăn mày là ta! Đói cơm rách áo hoỏ ra ăn mày!
Đó là câu mẹ tôi, một người đàn bà chưa bao giờ được cắp sách đến trường, dạy bảo con. Sau này nghe từ “đãi” ấy, tôi không còn thắc mắc với bu tôi nữa.
Ngoài ti?ng chó sủa và tiếng gậy gõ, tín hiệu lão ăn mày đến, cũn là tiếng nheo nhéo của lũ trẻ lau nhau kéo theo.
Xóm tôi hẻo lánh, ít người lạ đến, mỗi khi lão ăn mày tới, lũ trẻ đều bu lại, chúng lẵng nhẵng bám theo và bày ra đủ trò. Chúng nhòm ngó xem trong bị có gì, ào sát vào người ông già, rồi lại tán loạn chạy xa và bịt mũi kêu oai oái: Eo ơi, chúng mày ơi, hôi hôi lắm! Có đứa nhặt đất, bẻ que rào, ném lên người lão. Sự trêu chọc của đám trẻ không làm lão ăn mày tức giận. Hình như lão không biết tới sự vây bủa, trêu chọc của đám trẻ, lão ăn mày chỉ lầm lũi bước. Tuy thinh thích, nhưng chưa lần nào tôi dám hùa theo trò chơi của đám trẻ. Tôi biết thày bu tôi rất ghét trò ấy. Có bận ông già vào sân nhà tôi, lũ trẻ bám theo. Ông lão vừa ngả cái nón để xuống hè, một đứa chộp lấy, chụp vào đầu đứa khác và cả lũ hô hố cười. Thày tôi tức quá, quát cho một trận, cái thằng chộp nón suýt bị ăn vút.
Một lần thày bu tôi ra đồng, tôi cùng đám trẻ trong xóm đang chơi ngoài bờ rào duối trước nhà. Chúng tôi chơi trò đánh cóc. Bốn chân con cóc bị căng ra, mỗi đứa cầm một roi dâu vụt. Con cóc bị những trận roi túi bụi, mới đầu còn phình bụng, đầu nghênh nghênh chịu trận, sau bụng xẹp dí, nằm đơ đơ.
Chơi mãi trò đánh cóc đã chán, chợt lũ trẻ thấy ông ăn mày tới, chúng hò reo vây quanh ông lão. Thế là lũ trẻ có trò mới, như mọi bận chúng thường bày ra với ông lão. Tôi nghe một đứa hét to: Con cóc cụ, cho lão ăn mày con cóc cụ chúng mày ơi! Đám trẻ nhao nhao hưởng ứng. Lúc đầu tôi chỉ nghĩ, đó là câu nói đùa hoặc doạ ông lão. Lão ăn mày đâu có biết đâu trò đánh cóc vừa diễn ra, lão vẫn bình thản như mọi khi, chầm chậm lần gậy bước. Kẻ đầu têu xách dây buộc con cóc, tôi vừa ghê sợ vừa tò mò ngó xem. Thằng ấy giơ tay làm dấu cho đám trẻ chúng tôi im lặng, nhằm đánh lạc hướng chú ý của ông lão ăn mày, còn nó rón rén bước về phía sau lưng lão. Rất nhanh, ào một cái, nó tuồn con cóc vào cái bị. Tưởng chúng chơi trò giằng lục bị như mọi hôm, ông ăn mày vội kẹp tay cho cái bị chặt hơn. Nhìn phản ứng của ông già, đám trẻ nhảy cẫng lên, hò reo. “Ông ăn mày cóc chúng mày ơi! Ê ê! làng nước ơi có ông ăn mày cóc. Trong bị của lão ấy đựng cóc ê ê...” Con người khốn khổ kia dù già nua, phản ứng chậm chạp, cũng nhận ra đám trẻ vừa dở trò tai quái với mình. Cảm giác về sự động chạm cái bị vừa nãy, chắc chúng lại nhét vào một thứ bẩn thỉu gì đó. Lão ăn mày ngồi tết xuống đất, chậm rãi gỡ cái bị trên vai xuống. Tôi rùng mình hình dung, trong bị một con cóc máu mê, nhớp nháp mủ trắng, nằm sõng soài trên mấy củ khoai hay những lát sắn khô... Đám trẻ tò mò nhìn lão ăn mày thò tay rờ rẫm khua bị. Chúng chờ đợi. Thật ghờ sợ, tay ông ăn mày giơ ra và từ từ đưa vật lạ lên sát mặt. Khi nhận ra con vật bẩn thỉu và sống dở chết dở, lão lẳng lặng vứt tọt con vật xuống ngay bên cạnh chỗ lão ngồi. Đờ đẫn lão ăn mày quay ra nhìn đám trẻ. Từ đôi mắt già nua, cùi trắng lèm nhèm, dòng nước mắt rìn rịn, cái miệng lão thì méo xệch. Không lầm rầm như mọi khi, tiếng lão rên lên thống thiết:
Các con ơi, các con tôi đâu rồi. Sao để bố khổ thế này!
Đấy là lần đầu tiên tôi thấy một người già khóc, khóc thành tiếng, những tiếng khóc hầng hậc...
Nghe tiếng khóc của ông già, tôi sợ hãi chạy vụt về nhà, đám trẻ cũng sợ hãi, tán loạn chạy. Hôm đó không thấy ông già vào sân nhà tôi như mọi bận.
Tôi nhớ mãi dáng đi của lão, trên con đường giữa cánh đồng thất thểu rời xa khỏi xóm.
Tôi đứng lặng nhìn theo, nhìn khi lão ăn mày bước qua cây si già, nhìn tận khi bóng lão còn như cái chấm, rồi mất hút trên cánh đồng.
Thày bu tôi không rõ bọn trẻ bầy trò gì trêu ông lão, song biết chuyện ông ăn mày thất thểu khóc.
Ông cụ ở làng bên, nhà ven sông. Xưa ông cũng có nhà, có ruộng, có vợ cùng hai người con. Ông vừa làm ruộng vừa thêm nghề sông nước, chống bè thuê. Mới đầu còn chân chống bè thuê, sau dần có lưng có vốn, ông mua một vài hộp nứa, tự mình xuôi dòng. Vừa làm chủ, vừa làm công, nhà khá lên. Những chuyến xa nhà sông nước của ông cũng lâu hơn, nửa tháng, một tháng. Cho đến một bận ông về cầm nhà, cầm ruộng. Nghe nói để có vốn xuôi bè lớn. Cũng từ đấy, cả vợ chồng con cái nhà ấy cùng nhau xuôi bè. Cậu con trai mười bốn tuổi đủ sức giúp bố làm chân chống sào, cô con gái mười hai phụ giúp mẹ cơm nước trên bè. Chuyến bè đó lớn lắm, nghe nói đến hơn chục hộp nứa, cả gỗ nữa và thuê đến mấy tay sào. Quá rằm tháng chín, ai cũng yên tâm chẳng còn bão lớn. Chuyến bè tận bến chợ Mới sông Đà, xuôi dòng. Nhổ sào được hai ngày, đã qua ngã ba Việt Trì, từ sông Đà vào sông Cái. Trời đang quang, mây đang tạnh, bất chợt một cơn bão lớn ập đến. Cứ như các cụ nói, trận bão ấy lớn lắm, bão làm đổ cả đình. Sóng to gió lớn, con bè chống chọi chẳng được mấy nỗi thì tan tác. Đến mấy tay chống sào quen sông nước, mà cũng kẻ mất, người còn. Gia đình ông chủ hai đứa con đều bị dòng nước cuốn mất, may vợ chồng ông chủ túm được cái mảng, dạt vào bờ mà thoát chết. Mất con, trắng tay, sau lần ấy người vợ ông trở lên điên dại. Gần mười năm sau thì bà ta chết....
Kể câu chuyện ấy, thày tôi chép miệng: Đấy buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện. Người ta có số, chả ai biết đời người thế nào. Còn bu tôi thì nói: Giá mà không chết đuối, người con trai lớn của ông lão giờ cũng trạc tuổi thày tôi, người con gái thì cỡ tuổi bu tôi.
Tôi thấy ân hận. Dù không phải kẻ đầu têu nhưng tôi đã a dua theo lũ trẻ. Sao lúc ấy tôi không ngăn cản?
ý nghĩ cứ dằn vặt. Thế là tôi moi hai đồng xu trong ống tre, những đồng xu tiền mừng tuổi, mà chỉ khi thật thèm tôi mới dám moi ra một đồng mua cái bánh đa.
Thấp thỏm chờ đợi ông lão quay lại, tôi sẽ đãi ông lão ăn mày hai đồng xu. Một tuần, hai tuần trôi qua, tôi ngong ngóng về hướng cây si già, về con đường dẫn vào xóm. Thấp thoáng bóng ai đấy, tôi lại hy vọng, đó là ông lão ăn mày.
- Khổ thân chưa! Cái ông lão ăn mày vẫn đến xóm ta, chết rồi đấy! Vừa chết rét, vừa chết đói. Thấy bảo sáng ra, gác chợ biết thì người đã lạnh cứng...
Đấy là người xóm tôi đi chợ về kháo nhau. Hai đồng năm xu ngày ấy tôi chuẩn bị đã không bao giờ còn được đãi ông lão ăn mày nữa./.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn tác giả Trọng Huân , đã gửi những tác phẩm đến thư viện VNTQ

Ct.Ly thay mặt BQT, thành thật cảm ơn bạn đã góp sức cho thư viện VNTQ

Chúc tác giả Trọng Huân luôn vui và hạnh phúc trong an lành

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 20:15:01Ct.Ly>
Truyện ngắn của Trọng Huân,

Vĩ nhân


Tình cờ tôi quen anh qua một người bạn. Bạn trân trọng giới thiệu, anh là nhà


Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 20:18:16Ct.Ly>
Lời nguyền



Làng tôi ven sông Đuống. Nếu tính đường chim bay, làng cách trung tâm Hà Nội dăm cây số. Đứng trên đê là nhìn thấy mấy khách sạn liên doanh sừng sững mới xây. Tuy gần

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 20:21:23Ct.Ly>
Truyện ngắn

Thật Mặt




Hoàng đến chơi. Quái lạ thái độ anh chàng từ đầu khác hẳn lúc gặp nhau ở cơ quan, cu cậu lành lạnh nói năng xã giao, nhất là đối đáp với Vân, vợ tôi. Hay Hoàng tránh sự hiểu lầm không đáng có, quan hệ bạn bè đàn ông với nhau khác, vợ con người ta cần giữ


Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 20:24:33Ct.Ly>
Trọng Huân, 0912398702,

Lão buôn thần



Hàng phố thấy lão ăn mày lạ thất thểu đi qua. Trông lão già tiều tuỵ, đói khát, đội cái nón sùm sụp, nhìn không rõ mặt. Xin, lão chỉ chìa tay, chẳng nói năng gì. Dân phố nghĩ

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
Trọng Huân




Cặp kính không màu



Vợ chồng hắn dọn đến khu nhà ấy. Hắn mới cưới vợ. Cuộc sống chung đụng chắc bố hắn nghĩ bất tiện, tuy nhà rộng ba bốn phòng, chỉ có bố mẹ, vợ chồng hắn và cô em gái. Hắn chẳng phản đối, cứ thờ ơ như cái lần bố thông báo chạy cho hắn vào làm liên doanh. Nơi dọn đến là ngôi biệt thự thời Pháp người ở chen chúc không biết bao hộ, hắn không quan tâm. Trước hôm chuyển nhà, hắn ngồi, bố hắn nói: Chỗ ấy tuy chật chội, hai phòng, năm chục mét vuông, chưa kể công trình phụ, nhưng đường xá tiện, lại ngay trung tâm. Bố hắn hoả hồng lại. Ông sẽ chạy hợp đồng sang tên cho hắn. Ông tính, nếu sau này nhà nước hoá giá càng hay, bằng không phải chuyển thì cũng bồi thường thoả đáng, chẳng đi đâu mà lo, ông tính chán rồi. Nghe bố nói hắn ngáp, tháo cặp kính dày cộp đến năm sáu đi- ốp, lau. Hắn không thông báo chuyển nhà mới, sáng mấy đứa bạn phổ thông vẫn đến. Đã giải thích, tất cả khoán gọn cho cửu vạn, vậy mà họ vẫn xăng xái vác vác khiêng khiêng, kê chỗ này, chuyển chỗ kia. Thật đến lạ! Thôi mặc xác chúng. Buổi trưa dọn nhà, không biết vợ hắn chuẩn bị lúc nào kịp tổ chức bữa ăn mừng nhà mới cùng bạn bè đến giúp. Không khí thật ồn ào bức bối. Hắn không thích. Nhìn đám mặt đỏ như gà chọi, mồm miệng nhẫy mỡ, tranh nhau nói, hắn khó chịu quá! Đúng là rượu bia vào một lũ say, nhà hắn như cái chợ. Chuyển nhà thì có gì đáng ỏm tỏi? Họ làm như sự kiện lớn trong đời. Lúc thằng bạn ngà ngà say, bê cốc bia đến, hắn biết lại kiểu diễn văn tâm sự. Y rằng vậy. Hắn sốt ruột nhưng cố nhẫn nại. Tiếng thằng bạn:
- Ông nhớ... ông là đứa sướng... Cưới vợ... nhà riêng. Ông biết không, trong lũ phổ thông, thằng Tuấn cưới vợ hai con rồi vẫn núp bóng bố mẹ; thằng Tùng... ha ha, chưa cưới được vì không kiếm nổi chỗ kê giường. Còn cái thằng tôi, nhà ba nhân mạng sống trong 18 mét vuông, gồm cả ăn ngủ... chót vót tầng tư khu lắp ghép. Mừng... mừng!
Lũ bạn nhao nhao hưởng ứng. Hắn nhắm mắt uống thứ nước nhăng nhăng đắng, cái chỉ làm người ta tức bụng và... đi đái. Buổi ăn mừng nhà mới cũng đến chầu kết thúc. Sau khi tiễn thằng bạn cuối cùng, cái thằng say cứ bá lấy vai hắn tâm sự, cảm động mừng cho hắn, hắn thở phào đóng sầm cửa. Vợ hắn hơi ngỡ ngàng.
Nhà hắn chỉ xịch xe, đẩy cửa, tông vào là giang sơn riêng. Hắn chẳng rõ khu nhà này có những ai, kể cả phòng nhà đối diện. Còn trong khu đều biết: cặp vợ chồng mới dọn tới, cô vợ trẻ xinh xẻo, nhanh nhảu, anh chồng đeo cặp kính dày cộp, không màu. Dọn nhà vài tháng, chiều đó đi làm về hắn thấy vợ đang lúi húi trong bếp. Một loáng vợ hắn bưng lên cốc nước cam.
- Kìa, anh mệt phải không? Anh uống đi cho mát. à, em mua được con cá quả tươi quá. Anh thích ăn món gì, em nấu ám nhé?
- Gì cũng được.
Giọng hắn dửng dưng. Mặt người vợ trẻ xị xuống, song cô kìm lại được. Nửa năm chung sống, cô hiểu tính chồng vậy. Có thể công việc ở liên doanh vất vả, tháng mấy trăm đô, chắc phải làm việc căng thẳng. Đã định xuống bếp rồi, cô lại đứng ngắm chồng uống nước.
- Khổ thân bà cụ Tí quá!
Tiếng vợ hắn. Hắn nhìn cô ta khó hiểu. Chẳng rõ Tí, Tẹo là bà nào. Đoán được ý nghĩ của chồng, cô vợ khanh khách cười, giải thích:
- Bà cụ Tí, phòng đối diện với nhà mình. Cụ gần bảy mươi, cụ ông mất rồi. Nhà chỉ hai mẹ con. Trước cụ ông là nhà văn. Giờ nhà đã bấn mà anh con trai ngoài ba mươi vẫn không nghề ngỗng. Nghe nói còn hút hít, nghiện ngập. Bà cụ hôm qua sang đây kể chuyện rồi khóc. Cả nhà có cái ti vi đen trắng là đáng giá nhất mà con cũng mang bán.
Đến đây hắn không im được nữa.
- Thôi thôi... cô đừng có dây vào việc của nhà người... Mà nó lại là dân nghiện...
- Nhưng khổ thân bà cụ quá, gần bảy mươi...
- Không nhưng gì cả. Hắn cắt ngang làm cô vợ hơi tẽn. May có tờ giấy bạn bè nhắn, cô chữa ngượng đưa cho chồng.
- Anh Thuý trưa ghé qua đây, nhắn, có anh gì cùng lớp, người Hải Dương, bố mất. Sáng mai các anh ấy tập trung về viếng. Mọi thứ đã chuẩn bị. Giờ và điểm hẹn ghi trong giấy. “Hừ, mãi tít tận Hải Dương. Bố thằng bạn thời đại học, nào biết mặt ông ấy mồm ngang mũi dọc ra sao. Giá gặp ngoài đường cũng không biết mà chào. Thế mà nay chết, đi viếng.” Hắn không đi. Thấy vậy người vợ trẻ tỏ ý băn khoăn. Sau dịp ấy vợ hắn ốm nghén, không ăn uống gì. Một mình, tiện hắn mua chiếc bánh mì. Rồi vợ sảy thai. Bẵng đi một dạo nhà hắn chẳng nấu nướng. Giờ vợ hắn đã khoẻ nhưng ít thấy cô ta bày vẽ như trước nữa. Hắn nào để ý, chỉ thoáng nghĩ, càng tiện, đỡ lích kích. Như dịp hắn tiếp bà mẹ nuôi thời sơ tán Mỹ ném bom, bà đến chơi, chỉ làm cú phôn cơm hộp có sao đâu. Tối đó bỏ cặp tài liệu ra, hắn mải mê xem. Nghe cửa ken két, quay lại thấy vợ đi đâu về. Thoáng mùi nước hoa. Lúc ấy có lẽ khuya quá rồi, vì hắn ngáp mấy bận và rất buồn ngủ. Sáng hôm sau hắn dậy hơi muộn. Đường đông tắc mấy lần, hắn phải phi xe nhanh. Bất chợt cái cặp văng ra, phanh gấp mà xe vẫn lao thêm chục thước. Quay xe lại, hắn ngơ ngơ tìm. Đâu đó có tiếng gọi:
- Chú ơi!... Đây này... Khổ , bẩn hết cả rồi!
Bà hàng rau nhặt lên đưa cho hắn. Lớ ngớ thế nào bà buột tay làm giấy tờ trong cặp bung ra. “ Hừ, để yên cho người ta. Rách việc”- hắn khó chịu nghĩ vậy. Xếp lại, hắn chợt nhớ đêm qua tập tài liệu bỏ ra đọc chưa cho vào. Lại phải quay về. Đến nhà, đi về mất toi cả tiếng. Mở khoá hắn vội vã đến bàn làm việc. Kia rồi, tập tài liệu... Chợt hắn nghe tiếng thở hổn hển, tiếng giường kẽo kẹt. Nhìn chiếc ri đô kéo lửng, không tin ở mắt mình, hắn tháo kính lau: Trên giường, hai cặp đùi chân trắng nhởn, bó bện...
1996
Đăng nhập để trả lời
0
Truyên ngắn của Trong Huân



Kẻ trông chùa



Chùa làng tôi nằm trên gò đất cao cuối làng, cây cối um tùm. Từ xa thấy thấp thoáng mái chùa và cây si già. Ngày bé, quãng chín mười tuổi tôi thường theo bà đến đấy. Bà tôi già lắm. Cứ mồng một hôm rằm bà đi lễ Phật. Bố sai tôi theo bà, bố sợ bà già yếu đi một mình. Bà rất nhớ ngày sóc vọng, trước một hai hôm, đã nhắc sắp và tắm gội sạch sẽ. Bà giở bộ quần áo mới trong bồ hay chọn thứ lành lặn mặc, khoác ngoài tấm áo dài nâu. Tôi xách làn đựng nải chuối, thẻ hương, lăng xăng bước theo bà.
Trông nom chùa là một nhà sư nữ. Cụ cũng già như bà tôi, mặt mũi răn reo. Cụ luôn trùm chiếc khăn nâu nhưng có lần tôi phát hiện, đầu cụ sư nhẵn thín. Tôi ghé tai bà nội hỏi:
- Bà ơi, sao đầu cụ sư nhẵn thế? Tóc rụng à?
- Hỗn nào! Cụ đi tu, cạo đầu. Lần sau cháu không được nhìn cụ thao láo như vậy!
Đến cổng chùa bao giờ bà tôi cũng dừng lại, soát hàng cúc, vuốt vạt áo, đưa gậy cho tôi hoặc kẹp vào nách, hai tay bà chắp lại trước ngực thành kính. Tôi cảm thấy sờ sợ, bước sát theo bà. “Nam mô a di đà Phật!”- tiếng bà tôi dưới sân chùa. “Nam mô a di đà Phật”- tiếng nhà sư trong chùa vọng ra. Bà tôi thành kính xếp lễ lên ban. Khi bà lùi ra chuẩn bị lễ cũng là lúc sư cụ thỉnh chuông. Tiếng chuông ngân nga... Tôi khép nép túm vạt áo bà đứng sát vào hơn. Nghe tiếng chuông tôi cứ tưởng tượng, các vị thần linh trên trời đang chứng kiến lời thỉnh cầu khấn lạy của bà tôi. Qua làn khói hương, tôi thấy các pho tượng như xao động, mắt chằm chằm nhìn vào tôi. Sợ hãi, tôi cúi gằm, miệng luống cuống: “ Cháu không phá tổ chim, cháu chỉ xem thôi. Cháu đi mót lúa hợp tác, chứ không bốc tuốt trộm đâu. Cháu...”
Lễ xong bao giờ bà tôi cũng ngồi nói chuyện và uống nước với sư già, thứ nước vối nhần nhận đắng và ngọt, quê tôi nhà nào cũng uống. Hai người già nói chuyện về con đường trước chùa, khéo mưa xuống lầy lội mất; về thời tiết thay đổi, các khớp xương đau; nói về thu hoạch mùa màng... Câu chuỵện không mấy thú vị, đã nhiều lần nghe, tôi bỏ ra sân chơi, nhặt hoa đại hay trái si vàng nhỏ rụng đầy sân chùa. Lần nào ra về bà cũng được nhà chùa phát lộc, khi chiếc oản, khi thì mấy quả chuối, có bận là vài trái chay chín vườn chùa. Miệng tôi ứa nước bọt, đến cổng đã háo hức mở ra xem, bà mắng:
- Hư nào! Để về bà chia, cả nhà thụ lộc.
Trẻ con nhanh nhớ chóng quên, chỉ quãng ngắn tôi đã quên chỗ lộc vì mải hỏi bà những điều nhìn thấy ở chùa:
- Bà ơi, cái người nhỏ tẹo, đen sì, một tay giơ lên giời, một tay trỏ xuống đất là ông gì đấy?
- Hỗn nào! Không được gọi Ngài bằng cái. Ngài là Phật Tổ.
- Thế cái Ngài nhiều tay là ai?
- Hư nào! Ngài là Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát, ngài thấu hiểu mọi điều đau khổ của chúng sinh. Người làm điều tốt Ngài phù hộ; kẻ làm điều xấu Ngài quở phạt.
- Thế thằng Hải hôm qua trảy trộm bưởi nhà ông Sửu ăn Ngài biết không?
- Chết chết! Ngài biết. Lần đầu Ngài tha; lần sau thì Ngài phạt đấy!
Bà tôi hay kể câu chuyện Ngài trị kẻ ác làm việc xấu. Hồi ấy Tây càn, Tây bắn súng cối vào làng tôi, một viên trúng chùa nhưng đạn thối. Bọn Tây không vượt nổi hàng rào lũy tre làng, nhiều đứa phải bỏ mạng. Bao giờ bà cũng kết thúc câu chuyện một cách thành kính: Nhờ có Ngài phù trợ đấy! Và những câu hỏi bất tận, lời giải thích rỉ rả của bà cứ từ từ thấm vào đầu óc non nớt của tôi lúc nào không hay biết: Không được bắt giết chim chóc, không hái trộm quả nhà người, hãy thương kẻ khó... Song có những điều lớn lên tôi mới hiểu, như về cõi trời đất, về tạo hóa, về thế giới tâm linh, tinh thần, vật chất, về đạo sống ở đời. Giờ đây, có lúc chợt nhớ đến câu chuyện bà kể và những giấc mơ đẹp tuổi thơ, Bụt hiện lên, Ngài cho tôi đồ chơi, bánh kẹo, con ngựa hồng... tôi lại ước ao, giá được sống lại tuổi thơ.
Hồi ấy, một lần, bố tôi đi họp về. Trong bữa cơm tối, bố nói chuyện với bà và mẹ, làng sắp dọn chùa, tất cả tượng và đồ thờ chuyển xuống nhà tổ, người ta phân công bố vào đội dọn.
- Trời! Sao lại dọn chùa. A di đà Phật! Không được làm điều ác!
Bà tôi bỏ ăn đứng lên, bố nói thế nào bà cũng không ngồi xuống ăn tiếp nữa. Ngay tối đó bà sai mẹ tôi đốt ngọn đèn bão đưa bà ra chùa. Khuya mới thấy tiếng gậy khua lóc cóc trên sân của bà, hai người đã về. Lúc đó tôi lơ mơ ngủ, loáng thoáng nghe bà bảo bố:
- Con ơi! Con đừng theo ai làm điều xấu. Mẹ già rồi chẳng nói làm gì, dưng con phải nghĩ tới các cháu...
Tôi nghe bố dạ một tiếng nho nhỏ. Sáng hôm dọn chùa, bố mẹ tôi đi sớm. Nghe mẹ nói với hàng xóm, có tin nhắn sang, ông ngoại mệt - quê mẹ tôi ở làng bên. Hôm đó bà cấm tôi không được ra ngoài. Thắp hương quỳ trước ban thờ, bà khóc nạn. Trẻ con hiếu động, nghe tiếng người lao xao kéo xuống cuối làng, không chịu nổi, tôi lẻn đi xem. Ngoài chùa, trẻ con người lớn vòng trong vòng ngoài, ông Hội là người chỉ huy việc dọn chùa. Chiều ấy bố về, tôi bị trận đòn nên thân. Tôi gào gọi bà như những lần bị bố đánh, bà không ra can, chỉ thấy mắt bà đỏ hoe, trong nhà nhìn ra.
Tượng, đồ thờ của chùa làng tôi gom hết lại, chất đống vào nhà tổ. Xếp không hết, chỗ thừa theo lệnh ông Hội chuyển đến trại chăn nuôi và lò gạch HTX. Ông Hội nói: Đám ấy toàn gỗ khô, than đượm, trại chăn nuôi và lò gạch không đun đốt cả tháng. Khu chùa dọn rồi, dãy nhà trống thành mấy lớp học của bọn tý nhau chúng tôi. Thỉnh thoảng tôi thấy sư già quờ quạng gậy, bước dưới sân sau chùa. Được vài tháng thì cụ sư mất. Đám ma của cụ nhiều dân làng đưa tiễn, nghĩa tử là nghĩa tận. Khổ thân, sư cụ về tu chùa làng tôi ngót nghét năm chục năm trời, vậy mà... Vài năm sau thì bà tôi mất. Tôi nhớ, buổi chiều ấy đi học về, mẹ bảo bà muốn gặp tôi. Tôi vội chạy vào, bà quờ, nắm tay tôi lỏng lẻo, giọng thều thào:
Cháu ơi... bà sắp về nhà bà đây... Lớn lên cháu nhớ: Đức Phật... Ngài có ở khắp mọi nơi.... Ngài biết việc ta làm... Khinh bỉ... căm ghét của người đời... cũng là sự quở phạt của ngài đấy... cháu ạ!
Tôi hiểu bà đang nói với tôi điều gì.
Thấm thoắt đã ba chục năm rồi tôi xa làng đi học và ra công tác. Vì công việc lại bận rộn chuyện gia đình tôi hiếm khi về làng. Đợt này tôi mới có dịp cùng chồng con về thăm bố mẹ, thăm quê. Lâu ngày mẹ con bà cháu gặp nhau, biết bao chuyện. Đang câu chuyện chợt mẹ khoe:
-Làng ta sửa chùa rồi con ạ! Đình thì không dựng lại được, Tây càn đốt cháy tiệt... mà tiền của đâu. May còn ngôi chùa mới chỉ dột nát...
- Thế ai trông nom chùa làng mình? Sư già mà còn sống nay cụ ngoài trăm tuổi!
Không thấy mẹ trả lời câu hỏi của tôi, chỉ thấy mẹ ngước nhìn ảnh bà nội trên ban thờ. Bố tôi ngồi đó chép miệng:
- Ôi dào, cái lão nhập nhằng sổ sách thời hợp tác, bị...
Bố vừa nói tới đây mẹ đã gạt đi:
- Thôi ông... có giời...!
Rồi mẹ quay sang bảo tôi, mai vợ chồng nhớ đưa các con đi lễ chùa. Sáng hôm sau mẹ chuẩn bị sẵn đồ lễ trong chiếc làn, nải chuối bó hương cùng đĩa hoa hái vườn nhà. Trước khi đi, tôi thắp nén hương lên ban thờ bà nội:
- Bà ơi, cháu chuẩn bị ra chùa làng mình lễ đây! Cháu đưa cả thằng chắt Cún của bà đi lễ đấy, bà có dặn cháu gì không?
Từ xa đã thấy mái chùa làng tôi đỏ tươi màu ngói mới. Đám cây cổ thụ quanh chùa không còn nữa. Xung quanh chùa bờ tường cao mới xây vôi quét trắng toát. Nghe tiếng đẩy ken két của chiếc cổng sắt, cổng mới dựng, một ông già dáng đậm chạy ra. Tôi sững lại, ông Hội. Ông Hội chưa nhận ra tôi, tiếng ông dểnh dảng:
- A di đà Phật! Cậu mợ là cánh con cháu nhà ông bà nào mà tôi chưa nhận ra nhảy? à... à, cánh nhà cụ Nhất phải không? Giời ơi, có Phật đây chứng giám, tôi nghe nói cậu mợ trên Hà Nội làm ăn phát đạt lắm! Trời Phật phù hộ đấy. Hôm làng quyên giáo sửa chùa, hỏi thăm các cụ đằng nhà dưng Hà Nội rộng lớn vậy, biết đâu mà tìm. Có Phật đây...
Thoạt trông, có vẻ ông ta khác ông Hội năm nào, mềm mại trong bộ đồ ta màu hạt dẻ, ăn nói nhún nhường, mỗi câu lại đế thêm từ “có Phật”, nhưng nhìn kỹ tôi vẫn nhận ra cái ông Hội xưa. Ông đon đả dẫn khách đi giới thiệu việc công đức sửa sang nhà chùa. Nào pho tượng Thiện, ác là cánh con cháu nhà cụ Tuất ở Hà Nội cung tiến, ông nói, để làng ta nhiều điều thiện, ít cái ác. Còn pho tượng Thích Ca, chi phái nhà Mão, con cháu ở thành phố Hồ Chí Minh công đức. Nghe ông say sưa giới thiệu, tôi thoáng nghĩ, hay giờ ông ta ân hận những điều mình làm trước đây, ông ra chùa trông nom để chuộc lại...? Chờ tôi bày lễ thắp hương, ông Hội lùi xuống thỉnh chuông. Tôi lạnh người nhớ đến tiếng chuông của sư già thuở nào. Sao tiếng chuông ông Hội thỉnh nghe không giống tiếng chuông chùa ngày trước. Khi tôi lễ xong các ban, ông Hội mời vợ chồng tôi đến trường kỷ xơi nước. Tiếng cánh chè rơi loong coong trong chiếc ấm trà Trung Quốc làm tôi chạnh nhớ đến những chiếc bát sành cũ kỹ sư già mời bà tôi uống nước vối xưa. Ngay đối diện với bộ trường kỷ là bệ xây, ngày trước có đâu! Cùng với đồ thờ, trên bệ còn có chiếc hòm gỗ đỏ, đập vào mắt khách là hàng chữ CONG ĐUC vàng choé. Vừa mời vợ chồng tôi xơi nước, ông Hội vừa giới thiệu việc cung tiến của dân làng, đặc biệt là người xa quê. Ông nói, chùa làng còn nhiều công trình cần công đức lắm, như cất tháp mộ sư già, xây sửa lại nhà tổ, sắm đồ thờ thiếu... Xen mỗi câu là tiếng cười của ông Hội.
- Cậu mợ... vâng, đây là điều để phúc cho con cháu. Phật, Ngài không quên đâu... He he he...
Tôi như đã nghe tiếng cười đó ở đâu? Còn chồng tôi, thấy ông Hội gợi ý, anh nhanh nhảu rút ví. Rất nhanh cái đĩa đã sẵn trên tay ông Hội từ lúc nào, đón lấy những tờ xanh xanh đỏ đỏ.
- He he he... Phật, Ngài nghìn mắt nghìn tay, Ngài sẽ phù hộ độ trì cho cậu mợ và các cháu... He he he...
à, tôi nhớ ra tiếng cười ấy rồi, khi đôi tay ngai đầu rồng gãy cậc, sư già rúm ró sợ, là lúc tiếng cười he he của ông Hội cất lên trên sân chùa thuở nào.

1996
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 09:27:36Chuột lắc>
Trọng Huân
Khóc ngứa nghề


Hắn khóc vợ, khóc thảm thiết. Sao trên đời có người đâu khóc vợ thê lương đến vậy! Tiếng khóc khàn khàn, lặng tắc như phát ra không phải trong họng mà từ phổi ruột tim gan. Nghe, chú ý mới rõ lời than khóc. Hà nghệ sĩ, dân làng gọi như vậy, hắn khóc kể về tình cảm buổi ban đầu, kỷ niệm như tươi nguyên nóng hổi. Rồi hắn kể bầy con dại cùng hắn bơ vơ côi cút trên cõi đời này. Đàn bà khóc chồng là thường tình, cảnh đàn ông khóc vợ nghe thật não lòng. Lắm lúc khóc hắn kể cả cái chuyện ái ân, nghe phát ngượng. Nghĩ, ai lại than chuyện ấy làm gì. Nhưng thôi, người ta đận mất vợ, đầu óc không tỉnh táo, biết đâu chọn lựa câu khóc:
- Hu hu... em ơi, em ơi!... Sao em nỡ chết khi anh còn sống... Hu hu hu... em ơi tình ta dang dở!... Hu hu
“ Choang... choang”- mấy cái bát vỡ tan. “Xoảng”- lại chiếc mâm vèo ra sân. Tiếng trẻ con giật mình ré lên.
- Ông cấm chúng mày nhặt, đám ăn hại đái nát... kia! Xéo, xéo mẹ chúng mày đi cho khuất mắt ông. Hu hu hu... em ơi! Nếu mai anh chết thì cõi lòng ai tan nát em ơi!
Thế là bắt đầu kể lể đoạn trường. Hàng xóm biết hết đoạn này sẽ tới đoạn hắn chửi rồi lại bắt đầu khóc cha, khóc mẹ. Hắn khóc cha mẹ giọng cũng ai oán, lâm li vậy:
- Hỡi cha mẹ ơi, bao công sinh thành nuôi dưỡng... hơ hơ... Cha ơi mẹ hỡi có hay! Linh hồn xin giáng về ngay linh sàng! Hoặc cha mẹ ở thiên đường cực lạc, xin lệnh trên cưỡi hạc kịp về. Hoặc về địa phủ âm ty, xin đức Địa tạng, hộ trì cho lên... hu hu... cha mẹ hỡi!
Hoá ra thằng cha đó bố mẹ đều chết. Thảo nào tiếng khóc nghe buồn thế. Khổ thân hắn thật! Sao có người số phận đến không may. Như hắn chẳng hạn, vợ đã chết, bố mẹ lại cũng chết! Có lẽ chết tai nạn giao thông. Còn giọng hắn chửi phẫn uất, chắc đứa thất nhân nào lừa đảo hắn. Tiếng khóc chửi nhỏ dần, yếu dần, hực cái, hực cái, lịm hẳn. Khốn khổ hắn chưa khóc chửi mệt không còn sức lả đi rồi.
Vợ hắn người đàn bà mảnh như dải khoai, xanh như tàu lá, hai tư tuổi mà gặp ai cũng đồ đến ba lăm. Nhìn khuôn mặt cô ta đoán ngay một cuộc đời khổ ải. ánh mắt len lét ngước nhìn vội cụp xuống. Không phải ánh mắt vụng trộm gian giảo, nó tồi tội và khiếp nhược. ở cái làng này, con gái mười sáu mười bảy là lấy chồng, học cao hết cấp hai, đại học chẳng đến lân, có trúng lấy tiền đâu theo đuổi, chưa kể ra trường ngược xuôi chạy việc. Vậy vào cấp ba mà làm gì? Tiền ấy, sức ấy, thời gian ấy, còn ở với bố mẹ, chịu khó đồng áng, khéo léo dành dụm giấu diếm được chỉ vàng là của hồi môn ngày cưới, không đớn hèn thì may lấy vài bộ quần áo, kẻo khi về nhà chồng mang tiếng tay không. Người đàn bà nom như dải khoai kia lúc cưới tròn mười bảy. Đám cưới nhà trai tổ chức to, ngả hai lợn tổng cộng chín mươi mâm, ba ngày ăn chưa hết cỗ. Chú rể, thằng Hà không hiểu tán tỉnh cách nào qua mặt được mấy đứa. Đẹp giai không bằng chai mặt. Giống con gái mới lớn thích ăn bánh phỉnh cộng thêm tính huyếnh, một tấc lên đến giời của thằng Hà và thời buổi yêu đương tự do, tìm hiểu kiểu dấm dúi bờ bụi, bụng phưỡn ra, thằng Hà chứ thằng phát vãng nào chả phải đồng ý.
Cưới cỗ bàn chưa ráo mâm bát, ngoài sân người còn dỡ rạp khênh bàn, bố mẹ thằng Hà đã lôi vợ chồng nó vào công khai tài chính, chứng kiến việc bóc phong bì và liệt kê đồ mừng. Tính ra, đồ tiền mừng không đủ khoản vay mượn cưới, lõm một triệu không trăm ba bảy nghìn đồng chẵn. Bố mẹ thằng Hà gàn trước rồi, bảo cưới nhỏ nhưng thằng này hống không nghe, quyết cưới to. May bố mẹ nó mặc cả trước, giao kèo ba mặt một lời hẳn hoi, cưới to, lỗ vợ chồng nó hoàn toàn gánh chịu.“ Vợ chồng mày ăn chung với nhà hết tháng là ra ở riêng. Sau mày còn đống em. Khu đất nhà ngoài trại tao tạm giao cho vợ chồng mày. Ra ở riêng, thế là sướng quá. Ngày trước chúng tao ấy à... tay trắng” Nghe bố nói sốt ruột, thằng Hà nhếch mép cười, kiểu: “Biết rồi, ông bà muốn vỗ tuột thằng tôi cho nhẹ nợ. Đây cũng đếch cần.” Chẳng phải chờ đến cuối tháng, ngay đêm tân hôn thằng chồng quyết, vợ chồng chúng chăn gối nồi xoong tếch thẳng ra trại luôn.
Năm năm ba đứa trẻ liên tiếp ra đời, đứa này nhỉnh hơn đứa kia chỏm tóc. Năm miệng ăn chỉ anh chồng kiếm, thằng Hà lại vốn chơi bời rượu chè nhà càng thêm túng. Cái làng nó kiếm việc không dễ, quanh đi đội cát, đóng gạch, quẩn lại phụ nề, thồ than... Thằng Hà làm đủ, dăm tháng nó lại bỏ. Cai không thải thì nó chán cũng bỏ, mà chủ yếu là cai bỏ, thằng nghiện ngập cờ bạc, lúc cần thì nó lại say bí tỉ hay dúi ở chiếu bạc. Mấy bận nó suýt ngã trên giáo xây cao tít vì ngái ngủ hoặc lơ mơ say. Giờ ở làng đố ai dám gọi nó đi làm nữa. Thằng Hà đâm thất nghiệp.
Cơ may thế nào trong một bận say nó hát, cười, ngâm đủ giọng bi ai hài tiếu. Hôm ấy là ở đám cưới trong làng. Thành lệ rồi, làng cứ đám xá mời hay không mời dân làng già trẻ tới ăn cỗ ráo. Cỗ bàn thì phải rượu, không rượu thịt tử tế có đứa đốc chứng cà khịa là khốn. Lâu rồi thằng Hà chưa được bữa rượu nào hả hê vậy, hắn say. Tính thằng này rượu vào là hát, nó trích đủ tuồng, chèo, cải lương. Lão cai Bền khách xã bên sang mừng đám cưới thấy thằng Hà hát đến vỗ vai làm quen. Lão khen: “ Này thằng em, cái giọng chú mày vang, khoẻ! Hừm... đi làm với anh đi. Ngày cơm nuôi ba bữa, rượu thịt đánh thẳng rốn còn giắt về cho mẹ đĩ mười nghìn. Đấy là mới vào nghề, sau giỏi giang tay nghề lên còn kiếm nhiều, có đám... tiền trăm. Chết đuối vớ được cọc, dù lơ mơ thằng Hà vẫn tỉnh ngay, dỏng tai nghe. Hắn cười hỏi khách, giọng vừa nghi ngờ vừa khấp khởi hy vọng: “Ông anh không đùa thằng em chứ?... hì hì...” Khách liền rỉ tai. Khách nói thằng Hà chưa rõ hỏi lại. Nghe thủng ra mắt nó chợt cụp xuống, lưỡng lự. Vốn lõi đời, khách biết cu cậu sĩ diện, ngượng, liền khích:
- Xì... Việc quái gì mà ngượng! Có phải đánh đĩ trộm cắp đâu... Khối đứa đánh đĩ ăn cắp đầy ra đấy vẫn vênh váo, diện ngất trời. Chú mày không tin à? Lên thị xã, phố huyện mà xem. Anh hỏi mấy cái quán ka ra ô kê chẳng bán trôn nuôi miệng công khai à! Hò hát gì!
Thằng Hà nghĩ: Có lý. Mà thá nó con ông cháu cha gìđâu phải giữ gìn! Hắn bùi tai, nhưng vẫn gãi gãi đầu, làm mẽ với khách:
- Em là em ô kề... dưng bác thư thư cho thằng em về hỏi thử ý kiến mẹ đĩ...
- Vẽ!- ông khách bĩu môi khích- Đàn ông mà phải hỏi vợ, vứt! Chỗ quý chú anh mới bảo. Giờ ới cái người có cả đống. Nào chú quyết đi, tôi chờ!
Làm quái gì có chuyện không đồng ý. Khách rút ngay tờ mười nghìn mới khự nhét vào túi thằng Hà, hợp đồng mồm luôn.
- Có việc, anh ới chú phải đi ngay. Còn tuần sau sang anh tập trước vài buổi. Tất nhiên tập chỉ cơm nuôi thôi. Không có anh bán xới đi ăn mày à!
Thằng Hà về bảo vợ. Vừa nghe cô vợ giãy lên như đỉa phải vôi:
- Anh không sợ dân làng cười cho à?
Nghe vợ nói vậy thằng Hà quắc mắt:
- Thằng nào con nào dám cười tôi. Ông tha cười cho chúng là phúc! Mà tôi nói cho cô hay, tôi biết tỏng ra rồi, nhà cô, bố con cô cười chứ ai. Này, cô đừng tưởng nhà cô danh giá, cành vàng lá ngọc nhé! Bố cô, cái chức chủ tịch xã về hưu chục năm nay, vứt ra đường chó nó không thèm ngửi. Mà thằng này kiếm không đổ riêng lỗ mồm nó. Đổ... đổ cho tất cả lũ lĩ nhà cô kia kìa. Hừ... khóc, ông đã chết đâu mà khóc. Ha ha ha... khóc được đấy, lời dài, gịong khoẻ như chúng nó vừa khen ông!
Người đàn bà còn biết nói gì nữa, thằng chồng cô chuẩn bị đi làm nghề khóc mướn. Những giọt nước mắt thánh thót rỏ xuống cái bụng tháng thứ tư, thứ năm nhinh nhỉnh của cô. Hắn đi làm. Buổi đầu gặp người làng hắn cũng sường sượng. ánh mắt họ nhòm ngó, cạnh khoé, mỉa mai. “Chúng mày khinh ông à- hắn nghĩ- Đây thịt xôi giò chả bọc tướng ông mang về, vợ con ông cắn ngập răng. Nhìn thấy, chúng mày lại không thèm rỏ dãi, không ghen lồng lên thì ông đi đầu xuống đất!”. Đám con chầu chực mỗi bận hắn về, hau háu lục ca táp lấy đùi gà, xôi, chân giò ngấu nghiến ăn. Tiền hắn mang về cho vợ nhiều dần, một chục, hai chục, ba chục, có bận cả tờ năm mươi nghìn cạo râu được. Nghe mọi người xỏ xiên gọi mình là Hà nghệ sĩ, Hà nhà báo, hắn chẳng lấy thế làm nhục. “ừ , nghệ sĩ đấy, nhà báo đấy! Được như ông chúng mày đã phúc bảy mươi đời”. Và thế là từ dạo ấy hắn vênh váo hãnh diện luôn với cái danh hiệu nghệ sĩ người làng mát mẻ gắn cho. Hắn là nghệ sĩ khóc mướn. Đi làm chưa đầy nửa năm hắn nổi như cồn. Khắp huyện, dần dần lan ra cả tỉnh, phường kèn trống lão cai Bền nổi tiếng nhờ tay khóc mướn Hà nghệ sĩ. Tiếng khóc của hắn mới thảm thiết bi ai làm sao, giọng to, lời dài... Từ khi có hắn các phường khác trong huyện vêu mõm, nhìn phường hắn hốt bạc thiên hạ mà tức. Tiếng đồn nhanh thế, đến cái huyện Hải Tiền cuối tỉnh nhà đám cũng lặn lội đến nói khó rước kỳ được phường kèn trống cai Bền. Hà nghệ sĩ được cả phường trọng vọng. Lão cai Bền nhũn như con chi chi, một điều chú, hai điều anh với hắn. Làm gì không anh anh em em, nhờ hắn mỗi ngày lão đút túi ngon ơ trăm nghìn, chưa kể tiền thướng.
- Nhìn chú vất vả anh xót quá! Thôi cố mà giữ cái sức khoẻ chú Hà ạ. Ăn đi, ăn đi em. Này miếng phao câu,... Không không gì cả, anh gắp chú phải cố- đấy là lão cai Bền đang chăm sóc, cởi gan cởi ruột với Hà nghệ sĩ trong bữa ăn khuya nhà đám phục vụ- Bảo việc khác như gánh nặng thì anh em san đỡ, chứ khóc, không năng khiếu, có tài như chú, cứ chịu!
Vất vả quá đi chứ, có ngày buổi sáng lăn gô bổ chửng gào khóc đám này, chiều đã ngồi sau xe lão Bền phi đến hờ đám khác. Ngang diễn viên hát sô, chạy rạp ngoài thành phố. Hắn biết người ta cần, nên cũng làm mình làm mẩy ra phết, yêu sách đủ điều. Mà phải thế nào mới mình mẩy được, không tài như hắn, khóc có mả có nghề, khối ra chúng cầu cạnh. Phải nói thằng cha giỏi. Còn nó thì nghĩ: Trước đây nhờ nghe nhiều nhạc vàng, lại sẵn đầu óc biến báo, mồm miệng ứng khẩu nhanh, mới mấy tháng đã khối kinh nghiệm. Khóc mướn xứ ta đâu có bài bản dạy truyền. Vào nghề học lỏm được câu nào, đoạn nào thì được, như bài khóc bố mấy câu thế này, khóc mẹ mấy câu thế kia, quanh đi quẩn lại có vậy, đến hắn còn thấy nhàm. Chốn quê đám xá lắm thầy nhiều ma, bình luận khen chê mỗi người một kiểu. Người ta đến nhà đám để ý kỹ lắm. Khóc phải sao cho nó thật, giả mà như thật. Khó là vậy đấy. Cứ xem người đến phúng viếng kia kìa, họ có buồn thương đến vậy đâu, nhưng mặt đều buồn rười rượi. Kẻ cầu cạnh thì đến cốt phúng viếng người sống; còn kẻ tò mò thì đến xem nhiều thứ lắm: chia của; xem anh em mâu thuẫn cạnh qué nhau; xem con cháu đứa nào đóng góp nhiều và ai bài bây, quỵt, không chị đóng góp. Càng có chuyện giật gân càng hay, tỷ như, tự dưng nảy nòi ra đứa nhận bố, nhận mẹ, khăn trắng áo xô chở người khuất. ái chà chà, chuyện ấy tha hồ kháo, cả tháng chưa hết. Đấy người dự nhà đám vậy đó. Mà ở quê đến chỗ ma chay như đi xem tuồng xem hát, cứ mấy lời cũ rích ai người ta còn thiết nghe, thiết rung động buồn thương nữa. Chưa kể đồng tiền bát gạo bỏ ra, nhà đám họ phải gỡ lại cho xứng.
Nghĩ vậy nên hắn để ý. Đầu tiên tới nhà đám hắn hỏi tỉ mỉ thân thế, sự nghiệp, nếp ăn nhẽ ở người khuất, tình cảm quan hệ với họ hàng thân tộc ra sao, thế là đầu hắn phác hoạ nhanh sườn bài khóc. Riêng với nhà đám chết trẻ cần nhất cái bi ai. Thứ này lời điệu hắn thiếu giống, cứ mô ni phê anh nhạc vàng, tân cổ giao duyên, miễn đừng bê nguyên xi, như “Nếu mai anh chết em có buồn không...”, lại nữa “Anh đâu ngờ, có ngày đàn đứt dây tơ... hơ hơ”, rồi thì “ Một hôm mưa bay được tin em chết... ớ ơ ”. Vô thiên ủng. Vậy là thằng cha tha hồ thả hồn khóc. Một bận có tay giám đốc già ở thị xã, vợ chết. Thằng cha quá yêu cô vợ trẻ. Đoán trước mỏ vàng thỏi đây, hắn chuẩn bị lời điệu bài khóc rất chi là cẩn thận. Y rằng, lần đó hắn trúng quả đậm. Nhà đám này quan hệ rộng toàn khách khứa sang, tay chồng dù tiếc thương vợ vẫn phải kìm nén đứng gượng đáp lễ người phúng viếng. Thằng cha giàu nên cầu kỳ cho tận xe con về đón phường kèn trống, yêu cầu đích danh Hà nghệ sĩ. ở nhà đám, thằng Hà vừa cất giọng lời khóc khúc mở màn- kể lể nỗi chồng đau mất vợ, gã giám đốc kia đã nức lên, rồi mặc quan khách cứ thế vật vã gọi vợ. Cảnh tượng thương đau đến độ, tự dưng chủ khách- cả rạp tu tu khóc theo. Đám xứ dự nhiều nhưng chưa có bận nào hắn thấy đám tang mà buồn đến thế. Tang ma xong anh chồng ghi công cậu chàng khóc mướn, kẻ thay gã nói lên tấc lòng thương tiếc cô vợ yêu, gã hào phóng thướng riêng Hà nghệ sĩ năm trăm nghìn đồng. Ơ hơ ngon ơ ba tạ thóc, lại còn đánh bạc nhoè! Phường kèn trống mỗi người được năm chục nghìn tiền thướng. Chưa có đám nào công xá hậu hĩnh vậy. Hắn nổi tiếng càng trở nên nổi tiếng. “Cứ đà này chẳng mấy nỗi chú lên rim, có khi tậu cả mô bin phôn đeo đít”- lão cai Bền nịnh hắn. “Chứ không à. Lúc ấy ông thèm vào bám đít cái bảy tám ghẻ của nhà mày”- thằng Hà nghĩ bụng vậy.
Sông có khúc người có lúc, đang lên như diều, đánh đùng cái, giọng như chuông như khánh của hắn tự dưng khàn khàn tịt tịt, tiếng khóc nghe chẳng thấy đâu mà cứ khừng khực. Người ta bảo lộc trời cho hắn thế thôi. Lúc trước tiếng tốt giọng dài lão cai Bền săn đón, phắt cái lạnh nhạt liền. Đến khi giọng hắn khóc không ra hơi, tiếng tắt lịm trong họng, ngay lúc nhận tiền công gia chủ thanh toán, lão Bền gọi thằng Hà tới cắt hợp đồng. Vừa nghe lão cai nói, Hà nghệ sĩ quáng quàng trình bày lẽ thiệt hơn, tình cảm lâu nay và hoàn cảnh gia đình hắn. Lão Bền cười khẩy:
- Tôi thương cậu nhưng gia chủ người ta không thương tôi. Mà họ không thương là không thương thật! Không kiểu thương vay khóc mướn như loại nhà cậu. Thôi ông biến cho tôi nhờ. Cắt!
Nói tới đây lão tót lên xe, rồ ga phóng thẳng, để lại Hà nghệ sĩ trân trân ngó theo. Cái thá thằng Hà đấu sao lại với cai Bền. Hắn dàn dụa nước mắt, những giọt nước mắt thật hẳn hoi, tuy không lời kể bi ai như lâu nay hắn thường rặn ra ở nhà đám nhưng lòng hắn buồn rười rượi. Lúc kiếm ra tiền ngày hơn bù ngày kém, bình quân tháng già triệu bạc, tưởng là nhiều. Khi thất nghiệp tiêu vèo một cái, tra tiền vợ thấy sạch như chùi. Lâu nay ăn uống ngày ba bốn bữa rượu thịt nhà đám thành quen, tật nghiện rượu của Hà nghệ sĩ càng nặng. Kiếm không ra nhưng sáng trưa chiều tối hắn vẫn phải có chai rượu. Ngồi uống suông một mình thằng cha nghĩ ngợi tợn. Càng nghĩ càng căm lão Bền, đồ bất nhân, phường giả dối, quân khóc thuê hờ mướn. Căm, thằng Hà chửi. Chửi lâu ngày thành tật. Nó nói cũng như chửi, chửi cũng như nói. Chửi chán lão cai nó quay sang chửi vợ, con vợ lười chảy thây, chỉ biết ăn và đẻ, không biết kiếm tiền để hắn khổ. Cho hả cơn giận, hắn lôi vợ ra đánh. Phàm đã say, nó không phân biệt đâu là hiện tại đâu là quá khứ, nhầm lẫn thời nọ, thì kia. Ngồi nhà mà hắn tưởng mình còn đang buổi nổi như cồn- Hà nghệ sĩ khóc mướn, oanh oanh liệt liệt. Cái giống hành nghề, phải bỏ, người ta nhớ nghề ghê lắm. Hắn cũng nhớ nghề khóc mướn của hắn y vậy. Lúc tỉnh còn giữ ý với xóm giềng hắn chỉ lẩm nhẩm bài khóc trong miệng, song khi say hắn nào biết ý tứ gì, cứ rống lên: Con khóc cha, anh khóc em, vợ khóc chồng. Trong các bài, bài khóc vợ là hắn hay mang ra nhiều nhất.
Hôm nay cũng vậy hắn uống rượu và say. Người vợ ngồi trong buồng, cô cho lũ con ăn cơm trưa. Khi đứa nhỏ mới đầy chín tháng bú xong, lừa nó xuống giường, giao đứa lớn trông, người vợ lén đi ra. Cô định nhân lúc thằng chồng say không để ý mà lẻn ra ngoài. Mấy tháng nay từ khi nó thất nghiệp cô ra bờ sông đội cát thuê kiếm mấy nghìn đong gạo. Không làm chết đói cả nút mất. Vừa mới lò dò bước, thằng Hà nhìn thấy quắc mắt lên, quát:
- Đi đâu? Mày định... mày bỏ ông... theo giai à... con đĩ kia! Mày... màyđịnh giở mặt như cái thằng phường kèn trống kia phải... kh..ô..ng...?”
Vừa nói nó vừa giơ cái chai không lên nhứ nhứ. Người đàn bà rúm lại. Nó phang thật đấy, không đùa đâu. Bao trận đòn thì biết rồi, nó đánh vũ, phu man rợ, khắp người cô còn đầy vết tím bầm. Người vợ lại len lét vào buồng ôm con, nước mắt lưng tròng. Sao ông trời sinh ra giống người lại còn đầy ải, có những kiếp người như mẹ con cô. Cô có thể cắn răng chịu đựng, nhưng lũ trẻ kia chúng có tội tình gì? Như mẹ chúng, đám trẻ nép vào nhau sợ. Chúng biết tý nữa người đàn ông kia sẽ đánh mẹ, đánh đau lắm, có khi còn đánh cả chúng nữa. Người vợ chờ đợi thằng chồng đánh. Càng say nó càng đánh vũ phu. Chờ mãi... chờ mãi nó vẫn chưa vào cô sốt ruột. Cứ vào đi, con cầu Trời cầu Phật nó đánh nhanh lên. Người ta chỉ sợ khi roi giơ lên chứ khi vọt xuống rồi là hết sợ hết đau. Mà cái lệ thằng chồng đánh cô xong, mệt nó lăn ra ngủ. Nó đánh sớm, ngủ sớm, thì cô mới kịp ra đội cát ca chiều. Chủ bãi họ thuê công nhật, không khoán khối khoán thúng, đến làm muộn, chủ bãi cắt buổi ấy liền. Thế là người đàn bà mong thằng chồng vào đánh mình nhanh. Còn điều nữa cô mong hắn vào đánh - tiếng khóc. Tiếng khóc của hắn cô sợ lắm, sợ nhất bài chồng khóc vợ. Thà nó đánh còn hơn.
Thằng Hà lại rề rà chưa vào buồng đánh vợ. Người đàn bà đợi hắn đến khi bóng nắng xiên xiên hắn vẫn chưa vào. Hắn còn tiếp tục chửi thằng cha cai phường kèn trống. Rồi bất chợt bặt tiếng. Im lặng...“ Choang... huỵch” Người đàn bà tưởng tượng cảnh thằng chồng đứng lên. Chắc hắn loạng choạng ngả nghiêng, nó đang quơ quéo tìm thứ gì, như đoạn gậy, chiếc cán vồ thậm chí cả cái chày giã cua để vào đánh vợ. Song, sao lâu thế? Chợt giọng hắn hực lên. Trời ơi... thôi chết rồi! Người đàn bà hai tay vội vàng bịt lấy tai. Thằng say bắt đầu bài chồng khóc vợ. Lời bài khóc và thứ tiếng lờ phờ, lào phào của hắn như tiếng ma tiếng quỷ- thê lương, rùng rợn. Nghe nó người đàn bà kinh hoàng tưởng tượng: Cô và bầy con như đang nằm dưới huyệt sâu; trên kia, nơi trần gian, thằng chồng- một con quỷ- dang tay phủ phục huyệt mộ, gào thét./.
12/1997
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 09:37:38Chuột lắc>
Một kiếp đĩ


Trà Cổ 6/1998


Sóng vỗ chì chộp.
Bọt trắng xoá trào lên rồi vô cảm tan biến trên bãi biển hoang sơ. Nó xoá luôn dấu chân người vừa hằn xuống và những vòng cát do đám dã tràng mới loay hoay đùn xới.
Chỉ có khách du lịch đến phố biển này, thấy đám ma thì ngó nghiêng nhìn, còn dân ở đây hững hờ. Đám ma một nhúm người đưa, không kèn trống, không người hờ khóc. Đằng sau cỗ xe có dăm người đàn bà và duy nhất thằng bé quấn vành khăn tang.
Khách du lịch tò mò hỏi, dân phố biển trả lời: Con đĩ. Chết vì si da đấy!
Người phụ nữ ấy đến phố biển làm được hơn năm rồi. Trước, cô cũng có một cái tên, nhưng ở đây, chả ai gọi nó. Quán karaoke đầu tiên cô làm ca ve, chủ giới thiệu và khách gọi, Kiều Trinh; đến hotel thứ hai, chủ đặt tên cho Lệ Mỹ; restaurant thứ ba, Mộng Hằng; quán thứ tư, thứ năm... chẳng ông chủ, bà chủ và khách hát, khách chơi nào gọi tên người đàn bà là gì nữa. Chỉ còn thấy họ gọi: ê,...ca ve; ê,... gái; ê...! Và dân phố biển gọi, gọi thẳng vào mặt người đàn bà: Con đĩ!
Nghe người đời gọi, người đàn bà chua xót nghĩ: Đèn sách học hành, tổ ấm gia đình, quê hương - một thị xã miền núi êm đềm - cuộc đời mất hết rồi, còn cái tên, đáng gì mà tiếc nữa. Hô - then người đàn bà đang làm là cửa thứ năm, thực ra thì cô bị quán hát trước hất ra, mà dạt về đây. Mỗi lần thải, một lần xuống cấp, cả sự sang trọng của nhà hàng, cả sự đối đãi của ông bà chủ, của khách hàng và tiền bo của khách. Cửa thứ năm cô đang tá túc, cũng chỉ là thứ trá hình, tuy có cái tên mĩ miều: Biển Chiều Hotel
Vài tháng nay người đàn bà cảm thấy mệt mỏi, nhiều lúc ngực đau tức, biểu hiện căn bệnh tim cô từng phải điều trị hơn chục năm trước. Người đàn bà thấy lo lo. Cô tự an ủi, có lẽ do sắp tới tháng của phụ nữ. Muốn ngủ thêm chút nữa, đêm qua cô rời khách sạn lúc hai, ba giờ sáng, nhưng nghĩ tới cái mặt lừ lừ của lão chủ và giọng the thé của mụ chủ, cô cố gượng dậy.
Thành lệ, buổi sáng có hay không có khách, những kẻ tá túc, dật dờ ở khách sạn Biển Chiều như hạng cô, mọi người phải đến sớm, dù tối trước đi khách trắng đêm. Đến để chủ sai vặt: nấu nướng, dọn phòng, lau chùi, giặt giũ... Con mẹ chủ là dạng đàn bà cay nghiệt, suốt ngày xoen xoét chửi chồng, chửi đĩ, chửi khách chơi quỵt tiền và thơ thớ chào mời khách. Từ ngày đến làm ở đây, chưa lần nào người đàn bà nghe mụ nói một câu tử tế với mình. Nhà này nhiều hạng người, dạng bảo vệ khách sạn - loại những thằng đầu gấu; mấy người nấu ăn cùng vài cậu chàng quầy bar; tiếp đó là đám gái trẻ mười sáu, mười bảy, thứ nhà chủ cứ toe toét giới thiệu với khách: “Các em gái mơn mởn...”. Đó là loại được đối đãi tử tế, ông bà chủ xưng hô chị chị, em em, còn năm bảy người khác - trong đó có người đàn bà, ngôn ngữ chủ tặng cho, rặt những từ đầu đường, xó chợ.
Tuy người đàn bà chẳng ưa gì mụ chủ, nhưng thà bị mụ chửi mắng còn hơn, chứ rơi vào tay thằng chồng, đám đàn bà quá lứa sẽ khốn nạn. Lão chủ, một thằng đàn ông đen trũi, tóc rễ tre, răng cải mả, cái thứ hắn mấy năm trước, còn gò lưng đẩy te, trầy vai kéo lưới, nhờ đất đai lên, đâm có tiền. Dạng đó đã giầu là coi người như rác. Mấy người đàn bà đặt cho hắn biệt danh - thằng đươi ươi không lông. Thằng ấy nó như câm, trừ lúc ngủ với gái, cơn hứng tình, hắn rên hừ hừ. Thứ ngôn ngữ thông thường của hắn là nắm đấm, cú đá, cứ mặt, mạng sườn đám gái mà thụi. Người đàn bà ghê sợ nó, sợ nhất là phải ngủ với nó, một con đực hùng hục, dai dẳng... Hôm nào vắng khách, nó ngật ngưỡng ngồi nốc rượu, rồi lừ lừ nhìn đám gái già các cô. Lúc đó, thường nó hất hàm gọi ai đó. Khách sạn nhiều buồng, nhưng không bao giờ hắn gọi ai vào phòng, nó cứ chềnh ềnh ngay xó cầu thang, trước đám người làm, trước lũ gái. Cái nhà này, người ta nhìn thấy cảnh ấy quá quen rồi, nên chuyện của lão chủ, chẳng ai thèm để ý. Ngay mụ vợ, gặp cảnh thằng chồng đang giở trò quái đản kia, đi qua, mụ điềm nhiên bước. Có chăng là mụ cố khạc lấy bãi nước bọt, nhổ về phía ấy. Nếu có nhắc đến, cũng không phải vì ghen, mà mụ cốt lấy ra, để chửi cho thêm phần tục tĩu.
Người đàn bà bải hoải mệt, cô rất muốn chợp mắt thêm chút nữa. Nhớ đến giọng the thé của mụ chủ và quả đấm vũ phu của thằng chồng, cô cố gượng dậy. Ngó sang đứa con trai ba tuổi, nó vẫn ngặt nghẽo ngủ. Tối qua, lúc đón con về, thằng bé ú ớ gọi mẹ và lảm nhảm trong mơ điều gì đó. Bà già giữ trẻ làu bàu: “Ngày nào cũng một hai giờ đêm các ông, các bà hành tôi. Tưởng trăm nghìn, vứt cho người ta... to lắm!” Kệ bà ta gầm ghè, lần nào cô đến đón, bà ta chẳng vậy. Bà ta còn gọi từ đĩ ngay trước mặt đám con trẻ. Cô chỉ lí nhí “đối” chiếu lệ, bế con về căn nhà mấy chị em cùng cảnh chung nhau mướn. “Thôi chết, muộn quá rồi!”- cô giật mình, vỗ vỗ vào mông thằng bé. “Cu Tũn... Cu Tũn yêu của mẹ! Dậy con... Kìa, cu Tũn để mẹ đi muộn, ông chủ đánh, lại cái tím ở tay, ở cổ mẹ đây này...” Thằng bé bị đánh thức, dở giấc, khóc ngằn ngặt: “ Hư hư... Chả thương... chả thương hư! Kệ .. đánh... mẹ hơ...”.
Dỗ con nín, người đàn bà quáo quào cho con ăn và tất tả bế thằng bé đi. Biết sắp phải xa mẹ một ngày đằng đẵng, thằng bé hờn dỗi, tay đập lưng mẹ bồm bộp: “ Hông thương... ơ! Cho đánh tím... hơ...”.
Người đàn bà vừa tới chỗ làm, mấy người cùng cảnh thì thầm, bà chủ đang réo chửi cô tới muộn. Cô lẳng lặng ôm đống ga giường ra bể nước, cặm cụi vò, giũ. Giặt chưa rời tay, cô đã nghe tiếng gọi í ới dưới bếp. Hôm nay nhà hàng đông khách, đám phục vụ đi lại tấp nập, xe khách đậu kín sân. Đám gái trẻ váy áo cũn cỡn, tí toét nói cười, chạy lên chạy xuống cầu thang. Tận hơn một giờ trưa, khách ăn mới vãn. Mấy người đàn bà, đám mà vợ chồng lão chủ thường gọi, lũ gái già, lúc này mới tạm được nghỉ, tranh thủ ăn bữa trưa, ăn nhanh còn rửa ráy, thu dọn bát đĩa rếch.
Trừ mấy đứa trẻ nhan sắc, lệ làm gái ở đây, chủ không trả công, cơm thì hai bữa chủ cho, họ chẳng rộng rãi gì, làm dốc tiết, không cho bữa trưa, đồ ăn thừa cũng đổ vào thùng nước rửa - giò, chả, cánh gà, đầu chim... Tiền đi khách: mười, hai mươi, ba mươi phần trăm số khách trả, theo loại hạng gái chủ phát, ngày nào tính luôn ngày đó. Mấy người đàn bà, thứ gái già, đừng mơ khoản phần trăm đó. Chủ cho tá túc ở đây, phúc lắm rồi. Họ kiếm được là tiền bo của khách.
Lại một buổi tối vất vả.
Ngoài sân xe con thi nhau xè xè đáp tới. Từng đoàn ba, bốn gã đàn ông quần áo sang trọng, bước đi bệ vệ theo nhịp cái bụng thây lẩy của họ.
Đông khách quá, mới chập tối đám gái trẻ không còn một đứa. Nhóm gái già cũng được bà chủ gọi lên đi khách hết.
Khách và xe vẫn ùn ùn kéo tới. Chỉ còn lại người đàn bà. Cô ngồi lặng trong góc tối. Mấy lần mụ chủ gọi lên, rồi cô lại bẽ bàng trước những cái bĩu môi, chê bai của khách. Lủi thủi cô bước về góc tối của mình. Mười giờ tối, gần hết các phòng, khách ngủ đầy ăm ắp. Ngoài hành lang, sau những cánh cửa đóng chặt, tiếng cười đùa rậm rịch... vọng ra. Dưới phòng tiếp tân, mấy tay bảo vệ, nhân lúc rỗi việc, chúi mũi vào cỗ bài, sát phạt nhau. Người đàn bà vẫn lặng lẽ ngồi. Tối nay không tiếp khách, nghĩa là không được tiền bo, cô sẽ không kiếm được đồng nào mang về cho thằng bé. Khoé mắt người đàn bà nước mắt trào chảy. Ý nghĩ chua chát trong cô: Đã làm cái nghề bán trôn, mà nuôi mình cũng không xong. Trên đời này, có đứa con nào muốn mẹ mình làm thứ nghề đứng đường, nhưng đến nước đó, người mẹ còn xót xa hơn.
Bất chợt ngoài cửa ánh đèn pha quét sáng. Mấy chiếc xe máy phân khối lớn rầm rầm rú ga, táp vào sân. Lũ khách ba đứa, ba thằng trai mặt mũi ngược ngạo. Hình như chúng uống dở ở đâu rồi. Người đàn bà nghe tiếng chúng văng tục và hỏi gái, cô rúm lại. Nhìn chúng, cô hãi hùng, nhớ tới chuỵện mới xảy ra tháng trước. Hôm ấy nhà hàng cũng đông khách, cũng chỉ còn thứ gái thừa một mình cô. Mười một, mười hai giờ đêm... đám ba bốn đứa choai choai nốc rượu say, xe phân khối lớn, ào tới. Lão chủ gọi, cô ấp úng trong miệng. Cô sợ, không muốn tiếp. Mới có vậy, lão chủ đã thẳng tay giáng cho cô cái tát: “ Cũng sĩ à!”.
Tối ấy, một tối cực hình với người đàn bà. Sáng hôm sau mấy người bạn cùng cảnh biết chuyện, họ vào phòng, cô trên mình không một tấm vải, nằm bất tỉnh không hay biết gì. Mỗi khi nhớ lại, người đàn bà vẫn còn rùng mình. Nó ám ảnh tới mức, đêm đêm chờ khách, cô lại nơm nớp, sợ gặp phải cảnh ấy.
Tiếng bước chân mụ chủ, rồi thứ giọng ngọt ngào, giả dối: “Kìa em, có rồi đấy, lên với khách đi.!” Người đàn bà nhẫn nhục và cập rập theo chân mụ. Cô vừa bước chân vào phòng, cánh cửa sập lại sau lưng. Trong phòng ba thằng đàn ông nhìn cô soi mói. Một thằng dữ dằn, mình trần, lông lá vằn vện, to như con gấu, hất hàm: “Hừ... Một con ca ve giẻ rách. Gọi thằng chủ lên.... Nó dám bảo chúng bố...” Tiếng thằng khác xen vào: “ Nó nói rồi. Mày đợi được không?... Con kia, giương mắt nhìn gì chúng bố! Cởi ra! Hay mày là đĩ điếc... Hơ hơ... Chúng mày biết không, lũ thằng Vinh Quỷ chơi quán Triều Dâng, vớ phải con đĩ chửa. Cả một lũ mù, chửa bốn tháng, trông mà không biết... Hơ hơ...”
Người đàn bà run rẩy, theo bản năng giật lùi, giật lùi, lùi đến khi chạm vào cánh cửa chặn đứng sau lưng. Phắt cái, thằng lực lưỡng như con gấu xô tới, túm cổ cô, vật xuống... Nhìn cảnh đó dưới sàn, hai thằng bạn nó hô hố cười. Người đàn bà chỉ kịp nghĩ, thôi, phó mặc cho số phận. Cô nhắm mắt lại... Như cái máy, người đàn bà làm theo bất cứ điều gì chúng sai khiến, vậy mà liên tiếp cô vẫn bị những cú đấm, cú bạt tai, cú giáng mạng sườn bình bịch. Có lúc miệng người đàn bà phát ra những tiếng kêu ằng ặc. Khắp người cô nhớp nháp rượu bia, mồ hôi và nhầy nhụa hoa quả chúng bôi trát. Cô chịu đựng những con thú hung hãn, trơ lì, rồi cảm thấy mỗi lúc một đau đớn. Cơn quặn đau theo nhịp. Đau, đau như xé gan, xé ruột, cô thều thào khóc. Tiếng khóc, tiếng cười, tiếng bật nắp bia, tiếng vỏ hộp dưới sàn va vào chân cẳng chúng xủng xoảng. Tất cả âm thanh náo loạn, giam hãm trong căn phòng cửa đóng bịt bùng.
Thời gian trôi qua không biết bao lâu... cô hẫng đi trong cõi mung lung, không còn cảm giác đau đớn nữa. Xa gần văng vẳng tiếng nói: “ Này... chúng bố bo cho... nhá”. Vật gì đó chạm vào da thịt cô, lại cảm giác đau nhói... Tiếng bước chân xa dần, xa dần. Yên lặng... Mung lung.
Người đàn bà tỉnh lại và mở mắt. Căn phòng cửa đóng, đèn vẫn sáng choang và chỉ có mình cô. Cố cố cựa mình... không nổi. Người đau ê ẩm, ngực tức đến ngạt thở. Người đàn bà lại cố sức, cố tới mức khi rướn người ngồi lên, mắt hoa hoa, mồ hôi rịn khắp mình. Mãi sau, cảm giác mới đỡ hơn. Nhìn xuống,... cô giật mình. Máu, máu ở đâu nhiều thế! Cả mặt ga, mặt sàn... nhoè nhoẹt máu. Lạnh toát người, ý nghĩ về cái chết ập đến, làm cô hoảng loạn. Người đàn bà buột ra tiếng kêu: “ Con ơi...con tôi...”. Nghĩ tới con, điều đó như tiếp thêm sức mạnh cho người đàn bà. Trong lúc vơ áo quần, cô cố nhoai người ra, nhặt tờ giấy bạc. Tờ bạc hai chục nghìn cũng nhầy nhụa máu, nó từ nơi ấy của người đàn bà vừa rơi xuống - tiền đám khách bo cho đấy. Đi như lết, người đàn bà xiêu vẹo xuống gác và... cô cố lết... lết về với con.
Mấy đứa trẻ nằm ngồi ngặt nghẽo ngủ, chỉ riêng thằng bé, con của người đàn bà, ngồi khóc i ỉ. Bất chợt ngẩng lên thấy mẹ, nó nhôm nhổm, rồi đít lại bịch xuống, nức nở khóc.
Bước chân người mẹ run rẩy, hai bàn tay quáng quàng quơ về phía đứa con. Bàn tay người mẹ vừa chạm vào mái đầu thằng bé, đã bị hất ra và nó hu hu khóc to hơn: “ứ ...hừ. Hông yêu... hông yêu mẹ...đ...ĩ...”.
Cái âm thanh vô thức từ miệng đứa trẻ lên ba phát ra chưa dứt, thì thân hình người đàn bà đã gục xuống, gục xuống để vĩnh viễn người mẹ không bao giờ được nghe tiếng con mình gọi nữa./.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-07 09:43:51ct.ly>
Trọng Huân

Nhân cách đói


T
ôi và vợ chồng hắn ngồi trước bàn, thức ăn bày la liệt: cá hấp, vịt quay, bò nhúng dấm... Việt là chủ nhà, hắn mời tôi bữa cơm hôm nay. Nhìn vợ chồng hắn như hai bức tranh đối nghịch: anh chồng phốp pháp, hả hê, cô vợ gầy nhẳng, rầu rầu. Có lẽ vì muộn con hay

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 09:48:51Chuột lắc>
Thằng đói

Tiếng phanh rít, xe xịch đỗ ngay trước mặt tôi. Còn chưa hoàn hồn, tôi đã nghe tiếng cười hơ hơ. Trước mặt tôi, một người cổ nổi u, nổi múi, bàn tay đẫy đà, chìa phắt về phía tôi... Tôi không quen. Hắn ta vẫn ghếch chân trên chiếc @ trắng toát, nhăn nhở cười, nhìn tôi. Quái lạ, sao tôi vẫn chưa nhận ra là ai nhỉ. Chắc chắn phải là người quen mới có cử chỉ suồng sã vậy.
- Sao? Không nhận ra người quen à? - hắn hỏi và đến lúc này, mới bỏ cặp kính đen sì, trùm gần nửa mặt ra.
- Ông là...
- Hà hà... Hoàng, Hoàng số rách đây...!
Tôi nhớ ra rồi! Hắn, một thuở từng là hàng xóm cùng căn hộ, cùng cơ quan với tôi. Không thể nhận ra nổi, hắn như được lột xác, một thằng cha ngày trước tong teo, nay thành ông kễnh. Nhác nhìn đã thấy sự no nê, thừa đủ. Cái dây chuyền lủng lẳng đến vài cây quanh cổ và bàn tay, vằn vện những chiếc nhẫn, có chiếc gắn hột xoàn to ngật.
Ngày ấy hắn ở cùng căn hộ với tôi. Nhà tập thể, xây sau giải phóng bảy lăm. Tôi ở tầng bốn, căn hộ diện tích ngót nghét 40 mét vuông, gồm cả nơi ăn, ở, hành lang và tuốt tuột công trình phụ, công trình chính. Nếu tính cả 2 khẩu độc thân như tôi, gia đình hắn, cùng một gia đình khác 5 khẩu, lô lốc mười mấy mạng người, vỏn vẹn trong không gian 40 mét vuông ấy. Căn phòng được ngăn ba, mỗi “nhà” đều được chia đầy đủ, gồm diện tích ở, diện tích đi lại, riêng bếp và nhà vệ sinh, thì dùng chung. Không thể hình dung nổi, hơn chục mạng người, nhét trong cái diện tích toen hoẻn vậy, mà vẫn sống.
Sống như vậy cãi cọ, chạnh choẹ nhau như cơm bữa là chuyện thường, nhưng khó chịu nhất vẫn là hắn, cái tính bủn xỉn, hà tiện. Kể ra ngày ấy, lấy đâu ra để hào phóng, song hà tiện như hắn, thì trên đời này có là một. Kể ra, thành kẻ dòm ngó người khác. Nhưng mỗi khi nghĩ lại cái thuở chen chúc ấy, tụi không quên được những chuyện của hắn. Nhiều chuyện cứ như chuyện bịa, như cái chuyện định mức dùng diêm chẳng hạn.
Hắn định mức mỗi ngày nhà hắn chỉ được sử dụng một que diêm. Làm sao nhà người ta có thể sử dụng được như vậy nhỉ? Vì ít ra nhà nào ngày chẳng phải hai, ba lần nổi lửa? Mua bao diêm mới về, mỗi que hắn dùng con dao sắc, tách làm đôi, cả thuốc lẫn thân gỗ. Thế là một bao diêm, tự nhiên thành hẳn hai bao, hắn tự hào khoe bô bô với hàng xóm lỏng giiềng về sáng kiến tuyệt vời đến như vậy. Hắn ra cái luật ở nhà mình, mỗi ngày chỉ được dùng hai que diêm tách đôi này. Hôm nào vợ con hay bản thân trót đánh diêm, lấy lửa không thành, thì miễn, đừng bao giờ được dùng thêm một que diêm tách đôi nữa. Vậy thì lấy lửa ở đâu? Cứ việc đi xin lửa hàng xóm. Đã đi xin thì phải đợi, đợi cho kỳ được gia đình hàng xóm nổi lửa. Có bận, tính trong ngày hôm đó, đã đánh đến que diêm thứ hai, mà nhà hắn vẫn không lấy được lửa. Không may, hôm đó mấy nhà háng xóm đều đi vắng cả, đến tận sáu, bảy giờ, chẳng thấy nhà ai về. Thế là hôm đó, nhà hắn nguội bếp. Điều đó chẳng làm hắn bận tâm, mà lại lấy thế làm hay, tiết kiệm được một bữa cơm chiều. Chỉ có lũ con, oai oái khóc. Sự kẹt xỉ, bủn xỉn là việc riêng của hắn, miễn là không ảnh hưởng đến ai. Nhưng nhiều cái sự bủn xỉn của hắn, còn ảnh hưởng đến mấy nhà trong căn hộ. Một dạo, cứ mỗi lần nhà hắn nổi lửa, nhóm bếp, hàng xóm không ai chịu nổi. Có người phải ra cầu thang đứng. Kỳ cho đến khi nào hết làn khói bếp của nhà hắn, mới dám quay vào. Mọi người kỹ tính, không thông cảm hay khó chơi chăng? Cùng lắm việc đun bếp, khói lửa, thì nó cũng chỉ là các bô níc. Không phải vì khói bếp, mà là cái tính chất khói, nguồn gốc khói. Thứ giấy nổi lửa nhóm bếp của nhà hắn là giấy báo ở cái thùng trong nhà vệ sinh. Sau này, để chống cái làn khói ấy, ai trong căn hộ đi xong, đều giội nước hoặc cho giấy tọt vào lỗ thoát.
ở nhà đã đầy sự khó chịu, đến cơ quan hắn còn gây nhiều thứ khó chịu hơn. Khi còn là công nhân, do tay nghề yếu, tổ này đẩy ra, tổ kia dun lại, cuối cùng hắn được phân cái chân coi kho. Vài tháng sau, nhỏ to thế nào ấy, hắn lên chân giao phát linh kiện, vật tư ở kho. Thủ kho to hơn thủ trưởng, quyền ấy ai chẳng biết. Tự nhiên hắn trở thành một nhân vật quan trọng. Chưa kể, do sự bầu bán, cơ cấu, hắn lại có chân công đoàn. Từ khi sang chức thủ kho, tự dưng hắn hay lý luận. Hắn lý luận mọi nơi, mọi chỗ. Cái anh học vấn, văn hoá thấp, đánh vần chữ đánh máy không dấu còn chật vật, tên các linh kiện tiếng Tây, tiếng Tầu, đánh vần sao nổi, mà lại hay lý luận. Cái lý luận của hắn chung quy như sau: Tiết kiệm, chống lãng phí, quan điểm giai cấp, phe xã hội chủ nghĩa anh em....
Anh em thợ trẻ càng bị nghe nói nhiều, mỗi lần đến lĩnh vật tư, linh kiện, họ tức nổ máu mắt. Có cậu sinh viên thực tập, đến lĩnh thỏi thiếc, ai đời chờ viết, ký sổ, rồi cân, đo, đong đếm đến nửa tiếng. Xong rồi hắn vẫn chưa tha, mà tiếp tục bài giảng chính trị: Cậu còn là sinh viên, thì phải biết học cái đức tính tiết kiệm. Cậu có biết không, đây không chỉ là thỏi thiếc đơn thuần, mà nó còn mang ý nghĩa chính trị, tình đoàn kết giữa phe xã hội chủ nghĩa chúng ta. Vì vậy khi dùng, mỗi mũi hàn, cũng phải biết tiết kiệm... Lần đó tôi có việc đi qua, thoáng nghe cái điệp khúc giảng dạy lệch chỗ này, nóng mặt quá, tôi sấn lại. “Tiết kiệm, tiết kiệm cái gì. Chính cậu, cậu hãy học cách tiết kiệm đi. Bao nhiêu linh kiện, máy móc quý giá trong kho, vì dốt, cậu xếp tịt chúng xuống sàn kia kìa. Đấy chính là lãng phí, phá hoại đấy. ”
Rồi không hiểu sao, sau bảy lăm, tự dưng hắn bỏ cơ quan, chuyển nhà. Vốn chẳng ưa nhau, chẳng ai để ý thông tin về hắn. Hôm nay, bất ngờ tôi gặp lại người quen cũ. Hắn hỏi có bận gì không, chẳng thèm nghe ý kiến của tôi, hắn hất hàm về phía ngôi nhà hàng sang trọng gần đó. Ly rượu Tây khai vị và cậu chạy bàn lễ phép đứng bên cạnh. Tôi lúng túng khi hắn e hèm hỏi, chọn món ăn gì. Biết chọn thứ gì, khi mà đến cái tên món ăn, tôi cũng ma tịt. Đến ly rượu thứ hai, hắn nhìn tôi cười, rồi nhẩn nha hỏi: Ông còn nhớ cái bếp ăn tập thể ngày nào chứ? Ông... còn nhớ món canh rau muống chứ? Mặt tôi chợt bừng nóng. Chắc là tại ly rượu ngoại chăng. Hắn cười khùng khục...
Ngày ấy, cách trung tâm thành phố dăm, bảy cây số là cái xưởng sơ tán của chúng tôi. Anh em đa phần từ nội thành, sáng tối đi về, bữa trưa ăn cơm tập thể tại xưởng. Riêng hắn không ăn bếp tập thể, mà nấu ăn một mình. Hắn nói bị bệnh dạ dày, không ăn cơm tập thể được. Tuy là nấu ăn riêng, nhưng thực ra hắn vẫn nấu, vẫn ăn ở cái bếp tập thể đó. Ai cũng biết, hắn chả dạ dày, dạ mỏng gì, nấu và ăn riêng là hắn có ý đồ, mục đích hẳn hoi. Nấu riêng, tiền than củi không mất, cứ đun ké vào bếp than tập thể, mỗi ngày đã nhẹ đi khoản năm, ba xu củi lửa. Bếp chung, mắm muối hắn xin, ai nỡ từ chối. Đất xưởng rộng mênh mông, rau hắn trồng được, thế là hắn chỉ mất tiền gạo. Mấy bà nhà bếp tức lắm, cứ nay tí muối, mai tý mắm, họ chỉ biết xì xầm, thi nhau kể xấu về hắn. Hắn biết, hắn biết quá rõ, biết những ánh mắt tức bực, khinh thị, nhưng hắn vẫn phớt, vẫn nấu và một mình một nồi, một bát, ngồi xổm giữa nhà bếp tập thể, ăn. Từ lâu các bà nấu bếp biết cái trò trộm mỡ, khoắng mì chính của hắn, song chưa ai một lần rình bắt quả tang được. Cũng có người đã cố công rình, những vừa xểnh ra, đến khi quay lại nhìn, thấy xoong canh của hắn lềnh bềnh những mỡ là mỡ. Hôm thì hắn tưng tửng nói, đấy là cái xoong của hắn hôm qua rửa chưa kỹ, nên hôm nay nấu váng quá; hôm thì hắn bảo, sáng nay cô vợ gói cho hắn túi ni lông mỡ tướng, chẳng nhẽ bớt lại nấu bữa sau, chỉ tổ rây rớt, tanh tưởi. Hắn còn ca cẩm, sao cô vợ lãng phí, hoang toàng đến thế không biết.
Hôm ấy tôi đã biết âm mưu của mấy bà nhà bếp và ngấm ngầm quan sát. Từ sáng sớm mấy bà nhà bếp dóng ra dóng vào bảo, nhà bếp mới mua được loại mỡ mới, mỡ hộp viện trợ. Hình như là mỡ cừu của Mông Cổ, nên đặc quánh và trắng phớ. Không như mọi khi, hôm ấy hộp mỡ để chềnh ềnh, gần ngay bệ bếp than, chẳng đậy điệm, giấu diếm, hay phải cho vào chạn khoá như mọi khi. Đến bữa trưa, mấy người cứ diễu qua diễu lại, quanh quẩn chỗ hắn đang ngồi ăn. Có người còn như vô tình, đi sát chỗ hắn ngồi. Hắn vẫn thản nhiên ăn như mọi khi, không nhanh, không chậm, tất nhiên cơm hắn đánh đến tận đáy nồi, cuối bữa kết thúc bằng tiếng húp soàm soạp nồi canh. Chỉ có điều lần này, sau tiếng soàm soạp húp canh của hắn, thấy tiếng của ai đó rinh rích cười - dù đã cố kìm nén. Có bà còn ôm bụng, chạy ra ngoài sân cười sằng sặc.
Thế mà chuyện đã xảy ra gần ba chục năm rồi. Sau khi nhắc lại, hắn khùng khục cười, rồi thong thả rót rượu vào ly tôi, ly hắn. Lưng lửng ly rượu, hắn nhấc lên, hướng về tôi, tôi cũng gượng nhấc ly. Khi hai chiếc ly sắp cụm vào nhau, hắn chợt dừng lại, nghé mắt nhìn tôi:
- Hờ... Tiếng hắn cười - Chắc đến giờ ông vẫn chưa rõ cái món rau nấu của tôi lúc đó nó ra làm sao? Chát, đắng, nhục... nhưng mà đói, mà tiếc của, mà ki bo, kẹt xỉ, thì vẫn phải nuốt cái nồi canh mỡ xà phòng ấy... Nói đến đây hắn cụm cái ly khá mạnh vào ly của tôi, mà cười khẩy. Tôi ấp úng rằng, thế mà tôi không nhớ, không nhớ cảnh một người phải húp cả nồi canh xà phòng.
Người ta bảo rằng, nghèo là hèn. Cái đói là thứ người ta chóng quên nhất và cái giàu là thứ người ta dễ quen nhất. Không nhớ bởi vì bây giờ hắn giàu, rất giàu và tôi thì vẫn nghèo chăng?./.
Đăng nhập để trả lời
0
Trọng Huân
Tiếng cười quả báo


Ngõ nhỏ ngoại ô. Thằng bé đu trên chấn song cửa. Chân tay nó co rút, sẹo nham nhở. Vết bỏng kéo nhằng, che tịt một phía, không nhìn rõ tròng mắt. Ai đi qua nó đều nhí nhố gọi ra:
- Chú chú... bác bác... bố bố...
Tiếng gọi chưa dứt thì chuỗi cười hềnh hệch trên cao dội xuống. Đó là tiếng cười của đứa trẻ ở gác hai nhà đối diện đập xuống. Tiếng cười, tiếng gọi hú đuổi nhau, ngõ vắng khách lạ sởn gai ốc, rảo gót bước nhanh, còn dân ngõ chỉ biết thở dài...
* * *

Vị thiếu tá quân y bước vào ngõ, anh phân vân dừng lại trước nhà có thằng bé tàn tật. Viên sĩ quan tìm nhà ai? Thấy khách, đứa trẻ ríu rít: -“Chú chú... bác bác... bố bố...”
* * *

Thằng bé cười trên gác là con gã đàn ông nhà đối diện, nó bị ngẩn ngơ; đứa trẻ tàn tật là con người phụ nữ lỡ thì. Một thời người phụ nữ ấy xinh đẹp lắm, cô từng là thanh niên xung phong tuyến đường Trường Sơn. Tuổi trẻ qua đi trong năm tháng chiến tranh. Hoà bình cô khoác ba lô về, nhà cô sâu hoắm hố bom, trận mười hai ngày đêm Mỹ bắn phá Hà Nội. Không bố mẹ, anh em, đến nấm mồ thắp hương cũng là mộ giả. Đang lúc cô gái khóc trước “nhà”, mấy người hàng xóm và bà lão mù khua gậy đến an ủi. Cô gái về ở với bà cụ. Cuộc sống mặt trận và hậu phương khác nhau quá. Mấy năm cô gái mới quen thì bà cụ trăm tuổi ra đi. Cô lại thui thủi đơn côi. Và khi nhìn lại mình, tuổi trẻ lùi xa mất rồi, cô thành gái quá thì trong ngõ nhỏ ngoại ô ấy.
Người chẳng có gì, kẻ thừa mứa, đủ đầy. Gã đàn ông đối diện: căn nhà ba tầng bề thế, chồng-phó giám đốc một công ty, vợ- nhân viên ngân hàng. Nhà họ gần nhau, tiếng động bên này, bên kia nghe rõ. Buổi tối tiếng lũ trẻ hay cô vợ trẻ cười đùa vọng sang, người phụ nữ độc thân nghe rõ mồn một. Qua âm thanh cô mường tượng cảnh diễn ra bên kia, khi thì người bố giả làm ngựa, hai trẻ cưỡi, cười như nắc nẻ; lúc lại cảnh mẹ trêu con đánh yêu chồng, cô vợ trẻ cười tiếng cười trong vắt...
Đêm. Gió đập cửa thình thình. Người phụ nữ trở mình đè lên con búp bê nhựa. Con búp bê cô nhặt được, không rõ ai đã vứt đi. Nó cũ kỹ, tóc rối, váy áo xộc xệch, nhưng cô vẫn thấy đẹp. Hồi bé, cô thích chơi búp bê lắm. Loại bây giờ hồi ấy làm gì có, toàn búp bê vải, các mảnh vụn từ những tấm áo cũ mẹ cô xé cho. Thành lệ, từ hôm nhặt được con búp bê, trước khi đi ngủ, cô mang nó ra bồng bế, trò chuyện. Ngắm nó, cô càng khát khao được làm mẹ. -“Ước gì mình có con! Con ơi... mẹ sẽ dành dụm, mua một con búp bê thật mới, thật đẹp tặng con...”. ý nghĩ miên man, đêm dài ra, cô thao thức không ngủ.
Dân trong ngõ cho anh hàng xóm là quá đầy đủ, sung sướng. Người đàn ông đâu nghĩ thế, anh ta vẫn thấy thiếu thằng con trai. Vậy nên anh ta âm thầm mưu tính, dù cô vợ sư tử Hà Đông và bao thứ “rách việc” khác, phải kiếm bằng được thằng con giai. Gã đã thoáng nghĩ tới cô hàng xóm lỡ thì rồi vội gạt đi: -“Hừ... sao chàng màng được. Tính vẻ khô khan. Ngữ đàn bà ấy khó đăm đăm, trông thì biết...”
Chẳng rõ từ khi nào, quẩy gánh hàng đi chợ, người phụ nữ vô tình hay liếc sang nhà đối diện. Sáng ấy gã hàng xóm đứng trên ban công. Ngẫu nhiên ánh mắt họ chạm nhau, người phụ nữ đỏ mặt, bối rối nhìn nhanh đi nơi khác. Gã đàn ông nhận ra ngay. Hắn nhếch mép cười, nghĩ: -“Ta khờ quá! Mỡ kề miệng mèo, mèo không xơi. ừ, trông được, khá là đằng khác. Chà chà, một cuộc trao đổi đôi bên cùng lợi: Thị thèm khát đàn ông, mình cần thằng con giai. Ta sẽ chu cấp. Mà thân một mình, làm gì không có vốn ăn vốn để, đủ nuôi con... Hà... hà... cái giống đàn bà, tốt mơn, ruột gan tuôn ra hết, có khi còn cơm no, bò cưỡi”. Hắn cười khùng khục trước tưởng tượng đó, lạng bạng bước xuống gác, vợ con tròn mắt ngạc nhiên, nào biết gã cười gì.
Ngõ vắng. Đêm khuya dường như nghe thấy cả tiếng vỗ cánh chập choạng bầy dơi ăn đêm. Tắt đèn đã lâu người phụ nữ độc thân vẫn thao thức không tài nào chợp mắt nổi. Chợt tiếng gõ cửa khe khẽ, giọng đàn ông thì thầm. Quá quen với cảnh ấy người phụ nữ đâu có bất ngờ sợ hãi. Khuya, những gã đàn ông, nhiều lắm, già có, trẻ có, quen có, lạ có, cả những đứa chỉ đáng tuổi em út chị, giọng chúng méo mó say hay khàn nồng dục vọng- một lũ sổng chuồng. Chị ghê tởm. Bất chợt trong trí nhớ cô hiện về câu chuyện năm nào: Hình bóng chàng lái xe và tiếng cười trong trẻo. Lần gặp gỡ cuối cùng bên nhau chỉ có họ. Nàng ngột ngạt trước thác hôn cuồng si... Tiếng súng vang lên, họ rời nhau trong bịn rịn. Người con gái khoảng ngực mở tung trắng ngần giữa đêm rừng hoang dại. Chia tay không lời từ biệt. Vệt B52 xoá sổ cả đoàn xe. Chàng ra đi. Cho đến lúc ấy giữa tuổi đôi mươi, người trai vẫn chưa trở thành đàn ông.
* * *

Tiếng gõ dai dẳng, giọng nói van xin, nài nỉ. Chị nhận ra kẻ ấy, gã hàng xóm. Đó là tiếng con đực rên khát dục. Chị trở mình giả cất nhịp thở đều như giấc ngủ say mệt nhọc. Ngõ sâu yên ắng trở lại, người phụ nữ vẫn chưa ngủ. Dòng suy nghĩ miên man... Bất chợt ẩn hiện đám ma buồn thương cụ già cô độc - người đón chị về ở cùng. Đám ma duy nhất một vành khăn, chị thắt cho hương hồn cụ khỏi tủi. “Nếu sau này mình... đến một vành khăn tang cũng không có nốt”. Nước mắt chị trào chảy. Đêm sau, đêm sau nữa, gã đàn ông vẫn dai dẳng nài gõ. Tới đêm... then cửa không cài, gã run lên vì sung sướng, quáng quàng đẩy cửa lách vào.
- Đứng lại! -giọng nói cất lên nghèn nghẹt- Tôi biết việc mình làm có lỗi với vợ anh. Nhưng tôi... tôi chỉ cần đứa con...
Tiếng người đàn bà nói trong hơi thở. Gã đàn ông mừng rơn. Trời run rủi! Hắn nào ngờ may mắn thế. Hắn có con mà không phải chu cấp. Chính cô ta tự nguyện làm cái việc ấp trứng tu hú. Vô cảm, qua những đêm dài người đàn bà âm thầm chịu đựng, có chăng là xúc cảm về đứa con rõ dần, lớn dần trong chị. Nhận được dấu hiệu làm mẹ đầu tiên chị thông báo ngay và yêu cầu gã chấm dứt như lời hứa. Gã đàn ông nhếch mép cười giữa căn nhà tranh tối tranh sáng. Sau buổi đó gã không tới nữa.
Tháng ngày chờ đợi, cuộc vượt cạn một mình êm xuôi, cặp song sinh bé gái, bé trai. Ngay đêm đó gã đàn ông mò tới. Người mẹ gượng ngồi dậy, cô định ngăn song chợt nghĩ. -“Thôi để các con một lần hưởng tình phụ tử”. Gã đàn ông sà vào sát giường, chằm chằm nhòm hai đứa bé, rồi xốc vội đứa trẻ trai, dâng thằng cu sát mặt, hắn chườm cái chim lên mũi, lên cằm, ư ứ nựng:
- Chim yêu... giống yêu của bố!
Động, đứa bé cựa quậy, rin rỉn. “Thằng bố” khừng khực cười, hớp nhanh tia nước. Nhìn cử chỉ đó người mẹ không khỏi xao xuyến. Giá các con có bố... Cô thoáng buồn cho con gái, “bố nó” không hề đoái hoài. Sau bận ấy, mặc người đàn bà phản đối, gã vẫn thậm thụt sang. Hắn nhâng nháo hôn hít thằng bé và để lại chút tiền, tất nhiên người đàn bà khước từ, không lần nào nhận. Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra, người vợ trẻ linh cảm thấy, để một lần sững sờ chứng kiến cảnh đêm khuya anh chồng vụng trộm từ căn nhà ấy mò ra. Trên ban công cô chết lặng. Cô muốn xông sang xỉa xói con đàn bà đĩ thoã ngấm ngầm dụ dỗ chim chuột chồng mình. Thế mà hàng ngõ cứ khen ả thế này, ả thế nọ. Thảo nào lâu nay nó tránh mặt mình. Những tưởng ả chửa hoang xấu hổ. Lúc chồng lách cách mở khoá, vờ vịt loạng choạng rượu bia họp hành cơ quan về muộn, cô vợ lại trấn tĩnh được. “Mình làm thế có phá nổi chúng không? Lão dại gái hay thèm khát thằng con giai?” Người đàn bà cười lành lạnh. Anh chồng nghi ngại liếc trộm mà chả thấy vợ nói năng gì. Bẵng đi đã lâu, rồi chợt vợ hắn tuyên bố xanh rờn: đã có mang. Nghe, gã đàn ông hốt hoảng, tíu lên giục vợ nạo thai. Ngọt nhạt không xong hắn định nổi xung hù dọa, cô vợ đối lại, tiếng rin rít qua kẽ răng, cái chuyện ăn chả ăn nem của hắn. Gã đàn ông thừ mặt.
Gần hai năm sau khi cặp song sinh kia ra đời thì vợ gã đàn ông sinh con, một bé trai bụ bẫm, tuy cuộc sinh nở khó khăn, phải mổ đẻ cứu ngạt thai nhi. Suýt thì chết cả hai mẹ con. Qua đận sóng gió ấy hắn nghĩ: Thế vẫn mừng, có đứa nối dõi chính tông rồi. Mà lão thầy bói nói thánh thật, đầu năm rút quẻ lão tán: Sẽ gặp vận xúi nhưng kèm theo lộc lớn, phúc đức tiền tài. Y rằng lộc phúc đức cùng vận xúi đến liền một lúc. Chà chà, còn lộc tiền tài nữa... Cuối năm mà trúng quả đậm vài chục cây, ta phải tới tạ cái lão thầy mù thật hậu”. Từ khi vợ sinh con trai, những cuộc thăm nom vụng trộm thưa dần và rồi mất hẳn. Thậm chí có lúc đụng cửa gặp thằng bé hắn cũng dửng dưng luôn. Người đàn bà nghĩ bụng: “Thôi cũng tốt. Mình có muốn vậy đâu”.
Cuộc sống của ba mẹ con người đàn bà tuy chật vật nhưng bù lại, căn nhà ấm tiếng cười. Một sáng như mọi ngày, chị tong tả chuẩn bị cơm nước cho con rồi khoá cổng, quẩy gánh hàng đi chợ. Ra cửa người đàn bà thấy nhà hàng xóm nhộn nhịp chuẩn bị sửa soạn, kê dọn. Tối qua chị láng máng nghe nhà người ta cỗ đầy năm thằng út. Mẹ đi chợ, hai đứa trẻ ba tuổi léo nhéo khóc một lúc rồi nín, tự chơi với nhau trong nhà. Hết trò chúng dắt díu nhau ra vườn nghịch đất. Chợt xế trưa, cả ngõ nhốn nháo. Người trong ngõ tua túa kéo vào nhà người đàn bà. Tin truyền thằng bé sa xuống hố vôi sau vườn, nhà bên cạnh mới tôi. Dân ngõ vội đưa thằng bé đi viện. “ Sao khổ thế cơ chứ! Nó bị nặng quá. Mẹ con biết xoay xở ra sao?” Đấy là lời dân ngõ từ bệnh viện về nói thế. Còn biết xoay xở thế nào, đứa bé chớm lành vết thương, người mẹ đã phải cho con xuất viện. Như kẻ mất hồn, chị lơ đãng nghe lời bác sĩ khuyên: “ Cố gắng đưa cháu bé đến viện bỏng trung ương. Để vậy vết thương co rút, thằng bé sẽ tàn tật suốt đời...”. Lấy tiền đâu đưa con đi? Vật lộn nuôi ba miệng ăn còn vất vả, song chả nhẽ chứng kiến cảnh con lòng khòng, chân tay co rút dần lại sao? Đôi lúc người đàn bà nghĩ tới gã đàn ông kia. “ ừ , hay anh ta không tới vì giữ lời hứa? Hay vì bao lần mình từ chối sự chu cấp? Hay mình chưa có lời khi con gặp nạn? Dù sao anh ta cũng là bố nó, có máu có xót. Người đàn bà bừng lên tia hy vọng. Chị thầm nói với con: “Con ơi... con sẽ được cứu! Nếu phải cầu xin, van lạy ông ta, mẹ...”
Sặc sụa hơi rượu gã đàn ông khật khưỡng trên xe con bước xuống. Giữa đêm khuya rét buốt, hắn loáng thoáng thấy người đàn bà đứng đợi ngay đầu ngõ. Nghe lời rụt rè trình bày, giọng cầu khẩn van lơn, gã nhếch mép cười nhạt, nhắc lại câu nói của người phụ nữ trước đây và dài giọng tiếp:
- Tôi...tôi vốn trọng lời hứa.
Tuyệt vọng, uất hận, người đàn bà nước mắt lã chã, lao vào ngõ.
Cái thằng con nối dõi tông đường của gã đàn ông kia được cả nhà chăm bẵm, hơn một tuổi, nó to trắng ngần ngẫn bằng đứa bé lên ba. Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò... mà sao mười mấy tháng rồi, đặt đâu nó ngồi đó và thằng ấy nhiều dãi thế. Khách khứa đến chơi động viên: Đấy là tẩm bổ quá. Còn dãi nhiều là do bị cam hay lúc chửa mẹ không kiêng, ăn ốc. Thuốc cam thuốc tễ chả khỏi, dãi ngày càng lề thề chảy nhiều hơn, ngày thay năm bảy bận, áo yếm vẫn ướt sũng. Hôm gã đàn ông công tác miền Nam hơn tháng về, thằng bé ngó bố cười hềnh hệch. Bố ngồi ngắm con, chợt nhận thấy: “Quái... đầu nó như hơi to hơn những đứa trẻ khác thì phải?”. Hắn lo. Đưa con đi khám bệnh viện, họ chẩn đoán: Não thằng bé có vấn đề. Có thể ảnh hưởng do thai ngạt khi sinh nở. Tây y, đông y, tốn bao tiền thuốc vẫn không chuyển. Gã tới cả nhà lão thầy bói mù, lão phán động mả. Mả động thì biết đằng nào mà tìm, ông cha hắn dân lang bạt, chết có về làng đâu!
Cái đầu thằng bé cứ to dần. Tiếng cười càng dài dại.
* * *

Vị sĩ quan quân y vào ngõ hỏi thăm chính là chàng lái xe năm nào. Chiến tranh nhiều chuyện xảy ra đâu ngờ được. Trận bom B52 anh bị thương nặng, may có đơn vị hành quân qua... Chiến tranh lùi xa hơn hai mươi năm, kẻ đầu người cuối thành phố mà nay họ mới tìm lại được nhau.
* * *
Thằng bé ngẩn ngơ vô phương cứu chữa. Gã đàn ông như kẻ mất hồn. Hắn lấy rượu giải sầu. Càng uống hắn càng tỉnh. Bữa nhậu tại cơ quan hắn nốc trọn chai rượu tây vẫn không say. Về ngõ ngơ ngác hắn nhìn ngôi nhà người đàn bà đối diện, chủ mới đang dọn tới. Chàng sĩ quan quân y đưa họ đi rồi, nghe nói ở một nơi đầu kia thành phố.
Hắn ngật ngưỡng bước. Bất chợt tiếng cười trên cao đập xuống... hu hu... ha ha... Chuỗi cười như tiếng ma kêu, quỷ khóc, dội vào tai hắn. Gã đàn ông giật mình loạng choạng. Hắn bước... hắn chạy... chạy qua chính cả nhà mình. Tiếng cười hú đuổi hắn vào sâu trong ngõ.
1996
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 10:02:46Chuột lắc>
Trọng Huân - Truyện ngắn:


Cái ghế

Ông già đi qua đống rác.
Có cái gì như quen quen. Trông kỹ ra, thì là cái ghế cũ, ai đó vứt đi. Điều lạ là ông già có cảm giác thấy nó quen quen. Ông định đi nhưng lại dừng lại. Một thoáng nghĩ ngợi, thế rồi ông tạt vào bãi rác. Cái ghế tựa bọc vải, gẫy một chân. ừ vứt đi kể hơi phí. Mình có thể khuân về làm một thứ gì đó. Ông già nghĩ ngợi, rồi quyết định bê chiếc ghế. Sức già, chẳng còn như thuở ông làm bảo vệ ở cơ quan, vác cái ghế đến là vất vả.
Nhìn chồng khệ nệ khiêng vác, trán lấm tấm mồ hôi, vợ ông cằn nhằn, bảo ông mang cái của nợ đó về làm gì, thứ chỉ đáng vứt vào đống rác. Không nói gì, ông lặng lẽ đặt nó trước sân và quay vào nhà. Một thoáng ông ra, tay mang nào cưa, nào búa, lúi húi cưa cưa đóng đóng cái chân ghế gẫy.
Chiều ấy khi thằng cháu nội học mẫu giáo về, nó tròn mắt nhìn cái ghế lạ. Ông bảo thằng cháu ngồi thử. Thằng bé vốn hiếu động, ông nội chưa dứt lời, nó đã nhảy phốc lên. Cái ghế gãy, táp lại, chân đóng không bằng, đâm ra cập kênh, khi thằng bé nhún nhảy, nó cứ bập bênh theo nhịp. Thằng bé cười khanh khách. Đầu óc trẻ thơ, trên cái ghế khấp khễnh, nó tưởng tượng ra mình đang trên lưng ngựa. Khoái chí nó càng rập rình tợn hơn. Cảnh đó làm hai ông cháu, một già một trẻ, cười như nắc nẻ. Bà già ngó ra, chép miệng, già rồi còn như trẻ con. Nói vậy nhưng bà nghĩ, lâu rồi, từ khi nghỉ hưu, mới có dịp thấy ông lão vui như vậy. Cũng từ hôm ấy, chiều chiều, cái trò cưỡi ngựa của cháu, ông đứng xem, lại diễn ra, tiếng cười rộn rã trong sân. Và quái lạ, ông già vẫn thấy có cảm giác quen quen, mà ông chưa nhận ra. Tuổi già, quên quên nhớ nhớ vậy đấy.
Ông không nhớ ra cũng phải. Cái ghế cũ, trước đây đã bao giờ ông được ngồi lên nó đâu. Có chăng là ngày đó, khi còn làm bảo vệ cơ quan, nghe anh em bàn tán, tự dưng đâm tò mò, một lần nhân mọi người về hết, ông dò dẫm leo lên gác, xem. Cái ghế cũng bình thường, có gì đặc biệt đâu - một cái ghế bành, lớp vải bọc lâu ngày nên nhiều chỗ sờn rách. Nhìn cái ghế ông nghĩ bụng, có thế thôi mà người ta cứ rì rầm. Cái ghế chỗ ông - phòng bảo vệ - còn cũ hơn, sao chả ma nào bình phẩm. Đấy là ông nghĩ, chứ so sánh cái ghế bảo vệ chỗ ông ngồi với cái ghế kia thế nào được. Ghế người ta, ghế giám đốc, dù là giám đốc đã nghỉ hưu.
Hồi ấy, nhân viên văn phòng mua cái ghế về cho giám đốc. Thời đó nó thuộc diện sang, người ta chỉ quen ngồi ghế tựa, ghế băng. Giám đốc vốn là người xuề xoà, ông bảo, lãng phí quá, ông ngồi ghế nào chẳng được, trả lại có được không. Nghe vậy nhân viên nhao nhao, sao lại trả, lý ra thủ trưởng còn ngồi gấp mấy lần cái ghế này cơ. Ông biết đó là sự quan tâm của anh em, chẳng lẽ từ chối lòng tốt của họ. Thôi thì ông ngồi vậy. Vì cái ghế khác kiểu các loại ghế bàn trong cơ quan, không thể kê cùng dãy được, nên một mình nó đặt ở đầu dãy. Từ khi có cái ghế mới, tự dưng các cuộc họp, ông giám đốc ngồi giữa hai dãy bàn, nhân viên cấp dưới dàn ra hai bên.
Nếu chuyện chỉ vậy thì cũng chẳng có gì đáng nói. Và nếu như ông giám đốc không về hưu, cũng sẽ không có chuyện cái ghế bị đem ra bán tán. Giám đốc đến tuổi hưu, ông thanh thản nhận quyết định. Lúc đó cơ quan hai phó. Xét các tiêu chuẩn: năng lực, trình độ văn hoá, quan điểm chính trị, thành phần xuất thân, vân vân và vân vân, hai ông phó, tiêu chuẩn đều ngang nhau chằn chặn. Thật khó xử cho cấp trên và cả ông giám đốc, về hưu rồi mà vẫn chưa chọn được người kế nhiệm. Thế là công việc cơ quan đặt chung lên vai hai ông phó. Từ trước đến nay, cả hai phó đều là cánh tay trái, tay phải của giám đốc, họ rất thương yêu, đùm bọc nhau. Ngay cả thời gian đầu khi giám đốc về hưu, chưa nhân viên nào thấy họ hục hặc. Thực ra thì thuộc cấp ngầm hiểu, hai ông phó có mâu thuẫn đấy. Cuộc ganh đua dễ thấy nhất chính là từ cái ghế. Hai ông phó, không ai ngồi lên cái ghế đó. Các cuộc họp, cái ghế như ranh giới của hai ông phó, tiếp đó là nhân viên, ngồi theo ngôi thứ. Tuy chẳng ai nói ra, nhưng họ đều ngầm biết, ai ngồi dãy bên nào, là ủng hộ ông phó ngồi bên đó. Do vị trí hai ông phó ngồi, anh em trong cơ quan đặt luôn tên: ông Phó Tả, ông Phó Hữu. Lâu dần gọi thành ông Tả, ông Hữu cho tiện.
Một tháng, hai tháng, ba tháng, tình hình cơ quan không có gì thay đổi, các cuộc họp người ta vẫn ngồi như vậy. Có điều lạ, cái ghế không ai ngồi mà nó vẫn sạch, sạch như lau như ly, sạch tưởng như cái ghế vẫn có người ngồi. “Lạ thật” - đấy là ý nghĩ của cả hai ông phó, chứ còn nhân viên ai người để ý. Nhòm ngó vào, khéo không người ta lại tưởng mình cũng muốn ngồi vào đấy.
Lạ thật, sao nó sạch sẽ thế, không một hạt bụi. Ông Tả nghĩ, Ông Hữu trong thâm tâm cũng vậy. Vì chưa bổ nhiệm trưởng, thứ rõ ràng, nên công việc cơ quan tạm phải phân công, cách phân công là mỗi ông phó trực một phiên - trực luân phiên, có khi luân phiên ngày, có khi luân phiên tuần, luân phiên buổi. Mỗi ca trực cũng là dịp họ có điều kiện tìm hiểu tại sao cái ghế lại sạch sẽ thế. Và cả hai ông phó thầm nhận ra nguyên nhân. Ấy là vào phiên trực của ông phó nào, thường thì người đó về muộn, khi nhân viên đã về hết, ông sẽ hùng dũng tiến lại cái ghế cũ, ung dung ngồi vào đó. Mắt dõi nhìn bao quát, tay khoát về dãy bàn trước mặt, tất nhiên lúc này là dãy bàn trống không, miệng ứ hự, ông phó ta đang chỉ đạo... Điều bí mật như thế mà không hiểu sao, cả hai ông đều biết, cái ghế không ai ngồi nó vẫn sạch. Khi đã phát hiện ra nguyên nhân, họ đâm ra bực tức. Chỉ có điều chẳng ai trong hai ông tiện nói ra.
Tuần ấy đến phiên trực của ông Tả, ông Hữu có chuyến công tác xa. Ai cũng biết, cơ quan của ta, vốn lâu nay tài sản là của công, từ vật rẻ tiền mau hỏng đến loại tài sản cố định, nhiều vô kể. Đã nhiều vậy chúng còn thường xuyên được bổ sung, không hỏng cũng mua, mua rồi thì tranh thủ thanh lý. Cái tài sản chung ấy nhiều tới mức người ta chẳng còn rõ cơ quan có những gì. Số phận cái ghế kia cũng vậy, mua nó lâu năm rồi, đến mức hoá đơn, giấy tờ, hoá đơn và biên bản kiểm kê hàng năm, xếp đầy một tủ. Để lâu quá giấy tờ mục nát hết.
Mua sắm hàng quý, hàng năm là cách cải thiện cho cánh nhân viên quản trị, còn tiến hành thanh lý là cách cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho toàn bộ anh em cơ quan - gắp thăm, mua được cái tủ mọt, cái phích cũ, cái xoong công đoàn méo. Cũ là cũ cơ quan, chứ với gia đình, thì còn sang chán. Phiên ông Tả trực, đúng vào dịp tiến hành thanh lý hàng năm. Hôm thanh lý, công nhân viên chức cơ quan như sống trong ngày hội. Đấu giá kín sẽ bảo đám bí mật không thiên vị, đấu giá hở sẽ bảo đảm dân chủ công khai... Trước hội đồng thanh lý, khi thấy cậu nhân viên giơ tay trước tiên, vừa nghe cậu trình bày, mọi người mắt tròn mắt dẹt, không ai tin nổi điều mình vừa nghe, tại sao có kẻ bạo gan, dám đòi mua cái ghế giám đốc cũ. Mấy vị hội đồng còn đang lúng túng, thì lạ thay, ông Phó Tả tươi cười gật đầu, ừ nó là cái ghế cũ, thanh lý được.
Sau buổi thanh lý, nhân viên cơ quan thì thầm, cậu nhân viên mua cái ghế cũ kia để làm gì nhỉ. Thôi đúng rồi, nó là âm mưu của một trong hai ông phó, họ muốn gạt chướng ngại vật trên con đường thăng quan tiến chức của họ.
Lâu nay cả hai ông phải khó chịu nhìn cái ghế lắm. Thực ra người mua thanh lý cái ghế cũ không phải là cậu nhân viên kia, mà chính là ông Tả, ông chỉ nhờ cậu nhân viên đứng tên thôi. Ngay chiều đó, ông Tả chầu trực ở nhà đón ghế. Cái ghế được ông đặt ở một nơi trang trọng trong phòng làm việc. Kể từ hôm đó, bà vợ ông thấy lạ: chiều ông chồng về làm sớm, sáng ông không còn dậy muộn và ông ở luôn ở lì trong phòng làm việc của mình. Một lần tò mò, bà ngó trộm qua khe cửa. Thật sửng sốt, bà thấy chồng đang ngồi trên ghế, vung tay, vung chân, giữa cái phòng chỉ có mỗi mình ông. Vợ ông lo lo, hay là chồng bà mắc bệnh gì. Bà hỏi thì ông gạt phắt đi, phụ nữ biết gì việc đại sự. Đúng bà biết làm sao được, hàng ngày ông đang thưởng thức sự ngồi lên cái ghế, ngồi để lấy khước.
Hết phiên trực ông tả, thì ông Hữu đi công tác về. Thật khó tả sự tức bực của ông Hữu đến cỡ nào, ông nhanh chóng điều tra ra cái ghế đang ở đâu. Biết thì biết, nhưng ông Hữu không làm gì được. Người ta không tham ô, không lợi dụng chức quyền, chẳng lẽ trình bày với cấp trên về việc thanh lý, mua bán chiếc ghế cũ. Được, nhưng ông không để yên đâu. Rất may ông Tả hết phiên trực, lại nói rằng, ông có chút việc riêng, sẽ nghỉ ở nhà cả tháng. Không thầy ông Hữu ý kiến gì, hình như chỉ thấy ông hơi nhếch mép. Phiên trực ông Hữu được ba hôm, từ nhân viên bảo vệ, thủ kho, đến lái xe đều sững sờ nghe tin, ông Hữu có quyết định bổ nhiệm được lên ngôi trưởng. Tin quá bất ngờ, đến mức vây cánh thân tín của ông Tả, nhìn cái quyết định còn chưa tin, họ tất tả phi về báo cho ông Tả. Ông Tả nhận được tin trong lúc ông đang ngồi luyện ghế. Ông giận một trận lôi đình, nạn nhân gánh chịu trước tiên chính là cái ghế. Nó bị ông nhấc lên và giáng mạnh đến mức, một chân ghế rời ra. Nếu không có bà vợ, thì không biết đồ đạc trong phòng còn bị đập phá đến cỡ nào. Bà vội ôm chặt lấy chồng, cuồng cuồng nhờ cậu nhân viên giúp sức, tống vội cái ghế chết tiệt kia sang phòng khác. Sau lần ấy, ông phó tả bị trận ốm thập tử nhất sinh, tới mức ông phải nghỉ hưu. Ông trưởng mới nhậm chức, chẳng rõ có sắm cái ghế mới không, nhưng chức trưởng chưa nóng chỗ, ông đã bị vướng vào chuyện gì đó...
Số phận cái ghế ra sao? Sau lần bị đập gẫy chân, nó bị quẳng vào căn phòng trống. Lúc đó còn ai để ý, con cái ông bà phó Tả thì đi xa, ông lại ốm đau. Để đến lúc đứa con ông từ phương xa về, cần phòng riêng, nên nó thu dọn lại căn phòng. Thằng con hơi lạ khi thấy cái ghế cũ, lỗi mốt và một chân bị gãy. Nó sai người khuân cái ghế vứt ra bãi rác.
Ông già bảo vệ từ khi nhặt được cái ghế, hai ông cháu thường chơi đùa. Ông bảo vệ vẫn thấy có cái cảm giác quen quen. Để đến một buổi chiều, cũng vào tầm thằng bé tan lớp mẫu giáo, ông đưa cháu ra phi ngựa ghế, thằng bé cười như nắc nẻ. Ngắm cháu cười, tự dưng ông già nhận ra cái ghế. Bế thằng cháu xuống, ông thong thả ngồi lên, tủm tỉm cười, ông đưa tay vuốt râu, cao giọng kiểu phường tuồng:
- Như ta đây là vua ... khà khà...
Thằng cháu nhìn trò chơi mới của ông nội, càng cười như nắc nẻ. Khi thằng bé ngồi, nó nghĩ, ấy là con ngựa, còn khi ông nó ngồi vuốt râu, nó lại nghĩ, ấy là vị vua trong câu chuyện cổ tích, mà ông nội thường kể cho nó nghe./.
Đăng nhập để trả lời
0

Trọng Huân - Truyện ngắn

Tây Bắc 2000

Nhục cũng không xong

Người phụ nữ đang chờ người đàn ông tới.
Thỉnh thoảng nàng lại liếc nhìn đồng hồ và còn thầm nhẩm đếm, như để mong thời gian trôi nhanh hơn. Nàng không còn cảm giác nhục nhã, hay phải hạ mình. Nàng đã vượt qua được chính mình. Cuộc vật lộn không hề đơn giản. Nó trải qua nhiều tháng, nhiều năm, qua những đêm dài mất ngủ. Nhưng cũng cho tận đến lúc này, khi đang đếm thời gian trôi, chờ đợi người đàn ông tới, nàng vẫn còn cảm giác thẹn thùng. Chốc chốc, gò má nàng nóng bừng. May mà dưới ánh đèn dầu và nhà chỉ có một mình, chứ ban ngày, hoặc dưới ánh điện, nàng ngượng lắm. Người ta sẽ nhìn thấy mặt nàng đỏ như gấc, đỏ đến từng chân tóc.
Đã bao tháng ngày nàng phải tự đấu tranh với mình, nên hay không nên. Tất nhiên là nàng rất muốn, muốn tới mức thèm khát. Cái chính là nàng có dám không. Nàng phải hạ mình cầu xin người ta, sẽ nhục nhã, ê chề. Có lẽ nàng không làm nổi. Nàng vốn là người tự trọng. Chỉ cần nghĩ đến ánh mắt tò mò, xoi mói của hàng xóm, những người cũng giống hoàn cảnh nàng, nàng đã không chịu nổi. Huống hồ còn bao kẻ khác.
Nhớ lại hôm hai người đàn bà trong xóm chửi nhau. Nàng thấy việc ấy như của chính mình, nàng xấu hổ quá. Suốt cả cuộc chửi bới kia, nàng không dám ló mặt ra khỏi nhà. Chứ đừng nói như đám đàn bà và lũ trẻ con trong xóm, nhua nhúa ra xem tận nơi. Nguyên nhân của cuộc chửi bới bắt đầu từ hai thằng bé. Mới đầu hai người mẹ lôi ra những chuyện thông thường xỉ vả lẫn nhau. Cuộc cãi lộn mỗi lúc một hăng. Họ moi móc tất cả những điều có và không có để thoá mạ, hạ nhục nhau. Cuối cùng, khi đã hết chuyện, họ lôi ra chuyện ấy. Khởi đầu là người đàn bà nhiều tuổi. Chị ta rủa người đàn bà trẻ là đĩ non, có biết ngủ với đứa nào không. Với lão già đáng tuổi bố mình, để kiếm đứa con.... Nhục! Người đàn bà trẻ không kém, đối lại: Mụ đĩ già, ngủ với thằng trẻ ranh... Nhục! Nàng biết khi hai người đó đấu khẩu, thì cái xóm này, xóm của nàng, tất cả đàn bà trong xóm đều dỏng tai lên nghe. Lâu nay họ vẫn rình mò chuyện ấy, kháo tìm xem “thằng bố” của những đứa con nhà người khác, là ai. Khi hai người đàn bà tự dưng phô ra điều bí mật kia, thật là một dịp hay, họ sẽ chắt lọc, dò tìm trong những thông tin đó, để đoán định xem ông bố của hai đứa trẻ nọ.
Cái xóm nhỏ của nàng xuất hiện được mươi năm rồi. Giờ ở nông trường và quanh vùng, người ta quen gọi là xóm Không chồng, hay xóm Xin con. Thực ra nó không hẳn là cái xóm, mà chỉ là dãy nhà vài mươi gian, nằm hơi biệt lập. Khởi đầu nó là khu tập thể cho các phụ nữ độc thân. Các nhà đều có bếp, có cửa, có sân riêng, mỗi người một gian. Không hiểu sao, ngay sau khi dựng xong và phân phối, người ta cứ đùa đùa thật thật gọi, xóm Không chồng, xóm Xin con. Chuyện những người phụ nữ lỡ thì không con, đâu hiếm, nhất là các nông, lâm trường. Họ, những người một thời phơi phới ra đi, đem sức trẻ biến rừng già thành đồi chè, đồi trẩu... Tuổi xuân đi qua lúc nào không hay. Đến khi tự nhận ra, thì muộn mất rồi. Họ thành những người cô độc. Và nơi sinh sống vẫn heo hút như khi xưa họ tới.
Nhớ ngày vừa chân ướt chân ráo tới đây, nàng đã phải chứng kiến một vụ kiểm điểm hủ hoá. Trong những vòng phê bình, người đàn bà chửa hoang mặt cúi gầm, dấm rức khóc. Hai bàn tay chị ta khư khư đặt trước bụng, như che chở cho đứa con còn trong trứng nước. Chị nhất quyết không nói ra ai là thủ phạm. Giờ mỗi lần đi qua ngọn đồi chơ vơ có ngôi mộ người đàn bà chửa hoang, xót thương nhớ đến người đã khuất, nàng lại không khỏi chạnh nghĩ tới thân phận mình, lỡ thì, cô quạnh...
Xóm Không chồng ở giáp ngay văn phòng đội. Mấy hôm trước, lúc nàng đang hái chè ở khoảng đồi nhận khoán, thì nghe tiếng ông đội trưởng gọi. Ông nhờ nàng về nấu giúp cơm khách. Có toán khách Hà Nội lên công tác. Họ sẽ ăn nghỉ ở văn phòng đội khoảng ba, bốn hôm. Nàng giáp mặt với người đàn ông ấy, khi nàng mang ấm nước lên phòng khách. Lúc ấy mấy người khách đang cười đùa ầm ĩ. Thấy nàng vào, họ ngưng ngay câu chuyện. Trừ người đàn ông kia, còn lại, họ đều rất trẻ. Rót xong phích nước, ngẩng lên, nàng bắt gặp ánh mắt anh ta. Nàng thoáng lúng túng, tránh cái nhìn của người ấy và vội vã rời phòng khách. Nàng biết, phía sau, người đàn ông đang nhìn mình. Lại nghe tiếng cười hi hí của đám thanh niên, nàng thấy ngượng quá. Nàng biết, cái tên xóm Không chồng, Xin con, đâu phải điều bí mật. Nhiều khi nó còn là chuyện được mang ra đùa cợt của đám đàn ông nông trường, hay chuyện làm quà với khách.
Tối ấy, không hiểu sao, ánh mắt người đàn ông cứ chập chờn trong suy nghĩ của nàng. Lúc nàng dọn mâm bát, hình như người ấy lại nhìn nàng. Anh ta bao nhiêu tuổi nhỉ? Nàng đoán, bốn lăm hay hơn một chút. Người đâu mà to, to thế. Khiếp, râu thì quai nón rậm rì. Chợt nàng tự thẹn với ý nghĩ của mình. Dơ quá, sao cứ nghĩ tới người ấy. Mà người ta đến công tác dăm, ba hôm rồi sẽ đi. Những ý nghĩ linh tinh làm nàng không chợp mắt nổi. Tận gà gáy canh hai nàng mới thiếp đi. Hôm sau nàng dậy khá sớm. Nàng rất muốn đi, chợt lại phân vân, còn sớm quá. Nàng nấu nướng xong bữa sáng, mấy người khách vẫn chưa ai dậy. Đã định đi, rồi nàng lại nấn ná đợi. Có tiếng bước chân, nàng đoán là... người ấy. Tự nhiên tim nàng đập thình thình, má nóng bừng. Nàng biết, phía sau anh ta đang nhìn mình. ý nghĩ vậy làm nàng thêm luống cuống. Không còn bình tĩnh, nàng hấp tấp rời khỏi phòng ăn. Bữa cơm chiều, nàng cố gắng tập trung vào công việc bếp núc. Lúc thu dọn mâm bát, không hiểu sao nàng lại đánh mắt nhìn về phía ấy. Không ngờ, chạm ngay vào cái nhìn của người ta.
Tận cho đến lúc này, khi đang chờ người đàn ông tới, nàng vẫn không hiểu nổi, mình can đảm thế. Nàng còn nhớ, lúc đó tim nàng như ngừng đập. Không hiểu nếu người đàn ông từ chối lời cầu xin, sự hạ mình của nàng, nàng sẽ bẽ bàng, xấu hổ đến cỡ nào.
Chiều nay, vì là buổi cuối cùng của chuyến công tác, giám đốc nông trường có bữa cơm mời khách, cả đoàn lên nông trường bộ, nàng không phải nấu cơm giúp nữa. Nhìn đồng hồ mới bảy giờ, thời gian sao trôi đi chậm chạp quá. Chắc phải tám giờ bữa cơm tiếp khách mới xong. Tại sao không mời mấy hôm trước, hôm nay giám đốc mới mời - nàng nghĩ. Lâu nay nàng ước ao và thường tưởng tượng về bữa cơm tiếp người ta. Biết người đàn ông ăn cơm đãi, song nàng vẫn làm mâm cơm để tiếp người ấy. Nàng đã chuẩn bị mâm cơm rất thịnh soạn: đĩa thịt gà luộc, đĩa trứng tráng, bát canh măng. Chập tối, khi nấu nướng, bày dọn xong, nàng chợt nghĩ: cơm thì phải có rượu. Nàng vội kiếm chiếc vỏ chai nửa lít, cẩn thận bỏ vào túi, không thể diễu chai rượu khắp xóm. Nàng ra tận quán nước ngoài cổng nông trường. Ông chủ quán vốn là công nhân nông trường nghỉ một cục, lúc rót rượu, cười cười hỏi nàng:
- Hôm nay có khách quý à?
Nghe câu hỏi đầy hàm ý, nàng xấu hổ, đỏ cả mặt.
Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ làm nàng thêm sốt ruột. Chín giờ rồi, sao họ vẫn chưa về. Hay họ về mà nàng không biết? Không thể. Chẳng lẽ tiếng ô tô ầm ầm nàng không nghe thấy ư. Nhỡ họ đi bộ về thì sao? Vô lý.
Ý nghĩ luẩn quẩn làm nàng không yên tâm. Nàng ra sân, ngó sang văn phòng đội. Các phòng cửa sổ đều tối om. Họ chưa về.
Mười giờ, mười một giờ...
Tiếng con thạch thùng kêu chép chép, làm nàng thêm sốt ruột.
Ăn uống tiễn đưa gì mà lâu thế, nửa đêm chưa xong. Nàng thấy tức ông giám đốc, nàng cũng giận luôn người đàn ông kia, sao quá vô tình. ừ, muộn rồi thì có thể đứng lên xin phép, hoặc nếu mọi người trong đoàn còn ở lại, thì anh ta có thể về một mình.
Mãi quá nửa đêm mới nghe tiếng ô tô rầm rầm, tiếng người say nói cười nhộn nhạo. Tuy rất giận người đàn ông, nàng vẫn thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng người ta đã về. Nàng vội vàng nhóm bếp, hâm lại mấy món ăn đã nguội tanh, nguội ngắt. Năm phút, mười phút trôi qua, nàng lại hồi hộp chờ đợi.
Cánh cửa nhà nàng khép hờ. Chắc là người ta còn rửa ráy, nàng nghĩ và mặt chợt nóng bừng. Thời gian tiếp tục trôi, mười lăm phút, nửa tiếng...
Hay trời tối qúa, người ta không nhận ra gian nào là nhà nàng.
Không, không thể như vậy được. Cửa sổ phòng khách mà người đàn ông nghỉ, đối diện với nhà nàng, nó chỉ cách vài mươi bước chân.
Hay là... anh ta nghĩ lại, không đến nữa? Hay anh ta đùa bỡn nàng?
Nàng chợt thấy hờn tủi quá, nàng cố kìm mà những giọt nước m?t cứ lăn dài trên gò má. Hình như nước mặt làm nàng tĩnh tâm lại. Nàng nghĩ: Không, không thể thế được. Đó là một người đứng đắn, ánh mắt ấy, khuôn mặt ấy...
Nàng mở cửa, ra sân. Cuối tháng trăng hạ tuần vằng vặc sáng. Tiếng gà gáy râm ran. Dãy nhà khách bên kia ánh trăng chiếu dọi. Cửa sổ căn phòng người đàn ông nghỉ mở toang.
Ừ, tại sao đến lúc này nàng mới nghĩ ra, người ta đang say rượu. Chuyện tiếp khách ở nông trường, chủ và khách say bí tỷ, xảy ra như cơm bữa. Hôm nay bữa ăn lại kéo dài, làm gì không say.
Đàn ông say... nàng từng nghe những người đàn bà có chồng và cả những người đàn bà trong xóm kháo nhau về đàn ông say. Những lúc ấy nàng giả vờ như không để ý, nhưng tò mò nghe. Thấy họ rúc rích cười, nàng đoán là chuyện gì. Nàng đỏ mặt.
ý nghĩ đàn ông say làm nàng thêm can đảm, nàng có thể sang với người ta được chứ.
Phòng người đàn ông cửa không khép. Căn phòng ánh trăng hắt sáng. Không buông màn, nguyên quần áo và giày, người ấy ngủ vật trên giường. Căn phòng nồng nặc hơi rượu.
Lần đầu tiên nàng được nhìn một người đàn ông ngủ gần đến thế, miệng há hốc, tiếng ngáy khò khò. Nhìn tư thế nằm ngủ mệt nhọc của người ta, nàng thấy thương thương. Cái thiên chức tự nhiên - làm chị, làm mẹ,... đã điều khiển đôi chân nàng bước về phía người đàn ông. Từ từ ngồi xuống, nàng tháo dây giầy cho người ta.
Kẻ say vẫn ngủ. Bất chợt người ấy lảm nhảm nói gì đó, cánh tay hắn quẫy đập, vắt lên chân nàng. Nàng rùng mình. Phản ứng tự nhiên, nàng suýt hất cánh tay gã đàn ông ra, song nàng đã không làm vậy. Người say lại lảm nhảm và trở mình, gác tiếp chân lên... Da nàng sởn nổi gai ốc, đầu óc bấn loạn. Lúc này nàng tự trách mình, sao lại tới đây.
Sau những quẫy đạp, kẻ say nằm yên, chỉ còn tiếng ngáy khò khò. ánh trăng hắt vào mặt người đàn ông, hắt cả vào bộ ngực hàng cúc không cài, phanh hết cả ra. Nhìn bộ ngực vồng lên của người ta, mà nàng thẹn thùng. Rồi nàng lại nhìn... Bản tính nhút nhát, cả thẹn của nàng lúc này tự dưng biến mất, nàng trở nên bạo dạn thế. ánh mắt nàng mơn man vồng ngực đang phập phồng thở của người ta. Như ma quỷ xui khiến, bàn tay nàng đưa ra, run rẩy chạm nhẹ vào vồng ngực đó. Cảm giác va chạm làm nàng thêm rạo rực. Bàn tay nàng mạnh dạn đặt lên ngực chàng. Từ lúc ấy lý trí không còn điều khiển được nàng nữa, nàng cứ âu yếm vuốt ve, một vồng ngực đàn ông nở nang, bắp cơ rắn đanh... Bàn tay ấy lần đầu tiên được biết da thịt đàn ông, nó rờ rẫm ve vuốt. Mồ hôi rượu nhớp nháp càng làm nó thêm đam mê, kích thích. Rồi cách tay nàng miết mạnh, thân hình nàng gập xuống, di miết da thịt nàng lên da thịt chàng. Cảm giác trong nàng như đốt cháy... Ham muốn đàn bà làm nàng thêm bạo liệt, nàng không còn là mình nữa, chỉ còn sự đòi hỏi đam mê... Lưỡi nàng khô ráp, không gian xung quanh dường như chỉ còn hơi thở gấp gáp và thình th?ch tiếng con tim bấn loạn của nàng. Tai nàng ù đi... Cúc áo nàng đã bật tung tự bao giờ. Nàng cúi xuống nhìn đôi gò ngực mình trắng ngần, lấp loá dưới ánh trăng. Cũng như cơ thể nàng, cái cơ thể đã teo đét, thoát cái đôi bầu ngực và tất cả, tất cả đều như căng rướn, khát khao chờ đợi. Nàng nắm bàn tay to ráp của chàng, đặt lên bầu ngực mình. Cả bầu ngực nàng một cảm giác nóng ran.
Kẻ say vẫn đắm đuối trong cơn say. Khi nàng buông tay, chờ đợi cái thiên chức khai mở của bàn tay kia... Không còn tay nàng nương đỡ, nó tuột tuột và rợi phịch xuống.
Nàng thoáng hụt hẫng, nhưng vẫn không thất vọng.
Khát thèm làm cho nàng thêm cuồng nhiệt. Cặp môi đã tham lam, bàn tay nàng còn tham lam hơn, nó lang thang, lang thang tới những nơi mà trong đời nó chưa một lần được tới...
Ngoài khung cửa bình minh đã hé rạng. Người đàn ông không còn phì phò thở nữa.
Kìa, hắn trở mình... và như là thì thào gì đấy.
Nàng hy vọng, chờ đợi.
Bất chợt đầu người đàn ông rướn... rướn lên. Nàng mừng rỡ, kẻ say đã tỉnh.
Cho đến tận lúc ấy, căn phòng chỉ có hai thân hình loã thể, chỉ có âm thanh háo hức, thèm khát sắp được làm đàn bà.
Bất thần bật ra âm thanh ộc... ộc.
Cái khuôn mặt đang tràn trề hy vọng và ham muốn nhục dục kia, đã không tránh kịp./.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-07 20:36:59Ct.Ly>
Trọng Huân - Truyện ngắn:

Hà Nội 2004
Ra mắt người yêu


Nàng đẹp, đẹp mê hồn. Một thân hình mảnh mai, kiều diễm. Đã lâu lắm rồi mới có bóng hồng làm tôi thảng thốt, mới hớp được hồn tôi. Tôi cứ tưởng rằng, sẽ không còn một ai nàng và người đàn ông đang xoắn bện vào nhau./.

Đã hiệu đính xong toàn bộ
Chúc sis luôn vui [:)]


Những truyện ngắn của tác giả Trọng Huân đã mang vào thư viện

Cảm ơn Chuột lắc đã hiệu định dùm sis nhé

Thân thương
Đăng nhập để trả lời
0