📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chùm Truyện Ngắn Nhiều Tác Giả 🔒

72 trả lời, 8.761 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 21:44:03Ct.Ly>
LÃNG TỬ QUÊN BUỒN
Nguyễn Trí Thông

Gã là một tên lãng tử. Gã có vóc người thon thả, đuôi rất dài và mượt, phần lông phía



Đã mang vào thư viện
My company: www.procard.com.vn
0
MÙA HÈ CỦA CÔ BÉ MẤT GỐC
Dương Thụy

Năm nay thời tiết thất thường, mới đầu hè trời đã trở nóng hầm hập suốt
ngày. Grenoble nằm giữa những ngọn núi nên mùa đông cực lạnh và mùa hè thì phỏng da. Hà một mình vắt cái khăn tắm trên vai đi bộ đến hồ bơi. Tóc nó thắt thành hai bím làm khuôn mặt mười sáu nhìn như con nít Tây mười tuổi. Vóc dáng trẻ thơ nhưng bạn bè ít ai biết Hà là đứa khổ tâm. Ba Hà vừa la mắng nó vì tội nói tiếng Việt sai be bét và lầm lì không chịu nói chuyện với bà nội. Hà không hiểu tại sao ba nó nổi giận khi nó trả lời: “Con vừa giặt tay cho bà xong”. Ba cho nó là đồ mất gốc.
Hồ bơi đông nghịt người. Lớp đang vùng vẫy trong làn nước mát, lớp nằm xếp cá mòi trên bờ phơi nắng để có làn da nâu. Hà leo lên cầu nhún, nó dậm chân lấy đà cho cú rơi tự do vào lòng nước xanh lơ. Lúc nghe tiếng “chủm”, Hà mơ hồ mình vừa đè lên vật gì đó. Một anh chàng trồi lên ho sặc sụa. Hà biết mình suýt gây ra “án mạng” nên búng chân trườn xuống nước mất dạng. Nhưng đã trễ, nạn nhân chết hụt kịp nhìn thấy hai bím tóc màu đen nổi bật. Sáng hôm
sau Hà lại một mình vắt khăn trên vai đến hồ bơi. Bạn bè nó theo gia đình xuống miền Nam tắm biển hay du lịch nước ngoài hết cả. Con nhỏ Natalie đi Việt Nam. Nó hứa khi nào về sẽ đem cho cô bạn gốc Việt chưa một lần đặt chân lên dải đất này thật nhiều quà của xứ sở nhiệt đới. Tụi bạn Tây rất yêu mến Hà vì nó sống động, học giỏi và thích thể thao. Tụi nó đặc biệt kết cái tên ngộ nghĩnh của Hà. Tên nó nghĩa là dòng sông nhưng khi phát âm theo tiếng Pháp
tụi Tây không đọc chữ “H”. Nhỏ Natalie nói: “Mỗi lần tao gọi mày từ xa, người ta tưởng ai đánh tao đau lắm vì cứ là kéo dài “A! A! A!”. Bản thân Hà mỗi khi có kẻ nào la “A!”, theo phản xạ nó quay lại vì tưởng có người gọi. Đi học vui như thế nhưng về đến nhà Hà là một người ít nói, lơ đãng và ngơ ngác. Ba nó không biết tiếng Pháp ngoài mấy câu chào xã giao. Mẹ nó thì biết đếm để xài tiền nhưng khi coi truyền hình thì chỉ đoán già đoán non. Lúc Hà còn nhỏ, mỗi lần cần làm giấy tờ ba mẹ nó phải chạy vạy nhờ những bác Việt Kiều có học. Mấy năm nay đến phiên Hà phải giúp lại những người Việt sống không hòa nhập được vào xã hội bên này.
Tuy ngầm hãnh diện về tiếng Pháp của Hà nhưng ba mẹ nó luôn hổ thẹn về tiếng Việt của nó. Tình hình trở nên căng thẳng khi bà nội từ Việt Nam sang sáu tháng nay. Bà thủ thỉ đủ chuyện với Hà mà nó cứ lặng yên vô cảm khiến bà giận, bệnh tim tái phát. Hà thấy ngột ngạt nên tìm tối đa các lý do để được ở bên ngoài.
Nước mát làm cho Hà dễ chịu, nó lại vừa bị ba la tội lầm lì và không thân thiện với bà nội. Hà bơi hùng hục mấy vòng hồ mới dừng lại nghĩ. “Cô bơi giỏi quá”. Một giọng nói vang lên sau lưng làm Hà giật mình. Anh chàng người Châu Á, chất giọng còn lơ lớ của người không sinh ra ở đây. Không hiểu sao Hà lại không thích những ai mắt đen, da vàng, mũi tẹt như nó. Natalie gọi đó là một mặc cảm trong tiềm thức, khó giải thích được. Hà lịch sự nói “cảm ơn” rồi búng chân lao vút đi. Nhưng hôm sau rồi hôm sau nữa, suốt một tuần lễ, ngày nào đi bơi nó cũng bị gã trai Châu Á bám theo lân la làm quen. Nó dừng lại ở mức độ chào hỏi rồi vội vàng lặn mất tăm xuống lòng hồ sâu. Anh chàng đó bơi không siêu nên nên hay đứng xớ rớ chỗ nước cạn cùng đám trẻ con lau nhau. Anh ta phô thân hình không được cường tráng của người ít vật động. Hà cười thầm: “Đến đây để tắm chứ bơi cái gì!”.
Bà nội thèm trái cây Việt Nam nên sai Hà ra siêu thị đầu phố mua ít loại. Bà dặn: “Nếu sầu riêng không quá mắc mua cho nội một trái”. Hà nhăn mặt như đã nghe cái mùi khó chịu đó. Lần nào bà nội ăn nó cũng trốn vào toilette. Mỗi lần như vậy ba nó lại bực mình và gia đình lại xào xáo. Hà công nhận đó là một mùi đặc biệt, người thì thấy thơm lừng, kẻ bịt mũi buồn nôn. Còn frômage camembert Hà thích lại làm cả nhà nó lợm giọng chê là mùi… xác chết. Ba nó cấm tiệt không cho tha về nhà bất kỳ loại frômage nào trừ “con bò cười”. Hà thấy mình luôn bị chèn ép. Hà đến quầy trái cây nhiệt đới, sầu riêng đang khuyến mãi nhưng chắc chỉ nên mua thanh long thôi…
- Chào cô!
Hà ngơ ngác nhìn một anh chàng tóc đen trông quen quen. Nó đưa tay đẩy gọng kính suy nghĩ.
- Cô không nhớ tôi sao? - Anh thanh niên nhỏ nhẹ - Ngày nào ở hồ bơi chúng ta cũng gặp nhau.
- À! - Hà la lên ngạc nhiên - Thì ra là anh mấy bữa trước anh không mặc quần áo nên hôm nay nhìn khác quá!
Mấy người mua hàng đang đứng trong bán kính mười mét đều quay nhìn tò mò kẻ “mấy bữa trước không mặc quần áo gì”. Hà biết mình “hố”, anh chàng đỏ mặt lúng búng không nên lời. Hà vơ vội vài trái thanh long rồi nhanh chân chuồn ra quầy thu ngân. Giá đang ở hồ bơi nó đã tàng hình vào làn nước. Lần này anh chàng có vẻ quyết tâm làm quen nên đón đường nó trước cửa siêu thị.
- Cô người gốc nước nào vậy?
- Anh hỏi chi?
- Cùng là người Châu Á, tôi hy vọng chúng ta đồng hương. Tôi đến từ Việt Nam từ mùa thu năm ngoái để du học…
- Tôi quốc tịch Pháp, nhưng ba mẹ tôi người Việt!
Hà thấy rõ nét mặt vui mừng của anh sinh viên. Anh ta gần như đã nhảy lên vì không thất vọng. Trông anh thành thật đến tội nghiệp.
- Chúng ta nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt nhé! - Vừa đề nghị anh liền thực hiện ngay - Anh thèm nói tiếng mẹ đẻ quá!
Hà vẫn dùng tiếng Pháp, đối với nó đây mới là tiếng mẹ đẻ, nó cho anh sinh viên biết mình sinh ra ở đây nên không có khả năng trao đổi với anh bằng tiếng Việt nhưng nếu anh muốn nó sẽ giới thiệu… bà nội nó cho anh.
- Được! Nhà gần đây không? - Vẫn nói tiếng Việt với Hà, anh sinh viên hồ hởi - Anh tên Hải. Em tên gì? Có tên Việt không?
Hà dẫn Hải về giao phó cho bà nội. Hai người nhớ tiếng Việt cùng nhau nói không hết chuyện. Mẹ Hà đi làm phụ bếp ở nhà hàng về đem theo mấy món đồ xào ế bà chủ cho. Anh Hải được mời ở lại ăn cơm. Anh ăn cật lực làm Hà nấu thêm cơm cho ba nó khuya đi làm ca về. Bà nội hài lòng nghe anh kể từ tám tháng nay chỉ lo học bù đầu làm luận án thạc sĩ nên không có thời giờ để giao tiếp với ai. Thèm món ăn Việt Nam, nhớ tiếng Việt và muốn tìm Việt kiều làm quen nhưng chưa có dịp. Đến mười giờ, ba Hà đi làm nhà Hải vẫn chưa chịu từ giã. Mới nhìn qua mà ba Hà có cảm tình với anh sinh viên cao học ngay. Ba nói có một đề nghị làm Hà rụng rời:
- Ngay ngày mai cháu đến dạy tiếng Việt cho con nhỏ này. Cháu vừa biết tiếng Pháp vừa rành tiếng Việt dạy nó sẽ dễ. Sẵn ký túc xá hè đóng cửa để sữa chữa cháu cứ đến nhà bác ở, khỏi thuê chổ khác làm gì mắc công!

Buổi học đầu tiên làm Hà lo sợ. Không phải nó ngán ông thầy từ trên trời rơi xuống mà sợ ba nó làm to chuyện nếu nó học không tốt.
- Em phải chịu khó nói tiếng Việt - anh Hải mào đầu. Anh biết em hiểu hết nhưng ngại nói vì sợ sai.
Hà bực bội đưa tay sửa gọng kính. Và như thói quen, những lúc thế này tự dưng nó… buồn tiểu. Hà đứng dậy dợm bước.
- Em đi đâu?
- Tôi muốn đi toilette - Hà cương quyết nói bằng tiếng Pháp. - Nói tiếng Việt xem nào! Nếu không tôi không cho đi.
- Con muốn đi đái!
Ông thầy bật cười ngặt nghẽo làm Hà ngơ ngác nhưng nhịn không nổi. Nó vụt chạy đi. Lúc trở vào phòng học vẫn thấy thầy ôm bụng cười khùng khục.
- Tại sao anh cười! - Hà khó chịu hỏi bằng tiếng Pháp - Lần nào tôi nói tiếng Việt cũng có người cười hoặc tức giận.
- Sao em lại xưng “con” với anh? Lại còn nói “đi đái”, nghe không hợp với một cô bé đeo kính cận sáng láng.
Bà nội ở phòng bên nghe ồn ào bèn sang giải quyết. Thầy vỡ lẽ, thì ra Hà chỉ hay gặp người Việt lớn tuổi nên có thói quen xưng "con", với tụi trẻ đồng trang lứa nó dùng tiếng Pháp nói chuyện với nhau cho nhanh. Còn từ "đi đái", quả thật hồi bé thỉnh thoảng ba vẫn gọi nó dậy "đi đái" mà! Thầy biết dạy thế này gay go rất nhiều lần làm gia sư ở Việt Nam. Phải đổi phương pháp, không nên nóng vội, tốt nhất nên thân thiệt với họ trò "mất gốc" đã. Thế là anh nói tiếng
Pháp với Hà, đề nghị nó hãy tâm sự về mình để hai người thông hiểu nhau phần nào. Biết nó cũng thật sự muốn giỏi tiếng Việt để làm vui lòng cả nhà nhưng ba nó tánh cộc cằn chỉ thích lớn tiếng mỗi khi nó nói sai, anh Hải tội nghiệp cầm tay nó an ủi. Anh nói mình thông cảm cho hoàn cảnh những đứa trẻ bị hai nền văn hóa xâu xé như Hà. Anh sẽ hết lòng giúp nó, miễn nó coi anh như một người bạn tốt. Những ngày hôm sau tình hình khả quan hơn, học trò đã chịu mở miệng nói chút chút. Nghe Hà ngọng nghịu, giọng lơ lớ, mặt hồi hộp sợ sai thầy vừa nén cười vừa cay mắt. Nhưng khi hai anh em vừa ra khỏi nhà để đến hồ bơi Hà trở nên tự tin và nói tiếng Pháp không cần xin phép. Anh Hải có vẻ thất vọng, thì ra học trò sợ phụ huynh hơn là thầy. Hà cười, hù dọa anh bằng tiếng Việt "ba rọi" của mình:
- "Toa" mà nói lại với ba con, con sẽ đè "toa" xuống đáy hồ đến lúc có những hột nước đi lên cho "toa" chết luôn!
- Em chứ không phải con, bong bóng nổi lên chứ không phải hột nước đi lên! Gọi bằng "anh" chứ không được "toa"…
Học trò không thèm nghe, nó đã búng chân lao vút đi trong làn nước mát để thầy đứng xớ rớ chỗ cạn với đám con nít ồn ào. Thấy lố bịch với cô em Việt kiều, anh chàng lần lần vịn thành hồ tiến ra chỗ sâu. Một lực kéo bất ngờ làm hai "ống sậy" của gia sư nhấc bổng lên. Uống lưng bụng nước chàng sinh viên dở thể thao được Hà kéo vào.
- Em định ám sát tôi để khỏi phải học tiếng Việt nữa phải không? - Nạn nhân tức giận ho sặc sụa - Lần đầu tiên gặp em đã từ trên cầu phi thân đè tôi xuống đáy cầu một lần rồi.

Ngày mai ba Hà lái xe đưa anh Hải ra phi trường Lyon. Anh hứa vài năm sau lại sang để làm luận án tiến sĩ. Khi đó chắc Hà đã nói tiếng Việt rất giỏi và không cần gia sư nữa. Hà biết anh nói thế để khuyến khích chứ nó còn trật nhiều lắm. Mới hồi hôm qua thôi khi bà nội kể chuyện những tên tội phạm mua chuộc cảnh sát, nó thắc mắc: "Sao tụi nó phải mua con chuột của cảnh sát làm gì?". Ba Hà dạo này bớt cục tính, ông nghe lời anh Hải chịu khó học tiếng Pháp. Bởi thật bất công khi trách con gái mất gốc trong khi bản thân mình không hòa nhập được vào xã hội mới sau gần hai năm sinh sống. Đang ăn tiệc tiễn anh Hải về Việt Nam, mẹ Hà làm bể cái chén gây tiếng động trong nhà bếp, nó vào phòng ăn kể với cả nhà: "Cái chén té từ trên bàn xuống" làm thầy xấu hổ đỏ mặt.
Anh kéo nó ra sâu sau trao một món quà nhỏ. Con gấu mập ú ôm trái tim đỏ thật dễ thương.
- Đây là tim của anh, tấm lòng của một người anh dành cho đứa em mình - Anh Hải lí nhí. Hà thắc mắc sao con trai Việt Nam thích ngụy trang tình cảm dưới lốt anh em làm gì - Nhớ đừng có phát âm sai chữ tim thành…
- Biết rồi - Hà đỏ mặt nhớ lần nó kể bà nội bị bệnh "đau chim" làm anh Hải há hốc nhìn nó kinh ngạc. Sau khi cả hai hiểu ra, bật cười đau bụng, đến phiên bà nổi giận hai ngày - Sáng mai em đi học lại, con Natalie phone nói đem từ Việt Nam qua cho em một cái nón lá…
Đêm trở lạnh, những cơn gió mùa thu đã đến đem những chiếc lá vàng đầu tiên lìa cành. Hà nói giọng nuối tiếc một câu tiếng Việt văn chương đến mức làm thầy phải giật mình: "Mùa hè đáng nhớ đã trôi qua…".
My company: www.procard.com.vn
0
TIẾNG NỔ
Nguyễn Trí Thông

Cái chòi canh nằm chơ vơ, lẻ loi giữa rẫy dưa bạt ngàn. Trong chòi hầu như chẳng có gì, ngoài chiếc giường tre cũ, cái ấm nước ám khói đen thui, mấy cái chén mẻ miệng vằn vện bụi vứt lăn lốc.
Quyền là "chủ nhân" của cả cái "cơ ngơi" đó. Cũng chẳng bận tâm gì nhiều. Cuộc sống cứ sơ sài, tạm bợ như thế, riết rồi quen. Hằng đêm, Quyền ngả lưng trên chiếc giường tre, ngủ những giấc ngủ chập chờn. Trong giấc ngủ có tiếng gió lùa thông thống, tiếng loạt xoạt cựa mình của cỏ cây, tiếng thở khì khì đều đặn của con chó nằm phục dưới chân giường - Là giấc ngủ của kẻ canh rẫy, tràn ngập và thấm đẫm của những thanh âm phập phồng, thắc thỏm.
Vậy mà đêm qua Quyền lại ngủ rất say, nửa đêm còn nằm mơ. Thiệt vô duyên, tự dưng Quyền mơ thấy pháo nổ.
Phải, Quyền đã mơ thấy pháo nổ, nổ rát, nổ dữ lắm. Bủa vây lấy Quyền là khói pháo mịt mù, hăng cay lẫn với ánh lửa chớp lòa. Lúc đó, Quyền vô cùng kinh ngạc, tự hỏi bao nhiêu năm nay nhà nước cấm đốt pháo, chỗ này là chỗ nào mà dám chơi bạo liệt dữ? Còn đương hoang mang, thắc mắc thì tiếng pháo mỗi lúc một rát hơn, dữ dội hơn. Thốt nhiên Quyền đâm hoảng, bèn co giò vụt chạy. Vừa chạy được mười bước, chân Quyền bỗng vướng vào một viên pháo cối nằm lăn lóc. Dường như chỉ chờ có vậy, phiên pháo liền phát hỏa. Toang!!!
Cái tiếng "toang" bùng ra cũng là lúc Quyền giật nảy người, chân đạp mạnh một cú xuống chiếc giường ọp ẹp. Con chó đang nằm phủ phục dưới đất hoảng hồn bật dậy, sủa toang hoang một thôi dài. Rồi với bản năng của một con chó canh rẫy, nó lao vọt ra khỏi chòi, sục sạo một cách quyết liệt. Chốc sau, nó đáo trở lại, cái lưỡi dài thò ra, lẫn với tiếng thở dồn dập là những tiếng rít ư ử đầy phấn khích trong cuống họng. Nó chờ lệnh chủ.
Quyền nhỏm dậy, ngồi chồm hổm trên giường, trong đầu vẫn còn lâng lâng tiếng nổ đã xa xăm. Dường như có một dự cảm lo âu nào đó, rất mơ hồ, đã dẫn dắt Quyền đến với giấc mơ kỳ lạ kia. Nhưng dù cố lục lọi trong cái trí nhớ nhỏ nhoi và đơn sơ của mình, Quyền vẫn không sao định được đích xác nó là cái gì. Chỉ biết rằng, cứ vương vương vất vất từ mấy tuần nay.
Con chó vẫn kiên nhẫn đứng đợi bên ngoài. Quyền vẫy tay kêu. Nó rùn bốn chân, sủa úng oắng một hơi vẻ hối thúc. Quyền phì cười, tụt xuống giường, bước ra ngoài theo con chó.

Đêm nay rằm. Trăng tỏa một màu vàng loang loáng, mênh mang khắp thửa rẫy rộng. Chỉ trừ một vạt đất phía xa xa, nơi dùng để trồng điều, những cây điều to cao lực lưỡng, là âm u một màu đen bí mật. Còn lại, cả rẫy dưa bạt ngàn đều chan hòa ánh trăng.
Quyền chậm rãi đi dọc theo những luống dưa, vai hơi so lại vì gió thổi ràn rạt trên miền đất trống. Con chó vẫn hung hăng chạy lên phía trước, sục sục mõm vào các bụi rậm tỏ vẻ ta đây.
Rẫy dưa đang thời kỳ phát triển. Những chiếc lá dần dần héo quắt lại, dồn nhựa sống nuôi trái. Rồi đến một ngày nào đó, khi lá đã tàn rụi, và cuống lá cứng khô đi, cũng là lúc mối lái sẽ kéo vô thu hoạch đem về Sài Gòn. Nếu có tiền, chú Tư sẽ cho Quyền một ít để sắm sửa ăn tết. Rồi như vậy là xong một niềm vui, một nỗi đợi chờ nhỏ nhoi mỗi năm. Và cuộc sống lại tiếp tục trôi qua, lầm lũi, không vui không buồn không âm sắc…
Đang đi Quyền bỗng ngồi thụp xuống, hai tay vẹt đám lá đang héo rũ ra. Coi kìa, có trái dưa dễ chừng trên sáu ký. Nó đương ngủ say giữa đám lá, đám dây leo bò lổn ngổn, tròn lẳn, múp míp như một chú heo con - dù mình mẩy lem luốc đất cát. Nó ngủ ngon như một cậu nhóc ham chơi, ham chơi tới nỗi lấm lem cả quần áo, để rồi về tới nhà là mệt lử, lăn đùng ra ngủ liền, không kịp rửa mặt mũi chân tay. Quyền vuốt ve trái dưa, những ngón tay thô kệch mà nâng
niu, trìu mến.
Chợt tim Quyền bỗng nhói lên. Khi không Quyền lại nhớ về mùa dưa năm ngoái. Ấy là lúc cả rẫy dưa đương ở độ phát triển nhất, thì trời bỗng mưa dầm mưa dề dễ cả tuần liền. Quyền nằm co ro trong chòi, nhìn ra bên ngoài lúc nào cũng thấy mưa giăng giăng, và bầu trời thì xám xịt, nặng trĩu như đeo chì. Rồi mưa tạnh. Vào một đêm, khi khí trời còn mát rười rượi sau những ngày mưa, trong giấc ngủ chập chờn của Quyền bỗng lẫn vào những tiếng nổ "toác toác"
khe khẽ. Tiếng nổ cứ lâm râm lan khắp rẫy. Quyền choàng tỉnh, vớ lấy cây đèn pin chạy ra ngoài. Con chó vùng dậy chạy theo. Trời… trời ơi… dưa nổ. Những trái dưa căng tràn nhựa sống, sau nhiều ngày ngấm nước mưa, tức quá đã nức toác ra. Quyền tuyệt vọng chạy giữa những luống dưa, mấy mô đất mấp mô làm anh ngã dúi. Trong bóng đêm, Quyền nghe cả rẫy dưa thở dài những tiếng thở đau buồn…
Quyền trở về chòi, cả đêm không ngủ được. Tờ mờ sáng, anh lại xang bang ra rẫy. Hoang tàn tất cả. Quyền khẽ tách một trái dưa đã nứt. Bạc thếch. Lại một trái nữa. Cái màu đỏ tươi cũng đã bợt bạt đi nhiều. Và nhiều trái xung quanh thì bị xì hơi, nằm nhũn nhặn. Năm đó dưa mất mùa. Chú Tư lầm lì dúi vô tay Quyền mấy đồng bạc ít ỏi để ăn Tết. Trong cái tâm hồn cục mịch của Quyền bỗng tràn lên một nỗi buồn khó tả. Mà chắc chắn là không phải buồn vì nỗi tiền bạc…

Cái mõm ấm nóng, ươn ướt của con chó sục vào nách làm Quyền giật
mình. Cứ thế, Quyền ngồi bẹp dưới đất, ôm con chó vô lòng, gãi gãi cái cổ bồm xồm lông của nó. Trên không, mấy ngọn gió chơi trò đuổi bắt vờn nhau xáo xác. Vầng trăng bát ngát tỏa ánh sáng vàng dịu mênh mang. Trời trong leo lẽo đến là yên bình.
Giờ thì Quyền đã biết cái nguyên cớ dẫn dắt đến giấc mộng thấy pháo nổ lãng xẹt kia. Mà nói đúng ra cũng không lãng xẹt chút nào, các hình ảnh thật sự đã kết nối, đã dấp dính với nhau rất tự nhiên - giữa dự cảm và mộng mị. Quyền chợt thấy lòng nhẹ nhõm, như vừa trút được một khối u ám cứ đè nặng trong ngực. Chẳng mấy lâu nữa mối lái sẽ tới gom cả rẫy. Mà dưa căng tròn tươi tốt thế kia. Và trời thì đẹp thế kia…
Quyền đứng dậy, phủi phủi cát ở đít quần. Khẽ huýt một tiếng sáo, Quyền quay lại nói với con chó: "Về ngủ thôi, nhóc con!".
My company: www.procard.com.vn
0
TÌNH HUYNH ĐỆ
Nguyễn Thị Thu Trang

Anh ấy đưa tôi đến cửa phòng khám rồi quay xe: "Mày tự vào một mình đi!". Nếu tôi có được bản lĩnh đó, tôi đã không phải xuống nước nhờ vả. "Anh vào cùng em!". "Tao có đau răng đâu?". "Em van anh đấy!". "Đồ rắc rối! Đồ "dặt dẹo", lắm chuyện!". Anh ấy vừa gởi xe, vừa luôn miệng xủa rả tôi. Tôi là con trai chính cống, nhưng tôi im lặng. Thói quen kỳ lạ này hình như phát khởi từ lúc lọt lòng.
Anh tôi là một nhân vật hoàn hảo. Học hoàn hảo, chơi hoàn hảo, xử sự hoàn hảo. Là sản phẩm của trí tưởng tượng bay bổng và khả năng hư cấu tuyệt vời, các nhân vật văn học chắc gì được "điển hình" như anh tôi. "Hùng hoàn hảo" - từ lâu đã trở thành tên, thành biệt danh, thành niềm yêu mến, thành sự sùng kính và ngưỡng mộ của mọi người (trai có, gái có, già có, trẻ có, trung niên và thiếu niên nhi đồng đều có).
Đôi khi, tôi cay đắng nhận ra thân phận "cái phông", làm nền cho tính cách hoàn mỹ của anh. Nhưng có một thằng người trong đầu tôi vụt mắng át đi: "Cần phải tự hào và hãnh diện!". Thằng người ấy không có hình hài. Nó chặn không để nhuệ khí của tôi tiến về phía trước.
Bạn bè gọi tôi là "Hưng hâm hấp", nửa yêu, nửa ghét, nửa thương hại, nửa châm biếm, nửa cảm thông. Ngay cả tình cảm, tôi cũng không được đón nhận trọn vẹn. Trách tôi có "vấn đề" bởi vì tôi chẳng hề tự ái (??).
Lại nói về chuyện cái răng của tôi. Nguyên do là nó mọc lệch, không chịu yên phận đứng song hàng mà cứ thích tranh chỗ cái răng bên cạnh. Chẳng bên nào chịu nhường nên làm khổ đến cái lợi, nó sưng tấy, đỏ chót, đụng lưỡi vào cũng đau buốt. Mẹ hốt hoảng đòi đưa tôi đến bệnh viện. Bố thì bảo: "Tới phòng khám tư nhân tốt hơn, tuy có nhiều tiền một chút, bù lại nhanh, gọn, thủ tục đỡ rườm rà". Thế mới có chuyện anh ấy dẫn tôi đi rồi định mặc tôi một mình đối
mặt với bác sĩ.
Anh ấy thúc vào lưng, đẩy tôi lên trước, mũi nhăn nhúm vì mùi cồn. Lúc ấy trông anh xấu một cách tệ hại. Chúng tôi nhòm qua cửa kính, thấy kìm, nĩa inox sáng choang va nhau loảng xoảng mà rủn hết cả người. Một cô y tá trẻ măng ngoắc tay: "Vào đây, ngồi đợi năm phút!". Thằng bé con nhổ răng sữa hùng dũng nằm lên ghế sau những lời động viên, tán tụng, dỗ dành của mẹ nó và bác sĩ. Với nó, nhổ răng là một hành động anh hùng. Trẻ con thật dễ bị lừa phỉnh (!).
Tôi nài anh: "Đứng cạnh em đi!", lập tức anh ấy trố mắt. Mọi người phì cười: "Làm gì mà ủy mị thế?". "Không, cháu sợ, đau lắm!". Anh lại gần, túm chỏm tóc tôi giật giật: "Nhuệ khí của mày biến đâu rồi hả?". Tôi tủi thân thì ít, lo lắng thì nhiều nên đã bắt đầu rơm rớm. Chiếc khay trên tay cô y tá rung bần bật vì cơn cười lên đến cao trào. Mặc kệ cô ta, tôi nhìn anh cầu khẩn. Anh bĩu môi - một cái bĩu môi không giống con gái - nó chứa đựng sự coi thường nhiều hơn là sự giận dỗi hay sự làm duyên. Thuốc tê cay cay và đôi tay bà bác sĩ ân cần. Anh tôi đứng giữ hai chân tôi. Kỳ thực, phải nói là "tóm chặt" để cho nó khỏi giẫy đạp. Anh ấy quay mặt ra chỗ khác, tới khi cô y tá thủng thẳng: "Xong rồi, chàng trai!" mới lẳng lặng bỏ ra ghế ngồi. Dọc đường, tôi nín thinh bởi mãi cắn cái bông cầm máu. Anh ấy thì chỉ thốt lên mỗi một câu, chán chường và băng giá: "Mày hèn thế!", bóp còi xin đường liên tục mặc dù phố vắng tanh.
Sau bữa cơm, tôi kể cho bố mẹ nghe về bà bác sĩ kèm theo lời khuyên nên đi hàn chiếc răng sâu. Hưng phấn quá, tôi còn hứa sẽ hộ tống mẹ. Anh tôi cắm cúi ăn, nhếch mép cười lạ lùng.
Hàng ngày, anh em tôi gặp nhau vào hai lần vào bữa ăn. Vì thế khó mà bộc lộ hết vô vàn những khác biệt và bất đồng. Khuya, khi mọi người đi ngủ, tôi bật ti vi xem bóng đá. Anh càu nhàu: "Vô ý!". Tôi đọc báo, anh đổi giọng: "Rỗi hơi!". Tóm lại là khó chịu. Anh không biết đá bóng và thích đọc tiểu thuyết tâm lý tình cảm thì có thể chấp nhận. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc áp đặt thói quen của người khác.
Bạn tôi bảo: "Anh mày như nhà tu!". Phố nó với phố tôi nằm vuông thước thợ. Chị gái nó thật xinh, thật hiền, đảm đang, khéo tay, học khá và… "chơi đẹp". Mùa ôn thi, chị ấy thức cùng, nấu đủ thứ cho nó ăn bồi dưỡng. Mùa bóng đá, nó cũng có đồng minh để bàn luận tranh cãi. Chị có thể che dấu sự bất bình bằng nụ cười nhẹ nhàng và ánh mắt nghiêm khắc. Những người nói ít, làm nhiều thường tạo nên ấn tượng gần gũi, tin cậy, chắc chắn. Với một bà chị như thế, bạn tôi có quyền tự hào mà chẳng phải day dứt, khổ sở, đấu tranh tư tưởng triền miên như tôi.
Học vào loại khá, thỉnh thoảng lại tập tọng làm thơ và có bài đăng báo, kỳ hội diễn văn nghệ hay nhóm họp nào người ta cũng giới thiệu tôi ngâm thơ. Giọng chẳng có gì đặc biệt nhưng cảm xúc là đồ "zin" chính hiệu nên được hoan nghênh nhiệt liệt. Anh tôi thoạt đầu bảo rằng: "Thơ của mày như gà con, suốt ngày léo nhéo!". Từ khi nổi tiếng, tôi đã học được cách phản đối. Làm như vô tình, những bài thơ nằm rải rác khắp nhà. Cả đến cái tủ lạnh nhỏ xinh trong bếp của mẹ vốn chỉ để chứa thức ăn và đồ uống (nhưng đó là chức năng của các ngăn) tôi cũng chẳng tha. Tôi đặt thơ lên mặt tủ, bởi vì anh tôi có thói quen đứng gác tay nói điện thoại với bạn gái. Khi ấy anh hay bối rối và cái tay thừa kia nhất định sẽ lật xem bất cứ thứ gì (từ chiếc mũ bảo hiểm tới cái ghim sách bé tí mân mê và săm soi như thể đang nghiên cứu nó cho đến lúc hết chuyện. Riêng thơ của tôi, anh không mó đến. Anh mỉa mai rằng: "Mày viết cao "xiêu" quá, may ra thì thánh hiểu!". Chị của bạn tôi không phải là thánh thần nhưng luôn thấu tình đạt lý. Đoạn nào dở, chị ấy "phê" nhẹ nhàng: "Hơi non tay, lần sau khá hơn!". Đoạn nào tốt, lại khích lệ: "Có ấn tượng, tự nhiên và giàu cảm xúc!". Chẳng máu mủ ruột rà, cũng chẳng cái gì gọi là "hối lộ", chị công minh, vô tư tiếp nhận những "tâm huyết" của tôi. Lúc bị anh "đàn áp" quá, tôi đuối lý, đuối sức chỉ kịp nói vung lên: "Anh xem, chị thằng Thao đấy! Thế mới đáng làm cho người khác kính phục!". "Ôi, đồ con gái, trách làm gì!". Bao giờ cũng một câu ấy thôi rồi nín khe. Để tỏ ra bao dung, để tỏ ra cao thượng, để tỏ ra quân tử… hay là gì nữa tôi cũng chẳng biết (??)…
Sau này, anh ít mắng tôi. Có thể vì tôi đã lớn, đã nổi tiếng tí chút, không dễ bị đàn áp, cũng có thể bởi anh mới vào đại học, phải bớt đi những nét càu cạu khó chịu của một ông già; hoặc cũng có thể vì bạn gái anh không còn vương vấn với những "cảm xúc đầu tiên" và chuẩn bị đi xa…
Sự thay đổi lớn nhất khiến tôi mừng rỡ là anh tôi "đột nhiên" quen với chị bạn tôi. Một kiểu "đột nhiên" rất dễ thương, rất lãng mạn, rất lôgic và rất trình tự. Có nghĩa là đủ cả màn "gặp tình cờ", "giúp vô tư", "quen sơ sơ", và "thân mật thiết". Hai người biết chuyện đó đều nín miệng. Tôi chỉ muốn nói rằng, ngoài bố mẹ chẳng còn người ruột thịt nào gắn bó khăng khít cùng tôi trong cuộc đời này. Nghe có vẻ "cải lương, chèo, tuồng" quá. Nhưng quả thật tôi đã "giác ngộ" được điều này sau một cuộc nghe trộm điện thoại… Anh tôi gác tay lên mặt tủ lạnh, hai tay đỏ dừ, khẽ khàng thả vào ống nghe những lời ngọt ngào: "Phải chi mình giỏi giang hơn một chút, dũng cảm thêm đôi phần, nhất định mình sẽ…". Tiếp đó là một khoảng im lặng đầy ý nghĩa. Và tôi sung sướng nhận ra rằng những mỹ từ "châu ngọc" trong đoản văn mới đăng báo của tôi hóa ra lại vô cùng hữu ích (!!)…
My company: www.procard.com.vn
0
BA HÔM MƯA BÃO
Thanh Châu

Tới Vịnh Hạ Long chị Tâm bỗng nhớ ra mình có một bà cô lấy chồng làm sở giây thép Cát Bà. Thế là thăm hang Đầu Gỗ xong, đáng lẽ trở lại Hòn Gai để đáp tàu thủy về Phòng cho thư thả, chị Tâm nhất định bắt chồng theo ý chị. Để tỏ rằng ý muốn của mình là chính đáng, chị Tâm thở dài: “Tội nghiệp, dạo cưới mình bà ấy không về được, thế mà cũng gửi cho vợ chồng mình ba chục bạc làm vốn đấy”!
Anh Tâm nhăn mặt nhìn tôi.
Tôi hiểu vì sao anh nhăn mặt, bởi xin phép Sở được năm ngày thì đi chơi đã mất hai rồi, chỗ anh làm là Sở buôn, lão chủ Tây hình như được lịch sự lắm. May mà hắn đi nghỉ Tam Đảo vắng, và cũng nhờ ông xếp chánh quen thân với Tâm ngơ cho, nên mới đưa vợ đi chơi xa như vậy được. Ra tận Cát Bà để thăm một người cô của vợ, mà từ thuở bé mình chưa biết mặt, đó không phải là điều thú vị lắm. Hẳn Tâm cũng nghĩ như tôi, chỉ mong chóng về Hà Nội để họp một vài hội tổ tôm, hoặc nằm khểnh ra đọc truyện, rồi ngủ cho béo mặt, cho bõ những ngày phải đi làm vất vả.
Nhưng, cái gì “đàn bà muốn là trời muốn”, người đàn bà ở đây lại là người vợ mới cưới, thì cố nhiên mỗi lời nói ra là một cái lệnh truyền. Tâm phải chiều vợ vậy thôi. Chúng tôi đành đi thăm đảo Cát Bà, trái với chương trình đã vạch.
Cuộc đi chơi vịnh Hạ Long này đối với vợ chồng Tâm là một cuộc du lịch “trăng mật”, cuộc đi chơi xa lần đầu của đôi vợ chồng mới cưới nhau được bốn tháng tròn. Họ chẳng nói ra tôi cũng hiểu ngầm như vậy. Còn tôi, tuy đã biết cảnh bể Hạ Long hơn một lần, lần này được vợ chồng ông Tâm khẩn khoản mời đi - và thấy họ cam chịu hết mọi khoản phí tổn - tôi cũng vui lòng đi chơi với họ. Nhưng biết đâu cái sự mời khẩn khoản kia chỉ có nghĩa là tôi có máy ảnh tốt đem theo. Tôi chụp ảnh không đến nỗi tồi, nên không phải là vô ích cho dọc đường. Vậy thì trả cái nợ xã giao này, bổn phận tôi là phải mang đi mấy cuộn phim, để lúc về tặng vợ chồng Tâm những chiếc ảnh xinh xinh chụp vợ chông anh giữa một chốn non- nước- hữu- tình vào bực nhất hoàn cầu.
Nhưng, rồi tôi mới biết là tôi dại. Và tôi thề chẳng bao giờ còn đi đâu với một cặp vợ chồng mới cưới.
Vợ chồng Tâm đùa giỡn với nhau suốt ngày như hai đứa trẻ dại. Họ nũng nịu, họ âu yếm nhau trước mặt mình. Anh con trai nào chưa vợ như tôi ngồi nhìn cái cảnh yêu đương ấy mà không bực mình, tôi muốn nói không cảm động.
Đã thế, chị Tâm lại đẹp, lại trẻ măng ra. Chị mặc cái áo màu hồ thủy rất ăn với màu nước biển, sáp trên môi chị là màu hoa lựu. Chị cười luôn để phô hia hàm răng trắng rất đều. Chốc chốc chị lại hỏi: “Sắp đến hang Con gái chưa? Sắp đến núi con Cóc chưa? Bao giờ thì đến núi Bụt đấy?” Miệng người thiếu phụ cứ tươi như hoa, lắm lúc khiến tôi quên rằng tôi đang ngắm một người đàn bà đã có chồng, mà người chồng ấy ở ngay trước mặt mình. Thực tình, lúc đó tôi hối hận cứ lần lừa mãi mà chưa lấy vợ. Tôi tự coi mình là một kẻ đàn ông đại ngốc, và tự nhủ thầm: hạnh phúc ở đời chỉ có thể có ở bên một người vợ đẹp, đáng yêu, tươi trẻ, như chị Tâm. Trong cái cảnh thần tiên của vịnh Hạ Long, tôi tự thấy mình là thừa, là vô vị. Vì nghĩ rằng trời đất sinh ra cảnh đẹp chính là để cho những kẻ yêu nhau đến đây mà yêu nhau. Ái tình ăn hợp với thiên nhiên, thi vị hóa cuộc đời thành êm ái. Tôi sẽ lấy vợ, như Tâm, sẽ được sung sướng như anh, một ngày kia, tôi cũng sẽ đưa vợ đi thăm cảnh đẹp này. Chúng tôi sẽ khắc tên nhau vào đá, như vợ chồng Tâm đã làm trong động Surprise (động Bất ngờ), như những đôi tình nhân khác đã đến đây, đã ghi tên tuổi của nhau lại đây, một cách vô ý thức.

Chúng tôi đến đảo Cát Bà thì trời gần tối. Cảnh hoàng hôn trên một hòn đảo lạ không phải là không đẹp mắt, nhưng chúng tôi còn phải đi tìm nhà bà cô của chị Tâm. Người ta cho biết Sở bưu điện ở đây làm trên núi, phải leo trèo một quãng khá xa.
Bà cô lâu ngày gặp cháu mừng tíu tít, gọi chồng ra giới thiệu với chúng tôi. Đó là một gia đình viên chức đã đứng tuổi, có một con nhỏ và hai người ở. Họ được khách đến chơi sung sướng quá, vui như bắt được của. Vì cuộc đời vắng lặng ở đây chả khác cuộc đời kẻ đi đày. Họ dọn phòng cho chúng tôi nghỉ, giục chúng tôi rửa mặt, đi tắm thay quần áo. Nhưng mỗi chị Tâm có đem theo quần áo ngủ, còn tôi và Tâm đều ngại mang nhiều thứ, tưởng đi có hai hôm.
Bữa cơm đó rất ngon lành, toàn món hải vị. Chúng tôi lạ miệng vả lại bà cô của chị Tâm cũng là tay đầu bếp giỏi, nên bữa ăn đã ngon lại vui thêm.
Ăn xong nhìn ra ngoài thềm đã thấy ánh trăng. Cảnh sáng trăng trên núi trông ra bề thật huyền ảo. Ngày thường ở Hà Nội chỉ được thưởng trăng qua một cửa sổ con. Hay giữa một mảnh sân “to” bằng chiếc khăn tay. Lần này ở một chốn cao rộng, hùng vĩ quá, chúng tôi chỉ còn biết lặng im. Sau khi dùng đổ nước vội vàng, chúng tôi rủ nhau xuống núi đi xem phố khách. Gọi là phố, nhưng đây chỉ là một dãy nhà lụp sụp tối tăm làm sát bến nước, bên một con đường lát đá tảng ướt bẩn, trơn như mỡ. Ở đây toàn người Tàu, hạng cùng dân sống nghề đánh cá và buôn lậu. Họ ở chen chúc bẩn thỉu trong những căn nhà ẩm thấp, giữa mùi tanh của nước biển và cá khô, có lúc bị át đi bởi hơi khói phù dung. Vì thường ở đâu có người Tàu là ở đấy có mùi hương nha phiến.
Thấy không có gì lạ chúng tôi rủ nhau ra bến nhà Đoan chơi. Mặt biển hiền lành, phẳng phiu như mặt nước hồ. Những ngọn núi chung quanh hay ở xa đều rõ nét. Chị Tâm kéo cao quần lội xuống nước hát véo von như một cô học trò nhỏ, nhưng bà cô chị đã vội giục cả bọn về ngủ sớm, để ngày mai lên đường cho được khỏe.
Chúng tôi vừa bước chân lên thềm nhà bỗng ông chồng bà cô chị Tâm đã cho biết ngay: ông vừa mới nhận được tin của Sở thiên văn báo: 9 giờ sáng hôm sau sẽ có bão to vào vịnh Bắc kỳ. Như vậy thế nào cũng phải ở lại Cát Bà một hôm xem tin tức thay đổi ra sao, chứ ngày mai chưa thể nghĩ đến về ngay được.
Đi chơi vào giữa mùa hè, gặp bão như vậy là sự rất thường. Nhưng đối với anh Tâm, cái sự rất thường ấy lại hóa ra quan trọng. Nếu ngày mai có bão thật là giết anh rồi! Lão chủ ác nghiệt của anh đi nghĩ mát thật đấy, nhưng ai cấm nó bò về Hà Nội bất thình lình. Nó mà biết anh đi chơi phiếm, bỏ Sở gần một tuần lễ thì rầy rà với nó. Thời buổi này người tài giỏi thất nghiệp đầy ra đấy! Cái chỗ của anh làm cũng đáng cho nhiều kẻ thèm chảy giãi ra. Tôi trông mặt anh Tâm lo lắng, băn khoăn mà không nhịn được cười, vì trái với chồng, chị Tâm được tin có bão lại ra vẻ thích vỗ tay reo:
- A ha! Bão thì càng tốt, bão thì cháu lại được ở đây với cô vài hôm nữa.
Người đàn bà trẻ tuổi ấy chỉ thấy trong đời toàn sự vui vẻ, không biết cái gì là quan trọng. Tính tình vốn giản dị, chị cho những sự bất ngờ xảy đến là những dịp vui. Hình như chị đã lấy làm ngạc nhiên thấy mặt chồng cau có.
Thế rồi, cái trận bão mà anh Tâm cần khấn cả đêm cho không bao giờ đến cả, quả nhiên trưa hôm sau kéo đến như hung thần. Bể gầm lên như hóa dại, gió rít mạnh khắp chiều, mưa tuôn như thác đổ. Chúng tôi phải đóng hết cửa, ngồi trong nhà đánh bài với nhau cho đỡ buồn, cũng chính là để cho Tâm đỡ sốt ruột. Rồi suốt đêm mưa gió không ngừng, rồi suốt ngày hôm sau nữa. Anh Tâm đi đi lại lại như một con hổ trong chuồng, chị Tâm lúc này đã bớt tươi, áp mặt vào cửa kính nhìn mưa. Mặt chị không trang điểm kỹ trông buồn lạ.
Quần áo chị mặc nhàu không có cái thay. Đến hôm thứ ba lại càng thảm nữa, chị Tâm hết phấn. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng đến cảnh một người đàn bà hết phấn son. Thật là một ông tướng trận hết thuốc súng. Tôi nghĩ thầm: “Thế nào cũng sắp xảy ra một sự gì đây?”
Quả nhiên, sau bữa cơm chiều, vợ chồng Tâm đã “nghiến” ngầm nhau. Anh Tâm nói “mát” vợ:
- Đấy, đòi mãi ra đây cho được, đã sung sướng chưa? Ngày mai tôi phải có mặt ở Sở rồi!
- Thế ai bảo cậu đi? Cậu biết trước mưa bão thế này, ở nhà có hơn không?
Đêm hôm ấy, tôi tỉnh ngủ bỗng nghe chị Tâm khóc thút thít ở buồng bên cạnh, thì ra vợ chồng lại cãi nhau. Họ không ngủ được, vặc nhau cho đỡ bực. Giọng nói của chị Tâm lúc to lúc nhỏ nhưng cũng đủ cho một kẻ thính tai như tôi nghe thủng trong đêm khuya. Cũng may mà vợ chồng ông chủ giây thép nằm xa chỗ vợ chồng Tâm, nếu không họ đã được nghe lắm chuyện buồn cười, chuyện nhà cửa, những chuyện nhỏ nhặt khốn nạn mà trong lúc bực mình họ
phun hết ra cho hả. Tôi đã được biết trong đêm ấy, tất cả “lịch sử” của một cuộc hôn nhân - mà tôi ngỡ làm thành bởi ái tình - ở miệng một người đàn bà tức giận.
Thì ra, không phải thế, thì ra họ lấy nhau bởi vì người đàn ông tham tiền, hám cái nhà gạch, vì người con gái mà thiên hạ tưởng là thơm tho, trong sạch, đã có những vết không đẹp trong dĩ vãng.
Chỉ ba hôm bị mưa bão giam cầm, cũng đủ làm cho một cặp vợ chồng mới lấy nhau được bốn tháng già đi đến bốn mươi năm. Và hình như tôi đã nghe chị Tâm nói đến ly dị, nói đến bỏ “về nhà với mẹ”, như các bà vợ khác, những khi “đấu khẩu” với chồng.

Về đến Hà Nội, tôi vội đi tráng phim, in ảnh đem ngay đến nhà vợ chồng Tâm. Họ khen tôi chụp khép quá, nhất là bức chụp vợ chồng Tâm quàng vai nhau đứng trên thuyền.
Họ bảo lần sau, nếu đi chơi đâu xa nữa, họ lại mời tôi đi luôn thể, cho vui. Và lại xin chịu hết mọi khoản tiền phí tổn.
My company: www.procard.com.vn
0
ĐÔI GIÀY THÊU
Thanh Châu

Chuyện tôi kể đây xảy vào dạo mà tất cả Hà Nội đương bắt đầu ham mê khiêu vũ, cái thú chơi phong lưu bắt chước người… (kiểm duyệt bỏ một đoạn)… Và chính tôi, cùng là một “nạn nhân” của cái thời đại trong đó những thanh niên tối tối lại bỏ nhà đến các “hộp đêm” để uống rượu, thức đêm và ôm các cô vũ nữ mà múa quay cuồng như hóa dại. Tiệm khiêu vũ thứ nhất mở ra ở xứ này là tiệm “Sao đỏ”. Vũ nữ lúc này toàn là đám cô đầu ở xóm Khâm Thiêm nổi
tiếng ăn chơi trụy lạc. Các cô gái này đánh phấn còn vụng, vì họ vừa thoát cảnh bùn lầy đồng ruộng ra tỉnh kiếm ăn. Họ to béo, nếu không gầy còm, họ lê những bước nhảy nặng như cùm, họ xéo lên giày của khách, vênh vênh mặt nhảy. Mặc dù thế, họ vẫn là những cô gái cúng tôi phục và vì nể, bởi họ là những người biết “khiêu vũ” đầu tiên ở Hà thành. Họ biết mình có quyền kiêu ngạo, nên vừa bĩu môi vừa gắt mắng bọn đàn ông “mới ra đời”, mới bước vào làng… nhảy.
Chúng tôi bấy giờ là những anh con trai còn non nớt ngờ nghệch, chưa quen với lối ăn chơi lạ, có khi đang còn là những cậu học trò ngày hai buổi phải đến trường.
Những con người thuở đó, không mấy khi tôi còn gặp lại ở kinh đô này nữa. Họ đã đi làm ăn ở phương xa, đã chết, hoặc đã bước xuống bậc thang cuối cùng của xã hội? Đó là chuyện đổi thay thăng giáng của đời người, có ai nhàn rỗi để thiết tha lâu đến những cái bóng đã thoáng qua tuổi trẻ mình. Người ta lớn lên, từng trải, hóa khô khan, ích kỷ, lãnh đạm với tất cả những gì không phải tiền bạc hay danh giá. Hai thứ đó cũng chẳng đem lại hạnh phúc cho con người, nhưng cứ đuổi theo, vì ai cũng phải sống trong thực tế.
Vậy mà có một người, trong bọn đó, khiến tôi chẳng bao giờ quên được, tính đến nay đã mươi năm, mặc dù đến cái tên tôi cũng không nhớ rõ. Nên bao giờ kể ra đây, tôi cũng phải đặt ra một cái tên cho dễ nhớ, vì thực tình tôi quên hẳn tôi rồi. Ta cứ gọi anh ta là Tích vậy.
Tích hình như là một con nhà có của ở vùng quê nào đó gần Hà Nội. Một buổi tối người ta thấy Tích lần đầu bước vào phòng khiêu vũ “Ông Sao” đi với hai ba chàng trai khách quen “nhẵn mặt” của nhà này. Cứ trông dáng điệu và quần áo thì ai cũng hiểu ngay, đó là một anh mới tập ăn chơi. Tích ngồi im một chỗ, mặc cho bọn đi cùng tha hồ gọi rượu đắt tiền và các thứ giải khát. Anh ta chỉ nhìn chăm chú vào bước chân những cặp trai gái đương khiêu vũ, nhìn như muốn “nuốt” những bước đi của người ta, như kẻ chết đói thèm thuồng kẻ no nê thoải mái.
Nhung, một cô gái mới tập sự làm gái nhảy ở đây, ngồi rỗi và chưa ai mời nhảy, nói nhỏ vào tai tôi:
- Một con “cóc vàng” của tụi kia đấy anh ạ. Hình như ông bố ở quê mới cho năm trăm bạc đi lo việc, bị chúng rủ rê vào đây. Rõ đánh đu với tinh!
Từ tối hôm đó mỗi lần đến nhà khiêu vũ “Ông Sao”, tôi vẫn gặp Tích anh chàng “công tử nhà quê” ấy - đó là tên mới đặt cho anh do các cô gái nhảy, ngoài cái tên “cóc vàng” đã được nghe. Tôi lấy làm ngạc nhiên được biết thêm: Tích đã là “học trò” của Minh, cô gái xinh đẹp nhất, và cũng là gái nhảy giỏi nhất cái “đăng xinh” này. Tích đã được coi như khách quen của tiệm “Ông Sao”, hơn thế Tích đã là người tình của Minh, một gái nhảy rất kiêu kỳ.
Bẵng đi một dạo đến mấy tháng tôi không hay lui tới xóm này, tình cờ một hôm trở lại tiệm “Ông Sao” không gặp Tích, tôi hỏi Nhung, cô chỉ cười, trỏ vào Minh mà nói:
- Anh cứ hỏi chị Minh, chị ấy kể cho mà nghe, buồn cười chết được!
Minh lúc này đang nhảy với một người khách lai làm mại bản cho một hãng buôn lớn ở Hồng Kông, biết là Nhung nói đến mình, cô liền nhìn tôi nháy mắt. Trong cái vẻ lẳng lơ nổi tiếng của cô gái nhảy có cái gì “đểu giả” vô cùng. Những ai đã hiểu vậy mới rõ loại gái lão luyện đã thành tinh, thành rắn độc này không phải là “miếng ngon” dành cho những người như Tích. Bữa đó Minh cho tôi biết Tích đã mê mình như “điếu đổ” thế nào, và “anh ta” đã ngốc nghếch vừa tặng quà, tặng tiền cho cô gái trong có mười ngày, hết ba trăm bạc. Minh dẫn tôi vào buồng riêng của mình để khoe với tôi những chiếc áo mới may đủ mọi màu, mọi kiểu. Trong cái tủ gương của Minh có đủ thứ: nước hoa, phấn sáp, lụa là của các gã si tình mang đến tặng. Minh chỉ vào từng cái một, đọc tên người chủ của đám đồ vật, như ta gọi hồn những kẻ đã qua đời:
- Đây, đồng hồ tay của… thằng Đức!
- Cái “sắc” này là của… thằng Hùng! - Cái “măng tô” này của… đốc Nam!...
Cô vũ nữ tai quái vừa định khép cửa tủ lại một bên, tôi bỗng thấy một đôi giày thêu rất đẹp nữa lấp dưới một bộ quần áo ngủ. Tôi chỉ đôi giày hỏi:
- Cái gì trông đẹp thế?
- Ồ, đôi giày “khổ” ấy à? Của cái thằng “ma bùn” ấy đấy, cái thằng Tích đấy, đâu nó định mua về làm quà cho em gái nó, thế mà cũng lại vào cái tủ này, có tài không?
Cô vũ nữ oẳng đôi giày vào chỗ cũ, và đóng tủ. Đánh phấn xong cô dắt tôi ra phòng nhảy, vừa đi vừa cười ré lên thích thú:
- Thằng “ngố” ấy tưởng người ta cũng “nhà quê” như em nó. - Tôi thấy có gì nhói trong lòng, nhưng cũng gượng hỏi thêm: - Thế bây giờ nó đâu rồi?
- Cái gì, thằng Tích ấy à? Nó hết tiền rồi, bây giờ không đến đây nhảy nữa. - Thế thì nó làm gì?
- Nó đi hát tuồng ở phố dưới này này, anh chưa biết? - Nó hát tuồng?
- Chứ sao, nó hát tuồng thế mới chết người ta chứ, anh không tin em dẫn anh đi ngay!
Tôi mở to mắt vì kinh ngạc. Nhưng khi gặp Nhung và vài cô gái khác lúc ra phòng nhảy, các cô đã nhao nhao:
- Chị Minh nói thật đấy anh ạ. Anh ta đâu ở nhà quê vẫn đi hát chèo chơi, nên mới “vào nghề” chóng thế chứ, bây giờ hết tiền sợ về nhà bố đuổi, mà ở Hà Nội này thì chẳng ai nuôi nên đành…
Nhung nói thêm:
- Hôm nọ, chúng em rủ nhau đi xem, anh ấy đang đóng vai Lỗ Túc, râu dài thế này này…
Tất cả bọn phá ra cười, làm khách đang nhảy dừng cả lại.
Đêm hôm đó ra về, càng nghĩ đến chuyện anh chàng Tích đi hát bội, tôi càng ngán ngẩm, định tìm mấy bạn quen kể lại… cho vui. Nhưng tôi không hiểu sao, bỗng nhớ đến đôi giày trong xó tủ gương của cô vũ nữ, tôi lại thấy không nên kể với cái đám toàn bọn vô tư ở chốn ăn chơi này, có lẽ họ chỉ thích trêu chọc những người bất hạnh.
Bạn đọc, trong số bạn đọc tôi, có thể cũng có bạn đã từng biết chuyện “Con người có bộ óc vàng”, một truyện ngắn của nhà văn Pháp A. Daudet trong đó cũng nói đến một anh chàng mê gái đã tiêu sạch cả một cái kho vàng trời cho, ở trong óc của mình. Các bạn có còn nhớ đoạn cuối, đoạn anh chàng si đã vét nốt chỗ vàng còn sót dính ở màng óc để mua cho người mình yêu… một đôi giày đẹp. Nhưng người bán hàng nhìn vào anh ta thì thấy có cả máu lẫn với sắc vàng lóng lánh.
Câu chuyện thương tâm đọc từ hồi còn đi học, hồi mới lớn lên, gợi lại cho tôi lúc này nỗi buồn của tuổi thanh niên đam mê mù quáng, với tấm lòng trong trắng của mình mà bước vào đời đầy quyến rũ lọc lừa.
Tôi không kể lại “chuyện anh chàng Tích” cho ai cả, nhưng chẳng bao lâu mọi người cũng đều rõ cả. Những cô vũ nữ kia có bao giờ đọc truyện “Người có óc vàng” để mà giữ được im mồm miệng.
My company: www.procard.com.vn
0
HƯ CẤU
Mai Sơn

Một ngày tháng chạp năm ngoái, khi vuốt mắt cho vợ yên nghỉ, ông Khoái lầm thầm hứa với bà: “Tôi còn một ít công việc ở trần gian, bà chờ tôi “bên ấy” thêm một năm nữa. Đúng ngày này sang năm tôi sẽ về với bà”.
…Còn ít hôm nữa thì ngày tận cùng ấy tới. Ông Khoán bình thản chờ đợi. Sáng sáng ông vẫn đi ra biển-chạy chậm trên bờ, nằm xuống hít thở, và bơi đúng một trăm sải tay như thường lệ ra xa rồi quay vào.
Ngày ấy, ông sẽ bơi không phải một trăm mà là hai trăm sải tay và không quay vào nữa…Ông Khoán tự nhủ như thế mỗi đêm nhìn lên do ảnh của vợ. Lúc ấy ánh mắt trìu mến của vợ như muốn nói:
- Ông vẫn thường hay nói với tôi, ông là nhà văn nên ông mang nợ cuộc đời nhiều lắm cơ mà? Sao ông lại có thể chạy trốn như vậy được?
Ông Khoán lắc đầu:
- Không có nợ nần gì đâu. Chỉ là bắt chước người ta rồi quen miệng mà nói vậy thôi. Vâng, có quá nhiều người đi đứng, ăn nói, sinh hoạt, vui chơi, làm nghệ thuật giống hệt nhau. Và khi họ chết, họ cũng bắt chước nhau tắt thở, nằm im trong quan tài. Tôi tưởng cái chết là phương tiện cá thể hóa mạnh mẽ nhất dành cho con người, nhưng nhìn hàng hàng lớp lớp nấm mộ kia tôi thấy không phải vậy. Chỉ là bầy đàn, bên nhau ùa ra trái đất buổi sáng và phải bên nhau về lại khi hoàng hôn xuống.
Có tiếng cười nhẹ trên bàn thờ:
- Vậy thì ông cũng đừng vội bắt chước tôi chứ?
- Không, tôi tự thấy mình được quyền chết, hay nói cho quan trọng hơn là được quyền tham dự vào cuộc vận hành miên viễn của con người.
Tiếng cười trên bàn thờ im bặt, thay vào đó là giọng nói nghiêm trang:
- Sống với ông mấy chục năm trời tôi chưa từng nghe ông nói lạ lùng như vậy bao giờ. Nhưng tôi vẫn cứ hỏi ông: Ai được quyền chết và ai không? Như tôi đây, đã coi là được quyền chết hay chưa?
- Ai có để lại một cái gì đó cho con người vĩnh cửu, người ấy được quyền nhập vào ĐOÀN NGƯỜI HÀNH HƯƠNG. Như bà, bà đã để lại tôi ở đây, trên mặt đất này, gần một năm qua. Mà tôi thì…tôi để lại cho CON NGƯỜI không ít những VẤN NẠN VƯỢT LÊN.
- Ông nói tiếp đi.
- Con người cần phải được tạo dựng nên bằng những nghi lễ thiêng liêng, chứ không như hiện nay, từng giây một, nhân loại đang đẻ, đang sinh sản, đang vung vãi những cặn bã hoan lạc tràn ngập trần gian…
Tiếng nói gấp gáp trên bàn thờ:
- Thì đám cưới không phải là một nghi lễ tạo dựng con người mới đó sao?
- Chưa phải. Nó mới chỉ là mô thức. Con người chỉ mới láng máng cảm thấy chân lý khi tiến hành những lễ cưới trang nghiêm và trọng thể. Tôi phải nói ngay kẻo tôi quên rằng “Yếu tính của Con người là Tinh Thần Sáng Tạo”.
- Yếu tính à? Nó là gì đối với con người?
- Nó là cái cần thiết nhất làm cho con người trở nên con người đích thực. - Và đó là tinh thần sáng tạo?
- Phải.
- Nhưng tôi không hiểu.
- Tôi cũng chỉ hiểu lờ mờ rằng Con người phải sáng tạo ra những giá trị thì mới có lý do tồn tại trong sự trở lại luôn mãi với trần gian.
Ngọn đèn dầu trên bàn thờ hắt lên một ánh loáng rồi tắt hẳn.

Ông Khoán bình thản đếm từng ngày. Còn bốn ngày nữa.
Đêm, ông đang ngủ say thì có tiếng gõ cửa gấp gáp. Ông vùng dậy. Một bóng trắng đi xuyên qua cánh cửa đóng kín đến giữa nhà, dáng vẻ nghiêm trang. Ông Khoán bật đèn, dụi mắt. Trước mặt ông là một thanh niên, mặc trang phục toàn trắng, nhưng có một vài mụn vải đen tròn nằm rải rác trên ngực áo.
- Anh là ai?- Ông Khoán cố giữ bình tĩnh, hỏi.
- Cháu là một kẻ vô danh, đã chết. Cháu đến nhờ bác làm sáng tỏ cái chết của cháu.
- Mời anh ngồi.
- Bác cứ ngồi xuống đi. Còn cháu đứng thôi. - Được, anh nói đi. Vì sao anh chết?
- Cháu bị tử hình. Bác thấy đấy, những vết đạn lỗ chỗ trên ngực cháu. - Nhưng sao cậu lại bị tử hình?
- Cháu giết người!
- À…
- Nhưng thưa bác…Cháu mồ côi cha mẹ từ nhỏ, bị ném ra giữa đường, lớn lên như một hoang thú, không được ai chăm nom, không được học hành…Rồi ai đó cho cháu uống một thứ nước cay đắng mà sau này cháu mới biết là rượu. Ai đó chích vào cơ thể cháu những cơn mê dại, vật vã. Cháu giết người trong khi lên cơn nghiện vì hoảng loạn, vì tăm tối, vì một sức thúc ép ghê gớm như ma quỷ. Cháu giết người trong trạng thái thần trí không phải của con người.
- Tôi nhớ ra cậu rồi. Vụ giết người dã man, rùng rợn lắm. Có đến hai người bị thảm sát, đúng không?
- Dạ đúng.
- Thế còn gì để kêu oan nữa. Cậu biến đi nhanh cho!
- Thưa bác, để cho cháu nói đã. Buổi tối hôm ấy, đối với hai con người vô tội kia cháu thực sự hiện nguyên hình là thần chết của họ. Nhưng tại sao vào một buổi sáng đẹp trời, những con người mặt mũi thông minh, những con người đẹp như là Thần Sống ấy lại lạnh lùng tuyên án tử hình cháu?! Họ đâu có thất học, nghiện ngập, mất trí và bị quỷ ám như cháu?! Tại sao họ giết cháu? Và một buổi sáng rực rỡ đẹp trời khác. Những con người cao lớn đĩnh đạc, dù họ có bịt mặt thì cháu cũng nhìn xuyên qua được lớp khăn đen và thấy rõ đó là những gương mặt tỉnh táo, sáng suốt…Sao họ lại lạnh lùng nhắm bắn vào cháu vậy, bác? Sao họ lại giết người một cách bình tĩnh, chính xác giữa thanh thiên bạch nhật mà không ai ngăn cản hết vậy?
- Họ không xử tử một con người đơn thuần; họ khử trừ một tội ác…
Ông Khoán nói, trừng trừng nhìn vào khuôn mặt người khách lạ đến vào lúc nửa đêm. Mờ dần. Mờ dần. Biến mất. Một cái gì rơi đổ trên bàn thờ. Ông Khoán giật mình thức dậy. Cả người toát mồ hôi.
Nhưng chỉ một lúc sau ông hoàn toàn lấy lại sự bình tĩnh và ông cười thầm trong bóng tối với ý nghĩ: “Gậy ông đập lưng ông”. Vâng, cách đây vài năm, chính ông đã tạo ra giấc mơ ấy, nuôi dưỡng nó trong vô thức. Từ một ý chí ham muốn mãnh liệt, từ sự nhạy cảm với khổ đau, ông muốn xã hội loại trừ án tử hình. Nhưng rồi xã hội ngày càng loạn lạc, đảo điên, vô trật tự; tội ác và thù hận ngày càng gia tăng; bóng tối u mê mỗi lúc thêm nặng nề…Ông đẩy giấc mơ của ông vào sâu kín, cố quên nó đi, tự nhủ rằng mình hoang tưởng.
Nhưng tại sao giấc mơ ấy lại đến vào đúng lúc ý nghĩ rời bỏ cuộc đời này chiếm hết tâm trí ông?

Còn ba ngày nữa thì đến ngày hẹn của ông với người vợ ở bên kia. Đêm ấy ông lại nằm mơ.
Ông lạc vào một vườn hoa muôn màu muôn vẻ. Từ cuối vườn hoa, một khối ánh sáng động đậy, di chuyển dần về phía ông và rõ dần là một cô gái tuyệt đẹp trong y phục trắng tinh. Ông Khoán còn đang nghi nghi hoặc hoặc thì cô gái lên tiếng:
- Ta là Thần Chết. Ông kinh ngạc lắm sao? Loài người các ông thật kém trí và mâu thuẫn. Đã gọi ta là Thần mà vẫn không dám tưởng tượng thêm về hình thức của ta.
- Không, tôi không ở trong số người mê muội đó. Tôi không coi sự chết là một thảm bại của con người. Tôi đang muốn tìm đến và chinh phục Sự Chết.
- Chinh phục Ta?! Tặng vật của người là gì?
- Là toàn bộ nỗ lực sống của tôi. Tôi tự thấy đã dâng hiến tận cùng, hết mình cho cuộc sống.
- Không, chưa đủ. Nhìn vào thần thái người, ta thấy điều đó. Người phải nỗ lực hơn nữa để hiến mình thành một bông hoa nở trọn vẹn. Lúc đó Ta sẽ đến nhận lấy người như Ta vẫn thường nhận lấy một cách hãnh diện những bông hoa thánh thiện, những bông hoa minh triết, những bông hoa dũng cảm chính trực…Ta sẽ đến đúng lúc đóa hoa người viên mãn. Ta không bao giờ đến quá muộn khi hoa đã héo úa, rơi rụng nhưng cũng không bao giờ đến quá sớm khi đóa hoa chưa hoàn thiện. Người đừng ngại sống, đừng mệt mỏi vì thấy chân trời cứ lùi xa. Nếu không sáng tạo được giá trị nào thì hãy kiên trì lắng nghe và đáp lại từ sâu thẳm khả thể của người tiếng đòi lấp đầy chính nó, bằng những giá trị tinh túy của cuộc sống.
Sau đêm mơ thứ ba này, ông Khoán dứt khoát từ bỏ ý định tự tử.
Ông vẫn ra biển hằng ngày, đơn độc và già dặn, vững chãi trước biển.
Rất nhiều khi, người đi tắm biển bắt gặp ông khóc, những giọt lệ ràn rụa trên khuôn mặt rạng ngời. Đấy là những lúc ông không biết chia sẻ với ai những ý nghĩ hân hoan sáng lộ trong đầu ông.
Ông tiếp tục sống nhiều ngày như thế cho đến một hôm, trời mây quang đãng, biển lặng im như tấm thảm xanh. Ông nằm ngửa trên tấm thảm ấy, gối đầu lên hai bàn tay đan sau gáy. Rồi bất ngờ, điều chưa từng xảy ra đã xảy ra: ông bị vọp bẻ, hai chân cứng đơ. Ông nhẹ nhàng chóng trả, thật ra là chiều theo một sức lôi cuốn nhẹ êm, cho đến khi bị xâm chiếm hoàn toàn bởi một cảm giác yên nghỉ.
My company: www.procard.com.vn
0
THẤY CHIM HỒNG NHẠN BAY ĐI
Thanh Châu

Mùa hè, ngày kéo dài, kéo dài tưởng phát điên lên được. Đó là ý nghĩ của người lớn, của vợ chồng ông Cự Lợi. Trẻ con chúng vẫn cứ chơi nghịch như thường. Chúng cần gì mồ hôi chảy ướt đẫm áo xống. Chúng cần gì quạt?
Hai đứa con ông Cự Lợi vẫn đùa, như quỷ suốt ngày ngoài vườn nắng.
Chứ lại gì? Mùa nắng là mùa của trẻ con. Sâu bọ ở trong mùa nắng. Chim chóc đẻ nhiều trong mùa nắng. Dế mèn cũng vậy, ở gốc cây nào chả có?
Thằng Hanh và con Yến cứ đi đi lại lại, từ chum nước trong sân nhà ra vườn, đến trăm lần. Chúng đổ, chúng đổ rất nhiều nước vào trong tổ dế, như người ta thù ghét một giống gì muốn bắt hết cho tuyệt chủng.
Tóc con Yến dính hết vào má nó. Má nó đỏ ửng, còn thàng Hanh cởi áo ra, đũng quần và lưng đầy bụi đất.
Nghỉ hè rồi, nghỉ hè đã được một tuần rồi! Nhưng chúng có được chơi suốt kỳ nghỉ này đâu.
Bà Cự Lợi hôm trẻ nghỉ học, đã bàn với ông chồng bắt chúng lại phải đi học hè với ông giáo dạy từ đầu phố. “để ở nhà chúng lêu lổng hư thân” bà bảo thế. Và ông chồng đồng ý: “với lại, ở cái phố ngoại ô khốn nạn này, nhiều trẻ “ma cà bông” lắm, tôi chỉ sợ chúng rủ rê con mình đi tắm ao, tắm hồ, rồi chết mất xác”.
Cái phố ngoại ô của ông bà Cự Lợi nhiều trẻ, nhiều bụi ,và nhiều người tứ tiếng thực. Thế nhưng chính cái phố này đã làm giàu có cho vợ chồng ông. Ngày mới đến ông chỉ có gánh hàng phở, rồi đến một cái tủ thuốc phiện bán cho bọn nghèo kiết, sau cùng ông mới có một hiệu tạp hóa to nhất phố. Như bây giờ vợ chồng ông bắt con đi học phải đi bằng xe nhà. Không được đi đất như trẻ nhà khác đến lớp, nhà Cự Lợi đã tậu được vườn, ruộng ở quê để sau này về làng còn phải có chức tước gì, chứ không phải về tay trắng như một thằng mõ. Cho nên vợ chồng ông khiếp nhất thấy con mình đánh bạn với những trẻ lem luốc, “khả nghi” trong phố. Họ bắt chúng chỉ được chơi ở vườn sau. Vậy là yên ổn.

Ông Cự lợi đã nhầm. Chính ở trong cái vườn ấy đã xảy ra chuyện ông không ngờ được.
Thằng Hanh, con Yến chơi mãi với dế mèn củng chán. Những bao diêm của chúng đã chứa đầy những con vật nâu đen. Bắt thêm mãi chúng cũng chẳng thú gì. Chúng đang nghỉ tới những trò chơi khác. Ngày hè dài như vậy nhưng đối với chúng quá ngắn. Chúng đã nghĩ tới cái trường tư đầu phố rồi. Ông giáo năm trước dạy chúng lúc nào cũng có cái thước trên tay.
Thằng Hanh thì nhìn cây bằng rậm lá vươn cành sang bên hàng xóm. Nó đang nghỉ cách trèo để tìm những quả bàng chín. Về những con bọ quýt cánh xanh biếc. Nhưng cây bàng lớn quá, lại nhiều sâu róm. Lúc có gió mạnh, giống sâu rất tởm kia đã rụng xuống, bò lổm ngổm trên mặt đấtvới thân hình đốm vàng, đốm đỏ, lại có sừng ghớm chết!
Con Yến chơi đã thấm mệt, ôm hộp dế trên tay muốn thiu thiu ngủ. Trời xanh ngắt. Lá bàng rung động trong gió nồng. Những đám mây hình tròn như quả trứng không hiểu từ đâu cứ đùn ra, đẩy nhau liên tiếp như vội vã đi về một chốn nào. Bỗng, giữa không khí oi ả trưa hè khiến người ta muốn thiểu ấy, vang lên một tiếng rền rỉ, não nùng, uể oải, nghe như phát ra ở cuối vườn. Con Yến vùng tỉnh hẳn. Hai đứa trẻ chạy về phía có bức tường ngăn cách với bên hàng xóm. Chúng áp tai vào đấy nghe ngóng. Tiếng rền rỉ nấc lên, có lúc nghẹn lại, rồi chảy đều đều như nước suối. Hay chính bức tường rêu mốc, cũ kỹ kia đương hát lên nhỉ? Hay bên hàng xóm có ai đang khóc?
Hai đứa trẻ nhìn nhau:
Làm thế nào sang bên ấy?
Thằng Hanh chợt nhìn lại cây bàng.
Con Yến tìm dưới chân tường một hòn gạch để có thể ném sang bên ấy. Tiếng rè rè trong tường im bặt.
Chỉ còn tiếng ve sầu ngân lên ở xa. Thế rồi, đương lúc chúng dỏng tai cố đoán xem sự gì, thì một giọng hát cất lên, giọng trẻ con, của người xứ khác, bây giờ đã rõ hơn. Nhưng nghe thật kỳ, thật khó hiểu:
“… Đương độ xuân thì
Số lao đao
Hay là
Cái nợ duyên gì…”
Hai đứa trẻ không kìm hãm tò mò được nữa. Chúng reo lên cùng lúc:
“Ai hát thế?” Tức thì tiếng hát ngừng ngay. Một giọng trong trẻo cất lên phía bên kia vường: “Tui hát đó, hỏi chi?”
Thằng Hanh và con Yến vui sướng, xúc động quá. Chúng vừa khám phá ra một sự lạ. Một giọng hát trẻ, có thể một đứa bằng trạc tuổi chúng, ở ngay cuối vườn nhà.
Không hiểu từ đâu nó đã lạc vào đất mình. Con Yến ghé sát bức tường hét to lên: “Hát nữa đi!”. Bên kia tường tiếng hát lại nối lên, sau một nhịp cười hớn hở:
“… Khúc ca ly
Sao còn
Mường tượng nghe gì
Thấy chim hồng nhạn bay đi…”
Hai anh em thằng Hanh chưa bao giờ thích thú như thế. Tiếng hát có cảm tình của một kẻ gần gũi, nhưng không trông thấy mặt.
Chúng hỏi:
“Ban nãy, ai làm cái gì nghe cò kè thế?”
Tiếng trả lời:
“Nãy là tui, tui kéo nhị”.
Kéo nhị? Một đứa bằng mình biết kéo nhị như người lớn? Bên kia vườn người ta sống thật lạ?
Thế thì bố mẹ nó ở đâu, làm gì lại để mặc con vừa hát, vừa kéo nhị tự do khác nhà mình?
Chắc chắn bố mẹ nó chết cả rồi, còn sống thì phải nghiêm khắc như bố mẹ mình chứ?
Chắc nó buồn! Nhưng dù sao nó cũng được chơi thả cửa không ai ngăn cản…
Con Yến, bao giờ cũng nhanh hơn thằng anh, lại hỏi: “Nhà không có ai à?” Tiếng đáp:
“Có chớ, ba má đi vắng, chiều về”.
Thằng Hanh hỏi tiếp:
“Ba, má làm gì?”
Tiếng đáp:
“Ba, má mới ở Huế ra thuê nhà đây. Má ca, ba thì đờn, kéo nhị”.
Ồ, một cái gia đình khó hiểu, không bán phở, không đi học, chỉ ca hát và kéo nhị.
“Thì lấy tiền đâu mua gạo ăn?”
Con Yến hỏi liền.
“Ca, đờn có tiền chớ, mấy thầy mần việc thiếu chi, họ nghe ca, học đờn, và họ trả.”
Ở chân tường vẫn có một lỗ hổng gà nhà thường chui lọt. Thằng Hanh bỗng nhớ ra, mắt sáng lên, nó gọi con em rối rít:
“Vào tìm cái thuống!”
Và nó chỉ cho em nhận ra cái lỗ gà chui.
Con Yến hiểu ngay tức khắc. Cũng như thằng anh, nó muốn được trông thấy “đứa bạn” bên kia, xem mặt mũi nó thế nào, nó kéo nhị và đàn hát thật không?
Cái lỗ hổng ở chân tường đã được khơi ra.
Vôi gạch cũ bắn tung lên. Bây giờ có thể chui đầu qua cũng được. Nhưng công việc hủy hoại bức tường đang làm dở khiến hai anh em thằng Hanh bỗng lại hối và thấy sợ. Chúng ngừng lại, nhìn lỗ tường rộng hoác, như nhìn một tai vạ không được phép gây ra.
Trong đám vỡ nát kia, qua lỗ hở bức tường bỗng hiện ra một bàn tay nhỏ đầy bụi đất đang cựa quậy, dò dẫm, như một con chim bị thương. Bàn tay đã rụt về. Thằng Hanh, con Yến vội vàng phục xuống chân tường. Chúng tranh nhau ghé mắt vào lỗ hổng.
Ở chỗ bàn tay vừa biến mất, bây giờ hiện ra một con mắt trong xanh, mắt trẻ con, với một bên má căng đầy như má búp bê. Con Yến hỏi anh:
“Con gái hay con trai?”
Tiếng bên kia đáp: “Con trai chớ”
Giữa phút kỳ thú, mừng rơn, làm cho tim đập đến ngạt thở ấy… bỗng bất ngờ vang lên tiếng ông Cự Lợi:
“Bà nó đâu rồi, ra mà xem con cái thế này có khiếp không?”
Ôi! Khiếp thực, khiếp thực! Hai đứa trẻ đứng phắt dậy, như điện giật. Chúng hiểu ngay:
Thật hết rồi! Sự nhiệm màu chúng vừa tạo ra, vừa chứng kiến không thể xảy ra lần nữa.
Chúng bẽn lẽn đi vào nhà, như những con chó cụp tai vừa bị bắt quả tang làm việc xấu.

Cả đêm, hai anh em con Yến trong mê ngủ, vẫn như nghe văng vẳng có tiếng hát tiếng đàn, tiếng nhị cò cưa, có cả tiếng chim vỗ cánh như trong câu hát: con chim Hồng nhạn nào kia bay đi không trở lại.
Thằng Hanh thấy mình cũng có một cái đàn xinh xinh đứng dựa vào tường, làm ngân lên những tiếng nhạc hưởng ứng tiếng đàn của người bạn chỉ mới trông thấy mỗi bàn tay và nửa mặt.
Sáng hôm sau, hai đứa vẫn chạy ra vườn, đứng xa xa, buồn thiu nhìn cái lỗ gà chui đã bị ông Cự Lợi gọi thợ về lếp kín, từ chiều hôm trước. Chúng buồn thiu, tấm tức tưởng như ở chỗ chân tường kia người ta vừa chôn mất của chúng những gì thật thân ái, thật quý giá.
Con Yến như muốn khóc. Nó hỏi anh: “Nó… nó còn đấy không anh?”
Thằng Hanh cáu kỉnh, ngước nhìn cây bàng to lớn sững đầy sâu róm: “Ai biết được, chắc nó còn ở đấy, nhưng… cái tường! Lớn lên ông sẽ trèo qua”.
My company: www.procard.com.vn
0
TRI KỶ
Thanh Châu

Ở giữa thành phố Hà Nội mà có một cô vợ trẻ như ông Lâm bán nước đá thì thực là nguy hiểm. Này, ta thử tưởng tượng bà Thắm vợ ông Lâm một hôm bảo chồng bà đi Văn Điền để thăm một bà cô già. Bà Lâm bỏ hai cái áo quần với một cân nho hay táo vào giỏ mây và xách ra ga. Nhưng bà Lâm chẳng lấy vé đi Văn Điền. Bà Lâm chẳng lấy vé đi đâu cả. Bà bảo người kéo xe kéo mình vào một cái ngõ phố hàng Bông. Ở đấy có một người trai trẻ đợi bà trong một
gian buồng tối. Người đàn ông đỡ lấy gói nho ăn một chập, rồi quàng tay lên vai bà… và cái việc ấy xảy ra một cách ngạo mạn ở cách nhà ông Lâm có sáu xu xe. Thật tiện quá! Có mà trời biết! Hay nếu bà Lâm muốn, việc đó có thể xảy ra gần nhà mình hơn thế nữa cũng chẳng sao, sát cạnh nhà mình cũng chẳng sao.
Hà Nội chẳng phải cái tỉnh nhỏ bằng lỗ mũi mà động một tí người ta “dị nghị”, người ta dòm dỏ. Ngay như ông hàng xóm của mình chết được hai hôm, hay bà hàng xóm phát điên đã một tháng nay, cũng chẳng ai hay biết. Nữa là bà Lâm làm việc ngoại tình cách nhà những… sáu xu xe. Thì ông Lâm biết làm sao được.
Vậy mà bà Thắm phạm tội ngoại tình đã nửa năm nay. Ta không cần phải tưởng tượng gì nữa, việc đó là có thực. Và đúng là ông Lâm không biết một tí gì.
Người tình của bà là một tay giáo học trường tư. Anh ta dạy sử ký và địa tư Pháp ở một trường và dạy quốc văn ở một trường khác. Chả biết lương lậu ông giáo ra sao, nhưng có mỗi món tiền thuê buồng mười một đồng một tháng mà cũng phải lươn khươn tháng này sang tháng khác.
Anh chàng không có gì bận bịu, trong buồng chỉ có mỗi cái bếp cồn, một bàn viết, một cái ghế xích đu, một cái giường thấp cũ. Và dăm cuốn sách. Ông giáo ăn cơm ở nhà một người bạn đồng nghiệp ngay nơi trường dạy. Tối đến đi chơi nhâm nhi với anh em về, ông giáo bật đèn lên để chấm bài. Bóng người đàn ông làm việc đêm in lên tường vôi trăng treo độc một chiếc lịch tây, trông cô chiếc, như bóng một nhà bác học trong phòng thí nghiệm. Chính những lúc bắt gặp tình nhân ở trong cảnh ấy là lúc Thắm thấy não cả lòng. Bà đã đem đến nào bánh, nào thức ăn, nào hoa, chè tàu, khăn mặt, xà phòng… nhưng vẫn thấy thiếu nhiều thứ lắm. Ông giáo là người giản dị, đến cái gối gối đầu ông cũng không thèm sắm. Ông gối đầu bằng sách hay bằng tay. Bà Lâm không chịu như thế được. Bà đã mang đến một đôi gối bông thêu trắng nõn, dù bà chẳng ăn đời ở kiếp gì ở đấy. Cái phòng này lạnh lẽo quá, nó sẽ làm lạnh cả ái tình của người ta mất!
Cái hôm bà mang đôi gối đến bà đã nói mìa thế này:
- Đây, bố trẻ, bố trẻ bắt người ta hầu thế này, chóng rồi lại đi “chim”con khác.
Nét mặt rầu rầu của bà nói tiếp:
- Đến lúc ấy thì đôi gối này sẽ là cái kỷ niệm đáng buồn của tôi với anh. Thôi cũng hay tin! “Người đàn ông định cười nhưng nghe một câu nói não nùng như vậy, liền nhìn xuống đôi chim nhạn thêu trên mặt gối. Phải, đó là sự thực, sự thực rất buồn. Một ngày kia… cái đó có thể lắm: Thắm là gái có chồng, mình là gã con trai chưa vợ… Duy anh chàng giáo học chẳng biết nói gì, nhưng bỗng sực nhớ đến tên một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền ở hàng sách đầu phố. Anh vội kêu lên:
- “Anh yêu em suốt đời”!
Thế cũng làm yên lòng chốc lát một người nhẹ tính như bà Lâm đang cảm động muốn khóc lên vì sung sướng. Nhưng dù sao người đàn bà sống ở một gia đình đang học đòi trưởng giả cũng thấy cái phòng trọ của anh “hàn sĩ” mình yêu, đúng là một nơi tạm bợ vừa ẩm, vừa bụi. Bà nghĩ đến cái giường Hồng Kông sạch sẽ của mình ở nhà, cái phòng “xa-lông” sáng sủa, mát mẻ, cái phòng ăn rộng chỉ có hai vợ chồng đối diện nhau trước những mâm cơm thịnh soạn. Rồi bà tự nhủ: “giá mà giáo Duy có thể chung sống với mình, dưới một mái nhà! Làm thế nào để chàng ta làm quen được với chồng mình, và đi lại tự do như một “người nhà?”
Người đàn bà đang mê thường nghĩ liều như vậy. Trước kia Thắm chỉ nghĩ làm sao giấu giếm được chồng, bây giờ lại nghĩ xem có cách nào đưa được tình nhân về chính nhà mình, để hú hí với nhau, ngay dưới mũi ông chồng “mù” mới thực là thú vị. Thắm ngỏ ngay ý định ấy với tình nhân.
Duy, ông giáo giẫy nẩy lên:
- Thế nào? Thắm định bắt tôi làm quen với một người chồng mà tôi đã… hôn người vợ? Ồ, thực là quá sức, tôi không thể nào nhìn mặt người đàn ông đáng kính ấy được!
Thắm liền trợn mắt:
- À, thế thì anh hèn! Tôi xin anh đừng “tình cảm” nữa đi! Tôi đây, tôi là một gái có chồng, anh tưởng rằng mỗi lúc ở trong tay anh, từ trên cái giường phạm tội ra về, nhìn lại mặt chồng, anh tưởng rằng tôi cũng ngượng như anh, thì làm sao tôi có thể trở lại đây để yêu anh? Đàn ông các anh chỉ là đồ “bệt” cả.
Lời nói thật chí lý. Ông giáo Duy không cãi vào đâu được huống chi Thắm lại bồi thêm:
- Nếu anh thật yêu tôi, anh phải thích gần tôi chứ, luôn luôn được ở gần tôi, biết rõ nơi tôi ăn ở. Chúng ta sẽ ăn cùng bàn, cùng ra hiệu bí mật với nhau…
- Ồ, như vậy thì cái trò chơi sẽ lạ lùng biết bao nhiêu!
Duy kêu lên như vậy rồi suy tính:
- Nhưng làm thế nào để làm quen với ông Lâm bán nước đá được?
Duy nghĩ nát óc cũng không tìm ra được cách nào. Chàng tiếc rằng mình không bán nước đá lại đi dạy học. Sau cùng, lại bà Thắm đã tìm ra. Có việc gì là khó đối với một người ngoại tình đang độ ham mê?

Thật đúng vậy, việc làm quen với ông Lâm dễ như chơi. Ông Lâm là người thích chơi cờ. Ông rất ít bạn bè, chỉ thân và phục có mỗi một người trên đời là ông Ấm Tôn phố hàng Rươi. Ấm Tôn không những cao cờ, ông còn là tay chơi đàn nguyệt có danh, những người thường lui tới nhà ông để học bàn và đánh cờ toàn là người danh giá. Mỗi tháng Ấm Tôn dạy đàn được vài chục bạc thì lại đem “nướng” vào những cuộc cờ. Bởi vì thiên hạ cũng nhiều kẻ cao cờ chứ chẳng phải có một mình Ấm Tôn. Riêng ông Lâm thì lúc nào cũng coi Ấm Tôn là vô địch. Ông Lâm thường bảo vợ:
- Cổ nhân có bốn cái thú chơi tao nhã thì ông Ấm đã tinh tường hai thứ, đã vậy ông còn là dòng dõi thế gia, những người như vậy ở vào lúc nhố nhăng này rất hiếm.
Mỗi tuần ông Lâm đến chơi với ông Ấm hai lần để luyện cờ. Còn ông Ấm, ông không đánh cờ suông với ai bao giờ nên mỗi lần ra về ông Lâm lại thua năm mười đồng bạc. Cái đó chẳng hề gì, ông Ấm đã truyền cho ông Lâm nhiều nước cờ bí hiểm, ông ta là bực “thầy” rồi, có thua với ông cũng chả thiệt. Nghĩ vậy nên nhiều hôm về khuya, sợ vợ nghi ngờ, ông làm ra vẻ quan trọng bảo vợ:
- Hôm nay ông Ấm bảo cho một thế cờ lạ trong cách “Quất trung bí” thật ác độc!
Lần khác ông lại bảo:
- Hôm nay ông Ấm “hạ” tôi một nước trong “Tam thế đồ Vương”
Rồi ông Lâm không ngủ nữa, ông tung chăn dậy cả lúc nửa đêm, bày bàn cờ ra mà “đi” một mình, và lẩm bẩm như ma.
Những lúc ông Lâm phải nghĩ lung như vậy ông thường có tật cho một ngón tay vào kẽ chân mà cọ ghét. Ông vừa cọ vừa viên ghét lại từng viên nhỏ búng ra xa. Trời đất! Ông Lâm, “mọc sừng” có lẽ vì cái tật… hiền lành vô hại đó. Mỗi lần Thắm bất chợt chồng đang viên cọ ghét ở kẻ chân như vậy là bà lộn tiết, muốn ném cả chiếc gối mây vào đầu ông, muốn đập bàn cờ, cho bõ ghét. Nhưng tội nghiệp ông Lâm, bà không làm như thế, bà đi tìm an ủi trong lòng một ông giáo trẻ.

Đúng, cái trò làm quen ấy dễ như chơi. Giáo Duy chỉ cần đến nhà Ấm Tôn vài bận, nói là để học đàn. Ở đấy ông giáo trường tư sẽ gặp được ông Lâm nước đá. Ông giáo cũng biết chơi cờ võ vẽ, nhưng thú thực mình chỉ đáng là học trò của ông Lâm, nói gì đến Ấm Tôn.
Một lần ông Ấm bận khách, nhờ ông giáo đánh chơi vào ván với ông Lâm bạn quý của mình. Ông giáo nhận lời ngay và thua luôn hai ván. Thế là đủ cho ông Lâm có cảm tình ngay.
Cái “mẹo” của bà Lâm thế là kết quả. Bây giờ cứ mỗi tuần Duy đến đánh cờ hai lần với ông Lâm, như ông Lâm đã đến nhà ông Ấm. Và đôi khi ông giáo cũng ở lại ăn cơm “như người nhà”.
Ông Lâm sung sướng quá, từ nay có một kẻ phục mình như mình đã phục Ấm Tôn. Ông không năng đến nhà ông Ấm nữa, ông chỉ nóng lòng chờ cái buổi giáo Duy được rỗi đến “học” cờ. Ông nói với Duy bằng một giọng bề trên che chở. Ông quý người bạn mới còn hơn cả Ấm Tôn. Nhà có thức gì ngon là để phần ông giáo, có chè ngon là bảo pha ngay để thiết ông bạn học cờ.
Lúc đầu Duy cũng thấy hay hay, nhưng mãi rồi ông giáo thấy khổ quá. Tuy được gần Thắm luôn, nhưng cái sự phải “hầu cờ” ông Lâm suốt buổi như thế, thật là một “cỏ vê” đối với anh chàng trẻ tuổi chỉ thích đi chơi phiếm. Mỗi lần như vậy gặp Thắm là Duy cáu gắt:
- Vì mình mà tôi khổ, mình có biết không? Hừ, Lạc hoa, Lưu thủy, Hồng nhạn song phi! Tôi cần đếch gì phải học những cái thế cờ như vậy chứ?
Thắm tủm tỉm cười, càng ra sức chiều chuộng người tình nên những bữa cơm có mặt Duy là những bữa tiệc.

Nhưng rồi chỉ ít lâu sau Thắm bỗng nhận ra rằng Duy đã thay đổi tính.
Anh chàng trước kia ngại chơi cờ, ghét cờ bao nhiêu, nay lại ham mê một cách lạ lùng. Duy không săn đón bà Lâm mấy nữa. Mỗi lần đến, Duy chỉ hỏi ngay đến ông chồng. Trông thấy nhau là hai người đàn ông vồn vã, mừng rỡ như hai kẻ tình nhân xa vắng lâu ngày. Thằng ở nhỏ không biết ý mà pha chè và vác bàn cờ ra sẵn là y như bị củng.
Một hôm đi đâu về, Thắm bắt gặp hai ông bạn cờ đang cởi trần đánh cờ ở hè sân. Trời nóng như thiêu, mồ hôi nhễ nhại trên trán, trên lưng họ. Chả người nào để ý đến Thắm. Bỗng ông Lâm vỗ đùi hét ầm lên:
- Đã chết chưa? Ai trông mà chả bảo thua rồi, ha ha “Lão mã hồi thương” đấy, đã chết chưa?
Thắm nhìn mặt tình nhân, thấy Duy thất sắc đi vì tức mình đã hớ hênh để thua một ván không đáng kể.
Hai người lại bay quân vào cuộc khác, trông mặt Duy vẫn còn bần thần, ngơ ngẩn như con bạc đang cay. Bỗng Thắm thấy Duy cho một ngón tay vào kẽ chân mà kỳ cọ và viên ghét, rồi búng ra xa… chả khác lão Lâm!
Thắm giận run lên, nhưng không thể vác cái bàn cờ gỗ mà nện vào đầu đôi bạn đang mải chuyện ăn thua.

Ở giữa thành phố Hà Nội mà có một cô vợ trẻ như ông Lâm bán nước đá thì thực là nguy hiểm. Này, ta thử tưởng tượng bà Thắm vợ ông Lâm một hôm bảo chồng bà đi Văn Điền để thăm một bà cô già. Bà Lâm bỏ hai cái áo quần với một cân nho hay táo vào giỏ mây và xách ra ga. Nhưng bà Lâm chẳng lấy vé đi Văn Điền. Bà Lâm chẳng lấy vé đi đâu cả. Bà bảo người kéo xe kéo mình vào một cái ngõ phố hàng Bông. Ở đấy có một người trai trẻ đợi bà trong một
gian buồng tối. Người đàn ông đỡ lấy gói nho ăn một chập, rồi quàng tay lên vai bà… và cái việc ấy xảy ra một cách ngạo mạn ở cách nhà ông Lâm có sáu xu xe. Thật tiện quá! Có mà trời biết! Hay nếu bà Lâm muốn, việc đó có thể xảy ra gần nhà mình hơn thế nữa cũng chẳng sao, sát cạnh nhà mình cũng chẳng sao.
Hà Nội chẳng phải cái tỉnh nhỏ bằng lỗ mũi mà động một tí người ta “dị nghị”, người ta dòm dỏ. Ngay như ông hàng xóm của mình chết được hai hôm, hay bà hàng xóm phát điên đã một tháng nay, cũng chẳng ai hay biết. Nữa là bà Lâm làm việc ngoại tình cách nhà những… sáu xu xe. Thì ông Lâm biết làm sao được.
Vậy mà bà Thắm phạm tội ngoại tình đã nửa năm nay. Ta không cần phải tưởng tượng gì nữa, việc đó là có thực. Và đúng là ông Lâm không biết một tí gì.
Người tình của bà là một tay giáo học trường tư. Anh ta dạy sử ký và địa tư Pháp ở một trường và dạy quốc văn ở một trường khác. Chả biết lương lậu ông giáo ra sao, nhưng có mỗi món tiền thuê buồng mười một đồng một tháng mà cũng phải lươn khươn tháng này sang tháng khác.
Anh chàng không có gì bận bịu, trong buồng chỉ có mỗi cái bếp cồn, một bàn viết, một cái ghế xích đu, một cái giường thấp cũ. Và dăm cuốn sách. Ông giáo ăn cơm ở nhà một người bạn đồng nghiệp ngay nơi trường dạy. Tối đến đi chơi nhâm nhi với anh em về, ông giáo bật đèn lên để chấm bài. Bóng người đàn ông làm việc đêm in lên tường vôi trăng treo độc một chiếc lịch tây, trông cô chiếc, như bóng một nhà bác học trong phòng thí nghiệm. Chính những lúc bắt gặp tình nhân ở trong cảnh ấy là lúc Thắm thấy não cả lòng. Bà đã đem đến nào bánh, nào thức ăn, nào hoa, chè tàu, khăn mặt, xà phòng… nhưng vẫn thấy thiếu nhiều thứ lắm. Ông giáo là người giản dị, đến cái gối gối đầu ông cũng không thèm sắm. Ông gối đầu bằng sách hay bằng tay. Bà Lâm không chịu như thế được. Bà đã mang đến một đôi gối bông thêu trắng nõn, dù bà chẳng ăn đời ở kiếp gì ở đấy. Cái phòng này lạnh lẽo quá, nó sẽ làm lạnh cả ái tình của người ta mất!
Cái hôm bà mang đôi gối đến bà đã nói mìa thế này:
- Đây, bố trẻ, bố trẻ bắt người ta hầu thế này, chóng rồi lại đi “chim”con khác.
Nét mặt rầu rầu của bà nói tiếp:
- Đến lúc ấy thì đôi gối này sẽ là cái kỷ niệm đáng buồn của tôi với anh. Thôi cũng hay tin! “Người đàn ông định cười nhưng nghe một câu nói não nùng như vậy, liền nhìn xuống đôi chim nhạn thêu trên mặt gối. Phải, đó là sự thực, sự thực rất buồn. Một ngày kia… cái đó có thể lắm: Thắm là gái có chồng, mình là gã con trai chưa vợ… Duy anh chàng giáo học chẳng biết nói gì, nhưng bỗng sực nhớ đến tên một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền ở hàng sách đầu phố. Anh vội kêu lên:
- “Anh yêu em suốt đời”!
Thế cũng làm yên lòng chốc lát một người nhẹ tính như bà Lâm đang cảm động muốn khóc lên vì sung sướng. Nhưng dù sao người đàn bà sống ở một gia đình đang học đòi trưởng giả cũng thấy cái phòng trọ của anh “hàn sĩ” mình yêu, đúng là một nơi tạm bợ vừa ẩm, vừa bụi. Bà nghĩ đến cái giường Hồng Kông sạch sẽ của mình ở nhà, cái phòng “xa-lông” sáng sủa, mát mẻ, cái phòng ăn rộng chỉ có hai vợ chồng đối diện nhau trước những mâm cơm thịnh soạn. Rồi bà tự nhủ: “giá mà giáo Duy có thể chung sống với mình, dưới một mái nhà! Làm thế nào để chàng ta làm quen được với chồng mình, và đi lại tự do như một “người nhà?”
Người đàn bà đang mê thường nghĩ liều như vậy. Trước kia Thắm chỉ nghĩ làm sao giấu giếm được chồng, bây giờ lại nghĩ xem có cách nào đưa được tình nhân về chính nhà mình, để hú hí với nhau, ngay dưới mũi ông chồng “mù” mới thực là thú vị. Thắm ngỏ ngay ý định ấy với tình nhân.
Duy, ông giáo giẫy nẩy lên:
- Thế nào? Thắm định bắt tôi làm quen với một người chồng mà tôi đã… hôn người vợ? Ồ, thực là quá sức, tôi không thể nào nhìn mặt người đàn ông đáng kính ấy được!
Thắm liền trợn mắt:
- À, thế thì anh hèn! Tôi xin anh đừng “tình cảm” nữa đi! Tôi đây, tôi là một gái có chồng, anh tưởng rằng mỗi lúc ở trong tay anh, từ trên cái giường phạm tội ra về, nhìn lại mặt chồng, anh tưởng rằng tôi cũng ngượng như anh, thì làm sao tôi có thể trở lại đây để yêu anh? Đàn ông các anh chỉ là đồ “bệt” cả.
Lời nói thật chí lý. Ông giáo Duy không cãi vào đâu được huống chi Thắm lại bồi thêm:
- Nếu anh thật yêu tôi, anh phải thích gần tôi chứ, luôn luôn được ở gần tôi, biết rõ nơi tôi ăn ở. Chúng ta sẽ ăn cùng bàn, cùng ra hiệu bí mật với nhau…
- Ồ, như vậy thì cái trò chơi sẽ lạ lùng biết bao nhiêu!
Duy kêu lên như vậy rồi suy tính:
- Nhưng làm thế nào để làm quen với ông Lâm bán nước đá được?
Duy nghĩ nát óc cũng không tìm ra được cách nào. Chàng tiếc rằng mình không bán nước đá lại đi dạy học. Sau cùng, lại bà Thắm đã tìm ra. Có việc gì là khó đối với một người ngoại tình đang độ ham mê?

Thật đúng vậy, việc làm quen với ông Lâm dễ như chơi. Ông Lâm là người thích chơi cờ. Ông rất ít bạn bè, chỉ thân và phục có mỗi một người trên đời là ông Ấm Tôn phố hàng Rươi. Ấm Tôn không những cao cờ, ông còn là tay chơi đàn nguyệt có danh, những người thường lui tới nhà ông để học bàn và đánh cờ toàn là người danh giá. Mỗi tháng Ấm Tôn dạy đàn được vài chục bạc thì lại đem “nướng” vào những cuộc cờ. Bởi vì thiên hạ cũng nhiều kẻ cao cờ chứ chẳng phải có một mình Ấm Tôn. Riêng ông Lâm thì lúc nào cũng coi Ấm Tôn là vô địch. Ông Lâm thường bảo vợ:
- Cổ nhân có bốn cái thú chơi tao nhã thì ông Ấm đã tinh tường hai thứ, đã vậy ông còn là dòng dõi thế gia, những người như vậy ở vào lúc nhố nhăng này rất hiếm.
Mỗi tuần ông Lâm đến chơi với ông Ấm hai lần để luyện cờ. Còn ông Ấm, ông không đánh cờ suông với ai bao giờ nên mỗi lần ra về ông Lâm lại thua năm mười đồng bạc. Cái đó chẳng hề gì, ông Ấm đã truyền cho ông Lâm nhiều nước cờ bí hiểm, ông ta là bực “thầy” rồi, có thua với ông cũng chả thiệt. Nghĩ vậy nên nhiều hôm về khuya, sợ vợ nghi ngờ, ông làm ra vẻ quan trọng bảo vợ:
- Hôm nay ông Ấm bảo cho một thế cờ lạ trong cách “Quất trung bí” thật ác độc!
Lần khác ông lại bảo:
- Hôm nay ông Ấm “hạ” tôi một nước trong “Tam thế đồ Vương”
Rồi ông Lâm không ngủ nữa, ông tung chăn dậy cả lúc nửa đêm, bày bàn cờ ra mà “đi” một mình, và lẩm bẩm như ma.
Những lúc ông Lâm phải nghĩ lung như vậy ông thường có tật cho một ngón tay vào kẽ chân mà cọ ghét. Ông vừa cọ vừa viên ghét lại từng viên nhỏ búng ra xa. Trời đất! Ông Lâm, “mọc sừng” có lẽ vì cái tật… hiền lành vô hại đó. Mỗi lần Thắm bất chợt chồng đang viên cọ ghét ở kẻ chân như vậy là bà lộn tiết, muốn ném cả chiếc gối mây vào đầu ông, muốn đập bàn cờ, cho bõ ghét. Nhưng tội nghiệp ông Lâm, bà không làm như thế, bà đi tìm an ủi trong lòng một ông giáo trẻ.

Đúng, cái trò làm quen ấy dễ như chơi. Giáo Duy chỉ cần đến nhà Ấm Tôn vài bận, nói là để học đàn. Ở đấy ông giáo trường tư sẽ gặp được ông Lâm nước đá. Ông giáo cũng biết chơi cờ võ vẽ, nhưng thú thực mình chỉ đáng là học trò của ông Lâm, nói gì đến Ấm Tôn.
Một lần ông Ấm bận khách, nhờ ông giáo đánh chơi vào ván với ông Lâm bạn quý của mình. Ông giáo nhận lời ngay và thua luôn hai ván. Thế là đủ cho ông Lâm có cảm tình ngay.
Cái “mẹo” của bà Lâm thế là kết quả. Bây giờ cứ mỗi tuần Duy đến đánh cờ hai lần với ông Lâm, như ông Lâm đã đến nhà ông Ấm. Và đôi khi ông giáo cũng ở lại ăn cơm “như người nhà”.
Ông Lâm sung sướng quá, từ nay có một kẻ phục mình như mình đã phục Ấm Tôn. Ông không năng đến nhà ông Ấm nữa, ông chỉ nóng lòng chờ cái buổi giáo Duy được rỗi đến “học” cờ. Ông nói với Duy bằng một giọng bề trên che chở. Ông quý người bạn mới còn hơn cả Ấm Tôn. Nhà có thức gì ngon là để phần ông giáo, có chè ngon là bảo pha ngay để thiết ông bạn học cờ.
Lúc đầu Duy cũng thấy hay hay, nhưng mãi rồi ông giáo thấy khổ quá. Tuy được gần Thắm luôn, nhưng cái sự phải “hầu cờ” ông Lâm suốt buổi như thế, thật là một “cỏ vê” đối với anh chàng trẻ tuổi chỉ thích đi chơi phiếm. Mỗi lần như vậy gặp Thắm là Duy cáu gắt:
- Vì mình mà tôi khổ, mình có biết không? Hừ, Lạc hoa, Lưu thủy, Hồng nhạn song phi! Tôi cần đếch gì phải học những cái thế cờ như vậy chứ?
Thắm tủm tỉm cười, càng ra sức chiều chuộng người tình nên những bữa cơm có mặt Duy là những bữa tiệc.

Nhưng rồi chỉ ít lâu sau Thắm bỗng nhận ra rằng Duy đã thay đổi tính.
Anh chàng trước kia ngại chơi cờ, ghét cờ bao nhiêu, nay lại ham mê một cách lạ lùng. Duy không săn đón bà Lâm mấy nữa. Mỗi lần đến, Duy chỉ hỏi ngay đến ông chồng. Trông thấy nhau là hai người đàn ông vồn vã, mừng rỡ như hai kẻ tình nhân xa vắng lâu ngày. Thằng ở nhỏ không biết ý mà pha chè và vác bàn cờ ra sẵn là y như bị củng.
Một hôm đi đâu về, Thắm bắt gặp hai ông bạn cờ đang cởi trần đánh cờ ở hè sân. Trời nóng như thiêu, mồ hôi nhễ nhại trên trán, trên lưng họ. Chả người nào để ý đến Thắm. Bỗng ông Lâm vỗ đùi hét ầm lên:
- Đã chết chưa? Ai trông mà chả bảo thua rồi, ha ha “Lão mã hồi thương” đấy, đã chết chưa?
Thắm nhìn mặt tình nhân, thấy Duy thất sắc đi vì tức mình đã hớ hênh để thua một ván không đáng kể.
Hai người lại bay quân vào cuộc khác, trông mặt Duy vẫn còn bần thần, ngơ ngẩn như con bạc đang cay. Bỗng Thắm thấy Duy cho một ngón tay vào kẽ chân mà kỳ cọ và viên ghét, rồi búng ra xa… chả khác lão Lâm!
Thắm giận run lên, nhưng không thể vác cái bàn cờ gỗ mà nện vào đầu đôi bạn đang mải chuyện ăn thua.
My company: www.procard.com.vn
0
VÀNG
Thanh Châu

Chuông thu không vừa dứt, chú tiểu Nhi toan đóng cửa chùa thì trong bóng tối hoàng hôn chập choạng, từ chân núi một người đàn ông, không, hai người đàn ông nặng nề bước từng bước một lần lên. Người đi trước cất giọng rên rỉ nói cùng chú tiểu:
- Nhà chùa khoan đóng cửa, xin cho chúng tôi nghỉ nhờ một đêm, mai sáng sẽ xin đi.
Người đi sau tiếp theo, vừa nói vừa thở dốc như một con vật dữ:
- Chúng tôi đói… mệt lắm rồi… xin cho chúng tôi ăn… và uống…
Người đó chưa nói hết câu đã gục xuống bậc đá, như một cái cây bị chặt gốc.
Chú tiểu Nhi không tỏ vẻ gì khác khoan thai bước xuống hiệp lực cùng người đi trước, vực người khốn nạn lên chùa.
Khi bọn ba người loạng choạng dìu nhau về phía tam đảo thì vị sư già trụ trì đang mải tụng kinh trong ánh đèn dầu tù mù nên không để ý gì đến họ. Chú tiểu Nhi do dự một hồi, rồi đến gần vị sư già nói nhỏ mấy câu. Vị sư tay vẫn gõ mỏ điều điều, miệng vẫn lẩm bẩm đọc kinh, chỉ trả lời vắn tắt:
- Con đưa người ta vào nhà tổ.
Tiểu Nhi vội vã quay ra, đưa hai người khách lạ vào nhà tổ, và khêu cao ngọn bấc đèn. Đến lúc ấy chú mới nhìn rõ mặt hai người khách. Hai người? Đó là hai người đàn ông thật, nhưng gọi là “người rừng” có lẽ đúng hơn. Hai người mang hai cái bao vải lớn trên lưng, mặt mũi râu ria đen rậm, dữ tợn vô cùng. Hình như họ vừa trải qua những cơn nắng mưa đói khát, vất vả dọc đường ghê gớm lắm, nên áo quần mới rách nát đến thế, hình thù mới hóa ra cổ quái nhường
kia.
Chú tiểu Nhi lắc đầu thương hại. Người tu hành khổ hạnh ở chốn núi non cách trở, quạnh hiu như chú còn có điều gì đáng sợ. Ngôi chùa hẻo lánh, nghèo nàn này làm gì có của cải bạc vàng châu báu để cho kẻ gian phi cướp bóc?
Tiểu Nhi lấy chiếu trải xuống bệ gạch cho người bị nạn nằm. Chẳng hề gì, người khách chỉ say nắng, chỉ mệt mỏi vì đi bộ quá lâu, cứ xem bụi bám trắng cả hai chân thì đủ hiểu. Một ngụm nước mưa mát lạnh phun lên mặt sẽ làm cho họ tỉnh. Chú tiểu nhanh nhẹn múc nước cho hai người, rồi họ đi vo gạo thổi cơm.
Trời tối được một lúc thì trăng mọc. Tiếng trùng tiếng dế quanh chà nổi lên nghe rất thê lương. Không khí chẳng con oi nồng như lúc ban nãy nữa. Sương trắng bốc lên ở các ngọn núi chung quanh khiến cảnh trí thêm huyền ảo. Người ta có cảm giác đây là chốn thần tiên thoát tục, chốn riêng biệt, không phải dành cho những kẻ lòng đầy ham muốn ở đời.

Hai người khách bộ hành đã tỉnh táo. Họ uống từng bát nước mưa đựng trong ấm sành của nhà chùa mà tưởng như được uống một thứ rượu bồ đào dành cho các vị tiên trên thượng giới. Nước chảy trong cuống họng họ có mùi thơm, làm cho các thớ thịt trong người họ nở ra êm dịu. Họ càng có cảm tưởng mới hồi sinh nhờ phép lạ nhiệm màu. Họ không còn thấy cái bóng ghê tởm của thần chết theo đuổi nữa. Thật lạ lùng, đó chỉ là mấy ngụm nước mưa, nước lã lúc khác họ coi thường, không đáng cho họ bận tâm nghĩ ngợi bằng việc mưu danh, mưu lợi. Trong một lúc họ quên hẳn cái mục đích khiến họ bỏ nhà bỏ cửa ra đi lam lũ, như một kẻ ăn mày, trên bao nhiêu quãng đường gian nan nguy hiểm vừa qua, mà còn chưa chết, còn đợi họ, khi mặt trời lại mọc.
Giữa lúc đó, vị sư già từ trên tam bảo đã trở về nhà tổ. Vị sư nói bằng một giọng thật ôn tồn, ấm áp:
- A di đà Phật! Hẳn các người đói lắm! Cửa phật bao giờ cũng rộng mở cho hết thảy mọi người. Nhà chùa chỉ có gạo xấu với muối vừng, xin đãi khách tạm bữa lót lòng. Hẳn các người còn phải đi tìm mỏ… còn xa đường đất lắm… nếu ai chưa bình phục, xin cứ ở lại đây, bao nhiêu ngày cũng được… A di đà Phật, của nhà chùa là của mọi người, xin đừng e ngại.
Hai người khách lạ, tuy đang mệt nhọc, uể oải nhưng nghe nói vậy, vội ngồi ngay ngắn lại. Một người cất giọng hỏi ngay:
- Bạch cụ, làm sao cụ lại biết rằng chúng tôi đi tìm mỏ? Chúng tôi chỉ là kẻ đi buôn, thường qua lại xứ Lào…
- A di đà Phật, đó là bần tăng đoán vậy thôi! Nơi đây là chỗ giáp giới đất Lào, kẻ thì kẻ đi buôn lậu qua lại cũng nhiều, nhưng có lẽ họ không chịu chọn con đường hiểm trở này, hiểm trở quá này!... Con đường chỉ dành cho những kẻ sơn lâm lão luyện… và những kẻ tìm vàng, những kẻ ôm cái mộng giàu sang định quốc trong phút chốc… hả hả, bần tăng nói dài lời quá… chắc cái vị khách quý của bần tăng đói bụng lắm rồi, để bần tăng đi giục tiểu Nhi dọn cơm chóng lên mới được, ăn uống xong, nếu nhị vị chưa mệt lắm, thì để bần tăng xin pha một tuần trà ngồi hầu chuyện chốc lát cho vui.
Hai người khách lạ rất đỗi ngạc nhiên trố mắt nhìn nhau, hấp tấp trả lời:
- Nếu được vậy thì vạn hạnh, vạn hạnh. Chúng tôi xin cố thức để hầu tiếp cao tăng, chúng tôi xin cố…
Trong lúc vị sư già lặng lẽ đi trong bóng tối của ngôi chùa, hai người đàn ông bàn tính với nhau cùng hồi hộp không hiểu làm sao vị sư này lại biết rằng họ đi tìm vàng.

Chờ cho hai người cơm nước đoạn, vị sư già mời mỗi người một bát nước trà đun bằng vo cây mơ miền núi, rồi kể chuyện:
- Hẳn nhị vị lấy làm lạ làm sao bần tăng lại biết được nhị vị cùng đi tìm vàng. Điều đó không có chi lạ cả. Xin hãy cởi bỏ đôi giày gai ở chân ra, và giũ bụi đường xuống sân chùa này cho thư thả, bây giờ trăng lên gió mát chính là lúc nghỉ ngơi. Giờ này chi có ác thú và kẻ gian đi tìm mồi, đi giết hại. Chúng ta là người lương thiện thì nên biết hưởng ân huệ của Phật, Trời ban.
Bần tăng biết các vị đi tìm vàng… bởi vì… xưa kia chính mình cũng đã từng là kẻ đi tìm vàng, như các vị ngày nay vậy. Cũng đã từng đeo cái bao vải kia trên vai, đã từng xỏ giày đi băng rừng núi, chí cương quyết và lòng hăng hái. Vừa trông thấy nhị vị bần tăng đã đoán ra ngay tức khắc. Đêm nay bần tăng lại được trông thấy hình ảnh mình ngày trước, ở hai người cường tráng cùng nuôi trong lòng một cái mộng rực rỡ như màu vàng chói lói. Vừa trông thấy hai người thì đã đọc được ngay những điều thầm kín mà hai người giữ kín trong tâm. Ngày tháng và tâm sự của người ta thường để lại dấu vết trên khuôn mặt. Kẻ tu hành ở chốn này đã nhiều năm, đã từng tiếp một số người đến trú ngụ chùa này, đói rách và bại liệt vì muốn vượt qua biên giới. Nhưng không mấy người chịu nói khác rằng mình chỉ là những kẻ đi buông lỡ độ đường. A di đà Phật! Các vị có nghe tiếng con chim lợn vừa kêu trong rừng thẳm đó không? Phút này có lẽ một kẻ xấu số nào đương trút bỏ linh hồn trong nanh vuốt một con heo, con hổ khát mồi, say máu.
Bao nhiêu người đã đi thoát và trở về sung sướng giàu sang? Bao nhiêu người đã gửi xác lại cho rừng rú? Bao nhiêu người đã tự hiến cho ông thần độc ác đó: Thần Vàng?
- Vâng! A di đà Phật, bần tăng cũng đã từng nếm biết cái mộng điên rồ ấy.
Bần tăng đã từng lội suối, trèo đèo, phát rừng, rạch lá, đã gian nan khổ sở bao nhiêu để đi cho tới cái đích khó khăn ghê gớm đó: Vàng! Vàng đã thay đổi hết…
Thuở ấy, bần tăng cũng chẳng khác gì quý vị hôm nay. Bần tăng cũng đã từng đi với một người bạn thân thiết. Hai người bạn đã uống máu ăn thề, đinh ninh rằng gian nan cùng chịu, quý quý cùng chia, vậy mà hai người đã lìa nhau, hai người đàn ông sức lực, thi gan cùng rừng rậm, cùng sông nước, cùng mãnh thú. Hai người cùng thấy mình mạnh mẽ hơn tất cả muôn loài, không gì vật ngã được: muỗi rừng, rắn rết, cá sấu, hùm beo… không gì cản trở được họ. Hai người quý nhau, thương nhau, che chở cho nhau trên mỗi bước đường. Chà, cái tình bè bạn sao mà êm ái! Cái tình bè bạn không giả dối như ở nơi đô hội, nhưng là cái tình thiết thực của những kẻ lìa nhà, lìa cửa, bỏ cả cha mẹ, quê hương, để cùng một con đường, một mục đích ở đời.
Đó là những ngày nắng hạ nung nấu tạo vật bằng thứ lửa giết người, làm cháy da, sém thịt, làm cho óc người chín nẫu và trống rỗng, làm cho mắt quáng.
Đó là những ngày mưa dội như thác xuống lưng, gió thổi như xô người vào bụi, lạnh thấm như xé từng thớ thịt. Nhưng hai người đàn ông vẫn bước đi. Họ phạt mây gai che kín lối rừng, họ bắt vắt cho nhau, họ buộc thuốc cho chân khỏi sưng khi phải lội qua những vũng nước tù hãm lâu đời chứa chấp bao nhiêu là sâu bọ độc. Mỗi ngày đi chừng một hai nghìn thước là nhiều. Mỗi bước là mỗi nguy nan chờ đợi. Bần tăng lúc ấy là người kiên nhẫn nhất cũng đã nhiều phen rời rã tưởng chừng phải chết dọc đường, chết thảm hại như một con vật hoang không ai hay biết. Như vậy là chư kể những ngày đi lạc, nhầm đường và gặp tối, và lo sợ, tưởng có thể phát điên lên cả.
A di đà Phật, đẹp đẽ, lớn lao thay cái tuổi trai tráng thiếu niên lòng đầy tin tưởng. Chỉ có tuổi ấy là dám đương đầu, đọ gan với chết. Cái tuổi ấy, cái sức ấy giá biết dùng phải chỗ, có việc gì mà không làm nổi?
A di đà Phật, bần tăng đã dùng nhầm cái sức cái tuổi của bần tăng. Bần tăng lúc trẻ đã đi tìm không phải ánh sáng của đạo lý mà cái ánh sáng mê hoặc của Vàng, của sự giàu sang mây nổi. Nhưng nhờ Trời, Phật bần tăng đã mở mắt được kịp, không lấy gì làm muộn màn lắm… Thế rồi cái ngày ấy đến… Ngày cuối cùng của một đoạn đường gian nan khốn khổ… bần tăng còn nhớ như mới hôm qua.
Hai người bạn đang đi trong một quãng rừng ngạt thở, bỗng nghe tiếng suối reo róc rách đằng trước mặt. Hai người giở sổ xem lại bức địa đồ ghi chỗ có vàng. Không còn nghi ngờ gì nữa. Những con bướm rừng bay giỡn chung quanh hai người không làm cho ai chú ý. Những cành phong lan nở hoa ngào ngạt quanh đấy cũng uổng công phô sắc phô hương. Bần tăng bốc một nắm cát, nhặt vài hòn đá bên bờ suối xem rất kỹ. Những chấm vàng nhấp nháy!
A di đà Phật, bần tăng hét lên một tiếng, và người bạn của bần tăng cũng hét lên một tiếng. Cả hai tưởng là tắt thở. Vàng! Đúng là xứ sở của vàng, chao ôi, điều mong ước của cả hai đã thực hiện. Vâng, bây giờ thì bao nhiêu cực nhọc đều tiên tán. Cổ họng dù khô ráo, trong lòng dù lửa đốt và đầy hơi lam chướng, tóc tai áo quần dù mục nát, đầy chấy rậy, chân cẳng dù toạc da chảy máy ròng ròng, nhưng có hề chi, miễn là nắm trong tay được một thỏi sinh kim nhấp nháy chất vàng. Hai người chúng tôi tự cho mình là hữu hạnh nhất trên đời, nhảy múa như hóa dại, và cám ơn Trời Phật đã run rủi cho mình tìm thấy đúng chỗ có vàng. Chỉ một thỏi thôi, một thỏi con con cũng đã là một cơ nghiệp cho những kẻ khác ở nơi thành thị. Huống chi đây hằng hà sa số, kể sao cho xiết của trời!
Hai người cứ việc nhặt, đãi, bỏ vào bao tải. Họ nhặt, họ nhặt, không có thì giờ nói chuyện cùng nhau. Họ mê man trong cái khoái cảm được đụng tay, được sờ mó vào loài kim thuộc hiếm hoi kia… Thế rồi, giờ phút quay về cũng đến.
Vị sư già ngừng lại vì nhác thấy hai người khách của mình có vẻ khác thường, bàn tay họ run lên, mắt họ sáng ngời lên ghê sợ trong đêm tối. Vị sư già nhìn họ như vô tình, lãnh đạm, rồi cười nhạt:
- Làm sao hai vị khách quý của bần tăng lại run lên như vậy? Hay là bị lạnh chăng? Khí hậu ở đây có khác dưới đồng bằng. Vả đêm cũng đã khuya rồi, khí núi tỏa ra thường giá buốt, có lẽ bần tăng đã quen chịu nên không thấy. Nhưng chuyện cũng không còn dài lắm, để xin tiếp thật nhanh. Hai vị còn cần phải nghỉ ngơi cho lại sức để lên đường.
Vị sư già chưa nói hết, hai người khách đã vội can ngay:
- Xin cao tăng cứ kể rạch ròi cho chúng tôi được rõ. Chúng tôi chưa từng được nghe một người nào kể chuyện hay như vậy. Chúng tôi đã quên cả mệt và buồn ngủ, xin cứ kể tiếp đi, xin kể tiếp ngay đi.
Vị sư già lại mỉm cười, trong lòng thừa hiểu rằng hai người khách lạ đang nóng biết những nông nổi đường trường của mình ngày trước để lấy làm kinh nghiệm. Và vừa rồi nghe tả đến chỗ có vàng, sự thèm muốn của hai người đã sôi lên trong gân máu họ. Một loài chim núi rúc lên hồi dài từ chốn xa vọng lại khiến người ta tưởng khu rừng cũng phát rùng mình trong ánh trăng khuya. Vị sư già nhấp một chút trà bấy giờ đã nguội, rồi kể tiếp:
- Chà, quãng đường về! Quãng đường về lại còn gian nan gấp mười lần, gấp trăm lần! Đến bây giờ bần tăng cũng còn chưa hiểu làm sao mình lại sống sót mà ngồi đây được. Chao ôi bần tăng đã trờ thành một kẻ tu hành, vậy mà lúc này nghĩ lại vẫn không khỏi rùng mình ghê sợ. Bần tăng cùng người bạn đồng hành sinh tử vừa đi khỏi chỗ đất vàng được ba ngày thì trời bỗng nổi cơn giông bão. Bần tăng dám chắc chưa có một người nào sống qua một cảnh hãi hùng, điêu đứng đến như cảnh đó. Mưa trút nước như có một con sông trên trời úp xuống, cây cối vặn mình đổ lấp đường. Thú dữ và rắn rết trong rừng bò ra lổm ngổm rít lên như tiếng diều hâu. Người ta có thể bảo đó là thần giữ cửa, thần vàng đuổi theo để báo thù những người trần đã cả gan xông pha vào đất cấm, đất thiêng. Mưa thành suối, thành ngòi trong núi, mưa thành vũng, thành ao trong rừng. Không một giống vật gì có thể ở yên trong hốc đá, trong cây lá. Tất cả đều gầm thét như nguyền rủa, và chạy trốn. Thế rồi, đến khi mưa tạnh thì hơi đất bốc lên làm mục nát thêm mấy tầng lá úa của núi rừng chất đống tự lâu năm. Nắng soi rọi vào khắp nơi để làm chín nẫu những xác sinh vật trong rừng, và muỗi sinh sôi, làm ra sốt rét. Muỗi, muỗi sinh nở mau chóng như bệnh dịch hạch lan ra tứ phía, kêu như ong vỡ tổ, đốt sưng da thịt. Vắt, đỉa chui rúc qua cả áo quần để hút máu. Thế nhưng, những thứ đó còn chịu được, khi người ta mang một đẫy vàng trên lưng, người ta vẫn còn hy vọng, vẫn còn sức mạnh tinh thần. Cứ cố đi, cứ cố đi! Ra khỏi chốn này đến chốn thênh thang, tha hồ sung sướng: nhà cửa, lâu đài, những thức ăn ngon, những áo quần hiếm có, những đồ dùng, tiện nghi đầy đủ… Người ta vừa đi vừa nghĩ đến những cảnh huy hoàng đang chờ đợi mình ở quê nhà, và người ta cố lê, cố bước.
Nhưng giữa lúc này, bần tăng và người bạn bỗng sực nhớ ra rằng lương thực đã cạn dần. Một nỗi lo ngại xâm chiếm đầu óc hai kẻ đã trả nhiều đau đớn.
Buổi sáng kia, khi bần tăng ngủ trên một cành cây cao thức dậy đã thấy một cảnh tượng rất buồn diễn ra trước mặt. Người bạn sinh tử của bần tăng vì sợ bần tăng giữ lấy cho mình tất cả chỗ lương khô còn lại, nên sinh dạ phòng ngừa. Người bạn đã sẽ bớt chỗ lương dùng ăn chung, để giấu vào túi của mình. Bần tăng liền hiểu người bạn đã tính lúc không còn gì ăn nữa thì vẫn có thể sống hơn bần tăng một hai ngày để về cho được tới nhà, khỏi lo chết ở dọc đường bỏ của lại cho rừng thẳm. Một nỗi buồn thoáng qua trong dạ bần tăng. Nhưng nghĩ lại việc đó còn có thể tha thứ được, người bạn của bần tăng vốn sức lực không được khỏe dai như bần tăng, và lâu ngày kham khổ ăn uống thất thường, nên đâm nghĩ quẩn. Bần tăng chỉ vừa buồn vừa thương hại bạn. Thế rồi, lương thực hết! Dẫu có ăn dè xẻn đến thế nào rồi cũng hết. Làm như không biết việc gì vừa xảy ra, bần tăng tìm cách bắn chim, bắt đủ các giống vật dễ bắt, dễ tìm, để ăn xem vào cùng hoa quả rất hiếm ở dọc đường. Những quả xanh nuốt không trôi, những thức ăn không kịp nướng chín đọng lại ở dạ dày vì không dễ tiêu như cơm gạo. Nhiều khi trời tối gặp quãng rừng mưa ướt không đánh đá cho ra lửa được. Thành thử giống người lâm vào cảnh đói lại đâm ra man rợ, dữ tợn gấp mấy giống vật trong rừng. Hai người cứ rình mò từ sáng đến chiều, vừa đi vừa nghỉ, vừa đi vừa săn đón các sinh vật có thể dùng làm thức ăn cho qua cơn đói. Trông bộ dạng hai người lúc đó còn ai dám bảo là giống người? Thật là một cảnh mỉa mai thấm thía: hai người ôm hai bọc vàng to tướng trên mình mà chịu đói chịu khát hơn kẻ hành khất nghèo khổ nhất trong nhân loại. Chao ôi, vàng! Vàng ở đâu là gieo sự sầu não, sự khốn nạn cho người, vậy mà người ta vẫn ham tìm dẫu phải thiệt cả một đời sống vô cùng quý giá.
Trong cơn đói khác lầm than dường ấy, bần tăng lại còn cay đắng thêm vì người bạn thiết của mình đã thay lòng. Vì càng đi gần về xứ sở bao nhiêu bần tăn càng nhận rõ rằng: người bạn của bần tăng đã có lòng nghi kỵ bần tăng. Ban đêm sắp đi ngủ, người bạn đã băn khoăn lo ngại, tìm cách cất giấu cái bọc vàng của mình thật kỹ càng chu đáo rồi mới yên lòng nhắm mắt nghỉ ngơi. Khốn nạn, hơi vàng đã làm hoen ố lòng người bạn. Người đó đã mất hết sinh thú, mất hết lòng tin, mất hết! Người đó chỉ còn biết có vàng. Vàng đã nhập vào linh hồn người đó, xua đuổi hết những gì là cao quý ra ngoài. Vậy mà chính mắt bần tăng đã làm cho người đó được dự vào cái công cuộc tìm vàng chỉ có một mình bần tăng biết. Vậy mà bần tăng đã che chở, đã khuyến khích bạn, đã tìm ra đúng đường đi, đã từng mang hộ cho người bạn cái đẫy vàng lớn nhất, nặng nhất, vì tham lam bỏ nhiều vàng nhất.
Đói khát khổ cực dường ấy, nắng mưa gió bão rét run dường ấy, cũng không sánh được với cái đau lòng vì mất bạn, vì thấy bạn xa mình, chỉ bởi vàng. Bần tăng yêu bạn hơn mình, chăm nom săn sóc bạn dọc đường nhưng một người anh để ý đến em. Bần tăng vừa có sức lại vừa kiên nhẫn nên mới vượt được từng ấy gian lao, còn người bạn đồng hành, tuy hăng hái lúc đầu, tuy còn trẻ nhưng lại dễ sờn lòng. Vả không từng có kinh nghiệm như bần tăng về núi rừng nên có thể nói cuộc thành công đó tất nhiên là công lao của bần tăng. Đã không kể đến chỉ một lòng quý bạn, như vậy mà bạn đã hóa thù, hóa kẻ vô ơn, thử hỏi xót xa biết mấy? Người ta bảo có những người mà cái “bệnh vàng” kia gặm đục như một thứ trùng ác hại. Một khi họ đã đụng tới vàng thì tấm lòng họ héo quắt đi như chiếc lá đem hơ lửa. Cái ngày mà hai người tới cách địa phương nhà không còn xa nữa, chính là lúc tình bạn càng thêm tăm tối. Bần tăng chợt nghĩ rằng cái tấm lòng phản trắc xấu xa kia có thể đang mong chiếm đoạt lấy cho mình tất cả chỗ vàng của hai người, như trước đó đã nhẫn tâm sẽ bớt lương khô để ăn riêng ăn lén một mình. Chao ôi, ở đời còn có sự chua chát nào hơn khi người ta nhận thấy kẻ bạn bè thân thiết nhất hóa ra hèn hạ.
Đời sống lặng câm dưới vòm cây, đi trong hơi nặng của núi rừng, trong cảnh dửng dưng của tạo vật, trí óc con người hóa ra sáng suốt lạ thường. Người ta đoán được tư tưởng của nhau, như theo dõi một con rắn trườn mình trong cỏ rậm. Vâng, tấm lòng người bạn của bần tăng đã đóng lại. Hai người đi cạnh nhau lúc trở về quê hương chỉ là hai người mà số phận tình cờ bắt đi chung một con đường. Người bạn của bần tăng không nói nữa, đầu cúi gắm mà bước, hàm răng nghiến chặt, thái độ đề phòng, vì đã nghi ngờ.
Thảm hại chưa? Giữa lúc con người cùng trơ trọi, cùng cách xa xã hội văn minh, cùng rách nát thân hình, cùng đau khổ như nhau đáng lẽ ra phải thân nhau, như hai người là một, để chống lại bao nhiêu nỗi bất trắc, bất ngờ của dặm trường, thì lại đề phòng nhau, thăm dò nhau từng phút, từng giây. Người bạn của bần tăng lâu dần không giấu nổi sự thù hiềm chất chứa trong lòng thường để lộ ra cử chỉ. Bần tăng vẫn cúi đầu nhìn bạn. Trong hai người lúc đó bần tăng
vẫn là kẻ mang cái gánh nặng bi ai nhất trên đường. Cho đến ngày bần tăng lâm nạn…
Chỉ còn độ vài ngày đường nữa có thể tới được cái túp lều đầu tiên của người cùng giống, bần tăng đã bị bệnh sốt rét rừng vật ngã, lần này không cưỡng nổi. Đang đi bỗng thấy trời đất núi rừng tối sầm cả lại, mọi vật quay cuồng điên đảo, và thế là bần tăng gục xuống đường, tai ù lên như có chiêng, trống đập vào liên tiếp. Trong cơn mê mẩn thấy mình tìm về được đến nhà sum
họp cạnh những người thân thích, rồi sau đó là đêm dày, đêm dày như mực, không còn hay biết sự gì, thấy mình trôi tuột vào một quãng trống thật êm, như một chiếc thuyền trôi theo dòng chạy xuống một cái vực sâu, sâu hút, không bao giờ tới đáy.
Nhưng tử thần có lẽ chưa được lệnh hái linh hồn của bần tăng về thế giới bên kia, nên sau cơn bệnh đó bần tăng lại tỉnh. Chà, nặng nề thay cái cảm giác của một người trong gian lao khổ cực như bần tăng lúc đó, khi mở mắt ra chỉ thấy mình trơ trọi một thân. Vâng, trơ trọi bởi vì người bạn sinh tử của bần tăng đã đi rồi, và người đó cũng không quên mang cái đẫy vàng của bần tăng đi nốt. Người đó không để lại một vật gì có thể gọi là dùng được, cả đến con dao dài của bần tăng dùng làm vật hộ thân…
Vậy là hết! Hai bàn tay trắng như lúc ra đi. Nhưng lúc ra đi bần tăng khỏe mạnh, yêu đời, đầy hy vọng, bao giờ thì thật hết!
Bần tăng hét lên một tiếng thê thảm tưởng có thể động tâm đến cả trời. Nhưng vô ích, không có một ai nghe thấy cả. Hai dòng nước mắt của bần tăng lúc bấy giờ nhỏ xuống như mưa, vâng, bần tăng khóc, khóc cho cái mộng giàu sang, khóc cho tình bằng hữu.
Trời tối, cổ họng rát bỏng, đầu óc như có lửa, bần tăng lê mình đến một vũng nước tù mà uống tưởng chừng có thể uống cạn cả một khúc sông lúc đó.
Chiều hôm sau, có mấy kẻ đi săn hươu thường qua lại trong rừng bắt gặp một người sắp hóa điên bò lê trong bụi rặm để đuôi theo một con vật nào đó, như một con thú dữ săn mồi. Người đó là bần tăng, vâng, chính là bần tăng đương ngồi hầu chuyện hai vị khách quý của nhà chùa, dưới bóng trăng này.
Từ đó, chắc hai vị cũng hiểu, bần tăng chán tất cả mọi điều thường cám dỗ con người. Bần tăng đã trở nên một con người khác.
Vị sư trước, đã tịch ở chùa này, vị sư đã cứu sống đã nuôi dưỡng bần tăng, lúc qua đời có dặn dò bần tăng phải ở mãi chốn này, để thỉnh thoảng cứu giúp những người cơ lỡ, ốm đau, như bần tăng ngày trước.
Ngôi chùa này vì xa cách dân cư ở đồng bằng nhiều quá, và đường đất đi đến chốn này hiểm trở và dễ lạc, nên trừ bần tăng và mội vài chú tiểu chùa đây, không mấy người có gan ở lại. Nếu các vị còn dừng ở đây lâu, các vị sẽ thấy đời sống của những kẻ tu hành ở chốn này khe khắt và kham khổ quá, nhưng bần tăng và các tiểu đã quen rồi. Ở đây, tuy vậy hoa ngàn trăng núi, cảnh thiên nhiên không bợn chút bụi trần, càng dễ dốc lòng vì đạo. Nhưng thôi, đêm đã khuya rồi! Hai vị cần phải ngủ một giấc dài sau một ngày đường vất vả. Chim tử quy đã cất tiếng gọi lần nữa, có lẽ bây giờ đã canh ba. Bần tăng thường có tính thức khuya đọc sách hoặc đi dạo trước sân chùa. A di đà Phật, hôm nay vui chuyện quá nên không kể đến cái mệt của hai vị, xin thứ lỗi.
Vị sư già nói xong khoan tha bước lên chùa, trở lại phòng riêng. Trăng xế sau mái chùa cong lúc nào, hai người khách cũng không để ý. Nhưng cả đêm hôm đó, giấc ngủ của hai người thường bị những cảnh rùng rơn do vị sư già kể lại, làm cho trằn trọc không an.
Bình minh lại tới, đem theo sự sáng sủa vào lòng người. Tiếng chim xao xác quanh chùa đánh thức hai người khách mê man trên bệ gạch, giữa lúc mặt trời chói lọi khắp nơi.
Hai người khách dùng trà, và ăn điểm tâm xong vội vã đi tìm vị sư già để dâng lời từ biệt.
Vị sư già lúc đó đang nhặt cỏ ở gốc một cây hoa lạ trước sân chùa, cũng vội đứng lên tiễn hai người xuống núi. Gió sớm thổi vào tóc ba người như quạt. Một niềm vui mát mẻ cũng lùa theo vào lòng những kẻ bộ hành sắp lên đường. Đến cửa chùa vị sư già dừng lại:
- Bần tăng xin cáo biệt, chúc nhị vị gặp mọi điều tốt lành ở dọc đường.
Hai người khách kính cần lui xuống bậc đá thứ hai, hướng lên vị sư già mà vái:
- Cao tăng đã giúp ích cho hai chúng tôi nhiều lắm. Chúng tôi không bao giờ quên câu chuyện đêm qua, xin sẽ còn ngày hội ngộ.
Vị sư già mỉm cười, hồn hậu trả lời:
- Bần tăng cũng mong được như vậy lắm, cầu Phật tổ phù hộ cho nhị vị chân cứng đá mềm.
Hai người khách đã xuống đến bậc đá cuối cùng của ngôi chùa, vị sư già vẫn còn đứng nguyên chỗ cũ. Nhưng khi thấy hai người khách do dự một lúc ở con đường rẽ sang biên giới rồi quay về đường cũ, thì nét mặt vị sư già bỗng tươi lên như một cánh hoa.
- A di đà Phật, xin Phật tổ run rủi cho hai kẻ bộ hành kia đừng đổi ý. Xin run rủi cho bước chân họ trở về chốn cũ, nơi anh em, vợ con, cha mẹ họ sum vầy. Xin đừng khiến vàng bạc làm tối lòng họ lại. Xin giữ cho tình bạn của họ lâu bền.
My company: www.procard.com.vn
0
VẬT LẠ Ở TRÊN ĐẦU
Mai Sơn

Thủ trưởng Liên hiệp Xí nghiệp X. Từ Matxcova về đến sân bay Tân Sơn Nhất vào buổi trưa. Và ngay đêm hôm ấy, một cuộc hợp mặt tại tư gia của thủ trưởng đã diễn ra sôi nổi: từ đây không ngớt tuôn ra những tràng pháo tay.
Sau khi nghe hết tình hình mấy tháng qua ở nhà, cảm ơn những lời chúc tụng, khen ngợi về nước da hồng hào của mình, thủ trưởng trịnh trọng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh một lượt những gương mặt thân quen dưới trướng. Ông nở một nụ cười hết sức duyên dáng rồi nói:
- Những ngày cuối cùng ở bên ấy tôi lo nhất là cái khoản quà kỷ niệm cho các cậu…
Thủ trưởng ngừng một chốc, lại cười, tiếp tục bài diễn văn:
- Các cậu biết đấy, sở thích của từng cậu thì tôi rõ rồi, và tôi cũng cố gắng thỏa mãn theo ý riêng của mỗi người, nhưng ngặt một nỗi, thời gian hạn hẹp quá, vả lại bên ấy lúc này hàng hóa không phong phú như ở bên ta, mua cái gì cũng phải xếp hàng rồng rắn. Tôi suy nghĩ nát óc mấy ngày liền mới tìm ra thứ quà giống nhau cho tất cả.
Thủ trưởng cười, lại đưa mắt nhìn quanh một lượt. Nhiều tiếng lao xao bắt đầu nổi lên.
- Đó là biểu hiện sự đối xử bình đẳng của thủ trưởng đối với anh em. - Thủ trưởng đúng là chủ tịch hội đồng sáng kiến!
Thủ trưởng phẩy tay, ra hiệu bảo mọi người im lặng:
- Nhưng mà các bạn thử đoán đó là cái gì?- Giọng nói nhẹ nhàng của thủ trưởng dập tắt nhanh chóng mọi tiếng ồn.
- Quạt mát?
- Không phải.
- Bếp điện?
- Không phải.
Giữa lúc đó, phu nhân của thủ trưởng, một người đàn bà lộng lẫy phấn son từ trên lầu bước rõ từng bước đi xuống. Mọi người ngước nhìn lên. Không khí hồi hộp nhưng thật dễ chịu bao trùm lấy căn phòng. Đột nhiên, ai đó reo to:
- A! Mũ phớt!
Thủ trưởng đứng dậy đỡ từ tay vợ chồng mũ cao có đến gần một thước, rồi nhìn mọi người, cười thật to, nói:
- Vâng, đây là quà cho các cậu. Món quà tuy nhỏ mọn nhưng tôi trộm nghĩ ý nghĩa của nó thì không nhỏ đâu. Tôi đã đề tặng và ký tên bên trong mũ. Xin các bạn nhận giùm cho…Này, của Dũng…này, của Tôn…
Mọi người trong bàn đứng dậy, lần lượt nhận mũ, bắt tay thủ trưởng. Người nào cũng rưng rưng cảm động. Một lát sau, hai mươi cái mũ đều tìm được chỗ của mình. Quả là một loại mũ ít kén chọn cái đầu, ai đội xem cũng phù hợp cả. Chỉ có một ngoại lệ là Đoàn: khuôn mặt và mái tóc đặc biệt của anh rõ ràng không phải là chỗ cái mũ ấy trú ngụ. Anh đội cái mũ ấy không giống ai cả.
- Mũ này các chính khách cỡ bự phương Tây hay đội lắm đấy.
- Nói chung, những người đứng đắn, tử tế hay dùng loại mũ này.
- Không riêng gì chính khách đâu, nghệ sĩ lớn các nước cũng dùng thứ này.
Như ca sĩ nhạc pop Elton John đấy. Tóm lại, dưới cái mũ ấy thường là những cái đầu…tầm cỡ.
Những chiếc ly thủy tinh, những tràng cười đục ngầu va đập vào nhau hỗn độn.
- Thủ trưởng cũng có một cái chứ?
Như muốn kết thúc buổi họp mặt, thủ trưởng lạnh lùng, đáp: - Không, tôi không quen đội mũ.

- Trời ơi, anh Đoàn ơi! Sao anh lại đội mũ? Không được đâu anh, trông kỳ cục lắm!
Vợ Đoàn kêu lên, tiếng kêu có gì đó đau đớn, khi lần đầu tiên chị trông thấy Đoàn sửa soạn đi làm với cái mũ lạ lẫm nằm trên đầu anh.
- Anh chỉ có thể để đầu trần là coi được thôi, đội cái gì lên cũng hỏng hết. Anh Đoàn, anh khùng rồi hay sao vậy?- Cơn ấm ức của vợ Đoàn đang dâng lên, chị bắt đầu lớn tiếng.
Đoàn lúng túng, gỡ mũ xuống, rồi lại đội lên:
- Không, cái mũ này của thủ trưởng đi Nga về làm quà. Anh không đội không được.
Vợ Đoàn tròn xoe mắt, cặp môi run run. Chị tưởng mình đang nhìn thấy một Đoàn khác không phải như bao năm nay gần gũi; một Đoàn xa lạ, dị dạng không chỉ bề ngoài do một vật lạ nằm trên đầu anh, mà cả tâm hồn anh nữa, cũng trở nên xa lạ. Chị vừa thấy xấu hổ vừa buồn rầu như thể sắp mất anh đến nơi.
Đoàn đến trước gương, nghiêng đầu, vuốt tóc, sửa mũ. Trong mắt anh đầy vẻ ngạc nhiên, khó hiểu. Anh đứng lặng im thật lâu đối diện với chính mình trong gương mặc cho vợ anh tha hồ rên rỉ, chì chiết. Đoàn cũng vừa nhận ra là mình đội mũ không hợp: cái mũ làm mất hẳn vẻ đẹp tự nhiên trên khuôn mặt và mái tóc bồng bềnh của anh. Nhưng cũng vừa lúc ấy, trong anh vang lên một mệnh lệnh: “Không đội mũ là không được!”. Thử tưởng tượng anh đi đầu trần đến cơ
quan trong khi mười chín người kia đều đội mũ thì chuyện gì sẽ xảy ra? Có phải anh tự giết chính mình không chứ? Không thể được! Phải đội nó trên đầu thôi. Mà cho dù bọn họ cả gan không đội mũ đi nữa thì phần anh, anh cũng không thể bắt chước làm theo họ được. Với Đoàn, thủ trưởng là người số một. Từ lúc Đoàn mới chập chững bước chân vào cơ quan với hai bàn tay trắng và gần như thất học, thủ trưởng đã nâng đỡ, dìu dắt, rồi sau đó cất nhắc anh lên dần những bậc thang chức vụ. Trước sự kinh ngạc và ghen tuông của nhiều người, mới đây anh đã leo lên đến cương vị phụ trách một phòng trực thuộc Liên hiệp Xí nghiệp. Dư luận xì xầm nói rằng anh không xứng đáng, anh không đủ năng lực chuyên môn. Anh mặc. “ Cứ làm theo chỉ thị của tôi”- Thủ trưởng đã dặn dò anh như vậy khi quyết định đề bạt anh. Cho nên nói thủ trưởng là người ơn chẳng qua nói cho khéo, là nói cho có văn vẻ, chứ cứ gọi đúng tên sự vật thì ông ta chính là cái ô che chở cho anh. Vả chăng, trong ngoài cơ quan, người ta cũng gọi đúng tên sự vật như thế từ lâu nay rồi, nói ra công khai cũng có mà rầm rì truyền tai nhau cũng có. Anh vờ như không biết gì, cố bỏ ngoài tai tất cả lời ong tiếng ve ấy mà mạnh dạn tiến bước, mạnh dạn sống, mạnh dạn làm việc. Vợ anh như một đứa bé vô tư, trong sáng không hiểu hết mức độ phụ thuộc của anh vào thủ trưởng. Do vậy, nếu bây giờ giải thích với nàng vì sao anh không thể không đội mũ đi làm thì dài dòng, rối rắm biết bao mà chưa chắc nàng đã hiểu nổi.
- Hãy cứ để anh đội, xấu một chút có sao đâu?- Đoàn quay lại, bất chợt thấy vợ đang lặng lẽ khóc- Ô hay, tại sao lại khóc?
Mãi một lúc sau mới nghe thấy câu trả lời ngập ngừng của vợ:
- Em cũng không hiểu vì sao…Nhưng mà anh quyết định đội mũ thật à?
- Có gì ghê gớm lắm đâu phải quyết định với không quyết định?
- Anh chỉ đội nó một thời gian thôi chứ?- Vợ Đoàn vừa hỏi vừa ngước lên nhìn chồng khẩn khoản.
- Em thật buồn cười…Thêm cái mũ trên đầu thì đỡ chút nắng mưa, chả có gì hệ trọng để em phải bận tâm cả.
- Không. Em van anh. Anh đừng đội cái vật ấy lên đầu, xấu xí lắm, không ra anh nữa đâu.
- Thôi đi!- Đoàn gắt, quyết định cắt đứt câu chuyện ngớ ngẩn với vợ.
Vợ Đoàn bỗng dưng thôi khóc, thôi van vỉ. Bằng một giọng rắn đanh, chị hỏi:
- Anh không đội cái mũ ấy thì thủ trưởng có giết anh không? Đoàn bất giác gật đầu:
- Có thể lắm chứ!
Khuôn mặt thủ trưởng hiện ra trước mắt Đoàn làm anh muốn mềm nhũn người như gặp phải một cơn lạnh bất thần xâm chiếm. Bỏ mặc vợ đứng như trời trồng, Đoàn bước vội ra khỏi nhà. Chiếc mũ màu đen chễm chệ bám chắc trên đầu anh.
Cái sân rộng trước văn phòng Liên hiệp Xí nghiệp X. sáng hôm ấy diễn ra một cảnh tượng ngoạn mục. Thường xuyên có dăm, ba bóng người đội mũ phớt đen mới toanh đi qua, đi lại chậm rãi. Những bóng người ấy có lúc chụm lại bàn bạc gì đó, có lúc tản ra đi loanh quanh trong khoảng sân rộng…Bỗng có một người tách ra đi về phía phòng làm việc của Tổng Giám Đốc. Người ấy là Đoàn. Anh vừa nhận ra được cái ngoắt tay của thủ trưởng gọi vào gặp…
Thủ trưởng ghé sát tai Đoàn:
- Đêm qua vội quá nên tôi quên dặn cậu…Cậu không nên đội mũ đi làm.
Đoàn giật bắn người, hai tay đưa lên cầm chặt vành mũ như sợ gió thổi bay mất.
- Tại sao vậy, thủ trưởng?
- Cậu ngây thơ lắm. Người ta đang đồn ầm lên về quan hệ giữa tôi và cậu. Cậu đội cái mũ của tôi tặng chẳng khác gì… “lạy ông tôi ở bụi này”. Cậu không đội thì người ta không nghĩ như vậy.
- Thế tại sao thủ trưởng lại tặng mũ cho em trước mặt mọi người?
- Tôi đâu có ý định làm vậy. Cái con bé văn phòng nó gọi điện cho cậu báo tin tôi về chứ?
- Dạ phải.
- Đấy! Thế cho nên đêm qua thấy cậu lù lù bước vào nhà, tôi đã giật mình, lầm thầm trong bụng: Thôi, bỏ mẹ rồi, hỏng rồi. Tôi đi nước ngoài lần này học được nhiều bài học về sự cảnh giác, không ngờ ngay khi về nhà đã bị vấp vố đầu tiên. Tôi nói như vậy cậu hiểu chưa? Cái mũ cứ giữ đấy, cất một chỗ nào đó thật kín đáo trong nhà để làm kỷ niệm. Đừng có đội nói đi làm. Nhớ nhé!
- Vâng, em nhớ!- Đoàn cúi đầu trả lời, lòng ray rứt khổ sở. - Nào, vùi nó vào cạc-táp đi!
Đoàn lóng ngóng mở cạc-táp, bóp méo chiếc mũ, nhét vội vào. Nước mắt anh cứ chực trào ra.
Ngoài sân những chiếc mũ đen vẫn còn đang dật dờ đảo qua đảo lại.
Đoàn không muốn nhìn thấy cảnh ấy chút nào. Anh cắm cổ chạy lên lầu. Cái cảm giác “lạnh lưng, hở sườn” lan khắp người anh. Về đến phòng làm việc, cảm giác “mất an toàn” ấy mới tan dần, thay vào đó là một thứ cảm giác kỳ lạ nóng bỏng của kẻ vừa ghen tuông vừa đau đớn vì sự phụ bạc.
Đoàn đóng tất cả các cửa lớn, cửa sổ phòng làm việc. Anh mở cạc-táp, lấy chiếc mũ ra, vuốt ve, nâng niu rồi đội lên đầu.
Một mình trong phòng, Đoàn đi qua đi lại với chiếc mũ ụp sâu xuống che gần kín mặt.
Nhìn sững vào chiếc mũ treo trên vách gần sát với khung ảnh ngày cưới của Đoàn, mặt Đoàn buồn rười rượi. Lẽ ra, như thường lệ, giờ này anh đã có mặt ở cơ quan. Nhưng hôm nay, Đoàn không thể nào bước ra khỏi nhà được; chiếc mũ treo trên vách như một khối nam châm hút chặt anh như hút một thanh kim loại yếu ớt. Anh cứ chôn chân đứng đấy, không biết phải làm gì.
Về phần mình, vợ Đoàn bắt đầu cảm thấy cái bóng đen to lớn của bất hạnh đang sắp sửa phủ chụp xuống căn nhà bé nhỏ của chị. Chị biết cả đêm qua Đoàn trăn trở không ngủ được. Rồi từ sáng tới giờ, nhìn cái hành vi lạ lùng của Đoàn, chị muốn nói cái gì đó nhưng lại ngần ngại. Cuối cùng, khi trông thấy chồng cúi gập người trong một cố gắng tuyệt vọng, từng bước bước ra khỏi cửa mà trên đầu không có chiếc mũ phớt (chiếc mũ vẫn còn treo trên vách), lập tức chị kêu lên thất thanh, vùng dậy khỏi giường:
- Anh Đoàn! Cái mũ của anh? Sao hôm nay anh không đội?
Đoàn lắc đầu, không nói, khuôn mặt ngờ nghệch giống hệt như mặt trẻ con mới ngủ dậy. Vợ Đoàn lắc mạnh tay chồng:
- Hôm qua em có nói tào lao về chuyện cái mũ, thôi, anh đừng chấp. Anh hãy cứ đội mũ mà đi làm…Để em lấy cho anh.
- Không được. Không đội mũ đi làm được!
- Ồ sao thế? Em không hiểu gì cả. Hôm qua anh có nói điều gì đó khủng khiếp lắm mà?
Chị nhìn thấy miệng anh méo xệch, đôi gò má giật giật liên hồi. Có lẽ một cơn đau nào đó đang bứt xé lòng anh. Anh cứ hết lắc đầu lại co tay thành một nắm đấm…
Chị lay vai anh. Cơn ác mộng nào, cơn hoang tưởng rùng rợn nào đang vây chụp lên ý thức anh vậy?
- Không phải lỗi tại em chứ anh?...Vậy thì anh cứ đội đi, có xấu xí một chút cũng không sao đâu.
- Không! Anh không thể đội mũ đi làm được. - Anh cứ đội xem có ai làm gì được anh không?
- Không được đâu, em ạ- Dường như đã thoát ra khỏi trạng thái căng thẳng, giọng Đoàn chợt dịu nhẹ trở lại.

Vợ Đoàn thấy thương anh ghê gớm. Tội nghiệp anh, cái mũ kia là quái quỷ gì mà nó hành hạ, dày vò anh đến thế? Làm sao có thể chấp nhận được ma lực của nó ngự trị lên gia đình chị? Làm sao có thể chịu đựng được khi mà anh đi làm rồi thì chiếc mũ kia, cái vật vô tri đen ngòm kia vẫn còn nằm im lìm trên vách? Chị không kìm giữ được:
- Anh đừng để chiếc mũ ấy ở nhà, em sợ lắm. Anh mang nó đi đi.
- Không được!- Đoàn cứ lẩm bẩm lặp đi lặp lại “không được”, “không được” như một cái đĩa hát cũ kỹ.
- Tại sao lại không được? Thủ trưởng giết anh ư?
Hệt như buổi sáng hôm qua, từ nét mặt cho đến giọng nói, Đoàn trả lời hấp tấp:
- Có thể lắm chứ!
Vợ Đoàn rùng mình, tưởng như đang nghe thấy những âm thanh lạnh lẽo từ một cõi chết chóc nào.

Câu chuyện đến đây tưởng như đã hết rồi, và bạn đọc hẳn yên tâm vì đã phần nào hiểu được cái bi hài kịch của anh chàng Đoàn kia. Nhưng thật không ngờ, chuyện vẫn còn một đoạn cuối nữa do vợ Đoàn kể lại.
Một buổi tối thứ bảy, trong lúc đang ngồi trước tivi chờ xem chương trình kịch nói thì chị giật mình khi nhìn thấy chiếc mũ đen rời khỏi vách, đậu xuống trên đầu Đoàn. Chị sững sờ. Lại chuyện gì nữa đây? Nhưng chị quyết định không nói gì. Chị không muốn một lần nữa bị sa vào cái vòng lẩn quẩn khó hiểu do chiếc mũ đen kia tạo ra. Hơn một tuần nay, từ sau buổi sáng anh để đầu trần đi làm, chị cố trấn tĩnh xua khỏi đầu óc câu chuyện về chiếc mũ đen. Chị nhanh chóng lấy lại niềm vui khi thấy Đoàn đang trở lại với nguyên vẹn khuôn mặt và mái tóc cố hữu của anh. Và chiếc mũ đen trên vách kia dần dà trở nên quen thuộc như một vật trang trí trong nhà. Nhưng đột nhiên tối nay! Khi thấy chiếc mũ đen rời khỏi cây đinh đến ngự trên đầu anh một cách chễm chệ thì chị cảm thấy như nó có linh hồn và nó đang chuẩn bị tác yêu, tác quái vào sự bình yên của gia đình chị.
Chờ cho anh ra khỏi nhà một hồi lâu, chị tắt tivi và quyết định bí mật đi theo anh.
Anh đạp xe chầm chậm, chầm chậm rẽ vào những con đường vắng vẻ, thỉnh thoảng dừng lại lấy chiếc mũ xuống nhìn ngắm. Có lúc chị không thấy anh đâu nữa. Nhưng có lúc trước mặt chị, trong bóng tối nhờ nhờ, chiếc mũ đen trên đầu anh tự nhiên lớn dần, lớn dần trùm kín cả người anh…
Sau cái đêm lạ lùng đó, mọi chuyện bình thường trở lại. Cứ đêm xuống là Đoàn bắt đầu “trò chuyện” với chiếc mũ và sau đó anh đội nó lên đầu đi lang thang đến tận khuya mới về. Vợ Đoàn quen dần, không còn cảm thấy khó chịu hay lo lắng gì nữa.
My company: www.procard.com.vn
0
Bạn Nguyễn Chí Hải thân mến, bạn vui lòng cho biết tập truyện ngắn này bạn sưu tầm từ nguồn sách nào, vì mình thấy có khá nhiều tác phẩm trùng với tập truyện ngắn "Mùa thu trên ngón tay" do Honghoavi post.
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=163334&mpage=1&key=&#163337
***
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 07:10:41Nguyễn Chí Hải>
Bạn Nguyễn Chí Hải thân mến, bạn vui lòng cho biết tập truyện ngắn này bạn sưu tầm từ nguồn sách nào, vì mình thấy có khá nhiều tác phẩm trùng với tập truyện ngắn "Mùa thu trên ngón tay" do Honghoavi post.

Bạn Chuột lắc thân mến!
Trùng hợp là điều không sai.
Nhưng nếu như bạn để ý thời gian đăng post bài của Chí Hải và bạn honghoavi sẽ phát hiện: Bài của Chí Hải đã đưa lên trước bài của honghovi và thậm chí thời gian đưa vào Thư Viện (do người phụ trách làm)cũng trước cả thời gian bạn ấy post lên. Vậy: Nguyên nhân là do bạn ấy không check Thư Viện (một cách bắt buộc và cẩn thận) trước khi đưa bài của mình lên, dẫn đến việc bài của bạn ấy đã trùng hợp với bài trước kia của các thành viên gõ truyện khác. Về việc này Chí Hải cho rằng Chuột lắc cũng như các mod phụ trách khác nên chịu khó hướng dẫn bạn ấy.
Còn nguồn gốc truyện thì từ rất nhiều nguồn mà Chí Hải sưu tầm, phát hiện được như: báo, internet..... và kể cả trong tập truyện ngắn Mùa Thu Trên Ngón Tay mà bạn honghoavi đã đề cập đến trong topic của mình cùng với một số tập truyện ngắn khác (nhưng đã được Chí Hải so sánh với Thư Viện, bằng chứng là không phải tất cả các truyện ngắn trong tập truyện ngắn ấy Chí Hải đều đưa lên cả mà chỉ đưa truyện nào Thư Viện chưa có).
Trong vấn đề của Chí Hải chỉ là: "Không thông báo, giới thiệu nguồn mà Chí Hải có truyện !" Nhưng Chí Hải không làm vậy là vì đối với thể loại truyện ngắn này Hải nhận thấy làm vậy khá rườm rà và không cần thiết.
Thân mến !
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 07:50:38Nguyễn Chí Hải>
TRONG BỐI CẢNH CÓ THỂ MƯA
Mai Sơn

Mất gần nửa tiếng đồng hồ, hay có lẽ lâu hơn, tôi mới tìm thấy ngôi mộ nhỏ của mẹ tôi. Mới một năm thôi mà mẹ đã có quá nhiều “láng giềng” vây quanh khiến tôi thoạt đầu tưởng mình đi lạc vào nghĩa trang lạ. Ngày này năm ngoái, khu nghĩa trang vẫn còn nhiều đất trống, còn vắng hoang và vì thế thôi cảm thấy thắt tim lại nhói đau với ý nghĩ khi đêm xuống mẹ sẽ một mình nằm dưới mộ sâu lạnh lẽo. Nhưng giờ đông vầy thế này, đâu phải mẹ đã thôi lạnh lẽo.
Một năm đã trôi qua nhưng tôi vẫn chưa thể nuốt trôi được cái vị đắng cay của biến cố tang tóc này. Và ý nghĩa thực sự cả nó là gì?
Tại sao mẹ lại không còn ở bên tôi như một nguồn an ủi, một ngọn lửa ấm, một tình thương nồng nàn…khi tôi vẫn còn là một đứa trẻ chưa thật sự hoàn thiện về tâm hồn lẫn thể chất? Mẹ ơi!
Tôi quì xuống, thắp ba cây nhang trước mộ. Thật lâu dường như mẹ đang hiền về trò chuyện với tôi:
- Đừng buồn nữa con yêu, số phận đó!
- Mẹ ơi, con không muốn mình buồn rầu dai dẳng như thế này. Con chỉ muốn buồn nhẹ nhàng, mỗi khi mẹ đi đâu xa vắng nhà vài ba buổi; con chỉ muốn buồn nhẹ nhàng khi mẹ la mắng con vì con ham chơi, lười học…
- Mẹ cũng không muốn con hoài niệm mẹ bằng nỗi buồn chán chường. Hãy yêu mẹ bằng cuộc sống tốt đẹp, lạc quan hàng ngày. Những thành công trong học tập hôm nay và mai này của con sẽ là bông hoa, là ánh sáng của đền thờ tưởng niệm mẹ trong tâm hồn con đó. Con hiểu không?
Tôi lờ mờ hiểu. Chợt nghe có tiếng chân ai bước lao xao đằng sau. Tôi quay lại: một con bé gầy gò trạc tuổi tôi, hoặc nhỏ hơn tôi một hai tuổi, đầu đội chiếc nón lá, tay cầm cây roi. Đập vào mắt tôi là thân hình gầy ốm của nó. Tôi phủi bụi đất ở hai gối quần, đứng dậy. Một cái gì nằng nặng như là bầu trời đang đè trên lưng. Con bé xác nhận cảm giác của tôi, nó nói:
- Anh có mang theo áo mưa không?
Tôi giật mình, ngước đầu nhìn trời:
- Không! Nhưng sẽ mưa sao?
Con bé huơ tay vẽ một vòng tròn rộng trong không trung: - Mưa tới liền đó!
- Còn bạn, bạn có áo mưa không? Mà sao bạn lại ở đây?
- Có chứ. Em chăn bò. Kìa, đàn bò của em kìa.
Theo tay con bé, tôi nhìn thấy trên sườn đồi những con bò nâu vàng đang cúi đầu thản nhiên nhai cỏ, không hề lo mưa sẽ trút xuống như tôi và con nhỏ. Chắc mưa xuống cỏ sẽ ngọt hơn, nên biết đâu chúng đang đợi mưa.
- Mẹ anh nằm đây hả?
- Ừ.
Con bé liếc nhìn tấm bia mộ hỏi: - Bữa nay là giỗ đầu phải không anh?
Tôi gật đầu, không ngạc nhiên vì nghĩ có thể nó đã đọc được những con số trên tấm bia. Những tôi vẫn thắc mắc:
- Sao bạn lại quan tâm đến chuyện này?
- Những lúc thả bò như vậy, rảnh, em thường đến khu nghĩa trang này tò mò ngó nhìn, tìm kiếm.
Tôi giật mình:
- Bạn tìm kiếm gì ở đây, chỗ nằm của những người xa lạ, đã chết?
Với vẻ buồn buồn kín đáo, con nhỏ lắc đầu không trả lời tôi. Nhưng thoắt cái, khuôn mặt nó đã sinh động trở lại:
- Ba anh đâu?
- Ba anh ở nhà.
- Em tưởng là ngày nay ba anh và anh phải cùng có mặt ở đây chứ? - Sáng sớm nay ba mình đã tới đây rồi.
Tôi bắt đầu thấy có cảm tình với con bé, không biết vì sao. Bỗng nhiên, nó la lên, khuôn mặt sáng bừng lên:
- A, mặt trời ló ra rồi, mây tan rồi, không mưa nữa đâu anh.
Thì ra ánh mặt trời vừa chiếu sáng khuôn mặt nó. Bây giờ có thể thấy rõ nó có cặp mắt linh động, dễ thương với đôi má bầu bĩnh trên nền nước da bánh mật. Một cách vô thức, tôi vừa đi vòng quanh ngôi mộ vừa hỏi:
- Bạn không sợ đàn bò của bạn bị lạc con nào sao?
Mắt ánh lên có vẻ tự tin, con bé đáp gọn lỏn:
- Không!
Tôi hơi tức, nói:
- Bạn phải đề phòng kẻ gian chứ?
Con bé nhìn quanh, giọng chùng xuống lạ lẫm: - Em nghĩ kẻ gian không dám bén mảng tới đây đâu.
Dường như tôi đang nghe một câu nói sâu sắc chăng? Tôi trợn tròn mắt, nhìn nó:
- Sao vậy?
Vẫn với vẻ cứng cỏi, nó đáp lời tôi:
- Chúng phải biết sợ người chết chứ.
- Mình nghĩ là người chết không làm được gì cho cõi trần này. - Con bé lập tức la lên, cây roi trong tay nó vung cao:
- Có đó, anh à…
- Sao?
Nó chỉ tay vào tấm bia trên mộ mẹ tôi: - Đây, người nằm dưới mộ này đã giúp em.
Tôi ngạc nhiên tột độ, không hiểu nó muốn nói gì. Mẹ tôi, một người đã chết mà lại giúp gì được cho nó sao?
Không để tôi lên tiếng hỏi, nó nói ra điều cần nói một cách rành rọt:
- Em nói với đám bạn trong xóm, trong lớp rằng, nơi đây, gần chỗ em thả bò, mẹ em nằm yên nghỉ.
- Bạn mồ côi hả?
- Em mồ coi cả cha lẫn mẹ. Không biết từ lúc nào. Chỉ nhớ một buổi sáng, tại cô nhi viện, có một người đàn ông xa lạ đến nhận em về làm con nuôi, cho ăn học, ngày nghỉ thì đi chăn bò cho ông. Em nhận mẹ anh là mẹ của em, có sao không anh?
Tôi nghĩ một lúc nhưng không tìm ra câu trả lời cho nó. Tôi phải nói gì bây giờ?
- Sao anh không trả lời em?
- Mình còn phải hỏi ý kiến ba mình đã.
- Nhưng em đã nói nhiều lần điều đó với bạn bè rồi.
- Cũng có sao đâu. Nhưng mình muốn biết tại sao bạn lại chọn mẹ mình?
Mặt con bé chợt nghiêm nghị lại. Nó đặt cây roi và chiếc nón lá xuống đất, rồi đứng thẳng người lên, đưa mắt nheo nheo nhìn một vòng quanh nghĩa trang, đoạn nhìn thẳng vào mắt tôi, nó thì thầm:
- Vì ngôi mộ này nhỏ nhưng xinh xắn nhất ở đây và vì tên mẹ anh trùng với tên em.
- Bạn tên Phương?
Nó khẽ gật đầu, điệu bộ lúng túng như thể việc nó trùng tên với người đã chết là một bí mật thiêng liêng nó không muốn ai biết.
Tôi có thể nói gì? À, tôi phải hỏi nó điều này… - Bạn hình dung mẹ bạn, à quên, mẹ mình như thế nào?
Khuôn mặt con bé sáng lên tươi vui, dường như nó quên hẳn đàn bò. Ôi đàn bò đâu rồi?
- Khoan đã- Tôi vội vã nói- Đàn bò của bạn biến đâu mất rồi?
- Anh đừng lo. Chúng vừa đi xuống khuất dưới lưng chừng đồi, lát sau chúng sẽ hiện lên cho coi. - Ngừng một lát, nó nói tiếp - Anh hỏi em hình dung về mẹ em, à quên, mẹ anh như thế nào hả?- Giọng nó chợt thanh thoát như đang đọc một bài thơ - Em vẫn thường nói với đám bạn rằng mẹ mình cao lắm, đẹp lắm.
“Không đúng rồi, mẹ đâu có cao, nếu không muốn nói là khá thấp, và mẹ cũng đâu có đẹp lắm, chỉ có duyên thôi, như sau này ba hay nhắc tới.”
- Mặt mẹ hơi tròn, sáng như mặt trăng.
“Điểm này thì đúng”.
- Đôi mắt mẹ sâu, xanh biếc.
“Lại không đúng nữa rồi; mắt mẹ đen, to”. - Mũi thẳng, cao.
“Chỉ đúng một nửa; mũi mẹ thẳng nhưng không cao…” - Tóc mẹ dài thật là dài, như suối chảy…
“Không đúng; tóc mẹ như tóc con trai, thỉnh thoảng mẹ mới để tóc xõa tới vai.”
- Đó, chân dung của mẹ là vậy đó! Anh thấy mẹ đẹp không?
Tôi lúng túng một hồi rồi gật gật đầu, lòng có hơi bực bội vì con bé quá tự nhiên coi cái chân dung nó tưởng tượng ra đó là mẹ tôi thật. Lý ra nó phải hỏi tôi từng chi tiết một để hiệu chỉnh cho đúng với khuôn mặt và hình dáng xác thực của mẹ tôi chứ. Nhưng rồi tôi chợt hiểu có lẽ chân-dung-mẹ-tôi-do-con-bé vẽ ra đã in sâu trong tâm trí nó rồi, đã thành một tài sản quý báu của vô thức và linh hồn nó, khó có thể thay đổi được.
Ở phía lưng chừng đồi, đàn bò lại hiện dần lên. Mặt con bé chợt quay về phía đó, như có ai nhắc nhở, rồi quay nhìn tôi, đượm buồn:
- Anh sắp về hả?
Giọng nói thiết tha dễ thương của con bé làm tôi bồi hồi. - Bạn cũng sắp lùa bò về rồi mà?- Tôi nói.
- Không, em có thể nán lại được…
- Nhưng để làm gì?
Nó bước đến gần sát tôi, nói nhỏ như sợ có người nào nghe:
- Anh kể cho em nghe về một kỷ niệm về mẹ anh đi…Để em có thể kể lại cho đám bạn.
- Chứ lâu nay em chưa bịa ra được một chuyện nào à?- Nói vừa xong, tôi cảm thấy mình đã quá bộp chộp, lỡ lời. Nhưng con bé dường như không để ý điều đó.
- Không! Em không cách nào bịa được. Mỗi lần bạn bè hỏi tới chuyện đó, em ngắc ngứ, rồi khóc…Vậy là chúng không hỏi nữa. Anh kể cho em nghe một kỷ niệm nào nho nhỏ thôi, để em dễ thuộc lòng và ngày mai có thể kể ngay.
- Ừ, để mình nhớ xem…
“Thưở nhỏ, lúc đang học lớp sáu hay lớp bảy gì đó, mình ốm yếu, rụt rè lắm. Thấy vậy mẹ mới dắt mình tới một võ đường, gởi gắm mình cho một ông võ sư. Mình đến tập tành được vài ngày thì trốn học vì không chịu nổi đau đớn, ê ẩm. Ông giáo sư báo cho mẹ mình biết. Mẹ vừa chuẩn bị la mắng mình, thì mình xắn quần lên. Nhìn thấy mấy vết bầm to trên đầu gối mình, mẹ chỉ lặng lẽ khóc. Mẹ nói: “Mẹ lo quá, ngay cả khi tập làm quen với bạo lực để chống lại bạo lực con cũng không chịu được. Con của mẹ mai này chỉ có thể là nhà thơ thôi.” Vậy đó, có thể mình sẽ không bao giờ thành nhà thơ, nhưng chắc chắn là mình sẽ không bao giờ quen được với bạo lực.”
- Cảm động quá anh ha?
- Mình về nghe, mưa sắp tới rồi kìa. Và đàn bò nữa, chúng đang ngơ ngác đợi bạn đó.
- Anh về đi, nhớ nói với ba chuyện của em nghe!
Chúng tôi chào nhau, rồi quay lưng mỗi người đi về một hướng. Một tia chớp xé rạch khoảng trời trên đầu tôi. Ngay lúc đó tôi chợt nhận ra mình có thể đã mắc sai lầm: Mình là con trai thì mới có kỷ niệm gắn với chuyện võ nghệ đánh đấm, còn nó là con gái mà…
Tôi bước chậm lại, tần ngần, mặc cho bóng chiều đang dầy dần lên. Quay đầu nhìn con bé vì cảm thấy có lỗi với nó, tôi thấy nó đang nhảy chân sáo qua những gò đống mấp mô, ẩn hiện sau những ngôi mộ, hướng về phía đàn bò-đàn bò giờ đứng nép vào nhau thành một khối màu lạ lẫm, trong bối cảnh sắp mưa.
My company: www.procard.com.vn
0
RƯỚC XUÂN VÀO
Thanh Châu

- Lại mưa được rồi giời ạ!
Hai Tích nghe vợ vừa rửa bát vừa kêu như thế, tức thì anh đạp thốc cái cửa phên bước ra hè. Anh giơ tay ra ngoài trời nghe ngóng. Những hạt mưa bụi nhẹ như tơ bông rơi xuống bàn tay. Anh cười ha hả:
- Tiết xuân không mưa còn ra cái cóc gì!
Ban chiều ăn cơm cúng có rượu, Hai Tích “làm hơn một cút”. Tích không hay thế, nhưng thỉnh thoảng đi về mệt, anh ta cũng xin vợ mấy chén. Có rượu vào dễ ngủ. Cả đời, Hai Tích lúc nào cũng chưa được ngủ đẫy giấc. Có khi cầm dao cạo mặt cho khách anh ta cũng ngủ. Nhưng thần tình một cái là chưa cắt đứt tai đứt mũi người nào. Cũng như tài xế thuộc đường nhiều khi ngủ gà xe cũng không đâm xuống ruộng.
Một buổi, ở chợ Bưởi về, bạn đồng nghiệp rủ Tích vào hàng cơm đầu ghế Cửa Nam. Ở đây thường thì có dồi chó rất ngon, và ngày nào cũng có tiết canh lòng lợn.
- Bác sẽ nếm một cốc cái rượu thuốc ở đây, cứ gọi là hơn thuốc bổ, tha hồ ngủ.
Rượu thuốc? Mụ hàng cơm chế đấy. Cho một ít cam thảo vào, thế là rượu có màu và có mùi thơm.
Bạn làm xe cả ngày khắp Hà Nội, chiều đến đều quen vào đấy uống cho giãn gân trước khi về. Hai Tích cho là được lắm! Anh ta biết “uống” từ chiều hôm đó.

Tuy khắp bãi bờ sông lúc bấy giờ các nhà đã đóng kín cửa, nhưng nhà nào cũng có tiếng nói rì rầm. Hai Tích nghe như có bước chân ai đi về phía đê cao, và xa xa có tiếng hai mụ đàn bà đòi nợ chửi nhau, tiếng người, tiếng chó sủa ran. Anh thợ cạo sực nhớ rằng cái tết nhà mình đã đủ. Có hoa giấy ở bàn thờ, bánh chưng, tranh gà lợn, lại còn ít tiền trong đáy hòm, thế là sung sướng. Không ai “tần phiền” Hai Tích mà anh cũng chẳng cầu lụy ai. Ý nghĩ đó làm người đàn ông có chén đâm kêu ngạo, anh ta cười khanh khách và bỗng ngâm: “Tối ba mươi mở cửa rước xuân vào”.
Chỉ nghĩ được một câu như thế anh lấy làm bực. Hai Tích cũng không hiểu sao câu thơ đó ở đâu ra. Nhưng lúc này chị Hai Tích lại sực nhớ: đứa bé đẻ sau cùng chưa có áo tết.
Chị Hai Tích bận nhiều việc quá, bao nhiêu là việc, từ sáng đến chiều, chị nhớ làm sao xuể? Đáng lý ra chồng chị phải nhặc chị từ chiều chứ! Thế là bao tội lỗi chị quy cả vào chồng. Anh chồng đoảng, anh chồng vô vị, anh chồng chè rượu, năm hết tết đến còn say bét. Chị hét lên:
- Mày điên ruột lắm rồi!
Thấy chồng im người đàn bà hạ giọng: - Có biết gì không? Con Thu chưa có áo.
Hai Tích nhìn lên cái phản gỗ có ba đứa trẻ nằm co quắp ôm nhau ngủ, hai đứa con trai, một đứa con gái nhỏ. Ánh sáng chiếc đèn dầu tây vàng đỏ treo vách trải lên người chùng. Chúng ngủ rất say.
Hai Tích vớ cái khăn quấn cổ, lườm vợ mặt hầm hầm: - Làm cái nỡm gì mà bây giờ mới nói? Bỏ tiền đây!

Ra khỏi nhà, Hai Tích mới biết rằng trời lạnh quá. Tuy vậy, mưa bay vào mặt rất dễ chịu. Anh ta nhìn tứ phía, thấy dân cư trên bãi nhà nào cũng có ánh đèn. Anh nghe được cả tiếng nước sông Nhị Hà óc ách. Nhìn về phía thành phố sáng rực điện, anh thấy bờ đê cao quá, đen quá. Bờ đê như một bức thành ngăn cách bọn người ở phố và người ở bãi. Tối, tối mênh mông quanh người Hai Tích. Anh thu tay vào bụng và bước về phía ánh đèn, đường đi thấm mưa từ chiều trơn và lội.
Hai Tích đi đến Hàng Đậu thì rẽ sang Hàng Giấy, để xuống Hàng Đào. Anh ta biết chỉ ở đấy mới có bán đủ thứ người ta cần đến.
Chưa bao giờ Hai Tích được ung dung chơi dạo như đêm ba mươi tết này. Ngày thường buông đũa đã lăn ra ngủ. Đi làm về mệt còn đi đâu nữa, mà có đi chắc vợ cũng chẳng bằng lòng. Hai Tích đến phố Hàng Gai lúc nào không biết. Cái gì cũng ngắm, cũng cho là lạ mắt. Chốc lại sờ qua tờ bạc giấy nằm đáy túi áo trong, “nó” vẫn nằm yên ở đấy. Nhưng, không có cái áo trẻ con nào vừa ý, mà giá bán lại bằng số tiền trong túi của anh. Tủ kính sáng choang, các cửa hàng chưng bày biết bao nhiêu hàng đẹp nhất, bao nhiêu thứ xa hoa, khách đi đường ai cũng phải thèm, ai cũng phải dừng chân lại. Từng này tiền? Từng này tiền thi mua cái nợ gì? Hai Tích nghĩ đến người vợ chi li, keo kiệt ở nhà, và thấy bực. Anh không dám vào một cửa hàng nào hỏi giá nữa. Anh sợ người ta chế nhạo. Anh không quen mua bán như thế bao giờ. Đó là phần việc của đàn bà, của chị Hai, sao lại để anh đi?
Đến phố Hàng Bông, một tiếng nói to về phía tay phải làm cho Hai Tích giật mình đứng lại. Trên bậc cửa một hiệu núi tối tân, một người thợ cạo áo choàng khoác trắng tinh đang tiễn khách ra về. Người thọ đang còn trẻ, đầu chải bóng, lại đi giày, cúi đầu rất lịch sự chào người khách cuối cùng của một năm sắp hết.
Hai Tích nhìn rất chăm chú người đồng nghiệp, và thấy hắn không phải là một tay thợ cạo. Hắn khác mình đến chừng nào!
Hai Tích bỗng thấy trong lòng rầu rĩ quá. Hình ảnh Hai Tích, người thợ cạo rong, áo quần tiều tụy, xách một hòm gỗ đựng vuông khăn bẩn, con dao cùn, một cái “tông đơ”, một cái gương Tàu… hiện ra, đi thất thiểu trên các vỉa hè thành phố, các vùng chợ ngoại ô lầm bụi. Hai Tích rầu rĩ quá. Đêm ba mươi tết, cái nhà húi tóc tân thời sạch sẽ và làm dáng quá chừng! Hai Tích nhìn vào đấy như người ta nhìn một cảnh thiên đường. Ngày nào cũng vậy, từ sáng sớm đến
sẫm chiều, người thợ cạo rong cũng đã làm cho thiên hạ tất cả độ vài ba chục cái đầu hóa ra mới mẻ. Chao là những cái đầu! Những cái đầu mới sạch làm sao! Những cái đầu ở ngã ba, ngã bảy, hôi hám và đầy gàu. Những cái đầu của trẻ sài, lở, bôi phẩm xanh, để cho ruồi họp chợ. Những cái đầu tóc cứng như đanh, để rụng xuống vuông khăn quàng cổ những đám gàu, cả những con chấy nữa.
Hơn bù kém, mỗi ngày mười cái, như vậy một năm trời, hóa ra anh đã húi chừng ba ngàn sáu trăm năm mươi cái đầu người tứ chiếng rồi ư? Con số ấy làm cho Hai Tích nổi khùng. Chừng ấy cái đầu mà phải húi đứng, phải cạo, phải ráy tai, không một chút nào nghỉ cả. Có thể phát điên!
Hai Tích không dằn được nữa. Anh sinh ra đời có phải để đi ngoài đường như vậy mãi ư? Anh thấy mình có thể còn làm nhiều chuyện khác. Hai Tích thọc mạnh tay vào túi áo. Tờ bạc giấy của vợ đưa vẫn nằm yên trong đó. Từng ấy tiền ư? Đi uống rượu với anh em cũng không đủ dính môi, nữa là mua áo! Cả năm sao không mua áo, lại để đến ngày tận tháng cùng này? Con bé có thể mặc áo cũ ăn tết, can chi phải làm tội bố?
Hai Tích đâm ra thù tất cả. Anh thấy mình khốn nạn quá, không có một chút sinh thú gì trên đời. Người ta thở hết không khí của anh. Người ta sống hết cả phần anh. Hai Tích nhớ đến cái quán cơm của người phu xe ở Cửa Nam.

Lúc người thợ cạo rong về đến bờ đê, đến chỗ rẽ xuống bãi thì trời đã
khuya lắm, mưa bụi vẫn bay xuống như chập tối. Đầu anh nặng như chì, anh đi xiêu vẹo từ bờ đường trái sang phải, mồm vẫn hát huyên thuyên. Tuy vậy có lúc nhớ đến vợ, và áo tết của con, cũng thoáng lo, nhưng chỉ lát sau anh lại thấy mình có quyền làm bất cứ sự gì. Đường đi trước mặt vắng tanh, nếu không anh có thể gây sự vớ bất cứ ai lúc đó. Nhưng, có tiếng người nào rên ghê gớm thế kia? Người hay quỷ mà giờ này còn lù lù một đống cạnh cái xe bò ai quẳng ở chân đê vậy? Tiếng rên như một con vật bị chọc tiết, một con chim lạ. Hai Tích phát rùng mình, trố mắt cố nhìn qua đêm tối. Anh đoán, đêm ba mươi hẳn đó là một tên gian phục đấy để “rình mồi”. Hay đây là một kẻ ăn mày vô gia cư, một thằng điên? Gần như tỉnh rượu, Hai Tích đánh bạo bước đến mấy bước, và tự hỏi:
- Mày sợ à? Sợ cái gì mới được, tiền thì uống rượu hết rồi, còn gì để cho ai ăn cướp? Không khéo ở đây có người sắp chết, sao mình lại bỏ đi?
Hai Tích nghe như ai nói trong đầu mình vậy, nào để xem ai… Anh đi từng bước thận trọng về phía xe bò. Ồ, đó chỉ là một người đang gục đầu vào càng xe mà nôn thốc nôn tháo. Một người say rượu nữa? Anh đặt tay run run lên vai người lạ. Bỗng người đó thấy động kêu lên:
- Các ông các bà mặc xác tôi, tôi ngủ ở đây, tôi thích thế đấy! Hai Tích bật cười, nhưng lại thấy mủi lòng:
- Hẳn lão ta có gì phẫn đấy!
Anh đập vào vai người lạ:
- Này, để tôi đưa về nhà nhé?
Người say cười rinh rích:
- Đưa tôi về thật chứ? Xin thề với ông là tôi chưa từng có một cái nhà… cả đêm nay nữa, tôi đếch có cần!
Hai Tích vốn là người có sức, mặc dù đang chếng choáng anh cũng cứ xốc nách người đó đứng lên. Hai cái bòng dìu nhau chập choạng trong đêm mưa ướt. Hai Tích nghĩ: “Không thể để lão này ngộ cảm chết như một con chó hoang ở bãi này… Ta đưa hắn về nhà, chắc chắn vợ ta không thích”.

Chị Hai Tích thu vén trong nhà xong ngồi ăn một miếng trầu. Nhưng chị nghỉ không lâu, chị không quen ngồi rỗi bao giờ. Chị đứng lên tìm mấy cái áo rách của chồng con, đó là thói quen của tất cả đàn bà suốt đời vá víu.
Gió lồng lộng từ phía sông lên, mưa rỗ trên mái lều càng nặng hạt. Chị Hai Tích thương chồng. Chị lo người ta bán đắt cho chồng, lo không đủ tiền mua nổi áo cho con, khéo mặc cả thì mua được chiếc áo len, con bé sẽ ấm hơn, nó sẽ mừng biết mấy!
Chị lại nghĩ: hắn thật thà quá, một đứa trẻ cũng đánh lừa hắn được.
Người vợ phó cạo đang tính vậy thì nghe có tiếng chân người bước vào nhà. Chị lắng tai và nhận ra tiếng Hai Tích đang hát như người hóa dại.
Cánh cửa mở ra, một mùi men ghê gớm bay vào mũi người đàn bà vất vả.
Chị Hai Tích run lên, chị hiểu rồi, chị hiểu rồi: người ta đem tiền của chị đi uống rượu với quân vô lại, uống mất áo của con rồi! Để cho hai người đàn ông vào nhà, chị chưa muốn nói gì vội. Chị nén giận xuống như người ta nén thuốc pháo. Chị dò xét người lạ, chị thấy hắn đứng sững như trời trồng giữa nhà và không cử động, đầu cúi gục. Chị nghĩ: nó không dám nhìn ta, nó sợ, ta sẽ đuổi nó đi ngay bây giờ.
Bỗng Hai Tích giơ tay ra mời người lạ:
- Bác ngồi xuống đây bác ạ, rồi chúng ta ăn một miếng gì cho ấm bụng… bác có uống nữa không… sẽ còn rượu cho bác uống, yên tâm, bác sẽ ngủ lại đây ăn tết với tôi…
Nói vậy, người thợ cạo nghển cổ nhìn lên bàn thờ, nhận ra lờ mờ một chồng bốn cái bánh chưng, một quả bòng, một đĩa cam ngô, vài đĩa bánh thờ, và rượu…
Người lạ mặt vẫn im, gục đầu xuống nữa và nôn ọe.
Chị Hai Tích nhảy chồm lên dữ tợn như một con muông đang có chữa, chỉ một bước chị đã tới gần chồng, chị hét vào tai người thợ cạo:
- Tiền đâu hả? Tiền đâu?
Hai Tích không thèm nói lại, anh kéo người “bạn mới” lại giường anh, cố ấn người lão ta nằm xuống chiếu. Làm xong việc ấy anh mới thọc tay vào túi áo, và quẳng ra mấy đồng xu còn sót lại.
Chị Hai Tích bò ngay ra đất và la trời. Chị kêu khóc, lu loa như trong nhà vừa có kẻ từ trần. Chị kể lể những chuyện mười năm trước, chị oán mẹ đã gã mình cho một kẻ thất phu, chị phân bua với hàng xóm rằng mình quả là một người đàn bà nhục quá, rằng gầm trời không có ai khổ hơn mình. Chị chạy băng ra bãi, tìm đến những chị em cùng cảnh.

Đêm đã khuya, nhưng chị Hai Tích không sao ngủ được. Chị vẫn lắng nghe tiếng ngáy của chồng nằm ngủ phục trên giường và càng thấy giận. Người lạ mặt nằm cứng đờ như một xác chết. Người đàn ông nằm không đắp chiếu. Chị Hai Tích thấy lo, nhỡ có thế nào… chị rón rén đứng dậy đi tìm đèn, rón rén đến gần người lạ nghe ngóng. Thấy lão ta còn thở, chị thấy mừng trở lại chỗ nằm.
Chị Hai Tích vẫn không ngủ được, nằm với một lũ con ba đứa tỏa hơi ấm trong đêm về sáng, chị nhớ lại những ngày hàn vi cực nhục của đời mình… Hai vợ chồng lấy nhau cùng xơ xác, vợ đi bán quà rong, chồng đi cạo… cái túp lều đầu tiên trên bãi… những ngày nhịn đói, những ngày thai nghén ốm đau, những ngày bồng con chạy lụt trên đê… nước sông Nhị Hà như máu đuổi dân cư ở bãi lên đê mỗi năm một bận, cái lều của chị tan tành… những người mất con, mất của than khóc chung quanh, ai cũng khổ cũng rách, cũng kêu trời… Chị Hai Tích ôm con ngồi đợi nước rút, đói khát, không còn sữa cho con… Hai đứa trẻ đầu lòng ngày nay đã lớn, một đứa đi đánh giày mũ thuê trong thành phố, một đứa theo trẻ làm xiếc trên xe điện, hai đứa đã kiếm được tiền… còn con bé út, lớn lên nó sẽ đi khâu hay đi bán hạt dẻ, hạt bí rang, nó cũng sẽ giúp được chị phần nào… trời sinh voi sinh cỏ… Con người cứ đắp đổi lần hồi, trời không để chết ai…
Hai Tích cựa mình nói mê lảm nhảm. Nhìn sang chỗ chồng nằm, chị bỗng thấy mình quá đáng: hắn làm ăn suốt cả năm… Chị lại đứng lên đi tìm chiếu đắp cho chồng, và cũng nhẹ tay đắp một chiếc khác cho người lạ mặt.
Người lạ mặt, hình như hơi tỉnh, lão ta cựa quậy như một con sâu, tự nhiên bật nói:
- Tôi xin phép hai bác, tôi đi ngay bây giờ không dám phiền hai bác…
Về bên phía giường Hai Tích, cũng có tiếng người thợ cạo cất lên, như đang nói với một khách quen vẫn cạo mặt thường ngày:
- Không dám, cụ lại nhà… cháu xin cụ thế thôi…
Chị Hai Tích suýt bật cười, chị mím môi cố nén, như thấy tiêu tán hết thảy giận hờn trong bụng. Chị đi nhóm bếp, đốt củi lên cho ấm cả nhà. Ngoài bãi, gió sông thổi vào các khe hở những túp lều trên bãi vi vu như sáo.
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 22:10:12Ct.Ly>
NHỮNG NGÔI SAO RỤNG
Thanh Châu

Những ngôi sao trên trời hình như đôi khi cũng có chuyện đau buồn. Ai có thể nói là trên cái thế giới tuyệt vời kia không có chuyện khổ não?

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn ông em nhiều nhé

Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:17:11Ct.Ly>
CON GÁI
Hoàng Dạ Thi

Mùa hè. Căn phòng của chị em nó bây giờ sơn màu xanh lơ, trên bậu cửa sổ đã quấn quít

Đã mang vào thư viện
Cảm ơn Ong em nhé
Thân thương
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:19:41Ct.Ly>
CHUYỆN MỘT NGƯỜI KHÔNG ĐIÊN
Nga Mi

Nếu bạn đang sống ở Sài Gòn hoặc một dịp nào đó bạn đến thành phố này, hãy bỏ một

Đã mang vào thư viện
Tình thân
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:22:01Ct.Ly>
CÔ GÁI KHÔNG SỢ SÂU
Nga Mi

Tất cả con trai lớp tôi đều gọi Thảo bằng một cái tên "Không sợ sâu" vì trong một trường đại học ở cái thành phố lớn hàng đầu đất nước như thế này, một cô gái không biết sợ sâu quả thật là ấn tượng.


Đã mang vào thư viện
Càm ơn ong em nhé
Thân
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:24:01Ct.Ly>
LỤC BÌNH TIM TÍM
Nga Mi

Tím đến nhà tôi ở lúc tôi vùa lên bốn tuổi còn chị hình như cũng đã mười tuổi. Dạo ấy, mẹ tôi vừa sinh thêm em bé, ba đi làm xa còn mẹ phải trông cửa hàng nên cần một người bế


Đã mang vào thư viện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:32:10Ct.Ly>
MÙA THU TÓC NGẮN
Nga Mi

“Mày ngông nghênh vừa thôi con ơi!” - Mẹ tôi buồn rầu bảo thế. Giọng mẹ nhàn nhạt như thế đã quá mệt mỏi về việc nhắc nhở ấy lắm rồi.
Mà từ khi sinh ra tôi, mẹ phải nhắc nhở như thế bao nhiêu lần. Chắc là mẹ rất buồn rầu

Đã mang vào trang thư voiện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:34:31Ct.Ly>
MÙA THU XÔN XAO
Nga Mi

Trường mới nằm cạnh một con đường lớn, suốt ngày xe cộ chạy qua ầm ầm, nom nó thật

Đã mang vào thư viện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:37:16Ct.Ly>
[center
MƯỜI CHÍN
Hoàng Dạ Thi

6 giờ 45. Mắt nhắm mắt mở rúc đầu vào tủ lôi ra cái áo thun và quần Jean, chớp nhoáng

Đã mang vào thư viện
Chuíc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:40:23Ct.Ly>
KHÔNG THA THỨ
Hoàng Dạ Thi

Mưa rơi ào ào xuống phố, thỉnh thoảng lại tạt vào phòng, mấy tấm rèm cửa sổ ướt nhẹp.

Đã mang vào thư viện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:44:10Ct.Ly>
MỘT CHUYẾN ĐI
Nguyễn Danh Lam

Khi anh về đến nhà, cô vẫn chưa về. Chiếc đồng hồ treo tường chỉ con số 9, nhưng anh chưa một lần tin rằng nó chỉ đúng. Đôi khi bảy giờ nó buông bốn tiếng chuông và giờ trên ti vi lúc ấy là sáu. Anh xé một tờ lịch, lật mặt sau, miệng ngậm nắp bút bi, ghi vài dòng:

Đã mang vào thư viện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-03 11:46:38Ct.Ly>
ĐÊM ĐỘT QUỴ
Trương Thị Kim Chi

Nàng thảng thốt kinh hoàng khi nhìn thấy chiếc áo nền trắng kẻ sọc nâu nhạt. Dĩ nhiên nàng sẽ hững hờ nếu như phía trên chiếc áo ấy không phải là khuôn mặt của ông, mái đầu của ông. Nàng có thể nhớ rõ như in vài sợi tóc chớm bạc ở hai bên thái dương... Cũng may, người ta đẩy chiếc giường đó quẹo xuống. Và vì hai bên đã kín chỗ nên ông phải nằm ở lối đi giữa, gần cuối phòng.


Đã mang vào thư viện
Chúc vui
My company: www.procard.com.vn
0
Những truyện ngắn của Nguyễn Chí Hải, đã được mang vào thư viện

Chờ những truyện ngắn tiếp nối Ông Em há [:D][8D]

Chúc vui và nhiều may mắn trên đường tương lai
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:15:03Ct.Ly>
ĐI QUA GIAO THỪA
Hoàng Đình Quang

Tôi vừa mở mắt, trời đất hãy còn lờ nhờ tối đã thấy Thuật bưng về hai chậu cúc vạn thọ,

Đã mang vào thư viện
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:14:19Ct.Ly>
PHIÊN CHỢ TẾT CUỐI CÙNG
Hoàng Đình Quang

Cho đến tận bây giờ, đã hơn ba mươi năm qua rồi nhưng không hiểu sao tôi vẫn cứ đinh ninh rằng tiết đại hàn phải rơi vào ngày hai mươi sáu tháng Chạp, dù rằng lịch thiên văn

Đã mang vào thư viện
Cảm ơn Ông em nhiều nhé
Tình thân
My company: www.procard.com.vn
0
TRIẾT LÝ THỢ HỒ
Hoàng Đình Quang

Tốt nghiệp lớp mười hai, tôi thi rớt đại học, cả ba trường đều rớt. Tôi không buồn lắm, ba tôi không nói gì, chỉ có mẹ thì thật buồn. Mẹ buồn, đôi mắt mẹ trễ xuống, không nhìn thẳng, không nhìn ai mà hình như mẹ tìm một cái gì đó, có lẽ là tương lai của tôi. Tương lai của tôi? Tôi nhận quyết định nhập ngũ rồi hào hứng theo đám tân binh lên Trại huấn luyện Phú Giáo. Sau ba tháng, tôi được bổ sung về phòng hậu cần tỉnh đội. Ở một cơ quan "oách-xì dầu" này, tôi lại được biên chế vào một bộ phận nghe cũng oách không kém: Đội xây dựng cơ bản! Nghe vậy, nhưng không phải vậy mà chúng tôi là một "tiểu đội thợ hồ". Thì mọi nhẽ cũng đến vậy là cùng. Ai cũng nghĩ làm anh bộ đội thì chiến đấu ngoan cường, từ nhân dân mà ra, kẻ thù nào cũng đánh thắng... Kẻ thù của chúng tôi bây giờ là những bao xi măng, còn những hố móng có lẽ còn phức tạp hơn cả giao thông hào ngày xưa. Tuổi mười tám rưỡi của tôi vốn đã được đô thị hóa nên còn lẳng khẳng lắm. Cũng qua mau, cái thời hạn hai năm, tôi xuất ngũ. Trở về nhà với vốn liếng xạ kích bài một, ba bài chính trị cơ bản và trình độ "thợ hồ bậc bét", tôi thấy mẹ vui lên một chút. Còn ba:
- Thằng này có tay nghề "công nhân xây dựng" do quân đội đào tạo, về nhà nghỉ ít bữa rồi tao qua nói với chú Tiền, cho mầy theo chả!
Mẹ tôi bừng mặt:
- Cái gì? Ông tính cho nó theo cái nghề thợ hồ suốt đời chắc?
Ba tôi vẫn cười, lạc quan:
- Thì làm sao? Má bây nghĩ nghề thầu xây dựng kém lắm hả?!
Chú Tiền với ba là bạn từ hồi nào, tôi không biết, chỉ nghe nói chú tốt nghiệp kiến trúc sư đã lâu, làm cho nhà nước mấy năm. Gặp lúc đổi mới, chú nhảy ra mở cơ sở xây dựng, rồi thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Nghe ba và mẹ nói với nhau như vậy, tôi thấy cũng cần phải bày tỏ ý kiến:
- Làm chỗ chú Tiền lương khá không ba?
- Khá hay không còn do nơi mình! Mầy mà ngon, chả cho mầy làm cai, làm sếp, chắc là lương cao à...
- Vậy cho con theo ổng! Tôi quyết định, rất nhanh gọn.
Ba tôi nói để ba dẫn tôi tới "bàn giao" cho chú Tiền, nhưng tôi không muốn. Chú Tiền tuổi còn trẻ nhưng cái trán đã rộng, cằm hơi hóp lại, ngó bộ vó không mấy rộng rãi. Ngắm tôi hết lượt từ đầu tóc tới đôi giày vải bố:
- Biết xây?
- Thưa chú, con biết xây, mà xây nhà... cầu cho đại đội không à...
Tôi tưởng chú Tiền thế nào cũng làm nghiêm mà nẹt cho tôi một chặp. Nào ngờ, ổng ngửa người ra ghế mà cười in hệt cải lương:
- Giỏi! Giỏi lắm, thanh niên bây giờ đi xin việc mà dám nói năng tục tĩu vậy là nhất xứ rồi!
Chú Tiền không nói gì nữa mà kêu qua máy bộ đàm: Ông Năm hả? Lên văn phòng tôi có chút việc, nghe!
Có tiếng gõ cửa nhẹ, rồi cánh cửa bằng nhựa màu trắng ngà được đẩy ra. Một ông già râu tua tủa trắng, cái lưng hơi cong xuống trong chiếc sơ mi bợt màu, mỏng dính. Ông già nhìn tôi rồi hơi khom mình xuống:
- Ông ... cho gọi tôi?
Chú Tiền ngẩng lên, ngó thẳng vào tôi, nhưng miệng lại nói với ông già:
- Ông Năm ngồi xuống đây! Ông biết thằng này không? Nó là thằng con quý tử của Ba Nghĩa, bạn tôi. Đi nghĩa vụ về, biết xây nhà cầu cho đại đội đi cầu tập thể. Tôi giao nó cho tổ ông, ráng kèm cặp nó nghe ông Năm!
Tôi cúi đầu, nhí nhí chào sư phụ một cách kính cẩn:
- Con chào ông Năm!...
Ông già Năm vẫn ngồi im, đầu hơi cúi xuống. Chú Tiền nói thêm:
- Nó biết võ vẽ nghề xây nhờ đi nghĩa vụ. Thôi, theo ông Năm về tổ đi!
Tôi đi theo ông già sư phụ, đầu ngẩng lên vẻ hiên ngang, bất cần. Vài khúc cây tháo từ giàn giáo ra tua tủa những đinh là đinh được đóng với nhau lỏng lẻo, gác lên vài tấm tôn phi-brô-xi-măng. Đó là lán của thợ hồ, chỏng chơ vài tấm ván dính đầy xi măng làm giường. Tôi không lấy thế làm bi quan, bởi vì tôi tin vào cái số của mình thế nào cũng có ngày lên cai, lên sếp.
Với ông Năm, mọi người chỉ biết ông thứ Năm, không rõ tên gì, đôi khi để khỏi lẫn lộn với vô vàn những ông Năm khác, người ta gọi ông bằng cái tên Năm Thợ Hồ, viết hoa hẳn hoi. Tóc bạc, râu thưa nhưng cũng bạc, chỉ có cặp chân mày là đen thui, lại dựng ngược, hơi xiên vào trong, nom khá dữ. Nhưng tánh ông hiền khô. Đã vậy lai hơi gù lưng, đến nỗi vai áo ông bạc phếch vì nhô ra dưới bầu trời, không nón mũ nào che kín.
Ngày đầu tiên đi làm về mọi nơi trong cơ thể tôi đau rã rợi, bắp tay như có ai nện còn bàn tay phồng lên ứ máu vì đập gạch, kéo xô. So với những ngày ở quân ngũ thì đội thợ hồ của ông Năm quả là khổ sai. Nằm xuống, tôi ngủ được một giấc ngắn, rồi tỉnh giấc không sao ngủ lại được. Sao thế nhỉ? Hai mươi hai tuổi mà nhuốm già, là có bệnh rồi! Những ngày sau, tôi sung vào tổ bẻ sắt, không phải lao lực như đánh vữa, nhưng tay chân đổ tóe máu tươi, mồ hôi ra xót đến tận tim gan. Cực thật.
Rồi một lần, tính tò mò cộng với sự tự tin thái quá mà tôi đâm ra dại dột, hỏi ông Năm một câu:
- Bác Năm à, có phải ngày xưa chú Tiền đưa bác từ Cần Thơ về phải không?
Ông Năm ngừng tay xẻng, nhìn tôi như kẻ ăn trộm nhìn một viên cảnh sát, khẽ gật đầu. Cặp chân mày đen bóng của ông càng xiên vào đến tận tinh mũi. Ông không nói gì, lại tếp tục công việc. Tôi biết mình dại, lo lắng. Chợt ông Năm nhìn tôi:
- Cậu học hết lớp 12 rồi phải không?
- Dạ, phải! Có chi vậy bác Năm?
- Đi nghĩa vụ về?
- Dạ!
Tôi không hiểu ông già sẽ định làm gì tôi đây, nên người gồng cứng sẵn sàng ứng phó. Bỗng ông chìa bàn tay đầy những ngón thô ngắn và sần sùi những vết sẹo trắng nhởn ra trước mặt tôi:
- Mầy cho bác điếu thuốc...
Vẻ chân tình ấy làm lòng tôi xuất hiện một cảm giác thân thiện và kính trọng ông già. Những ý nghĩ về một ông lão bơ vơ bị bỏ rơi rớt, một con người tầm thường trong một cái nghề tầm thường bỗng tan biến. Tuổi trẻ của chúng tôi là như vậy, yêu đấy, ghét đấy, trọng đấy và rồi khinh đấy, như hai mặt của bàn tay, khó mà kiên định được. Hai năm trong quân ngũ, rồi trở về tôi khát khao có một tình bạn hữu. Trong lý lịch quân nhân của tôi có mục "Bạn thân nhất", tôi ghi vô số kể, hiềm là hết giấy. Thế nhưng rồi sau đấy, tôi nghĩ về họ, những người bạn thân của tôi cũng dần dần lui vào hậu trường của trí nhớ. Tôi lại lăn mình vào cuộc mưu sinh, lại có những người bạn mới. Và, trong thân tâm tôi coi ông già Thợ hồ, vừa nghèo, vừa hèn là bạn. Đúng, ông chỉ là bạn của tôi thôi, bạn già.
Một lần, tôi tính mua chiếc xe cũ của anh Chín, cùng tổ. Chiếc xe Dame đời YJ, ọp ẹp, giá bảy chỉ, nhưng tôi mới để dành được bốn chỉ. Xin trả góp, anh Chín không chịu. Thấy thế, ông Năm gọi tôi ra, đưa cho tôi xấp tiền:
-Tao có chừng đây, đủ trả cho thằng Chín không?
Tôi ngần ngừ rồi cầm lấy xấp bạc, đếm thấy vừa đúng ba chỉ. Có xe rồi, nhưng tôi mang nợ. Tôi không thích nợ, đúng ra là sợ nợ nần, dù nợ ông bạn già. Ông không đòi, nhưng tôi cứ thấy áy náy. Thế rồi, tôi tích cóp, xin thêm mẹ, nửa năm sau đủ tiền trả ông Năm. Ông cầm tiền, dẫn tôi ra quán, chỉ xuống ghế:
-Tao bao mầy chầu nhậu nầy, nhưng tao phải cho mầy một bài học...
Tôi lo lắng nhìn ông, nhưng không dám hỏi. Uống ba ly rượu thuốc, ông đặt ly xuống:
-Cái tướng mầy không giàu nổi đâu, con ạ!
-Sao vậy ông Năm?
-Còn sao nữa. Ông Năm bỗng nổi nóng. Mang nợ mà vội vàng đem trả, thì chẳng bao giờ khá nổi...
-Ông Năm biểu con...?
Thôi được rồi, nghe đây? Có lần mầy hỏi tao rằng ông Tiền "đem" tao về đây phải không? Đúng. Khi đó tao cũng có tiền, cũng xênh xang lắm, vì tao có nghề. Nghe ông Tiền vừa mở công ty, ổng kêu tao về giúp. Tao nghe theo, nghĩ mình ít văn hóa, rốt cuộc cũng chỉ là một thằng thợ quèn. Về làm với người có học, lại có kinh nghiệm làm trong nhà nước, biết đâu chả có ngày thành danh phận, nở mặt với thiên hạ. Nhưng làm với nhau một thời gian, tao mới biết, thằng chả không hề có một đồng cắc, ngoài số tiền ba cây vàng của tao. Nhưng Tiền là người giỏi vay mượn và cũng có tài... lỳ! Khi mượn ai, Tiền hứa ngon lành, nhưng khi trả thì lờ đi. Đòi gắt, có tới cả chục lần, hắn trả, nhưng lúc đó giá trị chỉ còn một nửa, phần vì giá đất tăng lên, phần vì đồng tiền tụt giá. Tao nghĩ, Tiền giầu là phải, ai như mầy, nợ có vài chỉ vàng đã vội vàng mang trả? Làm sao mà giàu được hả con?
Tôi giật mình vì sự thật, và càng giật mình hơn vì cái kiểu triết lý của ông Năm Thợ Hồ!
Sau một năm nhận việc, quả đúng như lời dự đoán của ba tôi, tôi được giao chúc "cai", tức tổ trưởng. Ở công ty của chú Tiền, và trong nghề thợ hồ,là phải dùng chữ "cai" mới đúng. Nhàn, lương cao, oai, và rất có nhiều thực lực lại chẳng phải chịu trách nhiệm gì, vì suy cho cùng cũng chỉ là anh làm thuê, như những người khác, nhưng họ là "phu"! Một hôm, tôi được vời về văn phòng. Ở đó, tôi thấy có nhiều người lạ và đặc biệt, có một chiếc xe jeep chở mấy người công an tới. Họ nhảy ra khỏi xe và đứng trước mặt chú Tiền, giám đốc của tôi, một người dõng dạc đọc Lệnh bắt tạm gia giám đốc. Trong khi bao nhiêu người sững sờ run rẩy thì tôi lại cảm thấy bình thản, như là mình đã được biết trước. Trên đường trở về đội, tôi mới cảm thấy lo, lo cho chú Tiền và lo cho cả chính tôi. Ông Năm nhìn thấy tôi bơ thờ, rồi hỏi:
- Ổng có bị còng tay không?
Tôi lắc đầu, gieo mình xuống bộ ván.
Vài năm sau, chú Tiền được tha, nhưng chú không thành lập công ty nữa mà chuyên mua bán xe máy cũ. Đến chơi nhà tôi, chú rủ tôi theo chú nhưng tôi từ chối.
Công ty giải thể từ ngày chú Tiền bị bắt, thế rồi, tôi lại làm đệ tử của bác Năm. Thầy trò tôi dắt díu nhau đi tìm việc, ai bảo gì cũng làm, nhưng chỉ xung quanh việc xây xoẳng, vôi vữa, xi măng. Vào dịp gần Tết chúng tôi cũng kiếm được khối tiền. Tôi theo bác Năm, cùng làm, cùng ăn, cùng ngủ, thỉnh thoảng về thăm ba mẹ, đưa cho mẹ ít tiền, ngồi nhà một chút rồi lại đi.
Một hôm bác bảo tôi:
-Sức ta hồi này thấy yếu rồi Hải à! Không biết còn làm được bao lâu nữa. Bác hỏi thiệt mầy nha: mầy có định làm nghề này lâu dài không?
Tôi lúng túng chưa biết trả lời sao, đành nói thật:
-Con tính theo bác Năm đặng học nghề tới khi nào...
Ông già cười méo mó:
-Tới khi nào ta chết phải không? Được đó! Nghề này nó cực nhưng không bạc. Tuy nhiên, để theo được nó cần phải hiểu nó. Nó cũng có một triết lý nghề nghiệp, như mọi triết lý nhân sinh...
Tôi hấp tấp hỏi:
-Triết lý sao bác Năm?
-Ngày mai, mầy sẽ biết!
Sáng hôm sau, hai thầy trò tôi lại ngồi uống cà phê đầu hẻm. Ngồi mãi, không thấy ông Năm nói gì về công việc, nhất là cái "triết lý nhân sinh" của ông. Tôi đang sốt ruột thì ông bảo:
-Mười giờ trưa nay, mầy pha cho tao một thùng vôi màu, và một cây chổi. Thầy trò mình được làm khách, khách sang à nghen!
Tôi làm theo, chúng tôi ngồi xe ba bánh đến trước một ngôi nhà sang trọng. Bấm chuông, người ra mở cửa, tôi giật mình: chú Tiền! Trong nhà lô nhô người, chúng tôi được mời vào bàn tiệc. Toàn những người sang trọng, có cả các cô gái nõn nà, xinh đẹp và có vẻ ngả ngớn. Chú Tiền trấn an khách khứa có vẻ như đang ngạc nhiên trước sự có mặt của chúng tôi:
-Giới thiệu với anh em, đây là ông Năm Thợ Hồ, người có tài quét vôi nhất nhì thành phố. Hôm nay tôi mời ổng đến "biểu diễn" cho chúng ta coi. Đảm bảo vui! Bây giờ mọi người cứ tự nhiên ăn nhậu, coi như không có chuyện gì xảy ra. Mà tôi thì lại muốn quét vôi cái trần này...
Chú Tiền chỉ lên trần nhà, nói với chúng tôi:
-Bắt đầu đi, ông Năm... Nếu ông quét vôi xong cái trần này mà không một giọt nào rơi xuống, ông sẽ nhận được một cây vàng. Còn nếu có giọt nào rớt xuống thì ông không mất gì cả...
Ông Năm không nói gì, sắc mặt chợt đỏ bừng lên rồi tái ngắt, lặng lẽ bắc cái thang chống bên cạng bàn nhậu, leo lên rồi ra hiệu cho tôi đưa vôi và chổi cho ông. Khách bên dưới, lo lắng nhìn lên, thì chú Tiền giục "dzô đi! Dzô!". Bàn tay co quắp và cáng tay khô cứng của ông bắt đầu vươn ra, từng nhát chổi ướt vôi lướt trên trần nhà. Dù chú Tiền có giục thế nào, các quý vị phong lưu bên dưới cũng không tài nào ăn uống được. Có lẽ họ sợ không chỉ một giọt nước vôi màu mà có khi cả cái thùng sơn ụp lên đầu họ. Tôi muốn hét lên "Dừng cái trò bỉ ổi này lại, bác Năm! Nhưng tôi cũng lại muốn ông Năm chiến thắng! Thời gian như ngưng lại, và, khi nhát chổi cuối cùng của ông kết thúc, tôi đỡ thang cho ông xuống, hơn chục cặp mắt đỏ đi soi mói, vẫn không tìm thấy một giọ vôi nào trên mặt bàn. Mọi người lặng ngắt, còn sắc mặt chú Tiền đang từ xám ngắt bỗng trở nên đỏ tía. Giọng chú lắp bắp:
-Ông... ông N… Năm! Ông giỏi quá. Nhưng hôm nay tôi xin tạm... thiếu ông...
Như đã biết trước, ông Năm ra hiệu cho tôi gấp thang, xách xô và chổi, còn ông đi thẳng, không chào ai. Tôi đuổi theo ông ra cổng nhà chú Tiền:
-Bác Năm, chú Tiền lại... xù?
-Không sao! Ta đi dặm cái chuồng heo cho bà Bảy...
Không thể nén được sự kính phục, tôi hỏi nhỏ:
-Bác Năm? Có bí quyết gì mà bác không để sớt một giọt?
-Không! Không phải bí quyết, mà là triết lý!
-Triết lý?
-Đúng! Đừng có tham! Mỗi lần nhúng vôi, chỉ quét một nhát. Nếu tham, sẽ hỏng!
Thì ra thế! Đúng là một triết lý nhân sinh!
My company: www.procard.com.vn
0