📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chùm Truyện Ngắn Nhiều Tác Giả 🔒

72 trả lời, 8.756 lượt xem — Trang 3 / 3
MỘT NGƯỜI SÀI GÒN
Hoàng Đình Quang

Hội Nhà văn thành phố tổ chức một trại viết về đề tài "xoá đói giảm nghèo", tôi cũng được mời tham gia. Xem qua danh sách các cá nhân điển hình trong phong trào này, tôi thấy có một bà ở quận Nhất, chủ một quán phở. Bà chủ quán này được Quỹ đầu tư cho một số vốn không nhỏ. Tôi hỏi chị Ba Sương phó ban, rằng sao quỹ "xóa đói giảm nghèo" lại đầu tư cho chủ quán phở? Đã chủ quán thì làm sao mà đói, mà nghèo được? Chị Ba bảo tôi cứ xuống đó sẽ thấy.
Tôi đến quán phở "Lan" là buổi chiều, quán nghỉ bán, nhưng cửa vẫn mở. Hỏi bà chủ quán, một ông già độ ngoài sáu mươi nói giọng Bắc, gọi với vào trong: Cô Năm ơi, có người kiếm! Lát sau, bà Năm chủ quán từ nhà trong đi ra, mời tôi ngồi, kêu một cô bé lấy nước uống. Tôi trình bày ý định của mình. Nghe xong, bà cười:
-Trời đất thiên địa quỷ thần ơi! Tôi đâu có làm cái gì mà điển hình điển bóng! Tối ngày chỉ biết có buôn bán. Viết tầm bậy tầm bạ lên báo, người ta cười chết!
-Sao lại tầm bậy, tầm bạ? Đúng người thật việc thật chứ?
Bà Năm đính chính:
-Tôi nói tôi tầm bậy tầm bạ, đâu có nói nhà báo! Nhiều người giàu có giỏi giang gấp mấy chục lần tôi kia! Thôi, ông tới chỗ đó mà hỏi...
-Tôi viết về "xóa đói giảm nghèo" chứ đâu có viết người giàu. Có đúng là Quỹ cho chị vay năm triệu không?
-À... Có! Ừa mà cũng nhờ có năm triệu đó mà tôi mở mang ra được.
-Trước đây chị cũng thuộc diện xóa...
-Không! Trước đây lâu lắm rồi, thì gia đình tôi đúng là quá đói, nhưng lại chưa có Quỹ "xóa đói - giảm nghèo". Bây giờ thì khá rồi, nhưng tôi vẫn được đầu tư...
Qua lời bà Năm tôi mới hiểu lời chị Ba phó ban nói hôm ở trên văn phòng. Thì ra Quỹ "xóa đói - giảm nghèo" đầu tư cho những hộ khá, có nghề, có cơ sở làm ăn, rồi nhận lao động từ những hộ trong diện phải xoá. Hèn nào, người ta nói Quỹ "xóa đói - giảm nghèo" đầu tư cho người giàu! Tôi hỏi tiếp:
-Trước giờ chị có làm nghề buôn bán không?
-Thưa có! Hồi mới giải phóng tôi bán trái cây trên Sài Gòn, Chợ Cũ. Sau đi kinh tế mới...
Vậy ra chị là người Sài Gòn lâu đời, hay nói như ngoài Hà Nội là "Sài Gòn Gốc". Bởi chỉ có người ở Sài Gòn lâu đời thì mới gọi khu chợ Bến Thành - Lê Lợi - Hàm Nghi - Nguyễn Huệ là Sài Gòn, hay Chợ Cũ có khi nhà họ cũng chỉ quanh trong quận Nhất, quận ba thôi. Còn những người đến sau này, hay khách ở các tỉnh khác đến thì gọi là trung tâm thành phố, hay quận Một!
-Hồi trước tôi cũng có quen một người bán trái cây ngay góc đường Hàm Nghi - Tôn Thất Đạm, không biết bây giờ ở đâu...
Bà Năm nhìn tôi chằm chặp, bất ngờ vỗ hai tay vào nhau rồi chỉ vào mặt tôi:
-Đúng rồi! Trời đất thiên địa quỷ thần ơi! Hèn nào mới dòm tôi thấy quen quen! Tóc bạc nhiều, già đi chút ít, nhưng tôi vẫn nhìn ra...
Nghe bà Năm làm một tràng Trời đất, thiên địa, quỷ thần, tôi cũng nhận ra chị:
-Có phải chị Năm hồi đó không?
***


Khoảng giữa năm 1976, tức là sau giải phóng độ một năm, lúc ấy tôi vừa từ quân đội chuyển ngành ra còn rất lơ mơ về đường xá, phố phường cũng như mọi sự sinh sống của người Sài Gòn. Khu tập thể tôi ở gần Chơ Cũ, nên tôi hay ra cái chợ nhỏ họp buổi chiều góc đường Hàm Nghi - Tôn Thất Đạm mua rau muống. Lần ấy tôi đi công tác về cũng đã khuya khuya, bụng đói mà tiền thì quá ít, không đủ ăn mì, nên đành lướt qua. Đến đầu đường, thấy một người đàn bà đang ngồi xếp lại những quả cam, bên cạnh một vài thứ trái cây lặt vặt, tôi đứng lại nhìn. Chị ta ngước lên nhìn tôi chào đon đả:
-Mua cam đi anh đội! Cam ngọt lắm...
-Chị bán bao nhiêu một chục?
Thấy chị bán hàng có giọng mời chào rất ngọt, và lại có nét duyên của người đàn bà tuổi chưa quá ba mươi, tôi đánh bạo hỏi giá. Chị ta còn giới thiệu một chặp rồi mới nói. Vì quá nhiều lần đổi tiền nên bây giờ tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng số tiền vượt quá số có trong túi, tôi không dám trả giá đành tảng lờ bỏ đi. Thế là chị bán cam giật giọng gọi lại, bắt phải trả giá. Tôi đành nói thật là không đủ tiền. Chị ta không tin và mắng tôi một trận té tát. Tôi lẳng lặng bỏ đi, nhưng còn nghe đủ lời cằn nhằn của chị. Và, thật bất ngờ, và cũng thật thấy thích thú khi tôi nghe chị mắng:
-Ông đừng ỷ có công giải phóng thành phố. Bộ ông tưởng chỉ mình ông là người chiến đấu giải phóng miền Nam này sao?
Vì câu mắng đó của chị bán trái cây mà tôi cố nhớ cái chỗ ngồi và khuôn mặt người đàn bà Chơ Cũ đó. Hồi mới giải phóng, chuyện "bảy thằng Việt Cộng đu cành đu đủ" được giải toả, thì lại có mhiều chuyện tức cười, thật cũng có, mà bịa cũng có, chẳng hạn như chuyện hai anh giải phóng vào ăn hủ tiếu rồi gọi hai chai "tàu vị yểu có đá" v.v..., nhưng tôi chưa hề nghe ai mắng như chị bán cam. Hay có thể mình công thần chăng? Tuần sau, khi vừa lĩnh lương, trong túi có tiền, tôi quyết định ra chỗ chị bán cam. Lần nay, tôi không chào chị và ngồi xuống lựa cam, xong hỏi giá. Thấy tôi mua mà không mà cả, chị nhìn tôi:
-Anh mua về ăn hay thăm bệnh mà không trả giá?
Tôi đáp lại một cách lạnh nhạt:
-Trả để chị mắng cho một trận à?
-Ý! Ai dám mắng anh hồi nào?
-Thì mới tối hôm trước, tôi không có tiền mua cam của chị, chị chả mắng tôi là "ỷ có công giải phóng miền Nam". Chị còn nhớ không?
Thế là chị cười ngặt nghẽo:
-Trời đất, thiên địa, quỷ thần ơi! Đàn ông con trai gì mà nhớ dai dữ vậy hổng biết nữa? Lỡ hỏi giá thì cứ trả đại đi, không có tiền ai bắt phải mua mà sợ...
Tôi từng nghe anh em bạn bè nói, ở chợ Bến Thành hỏi giá mà không mua là bị chửi liền. Tôi nói lại điều này, chị giải thích:
-Ôi, mấy bả ngoài đó họ buôn bán lớn, vốn nhiều, toàn khách vãng lai, nói thách trời thần, không như ở đây đâu!
Tôi buông cái rổ đựng mấy quả cam, hỏi:
-Vậy bây giờ tôi không mua của chị, chị có chửi tôi không?
-Ai dám chửi!
Tôi nói "cám ơn" rồi giả bộ đứng dậy, bước đi. Chị bán cam mở tròn mắt nhìn tôi, mãi mới lắp bắp:
-Ủa! Không mua thiệt hả?...
Tôi quay lại, phì cười:
-Giỡn chơi vậy thôi. Bán cho tôi một chục, mười hai hay mười bốn?
Chị lựa từng trái và xếp vào cái túi dán bằng giấy xi măng mười bốn quả cam:
-Cũng biết chục mười hai, mười bốn hả? Việt Cộng vô đây lâu chưa? Bán người ta mười hai, thấy anh tôi bán mười bốn. Huề vốn cũng bán...
-Vậy mai tôi lại ra mua nữa!
-Không à! Mai bán mười hai. Hỏi thiệt nghen, có tiền không mà đòi mai mua nữa?
Tôi đành cười trừ, còn nói thêm:
-Tôi cũng nói thiệt, tại thấy hôm trước chị chửi tôi quá xá trời đất, nên hôm nay mới lãnh lương ra mua cam, chứ tôi đâu có ăn hay làm quà cho ai đâu. Bây giờ tôi làm quà cho con chị một nửa, tôi ăn một nửa. Mà không được bán đâu nhé, làm quà là làm quà đấy. Con chị trai hay gái...
-Ý! Đâu có được. Anh mua thì phải ăn, tôi đâu có quen biết gì anh mà dám lấy quà của anh!
-Tôi cũng đâu có làm quà cho chị, tôi cho con chị kia mà!
-Tôi đâu đã có gia đình...
-Vậy hả? Thế thì tặng má...!
Tôi thì cứ để lại, còn chị thì nhất quyết cố nhét trả. Cuối cùng tôi bỏ đi, để lại bảy quả cam. Phải lâu sau tôi mới ghé qua, thấy tôi chị bán cam ngạc nhiên:
-Trời đất thiên địa quỷ thần ơi! Đi đâu mất mặt vậy?
Tôi nghe giọng nói, với cách nói trống không của chị, thấy lộ vẻ mừng rỡ. Lần này tôi không mua gì, chỉ đứng nói dăm câu bâng quơ rồi đi. Chị ấn vào tay tôi nhưng tôi không nhận, còn bảo: ăn cam ngán đến mang tai rồi. Chị đưa cho tôi một quả dưa hấu không to lắm, nhưng nặng và đen thẫm.
Tôi không biết tên biết thứ của chị, mà chị cũng chẳng biết tên tôi. Thỉnh thoảng tôi có ghé qua Chợ Cũ mua ít rau cỏ, mỗi lần thấy tôi chị đều cho tôi một trái cây gì đó, có khi chỉ là một quả ổi xanh. Thế rồi cơ quan tôi giải thể, tôi chuyển chỗ ở về quận Năm, không hay ra Chợ Cũ nữa, cho đến tận bây giờ.
***


Bây giờ thì tôi biết chị thứ Năm, tên Duyên, Phù Trần Duyên, còn chị cũng biết tên tôi qua thẻ nhà báo. Chị Năm kêu cà phê đá và thuốc lá cho tôi, rồi chăm chú nhìn tôi quấy cà phê, giọng rổn rảng:
-Dữ ha! Vậy từ hồi đó anh đi đâu mất tăm? Vợ con sao rồi?
-Con tôi đang học đại học năm thứ hai, còn chị? Mà chị cũng đâu còn bán trái cây ở Chợ Cũ nữa? Có lần tôi ghé kiếm chị đâu có thấy!
Chị cười:
-Đi kinh tế mới! Ờ, hồi đó tôi hăng hái lắm nghe! Tôi vận động ba má với anh Ba lên Bù Đốp. Anh Ba tôi có việc làm nhà nước không đi, vậy là tôi đi trước kéo cả ông bà già. Lên đó được mấy năm, cực quá, chịu hết nổi, tôi kêu cả nhà bỏ về. Ba má tôi chưa chịu, tôi giông về trước... May mà còn nhà cửa giao cho anh Ba tôi, chớ không thì...
-Vậy là chị "đi trước, về trước"! Rồi về sao không ra bán trái cây nữa?
-Không bán, mà bán cho hợp tác xã tiêu thu phường. Tới chừng hợp tác xã tiêu thụ giải tán tôi ra thuê nhà bán quán hủ tiếu!
-Vậy nhà này chị thuê?
-Trước thuê, bây giờ mua luôn rồi!
Ghê thật! Tôi nghĩ bụng. Đúng là đàn bà dễ có mấy ai, tay bằng miệng, miệng bằng tay! Thấy mấy cô, mấy cậu thỉnh thoảng lại chạy ra nói nhỏ như là xin chỉ thị bà chủ, tôi hỏi:
-Mấy đứa này là con hay cháu chị?
-Đâu có! Chúng là con cái mấy gia đình trong tổ "giảm nghèo" tụi tôi. Thấy chúng bây lớn mà không làm gì, chỉ lông nhông, tôi kêu ba má chúng giao cho tôi quản lý. Ấy cũng nhờ có vốn của quỹ "xóa đói - giảm nghèo" mà tôi cho làm ngay bánh phở trong nhà, khỏi lấy của lái, khỏi sợ có phoóc... phoóc gì ông Sửu?
-Phoócmanđêhyt, cô Năm! Ông Sửu là ông lão nói giọng Bắc, tiếp tôi lúc mới vào, nãy giờ vẫn ngồi chăm chú sửa cái đèn măng-xông, nghe chị Năm hỏi, bình thản trả lời.
-Ông Sửu sửa xong cái đèn rồi chạy qua bên cửa hàng mua thêm ít dầu hôi. À quên nữa, thằng Tấn đi lấy cối xay trên Thủ Dầu Một về chưa hả ông?
-Về rồi cô Năm. Được để tôi đi mua dầu ngay đây!
Ông già vừa đi khỏi, chị Năm nói với tôi:
-Ông Sửu người ngoài Bắc bán nhà bán đất vô đây ở với con. Được ít lâu cha con chửi lộn nhau, chịu hết nổi, lang thang vờ vật ngoài đường kiếm ăn. Thấy vậy, tôi kêu về trông coi tụi trẻ giúp giùm tôi. Ngày ăn, đêm tôi lo chỗ ngủ lại coi quán, tôi trả cho ba trăm uống cà phê. Vậy mà cô con gái ổng còn đến nói xiên nói xéo tôi là tư sản bóc lột. Tôi sùng máu bố lên chửi cho một trận: có cha không nuôi đuổi ra đường, người ta cho ăn, cho ngủ, cho tiền xài, còn nói nọ nói kia! Đồ mất nết, con hư hỏng! Ông Sửu chạy ra xin tôi không tôi cho mấy mách nữa! Tôi nghiệp ông già, cũng là cán bộ nghỉ hưu. Được cái chăm chỉ, mực thước. Mới lấy xe chạy đi mua dầu hôi, đèn cầy...
Tôi thấy vậy, hỏi:
-Ở đây hay cúp điện lắm hả?
-Đâu có! Đề phòng sự cố Y2K, sợ cúp điện, nên tôi phải bảo tụi nó mua hai cái cối xay bột bằng tay, chuẩn bị dầu đèn, trữ nước...
Thấy tôi phá ra cười, chị cũng cười theo:
-Thì mình cứ đề phòng vậy, thấy ngoài chợ người ta ì xèo. Mì gói khuân cả thùng, cũng lo. Nhỡ đâu có Y2K thiệt thì cũng còn có cái ăn, cái uống...
Tôi nhìn chị mà vẫn chưa thấy hết muốn cười:
-Theo chị thì Y2K là gì?
-Tôi không biết rõ, nhưng thôi thấy: tỉ như mình đang quen xài tuần lễ có thứ hai, thứ ba... đến thứ bảy, chủ nhật. Nay tự nhiên thay chủ nhật bằng... thứ Tám. Vậy là mình lúng túng không hiểu ngày nào đi làm, ngày nào nghỉ, có khi nghỉ luôn. Đó, cái máy vi tính nó cũng không biết năm 2000 là năm nào? Nó nghĩ ngợi không ra rồi ngưng luôn, hoặc chạy lung tung! Vậy có đúng không, nhà báo?
Quả thật, tôi cũng đã phải mấy lần giải thích cho những người xung quanh về sự cố có thể có của máy tính sang năm 2000, nhưng không tìm ra cách nào sát thực và dễ hiểu như cách nói của chị Năm. Tôi bảo là tôi phục chị quá, chị cười, hai mắt tít lại:
-Kiểu giải thích nhà quê thôi anh ơi!
-Chị mà nhà quê? Sài Gòn gốc...
Chị lại cười, nhưng lần này rõ vẻ nghiêm túc:
-Đúng là ông cố, ông sơ nhà tôi sống ở trên này từ lâu. Theo ba tôi nói thì chỗ cái nhà lầu mấy chục tầng kia, hồi đó còn là ruộng lúa... Rồi qua trào Pháp, trào Diệm rồi đến Mỹ - Thiệu, bao nhiêu biến đổi, gia đình tôi cũng loanh quanh ở đây. Nhưng lớn lên tôi thấy mình chẳng có vẻ gì là dân thành thị cả. Mấy ông quan chức thì không nói làm gì, chớ tụi tôi dân nào cũng cực, cũng phải lao động. Làm gì có gốc với ngọn mà phân với bì? Cứ làm ra bộ ta đây cho chúng ghét...
Thấy câu chuyện có vẻ kém vui, tôi lái sang:
-Chị mấy đứa rồi?
-Hai! Thằng lớn đi nghĩa vụ về giờ làm công ty bảo vệ Long Hải. Còn con nhỏ đang học năm thứ ba đại học kinh tế...
-Vậy là chị có con trước tôi. Thế mà hồi đó dám nói là chưa có gia đình!
-Hồi nào?
-Chị không nhớ là tôi gửi nửa chục cam về cho con chị?
-À... Nhớ! Chị Năm lại ôm mặt cười, chảy cả nước mắt. Đúng là lúc đó tôi chưa có gia đình. Tôi gặp ông xã hồi ở kinh tế mới. Anh là thương binh, chuyển ngành ra ban quản lý kinh tế mới thành phố. Lấy nhau xong sanh thằng lớn, ngán quá, tôi giông về để ảnh một mình. Mấy năm sau xin nghỉ mất sức mới về với mẹ con tôi... Này nói gì nói, cái gì mới cũng ngon: nhà mới, áo mới, vợ mới, chồng mới... Nhưng mà cái kinh tế mới, ngán thiệt... Lại cười.
-Giờ ảnh làm gì?
-Làm gì! Ủy ban mặt trận phường, tối ngày đi lo giải quyết tranh chấp, hòa giải cho người ta không! Này, nói nghe, anh ngồi chơi chút, ông xã tôi về tôi làm cái gì cho hai người nhậu! Ông xã tôi tuy không khoái nhậu nhưng ham có bạn lắm...
Tôi phải từ chối mãi, hẹn bữa sau, chuẩn bị tinh thần, ngồi chơi lâu. Với lại tôi còn muốn gặp chị nữa để viết kia mà. Chào chị, tôi dẫn xe ra, đã ngồi lên yên, chuẩn bị đạp máy, chị Năm còn chạy với ra, nhét bao thuốc 555 còn đầy vào túi áo tôi:
-Cầm lấy mà hút!
Tôi không nhận, bảo để mà bán, chị không nghe. Chị ư hừ, như muốn nói gì đó, tôi hiểu ra, nhìn vào mắt chị, chờ đợi. Chị nói như để mình chị nghe:
-Hồi đó tự nhiên đi đâu mất mặt. Nếu còn được gặp anh, chắc tôi không dại dột kéo cả nhà đi kinh tế mới...
Tôi đoán ý chị, không biết có đúng không, nhưng cũng nói đại:
-Tôi cũng vậy! Nếu không chuyển đi, chắc giờ này nói tới tiếng "cam", đã phát ngán...
-Đồ quỷ! Chị Năm phát vào lưng tôi. Đi đi!...
My company: www.procard.com.vn
0
NGƯỜI THỢ SỬA GIÀY GÓC PHỐ
Hoàng Đình Quang

Mấy ngày Tết, trong nhà tôi khách khứa không nhiều. Cũng là phải thôi, làm kẻ sống xa quê, họ hàng nội ngoại ở cả ngoài Bắc, trong này chỉ có vài anh em, mấy người cùng làng và những bạn bè quen biết, đồng sự... đến thăm nhau trong ngày Tết. Ấy thế nhưng cũng phải vào mùng hai, mùng ba họ mới đến. Ngày mùng một còn phải đến lễ cha mẹ, lệ là vậy, mùng hai đến thăm thủ trưởng, thầy cô giáo của mình, của con cái. Ai cũng thế cả, hoá nên có đến nhau rồi cũng chẳng gặp, vài lần thành quen, chừa những ngày ấy ra.
Tôi không có cha mẹ hay chú bác anh chị bề trên để phải đi Tết ngày mùng một. Sáng ra huơ vợ con dậy sắp mâm cơm cúng. Bọn họ đêm qua đón giao thừa, gần sáng mới đi nằm, gọi dậy cũng không nỡ. Tết Sài Gòn lại là tháng nóng, cú oi oi âm âm, đèn nhang bòng bưởi... lại càng tạo ra cái nóng cứ rịn mồ hôi. Loay hoay mãi cũng non trưa mới xong mâm cơm, bày lên thắp hương khắp mấy bàn thờ, lầm rầm khấn mời các cụ cao tằng tổ thủy, thúc bá đệ huynh, cô dì tỉ muội… từ ngoài quê, đi mây về gió, đồng lai giáng hạ, thiếu đũa thì xát, thiếu bát thì xẻ... phù hộ cho con cháu đồng đất nước người, hay chân mạnh tay, điều dữ đem đi, điều lành mang đến...
Mãi lúc ấy, tôi mới mở cửa, ngoài đường phố, người người ăn diện ngất, xe cộ đua chen, trôi đi. Tôi bần thần đứng ngẩn người ngắm thiên hạ, lòng hay háy buồn. Nghĩ lại một năm cày cuốc lao tâm khổ tứ, giá kể không có cái Tết thì hà tiện được khối ra. Ăn uống chả được bao nhiêu, mà rõ tốn. Lại buồn nữa, mấy ngày Tết thiên hạ vui chơi, quần tụ mà mình cứ lùi lũi một mình, anh trên chẳng có, em dưới thì không, chẳng ai đến chơi với mình vào cái ngày đầu năm này bởi họ còn bận chuyện gia tiên, mình thì cũng chỉ là bạn bầu, người dưng thiên hạ... Tôi toan khép cửa vào nhà, làm hớp rượu rồi gà gật xem vô tuyến.
Chính lúc tôi vừa quay vào thì có tiếng người chào sau lưng:
-Ê! Năm mới chúc chú Hai mạnh giỏi, làm ăn phát tài!
Ô! Ai vậy? Ai xông đất nhà mình nhỉ? Giọng nói tiếng Việt không sõi, rặt tiếng người Hoa Chợ Lớn, giọng thì quen mà người thì lạ?
Người khách xông đất đã vào giữa nhà, hai tay chùi chùi vào hai bên ống quần tây, dáng ra vẻ muốn bắt tay nhưng chưa dám đưa ra. Thấy vậy, tôi cũng đáp lại:
-Vâng! Cám ơn ông! Năm mới chúc ông may mắn, vạn sự như ý! Mời ngồi!
Câu đáp của tôi là dựa vào cái tờ giấy đỏ có viết bốn chữ Hán “Vạn sự như ý”, mà một cậu bé cứ tự nhiên dán vào cửa nhà tôi rồi chìa tay xin lì xì. Tôi vừa nghĩ vừa rót trà mời ông khách, mà không nghĩ ra ai, đến nỗi tràn cả ra ngoài. Đưa tách trà cho khách và nhìn kỹ ông ta, tôi chợt nhớ ra, đưa tay ra nắm lấy hai bàn tay đen đủi, nhăn nhúm đầy những vết sẹo kim đâm của ông:
-À, ông Hai. Trời ơi, vậy mà tôi không nhận ra! Năm mới, chúc ông Hai nhiều khách, nhiều việc, nhiều tiền...
-Ây dà... Hổng nhận ra ngộ hả?
Làm sao mà nhận ra ông được kia chứ? Quanh năm bốn mùa mưa nắng, ngày nào chúng tôi chả giáp mặt nhau, vậy mà hôm nay, ngày Tết tôi lại không nhận ra ông. Thì ra tôi chỉ quen ông trong dáng bộ của một cái quần đùi lửng cháo lòng và cái áo dệt kim loang nhoang vết dầu cáu cáy. Hôm nay, ông diện quần tây, áo sơ mi cổ hồ bỏ trong thùng, đến nỗi cả cái dáng đi ve vẩy lùi lũi mọi ngày cũng biến đi đâu mất. Ai bảo cái áo không làm nên thầy tu cũng phải, nhưng quần áo làm con người ta sáng ra, sang ra lại cũng đúng. Tôi rót mời ông một ly rượu cam, óng ánh hồng. Ông cầm ly uống nhè nhẹ như sợ hết, còn tôi dốc thẳng vào cổ:
-Ông Hai bữa nay diện quá, thiệt tình tôi nhìn không ra.
Ông cười hề hề:
-Ây da... Bộ đồ này của người em ngộ đó. Hổng có “dzừa” đâu. Chú Hai đừng có cười, tội nghiệp ngộ lắm mà...
-Ai mà cười. Nào, uống với tôi một ly nữa nhé. Rượu này ngoài Hà Nội người ta gửi cho, rượu Việt Nam đấy. Mời ông Hai...
Ông uống một ly nữa, gọi hai đứa con tôi ra rồi móc trong túi áo ra hai cái “hồng phong bao” nhỏ bằng quân bài tam cúc:
-Hai cháu! Năm mới, ngộ lì xì cho hai cháu nhỏ nhanh lớn, phát tài!
Hai đứa nhận rồi cứ ngây ra nhìn ông, tôi phải lừ mắt:
-Cám ơn ông Hai đi, các con!
Ông cúi chào tôi một lần nữa rồi bước ra đường. Nhìn dáng người khòm xuống, chân bước loạng choạng giữa dòng người xe pháo ngược xuôi, lòng tôi nao nao một chút gì thương cảm. Đứa con gái chạy ra khoe:
-Ông Hai cho con hai ngàn!
-Ừ. Ông ấy cho thì con cất đi. Hai ngàn cũng quý.
-Ông Hai nghèo lắm hả bố?
-Ừ, nghèo lắm. Lì xì cho các con bốn ngàn là hết một bữa cơm của ông ấy rồi đấy!
******


Khi vợ chồng tôi dọn nhà về cái chung cư lụp sụp này, ông Hai thợ giày đã ngồi ở vỉa hè này trước tôi cả chục năm rồi. Nhà tôi hướng tây, buổi chiều nắng lửa xiên thẳng vào nhà, những quầng bụi đường vần vũ dưới luồng nắng rát. Ở bên phải cửa ra vào, ông thợ giày thu lu lại trong đống đồ nghề tàn tạ: dao, kéo, kim chỉ và một mớ những mảnh da, đế cao su và một đống giày, dép da cũ. Có điều cả hai chúng tôi đều không biết tên nhau, ông thợ giày theo thói quen của người Việt mà gọi tôi là chú Hai. Còn chúng tôi lúng túng chưa biết gọi ông là gì thì nhà bên cạnh gọi ông là chú Giày. Các con tôi cũng bắt chước gọi theo, vợ tôi bảo:
-Các con không được gọi như thế, nghe nó bất nhẫn làm sao ấy. Thôi, nhà mình cứ gọi ông ấy là ông Hai...
Người Việt ở miền Nam vốn có tập quán hễ người nào mới quen biết mà chưa biết tên, biết thứ thì cứ gọi là Hai, anh Hai, chú Hai, ông Hai... coi như người hơn mình về ngôi thứ. Chúng tôi cũng gọi ông thợ sửa giày là ông Hai cũng theo cái ý ấy.
Ngày nào cũng vậy, ông dọn ra từ bảy giờ sáng và kết thúc một ngày làm việc của ông vào khoảng sáu giờ chiều, khi đèn đường đã đỏ. Lúc ấy, ông mới thu dọn đồ nghề, mua một đĩa cơm bình dân, cẩn thận gói lại trong một cái bịch ny lông:
-Chú Hai mang cơm về ăn bữa khuya à? Có lần vợ tôi hỏi.
-Không ớ! Đem về cho thằng cháu, con của người em...
-Tối chú nghỉ ở đâu?
-Nhà người em bên đường Nguyễn Chí Thanh. Gần lắm. Rồi ông lại cười hề hề. Mua ở đây cho nó rẻ, bên đó mắc lắm, chịu hổng có lỗiđâu!
Mỗi lần tôi đi làm về, trông thấy tôi từ xa, ông Hai thợ giày lại loay hoay lom khom thu vén mấy thứ lặt vặt của ông để lối cho tôi vào nhà. Ông làm vậy là do thói quen và cũng là một cách lấy lòng tôi thôi, chứ thật ra, chỗ ngồi của ông luôn luôn gọn gàng, không ảnh hưởng gì đến việc ra vào của gia đình tôi. Chỉ có một hôm, có một người khách phụ nữ chờ ông khâu lại mũi dép da ngồi trên lối ra vào nhà tôi. Thấy tôi về, ông lúng túng lật một tờ báo chữ Hoa, vuốt phẳng phiu đặt sang bên cạnh mời người khách ngồi. Bà khách loay hoay không đứng dậy được vì không có dép, chân lại vắt chữ ngũ, chưa gỡ được ra. Nhìn nét mặt đau khổ của người thợ sửa giày, tôi bảo:
-Chị làm ơn đứng dậy một chút, tôi dắt xe vào nhà, chị lại ngồi nghỉ, không sao đâu.
-Cám ơn chú Hai! Cám ơn chú Hai!... Ông lập bập đến mấy lần lời cám ơn tôi.
******


Dù không muốn, tôi vẫn cứ phải quan sát cuộc sống hàng ngày của ông trong một mảnh vỉa hè mà người đời (trong đó dĩ nhiên là có tôi) dành cho ông.
Quanh năm ngày tháng ông chỉ diện một bộ quần cộc, áo may ô tay lửng. Có hôm trời Sài Gòn trở lạnh, ra đường có người mặc áo len, nhưng ông vẫn nhất bộ như thế. Cho nên, khi ông diện bộ cánh, bỏ áo vào trong quần đến xông đất nhà tôi, mãi tôi mới nhận ra. Hỏi tên ông là gì, ông nói tôi không nghe được, tôi bảo ông viết ra. Ông lấy một mẩu chì sáp thường đo vẽ cỡ chân cho khách viết một chữ nho lên mảnh da: chữ Nghiêm, một chữ hơi rậm nét, khó đọc. Tên ông là Nghiêm!
Ông Nghiêm hút thuốc lá nhiều lắm, hút liên tục điếu nọ chưa tàn ông đã nối điếu khác, mà toàn một thứ thuốc cuộn rẻ tiền mà ngưòi ta gọi là “thuốc củi” bởi nó được bó thành từng bó năm chục điếu, như bó củi. Mỗi bữa ông mua một đĩa cơm về để bên cạnh, vừa ăn, vừa làm, có lẽ chỉ lúc ấy ông mới rời khỏi điếu thuốc. Mấy năm sau này, tôi thấy ông để bên cạnh một cái ly mà người ta dùng để uống cà phê, bên trong đựng một thứ nước trong vắt, nhờ có mùi cồn mật mía bay ra mà tôi biết được đó là rượu. Cũng một thứ rẻ tiền.
Có hai thứ mà ông say mê: đó là vé số và tờ nhật báo Sài Gòn giải phóng tiếng Hoa. Ngày nào ông cũng đặt mua một tờ, đọc chi tiết, tất cả các mục. Tôi còn nhớ một lần bài báo của tôi viết về một ông già chín mươi tám tuổi được báo Hoa văn dịch, thấy ông đang đọc, tôi bảo tôi viết. Thế là ông mừng lắm, bàn luận với tôi sôi nổi về tuổi già:
-Sống lâu là tốt, tốt lắm a chú Hai! Rồi ông ngậm ngùi. Nhưng mà, như tôi, sống lâu không tốt đâu.
-Sao vậy?
-Ngộ đâu có vợ, có con! Ngộ ở đậu nhà người em mà. Nó còn có vợ, có con nó, mình đau cũng ráng mà đi ra khỏi nhà, đâu có dám than, hả chú Hai!
-Sao hồi đó ông Hai không cưới vợ?
-Đi lính! Năm Mậu Thân ngộ bị đưa ra tận vùng Một, Khe Sanh, Quảng Trị. Sợ quá! Sợ quá! Trốn lính mà không thoát, bị đưa đi làm làm lao công đào binh hết mấy năm. Giải phóng rồi thì hổng có ai thương, ngộ không có nhiều tiền, chú Hai à!
Có một hôm, tôi vừa đi làm về, chưa kịp dắt xe vào nhà, ông đã đứng dậy chìa vào tận mặt tôi tờ báo:
-Chú Hai có nghe tin này chưa?
Tôi liếc qua, không biết là gì, mệt mỏi lắc đầu nhại giọng ông:
-Piết dồi, khổ lắm!
-Piết dồi hả? Chung Guốc dzới Diệc Nam hữu nghị hả?
-Hữu nghị chứ sao không!
Tôi cất xe, vừa rửa mặt vừa nghĩ. Không hiểu có tin gì mà ông thợ sửa giày lại quan tâm thế nhỉ? Tôi đánh quần đùi ra cửa hỏi lại:
-Đâu? Báo đăng tin gì mà ông vui thế?
-Ông Ly Phằng sang thăm Việt Nam, chú chưa có nghe à?
Tôi ngạc nhiên:
-Ly Phằng là ông nào?
-Ly Phằng thủ téng Chung Guốc ý...
-À! Trời ơi, Thủ tướng Lý Bằng. Ông bảo Ly Phằng thì tôi nghe làm sao được. Đúng rồi, Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Thủ tướng Lý Bằng dẫn dầu sang thăm Việt Nam. Quan hệ hai nước hữu nghị, tốt đẹp nhân dân ai chả mừng.
-Dzậy hả?
Ông Nghiêm cười hề hề, lục trong túi áo ra một điếu thuốc Đà Lạt quăn queo ra đưa mời tôi. Tôi cầm điếu thuốc và biết rằng đây là điếu thuốc quý của ông, vì nó đắt tiền hơn thuốc củi của ông nhiều. Với tôi, lâu lắm rồi tôi không hút thứ này, nhưng vẫn châm lửa, hít vào, thở ra. Nhìn từ phía sau, ông thợ giày cúi xuống mớ đồ lề của mình, tôi có cảm giác đó là một cậu bé đang chơi đồ hàng.
******


Từ mấy năm nay, người ta có kiếm tiền dễ hơn, người ta cũng ăn diện hơn, đi giày nhiều, giày da, cho nên công việc sửa chữa, may lại đường chỉ, đánh chà lại một vài chỗ xước, làm cho ông Nghiêm khá bận rộn. Lúc nào cũng thấy ông cúi rạp xuống chiếc giày kẹp giữa hai bắp đùi khẳng khiu mà mài, mà miết, mà khâu, mà móc...
Một buổi chiều đi làm về sớm, tôi ra cửa kê dép nói chuyện với ông. Ông thợ giày đang dán mắt vào tờ giấy nhỏ có ghi kết quả xổ số mà một thắng bé vừa chạy qua dúi vào tay ông để lấy hai trăm. Thấy tôi, ông ngẩng lên:
-Sém trúng! Sém trúng!
-Đã có khi nào ông trúng số độc đắc chưa?
-Không có trúng! Mua hết mấy trăm nghìn rồi mà không có trúng!
-Nếu trúng số độc đắc thì ông xài việc gì?
Ông cười hề hề ngửa mặt dòm tôi, rồi lại dòm lên trời, cặp mắt cận thị lồi ra hấp háy:
-Không có trúng đâu, chú Hai à!
-Biết đâu, có ngày ông trúng số độc đắc!
-Ờ. Tới hồi đó, tôi về Trung Quốc. Nè, chú Hai coi đi. Ông đưa tờ báo chữ Hoa cho tôi rồi lấy ngón tay cáu bẩn dò trên một ô quảng cáo. Có tám triệu là đi Trung Quốc được rồi. Chú Hai có đi sang Trung Quốc lần nào chưa?
Tôi lắc đầu, hỏi lại:
-Trung Quốc rộng mênh mông thế, tám triệu làm sao ông về đến nhà?
-Ây! Nhà ngộ ở Quảng Đông, gần thôi mà. Pa của ngộ sang Việt Nam từ lúc còn chẻ, mấy lần tính về quê, nhưng hổng có nhiều tiền, lại chiến tranh. Bây giờ ngộ già rồi, hoà bình rồi, muốn về thăm quê mà cũng không có nhiều tiền...
Câu chuyện ông Nghiêm, người thợ sửa giày góc phố tôi, mong trúng vé số độc đắc có tiền về thăm quê cha đất tổ làm tôi cảm động và suy nghĩ. Nhưng rồi bao nhiêu thứ chuyện trên đời con người ta làm sao mà nhớ mãi được. Mấy năm nay, chính sách của nhà nước ta có thay đổi, nhà nhà, người người mở cửa buôn bán, vợ chồng tôi cũng ki cóp ít vốn mở một cái điểm bán cơm bình dân. Khi tôi mở ra, tất nhiên là ông thợ sửa giày không còn chỗ ngồi. Nhìn ông bê từng món sang bên cạnh, tôi cũng thấy ái ngại. Gần hai chục năm gắn bó với cái chỗ này giờ cun cút dịch chuyển, nhưng biết làm sao. Tưởng ông sang bên ấy được yên, nào ngờ nhà họ cũng cho thuê điểm cho mướn băng vidéo. Thế là ông lại phải đi chỗ khác, cứ thế. Sau cùng ông ngồi dưới chân cột điện, căng tấm ni lông lên làm chỗ hành nghề. Tuy xa nhau, không còn dịp trò chuyện như trước nhưng gặp tôi ông vẫn chào. Và, Tết nào ông cũng diện một bộ quần áo dài tươm tất, đến chúc tết tôi.
Lâu lâu, tôi cũng không để ý, mãi đến một chuyến công tác về, giày của tôi bị sứt chỉ, tôi bảo thằng con:
-Con đem cái này ra chỗ ông Hai, nhờ ông ấy khâu hộ. Nhớ hỏi bao nhiêu tiền về bố đưa.
Con tôi nhìn tôi:
-Thế bố không biết à?
-Biết cái gì?
-Ông Hai chết rồi!
Tôi im lặng, không muốn để lộ vẻ ngạc nhiên hay thương xót, mà hỏi lại con bằng một giọng uể oải:
-Ông ấy chết bao giờ?
-Một tháng rồi.
-Sao con biết?
-Con nghe bà bán nhang nói.
Tôi quẳng chiếc giày vào góc nhà:
-Thôi được rồi, để bố mang lên Sài Gòn...
Tôi ra cửa đứng nheo mắt nhìn về phía cây cột đèn. Không còn cái mảnh ni lông phần phật trong gió, trong tiếng xe ầm ào. Đúng là người thợ sửa giày góc phố không còn ở đấy nữa. Một khoảng trống gọn ghẽ nhường lối cho người đi đường. Nhưng hoá ra với tôi, đó là một khoảng trống thật sự từ trong tận đáy lòng. Người thợ sửa giày nghèo khó, cô đơn, người không có chút liên quan nào đến đời sống hay sự nghiệp của tôi, nhưng khi ông ấy không còn nữa, lòng tôi tự nhiên cũng có một khoảng trống.
Ông Nghiêm sẽ chẳng còn có dịp trúng số độc đắc để thực hiện ý định về Trung Quốc, quê hương ông một lần. Còn tôi, Tết này tôi có nhiều người đến xông đất, em trai, em gái, em dâu, em rể, bạn bè, đồng sự... Nhưng trong bữa cơm mừng năm mới tôi vẫn rót ra một ly rượu nhỏ để bên cạnh. Cậu em rể thấy vậy hỏi:
-Anh rót cho ai thế?
-À, tôi cười xoà, cứ rót dư rượu thế này, chắc là có khách!
My company: www.procard.com.vn
0
HÀNH HƯƠNG
Hoàng Đình Quang

Công việc của tôi ở thành phố Hồ Chí Minh chưa lần nào lại vất vả như chuyến công tác cuối năm này. Vụ việc phức tạp đến nỗi trưa ngày hăm bảy Tết mới họp để các bên ký vào biên bản. Sự việc cũng không đơn giản, mặc dù trước đó, chúng tôi đã phải vất vả hơn một tháng trời thu thập số liệu, chứng cứ để kết luận. Có người ghé vào tai tôi: “Các ông nhè nhẹ tay một chút, vé máy bay ra Hà Nội đã chuẩn bị sẵn rồi! Anh em trong này cố gắng để ông về ăn Tết với gia đình, một cái tết xứng đáng với công lao của ông!”. Tôi hiểu câu nói “chân tình” này, nhưng không thể được. Họ cố tình rây rưa, trì hoãn để chúng tôi nản lòng, chấp nhận một kết luận như ý họ. Chiều hăm tám, năm nay tháng Chạp thiếu, thành ra hăm chín rồi, biên bản đã được ký nghiêm túc. Tôi thấy lòng nhẹ nhõm, về phòng khách, nhìn giường chiếu xếp gọn ngay ngắn, không có chăn màn, phích nước như mọi ngày, máy điện thoại cũng đã gỡ. Họ đuổi mình đi đây, cũng phải thôi, công việc xong rồi, lại năm hết tết đến, ai còn hầu mình nữa. Tôi hỏi chị phục vụ, nhưng chị tránh mặt, mãi sau mới nói nhỏ: “Chú có ra Hà Nội thì đi lè lẹ lên!”. “Sao vậy, chị Ba?”. “Tôi không biết, nhưng ngày mai là ba mươi rồi!”.
Tình cảnh của tôi lúc này mới đáng ngại làm sao, không còn vé máy bay, vé tàu cũng không kịp ra trước tết. Lòng tôi như lửa đốt, không biết vợ tôi và hai cháu Tết này, vắng tôi rồi ra sao? Chạy đến mấy chỗ quen biết, họ cũng nghỉ rồi, có gặp được, họ cũng lắc đầu, chỉ được cái tốt mời nhậu. Nhưng lòng dạ tôi còn gì mà uống, mà ăn...
Đang thất thểu trên vỉa hè, chợt có chiếc ô tô du lịch biển số tư nhân đậu xịch trước mặt tôi. Từ trong xe, một người đàn bà đẫy đà, nhô đầu qua cửa kính đon đả:
- Cậu Vận! Chết thôi, sao giờ này mà còn láng cháng ở đây?
Hóa ra chị Ngọc, chị họ con ông bác ruột tôi.
- Công việc sáng nay mới xong, em đi chạy vé máy bay nhưng không còn. Tôi nói gần như mếu.
- Vào đây, đứng ở ngoài ấy cho chết nắng. Chị nhích vào nhường chỗ cho tôi, rồi giục tài xế. Chạy đi chú Triều, về qua công ty cái nhá. Tôi tưởng cậu ra lâu rồi kia chứ? Làm cái gì? Làm lấy sống hay là làm lấy chết mà các cậu cố kiết thế? Liệu có bỏ tù được hết cái đám ấy không? Thế thủ trưởng của cậu đâu mà đem con bỏ chợ thế này?
Trước những câu hỏi dồn dập của người chị họ vốn tính tình đã táo tợn, bỗ bã, ruột gan tôi lạnh toát:
- Họ hứa mua giúp vé máy bay cho em, nhưng giờ chót...
Chị Ngọc cười rung cả xe:
- Giờ chót cậu cho họ vào xiếc chứ gì? Hèn nào, nó cho cậu đi máy ủi là phải. Tôi nói thế có đúng không? Tôi nghiệp cậu em tôi, cán bộ nhà nước đã bạc cả đầu rồi mà còn ngây thơ. Thôi, không tài nào kiếm nổi vé cho cậu được đâu, trừ phi cậu là Tổng Bí thư hay Thủ tướng đi công cán thì họa may. Ở trong này ăn Tết với chị một năm cho vui. Cũng là “đắm đò giặt mẹt”, chứ bình thường ngày dưng cậu còn ngại đến chỗ chị nữa là ngày tết...
- Em lo quá, không biết tết nhất này, không có mình ở nhà, mẹ con các cháu xoay xở ra sao...
- Cái gì?
- Lại còn họp họ nữa. Em nghe ông cụ Hoàn Cả nói năm nay muốn bổ sung cuốn gia phả.
Chị Ngọc móc bao thuốc 555 ra rút một điếu rồi chìa cho tôi. Nghe tôi nói thế, chị nhèn điếu thuốc ra khỏi miệng, nhổ phì phì rồi nhìn tôi với cái nhìn giễu cợt:
- Sao cậu khéo lo thế? Gần chục năm cậu vào bộ đội, rồi đi B, đi C, mút chỉ cà tha, dễ thường ở nhà người ta chết cả đấy? Nói cậu đừng giận, tôi là tôi nói thẳng, nói thật. Cán bộ nhà nước các cậu quen thói dạy đời, coi mình là quan trọng lắm. Đụng một tí thì bận quá, thì khó quá. Đến cả vợ con, cha mẹ, họ mạc cũng phải nể vì, nhìn các cậu cứ như ông thánh ấy...
Tôi nhìn chị, dở cười, dở mếu:
- Chị cứ nói quá. Công việc nó vậy chứ nào ai muốn...
- Nói chơi vậy thôi, tết này ở trong này cho nó biết mùi Tết Sài Gòn. Ngoài tết ít người đi lại rồi tôi bảo chúng nó lấy vé cho mà ra. Đâu? Quần áo, tư trang để đâu rồi? Nhà khách hả? Giờ này không biết có còn ma nào không. Cậu Triều này, đưa chị em tôi về công ty rồi cậu chạy lên nhà khách Thủy sản lấy hành lý của cậu Vận đem về giúp giùm chị nghe...
Cậu lái xe còn trẻ, để hàng ria mép thưa thớt, khẽ gật đầu dạ. Tôi phân trần:
-Thế cũng được, nhưng chị cho em về qua nhà khách để em chào mấy người phục vụ. Hơn tháng trời, họ chăm lo hầu hạ mình, lẽ nào lúc chia tay không nói với nhau được một câu chân tình...
Chị Ngọc nhìn tôi cười ruồi ý nhị, tôi tảng lờ coi như không biết, không hiểu. Thế là, sau gần hai chục năm thống nhất đất nước, lần đầu tiên tôi ăn Tết ở nhà chị tôi và cũng là cái Tết đầu tiên ở Sài Gòn.
******


Sáng mồng một, trời âm âm nóng. Tôi dậy sớm. Thật ra suốt đêm, từ sau giao thừa cho tới sáng, tôi không tài nào ngủ được. Tôi vào toa-lét rửa mặt mũi rồi vào thắp chín nén hương trên ba cái bát hương, khấn bác cả và ông bà nội. Chị Ngọc là con gái bác Cả, anh ruột bố tôi. Năm 1954 bác đem cả nhà vào Nam, lúc ấy chị Ngọc mới độ chín, mười tuổi còn anh Ngân mười bốn. Năm 1975, vợ chồng anh Ngân cùng với bác gái di tản sang Mỹ, ở nhà còn bác trai và vợ chồng chị Ngọc . Mấy năm sau bác Cả sống với bà vợ hai, rồi qua đời để lại bà vợ xấp xỉ tuổi chị Ngọc một mình, không con cái. Bây giờ thì bà dì ghẻ ở với chị Ngọc, làm bà, làm mẹ, làm bạn và làm người giúp việc trong nhà. Chị Ngọc thường đùa, chả biết giữa em với dì ai đi trước ai? Thôi thì dì sống với nhà em và các cháu, ăn uống chẳng bao nhiêu, sống chúng nó nuôi, chết chúng nó...thiêu! Bà chỉ cười, nom tủi tủi. Thấy tôi về ăn tết với gia đình chị Ngọc, bà rụt rè, lo giường chiếu, chăn màn, nước tắm cho tôi với một vẻ cúc cung quá đáng, làm tôi cũng ngại. Tôi thì vẫn gọi bà là bác Cả cho thân tình. Chị Ngọc lấy chồng là sĩ quan quân đội Sài Gòn, lúc giải phóng thành phố, anh chồng về nhà ôm theo đứa con gái lớn đi di tản sang Mỹ. Mấy năm sau anh viết thư về muốn xin cho chị đi theo diện đoàn tụ gia đình, chị viết thư trả lời ngay. Trong thư chị bảo anh là ông có muốn đoàn tụ thì về đây, chứ tôi không đi đâu cả. Còn nếu ông sợ mẹ con tôi khổ thì có tiền gửi về, ông muốn lấy vợ thì cứ lấy, chẳng phải ngại. Sao? Lại sợ chính quyền Mỹ không cho lấy vợ à? Rõ ngớ ngẩn, hai nước đang ghét nhau dến đào đất đổ đi lại tôn trọng con dấu của nhau đến thế kia à? Mà chính quyền Việt Nam đời nào lại xử cho tôi ly dị ông khi tôi không muốn?
Khoảng mười giờ trưa, chị Ngọc dẫn đầu phái đoàn đi chúc tết những người trong họ. Chị bảo: “Cậu Vận đi xe ô tô với tôi và dì Nhẫn, còn tất cả đi bằng xe máy!”. Trong lần ấy tôi mới thấy các ông, các bà họ nhà tôi trong này ai cũng nể trọng chị Ngọc. Cũng đúng thôi, chị tuy là gái nhưng con ông trưởng tộc, anh con trai lại đang lưu lạc xứ người. Hơn nữa, tính tình chị giảo hoạt, quyền biến. Nhớ lần con gái chị lấy chồng bên Mỹ, quay hẳn mấy cuộn băng vedéo gửi về cho mẹ. Chị ngồi xem được một chốc rồi phảy tay đứng dậy:
- Tưởng thế nào! Hoá ra bên Tây bên Mỹ cũng chẳng hơn gì bên ta. Chúng mày xem đấy, có các vàng tao cũng chả đi. Ở bên này mà biết cách làm ra tiền lại chả sướng bằng tiên.
Đoàn người đi đến đâu trở ra lại nối thêm vào, rùng rùng toàn xe gắn máy. Hóa ra họ hàng hang hốc nhà tôi cũng to thật. Mãi đến chiều tối mới về đến nhà chị Ngọc, tôi mệt muốn bã cả người. Tết nhất gì mà trời đất nóng như rang như luộc, lại rượu mạnh, thuốc thơm, đi đến nhà ai cũng kiểu cách, chỉ mong cho về đến nhà mà tháo cái caravatte ra khỏi cổ... Tôi tắm rửa xong ngồi bó gối xem tivi. May cũng nhờ có đài trung ương nên nhìn cảnh tết nhất ngoài bắc cũng đỡ buồn nhưng lại càng nhớ nhà. Chị Ngọc thấy tôi ngồi ỉu xìu thì bảo:
- Nhớ nhà, nhớ vợ con hả? Thôi, ngồi xuống đây làm mấy ván cho vui.
Cả nhà bày ra đánh chắn, hai mẹ con chị Ngọc, bác cả Nhẫn, hãy còn thiếu một chân, nên chị Ngọc vời mãi. Tôi không thích nhưng đánh chắn bằng quân bài tổ tôm thì tôi cũng biết. Phải cái không thuộc quân nên cứ phải nhìn chữ, thành ra xòe bài rộng quá, lộ hết. Kết thúc, mọi người đứng dậy vặn lưng rôm rốp, chị Ngọc thua mất hơn trăm ngàn, chắc là con chị nó ăn. Tôi thì đánh kém, nên được mọi người chiếu cố, chị Ngọc đặt tiền cho, nên không được, không thua. Bà cả Nhẫn cũng khoe: “Năm mới thế mà may, tôi cũng ăn được hai chục, cậu ạ!”.
******


Tôi nhờ chị Ngọc mua vé máy bay hộ để mùng ba hoặc mùng bốn quay ra Hà Nội, nhưng chị giữ tôi lại:
- Mùng bốn đi Chùa với chị, vui lắm. Chắc cậu thì chẳng tin vào chùa chiền đâu, nhưng cứ đi cho biết, cho vui. Chùa này linh lắm lắm, cầu được ước thấy nhá! Năm nào chị và mấy người bạn thân cũng phải đi bằng được. Mà ngôi chùa xây cũng đẹp, cậu cũng nên đi cho biết...
Biết chị có ý tốt, nhưng tôi nản quá, đến mức thôi đành chịu, chẳng nói, chẳng cãi, chẳng tranh luận. Thế mới biết anh em tôi, họ hàng tôi đông đảo là thế nhưng chẳng ai bằng chị Ngọc. Chúng tôi, phần đông làm việc nhà nước, lương lĩnh ba cọc ba đồng, ai trông cũng đạo mạo, cũng bảnh bao như nhiều văn hoá lắm, nhưng cứ hèn hèn thế nào. Nói năng lúc nào cũng cố giữ ý, giữ tứ, cũng sợ mất lòng người nghe, nhưng hóa ra trêu ngươi thiên hạ. Mấy năm nay, sự đời cũng có cái đổi thay, thành ra cái nghèo lòi đuôi ra, cố giữ sĩ diện mà không xong. Đã hèn lại nghèo, cuối cùng rồi ai bảo sao cũng nghe, rõ tội.
Tôi bảo chị Ngọc rằng tuy tôi không tin vào cái sự “cầu được, ước thấy” nơi cửa Phật nhưng tôi không báng bổ chùa chiền, có lẽ cũng tại sợ. Tôi tôn trọng Trời Phật là vì họ răn dạy người đời, trong đó có mình rằng chớ ăn gian nói dối, đừng vu oan giá họa, không được lừa thầy phản bạn, cái nhân sinh ra cái quả, chẳng phải luân hồi mấy kiếp mà đời người cũng ngắn ngủi như con cá, lá rau, mới sáng đó đã chiều đây... Chị cười hinh hích:
- Chị là chị đến vay vốn nhà chùa làm ăn, sang năm lại trả, “của chùa vay một trả mười”, còn cái lời mình hưởng, chị chẳng hơi đâu mà nghĩ sâu như cậu. Cứ nghĩ vẩn vơ, dông dài như thế thì còn lúc nào mà làm ăn, mà tranh đấu...
Chiếc xe cá mập mười bốn chỗ ngồi, máy lạnh êm ru ghé sát vào thềm nhà. Trên xe đã có mấy bà lố nhố, ai cũng quần nhung áo gấm, ăn nói tự nhiên. Tôi lên xe, ngồi cạnh người đàn ông duy nhất trong đám bạn chị Ngọc. Kể không có tôi, thì ông ta là con gà trống trong đám các mợ gà mái dầu. Tôi chợt bật cười về cái ý nghĩ hơi lưu manh của mình. Chị Ngọc giới thiệu: “Bác sĩ Duy Cương, bác sĩ riêng của bọn chị, một phật tử trung thành!”. Ông ta mặc bộ vét màu trắng, tàu tàu, chiếc cà-vạt hơi mảnh, xiết lấy cái cổ lộ hầu to tướng. Bàn tay ông lạnh, ẩm và lỏng, kèm thêm cái nhớm đít và “Cám ơn”, nghe không rõ giọng Nam hay giọng Bắc. Còn tôi thì chị Ngọc lớn giọng:
- Giới thiệu với quý vị, cậu Vận, em con ông chú tôi, ở Hà Nội vào công tác. Vì nhỡ tàu nên cậu ấy mới ở ăn tết với chúng tôi. Nghề nghiệp là cán bộ thanh tra Nhà nước...
Tôi hơi sượng cúi mặt, ông bác sĩ lại bắt tay tôi vẫn bằng bàn tay lạnh và lỏng “Cám ơn”. Một bà gầy nhô lưỡng quyền gần che lấp mắt, giọng khàn khàn: “Úi dùi ui! Thanh tra chắc là ngon lắm nhỉ?”. Chị tôi cười hà hà, rồi dài giọng:
- Vâng, ngon lắm nên mới bị người ta cho tàu bay giấy mà về nhà ăn tết với mẹ đĩ. Tôi thì tôi biết tỏng tòng tong rồi. Này nhá: Thanh cha, thanh mẹ, thanh gì? Cứ có phong bì là nó thanh kiu!
Cả xe cười ồ! Tôi cũng cười, đúng là câu ca đáng buồn cười thật. Ông bác sĩ lại quay phắt vào tôi bắt tay, có chặt hơn tý chút: “Cám ơn!”.
******

Xe chạy nửa ngày đường mới tới nơi. Ngôi chùa to và đẹp thật. Tôi mua thẻ nhang vào chính điện định cắm nhưng người bảo vệ thu lại, phát cho tôi đúng một cây, bảo đừng đốt nhiều. “Khói bỏ mẹ, ai mà chịu nổi. Đừng tưởng cứ đốt nhiều nhang là Phật thương đâu nha. Này kìa, bà kia, dúi cháy áo người ta...!”. Trai thanh gái lịch, ăn mặc rất mốt, phơi cả một khúc bụng, lúi húi móc gà luộc, bia lon, thuốc 555... ra cúng Phật. Tôi đứng ngắm vị Bồ tát quan âm đẹp thánh thiện, trong đầu cũng nghĩ những điều uớc muốn thầm kín. Xong tôi ra xe hút thuốc với bác tài, chờ các bà còn đi lễ, cầu tài, mượn vốn.
Cậu lái xe này cũng trẻ người nhưng tính tình có vẻ nhu mì. Xe này là của gia đình sắm chạy thuê cho khách du lịch. Cậu ta bảo thỉnh thoảng vẫn chạy cho cô Ngọc, cô chịu chơi lắm. Sao chú không vào trong này mà làm ăn? Cô Ngọc nhiều vốn lại quen biết rộng, cháu đi cháu biết, có cả dân tư bản, Đài Loan, Nhật Bản không! Đang nói chuyện, chợt có một cậu bộ đội, trẻ lắm, trẻ như trẻ con, dáng bơ phờ bụi bặm đến gần tôi lễ phép:
- Dạ, có phải xe chú về thành phố?
Tôi gật đầu. Cậu ta lí nhí:
- Lát nữa chú cho cháu về thành phố được không? Cháu có giấy đây...
Cậu lục lọi trong cái ba lô lộn ngược ra một mớ giấy tờ, rồi chìa cho tôi xem giấy. Hoá ra anh chàng này là lính biên giới được đơn vị cho đi phép về thăm quê ở Lục Ngạn, Hà Bắc.
- Chị dâu cháu ghi thư vào nói mẹ cháu ốm nặng, chị mong cháu về. Cháu được thủ trưởng cho phép, rồi cuốc bộ suốt đêm qua. Ra tới đây, không còn xe đò. Phải chờ tới khuya nay mới có chuyến. Cháu xin chú...
Tôi trả lại anh lính tờ giấy, bảo cậu ta:
- Xe này không phải của tôi, tôi cũng là khách thôi. Em thử hỏi anh lái xe kia...
Cậu ta ngần ngừ rồi đi về phía tài xế. Được mấy bước, nghĩ sao tôi gọi giật lại: “Để tôi hỏi cho!”. Anh tài xế không dám từ chối mà ngần ngại:
- Xe thì còn chỗ đấy nhưng mà cháu sợ cô Ngọc.
- Nếu chú đồng ý thì để tôi nói chị Ngọc cho.
- Vâng tùy chú.
Cậu ta cám ơn tôi rối rít rồi nhét cái ba lô lộn ngược xuống gầm chế, chìa bao thuốc Jet ra mời tôi. Tôi châm lửa và hỏi:
- Em đi bộ đội lâu chưa?
- Dạ, được hơn một năm rồi, đây là lần đầu cháu được đi phép. Vội quá chẳng mua được cái gì. Với lại chú bảo, lính tráng như chúng cháu cũng chả có tiền mà mua. Cháu cần về nhanh cho mẹ cháu mừng. Chỉ sợ mẹ cháu chết mà cháu không được gặp...
Các bà lễ chùa đã ra, họ gọi tôi đi ăn trưa trong cái quán tuy không đồ sộ nhưng cũng vào loại khá sang. Tôi khều cậu bộ đội:”Đi ăn cơm với chúng tôi”, nhưng cậu ta lắc đầu cười ngon lành:
- Cháu ăn từ sáng còn no lắm. Chú cứ đi ăn đi, được chú cho đi nhờ là may cho cháu lắm rồi.
Cơm nước xong, mọi người lên xe, tôi bảo cậu bộ đội ngồi vào phía trong, còn tôi ngồi giữa giáp với ông bác sĩ. Chị Ngọc ngồi trên hàng ghế trước ngang với tài xế, quay xuống, hô to:
- Còn thiếu ai nữa không? Cậu Vận đâu? Lên rồi hả? Nào thôi, xe chạy đi. Chợt chị dựng ngược lông mày. Ê, ông tướng nào kia? Ai cho lên xe?
Chị Ngọc nhìn chằm chằm vào cậu ta rồi quay sang tài xế. Anh ta thản nhiên nhìn ra phía trước, làm như không nghe. Đến lúc chị Ngọc “hử” một tiếng rõ to thì anh ta quay lại:
- Cháu... cháu không biết.
- Thôi xuống đi, ông. Chị Ngọc gằn giọng.
- Cháu... cháu là bộ đội đang làm nhiệm vụ ở biên giới. Cháu xin các ông, các bà cho cháu quá giang về thành phố để kịp mua vé tàu ra Bắc. Mẹ cháu ốm nặng...
- Không có bộ đội bộ đùng gì hết, đây là xe nhà, chứ không phải xe đò. Xuống!
Nghe tiếng chị Ngọc, tôi biết là chị giận lắm. Chắc cậu bộ đội cũng nghĩ thế, nên cậu ta nhớm dậy, cúi xuống gầm ghế, moi cái ba lô lộn ngược. Tôi thấy nghèn nghẹn trong ngực, kéo áo cậu ta ngồi xuống, nhớm lên phía trước, nói với chị Ngọc:
- Cậu này quê ngoài Bắc, là bộ đôi đóng quân ở biên giới, có mẹ ốm nặng. Bây giờ hết xe đò, phải chờ đến ba giờ khuya. Em xin chị cho nó đi nhờ về thành phố...
Chị Ngọc tròn mắt, nhìn tôi như nhìn người lạ từ cõi nào lạc tới. Chị ngoảnh lên, lầm bầm: “Không khéo lại là thằng trấn lột. Rõ rách chuyện. Thôi, chạy đi bác tài”. Tôi chợt cảm thấy nhoi nhói ở đâu đó trong lòng. Nhìn anh bạn trẻ, tôi chợt nghĩ về mình. Tôi cũng đã từng có những lần lỡ đường, phải nài nỉ người ta, mà không khỏi bị xúc phạm. Có điều, thế hệ chúng tôi còn mang trên lưng cái ba lô con cóc lòng thòng dây dợ, túi nhỏ túi to, chứ không biết lộn ngược như những cậu lính trẻ hôm nay. Chiếc xe chuyển động cũng chừng như khó nhọc hơn. Bà lưỡng quyền nhô cất giọng xoe xoé:
- Dạo năm rồi tôi đi Đà Lạt mà gặp một bọn trấn lột kinh hồn lắm nha cô. Chúng nó có hai thằng cũng mặc quần áo y chang mấy cha bộ đội xin quá giang. Nào ngờ lên xe chúng xin tiền, ai không cho chúng “uýnh”. Một cậu thanh niên bị tụi nó “dzục” xuống đường vì không chịu “ói” cái đồng hồ tich-tắc. Kỳ đó, may tôi không đeo cái vòng cẩm hai cây, nếu không chúng dám chặt tay tôi mà lấy quá...
Lời của bà ta ráo hoảnh, giọng chì chiết làm cho mấy bà bạn lắc đầu thè lưỡi. Ông bác sĩ “cám ơn” thở dài sườn sượt. Tôi liếc thấy cậu bộ đội đi nhờ đã ngoẹo đầu vào cửa kính mà ngủ. Xe chạy được chừng một giờ thì thủng bánh, anh tài lặc lè xách cái thùng sắt xuống. Cậu bộ đội đi nhờ tỉnh ngủ, xin tôi nhẹ nhàng xuống phụ với tài xế, lát sau tôi đã thấy tiếng cười khúc khích của anh tài. Thay xong bánh xe, cậu ta lên xe, lấm tấm mồ hôi, một vệt mỡ pha gỉ sắt quẹt ngang trán. Xe chạy lại, không khí đã bớt im lặng hơn. Người ta đã vui vẻ kể cho nhau nghe những chuyện vừa thấy trong chùa. Tôi cũng bắt chước cậu bộ đội, ngả lưng ra sau ghế nhắm mắt lại, dập dềnh theo nhịp xóc của xe. Thế rồi tôi cũng thiu thiu...
Bỗng tôi giật mình, đầu dập mạnh về phía trước, do xe phanh gấp. Tiếng đập cửa thình thình, và không đợi có người ngồi bên trong mở, cánh cửa kéo xoạt, mở toang. Bước lên xe là một tay bặm trợn, có vẻ mặt nhằng nhịt sẹo, trên tay lăm lăm quả lựu đạn US màu xanh bóng loáng. Thôi rồi, kẻ trấn lột thực thụ, không phải câu chuyện của bà lưỡng quyền nhô vừa mới kể. Cũng không phải mơ ngủ, y hằm hằm mặt:
- Ai có tiền, vòng vàng bỏ ra cho. Y cười hềnh hệch, ngửa cái mũ bẩn thỉu ra trước mặt. Đây không muốn giết ai, mà chỉ cần sự biết điều.
Tôi thấy chị Ngọc “biết điều” trước tiên, móc túi bỏ vào một xấp tiền:
- Ngần này đủ rồi đấy, xin ông xuống cho...
Tên trấn lột cười khẩy chìa cái mũ sang bà lưỡng quyền nhô, bà ta đờ người, ú ớ. Tên cướp ngày dí quả lựu đạn vào trán, làm bà ta tháo vội chiếc nhẫn vàng khá to ra. Xong xuôi, y đến hàng ghế tôi, ông bác sĩ ngoẹo vào tôi như một cái xác lạnh toát. Tôi còn đang lúng túng chưa biết cách nào, chỉ lo ông bác sĩ chết. Tên cướp tuồng như có ái ngại tí chút, nó chỉ đứng yên, vẻ sốt ruột nhưng không dí lựu đạn vào tôi. Cậu bộ đội quài qua người tôi, đưa hai tay lắc đầu ông bác sĩ. Bất ngờ, cậu ta vọt đứng dậy, đầu đụng trần xe một tiếng kịch khô khan. Bàn tay cậu tóm gọn cổ tay tên cướp, vặn mạnh làm nó kêu lên một tiếng đau đớn:
- Dang ra, tao cho chết hết bây giờ!
Trong một khỏang chật hẹp như thế, mà cậu ta vẫn đánh mạnh vào gáy tên cướp làm nó ngã vật ra sàn xe, quả lựu đạn lăn ra. Có tiếng thét:
- Đừng đánh nó! Coi chừng lựu đạn nổ chết hết giờ...
Tôi cũng hoảng, trái lựu đạn này của Mỹ, nó mà nổ thì sát thương không biết chừng nào. Bằng này con người ngồi trong chiếc xe chật hẹp, chắc là chết hết. Nhưng cậu bộ đội đi nhờ đã nắm gọn quả lựu đạn trên tay, cười:
- Xin các bà đừng lo. Lựu đạn giả thôi mà. Đoạn cậu xốc cổ tên cướp lên, xoay mặt hắn lại. Thiếu tiền nhậu phải không? Mấy lần rồi?
Tên cướp lí nhí trong cổ, rồi ngoan ngoãn nhặt trả lại những thứ vừa cướp. Bấy giờ các bà mới hoàn hồn, thi nhau lên tiếng, ai cũng đanh thép:
- Đánh cho nó một trận nhừ tử để nó không còn chân tay mà đi cướp!
- Lôi cổ nó đến nộp cho đồn công an!
Tên cướp sụp xuống trước mặt cậu bộ đội:
- Đại ca, xin đại ca tha cho. Lần sau em không dám tái phạm.
Cậu bộ đội hướng về phía chị Ngọc:
-Thưa các bà, các bác, cháu đề nghị tha cho tên này. Sức lực nó yếu lắm, dân xì ke, liều mạng vậy thôi, chứ nó nhát lắm. Đánh nó hay giao nó cho công an cũng được, nhưng khổ cho nó, mà rồi chắc gì nó tốt hơn hay lại... Còn mày, không bao giờ làm như thế nữa, hiểu chưa? Lừa người ta không dễ đâu, tao nhìn tao biết là đồ dỏm mà. Xuống xe ngay, còn quả lựu đạn dỏm này để tao quẳng nó đi...
Tên cướp lủi mất, anh tài xế vừa cho xe chạy vội vừa thanh minh:
- Thấy nó chặn đầu xe, cháu cũng bất ngờ, bụng nghi nghi, không dừng lại sợ nó làm ẩu thành tai nạn… Ai ngờ, nó dám liều vậy.
- Lần sau chú không được dừng xe, có hư hỏng đâu tôi đền. Chứ như vừa rồi, sinh mạng bao nhiêu con người... Chị Ngọc nghiêm giọng.
Ông bác sĩ lúc này cũng đã tỉnh lại, lần tay tôi, thều thào “Cám ơn!”. Nhưng câu chuyện có vẻ nhạt nhẽo. Tôi nhìn sang, người khách đi nhờ đã lại ngoẹo đầu vào cửa kính mà ngủ.
******


Xe chạy vào thành phố, đèn đường và hàng quán khách sạn sáng choang. Cậu bô đội đi nhờ hỏi tôi:
- Đây là đâu hả chú? Đến ga chưa ạ?
- Tôi cũng lạ lắm, không biết gì về thành phố này cả. Để hỏi anh lái xe xem.
Từ trên, chị Ngọc ngoảnh xuống, thông báo:
- Đến thành phố rồi đấy. Ông bộ đội quá giang đâu, xuống đi...
Cậu ta nhanh nhẹn bước ra, giọng lễ phép:
- Cháu xin cám ơn các bà, các ông, cám ơn bác tài cho cháu quá giang. Chúc các vị bình an...
Có tiếng bà lưỡng quyền: “Thôi, đi đi, còn dài dòng vòng vo”. Cậu ta làm như không nghe thấy, nắm tay tôi thật chặt. Trong bóng tối, tôi nhìn vào cặp mắt sáng rực rỡ của cậu ta, thầm mong cho cậu may mắn. Ông bác sĩ cũng bắt tay cậu kèm theo câu “cám ơn”. Xe chạy, tôi nhìn ra cửa kính, thấy cậu ta đang ngơ ngác trước bạt ngàn người xe và ánh đèn sặc sỡ. Bên cạnh cậu, chỉ có một cây cột điện im lặng, nhưng ghi đậm vào trí nhớ của tôi.
Về nhà, tôi chưa thay quần áo, bảo thằng Hùng con trai lớn chị Ngọc:
- Cháu có bận gì không? Lấy xe chở cậu đi đằng này tí...
Tôi cảm thấy xe chạy chậm quá, mặc dù thằng Hùng chạy xe lạng lách khá điệu. Đến đoạn đường khi nãy, không thấy ai trên cái mô đất vỉa hè công cộng. Tôi bảo Hùng chạy đi chạy lại mấy lần, nhưng chỉ có cây cột điện thì vẫn còn đó, nó in trong trí nhớ của tôi. Hùng sốt ruột:
- Cậu tìm ai? Có hẹn à?
- Không. Không có ai đâu. Về thôi...
My company: www.procard.com.vn
0
LAN HUỆ SẦU AI
Hoàng Đình Quang

Lời một câu hát: Lan Huệ sầu ai, Lan Huệ héo.
Thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện lỵ của huyện Vĩnh Thạnh nằm chếch về hướng đông bắc so với vùng hoa Quy Tân, một làng hoa nổi tiếng của miền Nam. Tôi có nhiệm vụ phải về vùng hoa này. Nhiệm vụ nhưng không chính thức, là do tôi tự ra nhiệm vụ cho mình, thế nên chẳng có cơ quan, đơn vị nào đón tiếp. Nắng ngả sang chiều rồi, mà tôi lại muốn đến Vĩnh Thạnh trước khi trời tối, xe đò thì muộn mất, nên tìm một tay xe ôm cho nhanh. Anh xe lúc đầu có vẻ kín tiếng, nhưng được khoảng dăm cây số, anh ta bắt đầu chất vấn tôi, cứ như thể tôi đi làm một việc vụng trộm, gian manh hay ít ra cũng là tay buôn lậu:
-Tại sao tôi nói ba chục ngàn, ông thầy không trả giá?
Tôi hơi khó chịu, nhưng cũng muốn chọc anh vài câu chuyện phiếm cho đỡ dài đường, nên hỏi lại:
-Nếu tôi trả giá anh có bớt không?
- Cái đó chưa biết à!
-Tôi không trả giá là để anh hiểu thế nào cũng được...
Anh ngớt ga, quay lại hỏi một cách ngạc nhiên, văng cả nước miếng vào mặt tôi:
- Hiểu thế nào cũng được là sao?
- Hoặc anh cho là tôi ngốc để anh thương, hoặc là tôi "sộp" để anh ngán!
Anh ta cười vang, vừa cho xe luồn lách qua những ổ gà, ổ chuột, vừa quay lại nói vào mũi tôi, đến nỗi tôi phải bấm vào sườn anh mà bảo: "Cẩn thận, tôi không muốn vào nhà thương đâu!"
-Yên tâm đi! Tôi chạy xe có hạng trên lộ này mà... Rồi, sắp tới Vĩnh Thạnh rồi đây, ông thầy tới khúc nào?
Thực tình tôi cũng không biết là tới khúc nào bây giờ? Đành bảo:
-Anh chạy vô trung tâm thị trấn, kiếm một quán cà phê, anh em ta ngồi chơi, anh có bận việc gì không?
-Xe ôm thì lúc nào bận, lúc nào rảnh! Được rồi...
Chiếc xe Honda 67, tuy cũ kĩ nhưng chạy cũng khá hăng, đang nóng máy, lúc dừng lại tỏa mùi cháy khét. Vào quán tôi hỏi anh uống gì, anh ta quay đầu vào trong kêu một tiếng rõ to:
- Cho ly trà đá, Bảy ơi!
Lát sau, một bà chị sồn sồn cỡ ngoài bốn chục từ trong bếp chui ra, nhìn thấy anh tài xe ôm, Bảy cười phe phé:
-Trời đất! Thằng Thức "kỹ sư"! Mới về hả?
Anh ta tên Thức "kĩ sư"!
- Nóng thấy mẹ, chị cho ly trà đá lẹ lên! Có khách về thị trấn thì về luôn, hỏi chi hỏi hoài vậy! Thức phanh ngực áo quạt bằng cái nón rằn ri phành phạch.
Chị Bảy nhìn tôi:
-Bạn của thằng Thức hả? Uống gì, hay cũng trà đá?
Tôi lưỡng lự rồi bảo chị chủ quán:
- Có bia Sài Gòn không, chị cho hai chai! Có cái gì lai rai, tốt nhất là đậu phộng...
Chị Bảy quay vào quầy, tôi hỏi:
-Anh tên Thức à? Sao lại gọi là Thức "kỹ sư"?
Thức không trả lời ngay, anh xoay xoay cái mũ trên tay, nhìn tôi nheo nheo:
-Ông thầy làm nghề gì? Đi đâu đây?
Tự dưng như có người mách bảo, tôi nghĩ ra một cái gì đó, như một trò chơi. Tôi nói là tôi đi tìm một người quen từ hơn hai mươi năm qua. Lúc ở nhà đi thì hăng lắm, nhưng bây giờ tới nơi rồi lại thấy ngại...
-Bạn tình à?
-Bạn gái!
Thức nhìn tôi vẻ nghi ngờ, tủm tỉm cười:
-Nếu đúng vậy thì cũng hay ta! Chuyện có vẻ mùi mẫn hả?
Bảy núng niếng đem bia ra, tôi rót bia rồi đẩy ly bia đến trước mặt Thức:
-Mời anh! Tôi trả lời câu hỏi của anh rồi! Còn anh?
Thức uống một hớp, đặt xuống lấy ống tay áo chùi bọt bia trên mép:
-Tôi uống dở lắm! Nói đàn ông Nam bộ mà uống dở chắc ông không tin, nhưng uống một ly vô nó đỏ tới ót! Kỳ lắm! Thức uống thêm một ngụm bia nữa rồi nhìn tôi. Bây giờ ông thầy tính sao? Trời cũng sắp tối rồi, nhà bạn ông thầy ở khúc nào tôi chở đến, rồi còn quay trở ra kiếm khách...
Tôi ngần ngừ, hỏi:
-Anh rành thị trấn này không, Thức?
-Tôi sanh ở trong ruộng, lớn lên học hành tại đây mà sao không rành! Cái thị trấn nhỏ xiu vầy, không chừng tôi cũng quen bạn gái của ông thầy... Cái gì? Hơn hai mươi năm trước giờ chắc cũng da nhăn, tóc trắng, ngồi sui rồi rồi còn gì nữa ông? Mà bạn gái của ông thầy tên gì?
-Tên Lan! Tôi buột mồm, nói ra một cái tên.
-Hay! Thức vỗ cái rầm xuống bàn. Chuyện này hay à nha! Rồi anh ta bỗng dưng ngâm ti tỉ: "Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo...!"
Tiếng ngâm nỉ non trong chiều muộn, trong quán cóc, nghe cứ u u, âm âm... Đúng Thức là kỹ sư thiệt rồi, là người có học thiệt rồi! Tôi nhìn anh thấy ngộ, khẽ cười, nhưng Thức vẫn không để ý. Có lẽ anh ta uống kém thiệt, có một ly đã ra thơ ca rồi! Cũng là một tay lãng tử.
-Anh có biết nhà ai cho thuê ngủ trọ đêm nay không?
-Sao? Thức như giật mình. Tính ngủ trọ à? Sao không vô thẳng nhà người ta?
-Hơn hai chục năm rồi, biết người ta còn nhớ mình không mà tới? Đường đột quá, e...
-Ờ há ... Để coi. Ông ngồi chờ tôi chừng năm phút. Mà định nhà trọ cỡ nào? Ở bao nhiêu lâu?
-Thường thôi, nhưng đừng vô nhà trọ, tốt nhất là nhà nào là người dân cũ ở đây!
Thức ào lên xe chạy đi. Chừng mười lăm phút sau, anh ta quay lại, kéo ghế ngồi, lật mũ quạt phành phạch:
-Rồi! Ông thầy muốn ở bao lâu cũng được! Nhà này vào loại sang trong thị trấn, chắc ông thầy không chê, giá cả thì tùy, đừng để người ta thiệt...
-Nhưng tôi không thích nhà trọ hay khách sạn!
-Không phải nhà trọ, cũng không phải khách sạn! Nhà dân, đúng hơn là nhà quan, nhưng bây giờ là dân rồi! Tôi bảo lãnh ông thầy là bạn tôi, có hoàn cảnh thấy cũng ngộ, đáng khen! Nhưng trước khi vô, tôi phải kể cho ông thầy nghe chuyện này đã, coi như tôi với ông thân nhau lắm rồi nghe!
******


-Nghe bà Bảy kêu tôi là Thức kỹ sư, ông ngạc nhiên lắm phải không? Tôi là kỹ sư thứ thiệt đó! Tốt nghiệp Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, khoa cơ khí! Đó, anh hất hàm ra cửa quán, ông thầy ngó cái xe honda của tôi kia, có thấy cái két nước do tôi chế tạo không? Chạy bốc dữ lắm nghen... Ra trường mười hai năm nay rồi. Lúc đầu tôi đi làm ở một xưởng cơ khí đóng xà-lan trên Bình Thạnh, lương cũng khá, nhưng... ông già kêu về quê lấy vợ, tôi bỏ nghề. Lấy vợ rồi đưa nhau lên thị xã, tôi mở tiệm sửa xe gắn máy. Mấy năm không thấy khá, tôi bỏ tiệm cho thằng em vợ, chạy xe ôm. Tôi mới chạy xe năm rồi, thấy khỏe hơn...
Chắc thế nào ông thầy cũng hỏi: sao lấy vợ mà phải bỏ nghề, bỏ chỗ làm? Từ một anh kỹ sư được đào tạo chánh quy hẳn hoi lấy vợ vào trở thành anh xe ôm? Chắc vợ tôi phải ghê gớm dữ dằn lắm? Không! Vợ tôi là một cô gái bình thường, rất dễ thương, biết buôn bán chút đỉnh. Lấy được tôi bả mừng hết lớn, cưng chiều tôi dữ lắm nghen! Nếu không vậy, sao bả cho tôi ra chạy xe ôm! Tôi là kỹ sư bả cũng thương mà làm anh xe ôm bả cũng yêu! Hỏi khắp xứ nầy có ai được như vợ tôi không? Kiếm được đồng nào tôi xài thả câu, không hề đưa cho bả đồng cắc! Nói láo làm con ông! Một tay bả nuôi con ăn học, tôi chả héo lánh gì! Nghĩ mình sướng thiệt! Ấy, nó cũng có cái duyên cớ, cái lý do của nó. Rồi tôi kể cho ông thầy nghe ngay bây giờ đây... Tôi nói con nhỏ chủ nhà xếp phòng cho ông rồi, chờ chút xíu! Nhớ đưa giấy tờ tùy thân kẻo chánh quyền làm khó dễ, nhà nầy giờ là đối tượng làm khó nha!
Lại thế nữa! Nhưng mà có khi thế lại hay, biết đâu chẳng ẩn chứa một câu chuyện đời nào, cũng như anh chàng Thức kỹ sư - xe ôm này, khối chuyện! Thức nhón một hột đậu phộng, thả vào cái miệng rất lém, vừa nhai vừa hỏi:
-Hồi nhỏ đi học, ông thầy có thương ai không? Thương con nhỏ nào cùng lớp ấy? Có hả! Nhìn tướng biết mà. Hồi học cấp 3, tôi có để ý một nhỏ cùng lớp, cùng tuổi, tên Huệ. Nhà tôi ở trong ruộng, học lên cấp ba tôi phải ra thị trấn, trường cấp ba hồi nãy vừa đi ngang đó. Nhà Huệ ở Vĩnh Nguơn, cách xã tôi một con kênh, Huệ có xe máy (tức là xe đạp đó, còn xe gắn máy thì gọi là Honđa, ông có nghe dân tụi này kêu vậy không?), còn tôi đi bộ. Thấy tội nghiệp, Huệ cho tôi quá giang xe, đến bờ kênh có cây cầu khỉ thì Huệ về, còn tôi leo qua, đi bộ chừng hai cây số về nhà! Sáng sớm mai, ai ra trước lại chờ nhau ở đó. Riết hai năm chúng tôi thân nhau, tụi bạn đứa nào cũng bảo thằng Thức bồ với con Huệ rồi! Hình như Huệ cũng thích tôi, vậy mà tôi thì chỉ hơi thinh thích thôi, không mê, mà lại còn sợ nữa! Cũng không biết là sợ cái gì, chỉ thấy nếu mình thương Huệ thì kỳ quá!
Học hết lớp 11, Huệ lấy chồng! Tin đó làm tôi bải hoải tâm thần! Hình như tôi thương Huệ thiệt, chỉ đến khi Huệ đi lấy chồng tôi mới thấy mất con cá! Con cá biệt tăm, còn tôi đâm ra làm thơ, làm nhiều lắm, chẳng cần vần điệu, quy tắc nào hết! Một cậu trai 17 tuổi thất tình làm thơ thì ít mà lấy thơ của người khác, chế thành của mình cũng có. Tỷ dụ như:
"Bướm vàng đậu đọt mù u;
Lấy chồng chi sớm, lời ru sẽ buồn;
Tôi về nhà lấy vợ luôn;
Vợ tôi không đẹp, nhưng buồn lấy chơi!"
Vậy đó! Tức cười há? Năm sau tôi tính nghỉ học nhưng ông bà già không cho, hứa mùa tới bán lúa mua xe đạp cho tôi, đành nghe theo vậy. Ngày đầu tiên tới trường mà không còn Huệ, tôi lê đôi chân dài thoòng của mình qua cầu khỉ. Đang rầu thúi ruột gan, tôi nghe tiếng con gái sau lưng: "Ếp ếp!" Ông cũng biết hả? Đó là tiếng ra hiệu cho xe đạp tránh đường, cái kiểu "chuông" của dân xứ tôi là vậy đó! Tôi nép qua một bên, quay đầu lại thì, trời ơi... Huệ! Huệ lấy chồng mà còn đi học? Lại trẻ ra, đẹp hơn nhiều lần! Sao bảo lấy chồng cực lắm mà? Huệ nhìn tôi cười, rồi đạp vù qua mặt tôi như chưa từng quen biết! Tôi xây xẩm mặt mày, tay chân loạng quạng. Được một chút tôi bình tĩnh lại nghĩ: "Thôi, buồn mà làm chi Thức ơi, thiếu gì người đẹp hơn Huệ! Cái thứ người bạc tình vậy thì thương nhớ làm chi cho uổng hơi! Cứ thế tôi đi như chạy đến trường.
Được một khúc khá xa, tôi thấy Huệ dừng xe bên đường, dáng bộ lúng túng, nhìn tôi như cầu khẩn. Tôi vờ như không thấy, cứ ngó thẳng và đi thẳng. Được mấy bước, Huệ gọi tôi:
-Anh Thức!
Nghe giọng như muốn khóc của Huệ, tôi thấy hả hê trong bụng lắm, không thèm dừng lại. Nhưng nghe kêu "Anh Thức!" lần nữa, tôi không cầm lòng được, quay cổ lại, lạnh lùng:
-Chi vậy?
Huệ lấy ống tay áo lau nước mắt:
-Cái xe máy của em... bị sút sên!
Ra vậy! Tôi quay lại, không ngó Huệ, ra tay "anh hùng tiếng đã gọi rằng", lắp lại cái xích xe đạp. Huệ đứng giữ cho cái xe khỏi ngả, ngó tôi làm, tôi thấy nóng nóng trên đầu. Bỗng Huệ hỏi:
-Anh có phải là anh Thức, con bác Tám bên Vĩnh Hoà không?
Trời đất ơi! Tôi ngó lên thấy đoii mắt của Huệ đã lung liêng cuời cuời. Tôi hỏi lại:
-Sao Huệ hỏi tui kỳ vậy?
Lần này thì Huệ cười rất giòn:
-Em đâu có phải Huệ! Chị Huệ lấy chồng qua bên nhà chồng ở Kinh Xáng rồi!
-Vậy chớ... Tôi lấy tay quệt mồ hôi trên trán, nhìn cô gái ấp úng.
-Em là Huệ Em, em của chị Huệ! Bộ anh tưởng em là Huệ hả!
Tôi lặng người sung sướng, trao xe cho Huệ Em, cười gượng gạo:
-Sao hai chị em giống nhau quá vậy?
Huệ Em giục:
-Trễ giờ học mất rồi! Anh chở em tới trường nghen!
Tôi ngoan ngoãn nghe theo Huệ Em. Ngồi sau lưng tôi, Huệ Em giải thích:
-Em tên Huệ Em, còn chị Huệ là Huệ Chị! Kỳ vậy đó!
- Ừ, kỳ thiệt!
Từ đó, tôi không còn Huệ Chị, nhưng tôi đã có Huệ Em. Huệ Em mới lên cấp 3, học lớp 10! Mỗi ngày tới trường tôi cùng Huệ Em chở nhau trên chiếc xe đạp màu xanh của em. Một hôm Huệ Em hỏi tôi:
-Hồi đó anh thương chị Huệ thiệt hả?
Tôi im lặng một hồi rồi quay qua nhìn thẳng vào mắt Huệ Em:
-Ai nói với em vậy?
-Hổng có ai nói hết! Em cảm thấy...
Lần này, tôi đã có chút kinh nghiệm, quyết không để mất con chim vàng của mình nữa:
-Thế bây giờ em có cảm thấy gì không?
Huệ Em không nói, em ôm cặp trước ngực một mình đi trước, tôi dẫn xe theo sau. Lát sau Huệ Em hất mái tóc ngược ra sau vai, ngẩng lên nhìn tôi:
-Em giống chị Huệ không?
Trời ơi! Đôi mắt đen ươn ướt của Huệ Em, đôi mắt mà sau này tôi mới biết nó báo hiệu cho một cuộc đời nhiều đa đoan, sóng gió... Nhưng lúc ấy đôi mắt ấy nhìn tôi với bao thách thức. Huệ Em đang ở vào tuổi trăng tròn, thân hình còn những khiếm khuyết của người con gái đang lớn. Vẻ đẹp của Huệ Em như bông hoa hàm tiếu, chưa ai nỡ đụng tới, chưa gây cho người ta khát vọng chiếm đoạt...
-Còn hỏi! Bữa gặp em lần đầu, anh nhầm em với Huệ, nhớ không? Hồi đó anh không có thương Huệ, chỉ thấy có cái gì đó kỳ kỳ. Chỉ khi Huệ lấy chồng anh mới thấy buồn! Một khoảng trống mênh mông, mất mát! Giờ có em... Tôi buông lửng câu nói, Huệ Em nhìn tôi rồi bất ngờ hỏi lại:
-Trám vô cái khoảng trống đó?
******


Đúng là tôi đã "trám" Huệ Em vào cái khoảng trống trong trái tim tôi. Khoảng trống mà một lần trong đời thằng con trai nào cũng dễ có, hay đúng hơn, tưởng đó là khoảng trống. Cuối năm thi tốt nghiệp lớp 12 xong tôi đến chơi nhà Huệ Em, lấy cớ tặng em mấy cuốn sách và trao đổi chút kinh nghiệm của người đi trước, cũng đường hoàng, đạo mạo lắm nghe, đồng thời cũng là để từ biệt em trước khi lên Sài Gòn thi đại học. Trên đường đi tôi định bụng sẽ làm cho thiệt bảnh, để cho mọi người thấy rằng tôi và Huệ Em đã thương nhau rồi. Nào ngờ, khi tới nhà, tay chân miệng lưỡi tôi để đâu hết, cứ xớ rớ như người đi muợn bạc. Huệ Em nắm tay tôi dẫn thẳng vô nhà, giới thiệu với má:
-Anh Thức bên Vĩnh Hoà, hồi đó học chung lớp với Huệ Chị đó má! Rồi tự nhiên Huệ Em che miệng cười rúc rích. Bà má đang ngồi trên võng thấy con gái cười, bà mắng:
-Con nhỏ này "vô duyên" thiệt! Có bạn tới nhà chơi thì rót nước mời khách, chớ có chi bây cười?
-Hồi đó Huệ Chị lấy chồng ảnh buồn tính bỏ học đó má ơi! Ngày mai ảnh lên Sài Gòn thi đại học, bữa nay ảnh qua tính...
Tôi lặng người, không biết nói sao, cứ cười như thằng trệt. Má Huệ Em cũng cười, nhìn tôi:
-Nó lấy chồng thây kệ nó, bây còn tính gì?
-Ảnh tính "trám" Huệ Em vô chỗ Huệ Chị đó má!
Nói rồi Huệ Em cười ré lên, bỏ chạy xuống bếp, để tôi một mình chịu trận với bà già. Tôi sung sướng đến ngây ngô như người trúng số độc đắc, cứ mân mê trong tay cái nón kết. Bà má thấy tội nghiệp, sai tôi leo lên cây dừa bẻ mấy trái xuống cho bả... uống nước! Thức ngừng kể, cầm ly uống một hơi. Tôi dè dặt hỏi:
-Vậy bà xã anh bây giờ là Huệ Em?
Thức không trả lời vì đang dở hớp bia, anh khua tay ra hiệu. Lát sau, anh rầu rầu:
-Được vậy thì còn nói chi! Làm gì có chuyện kể cho ông nghe lúc này... Tôi thi đậu Đại học bách khoa, học năm thứ tư thì gia đình bên tôi qua nhà Huệ Em để người lớn nói chuyện. Lúc này Huệ Em đang học trung cấp thống kê bên Cần Thơ. Chúng tôi thống nhất để khi nào Huệ Em ra trường về công tác ở huyện thì chúng tôi làm đám cưới. Còn tôi do học khá nên được Xí nghiệp cơ khí Thanh Đa nhận vô làm việc liền. Huệ Em về huyện công tác được một thời gian mà tôi thì bận quá chưa về tính chuyện cưới hỏi được, nên chỉ thỉnh thoảng mới gửi thư về cho Huệ Em. Huệ Em cũng gửi thư cho tôi thường xuyên, lời lẽ tình ý trong thư nồng thắm lắm. Bỗng dưng, ba tôi nhắn về gấp để lo chuyện cưới vợ. Tôi phải xin phép khó khăn lắm giám đốc mới cho nghỉ.
Về đến thị trấn trời vừa sập tối, tôi chạy như bay về nhà. Nhưng như người ta thường nói: khi người ta yêu trái tim đã bị mù! Tới cây cầu khỉ, thay vì về nhà, tôi lại thẳng đến nhà Huệ Em. Hăm hở, tự tin như một chàng rể quý, tôi phóng thẳng vào giữa sân. Con chó vàng thấy tôi thì hực lên một tiếng rồi vẫy đuôi mừng ríu rít. Trong nhà cây đèn khí đá sáng chói mắt, ba của Huệ Em và một người đàn ông đang ngồi bên bàn nước. Tôi lén ra sau bếp tìm người yêu. Huệ Em đang ngồi một mình, im lặng bên nồi cám heo. Thấy tôi, Huệ Em giật mình, lộ vẻ hốt hoảng rồi quay mặt đi, bối rối. Tôi ngồi xuống bên cạnh, tính hôn đại một cái lên tóc Huệ Em, nhưng em né tránh. Tôi hỏi sao vậy, Huệ Em ngồi im lặng một lúc rồi thổn thức khóc. Đúng lúc ấy thì má của Huệ Em đi vô, bà nhìn tôi bằng cái nhìn rất kì lạ, rồi hỏi:
-Thằng Thức về hồi nào?
-Dạ, con mới về tới.
-Bây đã về nhà chưa? Chưa hả?
Tôi lo lắng hỏi lại:
-Ủa! Sao má biết? Nhận được thơ của ba con, con phải xin mãi ông giám đốc ổng mới cho nghỉ phép một tuần. Về tới chợ trời vừa tối, con về đây trước rồi chút về trong trỏng...
Bà má không trả lời tôi, loay hoay với cái gì đó trên tay rồi đi lên nhà trên. Thấy mọi người im lặng, tôi đoán chừng có chuyện gì xảy ra, nhưng không dám hỏi. Lát sau có tiếng ba của Huệ Em:
-Con Tư đâu rồi? Anh Năm về kìa!
Huệ Em uể oải đứng dậy, tôi cũng đứng lên theo. Ông già xuống bếp nhìn thấy tôi, ổng không ngạc nhiên mà tỉnh khô:
-Thằng Thức lên đây tao có câu chuyện muốn nói!
Huệ Em tiễn Anh Năm nào đó, rồi ra sau bờ mương, tôi lên nhà, rón rén ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ba của Huệ Em. Ông già bối rối vân vê vấn điếu thuốc rê mấy lần toàn bị rách giấy. Tôi lấy bao thuốc chìa ra mời:
-Ba hút thuốc này nè...
Ông già dục nhúm thuốc xuống sàn nhà, cầm điếu thuốc của tôi, châm lửa phả khói mù mịt một cách nặng nhọc. Lâu sau, ông nhìn tôi:
-Bây biết ai vừa đi ra đó không?
Người đó là Năm Bình, vừa trúng hội đồng huyện và sắp trở thành rể của ông, chồng của Huệ Em! Tôi không nghe ông già giải thích và hình như ổng cũng không giải thích gì cả. Tôi lặng lẽ xách cái giỏ nghèo nàn của mình ra khỏi nhà Huệ Em mà không chào ai. Qua cổng, tôi thấy bóng Huệ Em trong lùm cây thiết mộc lan, hình như có tiếng gọi "Anh Thức!", nhưng tôi im lặng. Chỉ có con chó vàng là ríu rít quấn lấy chân tôi, đưa tiễn. Tôi không về nhà, lội bộ ra thị trấn, đón một chiếc xe lên thẳng Sài Gòn.
******


Thức kỹ sư đưa tôi đến trước một ngôi biệt thự màu mè, có vẻ lạc lõng với khung cảnh đìu hiu của thị trấn. Một thiếu phụ chạy ra mở cổng mà không nói gì. Thức chống xe giữa sân, nắm áo kéo tôi đi theo người thiếu phụ, chính là chủ ngôi nhà. Chủ nhà kéo mở cánh cửa một căn phòng, có cửa sổ nhìn ra con lạch nhỏ xanh ngắt lục bình. Thức đẩy tôi vào:
-Ông thầy có thể ở mấy ngày cũng được, chừng nào xong việc thì trả tiền cho chủ nhà. Đoạn anh ta quay sang người thiếu phụ. Bây nói lấy ông thầy nhiêu?
Thiếu phụ ngước đôi mắt ánh màu xanh pha chút hoàng hôn đang đỏ cháy ngoài sông nhìn tôi như thể ước lượng:
-Dạ, chú là bạn của anh Thức, cho nhiêu cho...
-Bậy nào! Ông thầy là bạn tao thiệt, nhưng ở thì phải trả tiền. Thôi, như đã nói với bây, lấy người ta một trăm, lấy ổng năm chục một ngày đêm! Ông thầy thấy được không?
Tôi như người ngoài cuộc bị hỏi bất thần, lúng túng:
-Tùy chị chủ nhà!
-Xong! Thức khoát tay. Còn ăn uống ông thầy ra ngoài quán Bảy hồi nãy đó!
Thức quay đi mà không chào ai, tôi chạy với theo:
-Như thế có thiệt quá không, anh Thức?
Anh chàng xe ôm nhìn tôi tỏ vẻ khó chịu:
-Thiệt thòi gì!
-Bà con à?
Vẫn cái nhìn khó chịu, nhưng đã dịu hơn, Thức nắm tay tôi kéo đi một quãng, giọng anh nhỏ xuống:
-Ông thầy nghe nầy, Huệ Em mà tôi đã kể cho ông thầy nghe, vợ Năm Bình chủ tịch huyện đó! Năm Bình vừa mới nổ súng lục vào đầu tự sát, báo chí làm um sùm lên ông thầy có nghe không? Y tự vẫn, để lại ngôi biệt thự nầy với ba đứa con. Tôi thấy ngôi nhà lớn quá bỏ uổng, bảo nó cho người lỡ đường nghỉ, kiếm thêm...
-Trong nhà có ai nữa không?
-Có! Bà già Huệ Em đang ở trỏng, nhưng tôi không muốn gặp! Ông thầy cứ nghỉ cho thoái mái, chừng nào tìm thấy cô Lan thì hãy đi... Nhớ tìm cho được người ta nghe, ông thầy!
Tôi trở lại căn phòng bắt đầu chập choạng ánh chiều. Vẻ đìu hiu của thị trấn đã tràn vào tận đây. Cứ để nguyên cả áo quần, giày vớ, tôi nằm vật ra giường...
Thức ơi, anh nhầm rồi, Lan của tôi là một người xinh đẹp nhất trong những người xinh đẹp, chung thủy nhất trong những tấm lòng vàng. Hai mươi năm trước, Lan đã đi qua cuộc đời tôi như một ánh chớp, một dòng xoáy, nàng cũng ra đi như Huệ em hay Huệ chị của anh và mang theo niềm hy vọng của tôi! Thế nhưng, may sao Lan của tôi không có thật! Không bao giờ có thật. Nàng chỉ là tưởng tượng của tôi từ trong sâu thẳm trái tim một thời thơ dại! Nàng mãi mãi là nỗi nhớ thương da diết trong tôi! Và nếu như nàng có thật trong cuộc đời này, nàng sẽ hạnh phúc, trong khoảnh khắc và lâu dài mãi mãi trong trái tim tôi, trong vòng tay tôi! Ngày mai, trong cái thị trấn nhỏ bé, vừa thân thuộc thương yêu, vừa xa cách lạ lùng, tôi sẽ đi tìm nàng!
Tôi thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi, mơ mòng. Khi tôi tỉnh dậy đêm đã khuya, khuya lắm rồi!
My company: www.procard.com.vn
0
CỦA HỒI MÔN
La Thị Ánh Hường

Ai cũng nói : “Phải chi cô Út là một thằng con trai thì hay biết mấy!”. Mà đâu phải nhà ông bà không có con trai. Chú Long và chú Khôi đã có vợ con đề huề cả, nhưng vì cuộc sống mưu sinh vất vả, họ phải đi làm ăn tứ xứ. Khi thì ở Biên Hòa, lúc lại xuôi về miền Tây. Cả năm người con gái của ông cũng lấy chồng xa nhà. Thỉnh thoảng ghé xách cho ông bà nải chuối, miếng thịt, khi khác lại dúi vào tay bà mấy tờ hai chục nhàu nát. Bà không lấy, vẫn cứ đưa. Lúc về bà lại phải len lén bỏ vào túi quần thằng cu Bin, bà khóc: “Mẹ con dầm mưa dãi nắng mới kiếm được vài đồng, cho bà làm gì, giữ lấy cho con cái đến trường để biết chữ với người ta”. Thằng bé nghe chẳng hiểu gì, mãi khi thấy có giọt nước rơi xuống từ khoé mắt bà, nó mới chạy ra sau vườn lắc lắc tay mẹ, ngọng nghịu: “Mẹ ơi bà đang khóc!”.
Các chị đề nghị: “Một trong hai chú phải về ở với ông bà!”. Thực ra thì hai chú cũng không phải dạng người chối bỏ quy luật gia tộc; con trai phải phụng dưỡng bố mẹ. Cũng từ quy luật đó nên không tránh khỏi suy nghĩ trọng nam khinh nữ rất rõ rệt trong gia đình ông. Đến bây giờ, ông vẫn ân hận tại sao ngày đó ông lại chấp nhận cho chú Long ở rể. Vậy là ông chỉ còn chú Khôi – người con trai sẽ kề cận ông bà cho đến cuối đời. Không ngờ lấy vợ xong, hai vợ chồng lại chỉ có duy nhất cái nghề bán quần áo dạo. Mà nghề ấy chỉ bán được ở những nơi đông người. Có ngày phải bôn ba đến mấy cái chợ mới có đủ số tiền chi tiêu trong ngày.
Mà nhà ông lại ở tận ngoại thành – một huyện heo hút nhất trong thành phố, cả người cũng lác đác thì lấy gì có chợ. Chú thím phải thuê nhà trọ trong một con hẻm sâu, ngày ngày đi lấy hàng ở chợ Tân Bình về bán. Có khi cả tháng không về thăm ông bà được lần nào.
Khi ấy cô Út mới mười tám, cái tuổi trổ mã nhìn cô đầy đặn và xinh tươi như một đoá hoa trong buổi bình minh. Chỉ có đôi mắt là buồn. Cái nét buồn của đứa con gái mới lớn chưa nói lên một điều gì rõ ràng, nhưng cứ nhìn vào lại có cảm giác xót xa.
Ngày cô cầm tờ giấy báo đậu đại học ở một ngôi trường nổi tiếng nằm ngay trung tâm thành phố. Khi ấy bà không có nhà, ông đang ngồi trầm ngâm với những con tướng, con pháo cùng một người hàng xóm – Một thói quen mà ông rất thích.
Cô hỏi, ông đưa tay chỉ ra phía đầu hẻm:
- Mẹ con ra ấy rồi!
Đến đầu hẻm, cô chợt khựng lại. Bà đang ngồi dưới gốc cây bên lề đường, trước mặt là hai cái mẹt nhỏ, một cái để buồng cau, một cái để mấy bó rau còn tươi, có cả nải chuối chín vàng mà chị hai vừa mang lên cho hôm qua. Một người phụ nữ đang trả giá một món hàng nào đó mà bà không bán.
Cô quay về, lặng người đi vì thương xót. Bà đã ngần ấy tuổi rồi, cái tuổi để nghỉ ngơi, hưởng phúc lộc từ con cháu. Vậy mà …
Trưa ấy, bà dúi vào tay cô tờ hai chục nhàu nát, bảo:
- Con giữ lấy mà mua sách vở, anh con dạo này làm ăn khó khăn, tội nghiệp nó!
Nhận tiền từ tay bà, lòng cô đau như có trăm ngàn nhát dao đang khứa sâu. Cô thương bà, thương đến quay quắt. Cô quyết định giấu luôn tờ giấy báo đậu đại học.
Bữa cơm trưa, cô xin được thưa chuyện với ông bà:
- Con … con … thi trượt rồi ạ!
Ông vốn xuất thân từ nhà nho, cho nên rất coi trọng chữ nghĩa. Bà thì ngược lại, bà thương cô Út nhất, bà bảo cô hiền nhất nhà, chỉ mong cho cô có được một người chồng tử tế, vậy là bà vui rồi, học hành chẳng quan trọng. Cô biết ông giận nhưng ông vẫn im lặng.
Hôm sau, cô tình cờ nghe được câu chuyện ông nói với người bạn chơi cờ:
- Con gái chẳng được tích sự gì, lớn lên thuộc về con người khác.
Cầm tháng lương đầu tiên cô đưa, bà rưng rưng nước mắt:
- Con có đau ở đâu không, sao da cứ tái nhợt đi thế kia hả?
Cô lắc đầu bảo:
- Con không sao, công việc rất thoải mái, từ nay mẹ không cần phải bán rau ở đầu hẻm nữa, mẹ cứ ở nhà nghỉ cho khoẻ.
Nói vậy nhưng có những đêm cô ho đến quặn người, có lẽ cô chưa quen mới mùi hoá chất nơi làm việc. Hôm mới vào, bà chủ cũng đã nói trước: “Nếu làm ở khâu đó sẽ được thêm tiền độc hại, nhưng nói trước là phải đảm bảo sức khoẻ để làm lâu dài đấy!”. Cô gật đầu đồng ý. Mức lương cô nhận được không nhiều, nhưng đủ để trang trải những chi phí sinh hoạt cho cả nhà.
Các anh chị của cô và nhất là chú Khôi thì vui mừng khỏi phải nói. Chú còn bảo: “Cô Út ráng đi làm, mai mốt có chồng đã có căn nhà của ông bà làm của hồi môn”. Thực lòng cô có bao giờ nghĩ đến của cải gì, ngay cả một gia đình nhỏ sau này cô cũng chưa nghĩ. Mà có cha mẹ nào nuôi con cái mà tính toán bao giờ đâu. Cô từ bỏ giảng đường, chôn vùi khát vọng cũng chẳng nhằm mục đích như chú Khôi nói.
Mới đó mà cô đã gần bước sang tuổi ba mươi – Cái tuổi không còn nhiều sự lựa chọn khi nghĩ đến một tấm chồng. Cô xuống sắc một cách không ngờ. Có những khi nhìn mình trong gương, rồi nhìn lại tấm hình cô chụp năm mười tám tuổi, cô không tránh khỏi ngỡ ngàng lẫn tiếc nuối. Quả là “cái tuổi nó đuổi xuân đi”. Cô nhớ lại những “cái đuôi” đã theo mình trong suốt thời gian qua. Trong số những người chạy mất do không được cô đáp lại, giờ chỉ còn một người. Anh làm cùng phân xưởng với cô, hiền lành chịu khó và sống rất được lòng mọi người. Các đồng nghiệp chân thành khuyên: “Cưới đi, già rồi còn gì!”. Cô nghĩ tới bố mẹ già, chẳng còn cách nào khác hơn là im lặng. Người đó cũng im lặng chờ đợi, với anh, có được một người vợ hiếu thảo nết na như thế cho dù chờ bao lâu anh vẫn chờ.
Từ ngày ra thông báo nhà nước đưa huyện lên quận, giá đất nơi đây bỗng tăng lên vùn vụt. Miếng đất trống trước nhà cô được quy hoạch lại, mở một cái chợ thật lớn. Dạo này ông bị chứng bệnh phổi hành hạ nên người tiều tuỵ hẳn đi. Rồi một ngày bệnh viện trả ông về, còn dặn người nhà ông muốn ăn gì cứ cho ông ăn. Mọi người nghe câu ấy cứ lặng đi. Sinh tử đã là quy luật nhưng nào ngờ nó lại đến nhanh như vậy, mới đây ông còn ngồi chơi cờ, đàm chuyện rất sôi nổi với vài người bạn. Bây giờ lại trở nên bé bỏng yếu ớt như thế!
Theo lời ông, các anh chị cùng lũ cháu nheo nhóc có mặt đầy đủ. Lúc đầu là chị hai, sau đó hết thảy cùng tu lên khóc như thể nhà có đám tang. Giọng ông đã yếu đi nhiều, nhưng vẫn thều thào: “Khóc gì mà khóc, bố chưa chết ngay đâu!”

Đúng như lời ông nói, qua đợt đó người ông khoẻ hẳn ra, da hồng hào trở lại. Hôm ấy ông chỉ gọi con cháu về để chính thức giao lại căn nhà cho chú Khôi – gia tài duy nhất của ông bà. Không biết cô thì sao, nhưng các chị của cô đều tỏ thái độ bất bình trong lòng. Thấy thương cho cô Út, tưởng đâu qua bao nhiêu năm cô miệt mài lo cho gia đình, ông đã bỏ đi suy nghĩ “trọng nam khinh nữ” bấy lâu, nào ngờ!
Chú Khôi sau thời gian ròng rã bán buôn, giờ cũng có được của cải kha khá. Chú mua hẳn gian hàng trong chợ cho vợ kinh doanh. Gặp thời, lại sẵn có kinh nghiệm buôn bán, chẳng bao lâu chú Khôi lấy lại số vốn ban đầu. Lại mở mang thêm, lần này thì buôn bán ngay tại nhà.
Bận rộn, có hôm hai vợ chồng quên cả cơm trưa cho ông bà. Cũng nhờ cô Út dưỡng bệnh ở nhà nghỉ cả tuần nay. Bác sĩ bảo cô nên dừng lại công việc ở phân xưởng vì hình như có một dấu hiệu gì đó mà họ phát hiện trong cuống phổi cô. Vì thế mà cô trở thành người sai vặt cho chú thím Khôi, hôm thì: “Em ở nhà nấu cơm mang ra giúp chị nhé, trưa đông khách quá không về được em ạ!”. Hômkhác lại: “Em coi cửa hàng cho anh nửa buổi, anh phải đi lấy hàng gấp!”. Vì thế mà cô có cảm giác bận rộn hơn cả khi đi làm.
Một ngày, cô đưa cơm ra cửa hàng cho chị, tình cờ nghe cuộc đối thoại của chị với người bạn hàng: “Cô Út nhà chị ấy, mãi vẫn chưa lấy chồng nhỉ?”. Chẳng biết khuân mặt chị lúc ấy như thế nào, nhưng cô nghe rõ giọng chị như dài ra: “Chắc khó chịu quá chẳng anh chàng nào dám rước, không biết phải nuôi đến bao giờ đây!”. Cô đứng lại rất lâu, chờ cho cuộc nói chuyện của họ tan ra mới thong thả bước vào.
Sau lần ấy, cô mới lờ mờ nhận ra mình đang sống bám vào anh chị. Bà bảo cô: “Tìm chỗ nào đàng hoàng hãy nhận lời con ạ, đời con gái chỉ có một lần, hỏng là khổ lắm!”.
Ngày cô chấp nhận lời cầu hôn của anh công nhân làm cùng phân xưởng, thím là người vui nhất, thím nói với chú: “Nhà chỉ còn mình cô Út, anh lo tổ chức đám đình cho chu đáo vào!”.Cô hiểu được có lời đuổi khéo từ sau câu nói đầy trách nhiệm ấy!
Cô lấy chồng trong những ngày lập đông giá rét, các anh chị có mặt đầy đủ để chúc mừng cô. Người thanh niên đi bên cạnh cô mặt rạng ngời hạnh phúc. Trước lúc về nhà chồng, bà kéo cô vào phòng đeo vào tay cô chiếc nhẫn bằng vàng: “Của mẹ buôn bán lặt vặt để dành cho con đấy! Gĩư lấy để phòng thân con ạ!”. Cô bật khóc, khóc như hồi mười tám tuổi khi thấy bà ngồi giữa những mẹt rau quả ngoài lề đường. Hoá ra suốt thời gian cô đi làm, bà vẫn lén cô bòn mót rau củ trong vườn nhà đem đi bán, mặc dù số tiền cô đem về đã đủ cho bà trang trải. Cô thương bà đến nghẹn ngào!
Trong bàn tay anh, cô lặng lẽ bước theo. Phía trước mặt họ là con đường trải rộng thênh thang.
My company: www.procard.com.vn
0
LỜI NGUYỆN CẦU
La Thị Ánh Hường

Thức giấc, chị thấy lòng mình nhẹ tênh. Ấy là những khi chị biết từ nay mình sẽ không còn phải chịu đựng cái cảm giác khó chịu về gã chồng của chị. Không còn phải kéo xụp cái nón che vết tím bầm trên mi mắt mỗi khi đi chợ, cũng chẳng lo sợ mông lung với những buổi tối gã về quá khuya, hay những cơn say mèn mà có khi gã lôi cả dòng họ chị ra để mà chửi. Hàng xóm ban đầu thương hại, sau đó thì nể phục tính chịu đựng của chị. Lấy chồng đã mấy năm nhưng tính chị còn trẻ con lắm! Chẳng vậy mà có lúc chị ngơ ngác hỏi chính mình; sao lại có thể lựa chọn một gã như thế để làm chồng nhỉ? Khi ấy chị có cảm giác như mình là một đứa trẻ mới lớn hơn là một phụ nữ đã bước sang tuổi ba mươi.
Hỏi thế là bởi vì chị biết rõ về gã như biết từng đường chỉ trong lòng bàn tay mình. Mà đâu chỉ có riêng chị, cả cái Xóm Đạo này ai mà chẳng biết gã. Cái gã quanh năm làm mướn mà hễ rảnh lại “cắm rễ” ở quán rượu nhà bà Ba ấy! Các bà mẹ có trẻ con lấy gã ra hù doạ mỗi khi chúng không chịu nghe lời. Người già trong xóm nói về gã với đầy vẻ kinh nghiệm: “Những đứa có tài thường bị cái tật đeo bám như thế!”. Đó là họ đang nói về cái nết siêng năng của gã. Cả xóm này, từ công việc lớn đến việc nhỏ, hễ có ai mướn là gã nhận làm tuốt. Có khi làm quần quật từ sáng sớm đến tối khuya. Người ta thương dúi cho gã thêm mấy đồng, thế là lại vào quán nhậu. Mới chưa đầy ba mươi mấy tuổi mà người gã lúc nào cũng bốc ra mùi rượu, mồ hôi của gã cũng hôi mùi rượu.
Ngày ấy, mỗi lần đi ngang quán có gã, chị phải bước nhanh hơn. Chị không sợ gã. Gã hiền khô có hại ai bao giờ đâu mà sợ! Nhưng chị sợ ánh mắt gã! Ánh mắt nhìn chị lạ lắm, như rất đỗi thân thương trìu mến, mặc dù gã với chị chưa nói chuyện với nhau câu nào.
Có đêm tỉnh giấc. Chị cầm lấy bàn tay mình, đụng phải những vết chai sần do năm tháng, chị thấy lo sợ. Tuổi trẻ của chị đã trôi qua từ bao giờ? Bất chợt chị nghĩ tới ánh mắt của gã mỗi lúc nhìn chị. Chị tưởng tượng tay mình đang nằm trong lòng bàn tay gã và cảm thấy xấu hổ.
Hômsau chị đến nhà thờ xưng tội. Chị vốn là một con chiên ngoan đạo. Cha sứ ngồi lặng lẽ như một quan toà hiền lành, giọng chị nhẹ nhàng nhưng thành khẩn: “Thưa cha con có tội trong lời nói và trong tư tưởng…”
Gã đứng bên ngoài nhìn vào, vẫn với ánh nhìn như mọi lần. Chị quay ra bắt gặp vội lúng túng quay đi.
Đêm ấy trời mưa to. Từng hạt thi nhau quất xuống mái tôn gỉ sét, nước mưa sối ào ào vào nhà chị. Chị kéo ống quần cao khom lưng múc nước đổ ra ngoài. Lượng nước ập vô nhà ngày càng nhiều. Chị cứ chăm chỉ múc. Đến khi có một vật gì đó rất nặng đổ ập xuống lưng chị. Chị ngất đi.
Tỉnh dậy, chị ngỡ ngàng thấy gã đang loay hoay cất lại mái tôn nhà chị, có cả mùi cháo cá thơm nức bốc lên từ bếp.
Vượt qua rất nhiều sự ngăn cản của gia đình và khuyên răn của bè bạn. Chị vẫn quyết định lấy gã. Đám cưới của chị với gã diễn ra bằng một lễ cưới đơn sơ trong ngôi nhà thờ cổ kính. Vị cha già nhìn chị cười đôn hậu: “Ta tin tình yêu có thể cảm hoá được con người. Con không nên lo lắng vì đã có Chúa ở bên con”. Chị chắp tay trước ngực, cúi đầu khấn nguyện: “Lạy Đức Giêsu lòng lành vô cùng. Ngài luôn soi đường dẫn lối cho con bước, con tin ở Ngài …”
Mọi người bảo gã có vợ bảnh bao hẳn ra. Đám con nít trong xóm không còn sợ gã như trước. Thỉnh thoảng chúng còn nhận được cây kẹo ngọt tận đầu lưỡi hay cái kèn làm từ lá dừa của gã. Có hôm đi về tới nhà còn có đứa trẻ đu trên cổ gã. Gã lăn ra giường chơi với nó một lát rồi mới nhờ chị bồng đi trả, dường như gã cũng yêu trẻ con lắm! Chỉ mỗi tật uống rượu là không bỏ dứt được. Dễ gì hỏ được thói quen đã ăn sâu vào máu thịt gã như thế! Vậy mà chị vẫn cứ hy vọng.
Xem ra cái câu nói “có tật có tài” của người xưa để lại đã trở thành “bất hủ”. Những lúc say nhìn gã như một tên ăn mày không hơn. Ấy vậy mà khi tỉnh táo lại thương vợ đến không ngờ. Gã lại có tài nấu ăn rất ngon. Khi nào đi làm về sớm gã hăng hái vào bếp nấu ăn. Thường là những lần như thế gã ngồi nhìn chị ăn nhiều hơn. Lâu lâu lại hỏi: “Có vừa miệng không mình?”. Chị gật đầu rồi và vào miệng gắp thức ăn gã vừa bỏ vào chén. Mà công nhận gã khéo nấu thật! Cũng bằng ấy thứ rau, củ, mắm muối, nhưng khi chị nấu vẫn không thể bốc lên cái mùi thơm lừng, hấp dẫn như gã. Những bữa ăn như thế lần nào chị cũng nghĩ, phải chi gã bỏ được tật xấu mỗi khi uống rượu, chắc chắn gã sẽ trở thành ông chồng hoàn hảo nhất trên thế gian này.
Mà cái lần hành hạ chị cuối cùng ấy, có lẽ cả đời chị vẫn không quên được. không hẳn vì những cú đấm như trời giáng của gã. Chị có bao giờ chấp nhất người say đâu. Ấy là tại rượu nó làm như thế. Những lúc tỉnh dậy, gã nhìn thân thể tím bầm của chị mà xuýt xoa, có khi giận mình quá, gã đập mạnh đầu vô tường đến rướm máu ra. Rồi vừa xoa bóp cho chị vừa năn nỉ, rồi hứa hẹn. Chị gạt nước mắt bảo với lòng cho gã thêm một cơ hội nữa. Dù gì cũng đã ăn ở với nhau, gã cũng không phải là người xấu nếu từ bỏ tật uống rượu.
Chị thường xuyên đi nhà thờ hơn.
Cho đến cái đêm gã quay về trong cơn say khướt. Toàn thân nồng nặc mùi rượu, ấy vậy mà gã còn lè nhè đòi lấy tiền chị đi uống tiếp. Chị kiên quyết không đưa. Thế là gã lao tới chị, gầm lên như một con chó sói hung giữ:
- Hôm nay tao phải cho mày một bài học!
Vừa nói dứt câu gã đấm túi bụi vào ngực, vào bụng chị. Chị quá bất ngờ, lại chưa tỉnh hẳn ngủ nên không đỡ được đòn đánh nào của gã. Mãi đến khi có thứ nước màu đỏ chảy ra từ ống quần , chị mới đau đớn gào lên:
- Ôi con tôi!
Gã thôi không đánh nữa, nhìn chăm chăm vào ống quần chị. Gã hiểu ra, không thốt lên được lời nào, khụy xuống ôm lấy bờ vai đang run rẩy của chị.
Bằng tất cả sức lực cuối cùng, chị mạnh tay hất hắn ra, gào lên:
- Cút đi!
Gã càng xấn lại gần chị. Khuân mặt hắn nhăn lại trông khổ sở, phải chi hắn có thể khóc biết đâu sẽ đỡ hơn. Trời ạ, hắn vừa làm gì thế kia? Đứa con mà hắn trông mong từng ngày giờ chỉ còn là những giọt máu khô bết lại. Chị vẫn gào lên:
- Cút đi!
Đấy, cái lần cuối cùng đã diễn ra như thế!
Sau đó gã có trở về, khi chị đang nằm trên giường bệnh. Nhìn gã chị lại nhớ tới đứa trẻ chưa kịp hình thành trong bụng đã bị gã hại chết, nỗi căm phẫn lại trào dâng thế là chị lại gào lên mà xua đuổi gã. Lần nào cũng thế, cứ đợi khi chị khàn hết cả giọng gã mới lủi thủi bước đi.
Chị ngồi nhìn đám mây lơ lửng trên nền trời, lòng thấy sao trống trải quá! Chắc tại chị rảnh rỗi hơn nên thấy vậy. Mọi ngày có gã, bằng giờ này chị đang loay hoay trong bếp chuẩn bị bữa cơm chiều. Có hôm xong sớm chị lại thơ thẩn ngoài vườn nhặt cỏ, chờ tiếng xe đạp của gã cọc cạch đầu ngõ, chị chạy ra mở cửa. Cũng có hôm gã về trễ, chị cứ đứng tần ngần lo lắng, rồi bực tức lại chửi rủa thầm trong bụng.
Cứ thế ngày này qua ngày kia.
Giờ thì không còn trông mong gì nữa. Một mình chị có khi nấu nồi cơm ăn cả ngày. Sướng quá đi mất! Vậy mà có hôm chị vẫn gióng cổ nhìn ra phía cánh cổng có hàng dâm bụt rậm rịt. Như một thói quen hay nỗi nhớ mong, chị cũng không phân biệt được. Chỉ thấy những bóng nắng chiều chập chờn trên mấy khóm hoa.
Rảnh quá nên chiều nào chị cũng đi nhà thờ. Một người quen cho chị biết gặp gã ở Xóm Gỗ, làm và ở lại luôn trong cơ sở mộc, nhìn tội nghiệp lắm! Xem chừng như đã biết lỗi rồi, hay bỏ qua cho gã lần nữa.
Chị nghe đến đó liền gạt phăng đi. Làm sao có thể tha thứ cho kẻ cả con mình cũng hại thế kia. Cả đến loài cọp beo mà chúng còn biết yêu thương con, hống hồ gì gã lại là con người!
Trên gian cung thánh, vị cha già nhìn chị với ánh nhìn bao dung: “Anh em hãy tha thứ cho nhau như chính cha trên trời đã tha thứ cho anh em …”.
Câu nói của vị cha già đeo bám lấy chị về đến tận nhà. Chị ngồi trước bàn thờ nhìn chăm chăm vào tấm hình có bức tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thánh giá. Khuân mặt oằn oại lên từng đợt mỗi khi chúng lấy búa đóng mạnh xuống cây đinh. Nhưng còn không đau bằng người đàn bà đang vật vã dưới chân cây thánh giá kia – là mẹ Ngài. Bà đã chứng kiến cảnh họ hành hạ con bà một cách tàn nhẫn. Tưởng chừng như chẳng có nỗi đau nào lớn hơn thế. Lạ thay, trong sâu tận tâm hồn của hai con người cao cả đó, vẫn không hằn lên sự căm thù mà ngược lại, trước khi trút hơi thở cuối cùng từ giã cõi đời, Ngài còn kịp kêu lên: “Lạy cha trên trời, xin hãy tha thứ cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm!”.
Chị như choàng tỉnh sau những căm phẫn thù hằn gã chồng chị. Nỗi đau của chị thì có đáng gì, sao chị lại không thể tha thứ cho gã chứ!
Chị chắp hai tay trước ngực, nguyện cầu: “Con sẽ học theo gương Ngài mà tha thứ. Lạy Chúa, xin người đem đến sự bình an để cho anh ấy có thể trở về với con. Amen!”.
Gã đứng sau chị từ bao giờ, những giọt nước mắt thi nhau rớt từ khoé mắt đỏ au của gã. Chị như lịm đi trong yêu thương lẫn xót xa, gã gầy đi nhiều quá! Gã bước tới chầm chậm và ôm xiết chị trong vòng tay. Trong niềm hạnh phúc, gã tự hứa với chính mình từ nay sẽ không đụng tới rượu nữa, một giọt cũng không!
My company: www.procard.com.vn
0
TIẾNG DƯƠNG CẦM TRONG ĐÊM
La Thị Ánh Hường

Quân đã ngồi suốt ba giờ đồng hồ,vẫn ở tư thế ấy, tay chống cằm, một bên tai hơi vểnh lên, như thế để nghe cho rõ. Cứ mỗi đợt có cơn gió lạnh đi qua, tán lá hai bên đường chạm vào nhau nghe xào xạc, mặt anh hơi nhăn lại, anh sợ một nốt nhạc nào đó sẽ theo gió bay đi. Mà như thế để làm gì anh cũng không biết. Gần như trọn vẹn số ngày của hơn hai tháng trời, anh đều có mặt ở đây. Đến nỗi từng cung bậc thăng trầm, cao thấp của khúc nhạc anh thuộc làu làu. Vẫn bấy nhiêu bài hát quen thuộc của cố nhạc sĩ họ Trịnh, được lập đi lập lại mỗi ngày, hỏi sao anh lại không thuộc. Vậy mà vẫn thấy thú vị. Như một thói quen đầy đam mê, khiến tối nào anh cũng phải đến đây. Tiếng dương cầm như có một sức hút mãnh liệt với anh.
Chị Thuỳ nhận được lá thư của Quân vào một buổi sáng, nét chữ lạ khiến chị không khỏi ngạc nhiên. Khi hiểu ra nội dung lá thư của người viết, chị khẽ mỉm cười. Từ ngày chồng chị dắt bé Na đi, chị chẳng biết làm gì vào những buổi tối quá thừa thãi. Hơn nữa thời con gái, chiếc đàn dương cầm này từng là nỗi đam mê của chị. Giờ đây, giữa lúc chị cô đơn nhất, những âm thanh ngân nga vang lên như một lời an ủi, vỗ về chị. Chị xem đó như người bạn thân thiết nhất của mình.
Nhà nằm trong con hẻm cụt, hàng xóm của chị đa phần là những cán bộ lớn tuổi đã về hưu, bởi thế mỗi khi đàn, mặc dù ở tận trên tầng hai, chị vẫn phải đóng chặt cửa để khỏi làm phiền xung quanh. Chị không ngờ tiếng đàn của mình lại khiến Quân mê mẩn ngay từ lần đầu nghe. Nhìn những dòng chữ tha thiết mong được gặp mặt của cậu thanh niên mà theo chị đoán, có lẽ còn trẻ tuổi. Chị thấy phân vân, mình đâu phải là nghệ sĩ nổi tiếng, với lại nghĩ về hoàn cảnh mình lúc này, chị gạt bỏ ngay ý định cho cậu thanh niên gặp mặt.
Có tiếng chuông điện thoại. Chị ngưng đàn. Lần nào cũng thế, chị đứng rất lâu rồi mới đủ can đảm bốc máy. Chị mong chờ anh gọi nhưng lại lo sợ, biết đâu đó là lần gọi cuối cùng của chồng chị, báo cho chị biết sẽ nhận được tờ đơn với chữ ký ngay ngắn bên dưới, chị không muốn cuộc hôn nhân của mình lại kết thúc như thế này, chị yêu anh, cần có bé Na biết bao.
Bên kia đầu dây, giọng bé Na như sắp khóc:
“Mẹ ơi, con nhớ mẹ lắm!”.
Chị cố gắng để đừng cho con bé biết mình đang khóc, giọng ôn tồn:
“Con gái cưng của mẹ, con cứ ở đó ngoan ngoãn với ba. Khi nào được nghỉ làm, mẹ lên chơi với con. Bây giờ khuya rồi con đi ngủ kẻo lại bị ba mắng đó biết không?”.
Bé Na mếu máo:
“Ba đi ra ngoài rồi, ba không thương bé Na nữa”.
“Sao con lại nói vậy?”.
“Con biết mà, suốt ngày ba chỉ ở bên cạnh dì Vân, ba thương dì Vân hơn thương con … hu…hu”.
Chị cúp máy, từng tiếng dương cầm ngân lên nghe như lạc lõng, rời rạc. Lặng lẽ rời khỏi phím đàn, chị bước đi như một kẻ mộng du. Màn đêm bao trùm trên con hẻm vắng, mùi hương ngọc lan quyện cùng gió vờn trên tóc chị. Nhét hai tay vào túi áo khoác, chị ước mình có thể khóc, nước mắt sẽ trôi đi những đau thương chăng?
Dưới băng ghế đá trước cổng nhà, có bóng một người lạ ngồi với dáng vẻ đầy suy tư. Thấy chị, người đàn ông đứng lên:
- Xin lỗi, chị có phải là …
Mắt chị mở hơi to, mỗi khi ngạc nhiên với một chuyện gì, chị thường có biểu hiện như thế. Trước mắt chị là một thanh niên còn rất trẻ, đoán chừng phải thua chị đến năm hay sáu tuổi. Thân hình vạm vỡ, tóc hơi rũ xuống trán, anh mặc cái áo thun tối màu tay dài và cặp mắt thì sáng bừng lên trong đêm.
Thấy thái độ quan sát như đề phòng của chị, anh càng bối rối. Hai bàn tay đan xen lại, anh lúng túng vẻ như có điều khó diễn đạt. Chị ngờ ngợ ra khi chợt nghĩ về lá thư của người khách lạ hôm trước. Chị khẽ “à” lên trong bụng, cặp mắt to khẽ chớp, giọng chị nhỏ nhưng rõ:
- Anh là Quân có phải không?
Trong bóng đêm, chị vẫn nhận ra ánh mắt anh ta sáng lên một cách vui mừng.
Chị có mời Quân vào nhà nhưng anh từ chối, bảo đã khuya rồi. Chỉ qua vài câu thăm hỏi, chị có cảm giác anh ta là người đáng tin cậy, có lẽ do vẻ mặt hiền từ cộng với cách ăn nói thật thà, chị bỏ hẳn cái khoảng cách của những người xa lạ. Khi Quân hỏi sao tiếng đàn của chị hôm nay nghe lạ. Chị thấy cảm động, giống như Quân đã là người thân của chị từ lâu lắm rồi, chỉ có người thân mới hiểu được tâm trạng nhau một cách sâu sắc như thế.
Với tâm tư nặng trĩu, chị kể hết cho Quân nghe. Từ chuyện chị đã có thời gian sống hạnh phúc như thế nào với người chồng mà mình một mực thương yêu. Cho đến đoạn tai nạn dáng xuống cuộc đời chị. Lần ấy, trong đợt đi khám cho bệnh nhân bị nhiễm HIV. Do sơ ý trong lúc băng bó, chị đã làm xước một lớp da mỏng, có dính máu của một bệnh nhân. Chị về nhà lo sợ kể đầu đuôi cho chồng. Cứ nghĩ anh ấy sẽ an ủi cô vượt qua, không ngờ nghe xong anh về phòng sắp xếp đồ đạc dẫn theo bé Na đi. Vẫn với giọng nhẹ nhàng, anh nói: “Anh không muốn lây sang con, nên em cứ tạm thời sống một mình. Chờ có kết quả chính xác rồi tính”. Chị ngỡ ngàng đến đau đớn, không ngờ anh lại đới sử với chị lạnh lùng như vậy. Hơn một tháng sau, người bệnh nhân mà chị khám cho hôm trước xuất hiện trước nhàchị. Anh vui mừng báo tin anh không hề bị nhiễm HIV mà chỉ là một sự lầm lẫn. Chị vui mừng như vừa chết đi sống lại, vôị gọi điện cho anh. Anh bảo phải có xác minh bằng giấy tờ mới tin cậy được. Vậy là cạn tình cạn nghĩa thật rồi, ở đâu lại có kiểu vợ chồng không nâng đỡ, ủi an mà còn nghi kỵ nhau như thế. Chị thấy nỗi rạn nứt giữa hai vợ chồng chị ngày một hiện rõ, mặc dù trứớc đây cô bạn đồng nghiệp đã từng mách bảo chị, anh ấy có cô người yêu cuối tuần thường chở nhau đi chơi, chị vẫn không tin. Cho đến bây giờ … Hoá ra anh đã muốn bỏ chị mà đi từ lâu rồi. Lí do kia chẳng qua chỉ là cái cớ.
- Thế chị tính thế nào?
- Tôi đợi có kết quả xét nghiệm, khi đó tôi mới có lý do để nuôi bé Na.
Hít thở một hơi căng đầy lồng ngực, giờ chị đã thấy dễ chịu hơn:
- Khi đó tôi không còn đàn giữa đêmkhuya nữa đâu, anh không phải ngồi giữa trời sương lạnh lẽo như thế này.
Quân không nói gì, vẻ mặt anh vừa đăm chiêu vừa buồn.
Đã quá nửa đêm, sương rơi ướt đẫm cả khu vườn. Quân chào chị đi về, chị cũng đứng lên, đợi cho anh đi vài bước, chị hỏi khẽ:
- Chắc anh thất vọng về tôi lắm, không như những gì anh tưởng tượng trong lúc nghe tôi đàn đúng không? Cho tôi xin lỗi nhé!
Quân không trả lời, anh đứng nhìn một lát rồi cúi đầu quay lưng đi. Được vài bước anh lại muốn quay lại để nhìn người phụ nữ ấy thêm một lần nữa. Anh biết rằng sau đêm nay, mình khó mà quên được đôi mắt của người phụ nữ ấy!
Na đứng trước tấm gương lớn, lần đầu tiên nhìn mình trong gương, cô bé vừa thấy thích thú vừa lạ lẫm. Chị ngắm nhìn cô con gái yêu từ phía sau, tấm tắc khen:
- Con gái mẹ đẹp lắm!
Na ngượng ngùng đỏ mặt vội lảng qua chuyện khác:
- Mẹ ơi thầy giáo khen con có khiếu chơi đàn. Thầy còn nói sau khi thi tốt nghiệp, thầy sẽ dắt con đi thi đàn ở tận Hà Nội. Mẹ cho con đi mẹ nhé!
- Con cứ chuẩn bị tốt cho kỳ thi, đến khi đó hãy tính!
Na ngoan ngoãn dạ rồi ngồi vào bàn học. Chị nhìn con rồi nhìn lên những tấm giấy khen gián sát nhau trên tường với vẻ hài lòng. Mới đó mà đã 6 năm. Ngày rước con từ tay anh, chị cũng chỉ mong mình sẽ nuôi con nên người, có một tương lai sáng ngời, khi ấy chị cũng không tránh khỏi nỗi hoang mang. Nhờ ơn trời, bé Na con chị càng lớn càng ngoan ngoãn lễ phép. Không có biểu hiện như những đứa trẻ thiếu cha khác. Chị thấy an lòng.
Một buổi sáng có tiếng chuông cửa. Bé Na chạy ra, nhìn thấy người khách nó reo lên mừng rỡ:
- A thầy, sao thầy biết nhà em? Thầy vào đi hôm nay mẹ em có nhà đấy!
Bé Na vui vẻ nắm tay thầy kéo vào nhà.
- Mẹ ơi, có thầy giáo dạy nhạc của con đến chơi.
Chị búi vội mấy sợi tóc loà xoà lại cho gọn. Vừa thấy thầy giáo chị ngỡ ngàng thốt lên:
- Ôi, là anh à!
Quân nhìn chị không chớp mắt. Chị không khác trước bao nhiêu, cả ánh mắt, sống mũi cao và đôi mắt buồn. Anh chưa quên bất cứ điều gì ở chị. Kể cả khi vượt qua bên kia đaị dương để trốn chạy tình cảm của mình. Cuối cùng trái tim cũng mách bảo anh quay về.
Vẫn với nụ cười hiền từ, Quân gật đầu:
- Tôi vừa tốt nghiệp từ nước ngoài về, may mắn được nhà trường mời về dạy ngay. Bé Na giống chị quá!
Quân đã chững chạc hơn nhiều so với 6 năm trước chị đã từng gặp. Họ ngồi rất lâu trong khu vườn rợp mát. Như những người thân lâu ngày gặp nhau. Quân bảo sang bên ấy rất nhớ tiếng dương cầm của chị. Chị ngồi lặng yên, không nói chuyện nhưng thấy lòng bình yên lạ. Quân bảo chị có thể tựa đầu vào vai anh một lát được không. Chị hơi ngả đầu lên vai Quân. Hình như đã từ lâu chị cần một chỗ dựa như thế này, chị đã quá mệt mỏi rồi.
Về phần anh, chung sống với Vân được một thời gian, anh cảm thấy chán ngán với tính cách đanh đá, cộc cằn của cô. Khác hẳn với người con gái ngọt ngào, nũng nịu một cách đáng yêu đến nỗi anh bỏ luôn cả vợ con đi theo cô như ngày nào. Lại gặp khó khăn trong tài chính, những cuộc cãi cọ liên tiếp diễn ra. Anh mới thấm thía hết tội lỗi của mình với vợ con. Nhưng anh không còn mặt mũi nào để quay về xin chị tha thứ. Anh đã đi qua ngôi nhà cũ rất nhiều lần vẫn không đủ can đảm dừng lại.
Một buổi tối, bước chân anh khựng lại khi nghe những bản nhạc quen thộc mà thời yêu nhau chị hay đàn cho anh nghe. Anh nép sát vào bụi hoa quỳnh trước cửa, mắt dõi lên ô cửa sổ quen thuộc. Hoà lẫn tiếng đàn, anh nghe rõ tiếng con trong trẻo:
- Mẹ ơi con đàn có hay không? Là ba Quân dạy cho con đó!
Chị đang làm bữa trong nhà bếp, mùi thức ăn bốc lên thơmlừng
- Con gái mẹ đàn hay lắm!
Đứng bên cạnh chị là người đàn ông cao to với khuân mặt sáng ngời hạnh phúc.
Anh bước đi. Đi đâu thì anh chưa biết nhưng nhất định anh phải đi đến một nơi thật xa.
My company: www.procard.com.vn
0
NGƯỜI TỐT
La Thị Ánh Hường

Trời chiều như đang cố níu kéo những tia nắng cuối ngày. Bên vệ đường, vài hạt nắng nhởn nhơ đùa giỡn với khóm hoa. Chúng nhạt màu dần rồi tan mất, chỉ một lát nữa thôi màn đêm sẽ bao trùm lên vạn vật. Bóng tối như một khối đen khổng lồ úp chặt lấy anh, không cho anh vùng vẫy. Từ bao giờ anh sợ nỗi cô đơn đến vậy? Anh sợ cả bóng đêm, cái thời khắc cuối ngày ấy thường kéo anh về lại với quãng thời gian êm đềm của ngày xưa, khi anh còn có chị.
Cái “ngày xưa” ấy chỉ mới vỏn vẹn cách đây hơn hai tuần. Mười bốn ngày có thể chôn vùi cuộc tình kéo dài bốn năm của anh với chị sao? Anh không tin. Cứ mỗi chiều anh lại đi ngang nhà chị. Như một thói quen rồi, nhưng anh không còn nhận được nụ cười tươi tắn của chị, hay được chị ân cần hỏi: “Anh có đói bụng không? Nhà còn cơm nguội đấy!” Bằng giọng chân tình, thiết tha đến độ xua tan hết âu lo phiền muộn trong anh. Đã từ lâu anh biết rằng đời anh không thể thiếu chị. Không thể thiếu sự chăm lo kín đáo nhưng hết sức ân cần của chị. Anh cần chị biết bao.
Chiều nay anh lại đi ngang nhà chị, chỉ để làm một việc ngớ ngẩn : tô đậm thêm cái kết luận hết sức phũ phàng: vị trí người đàn ông trong lòng chị đã được thay thế! Người đàn ông đó anh đã gặp rồi, hôm cùng chị đưa mẹ vào phòng cấp cứu của bệnh viện Thị Xã. Rồi những lần sau đó vẫn thấy ông ta ngồi cùng chị mỗi khi chị lo lắng đến xanh rớt người. Chị suy sụp hẳn đi khi ông ta kết luận bệnh mẹ chị khó có thể cứu chữa.
Anh thương chị. Thương lắm ! Nhưng ngoài tình yêu ra anh còn gì có thể cho chị, ít nhất là trong lúc này ! Ngần ấy năm yêu thương, anh chỉ mong đến ngày được rước chị về nhà sống chung. Khi ấy anh quan tâm đến chị được nhiều hơn. Anh thay chị giặt đồ, rửa chén mỗi khi chị mỏi mệt. Anh sẽ ân cần bón cho chị từng muỗm cháo mỗi lúc chị ốm đau. Rồi cả những giấc ngủ trằn trọc khó đến, anh ru chị trong vòng tay yêu thương của mình. Anh ước ao được như thế, nhưng lại lo ngại,với đồng lương ít ỏi của mình liệu anh có mang lại cuộc sống nhàn hạ hơn cho chị, hay lại khiến chị vất vả hơn cả thời con gái vốn đã quá nhọc nhằn. Anh lo lắng, dằn vặt khôn nguôi.
Nhưng bây giờ thì cả những lo lắng, dằn vặt ấy cũng không thuộc về anh nữa. Cho đáng đời mày Khang ạ! Anh thường chửi mình như thế trong cơn say. Nhưng khi tỉnh dậy anh bỗng thấy anh đáng thương nhiều hơn đáng trách. Chẳng lẽ lại trách bản thân anh sao không phải là một bác sĩ, hay trách chị thiếu chung tình? Không, anh vẫn thương chị. Anh ngước nhìn những ánh sao trên bầu trời đêm và nhớ chị đến quay quắt. Chị cũng giống như vì sao trên kia, mãi như những ngọn nến thắp sáng và sưởi ấm tâm hồn anh. Ngọn nến ấy không tắt bao giờ. Rồi một ngày nào đó chị sẽ về với anh, anh tin thế!
Chị đi lấy chồng trong một ngày cuối đông. Mùa đông trên cao nguyên được tô đậm thêm bởi những đợt gió hú đến ghê người. Cõi lòng chị cũng dằn xé gào thét theo từng cơn gió. Chị xinh như một đóa hoa rừng trong bộ đồ cưới màu đỏ mà chồng chị đặt may ở một tiệm nổi tiếng trong Thị Xã. Chỉ có đôi mắt chị không sao giấu nổi nỗi buồn. Chị trách cứ mình, chửi rủa mình rồi cuối cùng lại an ủi mình. Tình yêu có là gì đâu kia chứ ! Chị yêu anh? Thì có yêu. Chị thề nguyền chung sống trọn đời trọn kiếp với anh ? Ừ, thì chị đâu có quên. Nhưng để chị có được ngày hôm nay để mà thề thốt, để mà yêu thương thì nhờ ai kia chứ ?
Mỗi khi nói đến mẹ chị lại không cầm được nước mắt. Mẹ chị đã hy sinh cho chị quá nhiều. Chị làm sao mà quên được những gánh cải của mẹ trong buổi chợ sớm, đổi lấy cho chị áo trắng guốc cao đến trường. Nhớ có hôm trời mưa, chị trốn học mang áo mưa ra chợ cho mẹ. Vừa nhìn thấy chị lụp xụp dưới lớp áo mưa mỏng, mẹ lao tới quất tới tấp vào mông chị, mắng: “Ai dạy con trốn học như thế hả ? Mẹ khuyên con đến lớp phải chịu khó học cho giỏi kia mà. Con không nghe lời mẹ nữa phải không ? Đồ hư thân, đồ mất nết, đánh cho mày chừa !”. Cứ thế mỗi câu nói của mẹ là một đòn đánh vào mông. Đến khi mẹ mệt lả đi, nhìn lên chị vẫn không khóc. Mẹ nhìn chị hồi lâu rồi quỳ gối ôm chặt chị vào lòng, cả hai mẹ con ướt đẫm trong làn mưa trắng xóa. Trong mưa, chị vẫn nhận ra đâu là nước mắt của mẹ. Mẹ xoa chỗ chị vừa bị đánh nói với chị trong tiếng nấc: “Con phải học giỏi để khỏi phải đi bán cải như mẹ con biết không ?”.
Mười ba tuổi chị đã nung nấu trong đầu mình một tương lai, mà ở đó ít nhất là mẹ chị không còn dầm mưa giãi nắng như hôm nay. Chị học xong cấp ba rồi ròng rã suốt bốn năm ở ngôi trường đại học. Những năm đó chị không hề khó khăn chuyện tiền bạc. Nhưng chị hiểu mẹ chị đã vất vả như thế nào để có nó. Rồi chị biết yêu, người con trai cùng quê với chị. Người thường qua sửa cho chị cái bóng đèn, tráng lại mấy ô gạch bị kiến đục vỡ từng mảng nhỏ… Cứ thế, cuộc sống trôi qua những ngày bình yên. Ngày chị tốt nghiệp cũng là ngày mẹ ngã quỵ bởi căn bệnh của tuổi già.
Bây giờ thì kể như chị đã thực hiện được những gì chị mơ ước; một cuộc sống tiện nghi đầy đủ cho mẹ chị sống quãng tuổi già còn lại. Chồng chị, vị bác sĩ có uy tín nhất nhì trong Thị xã và yêu thương chị hết lòng. Những lúc rảnh anh xuống bếp giúp chị, phân tích cặn kẽ từng món ăn cần thiết cho sức khỏe của mẹ. Chị thì chẳng giúp gì được cho anh. Cầm tấm bằng sư phạm trên tay, chị thấy tiếc nuối. Anh hiểu cả những điều chị không nói, những khi nhìn chị thẫn thờ như thế, anh choàng tay lên đôi vai gầy xương của chị, anh nói: “Cưới được em anh mừng lắm. Em không cần lo lắng, băn khoăn gì cả, cứ ngoan hiền nết na như tính cách vốn có của em là anh toại nguyện rồi. Anh yêu em nhiều lắm !”. Anh là một người tốt, anh sống bao dung rộng lượng và không trách cứ chị bất cứ điều gì, kể cả mối tình đầu mà cho đến tận bây giờ chị vẫn chẳng thể nguôi ngoai. Anh tôn trọng quá khứ cũng như khoảng riêng của chị. Điều đó với chị cần thiết biết bao Cuộc sống trôi qua như một giấc mơ êm đềm.
Cái chết của mẹ chị cũng diễn ra êm đềm như thế ! Ai đó đã nói “ tiền bạc không mua được sức khỏe con ngườI ”. Nhưng chị vẫn thấy biết ơn chồng, người đã tận tụy bên mẹ chị trong suốt những ngày qua. Đêm, chị gối đầu lên cánh tay rắn chắc của chồng, bỗng thấy những yêu thương tràn về, cảm giác mà trước đây chị chưa từng có.
Có tiếng gõ cửa giữa đêm khuya, giọng của người nhà bệnh nhân vẻ như cấp thiết lắm, anh gỡ vòng tay mềm mại của chị đặt xuống giường, đắp mền lên đến ngực cho chị rồi lặng lẽ khoác bộ đồng phục trắng lên người, giọng cô y tá gấp gáp “Cô ta đau bụng chuyển dạ, bụng to quá nên có phần nguy hiểm. Bác sĩ ra xem giúp”. Chị cũng choàng dậy, hơn lúc nào hết chị muốn được ở bên chồng, chẳng giúp gì được anh nhưng chị vẫn muốn nhìn anh làm việc.
Tiếng khóc thét của đứa trẻ trào đời làm mọi người thở phào nhẹ nhõm, gần hai tiếng đồng hồ cho một ca mổ khá nguy hiểm. Chị cầm sẵn ly sữa trên tay vì biết chắc chồng chị rất mệt. Chị còn biết anh không ra khỏi phòng bệnh ngay như những bác sĩ từng làm, anh bảo anh cần ở lại để thấy cảnh người nhà bệnh nhân vui mừng như thế nào.
Để nguyên bộ đồ ngủ như thế, chị bước vô phòng. Người đàn ông ngước lên như một phản xạ tự nhiên, chị ngỡ ngàng thốt lên: “Ôi anh Khang !” “Em …”. Lúc này anh ta mới đưa mắt nhìn vị bác sĩ . Đúng là ông ta rồi, người đã xen và và cướp mất đi cuộc tình tươi đẹp của anh. Dạo đó anh tưởng đâu mình không vượt quan nổi cú sốc quá nặng nề đó. Nhưng như một quy luật tự nhiên, con người sinh là để tồn tại và luôn khát khao tồn tại, cho dù có phải tồn tại song song với những khổ đau. Trời thương nên cho anh gặp Nhung, người giúp anh thoát khỏi những cơn say triền miên.
Vị bác sĩ cũng vừa nhận ra anh, ông chìa tay ra niềm nở: “Chúng ta đã gặp nhau rồi phải không ? Hôm nay lại có dịp chúc mừng anh lên chức làm cha!”. Anh xiết chặt tay bác sĩ, hai người đàn ông nhìn nhau, không hận thù oán ghét. “Cảm ơn anh đã giúp vợ chồng tôi, nếu không có bác sĩ …” “Anh khách sáo thế làm sao chúng ta trở thành bạn được đây! Bây giờ anh cứ lo cho chị nhà đúng như lời tôi dặn, khi nào chị nhà khỏe anh em mình làm vài ly để ăn mừng”.
Đã hơn mười một giờ. Chưa đầy một tiếng nữa sẽ bước qua một ngày mới.
Trong vòng tay yêu thương của chồng, chị chìm vào giấc ngủ thật êm đềm.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUYẾN XE CHỞ NẶNG ÂN TÌNH
La Thị Ánh Hường

Có tiếng gõ cửa. Như một phản xạ, chị Hiền choàng tay ôm lấy đứa con nhỏ đang cuộn mình trong giấc ngủ mê say. Cánh cửa khẽ rít lên ken két rồi mở hẳn ra. Anh với tay bật đèn, cởi áo mưa treo lên móc, lấy lược chải lại mấy sợi tóc loà xoà. Những công việc ấy anh làm như đang ở chính nhà anh vậy. Quay lại, anh chạm phải ánh nhìn không mấy hài lòng của chị Hiền, anh ấp úng: “Mưa lớn quá, tôi chỉ đến xem nhà có dột không, con tôi có khoẻ không, nếu chị thấy tôi làm phiền ...”. Chị Hiền lúng túng chen ngang: “Dạ không có gì đâu, thưa giám đốc. Anh cứ ngồi nghỉ tạnh mưa rồi về, con vẫn khoẻ”.
Chị Hiền đưa cho anh mảnh khăn , bảo: “Người anh ướt hết rồi kìa!”. Cả hai ngồi im như thế rất lâu. Gần mười một giờ khuya anh về. Con đường đất đỏ gặp trời mưa càng thêm lầy lội, bóng anh dài ngoằn ra, liêu siêu trong ánh đèn đường vàng vọt.
Chị cầm sãn ly rượu đưa lên môi, đứng cạnh tủ chứa rất nhiều loại rượu. Của đối tác và cả những người bạn thỉnh thoảng có dịp ra nước ngoài về, đều tặng anh một chai. Nhìn chị toát lên vẻ kiêu sa, quyền quý hơn bất cứ phụ nữ nào anh đã gặp.
Trong bộ đồ ngủ màu huyết dụ, nước da chị nổi bật lên, đôi chân dài và những ngón tay thon thả. Đôi mắt của chị nữa chứ, đôi mắt mà lần đầu tiên nhìn vào, cảm giác chệnh choạng như một gã say, và anh biết chính đôi mắt ấy trói buộc đời mình. Sức thu hút của chị ghê hồn đến như thế!
Sau này thân hơn anh mới bảo chị: “Phụ nữ mà có cái nhìn quyết đoán và nói chuyện thông minh như em, khó có hạnh phúc lắm”. Lúc ấy, chị ôm chặt lấy cánh tay anh, đầu tựa nhẹ lên bờ vai săn chắc, chị thầm thì: “Em chỉ cần như thế này là hạnh phúc rồi!”. Anh nghe mà cứ như mê đi vì sung sướng.
Hoá ra lâu nay anh chỉ biết cắm đầu vào công việc, vào những cuộc nhậu nhoẹt đầy mục đích. Những thành công trong công việc khiến anh đã tưởng mình như vậy là đầy đủ lắm, sống có ý nghĩa lắm rồi. Cảm giác muốn yêu thương và được che chở cho một ai đó cứ thế trỗi lên trong anh. Và anh đã có được chị ngay đêm đó.
Chưa đầy một tháng sau, đám cưới linh đình được tổ chức. Không “linh đình” sao được khi anh đường đường là một giám đốc, và chị là con gái duy nhất của ông tổng giám đốc lớn nhất nhì thành phố này.
Mới đó mà đã ba năm. Anh chua chát nghĩ sao hạnh phúc lại mong manh như thế! Tại anh, hay tại chị? Anh đi làm về vội vã lao ngay đến lớp học ngoại ngữ, có khi còn không kịp ăn tối. Anh học như sợ cái túi kiến thức bé nhỏ của mình không sử dụng được hết cho hàng núi công việc lúc nào cũng chồng chất.
Cứ thế, anh về nhà có khi chị đã ngủ say, cũng có khi chị đi chưa về. Nơi chị đến là vũ trường của một người bạn thân, chị có rủ anh đến đó mấy lần nhưng anh đều từ chối, bảo là không hợp. Có đêm chị về, người nồng nặc hơi men, anh phải dìu chị vô phòng, lấy khăn ấm đắp lên trán chị. Chị vùng vằng gạt ra, bảo: “Tôi có chồng như anh, có cũng như không”.
Một người đồng nghiệp khuyên anh, có con đi, phụ nữ mà có con sẽ đằm thắm lại hơn. Anh nghe theo, áp dụng tất cả các chiêu thức của ông bạn đã có vợ hai con, gần nửa năm sau vẫn chẳng có kết quả gì. Mãi đến khi cha mẹ hai bên hối thúc, bảo muốn có thằng giám đốc con để bế bồng, lúc đó chị mới khai thật, chị không thể có con.
Thái độ của chị khi nói ra câu đó khiến cho anh buồn. Anh cứ nghĩ chị phải đau khổ lắm, vật vã lắm. Cái thiên chức lớn lao thượng đế ban tặng cho phụ nữ, vậy mà chị xem như có cũng được, không có cũng không sao. Anh buồn bã suốt mấy ngày. Đến khi gia đình hai bên giục quá, chị đề nghị: xin con nuôi!
Chị Hiền là người quét dọn ở công ty anh. Tuổi ngoài ba mươi nhưng nghe đâu chị vẫn chưa có chồng, quê chị ở Long Xuyên, lên đây làm ở công ty anh đã gần năm năm. Chị hiền lành, ít nói nên chẳng va chạm gì với ai bao giờ. Mấy hôm trước cô thư ký báo với anh, chị ấy lên xin ứng tiền. Số tiền lên đến mấy triệu, chị nói ba đang nằm viện, cần số tiền ấy để mổ. Anh bỗng nhói lên trong đầu một ý nghĩ táo bạo.
Sáng, anh đến công ty thật sớm, tìm gặp để nói với chị cái điều anh suy nghĩ đến mất ngủ nguyên đêm qua. Chị nghe xong giật nảy mình, chối đay đảy và khóc nữa. Anh ôn tồn giải thích cho chị hiểu. Bây giờ khoa học tiên tiến hơn rồi, anh đâu cần đụng chạm gì đến thân xác chị, mà đứa con trong bụng vẫn có thể là của anh đấy chứ! Chị từ từ hiểu ra rồi gật đầu đồng ý. Tiền thì đúng là chị đang rất cần, nhưng thật lòng nếu không phải giám đốc chị thì cho dù bao nhiêu chị cũng không làm.
Chị Hiền từ lâu đã cảm phục bởi tính đứng đắn, không bê tha của anh, khác hẳn với những ông giám đốc trước đây chị đã gặp. Nhìn anh nhân từ và đức độ nên chỉ cần nghe anh nói cần một đứa con mang dòng máu mình, thì chị đã tin và hiểu.
Những người sống có tình có nghĩa không hại ai bao giờ.
Chị rời khỏi công ty ngay sau đó, bảo là không muốn mang tiếng cho cả hai nên chị sẽ đi một nơi thật xa, khi đứa trẻ ra đời chị sẽ cho anh biết chỗ ở để mà còn đến rước con. Trong hợp đồng cũng ghi rõ hết những chi tiết ấy. Anh đã ký biết bao hợp đồng, sổ sách, vậy mà khi đặt viết để ký lên tờ giấy ấy, lòng anh đau quặn lại, đau cho anh và cho cả người phụ nữ kia. Chị hiền hiểu hết nên càng cố tỏ ra tỉnh như không, khuân mặt bầu tròn phúc hậu của chị đang cố tô lên cái nét vô tình nhưng không được, nhìn chị gượng gạo lắm!
Hơn chín tháng sau anh mới gặp lại chị, nhìn đứa trẻ ngọ nguậy dưới lớp chăn bông, lòng anh rộn lên một niềm vui sướng. Nhưng anh thấy lo cho chị, chị xanh xao, yếu ớt quá, nhìn chị mệt mỏi chìm vào giấc ngủ, anh cảm thấy mình có tội. Phải chi anh có thể ôm lấy chị vào lòng, hay gánh vác nỗi mệt mỏi trong cả giấc ngủ của chị. Tất cả những thứ đó không thể dùng đồng tiền mà bù đắp được. Chị tỉnh dậy, đọc được những suy nghĩ trong đầu anh, chị trầm ngâm:
“Tôi không sao đâu mà giám đốc! Chúng ta đã đồng ý là làm việc này đúng như đã hợp đồng mà, anh đâu cần phải áy náy với tôi!”.
Anh giật mình, sao chị lại có thể hiểu cả những điều anh chưa nói ra như thế!
Chị im lặng một lát rồi nói thêm:
“Nếu anh cứ áy náy như vậy tôi cũng không vui đâu, hay là thế này!”.
Anh hồi hộp đến nín thở, có phải cái điều anh lo sơ rồi cũng đến. Anh đã nghĩ tới điều này kể từ khi nhìn thấy đứa trẻ, lúc mà tình cha con hiện lên trong tâm can anh. Anh biết chị cũng thế thôi, làm sao lại không có tình cảm với đứa trẻ mà mình đã cưu mang trong bụng hơn chín tháng trời. Rồi biết đâu chị sẽ huỷ hợp đồng để đòi lại đứa con. Nếu thế anh cũng phải đồng ý mất thôi, ai lại nỡ chia cách tình mẫu tử như thế! Anh hồi hộp đón từng câu nói thốt ra từ miệng chị!
“Chuyện là tôi có mượn tiền ngân hàng để lo cho ba trong thời gian qua, nếu giám đốc còn áy náy thì chịu giúp tôi số tiền lời ấy, xem như huề. Được không?”.
Anh thở phào, nhưng cảm giác có lỗi với chị Hiền, với đứa con rồi đây sẽ không có mẹ vẫn cứ đeo bám anh.
Anh đứng ngoài hành lang đã rất lâu, nhìn cách uống rượu rất sành sỏi, chuyên nghiệp của chị mà anh đau lòng. Đúng là anh chưa bao giờ hiểu chị. Suốt ngày anh chỉ biết cắm đầu vào công việc. Cả cái đêmsinh nhật của chị anh cũng quên mất đi, rồi những lần chị về thăm nhà, anh đều có những lý do rất chính đáng để không thể đi cùng với chị, đó có phải là nguyên do khiến chị ra nông nỗi như hôm nay?
Anh gỡ ly rượu từ tay chị, giọng nhẹ nhàng: “Em uống nhiều như thế sẽ có hại cho sức khoẻ mất!”. Thân hình mềm oặt của chị như dựa hẳn vào anh. Anh dìu chị vào phòng. Nhìn chị ngủ ngoan hiền như một chú mèo mướp, rất đỗi đáng yêu. Đưa tay vuốt mái tóc mềm mượt của chị, hôn nhẹ lên trán chị, anh nhận ra hạnh phúc đang ở bên anh, kề cận anh mà anh không hay biết. Anh ngồi ngắm chị thật lâu, rồi thì thầm: “Xin lỗi em, thời gian qua anh đã không cho em được niềm hạnh phúc trọn vẹn, anh chưa làmột người chồng tốt thì làm sao có thể trở thành người cha tốt được!”.
Trong ánh đèn ngủ mờ nhạt, môi chị nở nụ cười hạnh phúc.
Chị Hiền bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa từ rất sớm. Chị vừa mới chợp mắt đây, suốt đêm qua chị có ngủ được đâu. Cứ nghĩ đến việc phải xa lìa đứ trẻ là lòng chị đau quặn lên. Dù gì thì hợp đồng cũng ghi rõ ràng rồi. Chị thấy mình độc ác, tàn nhẫn quá! Rồi chị lại biện hộ cho mình, chưa làm mẹ bao giờ thì làm sao chị biết tình mẫu tử thiêng liêng như vậy chứ?
Tiếng gõ cửa dồn dập hơn, chị thấy cõi lòng mình như tan nát. Gạt dòng nước mắt, chị lặng lẽ ra mở cửa. Đứng trước mặt chị là một cậu thanh niên lạ, cậu gật đầu chào chị rồi chìa ra cho chị chiếc va ly màu xanh đậm:
“Ông Hoàng có nhờ tôi mang đến cho cô vật này”.
Nói xong cậu bỏ đi, chị ngạc nhiên mở vội chiếc va ly. Chị như không tin vào mắt mình, từng xấp tiền mới cứng được xếp ngay ngắn trong ấy, loại giấy năm trăm nghìn đồng. Trên mặt là một bức thư. Chị mở vội bức thư ra đọc.
“Số tiền này tôi không phải dùng để chuộc lấy sự trinh khiết cho cả đời con gái của chị. Chị đã hy sinh vì tôi quá nhiều, tôi chẳng biết lấy gì để đền đáp, chỉ mong có thể phần nào giúp chị vơi bớt gánh nặng cơm- áo – gạo- tiền. Về phần đứa con, tôi thành thật xin lỗi chị. Chị là người phụ nữ có tấm lòng nhân hậu, tôi biết chị không đành xa lìa máu mủ của mình, vả lại, tôi không thể làm người cha tốt, nên tôi xin gởi cháu lại cho chị. Tôi sẽ cố gắng làm một người chồng tốt trước khi trở thành người cha tốt. Nếu chị không trách móc, xin hãy nhận số tiền mà tôi gởi chị. Tôi thành thật nói lời xin lỗi chị”.
Chị Hiền ôm chầm lấy đứa trẻ, như sợ nó sẽ tuốt khỏi tay chị một lần nữa. Và chị khóc.
Chiều hôm ấy, chuyến xe tốc hành cuối cùng trong ngày chuyển bánh, đưa chị đến một nơi thật xa …
My company: www.procard.com.vn
0
CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM Ý TƯỞNG
La Thị Ánh Hường

Trong năm, tôi thích nhất là mùa đông. Phải nói là “yêu” thì đúng hơn. Tôi yêu tha thiết tiết trời se lạnh hay những ngọn gió ngọt lành mát rượi tận đáy lòng. Mỗi sáng, dù chẳng có việc gì phải ra đường tôi vẫn khoác thêm chiếc áo đi dọc theo con đường mòn dẫn vào ngôi nhà thờ cổ kính. Vừa đi vừa cảm nhận mùa đông đang ở cạnh bên mình, thú vị như như ta đang gặm nhấm một món ăn khoái khẩu.
Thuở nhỏ, tôi thích rất nhiều thứ, từ những chùm bong bóng căng tròn đủ màu sắc của lũ con gái cho đến những viên bi đặc ruột sáng lóng lánh của bọn con trai. Nhưng hầu như tất cả những thứ ấy tôi đều không có! Nhà tôi nghèo, nghèo lắm. Thỉnh thoảng mẹ mới đi chợ thị xã một lần, lâu lâu mua cho tôi một trái bong bóng màu đỏ. Tôi mừng quýnh quáng, ngắm nghía như một báu vật. Mà thường thì “báu vật” ấy chỉ thoả mãn niềm vui của tôi được hơn nửa ngày. Sau đó lại phải đau khổ đến mấy ngày vì tiếc. Ngẫm lại, thấy bất công khi mà cả khái niệm về thời gian của niềm vui và nỗi buồn cũng không có sự công bằng.
Cùng theo tôi lớn lên là những sở thích trở thành khát vọng của tuổi thơ. Tôi từng bỏ ra nửa buổi làm việc để cùng anh rong ruổi khắp các cửa hàng văn phòng phẩm. Chỉ làm mỗi việc sưu tầm các loại bong bóng, từ bong bóng hình trái tim đến những loại cầu kỳ như con thỏ, con rồng …v…v… Anh là người yêu đầu tiên của tôi – người mà sau này tôi cho là bị thiệt thòi nhất, bởi khi ấy, tôi chẳng khác nào một đứa trẻ ưa vòi vĩnh.
Người thứ hai đến với tôi hơn một năm sau đó. Cũng có nghĩa là thời gian đã đẩy lùi tuổi thơ của tôi ra xa thêm một năm, khi ấy, mỗi khi đi ngủ tôi không còn có thói quen thổi thật nhiều bong bóng bỏ vô mùng như trước. Vì một lần tình cờ biết được, anh khuyên: “Đêm nào em giật mình bởi tiếng bong bóng bể như thế không tốt đâu!”. Vậy là tôi ngoan ngoãn nghe theo anh. Cảm thấy hạnh phúc vì nghĩ anh mới chính là người yêu mình thật lòng. Lúc ấy, hình bóng của người yêu đầu lợt dần, lợt dần rồi mất hút như những tia nắng cuối ngày. Thỉnh thoảng anh xuất hiện trong lá thư tôi viết cho người yêu thứ hai, nhưng không phải là nỗi nhớ nhung khắc khoải mà chỉ để tô đậm thêm hình bóng của anh (người yêu hiện tại), bằng những câu từ đại hoại như: Anh đã giúp em hiểu thế nào là tình yêu đích thực, điều mà người bạn trai em trước đây không thể mang đến cho em…
Người yêu thứ ba của tôi thì thực tế hơn cả hai người trước. Anh không cùng tôi săn lùng các loại bong bóng ở khắp ngõ ngách trong thành phố như người yêu đầu tiên, cũng không bảo vệ giấc ngủ của tôi bằng cách ngăn cách tôi với những trái bong bóng đáng yêu. Anh tỏ ra chững chạc hơn với cương vị một ông sếp uy nghi. Ngày lễ giáng sinh, anh sai cấp dưới mang đến cho tôi trái bong bóng to nhất mà trước nay tôi mới nhìn thấy. Quen anh, tôi nhận ra vị trí mình quan trọng hẳn lên. Ngày cuối tuần, thay vì rong ruổi ngoài đường để hít bụi với người yêu đầu (mà có lúc tôi cho đó là sở thích và vui mừng vì có người cùng chung sở thích với mình), hay ngồi ngắm lục bình giữa một khung cảnh tối đen bên cạnh dòng sông mà rác rưởi phong phú hơn cả lục bình, anh đưa tôi đến những nhà hàng sang trọng, những phòng trà ca nhạc lịch thiệp – nơi mà người ta biến những đồng tiền có thể cưu mang tôi hàng tháng thành tờ giấy vô giá . Ở đó, tôi chẳng thể nào nhìn thấy bong bóng để thích thú ồ lên với anh. Có lần anh nhẹ nhàng góp ý: “Em không còn trẻ con nữa đâu đấy, chuyển sở thích đi nha nhỏ, không khéo sau này có con lại dành chơi với con, người ta cười cho”. Quả là anh nói có lý, tôi đã bước sang tuổi 23. Ở tuổi ấy người ta thích những thứ khác kia, ít ra thì cũng không tầm thường và nghèo nàn như một trái bong bóng!
Chia tay với mối tình thứ ba, tôi về tỉ mẩn gom hết mớ bong bóng nằm rải rác trong các ngăn tủ, được một bọc lớn đầy căng. Xong, phồng mang thổi lên cho đầy ắp căn phòng rồi nhốt mình vào trong ấy. Vỗ về mình bằng cách ôm hết mớ lập cập đó vào lòng. Bỗng thấy tuổi thơ hiện về rất gần, hình ảnh mẹ làm cồn cào nỗi nhớ. Lâu lắm rồi tôi không gọi điện cho mẹ. Lúc đầu cũng lờ mờ nhận ra như thế gọi là vô tình, có chút ray rứt, an hận, sau đó thì quen dần. Quen với cái “vô tình” của chính mình.
Tôi kể liền một mạch rồi kết luận với anh tổng biên tập: “Anh thấy đấy, em không đưa chuyện tình yêu của em vào sáng tác được đâu. Lỡm lờ thế không khéo bạn đọc lại mắng cho đấy chứ!”. Anh nhìn tôi lộ một chút thông cảm (ít nhất cũng phải thế!), anh dụi điếu thuốc trên tay, giọng hiền khô: “Vậy thì em cứ đi tìm ý tưởng để viết cho phù hợp với sở trường. Nhưng nhớ là không được trễ bài đâu đấy. Anh đã giới thiệu từ số trước, em chính là gương mặt trẻ của số báo đầu đông này. Không thay đổi được nữa!”.
Thì tôi cũng đâu muốn thay đổi. Viết lâu lắm rồi, nay mới được tổng biên tập chiếu cố, cho lên trang nhất kèm theo tấm ảnh tác giả và những dòng giới thiệu hết sức mượt mà, oách quá đi chứ! Vậy mà bỗng dưng thấy khớp. Bình thường thì mỗi khi bài có dở một chút, câu văn có ngây ngô một chút, cố trấn an mình không sao đâu, họ đọc rồi quên béng đi ngay thôi mà, dù sao cũng chẳng biết mình là ai. Nhưng bây giờ thì khác, cái đứa con gái có cặp mắt buồn thăm thẳm ấy, nhìn vào ai cũng cho là sâu sắc lắm! Luôn hướng tới những vấn đề lớn lao lắm, không thể là những trái bong bóng hay vài mối tình được so sánh như một truyện ngắn mà mở đầu rất hấp dẫn, càng về sau càng dở cuối cùng dẫn đến kết thúc lãng xẹt.
Ngày ba mươi mỗi tháng, tôi nhận được số tiền lương không lớn cũng không quá nhỏ, tạm đủ để trang trải những thứ lặt vặt nhưng cần thiết, trong ấy vẫn có một phần trích ra để tôi ghé vào tiệm tạp hoá có bán bong bóng, tự với tay gỡ lấy một bịch treo tòng teng trên đỉnh đầu, cười với anh chủ tiệm một cái rồi hăm hở quay ra. Nhưng tôi vẫn không thể dùng tiền để mua lấy mùa đông cho mình. Đành phải dài cổ chờ cho mùa thu đi qua, khi mà những tia nắng đầu ngày không còn khoác lên mình một màu vàng óng. Mùa đông của miền Nam luôn đến kèm với những cơn bão, hay ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, vì thế mà bầu trời cứ âm u, ể oải như một người mới bệnh dậy. Không có nắng nên khó mà phân biệt được sáng, trưa hay chiều.
Vậy mà tôi lại thích. Đông đến vừa đúng lúc những đau khổ tưởng chừng như không qua khỏi trong tôi phai dần. Bây giờ trong lòng trống trải và nhẹ tênh. Nhẹ hơn cả đám lá ngọc lan đang xào xạc ngoài kia, sao chúng cứ phải lay lắt mãi mới thả mình được xuống đất?
Thế nên việc đi tìm ý tưởng cho một truyện ngắn, có lẽ không khó khăn gì mấy!
Bắt đầu là tham khảo ý kiến của ông anh ở tận bên Texas – người luôn luôn hào phóng những lời chê bai và tiết kiệm đến keo kiệt sự ngợi khen. Tôi đã bị một vố đau điếng khi dũng cảm gởi nguyên tập truyện mới viết của mình cho anh nhận xét. Kết quả là nhét luôn xấp bản thảo ấy xuống đáy tủ. Thất vọng thiếu điều muốn bỏ viết. Khi bình tĩnh lại mới nhận ra, những người dám góp ý với mình thành thật như vậy không nhiều, và anh thì nằm trong cái “số ít” đáng trân trọng ấy. Được hỏi ý kiến cho một tác phẩm “tầm cỡ”, anh như thấy mình quan trọng hẳn lên, tuôn ra một tràng những lời gợi ý.
Theo như lời anh thì tôi chẳng bao giờ có một tác phẩm ra trò!
Hôm đi xem bói với đứa bạn, ông thầy trẻ măng nhưng có khuân mặt khó đăm đăm. Trái với bệnh nói nhiều kinh niên của một số bà bói mà tôi biết, ông thầy thuộc loại tiết kiệm lời nói. Ông nhìn tôi hồi lâu rồi thở dài cái thượt, phán : “Cô là người khá thông minh, nắm bắt mọi vấn đề rất nhanh, chỉ có điều … hơi lười suy nghĩ”.
Vậy là toi điều kiện đầu tiên để có được một tuyệt phẩm! Anh bảo quan trọng là có chịu suy nghĩ hay không? Trí óc con người có một khả năng tiềm ẩn mà chỉ khi nào chịu suy nghĩ, mới khai thác hết được. Anh còn kể cho tôi nghe thế nào là nghệ thuật quan sát. Thí dụ như để viết về loài kiến, họ đã phải nằm dưới gốc cây hơn nửa ngày trời để ngắm nghía mọi hành động của chúng. Tiếp theo là phải đưa vốn sống thực tế vào thì truyện mới sinh động. Anh nói những vấn đề quá đỗi cao siêu so với đầu óc một con bé lúc nào cũng chứa đầy những trái bong bóng như tôi. Sàng lọc hết những điều anh nói, tôi “ghi nhận” vấn đề mà tôi cho là thiết thực nhất; đó là phải suy nghĩ.
Từ lúc này, tôi hứa sẽ không bỏ sót bất cứ một chi tiết nào trong tầm mắt. Từ cái nhìn khó chịu của bà chủ xe buýt khi tôi chìa ra tấm thẻ tháng, thay vì hai ngàn đồng, đến thái độ khinh miệt của nhân viên trong shop thời trang cao cấp, mà hôm ấy, tôi mặc trên người một chiếc áo trắng ngả màu từ thời trung học. Tôi về nhà ghi chép tất cả những chi tiết ấy thật cẩn thận, cả hành động và lời nói của họ. Không biết có thừa thãi quá hay không? Nếu như không đạt đến tầm suy nghĩ sâu sắc, chí ít tôi cũng học thêm được cách tả thực.
Có tiếng chuông cửa. Tôi vội vã chạy ra, đằng sau cánh cổng đã xỉn màu, thằng em đen nhẻm nheo mắt cười:
- Chị không bất ngờ khi em lên sao?
Bất ngờ gì kia chứ! Mỗi năm, cứ gần đến mùa thi là nó tò tò khăn gói lên đây. Thi rớt lại quay về, hứa hẹn năm sau gặp lại. Cái thằng, được cái luôn lạc quan, bụng dạ lành như đất, lại thật thà nên cho dù nó có dốt nát chút xíu, tôi vẫn thương nó nhất nhà! Hồi nhỏ, mỗi lần nó bị bọn con nít chơi xấu lén trét bùn đầy lên đầu, tôi phải lôi nó ra sau giếng tắm gội. Lớn lên một chút, nó không cho phép tôi “tự do” chăm sóc nó, nó bảo: “Việc của chị là đi tìm một ông chồng cho tốt vào. Chẳng lẽ chị ở với mẹ với em cả đời như thế!”. Mẹ nghe được lại thở dài: “Phải chi con hai cũng biết yêu thương, quan tâm như chị em con thì tốt biết mấy!”. Khi ấy chị hai đã đi lấy chồng. Ngày chị cưới không có lấy một phân vàng đeo tay. Cả hai gia đình đều nghèo. Nấu nướng được mấy mâm cỗ đã là cạn kiệt vốn liếng dành dụm bấy lâu. Chị mặc cảmvới đám bạn bè giàu có, nên cưới hôm trước, hôm sau đã khăn gói đi làm ăn xa xứ. Bằng giọng giận hờn vô cớ, chị nói với mẹ, nếu không giàu có chị sẽ không về lại làng.
- Chị hai về rồi, chị biết không?
- Vậy à? – Tôi nói mà mắt không rời quả táo đang gọt trên tay, thực lòng thì tôi không có ấn tượng với chị hai. Nhất là khi chứng kiến cảnh ba mẹ cực khổ khi nhà thiếu đi một lao động, vậy mà chị vẫn giũ bỏ tất cả một cách rất nhẹ nhàng. Cả một lời hỏi thăm cũng không.
- Chị ấy chỉ ghé một lát, nghe đâu làm ăn được mùa khá giả lắm, đã mua nhà ở thành phố gì ấy nhỉ, em quên mất. Hình như có cho mẹ một trăm ngàn chị ạ!
- Một trăm ngàn! – tôi lặp lại lời thằng em đang nói say sưa một cách hồn nhiên.
Nó gật đầu, đưa nguyên trái táo còn nguyên vỏ lên miệng cắn sồn sột, chỉ một lát đã thấy nó ngủ ngon lành.
Tôi lấy quyển vở ra, tiếp tục ghi chép những vấn đề cần phải đào sâu suy nghĩ. Về cái đề tài cập nhật gần nhất. Một người con gái thành đạt nơi xứ ngừơi, mua hẳn căn nhà đồ sộ trị giá lên đến tiền tỷ, mà chỉ có thể chìa tờ trăm nghìn ra biếu bố mẹ. Ở chi tiết này, thay vì dừng lại ở suy nghĩ chị ấy keo kiệt không chút hiếu thảo, tôi cần phải “mổ xẻ” thêm khái niệm thế nào là keo kiệt, thế nào là biểu lộ lòng hiếu thảo? Tôi không nằm trong hoàn cảnh giàu có như chị, cũng không tơ tưởng đến căn nhà thành phố, với đồng lương còm cõi của mình, mỗi tháng sau những chi tiêu, tôi vét sạch gởi về nhà, cũng chỉ đủ cho bố mẹ già ăn uống đạm bạc sống qua ngày. Mà biết đâu chị cũng có cái lý của chị. Chẳng hạn chị sẽ bảo: “Mày được bố mẹ lo cho ăn học tới nơi tới chốn, bây giờ phải báo đáp là lẽ đương nhiên!”. Sau đó chị sẽ tuôn ra một tràng than thở về những tháng ngày vào đời với hai bàn tay trắng, không ai giúp đỡ. Rồi biết đâu chị lại hùng hổ kết luận; nuôi dạy con là trách nhiệm của bậc sinh thành, bây giờ chị cũng phải nuôi con của chị. Đó đã trở thành một quy luật không thay đổi, như một dòng chảy không ngừng của ngọn thác. Mà có dòng nước nào là chảy ngược lên đâu.
Chiều. Gió vi vu xào xạc trên nhánh cây trước hiên nhà. Trời kéo mây và sấm chớp rầm rầm. Cái điện thoại sóng yếu khiến giọng nói cứ chập chờn. Anh tổng biên tập nói mà như gào lên: “Nộp bài đi chứ nhỏ! Không trả giá được nữa đâu, hết hạn rồi đấy nhé!”. Tôi không thể nói với anh là tôi chưa tìm ra ý tưởng. Chỉ mỗi việc suy nghĩ cho chính chắn một vấn đề, tôi làm cũng chưa xong. Mà đâu phải tôi lười suy nghĩ. Tôi hứa với anh bằng một giọng chắc mẩm: “Sáng mai em nộp sớm, hứa uy tín đấy!”.
Mưa bắt đầu nặng hạt, tiếng lộp độp trên trần nhà ngày càng ráo riết. Nước trên máng xối chảy xuống thành dòng xối xả. Tôi nằm ngửa cổ lên trần nhà, mơ màng về một cốt truyện sao cho thật thú vị. Chắc hẳn phải là một đề tài ngộ nghĩnh chưa có bất cứ nhà văn nào khai thác, ở trong ấy nhất thiết phải truyền tải cái hồn, vốn sống và óc quan sát sao cho tinh tế. Sẽ không quẩn quanh với những trái bong bóng hay những mối tình nhạt nhẽo.
Bây giờ thì chờ cho mưa tạnh, nhiệt độ xuống thật thấp, có thể tôi sẽ ra đường mà không mặc thêm áo khoác, có thế mới cảm nhận được mùa đông. Tôi vẫn phải tiếp tục cuộc hành trình đi tìm ý tưởng mà!
My company: www.procard.com.vn
0
NGÀY TRỞ VỀ
La Thị Ánh Hừơng

Một ngày, chị nhận tin anh đã đi khỏi nhà, cũng vào một ngày u ám như hôm nay, có điều mưa lớn hơn, tiếng sấm chớp liên tục nổ dòn như cố tình phá toang cả bầu trời.
Duy vuốt làn nước mưa, môi run lên vì lạnh, giọng anh dứt khoát như đã có sự bàn tính trước: “Chúng ta đi!”. Chị ngỡ ngàng, vơ vội mấy bộ quần áo, choàng lớp áo mưa lên người, giọng cũng dứt khoát không kém: “Đi!”
Chiếc xe rồ ga, lao nhanh như một mũi tên. Thị xã lùi dần trong làn nước mưa trắng xoá. Chị không biết rằng, mình đang tham gia vào cái việc làm hết sức ngớ ngẩn, tìm một người giữa một thành phố xa lạ. Nơi đó có thể là vài chục ngàn người, cũng có thể là vài trăm ngàn người, mà anh thì quá nhỏ bé trong cái đơn vị “ chục” và “trăm” ấy!
Vậy mà vẫn cứ đi, như một con thiêu thân không sợ chết. Suy cho cùng, nếu chị ngồi ở nhà trong tâm trạng như thế này, rõ ràng là “chết” hơn.
Anh đã từng bảo là sẽ có ngày này, ngày anh ra đi mãi mãi. Sau những buổi tranh cãi chẳng ai chịu nhường ai, chị cũng từng mong muốn anh đi luôn cho rồi. Vợ chồng người ta cũng khối kẻ ly dị chỉ với lý do không hợp nhau đấy thôi! Anh và chị cũng là người, chứ có phải thánh đâu mà tránh được quy luật thế gian. Khó khăn lắm anh chị mới cưới được nhau, vậy mà chưa đầy một năm đã không thể nhớ hết các vụ tranh cãi, cũng chẳng kiểm soát được trong đó bao gồm những lý do gì. Cứ cãi. Cãi rồi huề, rồi lại cãi.
Mà giọt nước cuối cùng làm tràn li, lại rơi vào vấn đề “kẻ thứ ba” – là Duy.
Thời còn là sinh viên Duy cũng từng yêu chị, giống như anh yêu chị. Cả hai người họ lại là bạn thân và đều là những người tốt như nhau. Lần ấy, anh trong một tai nạn giao thông tưởng chừng như không qua khỏi, vì lo lắng cho sức khoẻ của bạn nên Duy đã hứa với anh một điều, sẽ không dành chị với anh.
Cho đến ngày anh chị cưới nhau, họ vẫn là đôi bạn thân thiết nhất. Điều đó khiến cho chị cảm thấy nhẹ nhàng biết bao. Khi Duy có bạn gái, chị mới biết ngọn lửa tình yêu trong lòng Duy dành cho chị không tắt bao giờ. Chỉ vì một lần vô tình, Duy đã thốt ra: “Cô ấy đáng yêu lắm! Giống Chi ở nhiều điểm, từ mái tóc cột hờ sau gáy đến ánh nhìn ấm áp, thiện cảm”. Chị hiểu ra, bỗng thấy tội nghiệp cho cô gái ấy, cả Duy nữa. Nhưng biết thế nào được vì chị vẫn yêu anh.
Sau một buổi tranh cãi xem chừng như không dẫn đến kết thúc, mà cái lý do lại hết sức vụn vặt. Chỉ tại cái “tôi” của cả hai quá lớn, mà anh và chị đều ra sức nâng niu nó nên chẳng ai bỏ đuợc. Chị vùng bỏ chạy, giống như người ta muốn thoát khỏi địa ngục vì nó quá tối tăm.
Mà cái thị xã này bé nhỏ quá hay sao, chị lại chay thẳng vào nhà Duy. Cũng tại cái thị xã này nhỏ bé quá, nên anh kịp thấy chị khóc trên vai Duy trong một quán nước vắng người.
Anh vắng nhà liên tiếp trong ba ngày, chị cũng không thèm liên lạc. Chỉ vì nghĩ anh yêu chị thế, làm sao có thể bỏ được chị. Chỉ là giận hờn vài ngày thế thôi, rồi anh sẽ quay về với chị như bao lần khác.
Một tuần trôi qua, linh cảm mang đến cho chị điều không hay, tâm trạng chị hoang mang. Duy cũng không thoát khỏi những lo lắng, anh âm thầm liên lạc với với những người anh quen biết, hỏi thăm về anh, vẫn chẳng có tin tức gì. Mãi đến khi một đồng nghiệp trong phòng hành chính của công ty đến báo, Duy vẫn chưa tin là anh đã ra đi ngay hôm đó. Rút lại hồ sơ, nói là ra Đắclắc sống.
Duy không lo lắng vấn đề anh có xin được việc làm hay không. Một người có tài như anh thì sợ gì thất nghiệp. Nhưng bạn bè với anh từ nhỏ nên Duy quá hiểu con người anh. Một khi có chuyện gì buồn, anh cứ như người mất trí, có khi đi lang thang ngoài đường cả đêm. Mà với anh, chuyện đáng để buồn nhất lại bắt nguồn từ người vợ xinh đẹp, hiền hậu mà anh yêu thương hết mực. Thế thôi, những chuyện khác xem ra chẳng đáng ký lô nào để anh buồn nhiều. Ngày chưa cưới chị, anh cũng từng lang thang như thế mỗi khi hai người giận nhau. Một lần anh còn nói với Duy nếu không cưới được chị, anh sẽ ra đi mãi mãi. Cho nên Duy thấy lo lắng.
Cao nguyên hiện ra với bạt ngàn núi đồi thơ mộng. Nhưng chị không còn đủ sức để ngắm nhìn. Hơn bốn trăm cây số là quãng đường dài quá sức tưởng của chị. Lại cảm thấy không được tự nhiên khi phải ngồi quá lâu sau xe người đàn ông không phải là của mình như thế này. Thỉnh thoảng Duy cho xe chạy chậm lại, cứ muốn nói vói chị ngồi gần lại chút nữa, bám cho chặt để khỏi té, ở đây đường lên xuống thất thường. Nhưng lại ngại. Biết đâu chị hiểu lầm là Duy lợi dụng. Mà chẳng ai như chị. Bám vào nguời Duy một chút cho anh đỡ lo thì đã có sao đâu. Hơn tám tiếng đồng hồ mà chị cứ ngồi thẳng đừ, chẳng vịn vào đâu, như thế chịu sao nổi.
Mới bốn giờ chiều trời đã tối đen bởi mây giăng kín, báo hiệu một cơn mưa lớn.
Thành phố Buôn Mê Thuật hiện ra trong cảnh trời vần vũ như thế. Người người hối hả qua lại, phố phường ngập tràn xác lá rụng rơi. Thỉnh thoảng xuất hiện cơn gió xoáy, cuốn đi cả mũ nón của người qua đường. Tất cả cái ồn ào, náo nhiệt và vội vã đó khiến chị bật khóc.
Duy cũng bắt đầu thấy áy náy, mình sai mất rồi, sao lại rủ chị đi như thế này, phố phường đông quá, nếu không tìm được người, liệu chị có đủ sức để trở về hay không?
Cảm giác bế tắc xuất hiện ngày một rõ trên khuân mặt đầy lo âu của cả hai người. Duy vẫn cố bấu víu vào linh cảm của mình, anh ấy đang buồn và lang thang trên đường phố, nhất là những khu vực có công viên như thế này. Duy thấy nhói lòng khi nhớ tới hình ảnh anh bắt gặp hôm nọ, một thanh niên nhếch nhác trong bộ áo quần cũ sỉn, mái tóc bết đầy đất rũ xuống trán, gã bốc vội một hộp cơm ai đó vừa quăng vào thùng rác, mở ra nhai ngấu nghiến. Anh thấy rùng mình không dám nghĩ tiếp nữa.
Ngoài một tâm trạng rối bời, chị chẳng có một định hướng nào khác để bắt đầu cuộc kiếm tìm. Chỉ không thoát ra được nỗi day dứt khôn nguôi, hoá ra lâu nay chị sống quá hời hợt với anh, chẳng bao giờ chị tin lời anh nói, kể cả anh nói rằng sẽ đi một nơi thật xa. Chỉ vì chị qua chủ quan ở tình yêu sâu bền mà anh luôn dành cho chị. Chị không bao giờ nghĩ sẽ có một ngày mất anh. Thế nên người đau khổ trong lúc này lai là chị. Chị đã đánh mất đi một nửa quý giá nhất của chính mình. Mà cho đến lúc này, chị mới ngỡ ngàng nhận ra chị không thể sống khi thiếu đi “một nửa” đó!
Chưa lúc nào chị sợ bóng đêm đến như vậy! Cái cảm giác lạc lõng vây kín lấy chị. Chị biết đi đâu, về đâu? Còn anh nữa, anh đang ở nơi nào giữa cảnh màn trời chiếu đất này. Từng bóng người hao hao giống anh lần lượt lướt qua chị, mỗi lần như thế lòng chị đau thắt lại, xót xa, sao anh với chị lại ra nông nỗi này. Chúng ta đang cùng ở một thành phố, và biết đâu lại vừa lướt qua nhau. Chị muốn gào lên vì tuyệt vọng. Lúc này người chị mềm ra vì lạnh. Chị không còn giữ được khoảng cách nhất định với Duy. Cũng như chẳng gợi lên một cảm giác gì khi toàn thân chị dựa hẳn vào Duy.
Anh không đi lang thang như Duy nghĩ. Từ ngày đặt chân tới đây, anh theo đoàn thanh niên tình nguyện đi lên tận huyện Buôn Hồ. Như vậy để vừa có chỗ ăn, chỗ ngủ, lại vừa làm đựơc công việc mà mình yêu thích, có ích cho xã hội. Đoàn đưa anh vào một buôn làng rất xa, nằm trên khoảng đèo heo hút. Những con người ở đó, họ nhìn bọn anh xa lạ chính như khi họ nhìn những con chữ A B C.
Ở đó, ban ngày anh đứng lớp xoá mù. Tối anh ngủ lại trong căn nhà không có cửa của vị già làng. Mà anh có ngủ nghê gì đựoc đâu. Cứ chợp mắt là hình ảnh chị lại hiện lên trong anh trọn vẹn, yêu thương đến độ anh chỉ muốn bay về ôm chặt lấy chị cho thoả nỗi nhớ mong. Nhưng rồi cái cảm giác bị phản bội cứ như một gáo nước lạnh, dập tắt ngọn lửa yêu thương trong anh. Anh cũng muốn lòng mình nguội lạnh đi cho được thanh thản, nhưng vẫn không thể nào xua đuổi được hình bóng chị ra khỏi đầu. Giờ này chị đang làm gì, ngủ có ngon giấc không, chứng bệnh viêm xoang còn hành hạ chị nữa không, chị có nhớ anh như anh nhớ chị không?
Được bảy ngày như thế, anh xin trưởng đoàn cho về. Trưởng đoàn vui vẻ đồng ý, còn dắt anh xuống chợ để chọn vài thứ tặng anh làm kỷ niệm. Anh chỉ xin mảnh vải thổ cẩm, bảo về may áo cho vợ. Lúc ấy nhìn khuân mặt anh không còn những nét căm hờn, mà trở nên rạng ngời, hạnh phúc lắm!
Xe đưa anh tiến thẳng về hướng Sài gòn, lướt qua lòng thành phố Buôn Mê Thuột, anh có ngờ đâu một nửa yêu thương của anh đang vật vờ ở đó. Và đã đi qua rất nhiều lần trên con đường mà xe anh đang đi.
Đến ngày thứ tư thì chị đã kiệt hẳn sức, lại sốt cao. Duy năn nỉ cách mấy chị cũng không chịu vô bệnh viện. Vì biết đâu lỡ anh ấy có đi qua làm sao mình biết. Hai nguời họ cứ lang thang như thế, đêm ngồi tựa lưng trên ghế trạm xe buýt. Giấc ngủ cứ chập chờn sao mà khó đến như vậy.
Duy xót xa nhìn chị ngày một xanh xao, cảm giác mình có lỗi vây kín lấy anh. Biết làm sao bay giờ. Cuối cùng Duy cũng nghĩ ra một cách để thuyết phục chị về.
Duy nói dối chị gần nhà ông Duy có bà xem bói rất hay, chỉ cần tấm hình hay cái áo của người mất tích, bà ta có thể giúp người nhà tìm lại họ. Thế là chị chịu về. Khi ấy cơn sốt làm người chị rũ rượi ra, chân tay cứ tái nhợt đi.
Thành phố lùi dần lại sau lưng. Núi đồi thênh thang trải rộng, và gió, gió thốc vào mặt từng cơn lạnh buốt. Vòng tay chị ôm chặt lấy Duy, cứ được một lát lại lơi ra. Duy thấy lo lắng khi hơi nóng từ người chị phả vào anh, có lẽ chị đang sốt cao, mà giữa cái nơi chỉ có núi đồi như thế này …
Duy chỉ còn biết chạy thật nhanh, chiếc xe xé toạc không khí lao đi. Anh đâu hay biết vòng tay chị lơi ra dần, chị thấy trời đất tối sầm lại rồi từ từ chị không còn làm chủ được cơ thể mình nữa, toàn thân chị mềm rũ ra, mắt chị từ từ nhắm lại và không bao giờ mở ra được nữa.
Từ trên đỉnh đèo, Duy đau khổ rú lên như một con quái vật hung tợn.
Anh vừa về tới nhà, ngôi nhà thân yêu của vợ chồng anh vẫn ngay ngắn và gọn gàng dưới bàn tay đảm đang của chị. Chị không có nhà. Anh đoán mông lung có thể là chị đi đâu đó, thăm vài người bạn hay về ngoại cũng nên. Nghĩ vậy, anh cất đồ rồi tắm cho người thoải mái.
Chị vẫn chưa về, anh lấy tấm vải thổ cẩm ra xăm soi. Chắc chắn màu này chị sẽ rất thích, vì nó hợp với nước da chị. Nhưng trước tiên anh phải ôm chị vào lòng thật lâu khi gặp mặt. Và nói với chị rằng, anh xin lỗi vì đã để chị một mình trong thời gian qua, từ bây giờ anh hứa sẽ không xa chị, mãi mãi sẽ không xa chị.
Anh có biết đâu tất cả những điều anh nghĩ không còn có thể trở thành hiện thực. Khi mà chị đã ra đi vĩnh viễn.
My company: www.procard.com.vn
0
HẠNH PHÚC NGỌT NGÀO
La Thị Ánh Hường

Giống như tất cả các cặp vợ chồng ly thân khác, căn phòng nhà chị cũng được ngăn đôi. Tấm ván ép màu vàng dìu dịu. Anh mang nó về mãi từ những ngày cuối đông. Chị nhớ rõ là bởi những ngày đó gío rất lạnh. Gío thốc vào khe hở cửa sổ, cạnh giường chị nằm. Mà cơ thể chị cũng thật kỳ. Khi nóng cũng nóng lắm, và khi lạnh thì toàn thân cứ tê dại đi.
Ngày anh mới cưới chị, mỗi khi đêm ngủ, chạm tay vào người chị anh lại hốt hoảng. Toàn thân chị nóng ran. Chị nói không sao mà anh đâu có yên tâm. Anh bật dậy nấu nước ấm đắp lên trán cho chị. Chị kể cho anh nghe ngày còn nhỏ, mẹ chị cũng từng hốt hoảng giống như anh bây giờ, mỗi khi ôm chị vào lòng. Nhưng mẹ chị không lấy nước nóng đắp như anh, bà chỉ kêu lên: “Giêsu Maria Giuse, sao con tôi nóng như hòn than thế này!”. Nghe chị kể đến đó, anh mới chịu thôi.
Nhìn chị hiền ngoan trong vòng tay yêu thương của mình, lòng anh hạnh phúc vô bờ. Nỗi hạnh phúc dâng lên tột đột và biến thành nỗi bất an. Đêm nào anh cũng ôm chặt chị trong tay, chặt lắm. Đến khi ngủ say, vòng tay anh lơi ra. Choàng tỉnh anh lại đặt chị lên cánh tay săn chắc của mình. Như thể anh sợ nếu không ôm chị vào lòng, ngỡ đâu một ngày nào đó thức giấc, anh không thấy chị đâu nữa. Điều đó cứ ám ảnh anh mãi. Cũng phải thôi, vì nếu không có chị, cuộc đời anh vô nghĩa biết nhường nào.
Thế nên anh lúc nào cũng lo lắng cho sức khoẻ của chị. Chị đi làm về, có khi còn sớm hơn anh. Thế nhưng tối nào trước khi đi ngủ anh cũng xoa bóp cho chị. Cánh tay rắn rỏi của anh lướt đều trên cơ thể mềm mại của chị. Mỗi lần phải đi công tác xa, tối nào anh cũng gọi điện cho chị, bảo không xoa bóp cho em, anh nhớ lắm. Chị hỏi lại là nhớ chị hay nhớ công việc đó. Anh trả lời là nhớ cả hai, vì tối nào anh cũng xoa bóp cho em rồi mới đi ngủ, bây giờ lên giường ngủ cứ thấy như thiếu thiếu một việc gì chưa làm trong ngày. Chị nghe mà lòng cứ muốn nghẹn đi vì thương và nhớ anh. Chị tự trách mình sao không xoa bóp cho anh giống như anh làm cho chị. Mà có đấy chứ, nhưng bàn tay phụ nữ mềm mại vẫn chẳng thể làm giống như đàn ông. Anh kéo chị vào lòng, hôn lên đôi bàn tay trắng ngà thon thả của chị. Anh bảo, chỉ cần ngắm nhìn em ngủ ngon giấc là anh cũng khoẻ lại rồi.
Mùa đông. Khi những cơn gío lạnh làm run rẩy đám cây cối trong vườn. Chị co ro nhìn đến tội nghiệp. Anh ôm chị chặt hơn, cố gắng truyền cái hơi ấm từ người anh qua chị. Nửa đêm tỉnh giấc, trong bàn tay anh, chân chị cứ lạnh ngắt như đá cục. Anh gọi điện cho người bạn ở tận thành phố Đà Lạt, nhờ mua áo len, gang tay, tất chân. Cái loại dày nhất ấy, rồi gởi bưu điện về cho anh.
Ngày cả hai gật đầu đầu đồng ý quyết định ly thân cũng là vào mùa đông. Khi đó anh giận, chị cũng giận. Giận lắm nên không còn định hướng được cả thời gian. Anh đưa tấm ván ép về throng một buổi chiều trời xám, mây giăng ngang trên đỉnh đầu, gío gào thét dữ dội. Đám lá cây rời khỏi cành chao nghiêng mãi mới chạm được xuống mặt đất. Gío xoáy chúng từng đợt làm bụi bay lên mù mịt.
Đấy, mùa đông về đúng cái ngày ấy. Trong trí nhớ chị, mùa đông dịu dàng, thanh khiết đến đắm say. Chẳng thế mà thời con gái chị yêu mùa đông như chẳng có gì yêu hơn được như thế. Vậy mà năm nay …
Một người quen đi ngang, nhìn chị khom lưng nhặt từng chiếc lá bàng rơi, cười vu vơ: “Đang có bão nên mới thế, ở ngoài miền trung ấy!”.
Chị ở miền đồi núi thì làm sao biết được bão như thế nào. Nhưng bão trong lòng thì chị đã biết.
Có cả hai người cùng về với anh. Có lẽ anh nhờ họ ngăn nhà ra hộ. Việc ấy có anh cũng đã làm bao giờ đâu. Lủng củng quá không khéo nửa đêm lại đổ ập xuống thì khổ. Chị ngồi lặng yên ngoài băng đá trước hiên, lật mãi từng trang báo vẫn chẳng nhập vào đầu được chữ nào. Có tiếng nói cười xì xèo một lát, xong hai người cúi đầu chào chị ra về. Anh đặt tấm ván ngoài cửa sổ phòng ngủ, chắn cái lỗ thông gío nhỏ xíu cho chị khỏi lạnh. Nét mặt anh vẫn lạnh băng: “Tạm thời em cứ ngủ đó. Anh ra phòng khách nằm. Chờ cho hết mùa đông”.
Người gì đâu mà …!
Thì ra anh vẫn còn quan tâm đến chị ghê lắm. Anh ngủ bên ngoài, đêm nào cũng len lén kéo rèm cửa phòng, xem chị ngủ có ngon giấc không, có bị lạnh khi không còn anh bên cạnh. Nhìn chị xanh xao dưới lớp chăn mềm, anh thương quá. Cứ muốn nằm xuống cạnh bên, nâng đầu chị lên cánh tay mình như ngày nào. Anh thèm cảm giác ấy đến quay quắt. Có đêm, không kềm nổi nữa, anh đánh liều đi lại gần chị. Anh cúi xuống hôn nhẹ lên trán chị thật lâu, rồi anh ra, như sợ chị phát giác.
Chị biết hết đấy chứ. Không có anh, có đêm nào chị ngủ ngon giấc đâu. Chị thèm được sưởi ấm từ cơ thể anh, sưởi ấm bằng cả tình yêu nồng nàn của anh. Và chị đã hằng đêm mong chờ tiếng bước chân anh.
Những suy nghĩ cứ ngày càng dày xéo tâm can chị. Chấp nhận cho anh ấy nhìn chị là một phụ nữ phản bội, để anh có lý do bỏ rơi chị, bỏ một cách nhẹ nhàng, không chút vấn vương. Có chăng cũng chỉ là thất vọng thôi, chứ ai lại nuối tiếc một phụ nữ phản bội mình. Như vậy anh sẽ quên chị nhẹ nhàng hơn. Hay là chị ích kỷ dành lấy tình yêu cho mình, nói cho anh ấy biết sự thật. Lạy Chúa! Anh ấy sẽ đau khổ như thế nào khi biết chị không thể có con như bao phụ nữ khác?
Nhưng chị biết anh không tỏ ra buồn trước mặt chị đâu. Thậm chí anh còn ra vẻ chẳng để ý đến điều đó làm gì, anh chỉ cần có chị cùng đi đến hết đoạn đường còn lại trong cuộc đời, thế là đủ. Anh sẽ nói với chị như vậy, chị biết. Nhưng còn cha mẹ chồng chị. Tội nghiệp! Họ hiền lành, yêu thương chị hết mực, lại chỉ có duy nhất mình anh. Đúng ra chị cũng không đi gặp bác sĩ nếu không tình cờ gặp mẹ chồng chị trong nhà thờ. Bà than dạo này sao mà ăn ngủ khó quá. Chị lo lắng hỏi mẹ có đau ốm gì không, có thấy khó chịu ở đâu không? Bà cười, già rồi nó sinh bệnh chứ có đau yếu gì đâu. Với lại, chắc bà thèm cháu nội rồi! Bà chỉ nói thế, không ràng buộc, hỏi han.
Chị đến gặp bác sĩ ngay hôm ấy. Lạy trời, chị muốn khụy xuống khi nghe bác sỉ nói sự thật. Vậy là chị đã mất hẳn khả năng làm mẹ! Cái khát khao được che chở cho một sinh linh bé nhỏ trong bụng khiến chị muốn điên đảo. Rồi chị nghĩ đến anh, đến cha mẹ …
Mãi đến khi một cánh tay rắn chắc bế thốc chị đưa ra khỏi phòng làm việc trong cơn say khướt. Chị vẫn chưa biết mình vừa làm cái việc chưa bao giờ làm: uống rượu. Chẳng biết chị uống từ bao giờ, nhiều hay ít, chỉ thấy người chị mềm nhũn ra, tóc tai rối bời. Vị giám đốc trẻ tuổi nhiệt tình đưa chị về tận nhà.
Chị tỉnh dậy, tiếp nhận ngay một cái tát như trời giáng của anh. Chị té xấp xuống nền nhà. Toàn thân có hơi tê đi một lát. Rồi chị đứng dậy. Anh ngồi nhìn trâng trâng vào bàn tay mình. Bàn tay mà ngày nào anh cũng xoa bóp, vỗ về chị trong giấc ngủ. Anh thấy mình đau đến tê dại. Nhưng làm sao đau bằng hình ảnh anh nhìn chị say khướt chẳng còn biết gì trên tay gã giám đốc trẻ tuổi ấy!
Chị còn đau đớn hơn khi nghĩ đến nỗi bất hạnh của mình, rượu có làm chị quên được nó đâu. Chị thương anh, thương quá nên đành phải xa anh thôi. Tiến gần đến anh, chị điềm tĩnh, nói chị đã hết yêu anh rồi. Anh không thể lo cho chị đầy đủ như người yêu mới của chị – vị giám đốc trẻ tuổi, giàu có mà anh đã thấy!
Anh ngỡ ngàng. Nỗi ê chề, nhục nhã nhất của người đàn ông cũng chỉ thế này là cùng. Anh chỉ là gã thư ký quèn thì làm sao bằng tên giám đốc kia. Em nói đúng lắm. Chúng ta chia tay thôi. Nhưng anh không muốn để cho người lớn bất ngờ. Họ sẽ không chịu nổi đâu. Anh hứa sẽ không can thiệp đến chuyện tình cảm của em.
Mùa đông đi qua thật nhanh.
Tấm ván ép được dựng lên trong những ngày đầu xuân. Anh loay hoay cứ giống như người ta chuẩn bị trang trí để đón tết vậy. Mà khác chứ, nhìn mặt anh sụ xuống thấy mà não lòng. Anh ở hẳn nhà sau, đi về cũng vô cổng sau, nên chị không còn mong chờ bước chân anh như dạo trước được nữa. Chị đi về lặng lẽ hơn. Những đêm choàng tỉnh giấc, nước mắt chị rơi ướt gối. Ngày này qua ngày khác, chị đắn đo mãi những chuyện vụn vặt; có nên giặt cái gối ngâm throng ước mắt ấy. Sợ biết đâu mùi da thịt của chồng chị sẽ mất đi. Sao chị lại phải khổ thế này?
Một buổi sáng thức giấc, chị thấy anh đứng trước hiên nhà, tay xách va li đồ nặng trĩu. Anh nói mà không nhìn mặt chị. Chị nghe loáng thoáng câu được, câu mất, rằng anh đi xa một thời gian cho khuây khỏa.
Vậy là anh đi thật rồi, anh đã dứt tình với chị hẳn rồi. Caí ý nghĩ phải xa anh hiện lên rất rõ, nhưng kì thực, chị vẫn chưa chuẩn bị sống một cuộc sống không có anh. Chị thẫn thờ suốt ngày hôm ấy. Cái cảm giác chông chênh mới đáng sợ làm sao.
Trời chiều thả những đám mây lơ lửng. Chị dạo bước trên con đường quen thuộc, mỗi bước chân của chị đều đong đầy kỷ niệm. Nỗi nhớ trong chị lại dâng trào như con sóng dữ, núi đồi trước mắt chị như rộng thêm ra.
Anh xuất hiện trước mặt chị, những giọt nước mắt thi nhau rơi trên khuân mặt cương nghị. Chị không cần biết anh nghĩ gì, anh hờn trách chị ra sao, chạy tới. Anh xiết chị trong vòng tay thương yêu như ngày nào. Tránh những cặp mắt tò mò chung quanh, cả hai dìu nhau vào nhà. Anh hôn như vũ bão lên mắt, môi chị, chị lặng đi trong vòng tay anh, đắm chìm trong hạnh phúc. Anh cứ ôm chặt chị như thể sợ không còn có ngày mai.
Anh bảo tình cờ gặp ông bác sĩ và anh đã biết cả rồi. Em ngốc quá! Sao lại khờ dại như thế! Sao lại bắt anh xa em như thế. Cho dù có như thế nào, anh cũng ở mãi bên em. Bỏ em, anh kiếm đâu ra một người như em để mà yêu thương, che chở.
Anh còn nói nhiều, nhiều lắm. Nhưng chị đưa ngón tay búp măng xinh xắn lên miệng anh, ý bảo anh không cần nói nữa đâu. Em hiểu cả rồi, em còn biết anh sẽ nói những câu như thế nào để an ủi em, rằng anh chỉ cần có em đi bên anh đến cuối cuộc đời này, thế là đủ.
Đấy, anh nói thế có đúng không?
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-16 14:25:06Ct.Ly>
HƯƠNG BỒ KẾT
La Thị Ánh Hường

Đi hết khúc đường đất đỏ lầy lội, thấy tấm bảng để chữ ấp Xóm Mới, hỏi thăm ai cũng biết nhà ông ba Vườn. Đó là vườn trái cây lớn nhất huyện. Ông trồng đủ thứ loại trái cây, những cây cho trái theo mùa và cả những cây cho trái quanh năm. Thế nên vườn nhà ông lúc nào cũng có khách đều. Khách, có khi là ở những vùng rất xa, họ đến để thưởng thức hương vị thơm ngọt của từng loại cây trái.
Khác với những người khách, mấy người bạn già của ông Ba thỉnh thoảng cũng ghé thăm. Nhìn vườn cây tươi tốt, họ không ngớt lời khen ngợi thành quả lao động của ông Ba, thế nên mới có vườn cây sung túc trĩu trái bốn mùa như thế này. ông Ba cười móm mém, tay chỉ ra sau vườn, bảo, đấy là nhờ nó. Thằng Lãm ấy mà!
Chỉ có ông mới gọi anh một cách trìu mến thế thôi, chứ bọn con nít trong xóm đứa nào cũng gọi anh là “Lãm khùng”. Anh không giận, mặc ai nói gì vẫn cứ nhăn răng cười. Hai mươi bốn tuổi mà chiều nào cũng mặc tà lỏn, ở trần, chơi trò rượt đuổi với bọn con nít trong xóm. Thân hình vạm vỡ, ra hẳn dáng một thanh niên, chỉ cái đầu là không lớn được. Thế nên bọn con nít cứ mặc sức mà bắt nạt, luôn miệng gọi Lãm khùng. Gọi thế mà anh cứ nhăn răng cười thì đúng là khùng thật rồi!
Khùng gì mà khùng. Ông Ba vẫn nạt tụi con nít trong xóm, thử hỏi cái xóm này có được đứa nào siêng năng, chịu khó như nó không? Mà anh chịu khó thật, từ việc vườn tược, đến việc trong nhà, kiêm luôn việc làm “bảo mẫu” cho đứa con gái duy nhất của ông, anh làm tất. Ngày vợ ông mất, đứa con gái ba tuổi cứ khóc ngoe ngoe suốt ngày. Ông có thể xới ba công đất, gánh cả trăm đôi nước mỗi ngày, nhưng lại chẳng biết làm sao cho con gái bớt nhớ mẹ mà thôi khóc.
Đấy, anh xuất hiện vào đúng khoảng thời gian ấy ! Ông thấy anh ngồi co quắp dưới gốc cây cuối vườn, hỏi gì cũng chẳng nói. Mãi đến bây giờ anh cũng không nói gì về thân thế của mình, hỏi cứ ú ớ, cười cười. Ông Ba cũng thôi không hỏi nữa, mà có cần thiết gì đâu, cứ thấy nó sống vui vẻ, chẳng phiền toái chuyện gì vậy là tốt rồi. Cần chi phải đào bới lên cho thêm rối rắm.
Mà cô con gái của ông cũng hợp với anh lắm, anh bảo gì cũng nghe. Bảo vô ăn cơm, nó ngoan ngoãn xếp gọn đống đồ chơi đi vào, hai chân xếp bằng ăn hết sạch tô cơm anh lấy. Bảo đi tắm, nó cũng tung tăng xách sẵn gàu nước chạy ra sau giếng, ngồi đó chờ anh ra múc nước. Chẳng thế mà ông Ba rất yên tâm khi có anh.
Bây giờ thì anh không phải làm những việc đó nữa rồi. Cô chủ đã lớn và biết tự lo cho mình. Chỉ thỉnh thoảng cô nhờ anh gội đầu giúp. Tóc cô dài và đẹp mê hồn. Mỗi lần được cô nhờ, không hiểu sao mặt anh cứ tươi tắn hẳn lên. Anh chổng mông thổi lửa đốt bồ kết, giã ra nấu nồi nước to đùng rồi mang ra giếng nước. Công việc đó anh làm rất hăng say và tỉ mỉ, nhất là cái đoạn đốt bồ kết. Phải làm sao cho thật khéo, cháy quá thì mất hết tác dụng, còn non lửa lại không thơm. Là anh kỹ thế thôi, chứ cô chủ có cằn nhằn anh tiếng nào bao giờ. Cô hiền khô, vẫn ngoan ngoãn nghe lời anh như hồi còn nhỏ.
Dạo này anh thường xuyên xem lịch hơn, có khi sợ không chắc chắn, anh đi hỏi ông Ba cho rõ. Là vì cô chủ thường hay gội đầu vào ngày thứ bảy. Cũng có khi anh ra mở cổng lúc cô đi học về, cô mặc bộ áo dài màu trắng, tóc buông xoã xuống bờ vai. Cô nhìn anh, giọng nói vẫn pha chút nũng nịu như hồi còn nhỏ: “Đường bụi quá, tóc em lại giơ nữa rồi nè!”. Chỉ cần có vậy, anh thấy sung sướng mê tơi trong lòng. Buổi trưa đó anh bỏ hẳn giấc ngủ, lại chổng mông thổi lửa đốt bồ kết.
Nhưng cảm giác sung sướng ấy của anh chẳng kéo dài được bao lâu.
Một buổi trưa.
Như mọi lần khác, anh đang gôị đầu cho cô chủ, từng ngón tay anh luồn vào chân sợi tóc, anh làm nhẹ nhàng lắm, như sợ nếu mạnh tay mảng tóc kia sẽ rời khỏi da đầu cô, và sẽ đau lắm. Còn nữa, anh muốn làm chậm thôi, thật chậm để anh được đứng thế này với cô chủ lâu hơn nữa. Đấy, giữa cái lúc anh nghĩ thế, bất chợt có tiếng ông Ba gắt gỏng:
“Thôi đi, Lãm!”.
Anh giật mình, chút xíu đánh rơi gàu nước trên tay, quay lại, anh ngơ ngác:
“Vẫn chưa gội xong mà ông!”
“Ta bảo thôi đi, vô đây mau!”
Từ trước đến nay, chưa có việc gì mà anh làm trái ý ông, anh chậm rãi bước vô, lòng vẫn thấy khó hiểu. Ông Ba dịu giọng:
“Nó lớn rồi, để tự nó làm được. Từ nay con không phải làm giúp!”
Anh gật đầu lia lịa mà lòng thì buồn so.
Anh không còn mặc tà lỏn, ở trần chơi với bọn trẻ con trong xóm. Buổi sáng, anh thức thật sớm, chờ mở cửa cho cô chủ đi học. đến khi mặt trời đứng bóng trên đỉnh đầu, anh quốc đất mà cứ ngoái cổ ngó xem cô chủ về chưa, lại lật đật chạy ra mở cổng. Trưa, có hôm anh ngủ luôn dưới mấy gốc cây, ngậm mớ lá non trong miệng, anh lại nhớ tới mái tóc mát rượi của cô chủ, mát hơn cả đám lá non đang nằm trong miệng anh.
Ông ba ốm nặng cả tuần nay, mấy người bạn đến chơi khuyên ông lên bệnh viện Thị xã cho người ta điều trị. Ông lắc đầu nguồi nguội, bệnh già thì làm sao chữa, ai rồi cũng phải chết thôi, chỉ thấy thương cho đứa con gái của ông. Ai biểu ngày đó ông lấy vợ trễ quá, nên giờ con ông mới nhỏ dại như vậy.
Tối đó, cô chủ chạy ra từ phòng ông, tay ôm mặt khóc ngất. Anh lo lắng, lẽ nào ông chủ ...
Ông chưa chết được đâu, dân lao động chân tay sống thọ lắm. Ông không những chẳng chết mà còn tổ chức một đám cưới linh đình cho cô chủ. Mảng sân trước nhà lúc nào cũng mát rượi nên không cần phải dựng rạp. Sáng sớm, mấy cô, mấy dì trong xóm kéo đến phụ nấu bếp. Mọi việc đều phải làm cho khéo léo. Từ củ cà rốt tỉa thành bông hoa làm sao cho thật đẹp, đến cả cái khăn trải bàn cũng không được có một vết lọ nào. Dù gì họ cũng là con trai ông chủ tịch xã, gả được chỗ ấy cũng là phước cả đời của ông Ba rồi. Nên nhất định không được để xảy ra bất cứ sơ xót nào. Tay chân anh vốn đã cũng vụng về, quanh năm chỉ giỏi cầm quốc nên không ai dám nhờ vả những việc hoa mỹ ấy.
Sáng hôm sau, họ sang rước cô về bên chồng. Cô đẹp đến lộng lẫy trong chiếc áo dài đỏ cổ cao. Mái tóc của cô, mái tóc mà cách đây vài tháng cô còn cúi đầu cho anh gội, được người ta tết gọn lại, quấn thành một vành tròn trên đầu, vì thế mà nhìn cô cao lên thêm. Anh chưa bao giờ thấy cô buồn đến vậy. Khuân mặt non chanh ấy, đúng ra là chưa biết buồn mới phải. Mà buồn gì kia chứ! Họ rước cô bằng xe ngựa, cả loại xe nhìn cũng sang trọng. Bọn con gái ở cái xóm nghèo nàn này có mơ cũng không được như thế. Vậy mà thấy cô vẫn buồn.
Đám con nít đầu trần, chân đất ríu rít chạy theo đoàn xe ngựa, miệng ê a những câu quen thuộc: “Cô dâu chú rể. Đội rế trên đầu. Đi qua đầu cầu. Gặp bãi cứt trâu”.
Đúng ra, anh cũng có mặt trong đoàn người ấy. Hôm qua, ông Ba ủi sẵn cho anh bộ đồ mới mua ở Thị xã về, bảo anh sáng mai mặc vô rồi đưa em nó sang bên chồng. Đến phút cuối cùng, anh đổi ý không đi nữa, nói ở nhà trông nhà. Lúc đàng trai tới, anh nằm vắt vẻo trên cành cây. Mát quá, mát thế anh phải ngủ một giấc cho đã. Mắt anh nhắm mà lòng anh có chịu yên đâu, cứ như có ngọn lửa đang bừng bừng trong ấy. Anh men theo đám cây cối rậm rạp ven đường, nhìn cô thêm một lần nữa, chẳng biết để làm gì nhưng anh vẫn muốn nhìn.
Sau đám cưới vài tháng, ông Ba mất. Cô chủ hay trở về nhà hơn, nhìn cô chững chạc nhưng xanh sao và gầy đi nhiều, cô nhờ anh ráng chăm sóc vườn cây. Dù gì nó cũng là tất cả tâm huyết thời trai trẻ ba cô đổ vào đó. Anh biết mà, hơn nữa chỉ cần thỉnh thoảng được nhìn thấy cô, thì cho dù có quốc bao nhiêu đất, tưới bao nhiêu nước, mệt mỏi mấy anh cũng sẵn sàng cam lòng.
Một buổi, anh đang loay hoay ngoài vườn thì cô về. Cái nón rộng vành của cô kéo xụp xuống hơn mọi ngày. Nhưng làm sao giấu được anh. Mấy lần lên thị xã mua đồ, anh đã nghe người ta nói hết rồi, anh thanh niên chồng cô ấy, từ nhỏ đã mang sẵn giòng máu của những gã công tử lắm tiền, chỉ biết hung hăng, ỷ quyền ỷ thế, xem trời bằng vung.
Cô nằm yên cho anh đắp muối. Nhìn khuân mặt tím bầm của cô, lòng anh đau thắt lại. Anh cần có cô để mà yêu thương biết bao, vậy mà cái gã kia ...
Anh bảo cô cứ nằm nghỉ cho khoẻ. Trưa ở lại ăn cơm với anh, anh sẽ làm mấy món ăn mà ngày trước cô thích. Cô bảo anh yên tâm đi, lần này em về là về luôn, không đi nữa. Anh nghe cô nói mà vừa mừng vừa lo.
Cái món cá rô nấu với mẻ và chuối chát này là món ruột của cô. Anh bưng lên cho cô một tô thật đầy, có cả mùi rau mò om bốc lên thơm phức. Cô nôn thốc nôn tháo, gồng mình lên mà nôn, đến khi không còn gì trong bụng nữa thì cô nằm vật ra, gân cổ nổi lên từng đường xanh lét, da mặt cô xạm lại. Anh hốt hoảng vơ giỏ đồ, bảo bế cô lên trạm y tế xã. Cô gạt đi, em không sao đâu mà, chỉ tại đứa con trong bụng nó hành em thế!
Cô ở hẳn luôn lại nhà thật, cái bụng cô dần nổi lên trong bộ đồ ngủ mà thời con gái cô hay mặc. Ngày nào cũng ra vườn phụ anh những việc lặt vặt, tối về anh bắc nồi nước sôi, pha loãng cho cô tắm.
Ngày cứ thế trôi.
Chồng cô xuất hiện trong một buổi sáng đẹp trời. Anh nhìn chăm chăm vào cái bụng tròn lẩn của cô, mắt quắc lên giận giữ:
“Cô mới bỏ tôi đi vài tháng mà đã ăn ngủ với thằng khác rồi hả? Cái đồ con gái hư thân!”.
Cô nghĩ đến đứa con lớn dần trong bụng, nó cần có cha biết bao. Nuốt nỗi oan ức, giọng cô dịu nhẹ:
“Anh hiểu lầm mẹ con em rồi, nó là con anh!”.
Anh vẫn khăng khăng:
“Cô nói dối. Nó là con cái thằng người làm nhà cô. Đừng tưởng trong lòng cô nghĩ gì mà tôi không biết! Đi luôn đi, tôi không có người vợ phản bội như cô!”.
bỏ đi. Cô ôm mặt khóc ngất.
Nãy giờ đứng bên trong, anh đã nghe hết câu chuyện. Anh nói cô cứ yên tâm, anh sẽ sang nói chuyện đầu đuôi cho họ hiểu, không để cô mang tiếng oan ức như vậy được. Nhưng cô gạt đi. Bảo là thôi không nghĩ tới nữa, cứ để cho nó tự nhiên, chuyện gì đến ắt phải đến. Nói vậy nhưng anh biết cơn sóng trong lòng cô đang trào dâng. Cô thấy tim mình như có ai sát muối, đau lắm!
Cuối cùng cô lại mang tiếng phụ tình như thế này!
Anh bảo cô thèm ăn gì thì cứ nói, bằng mọi giá anh sẽ kiếm mua bằng được cho cô ăn, những bà bầu bà nào chẳng thế, đừng ngại. Cô suy nghĩ lâu lắm, rồi bảo em thèm được anh Lãm gội đầu, gội bằng nước bồ kết nướng ấy. Mùi thơm của nó mới dễ chịu làm sao.
Anh nghe mà lòng rưng rưng muốn khóc. Bao nhiêu măm rồi mà cô chủ vẫn còn nhớ sao? Anh cũng có quên chuyện gì đâu. Anh nhớ cả ngày còn nhỏ, cô mê típ trò chơi anh làm bò cho cô cưỡi. Mỗi khi cô khóc nhè, anh chỉ cần khom lưng xuống cho cô ngồi lên là cô nín khóc ngay.
Đấy, chẳng phải anh rất khéo dỗ con nít là gì. Bây giờ cũng vậy, anh mong chờ đứa con trong bụng cô chủ biết bao, nó lớn lên, nhất định anh sẽ lại làm bò cho nó cưỡi.
Cô bảo sao anh cứ gọi em bằng “cô”, nghe xa lạ quá!
Ừ, thì gọi em.
Mà khoan, bây giờ đi gội đầu đã nào, mùi bồ kết bốc lên thơm lừng rồi kìa!


Đã mang những truyện ngắn
do ldlvinhquang vào thư viện

Cảm ơn bạn , và chúc bạn luôn vui

Tình thân
My company: www.procard.com.vn
0
«« « 1 2 3 » »»