Bốn sáu tám
Nguyễn việt hà
Có một đêm ma quỷ nhộn nhạo ở Đồ sơn của một ngày đầu Đông, rất loãng nắng. Bọn thị thành sành điệu không đi nghỉ biển vào hè nữa, ra đây chơi chua, nằm chờ gió mùa Đông Bắc. Cái ngăm ngăm rét hình như làm sóng biển có trong hơn và các khách sạn có karaoké hình như ấm cúng hơn. Tôi ngồi uống rượu chay với vài ba người viết văn xuôi. Đêm dở mùa vẫn đang lưỡng lự trôi và chợt nhiên một người lè nhè đọc.
Nắng thì nắng tái nắng tê
Rét thì rét đến đê mê lòng người
ở một vài bữa rượu sến, thỉnh thoảng những người viết văn xuôi có đọc thơ. Không hiểu sao họ thường nhớ được câu thơ hay. Cũng có thể tại đồ mồi ít, tại rượu ngon hoặc bởi một nỗi buồn bâng quơ nẫu ruột. Nói chung là một cái gì đấy bất thường và những bữa rượu có thơ là không bao giờ nhiều. So với những “điên điên” của người làm thơ, đa phần đám văn xuôi thường tỉnh táo hơn. Thi nhân uống cũng lắm, say cũng nhanh và lúc tỉnh táo đến quá nửa số người trong bọn họ sẽ đi làm quan. Nguyên khí thi ca vì thế bị thất thoát.
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng
Anh bạn ngồi cạnh tôi lơ ngơ ngừng uống, lẩm nhẩm vẻ như muốn học thuộc. Anh thở dài khẳng định, kể từ Kiều đến nay, lục bát viết về ca ve bao giờ cũng xót xa. Người vừa đọc thơ phì cười, đây là câu thơ viết về mẹ. Tôi gật gù, hoá ra chính tôi cũng nhầm. Tôi tưởng cặp câu này viết cho những người khát khao danh, cố vất vả để có quyền chức. Thi ca đích thực thường lung tung, nó hàm hồ vô chiêu, lãng đãng tới gần gần cảnh giới vô ngôn. Về điểm này văn xuôi rất khó sánh. Và cái hay nhất của thi ca lung tung là bâng quơ.
Cây thì vẫn đứng thế thôi
Hàng thì hàng đứng hàng ngồi chen nhau
Anh bạn lớn tuổi nhất bàn, viết truyện ngắn mãi vẫn chưa được giải, lắc đầu. Lục bát tả cảnh ngu ngơ được đến thế, chắc thằng này không phải là thằng người. Anh đọc thơ nuốt vội cái mề gà, nghẹn ngào nhè ra, nhăn nhó bảo “Tôi biết thằng ấy, nó tởm lắm”. Tôi bâng khuâng tự uống cạn chén rượu, vì tôi cũng biết người làm những câu sáu tám này. Thỉnh thoảng gặp thôi, anh hùng hổ giới thiệu anh là Đồng đức Bốn.
Người đọc biết anh qua những tập thơ in ở khổ rất chướng. Tập nào cũng có chân dung ảnh mầu loè loẹt, kiểu của người đứt học. Lúc này, Đồng đức Bốn đang nổi tiếng. Báo chí kể nhiều chuyện linh tinh về đời tư của anh, giọng điệu bài nào bài nấy dấm dẳng, học theo cái phong khí cợt nhả lẫn lộn vàng thau đang thời thượng. Cứ đến cuối bài, phần lớn, đều tỏ vẻ sâu sắc dung tục kết. Lạ, một thi cách như vậy lại nằm ở một nhân cách vớ vẩn như vậy. Độc giả bình thường chầm chậm đọc lục bát của Trở về với mẹ ta thôi. Hầu như ai cũng mong manh biết đây là một thi sĩ.
Một giây cầm được mặt trời
Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi
Những độc giả tử tế thường tôn trọng tò mò cái thao tác lao động của người nghệ sĩ. Lao động nghệ thuật của Đồng đức Bốn là lao động lạ. Trả bút cho Trời. Có phải thế chăng mà thơ Đồng đức Bốn có nhiều bâng quơ.
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi
Rồi bâng quơ nữa
Chốc nữa thế nào cũng giông
Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa
Lục bát cứ tưởng đến Nguyễn Bính là tận tuyệt. Kiêu ngạo như Nguyễn Khuyến cũng tự ti từ chối cái kiểu sáu tám này. “ Bao nhiêu tinh hoa Nguyễn Du đã lấy hết rồi”. Đồng đức Bốn may mắn thật.
Lục bát là thể thơ thuần Việt, nhiều học giả có tâm có tài nói thế. Và người thuần Việt nhất thường ở nhà quê. Đồng đức Bốn chắc hẳn không phải dân thành thị. Vì vậy khi anh viết, Em bỏ chồng về ở với tôi không, thì độc giả ngừng ở đấy. Kinh Thánh bảo “ Sự gì Thiên Chúa kết hợp, con người không được phép phân ly”. Trong cái tha hoá của bọn tiểu thị dân, những cái vô luân là nhan nhản. Đồng đức Bốn hay hớm gì mà “dan díu” rồi học những thói vô đạo của bọn cái gọi là “kinh thành”. Một chiều tàn thu, nắng hanh vớ vẩn trong phòng đọc mới sửa của Thư viện Quốc gia. Có hai cô bé nữ sinh, tóc vàng Hàn quốc mặt vẫn còn đâu đó vẻ chân chất của sinh viên nội trú nhà quê năm đầu. Cả hai nhí nhảnh cầm điện thoại di động. Trước mặt hai cô bé, lẫn lộn trong đám sách vở học thi là tập thơ đã sờn gáy, số ký hiệu : VN02 7447, Chuông chiều kêu trong mưa. Những tập thơ trong giá sách tự chọn của thư viện thường là phẳng phiu mới, nhợt nhạt vắng thiếu sinh khí của người đọc. Một tập thơ nhầu, âm ẩm mồ hôi tay độc giả, đó là dấu chỉ của sự cộng thông. Thi nhân ạ, anh là người hạnh phúc. Một cô bé thì thầm và cô bé kia chép.
Hiểu tôi là ngọn núi cao
Thương tôi có một ngôi sao cuối trời
Những chữ của chua xót và không phải của tuổi mơn mởn xanh. Hình như phần đông đàn bà mê thơ Đồng đức Bốn đều là thiếu phụ hoặc goá phụ. Tất nhiên, thiếu phụ từng đã là thiếu nữ. Nó chỉ khác một điều nho nhỏ, thiếu phụ thì có thêm lừa lọc phiền muộn của nhầu nát thời gian. Người ta đau đớn cho hai cô bé và mừng cho Đồng đức Bốn.
Đầu một là đầu một ơi
Có chung giọt nước mắt rơi xuống lòng
Em đừng buông mắt xuống sông
Tôi về dẫu chỉ đò không cũng chìm
Nghĩ cho cùng, những người vừa nhớn có yêu thơ Đồng đức Bốn cũng không phải điều lạ. Các cặp sáu tám nhuần nhị đăng đắng, nó dịu dàng ít khinh bạc. Suốt suốt các chữ thơ, mãi mới thấy chút chút bi phẫn đanh đá.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng
Chắc lúc ấy là lúc chưa thành danh, Đồng đức Bốn có vay mượn tiền của nhiều người và bị người ta vay mượn lại thơ. Chao ôi, lại chuyện văn cách và nhân cách. Làm quái gì tồn tại một người đã có thi cách mà thấp về nhân cách. Hàn Dũ nói với Mạnh Giao ( cả hai đều là danh gia thơ của thời đoạn trung Đường) ông có tài năng của con ngựa bất kham. Ngựa bất kham thì bao giờ chịu ở yên. Nó phải đá hậu, phải sùi bọt hí, phải quằn quại làm trò. Thế nhưng các thiếu nữ ạ, thơ hay thì cứ đọc, đừng vào đời tìm con ngựa thật mà sờ nó, chán lắm.
Cái bất kham của Đồng đức Bốn có phần dịu đi độc đáo, là nhờ lẩn sâu trong thơ anh ngân nga lắm tiếng chuông.
Chuông chùa kêu mãi trong mưa
Hàng cây nắng đứng để trưa còn chiều
Xưa nay những người làm thơ mắt tinh thì đông, tai tinh thì ít. Thơ mà thính tai thường là thơ lạ. Thi nhân ngắm trăng thì nhiều, nhưng thi nhân nghe chuông thì hiếm. Trương Kế bâng quơ nghe được tiếng chuông mà trở thành thi gia lớn của thời Thịnh Đường. Bài phong kiều dạ bạc của ông là một kiệt tác của Đường thi.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn san tự
Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền
Tản Đà lục bát dịch hai câu cuối
Thuyền ai đậu bến Cô tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn san
Nếu đúng như thế thì đáng nhẽ ra từ trở về với mẹ ta thôi đến chuông chùa kêu trong mưa, Đồng đức Bốn phải tiến lên mà thành thi sĩ thật. Nhưng anh lại lùi. Cũng có thể anh vẫn nghe chuông nhưng là chuông điện thoại di động. Nghe đồn anh có ba cái Nokia 8210. Một cái nghe bằng hữu gọi. Một cái nghe gia đình gọi. Một cái nghe nhân tình gọi. Thảm thay. Gần đây, khi báo đăng tin bọn buôn lậu mô bai bị bắt, có đông độc giả yêu thơ lục bát chân thành làm cơm ăn mừng.
Nhà văn Nguyễn huy Thiệp bảo, Đồng đức Bốn là vị cứu tinh của lục bát. Người viết văn xuôi khi bàn về thơ thường có nhiều điểm nghi ngờ đáng cãi, nhưng ở đây nhà văn có vẻ đã nói đúng. Đồng đức Bốn sinh ra để làm thơ sáu tám. Cái tên của anh đã được mặc khải. Không phải ngẫu nhiên nó nằm ở nhịp đôi của những số đếm chẵn. Bốn, Sáu, Tám. Nếu tên anh là hai hoặc là mười thì là vứt. Nhịp đi này vận hành theo chu trình của Lạc Thư trong Kinh Dịch. Tứ Lục Mộc tinh, Lục Bạch Kim tinh, Bát Bạch Thổ tinh. Ân sủng tiên ngộ này, chắc chắn Đồng đức Bốn chưa biết. Vì thế anh hoang phí anh trong sinh hoạt riêng tư, với kiểu sống vừa phàm tục vừa sệt đầy tà khí. ở bữa tiệc ly cuối, Đấng Giê su cờ rít có nghẹn ngào bảo môn đệ “ rất nhiều kẻ được Chúa gọi nhưng rất ít kẻ được Chúa chọn”. Hình như Đồng đức Bốn đã được lục bát chọn./.
Nguyễn việt hà
Có một đêm ma quỷ nhộn nhạo ở Đồ sơn của một ngày đầu Đông, rất loãng nắng. Bọn thị thành sành điệu không đi nghỉ biển vào hè nữa, ra đây chơi chua, nằm chờ gió mùa Đông Bắc. Cái ngăm ngăm rét hình như làm sóng biển có trong hơn và các khách sạn có karaoké hình như ấm cúng hơn. Tôi ngồi uống rượu chay với vài ba người viết văn xuôi. Đêm dở mùa vẫn đang lưỡng lự trôi và chợt nhiên một người lè nhè đọc.
Nắng thì nắng tái nắng tê
Rét thì rét đến đê mê lòng người
ở một vài bữa rượu sến, thỉnh thoảng những người viết văn xuôi có đọc thơ. Không hiểu sao họ thường nhớ được câu thơ hay. Cũng có thể tại đồ mồi ít, tại rượu ngon hoặc bởi một nỗi buồn bâng quơ nẫu ruột. Nói chung là một cái gì đấy bất thường và những bữa rượu có thơ là không bao giờ nhiều. So với những “điên điên” của người làm thơ, đa phần đám văn xuôi thường tỉnh táo hơn. Thi nhân uống cũng lắm, say cũng nhanh và lúc tỉnh táo đến quá nửa số người trong bọn họ sẽ đi làm quan. Nguyên khí thi ca vì thế bị thất thoát.
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng
Anh bạn ngồi cạnh tôi lơ ngơ ngừng uống, lẩm nhẩm vẻ như muốn học thuộc. Anh thở dài khẳng định, kể từ Kiều đến nay, lục bát viết về ca ve bao giờ cũng xót xa. Người vừa đọc thơ phì cười, đây là câu thơ viết về mẹ. Tôi gật gù, hoá ra chính tôi cũng nhầm. Tôi tưởng cặp câu này viết cho những người khát khao danh, cố vất vả để có quyền chức. Thi ca đích thực thường lung tung, nó hàm hồ vô chiêu, lãng đãng tới gần gần cảnh giới vô ngôn. Về điểm này văn xuôi rất khó sánh. Và cái hay nhất của thi ca lung tung là bâng quơ.
Cây thì vẫn đứng thế thôi
Hàng thì hàng đứng hàng ngồi chen nhau
Anh bạn lớn tuổi nhất bàn, viết truyện ngắn mãi vẫn chưa được giải, lắc đầu. Lục bát tả cảnh ngu ngơ được đến thế, chắc thằng này không phải là thằng người. Anh đọc thơ nuốt vội cái mề gà, nghẹn ngào nhè ra, nhăn nhó bảo “Tôi biết thằng ấy, nó tởm lắm”. Tôi bâng khuâng tự uống cạn chén rượu, vì tôi cũng biết người làm những câu sáu tám này. Thỉnh thoảng gặp thôi, anh hùng hổ giới thiệu anh là Đồng đức Bốn.
Người đọc biết anh qua những tập thơ in ở khổ rất chướng. Tập nào cũng có chân dung ảnh mầu loè loẹt, kiểu của người đứt học. Lúc này, Đồng đức Bốn đang nổi tiếng. Báo chí kể nhiều chuyện linh tinh về đời tư của anh, giọng điệu bài nào bài nấy dấm dẳng, học theo cái phong khí cợt nhả lẫn lộn vàng thau đang thời thượng. Cứ đến cuối bài, phần lớn, đều tỏ vẻ sâu sắc dung tục kết. Lạ, một thi cách như vậy lại nằm ở một nhân cách vớ vẩn như vậy. Độc giả bình thường chầm chậm đọc lục bát của Trở về với mẹ ta thôi. Hầu như ai cũng mong manh biết đây là một thi sĩ.
Một giây cầm được mặt trời
Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi
Những độc giả tử tế thường tôn trọng tò mò cái thao tác lao động của người nghệ sĩ. Lao động nghệ thuật của Đồng đức Bốn là lao động lạ. Trả bút cho Trời. Có phải thế chăng mà thơ Đồng đức Bốn có nhiều bâng quơ.
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi
Rồi bâng quơ nữa
Chốc nữa thế nào cũng giông
Sang đò tôi đến giữa đồng là mưa
Lục bát cứ tưởng đến Nguyễn Bính là tận tuyệt. Kiêu ngạo như Nguyễn Khuyến cũng tự ti từ chối cái kiểu sáu tám này. “ Bao nhiêu tinh hoa Nguyễn Du đã lấy hết rồi”. Đồng đức Bốn may mắn thật.
Lục bát là thể thơ thuần Việt, nhiều học giả có tâm có tài nói thế. Và người thuần Việt nhất thường ở nhà quê. Đồng đức Bốn chắc hẳn không phải dân thành thị. Vì vậy khi anh viết, Em bỏ chồng về ở với tôi không, thì độc giả ngừng ở đấy. Kinh Thánh bảo “ Sự gì Thiên Chúa kết hợp, con người không được phép phân ly”. Trong cái tha hoá của bọn tiểu thị dân, những cái vô luân là nhan nhản. Đồng đức Bốn hay hớm gì mà “dan díu” rồi học những thói vô đạo của bọn cái gọi là “kinh thành”. Một chiều tàn thu, nắng hanh vớ vẩn trong phòng đọc mới sửa của Thư viện Quốc gia. Có hai cô bé nữ sinh, tóc vàng Hàn quốc mặt vẫn còn đâu đó vẻ chân chất của sinh viên nội trú nhà quê năm đầu. Cả hai nhí nhảnh cầm điện thoại di động. Trước mặt hai cô bé, lẫn lộn trong đám sách vở học thi là tập thơ đã sờn gáy, số ký hiệu : VN02 7447, Chuông chiều kêu trong mưa. Những tập thơ trong giá sách tự chọn của thư viện thường là phẳng phiu mới, nhợt nhạt vắng thiếu sinh khí của người đọc. Một tập thơ nhầu, âm ẩm mồ hôi tay độc giả, đó là dấu chỉ của sự cộng thông. Thi nhân ạ, anh là người hạnh phúc. Một cô bé thì thầm và cô bé kia chép.
Hiểu tôi là ngọn núi cao
Thương tôi có một ngôi sao cuối trời
Những chữ của chua xót và không phải của tuổi mơn mởn xanh. Hình như phần đông đàn bà mê thơ Đồng đức Bốn đều là thiếu phụ hoặc goá phụ. Tất nhiên, thiếu phụ từng đã là thiếu nữ. Nó chỉ khác một điều nho nhỏ, thiếu phụ thì có thêm lừa lọc phiền muộn của nhầu nát thời gian. Người ta đau đớn cho hai cô bé và mừng cho Đồng đức Bốn.
Đầu một là đầu một ơi
Có chung giọt nước mắt rơi xuống lòng
Em đừng buông mắt xuống sông
Tôi về dẫu chỉ đò không cũng chìm
Nghĩ cho cùng, những người vừa nhớn có yêu thơ Đồng đức Bốn cũng không phải điều lạ. Các cặp sáu tám nhuần nhị đăng đắng, nó dịu dàng ít khinh bạc. Suốt suốt các chữ thơ, mãi mới thấy chút chút bi phẫn đanh đá.
Bòn mãi được mấy sợi tơ
Giăng ra bao kẻ đã vơ vào lòng
Chắc lúc ấy là lúc chưa thành danh, Đồng đức Bốn có vay mượn tiền của nhiều người và bị người ta vay mượn lại thơ. Chao ôi, lại chuyện văn cách và nhân cách. Làm quái gì tồn tại một người đã có thi cách mà thấp về nhân cách. Hàn Dũ nói với Mạnh Giao ( cả hai đều là danh gia thơ của thời đoạn trung Đường) ông có tài năng của con ngựa bất kham. Ngựa bất kham thì bao giờ chịu ở yên. Nó phải đá hậu, phải sùi bọt hí, phải quằn quại làm trò. Thế nhưng các thiếu nữ ạ, thơ hay thì cứ đọc, đừng vào đời tìm con ngựa thật mà sờ nó, chán lắm.
Cái bất kham của Đồng đức Bốn có phần dịu đi độc đáo, là nhờ lẩn sâu trong thơ anh ngân nga lắm tiếng chuông.
Chuông chùa kêu mãi trong mưa
Hàng cây nắng đứng để trưa còn chiều
Xưa nay những người làm thơ mắt tinh thì đông, tai tinh thì ít. Thơ mà thính tai thường là thơ lạ. Thi nhân ngắm trăng thì nhiều, nhưng thi nhân nghe chuông thì hiếm. Trương Kế bâng quơ nghe được tiếng chuông mà trở thành thi gia lớn của thời Thịnh Đường. Bài phong kiều dạ bạc của ông là một kiệt tác của Đường thi.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn san tự
Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền
Tản Đà lục bát dịch hai câu cuối
Thuyền ai đậu bến Cô tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn san
Nếu đúng như thế thì đáng nhẽ ra từ trở về với mẹ ta thôi đến chuông chùa kêu trong mưa, Đồng đức Bốn phải tiến lên mà thành thi sĩ thật. Nhưng anh lại lùi. Cũng có thể anh vẫn nghe chuông nhưng là chuông điện thoại di động. Nghe đồn anh có ba cái Nokia 8210. Một cái nghe bằng hữu gọi. Một cái nghe gia đình gọi. Một cái nghe nhân tình gọi. Thảm thay. Gần đây, khi báo đăng tin bọn buôn lậu mô bai bị bắt, có đông độc giả yêu thơ lục bát chân thành làm cơm ăn mừng.
Nhà văn Nguyễn huy Thiệp bảo, Đồng đức Bốn là vị cứu tinh của lục bát. Người viết văn xuôi khi bàn về thơ thường có nhiều điểm nghi ngờ đáng cãi, nhưng ở đây nhà văn có vẻ đã nói đúng. Đồng đức Bốn sinh ra để làm thơ sáu tám. Cái tên của anh đã được mặc khải. Không phải ngẫu nhiên nó nằm ở nhịp đôi của những số đếm chẵn. Bốn, Sáu, Tám. Nếu tên anh là hai hoặc là mười thì là vứt. Nhịp đi này vận hành theo chu trình của Lạc Thư trong Kinh Dịch. Tứ Lục Mộc tinh, Lục Bạch Kim tinh, Bát Bạch Thổ tinh. Ân sủng tiên ngộ này, chắc chắn Đồng đức Bốn chưa biết. Vì thế anh hoang phí anh trong sinh hoạt riêng tư, với kiểu sống vừa phàm tục vừa sệt đầy tà khí. ở bữa tiệc ly cuối, Đấng Giê su cờ rít có nghẹn ngào bảo môn đệ “ rất nhiều kẻ được Chúa gọi nhưng rất ít kẻ được Chúa chọn”. Hình như Đồng đức Bốn đã được lục bát chọn./.