Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tam quoc chi - La Quán Trung 🔒

3 trả lời, 1.851 lượt xem — Trang 1 / 1
Người gửi: nvh291
Thể loại: Tiểu thuyết chương hồi
Tác giả: La Quán Trung
Tựa: Tam Quốc Chí
Người đánh máy: nvh291
Trích: Bài ca mở đầu
Phần:
Tựa hồi:
Thân bài:

BÀI CA MỞ ĐẦU
(Và cũng là bài ca kết thúc)

Sông dài cuồn cuộn ra khơi,
Anh hùng: sóng dập, cát vùi thiên thu...
Dở hay, thành bại nào đâu?
Bể dâu chớp mắt, ngoảnh đầu thành mơ!
Non xanh còn đó trơ trơ,
Tà dương lần lửa sưởi hơ ánh hồng.
Lão tiều gặp lại ngư ông,
Bên sông gió mát, trăng trong, kho trời.
Rượu vò lại rót khuyên mời,
Cùng nhau lại kể chuyện thời xa xưa...
Kể ra biết mấy cho vừa?
Nói cười hỉ hả, say sưa quên đời...


tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
HỒI THỨ NHẤT

HỘI ĐÀO VIÊN ANH HÙNG KẾT NGHĨA
ĐÁNH HUỲNH CÂN HÀO KIÊT LẬP CÔNG

Phàm thế cuộc trong thiên hạ, chia rồi lại hợp, hợp rồi lại
chia. Tỷ như nhà Châu mất vận, bảy nước phân tranh, sau đó nhà
Tần lại gồm thâu về một mối. Rồi khi nhà Tần bị diệt vong, để cho
Hán, Sở tranh hùng, và cuối cùng Hán đã diệt Sở để thu về một
mối.
Nhà Hán kể từ vua Cao Tổ là Lưu Bang trảm xà khởi nghĩa
thống nhất được thiên hạ, giữ lấy ngai vàng cho Đến khi vua
Quang Vũ là Lưu Tú quật khởi, giết loạn thần là Vương Mãng,
phục hưng cho nhà Hậu Hán, rồi truyền Đến đời vua Hiến Đế thì
bị chia làm ba nước. Cái nguyên do rối loạn sau này là do tới hai
ông vua Hoàn Đế và Linh Đế.
Vua Hoàn Đế giam cầm các bề tôi trung trực, lại tin dùng bọn
hoạn quan, làm cho thế nước bị suy vi. Khi vua Hoàn Đế băng hà,
vua Linh Đế lên nối ngôi, có quan Đại Tướng Quân Đậu Vũ và
quan Thái Phó Trần Phồn cùng giúp việc trị nước. Hai vị tôi thần
này vốn một lòng trung nghĩa, nhưng bên cạnh lại có bè lũ hoạn
quan Tào Tiết chuyên quyền làm bậy. Đậu Vũ và Trần Phồn lập
mưu tru diệt bọn này để trừ tai họa cho nước, chẳng may cơ mưu
bị bại lộ, hai vị tôi thần này đều bị chúng hãm hại.
Từ đó, bọn hoạn quan càng lộng quyền, chúng liên kết với
loạn thần tác yêu, tác quái.
Năm Kiến Ninh thứ hai (niên hiệu của vua Linh Đế), tháng tư
ngày rằm, nhà vua ngự ra điện Ôn Đức, vừa ngồi xuống ngự ỷ,
bỗng có một trận cuồng phong rất lớn nổi lên, rồi một con rắn xanh
to tướng từ trên sà ngang cung điện rơi xuống nằm ngang trên
ngự ỷ. Vua thất kinh ngã lăn ra bất tỉnh, các quan hầu cận phải
đưa vua vào nội cung cứu cấp.
Nhưng chỉ trong giây lát, con rắn biến đi đâu mất, trời lại nổi
lên một trận cuồng phong dữ dội, mưa tuôn như trút nước. Kế đó,
mưa đá lại rơi theo tới hơn nửa ngày, nhà cửa bị hư sập vô số.


Vào tháng hai, năm Kiến Ninh thứ tư, kinh đô Lộc Dương lại
bị động đất, rồi nước biển dâng lên tràn ngập cả một miền duyên
hải. Dân cư, làng mạc, của cải bị sóng cuốn ra khơi mất tích.
Cũng vào đời vua Linh Đế, vào năm Quang Hòa thứ nhất, tại
một vùng thôn dã, có một con gà mái hóa gà trống, rồi đến ngày
mồng một tháng sáu, một luồng hắc khí dài hơn mười trượng bay
thẳng vào điện Ôn Đức.
Cũng vào mùa thu năm đó, trước nhà Ngọc Đường bỗng hiện
lên một cầu vồng sáng chói. Sườn núi Ngữ Nguyên bị sụp lở, đất
đá đè chết người.
Chỉ trong thời gian mấy năm mà không biết bao nhiêu sự việc
ly kỳ xảy ra. Vua buồn bã hạ chiếu hỏi các quan triều thần tới sao
có những hiện tượng quái gở như vậy?
Quan Nghị Lang Thái Ung dâng sớ tâu, đại ý nói: "Rắn sa, gà
mái hóa gà trống là điềm đàn bà và hoạn quan làm loạn nước..."
Lời tâu rất thống thiết, khiến nhà vua xem xong cũng phải
não lòng. Vua chỉ thở dài rồi quay vào thay áo.
Bấy giờ Tào Tiết đứng núp đằng sau vua, xem trộm được tờ
biểu, thấy thế tức giận vô cùng, liền bàn mưu với bè đảng của hắn,
lập kế gieo tội cho Thái Ung, và cách chức đuổi Thái Ung về làm
thứ dân nơi điền lý.
Sau đó bọn Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Tào Tiết,
Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng, tất
cả mười người họp nhau xưng là "Thập Thường Thị" chuyên làm
điều gian ác.
Vua Linh Đế lại nhu nhược, tin dùng Trương Nhượng như
một kẻ tôi trung, việc triều chính đều giao cho Trương Nhượng
quyết đoán, Đến nỗi kêu Trương Nhượng bằng "á phụ".
Triều đình càng bê tha thối nát, lòng người muốn nổi loạn,
giặc giã khắp nơi dấy loạn lên như ong vỡ tổ.
Bấy giờ, tại quận Cự Lộc có ba anh em họ Trương là Trương
Giác, Trương Bảo, và Trương Lương. Trương Giác thi hỏng Tú Tài,
không quản đèn sách nữa, ngày ngày vào núi hái thuốc. Bỗng một
hôm, Trương Giác gặp một ông lão mặt đỏ như hài đồng, mắt xanh
như nước biếc, tay chống gậy lê, kêu Trương Giác vào một hang
núi, rồi trao cho ba quyển "thiên thư" và dặn:


- Đây là bộ "Thái bình yêu thuật" ta ban cho con để học. Học
được sách này, con phải thay trời mà tuyên hóa, cứu dân độ thế.
Còn nếu manh tâm đổi dạ thì sẽ gặt lấy quả báo không nhỏ.
Trương Giác tiếp lấy Thiên thư, bái tạ rồi yêu cầu xin được
biết tên ông lão. Ông lão nói:
- Ta chính là Nam Hoa Lão Tiên đây.
Dứt lời hóa thành luồng gió mát bay đi mất.
Trương Giác được bộ sách ấy, ngày đêm tập luyện, chẳng bao
lâu đã biết cách kêu mưa gọi gió, và tự xưng hiệu là "Thái Bình
đạo nhân".
Vào tháng giêng năm Trung Bình thứ nhất (cũng đời vua
Linh Đế), có bệnh thời khí nổi lên, lan rộng khắp vùng. Trương
Giác đem bùa phép đi trị bệnh cho dâng gian, lấy hiệu là "Đại
Hiền lương sư". Lúc đó Trương Giác lại có dạy thêm được hơn năm
trăm đồ đệ, cũng học rành phép bùa chú, nên cả thầy trò chia
nhau vân du khắp nơi.
Thấy việc chữa bệnh của Trương Giác có hiệu quả, thiên hạ
đồn ầm lên, và rủ nhau theo làm đồ đệ của Trương Giác mỗi ngày
một đông thêm.
Trương Giác đem tất cả tín đồ trong thiên hạ chia ra làm ba
mươi sáu phường, mỗi phường có hơn một vạn người, và có cử một
viên Cừ Soái để cai quản. Rồi Trương Giác lại tự xưng mình là
Tướng Quân, coi cả ba mươi sáu phường đó.
Chưa hết, Giác còn phao ngôn để mê hoặc dân chúng rằng:
"Trời xanh đã chết, trời vàng nên lên thay. Đến năm Giáp Tý,
thiên hạ đại cát".
Giác lại truyền cho các tín đồ dùng đất sét trắng viết lên nơi
cửa lớn hai chữ "Giáp Tý", và dân cư khắp tám châu: Thanh, U,
Từ, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, ai muốn được hưởng phước phải
viết danh vị "Đại Hiền lương sư Trương Giác" mà thờ.
Trương Giác đã có ý làm phản, nên mật sai đồ đệ là Mã
Nguyên Nghĩa đem vàng bạc gấm vóc vào triều lo lót với tên hoạn
quan Phong Tư, để nhờ tên này làm nội ứng.
Trương Giác lại bàn với hai người em rằng:
- Cái khó đạt nhất là lòng dân. Nay dân đã thuận theo mình
rồi, nếu không thừa cơ đoạt thiên hạ thì đáng tiếc lắm.


Rồi Trương Giác vội vã sắm cờ vàng, khăn vàng để hẹn ngày
khởi sự. Giác sai một tên đệ tử là Đường Châu mang mật thư đưa
cho Phong Tư, nhưng chẳng may Đường Châu không thích hành
động của Giác cho nên chạy thẳng vào tòa Thượng Thư cáo biến.
Thế là việc làm của Trương Giác bị bại lộ. Vua hay tin phản
loạn liền triệu Đại Tướng Quân Hà Tiến vào triều, truyền bắt Mã
Nguyên Nghĩa đem chém, và hạ ngục cả gia quyến Phong Tư hơn
ngàn người.
Trương Giác thấy vậy liền gấp rút khởi binh, tự xưng là Thiên
Công Tướng Quân, phong cho Trương Bảo làm Địa Công Tướng
Quân, Trương Lương làm Nhân Công Tướng Quân.
Giác lại rêu rao với bá tánh rằng: "Nay vận Hán đã hết, có đại
thánh nhân xuất thế, ai nấy thuận trời theo chính, để hưởng thái
bình an lộc."
Thế là khắp bốn phương có hơn bốn, năm mươi vạn người đội
khăn vàng hưởng ứng theo Trương Giác làm phản. Thế giặc rất
mạnh, quan quân nghe gió đã chạy dài.
Hà Tiến liền tâu với vua cấp tốc sai sứ đến các Châu, Quận
truyền lệnh phòng ngự, ngăn địch lập công. Đồng thời sai Trung
Lang Tướng Lư Thực, Hoàng Phủ Tung, và Châu Tuấn dẫn ba đội
tinh binh chia ra làm ba đường dẹp giặc.
Bấy giờ, giặc Khăn Vàng một đạo do Trương Giác cầm đầu,
kéo thẳng đến U Châu xâm lấn. Quan Thái Thú châu này là Lưu
Yên vốn dòng tôn thất ở đất Cảnh Lăng, vùng Giang Hạ, là con
cháu Lỗ Cung Vương nhà Hán.
Lưu Yên thấy tình thế khẩn trương vội triệu quan Hiệu úy
Châu Tĩnh vào bàn kế.
Châu Tĩnh nói:
- Quân giặc đông như nước lũ, quân ta ít không thể nào ngăn
nổi. Minh công nên gấp rút chiêu mộ nghĩa binh mới giữ nổi Châu
này.
Lưu Yên nghe lời liền treo bảng khắp nơi chiêu mộ nghĩa
binh.
Ngày kia, bản văn đưa đến Trác Huyện, dân chúng ra xem
đông nghịt. Trong số dân chúng ấy có một vị anh hùng tánh tình
khoan hòa, ít nói, mừng giận không lộ ra sắc mặt, nhưng lại có chí


lớn, thường kết giao với các anh hùng, hào kiệt trong thiên hạ.
Người này mình cao tám thước, hai tai lớn như chày, môi đỏ như
thoa son, họ Lưu tên Bị, tự là Huyền Đức, vốn cháu chắt Trung
Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng, tức dòng dõi vua Hiếu Cảnh Hoàng
Đế nhà Hán.
Nguyên trước kia, thời Hán Vũ Đế, con trai Lưu Thắng là Lưu
Trinh được phong tước Trác Lộc Đình Hầu. Về sau, nhân một buổi
tế tông miếu, Lưu Trinh vào dâng vàng hành lễ, chẳng may vàng
sắc xấu, bị mất tước Hầu, và từ đấy con cháu mới có một chi dời
về Trác Quận lập nghiệp.
Lưu Huyền Đức tức là cháu Lưu Hùng, con Lưu Hoằng. Lưu
Hoằng có thi đậu Hiếu Liêm, rồi làm chức Lại, nhưng mất sớm.
Huyền Đức mồ côi cha, thờ mẹ rất có hiếu. Tánh ham đọc
sách, nhưng nhà nghèo, Huyền Đức phải làm nghề đóng dép, dệt
chiếu để sinh sống. Nhà ông ở tới thôn Lâu Tang, phía Đông Nam
có một cây dâu rất lớn, cao hơn năm trượng, đứng xa trông như
một chiếc lọng vậy.
Đã có nhiều người đi qua trông thấy cây dâu kỳ dị ấy, từng
nói:
- Nhà này ắt sanh quý tử.
Lúc còn nhỏ, Huyền Đức thường chơi đùa với trẻ con trong
làng, và thường đứng dưới gốc cây dâu mà nói:
- Tao làm Thiên tử, nên ngự cỗ xe có lọng này!
Người chú là Lưu Nguyên Khởi nghe nói thường mắng:
- Cháu chỉ nói bậy.
Tuy vậy, Nguyên Khởi cũng nói rằng:
- Thằng bé này phải là một người phi thường mai sau.
Nhân thấy nhà Huyền Đức nghèo, Lưu Nguyên Khởi tìm cách
giúp đỡ để Huyền Đức ăn học. Năm Huyền Đức mười lăm tuổi,
được mẹ cho đi du học, thụ giáo Trịnh Huyền và Lư Thực, lại kết
bạn với Công Tôn Toản.
Đến nay, Huyền Đức đã được hai mươi tám tuổi, và ngày hôm
ấy, khi đọc bản chiêu quân của Lưu Yên, Huyền Đức cảm khái thở
dài một tiếng.
Bỗng nghe đằng sau có tiếng người nói lớn:


- Đại trượng phu phải vì quốc gia mà ra sức, chứ than thở có
ích gì?
Huyền Đức quay đầu lại, thấy người vừa nói mình cao tám
thước, mặt dữ như cọp, mắt ốc tròn xoe, hàm én râu hùm, tiếng
nói rền như sấm. Biết không phải là người thường, Huyền Đức
liền hỏi thăm tên họ.
Người ấy đáp:
- Tôi họ Trương tên Phi, tự là Dực Đức, ông cha mấy đời ở nơi
Trác Quận này làm nghề bán rượu, mổ thịt, vì vậy tôi cũng có chú
ít ruộng vườn, thích kết giao những anh hùng hào kiệt trong thiên
hạ, nay thấy ông xem bảng chiêu quân mà than thở nên hỏi thử
một lời.
Huyền Đức nói:
- Tôi vốn là người trong thân tộc nhà Hán, họ Lưu tên Bị,
đáng lẽ trong lúc giặc "Khăn Vàng" dấy loạn cũng phải góp một
phần cứu nước an dân, nhưng vì sức chưa làm được nên đau lòng
than thở.
Trương Phi nói:
- Nhà tôi cũng có chút ít của cải, tôi muốn bỏ ra để tuyển mộ
một đoàn hương dũng, rồi cùng ông cử đại sự, ông thấy có nên
chăng?
Huyền Đức rất mừng, nắm tay Trương Phi dắt vào trong quán
rượu đàm đạo. Trong lúc hai người đang đối ẩm bàn thế sự thì
bỗng thấy một đại hảo hán đẩy một chiếc xe để ngoài cửa rồi bước
vào thét tửu bảo, nói:
- Đem rượu thịt ra đây! Hôm nay ta uống say sưa cho một bữa
để ngày mai đầu quân giết giặc.
Huyền Đức liếc nhìn ra cửa thấy người này mình cao lớn chín
thước, mặt đỏ như thoa son, mắt phượng mày ngài, tướng mạo
đường đường, oai phong lẫm liệt.
Biết người ấy cũng là một cái thế kỳ nhân, nên Huyền Đức vội
đứng dậy tiếp mời vào ngồi chung bàn và hỏi thăm danh tánh.
Người ấy đáp:
- Tôi họ Quan tên Vũ, tự là Thọ Trường, sau đổi là Vân
Trường, người đất Giải Lương, tỉnh Hà Đông. Nhân vì vùng tôi ở


có một tên thổ hào ỷ thế hiếp đáp dân lành, tôi nổi giận giết chết
nó rồi bỏ đi lánh nạn. Tôi phiêu bạt trong giang hồ đã hơn năm
năm, nay nghe có giặc "Khăn Vàng" nổi lên quấy nhiễu, nên muốn
đầu quân trừ giặc, cứu an bá tánh.
Huyền Đức cũng đem chí nguyện của mình tỏ bày. Vân
Trường mừng rỡ uống ba chung rượu rồi theo Huyền Đức và
Trương Phi dắt nhau về trang trại để bàn bạc.
Trương Phi nói:
- Muốn làm nên việc lớn, cốt nhất phải hiệp sức đồng tâm mới
được. Sau nhà tôi có một vườn đào đang tiết hoa nở rất nhiều,
ngày mai chúng ta đến đó tế cáo trời đất, kết làm anh em.
Huyền Đức và Vân Trường đồng thanh khen phải.
Ngày hôm sau, Trương Phi sai gia nhân mổ trâu đen, ngựa
trắng bày đủ lễ trong vườn đào. Ba người đứng trước hương án, vái
mỗi người hai cái rồi cùng thề rằng:
"Ba chúng tôi là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, tuy khác họ
nhưng kết làm anh em, quyết đồng tâm hiệp lực, cứu khổn phò
nguy, trên báo đáp quốc gia, dưới giúp yên bá tánh. Chúng tôi
không mong được sanh cùng năm cùng tháng cùng ngày, chỉ
nguyện được chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Hoàng thiên,
hậu thổ chứng giám lời này. Ai bội nghĩa bị trời tru đất diệt."
Thề xong, ba người đem so tuổi nhau thì Huyền Đức được làm
anh cả, Vân Trường làm thứ, Trương Phi làm em út.
Trương Phi lại sai gia nhân bắt trâu dê trong chuồng đem mổ
làm tiệc tới vườn đào, tập trung tất cả dũng sĩ trong vùng đến ăn
uống. Dũng sĩ tề tựu có tới hơn ba trăm người, vui say một bữa
thật no nê.
Hôm sau, mọi người chia nhau đi thu thập khí giới, mọi việc
tạm yên, chỉ hiềm một nỗi còn thiếu ngựa để cỡi.
Trong lúc đang lo tính, bỗng có một người chạy vào báo:
- Có hai người khách thương, cùng đoàn tùy tùng dẫn bầy
ngựa khá đông, đang đi về hướng trang trại này.
Huyền Đức nói:
- Đây là trời giúp ta!


Ba anh em vội ra khỏi trại đón tiếp hai người khách thương
mời vào trang trại.
Hai người này chính là hai thương gia lớn ở đất Trung Sơn,
một người là Trương Thế Bình, một người là Tô Song, hàng năm
thường lên mạn Bắc mua giống ngựa khỏe đem về Tràng An bán.
Nay vì miền này có giặc nên không thể đem ngựa đi qua được.
Sau khi đã mời được hai vị khách thương vào trại, Huyền Đức
hối dọn tiệc đãi đằng, rồi đem ý muốn cứu dân độ thế của mình ra
bày tỏ. Hai người khách thương vui lòng hiến cho năm mươi con
ngựa khỏe, lại tặng thêm năm trăm lượng vàng bạc, một ngàn cân
thép tốt để rèn binh khí và giáp trụ.
Khách cáo từ, Huyền Đức tạ ơn tiễn chân vài dặm rồi trở về
cậy thợ giỏi chế một đôi song cổ kiếm. Vân Trường cũng đánh một
cây đại đao "Thanh long yểm nguyệt", gọi là "Lãnh diễm cứ" nặng
tám mươi hai cân. Trương Phi rèn một cây trượng "Bát điểm
cương mâu".
Ai nấy đều trang bị cương giáp, rồi kéo năm trăm quân hương
dũng đến ra mắt quan Thái Thú Lưu Yên.
Lưu Yên hỏi đến danh tánh, ba anh em đều xưng rõ tên họ,
riêng Huyền Đức còn nói cho Lưu Yên biết mình là tông phái
Hoàng Gia. Lưu Yên mừng rỡ nhận Huyền Đức làm cháu (so theo
vai vế thì Lưu Yên thuộc vai chú bác).
Vào thành chưa được vài hôm thì đã có tin quân thám thính
về báo:
- Tướng giặc Khăn Vàng là Trình Viễn Chí thống lãnh năm
vạn quân kéo đến quấy nhiễu Trác Quận.
Lưu Yên liền sai Châu Tĩnh dẫn ba anh em Huyền Đức cùng
năm trăm quân hương dũng đi trước phá giặc. Anh em Huyền Đức
không hề ngần ngại, lãnh quân tiền đạo trực chỉ đến chân núi Đại
Hưng, và trông thấy quân giặc cũng vừa kéo đến đó.
Huyền Đức thúc ngựa ra trước trận, bên tả có Vân Trường,
bên hữu có Trương Phi yểm hộ.
Huyền Đức giơ roi thét mắng quân giặc:
- Phản loạn, đừng hòng múa rối, hãy xuống ngựa đầu hàng
cho sớm.


Trình Viễn Chí nổi giận sai Phó Tướng Đặng Mậu ra đánh.
Đặng Mậu vừa nhảy ra đã bị Trương Phi xông đến đâm một xà
mâu trúng ngay giữa ngực, ngã lăn xuống ngựa.
Thấy Phó tướng mình chưa ra tay đã bị hại rồi, Trình Viễn
Chí liền múa đao đến đánh Trương Phi, nhưng Vân Trường đã
vung Thanh Long Đao cản lại. Uy lực của Vân Trường rất mạnh,
Trình Viễn Chí kinh hãi run sợ, trở tay không kịp bị Vân Trường
chém một đao đứt làm hai đoạn.
Người sau có thơ khen Vân Trường và Trương Phi như sau:
Anh hùng xuất trận buổi đầu tay,
Một thử xà mâu, một thử đao.
Khí tiết rạng ngời oai lực khét,
Chia ba thiên hạ rạng anh hào.
Quân giặc bị mất chủ tướng hoảng hốt chạy dài. Huyền Đức
xua quân đuổi đánh, chúng đầu hàng vô số.
Đoàn quân đắc thắng kéo về thành được Lưu Yên thân hành
ra tận bên ngoài tiếp đón và ủy lạo quân sĩ.
Sáng hôm sau, lại có tin giặc "Khăn Vàng" đến vây phá Thanh
Châu, và quan Thái Thú Thanh châu là Cung Cảnh cho người
sang cầu cứu. Lưu Yên liền cho mời Huyền Đức đến thương lượng.
Huyền Đức nói:
- Giặc cậy thế đông chia quân khuấy rối, nay U Châu đã tạm
yên, Bị này xin tình nguyện đem quân để cứu Thanh Châu.
Lưu Yên liền sai Châu Tĩnh đem năm ngàn quân cùng ba anh
em Huyền Đức kéo đi.
Giặc thấy cứu binh tới liền chia làm ba đạo, bao vây rất ngặt.
Huyền Đức thấy mình ít quân quá, không thể nào cự nổi liền cho
lệnh rút quân ngoài ba mươi dặm hạ trại. Đoạn nói với Quan,
Trương:
- Muốn phá giặc phải thi hành kỳ binh mới được.
Rồi chia cho Vân Trường một ngàn quân dọn ra phục bên tả
nơi chân núi, Trương Phi cũng lãnh một ngàn quân phục bên hữu
nơi chân núi.


Sáng hôm sau, Huyền Đức cùng Châu Tĩnh dẫn quân gióng
trống tiến đến trới địch. Quân giặc ra nghênh chiến, Huyền Đức
giả thua kéo quân chạy về.
Tưởng mình đắc thế, quân giặc ồ ạt đuổi theo. Khi đuổi đến
chân núi, bỗng nghe mấy tiếng chiêng báo hiệu, hai toán quân
phục của Vân Trường và Trương Phi đồng kéo ra một lượt đánh
bộc hậu. Đạo quân của Huyền Đức quay lại tác chiến. Ba mặt
đánh dồn, quân giặc đại bại, chết không biết bao nhiêu mà kể.
Chúng bỏ kết cờ xí, mạnh ai nấy chạy. Huyền Đức xua quân truy
kích, đuổi đến thành Thanh Châu thì quan Thái Thú Cung Cảnh
hay được tin thắng trận vội mở cửa thành thúc quân tràn ra tiếp
ứng.
Nhờ đó mà Thanh Châu được giải vây, quân giặc tản mác hết.
Người sau có thơ khen Huyền Đức:
Mưu hay tỏ rõ sức thần công,
Hai cọp suy ra kém một rồng.
Gặp lúc cô cùng, người mới rõ,
Tam phân thiên hạ, xứng anh hùng
Cung Cảnh đón tiếp ba anh em Huyền Đức và Châu Tĩnh vào
thành bày tiệc khao thưởng ba quân. Tiệc xong, Châu Tĩnh muốn
trở về U Châu, Huyền Đức nói:
- Gần đây, nghe quan Trung Lang Tướng Lư Thực đánh nhau
với Trương Giác, chúa giặc Khăn Vàng tới Quảng Tôn. Bị tôi xưa
đã từng theo học Lư tiên sinh, nay muốn đến đó giúp ân sư một
phen.
Châu Tĩnh bằng lòng, dẫn quân trở về một mình. Ba anh em
Huyền Đức đem năm trăm quân bản bộ thẳng đến Quảng Tôn, vào
dinh ra mắt Lư Thực, và nói rõ ý kiến mình tình nguyện phá giặc.
Lư Thực mừng lắm, lưu ba anh em Huyền Đức dưới trướng để đợi
lệnh.
Bấy giờ, Trương Giác có hơn mười lăm vạn quân, chia ra quấy
nhiễu nhiều chỗ. Phần Trương Giác thì giữ năm vạn, đang cầm cự
tới Quảng Tôn, chưa phân thắng bại.
Lư Thực bảo Huyền Đức:
- Nay Trương Giác bị ta vây ở đây chưa thể làm gì được,
nhưng hai người em của nó là Trương Lương, Trương Bảo đang


quấy rối ở Dĩnh Xuyên, đối trận với Hoàng Phủ Tung và Châu
Tuấn. Nếu quân giặc ở Dĩnh Xuyên mà thắng thế được thì nơi đây
ắt bị nguy hiểm. Vậy ngươi hãy dẫn binh mã bản bộ, và thêm một
ngàn quân ta cấp, đến Dĩnh Xuyên dò thám tình hình, sau sẽ hẹn
ngày cùng đánh.
Huyền Đức lĩnh mệnh, kéo quân đi suốt ngày đêm mới đến
Dĩnh Xuyên.
Bấy giờ Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn đang đánh nhau với
quân giặc. Giặc núng thế phải rút lui vào Trường Xã, dựa thế một
rừng lau rậm rạp để lập doanh trại.
Hoàng phủ Tung bàn với Châu Tuấn:
- Giặc tuy đông, nhưng khờ khạo. Chúng lập doanh trại trong
rừng lau, vậy ta nên dùng hỏa công mà đốt.
Liền đó Hoàng Phủ Tung ra lệnh cho quân sĩ mỗi người đem
theo một bó cỏ khô kéo đi mai phục. Đêm ấy gặp gió lớn, quân Hán
nhất tề phóng hỏa đốt trại. Giữa lúc đó Hoàng phủ Tung và Châu
Tuấn dẫn hai ngàn kỵ binh xông vào chém giết. Trại giặc lửa cháy
ngợp trời, quân giặc hoảng hốt không kịp mặt giáp lên yên, bỏ
chạy tứ tán.
Quân Hán chém giết cho đến lúc trời mờ sáng thì mới thấy
Trương Lương, Trương Bảo thu thập tàn quân cướp đường chạy
thoát chết.
Quân giặc chạy chưa đầy ba mươi dặm thì lại gặp một tướng
mắt nhỏ, râu dài, mình cao bảy thước, đang cầm đầu một đạo
quân cắm toàn cờ đỏ, đổ ra chận đánh. Bị trận phục kích thứ hai
này, quân giặc bạt vía kinh hồn, lớp thì chết, lớp ôm đầu chạy trốn
không còn một manh giáp.
Vị tướng nhỏ vừa xuất hiện chính là quan Kỵ Đô úy, người
Tiêu Quận, nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Đức.
Trước kia, cha Tào Tháo vốn họ Hạ Hầu tên là Hạ Hầu Tung,
nhưng sau làm con nuôi quan Trung Thường Thị Tào Đằng nên
Hạ Hầu Tung mới đổi ra là Tào Tung. Tào Tung sanh ra Tào Tháo
có đặt cho Tháo tiểu tự là A Man, lại có thêm một tên nữa là Cát
Lợi.
Lúc thiếu thời, Tào Tháo thích chơi bời, săn bắn, hát xướng,
nhưng bản lãnh lại rất mưu mô xảo quyệt. Người chú của Tào


Tháo thấy cháu mình du đãng, ham chơi bỏ học nên có nhiều lần
phiền trách nói cho Tào Tung biết.
Mỗi lần như vậy, Tào Tung kêu con vào quở mắng, Tào Tháo
đem lòng giận chú, mới nghĩ ra một kế.
Một hôm, thấy chú đến chơi, Tào Tháo giả vờ ngã lăn xuống
đất, ngất lịm như trúng gió. Người chú thấy vậy thất kinh vội chạy
đi tìm Tào Tung báo lại. Lúc Tào Tung chạy ra xem, thì thấy Tháo
vẫn đứng chơi không có việc chi cả. Tào Tung ngạc nhiên hỏi:
- Kìa, sao chú con bảo là con trúng gió?
Tào Tháo thản nhiên thưa:
- Từ trước đến nay con có bệnh tật gì đâu? Có lẽ con đã làm
điều gì mất lòng chú, nên chú giận rủa con như vậy.
Tào Tung nghe lời con, nên về sau Tào Tháo có lỗi gì người
chú phiền trách, Tào Tung đều bỏ qua, không trách mắng Tháo
nữa.
Tháo được thế càng chơi bời phóng đãng hơn. Thời ấy, có
người tên là Kiêu Huyền bảo Tháo rằng:
- Thiên hạ loạn to đến nơi rồi, nếu không phải là người có tài
tái thế, không ai xoay loạn ra an được. Người tài ấy có lẽ là ông
đấy.
Lại có một người nữa ở Nam Dương, tên Hà Ngung, có dịp gặp
Tào Tháo về nhà, tỏ ý nói:
- Nhà Hán sắp mất, Tào Tháo sẽ là người an định thiên hạ
vậy.
Tào Tháo thấy có nhiều người nói đến mình, nhưng chưa vừa
ý. Tháo lại nghe ở vùng miền Nam có Hứa Thiệu nổi danh là xem
tướng biết người, liền tìm đến yết kiến và hỏi:
- Ông thấy tôi là người như thế nào?
Hứa Thiệu nhìn Tháo một lúc rồi lặng thinh không đáp. Tào
Tháo gặng hỏi đôi ba lần, Hứa Thiệu mới nói:
- Đời trị, ông là bầy tôi giỏi. Thời loạn, ông là kẻ gian hùng.
Nghe nói thế, Tào Tháo mừng vô cùng. Năm hai mươi tuổi,
Tào Tháo đã đỗ Hiếu Liêm, làm quan Lang rồi được thăng Đô úy
Lộc Dương. Lúc vừa đến nhậm chức, Tháo đã sai treo mười cây roi


ngũ sắc ở bốn cửa thành. Ai phạm đến luật cấm tức thì sai quân
nọc cổ ra đánh liền, bất kể kẻ có thế lực, hay quyền quí.
Có một lần người chú ruột của quan Trung Thường Thị Kiển
Thạc cầm dao đi đêm, Tháo đi tuần bắt gặp, lập tức truyền lệnh
bắt đem đến trước nha môn mà đánh, chẳng kiêng nể gì hết. Bởi
vậy, trong ngoài đều sợ Tháo, không ai dám phạm luật nữa.
Uy danh của Tháo nhờ đó lừng lẫy, nên được thăng làm Quan
Lệnh ở Đốn Khâu. Nay giặc Khăn Vàng nổi lên, Tháo lại được
thăng chức Trị Đô úy, dẫn năm ngàn quân mã kéo đến Dĩnh
Xuyên trợ chiến.
Vừa đến nơi, gặp lúc Trương Lương, Trương Bảo bị trận hỏa
công, thua chạy xiểng liểng, Tháo nhân cơ hội chặn đường giết
giặc, chém hơn một vạn đầu giặc, đoạt được người ngựa, khí giới
vô số. Trương Lương và Trương Bảo gặp thế cùng, mở đường máu
chạy thoát. Tháo liền kéo quân vào thành ra mắt Hoàng Phủ Tung
và Châu Tuấn, rồi lại dẫn binh truy kích Trương Lương và Trương
Bảo.
Bấy giờ, Huyền Đức cùng Quan, Trương cũng vừa tới Dĩnh
Xuyên, nghe xa xa có tiếng hò reo đánh giặc, lại thấy lửa cháy rực
trời vội dẫn binh tới thì giặc đã tan rồi. Huyền Đức vào yết kiến
Hoàng Phủ Tung, Châu Tuấn, và nói rõ ý kiến của Lư Thực.
Hoàng Phủ Tung nói:
- Hai thằng giặc Trương Lương, Trương Bảo bị một trận hỏa
công, thế cùng lực tận, chắc là chúng chạy sang Quảng Tôn hợp
lực với Trương Giác. Các ngươi hãy tức tốc trở về đó mà giúp Lư
tướng quân dẹp giặc.
Huyền Đức lĩnh mệnh, lại dẫn quân trở về. Khi đến nửa
đường, bỗng thấy một toán quân mã áp giải một chiếc tù xa, người
ngồi bên trong lại là Lư Thực.
Thất kinh, Huyền Đức vội tụt khỏi yên ngựa, chạy đến hỏi
duyên cớ.
Lư Thực nói:
- Tôi vây Trương Giác sắp phá được binh giặc, thì bỗng triều
đình có sai một viên Huỳnh Môn quan là Tả Phong ra mặt trận
thám thính tình hình. Tả Phong đòi ăn hối lộ, tôi nói với hắn: "Đến
như quân lương hiện còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền dư mà đãi sứ


nhà vua?". Tả Phong tức giận về triều vu tấu rằng tôi không chịu
tiến quân, cứ đắp lũy đào hào cố thủ, khiến lòng quân trễ nải.
Triều đình nổi giận, sai quan Trung Lang Tướng Đổng Trác đến
thay tôi cầm quân, và bắt tôi giải về kinh trị tội.
Trương Phi nghe dứt lời, máu giận sục sôi, toan rút gươm
chém mấy tên quân hộ tống tù xa để cứu Lư Thực, nhưng Huyền
Đức đã kịp ngăn lại và nói:
- Việc của Lư tướng quân ngay gian sẽ có công luận xét đoán,
chúng ta không nên bạo sát người của triều đình mà mang tội.
Trương Phi trợn mắt, nhìn chiếc tù xa cho đến khi mất hút.
Vân Trường nói:
- Lư Trung Lang bị bắt, người khác cầm quân, chúng ta trông
cậy vào ai mà trở lại Quảng Tôn? Chi bằng trở về Trác Quận là
hơn.
Huyền Đức nghe lời, cùng với hai em dẫn quân về phía Bắc.
Đi chưa được hai ngày, bỗng nghe sau núi có tiếng quân reo tở mở,
ba anh em Huyền Đức liền trèo lên một đỉnh núi cao, xem thấy
quân Hán bị thua cuốn cờ chạy trốn, còn đằng sau giặc Khăn Vàng
đông đặc, đang đuổi theo rất hăng. Trên cây đại kỳ của giặc có đề
bốn chữ: "Thiên Công Tướng Quân".
Huyền Đức đưa tay chỉ bọn giặc, nói với Quan, Trương:
- Chính thằng này là Trương Giác, kẻ cầm đầu giặc Khăn
Vàng gây rối. Chúng ta tham chiến ngay.
Ba anh em Huyền Đức đồng phi ngựa dẫn quân lướt tới. Bấy
giờ Trương Giác đã đánh bại Đổng Trác, nên kéo binh truy kích
rất ngặt. Đang lúc hăng thế, bỗng gặp toán quân của ba anh em
Huyền Đức chặn lại, chúng rối loạn người ngựa đạp nhào lên
nhau, mất cả hàng ngũ, bị quân Huyền Đức chém giết một trận,
làm cho chúng quay đầu bỏ chạy hơn năm mươi dặm.
Ba người cứu được Đổng Trác về trại. Sau khi hỏi thăm, biết
được ba anh em Huyền Đức chưa có chức vụ gì, hiện còn là chân
trắng, Đổng Trác làm mặt khinh khỉnh, không thèm thi lễ và tiếp
đãi.
Huyền Đức bước ra ngoài, không nói gì, nhưng Trương Phi thì
hầm hầm nét mặt, tỏ ý bất mãn:


- Hừ! Chúng ta lăn mình vào địch quân để cứu hắn, mà hắn
lại dám vô lễ như thế! Phải giết hắn đi mới đã giận.
Mắng rồi, Trương Phi cầm xà mâu quay vào trướng định giết
Đổng Trác.
Đó chính là:
Nhân tình thế thái đáng buồn than,
Ai biết anh hùng lúc trắng chân!
Nếu được muôn người như Dực Đức,
Trên đời đã hết giống vong ân

tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-05 19:00:04Ct.Ly>
Bộ Tam Quốc diễn nghĩa đã có trong thư viện rồi bạn ơi
http://www.gophatdat.com
Đưa Việt Nam ra thế giới
0
Bạn có bản Tam quốc diễn nghĩa của cụ Phan Kế Bính dịch không, nếu có đóng góp thì tốt, còn bản này thì có trên diễn đàn rồi. Topic sẽ khoá lại sau 1 ngày nữa.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

0