📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

quo Vadis

37 trả lời, 2.292 lượt xem — Trang 1 / 2
quo Vadis

CHƯƠNG 3
- Bà ta tin vào một Đức Chúa duy nhất, toàn năng và công minh - Petronius nhắc lại khi ông ngồi vào kiệu cùng với Vinixius. - Nếu quả Đức Chúa của bà ta là toàn năng thì ông ta sẽ cai quản được cả sự sống lẫn cái chết, nếu như ông ta lại công minh nữa thì hẳn là ông ta phải phân phát cái chết một cách hợp lý. Vậy thì tại làm sao bà Pomponia lại còn phải để tang Julia? Thương tiếc Julia thì cũng có nghĩa là bà ta đã phê phán Đức Chúa của mình. Cậu phải lặp lại các lập luận này với con khỉ râu đỏ của chúng ta mới được, bởi cậu cho rằng, trong phép biện chứng thì cậu sánh ngang với Xocrtex. Còn nói về đàn bà, cậu thừa nhận rằng mỗi mụ có tới ba bốn linh hồn, song chẳng mụ nào có được một linh hồn biết tư duy cả. hãy để cho bà Pomponia cùng với Xeneka hay Kornulux suy xét xem cái logox(1) vĩ đại của họ. Họ là cái quái gì… Cứ để cho họ cùng nhau kêu gọi hương hồn của Kxenofanex Paemenid, Zenon và Platon đang buồn chán ở xứ sở Kimery, giống như những con chim bạch yến bị giam hãm trong lồng. Còn cậu, cậu muốn nói với bà ta và ông Plauxius về chuyện kia. Thề trên cái bụng thiêng liêng của nữ thần Izyx người Ai Cập! Giả như cậu nói thẳng với họ mục đích của chúng ta thì e rằng các đức hạnh của họ sẽ kêu vang lên như một cái đĩa bằng đồng bị cái dùi cui đập vào vậy. Song cậu đâu dám thế! Cậu không dám thật đấy, Vinixius! Lũ công là một loài chim đẹp, nhưng kêu kinh lắm. Mà cậu thì lại sợ tiếng kêu. Song cậu cũng phải khen cho sự lựa chọn của anh đấy. Quả là một “Nữ thần Rạng Đông với những ngón tay hồng”… Anh có biết nàng gợi cho cậu nghĩ tới điều gì không? - Mùa xuân! - Mà không phải mùa xuân ở Italia của chúng ta, nơi những cành táo mới trổ hoa, còn những câu ô liu đang xám xịt đi như đã bị xám bao đời, mà là thứ Mùa xuân có hồi cậu được chiêm ngưỡng ở Henvexia mùa xuân tươi trẻ, trinh khiết, xanh nõn nà… Thề có vầng nguyệt Xelena nhợt nhạt kia, cậu không ngạc nhiên về anh đâu. Marek ạ, song anh cũng nên biết rằng anh vốn mến nữ thần Điana, còn ông Aulux và bà Pomponia thì lại sẵn sàng xé xác anh ra, như hồi nào đàn chó đã xé xác Akteon vậy.
Không ngẩng đầu lên, Vinixius im lặng giây lâu, rồi bằng một giọng nói đứt quãng bởi nỗi khát vọng, chàng trai nói:
- Trước kia cháu khao khát nàng, giờ đây cháu lại càng khao khát nàng gấp bội. Khi cháu cầm lấy tay nàng, cháu tưởng như bốc lửa… Cháu phải có được nàng. Giá cháu là thần Zeux, cháu sẽ cuộn chặt nàng vào trong mây như thần đã vây bọc nàng lô vậy, hoặc sẽ làm những hạt mưa vàng rơi xuống với nàng như thần đã xuống với nàng Đanae. Cháu muốn hôn siết môi nàng đến đau đớn. Cháu muốn được nghe tiếng kêu thét của nàng trong vòng tay của cháu. Cháu sẵn sàng giết chết cả ông Aulux lẫn bà Pomponia để cướp lấy nàng và ôm trên tay mang về nhà cháu. Hôm nay cháu sẽ không ngủ. Cháu phải ra lệnh hành hạ một tên nô lệ nào đó để được nghe tiếng kêu la của nó…
- Hãy bình tĩnh lại nào - Petronius bảo - Anh có những ý muốn của bọn thợ mộc ở khu Xubura rồi đấy.
- Dù sao mặc lòng, nhất định cháu phải chiếm cho được nàng. Cháu đã đến để cầu xin lời khuyên bảo của cậu, nếu như cậu không tìm ra phương sách, thì cháu sẽ tự tìm lấy… Ông Aulux xem Ligia như con gái thì tại sao cháu lại phải coi nàng là nô tỳ? Vậy, nếu như không còn cách nào khác thì hãy để cho nàng được làm người vợ hiền quấn tơ ở cửa nhà cháu, xoa mỡ sói lên đó và ngồi bên bếp lửa nhà cháu.
Hãy bình tĩnh lại đi, hỡi đứa con cuồng nộ, dòng dõi các vị chấp chính quan tối cao! Không phải chúng ta buộc dây lôi lũ dân mọi rợ đó theo sau xe của chúng ta là để cưới đám con gái của chúng nó. Chớ có làm liều! Hãy biết tận dụng những biện pháp đơn giản và trung thực trước đã, hãy để cho cả anh lẫn ta có thì giờ suy nghĩ. Ta cũng đã từng coi Khowryzotemix như con gái của chính thần Jupiter, nhưng ta vẫn không lấy nàng làm vợ, cũng như Nerô không cưới Akte, mặc dù hắn đã dựng nàng thành con gái của vua Attan. Bình tâm lại đi… Anh thử nghĩ xem, nếu như vì anh, nàng muốn rời bỏ nhà họ Aulux, thì họ đâu có quyền giữ nàng lại, thêm nữa tự anh cũng biết đấy, đâu phải chỉ mỗi mình anh sôi sục, mà ngay cả ở nàng nữa, thần ái tình Erox cũng đã nhen một ngọn lửa lên rồi… Chính ta nhận thấy điều đó, mà lời ta thì cần phải tin. Hãy biết kiên nhẫn chút nào! Việc gì cũng sẽ có cách hết, nhưng hôm nay thì cậu cũng đã phải suy nghĩ quá nhiều nên mệt rồi. Cậu hứa với anh là ngày mai cậu sẽ suy nghĩ về chuyện ái tình của anh và có lẽ Petronius sẽ không phải là Petronius nữa nếu như hắn không tìm ra được một phương sách nào đó.
Cả hai lại im lặng, mãi sau Vinixius mới cất tiếng nói, đã bình tĩnh hơn:
- Xin cảm ơn cậu, cầu mong Thần Tài Fortuna sẽ hào phóng với cậu.
- Hãy kiên tâm
- Cậu cho cáng đến đâu thế ạ?
- Đến nhà Khowryzotemix…
- Cậu thật là hạnh phúc, vì cậu có được con người mà cậu yêu dấu.
- Cậu ấy à? Anh có biết điều gì ở Khowryzotemix còn làm cậu thú vị không? Đó chính là vì nàng phản bội cậu để ngoại tình với một tên nô lệ giải phóng của cậu, thằng cha Teoklex chuyên đánh thi cầm, mà vẫn nghĩ rằng cậu không hề nhận thấy chuyện đó. Cũng đã có lúc cậu từng yêu nàng, còn bây giờ thì những điều dối trá và ngu ngốc của nàng lại khiến cho cậu thích thú. Anh hãy cùng cậu đến chỗ nàng. Nếu như nàng bắt đầu ve vãn anh và dùng ngón tay chấm vào rượu nho để viết chữ lên mặt bàn, thì xin anh hãy nhớ cho rằng cậu không phải là kẻ hay ghen đâu nhé!
Và họ ra lệnh cho cáng đến nhà Khowryzotemix.
Song, khi vào đến gian tiền đình, Petronius chợt đặt tay lên vai Vinixius và bảo:
- Khoan đã, hình như cậu đã nghĩ ra một cách.
- Cầu tất cả các vị thần ban thưởng cho cậu…
- Phải rồi! Ta cho rằng cách này là chắc chắn. Này Marek…
- Cháu nghe đây, hỡi thần Atena của cháu…
- Chỉ vài ngày nữa thôi là nàng Ligia thần thánh sẽ được ăn những hạt giống của nữ thần Đemeter ở nhà anh(2)
- Cậu thật vĩ đại hơn cả Hoàng đế! - Vinixius reo lên vì sung sướng.
Chú thích:
(1) Loài cây mọc hoang ở châu Á và Nam Âu, được trồng làm cây cảnh (Lonicera caprifolium), thuộc họ Kim ngân. Theo triết học của phái khổ hạnh, Logox là động lực của thế giới, vũ trụ. Theo triết học Filon, Logox là con của Đức Chúa, là mực thước của thế giới. Theo Tin lành của Jan, Logox chính là Đức Chúa Trời, được hiện hình trong hình tượng chúa Jexu.
(2) Đemeter trong thần thoại Hy Lạp (hey Xerex trong thần thoại La Mã) là nữ thần ngũ cốc, của sự gieo hạt, của đất đai màu mỡ, là biểu tượng cho sự bất tử của linh hồn.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 4
Petronius đã giữ đúng lời hứa. Hôm sau, sau cuộc thăm viếng Khowryzotemix, tuy ngủ cả ngày, nhưng đến chiều tối ông ra lệnh cho cáng đến cung điện Palatyn và chuyện kín với Nerô. Do kết quả của cuộc trò chuyện đó, ngày hôm sau nữa, trước cửa nhà ông Plauxius xuất hiện một viên xenturion cầm đầu một toán lính cấm vệ hơn mười tên.
Đó là một thời kỳ phấp phỏng và kinh hoàng. Thường thường, các vị sứ giả loại này là người mang tới sự chết chóc. Chính vì vậy, kể từ lúc viên xenturion gõ búa vào cửa nhà ông Aulux và tên cai quản gian chính sảnh báo tin bọn lính đã kéo đến trước gia môn thì sự kinh hoàng trùm lên cả gia đình. Gia đình quây chung quanh vị lão tướng, vì ai cũng nghĩ rằng mối nguy hiểm này treo lơ lửng trên đầu ông trước hết. Choàng tay ghì chặt lấy chồng, bà Pomponia nép sát vào người ông, đôi môi tái nhợt của bà run lên bần bật, thốt ra những lời lẩm bẩm. Ligia mặt nhợt nhạt, hôn mãi tay ông, còn chú bé Aulux thì túm chặt lấy chiếc áo toga của ông. Từ các hành lang, từ các phòng trên gác và các phòng ở của gia nhân, từ nhà ở của đám gia nô, từ nhà tắm, từ nhưng gian buồng ở phía dưới, từ khắp mọi xó xỉnh trong nhà, nô lệ và nô tỳ túa cả ra. Nghe rõ tiếng than vãn: “heu heu me miserum”(1). Đàn bà khóc nức nở, một số người đã bắt đầu cào cấu mặt mày hoặc lấy khăn trùm kín đầu.
Chỉ riêng mình vị lão tướng, bao năm nay từng quen nhìn thẳng vào mặt cái chết là vẫn bình tĩnh, riêng khuôn mặt đại bàng hơi ngắn của ông như hóa đá. Sau khi đã làm lặng bớt những tiếng ồn ào và ra lệnh cho đám gia nhân tản đi, ông nói:
Hãy buông tôi ra nào, bà Pomponia. Nếu như ngày tận thế đã đến với tôi thì chúng ta cũng hãy còn thì giờ để vĩnh biệt nhau kia mà.
Và ông nhẹ nhàng đẩy bà ra, còn bà thì thốt lên:
Số mạng của ông cũng chính là số mạng của tôi đó, ông Aulux ơi!
Rồi quỳ thụp xuống, bà bắt đầu cầu nguyện một cách khẩn thiết, dường như chỉ có nỗi lo sợ cho sự sống còn của sinh linh thân yêu mới khiến bà bắt đầu cầu nguyện khẩn thiết đến thế.
Ông Aulux bước ra gian chính sảnh thông thiên, nơi viên xenturion đang chờ ông. Đó là Kaius Haxta, nguyên là một kẻ dưới quyền và một chiến hữu của ông từ cuộc chiến tranh Brytania.
- Xin kính chào tướng quân - ông ta nói - Tôi mang tới cho ngài mệnh lệnh và lời chúc sức khỏe của Hoàng thượng, còn đây là lệnh tiễn và ngự phù chứng tỏ rằng tôi đến đây nhân danh Người.
- Đa tạ Hoàng thượng về lời chúc và xin phụng mệnh Hoàng thượng - ông Aulux đáp - Xin chào ngài Haxta, xin ngài hãy nói xem ngài mang đến chiếu chỉ về chuyện gì vậy?
- Kính thưa ngài Aulux Plauxius. - Haxta bắt đầu - Hoàng thượng biết rằng trong nhà ngài hiện có con gái của vua người Ligi, kẻ mà từ thửa sinh thời của hoàng đế Klaudius hiển linh, vua nước ấy đã nộp cho người La Mã làm tin, rằng dân Ligi sẽ không bao giờ vi phạm biên giới của đế quốc ta. Hoàng đế Nerô thần thánh sẽ biết ơn ngài, thưa tướng quân, vì suốt ngần ấy năm ngài đã cho cô công chúa ấy được hưởng lòng mến khách tại gia, song Hoàng thượng không muốn phiền gia đình ngài lâu hơn nữa, đồng thời Hoàng thượng cho rằng, vốn là con tin, nàng phải được đặt dưới sự chăm lo của chính Hoàng thượng cùng nguyên lão viện, vì vậy Hoàng thượng truyền cho ngài hãy giao lại nàng cho tôi đây.
Là một người lính, một người đàn ông đã được tôi luyện dạn dày, ông Aulux không thể cho phép mình bộc lộ sự bất bình, không phàn nàn, không thốt ra những lời vô nghĩa đối với mệnh lệnh, song trán ông hằn lên nét nhăn của cơn cuồng nộ và nỗi đớn đau. Đã có lúc, những đạo quân Brytania từng phải run rẩy trước cái nhíu mày như thế, thậm chí ngay cả lúc này đây, trên nét mặt Haxta cũng hiện lên một nỗi hãi hùng. Song bây giờ đứng trước chiếu chỉ, ông Aulux cảm thấy mình bất lực. Suốt một hồi lâu ông nhìn chằm chằm vào lệnh tiễn và ngự phù, rồi ngước mắt lên nhìn viên xenturion tuổi tác, ông nói với giọng đã bình tĩnh trở lại:
- Hỡi Haxta, xin hãy chờ cho một lát ở chính sảnh, đứa con tin ấy sẽ được giao cho ngài.
Sau những lời ấy, ông đi sang đằng kia ngôi nhà, đến phòng làm việc được gọi là oecus, nơi bà Pomponia Grexyna, nàng Ligia và chú bé Aulux đang lo lắng hãi hùng chờ ông tới.
- Sẽ không có ai phải chết hay bị đày đi đảo xa đâu - ông nói - song sứ giả cũng vẫn là kẻ mang tới điều bất hạnh. Chuyện về con đấy, Ligia ạ.
- Về Ligia ư? - bà Pomponia kêu lên kinh ngạc.
- Chính vậy - ông Aulux đáp.
Rồi quay sang phía nàng, ông nói:
- Ligia con, con được nuôi nấng trong gia đình chúng ta như một đứa con ruột thịt, cả ta lẫn bà Pomponia đều yêu con như con rứt ruột đẻ ra. Nhưng chính con cũng biết đấy, con không phải là con gái của chúng ta. Con là con tin mà dân tộc con đã nộp cho La Mã, và việc chăm lo cho con thuộc về Hoàng đế. Giờ đầy Hoàng đế bắt con rời khỏi nhà chúng ta đấy.
Vị thủ lĩnh nói bình tĩnh, nhưng bằng một giọng kỳ lạ khác thường. Nghe những lời ông nói Ligia chớp mắt, dường như nàng không sao hiểu nổi ông nói gì. Gò má bà Pomponia thì trắng nhợt ra. Ở các cửa phòng thông từ ngoài hành lang vào phòng tiệc lại lấp ló những bộ mặt kinh sợ của đám nô tỳ.
- Ý muốn của Hoàng thượng phải được thực hiện, ông Aulux nói.
- Ông Aulux! - Bà Pomponia kêu lên, ôm chầm lấy Ligia, dường như bà muốn che chở cho nàng - thà là để cho con nó được chết đi còn hơn.
Còn Ligia ép sát vào ngực bà nức nở lặp đi lặp lại: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!" bởi nàng không sao thốt ra được lời nào khác nữa.
Trên mặt ông Aulux lại xuất hiện ra nét giận giữ pha lẫn nỗi đớn đau.
- Giá như tôi chỉ có một thân một mình trên đời - ông nói buồn bã - tôi sẽ không bao giờ chịu nộp con một khi nó còn sống: Họ hàng của tôi sẽ có thể dâng lên thần Jo Liberator những đồ tế hiến cho chúng tôi. Nhưng tôi không có quyền giết chết cả bà lẫn thằng bé nhà ta, kẻ có thể sống được tới những ngày hạnh phúc hơn… Ngay ngày hôm nay tôi sẽ xin yết kiến Hoàng thượng và cầu xin Người thay đổi quyết định. Người có chịu nghe lời tôi hay không - tôi không biết. Còn con Ligia, ta cầu cho nó luôn được bằng an và hãy nhớ rằng cả ta lẫn bà Pomponia bao giờ cũng cầu Thượng đế ban phước cho cái ngày con được nhập vào tổ ấm của chúng ta.
Nói xong, ông đặt tay lên đầu nàng, song mặc dầu ông cố tỏ ra bình tĩnh, lúc Ligia hướng đôi mắt đầm lệ lên nhìn ông rồi ôm lấy tay ông mà áp chặt môi nàng vào đó, thì trong giọng nói của ông vẫn run lên nỗi đau xót của sâu thẳm của người cha.
- Từ biệt con, hỡi niềm vui sướng của chúng ta, hỡi ánh sáng trong mắt chúng ta! - ông thốt lên.
Rồi ông vội vàng quay trở lại gian chính sảnh thông thiên để tránh không cho nỗi xúc động thắng thế, nỗi xúc động không xứng với người La Mã, với một vị tướng.
Trong khi ấy, bà Pomponia đưa Ligia về phòng ngủ, cố an ủi nàng, động viên, cổ vũ nàng và nói những lời ngụ ý kỳ lạ trong ngôi nhà này, nơi mà ngay cạnh đấy, trong khám thờ sát kề bên, vẫn có điện thờ ông Táo và lò lửa, trên đó ông Plauxius - người vốn vẫn trung thành với phong tục cổ xưa - vẫn thường hiến lễ các loại lễ vật dâng lên các vị thần. Thời thử thách đã tới rồi. Ngày trước, Virginius đã tự tay đâm thủng ngực đứa con gái ruột thịt của ông để tránh cho nàng khỏi rơi vào tay Appius: Thời xa xưa hơn nữa, nàng Lukrexia cũng đã dùng cái chết để tránh khỏi nỗi ô nhục. Ngôi nhà của Hoàng đế là hang ổ của sự ô nhục, của điều dữ, của tội ác. “Song chúng ta, Ligia con, chúng ta lại hiểu rõ vì sao chúng ta không có quyền tự hại bản thân mình!...”. Chính thế! Thứ luật lệ mà cả người thuận theo khác biệt hơn, to lớn hơn, thiêng liêng hơn, nó cho phép tự vệ chống lại sự dữ và nỗi ô nhục, dù sự tự vệ ấy phải đánh đổi bằng mạng sống hay bằng nhục hình. Ai trong chốn ô uế bước ra mà vẫn trong sạch, thì công tích của kẻ ấy càng lớn hơn. Trái đất là một chốn đầy ô uế như thế, song may mắn làm sao, đời người lại chỉ là một chớp mắt mà thôi, và từ nấm mộ của mình con người sẽ được phục sinh để sau đó không còn có Nerô trị vì nữa, mà sẽ là Đấng Nhân Từ, thay cho nỗi xót đau sẽ là niềm vui sướng, thay cho những giọt lệ sẽ là các hội vui.
Rồi bà bắt đầu nói về bản thân mình. Phải! Bà vốn bình thản, nhưng trong lồng ngực bà nào thiếu những vết thương đau đớn. Này đây, ông Aulux của bà vẫn chưa được giác ngộ để đón nhận ánh sáng. Bà cũng không được phép giáo dục đứa con trai thuận theo chân lý. Nếu cứ nghĩ rằng tình trạng ấy có thể sẽ bị kéo dài cho tới khi chấm dứt cuộc đời, rất có thể cho tới giây phút phải biệt ly họ mãi mãi, thì điều đó còn trăm lần đau đớn và kinh khủng hơn so với sự sinh ly tạm thời mà giờ đây cả hai cùng phải chịu đựng trong nỗi đau xót. Thậm chí, bà không hình dung nổi làm sao bà có thể hạnh phúc được dù là ở trên Thiên đường, nếu thiếu chồng và con. Biết bao đêm bà đã khóc, bao đêm bà thức trắng để nguyện cầu, để ăn mày ơn phước và tình thường. Bà vẫn hiến dâng nỗi đau của mình lên Đức Chúa và đợi chờ tin tưởng. Thậm chí giờ đây, khi tai họa một lần nữa giáng xuống đầu bà, khi mệnh lệnh của kẻ bạo chúa cướp đi của bà mái đầu thân yêu này, mái đầu mà ông Aulux đã gọi là “ánh sáng” của đôi mắt, lòng bà vẫn tin tưởng vì bà biết rằng còn có một sức mạnh vĩ đại hơn bạo lực của Nerô, rằng Đấng Nhân Từ còn mạnh hơn sự độc ác của y.
Và bà ghì chặt hơn nữa mái đầu của thiếu nữ vào ngực mình, còn cô gái từ từ khuỵu xuống úp mặt vào hai đầu gối bà, giấu đôi mắt vào những nếp gấp của cái áo dài peplum của bà, nàng cứ lặng lẽ quỳ như thế hồi lâu, khi đứng lên, nét mặt nàng đã hơi có vẻ bình tâm trở lại.
- Mẹ ơi, con thương mẹ, thương cha và em con, nhưng con biết rằng có chống cự cũng chẳng ích gì mà còn làm hại cả nhà. Song con xin thề với mẹ rằng, khi về cung Hoàng đế, con sẽ không bao giờ quên những lời mẹ dặn.
Nàng ôm ghì lấy bà một lần nữa, rồi sau đó, cả hai bước sang phòng tiệc, nàng bắt đầu từ giã chú bé Aulux, cụ già người Hy Lạp là gia sư của nàng, bà nhũ mẫu đã từng chăm bẵm nàng, cùng tất cả gia nô.
Một nô lệ người Ligi cao to lực lưỡng, mà người trong nhà thường gọi là Urxux, kẻ hồi trước đã cùng với mẹ Ligia, cùng với nàng và đám kẻ hầu người hạ đi tới trại lính La Mã làm con tin, giờ đây chợt quỳ phục dưới chân nàng, rồi quay sang cúi gập người trước mặt bà Pomponia mà nói:
Thưa đômina! Xin hãy cho tôi được đi cùng cô chủ của tôi để được phục vụ và bảo vệ cô trong cung Hoàng đế.
- Ngươi không phải là đầy tớ của chúng ta, mà là của Ligia - bà Pomponia Grexyma nói - song không biết liệu người ta có để cho ngươi được vào cung Hoàng đế hay không? Và ngươi định bảo vệ cô chủ ngươi bằng cách nào cơ chứ?
- Tôi không biết, thưa đômina, tôi chỉ biết rằng trong tay tôi thì sắt thép cũng phải gãy vụn như củi gỗ mà thôi…
Vừa lúc đó, ông Aulux Plauxius tới và sau khi rõ chuyện không những ông không hề phản đối ý nguyện của bác Urxux mà lại nói thêm rằng chính họ không có quyền giữ bác ta ở lại. Họ trao trả Ligia với tư cách là con tin như Hoàng đế đã phán thì họ có bổn phận phải hoàn trả lại toàn bộ đám tùy tùng của nàng để chúng cùng nàng đến lĩnh nhận sự che chở của Hoàng đế. Nói tới đây, ông thì thầm với bà Pomponia rằng, dưới danh nghĩa đoàn tùy tùng có thể cho thêm nàng bao nhiêu nô tỳ mà bà cho là vừa phải cũng được, vì viên xenturion sẽ không thể không nhận họ.
Đối với Ligia, đó thật là điều đáng mừng. Bà Pomponia cũng vui hơn vì có thể lựa chọn những kẻ sẽ hầu hạ nàng theo ý muốn của chính bà. Vì vậy, ngoài bác Urxux ra, bà còn chọn người đảo Sip giỏi chải tóc và hai nô tỳ người Germania chuyên phục vụ việc tắm rửa. Bà chỉ chọn toàn những người đã giác ngộ giáo thuyết mới, thậm chí cả bác Urxux cũng đã quy theo giáo thuyết này từ vài năm nay. Bà Pomponia có thể tin tưởng ở sự trung thành của đám người này và vì vậy bà vui sướng nghĩ rằng những hạt giống của chân lý sẽ được gieo chính ngay trong cung Hoàng đế.
Bà còn viết vài chữ cho nàng Akte, một nô tỳ mới được giải phóng của Nerô, nhờ nàng đỡ đầu Ligia. Mặc dù bà chưa trông thấy Akte tại các cuộc họp hội cũng những tín đồ theo giáo thuyết mới - nhưng bà nghe họ nói rằng nàng Akte không bao giờ từ chối giúp đỡ họ và chính nàng cũng đã từng say mê đọc những bức thư của Đức Paven từ Tarxu. Bà cũng biết rằng người nô tỳ trẻ trung mới được giải phóng này luôn sống trong những nỗi buồn triền miên, rằng nàng là người khác hẳn những kẻ phái yếu khác sống trong nhà Nerô và nói chung nàng là một vị thiên thần của cung điện.
Haxta nhận lời sẽ tự tay trao bức thư ấy cho Akte. Và vì cho rằng việc một nàng công chúa con vua có đám tùy tùng theo hầu là một chuyện đương nhiên. Ông ta cũng không hề cản trở việc mang họ cùng đi về cung điện. Có chăng, ông ta chỉ ngạc nhiên là tại sao đám tùy tùng lại ít ỏi đến thế. Song ông yêu cầu họ phải nhanh chân lên để tránh khỏi bị đánh giá rằng đã thiếu mẫn cán trong khi thi hành mệnh lệnh. Giờ phút chia ly đã tới. Mắt bà Pomponia và mắt Ligia lại nhòa lệ. Một lần nữa, ông Aulux lại đặt tay lên đầu nàng, rồi lát sau, được tống tiễn bởi tiếng kêu gào của chú bé Aulux - chú đang vung hai nắm tay nhỏ bé của mình lên đe dọa viên xenturion - toán lính đưa Ligia về cung Hoàng đế.
Vị lão tướng cũng ra lệnh chuẩn bị kiệu cho mình, rồi đóng cửa lại với riêng mình bà Pomponia trong phòng tranh(2) kề bên phòng tiệc, ông nói:
- Hãy nghe tôi nói đây, hỡi bà Pomponia! Tôi đến đây xin gặp Hoàng đế, mặc dù tôi nghĩ rằng chỉ vô ích mà thôi, và dù rằng lời nói của ngài Xeneka giờ đây cũng chẳng ý nghĩa gì đối với Hoàng đế, tôi cũng sẽ đến cả chỗ ngài Xeneka nữa. Bây giờ, bọn Xofronius, Tygelinus, Petronius hay cả Valynius nữa đều là lũ người có quyền thế hơn hơn nhiều… Còn nếu nói về Hoàng đế, thì có lẽ trong đời chưa bao giờ y được nghe nói tới dân tộc Ligi, nên nếu như y đòi phải trả Ligia với tư cách là một con tin thì chẳng qua là có kẻ nào khác đã xui y làm việc đó. Chẳng khó khăn gì cũng có thể đoán ra kẻ nào đã làm chuyện ấy.
Bà bỗng ngước mắt nhìn ông.
- Petronius ư?
- Phải.
Sau một giây im lặng, vị thủ lĩnh nói tiếp:
- Hậu quả của việc để cho một kẻ trong lũ người thiếu lương tâm và lòng thành kính được qua ngưỡng cửa nhà mình là như thế đó. Đáng nguyền rủa thay cái giây phút mà thằng Vinixius đặt chân vào nhà ta. Chính hắn đã kéo Petronius tới đây. Tội nghiệp con Ligia, vì thực ra chúng đâu có cần tới con tin, chúng chỉ cần tỳ thiếp mà thôi.
- Vì giận dữ, vì cuồng nộ do bất lực, vì thương xót cho đứa con nuôi, tiếng nói của ông lão trở nên phều phào nhiều hơi gió hơn lúc thường. Suốt một hồi lâu, ông có cưỡng lại mình, chỉ có những nắm đấm xiết chặt của ông cho thấy cuộc đấu tranh nội tâm ấy mới nặng nề làm sao.
- Cho tới nay tôi vẫn thờ kính các thần - ông bảo - nhưng lúc này đây tôi cho rằng không hề có một vị thần nào hết, thống trị thế giới chỉ có duy nhất một tên hung thần, điên khùng, ma quái, tên là Nerô thôi!
- Ông Aulux! - Bà Pomponia cất tiếng nói - Nerô chỉ là một nắm tro tàn trước Đức Chúa mà thôi!
Ông lão sải những bước dài trên sân đá hoa của phòng bày tranh. Trong đời, ông đã từng có những hành động lớn lao kỳ vĩ song chưa gặp nỗi bất hạnh nào đáng kể, vì thế ông chưa quen chịu đựng chúng. Người lính già này gắn bó với Ligia thiết tha hơn là ông tưởng và giờ đây ông không sao chấp nhận được ý nghĩ rằng ông đã vĩnh viễn mất nàng. Thêm nữa, ông cảm thấy bị làm nhục. Bàn tay mà ông vốn khinh bỉ đã chiến thắng ông, trong khi ông cảm thấy sức lực của mình chẳng là gì cả so với bạo lực của bàn tay ấy.
Mãi sau, rốt cuộc ông cũng nén được cơn giận đang xáo trộn trong -đầu óc và nói:
- Tôi cho rằng Petronius cướp con bé đi không phải là để cho Hoàng đế vì chắc chắn hắn không muốn trêu gan Poppea. Vậy thì hoặc là để cho hắn, hoặc cho Vinixius. Ngay trong ngày hôm nay tôi phải tìm biết được điều đó.
Lát sau, kiệu đưa ông đi về phía cung điện Palalyn. Còn lại mỗi mình, bà Pomponia bèn sang phòng cậu bé Aulux cậu vẫn đang khóc thương chị và đang hằm hè đe dọa Hoàng đế.
Chú thích:
(1) Hơ, hơ, bất hạnh thay! - (La tinh)
(2) Nguyên văn: Pinakoteka - phòng trưng bày những bức danh họa cổ trong các gia đình quý tộc.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 5
Quả thực, ông Aulux đã có lý khi đoán rằng ông sẽ không được giáp mặt Nerô. Người ta bảo với ông rằng Hoàng đế đang bận hát với nhạc công thi cầm Terpnox và nói chung Người không tiếp những kẻ mà người không gọi đến. Nói cách khác, điều đó có nghĩa là, trong tương lai, ông Aulux chớ có cố tìm cách bệ kiến Hoàng đế làm chi. Ngược lại, mặc dù đang bị sốt, ông Xeneka vẫn kính cẩn đón tiếp vị tướng già, song sau khi được nghe trình bày, Xeneka chỉ mỉm cười chua chát và nói:
- Thưa ông Plauxius cao quý, tôi chỉ có thể giúp ông được một việc duy nhất mà thôi, đó là không bao giờ để cho Hoàng thượng nhận thấy tim tôi đồng cảm với nỗi đau đớn của ông, rằng tôi muốn giúp ông, vì nếu Hoàng thượng chỉ cần hơi nghi ngờ điều đó thôi thì xin ông hãy tin rằng Hoàng thượng sẽ nhất định không trả Ligia cho ông đâu, dù Hoàng thượng không hề có một lý do nào khác ngoài lý do duy nhất là làm cho bõ ghét tôi.
Ông cũng khuyên ông Plauxius không nên tìm tới Tygelinux, Vatynius hay Vitelius làm chi. Cũng có thể tiền bạc sẽ khiến cho họ làm được chút gì đó, cũng có thể họ sẽ làm cho bõ ghét Petronius, người mà họ đang cố gắng đánh đổ uy tín đối với Hoàng đế Nerô, song chắc chắn họ sẽ tiết lộ với Hoàng đế rằng Ligia là người vô cùng yêu dấu đối với ông Plauxius, và khi ấy, Hoàng đế lại càng không bao giờ trả nàng về cho ông. Nói đến đây, vị hiền triết già bắt đầu nói giọng mỉa mai sâu cay, mâu thuẫn ngay với chính bản thân mình.
- Ông đã nín lặng, Plauxius hỡi, ông đã nín lặng suốt bao năm tháng, mà Hoàng thượng lại không thích những kẻ cứ im lặng. Sao ông lại có thể không phấn hứng lên trước vẻ đẹp, trước phẩm cách của Hoàng thượng, trước tiếng hát, giọng ngâm, tài điều khiển xe hay những vần thơ của Người. Tại sao ông lại có thể không ngợi ca cái chết của Brytanik, không thốt ra những lời ca tụng vinh quang của kẻ đã giết chính mẹ đẻ ra mình và cũng không bày tỏ lời chúc mừng nhân dịp y bóp chết Oktavia? Hỡi ông Aulux, ông đã thiếu đi cái tầm nhìn xa, cái mà chúng ta cần phải có, đủ để có thể sống hạnh phúc trong chốn cung đình.
Nói xong, ông vớ lấy cái cốc đeo ở thắt lưng, múc nước từ bồn nước phun, nhấp đôi môi bỏng cháy rồi tiếp tục:
- Ôi, Nerô có trái tim chan chứa biết ơn. Hoàng thượng yêu thương ông vì ông đã phục vụ cho La Mã và làm vang danh đế quốc đến những miền thế giới xa xôi, còn Người yêu tôi vì tôi từng là thầy của Chúa thượng thuở thiếu thời. Vì vậy mà ông thấy đấy, tôi biết thứ nước này không bị đánh độc nên tôi có thể yên tâm mà uống. Rượu nho ở nhà tôi thì không đáng tin lắm, nếu ông khát, xin hãy can đảm uống tạm thứ nước này. Đường dẫn nước đưa nó về đây từ mãi tận dãy Anban, muốn đánh thuốc độc nó thì phải đánh thuốc độc tất cả các vòi phun nước ở Roma. Ông thấy đấy, vẫn có thể được sống an toàn trên cái thế giới này và có thể hưởng một tuổi già bình yên đấy chứ. Tôi ốm thật, nhưng linh hồn ốm chứ không phải thể xác.
Quả đúng như thế, ở Xeneka thiếu đi cái sức mạnh tâm linh mà - nói thí dụ - có cả ở Kornutux hay Trazeas, vì vậy, cuộc đời ông là một chuỗi những nhượng bộ đối với tội ác. Bản thân ông cũng nhận thấy điều đó, chính ông cũng hiểu được rằng kẻ nào đã tuân theo những nguyên lý của Zenon thành Xitium thì lẽ ra phải đi theo một con đường khác hẳn, ông đau khổ vì chuyện đó hơn là sợ cái chết.
Vị thủ lĩnh làm gián đoạn những suy tư dằn vặt của ông:
- Thưa ngài Anneus tôn kính, - ông Aulux nói, - tôi biết Hoàng thượng đã trả ơn ngài như thế nào về sự giáo dưỡng mà ngài đã dành cho Người trong những năm tuổi trẻ. Song thủ phạm của việc bắt con trẻ chúng tôi lại là Petronius. Xin ngài hãy bày cho tôi một phương sách gì, xin hãy chỉ cho tôi những kẻ mà ông ta chịu tác động, và xin hãy vì tình thân thiện lâu năm với tôi mà dùng tài hùng biện của ngài để thuyết phục ông ta.
- Petronius và tôi - Xeneka đáp - là những con người thuộc hai phe đối địch nhau. Tôi không biết cách nào tác động tới ông ta, ông ta cũng chẳng hề chịu tác động của ai cả. Cũng rất có thể là với toàn bộ sự đồi bại của mình, ông ta vẫn còn có giá trị hơn những kẻ đểu cáng đang xúm quanh Nerô. Song chứng minh cho ông ta thấy rằng mình đã làm một việc xấu xa thì lại chỉ là chuyện mất thì giờ vô ích mà thôi. Đã từ lâu, Petronius bị mất đi cái giác quan cho phép phân biệt cái ác với điều thiện. Ông ta có thể sẽ xấu hổ nếu bị chứng minh rằng hành vi của ông ta không đẹp. Nếu có gặp ông ta tôi sẽ bảo rằng: “Hành động của ngài chỉ xứng với một tên nô lệ vừa được giải phóng mà thôi”. Nếu như cách ấy cũng không có tác dụng thì chẳng còn cách nào khác nữa.
- Xin đa tạ ngài dù chỉ có chừng ấy - Vị thủ lĩnh đáp.
Sau đó, ông ra lệnh cáng về nhà Vinixius và gặp chàng đang tập đấu kiếm với viên võ sư. Thấy chàng thanh niên bình thản luyện tập trong khi Ligia vừa bị bắt đi, ông Aulux bỗng nổi cơn cuồng nộ: ngay sau khi bức trướng vừa kịp buông xuống sau lưng viên võ sư, ông tuôn ra một tràng những lời trách móc và phỉ báng cay độc. Song, biết tin Ligia bị bắt đi, Vinixius tái người đi một cách khủng khiếp, khiến ông Aulux không thể nào nghi ngờ chàng có dính líu chút gì đến chuyện ấy. Trán toát mồ hôi, dòng máu vừa ùa về tim chàng nay lại thành một làn sóng nóng bỏng dồn lên mặt, mắt chàng tóe lửa, miệng thốt ra những câu hỏi lộn xộn. Lòng ghen và sự phẫn nộ thay nhau lồng lộn như những cơn lốc trong lòng chàng. Chàng nghĩ rằng chàng sẽ chính thức bị mất Ligia một khi nàng đặt chân vào ngưỡng cửa hoàng cung, song khi ông Aulux chợt nói đến tên Petronius, một mối nghi ngờ khủng khiếp tựa như một tia chớp xẹt qua óc người lính trẻ, chàng ngờ rằng ông Petronius đã phản chàng, hoặc đã dâng Ligia cho hoàng đế để cầu cạnh những ân sủng mới, hoặc ông ta muốn chiếm nàng cho bản thân mình. Chàng không thể nào tin rằng có ai đó từng trông thấy Ligia mà lại không khát khao nàng.
Tính cuồng nộ trong huyết thống dòng họ chàng bỗng nổi lên, biến chàng thành một con ngựa bất kham đang lồng lộn tước đi sự tỉnh táo nơi chàng.
- Thưa tướng quân, chàng bật ra với giọng nói đứt quãng - xin hãy về nhà chờ tôi… Người hãy biết cho rằng, nếu như Petronius có là cha đẻ tôi đi nữa, tôi cũng sẽ trả thù ông ta vì đã xúc phạm tới Ligia. Xin hãy quay về nhà chờ tôi! Cả Petronius lẫn Hoàng đế đừng hòng chiếm được nàng!
Rồi vung hai nắm tay xiết chặt về phía về phía những chiếc mặt nạ bằng sáp đặt trong tủ kính tại gian chính sảnh thông thiên, chàng gầm lên:
- Thề có những cái mặt nạ đáng nguyền rủa kia! Ta sẽ giết nàng trước rồi sẽ tự giết ta!
Nói xong chàng bật lên, và một lần nữa lại ném cho ông Aulux mấy tiếng cụt ngủn: “Hãy chờ tôi”, chàng lao ra khỏi gian chính sảnh thông thiên như một con ngựa điên, bay tới nhà Petronius, xô giạt cả những người đi đường,
Còn ông Aulux quay về nhà với chút ít tin tưởng. Ông nghĩ rằng nếu Petronius đã xui Hoàng đế bắt Ligia để trao cho Vinixius, thì chắc chàng Vinixius sẽ đưa nàng trở lại nhà ông. Vả chăng, một niềm an ủi không nhỏ đến với ông khi ông nghĩ rằng nếu như không được cứu thoát chăng nữa, thì Ligia cũng sẽ được rửa hận và cái chết sẽ che chở cho nàng tránh khỏi điều ô nhục. Ông tin rằng Vinixius sẽ thực hiện được tất thảy những điều chàng nói. Ông đã trông thấy rõ sự cuồng nộ của chàng và biết rõ tính nóng nảy bẩm sinh của cả dòng họ chàng. Còn ông, mặc dù yêu thương Ligia với tấm lòng của một người cha, ông thà giết chết nàng còn hơn nộp nàng cho Hoàng đế, và giá như không vì đứa con trai, kẻ nối dõi cuối cùng của cả họ, hẳn là ông đã làm ngay điều đó. Ông Aulux là một người lính, và mặc dù ông chỉ được nghe nói sơ qua về những người khắc kỷ, song tính tình ông không khác họ là mấy, theo quan niệm của ông, theo lòng tự tôn của ông, thì thà chết còn hơn chịu nhục.
Trở về nhà, ông an ủi bà Pomponia, chia sẻ với bà niềm tin của mình và cả hai bắt đầu chờ đợi tin tức của Vinixius. Chốc chốc, khi trong gian chính sảnh thông thiên vang lên tiếng bước chân của một người nô lệ nào đó, họ lại ngỡ như đó có thể chính là Vinixius đang đưa đứa con thân yêu trở về cho họ, và tự đáy lòng, họ sẵn sàng cầu phúc cho cả hai. Song thời gian cứ trôi đi mà chẳng hề có tin tức gì cả. Mãi đến chiều tối mới có tiếng búa nhỏ gõ vào cổng.
Lát sau, một người nô lệ bước vào trao cho ông Aulux một bức thư. Vốn muốn tỏ ra là một người luôn luôn tự chủ, song vị lão tướng vẫn run tay khi cầm bức thư và đọc nghiến ngấu, dường như nó có quan hệ đến vận mệnh của cả gia đình ông vậy.
Bỗng mặt ông xám lại như có một bóng mây lướt ngang qua:
- Bà đọc đi - ông quay lại nói với bà Pomponia
Bà Pomponia cầm lấy bức thư đọc, bức thư như sau:
“Markux Vinixius xin kính chúc sức khỏe ngài Aulux Plauxius. Điều đã xẩy ra, xẩy ra theo ý chí của Hoàng thượng, trước ý chí ấy xin các ngài hãy cúi đầu, như chúng tôi và ngài Petronius đã cúi đầu vậy”
Một sự im lặng kéo dài và nặng nề bao trùm lên hai người.
Đăng nhập để trả lời
0



CHƯƠNG 6
Ông Petronius đang có nhà. Người gác cổng không dám giữ Vinixius lại, chàng lao vào chính sảnh như một cơn bão, và khi được biết cần phải tìm ông chủ tại thư viện, chàng liền sục sang thư viện, gặp Petronius đang viết, chàng giật phắt cây bút khỏi tay ông, bẻ vụn ra, ném mạnh xuống đất, rồi bấu chặt vào vai ông, hỏi bằng giọng khản đặc:
- Cậu đã làm gì nàng rồi hả? Nàng ở đâu?
Bỗng xảy ra một điều đáng ngạc nhiên. Chính con người mảnh mai có vẻ ẻo lả kia chợt chộp lấy tay chàng lực sĩ trẻ tuổi đang bấu chặt vào vai ông, rồi tiếp đó, nắm cả bàn tay thứ hai của chàng và bóp chặt cả hai tay trong một bàn tay cứng như kìm sắt của mình, ông nói:
- Chỉ về buổi sáng thì ta mới là kẻ bán thân bất toại thôi, còn ban chiều thì ta lấy lại được sự dẻo dai thuở trước. Anh cứ thử rút tay ra xem nào. Chắc là một thằng thợ dệt đã dạy thể dục cho anh, còn một tên thợ rèn thì dạy cách xử sự.
Trên mặt ông không thể nhận thấy một nét giận dữ nào, riêng trong đôi mắt vụt ánh lên một tia sáng can trường và kiên nghị. Lát sau, ông buông hai tay Vinixius ra, chàng đứng trước mặt ông, vừa bẽ bàng xấu hổ vừa phẫn nộ.
- Cậu có bàn tay thép thật đấy, - chàng bật ra, - nhưng thề có tất cả các hung thần, nếu cậu phản tôi, tôi sẽ thọc cho cậu một nhát dao vào cổ, cho dù ngay giữa các phòng của hoàng cung đi chăng nữa.
- Ta hãy bình tĩnh mà nói chuyện với nhau nào - Petronius đáp - Thép mạnh hơn sắt như anh đã thấy, nên dù cho từ một tay anh có thể làm ra hai tay ta chăng nữa ta cũng chẳng cần phải sợ anh đâu. Song ta lấy làm đau xót vì sự thô bạo của anh, và giá như lòng vô ơn của loài người còn có thể khiến ta ngạc nhiên thì hẳn ta sẽ phải ngạc nhiên vì sự vô ơn bạc bẽo của anh đấy.
- Ligia đang ở đâu?
- Trong nhà thổ, nghĩa là trong cung Hoàng đế.
- Cậu Petronius!
- Hãy bình tĩnh lại và ngồi xuống đã nào. Ta đã xin với Hoàng đế hai điều và Người đã ưng thuận: thứ nhất là đưa Ligia ra khỏi nhà ông bà Aulux, thứ hai là đã trao trả nàng lại cho anh. Anh có giấu lưỡi dao găm nào dưới những nếp áo choàng kia không đấy? Anh sẽ đâm ta chăng? Ta khuyên anh hãy cố chờ vài hôm, nếu không anh sẽ bị nhốt vào nhà tù trong khi nàng Ligia phải buồn chán ở nhà đấy.
Im lặng. Vinixius giương mắt kinh ngạc nhìn chằm chằm vào Petronius hồi lâu, mãi sau chàng mới nói nên lời:
- Xin cậu hãy tha lỗi cho cháu. Cháu yêu nàng, tình yêu đã làm cho cháu quẫn trí.
- Anh hãy ngạc nhiên vì cậu đây này, Markux ạ. Cậu đã nói với Hoàng thượng thế này: “Thằng cháu thần là Vinixius quá say đắm một đứa con gái gầy đét gầy đe được nuôi dưỡng ở nhà ông Aulux, cứ thở dài thườn thượt đến nỗi nhà của nó gần biến thành nhà tắm hơi! Tâu hoàng thượng, bệ hạ hoặc thần, những người biết rõ thế nào là cái đẹp chân chính, chắc hẳn chẳng thèm bỏ ra đến một nghìn đồng xextexi(1) để mua con bé đó, ấy vậy mà cô nàng lại làm cho cái anh chàng lúc nào cũng ngu như bò đó(2) giờ đây bị mất trí đến tột độ”
- Cậu Petronius!
- Nếu như anh không hiểu nổi ra rằng ta nói thế chẳng qua chỉ vì muốn bảo vệ cho Ligia thôi, thì ta sẵn sàng tin rằng ta đã nói đúng sự thực. Ta đã thuyết phục được gã Râu Đỏ rằng một người sành thẩm mĩ như y không thể nào xem một đứa con gái như thế kia là trang giai nhân được, còn Nerô, kẻ cho tới nay chưa hề dám nhìn nhận bất cứ cái gì không thông qua đôi mắt của ta, sẽ không nhận ra nàng là giai nhân, và nếu không nhận ra thì y sẽ không đòi hỏi nàng nữa. Ngay cả đối với khỉ cũng phải biết phòng thân và buộc dây dắt nó đi. Giờ thì không phải y, mà chính Poppea mới là người sẽ nhận ra giá trị của Ligia, và tất nhiên cô ả sẽ tìm mọi cách tống khứ nàng ra khỏi cung điện càng sớm càng tốt. Ta còn nói với Râu Đỏ, vẻ như hờ hững rằng: “Xin người hãy bắt lại Ligia và ban cho Vinixius. Bệ hạ có quyền làm như thế, vì cô gái đó là một con tin, bệ hạ mà làm thế sẽ khiến cho lão già Aulux phải đau lắm đấy!” Và thế là y đồng ý. Y không có lý do gì dù là nhỏ nhất để không đồng ý một khi ta đã gà cho y cách thức để hành hạ những con người lương thiện. Người ta sẽ biến anh thành một tên lính canh theo công vụ cho cô nàng con tin kia, người ta sẽ ấn vào tận tay anh cái kho báu nọ của xứ Ligia, còn anh, vừa như một kẻ đồng minh với những người Ligi can trường lại vừa là một tên đầy tớ trung thành của hoàng đế, anh sẽ không những không đánh xoáy chút gì từ cái kho báu ấy, mà còn cố gắng làm cho nó đầy thêm. Hoàng đế sẽ vờ giữ nàng vài ngày trong cung cho phải lẽ, sau đó sẽ gửi nàng tới dinh thự của anh thôi, hỡi anh chàng nhiều diễm phúc ạ!
- Thật thế ư cậu? Không có điều gì đe dọa nàng trong hoàng gia chứ?
- Nếu như nàng phải ở đó vĩnh viễn, hẳn Poppea sẽ nói chuyện với nàng về Lokuxta đấy, nhưng trong vòng vài ngày thì sẽ chẳng có điều gì đe dọa nàng cả. Trong cung Hoàng đế có tới mười nghìn người kia mà! Thậm chí rất có thể là Nerô sẽ không trông thấy nàng nữa kia, hơn nữa, y đã tin cẩn giao hoàn toàn chuyện này cho ta đến nỗi, vừa mới rồi, một tên xenturion đến gặp ta báo tin rằng đã đưa nàng vào cung và giao tận tay Akte. Akte là một người tốt nên ta mới giao cô gái cho nàng. Chắc là Pomponia Grexyna cũng nghĩ như thế, vì chính bà cũng viết thư cho Akte. Mai sẽ có yến tiệc tại nhà Nerô. Ta đã dành trước cho anh chỗ nằm cạnh Ligia rồi đó.
- Xin hãy tha tội vì cháu đã quá nóng nảy, thưa Kafu - Vinixius nói - Thế mà cháu lại cứ tưởng rằng cậu đã cướp nàng về cho bản thân mình hoặc dâng cho Hoàng đế kia chứ.
- Cậu có thể bỏ qua cho anh tính nóng nảy, nhưng khó lòng tha thứ những cử chỉ quê mùa cục mịch, những tiếng kêu la lỗ mãng, cũng như giọng nói giống tiếng bọn hạ lưu đang chơi đoán ngón tay ăn tiền. Cậu không thích những cái đó chút nào hết, Marek ạ, anh hãy lưu ý hộ điều ấy. Hãy nhớ rằng chủ nhà chứa của Hoàng đế là gã Tygelinux, và cũng nên biết rằng, nếu cậu muốn giành lấy cô gái ấy về cho bản thân mình thì ngay lúc này đây, cậu vẫn hoàn toàn có thể nhìn thẳng vào mắt anh mà tuyên bố rằng: “Này Vinixius, ta lấy nàng Ligia của ngươi, và sẽ giữ nàng cho tới khi chán thì thôi.”
Vừa nói, ông vừa chiếu thẳng đôi đồng tử màu hạt dẻ của mình vào mắt Vinixius với vẻ lạnh lùng và táo tợn, còn chàng trai thì vô cùng bối rối.
- Lỗi tại cháu - chàng nói - Cậu thật tốt bụng và nhiều ân đức, cháu xin cảm ơn cậu với tất cả tấm lòng thành. Chỉ xin cậu cho phép cháu được hỏi một câu nữa thôi: Sao cậu không ra lệnh đưa thẳng Ligia về nhà cháu có hơn không?
- Bởi Hoàng đế muốn giữ lấy cái bề ngoài mà! Về chuyện này, cả thành Roma người ta sẽ nói rằng chúng ta bắt Ligia đi với tư cách là một con tin, nên khi nào người ta còn nói thế thì nàng còn lưu lại trong cung tạm đã. Sau đó, sẽ lặng lẽ gửi nàng cho anh, và thế là xong mọi chuyện. Gã Râu Đỏ là một con chó hèn nhát. Y biết rằng quyền lực của y là vô biên, vậy mà y vẫn cố gắng che đậy cho từng hành vi nhỏ nhặt nhất của mình. Anh đã nguội bớt đến độ có thể triết lý chút ít được chưa. Chính cậu đôi khi cũng suy nghĩ, là tại sao tội ác - dù là hùng mạnh như Hoàng đế và chắc chắn là y sẽ không bị trừng phạt - bao giờ cũng cố tìm cách che đậy bằng một cái vỏ ngoài hợp pháp, công minh và đức hạnh?… Sao phải lao tâm khổ tứ như vậy làm gì? Cậu cho rằng việc giết em trai, giết mẹ và giết vợ là hành động của một tiểu vương nào đó ở Á châu chứ không xứng với một vị Hoàng đế La Mã. Nhưng nếu như việc đó xảy ra với cậu thì cậu sẽ không thèm viết những bức thư biện minh trần tình gửi cho Nguyên lão viện làm gì… Ấy vậy mà Nerô lại viết, Nerô tìm cớ vì Nerô là thằng hèn. Nhưng còn Tyberius không phải là một kẻ hèn nhát, sao ông ta cũng tìm cách biện minh cho từng hành vi của mình? Tại sao lại như vậy? Kỳ quặc thay những lễ nghi tùy tiện mà cái ác dâng lên cho Đạo đức. Anh có biết cậu nghĩ sao không? Cậu cho rằng sở dĩ như vậy bởi vì hành vi thì xấu xa đấy nhưng đạo đức thì lại đẹp. Ergo(3), người duy mĩ chân chính mới quả thật đúng là con người đạo đức chân chính. Ergo, cậu đây cũng là một con người đạo đức. Ngày hôm nay, cậu phải đổ một ít rượu nho dâng cho hương hồn của Protagor, Prodyk và Gorgiax mới được. Té ra, ngay cả bọn theo đạo xufi cũng có ích đấy nhỉ. Anh hãy nghe cậu nói tiếp đây này. Cậu đã cướp Ligia của ông bà Aulux để mang về cho anh. Được lắm! Nhưng Lizyp sẽ có thể tạc cả hai anh chị thành một nhóm tượng tuyệt vời. Cả hai đều đẹp, vậy thì cả cái hành động của cậu cũng tuyệt đẹp, mà đã là tuyệt đẹp thì không thể nào là độc ác được. Hãy trông đây này, Marek, ngồi trước mặt anh chính là Đạo đức trong hình hài của ngài Petronius đấy. Giá như Aryxtydex còn sống, chắc chắn ông ta sẽ phải tới gặp cậu, xin trả cậu một trăm min(4) để được bài học luân lý ngắn này đây!
Nhưng Vinixius vốn là người quan tâm đến thực tế hơn là những bài học luân lý, chàng bèn nói:
- Ngày mai cháu sẽ được gặp Ligia, rồi sau đó, cháu sẽ có nàng ngày ngày tại nhà cháu, mãi mãi, cho đến chết!
- Anh sẽ có được Ligia, còn cậu sẽ phải gánh chịu ông Aulux trên đầu đây. Ông ta sẽ cầu tất cả các vị thần ở âm ty địa ngục trả thù cậu. Nếu như ít ra trước nhất con thú dữ ấy chịu khó học lấy một bài học cho ra trò về phép xướng ngâm đã nhỉ!… Ông ta sẽ chửi cậu hệt như một thằng gác cổng nhà cậu chửi các khách hàng của cậu, chính vì tội đó, cậu đã tống hắn về nông thôn chịu khổ hình đấy.
- Ông Aulux đến chỗ cháu. Cháu hứa sẽ gửi tin tức Ligia về cho ông ta hay.
- Hãy viết cho ông ta rằng ý chí của vị hoàng đế “thiêng liêng” là luật lệ cao cả nhất, và rằng đứa con trai đầu lòng của anh sẽ được đặt tên là Aulux(5). Phải làm sao cho ông lão cũng có chút an ủi mới được. Cậu sẵn sàng yêu cầu Râu Đỏ với ông lão ngày mai tới dự tiệc. Hãy để cho ông lão được trông thấy anh bên cạnh Ligia trong phòng tiệc.
- Xin cậu chớ làm điều đó, - Vinixius nói - Dù sao cháu vẫn thấy thương họ, nhất là bà Pomponia.
Và chàng ngồi xuống để viết bức thư, bức thư đã tước đi của vị lão tướng niềm hi vọng cuối cùng.
Chú thích:
(1) Xextexi (Xexterxiux): đồng tiền bằng bạc hay bằng đồng, được sử dụng ở Cổ La Mã từ thế kỷ thứ ba tcn đến thế kỷ thứ III scn, giá trị bằng 2,5 đồng ax
(2) Nguyên văn: ngốc như một cái giá ba chân (thành ngữ Ba Lan chỉ sự đần độn)
(3) Do đó, vậy thì (La tinh)
(4) Min: đơn vị tiền tệ bằng 100 đồng đrăcma (đrăcma là đơn vị tiền tệ Hi Lạp xưa và nay)
(5) Người châu Âu có phong tục lấy tên những người được họ kính yêu đặt cho con.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-07 12:03:05Ct.Ly>
CHƯƠNG 7
Đã có thời những cái đầu cao ngạo nhất của thành Roma từng cúi thấp trước Akte, người tình xưa của Nerô. Song ngay cả hồi ấy nàng cũng không hề muốn can dự vào chuyện xã hội, và nếu như có khi nào đó nàng sử dụng ảnh hưởng của mình đối với kẻ cầm quyền trẻ tuổi ẩy, thì chẳng qua cũng chỉ để cầu xin lòng thương cho một ai đó mà thôi. Lặng lẽ và nhún nhường, nàng được nhiều người hàm ơn mà chẳng biến kẻ nào thành thù địch với mình. Thậm chí, đến Oktavia cũng không thể thù ghét nàng. Đối với những kẻ hay ghen, nàng không có vẻ gì nguy hiểm cả. Về nàng, ai cũng biết rằng bao giờ nàng cũng yêu Nerô bằng một tình yêu buồn bã và đau đớn, một tình yêu không còn được nuôi sống bởi niềm hi vọng nữa, mà chỉ bằng hồi ức về những giây phút, khi cái gã Nerô ấy không chỉ còn trẻ hơn, còn yêu thương nàng, mà còn tương đối tốt bụng. Người ta cũng biết rằng nàng không thể dứt khỏi tâm linh và đầu óc những hồi ức ấy, song nàng chẳng hề chờ đón điều gì nữa cả, rằng quả thực không cần phải lo là Hoàng đế sẽ quay trở lại với nàng, người ta nhìn nàng như nhìn một sinh linh không hề có vũ khí tự vệ, và vì thế người ta để cho nàng được yên ổn. Poppea xem nàng là một người đầy tớ lặng lẽ và vô hại, đến nỗi ả không thèm yêu cầu đuổi nàng ra khỏi hoàng cung nữa.
Song, vì rằng đã có thời Hoàng đế yêu nàng, rồi bỏ rơi nàng không một chút ác cảm, một cách rất thản nhiên, - thậm chí có vẻ thân thiện nữa - nên người ta vẫn còn giữ lại cho nàng một ít đặc ân. Khi giải phóng nàng, Nerô cho nàng một tư thất riêng trong cung điện, trong đó có một phòng ngủ nhỏ cùng một nhúm kẻ hầu người hạ. Rồi vì có thời Palax và Narxyz, mặc dù là những nô lệ mới được hoàng đế Klauđius giải phóng, song không những được cùng ngồi dự các yến tiệc với Klauđius mà còn được chọn cho mình chỗ tốt vì là những đại thần có uy thế, nên thỉnh thoảng người ta cũng mời Akte ngồi cùng bàn với Hoàng đế. Người ta làm thế có lẽ vì dáng người tuyệt đẹp của nàng quả là thứ đồ trang sức chân chính cho bữa yến tiệc. Mà nói cho cùng, từ lâu Hoàng đế đã bỏ qua việc đắn đo cân nhắc trong khi lựa chọn bạn bè. Ngồi cùng bàn với Ngài là một mớ hỗn tạp đa dạng nhất của đủ mọi hạng người. Trong đó có mặt các vị nguyên lão, nhưng chủ yếu là những kẻ cam chịu làm thêm nghề hề nữa. Có mặt các vị quý tộc già và trẻ, thèm khát lạc thú, xa hoa và tiêu phí. Thường có mặt đám đàn bà mang những tên họ quyền quý nhưng đến đêm lại không ngần ngại đội lên đầu những bộ tóc giả đã phai màu đi tìm lạc thú giải trí trên các đường phố tối tăm. Cũng thường có cả mặt những vị quan chức cao cấp cùng các tăng lữ, những kẻ mà hễ ngồi bên hồ rượu đầy là lại rất vui lòng đích thân giễu cợt các vị thần thánh của mình, bên cạnh họ là đủ các loại tiện dân, gồm bọn xướng ca, kịch câm, nhạc công, vũ công và vũ nữ, đám thi sĩ mà khi xướng ngâm thi ca chỉ mơ tới những đồng xextexi sẽ được người ta ném xuống để thưởng công tán tụng những vần thơ của Hoàng đế, các nhà triết - học - ma - đói dõi mắt thèm thuồng nhìn các món ăn được bưng qua, và rốt cuộc, cả đám đánh xe đua nổi danh, bọn thầy tuồng, đám làm trò ảo thuật, lũ hề, bọn trefnix, cùng đủ mọi hạng quan tước được phong theo mốt hay do sự ngu xuẩn, hợp thành một đám người thời - thượng - phong - lưu - trong - vòng - một - ngày, trong số đó, không thiếu chi những kẻ cố dùng bộ tóc dài để giấu đi cặp dái tai bị đục thủng - dấu hiệu của nô lệ.
Những người nổi tiếng hơn được ngồi vào bàn tiệc, còn những kẻ kém thứ bậc thì giúp vui trong tiệc và chờ đợi giây phút lũ gia nhân cho phép chúng được lăn xả vào phần thừa của những món đồ ăn thức uống. Khách khứa thuộc loại này do Tygelinux và Vetelius cung cấp, và thường thường, họ còn buộc phải cung cấp luôn cả cho đám khách này những loại quần áo thích hợp với phòng khách của Hoàng đế; vả chăng, họ cũng rất thích đám khách ấy, vì sống giữa chúng, họ cảm thấy hết sức thoải mái. Sự xa hoa của cung đình dát vàng lên mọi thứ, làm cho tất cả đều được ánh lên. Đại nhân và tiểu nhân, đám con cháu của những dòng họ thế phiệt trâm anh cùng lũ vô lại đường phố, các nghệ sĩ lớn cùng lũ bòn mót được chút tài mọn, chen vai thích cánh nhau len vào hoàng cung để được trố mắt ngưỡng mộ sự xa hoa gần như vượt quá sức tưởng tượng của con người và được men tới gần kẻ ban phát mọi thứ ân sủng, của cải và tài sản, kẻ mà chỉ cần một lần ngự lãm cũng có thể hạ thấp họ xuống hoặc nâng họ lên cao tột cùng.
Ngày hôm ấy, cả Ligia cũng phải tham dự vào một bữa yến tiệc tương tự như thế. Nỗi sợ hãi, sự phấp phỏng, sự phẫn uất dễ hiểu sau bước ngoặt bất ngờ cùng ý muốn chống đối giằng co nhau trong lòng nàng. Nàng sợ Hoàng đế, hãi mọi người, ngại cái hoàng cung mà tiếng huyên náo khiến nàng loạn trí, sợ những bữa yến tiệc mà về sự tởm lợm của chúng nàng đã từng được nghe ông Aulux, bà Pomponia Grexyna và bạn bè của họ nói tới. Dẫu hãy đang còn là một thiếu nữ ít tuổi song nàng không phải là kẻ chưa hiểu biết gì, bởi vì vào thời ấy, ý niệm về cái ác từ rất sớm đã tác động ngay cả đến tai của lũ trẻ thơ. Vì vậy, nàng hiểu rằng, trong cung điện này, nàng bị đe dọa bị thất thân, điều mà bà Pomponia đã dặn nàng phải đề phòng lúc biệt ly. Song với một tâm hồn trẻ trung chưa hề biết đến sự hư đốn, lại được giác ngộ cái giáo lý cao siêu do bà mẹ nuôi truyền thụ, nàng nguyện sẽ tự vệ chống lại sự thất thân ấy; nàng thề với mẹ, với bản thân nàng và với Người Thầy Thiêng Liêng nọ, người mà nàng không những chỉ tin tưởng mà còn kính yêu bằng cả trái tim non trẻ của mình bởi vị ngọt ngào của giáo lý, vị cay đắng của cái chết và áng ngợi ca của sự phục sinh.
Nàng cũng biết chắc rằng, giờ đây cả ông Aulux lẫn bà Pomponia Grexyna sẽ không phải chịu trách nhiệm gì nữa về những hành động của nàng, nàng nghĩ không hiểu có nên cưỡng lệnh mà không đi dự tiệc hay chăng. Trong lòng nàng, một bên là nỗi sợ hãi và sự lo âu lớn tiếng than vãn, còn bên kia lại nảy sinh ý muốn được thể hiện lòng can đảm, ý chí chịu đựng, dám dấn thân vào cực hình và chết chóc. Vả chăng, chính Thầy Thiêng Liêng cũng đã dạy nàng như thế. Chính Người đã làm gương trước hết. Bà Pomponia kể cho nàng nghe là những kẻ thành tâm nhất trong số các tín đồ hết lòng khát khao có được một sự thử thách như thế, họ cầu nguyện để được chịu thử thách. Ngay chính Ligia, hồi còn ở nhà ông bà Aulux cũng đã nhiều lần từng bị nỗi khao khát ấy ngự trị. Nàng tưởng thấy mình là một kẻ tử vì đạo, với những vết thương trên cánh tay và bàn chân trắng toát như tuyết, với một vẻ đẹp thiên giới tuyệt vời, được các vị thiên sứ cũng màu trắng tinh khiết như thế đưa dẫn lên chốn thẳm xanh; trí tưởng tượng của nàng thường thích hình dung ra những cảnh tương tự như thế. Trong đó có nhiều phần mơ ước trẻ thơ, song cũng pha chút lòng tự tôn do bà Pomponia truyền thụ cho. Giờ đây, khi việc cưỡng chống lại ý chí của Hoàng đế có thể sẽ mang lại sự trừng phạt khủng khiếp, khi những cực hình mà nàng hằng hình dung trong mơ ước có thể sẽ được biến thành sự thực, thì thêm vào những viễn cảnh tuyệt đẹp và sự ham muốn ấy còn có một nỗi tò mò - pha lẫn hãi hùng - nào đó, không hiểu người ta sẽ xử tội nàng ra sao đây, sẽ nghĩ ra cho nàng những thứ cực hình nào đây?
Cứ thế, tâm hồn hãy còn nữa phần trẻ thơ của nàng dao động giữa hai phía. Còn Akte, khi được biết những dao động đó, liền kinh ngạc nhìn nàng, cứ như nàng đang nói trong cơn mê sảng vậy. Chống lại ý muốn của Hoàng đế? Ngay từ đầu đã làm Người nổi giận? Phải là một đứa trẻ con chưa hiểu những điều mình nói mới định làm việc đó. Cứ theo lời Ligia thì nàng đâu phải là một con tin, mà chỉ là một thiếu nữ bị dân tộc mình bỏ rơi. Chẳng hề có thứ luật lệ nào giữa các dân tộc che chở cho nàng cả, mà dù có đi chăng nữa, thì một khi đã nổi cơn thịnh nộ, Hoàng đế cũng đủ hùng mạnh để chà đạp lên thứ luật lệ ấy. Hoàng đế thích thì bắt nàng mang về cung, và kể từ giờ trở đi, Người muốn sai khiến nàng thế nào tùy thích. Kể từ giờ, nàng chỉ còn cái quyền lệ thuộc vào ý chí của Hoàng đế, không một ý chí nào khác vượt nổi lên trên.
- Phải, - nàng nói tiếp - chính chị cũng từng đọc những bức thư của Đức Paven xứ Tarxu, chị hiểu rằng ở bên trên trái đất có Đức Chúa và con Chúa, người đã được sống lại, nhưng còn trên mặt đất thì chỉ có mỗi mình Hoàng đế mà thôi. Em hãy nhớ lấy điều ấy, Ligia ạ! Chị cũng hiểu rằng, giáo lý của em không cho phép em trở thành một kẻ như chị đã từng phải trải qua, rằng các em cũng giống như những người khắc kỷ mà Epiktet đã từng kể cho chị nghe, chỉ được phép chọn cái chết mà thôi, một khi cần phải lựa chọn giữa cái chết và sự ô nhục. Nhưng làm sao em lại dám chắc rằng chỉ có một cái chết đang chờ đón em chứ không phải là sự ô nhục? Em có nghe chuyện con gái của Xeyan, một đứa con gái hãy còn nhỏ, mà theo lệnh của Tyberius, để tuân theo đúng luật lệ quy định cấm xử tội chết đối với gái trinh, đã phải chịu nhục rồi mới được chết hay chăng? Ligia, Ligia em, chớ nên khiêu khích Hoàng đế! Đến giây phút quyết định, khi em phải lựa chọn giữa sự ô nhục và cái chết thì em có thể hành động theo như Chân lý của em chỉ lối, nhưng em chớ đi tìm cái chết và đừng vì một nguyên cớ vẩn vơ nào đó mà khiêu khích vị chúa tể vô cùng tàn bạo ấy của trái đất.
Akte nói với một tình thương yêu rất lớn lao và thậm chí rất sôi nổi, và vì rằng hơi cận thị nên nàng ghé sát khuôn mặt ngọt ngào của mình vào khuôn mặt Ligia như muốn theo dõi xem lời nói của mình gây nên ấn tượng như thế nào cho cô gái.
Ligia quàng tay ôm ghì lấy cổ nàng bằng một sự tin cẩn trẻ thơ và nói:
- Chị tốt quá, chị Akte ạ.
Đón nhận lời khen và lòng tin cẩn, Akte ôm chặt cô gái vào ngực mình, rồi gỡ tay của Ligia ra, nàng đáp:
- Hạnh phúc của chị đã qua đi, cả tình yêu cũng qua đi rồi, nhưng chị không phải là kẻ xấu bụng đâu em ạ.
Rồi bước những bước gấp gáp trong phòng, nàng nói với chính mình, vẻ gần như tuyệt vọng:
- Không! Cả chàng nữa cũng không phải là người xấu! Hồi đó, chính chàng cũng từng nghĩ rằng chàng tốt và mong muốn được là người tốt. Chị biết rõ mà. Còn tất cả những chuyện kia mãi sau này mới có… khi chàng không còn yêu nữa… Chính những kẻ khác đã khiến cho chàng trở thành như hiện nay - chính bọn chúng và ả Poppea!
Hàng mi nàng đẫm lệ. Ligia đưa cặp mắt xanh thẳm theo dõi nàng một lúc lâu, mãi sau nàng mới lên tiếng:
- Chị hãy còn tiếc nuối ngài ư, chị Akte?
- Chị tiếc chứ! - cô gái Hi Lạp âm thầm đáp lại
Rồi nàng lại bắt đầu bước đi, với hai tay nắm xiết chặt dường như đau đớn, với vẻ mặt bất lực.
Ligia rụt rè hỏi tiếp:
- Chị vẫn còn yêu Ngài ư, chị Akte?
- Yêu…
Rồi lúc sau nàng nói thêm:
- Ngoài chị ra không một ai yêu chàng cả.
Im lặng bao trùm. Akte cố gắng lấy lại sự bình tĩnh đã bị những hồi ức làm xáo động, mãi sau, nét mặt nàng mới có lại được nét ưu tư lặng lẽ thường nhật, nàng bảo:
- Ligia ơi, ta hãy nói về em nhé! Em chớ nghĩ tới chuyện cưỡng chống Hoàng đế làm gì. Đó chỉ là chuyện điên khùng mà thôi. Xin em hãy bình tâm lại đã. Chị hiểu rõ cái nhà này lắm, chị cho rằng về phía Hoàng đế thì chẳng có chuyện gì đe dọa em đâu. Nếu như Nerô ra lệnh bắt cóc em về cho Người thì hẳn Người đã chẳng ra lệnh mang em về cung điện Palatyn này làm chi. Ở đây, Poppea cai quản; còn Nerô, từ khi ả ta sinh hạ cho Người được một đứa con gái, lại càng bị lệ thuộc vào ả ta hơn… Không, Nerô quả có ra lệnh cho em phải có mặt trong bữa tiệc, nhưng cho tới nay, Hoàng thượng chưa hề trông thấy mặt em cũng chẳng hề hỏi han gì về em cả, vậy không phải là Người muốn em đâu. Có thể Người chỉ bắt em về do tức giận gì ông Aulux và bà Pomponia… Ngay Petronius có viết thư cho chị nhờ chị chăm sóc em, và cả bà Pomponia cũng viết cho chị - như em biết đấy - vậy có lẽ họ đã thỏa thuận với nhau. Cũng có thể ngài Petronius làm chuyện ấy theo lời yêu cầu của bà Pomponia. Nếu vậy, nếu đúng là cả ông ta cũng chăm lo tới em theo yêu cầu của bà Pomponia, thì sẽ chẳng có gì đe dọa em cả, và biết đâu được, có khi cả Nerô cũng sẽ bị ông ta thuyết phục lại trả em về với ông bà Aulux cũng nên. Chị không biết Nerô có yêu ông ta lắm không, nhưng chị biết rằng rất ít khi Người dám có ý kiến ngược với ông ta.
- Ôi, chị Akte! - Ligia đáp - Ngài Petronius đến nhà em trước khi bọn chúng bắt em đi, mẹ em thì lại nghĩ rằng sở dĩ Nerô đòi trả em là do sự xui khiến của ông ta đấy.
- Nếu thế thì hỏng, - Akte nói.
Nhưng sau khi suy nghĩ hồi lâu, nàng lại tiếp:
- Cũng có thể trong một bữa tối nào đó, Petronius đã vô tình kể cho Nerô rằng đã gặp ở gia đình Aulux một thiếu nữ con tin của dân Ligi, còn Nerô, vốn là người hay động lòng về quyền lực của mình, bèn đòi phải giao trả em, vì con tin là thuộc quyền Hoàng đế. Thêm nữa, Người cũng chẳng ưa gì ông Aulux và bà Pomponia. Không! Chị vẫn không thể nghĩ rằng vì muốn đoạt em từ tay ông bà Aulux mà ông Petronius lại dùng cách ấy. Chị không hiểu ông Petronius có tốt hơn những kẻ xun xoe chung quanh Hoàng đế hay không, song ông ta khác hẳn bọn chúng… Cùng lắm ngoài ông ta ra, có thể em còn thấy ai khác nữa muốn đứng ra bênh vực em chăng? Hồi ở nhà Aulux em có quen ai trong số các cận thần của Hoàng đế hay không?
- Em thường gặp ngài Vexpazian và Tylux.
- Hoàng đế chẳng ưa họ đâu.
- Cả ngài Xeneka nữa.
- Ngài Xeneka mà khuyên một đằng thì chắc chắn Nerô lại làm một nẻo.
Khuôn mặt trong sáng của Ligia chợt ửng hồng:
- Và chàng Vinixius.
- Chị không biết anh ta.
- Chàng là một người bà con của Petronius mới từ Acmênia trở về.
- Thế em có nghĩ là Hoàng đế thích anh ta không?
- Mọi người ai cũng yêu mến Vinixius.
- Còn anh ta thì muốn bênh vực em?
- Vâng ạ.
Akte mỉm cười âu yếm:
- Thế thì chắc em sẽ được gặp mặt chàng trong bữa tiệc. Em phải có mặt trong bữa tiệc, trước hết vì em buộc phải thế… Chỉ có một đứa trẻ như em mới dám nghĩ khác mà thôi. Thứ hai, nếu em muốn được trở về nhà ông bà Aulux thì trong tiệc em hãy tìm cách khẩn cầu ngài Petronius và chàng Vinixius, để bằng ảnh hưởng của mình, họ xin cho em được phép quay về nhà. Nếu có mặt ở đây, họ cũng sẽ nói với em như chị nói, rằng thật là điên rồ và cầm chắc cái chết nếu định chống lại. Rất có thể Hoàng đế sẽ không lưu ý đến sự vắng mặt của em, song nếu như Người nhận thấy và nghĩ rằng em cố tình dám chống lại ý chí của Người, thì không còn gì cứu nổi em nữa. Đi nào, Ligia. Em có nghe tiếng ồn ào trong nhà đấy không? Mặt trời đang xuống thấp rồi, chẳng mấy chốc khách khứa sẽ bắt đầu kéo tới đấy.
- Chị nói phải, chị Akte ạ, - Ligia đáp - em sẽ làm theo lời khuyên của chị.
Thật ra, chính bản thân Ligia cũng không hiểu rõ bao nhiêu phần trong cái quyết định đó là ý muốn được gặp Vinixius và ông Petronius, còn bao nhiêu phần là sự tò mò của phụ nữ muốn có một lần trong đời được trông thấy một bữa yến tiệc, trong ấy có mặt cả Hoàng đế, các triều thần, cả nàng Poppea lừng danh cùng bao nhiêu trang tuyệt thế giai nhân khác, thấy cảnh xa hoa vô kể được người ta đồn đại như chuyện thần thoại ở Roma. Song Akte có lý theo cách nghĩ của mình, và cô gái cảm thấy rõ điều đó. Cần phải đi, nên khi sự bắt buộc và lý chí thuần túy cùng ủng hộ cho niềm ham muốn ngấm ngầm thì nàng không còn do dự gì nữa.
Akte dẫn cô gái đến buồng trang điểm riêng của mình để xức dầu thơm và thay đổi y phục, và mặc dù trong cung chẳng thiếu chi nô tỳ, bản thân Akte cũng có riêng nhiều kẻ hầu người hạ, nhưng đồng cảm với cô gái mà sự trong trắng và sắc đẹp đã chinh phục trái tim nàng, Akte quyết định tự mình trang điểm cho thiếu nữ. Và hóa ra, mặc dù nàng đang mang nỗi u buồn, dù nàng đã từng được đọc những bức thư của Đức Paven xứ Tarxu, người phụ nữ Hi Lạp trẻ trung này vẫn mang nhiều nét tâm hồn Helena thuở trước, đối với tâm hồn ấy, cái đẹp của cơ thể có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn hẳn mọi thứ khác trên đời. Sau khi cởi bỏ xiêm y cho Ligia, nhìn thấy hình vóc vừa mảnh mai vừa đầy đặn, dường như được tạc bằng ngọc trai và hoa hồng của cô gái, nàng không kìm nổi một tiếng kêu kinh ngạc, vừa lùi lại mấy bước, nàng đắm đuối ngắm nhìn thân thể thanh xuân khôn sánh ấy:
- Ligia! - mãi sau nàng mới thốt lên, - em còn đẹp hơn Poppea gấp trăm lần!
Còn thiếu nữ, được dạy dỗ trong ngôi nhà nghiêm khắc của bà Pomponia, nơi người ta gìn giữ sự kín đáo ngay cả khi chỉ còn toàn phụ nữ với nhau, nàng đứng đó - tuyệt vời như một giấc mộng đẹp tuyệt vời, hài hòa như một tác phẩm của Prakxytelex, như một khúc ca, song bối rối, ửng hồng vì hổ thẹn, hai đầu gối khép chặt lại, đôi cánh tay ôm vòng che lấy ngực và hàng mi hạ xuống. Rồi đột ngột, nàng vươn tay lên, rút ra những chiếc trâm giữ tóc, và chỉ trong một giây, bằng một cái lắc đầu, mái tóc nàng đã như một tấm áo choàng che kín lấy thân thể.
Akte liền tiến lại gần, sờ tay vào những lọn tóc màu sẫm của nàng và nói:
- Ô, tóc của em mới tuyệt vời làm sao chứ! Chị sẽ chẳng cần rắc phấn vàng lên tóc làm gì, tự nó cũng đã có ánh vàng ở những chỗ lượn sóng rồi. Có thể chị sẽ điểm xuyết thêm đôi chút ánh vàng ở chỗ này chỗ nọ, nhưng chỉ thật nhẹ thôi, thật nhẹ để như có ngọn lửa làm sáng óng thêm làn tóc. Quê hương Ligi của các em hẳn phải tuyệt vời lắm mới có thể sản sinh ra những người con gái như em.
- Em không còn nhớ được gì về quê hương cả, - Ligia đáp - Bác Urxux kể với em rằng quê em toàn rừng, rừng và rừng.
- Trong rừng thì nở đầy hoa, - Akte vừa nói vừa nhúng tay vào chiếc lọ chứa đầy mã tiên thảo và xoa lên tóc Ligia.
Làm xong việc ấy, nàng bắt đầu dùng dầu thơm A Rập xoa rất nhẹ nhàng lên toàn thân Ligia, rồi tiếp đó, mặc cho cô gái một chiếc áo tunica không tay màu vàng mềm mại, để bên ngoài sẽ mặc thêm một áo dài peplum màu trắng như tuyết nữa. Song vì trước đó còn phải chải tóc nên nàng khoác lên người con gái một cái áo choàng rộng, gọi là synthesis, đặt cô ngồi lên ghế cho đám nữ tỳ phục dịch và đứng lùi ra xa một quãng để theo dõi việc chải chuốt. Hai thị nữ cùng một lúc mang vào chân cho Ligia đôi hài màu trắng thêu màu chỉ huyết dụ, buộc vào cổ chân trắng nuột nà bằng những dải màu vàng. Khi tóc đã chải xong, người ta mặc cho cô gái một chiếc áo dài peplum tuyệt đẹp có những nếp gấp mềm mại, rồi sau khi đeo cho nàng một chuỗi hạt ngọc trai quanh cổ và điểm thêm chút bụi vàng lên những lượn sóng tóc, Akte mới truyền lệnh trang điểm cho bản thân mình, song suốt trong thời gian ấy, nàng vẫn đưa cặp mắt ngưỡng mộ ngắm nhìn Ligia.
Akte trang điểm xong thì cũng vừa lúc trước cổng chính xuất hiện những chiếc kiệu đầu tiên, cả hai bên bước ra hàng hiên ẩn phía bên, từ nơi ấy thấy rõ cổng chính, dãy hành lang có mái bên trong và khoảng sân có hàng cột bằng cẩm thạch Numiđi vây quanh.
Mỗi lúc thêm nhiều người bước qua dưới vòm cung cao vút của chiếc cổng lớn, bên trên cổng có cỗ xe tứ mã tuyệt vời của Lizyp trông như đang đưa thần Apolon và nữ thần Điana bay lên khoảng không. Mắt Ligia choáng ngợp trước một cảnh tượng kỳ thú, một cảnh tượng mà ngôi nhà của ông Aulux không thể mang lại cho nàng một chút ý niệm nào cả. Lúc ấy, mặt trời đang lặn, và những tia sáng cuối cùng của hàng cột khiến chúng sáng ánh lên như bằng vàng thật đồng thời lại ngả sang sắc hồng hồng. Giữa các cột bên cạnh những pho tượng màu trắng của các tiên nữ Đinaiđa và tượng các vị thần khác cùng những anh hùng, trôi đi những đám người, đàn ông và đàn bà, trông cũng giống hệt như các pho tượng, bởi lẽ họ cũng khoác những chiếc toga peplum hoặc xola với những nếp gấp mềm mại duyên dáng tuôn dài xuống tận đất, trên đó tắt dần đi ánh mặt trời đang lặn. Pho tượng dũng sĩ Herkulex khổng lồ, đầu vẫn đang ngập trong ánh sáng, nhưng từ ngang ngực trở xuống đã chìm vào bóng râm của hàng cột, đang từ trên cao nhìn xuống đám người đó. Akte chỉ cho Ligia thấy các vị nguyên lão mặc những chiếc toga có viền rộng, những chiếc áo tunica đủ màu và mang hình bán nguyệt trên giầy, các vị hiệp sĩ, các nghệ sĩ nổi tiếng cùng các phu nhân La Mã với trang phục La Mã, y trang Hi Lạp hay trang phục kỳ thú của phương Đông với những mái tóc được cuộn cao thành hình nón, hình kim tự tháp hoặc chải thấp xuống sát đầu theo kiểu các pho tượng của các nữ thần và được tô điểm thêm bằng những đóa hoa. Nhiều người cả đàn ông lẫn đàn bà, được Akte gọi tên kèm theo các mẩu chuyện nho nhỏ, nhiều chuyện thật khủng khiếp, khiến cho Ligia sợ hãi, kinh ngạc và thán phục. Đối với nàng, đấy là cái thế giới kỳ lạ mà vẻ đẹp khiến nàng lóa mắt, nhưng những mâu thuẫn của nó thì trí óc trẻ thơ của nàng không sao tiếp thu nổi. Trong ánh chiều trên bầu trời, giữa những hàng cột bất động khuất dạng về phía sau, giữa đám người trông giống hệt những pho tượng ấy, có một vẻ thanh bình kỳ vĩ nào đó, dường như giữa những khối cẩm thạch thẳng tuột kia chỉ có những vị nửa thần thánh nào đó, không gợn một chút ưu tư, đầy viên mãn và hạnh phúc sinh sống mà thôi, trong khi đó thì giọng nói khẽ khàng của Akte cứ chốc chốc lại vạch trần một điều bí mật kinh khủng nào đó của cái cung điện này, của những con người kia. Này đây, ở phía đằng xa có thể trông thấy hàng hiên ẩn, mà trên các cột và sàn nhà của nó hãy còn đỏ bầm những vết máu của Kaligula bắn tóe lên lên mặt đá cẩm thạch trắng khi bị ngã xuống dưới lưỡi đao của Kaxius Serea, nơi đó người ta đã giết cả vợ của ông ta, nơi đó người ta đập đầu con ông ta vào đá, nơi đó, bên dưới một cánh cửa toà nhà, có chiếc hầm ngầm, trong đó Đruxux - Em đã phải tự gặm cánh tay mình vì quá đói, nơi đó người ta đã đầu độc Đruxux - Anh, nơi đó Gemelux từng phải rú lên kinh hoàng, nơi ấy Klauđius đã giẫy chết, nơi ấy cả Germanik cũng thế. Khắp chốn, những bức tường kia đã từng nghe tiếng rền rĩ và than vãn của những kẻ hấp hối, còn những người lúc này đang vội vã bước vào yến tiệc trong những chiếc áo toga, những chiếc tunica nhiều mầu với muôn sắc hoa và đồ trang sức kia, rất có thể là những kẻ ngày mai sẽ phải chịu tội hình. Có thể trên không ít gương mặt, nụ cười đang che giấu đi nỗi hãi hùng, lo lắng, sự phấp phỏng ở ngày mai, rất có thể chính lúc này đây, cơn sốt của lòng tham lam và ghen tỵ đang sôi lên trong tim những vị nửa thần thánh có bề ngoài không chút ưu tư và đang được ngưỡng mộ ấy. Những ý nghĩ hoảng hốt của Ligia không sao theo kịp những lời kể của Akte, và trong khi thế giới kỳ diệu nọ thu hút mắt nàng mỗi lúc một mạnh hơn, thì con tim nàng càng ngày càng bị nỗi kinh hoàng bóp nghẹt, và trong tâm hồn nàng bỗng trào lên một niềm nhớ tiếc vô biên không thể nói thành lời với bà Pomponia Grexyna, đối với ngôi nhà yên bình của ông bà Aulux, trong đó tình yêu chứ không phải tội ác ngự trị.
Trong khi đó, từ Vieux Apolinix mỗi lúc lại tràn về thêm những làn sóng khách khứa mới. Từ bên ngoài cổng lớn vang vào tiếng huyên náo và những tiếng kêu của dân chúng tiễn theo những người bảo trợ của họ. Khoảng sân trong và các hàng cột tấp nập hàng đàn hàng lũ nô lệ, nô tỳ của Hoàng đế, các tiểu đồng và lính cấm vệ đang canh phòng cung điện. Đây đó, giữa những khuôn mặt da trắng hay xam xám, đỏ rực lên bộ mặt của một người Numiđi với cái mũ trụ cài lông chim và những chiếc khuyên lớn mạ vàng đeo lủng lẳng ở tai. Người ta mang tới những chiếc đàn thi cầm, đàn tranh, hàng bó chồi cây được nuôi trồng nhân tạo dù tiết thu đã muộn, những bó hoa, những cây đèn tay bằng bạc, bằng vàng và bằng đồng. Tiếng ồn của những lời trò chuyện mỗi lúc rộ lên, hoà với tiếng rào rào của vòi phun nước, với những tia nước uốn cong hồng rực ánh chiều rơi từ trên cao xuống mặt đá cẩm thạch và vỡ toé ra trên đó với tiếng như nức nở.
Akte đã ngừng kể, nhưng Ligia vẫn dõi nhìn mãi, dường như đang cố tình tìm ai đó trong các đám đông. Bỗng mặt nàng ửng hồng, Vinixius và Petronius xuất hiện giữa những hàng cột và đang bước về phía phòng tiệc lớn, tươi đẹp, bình thản, và trong những chiếc áo toga của mình, trông họ giống hệt các vị thần màu trắng. Ligia cảm thấy như trút được gánh nặng quá sức khỏi lòng mình, khi mà giữa những kẻ xa lạ, nàng được thấy hai gương mặt quen thuộc và thân ái đó, nhất là khi nàng nhìn thấy Vinixius. Nàng cảm thấy ít cô đơn hơn. Và nỗi nhớ tiếc vô biên về bà Pomponia và ngôi nhà của giòng họ Aulux một phút mới đây vừa trào sôi lên trong lòng nàng bỗng thôi không cào xé nữa. Lòng ham muốn được gặp Vinixius và được trò chuyện cùng chàng át đi những tình cảm khác. Nàng bất lực nhớ lại tất cả những cái xấu xa đã được nghe kể về hoàng gia, cả những lời kể của Akte lẫn những lời dặn dò của bà Pomponia. Song mặc những lời kể chuyện cùng những lời căn dặn ấy, nàng bỗng cảm thấy rằng nàng có mặt trong bữa tiệc này không những chỉ vì bị bắt buộc mà còn chính vì nàng cũng muốn thế nữa; lòng nàng tràn ngập niềm vui sướng khi nghĩ rằng chỉ chốc nữa thôi nàng sẽ được nghe giọng nói có duyên và đáng yêu nọ, cái giọng sẽ nói với nàng về tình yêu và hạnh phúc có thể sánh ngang các vị thần, giọng nói cho tới nay vẫn còn ngân vang trong lòng nàng như một khúc ca.
Chợt nàng lại thấy sợ hãi niềm vui ấy. Nàng cảm thấy hình như chính vào giây phút này đây nàng đang phản bội lại cái giáo thuyết thanh cao mà nàng được giáo huấn, phản bội cả bà Pomponia lẫn bản thân nàng. Bị bắt buộc phải đi dự tiệc là một chuyện, còn vui mừng vì sự bắt buộc ấy là một chuyện hoàn toàn khác. Nàng cảm thấy mình có lỗi, không xứng đáng và lầm lạc. Một nỗi tuyệt vọng tràn ngập trong lòng nàng khiến nàng muốn oà lên khóc. Giá như chỉ có một mình thì hẳn nàng đã quỳ sụp xuống và vừa đập tay vào ngực vừa lặp đi lặp lại: Lỗi tại tôi! Lỗi tại tôi! Song giờ đây, nắm tay nàng, Akte đang dắt nàng qua gian nội cung đi tới phòng ăn lớn, nơi sẽ diễn ra bữa yến tiệc, mắt nàng hoa lên, tai nàng ù đi bởi những xúc động nội tâm, nhịp đập gấp gáp của trái tim khiến nàng nghẹn thở. Như trong mơ, nàng nhìn thấy hàng nghìn đèn nến chập chà chập chờn trên bàn và trên tường, như trong mơ nàng nghe tiếng kêu của mọi người chào đón Hoàng đế, nàng trông thấy Hoàng đế như nhìn qua một lớp sương mờ. Tiếng kêu thét khiến tai nàng ù đặc, ánh sáng làm nàng loá mắt, những mùi hương khiến nàng ngây ngất, và trong trạng thái gần như bất tỉnh, nàng chỉ còn mơ hồ nhận thấy Akte đưa nàng ngồi vào bàn rồi ngồi xuống bên nàng.
Lát sau, chợt một giọng trầm trầm quen thuộc vang lên từ phía bên kia:
- Xin chúc sức khoẻ con người đẹp nhất trong số những nàng trinh nữ trên mặt đất và những vì tinh tú trên bầu trời! Xin chúc sức khoẻ nàng, hỡi Kalina tiên nữ!
Hơi định thần lại, Ligia nhìn sang: bên cạnh nàng là Vinixius.
Chàng không còn mặc áo toga, vì để được thoải mái và thuận theo phong tục, chàng đã cởi áo toga trước khi bước vào tiệc. Thân thể chàng chỉ còn được phủ một chiếc áo tunica không tay màu huyết dụ có thêu những cây cọ bằng bạc. Tay chàng để trần, và theo phong tục Đông phương, được trang điểm bằng hai chiếc vòng vàng rộng bản đeo bên trên khuỷu tay, phía dưới là cẳng tay được nhổ sạch lông, rất nhẵn nhụi nhưng cuồn cuộn bắp thịt, cánh tay của một người lính sinh ra là để cầm gươm và khiên. Đầu chàng đội một vòng hoa hồng. Với đôi lông mày giao nhau trên sống mũi, với đôi mắt tuyệt đẹp và nước da rám nắng, chàng là hiện thân của tuổi thanh xuân và sức lực, Ligia thấy chàng đẹp đến nỗi, mặc dù sự choáng váng ban đầu của nàng đã qua đi, nhưng nàng cũng chỉ đủ sức đáp lại:
- Xin chúc sức khoẻ chàng, Marek…
Chàng nói:
- Hạnh phúc thay đôi mắt của tôi khi được nhìn thấy nàng, hạnh phúc thay đôi tai của tôi khi tôi được nghe nàng nói, giọng nói mà đối với tôi còn đáng yêu hơn tiếng đàn tiếng sáo. Nếu như người ta bảo tôi lựa chọn ai, - nàng, hỡi Ligia, hay nữ thần sắc đẹp Venux - sẽ là người ở cạnh tôi trong bữa tiệc này, tôi sẽ xin được chọn nàng thôi, hỡi tiên nữ!
Và chàng bắt đầu nhìn chăm chăm, như được ngắm nàng cho thoả, mắt chàng thiêu đốt da thịt nàng. Ánh mắt của chàng trượt dần từ khuôn mặt nàng xuống cổ và đôi vai trần, vuốt ve những đường nét tuyệt diệu của nàng, mơn trớn, cuốn lôi và hưởng thụ nàng, song bên cạnh dục vọng, trong ánh mắt chàng vẫn sáng lên niềm hạnh phúc, lòng thương mến và một sự ngưỡng mộ không bờ bến.
- Tôi biết trước là sẽ được gặp nàng tại hoàng cung - chàng nói tiếp. - Song khi nhìn thấy nàng, cả tâm hồn tôi rung động một niềm vui to lớn như được gặp hạnh phúc hoàn toàn không ngờ trước vậy.
Tĩnh trí lại, và cảm thấy rằng trong cái đám người này, trong ngôi nhà này, chàng là sinh linh duy nhất gần gụi với nàng, Ligia bắt đầu trò chuyện cùng chàng và hỏi chàng về tất cả những chuyện mà nàng không sao hiểu nổi, những chuyện đã khiến nàng sợ hãi. Tại sao chàng lại biết trước là sẽ gặp nàng ở hoàng gia và tại sao nàng lại phải vào đây? Tại sao Hoàng đế cướp nàng khỏi tay bà Pomponia? Nàng sợ hãi nơi đây và muốn được trở về với bà. Hẳn nàng sẽ chết heo hắt vì nhớ thương và lo lắng nếu như không có niềm hi vọng là ông Petronius và chàng sẽ giúp nàng cầu xin Hoàng đế.
Vinixius kể cho nàng hay là chàng được chính ông Aulux cho biết việc nàng bị bắt đi. Tại sao nàng được đưa về đây thì chàng không được rõ. Hoàng đế chẳng hề thổ lộ với ai nguyên do những quyết định và mệnh lệnh của mình. Song xin nàng hãy bình tâm. Bởi vì chàng, Vinixius, đang ở bên nàng và sẽ ở bên nàng. Thà chàng mất đi đôi mắt còn hơn là không được trông thấy nàng, thà chàng phải chết còn hơn rời bỏ nàng. Nàng là linh hồn của chàng, chàng sẽ bảo vệ nàng như giữ gìn linh hồn của chính mình. Tại nhà mình, chàng sẽ xây cho nàng một bàn thờ như cho một vị thần của riêng chàng, trên bàn thờ đó chàng sẽ dâng hiến nhựa lô hội và nhựa thơm, về mùa xuân thì dâng hoa xaxanka và hoa táo. Và nếu nàng thấy e sợ nơi chốn hoàng gia thì chàng xin thề với nàng rằng nàng sẽ không phải ở lại trong ngôi nhà này nữa.
Mặc dù chàng nói quanh co và đôi chỗ bịa đặt, nhưng trong giọng nói của chàng vẫn cảm thấy sự thật, bởi lẽ những tình cảm của chàng là chân thực. Lòng chàng tràn ngập một tình thương chân thành, và những lời nói của nàng thấm sâu vào tâm hồn chàng đến nỗi khi nàng cảm ơn và đoan chắc với chàng rằng bà Pomponia sẽ yêu mến chàng vì lòng hảo tâm của chàng, còn nàng suốt đời mang ơn chàng, thì chàng không sao kìm nổi xúc động, chàng ngỡ rằng trong đời chàng sẽ không bao giờ có thể cưỡng lại lời cầu xin của nàng. Trái tim chàng như tan ra. Sắc đẹp của nàng làm cho các giác quan của chàng đắm đuối, chàng vừa khao khát nàng, vừa cảm nhận được rằng, đối với chàng, nàng xiết bao gần gũi và yêu dấu, rằng quả thật chàng có thể thờ phụng nàng như một vị thần, đồng thời chàng cũng cảm thấy cái nhu cầu không thể kìm hãm được là phải được nói về sắc đẹp của nàng và lòng ngưỡng mộ của chàng đối với nàng, và vì rằng tiếng ồn ào trong tiệc mỗi lúc một lớn thêm, chàng bèn xích lại sát nàng hơn và thủ thỉ với nàng những lời lẽ tốt lành, ngọt ngào tuôn trào tự đáy lòng, những lời lẽ thánh thót như tiếng nhạc và làm người ta say mê như rượu vang.
Và chàng đã khiến nàng say ngây ngất. Giữa những kẻ xa lạ vây quanh, nàng thấy chàng mỗi lúc một thêm gần gũi, mỗi lúc một đáng yêu hơn, hoàn toàn đáng tin cậy và sẵn sàng dâng hiến cả tấm lòng. Chàng yên ủi nàng, hứa sẽ cứu nàng thoát khỏi hoàng cung, hứa sẽ không rời bỏ nàng và sẽ phục vụ nàng. Thêm vào đó, hồi trước ở nhà ông bà Aulux chàng chỉ nói với nàng một cách chung chung về tình yêu và hạnh phúc mà nàng có thể mang lại, còn giờ đây chàng thổ lộ thẳng rằng chàng yêu nàng, rằng nàng là người yêu quý nhất, thân thiết nhất của chàng. Lần đầu tiên Ligia được nghe những lời như thế từ miệng đàn ông, càng nghe nàng càng cảm thấy như có cái gì đó trong lòng nàng chợt tỉnh khỏi giấc điệp mơ mộng, lòng nàng chứa chan một thứ hạnh phúc nào đó, trong ấy niềm vui sướng vô biên trộn lẫn với nỗi lo lắng vô bờ. Gò má nàng nóng bừng lên, tim nàng đập mạnh, môi nàng hé mở như kinh ngạc điều gì. Nàng vừa sợ hãi vì nghe những điều ấy, vừa không muốn đánh đổi lấy bất cứ thứ gì trên đời để phải bỏ qua mỗi lời nàng nói. Chốc chốc, nàng lại hạ mi mắt xuống để rồi lại ngước lên nhìn Vinixius với cái nhìn long lanh, vừa e ấp, vừa dò hỏi, dường như nàng muốn nói với chàng: "xin chàng hãy nói nữa đi!" Tiếng ồn ào, âm nhạc, hương hoa và mùi trầm hương Ả Rập lại bắt đầu khiến nàng ngây ngất. Ở La Mã có phong tục nằm trong khi dự tiệc song lúc ở nhà, Ligia thường nằm giữa bà Pomponia và chú bé Aulux. Còn giờ đây nằm bên nàng là chàng Vinixius trẻ trung, lực lưỡng, đang yêu say đắm, si mê. Cảm thấy sức nóng toát ra từ người chàng, nàng vừa xấu hổ vừa hân hoan. Một sự đê mê dịu ngọt nào đó, một sự ngây ngất và lãng quên nào đó chế ngự nàng, nàng như chìm vào giấc mộng.
Song sự gần gũi với nàng cũng bắt đầu tác động cả tới chàng nữa. Mặt chàng tái đi. Cánh mũi chàng phồng ra như một con ngựa phương Đông. Trái tim chàng đập loại nhịp dưới làn áo tunica màu huyết dụ, hơi thở chàng trở nên gấp gáp và lời của chàng cứ đứt quãng trên môi. Cả chàng nữa, cũng chỉ mới lần đầu tiên được gần gũi nàng đến thế. Những ý nghĩ của chàng bắt đầu hỗn độn, chàng cảm thấy trong mạch máu bốc lửa. Thứ lửa mà chàng muốn dùng rượu vang dập tắt đi song chỉ vô hiệu. Chưa phải rượu vang mà chính khuôn mặt tuyệt vời của nàng, đôi cánh tay trần của nàng, bộ ngực trinh nữ phập phồng dưới làn áo tunica màu vàng, thân hình nàng khuất dưới những nếp gấp trắng trong của chiếc áo peplum, mới khiến cho chàng một lúc một thêm say ngây ngất. Chàng cầm lấy cánh tay nàng ở phía trên cổ tay như đã có lần chàng làm hồi ở nhà ông bà Aulux, và vừa kéo nàng về phía mình, chàng vừa thì thào bằng đôi môi run rẩy:
- Ta yêu em, Kalina… tiên nữ của ta
- Marek, buông em ra - Ligia nói
Song chàng vẫn tiếp tục nói với đôi mắt đã phủ một lớp sương mù:
- Tiên nữ của ta! Hãy yêu lấy ta!
Chính lúc ấy vang lên tiếng nói của Akte, người đang nằm phía bên kia Ligia:
- Hoàng đế đang nhìn các người kìa!
Một cơn giận đột ngột cả đối với Hoàng đế lẫn Akte chợt bùng lên trong lòng Vinixius. Lời nàng nói xua tan mất cái huyền diệu của sự đắm đuối. Vào lúc ấy, đối với chàng thanh niên, ngay cả tiếng nói thân tình cũng có vẻ đáng ghét, chàng cho rằng Akte cố tình cản trở chàng trò chuyện cùng Ligia.
Vì vậy, chàng ngẩng đầu lên nhìn người nô tỳ được giải phóng trẻ tuổi qua vai Ligia và nói một cách cay độc:
- Hỡi Akte, đã qua rồi cái thời nhà ngươi được nằm nghỉ bên cạnh Hoàng đế trong yến tiệc, mà người ta nói rằng ngươi đang bị chứng mù loà đe doạ, vậy làm sao ngươi lại có thể trông thấy Hoàng đế?
Nàng đáp lại vẻ buồn buồn:
- Vậy mà tôi vẫn trông thấy Hoàng đế… Người cũng cận thị nên đang nhìn các ngươi qua một viên ngọc bích kia kìa!
Mọi cái Nerô làm đều khiến cho người ta - ngay cả những người thân cận Ngài nhất - phải cảnh giác, nên bất chợt, Vinixius bỗng thấy lo lắng nguội bớt tình cảm đi và thận trọng liếc nhìn về phía Hoàng đế. Ligia, lúc đầu bữa tiệc vì đang còn bối rối nên chỉ nhìn thấy Hoàng đế lờ mờ như qua một làn sương mờ, rồi sau đó nàng lại bị thu hút bởi sự có mặt của Vinixius và việc trò chuyện cùng chàng nàng hoàn toàn không hề nhìn, lúc này nàng cũng hướng đôi mắt vừa tò mò vừa e sợ về phía Ngài.
Akte nói đúng, Hoàng đế đang khom người trên bàn, một mắt nheo lại, và lấy tay giữ một viên bích ngọc hình tròn được mài bóng - mà Ngài thường dùng - trên con mắt bên kia đang nhìn họ. Trong một giây, cái nhìn của ngài gặp cặp mắt của Ligia và trái tim cô gái thắt lại vì kinh hoàng. Khi nàng còn là một đứa trẻ sống ở trại ấp miền Xixylia của ông bà Aulux, một nô tỳ già người Ai Cập thường kể cho nàng nghe về những con rồng sinh sống trong chốn núi thẳm rừng sâu, giờ đây nàng ngỡ như con mắt màu lục của một con rồng như thế đột nhiên chiếu thẳng vào mắt nàng. Nàng chụp lấy tay Vinixius, hệt như một đứa trẻ đang sợ hãi. Bao ấn tượng hỗn độn và đổi thay nhau ùa vào óc nàng. Y đấy ư? Chính con người khủng khiếp có quyền làm tất thảy mọi chuyện đấy ư? Cho tới nay, nàng chưa bao giờ trông thấy mặt y và nàng hình dung về y khác hẳn. Nàng hình dung ra một bộ mặt gớm ghiếc bằng đá mang những nét dữ tợn, thế mà giờ đây nàng lại trông thấy một cái đầu lớn trên chiếc cổ to bành, cái đầu quả là đáng sợ nhưng lại hơi buồn cười bởi nhìn từ xa trông giống như đầu trẻ con. Chiếc áo tunica màu ngọc tím, màu cấm dùng đối với người phàm trần, hắt ánh xam xám lên bộ mặt ngắn ngủn to ngang của y. Tóc y màu sẫm, để theo mốt của chàng Otho thành bốn lượn phồng lên. Y không có râu cằm, vì cách đây chưa lâu y đã cạo để dâng hiến thần Jupiter, một hành động mà cả La Mã đã phải bày tỏ lòng biết ơn lên y, mặc dù người ta vẫn xì xào với nhau rằng y hiến bộ râu cằm chẳng qua vì bộ râu của y màu hung hung đỏ như tất thảy mọi người trong dòng họ y mà thôi. Song trong vầng trán dô ra trên hàng lông mày lại có vẻ gì đó thiên thần. Ở bộ lông mày kéo dài có thể thấy rõ ý thức của một kẻ có toàn quyền, song phía dưới vầng trán của vị nữa thiên thần ấy lại là một bộ mặt khỉ, bộ mặt của một kẻ say rượu và của một tay kép hát, rỗng tuếch, đầy những dục vọng chóng đổi thay, bộ mặt phị mỡ mặc dù tuổi còn đang trẻ, bộ mặt bệnh hoạn và dung tục. Ligia cảm thấy y có vẻ thù địch, song trước hết là đáng tởm.
Lát sau, y đặt viên ngọc bích xuống, thôi không nhìn nàng nữa. Lúc đó nàng mới trông thấy cặp mắt lồi màu xanh lam của y đang hấp háy dưới ánh sáng quá mạnh, một đôi mắt thủy tinh, vô tri giác, giống mắt người chết.
Y quay sang Petronius và hỏi:
- Đó có phải đứa con tin mà Vinixius yêu không?
- Vâng, chính con bé đấy ạ - Petronius đáp.
- Dân tộc của nó gọi tên là gì?
- Thưa, người Ligi.
- Vinixius coi cô ta là tuyệt đẹp phải không?
- Nếu hoàng thượng mặc áo peplum cho một gốc cây ôliu mục ruỗng giả làm thanh nữ thì Vinixius cũng sẽ coi nó là tuyệt đẹp. Song trên nét mặt Người, hỡi con người sành sỏi không ai bằng, thần đã đọc thấy lời phán quyết cho cô ta rồi. Người không cần phải tuyên đọc thành lời đâu. Chính thế đấy. Cô bé khô khẳng quá! Còm nhom, một quả thuốc phiện đeo trên một cái cuống khẳng khiu, còn Người, hỡi nhà thẩm mỹ thần thánh, đối với đàn bà, Người lại coi trọng thân hình, và Người quả có lý đến ba bốn lần. Chỉ riêng khuôn mặt thôi thì chưa có nghĩa lý gì. Ở bên cạnh Người, thần học được biết bao điều hay, nhưng chưa thể có nổi cái nhìn sắc sảo như Người. Thần sẵn sàng đánh cuộc với Tulius Xenexion đổi lấy người tình của ông ta, rằng mặc dù trong tiệc mọi người đều nằm và thật khó đánh giá toàn thân, nhưng bệ hạ đã tự nhủ: “Cô ả có cái hông quá hẹp”
- Cô ả có cái hông quá hẹp - Nerô vừa nhắc lại vừa nhắm mắt
Trên môi Petronius hiện ra một nét cười kín đáo khó nhận thấy, còn Tulius Xenexion, mãi đến lúc này bận nói chuyện với Vextynux - thực ra hắn đang chế nhạo những chuyện mộng mị mà Vextynux vốn rất tin - liền quay sang phía Petronius, và mặc dù chẳng biết người ta đang bàn chuyện gì hắn đã thốt ra ngay:
- Ông lầm rồi. Tôi ủng hộ ý kiến Hoàng thượng.
- Hay quá, Petronius đáp, - Tôi vừa mới chứng minh rằng ông hãy còn một chút trí tuệ, còn hoàng thượng thì lại khẳng định rằng ông chỉ là một con lừa vô tri vô giác mà thôi.
- Habel! - Nerô vừa bật cười vừa nói và quay chúc ngón tay cái xuống phía dưới như ở hý trường người ta thường làm khi ra hiệu là đấu sĩ đã bị đâm trúng và cần phải tiếp tục nện thêm nữa.
Còn Vextynux lại nghĩ rằng người ta đang bàn chuyện mộng mị bèn kêu lên:
- Còn tôi, tôi vẫn tin vào mộng, ngài Xeneka từng nói với tôi rằng chính ngài cũng tin.
- Đêm qua tôi mơ thấy mình trở thành ni cô giữ đền thần Vexta(1) - Kanvia Kryxpinilla nhoài người qua bàn góp chuyện.
Nghe thấy thế, Nerô liền vỗ tay, những người khác cũng theo gương y và suốt hồi lâu, chung quanh chỉ nghe thấy tiếng vỗ tay rầm rầm, vì Kryxpinilla, một mệnh phụ đã ly dị chồng dăm ba bận, vốn là người lừng danh trong toàn cõi La Mã về tính phóng đãng đến huyền thoại của mình.
Song ả ta chẳng chút bối rối, vẫn nói tiếp:
- Chứ sao nữa, tất thảy đám đàn bà kia đều già nua và xấu xí cả. Chỉ mỗi mình cô Rubria là trông còn giống người đôi chút, vậy nên có lẽ chỉ còn hai chúng tôi là đẹp dẫu phải thừa nhận rằng ngay cả cô Rubria về mùa hè cũng còn hay bị tàn hương.
- Song xin lỗi nàng, hỡi nàng Kanvia vô cùng trong trắng, - Ông Petronius nói - có lẽ chỉ trong mơ nàng mới có thể trở thành ni cô giữ đền thờ nữ thần Vexta được mà thôi.
- Thế nếu hoàng thượng ra lệnh thì sao?
- Thì tôi sẽ phải tin rằng ngay cả những giấc mộng kỳ lạ nhất chắc cũng sẽ biến thành sự thật.
- Chúng vẫn biến thành sự thật mà, - Vextynux nói - Tôi có thể hiểu được những người không tin vào thần vì một lý do gì khác ngoài chuyện hắn không phải là một con lợn.
Vitelius chợt ngừng bặt giữa tràng cười, rồi chép chép đôi môi bóng nhẫy những nước xốt cùng nước mỡ, hắn bắt đầu nhìn ngó những người đang có mặt với vẻ ngạc nhiên như từ trước hắn chưa từng trông thấy họ bao giờ.
Rồi giơ bàn tay chuối mắn múp míp quá mức của mình lên, hắn nói giọng khàn khàn:
- Tôi bị rơi đâu mất chiếc nhẫn hiệp sĩ thừa kế của cha tôi rồi.
- Người cha ấy nguyên là một thằng thợ giầy, - Nerô nói thêm
Song Vitelius bỗng lại bật lên một tràng cười bất thần nữa rồi bắt đầu sờ soạng tìm chiếc nhẫn của hắn bên trong áo peplum của Kanvia Kryxpinilla.
Thấy thế, Vatynius bèn giả vờ thốt ra tiếng kêu kinh hoảng của đàn bà, còn Nigiđia, bạn gái của Kanvia, một quả phụ trẻ có khuôn mặt trẻ thơ và đôi mắt đĩ thoã liền nói to lên:
- Hắn tìm cái mà hắn không hề bị mất.
- Và cái mà hắn cũng chẳng biết dùng làm gì nếu như hắn có tìm thấy đi nữa, - thi sĩ Lukan kết thúc.
Tiệc rượu trở nên vui nhộn hơn. Những đám nô lệ mang ra mỗi lúc một nhiều món ăn, cứ chốc chốc từ những chiếc vại khổng lồ chứa đầy tuyết và quấn quanh bằng dây trường xuân người ta lại lôi ra những chiếc bình nhỏ hơn chứa đủ mọi loại rượu nho. Mọi người đều uống no rượu. Từ trên trần nhà thỉnh thoảng những đoá hoa hồng lại rơi xuống mặt bàn và đám thực khách.
Song ông Petronius bắt đầu cầu khẩn Hoàng đế dùng tiếng hát của mình làm cho bữa tiệc thêm phần thanh cao trước khi khách khứa say sưa. Nhiều tiếng nói hoà theo ủng hộ lời đề nghị của ông, nhưng Nerô lại chống chế. Không phải là chuyện dũng cảm hay không, mặc dù đức tính đó thì ngài luôn luôn thiếu… Các vị thần linh chứng giám cho ngài, mỗi một cố gắng biểu diễn hao tổn biết bao nhiêu… Quả tình ngài không hề tránh né việc biểu diễn, vì dù sao cũng phải làm một cái gì cho nghệ thuật chứ; vả chăng, nếu thần Apolon đã ban cho ngài giọng hát thì đâu thể để cho món quà tặng ấy của thần bị phí hoài đi. Ngài còn hiểu được rằng đó là bổn phận của ngài đối với quốc gia nữa kia. Nhưng quả thực hôm nay giọng ngài bị khản. Đêm qua ngài đã phải đặt các vật nặng bằng chì đè lên ngực, song cũng chẳng ích gì... Thậm chí ngài cũng đã nghĩ cả tới chuyện đi Anxium để hít thở không khí vùng biển nữa.
Nhưng nhân danh nghệ thuật và toàn nhân loại, chàng Lukan bắt đầu kêu gọi Hoàng đế. Mọi người đều biết rằng nhà thi sĩ và danh ca thần thánh vừa soạn xong một khúc ca mới dâng lên nữ thần sắc đẹp Venux, bên cạnh ca khúc ấy thì những bài ca của Lukrexius chỉ còn giống như tiếng hú của con chó sói non một tuổi mà thôi. Hãy cho bữa tiệc này được thật sự trở thành tiệc! Người cầm quyền từ tâm nhường ấy không nên ban phát cho bề tôi của mình những đau khổ nhường kia: “Xin Hoàng thượng chớ nhẫn tâm!”
- Xin Hoàng thượng chớ nhẫn tâm! - tất cả những người ngồi gần đều lặp lại.
Nerô bèn chìa hai tay ra dấu là buộc lòng phải nhượng bộ. Khi ấy tất cả các bộ mặt đều khoác vẻ hàm ơn, và mọi cặp mắt đều hướng cả vào ngài. Song ngài ra lệnh trước hết hãy báo cho Hoàng hậu Poppea biết rằng Hoàng đế sắp hát; ngài nói với những người có mặt rằng hoàng hậu không đến dự tiệc bởi ngọc thể bất an, song bởi lẽ chẳng có vị thuốc nào làm nàng dễ chịu như tiếng hát của ngài nên ngài không nỡ lòng nào tước đi của nàng cơ hội này.
Quả thật Poppea đến ngay lập tức. Cho đến nay ả vẫn cầm cương xỏ mũi Nerô như một kẻ dưới quyền, song ả lại biết rằng sẽ rất nguy hiểm nếu động chạm đến lòng tự ái của ngài với tư cách là một danh ca, một người đánh xe đua hay một thi sĩ. Vì vậy, ả tới, đẹp như một thiên thần, và cũng giống như Nerô, ả mặc chiếc áo dài màu ngọc tím, mang chuỗi hạt gồm những hạt ngọc trai to cướp được đâu đó ở vùng Maxynixa, tóc vàng, dịu ngọt, và mặc dù là một kẻ đã hai đời chồng, ả vẫn có được cái nhìn và khuôn mặt của một trinh nữ.
Người ta chào đón ả bằng những tiếng la và danh hiệu “Auguxta thần thánh”. Chưa bao giờ trong đời, Ligia được trông thấy ai đẹp đến thế, nàng không tin vào mắt mình nữa, bởi lẽ nàng được biết rằng Poppea Xabina là một trong những người đàn bà thiếu chính đính nhất trên thế gian. Bà Pomponia cho nàng hay rằng chính Poppea đã đưa Hoàng đế tới chỗ giết cả mẹ lẫn vợ, nàng còn được biết thêm về ả qua lời kể của khách khứa và gia nhân của gia đình ông Aulux. Nàng từng được nghe nói rằng đêm đêm, người ta phá đổ những pho tượng của ả được dựng lên trong phố, nàng được nghe nói tới những dòng chữ mà kẻ viết bị người ta xử bằng cực hình khủng khiếp nhất, song mỗi buổi sáng những dòng chữ ấy vẫn cứ hiện ra trên các bức tường thành phố. Thế mà giờ đây, khi nhìn thấy cái ả Poppea đầy tai tiếng ấy, kẻ được các tín đồ của đấng Krixlux coi là hiện thân của cái xấu và tội ác thì nàng lại nghĩ rằng các thiên sứ hay các linh hồn trên thiên giới cũng chỉ có thể xinh đẹp đến thế mà thôi. Nàng không sao rời nổi mắt khỏi Poppea và một câu hỏi vô tình bật ra từ miệng nàng:
- Ôi, chàng Marek, liệu có thể như thế được chăng?…
Còn chàng, hứng khởi vì rượu nho và dường như khó chịu vì ngần ấy chuyện khiến nàng mất chú ý, tách nàng ra khỏi chàng cùng những lời chàng nói, liền lên tiếng:
- Phải, ả ta đẹp, song nàng còn đẹp gấp trăm lần! Nàng không biết mình đấy thôi, nếu không nàng đã tự phải lòng mình như chính Narxyz. Ả ta tắm trong sữa lừa, còn nàng có lẽ được chính nữ thần Venux cho tắm trong sữa của nữ thần. Nàng không tự biết mình ocelle mi! Đừng nhìn ả ta làm gì! Hãy quay lại đây nhìn tôi đây này, ocelle mi! … Hãy chạm môi nàng vào cốc rượu này để sau đó tôi sẽ ghì môi tôi vào đúng chỗ ấy…
Và chàng cứ dịch sát mãi lại gần nàng, còn nàng bắt đầu lùi dần về phía Akte. Song đúng lúc ấy người ta ra lệnh giữ yên lặng, vì Hoàng đế đã đứng lên… Ca sĩ Điođo dâng cho ngài cây thi cầm kiểu đenta, còn ca sĩ thứ hai là Terpnox, người sẽ đệm đàn cùng Hoàng đế, thì xích lại gần với thứ nhạc cụ được gọi là nablium. Nerô tì cây đàn đenta lên bàn, ngước mắt nhìn lên, và suốt giây lâu, cả phòng tiệc im lặng như tờ, chỉ xao động bởi tiếng những đoá hoa hồng rơi lả tả từ trần nhà xuống mà thôi.
Sau đó Hoàng đế bắt đầu hát khúc ca của mình dâng nữ thần Venux, nói đúng hơn là ngài nói có nhạc điệu và tiết tấu, có tiếng hai cây thi cầm đệm theo. Cả giọng hát - mặc dù hơi đục - lẫn lời thơ đều không đến nỗi tồi, khiến cho nàng Ligia tội nghiệp lại một lần nữa thấy lương tâm áy náy, vì nàng thấy bài ca rất hay, - mặc dù ngợi ca nữ thần Venux ngoại đạo - còn Hoàng đế, với vòng nguyệt quế trên vầng trán và đôi mắt ngước nhìn lên, chợt trở nên tuyệt vời, ít đáng sợ hơn rất nhiều và bớt kinh tởm hơn so với phút đầu bữa tiệc.
Đám thực khách làm dậy lên một tràng sấm vỗ tay. Những tiếng kêu: “Ôi, hỡi giọng hát thiên thần” vang lên khắp bốn chung quanh, một vài phụ nữ giơ bàn tay lên cao ra giấu tán thưởng và giữ nguyên như thế ngay cả khi tiếng hát đã chấm dứt, các vị phu nhân khác lau đôi mắt ướt lệ, cả phòng tiệc xôn xao như một tổ ong. Poppea cúi mái đầu tóc vàng của mình xuống nâng bàn tay Nerô lên môi và giữ nó như thế hồi lâu trong lặng im, còn chàng trai Hi Lạp có sắc đẹp tuyệt vời tên là Pitagorax, chính người về sau trong trạng thái nữa điên nữa dại, Nerô đã ra lệnh bắt phải cưới lũ chim hồng hạc với đầy đủ nghi thức, giờ đây quỳ sụp xuống chân ngài.
Song Nerô chỉ chằm chằm nhìn Petronius, người mà lời khen bao giờ cũng được ngài mong đợi nhất; ông cất tiếng:
- Nếu nói về nhạc thì chắc chàng Orfeus lúc này đang vàng người đi vì ghen tị, hệt như chàng Lukan đang có mặt nơi đây; còn nếu nói về thơ thì tôi tiếc rằng lời thơ đã không dở hơn vì khi ấy may ra tôi mới có thể tìm thấy lời ngợi ca xứng đáng
Song chàng Lukan không hề oán ông vì câu ví von về lòng ghen tị, mà chàng lại nhìn ông với vẻ biết ơn, và vừa làm ra vẻ phật ý, chàng vừa bắt đầu rên rỉ:
- Đáng nguyền rủa thay Fatum, kẻ đã bắt tôi phải sống cùng thời với một thi sĩ thế này! Nếu không, hẳn người ta cũng đã chiếm được một chỗ trong trí nhớ của nhân loại cũng như trên thi đàn Parnax, chứ cứ như thế này thì chỉ còn biết lụi tắt như một ánh đèn đặt bên vừng dương chói lọi mà thôi.
Ông Petronius, vốn có trí nhớ đáng kinh ngạc, bắt đầu đọc lại một vài khổ thơ trong bài ca ấy, ngâm từng câu, bình phẩm và phân tích từng lời hay ý đẹp. Lukan, dường như quên bẵng sự ghen tức về vẻ đẹp của thi ca, cũng góp vào cùng ông những lời thán phục của mình. Trên nét mặt Nerô bừng lên vẻ thoả mãn và sự trống rỗng vô chừng, sự trống rỗng không những chỉ gần với sự ngu xuẩn mà hoàn toàn có thể sánh ngang với nó. Chính ngài còn nêu thêm cho họ những vần thơ mà ngài cho là tuyệt tác, rồi ngài an ủi Lukan, khuyên anh ta chớ để mất lòng can đảm, vì mặc dù con người ta ai sinh ra làm sao thì chỉ được vậy thôi nhưng lòng thành kính mà loài người dâng lên cho thần Jupiter cũng sẽ làm vinh quang cho các thần khác nữa.
Sau đó ngài đứng dậy để đưa tiễn Poppea, quả thực ngọc thể bất an nên muốn đi nghỉ. Với những thực khách còn lại, ngài ra lệnh cho họ trở về chỗ và nói là sẽ quay trở lại. Chỉ lát sau ngài quay lại, để được thở hít khói hương trầm và xem những trò vui mà chính ngài, Petronius hoặc Tygelinux đã sửa soạn cho bữa tiệc.
Người ta lại đọc thơ và nghe những lời đối thoại trong đó sự kỳ quái chiếm mất chỗ của hài hước. Rồi chàng Paryx, nghệ sĩ kịch câm nổi tiếng, trình bày những chuyện gay cấn của nàng Iona, con gái Inach. Những vị khách chưa quen với những biểu diễn của thể loại này - nhất là Ligia - thì cứ ngỡ như được trông thấy phép lạ lẫn trò phù thủy vậy. Bằng những cử động của tay và toàn thân, Paryx biết cách mô tả những vật dường như không thể nào thể hiện nổi trong khi múa. Hai bàn tay của chàng quấy đảo trong không khí làm thành một đám mây khói tỏa sáng, sinh động, run rẩy, yêu chiều, quấn quanh một thân hình trinh nữ gần như bất tỉnh, đang rùng lên những cơn run rẩy khoái lạc. Đó chính là một bức tranh chứ không phải điệu múa, một bức tranh rõ ràng phanh phui những bí ẩn của ái tình, đầy sức hấp dẫn ma quái và không một chút hổ thẹn.
Khi trò ấy kết thúc, các vị tăng lữ korybantơ bước ra, và trong tiếng đàn tranh, tiếng sáo, tiếng sanh tiền và tiếng trống họ bắt đầu cùng các thiếu nữ Xyri trình bày vũ điệu dâng thần rượu, vũ điệu đầy những tiếng kêu man dã và những cảnh tượng trụy lạc còn dã man hơn. Ligia thấy mình như ngồi trên đống lửa, nàng nghĩ lẽ ra sét phải đánh ngay xuống đầu các thực khách mới phải.
Song từ cái lưới vàng căng trên trần chỉ rơi xuống toàn hoa hồng, trong khi ấy chàng Vinixius nữa tỉnh nữa say bảo nàng:
- Ta trông thấy nàng bên đài nước phun trong nhà họ Aulux và ta say đắm yêu nàng. Lúc đó, trời mới rạng sáng, chắc nàng nghĩ rằng không có ai nhìn, nhưng ta đã trông thấy nàng… Và ta nhìn thấy nàng nguyên vẹn như thế cho tới tận lúc này, mặc dù cái áo peplum kia che khuất đi. Hãy cởi peplum ra như Kryxpinilla. Nàng thấy không. Cả các vị thần lẫn con người đều đi tìm ái tình. Trên thế giới không có gì khác ngoài ái tình. Hãy tựa đầu lên ngực ta và nhắm mắt lại nào!
Mạch máu nàng đập nặng nề ở cổ tay và thái dương. Nàng có cảm giác như đang bay vào một vực thẳm nào đó, còn Vinixius, con người mới đây đối với nàng còn gần gũi và đáng tin cậy là thế, thì thay vì cứu nàng lại kéo thêm nàng lao xuống vực. Nàng thấy oán trách chàng. Nàng bắt đầu thấy sợ bữa tiệc này, sợ chàng lẫn sợ bản thân mình. Một tiếng nói nào đó, giống như tiếng bà Pomponia, kêu lên trong tâm linh nàng: “Ligia ơi, hãy tự cứu lấy mình đi!”, nhưng một cái gì đó khác lại bảo nàng rằng đã quá muộn rồi, kẻ nào bị ngọn lửa này vây bọc, kẻ nào đã trông thấy những gì diễn ra trong yến tiệc này, kẻ nào mà trái tim đập như đang đập trong ngực nàng khi nghe những lời Vinixius, kẻ nào rùng mình lên như nàng khi chàng xích lại gần, kẻ ấy vĩnh viễn vô phương cứu chữa. Nàng thấy yếu hẳn đi. Chốc chốc nàng có cảm giác là mình sắp ngất đi đến nơi, rồi sau đó sẽ xảy ra một cái gì đó thật khủng khiếp. Nàng biết rằng vì sợ hãi cơn giận của Hoàng đế không một ai được phép đứng dậy trước khi Hoàng đế đứng dậy, và nếu như không có chuyện đó đi chăng nữa thì nàng cũng chẳng còn chút hơi sức nào nữa để đứng lên.
Trong khi ấy đến cuối tiệc hãy còn lâu lắm. Bọn nô lệ mang tiếp ra những món ăn mới và đều đặn rót rượu nho vào những chiếc bình, còn phía trước các bàn tiệc, người ta đặt một cái khung vây để ngỏ một phía và xuất hiện hai lực sĩ biểu diễn trò đấu vật cho khách xem.
Cả hai bắt đầu vờn nhau. Hai thân mình lực lưỡng, bóng nhoáng vì bôi dầu ô liu, chập vào nhau thành một khối, xương họ kêu răng rắc trong những vòng tay sắt, từ những hàm răng nghiến chặt bật ra những tiếng rít dữ tợn. Chốc chốc lại nghe thấy tiếng giẫm gấp gáp và trầm đục của chân họ đập xuống sàn nhà đã được dọn sạch hoa kỵ phù lam, lúc lúc họ lại đứng bất động câm lặng và người xem tưởng như họ là một nhóm tượng tạc bằng đá. Những đôi mắt của dân La Mã hau háu theo dõi cái trò chơi của những chiếc đầu, những cặp đùi và những cánh tay, căng thẳng đến khủng khiếp. Song trận đấu chẳng kéo dài bao lâu, vì Kroton, thầy dạy, cũng là người cai quản trường dậy đấu sĩ không phải vô cớ được mệnh danh là người khoẻ nhất trong cả nước. Địch thủ của anh ta bắt đầu thở mỗi lúc một hổn hển, rồi quằn quại, mặt tái xám đi, cuối cùng miệng ộc máu tươi và thõng người xuống.
Một tràng sấm vỗ tay chào mừng kết quả trận đấu, còn Kroton, giẫm chân lên lưng địch thủ, hai cánh tay khổng lồ vòng lấy ngực, đưa cặp mắt của người chiến thắng nhìn khắp phòng.
Tiếp đến, bọn bắt chước và bọn giả tiếng súc vật, bọn làm xiếc và lũ hề bước vào, song người ta ít để ý đến chúng, vì rượu nho đã làm mờ những cặp mắt nhìn. Bữa tiệc dần dần biến thành một cuộc cuồng hoan say sưa và trụy lạc. Đám thiếu nữ Xyri vừa múa tế thần rượu bị kéo lẫn vào giữa đám thực khách. Âm nhạc biến thành một thứ tiếng ồn ào lộn xộn và hoang dã của đàn tranh, thi cầm, sênh tiền Acmênia, đàn xixtơ Ai Cập, kèn và tù và, và khi một số thực khách muốn nói chuyện với nhau thì người ta phải quát mắng đám nhạc công đuổi họ xéo đi. Không khí nồng nặc mùi hoa, sực nức hương các loại dầu thơm mà đám tiểu đồng xinh đẹp suốt buổi tiệc luôn nhỏ lên bàn chân thực khách, chan chứa mùi hoa kỵ phù lam cùng hơi người trở nên ngột ngạt, đèn cháy leo lét, những vòng hoa xộc xệch trên trán, những bộ mặt nhợt nhạt và lấm tấm mồ hôi.
Vitelius ngã gục xuống gầm bàn. Nigiđia, nửa người trần như nhộng, tựa mái đầu trẻ thơ say bét nhè của ả vào ngực Lukan, còn chàng thi sĩ cũng say, vừa thổi bay những hạt bụi phấn vàng từ tóc ả vừa ngước đôi mắt rất đỗi hân hoan lên trời. Với sự bướng bỉnh của người say, Vextynux nhắc lại tới lần thứ mười câu thần Mopxux trả lời bức thư phong kín của viên thái thú. Còn Tolius, giễu cợt các vị thần, nói bằng giọng lè nhè đứt đoạn vì những tiếng nấc:
- Bởi nếu như Xferox của Kxenofanex hình tròn quay, thì ông nghĩ xem có thể lăn thần bằng chân như lăn một cái thúng được chớ, hả?
Song Domixius Afer, một tên kẻ cắp già đời kiêm kẻ ton hót, lại phẫn nộ vì câu chuyện ấy, và vì phẫn nộ hắn bèn đổ rượu nho falee lên chiếc áo tunica của mình. Hắn lúc nào cũng tin vào thần thánh. Người ta bảo là La Mã sẽ bị diệt vong thậm chí có kẻ còn dám khẳng định rằng nó đang bị tiêu vong nữa kia. Nhất định rồi!… Nhưng nếu như điều đó có xảy ra thì chỉ vì đám thanh niên thiếu lòng tin, mà đã thiếu lòng tin thì không thể nào sống có phẩm hạnh được. Người ta cũng đã quá ngán những phong tục hà khắc cổ xưa và chẳng ai còn nghĩ rằng các môn đồ của Epicur sẽ không cưỡng chống lại bọn dã man. Mà không công nhé..! Còn y, y chỉ tiếc là đã phải sống tới cái thời nay và y phải tìm cách tự vệ cho mình trong các thú vui để chống lại các lo buồn phiền não, nếu không lo buồn phiền não ấy sẽ xơi tái y ngay.
Vừa nói thế, y vừa kéo một vũ nữ Xyri ôm ghì vào lòng và bằng cái miệng móm hết răng hôn lên gáy, lên lưng nàng. Trông thấy thế, chấp chính quan Memmius Regulux phì cười và ngẩng cái đầu hói nhẵn thín khoác chéo một vòng hoa lên, y nói:
- Ai dám bảo rằng La Mã đang tiêu vong? … Chuyện vớ vẩn!… Ta, chấp chính quan, ta biết rõ nhất. Videant consules! Ba mươi chiến đoàn đang canh giữ cho Pas romana của chúng ta!
Đến đây, y vung hai nắm đấm lên ngang thái dương và bắt đầu kêu vang khắp phòng:
- Ba mươi chiến đoàn! Ba mươi chiến đoàn. Từ Brytania đến biên giới Parlơ.
Đột nhiên y chợt suy nghĩ rồi đặt một ngón tay vào trán y thốt ra:
- Mà lạy trời sao cho có được tới ba mươi hai.
Rối y lăn nhào xuống gậm bàn, và chỉ lát sau bắt đầu ộc ra nào là lưỡi chim hồng hạc, nào là nấm sữa nướng, nào là nấm ướp đông, nào châu chấu nấu mật, nào cá nào thịt, cùng tất cả mọi thứ mà y vừa mới ăn hoặc uống vào bụng.
Tuy vậy số lượng chiến đoàn đang canh giữ cho sự yên ổn của La Mã vẫn không làm cho Đomixius yên lòng. Không! Không! La Mã phải bị tiêu vong bởi vì lòng tin vào các vị thần linh và những thuần phong mỹ tục nghiêm ngặt xưa đã bị tiêu ma rồi. La Mã phải bị diệt vong, tiếc thay, bởi vì dù sao cuộc sống cũng vẫn tốt đẹp biết bao, hoàng thượng ưu ái biết bao, rượu nho ngon lành biết bao! Ôi! Thật đáng tiếc!
Và giấu đầu vào giữa hai đùi cô vũ nữ tế thần rượu người Xyri, y oà lên khóc nức nở.
- Cuộc sống kiếp sau mà làm gì!… Asilex nói có lý, thà làm nông nô trên dương thế còn hơn làm vua ở cõi âm. Và thử hỏi, liệu các vị thần linh có tồn tại thật chăng, dẫu bọn trẻ đã đánh mất lòng tin đi rồi….
Lúc này, chàng Lukan đã thổi bay sạch bụi vàng ra khỏi mái tóc Nigiđia, ả ta, sau khi uống say, đã ngủ thiếp đi. Chàng bèn tháo những dây trường xuân từ cái bình đặt trước mặt và quấn chung quanh người đàn bà đang ngủ, sau khi làm xong công trình ấy, chàng đưa mắt nhìn những người có mặt với vẻ hân hoan và dò hỏi.
Sau đó, chàng cũng dùng những dây trường xuân trang điểm cho bản thân mình rồi nhắc đi nhắc lại với một giọng tin tưởng sâu sắc:
- Ta đâu phải là người, ta chính là thần Đồng Nội đây!
Petronius không say, còn Nerô, lúc đầu vì giữ gìn cái “giọng hát thiên giới” của mình nên uống ít, đến gần cuối lại nốc hết cốc này sang cốc khác và đã say mèm. Ngài muốn hát tiếp khúc ca của mình, lần này bằng tiếng Hi Lạp, nhưng lại quên mất và hát nhầm sang một bài ca của Anakreontơ. Pitagorax, Điođor và Terpnox phụ hoạ theo ngài, song không thành công nên đành bỏ cuộc. Nerô lại bắt đầu ca ngợi - với tư cách là một nhà sành sỏi và một nhà duy mỹ - sắc đẹp của chàng trai Pitagorax, thậm chí ngài hôn cả tay chàng trai vì quá ngưỡng mộ chàng. Có lúc nào đó ngài đã từng trông thấy những bàn tay đẹp đẽ nhường này… nhưng ở ai ấy nhỉ?
Và tỳ bàn tay vào trán nhớp nháp ngài cố nhớ lại. Giây lát sau ngài chợt lộ vẻ kinh hoàng:
- A! Ở mẹ ta! Ở Grypina!
Và đột nhiên những cảnh tượng thê lương chế ngự ngài:
- Người ta kể rằng, - ngài nói, - đêm đêm bà ta đi dạo trên mặt biển theo sau vầng trăng, gần Baiae và Baula. Chẳng làm gì hết, chỉ đi, đi, như đang tìm kiếm vật gì vậy. Và nếu có con thuyền nào tiến lại gần thì bà ta liền giương mắt nhìn rồi bỏ đi, tên ngư dân nào bị bà ta nhìn đều bị chết cả.
- Một đề tài không đến nỗi nào, - ông Petronius nói.
Còn Vextynux thì vươn dài cổ ra như một con sếu, thì thào vẻ đầy bí ẩn:
- Tôi thì không tin thần thánh, nhưng lại tin vào ma quỷ… Ối!
Song Nerô không thèm để tai đến lời họ mà vẫn nói tiếp:
- Ta đã làm lễ vong hồn rồi kia mà! Ta không muốn trông thấy bà ta! Đã năm năm rồi còn gì. Ta buộc lòng, buộc lòng phải giết bà ta vì bà ta sai kẻ khác tới giết ta, và nếu như ta không ra tay trước thì ngày nay các ngươi đâu còn được nghe tiếng hát của ta nữa!
- Xin đa tạ hoàng thượng, nhân danh cả thành bang và toàn thế giới - Đomixius Afer kêu to.
- Rượu đâu! Hãy gõ sanh tiền lên!
Tiếng ồn ào lại dậy lên. Lukan, người quấn đầy dây trường xuân, muốn át tiếng ồn bèn đứng dậy thét lớn:
- Ta không phải là người đâu, ta là thần Đồng Nội, ta ở trong rừng! E… hô… ôôôô…
Rốt cuộc, Hoàng đế say mềm, Venexius không ít say sưa hơn những kẻ khác và bên cạnh dục vọng, trong chàng còn nổi lên ý muốn gây sự, điều bao giờ cũng xẩy ra khi chàng quá chén. Khuôn mặt rám nắng của chàng nói bằng giọng phấn khích và mệnh lệnh với Ligia:
- Chìa môi ra! Hôm nay, ngày mai, đằng nào cũng thế!… Thôi đủ rồi! Hoàng thượng bắt em từ tay ông bà Aulux là để ban cho ta, em hiểu chưa? Ngày mai, chiều tối, ta sẽ phái người tới đón em, hiểu chưa!… Hoàng thượng đã hứa sẽ ban em cho ta, ngay từ trước khi bắt em về kia… Em phải là của ta! Chìa môi ra nào! Ta không muốn chờ đến mai nữa! Chìa môi ra, mau!
Và chàng ôm ghì lấy nàng, song Akte bắt đầu chống cự để bảo vệ nàng, cả nàng nữa, còn chút hơi sức nào cũng đem ra tự vệ, vì nàng cảm thấy rằng mình chết đến nơi rồi. Song hai cánh tay nàng bất lực không sao bứt nổi cánh tay nhẵn thín của chàng ra khỏi người mình, giọng nàng run rẩy nỗi sợ hãi và niềm oán hận vô vọng van xin chàng đừng làm thế, hãy thương lấy nàng. Hơi thở sặc sụa mùi rượu phả lên người nàng mỗi lúc một gần, mặt chàng đã kề sát mặt nàng. Đó không còn là chàng Venexius trước đây, tốt bụng và gần như thân thiết với tâm hồn nàng, mà là một đương thần Xatyr hung dữ đang say, khiến nàng hãi hùng và kinh tởm.
Song sức nàng mỗi lúc một cạn. Vô vọng, nàng ngả người ra, quay mặt đi tránh những cái hôn của chàng. Chàng nhỏm cả người lên, ôm ghì nàng bằng cả hai tay, kéo đầu nàng vào ngực và bắt đầu vừa hổn hển thở vừa dùng đôi môi tái nhợt giày xéo đôi môi nàng.
Chính vào giây phút ấy, bỗng một sức mạnh kinh hoàng đột ngột tháo tung vòng tay chàng ra khỏi cổ nàng dễ dàng như đó chỉ là vòng tay một đứa trẻ con, và đẩy bật chàng ra một bên như một chiếc cành khô hay lá mục vậy. Chuyện gì thế? Venexius vuốt đôi mắt bàng hoàng và chợt trông thấy trước mặt mình thân hình khổng lồ của người đàn ông Ligi tên là Urxux mà chàng đã quen mặt hồi còn ở nhà ông bà Aulux.
Người đàn ông Ligi đứng bình thản, chỉ chằm chằm nhìn Venexius bằng cặp mắt xanh biếc với một vẻ lạ lùng đến nỗi máu dường như dừng lại trong huyết quản chàng, rồi bế nàng công chúa của mình lên, bác ta bước đi khoan thai và khẽ khàng ra khỏi phòng tiệc.
Trong một thoáng, Venexius ngồi sững như hoá đá, rồi chàng bật dậy lao về phía lối ra:
- Ligia! Ligia!…
Song dục vọng, nỗi kinh hoàng, sự cuồng nộ cùng rượu nho đã dần ngáng chân chàng. Chàng ngã lăn xuống, một lần, hai lần, rồi túm lấy cánh tay trần của một cô đồng tế rượu, chàng vừa chớp chớp mắt vừa hỏi:
- Có chuyện gì thế?
Ả ta cầm một cốc rượu nho đưa cho chàng với nụ cười trong đôi mắt mơ màng:
- Uống đi, - ả nói.
Venexius uống cạn và đổ gục xuống chân.
Phần lớn khách khứa đã nằm lăn dưới gầm bàn, những người khác lảo đảo đi lại xiêu vẹo trong phòng tiệc, bọn khác nữa lại ngủ trên các ghế dài đặt dọc bàn ăn, ngáy rền hoặc ựa ra phần rượu nho quá chén trong giấc mơ, còn những đoá hoa hồng vẫn rơi và rơi đều từ cái lưới căng trên trần nhà xuống những vị chấp chính quan và nguyên lão say mèm, xuống các vị hiệp sĩ, thi sĩ, triết gia say mèm, xuống các vũ nữ và quý tộc say mèm, xuống cả cái thế giới này, tuy hãy còn toàn quyền ngự trị nhưng đã quá vô lương, quá mãn nguyện, quá phân rã và đang lụi tàn đi.
Ngoài sân, trời bắt đầu rạng sáng.
Chú thích:
(1) Đây là các nữ tăng lữ trông giữ ngọn lửa vĩnh cửa ở đền thờ nữ thần Vexta ở Cổ La Mã. Họ được lựa chọn trong đám thiếu nữ từ sáu đến mười tuổi và đảm nhiệm chức vụ ba mươi năm. Họ rất được trọng vọng. Song nếu để ngọn lửa vĩnh cửu bị tắt thì sẽ bị tội hình, còn nếu để bị mất trinh thì bị chôn sống.


CHƯƠNG 8
Không có ai giữ Urxux lại, thậm chí cũng chẳng ai hỏi xem bác làm gi. Trong đám thực khách, kẻ nào còn chưa nằm lăn lóc dưới gầm bàn cũng không còn ở nguyên chỗ của mình nữa, nên lũ gia nhân khi trông thấy một người khổng lồ bế trên tay một nàng thực khách thì cho rằng chắc đó là một gã nô lệ mang cô chủ đang say mèm trên người của mình đi mà thôi. Thêm nữa, Akte đi ngay sau khi họ và sự có mặt của nàng xua tan mọi nỗi nghi ngờ.
Nhờ thế, họ đi được từ phòng tiệc lớn đến căn phòng kế bên, rồi từ đó qua dẫy hành lang dẫn về nơi ở của Akte.
Ligia kiệt sức đến nỗi nàng nặng trĩu như một người đã chết trên đôi tay bác Urxux. Song khi được làn không không khí ban mai trong lành và lạnh giá dội vào người, nàng liền mở mắt ra. Trời mỗi lúc một sáng. Lát sau, theo đường hàng cột họ quanh vào một hàng hiên nhánh không thông với sân trong mà thông với khu vườn của hoàng cung, nơi những ngọn thông và trắc bá đang rực hồng trong ánh bình mình. Phần này của tòa nhà vắng ngắt, hồi âm của tiếng nhạc cùng tiếng ồn ào huyên náo của đám thực khách vọng tới đây mỗi lúc một mơ hồ hơn. Ligia cảm thấy như được giải thoát ra khỏi địa ngục và được mang lên thế giới sáng sủa của các vị thần linh. Bởi ít ra cũng còn có một cái gì khác ngoài cái phòng tiệc kinh tởm đó. Có bầu trời, có bình minh, ánh sáng và sự tĩnh mịch. Cô gái bỗng òa lên khóc và dụi đầu vào vai bác khổng lồ nàng nức nở lặp đi lặp lại:
Về nhà đi bác Urxux, về nhà đi, về với ông bà Aulux đi!
Ta sẽ về, thưa cô! - Bác Urxux đáp.
Lúc đó họ đang ở trong gian chính sảnh của thông thiên nhỏ bé thuộc khu phòng ở của Akte. Bác Urxux đặt Ligia lên một chiếc ghế dài bằng cẩm thạch cách không xa đài phun nước. Còn Akte an ủi nàng, khuyên nàng đi nghỉ và cam đoan rằng tạm thời chưa có gì đe dọa nàng cả, bởi vì đám thực khách say sưa say bữa tiệc còn phải ngủ đến tận chiều. Song suốt một hồi lâu, Ligia không sao tự trấn tĩnh nổi và hai tay ôm chặt thái dương, nàng nhắc đi nhắc lại như một đứa trẻ:
Về nhà đi, về với ông bà Aulux đi!...
Bác Urxux đã sẵn sàng. Ở cổng có bọn lính cấm vệ canh gác, nhưng bác vẫn qua được như thường. Bọn lính không giữ người đi ra. Trước vòm cổng có vô số kiệu đang chen chúc nhau. Người ta đã bắt đầu đi ra cùng với đám đông và đi thẳng về nhà. Mà nói cho cùng bác có chấp gì cơ chứ? Nếu công chúa đã ra lệnh thì nhất định phải thực hiện rồi. Bác ở đây chính là để thực hiện mọi mệnh lệnh của nàng mà.
Còn Ligia cứ lặp đi lặp lại:
Phải, bác Urxux, ta đi ra đi!
Song Akte phải tỉnh táo thay cho cả hai người. Họ sẽ ra thoát. Đúng! Sẽ không kẻ nào giữ họ lại. Song không một ai được phép trốn khỏi cung Hoàng đế, kẻ nào làm điều đó là mắc trọng tội phạm thượng. Họ sẽ ra thoát nhưng đến chiều, một viên xenturion dẫn đầu một toán lính sẽ mang bản án tử hình tới cho ông Aulux và bà Pomponia Grexyna, còn Ligia thì sẽ lại bắt mang về hoàng cung, và khi ấy sẽ không còn cách nào cứu được nàng nữa cả. Nếu như ông bà Aulux cưu mang họ trong nhà mình thì chắc chắn cái chết đang chờ họ đó.
Tay Ligia chợt buông xuôi. Không còn cách nào cả. Nàng phải lựa chọn giữa cái chết của ông bà Aulux và cái chết của mình. Khi đến dự tiệc nàng còn hy vọng là Vinixius cùng ông Petronius sẽ cầu xin Hoàng đế giải thoát cho nàng, trả nàng về với bà Pomponia, nhưng giờ đây nàng đã biết được rằng chính họ đã xui khiến Hoàng đế cướp nàng từ tay ông bà Aulux. Không còn cách nào hết! Hoạ chăng chỉ là có phép thần mới có thể lôi nàng thoát khỏi cái vực thẳm này. Phép thần và uy quyền của Thượng đế.
- Chị Akte, - nàng thốt lên tuyệt vọng, - chị có nghe Vinixius nói Hoàng đế đã ban cho y, rằng chiều nay y sẽ phái nô lệ đến bắt em mang về nhà y chứ?
- Chị có nghe! - Akte đáp.
Và buông xuôi hai tay, nàng nín lặng. Sự tuyệt vọng của Ligia không hề gây nên một tiếng vang đồng vọng nào trong lòng nàng. Chính nàng cũng đã từng là tình nhân cũa Nerô kia mà. Trái tim nàng, dẫu tốt lành, vẫn không cảm thấy được sự kinh tởm của một mối quan hệ như thế. Trước kia, vốn là nô tỳ nên nàng quá gắn bó với luật lệ của kiếp đời nô lệ, thêm vào đó, cho tới nay, nàng vẫn còn yêu Nerô. Giá như Hoàng đế muốn quay trở lại với nàng, nàng sẵn sàng vươn tay ra đón. Người như đón chào niềm hạnh phúc. Giờ đây, nàng hiểu rất rõ hoặc rằng Ligia phải chịu trở thành người tình của chàng Vinixius trẻ trung và xinh đẹp, hoặc sẽ mang lại cái chết cho bản thân lẫn gia đình Aulux, nên nàng không hiểu nổi vì sao cô gái còn có thể do dự.
Ở hoàng cung - nàng nói sau giây lâu - em sẽ không được an toàn như ở nhà Vinixius đâu.
Nàng không hề nghĩ rằng, mặc dù nàng nói ra một sự thật song lời của nàng lại có nghĩa là: “Hãy phục tùng số mệnh và chịu làm tỳ thiếp của Vinixius đi thôi!”. Còn Ligia, hãy còn cảm thấy trên môi mình những chiếc hôn đầy dục vọng, thú vật và cháy bỏng như than hồng của chàng, thì chỉ nguyên việc nhớ lại những chuyện đó thôi cũng đã khiến cho máu nàng dồn lên mặt vì xấu hổ.
Không đời nào! - Nàng bật kêu lên - Em sẽ không ở lại đây, cũng sẽ không về nhà Vinixius, không đời nào!
Sự bùng nổ ấy khiến Akte ngạc nhiên.
Vậy ra - nàng hỏi - em thù ghét Vinixius đến thế kia ư?
Song Ligia không thể trả lời vì nàng lại khóc òa lên. Akte kéo nàng vào ngực mình và bắt đầu an ủi. Bác Urxux thở nặng nhọc xiết chặt hai nắm đấm, bác kính yêu công chúa của bác với lòng trung thành của một con chó nên bác không sao chịu đựng nổi những giọt lệ của nàng. Trong trái tim Ligia nữa hoang dã của bác chợt trào lên ý muốn quay trở lại phòng tiệc bóp chết ngay Vinixius và nếu cần cả Hoàng đế nữa, song bác sợ nói ra điều đó với cô chủ của mình, trong khi bác không biết chắc liệu cái hành động mà bác cho là vô cùng đơn giản ấy có xứng đáng với một tín đồ của Con Chiên Bị Đóng Đinh Câu Rút hay chăng.
Còn Akte vẫn ôm ấp Ligia và lại hỏi:
- Em thù ghét chàng lắm sao?
- Không - Ligia đáp - em không được phép căm thù chàng bởi vì em là một tín đồ Thiên chúa giáo.
- Chị biết chứ, Ligia. Và đọc thư của Đức Paven xứ Tarxu chị còn biết rằng các tín đồ Thiên chúa giáo không được phép tự làm nhục, không được sợ chết hơn sợ tội ác, nhưng thế thì em hãy nói cho chị biết giáo thuyết của các em có cho phép mang lại cái chết cho người khác hay không?
- Không ạ.
- Vậy tại sao em có thể cam tâm kéo sự trả thù của Hoàng đế đến với gia đình ông bà Aulux?
Một giây im lặng. Một cái vực thẳm không đáy lại mở ngoác ra trước Ligia.
Song người nô tỳ được giải phóng nói tiếp:
- Chị hỏi thế bởi chị tiếc cho em, cho bà Pomponia tốt bụng, cho ông Aulux và thằng bé con họ. Chị đã từng sống lâu trong nhà này rồi, chị biết cơn giận của Hoàng thượng sẽ đeo dọa điều gì? Không! Các người không thể trốn khỏi nơi đây. Em chỉ cần có duy nhất một con đường: Hãy cầu xin Vinixius để chàng đưa em về với bà Pomponia.
Song Ligia đã quỳ sụp xuống để cầu xin một người nào khác. Một giây sau, bác Urxux cũng quỳ xuống và trong cung điện của Hoàng đế trong ánh bình minh, cả hai người cùng cầu nguyện.
Lần đầu tiên Akte được nhìn thấy cảnh cầu nguyện như thế, nàng không sao rời mắt nổi khỏi Ligia đang quay nghiêng mặt lại với nàng, đầu ngẩng lên, hai tay vươn cao, mắt ngước lên trời, dường như chờ đợi sự cứu rỗi từ nơi ấy đến. Bình minh rọi ánh sáng lên mái tóc đen cùng chiếc áo peplum trắng tinh của nàng, lóng lánh trong con người nàng và ngập trong ánh sáng, chính nàng cũng hệt như ánh sáng. Trên khuôn mặt nhợt nhạt của nàng, trong dáng môi hé mở, trong đôi cánh tay vươn cao và trong mắt nàng có thể thấy một sự đắm say thiên giới. Giờ đây Akte đã hiểu được vì sao Ligia không thể trở thành tỳ thiếp của bất kỳ kẻ nào. Trước mắt người tình xưa của Nerô dường như vừa hé mở một góc màn phủ che một phần thế giới khác hẳn với cái thế giới mà nàng hằng quen thuộc. Cuộc cầu nguyện tại chính ngôi nhà đầy tội ác và kinh tởm này khiến nàng kinh ngạc. Chỉ vừa nãy thôi nàng còn cho rằng không có cách gì cứu nổi Ligia, giờ đây nàng bắt đầu tin rằng có thể sẽ xảy ra một chuyện gì đó phi thường, rằng sẽ có một sự ứng cứu hùng mạnh đến nỗi chính Hoàng đế cũng không thể cưỡng lại nổi, rằng từ trên cao sẽ có những vị thần có cánh bay xuống cứu giúp cô gái, hay mặt trời sẽ trải một thảm ánh sáng xuống dưới chân cô gái và kéo cô lên với mình. Akte đã từng nghe nhiều chuyện kỳ diệu trong các tín đồ Thiên chúa giáo và giờ đây nàng nghĩ rằng hẳn là tất cả những điều đó có thật, bởi Ligia đang cầu nguyện thành tâm thế kia mà.
Mãi sau, Ligia đứng dậy với nét mặt rạng rỡ niềm hy vọng, bác Urxux cũng nhổm lên rồi quỳ xuống cạnh chiếc ghế dài, nhìn cô chủ chờ đợi nàng sai bảo.
Mắt cô gái chợt nhòa đi, lát sau, hai giọt lệ lớn từ từ lăn trên gò má nàng.
- Cầu chúa ban phúc lành cho bà Pomponia và ông Aulux - nàng nói - Ta không có quyền đưa cái chết đến cho họ, vì vậy sẽ không bao giờ ta còn được gặp lại họ nữa!
Rồi quay sang bác Urxux, nàng nói với bác rằng giờ đây bác là người duy nhất còn lại bên nàng trên đời, rằng bác sẽ phải vừa là cha, vừa là người đỡ đầu của nàng. Cả hai không thể tìm nơi ẩn náu trong nhà ông bà Aulux, vì điều đó có thể kéo cơn giận dữ của Hoàng đế xuống đầu ông bà. Song nàng cũng không thể nào ở lại cung Hoàng đế hay về nhà Vinixius. Vậy bác Urxux hãy mang nàng ra khỏi thành phố, giấu nàng vào một nơi nào đó, sao cho cả Vinixius lẫn tôi tớ của chàng đều không thể tìm ra. Nàng sẽ theo bác đi đến bất cứ chốn nào, vượt biển, băng núi, đến với những tộc người man rợ, nơi không còn phải nghe thấy một cái tên của người La Mã nào nữa cả, nơi quyền lực của Hoàng đế không với tới. Bác hãy cưu mang và cứu lấy nàng, vì nàng chỉ còn mỗi mình bác nữa mà thôi.
Bác Ligi sẵn sàng làm việc đó và để bày tỏ sự vâng lời của mình, bác cúi xuống ôm lấy chân nàng. Trên mặt Akte, người đang chờ đợi một điều kỳ diệu, hiện lên vẻ thất vọng. Sự cầu nguyện kia chỉ mang đến có thế thôi ư? Trốn khỏi cung Hoàng đế là mắc vào trọng tội phạm thượng, tội ấy sẽ bị trừng phạt và cho dù Ligia có ẩn kín được chăng nữa, thì Hoàng thượng cũng sẽ trả thù ông bà Aulux. Nên quả nàng muốn trốn thì nên trốn đi từ nhà chàng Vinixius. Khi ấy, vốn không thích bận tâm đến chuyện của người khác, rất có thể Hoàng đế sẽ không muốn giúp Vinixius trong việc săn đuổi và ít nhất họ cũng không mắc vào tội phạm thượng.
Song chính Ligia cũng nghĩ như thế. Thậm chí gia đình họ Aulux kể cả bà Pomponia cũng sẽ không biết nàng trốn tránh ở đâu. Song nàng sẽ không trốn đi từ nhà Vinixius mà sẽ trốn dọc đường. Chàng đã nói với nàng trong cơn say rằng chiều sẽ phái nô lệ tới đón nàng. Hẳn là chàng nói thật, điều mà nếu tỉnh táo chắc chàng đã không hở ra. Chắc là chàng hoặc chàng cùng ông Petronius đã gặp Hoàng thượng trước bữa tiệc và xin được Hoàng thượng hứa rằng chiều hôm sau sẽ cho phép đón nàng. Nhưng bác Urxux sẽ cứu nàng. Bác sẽ xông đến, bế nàng ra khỏi kiểu, như đã bế nàng ra khỏi phòng tiệc và họ sẽ đi vào cuộc đời. Không kẻ nào có thể địch nổi bác Urxux. Ngay cả tay đô vật đáng sợ vừa múa võ tối qua trong phòng tiệc cũng chẳng thể đương đầu được với bác. Song, vì Vinixius có thể sẽ phái tới rất nhiều nô lệ, nên ngay lát nữa đây, bác Urxux sẽ tới gặp giám mục Linux để xin được khuyên và trợ giúp. Rủ lòng thương nàng, đức giám mục sẽ không để cho nàng lọt vào tay Vinixius và sẽ báo cho các tín đồ Thiên chúa giáo cùng bác Urxux đến cứu nàng. Họ sẽ đánh tháo nàng và đưa nàng đi, rồi sau đó tự bác Urxux sẽ biết cách mang nàng ra khỏi thành phố và giấu nàng vào nơi nào đó để tránh bạo lực của La Mã.
Nét mặt nàng bắt đầu ửng hổng và thoáng những nét tươi cười. Niềm cổ vũ lại đến với lòng nàng, dường như cái hy vọng được cứu thoát đã được biến ngay thành sự thật. Nàng bỗng ôm choàng lấy cổ Akte rồi kề đôi môi tuyệt vời của mình mà Akte, nàng thì thầm hỏi:
- Chị Akte, chị không phản chúng em chứ, phải không chị?
- Thề có hương hồn mẫu thân chị - người nô tỳ được giải phóng đáp - chị sẽ không phản bội các em, em hãy cầu Đức Chúa của em sao cho bác Urxux cứu thoát được em.
Còn đôi mắt màu thanh thiên đầy vẻ trẻ thơ của người khổng lồ nọ thì sáng ngời lên vì hạnh phúc. Bác không thể nghĩ ra một điều gì cả, dù có vặn gãy cái đầu đáng thương của mình đi chăng nữa, nhưng việc kia thì bác làm được. Dù ngày hay đêm đối với bác cũng vậy thôi!... Bác sẽ tới gặp đức giám mục, bởi người biết đọc từ trời cao xem cái gì là cần thiết và cái gì không cần. Song tự bác, bác cũng có thể tụ tập được các tín đồ Thiên chúa. Bác quen biết vô số nô lệ, đấu sĩ, những người tự do, cả ở khu Xubur lẫn khu bên kia cầu. Bác có thể tập hợp được một ngàn người hay đến cả hai ngàn người ấy chứ! Bác sẽ đánh tháo cho cô chủ của bác, còn chuyện đưa cô chủ ra khỏi thành phố, đi cùng với cô chủ thì bác thừa sức làm được! Họ sẽ đi, dẫu tới tận cùng thế giới, dẫu tới tận quê hương xứ sở, nơi chẳng hề có ai nghe nói gì về La Mã nữa cả!
Nói đến đây, bác nhìn thẳng về phía trước mặt, dường như muốn trông thấu điều gì đó trong quá khứ, đã vô cùng xa xôi, rồi bác reo lên:
- Vào rừng? Hây, rừng ra rừng, rừng ra rừng nhá!...
Song chỉ giây lâu, bác chợt tỉnh khỏi hồi ức.
Ồ, bác sẽ đi ngay tới gặp đức giám mục, và đến chiều tối thể nào bác cũng có trong tay chừng trăm người chực sẵn chờ kiệu. Và cầu sao cho không chỉ riêng bọn nô lệ đến đón nàng đi, mà cả bọn lính cấm vệ nữa. Tốt nhất là chớ có kẻ nào dại dột lăn vào nắm đấm của bác, dù hắn có mặc giáp sắt đi chăng nữa!... Sắt mà đã chắc chắn lắm à! Cứ nện thật lực vào sắt thì cả cái đầu bên dưới lớp sắt cũng đừng hòng chịu đựng nổi!
Song Ligia, với vẻ nghiêm nghị vừa trang trọng, vừa trẻ thơ giơ một ngón tay lên:
- Bác Urxux! Bác chớ có “giết chóc” đấy nhé! - Nàng bảo.
Bác già người Ligi cong cánh tay giống như một chiếc trùy gai của mình xoa xoa gáy với vẻ vô cùng bối rối. Bác nhất thiết phải cứu bằng được nàng kia mà - “ánh sáng của bác”. Chính nàng chả bảo là bây giờ đến lượt bác ra tay đấy ư? Bác sẽ cố gắng hết sức. Nhưng ngộ bác nhỡ tay thì sao? Bác phải cứu nàng kia mà. Thôi, nếu có chuyện gì, bác sẽ sám hối và cầu xin Con Chiên Vô Tội tha thứ cho bác, cho tới khi nào Con Chiên Bị Đóng Đinh Câu Rút mủi lòng thương một kẻ tội nghiệp như bác mới thôi…
Bởi bác đâu có muốn xúc phạm tới Con Chiên, có điều tay bác hơi nặng. Và để che giấu một nỗi xúc động sâu xa đang hiện lên trên gương mặt của bác, bác bèn cúi chào và nói:
- Tôi xin đi gặp Đức giám mục thiêng liêng.
Akte ôm ghì lấy cổ Ligia nấc lên.
Một lần nữa nàng hiểu ra rằng, có một thế giới nơi mà trong nỗi xót đau cũng vẫn còn nhiều hạnh phúc hơn so với trong tất thảy xa hoa và lạc thú ở cung Hoàng đế, một lần nữa hé ra trước mắt nàng một cách cửa mở về nơi ánh sáng, song đồng thời nàng lại cảm thấy rằng, nàng không còn xứng đáng được bước qua cánh cửa ấy nữa rồi.
CHƯƠNG 9
Ligia thương bà Pomponia Grexyna, người mà nàng yêu thương bằng cả tâm hồn, nàng nhớ thương cả gia đình ông Aulux, song cơn tuyệt vọng của nàng đã qua đi. Thậm chí nàng còn cảm thấy một sự dịu ngọt nào đó trong ý nghĩ rằng chính vì Chân lý của mình mà nàng hy sinh sự giàu sang, tiện nghi để dấn thân vào một cuộc sống lang thang và mới lạ. Trong đó có lẽ có một chút tò mò trẻ thơ muốn được biết cuộc sống ở những vùng xa xôi giữa những người man rợ và dã thú kia sẽ ra sao? Song nhiều hơn vẫn là một lòng tin sâu sắc và chân thành rằng làm như thế nàng đã làm đúng theo những lời răn dạy của Thánh sư và rằng từ phút này trở đi, chính Người sẽ che chở cho nàng như che chở cho một đứa con trung hiếu biết và biết vâng lời. Vậy thì làm sao còn có thể có điều dữ xảy ra với nàng được? Nếu khổ đau có tới chăng nữa thì nàng sẽ chịu đựng được vì sáng danh Người. Cái chết bất thần mà đến ư? Thì người sẽ mang nàng đi và một ngày kia khi bà Pomponia qua đời họ sẽ lại được cùng đoàn tụ mãi mãi, vĩnh hằng. Hồi còn ở nhà ông bà Aulux, hơn một lần nàng từng dày vò trí óc trẻ thơ của mình bởi ý nghĩ rằng nàng - một tín đồ Thiên chúa giáo - lại không thể làm được điều gì đó cho Đấng Bị Đóng Đanh Câu Rút, người mà bác Urxux vừa nhắc đến với sự xúc động nhường kia. Song giờ phút ấy đã tới. Ligia gần như cảm thấy sung sướng và nàng bắt đầu thổ lộ với Akte niềm hạnh phúc của mình, song Akte không tài nào hiểu nổi nàng. Từ bỏ tất cả, bỏ cả nhà cửa, sự no ấm, thành phố, vườn tược, đền đài, những hàng hiên, tất cả những gì đẹp đẽ nhất, từ bỏ đất nước ngập nắng mặt trời và những người thân thích ư? Và tại làm sao kia chứ? Chỉ để trốn tình yêu của một chàng hiệp sĩ trẻ và đẹp ư? Đầu óc Akte không sao hình dung nổi chuyện đó. Đôi khi, nàng cũng cảm thấy điều đó có lý, rằng thậm chí có thể có một niềm hạnh phúc to lớn và bí ẩn nào đó, song nàng không sao hiểu cho thật rõ ràng, thêm nữa lại còn có một bước ngoặt lớn đang chờ đợi Ligia, bước ngoặt ấy có thể sẽ kết thúc rất tồi tệ, thậm chí cô gái rất có thể mất mạng như bỡn. Về bản chất, Akte vốn nhút nhát, nàng sợ hãi nghĩ tới những điều mà buổi chiều tối hôm đó có thể đưa tới. Song nàng không muốn nói cho Ligia biết những nỗi lo âu của mình: Trong khi đó, trời đã sáng, mặt trời đã rọi vào chính sảnh thông thiên, nàng bèn khuyên cô gái đi nghỉ, cần phải nghỉ ngơi sau một đêm mất ngủ. Ligia không phản đối và cả hai bước sang buồng ngủ, buồng ngủ này rộng rãi, bài trí xa hoa, kết quả của những mối quan hệ xưa kia giữa Akte và Hoàng đế. Ở đó, họ ngả lưng xuống bên nhau, song mặc dù mệt mỏi. Akte không sao chợp mắt nổi. Từ lâu, nàng buồn rầu và bất hạnh, song giờ đây nàng lại thêm một nỗi lo lắng mà trước đây nàng không hề biết tới. Cho đến nay nàng chỉ cảm thấy cuộc sống là nặng nề và không có ngày mai, còn giờ đây nàng bỗng cảm thấy nó thật là vô luân.
Đầu óc nàng mỗi lúc một thêm quay cuồng. Cánh cửa mở ra phía ánh sáng lúc thì hé ra. Lúc thì khép lại. Vào lúc nó hé ra, thứ ánh sáng ấy lại khiến nàng lóa mắt, đến nỗi nàng chẳng trông thấy một thứ gì rõ nét cả. Nàng chỉ ước đoán được rằng trong thứ ánh sáng rực rỡ ấy chứa đựng một niềm hạnh phúc vô biên mà bên cạnh nó mọi thứ khác đều nhỏ bé đến thảm hại, đến nỗi giá như - nói thí dụ - Hoàng đế có xa Poppea và trở lại yêu nàng chăng nữa, thì cả điều đó cũng chỉ là một chuyện vô vị mà thôi. Nàng chợt nảy ra ý nghĩ rằng vị Hoàng đế mà nàng hằng yêu dấu và đã vô hình chung coi như vị nửa thần thánh kia cũng chỉ là một thứ gì đó thật cỏn con như mọi kẻ nô lệ, còn cái cung điện với những hàng cột bằng đá cẩm thạch Numidi cũng chẳng hơn gì một đống đá vụn. Song rốt cuộc, những cảm giác mà nàng không sao hiểu nổi ấy khiến nàng mệt mỏi. Nàng rất muốn được ngủ thiếp đi, nhưng không sao ngủ được bởi nỗi lo lắng dày vò.
Cuối cùng, đoán rằng Ligia, kẻ mà trên đầu đang treo lơ lửng kia biết bao mối đe dọa và những điều phấp phỏng thế kia, hẳn cũng không thể ngủ được, nàng bèn quay sang cô gái để trò chuyện về cuộc chạy trốn chiều nay.
Song Ligia đang ngủ ngon lành. Vài tia sáng rực rỡ lọt qua bức rèm kéo không thật kín rọi vào phòng ngủ tối, trong những tia sáng, những hạt bụi vàng bay lượn. Nhờ ánh sáng ấy, Akte thấy được khuôn mặt thanh tú của cô gái trên cánh tay trần, cặp mắt nhắm nghiền và đôi môi hơi hé mở. Cô gái thở đều đặn, như người ta thường thở khi đang có một giấc mơ.
“Nó ngủ, nó vẫn có thể ngủ được! - Akte nghĩ thầm - Nó hãy còn là một đứa trẻ kia mà”.
Song lúc sau nàng chợt nghĩ ra rằng, đứa trẻ ấy thà đi trốn còn hơn trở thành người tình của Vinixius, thà chịu sống nghèo hèn còn hơn chịu nhục, thà cầu bất cầu bơ còn hơn phải sống trong ngôi nhà tuyệt vời ở gần Karyn, hơn quần áo, đồ mỹ trang, hơn tiệc tùng, hơn tiếng đàn sáo.
“Vì sao thế nhỉ?”
Và nàng đưa mắt ngắm Ligia, dường như muốn tìm lời giải đáp trên khuôn mặt xinh đẹp đang say ngủ của cô gái. Nàng nhìn vầng trán trắng trong của cô gái, nhìn vòng cung lông mày thanh tú, nhìn hàng mi đen, nhìn đôi môi hé mở, nhìn khuôn ngực thiếu nữ đang thở đều đều, rồi nàng lại nghĩ:
“Nó mới khác ta biết bao!”
Và nàng chợt ngỡ như Ligia là một sự màu nhiệm một hình ảnh tiên giới, một thứ thiên ưu nào đó, trăm lần xinh đẹp hơn mọi loài hoa trong vườn, hơn hết thảy mọi pho tượng trong nhà Hoàng đế. Song trong trái tim người thiếu nữ Hy Lạp ấy không hề vẩn một chút ghen tị. Cứ nghĩ đến những nguy hiểm đang đe dọa cô gái, lòng nàng lại tràn ngập một tình thương bao la. Thức dậy trong lòng nàng một tình mẫu tử nào đó, đối với nàng, Ligia không những chỉ đẹp tuyệt vời như một giấc mơ tuyệt đẹp, mà còn vô cùng thân thiết nữa và kề môi vào mái tóc màu sẫm của cô gái, nàng bắt đầu hôn lên đó.
Còn Ligia vẫn ngủ ngon lành như ngủ ở chính nhà mình, dưới sự chăm sóc của bà Pomponia Grexyna. Nàng ngủ khá lâu. Mãi quá trưa, nàng mởi mở đôi mắt xanh thẳm của mình và bắt đầu nhìn quanh phòng ngủ với vẻ rất ngạc nhiên.
Rõ ràng nàng kinh ngạc bởi không phải nàng đang ở trong nhà ông bà Aulux.
- Chị đấy ư, chị Akte? - Mãi sau nàng mới hỏi khi nhận ra trong bóng tối nét mặt của người con gái Hy Lạp.
- Chị đây, Ligia.
- Chiều tối rồi ư chị?
- Chưa đâu cô bé ạ, nhưng đã quá trưa rồi.
- Bác Urxux vẫn chưa về ư chị?
- Bác Urxux không bảo là sẽ quay về mà nói là chiều tối sẽ cùng với những người Thiên chúa giáo chực sẵn chờ kiệu em.
- Phải rồi!
Sau đó rời phòng ngủ, họ sang buồng tắm, sau khi đã tắm rửa cho Ligia. Akte đưa nàng đi ăn sáng, rồi dẫn ra các khu vườn của hoàng cung, nơi họ không phải lo sợ sẽ gặp bất cứ một nguy hiểm nào, bởi lẽ Hoàng đế cùng tất thảy đám cận thần của y hãy còn đang ngủ. Lần đầu tiên trong đời, Ligia được trông thấy những khu vườn tuyệt đẹp mọc đầy trắc bá, thông, sồi, ô liu và sim thơm. Trong đó nổi bật lên màu trắng của hằng sa số pho tượng, lấp lánh những tấm kính thanh bình của khu vườn ươm rực rỡ nở hoa những khóm hồng được tưới bằng bụi nước của đài nước phun, nơi lối vào các hang động đầy kỳ diệu phủ đầy dây trường xuân hay dây nho, nơi những con thiên nga màu trắng bạc bơi lội trên mặt nước, len lỏi giữa những bức tượng và cây cối là những đàn nai vàng đã được thuần hóa từ các sa mạc Phi châu cùng đủ loài chim chóc muôn màu được đưa về từ mọi vùng đất trên thế giới mà người ta từng biết đến.
Các khu vườn vắng ngắt, đây đó chỉ có bọn nô lệ cầm cuốc đang làm việc khe khẽ hát ca, những kẻ khác được người ta cho nghỉ ngơi trong chốc lát đang ngồi cạnh những cây ươm hoặc trong bóng rợp của những cây sồi, trong những đốm sáng lung linh mà mặt trời rọi qua tán lá tạo nên, còn những người khác nữa đang phun nước tưới hoa hồng hay hoa kỷ phù lam. Akte cùng Ligia đi khá lâu, ngắm nghía đủ mọi thứ kỳ quan ngoạn mục của khu vườn và mặc dù đầu óc Ligia không thanh thản song nàng hãy còn quá trẻ thơ để có thể cưỡng lại sự hấp dẫn, sự tò mò và kinh ngạc. Thậm chí nàng còn nghĩ rằng giá như Hoàng đế là người tốt thì được sống trong cái cung điện như thế kia và trong những khu vườn như thế này hẳn phải là người vô cùng hạnh phúc.
Cuối cùng, hơi thấm mệt, họ cùng ngồi xuống một chiếc ghế dài được che khuất gần như hoàn toàn trong một bụi trắc bá và bắt đầu trò chuyện về điều nặng nề nhất đang đè lên trái tim, đó là cuộc trốn chạy đêm nay của Ligia. So với Ligia, Akte không mấy tin tưởng vào sự thành công của cuộc đi trốn. Thậm chí đôi lúc nàng cho rằng đó chỉ là một ý đồ điên khùng không thể nào thành công được. Mỗi lúc, nàng càng thấy thương hại Ligia. Nàng cho rằng việc thử thách tìm cách thuyết phục Vinixius dẫu sao cũng trăm lần an toàn hơn. Lát sau, nàng bắt đầu hỏi cô gái xem cô quen biết Vinixius đã lâu chưa, liệu cô có nghĩ rằng có thể cầu xin chàng được chăng và liệu chàng có trả cô về với bà Pomponia hay không?
Song Ligia buồn bã lắc mái đầu màu sẫm của nàng.
- Không đâu. Hồi còn ở nhà ông bà Aulux, Vinixius là một người khác hẳn, chàng tốt vô cùng, nhưng kể từ bữa tiệc hôm qua, em đâm ghê sợ chàng. Em thà chạy trốn về với những người Ligi còn hơn.
Akte hỏi tiếp:
- Song lúc ở nhà ông bà Aulux, đối với em chàng đáng yêu chứ?
- Vâng ạ - Ligia đáp và nàng cúi đầu.
- Em đâu phải là nô tỳ như chị trước kia - Akte nói sau một lúc suy nghĩ - Vinixius có thể cưới em được chứ. Em còn là con tin, là công chúa con vua Ligi. Ông bà Aulux lại yêu em như con đẻ và chị tin chắc rằng ông bà sẵn sàng nhận em là con gái. Ligia, Vinixius có thể cưới em được cơ mà?
Song cô gái đáp khẽ, càng buồn hơn:
- Em muốn chạy trốn đến với người Ligi.
- Ligia em, em có muốn ngay bây giờ chị đến chỗ Vinixius đánh thức chàng dậy, nếu chàng còn đang ngủ và nói với chàng điều mà chị đang nói cùng em không? Phải, em thân yêu của chị, chị sẽ đến gặp chàng vào bảo chàng rằng: “Vinixius, đó là một công chúa con vua và là đứa con gái yêu của ngài Aulux quang vinh, nếu như anh yêu nàng hãy trả nàng về cho ông bà Aulux, rồi sau đó xin cưới nàng làm vợ và đón nàng từ nhà họ về nhà anh”.
Còn cô gái trẻ bằng giọng khẽ đến nỗi Akte chỉ thoáng nghe thấy:
- Em muốn về với người Ligia.
Và hai giọt lệ treo trên hàng mi đã hạ xuống của nàng.
Câu chuyện bị gián đoạn bởi tiếng chân đang tiến lại gần và trước khi Akte kịp nhìn xem ai đang đi tới, trước ghế dài đã xuất hiện hoàng hậu Xabina Poppea với một toán nhỏ thị nữ theo hầu. Hai trong đám thị tỳ cầm những chùm lông đà điểu gắn vào cán vàng giương lên trên đầu ả và dùng chúng phe phẩy nhẹ nhàng quạt cho ả, đồng thời che bớt ánh nắng mặt trời mùa thu hãy đang còn gay gắt. Đi trước ả là một thì tỳ người Etiopia đen như mun, với bộ ngực phồng căng như quá đầy sữa, bế trên tay một đứa trẻ bọc trong chiếc khăn màu huyết dụ với những tua rua vàng. Akte và Ligia đứng dậy, ngỡ rằng Poppea chỉ đi ngang qua chiếc ghế, không để ý đến họ, song ả đã dừng chân lại trước mặt họ và nói:
- Akte, những cái lục lạc mà người khâu vào incunculi (búp bê), khâu không chắc, đứa trẻ bứt ra một cái đưa lên miệng, may mà Lilith trông thấy kịp.
- Xin thiên hậu lượng thứ - Akte đáp, hai tay khoanh trước ngực và cúi đầu.
Poppca bắt đầu nhìn sang Ligia.
- Đứa nô tỳ nào thế này - lúc sau ả hỏi.
- Đây không phải là nô tỳ, thưa Auguxta thiên thần, mà là đứa con nuôi của bà Pomponia Grexyna và là con gái của vua Ligi, được người ta nộp cho La Mã làm con tin.
- Nó đến thăm nhà ngươi à?
- Bẩm không, thưa Auguxta. Cô ta vào ở trong hoàng cung cách đây chưa lâu.
- Hôm qua nó có dự tiệc không?
- Bẩm có, thưa Auguxta.
- Theo lệnh ai?
- Bẩm, theo lệnh của Hoàng thượng…
Poppea nhìn Ligia chăm chú hơn nữa, cô gái đứng cúi đầu trước mặt ả, lúc ngước đôi mắt long lanh của mình nhìn lên vì tò mò, lúc lại cụp mi mắt xuống. Bỗng một nếp nhăn xuất hiện giữa đôi lông mày của Auguxta. Ghen tức vì sắc đẹp và quyền binh của mình, ả sống trong một nỗi lo hãi triền miên, rằng một ngày kia sẽ có một nữ địch thủ may mắn nào đó đánh bại ả như chính ả đã từng đánh bại Oktavia. Vì vậy, mỗi một khuôn mặt xinh đẹp trong cung điện đều dấy lên trong lòng ả nỗi nghi ngờ. Bằng con mắt của người đàn bà sành sỏi, ả thâu tóm ngay tức khắc toàn bộ hình hài Ligia, đánh giá từng nét trên mặt nàng và ả chợt lo sợ. “Đây quả là một tiên nữ - ả nhủ thầm - Chính nữ thần sắc đẹp Venux đã sinh ra con bé”. Và trong lòng ả chợt nảy ra một điều mà cho tới nay chưa hề nảy ra trong óc ả khi nhìn một người đẹp nào khác, rằng ả già hơn quá nhiều. Lòng tự ái bị tổn thương trong ả bắt đầu rung lên, nỗi lo lắng và những nỗi e sợ khác nhau bắt đầu lướt qua óc ả nhanh như ánh chớp “Rất có thể Nerô chưa nhìn thấy con bé hoặc chỉ nhìn nó qua viên bích ngọc nên chưa thấy hết được giá trị của nó. Song điều gì sẽ xảy ra nếu như Hoàng đế gặp con bé tuyệt với này vào ban ngày, trong ánh sáng mặt trời?... Thêm nữa, nó lại không phải là nô tỳ. Là công chúa con vua, dù là vua dân man rợ song vẫn cứ là công chúa. Lạy các vị thần linh bất tử. Con bé đẹp ngang ta, nhưng nó lại trẻ hơn. Và nếp nhăn giữa đôi lông mày càng hằn sâu hơn, đôi mắt của ả dưới hàng mi vàng bắt đầu phát ra thứ ánh sáng lạnh buốt.
Song quay sang Ligia, ả vẫn hỏi với giọng bình thản bề ngoài:
Ngươi đã được trò chuyện cùng Hoàng thượng chưa?
- Dạ chưa, thưa Auguxta.
- Tại sao ngươi lại muốn ở đây hơn ở nhà ông bà Aulux?
- Em đâu muốn, tâu lệnh bà. Ngài Petronius xui Hoàng thượng bắt em rời khỏi nhà ông bà Pomponia, ở đây em sống như kiếp nô lệ, ôi lệnh bà!...
- Vậy ra ngươi muốn được quay trở về với ông bà Pomponia ư?
Câu này Poppea hỏi bằng giọng mềm mại và ôn tồn hơn nên trái tim của Ligia chợt trào lên một niềm hy vọng:
- Tâu lệnh bà! - Nàng vừa thốt lên vừa chìa tay về phía Poppea - Hoàng thượng hứa sẽ ban em như một nô tỳ cho chàng Vinixius, song xin lệnh bà bênh vực em và trả em về với bà Pomponia.
- Thế nghĩa là Petronius xui Hoàng thượng tước đoạt nhà người ra khỏi tay ông bà Aulux để ban cho Vinixius?
- Bẩm vâng, thưa lệnh bà. Ngay hôm nay, Vinixius sẽ phái người đến đón em, nhưng lệnh bà nhân hậu, xin lệnh bà hãy rủ lòng thương em.
Nói thế, nàng cúi xuống nắm lấy gấu áo dài của Poppea, nàng chờ câu trả lời của hoàng hậu với cả trái tim đập dồn dập. Còn Poppea nhìn nàng một lát với bộ mắt ánh lên một nét cười nham hiểm rồi nói:
- Vậy thì ta hứa với ngươi rằng ngay trong ngày hôm nay, ngươi sẽ được trở thành tỳ thiếp của Vinixius.
Rồi ả bước đi, tựa như một ảo ảnh xinh đẹp mà tàn bạo. Tai Akte và Ligia chỉ còn nghe thấy tiếng đứa trẻ chẳng hiểu vì lý do gì chợt khóc thét lên.
Mắt Ligia cũng chứa chan lệ, song lúc sau nàng cầm lấy tay Akte và nói:
- Ta quay về thôi chị. Chỉ có thể chờ đợi sự cứu giúp từ phía nó có thể tới mà thôi.
Họ quay về gian chính sảnh thông thiên và cho tới chiều không bước chân ra ngoài. Khi trời đã sẩm tối, bọn nô lệ mang vào phòng những chiếc đèn cầy bốn ngọn với những ngọn lửa bốc to, cả hai trông rất nhợt nhạt. Câu chuyện giữa họ với nhau chốc lại bị gián đoạn. Cả hai cùng lắng nghe xem có ai đang đến không. Ligia cứ nhắc đi nhắc lại rằng mặc dù nàng rất tiếc phải rời xa Akte, nhưng chắc bác Urxux đang nóng lòng đợi nàng ở ngoài kia, trong bóng đêm, nên nàng muốn sao cho mọi chuyện diễn ra ngay trong ngày hôm nay. Vì xúc động, hơi thở của nàng mỗi lúc một gấp gáp và nghe mạnh hơn. Akte vội vã vơ vét tất cả những thứ đồ nữ trang mà nàng có thể vơ được buộc túm vào một góc áo peplum và dặn Ligia đừng vứt món quà ấy giữa đường chạy trốn. Chốc chốc lại bao trùm một sự im lặng nặng nề đầy những huyền âm trong tai. Cả hai ngỡ như nghe thấy tiếng thì thào nào đó sau bức màn, lúc thì lại nghe tiếng khóc xa xa của trẻ em, lúc lại nghe tiếng chó sủa.
Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 22


Mãi tới lúc vào đến hiên, Vinixius mới hiểu hết toàn bộ khó khăn trong hành động của chàng. Đó là một ngôi nhà khá lớn, nhiều tầng, một trong hàng nghìn ngôi nhà được người ta xây dựng ở Roma để kiếm lợi bằng cách cho thuê buồng, song thông thường được xây vội vã và tạm bợ đến nỗi không năm nào không có vài ngôi nhà như thế đổ sụp xuống đầu những người ở trọ. Đó quả thực là một cái tổ ong, quá cao và quá hẹp, đầy các phòng và những phòng xép trong đó sống chen chúc đám dân vừa nghèo khổ vừa quá đông đúc. Trong một thành phố mà nhiều phố không có tên gọi, những ngôi nhà như thế không hề có số thứ tự, những người chủ giao việc thu tiền nhà cho bọn nô lệ, còn bọn chúng lại không có nghĩa vụ phải báo tên tuổi những người sinh sống trong nhà cho chính quyền thành phố, nên thường khi, chúng cũng chẳng biết tên họ nữa. Trong một ngôi nhà như thế, có hỏi thăm về một ai cũng thật khó khăn, nhất là khi bên cổng không có người gác.
Đi qua hàng hiên dài giống như một hành lang, Vinixius và Kroton lọt vào một sân trong chật hẹp, bốn phía đều là nhà, cái sân là một loại chính sảnh thông thiên chung cho toàn bộ ngôi nhà, cũng có một đài phun nước ở giữa, phun nước lên cái đĩa bằng đá xây sát mặt đất. Trên các bức tường là những cầu thang xây bên ngoài nhà chạy lên cao, một phần bằng đá, một phần bằng gỗ, còn những ngăn khác ngăn cách với cái sân chỉ bởi những tấm rèm che bằng len, phần lớn đã cũ kỹ, rách nát hoặc ố bẩn.
Hãy còn sớm quá nên trên sân không một bóng người. Hẳn là trong nhà mọi người hãy đang ngủ, trừ những người mới từ Oxtrianum quay về.
- Ta làm gì đây, thưa ngài? - Kroton hỏi và dừng lại.
- Ta hãy chờ ở đây đã, có thể sẽ có ai đó ra - Vinixius đáp - Đừng để cho người ta trông thấy chúng ta trong sân.
Song đồng thời chàng cũng nghĩ thầm rằng lời khuyên của lão Khilon quả là thực tế. Giá có trong tay vài chục nô lệ, hẳn chàng đã cho vây chặt cổng ra vào - đó có lẽ là lối ra vào duy nhất - và lùng sục tất cả các phòng, còn giờ đây, chàng cần phải sục đúng ngay vào phòng Ligia, nếu không những người Thiên chúa giáo - mà chắc trong ngôi nhà này không thiếu gì - có thể đánh động cho nàng biết rằng người ta đang đi tìm nàng. Vì vậy dò hỏi những người lạ cũng không phải là việc an toàn. Vinixius thoáng nghĩ xem có nên quay về lấy theo bọn nô lệ hay chăng, thì bỗng từ dưới bức rèm che căn hộ phía xa có một người tay cầm rổ bước ra, tiến lại gần vòi phun.
Thoạt nhìn, chàng trai đã nhận ra ngay bác Urxux.
- Chính tên Ligi đấy!, - Vinixius thì thầm
- Tôi có cần phải bẻ gãy xương nó ngay lập tức không?
- Khoan đã!
Bác Urxux không nhìn thấy họ vì họ đang đứng trong bóng tối của hàng hiên, bác bình thản rửa rau đựng đầy trong cái rổ. Chắc là sau cả đêm thức tại nghĩa địa, bác muốn sửa soạn bữa tối cho cả bọn. Sau khi xong việc, bác cầm cái rổ ướt nước và biến mất sau tấm rèm che. Kroton và Vinixius bám theo bác vì nghĩ rằng sẽ vào đúng ngay phòng của Ligia.
Vì vậy họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng đằng sau tấm rèm che ngăn cách với sân trong kia không phải một căn phòng mà là một hành lang mờ tối thứ hai nữa, cuối hành lang trông rõ một mảnh vườn nhỏ có vài cây trắc bá, vài bụi sim thơm và một gian nhà nhỏ dựa vào tường sau kín bưng của một ngôi nhà bằng đá khác.
Cả hai hiểu ngay rằng đó là một điều thuận lợi cho họ. Trên sân chung, dân trong nhà có thể tập trung cả lại, còn ngôi nhà nhỏ này đứng tách biệt, nên họ hành động được dễ dàng hơn. Nhanh chóng hạ thủ những người bảo vệ, nói đúng hơn là bác Urxux, rồi nhanh chóng mang theo nàng Ligia bị bắt cóc chạy ra phố, ra bến đò thì họ có thể an tâm rồi. Hẳn sẽ không kẻ nào dám can thiệp vào, mà giá như có kẻ nào can thiệp, thì họ sẽ bảo rằng đây là một con tin của Hoàng đế bỏ trốn, cùng lắm thì Vinixius sẽ cầu viện bọn vigin và báo cho bọn chúng biết.
Bác Urxux sắp bước vào ngôi nhà nhỏ thì tiếng bước chân sột soạt khiến bác chú ý, bác bèn dừng lại, và khi trông thấy hai người, bác đặt cái rổ xuống mặt lan can rồi quay lại phía họ:
- Các ông tìm gì ở đây? - Bác hỏi
- Tìm mày đấy - Vinixius đáp
Rồi quay lại phía Kroton, chàng gọi bằng một giọng gấp gáp nhưng nén lại:
- Giết!
Như một con hổ, Kroton lao tới, và chỉ trong chớp mắt, trước khi người đàn ông Ligi kịp định thần hoặc nhận ra kẻ thù, y đã tóm chặt bác trong đôi cánh tay bằng thép của mình.
Vinixius quá tin tưởng vào sức lực siêu nhân của y nên không cần chờ cuộc đấu kết thúc, chàng vượt qua hai người, lao về phía cửa ra vào của ngôi nhà, đẩy nó bật ra và lao vào gian nhà hơi tối song có ánh lửa đang cháy trong lò chiếu sáng. Ánh lửa chiếu thẳng vào khuôn mặt Ligia. Còn người thứ hai ngồi bên đống lửa chính là ông cụ già đi cùng với cô gái và bác Urxux trên đường từ Oxtrianum quay về.
Vinixius lao vào bất thần đến nỗi trước khi Ligia kịp nhận ra chàng thì chàng đã ôm ngang lưng nàng, nhấc bổng lên và lại lao ra phía cửa. Cụ già kịp chắn ngang đường chàng, nhưng một cánh tay chàng đã ghì chặt thiếu nữ vào ngực, còn tay kia được tự do liền gạt ngã cụ. Cái mũ choàng tụt ra khỏi đầu chàng, trông thấy bộ mặt quen thuộc đối với nàng, bộ mặt kinh hoàng đối với nàng vào giây phút này, vì quá hoảng hốt máu như dừng lại trong người Ligia, tiếng nàng tắc nghẹn trong cổ họng. Nàng muốn kêu cứu song không kêu nổi. Nàng muốn tóm lấy khung cửa để giằng lại nhưng vô hiệu. Những ngón tay nàng trượt dài trên mặt đá và hẳn nàng đã ngất đi, nếu như không có một cảnh tượng kinh khủng đập vào mắt nàng khi Vinixius ôm nàng lao ra ngoài vườn.
Bác Urxux đang ghì trong hai tay một người nào đó, y hoàn toàn gập người ra phía sau lưng, đầu ngửa ra, mồm đầy máu. Nhìn thấy họ, bác giáng một quả đấm nữa vào đầu y, rồi trong nháy mắt, như một con thú dữ sổng chuồng, bác nhảy vọt tới bên Vinixius.
“Chết rồi!” - Chàng quý tộc trẻ tuổi thoáng nghĩ.
Rồi sau đó chàng nghe tiếng kêu của Ligia như qua một giấc mơ: “đừng giết!”, tiếp đó chàng cảm thấy có cái gì nhanh như chớp tháo tung hai cánh tay chàng đang ôm cô gái, mặt đất quay cuồng trước chàng và ánh ngày vụt tắt trong đôi mắt chàng.
….
Lão Khilon vẫn nấp sau góc phố chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra, và trong lòng lão nỗi sợ hãi vẫn đang đấu tranh với sự tò mò. Lão nghĩ rằng, nếu như họ bắt cóc được Ligia thì việc có mặt bên Vinixius là điều tốt. Lão không còn sợ Urxux nữa vì tin chắc rằng Kroton sẽ giết chết bác ta. Ngược lại, lão tính rằng, nếu như trên đường phố mà cho tới lúc này vẫn vắng người lại trở nên nhộn nhạo, nếu như dân Thiên chúa hay bất cứ bọn người nào khác muốn chống lại Vinixius, thì lão sẽ nói với họ như một vị đại diện của chính quyền, như một người thi hành ý muốn của Hoàng đế, và trong trường hợp cần kíp lắm lão mới gọi đám vigin đến giúp chàng quý tộc trẻ tuổi chống lại bọn vô lại đường phố, và chuyện ấy hẳn sẽ cho phép lão được bỏ vào túi lão thêm những món tiền ân thưởng mới. Trong lòng, lão vẫn cứ nghĩ rằng Vinixius đã hành động thiếu thận trọng, song trông đợi vào cái sức mạnh khủng khiếp của Kroton, lão đồ rằng có thể họ sẽ thành công. “Cùng lắm, chính ngài hộ dân quan sẽ bế cô gái đi, còn Kroton chặn hậu”. Song với lão, thời gian dường như cứ kéo dài mãi ra, sự im lặng của cái hàng hiên mà lão trông thấy từ xa khiến lão lo lắng.
“Nếu họ không tìm được đúng nơi cô ả trốn mà lại gây ồn ào thì thể nào cũng đánh động tới cô nàng”
Và ý nghĩ ấy cũng không khiến lão phiền lòng, lão hiểu rằng khi ấy lão lại trở nên cần thiết cho Vinixius và lão lại có thể biết cách bóp nặn của chàng một số lớn những đồng xextecxi.
“Dù bọn họ có làm gì đi nữa - lão tự nhủ - thì cũng là làm cho ta, dù chẳng có ai nghĩ ra điều ấy… Lạy các thần, lạy các thần, chỉ cần cho phép tôi… “
Đột nhiên lão ngắt đoạn nữa chừng, bởi lão thấy hình như có cái gì ló ra khỏi hàng hiên, lão bèn nép thật sát vào tường dõi nhìn, nín thở.
Lão quả không nhầm, vì từ hàng hiên có đầu ai đó ngó ra và bắt đầu ngó quanh.
Lát sau nó lại biến mất.
“Đó hẳn là Vinixius hoặc Kroton - lão Khilon nghĩ thầm, - nhưng nếu đã bắt cóc được cô gái thì tại sao cô ả không kêu toáng lên, tại sao bọn họ lại phải dòm chừng ra phố? Dù sao thì họ cũng sẽ phải chạm trán với mọi người vì trước khi họ về tới được Karyny thì trong thành đã nhộn nhịp lên rồi kia mà? Vậy là cái gì? Lạy tất cả các thần linh bất tử!… “
Bỗng những sợi tóc còn sót lại trên đầu lão dựng cả lên.
Trong cửa hiện ra bác Urxux với xác Kroton vắt ngang qua vai, bác trông trước trông sau một lần nữa trước khi chạy dọc theo cái phố vắng ngắt dẫn ra sông.
Lão Khilon dán chặt mình vào tường gần dẹt như một miếng vữa trát tường.
“Mình sẽ chết mất nếu hắn trông thấy mình” - lão nghĩ thầm.
Nhưng bác Urxux chạy nhanh vượt qua góc phố và khuất ngay sau ngôi nhà tiếp đó. Lão Khilon không chờ đợi lâu la gì thêm nữa liền ù té chạy vào cái phố ngang, răng đánh lập cập vì kinh hoàng.
“Nếu khi quay trở lại hắn trông thấy mình từ xa, hắn sẽ chạy theo và giết mình mất, - lão tự nhủ - Hãy cứu lấy tôi, hỡi thần Zeux, hãy cứu tôi, hỡi thần Apolon, hãy cứu tôi, hỡi thần Hermex, cứu tôi với, hỡi Đức Chúa của những người Thiên chúa! Tôi sẽ rời bỏ Roma, quay trở về Mezembria, nhưng xin hãy cứu tôi thoát khỏi tay con quỷ này”.
Đối với lão, vào giây phút này, người đàn ông Ligi đã giết Kroton quả là một sinh linh siêu phàm. Vừa chạy trốn, lão vừa nghĩ rằng đó rất có thể là một vị thần linh đội lốt một kẻ dã man. Vào giây phút này, lão tin vào tất cả thần thánh trên đời và tất cả mọi huyền thoại mà thường ngày lão vẫn chế giễu. Ý nghĩ chính Đức Chúa của người Thiên chúa giáo đã giết chết Kroton lướt qua đầu óc lão và tóc lão lại dựng ngược lên khi nghĩ rằng lão đã dám đùa với một sức mạnh khủng khiếp như thế.
Mãi tới khi vượt qua mấy phố hẻm và trông thấy những người thợ nào đó từ xa đang đi ngược đến, lão mới bình tĩnh lại đôi chút. Ngực lão đã hụt hơi, lão bèn ngồi xuống ngưỡng cửa của một ngôi nhà và dùng góc áo choàng lau cái trán đẫm mồ hôi.
“Mình già rồi, mình cần được yên tĩnh” - lão nói.
Những người đi ngược chiều lại phía lão đã rẽ sang một phố ngang nào đó, lão còn lại mỗi mình. Thành phố hãy còn đang ngủ yên. Về buổi sáng sớm chính trong những khu phố giàu nhất nhộn nhịp hơn, vì đám nô lệ của những gia đình giàu có phải thức dậy sớm, còn ở những khu phố của đám dân tự do sống bám vào nhà nước, nghĩa là đám dân vô nghề nghiệp, thì người ta dậy khá muộn, nhất là về mùa đông. Sau khi ngồi hồi lâu trên ngưỡng cửa, lão Khilon thấy thấm lạnh, lão bèn đứng dậy, và sau khi chắc mẩm mình đã không đánh rơi mất túi tiền nhận được của Vinixius lão bèn chậm rãi đi về phía sông.
“Có thể mình sẽ thấy xác Kroton đâu đó cũng nên - lão tự nhủ. - Lạy các thần! Thằng cha người Ligi, nếu là người thật, thì trong vòng một năm hắn có thể kiếm ra hàng triệu xextecxi, nếu như hắn đã bóp chết tươi Kroton như một con chó ranh, thử hỏi ai còn chống nổi được nữa? Mỗi cuộc đấu trên võ đài người ta có thể trả cho hắn một số vàng bằng trọng lượng của hắn. Hắn canh giữ cô gái này còn giỏi hơn con chó ba đầu Xerbee canh giữ địa ngục, nhưng cầu cho địa ngục nuốt chửng cả hắn ta đi! Mình không muốn đụng độ với hắn! Xương lắm. Nhưng biết làm gì bây giờ? Việc kinh khủng đã xảy ra rồi. Nếu như một tay như Kroton mà còn bị hắn bẻ gẫy xương, thì chắc linh hồn Vinixius cũng đang lởn vởn trên cái nhà đáng nguyền rủa kia chờ ngày an táng. Lạy thần Kaxtor! Chàng là một quý tộc bạn của hoàng thượng, họ hàng thân thiết của ngài Petronius, một ông chủ có tiếng trong toàn Roma, một vị hộ dân quan quân sự. Cái chết của chàng không thể trôi qua nhẹ nhàng đối với bọn chúng được đâu… Nhưng nếu như mình tìm tới trại lính cấm vệ hoặc tới bọn vigin thì sao…?”
Đến đây lão im lặng suy nghĩ, nhưng lúc sau lão lại tiếp:
- Thương thay thân ta! Ai dẫn chàng vào ngôi nhà ấy nếu không phải chính ta?… Lũ nô lệ và nô lệ giải phóng của chàng biết rằng ta lui tới nhà chàng nhằm mục đích gì. Sẽ ra sao đây nếu người ta kết luận rằng ta cố tình trỏ cho chàng ngôi nhà mà tại đó chàng phải chết? Dù cho sau này trước toà người ta có hiểu ra là ta không muốn chàng phải chết, thì người ta cũng vẫn cứ kết tội rằng ta là nguyên do của cái chết ấy… Mà chàng lại là một nhà quý tộc, nên dù sao đi nữa ta cũng không tránh khỏi bị kết tội. Nhưng nếu như ta lặng lẽ rời bỏ thành Roma mà trốn đi thật xa thì lại càng khiến cho người ta nghi ngờ ta nhiều hơn mà thôi.
Dù thế này hay thế kia đều dở cả. Vấn đề là chọn cái nào ít dở hơn. Roma là một thành phố khổng lồ, thế mà lão Khilon vẫn cảm thấy chật chội. Bởi vì giá là người khác thì hẳn đã có thể đến gặp thẳng viên chỉ huy bọn vigin kể lại tình đầu, và dù cho hắn có bị ngờ vực điều gì, thì hắn cứ bình thản mà chờ điều tra. Nhưng toàn bộ quá khứ của lão Khilon lại thuộc về loại mà bất cứ một sự quen biết gần gũi nào với viên đô trưởng hoặc với viên chỉ huy vigin cũng đều mang tới những chuyện phiền toái nghiêm trọng vô chừng, đồng thời làm tăng thêm mọi nỗi nghi ngờ mà những vị quan chức ấy có thể có.
Mặt khác nếu chạy trốn thì chỉ càng khiến cho ông Petronius thêm cả quyết khi nghĩ rằng Vinixius bị phản bội và bị giết chết do lão xui khiến. Petronius là người nhiều thế lực, ông có thể ra lệnh cho cảnh sát cả nước, ông sẽ lập tức bằng mọi cách tìm ra thủ phạm, dù hắn có ở tận cùng thế giới đi chăng nữa. Lão Khilon chợt nghĩ, hay là đến thẳng chỗ ông và kể hết cho ông mọi chuyện. Phải! Đó là phương sách tốt nhất, Petronius là người trầm tĩnh và lão Khilon có thể tin rằng ít nhất lão cũng được trình bày cho đến cuối câu chuyện. Là người biết rõ chuyện này từ đầu, Petronius dễ dàng tin vào sự vô tội của lão Khilon hơn là các vị quan trưởng.
Nhưng để đến gặp Petronius cần phải biết chắc chắn chuyện gì đã xảy ra với Vinixius, điều mà lão Khilon không biết. Quả tình lão có trông thấy bác Urxux mang xác Kroton lén đi ra sông, nhưng lão chẳng biết điều gì hơn nữa. Vinixius có thể bị giết chết rồi mà cũng rất có thể chỉ bị thương hay bị bắt mà thôi. Tận lúc này lão Khilon mới nghĩ ra rằng những người Thiên chúa giáo chắc không dám giết chết một con người nhiều thế lực như chàng, một cận thần và một võ quan cao cấp, bởi một hành động như thế rất có thể sẽ khiến cho tất cả bọn họ bị truy nã. Hợp lẽ hơn là họ dùng sức mạnh giữ chàng lại, cho Ligia có thì giờ trốn đi chỗ khác.
Ý nghĩ ấy khiến lão Khilon tràn ngập niềm cổ vũ.
“Nếu như cái con rồng xứ Ligi kia không xé xác chàng ngay lúc đầu, thì hẳn chàng vẫn còn sống, mà nếu còn sống thì chính chàng sẽ làm chứng cho mình, là mình không hề phản bội chàng, khi ấy không những sẽ không có chuyện gì đe doạ mình (Ôi, hỡi thần Hecmex, hãy tính trước hai chú chiên cho con đi nhé!) mà lại có những phương trời mới mở rộng trước mắt mình. Mình chỉ cần báo cho một trong những tên nô lệ giải phóng cần phải tìm ông chủ ở đâu là đủ, còn hắn có muốn tới gặp đô trưởng hay không là việc của hắn, miễn là mình không phải đến gặp… Mình cũng có thể tới gặp Petronius và có thể được lĩnh thưởng nữa kia. Mình đã tìm kiếm Ligia, giờ đây lại tìm Vinixius, rồi sau đó lại đi tìm Ligia… Tuy nhiên trước hết cần phải biết chàng còn sống hay đã bị giết rồi!”
Đến đây lão chợt nghĩ, hay chờ tới đêm lần tới chỗ tên chủ lò bánh Đemax để hỏi dò về Urxux. Song lão vứt bỏ ý nghĩ ấy ngay lập tức. Lão không muốn có chuyện gì dính líu tới Urxux cả. Lão suy đoán một cách có lý, rằng nếu Urxux không giết chết lão Glaukox, thì chắc hẳn bác đã được một người nào đó trong số những người quản đạo cảnh giới trước, người ấy hẳn đã được bác thổ lộ cho biết ý định của mình và bảo cho bác biết, rằng đó là một việc không minh bạch và chắc có một kẻ phản bội nào đó xui bác làm chuyện ấy. Mà nói cho cùng, chỉ cần nghĩ tới Urxux là lão Khilon đã thấy rùng cả mình lên rồi. Ngược lại, lão nghĩ rằng đến đêm sẽ cho lão Enryxius đến ngôi nhà xảy ra sự kiện này thám thính tin tức xem sao. Còn lúc này cần phải ăn uống, tắm rửa và nghỉ ngơi cái đã. Cả đêm không ngủ, con đường tới Oxtrianum và cuộc chạy trốn từ khu Zatybre đã khiến lão mệt quá sức chịu đựng.
Song có một việc vẫn khiến cho lão vui sướng: đó là lão vẫn còn bên mình hai túi tiền, một túi Vinixius đưa cho lão tại nhà và một túi chàng ném cho lão trên đường từ nghĩa địa quay về. Vì cái hoàn cảnh đáng mừng ấy cũng như vì những nỗi xúc động mà lão vừa trải qua, lão quyết định sẽ ăn thật nhiều và uống loại rượu nho ngon hơn thường lệ.
Tới khi các quán rượu nho mở cửa, lão đã thực hiện điều đó quá mức, đến nỗi quên cả chuyện tắm táp. Lão chỉ muốn được đánh một giấc, và vì buồn ngủ, lão yếu đến nỗi khi quay trở về nhà ở khu Xubur, nơi người nô tỳ mà lão mua được bằng tiền của Vinixius đang chờ lão, chân lão cứ bước chuệnh choạng.
Về tới nhà, lão chúi vào cái phòng ngủ tối như hang cáo, lăn ra chiếu và ngủ thiếp đi ngay lập tức.
Mãi đến chiều tối lão mới tỉnh dậy, đúng hơn, người nô tỳ đánh thức lão, bảo lão đứng dậy, vì có ai đó đến tìm gặp lão vì một chuyện cần kíp.
Trong chớp mắt, lão Khilon tỉnh táo định thần ngay lập tức, khoác vội tấm áo choàng có mũ chụp lên người, và sau khi ra lệnh cho người nô tỳ dịch ra một bên, lão thận trọng ngó đầu ra ngoài.
Và lão sững người chết lặng. Vì phía trước cửa phòng ngủ, lão trông thấy thân hình khổng lồ của bác Urxux.
Trông thấy bác, hai chân và đầu lão lạnh buốt đi như băng đá, tim lão ngừng đập trong lồng ngực, hàng đàn kiến như đang bò dọc sống lưng lão… Suốt hồi lâu lão không thể thốt ra được lời nào, mãi sau, lập cập hai hàm răng, lão mới nói, hay đúng hơn là mới rên rỉ được mấy tiếng:
- Xyco, ta không có… ta không quen… cái con người tốt kia đâu!
- Nhưng con đã bảo với bác ta rằng, ngài có nhà và đang ngủ, thưa ngài - cô gái đáp - còn bác ta đòi phải đánh thức ngài dậy.
- Ôi quỷ thần ơi! Ta đã bảo mày…
Song chính bác Urxux, hình như sốt ruột vì sự chậm chạp đã tiến sát lại cửa buồng ngủ và cúi người nhô vào bên trong.
- Này lão Khilon Khilonidex! - bác gọi
- Pax tecum! Pax, pax! - Lão Khilon thưa vội - Hỡi người Thiên chúa giáo tốt lành nhất! Phải! Tôi là Khilon nhưng đó là chuyện nhầm lẫn… Tôi không quen ông!
- Này bác Khilon Khilonidex! - bác Urxux lặp lại - Ông chủ của bác, ngài Vinixius, gọi bác phải đến ngay chỗ ông ấy cùng với tôi.



Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 23


Một cơn đau nhói khiến Vinixius tỉnh lại. Thoạt tiên, chàng không thể hiểu nổi mình đang ở đâu và điều gì đã xảy ra với chàng. Đầu chàng ù cả lên, mắt chàng như có màn sương bao phủ. Song dần dần sự tỉnh táo quay trở lại với chàng, và sau rốt, qua cái màn sương mù ấy, chàng trông thấy ba người đang cúi xuống phía chàng. Chàng nhận ra hai trong số người đó, người thứ nhất là bác Urxux, còn người thứ hai là cụ già mà chàng đã gạt ngã khi mang Ligia ra ngoài. Người thứ ba, hoàn toàn xa lạ với chàng, đang giữ tay trái của chàng và nắn từ khủyu tay lên vai và xương bả vai khiến chàng đau khủng khiếp, đến nỗi Vinixius cho rằng đó là một cách trả thù chàng, chàng bèn nói rít qua kẽ răng:
- Các người hãy giết ta đi!
Song họ có vẻ không hề để ý tới lời chàng, dường như họ không nghe rõ, hoặc xem chúng là những tiếng rên rỉ thông thường khi phải chịu đựng đau đớn. Với nét mặt vừa lo lắng vừa man dã, bác Urxux cầm một bó những mảnh vải trắng đã được xé ra thành những dải dài, còn cụ già nọ đang nói với người đàn ông ấn vào vai Vinixius:
- Ông Glaukox này, ông có chắc là vết thương ở đầu không nguy hiểm tới tính mạng chứ?
- Dạ vâng, thưa cha Kryxpux đức hạnh - lão Glaukox đáp. - Khi còn là nô lệ phục vụ trên tàu, rồi sau đó sinh sống ở Neapolix, tôi đã từng chữa nhiều vết thương và bằng số tiền kiếm được nhờ công việc ấy, tôi đã tự chuộc được mình ra cùng những người thân của tôi… Vết thương trên đầu nhẹ thôi. Khi bác này (nói đến đây, ông trỏ bác Urxux) giằng lại cô gái của chàng thanh niên và đẩy chàng ta vào tường, thì chắc lúc ngã xuống, chàng đã đưa tay lên che đầu, cánh tay bị dập thương và gãy, nhưng nhờ vậy cứu được cái đầu và cả tính mạng nữa.
- Ông đã từng chăm sóc nhiều anh em đạo hữu - ông Kryxpux trả lời - và nổi tiếng là một thầy thuốc giỏi… Chính vì thế tôi đã phái bác Urxux đến đón ông.
- Dọc đường chính bác ta đã thổ lộ rằng, chỉ vừa hôm qua đây thôi, bác ta hãy còn sẵn sàng giết tôi đấy.
- Nhưng trước tiên bác ta đã thổ lộ điều ấy với tôi, còn tôi vốn biết rõ ông và tình yêu của ông đối với Đấng Crixtux, nên tôi đã giải thích cho bác ta rõ rằng không phải ông là kẻ phản bội, mà chính cái người lạ muốn xui bác ta phạm tội giết người nọ mới là kẻ phản bội.
- Đó là một con quỷ dữ, thế mà tôi lại nhầm ra thiên sứ, - bác Urxux thở dài nói.
- Khi khác bác hãy kể tôi nghe chuyện ấy - ông Glaukox nói - còn bây giờ ta phải nghĩ đến bệnh nhân đã.
Nói xong, ông bắt đầu nắn lại tay cho Vinixius, và mặc dù ông Kryxpux luôn nhỏ nước lạnh vào mặt, chàng vẫn cứ bị ngất đi vì đau đớn. Thực ra, đó cũng là điều tốt cho chàng, bởi chàng không phải cảm thấy bị nắn và băng bó cánh tay bị gãy, cánh tay mà ông Glaukox ép vào hai tấm ván lõm rồi quấn chặt lại thật nhanh và thật mạnh để cố định chúng.
Song sau khi băng bó xong, chàng lại tỉnh dậy - và trông thấy Ligia.
Nàng đứng ngay sát cạnh giường chàng, giữ trước mặt một chiếc chậu bằng đồng đựng nước để ông Glaukox thỉnh thoảng lại nhúng bọt bể vào và nhỏ lên đầu chàng.
Vinixius nhìn và chàng không tin vào mắt mình nữa. Chàng ngỡ đó là giấc mơ hoặc cơn mê sảng đã dựng lên trước mắt chàng những bóng ma thân yêu - mãi một lúc lâu chàng mới cất lên được một tiếng gọi như thầm:
- Ligia…
Nghe thấy giọng chàng, cái chậu nước sóng sánh trong tay nàng, song nàng lại đưa đôi mắt đầy buồn bã nhìn chàng.
- Bằng an được cùng người. - Nàng nói khẽ.
Rồi nàng cứ đứng với đôi tay chìa ra trước mặt, với nét mặt đầy thương cảm và tiếc nuối.
Chàng nhìn nàng chăm chăm, dường như muốn để cho con ngươi được thu trọn hình ảnh của nàng sao cho khi mắt nhắm lại rồi, hình ảnh của nàng vẫn còn lưu lại dưới mi. Chàng nhìn khuôn mặt nàng, nhợt nhạt và gầy hơn lúc trước, nhìn những chỗ uốn lượn của mái tóc màu sẫm, nhìn bộ trang phục nghèo khổ của cánh thợ, chàng nhìn, nhìn đăm đăm, đến nỗi dưới tác động cái nhìn của chàng, vầng trán trắng tuyết của nàng bắt đầu ửng hồng - và trước hết chàng nghĩ rằng chàng vẫn luôn yêu nàng, rồi sau nữa chính sự nhợt nhạt của nàng là do chàng gây nên, bởi chính chàng đã bắt nàng phải rời bỏ gia đình, nơi nàng được yêu chiều, nơi nàng sống trong cảnh sung túc và tiện nghi, chính chàng đã đẩy nàng vào cái nhà khốn khổ này và bắt nàng phải khoác tấm áo choàng nghèo khó làm bằng len màu thẫm kia.
Song chính chàng lại khao khát được đội cho nàng chiếc kim miện quý báu nhất, được trang điểm cho nàng bằng tất thẩy châu báu ngọc ngà trên đời, nên nỗi kinh ngạc, sự sợ hãi, lòng thương hại cùng sự nuối tiếc lớn lao chợt bóp nghẹt tim chàng, chàng hẳn đã quỳ sụp xuống chân nàng rồi nếu như chàng có thể cử động được.
- Ligia, - chàng thốt lên - chính nàng đã không để cho người ta giết tôi!
Nàng đáp lại đầy ngọt ngào:
- Cầu chúa khiến chàng khoẻ lại!
Đối với Vinixius, người đang cảm thấy những điều xúc phạm mà chàng đã gây ra cho nàng trước đây cùng điều mà chàng vừa mới định gây ra, trong lời nói của Ligia quả như có chứa đựng thần dược. Lúc này chàng quên đi, rằng qua miệng nàng có thể chính khoa học Thiên chúa giáo đã cất tiếng nói, chàng chỉ cảm thấy rằng người phụ nữ yêu thương đang nói, rằng trong câu nàng đáp chứa đựng một tình âu yếm riêng tư nào đó và một lòng nhân hậu cao cả khiến chàng xúc động tận đáy lòng. Lúc nãy chàng đã ngất đi vì đau đớn, lúc này chàng cảm thấy người yếu hẳn đi vì xúc động. Một trạng thái kiệt sức nào đó, vừa to lớn vừa ngọt ngào, chợt cuốn chàng đi. Chàng có cảm giác như mình rơi vào vực thẳm, song đồng thời lại cảm thấy dễ chịu và hạnh phúc. Trong giây phút yếu sức ấy chàng vẫn nghĩ rằng có một vị thần đang đứng bên chàng.
Lúc này ông Glaukox đã rửa xong vết thương trên đầu chàng và bôi thuốc cao vào đó. Bác Urxux cầm lấy chiếc chậu từ tay Ligia, còn nàng đỡ lấy cốc nước pha rượu nho đã chuẩn bị sẵn trên bàn đặt vào môi người bị thương. Vinixius uống ừng ực, sau đó chàng thấy người rất dễ chịu. Sau khi vết thương được băng bó, cơn đau đớn dường như đã dứt hẳn. Các vết thương cùng những chỗ xây xát dịu dần. Chàng hoàn toàn tỉnh táo trở lại.
- Cho tôi uống nữa! - Chàng nói.
Ligia cầm chiếc cốc không sang phòng bên, còn ông Kryxpux, sau khi trao đổi vài lời với ông Glaukox, tiến lại cạnh giường chàng và nói:
- Hỡi Vinixius, chúa đã không để cho anh thực hiện một hành động xấu xa, nhưng đã cho anh được sống và ghi nhớ chuyện ấy vào lòng. Đấng mà đối với Người, con người chỉ là cát bụi, đã đưa anh vào tay chúng tôi, trong tay anh không một tấc sắt, song Đấng Crixtux, người mà chúng tôi tin tưởng, đã dạy chúng tôi phải yêu mến ngay cả kẻ thù. Cho nên chúng tôi đã băng bó vết thương cho anh, và như Ligia nói, chúng tôi sẽ cầu nguyện để Chúa trả về cho anh sức khoẻ, nhưng chúng tôi không thể nào coi sóc anh lâu hơn nữa. Anh hãy bình tâm ở lại đây và hãy nghĩ kỹ xem anh có nên tiếp tục truy nã Ligia nữa hay chăng, người thiếu nữ mà anh đã tước mất những người đỡ đầu cùng với tổ ấm gia đình, cũng như có nên truy nã chúng tôi, những người đã dùng điều tốt đáp lại những điều xấu của anh.
- Các người muốn rời bỏ tôi sao? - Vinixius hỏi
- Chúng tôi muốn rời bỏ ngôi nhà này, nơi mà chúng tôi có thể bị quan đô trưởng săn đuổi. Bạn anh đã bị giết, còn anh, một kẻ hùng mạnh trong đám người của anh, lại đang bị thương nằm đó. Không phải lỗi của chúng tôi đã gây nên những việc ấy, nhưng cơn giận của pháp luật có thể trút xuống đầu chúng tôi.
- Xin các người đừng sợ bị săn lùng, - Vinixius nói, - tôi sẽ che chở cho các người.
Ông Kryxpux không muốn đáp rằng không phải họ chỉ ngại đô trưởng với cảnh sát, mà họ không tin chàng, đồng thời muốn bảo vệ Ligia thoát khỏi cuộc săn đuổi tiếp theo của chàng.
- Thưa ngài, - ông nói, - tay phải của ngài vẫn bình thường vậy đây là tấm bảng và bút cứng, ngài hãy viết cho gia nhân, để chiều tối nay họ mang kiệu tới đón ngài đem về nhà, ở nhà ngài, ngài sẽ dễ chịu hơn trong cảnh nghèo khó của chúng tôi. Tại đây chúng tôi ở nhờ nhà một phụ nữ goá chồng nghèo khổ, bà ấy sắp tới đây cùng với đứa con trai - đây là đứa bé sẽ mang thư của ngài đi, còn chúng tôi sẽ phải tìm nơi trú khác.
Vinixius tái người đi, chàng hiểu rằng người ta muốn tách chàng ra khỏi Ligia, và một khi chàng mất nàng lần nữa thì có thể sẽ chẳng bao giờ trong đời còn được trông thấy nàng nữa… Chàng vẫn hiểu được rằng giữa hai người - chàng và nàng - đã xảy ra những việc trọng đại, mà vì chúng, muốn có được nàng chàng phải tìm kiếm những con đường mới, những con đường mà chàng chưa có thì giờ nghĩ ra. Chàng cũng hiểu rằng dù có nói gì với những người này, - dù chàng có thề nguyền rằng sẽ mang Ligia trả về với bà Pomponia Grexyna đi nữa - thì họ vẫn có quyền không tin chàng và sẽ không tin chàng. Bởi chàng đã có thể làm việc đó từ trước kia mà, thậm chí chàng đã từng có thể, - thay vì truy đuổi Ligia - đến gặp bà Pomponia và thề với bà rằng chàng từ bỏ cuộc truy đuổi, khi ấy hẳn bà Pomponia đã có thể tự đi tìm và mang cô gái trở về. - Không! chàng cảm thấy rằng những câu thề thốt như vậy không đủ sức giữ họ lại, và không một lời thề thốt thiêng liêng nào có thể được chấp nhận, hơn nữa, vì không phải là tín đồ Thiên chúa, chàng chỉ có thể thề với họ khi viện những vị thần bất tử mà chính chàng cũng chẳng lấy gì làm tin cho lắm, những vị thần mà họ xem là ma quỷ.
Tuy nhiên chàng vẫn muốn thuyết phục cả Ligia lẫn những người che chở nàng bằng một cách gì đấy mà chàng chưa có thì giờ nghĩ ra được. Chàng muốn ít nhất cũng còn được trông thấy mặt nàng vài ngày nữa. Giống như người chết đuối vớ được mảnh ván hay mái chèo nào cũng xem là cứu hộ, chàng ngỡ rằng trong mấy ngày ấy chàng có thể sẽ nói ra được điều gì đó có thể khiến chàng được lại gần nàng hơn, chàng có thể nghĩ ra được điều gì đó hay ho hơn, có thể sẽ có điều gì đó may mắn hơn xảy đến chăng?
Vậy nên, cố gắng tập trung các suy nghĩ của mình lại, chàng nói:
- Xin các người hãy nghe tôi nói, hỡi các tín đồ Thiên chúa giáo! Hôm qua tôi cũng có mặt cùng các người tại Oxtrianum, và tôi đã được nghe giảng về học thuyết của các người, và dù tôi có không hay biết học thuyết ấy đi chăng nữa, thì hành động của các người cũng cho tôi thấy các người là những con người trung thực và nhân hậu. Xin hãy bảo với người đàn bà goá sống tại ngôi nhà này cứ ở lại, các người cũng ở lại và hãy cho phép tôi được ở lại cùng. Xin người này (chàng hướng cái nhìn vào ông Glaukox) kẻ vốn là thầy thuốc hoặc chí ít cũng biết băng bó các vết thương, hãy nói xem liệu trong ngày hôm nay đã có thể di chuyển tôi được hay chưa. Tôi đang đau đớn, cánh tay bị gẫy, ít nhất cũng phải giữ nó bất động vài ba ngày - vì vậy tôi sẽ không rời khỏi nơi đây, trừ phi người ta dùng bạo lực bắt tôi phải đi.
Chàng ngừng lời vì lồng ngực bị thương của chàng thiếu hơi, ông Kryxpux đáp:
- Thưa ngài, sẽ không một ai dùng bạo lực đối xử với ngài đâu, chúng tôi chỉ mang đầu chúng tôi ra khỏi nơi đây mà thôi.
Nghe thấy thế, chàng trai vốn không quen với mọi sự phản đối nhíu mày và nói:
- Hãy để cho tôi thở chút đã.
Rồi chàng lại tiếp tục:
- Sẽ không một ai hỏi tới gã Kroton, kẻ mà Urxux đã bóp chết, vì hôm nay hắn phải tới Beneventơ do Vatynius đòi, tất cả mọi người sẽ nghĩ là y đã đi rồi. Khi tôi cùng Kroton bước vào ngôi nhà này, không một ai trông thấy chúng tôi, ngoài cái lão Hi Lạp đã cùng chúng tôi có mặt tại Oxtrianum. Tôi sẽ nói cho các người biết hắn ta sống nơi đâu, các người hãy dẫn hắn tới gặp tôi, - tôi sẽ bảo hắn sẽ câm miệng, vì đó là con người mà tôi trả tiền. Tôi sẽ viết một lá thơ gởi về nhà tôi, nói rằng tôi cũng đã đi Beneventơ. Còn nếu lão Hi Lạp đã báo tin cho đô trưởng, tôi sẽ nói rằng chính tôi đã giết Kroton và hắn đã làm tôi gãy tay. Tôi sẽ làm như thế đấy, thề có linh hồn của mẹ tôi! - Có nghĩa là các người có thể yên ổn ở lại đây, không một sợi tóc nào bị rụng đi đâu! Xin hãy mau đưa lão Hi Lạp tới gặp tôi, lão ta tên là Khilon Khiloniđex.
- Vậy thì ông Glaukox sẽ ở lại với ngài - ông Kryxpux nói - cùng với bà goá đây, ông ấy sẽ chăm lo cho ngài.
Vinixius càng nhíu đôi lông mày lại hơn nữa:
- Hãy nghe những lời tôi nói đây, hỡi người già - chàng nói. - Tôi biết ơn ông, ông tỏ ra là một người nhân hậu và trung thực, nhưng ông đã không nói thật với tôi những điều ông đang mang nặng trong lòng. Có phải ông sợ rằng tôi sẽ gọi nô lệ của tôi đến và ra lệnh cho chúng bắt nàng Ligia đi? Có phải thế không?
- Phải! - ông Kryxpux đáp lại vẻ nghiêm khắc.
- Vậy thì xin ông hãy lưu ý rằng tôi sẽ nói chuyện với lão Khilon ngay trước mặt các người và trước mặt các người tôi sẽ viết thư về nhà rằng tôi đã đi rồi - còn sau này tôi sẽ không tìm ra người mang tin nào khác ngoài chính các người… Xin hãy cân nhắc những điều đó và đừng làm cho tôi khó chịu hơn nữa.
Nói tới đây, chàng nổi xung lên, mặt chàng nhăn lại vì giận dữ, rồi chàng nói tiếp đầy xúc động:
- Thế ra các ông nghĩ rằng tôi muốn được ở lại chỉ vì để nhìn thấy nàng sao?… Thằng ngốc cũng có thể đoán ra được điều ấy, dù cho tôi có phản đối đi nữa. Nhưng tôi không khi nào dùng bạo lực cướp nàng đi lần nữa… Còn ông thì tôi nói cho ông biết: nếu nàng không ở lại đây, thì bằng cánh tay phải còn lành lặn này, tôi sẽ dứt sạch băng trên vai, tôi sẽ không ăn không uống chút gì hết - để cho cái chết của tôi giáng lên đầu ông và những người anh em của ông! Tại sao ông lại băng bó cho tôi, tại sao ông không ra lệnh giết tôi đi cho rồi?
Và chàng xỉu đi vì giận dữ và kiệt sức. Song Ligia, ngồi trong gian nhà thứ hai đã nghe rõ cả câu chuyện, nàng tin rằng Vinixius sẽ thực hiện điều chàng vừa nói, nàng sợ hãi những điều của chàng. Nàng không muốn chàng phải chết. Bị thương và không chút sức tự vệ, không những chàng chỉ khiến nàng thương mà còn làm nàng sợ nữa. Kể từ khi chạy trốn, sống giữa những người lúc nào cũng đắm mình trong sự say mê tôn giáo triền miên, chỉ nghĩ đến sự hi sinh, sự dâng hiến và lòng từ thiện vô bờ bến, chính nàng cũng thấm nhuần niềm say mê mới mẻ này đến độ nó thay thế cả nhà cửa, gia đình, niềm hạnh phúc bị mất đi, nó biến nàng thành một trinh nữ Thiên chúa giáo, những người sau này sẽ làm thay đổi tâm linh già cỗi của thế giới. Vinixius đã gây ảnh hưởng quá lớn đến số phận của nàng và đã quá si mê theo đuổi nàng, đến độ nàng không thể quên nổi chàng. Suốt bao ngày dài nàng nghĩ đến chàng, và đâu chỉ một lần nàng khẩn cầu Đức Chúa hãy ban cho nàng giây phút, khi mà đi theo tiếng gọi của giáo thuyết, nàng có thể dùng điều tốt đáp lại cái xấu với chàng, dùng lòng từ thiện đáp lại sự săn đuổi, chinh phục chàng, giành lại chàng cho đấng Crixtux và giải thoát cho chàng. Giờ đây, nàng thấy chính giây phút ấy đã tới, những lời cầu nguyện của nàng đã được nghe thấu.
Nàng bèn tiến lại gần ông Kryxpux với nét mặt phấn khích và cất tiếng nói, dường như có ai đó khác nói ra thông qua miệng nàng.
- Thưa ông Kryxpux, hãy để cho chàng được ở lại với chúng ta, và chúng ta hãy ở lại với chàng cho tới khi nào đấng Crixtux khiến chàng khoẻ lại.
Vị quản họ đạo tuổi tác, người quen tìm thấy hơi thở của Chúa ở mọi thứ xung quanh, khi trông thấy sự bột khởi của nàng liền nghĩ rằng có thể bề trên đã thốt ra qua miệng nàng, ông chợt giật mình sợ hãi trong lòng và cúi đầu xuống.
- Cầu mọi việc sẽ như người nói, - ông thốt ra.
Sự vâng lời dễ dàng của ông Kryxpux gây cho Vinixius - người suốt từ nãy không hề rời mắt khỏi nàng - một ấn tượng kỳ lạ và mạnh mẽ. Chàng cảm thấy Ligia là một nữ tiên tri Xybinla hoặc một vị nữ giáo chủ nào đó trong những người Thiên chúa giáo, được người ta sùng kính và vâng lời. Bất giác chàng cũng chịu ảnh hưởng của sự sùng kính ấy. Giờ đây, thêm vào tình yêu mà chàng cảm thấy, còn có một nỗi e sợ nào đó, đối với nó, chính tình yêu lại trở nên quá đường đột, quá ngông cuồng. Chàng không sao quen được với ý nghĩ rằng quan hệ giữa hai người đã bị thay đổi, giờ đây, không phải nàng bị lệ thuộc vào ý chí của chàng mà là chàng phụ thuộc vào ý chí của nàng, rằng chàng đang nằm đó, ốm yếu, gẫy tay, rằng chàng không còn là sức mạnh tấn công - chinh phục nữa, mà giống như một đứa trẻ không chút sức tự vệ, trong sự chăm sóc của nàng. Đối với bản chất kiêu căng và tự tôn của chàng, mối quan hệ như thế sẽ là một nỗi nhục nhã trong tương quan đối với bất cứ kẻ nào khác, song bây giờ, không những chàng không cảm thấy nhục nhã, mà còn biết ơn nàng như biết ơn bà chủ của mình. Đó quả thực là những cảm giác mà chàng chưa hề có, những cảm giác mà một ngày trước đây, chắc sẽ không thể chứa nổi trong đầu óc chàng, và lúc này đây hẳn vẫn còn khiến chàng kinh ngạc, giá như chàng có thể hiểu chúng thật tường tận. Song lúc này chàng đâu có hỏi tại sao lại như thế, dường như đó là một việc hoàn toàn đương nhiên, bởi chàng cảm thấy hạnh phúc khi được ở lại nơi đây.
Và chàng muốn cảm ơn nàng - với lòng biết ơn cùng một thứ tình cảm nào đấy vô cùng lạ lẫm đối với chàng, đến nỗi chàng không biết gọi tên nó là gì nữa, vì thực ra nó là sự tuân phục. Song sự bột phát vừa rồi đã khiến chàng kiệt sức đến nỗi chàng không thể nói lên lời mà chỉ dùng mắt để cảm ơn nàng, trong mắt chàng bừng sáng niềm sung sướng được ở lại bên nàng và có thể được nhìn nàng ngày mai, ngày kia hoặc lâu hơn nữa. Niềm vui sướng đó chỉ bị vẩn đục bởi một nỗi lo sợ bị mất đi điều mà chàng vừa có được, nỗi lo sợ to lớn, đến nỗi khi Ligia mang nước đến cho chàng, chàng muốn nắm tay nàng, nhưng chàng lại sợ - chàng sợ không dám làm điều ấy, chính chàng, chính Vinixius, người mà trong bữa tiệc tại cung Hoàng đế đã dùng sức mạnh để hôn vào môi nàng, và sau khi nàng chạy trốn đã tự nhủ rằng sẽ nắm tóc lôi nàng vào buồng ngủ hoặc ra lệnh đánh đập nàng.


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 24


Song chàng cũng bắt đầu lo ngại rằng, một sự tiếp viện quá sớm từ bên ngoài có thể sẽ phá hỏng niềm vui của chàng. Sau khi chàng biến mất, lão Khilon có thể đã báo cho viên đô trưởng hoặc cho những nô lệ giải phóng ở nhà chàng biết - và khi ấy rất có thể bọn vigin sẽ xộc vào đây. Quả tình cái ý nghĩ: lúc ấy chàng có thể ra lệnh bắt lấy Ligia và giam nàng tại nhà chàng - có thoáng qua đầu chàng, song chàng cảm thấy không nên làm chuyện ấy, và chàng không thể làm nổi. Chàng là một kẻ phóng túng, táo tợn và khá hư hỏng, khi cần thiết chàng có thể là kẻ chẳng ai hòng van xin nổi, song chàng không phải là Tygelin, cũng chẳng phải là Nerô. Cuộc đời quân ngũ vẫn còn lưu lại trong chàng một ý thức nhất định về công lý, lòng tin và chút lương tri đủ để chàng hiểu được, rằng một hành động như thế quả là vô cùng đồi bại. Cũng có thể trong cơn tức giận bất thần và nếu hoàn toàn khoẻ mạnh chàng dám làm việc ấy, nhưng lúc này chàng vừa mẫn cảm lại vừa đau yếu, nên chàng chỉ mong sao đừng có kẻ nào đứng chắn giữa chàng và Ligia.
Chàng cũng ngạc nhiên nhận thấy kể từ khi Ligia đứng về phía chàng thì cả nàng lẫn ông Kryxpux hoàn toàn không đòi hỏi chàng phải hứa hẹn điều gì, dường như họ tin chắc rằng, nếu cần, sẽ có một sức mạnh siêu nhiên nào đó che chở cho họ vậy. Kể từ khi được nghe ở Oxtrianum về cái giáo thuyết nọ cùng lời rao giảng của Đức Sứ đồ, trong đầu óc Vinixius, sự khác biệt giữa những cái có thể và không thể bắt đầu bị đảo lộn và xoá nhoà đi, bởi vậy chàng không xa lạ lắm với ý nghĩ rằng mọi điều ấy rất có thể sẽ diễn ra. Song khi suy nghĩ về mọi việc một cách tỉnh táo hơn, chính chàng nhắc lại cho họ những gì chàng nói về lão Hi Lạp và yêu cầu họ đưa lão Khilon đến cho chàng.
Ông Kryxpux đồng ý và quyết định cử bác Urxux đi, Vinixius, thời gian trước khi đến Oxtrianum vẫn thường phái những nô lệ của mình đến nhà lão Khilon (mặc dù không có kết quả gì), giờ đây chỉ cho người đàn ông Ligi tỉ mỉ chỗ ở của lão, sau đó viết mấy chữ lên tấm bảng, rồi quay sang nói với ông Kryxpux:
- Tôi phải gửi theo tấm bảng này, vì đây là một kẻ đa nghi và khôn ranh. Khi bị tôi gọi tới, lão thường bảo với người của tôi về thưa lại rằng lão không có nhà, những lúc lão sợ tôi tức giận vì không có tin tức gì mới cho tôi.
- Chỉ cần tìm ra hắn ta thôi, tôi sẽ lôi được hắn về đây, dù hắn muốn hay không, - bác Urxux đáp.
Rồi bác cầm tấm áo khoác và vội vã bước ra.
Tìm được một ai trong thành Roma không phải là chuyện dễ, dù được chỉ dẫn rất tỉ mỉ; song bác Urxux được cái linh tính của con người vùng rừng núi giúp đỡ hơn nữa bác rất quen thuộc với thành phố này nên một lúc sau bác đã có mặt trong nhà lão Khilon.
Song bác không nhận ra lão. Trước đây bác mới chỉ gặp lão có mỗi một lần, hơn nữa lại vào ban đêm. Vả chăng cái cụ già tự tin và cao đạo kia, kẻ đã xúi bác giết thầy thuốc Glaukox chẳng giống chút gì với lão già Hi Lạp đang gập đôi người vì sợ hãi này, nên không ai có thể ngờ rằng cả hai chỉ là một người mà thôi. Còn lão Khilon, khi hiểu ra rằng bác Urxux nhìn lão như một người xa lạ, liền định thần lại. Tấm bảng và chữ viết của Vinixius càng khiến lão an tâm hơn nữa. Ít nhất lão cũng không bị ngờ là đã cố tình đưa chàng vào bẫy. Lão nghĩ thầm rằng những người Thiên chúa giáo đã không giết chàng Vinixius rõ ràng là vì họ không dám động thủ trước một con người danh tiếng như chàng.
“Thế thì Vinixius sẽ che chở cho mình khi cần - lão bụng bảo dạ - vì chắc là chàng không đòi mình đến để người ta thịt mình đâu”.
Lấy lại tinh thần chút ít, lão hỏi:
- Hỡi con người tốt bụng, thế ra người bạn tôi, chàng Vinixius tôn quý, không gửi kiệu đến cho tôi sao? Chân tôi sưng vù cả lên, tôi đâu có thể đi xa được.
- Không! - bác Urxux đáp - chúng ta phải đi bộ thôi.
- Thế nếu tôi từ chối thì sao?
- Ông chớ làm việc ấy, bởi ông sẽ phải đi.
- Đi chứ, nhưng là do ý muốn của bản thân tôi. Nếu không thì chẳng một ai có thể bắt tôi đi nổi, tôi là người tự do, và lại là bạn thân của ngài đô trưởng. Là một nhà hiền triết, tôi có nhiều phương sách để chống bạo lực, tôi biết cả cách biến con người thành cây cối và súc vật. Nhưng tôi sẽ đi, sẽ đi! Tôi chỉ mặc thêm cái áo choàng ấm hơn chút xíu, đội cái mũ, để cho đám nô lệ của khu phố này khỏi nhận ra tôi, nếu không người ta sẽ giữ chúng ta lại liên tục để hôn tay tôi đấy.
Vừa nói thế, lão vừa mặc tấm áo khoác khác, đầu chùm một cái mũ chụp kiểu xứ Gan rộng lùng thùng vì sợ bác Urxux nhận diện được lão khi ra chỗ sáng hơn chăng.
- Bác đưa tôi đi đâu thế này? - dọc đường lão hỏi bác Urxux.
- Đến khu Zatybre.
- Tôi mới đến Roma chưa lâu, tôi chưa từng tới đó. Nhưng chắc khu đó toàn những người chuộng đức hạnh sinh sống thôi phải không?
Song bác Urxux lại là một người ngây thơ, bác vừa được nghe Vinixius nói rằng lão Hi Lạp có mặt cùng với chàng trong nghĩa địa Oxtrianum, sau đó lão đã trông thấy chàng cùng Kroton bước vào ngôi nhà mà Ligia đang ở, bác bèn dừng chân mà nói:
- Đừng nói dối, hỡi người già, bởi vì chính ngày hôm nay lão vừa có mặt cùng với ngài Vinixius tại Oxtrianum và trước cửa nhà chúng tôi đấy thôi.
- A! - lão Khilon kêu lên, - thế ra nhà của các bác ở khu vực Zatybre đấy ư? Tôi mới tới Roma nên chưa thật rõ tên những khu phố khác nhau. Phải, ông bạn ạ. Tôi đã dừng trước cổng nhà các bác và đã khuyên chàng Vinixius chớ có bước vào. Tôi cũng đã có mặt tại Oxtrianum, nhưng bác biết để làm gì không? Bởi vì thời gian gần đây tôi đang muốn cải đạo cho Vinixius và tôi muốn chàng được nghe lời rao giảng của người cao tuổi nhất trong các vị Sứ đồ. Cầu sao ánh sáng xuyên thấu tâm hồn của chàng cũng như tâm hồn của bác. Chắc bác cũng là tín đồ Thiên chúa và chắc bác hằng muốn rằng chân lý chiến thắng điều man trá?
- Chính thế! - bác Urxux đáp với vẻ tuân phục.
Lão Khilon đã hoàn toàn lấy lại can đảm.
- Vinixius là một ông chủ giàu có, - lão bảo, - và là bạn của Hoàng đế. Chàng hãy còn quen nghe những tiếng thì thầm của ma quỷ, nhưng dù cho chỉ một sợi tóc của chàng bị rơi xuống, Hoàng đế cũng sẽ trả thù tất cả những người Thiên chúa giáo.
- Đã có một sức mạnh to lớn hơn bảo vệ cho chúng tôi.
- Đúng lắm! Đúng lắm! Nhưng thế các bác định làm gì với chàng Vinixius? - lão Khilon lại lo lắng hỏi
- Không rõ. Đấng Crixtux dạy phải nhân từ.
- Bác dạy đúng tuyệt! Bác cứ nhớ cho như thế nhé, nếu không bác sẽ bị nướng trong hoả ngục như một khúc dồi rán trên chảo đấy.
Bác Urxux thở dài. Lão Khilon nghĩ rằng chắc lúc nào lão cũng có thể sai khiến được con người khủng khiếp khi nổi nóng này.
Muốn biết việc gì đã xảy ra khi bắt cóc Ligia nên lão hỏi tiếp với giọng của một vị quan toà nghiêm khắc:
- Thế các bác đã làm gì với Kroton rồi?hãy nói thật, chớ có bịa đặt!
Bác Urxux lại thở dài lần nữa:
- Ngài Vinixius sẽ nói cho ông biết điều đó.
- Có nghĩa là bác đã đâm anh ta bằng dao hoặc đánh chết anh ta bằng gậy?
- Tôi không hề có khí giới.
Lão già Hi Lạp không ngăn nổi sự kinh ngạc đối với sức khoẻ siêu nhân của con người dã man này.
- Cầu Diêm vương Pluton!… A, đó là tôi muốn nói: cầu Đức Crixtux tha tội cho bác!
Họ đi im lặng một lúc lâu, rồi lão Khilon hỏi:
- Không phải tôi phản bác đâu, nhưng hãy coi chừng bọn vigin đấy.
- Tôi chỉ sợ đấng Crixtux chứ không sợ bọn vigin.
- Đúng lắm! Bác không có tội nào lớn hơn tội giết người. Tôi sẽ cầu nguyện cho bác, nhưng không hiểu những lời cầu nguyện của tôi thậm chí có mang lại điều chi chăng - trừ phi bác thề rằng không bao giờ trong đời bác còn động chạm tới một ai khác nữa.
- Nhưng tôi có cố ý giết ai đâu cơ chứ, - bác Urxux đáp.
Nhưng lão Khilon cứ muốn phòng trước mọi chuyện, nên lão không ngừng lên án hành động giết người của bác Urxux và khuyến khích bác thề thốt. Lão cũng dò hỏi thêm về Vinixius, song người đàn ông Ligi trả lời gióng một những câu hỏi của lão và cứ nhắc đi nhắc lại rằng lão sẽ được nghe chính Vinixius nói những điều lão cần nghe. Cứ trò chuyện như thế, họ đi hết quãng đường xa xôi nằm giữa nhà lão Hi Lạp với khu Zatybre và đến trước cổng nhà. Tim lão Khilon một lần nữa lại đập nhịp lo ngại. Vì sợ hãi, lão thấy như bác Urxux bắt đầu nhìn lão với vẻ hau háu kỳ lạ. “Mình cũng chẳng lấy gì làm vui, - lão nghĩ thầm, - nếu như hắn giết mình một cách bất đắc dĩ, mình muốn sao cho hắn bị bại liệt đi, và cùng với hắn, tất cả bọn dân Ligi nữa; cầu thần Zeux hãy làm giúp; nếu như thần có thể làm nổi chuyện này”. Vừa nghĩ miên man như thế, lão vừa quấn chặt hơn nữa chiếc áo choàng kiểu Gan của lão, mồm lặp đi lặp lại rằng lão sợ lạnh. Cuối cùng, khi đã đi qua hàng hiên cùng cái sân thứ nhất, bước vào hành lang dẫn đến ngôi nhà nhỏ ngoài vườn, lão bỗng đột ngột dừng lại và bảo:
- Hãy cho tôi lấy hơi chút đã, nếu không tôi không thể nào trò chuyện với chàng Vinixius và cung cấp cho chàng những lời khuyên cứu rỗi được đâu.
Nói thế, lão đứng dừng lại - vì dầu cho lão cứ tự nhủ rằng không hề có nỗi nguy hiểm nào đe doạ, song cứ nghĩ tới chuyện phải đứng với những con người đầy bí ẩn mà lão đã trông thấy ở Oxtrianum, là chân lão đã muốn khuỵu xuống rồi.
Lúc đó, từ trong ngôi nhà có tiếng hát vang tới tai lão.
- Cái gì thế? - lão hỏi.
- Ông bảo rằng ông là tín đồ Thiên chúa mà ông không biết rằng chúng tôi thường có thói quen hát ngợi ca Đấng cứu thế của chúng tôi trong mỗi bữa cơm, - bác Urxux đáp, - chắc bà Miriam và con trai bà đã về rồi, có thể cả Đức Sứ đồ cũng về cùng với họ vì hàng ngày Người vẫn thường đến thăm bà quả phụ và cha Kryxpux.
- Bác hãy đưa tôi vào gặp thẳng chàng Vinixius thôi!
- Chàng Vinixius cũng ở trong gian nhà mọi người đang tụ tập, vì chỉ có gian này là lớn hơn cả, còn lại chỉ toàn là phòng ngủ tối tăm, nơi chúng tôi chỉ vào để ngủ. Nào, ta vào thôi, vào đó ông sẽ nghỉ sau.
Họ bước vào, trong nhà tối mờ mờ, buổi chiều mùa đông nhiều mây, và ánh sáng của vài ngọn đèn không hoàn toàn xua tan bóng tối. Vinixius đoán ra hơn là nhận ra được Khilon ở cái con người đội mũ trùm đầu, còn lão, khi trông thấy cái giường trong góc nhà và trên đó là chàng Vinixius, lão liền tiến thẳng lại phía chàng, không để ý gì tới những người khác, dường như lão tin rằng ở bên cạnh chàng lão sẽ được an toàn hơn.
- Ôi, ông chủ! Sao ngài không chịu nghe những lời khuyên của tôi cơ chứ? - lão chìa hai tay ra và kêu lên.
- Câm đi! - Vinixius bảo - và hãy nghe đây!
Nói tới đây, chàng nhìn chăm chú vào mắt lão Khilon mà nói chậm rãi, nhấn giọng, dường như chàng muốn mỗi lời mình nói ra đều được hiểu là mệnh lệnh và ăn sâu mãi và trí nhớ của lão.
- Tên Kroton lao vào ta để giết ta và cướp của - ngươi hiểu chưa? Khi ấy ta đã giết chết hắn, còn những người này đã băng bó những vết thương mà ta đã bị trong khi đánh nhau với hắn.
Lão Khilon hiểu ngay lập tức rằng nếu Vinixius đã nói thế có nghĩa chàng nói theo thoả thuận với những người Thiên chúa giáo, và khi ấy chàng muốn được người ta tin. Lão cũng đọc thấy điều đó trên nét mặt chàng, nên ngay lập tức - không hề tỏ ra nghi ngờ hay ngạc nhiên, - lão ngửa mặt lên trời kêu lên:
- Hắn thật là đồ khốn kiếp, thưa ngài! Tôi đã nói trước để ngài chớ tin hắn kia mà! Tất cả các khoa học của tôi bật khỏi đầu óc hắn hệt như hạt đậu bật khỏi tường vậy. Cả hoả ngục Hadex cũng không đủ cực hình trừng trị hắn đâu. Kẻ nào không thể làm một con người lương thiện, kẻ đó chắc chắn phải là thằng đểu, mà ai có thể khó trở thành người lương thiện hơn đồ đểu cáng nữa? Nhưng nhẩy xổ vào người làm ơn cho mình, một ông chủ danh giá như ngài? Ôi, các thần ôi!…
Đến đây lão chợt nhớ ra là trong lúc đi đường lão đã tự giới thiệu với bác Urxux là tín đồ Thiên chúa giáo - và lão chợt nín lặng.
Vinixius nói:
- Giá như không có cái dao găm mà ta mang sẵn bên mình, chắc hắn đã giết chết ta rồi.
- Phúc đức thay cái giây phút tôi khuyên ngài mang theo dù chỉ một chiêc dao găm!
Song Vinixius nhìn lão Hi Lạp vẻ thăm dò rồi hỏi:
- Hôm nay nhà ngươi làm những gì rồi?
- Sao cơ ạ? Tôi đã chẳng thưa cùng ngài rằng tôi làm lễ cầu chúc sức khoẻ của ngài hay sao?
- Không còn gì khác nữa chứ?
- Và tôi đang sửa soạn đến thăm ngài thì con người tốt bụng kia đến bảo tôi rằng ngài đang gọi tôi.
- Đây là cái bảng. Ngươi sẽ mang nó đến nhà ta, tìm người nô lệ giải phóng của ta và đưa cho anh ta. Trên bảng viết rằng ta đã đi Beneventơ. Ngươi hãy nói với Đemax rằng ta đã làm việc đó vào sáng hôm nay, sau khi nhận được thư khẩn của ngài Petronius gọi ta tới đó.
Rồi chàng nhấn mạnh lần nữa:
- Ta đã đi Beneventơ - ngươi hiểu chưa?
- Ngài đã đi rồi, thưa ông chủ! Sáng nay tôi vừa từ biệt ngài tại Porta Capena - và kể từ lúc ngài ra đi, một nỗi nhớ nhung khôn tả cứ dày vò tôi, đến nỗi nếu như sự hào phóng của ngài không vỗ về nó thì tôi sẽ khóc than cho đến chết, giống như người vợ bất hạnh của Zethox(1) khóc thương Ityl vậy.
Mặc dù đang đau yếu và đã quá quen với sự lươn lẹo của lão Hi Lạp, song Vinixius không thể giấu nổi nụ cười. Chàng cũng vui vì lão Khilon đã hiểu ngay lập tức, chàng bèn bảo:
- Vậy thì để ta viết thêm, bảo người ta lau nước mắt cho ngươi. Đưa ta cây đèn!
Lão Khilon đã hoàn toàn bình tĩnh lại bèn đứng dậy, bước mấy bước về phía lò sưởi, cầm lấy một trong những chiếc đèn đang cháy trên bức vách.
Song trong lúc lão làm việc đó, chiếc mũ trùm đầu tụt xuống, ánh sáng chiếu thẳng vào mặt lão, thì bỗng ông Glaukox bật dậy khỏi ghế, bước nhanh tới đứng trước mặt lão.
- Người không nhận ra ta sao, Xefax? - ông hỏi.
Trong giọng nói của ông có cái gì thật rùng rợn, khiến cho tất thẩy những người có mặt đều rùng mình.
Lão Khilon vừa cầm chiếc đèn lên đã để rơi tuột ngay xuống đất, gập đôi người lại và bắt đầu rên rỉ:
- Không phải tôi … không phải tôi đâu… thương tôi với!
Ông Glaukox quay sang phía những người đang dùng bữa và nói:
- Đây chính là kẻ đã bán đứng tôi và làm tan nát gia đình tôi!
Chuyện của ông thì tất thảy tín đồ Thiên chúa đều biết, Vinixius cũng vậy, sở dĩ chàng chưa nghĩ ra ông Glaukox này là ai, chỉ vì chàng bị ngất đi trong khi băng bó nên đã không nghe thấy tên ông. Còn đối với bác Urxux, cái giây phút ngắn ngủi ấy cộng với những lời của ông Glaukox giống như một tia chớp loé lên trong bóng tối. Nhận ra lão Khilon,chỉ bằng một bước, bác nhảy vọt ngay tới cạnh lão, túm lấy hai tay lão, bẻ quặt ra sau mà kêu lên:
- Chính hắn đã xui tôi giết ông Glaukox!
- Hãy thương tôi với! - lão Khilon rên lên, - tôi sẽ trả cho các ngài… Ông chủ ơi - lão quay đầu về phía Vinixius kêu lên, - cứu tôi với! Tôi tin ngài mà, hãy bảo lãnh tôi đi! Bức thư của ngài… tôi sẽ mang đi! Ông chủ! Ông chủ ơi!
Song Vinixius là kẻ thản nhiên nhất trong tất cả những người nhìn những gì đang diễn ra, trước hết vì chàng biết rõ tất cả mọi vụ việc của lão Hi Lạp, sau nữa, trái tim chàng đâu có biết thế nào là tình thương, chàng nói:
- Hãy đào mộ chôn hắn ngoài vườn, người khác sẽ mang thư đi.
Lão Khilon tưởng như những lời này là bản án đã được phán quyết. Xương cốt lão kêu rắc rắc trong đôi cánh tay khủng khiếp của bác Urxux, mắt lão túa nước mắt vì đau đớn.
- Cầu Đức Chúa của các ngài! Hãy rủ lòng thương! - lão kêu lên. - Tôi là người Thiên chúa giáo!… Paxvobiscum! Tôi là người Thiên chúa giáo đây mà, nếu các ngài không tin thì xin hãy rửa tội cho tôi một lần, hai lần, mười lần nữa cũng được! Ông Glaukox ơi, đó chỉ là sự nhầm lẫn. Hãy cho tôi nói! Các người hãy bắt tôi làm nô lệ… đừng giết tôi! Hãy thương tôi với!
Giọng lão nghẹn lại vì đau đớn, mỗi lúc một yếu hơn khi thấy đức Piotr Sứ đồ đứng dậy khỏi bàn, mái đầu bạc lắc lư lúc lâu, hạ thấp dần xuống ngực, mắt nhắm nghiền, rồi sau đó ông mới mở mắt ra và nói trong lặng im:
- Đấng Cứu thế đã bảo chúng ta: “Nếu như người anh em của mày phạm tội chống mày, hãy nhắc nhở hắn; nếu hắn hối hận - xá tội cho hắn. Còn nếu như một ngày bảy lần hắn phạm tội chống mày và bảy lần hướng về mày mà nói: - thương tôi với - hãy xá tội cho hắn!”
Sau lời ông nói, sự im lặng càng sâu thẳm hơn.
Ông lão Glaukox đứng yên một hồi lâu, che mặt bằng hai bàn tay, mãi sau ông bỏ tay ra và bảo:
- Này Xefax, cầu Chúa xá tội cho ngươi như ta vì danh Chúa Crixtux tha thứ cho ngươi.
Còn bác Urxux buông tay lão Hi Lạp ra mà nói thêm:
- Đấng Cứu thế sẽ thương tình tôi như tôi đã tha tội cho ông.
Lão Hi Lạp ngã sụp xuống đất, chống hai tay, đầu quay hết bên này sang bên khác, hệt như một con thú bị mắc bẫy thòng lọng, nhìn chung quanh chờ xem cái chết đến từ phía nào. Lão hãy còn chưa dám tin vào tai và mắt mình và không dám ngờ là người ta sẽ tha cho lão.
Song lão dần dần tỉnh lại, chỉ có đôi môi tím tái vì hoảng sợ hãy còn run lẩy bẩy. Đức Sứ đồ bèn bảo:
- Ngươi hãy bình tâm mà đi!
Lão Khilon đứng dậy song vẫn không thốt nổi lời nào. Bất giác lão dịch lại gần giường Vinixius như muốn tìm ở chàng sự che chở, vì cho tới nay lão vẫn chưa có thì giờ để nghĩ ra rằng, con người ấy, mặc dù sử dụng lão và đồng loã với lão, vẫn lên án lão, trong khi chính những người mà lão chống lại thì đã tha thứ cho lão. Ý nghĩ này mãi sau mới đến với lão. Còn lúc này, trong cái nhìn của lão chỉ thấy có sự kinh ngạc, nữa tin nữa ngờ. Mặc dù lão đã hiểu được rằng người ta tha cho lão, song lão vẫn muốn mau mau mang thân tránh khỏi những con người không thể hiểu nổi, những người mà lòng tốt cũng khiến lão kinh sợ chẳng kém gì sự dữ tợn. Lão sợ rằng nếu nán lại lâu hơn chút nữa lại có thể xảy ra điều gì không ngờ chăng, nên đứng trước mặt Vinixius lão lập cập nói:
- Hãy đưa, ngài ơi, cái thư! Hãy đưa cái thư!
Và lão giật vội tấm bảng mà Vinixius đưa cho, cúi chào những người Thiên chúa giáo một cái, người ốm một cái, rồi cứ lom khom như thế, lần dọc sát tường, lão nhào ra cửa.
Ra ngoài vườn, bị bóng tối bao quanh, nỗi sợ hãi lại khiến lão dựng tóc gáy, bởi lão chắc rằng bác Urxux sẽ lao ra theo và hạ sát lão trong bóng đêm. Lão muốn chạy thục mạng nhưng đôi chân không chịu vâng lời, mà lát sau chúng hoàn toàn đờ ra, bởi quả thực bác Urxux đã đứng ngay sát bên lão.
Lão Khilon gục mặt sát đất kêu rên:
- Bác Urxux ơi… Nhân danh đấng Crixtux…
Song bác Urxux nói:
- Đừng sợ. Đức Sứ đồ ra lệnh cho tôi đưa ông ra ngoài cổng để ông khỏi lạc trong bóng tối, nhưng nếu ông yếu thì để tôi đưa ông vào nhà vậy.
Lão Khilon ngửng mặt lên:
- Bác bảo sao? Gì cơ?… Bác không giết tôi chứ?
- Không, tôi không giết ông đâu, còn nếu tôi nắm ông quá mạnh và làm đau xương cốt ông, xin hãy bỏ quá cho tôi.
- Bác đỡ tôi dậy với, - lão Hi Lạp nói - Bác không giết tôi thật đấy chứ? Hả? Đưa tôi ra phố, tôi sẽ tự đi được.
Bác Urxux dựng lão dậy khỏi mặt đất như một chiếc lông, để lão đứng trên hai chân, rồi dẫn qua lối đi tối mở sang chiếc sân thứ hai, nơi thông ra hàng hiên và đường phố. Trong hành lang, lão Khilon lại bụng bảo dạ: “Mình toi đời rồi này”, mãi cho tới khi ra đến ngoài phố, lão mới hoàn hồn và nói:
- Tôi đi một mình được rồi.
- Cầu cho ông được hằng bình an!
- Cả bác nữa, cả bác nữa!… Để tôi thở một lát.
Sau khi bác Urxux quay đi, lão hít thật căng lồng ngực. Tay lão sờ soạng quanh thắt lưng và hai đùi dường như lão muốn kiểm tra lại cho thật tin là vẫn còn sống, rồi lão hối hả bước đi.
Song chỉ được vài mươi bước lão chợt dừng lại và hỏi:
- Sao họ không giết ta nhỉ?
Và mặc dù đã cùng ông lão Euryxius trò chuyện về khoa học Thiên chúa giáo, mặc dù đã nói chuyện với bác Urxux bên sông, mặc dù tất cả những gì lão được nghe ở Oxtrianum, lão vẫn không sao tìm ra lời đáp cho câu hỏi ấy.
Chú thích:
(1) Tức Aedon, người hoá thân thành chim hoạ mi (chú thích của tác giả)


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 25


Cả Vinixius cũng không hiểu nổi chuyện vừa xẩy ra và tận đáy lòng chàng cũng không ít ngạc nhiên hơn lão Khilon. Bởi vì đối với chính chàng những người này cũng đối xử như họ vừa đối xử với lão, thay vì trả thù chàng đã tấn công họ, họ lại ân cần băng bó các vết thương của chàng, chàng cho rằng sở dĩ như vậy một phần do cái giáo thuyết mà họ tuân theo, phần nhiều hơn vì Ligia, còn chút ít là vì địa vị quan trọng của chàng. Song cách xử sự của họ đối với lão Khilon đã vượt quá mọi quan niệm của chàng về khả năng tha thứ của con người. Và trong lòng chàng bất giác nẩy ra câu hỏi: Tại sao không giết lão Hi Lạp? Họ có thể giết lão mà không hề bị trừng phạt. Bác Urxux có thể đào hố chôn xác lão trong vườn hoặc đêm đến mang ra sông Tyber, dòng dông mà trong cái thời chính Hoàng đế cũng gây ra những cuộc quấy phá ấy, cứ sáng sáng lại vứt lên bờ những xác người đến nỗi chẳng ai buồn suy nghĩ xem chúng từ đâu lại. Thêm vào đó, theo Vinixius những người Thiên chúa giáo không những chỉ có thể mà cần phải giết lão Khilon. Thực ra, lòng thương hại không phải hoàn toàn là khái niệm xa lạ đối với cái thế giới của chàng quý tộc trẻ tuổi. Những người Aten cũng đã từng dựng bàn thờ cho tình thương và suốt một thời gian dài người ta đấu tranh chống lại việc đưa các trận giác đấu vào thành Aten. Thường thường, ngay cả ở Roma, những người chiến thắng vẫn được tha thứ, ví dụ như Kalikratux vua của người Brytanhơ, bị bắt làm nô lệ từ thời Klauđius, được Hoàng đế cung phụng dồi dào, được sinh sống tự do trong thành phố. Song trả thù những chuyện xúc phạm cá nhân, đối với Vinixius cũng như đối với toàn thể mọi người lại là việc hoàn toàn đứng đắn và công bằng. Không làm điều ấy là trái ngược với bản chất của chàng. Chàng được nghe nói tại Oxtrianum rằng, cần phải thương yêu ngay chính kẻ thù, song chàng chỉ coi đó là một thứ lý thuyết không hề có ý nghĩa gì trong thực tế. Ngay cả lúc này đây, chàng vẫn còn thoáng nghĩ rằng, có thể người ta không giết lão Khilon chỉ vì đang mùa lễ lạt gì đó hoặc trùng vào tuần trăng, lúc những người Thiên chúa không được phép sát sinh. Chàng nghe kể rằng có những mùa mà nhiều dân tộc khác nhau không được phép tiến hành chiến tranh. Nhưng vậy thì tại sao người ta không đem lão Khilon nộp vào tay công lý, tại sao Đức Sứ đồ lại bảo rằng nếu có kẻ bẩy lần phạm tội thì cần tha thứ cho hắn cả bẩy lần, và tại sao ông Glaukox lại nói với lão Khilon: ”Cầu Chúa hãy xá tội cho ngươi như ta đã tha thứ cho ngươi”? Mà lão Khilon là người đã gây cho ông ta điều xúc phạm kinh khủng nhất mà con người có thể xúc phạm đến con người. Trong lòng Vinixius, trái tim sôi sục lên như nước sôi, khi nghĩ rằng cần phải đối xử như thế nào đối với kẻ - nói thí dụ - giết chết Ligia, không có cực hình nào mà chàng không dùng để trả thù cho nàng. Ấy thế mà con người kia đã tha thứ! Cả bác Urxux cũng tha thứ cho lão, chính bác, người có thể giết chết bất kỳ kẻ nào bác muốn trong cả thành Roma, mà hoàn toàn không bị trừng phạt, vì sau đó bác chỉ cần giết thêm vua lục lâm của khu rừng Nemoren và thế chân hắn ta là xong… Liệu tay đấu sĩ đang giữ cái tước vị này, tước vị mà hắn đoạt được chỉ bằng cách giết vị “vua” trước hắn, có địch nổi con người mà ngay cả Kroton cũng đã không địch nổi hay chăng? Chỉ có một cách trả lời cho tất cả những câu hỏi ấy. Họ không giết là vì tấm lòng nhân hậu bao la chưa từng có trên thế giới, một tấm lòng yêu thương vô bờ bến đối với con người, tình cảm ấy bắt ta phải quên mình, quên những điều mình bị xúc phạm, quên niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của mình để sống cho người khác. Họ làm thế để được điều gì? Vinixius đã được nghe nói tới tại Oxtrianum nhưng cái đó không sao lọt nổi vào đầu óc chàng. Ngược lại, chàng cảm thấy rằng, cuộc đời trần thế này, cuộc đời gắn liền với nghĩa vụ phải từ chối hết thẩy mọi điều tốt đẹp và lạc thú vì lợi ích của kẻ khác, chắc chắn phải là một cuộc đời khốn khổ. Vì vậy, trong những suy nghĩ của chàng về những người Thiên chúa giáo lúc này, bên cạnh sự ngạc nhiên cao độ có cả nỗi thương hại và một thoáng khinh mạn. Chàng cảm thấy như họ là những con cừu, chóng hay chầy cũng bị chó sói ăn thịt, bản chất La Mã của chàng không thể nào khâm phục những kẻ cho phép mình bị ăn thịt. Tuy nhiên có một điều vẫn đập vào chàng. Đó là, sau lúc lão Khilon bước ra, một niềm vui sướng xâu xa nào đó khiến cho tất cả khuôn mặt đều bừng sáng. Đức Sứ đồ tiến lại gần ông Glaukox, đặt tay lên đầu ông mà bảo:
Đấng Crixtux đã chiến thắng trong lòng con!
Còn ông lão ngước lên trời đôi mắt tin tưởng và đầy niềm vui sướng ngỡ như có một niềm hạnh phúc lớn lao và bất ngờ nào đó rót lên ông. Vinixius, người chỉ có thể hiểu được niềm sung sướng của một mối thù được trả, nhìn ông với cặp mắt mở to vì cơn sốt nóng, hơi có vẻ như nhìn một người loạn trí. Song chàng lại trông thấy - trông thấy và không tránh khỏi sôi sục trong lòng - Ligia áp đôi môi công chúa của nàng vào tay con người có vẻ ngoài như một tên nô lệ và chàng cảm thấy trật tự của thế giới đã hoàn toàn bị đảo lộn. Sau đó, bác Urxux quay về và kể lại chuyện bác đã đưa lão Khilon ra phố, đã xin lão thứ lỗi về việc có thể đã làm cho xương cốt lão bị đau, thế là Đức Sứ đồ cũng ban phước cho bác, còn ông Krypxpux thì tuyên bố rằng hôm ấy là một ngày đại thắng. Nghe nói tới chiến thắng, Vinixius hoàn toàn rời hẳn dòng suy nghĩ.
Khi lát sau Ligia lại mang nước mát đến cho chàng uống, chàng giữ tay nàng lại một lúc và hỏi:
Cả nàng nữa cũng tha thứ cho tôi ư?
Chúng tôi là người Thiên chúa giáo. Chúng tôi không được phép giữ sự giận dữ trong lòng.
Hỡi Ligia - chàng nói - Dù cho Đức Chúa của nàng là ai? Tôi cũng xin dâng lên Người nhiều lễ vật, chỉ vì Người là của nàng.
Nàng bảo:
Hãy thờ phụng Người trong trái tim, nếu như chàng yêu Người.
Chỉ vì là của nàng… Vinixius lặp lại bằng giọng nói yếu ớt.
Và chàng nhắm mắt, bởi một lần nữa chàng lại thỉu đi.
Ligia bước đi, nhưng liền sau đó quay trở lại, đứng gần chàng cúi xuống để xem chàng ngủ hay chưa. Vinixius cảm giác được sự gần gũi của nàng liền mở mắt ra và mỉm cười, nàng đặt nhẹ tay lên mắt chàng dường như muốn khuyên chàng nên ngủ. Khi ấy chàng cảm thấy một sự ngọt ngào bao la tràn ngập trong lòng, đồng thời chàng lại cảm thấy yếu hơn nhiều. Và quả thực như vậy. Đêm đã đến và cùng với đêm là một cơn sốt dữ dội hơn. Vì thế chàng không thể ngủ được và cứ dõi mắt theo Ligia mỗi khi nàng di động. Chốc chốc, chàng lại rơi vào một trạng thái mơ màng nửa thức, nửa ngủ, trong đó chàng nhìn thấy và nghe thấy tất cả những gì diễn ra chung quanh, nhưng thực tại lại hòa lẫn vào những cơn mê sảng. Chàng trông thấy một thánh đường hình tháp được dựng trên một nghĩa địa cũ kỹ nào đó đã bị bỏ hoang, trong đó chính Ligia là nữ tu sĩ. Mặc dù trong thực tế, chàng không hề rời mắt khỏi nàng, song chàng lại thấy nàng đứng trên đỉnh tháp với cây đàn thi cầm trong tay, toàn thân ngập trong ánh sáng, giống như những nữ tu sĩ đêm đêm vẫn hát thiền ca, ca ngợi vầng nguyệt mà chàng từng gặp ở phương Đông. Còn chàng thì đang gắng hết sức leo lên những bậc thang ngoằn ngoèo để bắt nàng, phía sau chàng là lão Khilon đang bò theo, răng đánh lập cập vào nhau vì kinh hoàng, mồm lải nhải: ”Chớ làm việc ấy, thưa ngài, vì đó là một nữ tu sĩ, Chúa sẽ trừng phạt ngài vì nàng…”. Vinixius không rõ Chúa là ai, nhưng chàng biết rằng chàng đang định làm một chuyện phạm thánh và cả chàng nữa cũng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô bờ. Khi chàng leo đến được hàng lan can vây quanh đỉnh tháp, thì Sứ Đồ với bộ râu bạc đột ngột xuất hiện bên Ligia và nói: ”Ngươi chớ chạm tay vào nàng, vì nàng thuộc về ta rồi”. Nói đoạn ông cùng nàng bước theo con đường ánh trăng giống như đường lên trời, còn chàng, Vinixius thì vươn hai tay lên phía họ để van xin hãy cho chàng được theo.
Đến đây chàng chợt thức dậy, tỉnh táo hơn và nhìn ra trước mắt. Ngọn lửa trên cái bục cao đã yếu đi, nhưng vẫn còn rọi ánh sáng khá tỏ, tất cả bọn họ đang ngồi trước lửa để sưởi, vì đêm thì giá rét mà ngôi nhà lạnh lẽo. Vinixius trông thấy những làn hơi thở ra từ miệng của họ. Đức Sứ đồ ngồi ở giữa, Ligia ngồi kề gối ông trên một chiếc ghế thấp, tiếp theo đó là ông Glaukox, ông Kryxpux, bà Miriam, phía ngoài cùng một bên là bác Urxux, còn bên kia là Nazarius con trai bà Miriam, một tiểu đồng trẻ tuổi, có khuôn mặt ngọt ngào và mái tóc đen dài rủ xuống tận vai.
Ligia đang ngước mắt lên Đức Sứ đồ lắng nghe, tất cả các mái đầu đều đang hướng về ông, còn ông thì nói giọng thì thầm khe khẽ. Thoạt tiên, Vinixius nhìn ông với một nỗi e sợ mê tín, còn phần ít hơn nỗi hãi hùng mà chàng cảm thấy trong cơn mê sảng. Chàng thoáng nghĩ, rằng trong cơn mê chàng đã cảm thấy đúng sự thực và người lữ khách tóc bạc từ những bến bờ xa xăm kia tới đây quả là để bắt đi nàng Ligia của chàng và đưa nàng vào những con đường chưa một ai từng biết tới. Chàng cũng tin chắc rằng cụ già đang nói về chàng, có thể cụ đang bày cách làm sao chia cách chàng với nàng, bởi vì Vinixius không thể tin rằng có ai đó lại có thể nói về một chuyện gì khác, chàng bèn cố gắng hết sức tỉnh táo lắng nghe những lời của Đức Sứ đồ.
Song chàng đã nhầm hoàn toàn, vì Đức Sứ đồ lại đang kể về đáng Crixtux.
“Bọn họ chỉ sống bằng mỗi một cái tên người ấy mà thôi!” - Vinixius thầm nghĩ.
Cụ già đang kể về việc Chúa Crixtux bị bắt:
Một cơ binh cùng những kẻ phục dịch các thầy tế lễ kéo cả tới để bắt Người. Khi Đấng Cứu Thế hỏi chúng tìm ai, chúng trả lời: ”Tìm Jexux người Nazaren!". Song khi Đức Chúa phán rằng: ”Chính ta đây” - chúng bèn té xuống đất và không dám đưa tay chạm tới Người, mãi sau khi hỏi lại lần nữa, chúng mới dám bắt Người.
Nói tới đây, Đức Sứ đồ ngừng lại, chìa hai tay tới ngọn lửa rồi nói:
Đêm ấy cũng lạnh như đêm nay, nhưng trái tim sôi lên trong lòng ta, nên ta bèn rút gươm bảo vệ Chúa và ta đã chặt đứt tai tên đầy tớ của thầy cả thượng phẩm. Ta sẽ bảo vệ Chúa hơn cả tính mạng mình nếu như Người không phán cùng ta: ”Hãy tra gươm vào vỏ. Ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống hay sao?...”. Khi ấy chúng bèn bắt và trói Người.
Nói đoạn, ông đưa bàn tay lên trán và nín bặt, dường như muốn chế ngự sức mạnh của những hồi ức trước khi kể tiếp. Nhưng bác Urxux không thể chịu đựng nổi, vùng đứng dậy, dùng que sắt cời ngọn lửa trên cái bục, khiến cho những tia lửa bắn ra tung tóe ra thành một trận mưa vàng và ngọn lửa vọt lên cao sống động hẳn lên, đoạn bác lại ngồi xuống và thốt lên:
Dù muốn ra sao thì ra - hây!...
Song bác ngưng bặt giữa chừng vì Ligia đặt một ngón tay lên môi. Bác chỉ hơi thở hổn hển, rõ ràng là lòng bác đang sôi sục cả lên, mặc dầu lúc nào bác cũng sẵn sàng hôn chân Đức Sứ đồ, song lòng bác không sao chấp nhận được hành động ấy, bởi vì nếu như ngay bên cạnh bác có kẻ nào dám vung tay lên với Đức Chúa, nếu như bác có mặt bên Người trong đêm ấy, thì chắc hẳn cả bọn lính, cả đám đầy tớ cho các thầy cả tế lễ cũng lũ gia nhân, đã bắn tung lên như vỏ bào rồi… Chỉ nghĩ tới điều đó thôi, mắt bác đã nhòa lệ, vừa vì tiếc thương vừa bị nỗi phân tâm bức bối, bởi một mặt bác nghĩ rằng không những chỉ một mình bác bảo vệ Đức Chúa mà bác còn có thể kêu gọi những người dân Ligia, những chàng trai đáng ca ngợi, song mặt khác, nếu hành động như vậy, bác sẽ tỏ ra không vâng lời Đấng Cứu Thế và cản trở việc chuộc tội cho thế gian.
Vì vậy bác không sao cầm nổi giọt lệ.
Lát sau, ông Piotr bỏ tay ra khỏi trán, bắt đầu kể tiếp, nhưng một trạng thái nửa mê nửa tỉnh lại xâm chiếm Vinixius. Giờ đây những điều mà chàng nghe thấy trộn lẫn với những điều Đức Sứ đồ nói đêm qua ở Oxtrianum về cái ngày mà Đấng Crixtux hiện ra trên bờ biển Teberiad. Chàng nhìn thấy một làn nước rộng, trên đó là chiếc thuyền đánh cá, trong thuyền là ông Piotr và Logia. Còn chàng đang cố sức bơi theo sau họ, nhưng nỗi đau đớn của cánh tay gẫy khiến chàng không sao đuổi kịp. Bão táp ném những đợt sóng vào mắt chàng, chàng bắt đầu chìm và kêu lên bằng giọng cầu khẩn xin cứu giúp. Khi ấy nàng Ligia bèn quỳ xuống trước mặt Đức Sứ đồ, ông quay thuyền lại và chìa cho chàng mái chèo, chàng bèn tóm lấy và với sự giúp đỡ của hai người, chàng treo lên được thuyền rồi ngã xuống lòng thuyền.
Nhưng rồi chàng lại mơ, khi đứng dậy, chàng trông thấy bao nhiều là người đang bơi theo thuyền. Những làn sóng phủ bọt lên đầu họ, trong cảnh hỗn độn, một số người chỉ còn nhô lên những bàn tay chới với nhưng ông Piotr lần lượt cứu những kẻ đang lâm nạn và đưa họ lên thuyền, chiếc thuyền mỗi lúc một lớn lên như một phép màu nhiệm. Chẳng mấy chốc trong thuyền đã có những đám người đông như đám người tập trung tại Oxtrianum, rồi sau đó lại còn nhiều hơn thế nữa. Vinixius ngạc nhiên là sao họ lại có thể vào được cả trong thuyền, chàng e rằng tất cả sẽ chìm xuống đáy. Nhưng Ligia an ủi chàng và chỉ cho chàng thấy một vầng ánh sáng nào đó trên dải bờ xa xa, nơi họ đang bơi đến. Đến đây, những giấc mơ của Vinixius lại trộn lẫn với những điều chàng được nghe tại Oxtrianum từ miệng Đức Sứ đồ về việc Chúa Crixtux đã có lần hiển hiện trên hồ. Giờ đây chàng trông thấy một bóng người trong vừng ánh sáng nọ, bóng người mà ông Piotre đang lái thuyền hướng tới. Càng tiến lại gần bóng người đó, thời tiết càng trở nên hiền hòa hơn, mặt nước phẳng lặng hơn và vừng sáng càng lớn hơn. Những đám người bắt đầu hát một bản thiều ca dịu ngọt, không khí sự nức mùi hương cam tùng, nước nổi cầu vồng, dường như có những đóa hoa huệ, hoa hồng nhô lên từ dưới nước và cuối cùng con thuyền nhẹ nhàng chạm mũi vào bờ cát. Khi ấy, Ligia cầm tay chàng và bảo: ”Đi nào, em sẽ dẫn chàng!”. Rồi nàng đưa chàng đi vào vùng ánh sáng.
… …
Vinixius lại tỉnh dậy, những giấc mơ màng của chàng tan đi từ từ và chàng không cảm giác ngay được thực tế. Suốt một lúc lâu chàng vẫn ngỡ như mình đang ở trên hồ giữa những đám đông vây quanh trong đó chính chàng cũng không rõ tại sao chàng lại đi tìm ông Petronius và ngạc nhiên là không sao tìm thấy ông. Ngọn lửa sống động từ lò sưởi tỏa sáng - bên lò không còn ai - đã khiến chàng tỉnh hẳn. Những cành ô liu còn đỏ le lói một cách biếng nhác dưới lớp tro màu hồng, nhưng những thanh củi thông mà chắc người ta đã ném vào đống lửa lúc cờn tươi lại cháy bừng lửa và trong ánh sáng ấy, Vinixius trông thấy Ligia đang ngồi cách không xa giường chàng.
Hình ảnh nàng khiến chàng cảm động đến tận tâm can. Chàng nhớ ra rằng suốt đêm qua nàng ở Oxtrianum, suốt ngày lại bận bịu với chuyện băng bó, giờ đây, khi mọi người đã đi nghỉ cả rồi, một mình nàng vẫn còn thao thức bên giường chàng. Dễ đoán được rằng hẳn nàng đã mệt lắm rồi, vì nàng ngồi bất động, mắt nhắm nghiền. Vinixius không hiểu nàng đã thiếp đi hay đang chìm trong suy nghĩ. Chàng ngắm nét mặt trông nghiêng của nàng, nhìn hàng mi hạ xuống, nhìn đôi tay trên đầu gối và trong cái đầu ngoại đạo của chàng, dần dần, một cách khó nhọc, bắt đầu hình thành cái khái niệm, rằng bên cạnh vẻ đẹp trần truồng, đầy tự tin và tự hào về hình thể mình của Hi Lạp, trên thế giới còn có một vẻ đẹp khác nữa, mới mẻ, cực kỳ trong sạch, trong đó chứa đựng linh hồn.
Chàng không dám gọi đó là vẻ đẹp Thiên chúa, song khi nghĩ về Ligia, chàng không thể tách biệt nàng khỏi cái giáo thuyết mà nàng thuận theo. Thậm chí chàng còn hiểu rằng, nếu như tất cả những người khác đã đi nghỉ, chỉ còn mỗi mình Ligia - người mà chàng đã từng xúc phạm - thức trông nom chàng, thì chính là do nàng được cái giáo thuyết kia chỉ giáo. Song ý nghĩ này vừa khiến chàng thán phục giáo thuyết ấy, vừa khiến chàng khó chịu. Chàng muốn Ligia làm điều ấy vì yêu chàng, vì khuôn mặt chàng, vì đôi mắt, vì hình dáng đẹp như tượng của chàng, tóm lại vì tất thảy những lý do mà vì chúng, đã hơn một lần những cánh tay trắng nõn nà của Hi Lạp và La Mã từng vòng quanh cổ chàng.
Đột nhiên chàng cảm thấy nếu như nàng cũng giống hệt những người đàn bà khác, thì hẳn chàng sẽ thấy có cái gì đó thiếu đi trong nàng. Chàng ngạc nhiên không hiểu điều gì đã xảy ra với chính mình, vì chàng chợt nhận ra rằng, trong lòng chàng đã bắt đầu hình thành những tình cảm, những sở thích mới, xa lạ với cả thế giới mà chàng vẫn sống cho tới nay.
Vừa lúc đó nàng mở mắt ra, thấy Vinixius đang nhìn mình, nàng bèn tiến lại gần chàng và nói:
Có em bên chàng đây.
Còn chàng trả lời:
- Trong mơ tôi trông thấy tâm hồn nàng.


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 26


Sáng hôm sau, chàng mở mắt cảm thấy mình rất yếu, nhưng đầu mát và không còn sốt nữa, Chàng ngỡ như có tiếng trò chuyện thì thầm nào đó khiến chàng thức giấc, nhưng khi mở mắt ra, Ligia không còn ở bên chàng, chỉ có bác Urxux đang lom khom trước lò sưởi tìm một hòn than còn đỏ và khi tìm thấy, bác thổi vào hòn than mạnh như một cái bễ rèn chứ không phải là miệng người thổi nữa, Vinixius chợt nhớ lại rằng hôm qua chính con người này đã đánh gục Kroton, chàng bèn chăm chú ngắm bác với sự tò mò của một người say mê võ đài, ngắm nghía tấm lưng đồ sộ như lưng một người khổng lồ và bắp đùi to tướng như những chiếc cột,
"Cảm ơn thần Merkurơ là y đã không vặn gẫy cổ mình - chàng nghĩ thầm - thề có thần Ponlukx! Nếu như những tên Ligi khác cũng giống hệt như hắn, thì chắc hẳn những chiến đoàn Đunai sẽ có lúc nhọc với bọn chúng đấy".
Chàng gọi to:
Hây, thằng nô lệ!
Bác Urxux rụt đầu ra khỏi lò sưởi và mỉm cười gần như thân thiện với chàng, bác nói:
Cầu chúa ban cho người một ngày tốt lành và một sức khỏe tốt lành, còn tôi là một người tự do chứ không phải nô lệ đâu,
Những lời này khiến cho Vinixius thích thú, vì chàng đang muốn hỏi bác Urxux về đất nước quê hương của Ligia, mà việc trò chuyện với một người tự do, dẫu chất phác, vẫn ít động chạm tới phẩm cách La Mã và quý tộc của chàng hơn là trò chuyện với một tên nô lệ, kẻ mà cả luật pháp lẫn phong tục tập quán đều không coi là con người.
Thế ra ngươi không phải là nô lệ của ông bà Aulux sao? - Chàng hỏi,
Không, thưa ngài, Tôi phục vụ nàng Kalina như đã từng phục vụ mẫu thân nàng, nhưng hoàn toàn tự nguyện,
Nói đoạn bác lại chui đầu vào lò sưởi để thổi vào hòn than đỏ mà bác đã ném mấy thanh củi khô lên trên, rồi lại rụt đầu ra và nói:
Ở quê tôi không hề có nô lệ,
Song Vinixius hỏi:
Nàng Ligia đâu rồi?
Cô chủ vừa mới đi, còn tôi phải sửa soạn bữa sáng cho ngài đây, thưa ngài. Cô chủ thức trông ngài cả đêm qua,
Sao ngươi không trông thay cho nàng?
Bởi cô chủ muốn thế, còn việc của tôi là phải vâng lời,
Đến đây mắt bác chợp sầm lại, lát sau bác nói thêm:
Giá tôi không vâng lời cô chủ thì hẳn ngài đã không còn sống nữa,
Thế ra ngươi tiếc là đã không giết ta sao?
Không thưa ngài, Chúa Crixtux không cho giết người,
Thế còn Ataxynux? Còn Kroton?
Tôi không thể làm khác được - bác Urxux lầu bầu,
Rồi bác nhìn hai bàn tay mình như vẻ hối tiếc, hai bàn tay rõ ràng vẫn là bàn tay ngoại đạo, mặc dù tâm hồn đã được chịu lễ rửa tội.
Rồi bác đặt cái nồi lên giá và ngồi xẹp trước lò sưởi, dán cặp mắt suy tư vào ngọn lửa.
- Đó chính là lỗi của ngài, thưa ngài - mãi sau bác thốt ra - Sao ngài lại vung tay lên với nàng, với công chúa?
Thoạt tiên trong Vinixius sôi sục lòng tự tôn, rằng một tên tiện dân đồng thời là một thằng mọi rợ như thế mà dám nói năng sỗ sàng và dám chê trách chàng nữa chứ. Lại một chuyện nữa thêm vào những chuyện phi thường và khó tưởng tượng nổi đã xảy ra đến với chàng kể từ hôm ấy. Song đang ốm yếu, lại không có dưới tay bọn nô lệ của mình, nên chàng cố kìm lòng, nhất là khi cái ý muốn tìm hiểu chi tiết thêm đôi điều về cuộc đời của Ligia thắng thế trong lòng chàng.
Vì vậy, bình tâm lại, chàng bắt đầu hỏi về cuộc chiến tranh của người Ligi chống Vannius và dân Xveb. Bác Urxux vui lòng kể lại nhưng bác cũng chẳng cho biết thêm được điều gì nhiều hơn những điều mà đã có lần ông Aulux Plauxius kể cho Vinixius nghe. Bác Urxux không tham gia chiến trận vì bác đi cùng đám con tin đến trại của Atelius Hixter. Bác chỉ biết rằng người Ligi đã đánh tan quân Xveb và Jazygơ. Ngay sau đó, họ lại nhận được tin báo rằng người Xemnonop đốt rừng ở vùng biên giới của họ, bèn lập tức quay trở về để trả hận, còn đám con tin thì để lại chỗ Atelius. Ông này thoạt đầu đối xử với họ như với những bậc đế vương. Sau đó mẹ Ligia qua đời. Vị thủ lĩnh La Mã không biết nên làm gì với đứa trẻ. Bác Urxux muốn đưa cô chủ trở về quê hương nhưng đường đi rất nguy hiểm bởi đầy rẫy dã thú và những bộ lạc dã man. Vậy nên khi có tin là một vị sứ thần nào đó của người Ligi đang ở chỗ ông Pomponia và mang tới cho ông lời hứa hẹn chống lại người Markoman thì tướng Hixter gửi họ đến chỗ ông Pomponia. Song khi tới chỗ ông, họ lại được biết rằng chẳng hề có vị sứ giả nào cả - và thế là họ đành ở lại trong trại binh, từ đó ông Pomponia đưa họ về Roma, rồi sau lễ khải hoàn, ông đưa đứa bé con vua cho bà Pomponia Grexyna.
Mặc dù trong câu chuyện ấy chỉ có vài chi tiết nhỏ nhặt là chàng chưa được biết, Vinixius vẫn thích thú lắng nghe, vì sự kiêu hãnh vô bờ về dòng họ của chàng được mơn trớn một cách dễ chịu khi được nghe người nhân chứng chính thức khẳng định dòng dõi hoàng tộc của Ligia. Là công chúa con vua, trong hoàng cung nàng có thể chiếm một địa vị ngang hàng với con gái của những dòng họ tôn quý nhất, nhất là khi dân tộc mà cha đẻ nàng làm vua chưa hề đánh nhau với quân La Mã bao giờ và tuy là một dân tộc dã man, song họ rất có thể trở thành đáng sợ, vì theo lời của chính Atelius Hixter thì họ có "vô số" chiến sĩ.
Bác Urxux cũng hoàn toàn khẳng định điều đó vì đáp lại câu hỏi của Vinixius về người Ligi, bác nói:
Chúng tôi náu trong rừng, nhưng đất đai của chúng tôi mênh mông đến nỗi chẳng ai biết rừng kết thúc ở chỗ nào, còn trong rừng thì đông người lắm. Trong rừng có cả những tòa thành bằng gỗ giàu có vô cùng, bởi vì dân Xemnon, Markoman, Vanđan và Kvađ đi cướp bóc khắp thế giới, mà chúng tôi thì lại đi cướp lại của bọn chúng. Còn bọn chúng thì không dám bén mảng tới chỗ chúng tôi, chỉ khi nào gió thổi xuôi từ phía chúng, chúng mới đốt rừng của chúng tôi. Chúng tôi chẳng sợ, cả bọn ấy lẫn hoàng đế La Mã.
Các vị thần linh đã giao cho người La Mã đứng đầu thế giới - Vinixius nói nghiêm khắc.
Các vị thần linh là quỷ dữ - bác Urxux thản nhiên đáp lại - nơi nào không có người La Mã, ở đó không có chuyện đứng đầu cai trị.
Nói đoạn, bác cời lửa và nói như với chính mình:
Lúc hoàng đế bắt nàng Kalina vào cung, tôi nghĩ rằng nàng có thể gặp chuyện chẳng lành, tôi đã muốn đi về tận những khu rừng ấy và dẫn người Ligi đến cứu công chúa. Và chắc người Ligi sẽ tiến về phía sông Đunai, vì họ là một dân tộc tốt lành, mặc dù ngoại đạo. Ôi, tôi không thể mang lại cho họ một tin tốt lành. Nhưng đến khi nào nàng Kalina quay trở về với bà Pomponia, tôi cũng sẽ cúi xin nàng cho phép tôi về với họ, vì Chúa Crixtux ra đời ở nơi xa xôi quá và thậm chí họ cũng chưa từng được nghe nói về Người... Người biết rõ hơn tôi nơi nào Người cần phải ra đời, nhưng giá như Người ra đời ở xứ chúng tôi, trong rừng rậm, thì chắc hẳn chúng tôi đã không hành hạ Chúa mà đã nuôi nấng Đức Chúa Hài đồng và chăm lo cho Người không lúc nào thiếu muông thú, nấm, da bò rừng lẫn hổ phách. Và đi cướp được gì của dân Xveb hoặc Markoman thì chúng tôi đều mang về cho Người, để Người được sống trong sung túc và tiện nghi.
Vừa nói thế, bác vừa đặt nồi xúp cho Vinixius lên bếp và nín lặng. Hẳn là ý nghĩ của bác đang chu du hồi lâu trong những khu rừng xứ Ligi, mãi cho tới khi nước trong nồi bắt đầu reo, bác đổ nó vào một cái âu cạn và sau khi để vừa nguội, bác nói:
Ông Glaukox khuyên ngài nên càng ít động đậy càng tốt, thậm chí cả cánh tay còn lành cũng thế, vậy nên nàng Kalina bảo tôi phải bón thức ăn cho ngài.
Ligia ra lệnh! Thế thì còn nói gì nữa! Vinixius thậm chí không hề nghĩ đến việc cưỡng lại ý chí của nàng, dường như nàng là con gái của chính hoàng đế hay là một vị nữ thần, chàng không hề đáp lại điều gì, còn bác Urxux thì ngồi cạnh giường chàng, bắt đầu múc từng muỗng nhỏ xúp từ cái âu rót vào miệng chàng. Bác làm việc đó thật ân cần và với nụ cười thân thiện trong đôi mắt màu thanh thiên của bác, khiến cho Vinixius không còn tin vào mắt mình, rằng đó chính là vị thần Titan kinh khủng ngày hôm qua, sau khi bóp chết Kroton đã lao vào chàng, nếu như không có lòng thương hại của Ligia. Lần đầu tiên trong đời, chàng quý tộc trẻ tuổi bắt đầu suy nghĩ xem có những gì diễn ra trong lòng một kẻ tiện dân, một tên đầy tớ, một người dã man.
Nhưng bác Urxux là một người bảo mẫu ân cần bao nhiêu thì lại thiếu khéo léo bấy nhiêu. Cái muỗng nhỏ hoàn toàn lọt thỏm trong những ngón tay lực sĩ của bác đến nỗi không còn thừa chỗ nào dành cho miệng Vinixius nữa. Sau vài lần thử nghiệm không thành công bác khổng lồ hóa ra lo lắng và thốt lên:
Ê, lôi bò tót từ trong rừng ra còn dễ hơn...
Sự lúng túng của bác Ligi khiến Vinixius thú vị, những câu nói của bác ta cũng khiến chàng chú ý không kém. Trong các hý trường, đã có lần chàng được trông thấy những con bò rừng khủng khiếp được mang về từ những vùng rừng hoang phương bắc, loài thú mà những tên bextiari dũng cảm nhất cũng phải lo sợ khi bắt, loài thú chỉ chịu thua kém độc lũ voi về tầm vóc và sức khỏe mà thôi.
Thế ra ngươi đã từng dám nắm sừng loài thú dữ ấy kia à? - Chàng ngạc nhiên hỏi.
Trước khi hai mươi mùa đông qua đi trên đầu tôi thì tôi còn sợ - bác Urxux đáp - còn sau đó thì là chuyện thường.
Rồi bác lại bón tiếp cho Vinixius, song còn vụng về hơn cả lúc trước.
Tôi phải nhờ bà Miriam hoặc thằng bé Nazarius mới được! - Bác nói.
Nhưng chính vào lúc đó, mái đầu màu sẫm của Ligia đã ló ra từ sau tấm rèm che.
Tôi giúp ngay đây - nàng nói.
Liền đó nàng bước ra khỏi phòng ngủ, hẳn là nàng đang chuẩn bị đi ngủ, vì nàng mặc mỗi một chiếc áo tunica bó sát người, được gọi là kiểu cabilium vào thời cổ, loại áo che kín ngực, còn tóc nàng đã tháo tung ra. Vinixius, người mà trái tim đập dập dồn hơn khi trông thấy nàng, bèn bảo rằng nàng không chịu ngủ nghê gì cả, song nàng vui vẻ đáp:
Em đang muốn chợp mắt một lát đây, nhưng trước hết phải thay thế bác Urxux cái đã.
Rồi cầm lấy chiếc muỗng nhỏ, nàng ngồi lên mép giường và bắt đầu bón cho Vinixius ăn. Chàng thấy vừa ngượng ngùng vừa sung sướng. Khi nàng cúi người xuống phía chàng, hơi ấm của cơ thể nàng tỏa đến chàng, những sợi tóc xõa của nàng vươn lên ngực chàng, chàng tái người đi vì xúc cảm nhưng trong cơn xáo động và hăng say của dục vọng, chàng vẫn cảm thấy được rằng đó là mái đầu thân yêu hơn tất thẩy và được sùng kính hơn tất thẩy, đối với mái đầu ấy, cả thế giới chẳng là gì cả. Lúc đầu chàng thèm muốn nàng, còn giờ đây chàng thấy yêu nàng đầy lồng ngực. Trước kia, trong đời sống nói chung cũng như trong tình cảm, giống như những người cùng thời, chàng là một kẻ ích kỷ tuyệt đối và mù quáng, kẻ chỉ biết nghĩ tới riêng mình, còn giờ đây chàng bắt đầu nghĩ đến cả nàng nữa.
Lát sau, chàng từ chối không chịu ăn tiếp và mặc dù chàng thấy trong cái nhìn của nàng cũng như trong sự có mặt của nàng niềm khoái lạc vô bờ bến, chàng vẫn bảo:
Thôi đủ rồi, nàng hãy đi ngủ đi, hỡi thần nữ của tôi.
Chàng đừng gọi em như thế - nàng đáp - em chẳng xứng được nghe gọi thế đâu.
Tuy nhiên, nàng vẫn mỉm cười với chàng, rồi nàng bảo rằng cơn buồn ngủ đã qua mất rồi, nàng không cảm thấy mệt và nàng sẽ không đi nghỉ đâu cho tới khi nào ông Glaukox tới, chàng mỗi lúc một trào dâng niềm xúc động lớn lao hơn, nỗi thán phục to lớn hơn, lòng hàm ơn bao la hơn và chàng suy nghĩ lao lung xem làm cách nào biểu lộ được lòng hàm ơn ấy.
Ligia - chàng nói sau một lúc im lặng - trước đây tôi không hiểu nàng. Nhưng giờ đây tôi đã biết được rằng tôi đến với nàng bằng một con đường lầm lạc, vậy nên tôi xin thưa với nàng: Hãy trở về với bà Pomponia Grexyna và xin hãy tin chắc rằng từ đây sẽ không một kẻ nào dám vung tay lên với nàng nữa.
Nét mặt nàng bỗng buồn bã hẳn đi.
Em sẽ hạnh phúc lắm - nàng nói - giá như em có thể nhìn thấy bà, từ đằng xa thôi cũng được, nhưng em không thể nào về với bà được nữa.
Vì sao? - Vinixius ngạc nhiên hỏi.
Những người Thiên chúa giáo chúng em, thông qua nàng Akte, biết những gì xảy ra trong cung điện Palatyn. Thế chàng không nghe nói rằng ngay sau cuộc trốn chạy của em và trước khi lên đường đi Neapolix. Hoàng đế đã cho gọi ông Aulux cùng bà Pomponia tới và cho rằng họ đã giúp đỡ em, hoàng đế giận dữ đe dọa họ. May mà ông Aulux có thể trả lời hoàng đế rằng: "Hoàng thượng biết đấy, không khi nào điều dối trá có thể thoát ra từ miệng tôi, vậy tôi xin thề với người rằng chúng tôi không hề giúp con bé trốn và chúng tôi cũng không rõ có chuyện gì đã xẩy ra với nó nữa". Hoàng đế đã tin lời ông và rồi sau đó quên đi - còn em thì vâng theo lời của các bô lão, em không hề viết thư cho mẹ báo nơi em ở, để lúc nào bà cũng có thể thề rằng bà hoàn toàn không hay biết gì về em. Vinixius, có thể là chàng không hiểu nổi điều đó, nhưng chúng em không được phép dối trá, thậm chí dù cho có bị đe dọa đến tính mạng đi nữa. Giáo thuyết của chúng em là thế, cái giáo thuyết mà chúng em muốn trái tim mình tuân theo, vậy nên em chưa hề được trông thấy bà Pomponia kể từ khi em rời khỏi nhà bà, còn bà thảng hoặc mới được nghe tin đồn là em vẫn còn sống và bình an.
Đến đây, nỗi nhớ nhung tràn ngập lòng nàng khiến mắt nàng ứa lệ, song chẳng mấy chốc nàng bình tâm lại và nói:
Em biết là bà Pomponia nhớ thương em, nhưng dù sao chúng em cũng còn có được niềm sung sướng mà những người khác không có
Phải - Vinixius đáp - niềm vui sướng của các người là Chúa Crixtux, nhưng tôi, tôi không thể hiểu chuyện đó.
Hãy nhìn chúng em đây này: Đối với chúng em không hề có chia cách, không hề có nỗi đau đớn và chịu đựng, còn nếu như chúng có tới thì chúng cũng sẽ biến thành niềm vui cả thôi. Cả cái chết mà đối với các anh là sự chấm dứt cuộc đời, thì đối với chúng em, nó lại là điều khởi đầu và là việc biến thành một niềm hạnh phúc, tồi tệ hơn thành tốt đẹp hơn, ít an bình thành bình an hơn và mãi mãi vĩnh hằng. Chàng hãy cân nhắc thử xem, nó phải như thế nào, cái khoa học dạy chúng em phải xót thương ngay cả với kẻ thù, không cho phép dối trá, rửa sạch sự dữ khỏi tâm hồn chúng em và hứa hẹn một niềm hạnh phúc vô biên sau cái chết.
Tôi đã nghe nói tới điều ấy ở Oxtrianum, tôi đã thấy các người đối xử với tôi và với lão Khilon ra sao và mỗ khi nghĩ tới chuyện đó, tôi lại ngỡ đó chỉ là giấc mơ mà tôi không được tin vào chính tai mắt của mình nữa. Song xin nàng hãy trả lời một câu hỏi khác của tôi: Nàng có thấy hạnh phúc không?
Có! Ligia đáp - thuận theo đấng Crixtux em không thể không hạnh phúc.
Vinixius nhìn nàng dường như điều nàng vừa nói vượt hoàn toàn ra ngoài khuôn khổ lý trí con người.
Và nàng không muốn quay trở về với bà Pomponia nữa?
Em mong muốn điều đó với cả tấm lòng và em sẽ trở về, nếu như ý muốn của Chúa là như thế.
Thế thì tôi bảo nàng: Hãy quay trở về đi và xin thề với các vị gia thần của tôi cùng nàng rằng tôi sẽ không động chạm đến nàng.
Ligia suy nghĩ một lát rồi nói:
Không! Em không muốn gây nguy hiểm cho những người thân thích của em. Hoàng đế không yêu mến gì dòng họ Plauxius. Nếu như em trở về - cháng biết đấy. Qua bọn nô lệ bất cứ tin tức nào cũng loan truyền khắp Roma - thì chuyện quay về của em sẽ bị đồn ầm lên khắp thành phố và qua những nô lệ của mình, Nerô cũng sẽ biết chuyện. Khi ấy hoàng đế sẽ trị tội ông Aulux, hay chí ít cũng bắt em đi lần nữa.
Phải - Vinixius đáp và nhíu mày - điều đó có thể lắm. Hoàng đế sẽ làm chuyện ấy, dù chỉ để chứng tỏ rằng ý chí của ngài phải được thực hiện. Thực ra ngài chỉ tạm quên nàng hoặc không muốn nghĩ đến nàng vì cho rằng không phải ngài mà chính tôi mới bị thiệt hại. Nhưng cũng có thể... ngài sẽ trả lại cho tôi, còn tôi lại trả nàng về với bà Pomponia.
Song nàng buồn bã hỏi chàng:
Vinixius, chàng lại muốn trông thấy em phải ở trong cung điện Palatyn hay sao?
Chàng nghiến chặt răng thốt lên:
Không! Nàng nói đúng. Tôi nói như một thằng ngu vậy. Không!
Và bỗng chàng như nhìn thấy trước mặt mình một vực thẳm không đáy. Chàng là một quý tộc, chàng là một hộ dân quan quân sự, một người giàu thế lực, nhưng trên tất thẩy những thế lực của cái thế giới mà chàng lệ thuộc vào, chàng lại trở thành một thằng điên khùng mà người ta không thể lường trước được ý muốn cũng như tâm địa độc ác khôn cùng. Có lẽ chỉ những người như các tín đồ Thiên chúa giáo là không thèm để ý đến chàng, cũng chẳng hề e sợ chàng, với họ cả cái thế giới kia, cả những nỗi chia ly của chàng, những chịu đựng cùng cái chết nữa, cũng chẳng là cái gì hết. Tất cả những người khác đều phải run sợ trước mặt chàng. Đối với Vinixius, nỗi hãi hùng của thời mà chàng đang sống chợt hiện ra với toàn bộ tầm cỡ khủng khiếp của nó. Chàng không thể mang Ligia trả lại cho bà Pomponia, vì sợ rằng tên quái vật sẽ chợt nhớ lại nàng và hướng cơn giận dữ của y về phía nàng, cũng chính vì lý do đó, giờ đây nếu chàng lấy nàng làm vợ, thì chàng có thể sẽ gây nguy hiểm cho nàng, cho nhà Aulux và cho bản thân mình. Chỉ một giây bực mình cũng đủ giết chết tất cả. Lần đầu tiên trong đời, Vinixius cảm thấy rằng hoặc là thế giới phải thay đổi đi và tái sinh lại, hoặc cuộc sống sẽ trở nên không thể chịu đựng nổi. Chàng cũng hiểu ra điều mà giây lát trước đây đối với chàng hãy còn tối tăm rằng trong cái thời buổi thế này, chỉ duy nhất những người Thiên chúa giáo mới có thể là những người hạnh phúc.
Song trước tiên chàng hối tiếc khi hiểu rằng chính chàng đã làm rối loạn cuộc đời của mình và Ligia và gần như không còn lối thoát khỏi cái mớ bòng bong ấy nữa. Bị nỗi hối tiếc ấy tác động, chàng thốt lên:
Nàng có biết là nàng hạnh phúc hơn tôi? Tuy sống trong sự bần hàn và trong ngôi nhà này, giữa những người tiện dân, nhưng nàng lại có được giáo thuyết và Chúa Crixtux của nàng, còn tôi, tôi chỉ có mỗi một mình nàng thôi, khi thiếu nàng, tôi như kẻ hành khất không có lấy một mảnh vải che trên đầu, không có lấy một miếng bánh lót dạ. Với tôi, nàng còn quý giá hơn cả thế giới. Tôi không thiết ăn, không thiết ngủ. Giá như không còn niềm hy vọng sẽ tìm được nàng, hẳn tôi đã lao mình vào lưỡi kiếm. Nhưng tôi sợ chết, vì tôi sẽ không còn được trông thấy nàng nữa. Xin nói hoàn toàn thành thực với nàng là được trông thấy nàng mà thôi. Nàng có còn nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta ở nhà ông bà Aulux chăng? Một lần nàng đã vẽ lên mặt cát cho tôi một con cá, nhưng tôi không hiểu cái đó có ý nghĩa là gì? Nàng có nhớ chúng ta cùng chơi bóng với nhau không? Khi ấy tôi đã yêu nàng hơn cả cuộc sống và cả nàng nữa, cũng bắt đầu đoán ra rằng tôi yêu nàng… Rồi ông Aulux tới, đem nữ thần Libtyna ra dọa chúng ta khiến cho câu chuyện bị gián đoạn. Bà Pomponia có nói khi từ biệt ông Petronius, rằng Chúa là duy nhất toàn năng và nhân từ, nhưng chúng tôi nào có ngờ rằng Đức Chúa của các người lại là Crixtux. Chỉ cần Người trả nàng lại cho tôi, tôi sẽ xin yêu Người, mặc dù tôi thấy Người có vẻ như là Đức Chúa của bọn nô lệ của lũ ngoại bang và của đám hạ lưu. Nàng ngồi cạnh tôi mà nàng chỉ nghĩ đến Người thôi. Hãy nghĩ cả về tôi nữa đi, vì nếu không tôi sẽ căm thù Người mất. Với tôi chỉ có mỗi mình nàng là Chúa. Phúc thay cho cha mẹ nàng, phúc thay cho mảnh đất đã sinh ra nàng. Tôi muốn được ôm ghì lấy chân nàng và cầu nguyện nàng, hiến dâng lên nàng lòng thành kính, hiến dâng nàng lễ vật, hiến dâng nàng những cái vái lạy - nàng thiêng liêng gấp ba lần. Nàng không biết, nàng không thể biết tôi yêu nàng biết chừng nào…
Vừa nói thế chàng vừa đưa tay lên vầng trán tái nhợt và nhắm mắt lại. Bản tính của chàng không hề bao giờ biết đến các đập chắn, cả trong cơn tức giận lẫn trong tình yêu. Chàng nói say mê như một người không còn chế ngự được mình, không muốn biết đến thứ chừng mực nào hết cả trong lời nói chũng như trong lòng thành kính. Song chàng đã thốt ra tự đáy lòng và rất chân thành. Có thể cảm thấy rằng cả nỗi đau đớn, sự hâm mộ, dục vọng và lòng sùng tín dồn nén trong lồng ngực chàng, cuối cùng đã bùng ra thành một suối lời không sao kìm hãm nổi. Với Ligia những lời của chàng có vẻ như báng bổ thần thánh, song tim nàng vẫn đập mạnh như muốn dứt tung chiếc áo tunica đang bó chặt lấy ngực. Nàng không thể xua đuổi tình thương đối với chàng và những đau khổ của chàng. Sự thành kính trong lời lẽ của chàng khiến nàng cảm động. Nàng cảm thấy con người không biết khuất phục và nguy hiểm này hiện đang lệ thuộc vào nàng, cả linh hồn lẫn thể xác, như một tên nô lệ và chính cái cảm giác về sự khuất phục của chàng và về sức mạnh của mình đã khiến nàng tràn ngập hạnh phúc. Trong một giây, những hồi ức của nàng vụt sống dậy. Đối với nàng, chàng lại trở thành chàng trai tuyệt vời, dễ thương và xinh đẹp hệt như một vị thần ngoại đạo. Chàng Vinixius, người mà ở ngôi nhà ông Aulux đã nói với nàng về ái tình, đã khiến cho trái tim non trẻ của nàng hồi ấy như tỉnh thức từ giấc điệp, chính chàng, người có những nụ hôn mà nàng vẫn còn cảm thấy trên môi, người mà trong cung điện Palatyn đã bị bác Urxux giật nàng ra khỏi vòng tay như giật ra từ một ngọn lửa. Chỉ có điều là giờ đây, với sự say đắm cùng với nỗi đau đớn trên khuôn mặt đại bàng, với vầng trán tái nhợt và vẻ van xin của ánh mắt, lại bi thương, bị khuất phục vì tình yêu, tràn đầy yêu thương, tràn đầy lòng thành tín và kính cẩn, chàng trở nên giống con người mà nàng từng ao ước hồi ấy, người mà nàng có thể đã yêu thương với tất cả tâm hồn.
Và đột nhiên nàng hiểu ra rằng sẽ tới cái giây phút mà tình yêu của chàng xâm chiếm nàng và lôi cuốn nàng như một cơn bão lốc. Cảm thấy điều ấy, nàng chịu một ấn tượng như chính chàng vừa chịu đựng một phúc trước đây, cái ấn tượng đang đứng bên bờ vực thẳm. Nàng rời bỏ ngôi nhà của ông bà Aulux vì thế đây chăng? Nàng trốn chạy tự cứu mình để vì thế đây chăng? Vì thế đây chăng nàng đã phải ẩn náu suốt ngần ấy thời gian trong những khu phố nghèo nàn của thành phố? Cái anh chàng Vinixius ấy là ai vậy? Một vị quý tộc, một tên lính và một viên quan của Nerô. Chính chàng đã từng tham gia vào những trò trụy lạc và điên rồ của hoàng đế, như bữa yến tiệc mà Ligia không tài nào quên được đã chứng tỏ, chính chàng đã cùng những người khác tới các vị thần miếu và dâng tế lễ vật cho các vị thần vô luân, những vị thần có thể là chàng không tin nhưng vẫn thờ phụng theo nghi lễ. Chính chàng đã săn đuổi nàng chỉ để bắt nàng phải làm nô tỳ và người tình của mình, đồng thời để lôi nàng vào cái thế giới khủng khiếp của xa hoa, khoái lạc, tội ác và những điều vô luân, cái thế giới đang đòi hỏi cơn giận dữ và sự trừng phạt của Thượng đế. Thực ra chàng có vẻ đã thay đổi, song chính chàng vừa mới nói với nàng rằng, nếu nàng còn nghĩ đến đấng Crixtux nhiều hơn nghĩ tới chàng thì chàng sẵn sàng căm thù Người. Ligia ngỡ rằng chỉ cần nghĩ tới bất cứ một thứ tình yêu nào khác với tình yêu đấng Crixtux cũng đã là phạm tội chống lại Người và chống lại giáo thuyết, vậy nên khi nhận thấy trong đáy lòng mình có thể tỉnh thức những tình cảm và khát vọng khác, nàng bỗng sợ hãi cho tương lai của mình, cho trái tim của chính mình.
Đúng vào lúc lòng dạ nàng đang rối bời thì ông Glaukox tới. Ông tới để băng bó cho người bị thương và khám sức khỏe cho chàng. Trên nét mặt của Vinixius, trong một chớp mắt, hiện lên vẻ giận dữ và khó chịu. Chàng bực mình vì người ta làm gián đoạn cuộc trò chuyện của chàng với Ligia và khi ông Glaukox hỏi han chàng, chàng trả lời gần như với vẻ khinh mạn. Quả tình sau đó chàng cũng ôn hòa hơn, song nếu như Ligia có chút ảo vọng nào rằng những gì chàng nghe được tại Oxtrianum có thể tác động đến bản tính của chàng, thì những ảo tưởng ấy buộc phải tan vỡ. Chàng chỉ đổi thay vì nàng mà thôi, ngoài tình cảm duy nhất đó ra. Trong ngực chàng vẫn nguyên vẹn cái trái tim khắc nghiệt và tự ái như cũ, trái tim La Mã đích thực, trái tim lang sói, không những không có khả năng hấp thụ những tình cảm của giáo thuyết Thiên chúa giáo ngọt ngào, mà còn không hề biết tới lòng biết ơn.
Mãi sau, nàng lui gót, lòng đầy thấp thỏm, lo âu. Hồi nào, trong lúc cầu nguyện, nàng đã dâng cho Chúa Crixtux trái tim thanh tĩnh và quả thực trong sạch như nước mắt của mình. Giờ đây, sự thanh tĩnh đó đã bị khuấy động. Một con sâu độc đã bò vào trong lòng đóa hoa và bắt đầu hoành hành trong đó. Thậm chí cả đến giấc ngủ - mặc dù đã hai đêm nàng không ngủ - cũng không mang lại cho nàng sự yên ổn. Nàng mơ thấy Nerô có mặt tại Oxtrianum, dẫn đầu một đoàn cận thần, đồng nữ, lũ hề và các đấu sĩ, dùng cỗ xe trang điểm hoa hồng xéo nát những đám tín đồ Thiên chúa, còn chàng Vinixius nắm lấy hai tay nàng, kéo vào trong cỗ xe tứ mã ghì nàng vào ngực, thì thầm: “Hãy đi với chúng tôi!".


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 27


Từ lúc ấy, nàng ít khi xuất hiện trong phòng chung và hiếm khi tới gần giường chàng. Song sự tĩnh tâm không trở lại với nàng. Nàng trông thấy Vinixius dõi theo nàng cái nhìn van lơn, chàng chờ đợi mỗi lời nàng nói như chờ một ân huệ, chàng đau khổ mà không dám kêu ca để khỏi làm nàng ghét, chỉ mỗi mình nàng mới là sức khoẻ và niềm vui sướng của chàng, và những khi ấy, trái tim nàng tràn ngập một tình thương. Chẳng bao lâu nàng nhận ra rằng nàng càng cố tìm cách tránh mặt nàng bao nhiêu thì nàng càng thương chàng bấy nhiêu, và những tình cảm đối với chàng nảy sinh trong lòng nàng càng âu yếm bấy nhiêu. Sự thanh tĩnh đã rời nàng mà đi. Đôi khi, nàng tự nhủ lòng, rằng nhẽ ra nàng phải luôn luôn ở bên chàng, trước hết vì giáo thuyết của Chúa dạy phải lấy cái tốt đáp lại điều xấu, hai nữa, trong khi trò chuyện với chàng, nàng có thể sẽ khiến chàng xích lại gần hơn với giáo thuyết ấy. Song nhiều lần lương tâm lại bảo nàng, rằng nàng đang tự lừa dối chính mình và rằng không có một cái gì khác kéo nàng lại với chàng ngoài tình yêu và sắc đẹp của chàng. Cứ như thế, nàng sống trong một nỗi phân vân triền miên, mỗi ngày một lớn lên. Nhiều khi nàng cảm thấy có một cái lưới nào đó đang vây bọc lấy nàng, nàng càng muốn phá thủng lưới thì lại càng vướng vít vào lưới nhiều hơn. Nàng phải thú nhận với mình rằng càng ngày hình ảnh của chàng càng trở nên cần thiết hơn đối với nàng, giọng nói của chàng càng trở nên đáng yêu hơn, và nàng phải dùng hết sức để đấu tranh chống lại ý thức được ngồi mãi bên giường chàng. Mỗi khi nàng lại gần, chàng rạng rỡ hẳn lên, thì niềm vui tràn ngập cả trái tim nàng. Một ngày kia, nàng nhận thấy dấu lệ đọng trên hai hàng mi chàng, và lần đầu tiên trong đời, nàng chợt nghĩ rằng nàng có thể dùng những nụ hôn làm lệ khô đi. Hoảng sợ vì ý nghĩ ấy và tràn ngập lòng tự khinh bỉ bản thân, nàng khóc lóc suốt cả đêm hôm sau.
Còn chàng thì kiên nhẫn, dường như chàng đã tự thề phải kiên nhẫn vậy. Thảng hoặc nếu mắt chàng thoạt ngời lên nỗi sốt ruột, tự ái và giận dữ, thì chàng lập tức kìm ngay những tia sáng ấy đi, rồi sau đó lại lo lắng nhìn nàng, dường như muốn xin lỗi nàng, khiến nàng càng bận lòng hơn nữa. Chưa bao giờ nàng cảm thấy nàng được yêu thương đến thế, và cứ nghĩ tới điều đó, nàng lại cảm thấy mình vừa có lỗi vừa hạnh phúc. Quả thực, cả Vinixius cũng thay đổi. Trong những cuộc trò chuyện với ông Glaukox chàng ít tự cao tự đại hơn. Nhiều khi chàng nghĩ rằng cả người thầy thuốc nô lệ này, cả người đàn bà ngoại quốc già nua là bà Miriam, người đang trìu mến chăm sóc chàng, cả ông Kryxpux người mà chàng thấy thường xuyên chìm trong những cuộc cầu nguyện, dù sao cũng vẫn là những con người. Chàng ngạc nhiên với những ý nghĩ tương tự - song vẫn thường nghĩ thế. Dần dần chàng yêu mến bác Urxux, giờ đây chàng trò chuyện với bác suốt cả ngày, bởi với bác chàng có thể nói về Ligia, còn bác khổng lồ này thì lại là kho chuyện không khi nào cạn. Trong khi phục vụ người bệnh những việc đơn giản nhất, bác dần dần cũng tỏ ra có một sự gắn bó nhất định với chàng. Còn Ligia thì hình như bao giờ đối với Vinixius cũng là một sinh linh thuộc loại khác, cao hơn trăm lần so với những người đang sống quanh nàng. Chàng đã bắt đầu quan sát những người nghèo khổ và giản dị, điều mà trong đời chàng chưa hề làm bao giờ, và chàng cũng bắt đầu phát hiện ra ở họ những mặt đáng chú ý, những mặt mà quả tình trước kia chưa khi nào chàng từng nghĩ tới.
Chỉ có thằng bé Nazarius là chàng không sao chịu nổi, vì chàng thấy hình như cậu bé nhỏ tuổi này lại dám phải lòng Ligia. Suốt một thời gian dài chàng cố gắng kìm hãm không bộc lộ cho cậu bé thấy mối ác cảm của chàng, nhưng một lần, khi cậu bé mang về cho cô gái hai con chim cun cút mua được ở chợ bằng chính tiền do cậu kiếm được, thì trong lòng Vinixius, dòng máu của dân Quiryt chợt lên tiếng, đối với nó một tên Do Thái còn kém giá trị hơn loài sâu bọ tầm thường nhất. Khi nghe Ligia cảm ơn, chàng tái nhợt cả người đi, và lúc cậu Nazarius ra ngoài lấy nước cho đôi chim, chàng bảo:
- Ligia, nàng lại chịu để cho nó tặng quà cho nàng sao? Vậy ra nàng không biết rằng người Hi Lạp gọi dân tộc nó là bọn chó Do Thái sao?
- Em không biết người Hi Lạp gọi họ bằng gì, - nàng đáp - nhưng em biết rằng Nazarius là người Thiên chúa giáo và là em của em.
Nói thế, nàng nhìn chàng vừa ngạc nhiên vừa giận, bởi vì nàng không còn quen với những cơn bùng nổ tương tự như thế nữa, còn chàng nghiến chặt răng để khỏi thốt ra với nàng, rằng nếu có một thằng em như thế, chàng sẽ ra lệnh dần roi cho đến chết hoặc đầy biệt về nông thôn như một tên compeditus(1) để đào đất trong những trại nho xứ Xyxilia của chàng… Tuy nhiên, chàng kìm lại, cố nén cơn giận trong lòng và mãi hồi lâu sau chàng nói:
- Xin hãy tha lỗi cho tôi, hỡi Ligia. Đối với tôi, nàng là công chúa con vua và là con nuôi của ông bà Plauxius.
Và chàng tự nén lòng đến độ khi cậu bé Nazarius lại xuất hiện trong nhà, chàng bèn hứa với cậu, rằng sau khi quay trở về biệt thự của chàng, chàng sẽ tặng cho cậu một đôi công hoặc một đôi chim hồng hạc mà chàng hiện có đầy vườn.
Ligia hiểu chàng phải trả giá bao nhiêu cho những thắng lợi như thế đối với chính bản thân chàng. Song chàng càng chịu đựng được chúng thường xuyên bao nhiêu, trái tim nàng lại càng gần chàng bấy nhiêu. Tuy nhiên, công lao của chàng đối với Nazarius thực ra nhỏ hơn là nàng tưởng nhiều. Vinixius có thể giận thằng bé trong chốc lát, nhưng không thể ghen với nó. Đứa con trai của bà Miriam trong mắt chàng cũng chẳng hơn gì mấy so với mấy con chó, thêm nữa, nó hãy còn là một đứa trẻ, nếu nó có yêu Ligia đi nữa thì cũng chỉ yêu một cách vừa vô thức vừa phục tùng. Chàng hộ dân quan trẻ tuổi đã phải dằn vặt rất nhiều với bản thân mình trước khi chịu đầu hàng sự thành kính vây quanh tên tuổi chúa Crixtux và giáo thuyết của Chúa. Về phương diện này, trong lòng Vinixius diễn ra những chuyện kỳ lạ. Dù sao đó cũng là giáo thuyết mà Ligia tin theo, chính vì vậy chàng sẵn sàng thừa nhận nó. Tiếp nữa, chàng càng khoẻ lại bao nhiêu thì chàng càng nhớ rõ hơn cả một chuỗi dài những sự kiện xảy ra từ cái đêm hôm ấy tại Oxtrianum, cả một chuỗi những khái niệm được thâm nhập vào đầu óc chàng kể từ lúc đó, chàng càng kinh ngạc hơn về cái sức mạnh siêu nhiên của thứ giáo thuyết đã thấm sâu đến thế vào tâm khảm con người. Chàng hiểu rằng trong đó có một thứ gì phi thường, một thứ gì chưa từng có trên đời, và chàng cảm thấy nếu như giáo thuyết đó chiếm lĩnh cả thế giới, nếu như nó cấy được vào thế giới tình yêu và lòng nhân từ, thì có lẽ nó sẽ lập nên một thời kỳ gợi nhớ lại cái kỷ nguyên, khi chưa phải thần Jupiter mà là thần Xaturnơ còn ngự trị thế giới, Chàng không dám nghi ngờ gì, cả về nguồn gốc siêu nhiên của Chúa Crixtux, cả việc Chúa sống lại lẫn những chuyện phép màu kỳ lạ khác. Những người được chứng kiến tận mắt kể về những chuyện ấy là những người đáng tin, họ ghê tởm sự dối trá đến mức chàng không thể nào dám nghĩ rằng họ kể những chuyện vớ vẩn. Mà nói cho cùng, cái chủ nghĩa hoài nghi La Mã cho phép không tin vào các thần nhưng lại tin vào chuyện thần kỳ. Vinixius đứng trước một câu đố bí ẩn mà chàng không biết cách giải. Tuy nhiên, mặt khác, chàng thấy toàn bộ giáo thuyết kia ngược hẳn những trật tự hiện hữu của mọi vật, khó có thể áp dụng vào thực tế và điên rồ hơn bất cứ lý thuyết nào khác. Theo như chàng, con người, - cả ở Roma cũng như trên toàn thế giới - có thể là xấu, nhưng trật tự của mọi thứ vẫn tốt. Nếu Hoàng đế, - nói thí dụ - lại là một người trung thực, nếu nguyên lão viện không phải gồm những kẻ phóng đãng đê tiện mà toàn những người như ông Trazeas, thì còn biết mong muốn điều gì hơn nữa? Sự yên bình và sự thống trị của La Mã là tốt, sự phân định của loài người đứng đắn và công minh. Ấy vậy mà giáo thuyết kia, theo chỗ Vinixius hiểu, lại đòi xoá bỏ mọi trật tự, mọi quyền thống trị và xoá bỏ mọi sự phân biệt. Nếu vậy, chuyện gì sẽ xẩy đến với quyền bá chủ và thống trị của La Mã. Người La Mã đành chịu thôi làm bá chủ hoặc phải thừa nhận cả một đàn một lũ các dân tộc khác đã bị chinh phục sánh ngang với mình hay sao? Điều đó không thể chứa nổi trong đầu óc của chàng quý tộc. Bên cạnh đó, đối với bản thân chàng, giáo thuyết kia ngược hẳn với mọi sự hình dung, mọi thói quen, ngược hẳn với bản tính và quan niệm của chàng về cuộc đời. Chàng không thể hình dung nổi làm sao chàng có thể tồn tại được, một khi chàng thừa nhận nó. Chàng e sợ, thán phục giáo thuyết ấy, nhưng bản chất của chàng lại ghê tởm khi phải thừa nhận nó. Rốt cục, chàng hiểu rằng, không phải một thứ gì khác, mà chính nó đã chia rẽ chàng với Ligia, và khi nghĩ điều đó, chàng căm ghét nó với tất cả sức mạnh của tâm linh.
Tuy nhiên, chàng cũng hiểu ra rằng, chính giáo thuyết ấy đã khoác cho Ligia một vẻ đẹp khác thường, khôn tả, đã khiến cho trong trái tim chàng, bên cạnh tình yêu nảy sinh sự sùng kính, bên cạnh dục vọng nảy sinh sự ngưỡng mộ, chính nó đã biến Ligia thành con người thân yêu nhất đời của chàng. Và những lúc ấy chàng lại muốn mến yêu chúa Crixtux. Và chàng cũng hiểu được rằng, hoặc chàng phải yêu mến Người, hoặc chàng phải căm ghét Người, chứ chàng không thể thờ ơ với Người. Chàng như bị giành giật xô đẩy giữa hai làn sóng, chàng ngả nghiêng trong tư tưởng, ngả nghiêng trong cảm xúc, không biết chọn bên nào. Tuy nhiên, chàng cúi đầu và bày tỏ sự thành kính không lời đối với Đức Chúa mà chàng không hiểu nổi kia, chỉ bởi vì đó là Đức Chúa của Ligia.
Ligia thấy được điều gì đang diễn ra trong lòng chàng, thấy chàng dằn vặt, thấy bản chất chàng chối bỏ giáo thuyết kia, và nếu như một mặt điều đó khiến nàng vô cùng lo sợ, thì mặt khác, tình thương và lòng hàm ơn, sự thành kính không lời mà chàng dành cho Đức Chúa Crixtux đã cuốn hút trái tim nàng đến cùng chàng với một sức mạnh không sao cưỡng nổi. Nàng nhớ tới bà Pomponia Grexyna và ông Aulux. Đối với bà Pomponia, nguồn gốc của nỗi buồn khôn vơi và những giọt lệ khôn cầm là ý nghĩ cho rằng ở thế giới bên kia, bà sẽ không gặp được ông Aulux. Giờ đây, Ligia bắt đầu hiểu rõ hơn sự chua xót và nỗi đau đớn kia. Chính nàng cũng đã tìm được một con người thân yêu và cũng bị sự chia ly vĩnh hằng đe doạ. Đôi khi nàng vẫn còn chút ảo vọng rằng linh hồn chàng vẫn có thể sẽ mở ra trước chân lý của Chúa. Song những ảo vọng kia không thể thành hiện thực được. Nàng hiểu chàng quá rõ. Vinixius - tín đồ Thiên chúa! Thậm chí, trong cái trí tuệ non nớt của nàng, hai khái niệm đó cũng không thể đặt bên cạnh nhau. Nếu như ông Aulux chín chắn và đầy quyết đoán kia còn không thể trở thành tín đồ Thiên chúa dưới ảnh hưởng thông minh tuyệt vời của bà Pomponia, thì làm sao Vinixius có thể trở thành tín đồ được kia chứ? Không có câu trả lời, mà thực ra chỉ có một câu trả lời duy nhất: không còn hi vọng gì ở chàng, không còn có cách gì cứu chàng được nữa.
Song Ligia kinh hoàng nhận ra rằng, cái bản án đang treo trên đầu chàng kia, thay vì chia rẽ nàng với chàng, lại khiến chàng trở nên thân yêu hơn đối với nàng, bởi tình thương. Nhiều khi nàng những muốn bày tỏ thẳng thắn cùng chàng về tương lai tăm tối của chàng, nhưng một lần khi nàng ngồi xuống bên chàng và nói rằng ngoài giáo thuyết Thiên chúa giáo không có cuộc đời nào khác, thì chàng - vốn đã phần nào bình phục - bèn chống cánh tay còn lành, nhổm dậy, úp mặt vào hai đầu gối nàng mà thốt lên: “Chính nàng là cuộc đời!” Khi ấy ngực nàng nghẹn thở, nàng như mê đi, một nỗi khoái cảm đến rùng mình chạy suốt từ gót lên đầu nàng. Chụp hai tay vào thái dương chàng, nàng cố nhấc đầu chàng lên, nhưng cũng chính lúc ấy nàng cúi sát gần chàng đến nỗi môi nàng chạm vào làn tóc chàng, và hồi lâu họ say sưa cưỡng chống nhau và cưỡng lại tình yêu đang đẩy họ lại sát gần nhau.
Mãi sau, Ligia nhổm dậy và bỏ chạy, cảm thấy trong mạch máu nàng giần giật lửa, đầu óc quay cuồng. Nhưng đó chính là giọt nước làm tràn đầy cái cốc đã quá đầy. Chàng Vinixius không biết rằng chàng sẽ phải trả giá đắt đến thế nào cho cái phút giây hạnh phúc kia, song chính Ligia đã cảm thấy được rằng, lúc này bản thân nàng cũng đang cần được cứu rỗi. Sau buổi chiều ấy, suốt đêm nàng không ngủ, khóc và cầu nguyện với cảm giác rằng nàng không xứng đáng được cầu nguyện nữa, rằng những lời cầu nguyện của nàng sẽ không được nghe thấy. Sáng tinh mơ hôm sau, nàng ra khỏi buồng rất sớm, gọi ông Kryxpux đến ngôi nhà nghỉ mùa hè trong vườn, ngôi nhà phủ đầy dây trường xuân và những vòng dây leo đã úa tàn, thổ lộ với ông nỗi lòng nàng, xin ông hãy cho nàng rời khỏi nhà bà Miriam, vì nàng không còn tin vào bản thân mình nữa, nàng không sao thắng nổi tình yêu đối với chàng Vinixius trong chính trái tim nàng.
Ông Kryxpux, một ông lão nghiêm khắc và luôn luôn sùng tín, đồng ý với dự định rời bỏ nhà bà Miriam, song ông không tìm được một lời nào tha thứ dành cho cái tình yêu - mà theo những quan niệm của ông - là đầy tội lỗi kia. Trái tim ông tràn đầy phẫn nộ khi nghĩ rằng Ligia, người ông đã cưu mang từ khi nàng đi trốn, người mà ông yêu thương, đã kiên tin, người mà đến nay ông luôn luôn coi là một bông hoa huệ trắng trong mọc lên từ mảnh đất của giáo thuyết Thiên chúa giáo, không hề vướng bận một hơi thở trần tục nào - lại có thể tìm thấy trong tâm hồn mình một chỗ dành cho một thứ tình yêu khác ngoài tình yêu thiên giới. Cho tới nay, ông vẫn hằng tin rằng trên thế giới này, không ở đâu có được một trái tim trong sạch hơn đang đập cho sự ca ngợi Đức Chúa Crixtux. Ông muốn được dâng nàng lên cho người như một viên báu ngọc, một thứ của quý, một tác phẩm quý giá do chính tay ông tạo nên, vì thế sự thất vọng đã khiến ông bàng hoàng và cay đắng.
- Ngươi hãy đi mà van xin Đức Chúa tha cho ngươi lầm lỗi - ông cau có nói với nàng. - Hãy trốn đi trước khi quỷ dữ đang ám ảnh ngươi chưa dắt ngươi đến chỗ hoàn toàn suy sụp và chối bỏ Đấng Cứu thế. Vì ngươi, Chúa đã chịu chết trên cây thánh giá, để bằng chính máu của Người chuộc lại linh hồn ngươi, vậy mà ngươi lại muốn yêu thương một kẻ đã từng muốn ngươi phải làm nô tỳ cho hắn. Phép lạ của Chúa đã cứu ngươi thoát khỏi tay hắn, vậy mà ngươi lại muốn mở lòng dạ để đón cái dục vọng bẩn thỉu, lại đi yêu thương chính con đẻ của sự tối tăm. Hắn là ai? - Là bạn và đầy tớ của một kẻ chống Chúa, một đồng bọn của truỵ lạc và tội ác. Hắn sẽ đưa dắt ngươi tới đâu, nếu không phải tới bờ vực thẳm, tới cái thành Xodoma, nơi chính hắn đang sống, nơi mà Đức Chúa đã tàn diệt bằng lửa giận của người? Ta nói cho ngươi biết, ngươi sẽ phải chết, những bức tường của ngôi nhà này sẽ sụp xuống đầu ngươi trước khi con rắn kia trườn được vào ngực của ngươi để nhả vào đó nọc độc vô luân của nó.
Mỗi lúc ông một thêm cáu giận, bởi cái lỗi lầm của Ligia không những chỉ khiến ông tức tối, mà còn làm lòng ông kinh tởm và khinh ghét bản chất con người nói chung, nhất là bản chất của đàn bà, khi mà ngay cả giáo thuyết Thiên chúa cũng không tránh nổi cho nó khỏi sự mềm yếu của Eva. Đối với ông, chẳng có nghĩa lý gì nữa, ngay cả việc cô gái vẫn đang hoàn toàn trong sạch, nàng muốn trốn thoát mối tình kia, nàng đã hối hận và xấu hổ khi bày tỏ cùng ông. Ông Kryxpux muốn biến nàng thành một thiên sứ và mang nàng lên chốn cao xanh, nơi chỉ có tình yêu mến Chúa Crixtux ngự trị, ấy vậy mà nàng lại đem lòng yêu một tên cận thần! Chỉ riêng ý nghĩ ấy thôi cũng đã khiến ông tràn đầy cay đắng, nỗi đắng cay được nhân lên bởi cảm giác thất vọng và vỡ mộng. Không! Không thể nào tha thứ cho nàng chuyện ấy! Những lời dữ dội đốt bỏng môi ông thành những hòn than cháy đỏ. Ông cố gắng tự đấu tranh để không thốt chúng thành lời, song ông vẫn vung đôi tay gầy guộc của mình trên đầu cô gái đang thất đảm. Ligia cảm thấy nàng có lỗi nhưng không đến mức như vậy. Thậm chí nàng còn nghĩ rằng việc rời bỏ nhà bà Miriam là chiến thắng của nàng trước cám dỗ và sẽ làm dịu bớt lỗi lầm. Ông Kryxpux đã đay nghiến nàng(2), ông chỉ cho nàng thấy sự thấp kém và tồi tệ của tâm hồn nàng, điều mà cho đến lúc này nàng không hề nghĩ tới. Nàng nghĩ rằng vị trưởng họ đạo tuổi tác, người đã như cha đẻ của nàng kể từ khi nàng trốn khỏi cung điện Palatyn sẽ thương nàng, an ủi, động viên và cổ vũ nàng kia chứ.
- Tôi xin dâng lên Chúa nỗi thất vọng và đau đớn của tôi! - ông nói - Ngươi đã đánh lừa cả Đấng Cứu thế, ngươi đã bước xuống vũng lầy, hơi thở hôi hám của nó đã đầu độc tâm hồn ngươi. Ngươi đã từng có thể dâng linh hồn ngươi như một độc bình quý lên Chúa Crixtux và nói cùng Người: “Xin Chúa hãy ban đầy ơn phước!”, thế mà ngươi lại muốn phục vụ loài ma quỷ. Xin Chúa hãy tha thứ và rủ lòng thương ngươi, bởi vì ta, một khi ngươi chưa vứt bỏ loài rắn độc kia…, ta, người đã coi ngươi là con gái…
Bỗng ông dừng lại, vì thấy rằng không phải chỉ có hai người với nhau.
Qua những vòng dây héo úa và những nhánh trường xuân xanh biếc như mùa hè bên cạnh mùa đông, ông trông thấy hai người, một trong hai người đó là sứ đồ Piotr. Ông không nhận ra ngay người thứ hai là ai, vì tấm áo choàng bằng vải xù lông rất dầy - được gọi là cilicium - đang che khuất phần lớn mặt ông ta. Có lúc ông Kryxpux tưởng rằng đó là lão Khilon.
Nghe thấy ông Kryxpux to tiếng, cả hai người bước vào gian nhà nghỉ mát và ngồi xuống phiến ghế đá. Khi ấy người đồng hành của ông Piotr mới để lộ khuôn mặt gầy gò và cái đầu hói nhẵn, hai bên có những khoảng tóc loăn xoăn, hai gò má ửng và cái mũi khoằm - vừa xấu xí nhưng vừa đầy cảm xúc. Ông Kryxpux nhận ra đó chính là Paven xứ Tarxu.
Ligia quỳ sụp xuống ôm chặt lấy chân ông Piotr, vẻ tuyệt vọng, nàng tựa mái đầu bị đay nghiến của mình vào những nếp gấp của chiếc áo choàng của ông và giữ yên như thế hồi lâu.
Ông Piotr nói:
- Bằng an cùng anh em.
Nhìn thấy cô gái dưới chân, ông bèn hỏi có chuyện gì xảy ra. Ông Kryxpux bắt đầu thuật lại tất cả những điều Ligia vừa thổ lộ với ông, cái tình yêu tội lỗi của nàng, ý định rời bỏ nhà bà Miriam và nỗi tiếc nuối của ông, rằng cái linh hồn mà ông muốn dâng lên chúa Crixtux sạch trong một giọt lệ kia đã bị vấy bẩn bởi tình cảm dành cho một kẻ từng tham gia vào tất cả các thứ tội ác mà thế giới ngoại đạo phạm phải, những tội ác đòi Chúa phải trừng phạt.
Trong lúc ông Kryxpux nói, Ligia ôm chân ông Piotr mỗi lúc thêm chặt hơn, dường như nàng muốn tìm ở đó chỗ nương náu và cầu xin dầu chỉ chút ít tình thương.
Nghe xong, Đức Sứ đồ cúi xuống, đặt bàn tay già nua tuổi tác lên mái đầu nàng, rồi ông ngước đôi mắt lên nhìn vị trưởng họ đạo già và nói:
- Kryxpux này, lẽ nào anh không nghe chuyện Thầy đã được yêu mến tại đám cưới ở Kan và đã ban phước cho tình yêu của đôi trai gái?
Ông Kryxpux buông xuôi tay ngạc nhiên nhìn người đang nói, không thốt ra nổi một lời.
Ngừng lại một lát, ông Piotr lại hỏi:
- Kryxpux, vậy ra anh nghĩ là Chúa Cryxtux, người đã để cho nàng Maria xứ Magđali nằm bên chân người, đã cho kẻ lỗi lầm, lại có thể ngoảnh mặt quay lưng đối với một đứa trẻ trong sạch như một bông hoa huệ ngoài đồng này chăng?
Ligia nức lên, nép chặt vào chân ông Piotr, nàng hiểu rằng nàng đã không vô vọng khi tìm ở đó một lối thoát. Đức Sứ đồ đỡ khuôn mặt đẫm nước mắt của nàng lên mà bảo cùng nàng:
- Con hãy trốn tránh chàng, người mà con yêu thương, khi nào đôi mắt của chàng chưa chịu mở ra đón ánh sáng chân lý, để chàng khỏi đưa dắt con đến chỗ lỗi lầm, nhưng hãy cầu nguyện cho chàng và hãy biết rằng con không hề có lỗi khi yêu chàng. Còn việc con muốn trốn tránh cám dỗ, công của con sẽ được tính ghi. Đừng lo phiền và chớ khóc lóc, ta nói với con rằng ân huệ của Đấng Cứu thế sẽ không rời bỏ con, những lời cầu nguyện của con sẽ được Người nghe thấu, sau những nỗi buồn sẽ đến những ngày vui.
Nói đoạn, ông ấp hai bàn tay lên mái tóc nàng và ngước mắt lên trời ban phước cho nàng. Khuôn mặt ông bừng sáng một lòng nhân hậu thiên giới.
Ông Kryxpux xấu hổ cố gắng phân trần:
- Tôi mắc tội bất nhân, - ông nói, - nhưng bởi tôi nghĩ rằng để trái tim bị sa vào tình yêu trần thế là chối bỏ Chúa Crixtux.
Ông Piotr đáp:
- Tôi đã ba bốn lần chối Chúa, thế mà người vẫn tha thứ và bảo tôi phải chăn đàn chiên của mình.
- … và bởi vì, - ông Kryxpux nói nốt - Vinixius là một tên cận thần…
- Chúa Crixtux còn chinh phục được những trái tim cứng rắn hơn thế nữa kia - ông Piotr đáp.
Ông Paven xứ Tarxu, người cho đến lúc này vẫn im tiếng, trỏ tay vào ngực ông và bảo:
- Tôi là kẻ đã truy đuổi và gây nên cái chết cho một tôi tớ của Chúa Crixtux. Trong lúc chúng ném đá hành hình Strêpan, chính tôi đã trông giữ áo dài cho bọn ném đá, tôi đã từng muốn xoá bỏ chân lý khắp tất cả các vùng đất có người sinh sống, ấy vậy mà chính Chúa đã giao phó cho tôi nhiệm vụ phải truyền bá chân lý khắp trái đất. Tôi đã truyền bá ở xứ Juđei, Hi Lạp, ở các đảo và cả trong thành phố vô thần này, lần đầu tiên, khi tôi còn là một tù nhân tại đây. Giờ đây, nếu thánh Piotr, người cao hơn, bảo tôi, tôi xin bước vào ngôi nhà ấy để khiến cái đầu đầy tự hào cúi xuống chân Đức Chúa Crixtux, để gieo giống vào mảnh ruộng sỏi đá mà Chúa đã khiến cho phì nhiêu, để được mùa vàng đầy ắp.
Ông đứng dậy. Và lúc này, đối với ông Kryxpux, con người bé nhỏ gù lưng này chợt hiện nguyên hình thực chất, đó là một người khổng lồ sẽ làm thế giới rung chuyển, sẽ thu phục cả con người lẫn trái đất.
Chú thích:
(1) Người làm việc với hai chân bị xiềng (chú thích của tác giả)
(2) Nguyên văn: ông Kryxpux nghiền nàng thành bột

Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 28


Petronius gửi Vinixius:
“Carissime, xin anh hãy thương tình, trong thư xin đừng bắt chước người Laxedemon, cũng chớ lặp lại theo Julius Cezar. Giá như anh có thể viết giống như ông ấy: veni, vidi, vici(1) thì cậu còn khả dĩ có thể hiểu được. Nhưng bức thư của anh lại hoàn toàn có nghĩa là: veni, vidi, fugi(2): song le cái kết cục nọ ngược hẳn với bản tính của anh, rồi anh lại bị thương, và cuối cùng là đang có những chuyện dị thường xảy đến với anh, nên bức thư của anh đòi hỏi phải có những lời giải thích ngoài rìa. Cậu không tin vào mắt mình khi đọc rằng anh chàng xứ Ligi nọ bóp chết tươi Kroton dễ dàng đến thế, cứ như con chó xứ Kaleđoni cắn chết tươi con sói trong những khe núi xứ Hibernia vậy. Người ấy cân nặng bao nhiêu thì đáng giá bấy nhiêu vàng đấy, nếu anh ta muốn thì sẽ trở thành người được Hoàng đế sủng ái ngay thôi. Khi trở về thành đô cậu phải làm quen với anh ta và cho đúc tượng anh chàng mới được. Gã Râu Đỏ hẳn phải uất người lên vì tò mò nếu cậu bảo cho y biết pho tượng đó đúc theo người thật. Những thân hình thực sự lực sĩ ngày càng hiếm hơn, cả ở Italia lẫn ở Hi Lạp, ở phương Đông chẳng cần nói tới làm gì, còn người German thì mặc dù to lớn đấy nhưng các bắp thịt lại lắm mỡ, nhiều vóc dạng hơn sức lực… Anh hãy hỏi cô nàng Ligia xem, có phải anh chàng đó chỉ là một ngoại lệ, hay ở xứ sở của anh ta còn nhiều người giống thế nữa. Bởi vì cũng sẽ đến lúc tới lượt anh hoặc cậu phải tổ chức hội thi thế vận, nên tốt hơn cả, ta nên biết trước ở đâu có thể tìm được những thân hình tuyệt mỹ.
Tuy thế, cậu cũng xin cảm tạ các vị thần phương Đông và phương Tây, rằng anh đã thoát ra khỏi đôi cánh tay như thế mà vẫn còn nguyên mạng sống. Anh thoát được chắc chỉ vì anh là một trang quý tộc, lại là con đẻ của một vị chấp chính quan tối cao; tuy nhiên tất thảy những gì anh gặp phải đều khiến cho cậu vô cùng kinh ngạc: cả cái nghĩa địa, nơi anh đã đến giữa các tín đồ Thiên chúa lẫn chính bản thân bọn họ, cả cách đối xử của họ với anh lẫn cuộc trốn chạy của cô nàng Ligia, và rốt cuộc, cả nỗi buồn và sự bất an phảng phất toát ra từ bức thư ngắn ngủi của anh nữa. Hãy giải thích cho cậu rõ, bởi vì có nhiều điều cậu không hiểu, còn nếu anh muốn biết sự thật thì cậu xin nói toạc ra rằng cậu không thể hiểu nổi cả đám tín đồ Thiên chúa, cả anh lẫn cô nàng Ligia. Và xin anh cũng chớ lấy làm ngạc nhiên, tại sao cậu - người vốn ít quan tâm đến mọi chuyện trên đời ngoài bản thân mình - lại hỏi anh tỉ mỉ đến thế. Chính cậu đã góp phần vào tất cả những chuyện vừa xảy ra, nên vô hình chung, đó trở thành việc của cậu. Anh hãy viết trả lời nhanh chóng nhé, bởi vì cậu cũng không biết chính xác khi nào chúng ta mới được gặp nhau. Những ý định trong đầu óc của gã Râu Đỏ thay đổi nhanh như những trận gió mùa xuân vậy. Hiện giờ, đang ở tại Beneventơ, y muốn đi thẳng sang Hi Lạp và không quay về Roma nữa. Song Tygelinux lại khuyên y nên quay trở về, dù chỉ một thời gian ngắn, bởi lẽ dân chúng quá nhớ nhung con người Hoàng đế (hãy đọc: quá nhớ những trò vui và bánh mì!) rất có thể sẽ nổi loạn chăng. Vậy nên cậu cũng chưa biết sẽ như thế nào. Nếu Akhai nặng đồng cân hơn thì chắc người ta sẽ lại muốn đi Ai Cập. Cậu rất muốn khuyên anh hãy tới đây, vì cậu cho rằng, trong trạng thái tâm hồn hiện nay của anh, việc du ngoạn và những trò tiêu khiển sẽ là một liều thuốc tốt, song le có thể anh sẽ không đến kịp. Tuy vậy, xin anh hãy cân nhắc, xem liệu anh có muốn nghỉ ngơi tại mảnh đất của anh ở Xyxilia hơn ở lại Roma hay chăng. Hãy viết cho cậu thật nhiều về anh, - và xin tạm biệt. Lần này cậu không chúc anh điều gì khác ngoài sức khoẻ, vì thề có Ponlukx, cậu cũng chẳng biết chúc anh điều gì khác cả”.
Nhận được bức thư này, thoạt tiên Vinixius không hề muốn trả lời. Chàng cảm thấy không đáng phải trả lời, việc đó chẳng có ích gì cho ai, chẳng làm sáng tỏ thêm điều gì và cũng chẳng thể giải quyết việc chi. Chàng không thấy hứng thú, chàng bị cái cảm giác về sự vô vị của cuộc đời chế ngự. Bên cạnh đó, chàng cảm thấy dù sao đi nữa, ông Petronius cũng không thể hiểu được chàng, đã xẩy ra một điều gì đó khiến cho họ cách xa nhau vời vợi. Ruột gan chàng cũng đang rối bời. Từ khu Zatybre quay về cái biệt thự tuyệt diệu của mình trên đồi Karyny, chàng hãy còn rất yếu, bị kiệt sức và trong những ngày đầu, chàng dường như hài lòng với việc nghỉ ngơi, với những tiện nghi và sự sung túc vây bọc quanh chàng. Song sự hài lòng ấy kéo dài không lâu. Ngay sau đó, chàng cảm thấy mình sống vô vị, tất thẩy những gì cho tới nay vẫn là lạc thú đối với chàng đã trở nên hoặc hoàn toàn không tồn tại hoặc đã co rút lại đến khó lòng nhận ra nổi. Chàng có cảm giác như những sợi dây lòng cho đến nay vẫn nối chàng với cuộc đời đã bị đứt tung, mà chưa có dây nào mới thay thế. Chỉ cần nghĩ đến việc mình có thể đi Beneventơ, rồi sau đó tới Akhai và chìm ngập vào cuộc sống khoái lạc với những trò vui điên loạn, chàng đã cảm thấy buồn nôn rồi. “Để làm gì kia chứ? Cái đó mang lại gì cho ta?” Đó là những câu hỏi đầu tiên nẩy ra trong óc chàng. Cũng lần đầu tiên trong đời, chàng chợt nghĩ, rằng nếu chàng có đi chăng nữa, thì những câu chuyện của ông Petronius, tính hài hước, sự nhanh trí của ông, sự diễn đạt một cách trang nhã những ý nghĩ của ông, và việc lựa chọn những ngôn từ xác đáng nhất cho những tư tưởng của ông - cũng khiến cho chàng chán ngán.
Nhưng mặt khác, nỗi cô đơn cũng đã khiến cho chàng buồn chán. Tất thẩy những người quen của chàng đang mải vui chơi cùng Hoàng đế ở Beneventơ, khiến chàng phải ngồi nhà một thân một mình, với cái đầu chật căng suy tư và trái tim tràn ngập tình cảm, những tình cảm mà chàng không sao hiểu thấu. Cũng có nhiều khi chàng cho rằng, nếu được trò chuyện cùng ai đó về tất cả những gì đang diễn ra trong lòng hẳn chàng sẽ có thể phần nào nắm bắt được chúng, sắp xếp lại và có thể hiểu rõ chúng hơn. Với niềm hi vọng ấy, sau vài ngày do dự, chàng quyết định dẫu sao cũng nên trả lời ông Petronius, và mặc dù vẫn không biết chắc mình có gửi bức thư trả lời cho ông hay không, chàng vẫn viết những dòng sau đây:
“Cậu muốn cháu viết thật nhiều, vậy cháu xin đồng ý, không rõ liệu cháu có viết được sáng tỏ hay chăng, bởi vì chính bản thân cháu cũng không thể lý giải nổi nhiều điều mắc mứu. Cháu đã bảo cho cậu biết việc cháu sống với những người Thiên chúa giáo, về cách họ đối xử với kẻ thù (họ có quyền liệt cả cháu lẫn lão Khilon vào loại đó), cũng như về tấm lòng nhân hậu mà cháu đã được hưởng khi được họ chăm nom săn sóc, và về việc Ligia lại biến mất. Không đâu, thưa cậu thân yêu, cháu được sống sót không phải vì cháu là con của một vị chấp chính quan. Đối với họ không hề tồn tại những sự phân biệt đối xử như thế. Họ còn tha thứ được cho cả lão Khilon, mặc dù chính cháu đã khuyên họ nên đào hố chôn lão ngoài vườn. Đó là những con người mà thế giới chưa từng được thấy, là một giáo thuyết mà cho tới nay thế giới chưa từng được nghe đến. Cháu không thể nói gì khác hơn với cậu, nhưng bất cứ kẻ nào muốn đo họ bằng cái thước đo của chúng ta đều sai cả. Cháu xin nói với cậu rằng giá như cháu có bị gẫy tay nằm ngay tại nhà mình, được gia nhân hoặc thậm chí người thân chăm sóc, thì hẳn cháu có nhiều tiện nghi đầy đủ hơn, nhưng sẽ không được nhận lấy một nửa sự âu yếm mà cháu đã nhận được ở họ. Cậu nên biết rằng Ligia cũng giống như họ. Giá như nàng có là em gái hay vợ cháu, chắc nàng cũng không thể chăm sóc cháu ân cần hơn được. Hơn một lần, niềm vui sướng đã tràn ngập trái tim cháu, bởi vì cháu cứ ngỡ rằng, chỉ có tình yêu mới cho người ta có được sự ân cần nhường ấy. Hơn một lần, cháu ngỡ đọc thấy ái tình trên nét mặt và trong ánh mắt của nàng, và những khi ấy, không biết cậu có tin nổi hay chăng, giữa những con người cục mịch nọ, trong cái căn phòng nghèo nàn kia, căn phòng vừa là nhà bếp vừa là phòng ăn của họ - cháu đã cảm thấy mình hạnh phúc hơn bao giờ hết. Không, cháu không vô tình với nàng đâu thưa cậu, và cho tới hôm nay cháu cũng vẫn không thể nghĩ khác được. Ấy thế mà chính nàng Ligia ấy lại giấu cháu mà rời bỏ nhà bà Miriam. Giờ đây, suốt ngày dài đằng đẵng, cháu ngồi nhà, tựa đầu vào hai cánh tay, nghĩ mông lung xem vì sao nàng lại hành động như vậy. Có phải cháu đã viết cho cậu hay rằng chính cháu đã tự nguyện hứa sẽ trả nàng về với gia đình ông bà Aulux? Nàng nói với cháu rằng điều đó không thể thực hiện được, vì gia đình nhà ông Aulux đã đi Xyxilia, và cũng vì rằng tin tức sẽ truyền từ nhà này sang nhà khác đến tận cung điện Palatyn qua miệng bọn nô lệ. Hoàng đế rất có thể sẽ lại cướp nàng ra khỏi tay ông bà Aulux. Đúng thế! Tuy nhiên nàng cũng hiểu rằng cháu sẽ không theo dõi nàng nữa, rằng cháu đã vứt bỏ con đường dùng sức mạnh, và vì không thể thôi yêu nàng, không thể sống thiếu nàng, cháu sẽ rước nàng về nhà cháu qua cửa chính kết đầy hoa lá, mời nàng ngồi vào tấm da danh dự bên lò sưởi… Ấy thế mà nàng lại bỏ đi! Vì sao cơ chứ? Nào còn có gì đe doạ nàng nữa đâu? Nếu nàng không yêu cháu, nàng có thể từ bỏ cháu kia mà! Một ngày trước đó, cháu được làm quen với một con người kỳ lạ, một người tên là Paven xứ Tarxu, ông ta trò chuyện với cháu về Đấng Crixtux và học thuyết của Người. Ông ta nói hùng hồn đến nỗi cháu có cảm giác như mỗi lời ông ta nói vô hình chung đã phá nát tất thẩy nền móng cái thế giới của chúng ta. Cũng chính con người ấy đã tới thăm cháu khi nàng bỏ đi và bảo cháu rằng: “Khi nào Đức Chúa mở mắt cho anh thấy ánh sáng và tháo bỏ lớp màng che mắt anh như Người đã tháo cho tôi, thì anh sẽ cảm thấy rằng cô gái đã hành động đúng, và khi ấy anh sẽ tìm được cô ta”. Cháu đang vò đầu bứt tai suy nghĩ những lời này, như thể cháu được nghe từ miệng Pytia xứ Đenphơ vậy. Đôi khi cháu ngỡ mình đã hiểu ra được một điều gì đấy. Yêu thương mọi người, bọn họ là kẻ thù của cuộc sống chúng ta, kẻ thù các vị thần của chúng ta và… những tội ác của chúng ta, vậy nên nàng đã trốn tránh cháu như trốn tránh một con người thuộc về thế giới này, kẻ mà nhẽ ra nàng phải cùng chia xẻ cái cuộc sống được những người Thiên chúa giáo xem là phạm tội. Hẳn cậu sẽ nói rằng nếu nàng có thể rời bỏ cháu thì nàng không cần phải trốn tránh làm chi. Nhưng nếu nàng cũng lại yêu cháu thì sao? Khi ấy, nàng muốn trốn tránh tình yêu! Chỉ nghĩ tới điều đó thôi, cháu đã muốn phái ngay bọn nô lệ đi khắp hang cùng ngõ hẻm của thành Roma, lệnh cho chúng gào to lên với tất cả mọi nhà: “Hỡi nàng Ligia, hãy quay về đi thôi!”. Song le, cháu không hiểu rõ vì sao nàng lại hành động như thế. Thậm chí, cháu sẽ không hề cấm đoán nàng tin vào đấng Crixtux của nàng, và chính tự tay cháu sẽ lập bàn thờ Người ngay trong gian chính sảnh kia mà. Thêm một vị thần nữa có hại gì cho cháu đâu cơ chứ, tại sao cháu lại không thể tin ông ta một khi cháu vốn không mấy tin các vị thần cũ? Cháu biết chắc rằng những người Thiên chúa giáo không bao giờ nói dối, ấy thế mà chính họ lại nói rằng Chúa của họ đã từng chết đi rồi lại sống trở dậy. Đã là con người thì đâu có thể làm nổi chuyện đó. Ông Paven xứ Tarxu là công dân La Mã nhưng gốc là người Do Thái, hiểu biết các sách cổ Hebrai, nói với cháu rằng việc Đấng Crixtux giáng sinh đã được các bậc tiên tri loan báo từ hàng nghìn năm trước. Tất thảy những chuyện đó đều dị thường cả, song le, phải chăng sự dị thường không ở quanh chúng ta, khắp mọi phía? Đấy, người ta vẫn chưa thôi bàn tán về Apolonius xứ Tania kia thôi. Điều ông Paven khẳng định rằng không hề có một đàn một lũ các vị thần, chỉ có một vị duy nhất mà thôi - đối với cháu có vẻ cũng hợp lẽ thôi. Hình như cả đến ngài Xeneka cũng có ý kiến như vậy và trước ngài còn có nhiều người khác nữa cũng thế. Chúa Crixtux đã sống, đã để cho người ta đóng đinh lên thập tự nhằm chuộc tội cho thế gian và rồi lại phục sinh. Tất thẩy những điều ấy hoàn toàn chắc chắn, cháu không hề thấy có lý do gì khiến cháu cứ khăng khăng giữ ý kiến ngược lại hoặc không lập bàn thờ Chúa trong khi - nói thí dụ - cháu sẵn sàng lập bàn thờ, Xerapis. Thậm chí, cháu hoàn toàn có thể từ bỏ các vị thần cũ không mấy khó khăn, bởi vì nói cho đúng ra thì bất kỳ kẻ nào có đầu óc minh mẫn đôi chút cũng chẳng hề tin các vị thần ấy cơ mà. Song hình như đối với người Thiên chúa giáo, tất thẩy những chuyện ấy cũng hãy còn chưa đủ. Không những phải thờ phụng Chúa Crixtux mà cần phải sống theo giáo thuyết của Chúa nữa, và mãi đến chỗ này thì ta dường như bị đặt đứng trên bờ biển, cái biển mà người ta đòi hỏi phải đi bộ lội qua. Nếu cháu có hứa với họ sẽ làm điều ấy đi nữa thì chính họ cũng sẽ cảm thấy đó chỉ là những lời nói trống rỗng thoát ra từ cổ họng cháu mà thôi. Ông Paven đã nói thẳng với cháu như vậy. Cậu đã biết cháu yêu Ligia đến mức nào, cậu hẳn biết rằng không có điều gì cháu không làm vì nàng. Nhưng cháu đâu thể vì nàng đòi hỏi mà nhấc bổng ngọn núi Xorakte hay núi Vezuvius lên vai, đâu thể đặt cả cái hồ Trazymeni vào lòng bàn tay, đâu thể làm đổi màu mắt cháu từ đen sang xanh như mắt những người Ligi được. Nếu nàng yêu cầu, chắc chắn cháu sẽ rất muốn làm đấy, nhưng những điều đó không nằm trong phạm vi khả năng của cháu. Cháu không phải là triết gia, nhưng cháu cũng đâu quá ngốc nghếch như nhiều khi cậu tưởng. Cháu xin thưa cùng cậu thế này: cháu không rõ những người Thiên chúa giáo xoay sở ra sao để sống, nhưng cháu biết rằng nơi nào giáo thuyết của họ bắt đầu, nơi ấy sẽ chấm dứt sự chuyên quyền của La Mã, sẽ kết thúc La Mã, chấm hết đời sống, không còn có sự khác biệt giữa kẻ bị chiến thắng và người chiến thắng, kẻ giàu và người nghèo, ông chủ và nô lệ, chấm hết cường quyền, chấm hết Hoàng đế, luật pháp và toàn bộ trật tự hiện hữu của thế giới này, thay vào đó sẽ là Đức Chúa Crixtux, sẽ là một sự từ bi chưa từng có, sẽ là một tấm lòng nhân hậu trái ngược với những bản năng của con người và của dân La Mã chúng ta. Thực ra cháu quan tâm đến Ligia nhiều hơn toàn cõi La Mã cùng sự ngự trị của nó, cứ mặc cho nó sụp đổ đi, chỉ cần cháu có được nàng trong vòng tay là đủ. Nhưng đó lại là chuyện khác mất rồi. Đối với họ, những người Thiên chúa giáo, đồng ý bằng lời thôi chưa đủ, còn cần phải cảm nhận được rằng chính thế mới là tốt và trong lòng không được có một thứ gì khác nữa. Còn cháu - xin các vị thần chứng giám cho - cháu không thể! Cậu có hiểu điều đó nghĩa là thế nào không? Trong bản thân con người cháu có một cái gì đó bỉ báng khinh khi cái học thuyết này, dù miệng cháu có ca ngợi nó, dù cháu cố gắng tuân theo những quy chế của nó, song tâm hồn và trí óc cháu vẫn nói với cháu rằng cháu chỉ làm điều ấy vì tình yêu đối với Ligia mà thôi, còn nếu như không có nàng trên đời, thì không có điều gì trái ngược với con người cháu hơn là học thuyết đó. Và kỳ lạ biết bao, cái ông Paven xứ Tarxu cũng hiểu được chuyện ấy. Hiểu được chuyện đó còn có một người thần thuật tuổi tác, người cao niên nhất trong các tín đồ Thiên chúa giáo, đó là ông Piotr, nguyên là học trò của Đấng Crixtux, mặc dầu ông rất mộc mạc và xuất thân hèn kém. Thế mà cậu có biết hai ông đã làm gì không? Họ cầu nguyện cho cháu, họ xin cho cháu được hưởng thứ mà họ gọi là ân phước, ấy vậy mà đến với cháu chỉ có nỗi bất an và lòng mong nhớ Ligia mỗi lúc một lớn lên mà thôi.
Cháu đã kể cho cậu rằng nàng bí mật rời đi, nhưng khi ra đi, nàng để lại cho cháu một cây thánh giá tự tay nàng làm lấy bằng những cành hoàng dương. Tỉnh dậy, cháu thấy nó ở cạnh giường. Hiện giờ, cháu để vật ấy trên bàn thờ gia thần và chính cháu cũng không rõ vì sao cứ đến gần nó là cháu lại cảm thấy kinh sợ, dường như trong đó có chứa chất một thứ gì thần thánh vậy. Cháu yêu vật ấy, bởi vì chính tay nàng đã làm ra nó, nhưng cháu căm ghét nó, bởi nó chia cắt cháu với nàng. Nhiều lúc cháu cảm thấy như có bùa phép gì đó trong tất thẩy những chuyện này, rằng vị thần thuật Piotr nọ - mặc dù như người ta đồn chỉ là một ngư ông chất phác - còn vĩ đại hơn cả Apolonius, vĩ đại hơn hết thảy các bậc tiền nhân trước ông ta, chính ông ta đã gắn bó tất cả các tín đồ Thiên chúa lại với nhau, cả Ligia, cả bà Pomponia lẫn chính bản thân cháu nữa.
Cậu có biết rằng bức thư trước của cháu phảng phất nỗi buồn và sự bất an. Buồn là phải, bởi vì một lần nữa cháu lại để mất nàng, còn bất an, bởi vì trong lòng cháu có điều gì đó đang đổi thay. Xin thưa thật với cậu, không có gì trái ngược với bản tính của cháu hơn cái học thuyết kia, nhưng kể từ khi quen biết nàng, cháu không còn hiểu nổi bản thân cháu nữa. Bùa phép hay ái tình đây?… Tiên nữ Kirke biến hoá thân thể con người bằng cách chạm cái đũa vào họ, còn cháu thì bị thay đổi cả linh hồn kia! Có lẽ chỉ mỗi mình nàng Ligia có thể làm được điều ấy, nói đúng hơn, nàng Ligia thông qua cái giáo thuyết kỳ lạ mà nàng được giác ngộ. Khi cháu rời họ quay về nhà, không một ai ngờ cháu trở về cả. Mọi người tưởng cháu đang còn ở Beneventơ và còn lâu lắm mới trở về, cho nên cháu được thấy cả một cảnh hỗn loạn ở trong nhà, những tên nô lệ đang say khướt, và một bữa tiệc mà bọn chúng bày ra khao nhau ngay trong phòng tiệc của cháu. Đối với bọn chúng, tử thần còn ít bất ngờ hơn và ít làm bọn chúng kinh hoàng hơn là sự xuất hiện của cháu. Cậu đã biết cháu duy trì nhà cháu bằng bàn tay cứng rắn như thế nào rồi đấy. Tất cả chúng nó đều quỳ sụp ngay xuống, một vài đứa ngất đi vì quá sợ hãi. Còn cháu, cậu có biết cháu đã xử sự thế nào không? Thoạt tiên cháu muốn dùng đến đòn roi và sắt nung đỏ, nhưng ngay sau đó, cháu bỗng cảm thấy xấu hổ và - cậu có tin hay không - cháu thấy thương thương những kẻ khốn khổ ấy, trong bọn có những lão nô già nua tuổi tác mà hồi mồ ma ông nội M. Vinixius của cháu - từ thời hoàng đế Auguxt đã được mang từ xứ sông Ranh về đây. Cháu đóng cửa ngồi một mình trong thư viện, và ở đó, những ý nghĩ còn lạ lùng hơn nữa chợt hiện đến trong đầu óc cháu. Cháu nghĩ rằng sau những gì cháu đã được nghe được thấy ở nhà những người Thiên chúa giáo, cháu không nỡ lòng nào đối xử với nô lệ như từ trước đến nay, vì dù sao bọn chúng cũng vẫn là những con người. Suốt mấy ngày liền bọn chúng sợ chết khiếp vì cho rằng cháu còn chưa ra tay hẳn là để nghĩ ra một hình phạt thảm khốc hơn. Song cháu đã không hề trừng phạt chúng, bởi vì cháu không thể nào trừng phạt chúng. Ngày thứ ba, cháu cho gọi bọn chúng đến và bảo: “Ta tha tội cho các người, còn các người hãy cố gắng phục vụ thật mẫn cán để chuộc lại lỗi lầm!”. Nghe thấy thế, bọn họ liền quỳ sụp xuống, nước mắt ràn rụa kêu lên, hai tay vươn ra, gọi cháu là ông chủ, là cha đẻ, còn cháu - thật hổ thẹn nói điều này với cậu - cháu cũng xúc động. Cháu ngỡ như chính trong giây phút ấy, cháu trông thấy khuôn mặt ngọt ngào của Ligia và đôi mắt nhoà lệ của nàng đang cảm ơn cháu vì hành vi ấy. I pro pudor…! Cháu cảm thấy mắt cháu cũng nhoà lệ… Cậu ơi, xin thú thật cùng cậu, cháu không thể sống thiếu nàng, cháu khổ lắm khi phải cô đơn một thân một mình, cháu là một kẻ bất hạnh, nỗi đau buồn của cháu lớn hơn cậu tưởng… Riêng về đám nô lệ của cháu thì còn chuyện này nữa. Sự tha thứ mà chúng nhận được không những không làm chúng thêm táo tợn, không những làm kỷ luật thêm lỏng lẻo mà ngược lại, chưa bao giờ nỗi sợ hãi lại có thể khiến chúng phục dịch tận tuỵ như lòng biết ơn đã khiến chúng phục dịch. Không những chỉ phục dịch, mà hình như chúng đua nhau đoán trước từng ý của cháu. Cháu kể cho cậu điều ấy, bởi vì một ngày trước hôm rời những người Thiên chúa giáo, cháu đã nói với ông Paven rằng, do có học thuyết của ông, thế giới này sẽ vỡ tung ra như một chiếc thùng mất đai, còn ông ta thì bảo cháu rằng: “Tình yêu là vành đai mạnh hơn sự khiếp sợ”. Giờ đây cháu thấy rằng trong một số trường hợp nhất định, câu nói ấy có thể đúng. Cháu cũng đã kiểm tra điều đó trong quan hệ với các vị khách, những kẻ hay tin cháu về vội vàng chạy tới để thăm hỏi. Cậu biết đấy, cháu không bao giờ quá hà tiện đối với bọn họ, nhưng về nguyên tắc, cha cháu thường đối xử với họ một cách ngạo mạn và người đã dạy cháu quen với phong cách cư xử như thế. Vậy mà giờ đây, khi nhìn thấy những tấm áo khoác sờn rách và những bộ mặt ốm đói, cháu lại cảm thấy có cái gì đó như là thương hại. Cháu ra lệnh mang cho bọn họ thức ăn, cháu trò chuyện với họ, gọi tên một vài người, hỏi thăm vợ con một vài người khác, và thế là cháu trông thấy trong mắt họ long lanh những giọt lệ, hơn nữa cháu lại ngỡ như thấy Ligia đang vui sướng và khen ngợi. Không biết đầu óc cháu đã bắt đầu quẫn hay chưa, nhưng lúc nào cháu cũng cảm thấy nàng đang nhìn cháu từ một chốn xa xôi, cháu e làm một điều gì đó có thể khiến nàng buồn phiền, một điều gì có thể xúc phạm nàng. Đúng thế, thưa cậu! Tâm hồn cháu đã bị thay đổi, đôi khi cháu cảm thấy dễ chịu vì điều đó, đôi khi cháu lại bị chính điều đó giày vò, cháu sợ mình sẽ bị tước đi cả lòng can đảm và nghị lực ngày trước, sợ cháu không còn năng lực để phân xử, khuyên giải hay dự yến tiệc, thậm chí không còn năng lực để chiến đấu nữa. Hẳn đây là bùa mê thuốc lú mất rồi! Cháu đã bị biến đổi quá mức. Xin thổ lộ cùng cậu điều cháu nghĩ trong lúc đang còn nằm liệt giường: nếu như Ligia cũng giống như Ligiđia, như Poppea, Kryxpinila hay các mụ ly dị chồng của chúng ta, nếu như nàng cũng dung tục như thế, cũng buông tuồng như thế, hẳn cháu cũng không yêu nàng đắm say như cháu đang yêu. Nhưng một khi cháu yêu nàng vì chính cái điều đang làm chúng cháu bị chia ly, thì chắc cậu cũng đoán được sự hỗn loạn nảy sinh trong lòng cháu, hẳn cậu cũng đoán được cháu đang sống trong cảnh tối tăm biết chừng nào: cháu không nhìn thấy trước mắt mình một con đường nào chắc chắn, cháu không biết nên làm gì nữa cả. Nếu có thể so sánh cuộc đời với nguồn suối, thì trong suối nguồn của cháu, thay vì nước lại đang tuôn trào những nỗi lo âu phiền muộn. Cháu đang sống bằng niềm hy vọng có thể được gặp nàng, nhiều khi cháu cảm thấy chuyện ấy nhất định sẽ đến… Nhưng cháu không biết điều gì sẽ xảy đến với cháu sau một hay hai năm nữa, cháu cũng chẳng muốn đoán trước làm gì. Cháu không rời Roma đâu! Cháu không chịu đựng nổi việc phải cặp kè với đám sủng thần, hơn nữa ý nghĩ duy nhất an ủi cháu trong nỗi buồn phiền lo lắng hiện nay là cháu đang được ở gần Ligia, rằng qua thầy thuốc Glaukox - người đã hứa sẽ tới thăm cháu, hoặc qua ông Paven xứ Tarxu, thoảng hoặc cháu có thể biết được đôi chút về nàng. Không! Cháu sẽ không rời khỏi Roma, dù người ta có cho cháu được cai trị cả xứ Ai Cập đi chăng nữa. Cậu cũng nên biết rằng cháu đã ra lệnh cho thợ đá tạc bia mộ cho ông lão Gulô, người đã bị cháu giết chết trong cơn cuồng nộ. Thật quá muộn màng khi cháu hiểu ra rằng chính ông lão đã từng bồng bế cháu trên tay, và là người đầu tiên dạy cháu cách đặt mũi tên vào dây cung. Cháu cũng không rõ tại sao giờ này những hồi ức về ông lão lại thức dậy trong lòng cháu, những hồi ức giống như nỗi tiếc nuối và ân hận… Nếu những điều cháu viết có làm cậu ngạc nhiên thì cháu xin nói rằng những điều này cũng khiến cháu ngạc nhiên không kém, nhưng cháu viết cho cậu hoàn toàn là sự thật. Tạm biệt cậu!”
Chú thích:
(1) Câu nói nổi tiếng của J. Xezar: “Ta đến, ta thấy, ta thắng”
(2) Ta đến, ta thấy, ta điên (La tinh)

Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 29


Vinixius không nhận được thư trả lời bức thư này do ông Petronius không viết, chắc hẳn ông nghĩ là, Hoàng đế sắp quay về Roma trong vài hôm nữa. Tin ấy đã loan khắp thành đô, gây ra một niềm vui sướng tràn trề trong những trái tim của đám dân đang ngóng trông thế vận hội và việc ban phát ngũ cốc cùng quả ô liu, những thứ đã được tích trữ rất nhiều tại Oxtia. Rốt cục, Heliux, một nô lệ giải phóng của Nerô, đã loan báo tại Viện Nguyên lão việc Hoàng đế trở về. Tuy vậy, cùng triều thần xuống thuyền tại mũi Mixenum, Nerô lại quay trở về rất chậm chạp, luôn ghé lại những thành phố ven bờ để nghỉ ngơi hoặc biểu diễn tại nhà hát. Tại Minturnale nơi Hoàng đế lại hát trước công chúng một lần nữa, Người đã dừng chân tới mười mấy ngày liền, thậm chí người lại cân nhắc xem có nên quay trở lại Neapon hay chăng để chờ mùa xuân tới, một mùa xuân quả thực đến sớm và ấm áp hơn lệ thường. Suốt trong thời gian ấy, Vinixius nằm lì ở nhà, chàng suy ngẫm về Ligia và tất thảy những chuyện vừa mới xảy ra, còn đang chế ngự tâm hồn chàng, mang đến cho tâm hồn những khái niệm và tình cảm hoàn toàn xa lạ. Thoảng hoặc chàng mới gặp thầy thuốc Glaukox, người mà mỗi cuộc viếng thăm đều khiến chàng nao nức sướng vui, bởi vì chàng có thể được cùng ông trò chuyện về Ligia. Thực ra ông Glaukox cũng không biết rõ nàng ẩn náu nơi đâu, nhưng ông cam đoan với chàng rằng các bô lão chăm lo cho nàng rất chu đáo. Một lần, xúc động trước nỗi buồn của Vinixius, ông nói cho chàng hay là Sứ đồ Piotr đã trách móc ông Kryxpux bởi vì ông này bài xích tình yêu trần thế của Ligia. Nghe vậy, chàng quý tộc trẻ tuổi xúc động vô cùng. Bản thân chàng đã hơn một lần nhận thấy Ligia không vô tình với mình, nhưng thường khi chàng vẫn nghi ngờ và phân vân, còn đây là lần đầu tiên chàng được nghe một lời khẳng định cho những niềm khát khao hi vọng của mình từ miệng người ngoài, lại là một tín đồ Thiên chúa giáo. Thoạt tiên, tràn đầy lòng biết ơn, chàng những muốn chạy ngay tới gặp ông Piotr; khi được biết hiện ông không có mặt trong thành mà đang đi thuyết giáo trong vùng, chàng bèn khẩn khoản nài ông Glaukox, xin ông đưa Đức Sứ đồ tới nhà chàng, chàng hứa sẽ phát chẩn hào phóng cho những họ đạo nghèo khổ nhất. Chàng ngỡ rằng chỉ cần Ligia yêu chàng, tức khắc mọi chướng ngại sẽ bị đẩy lùi, bởi vì bản thân chàng lúc nào cũng sẵn sàng thờ phụng đấng Crixtux. Tuy nhiên, ông Glaukox - người đang thuyết phục chàng chịu lễ rửa tội - cũng không dám cam đoan rằng sau khi chịu lễ chàng sẽ có được Ligia. Ông bảo rằng việc rửa tội là nhằm tẩy sạch tội lỗi cho bản thân chàng và xuất phát từ lòng kính yêu Đức Chúa Crixtux, chứ không phải nhằm những mục đích khác. “Cần phải có tâm hồn Thiên chúa giáo” - ông bảo chàng. Mặc dù mọi chướng ngại đều kích thích chàng, song Vinixius cũng bắt đầu hiểu rằng ông Glaukox - một tín đồ Thiên chúa - đang nói điều mà ông có nhiệm vụ phải nói. Chính chàng cũng chưa thật thấm thía rằng những biến đổi sâu sắc nhất trong bản chất của chàng là ở chỗ, trước đây chàng đo mọi người, mọi vật bằng tính ích kỷ của chàng, còn giờ đây, chàng dần quen với ý nghĩ là những đôi mắt khác có thể nhìn nhận khác, những trái tim khác có thể cảm nhận khác, và cái đúng không phải bao giờ cũng phù hợp với lợi ích cá nhân.
Chàng cũng thường muốn được gặp ông Paven xứ Tarxu, những lời ông nói khiến chàng vừa thích thú vừa lo lắng. Chàng thầm xếp đặt trong lòng những lý lẽ sẽ dùng để chống lại giáo thuyết của ông: trong thâm tâm chàng cưỡng lại ông, nhưng chàng vẫn muốn được gặp mặt và nghe ông nói. Song ông Paven đã đi Aryxia, trong khi những cuộc viếng thăm của ông Glaukox cũng ngày một thưa thớt hơn; Vinixius hoàn toàn cô đơn. Chàng lại bắt đầu lùng khắp các ngõ hẻm nối với khu Xubur và những phố nhỏ của khu Zatybre với hi vọng có thể được trông thấy Ligia, dù chỉ từ xa. Và khi cả niềm hi vọng này cũng tiêu tan nốt, lòng chàng tràn ngập chán nản và ngày càng nôn nóng. Rồi tới một lúc, cái bản chất xưa cũ của chàng lại lên tiếng một lần nữa, với sức mạnh của một đợt sóng vừa rút khỏi bờ lại ùa vào ồ ạt lúc thủy triều lên. Chàng cảm thấy chàng chỉ là một thằng ngốc đã quá bận tâm vô ích tới những thứ chỉ đẩy chàng tới chỗ sầu muộn, lẽ ra chàng cần phải lấy ở cuộc đời tất cả những gì có thể lấy được. Chàng quyết chí sẽ quên Ligia, hay chí ít cũng sẽ tìm kiếm những lạc thú và điều hữu dụng khác ngoài nàng. Tuy nhiên chàng vẫn cảm thấy rằng đây sẽ là thử thách cuối cùng; chàng bèn lao mình vào cái xoáy nước cuộc đời, với toàn bộ năng lực và sự đam mê mù quáng vốn có. Cuộc đời dường như cũng khuyến kích chàng lao vào chuyện ấy. Thành phố mùa đông chết lặng và thưa thớt người bắt đầu nhộn nhịp trở lại với niềm hi vọng Hoàng đế sắp trở về. Người ta sửa soạn lễ đón Người thật long trọng. Thêm nữa, mùa xuân đang đến: tuyết tan đi dưới hơi thở của những làn gió Phi châu thổi qua các đỉnh núi Anban. Những thảm cỏ trong các khu vườn lại phủ đầy hoa hồng thảo. Fora và cánh đồng thần Marxơ lại nhộn nhịp người ra sưởi nắng dưới vầng mặt trời đang mỗi ngày một ấm áp hơn lên. Trên đường Via Appia dẫn ra ngoại thành, tấp nập những cỗ xe trang hoàng vàng son lộng lẫy. Người ta đã đi chơi tới tận dãy núi Anban. Dưới danh nghĩa đi lễ các nữ thần Junon và Lanuvium hoặc Điana ở Aryxia, các thiếu phụ trẻ chuồn khỏi nhà, trốn ra ngoại thành tìm kiếm những ấn tượng mới, tìm kiếm bạn bè, những cuộc gặp gỡ và lạc thú. Tại đó, một ngày kia, giữa những xe tứ mã tuyệt đẹp, Vinixius trông thấy cỗ xe xinh xắn của nàng Khowryzotemix của ông Petronius, vây quanh là cả một đám đông các chàng trai và các vị nguyên lão tuổi tác bị công việc giữ chân lại trong thành phố. Nàng Khowryzotemix đang tự tay cầm cương bốn chú ngựa nhỏ xinh xẻo giống Korxơ và đang ban phát cho bốn chung quanh những nụ cười cùng cái đập yêu của ngọn roi ngựa bằng vàng: chợt trông thấy Vinixius, nàng bèn ghìm ngựa lại, mời chàng bước sang cỗ xe của mình, rồi đưa chàng về nhà dự tiệc, bữa tiệc kéo dài suốt đêm. Vinixius uống say như trong bữa dạ tiệc hôm nọ, đến nỗi chàng không nhớ người ta đưa chàng về nhà lúc nào, chàng chỉ nhớ lại rằng Khowryzotemix có hỏi chàng về Ligia, chàng phật ý, và đang say sẵn, chàng đổ cả cốc rượu vang falecnơ lên đầu nàng. Nghĩ lại chuyện đó sau lúc tỉnh rượu chàng vẫn còn thấy bực tức. Song ngày hôm sau, Khowryzotemix - hẳn đã quên hành động xúc phạm của chàng - lại đến nhà thăm chàng, đưa chàng đi chơi ở đường Appia, rồi dùng bữa tối tại nhà chàng. Nàng thổ lộ rằng không những chỉ riêng ông Petronius mà cả tay nhạc công đàn luýt nọ cũng đã khiến cho nàng chán ngán từ lâu, và trái tim nàng hiện đang trống chỗ. Suốt một tuần liền họ cặp kè với nhau, nhưng mối quan hệ này không hứa hẹn một điều gì bền chặt. Mặc dù kể từ cái chuyện cốc rượu vang falecnơ nọ, tên của Ligia không còn được nhắc đến một lần nào nữa, song Vinixius vẫn không sao rời bỏ những ý nghĩ về nàng. Lúc nào chàng cũng có cảm giác đôi mắt nàng đang nhìn chàng, cảm giác ấy khiến chàng sợ hãi. Chàng bực bội với bản thân, song vẫn không sao rũ bỏ nổi ý nghĩ chàng đang làm cho Ligia buồn phiền, không rũ nối sự hối hận bắt nguồn từ ý nghĩ ấy. Ngay sau cảnh ghen tuông đầu tiên của Khowryzotemix nhân chuyện hai thiếu nữ Xiry mà chàng vừa mua, chàng liền tống khứ cô ả một cách thô bạo. Thực tình chàng vẫn không ngừng ngập sâu vào thú vui trác táng, chàng làm chuyện ấy dường như để trả hận đối với Ligia, nhưng rốt cuộc chàng nhận ra rằng ý nghĩ về nàng không hề rời chàng một giây, rằng chính nàng là nguyên nhân của mọi hành động, cả xấu lẫn tốt của chàng, rằng quả thật trên cuộc đời này, ngoài nàng ra chẳng hề có điều gì khiến chàng lưu tâm nữa hết. Và khi ấy chàng bỗng thấy chán chường và mệt mỏi. Lạc thú khiến chàng kinh tởm và chỉ lưu lại trong chàng những niềm hối tiếc. Chàng cảm thấy mình là một kẻ khốn nạn, cảm giác ấy khiến chàng vô cùng kinh ngạc, bởi nỗi trước đây chàng cho rằng mọi thứ hợp với chàng đều tốt đẹp cả. Chàng mất hẳn sự thư thái, lòng tự tin và rơi vào trạng thái hoàn toàn tê liệt, đến nỗi ngay cả tin Hoàng đế đã trở về cũng không đánh thức được chàng. Giờ đây, chàng chẳng quan tâm đến việc gì nữa, thậm chí có lẽ chàng cũng sẽ chẳng tới gặp ông Petronius, nếu như ông không gửi lời mời chàng đến gặp và cho mang sẵn cả kiệu của ông tới rước chàng.
Gặp ông, mặc dù được chào đón niềm nở, chàng chỉ trả lời những câu hỏi nhát gừng của ông; song những tình cảm và nghĩ suy bị dồn nén chợt bùng lên, tuôn trào từ môi chàng thành một suối lời cuồn cuộn. Một lần nữa, chàng thuật lại cho ông nghe tỉ mỉ chuyện chàng đi tìm kiếm Ligia, cuộc lưu trú giữa những người Thiên chúa giáo, tất thẩy những gì chàng được nhìn và nghe thấy, tất thẩy những gì đã tràn qua trái tim và đầu óc chàng, cuối cùng chàng than thở là chàng đang rơi vào một trạng thái hỗn loạn tâm thần, trong đó chàng mất hẳn sự tĩnh tâm, khả năng phân biệt và suy nghĩ mọi việc. Chàng chẳng ham muốn gì hết, ăn không thấy ngon, chàng không biết dựa vào cái gì và phải hành động ra sao. Chàng vừa sẵn sàng thờ phụng Đức Chúa Crixtux vừa sẵn sàng ngược đãi Chúa, chàng vừa nhận thức được sự cao cả của giáo thuyết của Chúa vừa cảm thấy một nỗi kinh tởm không sao khắc phục nổi đối với giáo thuyết ấy. Chàng hiểu rằng dầu có tìm ra Ligia đi nữa thì chàng cũng không thể hoàn toàn chiếm lĩnh được nàng, bởi chàng phải chia sẻ nàng với Chúa Crixtux. Rốt cuộc chàng sống mà như không sống; không hy vọng, không ngày mai, không lòng tin vào hạnh phúc, chung quanh chàng là cả một đêm tối, chàng mò mẫm tìm lối ra mà không sao tìm thấy.
Trong lúc chàng nói, ông Petronius nhìn nét mặt đã bị thay đổi của chàng, nhìn đôi bàn tay mà trong khi nói chàng cứ huơ huơ trước mặt một cách kỳ lạ, dường như chàng đang mò mẫm sờ soạng tìm lối đi trong đêm tối, và ông suy tư. Đột nhiên ông đứng dậy tiến lại gần Vinixius và dùng tay rẽ rẽ tóc trên vành tai chàng.
- Anh có biết rằng - ông hỏi - thái dương anh đã có vài sợi tóc bạc hay chăng?
- Có thể lắm, - Vinixius đáp, - cháu không ngạc nhiên gì nếu cả đầu cháu bạc trắng hết.
Im lặng lại bao trùm, Petronius vốn là người hiểu biết và đã nhiều lần suy ngẫm về tâm hồn con người và về cuộc sống. Song nói chung cuộc sống trong cái thế giới cả hai đang sống, bên ngoài có thể hạnh phúc hay bất hạnh, nhưng bên trong thường vẫn yên ổn. Sấm sét hay động đất có thể làm sụp đổ một thần miếu, rồi bất hạnh có thể làm xáo trộn cuộc đời, nhưng bản thân nó lại được tạo nên từ các đường thẳng và đường cong hài hoà, không một chút rối rắm. Nhưng lần này trong những lời nói của Vinixius có cái gì đó khác hẳn, và lần đầu tiên, ông Petronius gặp phải những cái gút tinh thần cho tới nay chưa một ai gỡ nổi. Vốn thông tuệ, ông cảm thấy sức nặng của chúng, nhưng mặc dù rất nhanh trí, ông vẫn không biết cách trả lời những câu hỏi đã được đặt ra, và sau hồi lâu nín lặng, ông nói:
- Đó có lẽ là bùa phép chăng?
- Cháu cũng đã từng nghĩ như thế, - Vinixius đáp. - Nhiều lần cháu cảm thấy như cả hai chúng cháu đã bị nhiễm bùa mê.
- Thế anh thử đến gặp các tu sĩ Xerapis xem sao, - ông Petronius nói, - Mặc dù, trong bọn chúng nói riêng cũng như trong bọn tu sĩ nói chung, có quá nhiều kẻ lừa đảo, song cũng có người đi sâu được vào những điều bí ẩn dị thường.
Song ông nói ra điều đó chẳng mấy tin tưởng, bằng một giọng nói ngập ngừng, bởi chính ông cũng cảm thấy lời khuyên ấy thốt từ miệng ông có vẻ thảm hại, thậm chí nực cười.
Vinixius lau trán rồi nói:
- Bùa phép ư? Cháu đã từng trông thấy những thầy phù thủy dùng sức mạnh âm binh để trục lợi và những người sử dụng nó để làm hại kẻ thù. Nhưng dân Thiên chúa giáo sống trong sự sùng tín, tha thứ cho kẻ thù, họ chủ trương chịu đựng, sống đức hạnh và nhân từ, vậy thì bùa phép có mang lại cho họ lợi lộc gì đâu, vì cớ gì họ lại phải dùng đến chúng cơ chứ?
Ông Petronius bắt đầu nổi cáu vì trí óc ông không thể tìm ra điều gì để đáp lại, nhưng vì không muốn thú nhận điều đó, ông vẫn đáp lại, chỉ cốt để có câu trả lời.
- Nhưng đó là một giáo phái mới…
Rồi lát sau ông bảo:
- Thề có những khu rừng thiêng Paphox, chuyện này làm hỏng tiệt cả cuộc đời! Anh ngạc nhiên về lòng từ thiện và phẩm hạnh của bọn người ấy, còn cậu nói với anh rằng đó là một bọn xấu, bởi vì chúng là kẻ thù của sự sống, giống như tật bệnh hay bản thân cái chết vậy. Xin đủ, thế thôi! Chúng ta chưa cần tới bọn Thiên chúa giáo cơ mà! Chỉ cần tính mà xem này: bệnh tật, Hoàng đế, Tygelinux, thơ phú của Hoàng đế, bọn thợ giầy đang cai trị cháu con của các vị Quyrit, lũ nô lệ mới giải phóng đang nghị bàn tại nguyên lão viện. Thề có thần Caxtor: Quá đủ rồi! Đó chỉ là một thứ đạo bẩn thỉu và hủy diệt! Anh hãy cố giũ bỏ những nỗi sầu thảm và tận hưởng cuộc sống một chút xem nào!
- Cháu đã thử rồi - Vinixius đáp.
Ông Petronius bật cười bảo:
- Ôi, đồ phản bội! Qua bọn nô lệ tin tức truyền đi nhanh lắm: anh đã nẫng mất cô nàng Khowryzotemix của cậu.
Vinixius khó chịu phẩy tay.
- Dù sao cậu cũng xin cảm ơn anh, - ông Petronius nói tiếp - Cậu sẽ gửi cho cô nàng một đôi hài đính ngọc trai, trong ngôn ngữ ái tình của cậu, điều đó có nghĩa là “Xéo đi!”. Cậu biết ơn anh những hai lần cơ đấy, một lần vì anh đã không chịu nhận Eunixe, lần nữa vì anh đã giải thoát cho cậu khỏi Khowryzotemix. Anh nghe cậu nói này: hãy nhìn con người đang ở trước mặt anh đây, hắn ta dậy thật sớm, tắm táp, tiệc tùng, cưỡi lên Khowryzotemix, làm thơ trào phúng, thậm chí đôi khi viết cả tản văn xen thơ nữa, nhưng hắn ta chán chường như Hoàng đế và thường thường không sao rũ bỏ nổi những ý nghĩ u ám. Anh biết tại sao vậy không? Vì rằng cậu cứ tìm kiếm ở đâu xa những thứ ở ngay gần bên cạnh… Đàn bà đẹp và đáng giá ngàn vàng nhưng đàn bà đẹp mà lại yêu ta thì hoàn toàn vô giá. Dẫu có mọi thứ của cải của Xerex anh cũng chẳng mua nổi đâu.
Bây giờ cậu tự nhủ: ta sẽ rót đầy cuộc đời bằng niềm vui sướng như rót vào đầy cốc loại rượu nho thượng hảo hạng, rồi ta cứ uống cho tới khi nào tay ta còn chưa bị liệt và môi ta chưa tái nhợt đi. Còn cái gì tiếp sau đó, ta không cần biết; đó chính là thứ triết học mới nhất của cậu đấy.
- Bao giờ cậu chẳng tuân theo nó! Chẳng có gì mới cả!
- Nhưng nó chứa đựng cái nội dung trước đây bị thiếu.
Ông liền gọi Eunixe, nàng bước vào, vận một bộ áo dài trắng muốt, tóc vàng rực, không còn đâu bóng dáng kẻ nô tỳ ngày trước, nàng hệt như một nữ thần của tình yêu và hạnh phúc.
Ông giang rộng vòng tay và gọi:
- Lại đây em!
Nàng liền chạy ùa tới bên ông, ngồi lên đầu gối và choàng tay quanh cổ ông, đầu nàng tựa vào ngực ông, Vinixius thấy rõ đôi má nàng dần ửng sắc hồng, mắt nàng như tan vào trong một làn sương mờ huyền ảo. Bên nhau, họ tạo thành một nhóm tượng tuyệt vời của tình yêu và hạnh phúc. Ông Petronius với tay đến cái bình cổ nông lòng đặt trên chiếc bàn bên cạnh, vốc đầy một vốc những đoá hoa đồng thảo, rắc lên đầu, lên ngực và chiếc áo xtola của Eunixe, rồi ông kéo chiếc áo tunica để lộ bờ vai nàng và bảo:
- Hạnh phúc thay cho kẻ nào như cậu tìm được tình yêu trong một tấm thân hữu hạn thế này… Nhiều lúc cậu ngỡ đôi chúng ta là hai vị thần linh… Anh hãy nhìn mà xem này: liệu Prakxytelex, Miron, Xkopax hay Lizip có bao giờ sáng tạo nổi những đường nét đẹp hơn thế này chăng? Liệu trong điện Parox hay Pentelikon có được thứ cẩm thạch nào giống thế này chăng, ấm áp, hồng hào và yêu say đắm? Có những kẻ hôn hít đến vẹt cả miệng bình, còn cậu chỉ thích tìm khoái lạc ở nơi nào quả thực có thể tìm thấy nó.
Nói đoạn, ông bắt đầu lướt đôi môi dọc theo đôi bờ vai và cổ nàng, còn nàng thì run lên, mắt nàng lúc khép lại lúc mở ra để lộ niềm khoái cảm khôn thốt nên lời. Lát sau, ông Petronius ngẩng mái đầu trang nhã của ông nhìn Vinixius và nói:
- Còn bây giờ, anh thử nghĩ xem, những tín đồ Thiên chúa giáo tẻ ngắt của anh là cái gì nếu so sánh với cái này, và nếu như anh không thể hiểu nổi sự khác nhau ấy, thì xin anh cứ việc đi với bọn họ… Nhưng cảnh tượng này sẽ chữa lành bệnh cho anh.
Vinixius nở phồng hai cánh mũi hít hương hoa đồng thảo đang ngào ngạt trong căn phòng, người chàng tái đi khi nghĩ rằng giá như cũng có thể được lướt môi chàng lên đôi bờ vai của Ligia, thì đó sẽ là một niềm khoái lạc phạm thành lớn biết nhường nào, rồi sau đó dẫu thế giới có đổ sụp đi cũng được. Song vốn đã quen với việc nhanh chóng ý thức được những gì đang xảy ra với bản thân, chàng chợt nhận ra là lúc này đây chàng lại nghĩ tới Ligia, chỉ nghĩ đến mỗi mình nàng mà thôi.
Ông Petronius bảo:
- Hỡi Eunixe thần nữ, nàng hãy ra lệnh chuẩn bị vòng hoa đội đầu và bữa sáng cho chúng ta.
Sau đó, khi nàng đi khuất, ông quay sang Vinixius:
- Cậu muốn giải phóng nàng, còn nàng, anh có biết nàng đã trả lời cậu thế nào không? “Em muốn được làm nô tỳ của người hơn làm Hoàng hậu!” Và nàng không đồng ý. Cậu bèn giải phóng cho nàng mà nàng vẫn chưa hề hay biết. Vì nể cậu, viên pháp quan đã không đòi hỏi sự hiện diện của nàng. Nhưng nàng vẫn chưa hay biết chuyện ấy, cũng như chưa biết rằng, toà nhà này cùng tất thảy mọi đồ trang sức của cậu, trừ những viên ngọc chạm, sẽ thuộc về nàng, một mai cậu qua đời.
Nói đoạn, ông đứng dậy đi đi lại lại trong phòng rồi nói tiếp:
- Tình yêu biến đổi con người, kẻ nhiều người ít, nó làm thay đổi cả cậu nữa. Có hồi cậu thích mùi hương mã tiên thảo, nhưng vì Eunixe ưa hoa đồng thảo hơn, nên bây giờ cậu lại thích loài hoa này hơn cả. Từ độ xuân về, cậu chỉ thở hít toàn hương hoa đồng thảo mà thôi.
Nói tới đây, ông dừng lại trước mặt Vinixius và hỏi:
- Thế còn anh? Lúc nào anh cũng say hương cam tùng chứ?
- Hãy để cháu yên! - chàng thanh niên đáp.
- Cậu muốn anh được ngắm kỹ Eunixe, cậu nói với anh về nàng, bởi vì rất có thể cả anh nữa cũng đang tìm kiếm ở đâu xa xôi một thứ vốn rất gần gụi. Rất có thể, tại một nơi nào đó trong các phòng nô tỳ của anh, một trái tim trung thành và mộc mạc đang đập vì anh đấy. Hãy dán thứ thuốc cao ấy lên những vết thương của anh xem nào! Anh nói rằng Ligia yêu anh? Có thể lắm! Nhưng tình yêu là gì mà lại tự chối từ? Phải chăng điều đó không có nghĩa là còn có thứ gì đó mạnh hơn tình ái? Không, cháu thân yêu ạ, Ligia không phải như Eunixe.
Vinixius đáp:
- Tất cả chỉ là một sự dày vò triền miên. Thấy cậu hôn vai Eunixe, cháu chợt nghĩ, giá như vì cháu Ligia cũng hé lộ bờ vai như thế, thì xin trời đất cứ hoác miệng nuốt chửng chúng cháu đi cũng thoả. Nhưng chỉ riêng ý nghĩ ấy thôi cũng đã khiến cháu như bị một nỗi sợ hãi nào đó chế ngự, dường như cháu cưỡng chiếm trinh nữ giữ đền thờ Vexta hoặc mưu toan làm nhục thần linh vậy… Ligia không phải là Eunixe, chỉ có điều cháu hiểu sự khác biệt ấy không giống như cậu nghĩ. Tình yêu làm biến đổi cái mũi của cậu, nên cậu thích hoa đồng thảo hơn mã tiên, còn tình yêu làm biến đổi linh hồn cháu, nên mặc cho dục vọng và sự đau xót của bản thân, cháu vẫn muốn Ligia hãy cứ là nàng Ligia như cũ, đừng giống những kẻ khác.
Ông Petronius nhún vai:
- Nếu vậy thì chẳng hề có chuyện gì xúc phạm tới anh cả. Nhưng riêng tôi, tôi không thể hiểu nổi việc này.
Vinixius nóng nảy đáp lại:
- Phải! Phải!… Chúng ta đâu còn có thể hiểu nhau nữa!
Im lặng một hồi lâu rồi ông Petronius nói:
- Cầu cho Hadex bắt sạch bọn Thiên chúa giáo của anh đi cho rảnh nợ! Bọn chúng đã làm anh bất an, hủy hoại những giác quan sống của anh. Cầu Hadex bắt sạch chúng đi! Anh đã lầm khi cho rằng đó là một thứ giáo thuyết tốt lành, bởi vì tốt lành là những gì có thể khiến cho con người ta sung sướng, là cái đẹp, tình yêu và sức mạnh, vậy mà bọn chúng lại gọi những cái đó là chuyện phù vân. Anh nhầm lẫn khi xem chúng là công bằng, bởi vì nếu chúng ta dùng điều tốt để đáp lại cái xấu, thì chúng ta biết lấy gì để đáp lại cái tốt kia chứ? Còn nếu trả giá cho hai thứ ngang nhau, thì con người cần phải tốt để làm gì?
- Không! Giá trả không ngang nhau, nhưng theo giáo thuyết của họ thì điều đó sẽ bắt đầu ở cuộc đời trong tương lai chứ không ở trong cuộc đời này.
- Cậu chả dại, chuyện đó còn phải xem xem thế nào đã, nếu như chúng ta còn có thể trông thấy được điều gì chăng… khi không còn có mắt! Chứ hiện giờ bọn chúng chỉ là một lũ người bán thân bất toại. Urxux bóp chết Kroton, chẳng qua vì hắn có chân tay mạnh như gấu, còn nói chung, bọn chúng chỉ là một lũ ngù ngờ khờ khạo, mà tương lai lại không thuộc về bọn ngù ngờ.
- Đối với họ, sự sống bắt đầu cùng lúc với cái chết.
- Điều đó chẳng khác nào có kẻ bảo rằng, ngày bắt đầu cùng lúc với đêm đen. Thế anh định bắt cóc Ligia chứ?
- Không! Cháu không thể dùng oán trả ân cho nàng, cháu đã thề sẽ không bao giờ làm chuyện đó.
- Vậy ra anh định chấp nhận giáo thuyết của Crixtux ư?
- Cháu muốn lắm, nhưng bản chất của cháu không chịu đựng nổi giáo thuyết ấy.
- Anh có thể quên được Ligia không?
- Không!
- Thế thì hãy đi du ngoạn vậy!
Vừa lúc ấy, đám nô lệ báo bữa sáng đã chuẩn bị xong, nhưng ông Petronius nghĩ rằng mình vừa nảy ra được một ý kiến hay, nên trên đường tới phòng tiệc ông nói tiếp:
- Anh đã đi qua cả một phần thế giới thật đấy, nhưng chỉ như một người lính vội vã đến nơi được lệnh phải đến, chứ chẳng hề dừng chân dọc đường. Anh hãy thu xếp cùng đi Akhai với các cậu đi. Cho đến nay, Hoàng đế vẫn chưa từ bỏ ý định du hành. Người sẽ dừng chân lại khắp mọi chốn dọc đường, ca hát, đón nhận những vòng hoa chiến thắng, cướp bóc các thần miếu, và cuối cùng, Người sẽ quay về Italia như một người ca khúc khải hoàn. Đó sẽ là một thứ gì giống như cuộc diễu hành của thần rượu Bakhux kết hợp với thần Apolon thành một con người. Các vị cận thần, nam và nữ, cây đàn tranh, - hỡi Caxtor! Đó thật là một thứ đáng nhìn, bởi lẽ cho tới nay thế gian chưa từng được trông thấy gì tương tự như thế bao giờ.
Ông ngả người xuống chiếc trường kỷ cạnh bàn, bên Eunixe, và trong lúc một tên nô lệ đặt vòng hoa bện bằng cỏ chân ngỗng lên đầu, ông nói tiếp:
- Anh đã được trông thấy những gì khi phục vụ dưới trướng tướng Korbulon nào? Chẳng có quái gì hết! Liệu anh đã thăm thú kỹ lưỡng các đền miếu Hi Lạp như cậu đã làm hơn hai năm trước, chuyển hết tay hướng đạo này sang tay khác hay chưa? Anh đã đến Rodox để ngắm nhìn nơi vị khổng lồ đã đặt chân hay chưa? Anh đã trông thấy ở Ponop hoặc Poxiđa, miếng đất sét mà thần Prometeux dùng để nặn nên con người, đã thấy những quả trứng mà nữ thần Leđa đã sinh hạ ở xứ Xpartơ, đã thấy bộ giáp phục Sarmac lừng danh ở thành Aten được làm bằng những chiếc vó ngựa, đã thấy chiếc thuyền của Agamemnon ở Eubel, đã thấy chén rượu làm theo nguyên mẫu bầu vú bên trái của nữ thần Helena hay chưa? Anh đã trông thấy Alecxanđria Memphix, các kim tự tháp, sợi tóc của nàng Izix, sợi tóc mà nàng đã tự tay dứt đứt vì thương tiếc chàng Oryzix hay chưa? Anh đã được nghe tiếng Memnon rền rĩ hay chưa? Thế giới rộng bao la, không phải mọi cái đều kết thúc ở khu phố Zatybre! Cậu sẽ phải tuỳ giá Hoàng đế, rồi sau đó, lúc Người quay về, cậu sẽ rời bỏ Hoàng đế để đi một chuyến ra đảo Sip, bởi vì nữ thần tóc vàng của cậu muốn cùng cậu dâng hiến bồ câu lên bà chúa Sip tại đền thờ ở Phaphox, và anh nên biết rằng, nếu nàng muốn điều gì, điều đó sẽ được thực hiện.
- Em là kẻ nô tỳ của người! - Eunixe thốt ra.
Còn ông tựa mái đầu đội vòng hoa vào lòng nàng mỉm cười và nói:
- Vậy thì ta lại là nô lệ của một nô tỳ! Hỡi thần nữ, ta luôn thán phục nàng, từ gót đến đầu!
Rồi ông quay sang chàng Vinixius:
- Anh hãy đi cùng chúng ta ra Sip! Tuy nhiên trước đó cần nhớ rằng anh phải yết kiến Hoàng đế đã. Đến tận bây giờ anh vẫn chưa tới yết kiến Người thì quả là dở, gã Tygelinux sẵn sàng lợi dụng điều đó theo cách bất lợi cho anh. Gã cũng chẳng có thù gì với anh đâu, song rất có thể gã không thích anh chỉ vì anh là cháu ta… Chúng ta sẽ nói anh bị ốm. Chúng ta sẽ nghĩ xem anh cần đối đáp với Hoàng đế ra sao nếu Người hỏi anh về Ligia. Tốt nhất, anh cứ phẩy tay bảo rằng anh có gặp nàng, cho tới khi nàng khiến anh phát chán. Người sẽ hiểu điều đó… Hãy nói với Người rằng bệnh tật đã giam chân anh tại nhà, và anh phát sốt thêm vì buồn phiền bởi lẽ không được có mặt ở Neapon để lắng nghe giọng hát của Người, anh bình phục chỉ bởi nhờ có một niềm hi vọng là sẽ được thưởng thức giọng hát ấy mà thôi. Anh đừng ngại quá lời, gã Tygelinux hứa trước rằng sẽ nghĩ ra hiến Hoàng đế một trò gì đó, không chỉ vĩ đại mà còn thô đại nữa. Nhưng cậu lo rằng y sẽ chơi xỏ cậu. Cậu cũng lo cho cách cư xử của anh lúc ấy nữa đấy.
- Cậu có biết không - Vinixius nói - có những người không hề e sợ Hoàng đế, họ sống bình thản như Người không hề tồn tại trên đời!
- Cậu biết anh muốn nói đến ai: tín đồ Thiên chúa.
- Vâng, chỉ có họ mà thôi! Còn cuộc sống của chúng ta là gì nếu không phải là một nỗi sợ hãi triền miên?
- Hãy để cho cậu yên thân với đám tín đồ Thiên chúa giáo của anh! Bọn chúng không sợ Hoàng đế, có thể vì Người chưa nghe nói tới bọn chúng hay chưa biết gì về chúng; chẳng qua chúng cũng như những chiếc lá mục đối với Người mà thôi! Cậu đã bảo anh rằng đó là một bọn người thiểu năng, chính bản thân anh cũng cảm thấy điều đó, và nếu như bản chất của anh không dung nạp nổi cái giáo thuyết của bọn chúng chính vì anh đã cảm nhận được sự thiểu năng của chúng. Anh là người được nặn từ một loại đất sét khác hẳn, vậy xin hãy để cho cậu được yên, đừng đả động gì tới bọn chúng nữa. Chúng ta biết cách sống và chết, còn bọn chúng biết làm nổi chuyện gì thì chưa ai hiểu được.
Những lời này tác động mạnh đến Vinixius. Quay về nhà, chàng vẩn vơ nghĩ rằng rất có thể lòng tốt và sự từ tâm của các tín đồ Thiên chúa là bằng chứng cho sự thiếu năng lực của tâm linh họ. Chàng cảm thấy những người cương nghị và có đầu óc không thể giàu lòng vị tha đến thế. Chàng chợt nghĩ rằng đó rất có thể chính là lý do khiến tâm hồn La Mã của chàng cảm thấy khinh ghét giáo thuyết nọ. “Chúng ta biết cách sống và chết!” - ông Petronius đã bảo thế. Còn bọn họ? Họ chỉ biết tha thứ, song họ không hiểu được cả tình yêu chân chính lẫn lòng hận thù chân chính.


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 30


Phải trở về Roma, hoàng đế bực mình vì đã trở về và chỉ vài ngày sau ngài đã lại đùng đùng muốn đi Akhai ngay. Thậm chí ngài còn ra một chỉ dụ khuyến cáo rằng ngài sẽ đi vắng không lâu, nên các quyền lợi của công chúng sẽ không hề bị ảnh hưởng chút nào. Sau đó, cùng với đám cận thần, trong đó có cả chàng Vinixius, ngài tới thần miếu Kapiton dâng lễ vật tế hiến các thần, cầu cho chuyến đi được thuận buồm xuôi gió. Nhưng sang ngày hôm sau, khi hoàng đế đến viếng miếu của nữ thần Vexta, đã xảy ra một chuyện rủi ro, khiến mọi ý định bị đảo lộn hết cả. Nerô vốn không tin thần thánh, nhưng lại sợ họ, đặc biệt là nữ thần Vexta đầy bí ẩn, đến nỗi vừa thoạt trông thấy dung mạo nữ thần và ngọn lửa thiêng, tóc trên đầu ngài dựng đứng cả lên vì kinh hoàng, hai hàm răng ngài dính chặt vào nhau, tứ chi run lẩy bẩy, rồi ngài ngã xỉu vào tay Vinixius, kẻ tình cờ đứng ngay sau lưng ngài. Ngài được mang ngay ra khỏi thần miếu và đưa về cung điện Palatyn. Mặc dù ngay sau đó đã hoàn toàn lại hồn, song suốt cả ngày ngài không hề rời khỏi long sàng. Trước sự ngạc nhiên của những người có mặt, hoàng đế tuyên bố rằng ngài cương quyết hoãn chuyến đi sang một dịp khác, bởi lẽ thần linh đã ngầm cảnh báo rằng ngài không được phép vội vã. Một giờ sau, người ta loan báo cho dân chúng toàn thành Roma được hay rằng vì trông thấy những khuôn mặt buồn đau vì quá yêu hoàng đế của công dân, nên hoàng đế sẽ lưu lại cùng chúng dân như người cha lưu lại cùng đàn con, để chia sẻ niềm vui và nỗi đau cùng chúng dân. Hân hoan, vì quyết định ấy, đồng thời tin chắc rằng sẽ không bị hụt mất những trò vui thế vận và việc phát chẩn lương thực, dân chúng bèn tụ tập thành đám đông trước cổng cung điện Palatyn, la hét ngợi ca hoàng đế chí thành, còn ngài tạm dừng cuộc mạt chược đang chơi dở với các cận thần mà bảo:
Phải, cần hoãn chuyến đi lại, theo sấm truyền thì cả Ai Cập lẫn Phương Đông sẽ không thoát khỏi quyền bá chủ của ta, làm sao một thành Akhai có thể lọt lưới được? Ta sẽ ra lệnh cho đào xới eo đất Korynlơ, ta sẽ cho dựng tại Ai Cập những pho tượng mà bên cạnh chúng các kim tự tháp sẽ chỉ là đồ chơi trẻ con. Ta sẽ ra lệnh xây dựng một tượng Xphinx bẩy lần lớn hơn pho tượng đang ở gần Memphix và đang nhìn ra sa mạc, nhưng ta sẽ ra lệnh tạc cho nó khuôn mặt của ta. Đời đời cháu con sẽ chỉ nói về pho tượng ấy và nói về ta mà thôi.
Bằng những vần thơ của mình, hoàng thượng đã tự xây dựng một tượng đài kỷ niệm đó thôi, một tượng đài không những chỉ bẩy lần mà ba lần bẩy lớn hơn kim tự tháp Khêốp nữa kia! - Ông Petronius nói.
Thế còn tiếng hát của ta thì sao? - Nerô hỏi.
Than ôi! Giá như có ai biết cách tạc được cho người một pho tượng như tượng Memnon và tượng đài ấy lại cất cao tiếng hát của Người gọi vầng thái dương thức dậy! Những biển cả cận kề Ai Cập đời đời sẽ tấp nập hằng sa số thuyền bè, trên đó dân cư từ khắp ba miền sẽ lắng nghe tiếng hát của hoàng thượng.
Tiếc thay! Làm gì có kẻ nào thực hiện được điều ấy! - Nerô thốt ra.
Song hoàng thượng có thể ra lệnh tạc vào đá badan hình người đang điều khiển cỗ xe tứ mã.
Phải lắm! Ta sẽ cho làm việc đó!
Đó sẽ là món quà của người để lại cho nhân loại.
Tại Ai Cập ta sẽ cưới nữ thần mặt trăng Lune, nữ thần cũng góa chồng và ta sẽ thực sự trở thành một vị thần.
Còn các vì sao thì hoàng thượng sẽ ban cho chúng thần làm vợ, chúng thần sẽ sản sinh ra cả một chòm sao mới sẽ được gọi tên là chòm sao Nerô. Riêng Vitelius thì xin người hãy cưới cho y nữ thần sông Nin, để y sản sinh ra một đàn hà mã. Còn Tygelinux thì xin hoàng thượng cho hắn sa mạc, hắn sẽ là vua của lũ lang sói…
Thế còn tôi thì sao? - Vatynius hỏi.
Cầu thần Apix ban phước cho ông! Ông đã cho chúng tôi được hưởng một thế vận tuyệt vời ở Beneventơ, nên tôi không thể cầu xin điều dở cho ông, ông hãy thửa một đôi giầy cho các tượng Xphinx, chân của tượng đang bị tê cóng trong những giờ sương đêm, rồi sau đó ông sẽ đóng giầy cho các tượng thần khổng lồ đứng hàng dẫy trước các thần miếu. Mỗi người đều sẽ tìm được việc làm thích hợp. Thí dụ như Đominiusxss Apher sẽ làm thủ quỹ, bởi ông ta nức tiếng thật thà. Tâu hoàng thượng, thần rất thích những khi hoàng thượng mơ về Ai Cập và rất lấy làm buồn vì người đã hoãn dự định ra đi.
Nerô bảo:
Những cặp mắt trần tục của các ngươi chẳng nhìn thấy điều gì, bởi lẽ thần linh trở nên vô hình đối với những kẻ nào thần muốn. Các ngươi biết không, lúc ta ở trong đền nữ thần Vexta, chính nữ thần đã tới đứng cạnh ra và nói thầm vào tai ta: “Hãy hoãn chuyến đi!”. Chuyện ấy xẩy ra đột ngột quá làm cho ta sợ, mặc dù lẽ ra ta phải hết sức biết ơn sự bảo trợ rõ ràng như thế của thần.
Tất thảy chúng thần đều kinh hoảng - Tygelinux nói - Còn ni cô đồng trinh Rubria thì ngất xỉu luôn.
Rubria! - Nerô nói - Nàng có cái cổ trắng ngần như tuyết:
Song lại ửng hồng mỗi khi trông thấy người, tâu thánh thượng.
Phải! Ta cũng nhận thấy điều đó. Lạ thật! Ni cô đồng trinh! Bao giờ cũng có gì đó thật là thần thánh ở mỗi ni cô đồng trinh, nhưng Rubria quả là tuyệt sắc.
Đến đây ngài trầm tư một lúc rồi hỏi:
Các khanh hãy nói ra hay, tại sao người ta lại sợ nữ thần Vexta hơn các thần? Có cái gì ở đó vậy? Ôi, chính ta cũng bị nỗi sợ hãi chế ngự, mặc dù ta là đạo chức cao nhất. Ta chỉ nhớ rằng ra ngã ngửa ra và chắc sẽ ngã lăn xuống đất, nếu không có một người nào đó đỡ. Ai đỡ ta thế?
Chính hạ thần - Vinixius đáp.
À, ra chính nhà ngươi đấy ư, "chiến thần Arex khắc nghiệt?". Tại sao người không có mặt ở Beneventơ? Người ta bảo ta hay rằng ngươi bị ốm, quả thật nét mặt ngươi có chút thay đổi. Này! Ta nghe bảo rằng Kroton định giết chết ngươi, có thật thế không?
Thưa vâng, hắn đã làm gẫy cánh tay thần, nhưng thần chống cự được.
Với một cánh tay bị gẫy ư?
Có một tên dân man di đã giúp thần, y khỏe hơn Kroton.
Nerô nhìn chàng kinh ngạc.
Khỏe hơn cả Kroton? Ngươi đùa đấy chứ? Kroton vốn là kẻ khỏe nhất hơn tất cả mọi người, còn hiện nay là Xyphacxơ xứ Etiopia.
Tâu hoàng thượng, thần chỉ nói những gì tận mắt trông thấy.
Vậy viên ngọc quý ấy đâu rồi? Hắn trở thành vua Nemoren rồi chăng?
Thần không được rõ, tâu thánh thượng, thần không hề gặp lại y lần nào nữa.
Thế nhà ngươi cũng không biết hắn thuộc dân tộc nào sao?
Tay thần bị gẫy, thần không kịp hỏi hắn điều gì cả ạ.
Vậy ngươi hãy đi tìm hắn và phải tìm bằng được.
Nghe thế, Tygelinux nói:
Thần xin được đảm nhận việc ấy.
Nhưng Nerô nói tiếp với Vinixius:
Cảm ơn ngươi đã đỡ ta, nếu không ta có thể bị ngã vỡ đầu. Ngày trước nhà ngươi vốn là một người bạn tốt, nhưng từ sau cuộc chiến tranh, phải phục vụ dưới tướng Korbulon đến giờ nhà ngươi trở nên hơi là lạ thế nào ấy, ít khi ta thấy mặt ngươi.
Nerô im lặng một lát rồi nói tiếp:
Thế còn cô gái, bông hoa đẹp mà ngươi say mê, kẻ mà ta đã bắt của ông già Aulux về cho ngươi thì ra sao rồi?
Vinixius bối rối, nhưng ông Petronius lập tức ứng cứu chàng:
Tâu hoàng thượng, thần xin đánh cuộc rằng hắn đã quên có cô ả mất rồi - ông nói - hoàng thượng có thấy hắn bối rối không? Xin người hãy hỏi hắn xem từ đó đến nay hắn đã có bao nhiêu cô ả rồi, thần không dám cuộc liệu hắn có trả lời được hay không nữa kia. Họ nhà Vinixius vốn là những chiến sĩ tốt, nhưng họ còn là những chàng gà trống tốt hơn. Bọn họ cần có cả một đàn mái kia. Xin hoàng thượng hãy trừng phạt hắn vì tội ấy và đừng mời hắn tới dự bữa tiệc mà Tygelinux hứa sẽ tổ chức tại hồ Agryppa để mừng người.
Không, ta sẽ không làm như thế. Ta tin Tygelinux, tại đó sẽ không thiếu mái đâu.
Nếu như có mặt thần ái tình Amor, làm sao lại có thể thiếu được các tiên nữ duyên sắc Kharyta kia chứ? Tygelinux đáp.
Nhưng Nerô lại bảo:
Ta buồn chán lắm! Ta đã ở lại Roma theo ý muốn của nữ thần, nhưng ta không sao chịu nổi. Ta sẽ đi Anxium. Ta ngột ngạt cả người ở giữa những cái phố chật chội, giữa những ngôi nhà đang sụp đổ, giữa những ngõ hẹp tục tĩu này. Không khí uế tạp bay tới tận đây, tận nhà ở và những khu vườn của ta. Ôi, giá như động đất tàn phá cả thành Roma, giá như có vị thần linh nào nổi giận san nó thành bình địa, khi ấy ta mới có thể chỉ cho các ngươi thấy cần phải xây dựng thành phố ra sao, một thành phố là đầu não, của cả thế giới, là thủ phủ của ta.
Tâu hoàng thượng - Tegelinux nói - có phải người vừa phán: ”Giá như có một vị thần linh nào nổi giận triệt cả thành phố” - có phải thế chăng?
Phải, thì sao?
Hoàng thượng chẳng phải là một vị thần đó sao?
Rồi chúng ta sẽ xem nhà ngươi sửa soạn ra sao cho chúng ta ở khu hồ Agryppa. Sau đó ta sẽ đi Anxium. Tất cả các ngươi đều bé nhỏ, nên các ngươi không thể hiểu nổi ta cần những công việc vĩ đại ra sao.
Nói đoạn, hoàng đế nhắm nghiền mắt lại, ra hiệu là người cần được nghỉ ngơi. Các vị cận thần lần lượt tản đi. Bước ra cùng với Vinixius, ông Petronius bảo chàng trai:
Thế là anh bị gọi phải tham gia vào trò vui rồi đấy nhé. Gã Râu Đỏ hoãn chuyến đi, ngược lại y sẽ điên hơn bao giờ hết, sẽ hoành hành trong thành phố hệt như trong tư thất của mình. Anh cũng hãy cố gắng tìm lấy sự giải trí và quên lãng trong các trò điên này. Quỷ thật chứ! Chúng ta đã chinh phục cả thế giới, chúng ta có quyền chơi cho thỏa! Này Marek! Anh là một chàng trai rất xinh đẹp, một phần cũng vì vậy cậu mềm yếu với anh. Thề có nữ thần Điana xứ Ephozơ! Giá anh nhìn thấy đôi mày rậm và khuôn mặt của chính anh, khuôn mặt mang dòng máu ngàn xưa của dân Ouvrit! Bênh cạnh anh, bọn kia chỉ là đám nô lệ mới được giải phóng mà thôi. Chính thế đấy! Giá như không có cái giáo thuyết hoang dã kia, thì ngày hôm nay cô nàng Ligia chắc chắn đang ở tại nhà anh rồi. Anh cứ thử chứng minh lần nữa cho cậu rằng đó không phải là những kẻ thù địch với cuộc sống, với con người đi xem nào? Chúng nó đối xử tốt với anh, anh có thể biết ơn chúng, nhưng nếu ở địa vị anh, cậu sẽ căm thù cái giáo thuyết kia và sẽ tìm lại lạc thú ở nơi nào cậu có thể tìm được. Anh là một gã trai xinh đẹp, cậu nhắc lại, còn Roma đầy rẫy các ả góa chồng.
Cháu thấy lạ là sau cậu chưa thấy mệt mỏi với tất cả những điều ấy - Vinixius đáp.
Ai bảo anh thế? Cậu ngán từ lâu rồi, nhưng cậu không còn ở vào cái tuổi của anh. Nói cho cùng, cậu cũng còn có những thứ ham muốn khác mà anh không có. Cậu thích sách vở, những thứ anh không thích; cậu yêu thi ca, thứ làm anh chán chường; cậu mê bình cổ, những viên ngọc chạm và biết bao đồ vật khác mà anh không hề để mắt tới; cậu có chứng đau lưng mà anh không có và cuối cùng, cậu tìm được Eunixe, còn anh chẳng hề tìm được của báu nào tương tự như thế cả. Cậu thích được ở nhà, sống giữa các kiệt tác, còn anh thì cậu không thể nào cải tạo nổi thành một nhà duy mỹ. Cậu hiểu rằng trong đời, cậu sẽ không tìm thấy một điều gì mới hơn những gì cậu đã tìm thấy, còn anh, chính anh cũng chưa biết, anh vẫn luôn luôn chờ đợi và tìm kiếm. Nếu tử thần đến tìm anh, thì với lòng can đảm cùng tất thảy những nỗi phiền muộn của mình, anh sẽ chết đi mà vẫn chẳng ngạc nhiên rằng tại sao phải sớm từ giã thế giới này đến thế. Còn cậu, cậu sẽ chào đón tử thần như một điều cần thiết, với ý thức rằng trên toàn bộ cõi đời này không còn có quả hoa nào cậu chưa được nếm. Cậu sẽ chẳng vội đâu, nhưng cũng chẳng dùng dằng, cậu chỉ cố gắng làm sao cho tới phút cuối mình vẫn được vui vẻ. Trên cuộc đời này có những người hoài nghi mà vui vẻ. Đối với cậu, bọn khắc kỷ chỉ là lũ ngốc, nhưng ít ra, chủ nghĩa khắc kỷ cũng tôi luyện con người, còn bọn Thiên chúa giáo của anh thì chỉ mang đến cho thế giới nỗi buồn, nỗi buồn trong cõi đời này cũng giống như những cơn mưa trong thiên nhiên vậy. Anh có biết cậu vừa dò hỏi được chuyện gì không? Trong cuộc vui mà Tygelinux tổ chức, sẽ có những nhà chứa gái bố trí trên bờ hồ Agryppa, trong đó tụ tập đám đàn bà con gái từ những gia đình trâm anh thế phiệt nhất Roma. Lẽ nào không có lấy một cô nàng đủ xinh đẹp để có thể khiến anh vui sướng? Sẽ có cả những nàng trinh nữ lần đầu tiên bước vào đời với tư cách các… tiên nữ! Đế quốc La Mã của chúng ta là thế đó!... Trời ấm rồi! Ngọn gió phương nam sưởi ấm hồ nước và sẽ không làm những thân thể trần truồng phải xuýt xa đâu. Còn anh, hỡi chàng Narxyzơ, anh nên biết là không một người con gái nào cưỡng lại anh đâu. Không một nàng nào - kể cả các ni cô đồng trinh nữa.
Vinixius chỉ đập tay lên đầu giống như người đang vướng bận một điều gì suy tư nung nấu duy nhất.
Phải có phúc lắm cháu mới tìm được một thiếu nữ như thế.
Thế ai khiến cho anh phải đến nông nỗi này, nếu không phải là bọn tín đồ Thiên chúa giáo! Nhưng lũ người lấy cây thập ác làm biểu tượng cũng không khác gì đâu. Hãy nghe cậu nói này: Hi Lạp là đất nước tuyệt đẹp đã sản sinh ra sự thông tuệ của thế giới, chúng ta thì tạo ra sức mạnh, thế còn theo anh cái giáo thuyết kia có thể tạo nên được cái gì? Nếu anh biết, xin hãy giải thích cho cậu, bởi vì thề có thần Ponlukx, cậu không tài nào hiểu nổi.
Vinixius nhún vai:
Hình như cậu sợ rằng cháu sẽ trở thành tín đồ Thiên chúa.
Cậu chỉ sợ anh tự làm hư hỏng cuộc đời anh thôi. Nếu như anh không thể là Hi Lạp, thì hãy là La Mã: Hãy chiếm đoạt và tận hưởng! Sự điên rồ của chúng ta cũng có ý nghĩa nhất định, bởi trong nó chứa đựng chính cái tư tưởng này. Cậu khinh bỉ Râu Đỏ, bởi y chỉ là một thằng hề Hi Lạp. Giá như y cư xử cho ra một người La Mã, cậu sẽ xin thừa nhận y hoàn toàn có lý khi tự cho phép mình làm các trò điên loạn. Hãy hứa với cậu rằng, nếu giờ đây, khi về đến nhà, anh gặp một tên Thiên chúa giáo nào đó, thì anh sẽ thè lưỡi chế nhạo hắn. Nếu kẻ ấy lại trúng vào thầy thuốc Glaukox, chắc ông ra sẽ không lấy thế làm lạ đâu. Hẹn gặp lại anh tại hồ Agryppa.


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 31


Lính cấm vệ vây kín các khu rừng mọc quanh hồ Agryppa, ngăn không cho những đám người đông nườm nượp quấy rầy hoàng đế cùng các vị khách khứa của ngài, bởi người ta đồn rằng tất thảy những ai đáng được gọi là giàu có, thông minh hay xinh đẹp của Roma đều có mặt tại bữa tiệc này, bữa tiệc không tiền khoáng hậu trong lịch sử thành bang.
Tygelinux muốn tạ ơn hoàng đế đã hoãn đi Akhai, đồng thời muốn vượt qua đầu tất cả những người từ trước đến nay đã từng tiếp Nerô, y muốn chứng minh cho hoàng đế thấy rằng không có kẻ nào biết cách làm cho hoàng đế vui sướng như y. Nhằm mục đích ấy, ngay trong lúc đang cùng hoàng đế chơi bời ở Neapolix, rồi sau đó Beneventơ, y đã tiến hành chuẩn bị và gửi đi các mệnh lệnh đòi hỏi người ta phải mang từ các xứ sở xa xôi hẻo lánh nhất của thế giới tất cả các thứ từ lông thú, chim chóc, các loài cá hiếm, các loài cây quý, không kể các đồ dùng quý giá và lụa là gấm vóc sẽ dùng để trang hoàng cho bữa tiệc này. Thu nhập của hàng tỉnh chỉ đủ thỏa mãn những ý muốn ngông cuồng, song vị sủng thần nhiều thế lực này không thèm biết đến điều ấy. Thế lực của y mỗi ngày một lớn. Đối với Nerô, có thể Tegelinux chưa phải là kẻ đáng yêu hơn những người khác, nhưng càng ngày hắn càng trở nên cần thiết hơn. Ông Petronius hơn hẳn hắn về dung mạo, trí lực, khiếu hài hước và ông biết cách làm hoàng đế vui lòng trong khi trò chuyện, song không may cho ông, trong những lĩnh vực đó ông cũng hơn hẳn cả hoàng đế nữa, điều đó khiến cho ngài nổi lòng ghen tỵ. Trong mọi chuyện, ông lại không chịu cam tâm làm một công cụ ngoan ngoãn. Hoàng đế e sợ ý kiến của ông trong việc bàn định về thẩm mỹ. Với Tegelinux, hoàng đế không bao giờ cảm thấy cần giữ ý gì cả. Chỉ riêng tên gọi arbiter elegantiarum mà người ta tặng cho ông Petronius cũng đã động chạm đến lòng tự ái của Nerô, bởi vì, liệu có kẻ nào khác, nếu không phải chính hoàng đế, có quyền mang cái tên ấy? Tuy nhiên, Tygelinux cũng đủ thông minh để hiểu được những sự khiếm khuyết của mình và thấy rằng không thể chọi nổi với ông Petronius. Lukan hay những người khác trội hơn về sắc diện, về tài năng hay học vấn, hắn bèn quyết định làm họ lu mờ bằng tính nhu thuận trong phục dịch của mình mà trước hết, bằng sự xa hoa đến nỗi trí tưởng tượng của chính Nerô cũng phải sửng sốt.
Vì vậy, hắn truyền cho bầy tiệc trên một chiếc bè khổng lồ được cổn bằng những dầm gỗ dát vàng, các mép bè viền những vỏ trai xà cừ tuyệt mỹ được vớt từ Hồng Hải và Ấn Độ Dương, long lanh ngàn sắc ngọc, lấp lánh ánh cầu vồng. Hai đầu bè phủ đầy những khóm cọ, những cụm hoa sen và hoa hồng đang nở rộ, trong đó ẩn giấu những vòi phun nước thơm, các pho tượng thần và những chiếc lồng vàng, lồng bạc nhốt đầy chim chóc muôn sắc nghìn mầu. Giữa bè đựng một chiếc lều khổng lồ, hay nói đúng cho hơn, đó chỉ là một cái nóc lều bằng vóc Xvri màu đỏ thẫm, được căng trên những chiếc cột bằng bạc để khỏi làm vướng tầm mắt. Bên dưới sáng long lanh như mặt trời là các bàn tiệc được bày biện cho thực khách với tầng tầng lớp lớp các thứ đồ dùng bằng thủy tinh Alecxanđria, bằng pha lê và những thức đựng vô giá cướp được từ Italia, Hi Lạp và Tiểu Á mang về. Chiếc bè trông tựa một hòn đảo hay một khu vườn, do các loài cây cỏ tập trung trên đó. Nó được nối bằng những sợi dây màu vàng và đỏ tươi với những con thuyền làm theo hình cá, thiên nga hay hồng hạc. Trong đó, ngồi bên những mái chèo đủ màu sắc là các nô tỳ và họ hoàn toàn khỏa thân, thân hình có những đường nét tuyệt đẹp, tóc được búi gọn theo kiểu phương Đông hay choàng trong mạng vàng. Khi Nerô cùng Poppea và đám cận thần đến chiếc bè chính, ngồi vào dưới mái lều màu đỏ thắm, đám thuyền kia liền chuyển động, những mái chèo khua nước, những sợi dây vàng căng ra, chiếc bè mang theo bàn tiệc và khách khứa bắt đầu chuyển động đi vòng quanh mặt hồ. Vây chung quanh bè là những chiếc thuyền khác, với những chiếc bè nhỏ hơn chứa đầy kỳ nữ chơi thụ cầm và đàn tranh, những tấm thân trắng hồng của họ, trên nền trời xanh nước biếc, trong ánh sáng chói lọi của các thứ nhạc cụ làm bằng vàng tuyền, dường như cũng thấm đẫm sắc xanh và ánh vàng, đổi thay và bừng nở như những đóa hoa.
Tù các lúm cây ven bờ, từ những ngôi nhà kỳ dị được xây dựng một cách hài hòa thấp thoáng giữa những lùm cây xanh tốt, cũng vang lên tiếng đàn, tiếng hát. Vang vọng bốn chung quanh, vang vọng khắp khu rừng, hồi âm mang đi khắp nơi tiếng tù cùng tiếng kèn đồng. Ngồi giữa nàng Poppea và chàng Pilagorax, chính hoàng đế cũng phải thấy thán phục, đặc biệt là khi giữa đám thuyền chợt xuất hiện những nô tỳ trẻ măng giả làm tiên cá, trên mình chỉ quấn lưới màu xanh làm theo hình vẩy cả. Hoàng đế không tiếc lời khen ngợi Tygelinux. Tuy vậy, theo thói quen, ngài vẫn nhìn sang ông Petronius, muốn được biết ý kiến của vị “trọng tài” này, song suốt một hồi lâu ông vẫn giữ vẻ thản nhiên, mãi sau, bị gặng hỏi, ông mới đáp:
Tâu hoàng thượng, thần nghĩ rằng mười nghìn trinh nữ khỏa thân gây ít ấn tượng hơn là một người.
Tuy thế, hoàng đế vẫn thích “bữa tiệc bơi” này, bởi vì nó là một thứ gì đó mới lạ. Vả chăng, như thường lệ, người ta mang ra đủ các món nem công chả phượng, đủ các của ngon vật lạ đến nỗi ngay cả trí tưởng tượng của Apixius cũng đành phải chịu thua, một khi ông được trông thấy chúng, rồi rượu nho không biết bao nhiêu loại, khiến cho chàng Othon - người đã từng bày ra tới tám mươi loại rượu nho - chắc cũng phải ẩn xuống nước tránh mặt vì xấu hổ, nếu như chàng trông thấy sự xa hoa nhường này. Ngoài phụ nữ, chỉ có các cận thần mới được ngồi vào bàn tiệc, trong số đó, chàng Vinixius khiến tất thẩy những kẻ khác bị lu mờ bởi vẻ đẹp của chàng. Ngày trước, thân hình và khuôn mặt của chàng để lộ quá rõ dáng vẻ một người lính nhà nghề, giờ đây, những dằn vặt nội tâm và sự đau đớn thể xác mà chàng trải qua đã tạc lại dung mạo của chàng. Ngỡ như có bàn tay tinh tế của một nghệ nhân điêu khắc trác việt nào đó vừa lướt qua. Sắc da chàng mất đi vẻ phong trần ngày trước, chỉ còn lại những ánh vàng nhạt của đá cẩm thạch xứ Numiđi. Đôi mắt chàng trở nên to hơn, u buồn hơn. Riêng lông ngực chàng vẫn giữ lại dáng đồ sộ thửa nào, dường như chúng được tạo nên chỉ để mang giáp trụ. Song bên trên bộ ngực của người lính chiến đoàn đó bừng sáng cái đầu như của một vị thần linh Hi Lạp, hay chí ít cũng là đầu của một nhà quý tộc lá ngọc cành vàng, tinh tế và tuyệt mỹ. Khi bảo chàng rằng không một ai trong đám các nữ cận thần có thể và muốn cưỡng lại chàng, ông Petronius đã tỏ ra là một người giàu kinh nghiệm. Giờ đây, toàn bộ đám phụ nữ đều ngắm nghía chàng, không loại trừ ả Poppea lẫn ni cô đồng trinh Rubria, người mà hoàng đế muốn có mặt trong bữa tiệc.
Chẳng mấy chốc, rượu nho ướp lạnh bằng tuyết lấy từ trên đỉnh núi về đã khiến cho trái tim và đầu óc của các thực khách nóng bừng bừng. Từ đám cây cối rậm rạp ven bờ mỗi lúc một nhô ra nhiều thêm những con thuyền mới, được làm theo hình bọ ngựa hay chuồn chuồn kim. Mặt hồ vốn xanh biếc giờ đây trông như có ai đó vừa ném xuống những cành hoa, hay như có những đàn bướm sặc sỡ vừa đậu xuống. Đây đó, trên đám thuyền bè vút lên những cánh chim cây hay các loài chim khác được mang từ Ấn Độ và Phi Châu về, chúng được buộc vào những sợi chỉ bạc hoặc thanh thiên. Vầng dương đã đi qua phần lớn bầu trời, nhưng vì bữa tiệc diễn ra vào thượng tuần tháng năm, nên ngày hôm ấy rất ấm áp, thậm chí hơi nóng nữa. Mặt hồ óng ánh dưới những mái chèo khua nước theo nhịp nhạc, không gian im không một hơi gió thoảng, những khóm cây đứng lặng yên dường như đang lắng nghe, đang say ngắm những gì diễn ra trên mặt nước. Chiếc bè vẫn di động quanh hồ, mang theo những thực khách mỗi lúc một say sưa, một ồn ã hơn. Tiệc chưa tàn quá nửa thì người ta đã không còn giữ được trật tự như lúc ai nấy còn ngồi bên bàn nữa. Chính hoàng đế làm gương trước, ngài đứng dậy ra lệnh cho Vinixius phải nhường chỗ cho ngài, rồi sau khi chiếm lĩnh bàn tiệc của chàng bên cạnh Rubria, ngài bắt đầu thì thầm điều gì đó vào tai nàng trinh nữ. Bây giờ Vinixius lại ở bên cạnh Poppea, lát sau hoàng hậu vươn tay yêu cầu chàng cài lại chiếc vòng tay của nàng bị lỏng và khi chàng thực hiện việc ấy với hai bàn tay run run nàng bèn ném cho chàng từ dưới đôi hàng mi rậm một cái nhìn như e thẹn, rồi lắc mái tóc vàng như muốn rũ bỏ điều chi. Trong khi đó, vầng dương mỗi lúc một to hơn, đỏ hơn và từ tự lặn khuất sau đỉnh rừng, khách khứa phần lớn đều đã say mềm cả. Lúc này chiếc bè lượn sát vào bờ, trên bờ, thấp thoáng giữa các khóm cây lùm hoa là những tốp người mặc giả dạng thần đồng hay dương thần Xatyr đang thổi sáo, chơi đàn muntan và gõ trống, cùng những tốp thanh nữ giả làm các nữ thủy thần của hồ ao sông suối. Rồi màn đêm buông xuống trong những tiếng kêu say khướt chào đón nữ thần trăng Luna vang lên từ dưới mái lều, cùng lúc ấy trong những lùm cây sáng lên hàng nghìn ngọn đèn. Từ các nhà chứa dựng bên bờ hồ ùa ra những chùm ánh sáng, trên bao lơn hiện ra những tốp người mới cũng khỏa thân, gồm vợ và con gái của các gia đình trâm anh thế phiệt nhất Roma. Họ bắt đầu mời mọc chèo kéo đám thực khách bằng lời nói và cử chỉ. Rồi chiếc bè cặp bờ, hoàng đế và các cận thần vào rừng, tản mát vào các nhà chứa, vào các túp lều ẩn dưới những lùm cây, vào các động đá được người ta dựng lên giữa các nguồn suối và đài phun nước. Mọi người bị cơn điên chế ngự, không ai biết hoàng đế lẩn đi đâu, kẻ nào là nguyên lão nghị viện, ai là hiệp sĩ, còn ai là diễn viên nhào lộn hay nhạc công. Các vị thần đồng nội và các dương thần Xatyr hò hét đuổi theo các tiên nữ thủy thần. Người ta dùng các thần tượng đập vào đèn nến cho chúng tắt ngấm đi. Một vài khoảng rừng chìm vào bóng tối. Chỗ nào cũng nghe thấy những tiếng kêu ầm ĩ, những giọng cười hỉ hả, tiếng thì thào khẩn thiết, những hơi thở hổn hển. Quả thực chưa bao giờ Roma được chứng kiến một cảnh tượng tương tự.
Chàng Vinixius không say tới mức như trong bữa tiệc ở hoàng cung khi có Ligia, nhưng đầu óc chàng cũng mờ mịt và say ngắm bởi cảnh tượng đang diễn ra chung quanh và rốt cục chàng cũng bị nỗi thèm khát lạc thú xâm chiếm. Lao mình vào rừng, chàng cũng chạy tế lên như những người khác, tìm xem nữ thủy thần nào xinh đẹp hơn cả. Chốc chốc những đám thiếu nữ lại vụt qua cạnh chàng với tiếng hát véo von và những tiếng hò hét khi bị săn đuổi bởi các dương thần, thần đồng nội, các nguyên lão và hiệp sĩ, bởi những hồi âm của tiếng nhạc. Cuối cùng, chàng nhìn thấy một đoàn trinh nữ do một nàng đóng giả nữ thần Điana cầm đầu, chàng bèn nhảy phắt lại gần để nhìn kỹ hơn và đột nhiên trái tim chàng như ngừng đập trong lồng ngực. Chàng ngỡ như nhận ra chính Ligia trong hình dáng vị nữ thần mang vầng trăng khuyết trên đầu.
Bọn họ vây quanh chàng thành một đám rước điên loạn, rồi lát sau, hẳn là muốn được chàng rượt theo, họ liền chạy tán loạn như một đàn nai. Nhưng chàng chỉ đứng sững tại chỗ với trái tim đập dồn, ngực chàng như ngừng thở, vì mặc dù đã nhận ra rằng nữ thần Điana nọ không phải là Ligia, thậm chí nhìn gần thần không hề giống nàng, nhưng ấn tượng quá mãnh liệt đã khiến chàng kiệt sức. Đột nhiên chàng thấy nhớ Ligia vô bờ bến, nỗi nhớ mà chưa lần nào trong đời chàng được biết, đồng thời tình yêu dành cho nàng chợt như một đợt sóng khổng lồ trào dâng trong ngực chàng. Đối với chàng, chưa bao giờ nàng lại quý giá trong sạch và thân thương như ở giữa khu rừng điên loạn và trụy lạc đến man dã này. Trước đó một giây thôi, chàng còn muốn được nốc cạn cốc rượu kia, được tham gia các trò buông thả bản năng vô sỉ nọ, giờ đây chàng chợt thấy kinh tởm và gớm ghiếc nó. Chàng thấy nghẹt thở vì ghê lợm, ngực chàng thèm không khí, mắt chàng khát những vì sao không hề bị che lấp bởi cái u tối của khu rừng kinh khủng này, chàng quyết định chạy trốn. Song khi chàng vừa định cất bước thì chợt trước mắt chàng hiện ra lừng lững một bóng người đầu che chàng mạng. Bóng đó tỳ lên vai chàng, vừa thì thào vừa phả vào mặt chàng hơi thở nồng nàn nóng hổi:
Em yêu chàng!... Đi nào chàng! Không ai thấy chúng mình đâu! Nhanh lên chàng!
Vinixius như sực tỉnh giấc mơ:
Nàng là ai?
Nàng ép cả bộ ngực vào người chàng nài nỉ:
Mau lên chàng! Chàng nhìn xem, nơi đây thanh vắng biết bao, em yêu chàng. Đi nào, chàng!
Nhưng nàng là ai? - Vinixius lại hỏi.
Chàng đoán xem!
Nói đoạn nàng ép chặt đôi môi nàng qua tấm chàng mạng vào môi chàng, đồng thời ghì đầu chàng vào sát đầu mình cho đến khi nàng ngột thở mới chịu dứt ra khỏi mặt chàng.
Đêm ái tình!... Đêm ghi ngớ! - nàng thốt ra, gấp gáp hớp hớp không khí - Đêm nay chàng có quyền… Em là của chàng!
Nhưng nụ hôn kia khiến cho Vinixius thảng thốt và khiến lòng chàng chợt tràn ngập một nỗi ghê tởm mới. Tâm hồn và trái tim chàng trai đang ở một nơi hoàn toàn khác hẳn nơi đây, đối với chàng, trên đời này không hề tồn tại một thứ gì khác ngoài Ligia.
Chàng bèn đưa ta đẩy cái bóng người che chàng mạng kia ra mà bảo:
Dù nàng có là ai đi nữa, ta đã yêu người khác và không hề thèm muốn nàng.
Bóng đen ghé đầu sát lại gần chàng:
Hãy hé mạng ra!
Song chính vào lúc ấy, lá của những cây sim thơm gần đấy chợt kêu sột soạt, cái bóng vụt biến mất như một giấc mơ, từ xa xa chỉ còn nghe vẳng lại tiếng nói cười, chứa chất một vẻ gì đó thật lạ lùng và đầy đe dọa.
Ông Petronius xuất hiện trước mặt Vinixius.
Cậu đã nghe và thấy tất cả - ông nói.
Vinixius đáp:
Ta đi khỏi đây thôi!...
Họ bước đi. Qua những nhà chứa sáng đèn, một khoảng rừng, một dẫy lính cấm vệ cưỡi ngựa và tìm lấy những chiếc kiệu.
Cậu sẽ ghé vào chỗ anh - ông Petronius bảo.
Họ cùng ngồi vào kiệu. Dọc đường cả hai đều nín lặng. Mãi đến lúc vào tới gian chính sảnh thông thiên nhà Vinixius, ông Petronius mới nói:
Anh có biết đó là ai không?
Rubria ư? - Vinixius hỏi, giật mình khi chợt nghĩ rằng Rubria là ni cô đồng trinh.
Không.
Vậy thì ai?
Ông Petronius hạ giọng:
Ngọn lửa thiêng của nữ thần Vexta đã bị ô uế rồi, bởi Rubria đã ngủ cùng hoàng đế. Còn người nói chuyện với anh là…
Ông kết thúc còn khẽ hơn nữa:
- Diva Augusta!(1)
Im lặng một hồi lâu.
Trước mặt hoàng hậu - ông Petronius nói tiếp - hoàng đế đã không kìm nổi dục vọng của y đối với Rubria, vì vậy có thể hoàng hậu muốn ăn miếng trả miếng, nhưng cậu đã phá đám vì lo rằng nếu anh biết đó chính là hoàng hậu mà vẫn cự tuyệt ả, thì anh sẽ tiêu đời, vô phương cứu chữa, anh, Ligia và rất có thể cả ngay chính cậu nữa!
Nhưng Vinixius chợt nổi khùng:
Xin đủ cả La Mã. Hoàng đế, tiệc tùng, hoàng hậu, Tygelinux cùng tất thảy các người! Tôi ngạt thở lắm rồi! Không thể sống thế này được nữa! Không thể! Cậu hiểu không?
Anh mất hết đầu óc, lý trí và mực thước rồi!... Vinixius!
Tôi chỉ yêu mỗi mình nàng thôi!
Thế thì sao?
Tôi không thèm một tình yêu nào khác, tôi không thèm cuộc sống của các người, tiệc rượu của các người, thói vô sỉ của các người, tộc ác của các người!
Anh làm sao thế? Anh thành tín đồ Thiên chúa giáo rồi hả?
Chàng trai ôm lấy đầu, lặp đi lặp lại như tuyệt vọng.
- Chưa đâu! Chưa đâu
Chú thích:
(1) Hoàng hậu


Đăng nhập để trả lời
0
H. Sienkievich

Quo Vadis

Dịch giả và giới thiệu: Nguyễn Hũu Dũng

T1 - Chương 32


Ông Petronius nhún vai bỏ về nhà, vô cùng phật ý. Giờ đây đến lượt ông mới nhận thấy rằng ông và Vinixius đã thôi không còn hiểu nhau nữa, tâm hồn cả hai hoàn toàn xa cách nhau. Trước kia ông Petronius có ảnh hưởng rất lớn đối với chàng lính trẻ ấy. Trong tất cả mọi lĩnh vực ông đều là mẫu mực của chàng, và thường thường, chỉ cần vài lời châm chọc của ông cũng đủ khiến chàng làm hay không làm một điều gì đó. Giờ đây chẳng còn gì hết, đến nỗi thậm chí ông Petronius cũng không muốn thử dùng những biện pháp xưa kia từng dùng, ông cảm thấy sự trào lộng và châm biếm của ông sẽ trượt, không mang lại chút hiệu quả nào, trên lớp vỏ mới mà ái tình và sự tiếp xúc với thế giới Thiên chúa giáo không thể hiểu nổi kia đã phủ lên trên tâm hồn chàng Vinixius. Con người hoài nghi nhiều kinh nghiệm hiểu rằng thế là ông đã đánh mất chìa khoá mở cửa tâm hồn chàng trai. Điều đó khiến ông phật ý, thậm chí lo sợ, nỗi lo được nhân thêm lên bởi sự kiện đêm nay. “Nếu đó không phải là cơn thèm muốn thoảng qua của Hoàng hậu, mà là một dục vọng lâu bền - ông Petronius nghĩ - thì sẽ có hai khả năng: hoặc là Vinixius sẽ không cưỡng nổi hoàng hậu và có thể bị mất mạng qua một sự tình cờ nào đó, hoặc là, - điều với thằng bé hôm nay xem ra có vẻ nhiều khả năng hơn - nó sẽ cưỡng lại, khi đó chắc chắn nó sẽ bị mất mạng, cùng với nó có thể là cả ta nữa bởi ta là ruột thịt của nó, một khi hoàng hậu đã thù ghét cả gia đình ta, ả sẽ ném quả cân ảnh hưởng của ả sang đĩa cân của Tygelinux… “ Dù thế này hay thế kia cũng đều dở cả. Ông Petronius là một người can đảm và không hề sợ chết, nhưng ông cũng chẳng hề chờ đợi điều gì ở cái chết, ông không muốn gọi nó đến sớm. Sau giờ lâu cân nhắc, rốt cuộc ông quyết định rằng, tốt nhất và an toàn nhất là nên đưa Vinixius rời khỏi Roma để đi du ngoạn. Ôi! Giá như ông có thể thêm được cho chàng cái cô nàng Ligia để cùng đi thì chắc chắn chàng sẽ vui lòng thực hiện ngay điều đó. Song nếu không có nàng, ông vẫn cho rằng sẽ chẳng mấy khó khăn trong việc thuyết phục chàng trai lên đường. Ông sẽ cho phao lên ở điện Palatyn tin tức về bệnh tình của Vinixius và chắc sẽ đẩy lùi được hiểm hoạ cả cho chàng lẫn cho ông. Thực ra hoàng hậu cũng không rõ Vinixius có nhận ra ả không, có thể ả cho rằng không, vậy cho đến lúc này lòng tự ái của ả cũng không bị tổn thương nhiều lắm. Còn trong tương lai thì có thể sẽ khác, và cần phải ngăn chặn trước. Ông Petronius muốn tranh thủ thời gian đã, vì ông hiểu rằng, một khi Hoàng đế đã lên đường đi Akhai, thì Tygelinux - kẻ không hiểu chút gì về lĩnh vực nghệ thuật - sẽ lùi xuống bình diện thứ hai và sẽ mất hết ảnh hưởng. Còn một khi đã ở Hi Lạp thì ông Petronius hoàn toàn tin chắc vào sự thắng lợi của mình trước các địch thủ.
Ông quyết định sẽ cảnh giác với Vinixius và lôi kéo chàng lên đường. Suốt mười mấy ngày sau đó, thậm chí ông còn suy nghĩ xem, nếu ông khiến được Hoàng đế ra sắc lệnh đuổi cổ hết các tín đồ Thiên chúa giáo ra khỏi Roma, thì Ligia sẽ phải rời bỏ thành phố cùng các tín đồ khác của Chúa Crixtux, đồng thời cả Vinixius cũng sẽ đi theo nàng. Khi ấy chẳng cần phải lôi kéo chàng nữa. Đó là một việc hoàn toàn có thể thực hiện được. Trước đây không lâu, khi người Do Thái bắt đầu làm loạn vì căm ghét dân Thiên chúa giáo, Hoàng đế Klauđius - vốn không phân biệt được bọn này với bọn kia - đã đuổi dân Do Thái đi. Vậy cớ chi Nerô lại không thể đuổi cổ dân Thiên chúa giáo? Roma sẽ đỡ chật chội hơn. Sau bữa “tiệc hơi” nọ, hàng ngày ông Petronius vẫn gặp Nerô tại cung điện Palatyn hoặc tại các gia đình khác. Rất dễ dàng mớm cho Hoàng đế ý kia, bởi lẽ Hoàng đế chẳng bao giờ từ chối những lời tâu khuyên đem lại thiệt hại về của hoặc về người cho một kẻ nào đó. Sau khi quyết định chín muồi, ông Petronius sắp xếp toàn bộ kế hoạch. Ông sẽ bố trí một bữa tiệc tại nhà, trong tiệc ông sẽ thuyết phục được Hoàng đế ra sắc lệnh. Thậm chí ông còn thầm hy vọng rằng Hoàng đế sẽ giao cho chính ông thực hiện việc đó. Khi ấy, ông sẽ đưa Ligia cùng tất cả những kẻ được cô người yêu của chàng Vinixius quý mến - nói thí dụ - đến Balae, ở đó họ có thể mặc sức yêu nhau và chơi trò Thiên chúa.
Dạo này ông thường xuyên tới thăm Vinixius, trước hết là vì - mặc dù tính ích kỷ La Mã của mình - ông vẫn không sao dứt bỏ tình gắn bó với chàng trai, và sau nữa, ông muốn đến để lôi kéo chàng lên đường đi du ngoạn. Vinixius giả vờ ốm, chàng không hề ló mặt tới cung điện Palatyn, nơi hàng ngày hàng giờ nảy sinh những dự định mới. Một ngày kia, rốt cuộc ông Petronius nghe chính miệng Hoàng đế nói rằng ngài nhất quyết sẽ đi Anxium trong ba ngày, ngay hôm sau ông lập tức bảo cho Vinixius biết điều đó.
Nhưng chàng trai đã chìa cho ông xem bản danh sách những người được vời đi Anxium mà sáng nay một nô lệ giải phóng của Hoàng đế vừa mang đến cho chàng.
- Trong danh sách có tên cháu và tên cậu, - chàng nói - lúc về nhà cậu, cậu sẽ nhận được một bản giống hệt thế này.
- Giá cậu không có tên trong số những kẻ được mời - ông Petronius đáp - thì điều đó có nghĩa là cần phải chết. Tuy nhiên cậu cho rằng điều đó sẽ không xảy ra trước chuyến đi Akhai đâu. Tại đó cậu sẽ rất cần cho Nerô.
Sau khi đọc kỹ bản danh sách, ông nói:
- Chúng ta vừa chân ướt chân ráo về đến Roma thì đã lại phải rời nhà bỏ cửa lê bước đến Anxium. Nhưng cần phải thế! Bởi vì đây không những chỉ là lời mời, mà còn là mệnh lệnh nữa.
- Nếu có ai không tuân theo thì sao?
- Hắn sẽ nhận được một lời mời loại khác: mời đi một chuyến dài hơn, chuyến đi không có ngày trở lại. Tiếc là anh đã không nghe lời khuyên của cậu mà ra đi từ trước. Bây giờ thì anh sẽ phải đi Anxium thôi.
- Bây giờ cháu sẽ phải đi Anxium… Cậu xem đấy, chúng ta đang sống trong một thời đại ra sao, bản thân chúng ta là những tên nô lệ khốn nạn đến thế nào!
- Đến tận hôm nay anh mới nhận ra điều đó sao?
- Không ạ! Nhưng cậu thấy không, cậu đã từng chứng minh rằng giáo thuyết Thiên chúa không phải là bạn của sự sống, bởi vì nó ràng buộc cuộc sống. Nhưng liệu những mối dây ràng buộc ấy có cứng rắn hơn những xiềng xích mà chúng ta đang phải chịu đựng hay không? Cậu bảo rằng “Hi Lạp tạo nên sự thông tuệ và cái đẹp, còn La Mã sản sinh sức mạnh”. Vậy cái sức mạnh của chúng ta đâu rồi?
- Anh hãy cho gọi lão Khilon đi. Hôm nay cậu không muốn lý sự chút nào. Thề có Herkulex! Đâu phải cậu tạo ra cái thời thế này, cậu cũng chẳng phải chịu trách nhiệm về nó. Ta hãy nói tới Anxium thì hơn. Anh nên biết là tại đó có một mối hiểm hoạ to lớn đang chờ anh, đối với anh, việc đấu sức với gã Urxux - người đã bóp chết tươi Kroton - còn dễ hơn là đi tới đó, thế nhưng anh không thể không đi.
Vinixius phẩy tay xem thường và nói:
- Hiểm hoạ! Tất cả chúng ta đều lội bì bõm trong bóng tối của thần chết, chốc chốc lại có một cái đầu ngập sâu vào bóng tối đó.
- Liệu cậu có cần kể cho anh tên của tất cả những kẻ chỉ có một mẩu nhỏ trí óc, ấy thế mà qua tất thảy các triều đại từ Tiberius, Kaligula, Klauđius và Nerô họ cũng vẫn sống trọn tuổi tám hoặc chín mươi hay không? Anh cứ lấy một mình lão già Đomixius Apherơ kia làm thí dụ. Lão ta cứ bình thản mà già, mặc dù suốt cả cuộc đời lão chỉ là một thằng ăn cắp, một tên đểu cáng không hơn không kém.
- Có thể là vì thế! Có thể chính vì thế đấy! - Vinixius đáp
Rồi chàng nhìn kỹ vào bản danh sách và nói:
- Tygelinux, Vatynius, Xektux Aphơrykanux, Aquilinux Regulux, Xuilius Neruninux, Eprius Marxelux vân vân và vân vân! Cả một lũ khốn nạn và đểu giả!… Vậy mà nói rằng chúng thống trị thế giới!… Tốt hơn chăng, nên để cho bọn chúng chở một tượng thần Ai Cập hay Xiry nào đó đi khắp các thị trấn, gõ đàn rung, kiếm mẩu bánh mì bằng nghề bói toán hay làm xiếc?…
- Hoặc trình diễn những con khỉ thông thái, những con chó biết đếm hoặc những con lừa biết thổi sáo - ông Petronius nói thêm - Tất cả đều là sự thật, nhưng chúng ta hãy nói về một chuyện quan trọng hơn. Hãy tập trung chú ý lắng nghe cậu nói đây này. Cậu đã nói ở cung điện Palatyn rằng anh bị ốm, không thể rời nhà được, ấy thế mà tên anh vẫn cứ được ghi vào danh sách, điều đó chứng tỏ rằng có kẻ nào đó không tin lời cậu, đã cố tình đạt bằng được chuyện kia. Nerô chẳng cần chi điều ấy, bởi lẽ đối với Hoàng đế anh chẳng qua cũng chỉ là một người lính, nhiều lắm cũng chỉ có thể chuyện trò về việc đua ngựa trong hý trường, anh chẳng có tý ý niệm gì về thi ca và âm nhạc cả. Có thể chính Poppea đã cố gắng ghi bằng được tên anh vào danh sách, mà điều đó có nghĩa là lòng ham muốn của ả đối với anh không phải là một cơn si mê thoảng qua, cô ả khao khát chinh phục bằng được anh đấy.
- Ả quả là một hoàng hậu táo gan!
- Táo tợn thì hẳn rồi, vì ả rất có thể bị mất mạng không phương cứu chữa. Xin nữ thần Venux hãy khiến cho ả mau chóng say mê một tình yêu mới; nhưng khi ả còn thèm muốn anh, thì anh cần hết sức thận trọng. Gã Râu Đỏ cũng bắt đầu nhàm chán cô ả rồi, bây giờ y thích Rubria hoặc chàng Pitagorax kia, nhưng nếu chạm tự ái, y có thể trút lên đầu anh và ả sự trả thù khủng khiếp nhất.
- Lúc ở trong rừng cháu không biết là chính hoàng hậu đang trò chuyện với cháu, nhưng cậu đã nghe và biết đấy, cháu đã trả lời dứt khoát với ả rằng cháu yêu một người nào khác và không thèm ả.
- Cầu tất cả các vị thần linh ở âm ty địa ngục, xin anh chớ đánh mất nốt chút lí trí nhỏ nhoi mà bọn Thiên chúa giáo còn để sót lại cho anh! Tại sao lại có thể ngần ngừ khi phải lựa chọn giữa cái có thể bị mất mạng với cái chắc chắn bị mất mạng? Phải chăng cậu chưa nói với anh rằng nếu động chạm đến lòng tự ái của hoàng hậu thì chẳng có cách nào cứu anh cả? Thề có Hađex! Nếu cuộc sống khiến anh kinh tởm, tốt hơn cả anh hãy tự mở phanh mạch máu hoặc lao người vào lưỡi gươm ngay đi thì hơn, bởi vì khi đã xúc phạm tới Poppea, thì anh sẽ gặp phải một cái chết kém nhẹ nhõm hơn nhiều. Hồi trước, ít ra cậu cũng có thể trò chuyện cùng anh! Anh muốn gì cơ chứ? Anh có thiệt gì không nào? Chuyện đó có ngăn cản anh không yêu nàng Ligia của anh đâu? Mà cũng cần nhớ rằng, Poppea đã trông thấy nàng tại cung điện Palatyn, ả dễ dàng suy ra rằng anh dám vứt bỏ cái ân huệ cao cả nhường kia là vì ai. Và khi đó, ả sẽ tróc nã bằng được Ligia, dù nàng có chui xuống lòng đất trốn tránh chăng nữa. Anh sẽ làm thiệt mạng không chỉ bản thân anh mà cả Ligia nữa hiểu không?
Vinixius nghe nhưng dường như đang nghĩ về một việc khác, mãi sau chàng mới nói:
- Cháu phải gặp nàng.
- Ai? Ligia ư?
- Ligia.
- Anh có biết hiện nàng đang ở đâu không đã?
- Không ạ.
- Vậy ra anh sẽ lại sục tìm nàng khắp các nghĩa địa cổ và ở khu phố Zatybre chăng?
- Cháu cũng không biết, nhưng nhất định phải gặp được nàng.
- Được thôi, dù nàng là tín đồ Thiên chúa giáo thật đấy, nhưng rất có thể nàng sẽ tỏ ra biết điều hơn anh, mà chắc chắn là thế, nếu nàng không muốn anh bị mất đầu.
Vinixius nhún vai:
- Chính nàng đã cứu cháu thoát khỏi tay Urxux.
- Vậy thì anh hãy mau chân lên, vì Râu Đỏ không trì hoãn chuyến đi đâu. Và từ Anxium ngài cũng vẫn có thể quyết định được bản án tử hình kia mà
Song Vinixius không nghe nữa. Chỉ còn một suy nghĩ duy nhất chế ngự chàng: gặp bằng được Ligia? Chàng suy nghĩ lao lung tìm phương kế.
Lúc đó chợt xẩy ra một chuyện tình cờ có thể gạt bỏ hết mọi trở ngại. Đó là việc ngay ngày hôm sau, lão Khilon bất chợt đến gặp chàng.
Lão đến, nghèo nàn và rách rưới, với những dấu ấn của cái đói hiện rõ trên nét mặt và trong bộ quần áo tả tơi song đám gia nhân - hồi trước vốn đã nhận được lệnh để cho lão vào nhà bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm - không dám giữ lão lại. Lão bước thẳng vào chính sảnh, dừng lại trước mặt Vinixius và nói:
- Cầu các vị thần linh ban cho ngài sự bất tử và chia sẻ cùng ngài trị vì thế giới.
Thoạt tiên Vinixius muốn hạ lệnh quẳng lão khỏi cửa. Song chàng chợt nghĩ ra rằng lão già Hi Lạp có thể biết đôi điều về Ligia, sự tò mò đè bẹp nỗi gớm ghiếc của chàng.
- Ngươi đấy ư? - chàng hỏi - Có chuyện gì xẩy ra với ngươi thế?
- Hỏng cả, thưa con trai của thần Jupiter - lão Khilon đáp - Đức hạnh chân chính là món hàng mà ngày nay chẳng ai thèm hỏi đến, nhà thông thái chân chính đành phải hài lòng với việc năm ngày một lần có chút đỉnh mua chiếc đầu cừu của gã hàng thịt, rồi mang về một cái gác xép để vừa gậm đầu cừu vừa chiêu bằng những dòng lệ lã chã. Ôi! Thưa ngài! Tất cả những gì ngài ban cho, tôi dùng hết vào việc mua sách vở tại hàng Atraktux, rồi sau đó bị chúng nó đánh cắp hết sạch, chúng nó phá tán hết của tôi. Con nô tỳ, nhẽ ra phải chép lại học thuyết của tôi, lại bỏ trốn, cuỗm theo phần ít ỏi còn sót lại của những gì mà sự hào phóng của ngài đã ban phát cho tôi. Tôi là một kẻ khốn cùng, nhưng tôi lại tự nhủ: ta còn biết đến với ai đây nếu không phải đến với ngài, hỡi Xerapiz, con người mà tôi yêu mến ngưỡng mộ, vì con người đó tôi đã liều cả sinh mạng của mình?
- Người đến làm chi? Mang theo điều gì?
- Tôi đến để cầu cứu, thưa Baan, và mang tới cho ngài sự bần hàn của tôi, những giọt nước mắt của tôi, tình yêu mến của tôi, và cuối cùng là những tin tức, mà vì lòng yêu ngài, tôi đã để tâm thu thập. Thưa ông chủ, ngài còn nhớ chứ, có lần tôi đã thưa với ngài rằng tôi từng nhượng lại cho một nô tỳ của ngài Petronius một sợi chỉ rút từ chiếc thắt lưng của chính nữ thần Venera xứ Paphox?… Giờ đây tôi biết sợi chỉ ấy đã giúp được điều gì cho nàng, và ngài, hỡi con đẻ của chính vầng Thái Dương, người biết rõ tất cả mọi chuyện xảy ra trong ngôi nhà ấy, hẳn ngài cũng biết giờ đây nàng Eunixe là ai ở đó. Tôi hãy còn một sợi chỉ như thế nữa. Tôi đã nâng niu giữ gìn nó cho chính ngài đấy, thưa ông chủ!
Nói đến đây lão chợt ngừng bặt khi nhận thấy cơn tức giận đang dồn tụ lại trên vành lông mày của Vinixius; muốn ngăn chặn trước sự bùng nổ của nó, lão vội vàng nói ngay:
- Tôi biết rõ nàng Ligia thánh thiện hiện đang ở đâu, tôi sẽ chỉ cho ngài, thưa ông chủ, cả ngôi nhà lẫn cái ngõ hẻm ấy.
Vinixius nén sự xúc động mà cái tin ấy mang đến cho chàng và hỏi:
- Nàng ở đâu?
- Tại nhà lão Linux, một thầy tu Thiên chúa tuổi tác. Nàng ở tại đó cùng gã Urxux, gã này vẫn đi làm như trước tại nhà ông chủ cối xay bột có tên gọi giống như viên quản nô của người, Đemax, thưa ông chủ… Vâng, Đemax. Gã Urxux làm việc ban đêm, vậy ban đêm ta hãy bao vây chặt ngôi nhà, sẽ không chạm trán hắn. Lão Linux thì già rồi, ngoài lão ta, trong nhà chỉ còn hai mụ đàn bà nhiều tuổi hơn lão mà thôi.
- Làm sao ngươi biết được tất cả những thứ ấy?
- Ngài có nhớ chăng, thưa ông chủ, dân Thiên chúa giáo đã tóm được tôi nhưng cũng đã tha cho tôi. Lão Glaukox quả thực đã nhầm khi tưởng tôi là nguyên nhân những nỗi bất hạnh của lão, nhưng lão lại tin vào chuyện đó và cho tới nay cũng vẫn tin, mặc dù vậy bọn họ vẫn tha cho tôi được sống. Vì vậy ngài cũng chớ ngạc nhiên nếu như lòng biết ơn tràn ngập trái tim tôi. Tôi vốn là người của những thời xa cũ tốt lành hơn. Vì vậy tôi tự nghĩ: liệu ta có nên chối bỏ những người bạn, những người ân nhân của ta hay chăng? Lẽ nào lòng ta có thể là sắt đá để không thăm hỏi dò la về họ, không biết những chuyện đang xảy ra với họ, không biết sức khoẻ của họ ra sao và hiện nay họ đang ở nơi nào? Thề có nữ thần Xybela Pexxinum! Tôi không nỡ lòng nào làm thế. Thoạt tiên tôi cũng e ngại họ có thể sẽ hiểu nhầm các ý định của tôi. Nhưng tình yêu mến đối với họ đã tỏ ra mạnh hơn nỗi lo sợ nhất là sự dễ dãi của họ trong việc tha thứ mọi điều xúc phạm đã cấp cho tôi thêm dũng khí. Tuy nhiên trước hết, tôi vẫn nghĩ đến ngài, thưa ông chủ. Chuyến đi hồi ấy của chúng ta kết thúc thất bại, nhưng một đứa con đẻ của thần tài Fortuna như ngài làm sao có thể tự bằng lòng với thất bại ấy? Tôi đã chuẩn bị sẵn cho chiến thắng của ngài: ngôi nhà ấy đứng đơn độc. Ngài có thể ra lệnh cho nô lệ vây chặt đến mức một con chuột nhắt cũng không lọt ra nổi. Ôi, thưa ngài! Thưa ông chủ. Nếu ngài muốn, thì ngay trong đêm nay, nàng công chúa có tấm lòng đại lượng kia sẽ về trong nhà ngài. Và một khi điều đó xẩy ra, xin ngài hãy lưu ý rằng đứa con trai vô cùng nghèo đói của cha tôi đã góp phần vào việc đó.
Máu dồn mạnh lên đầu Vinixius. Một lần nữa, miếng mồi hấp dẫn làm rung động toàn bộ cuộc sống của chàng. Chính thế. Đây là phương sách, lần này lại là phương sách hoàn toàn chắc ăn! Một khi chàng đã có được Ligia bên mình thì kẻ nào có thể cướp nàng được nữa? Một khi chàng đã biến được nàng thành người tình của mình, thì nàng còn cách gì nữa để không làm tình nhân mãi mãi? Mặc cho các thứ giáo thuyết tuyệt diệt cả đi. Những người Thiên chúa giáo cộng với lòng nhân từ và đức tin buồn thảm của họ khi ấy sẽ có nghĩa lý gì đâu đối với chàng? Phải chăng đã tới lúc rũ bỏ tất cả những thứ ấy? Phải chăng đã đến lúc lại bắt đầu sống giống như tất thẩy mọi người? Còn Ligia sẽ làm gì, nàng làm sao dung hoà số phận của nàng với giáo thuyết mà nàng được giác ngộ - đó sẽ chỉ là những chuyện vặt vãnh. Đó chỉ là những chuyện cỏn con! Điều trước tiên nàng sẽ là của ta, ngay ngày hôm nay! Mà cũng chưa chắc cái giáo thuyết kia có đứng vững được lâu trong tâm hồn nàng chăng, một khi nàng đã bước vào cái thế giới mới mẻ đối với nàng, với những lạc thú và sự cuồng nhiệt mà nàng sẽ khuất phục! Điều ấy có thể trở thành hiện thực ngay trong ngày hôm nay. Chỉ cần giữ lão Khilon ở lại và chiều tối ra lệnh. Sau đó sẽ là niềm vui bất tận! “Cuộc sống của ta là gì” - Vinixius nghĩ bụng - Sự chịu đựng, một nỗi khát khao không được thoả mãn và cứ tự đặt ra cho mình những câu hỏi triền miên chẳng hề được trả lời”. Bằng cách này, sẽ dẹp sạch, sẽ kết thúc tất cả. Thực ra, chàng vẫn nhớ đã thề sẽ không vung tay lên với nàng. Nhưng chàng đã viện ai để thề? Không viện các vị thần linh vì chàng đâu còn tin vào họ nữa, cũng không phải Chúa Crixtux, vì chàng chưa tin vào nơi Chúa. Vả chăng, nếu nàng có cảm thấy bị xúc phạm thì chàng sẽ cưới nàng làm vợ và như thế sẽ đền bù cho sự xúc phạm. Phải! Chàng cảm thấy mình có trách nhiệm phải làm điều đó, chàng vẫn mang ơn nàng đã cứu sống. Nghĩ tới đây, chàng nhớ lại cái ngày chàng cùng Kroton xông vào nơi ẩn trốn của nàng; chàng nhớ lại nắm tay của bác Urxux vung trên đầu chàng cùng tất thẩy những gì xảy ra sau đó. Chàng như lại trông thấy nàng đang cúi xuống giường chàng, nàng trong bộ quần áo nô tỳ, xinh đẹp như tiên, thánh thiện và xiết bao ngưỡng mộ. Mắt chàng bất giác nhìn sang bàn thờ gia thần có chiếc thánh giá mà nàng để lại cho chàng trước lúc ra đi. Chàng lại trả ơn tất cả những cái đó bằng một vụ bạo hành mới nữa ư? Chàng sẽ nắm tóc nàng lôi sền sệt vào buồng ngủ như một con nô tỳ ư? Làm sao chàng có thể làm nổi chuyện đó trong khi chàng không những chỉ thèm khát mà còn yêu nàng, yêu nàng chính bởi vì nàng là một người như thế? Đột nhiên chàng cảm thấy riêng việc có nàng trong nhà thôi chưa đủ, dùng sức mạnh ôm ghì nàng trong vòng tay cũng chưa đủ, mà tình yêu của chàng còn đòi hỏi một điều gì đó khác hơn, đó là sự ưng thuận của nàng, tình yêu của nàng, tâm hồn của nàng. Phúc thay cho mái nhà này nếu nàng tự nguyện bước vào, phúc thay cho giây phút ấy, phúc thay cho ngày hôm ấy, phúc thay cho cuộc đời! Khi ấy hạnh phúc của cả hai sẽ như biển cả vô biên, như vầng dương toả sáng! Nhưng dùng sức mạnh bắt cóc nàng có nghĩa là sẽ giết chết vĩnh viễn cái hạnh phúc kia, đồng thời chà đạp, phỉ nhổ và nhục mạ tất thẩy những gì quý giá nhất và duy nhất thương yêu trên đời.
Giờ đây, chỉ riêng ý nghĩ ấy thôi cũng đã khiến chàng kinh hoàng. Chàng đưa mắt nhìn lão Khilon, lão đang vừa ngắm chàng vừa luồn tay vào dưới làn áo gãi gãi với vẻ bất an. Đột nhiên, chàng có một nỗi tởm lợm khôn tả, một ý muốn được chà đạp lên tên trợ thủ xưa kia như giầy xéo một con sâu ghê tởm hoặc một con rắn độc. Lát sau, chàng đã rõ mình phải làm gì. Song vốn vô độ trong tất cả mọi chuyện, lại hành động theo sự thúc đẩy của bản tính La Mã tàn bạo của mình, chàng quay về phía lão Khilon và bảo:
- Ta sẽ không làm theo điều ngươi khuyên, nhưng để ngươi khỏi ra đi không được hưởng phần thưởng mà ngươi đáng hưởng, ta sẽ ra lệnh tặng cho ngươi ba trăm gậy tại nhà ngục gia hình của ta
Lão Khilon tái nhợt người đi. Trên nét mặt tuyệt đẹp của Vinixius đầy vẻ quyết đoán lạnh lùng, khiến lão không thể tự đánh lừa mình bằng niềm hy vọng rằng món trả công vừa được hứa hẹn kia chỉ là một câu nói đùa kinh khủng.
Lão bèn quỳ sụp xuống sát đất và rền rĩ bằng giọng đứt đoạn:
- Sao lại thế, thưa quốc vương Ba Tư? Vì tội gì?… Hỡi ngọn kim tự tháp của lòng biết ơn! Hỡi vị khổng lồ của lòng nhân ái! Vì tội gì?… Tôi già nua, đói khát, cực khổ… Tôi đã hầu hạ ngài, Ngài nỡ lòng nào trả ơn tôi như thế này sao?
- Cũng như mày đối với người Thiên chúa giáo thôi. - Vinixius đáp
Và chàng gọi viên quản nô.
Nhưng lão Khilon đã nhẩy vội đến, lập cập ôm lấy chân chàng gào xin, mặt lão trắng bệch như một xác chết.
- Thưa ông chủ, ông chủ ơi!… Con già rồi! Năm mươi thôi, xin đừng ba trăm! Năm mươi quá đủ rồi!… Một trăm, đừng ba trăm!… Hãy thương con! Hãy thương con với!
Vinixius lấy chân đạp lão và ra lệnh. Trong chớp mắt, từ sau lưng viên quản nô có hai tên nô lệ lực lưỡng người Kvađơ chạy vào, túm lấy mớ tóc của lão Khilon, dùng bộ quần áo tả tơi của lão quấn chặt lấy đầu lão, kéo tới phòng gia hình.
- Nhân danh Chúa Crixtux!… Lão già Hi Lạp kêu to khi đi ngang qua cửa thông ra hành lang
Vinixius còn lại một mình. Mệnh lệnh vừa ban ra khiến chàng thêm phấn chấn và tỉnh táo. Chàng cố gắng tập trung những ý nghĩ đang tản mạn, sắp xếp lại cho có trật tự. Chàng thấy lòng thư thái, sự chiến thắng bản thân đã cổ vũ chàng. Chàng cảm thấy đã tiến được một bước lớn về phía Ligia và sẽ được hưởng một phần thưởng về việc đó. Lúc đầu, chàng cũng không nghĩ là mình đã đối xử với lão Khilon thật bất công, chàng ra lệnh đánh đòn lão vì chính những gì mà trước đây chàng đã thưởng công cho lão. Chàng còn là một người La Mã nên không biết đến nỗi đau đớn của kẻ khác, không chú ý đến một tên Hi Lạp nghèo hèn. Thậm chí, dù chàng có nghĩ đến chuyện đó đi chăng nữa, thì chàng cũng vẫn cứ cho rằng chàng đã hành động đúng khi ra lệnh nện cho lão già chuyên lật lọng. Chàng nghĩ tới Ligia và thầm nói cùng nàng: “Ta đã không lấy oán đền ân nàng, và nếu như có lúc nào đó nàng biết ta đã đối xử ra sao với kẻ muốn xúi giục ta vung nắm đấm ra với nàng, chắc nàng sẽ biết ơn ta vì việc đó.”. Nghĩ tới đây, bất giác chàng cân nhắc xem liệu Ligia có khen chàng chăng về cách đối xử với lão Khilon. Giáo thuyết mà nàng được giác ngộ khuyên phải tha thứ. Những người Thiên chúa giáo cũng đã tha thứ cho lão già khốn nạn, mặc dù họ có những lý do to lớn hơn nhiều để trả thù lão. Mãi đến lúc này trong lòng chàng mới vọng lên tiếng kêu: “Nhân danh Chúa Crixtux!”. Chàng sực nhớ ra rằng, bằng những tiếng kêu tương tự, lão Khilon đã thoát khỏi tay bác già người Ligi, chàng bèn quyết định sẽ tha cho lão phần nhục hình chưa được thi hành.
Chàng định gọi viên quản nô thì chính anh ta đã vào đứng trước mặt chàng thưa rằng:
- Thưa ngài, lão già đã ngất đi, cũng có thể đã chết rồi. Liệu có cần tiếp tục đánh lão nữa không ạ?
- Làm cho lão hồi lại rồi mang ra đây cho ta1
Viên quản nô biến vào sau bức trướng che, song chắc hẳn sự hồi sinh không diễn ra dễ dàng, bởi lẽ Vinixius phải chờ một thời gian khá lâu và đã bắt đầu sốt ruột, thì rốt cuộc đám nô lệ mới vực lão Khilon vào, rồi theo hiệu lệnh được ban, chúng lập tức lùi ra ngoài.
Lão Khilon trông nhợt nhạt như màu vải mộc, dọc theo chân lão chảy dài những dòng máu ngoằn ngoèo xuống mặt nền nhà hoa văn của gian chính sảnh. Nhưng lão tỉnh táo hoàn toàn. Lão quỳ xuống, chìa hai tay ra và nói:
- Xin đa tạ ông chủ, ngài thật vĩ đại và nhân từ!
- Đồ chó, - Vinixius đáp, - mày phải biết ta tha cho mày chỉ vì Đức Chúa Crixtux, người mà chính ta cũng chịu ơn cứu mạng.
- Thưa ông chủ, con sẽ phục vụ Đức Chúa và ông chủ!
- Câm đi và nghe đây! Mày hãy đứng dậy! Mày hãy đi theo ta và chỉ cho ta biết ngôi nhà nàng Ligia đang ở.
Lão Khilon nhổm dậy, nhưng vừa đứng được lên, người lão càng tái nhợt hơn nữa, lão thều thào:
- Ông chủ ơi, quả tình con đói lắm… Con sẽ đi, thưa ngài, con sẽ đi! Nhưng con chẳng còn chút sức nào cả! Xin ngài hãy ra lệnh ban cho con thức ăn thừa trong đĩa chó ăn, con sẽ đi!
Vinixius ra lệnh cho lão ăn, cấp cho lão một thoi vàng và chiếc áo choàng. Song lão Khilon bị cái đói và đòn roi làm kiệt sức vẫn không sao bước nổi, ngay cả sau khi được ăn uống, mặc dù nỗi sợ hãi khiến tóc lão như dựng đứng trên đầu, lão sợ rằng chàng Vinixius sẽ coi sự yếu sức của lão là sự bướng bỉnh và lại ra lệnh đánh lão lần nữa chăng?
- Xin cho chút rượu nho sưởi ấm con, - lão lắp bắp răng đánh lập cập - Con sẽ đi ngay, dù là tới tận Đại Hi Lạp cũng cam.
Một hồi sau, lão lại sức phần nào và họ ra đi. Đường rất dài, bởi vì cũng giống như phần lớn những người Thiên chúa giáo, ông Linux sống ở khu Zatybre, cách nhà bà Miriam không xa. Cuối cùng, lão Khilon cũng chỉ được cho Vinixius một cái nhà nhỏ, đứng biệt lập, có bức tường phủ đầy dây thường xuân, và nói:
- Chính đây, thưa ông chủ!
- Được rồi, - Vinixius đáp, - Bây giờ mày hãy cút đi, nhưng trước tiên hãy lắng nghe thật kỹ những điều ta nói đây đã: Hãy quên rằng mày đã phục vụ ta; hãy quên nơi ở của bà Miriam, ông Piotr và ông Glaukox; hãy quên ngôi nhà này và quên tất cả những người Thiên chúa giáo. Hàng tháng mày cứ việc đến nhà ta, nô lệ giải phóng Đemax sẽ cấp cho mày hai thoi vàng. Nhưng nếu mày còn rình mò theo dõi các tín đồ Thiên chúa, ta sẽ ra lệnh đánh nhừ đòn hoặc sẽ giao nộp mày cho tổng đốc thành phố.
Lão Khilon cúi gập người xuống nói:
- Con xin quên!
Song, khi Vinixius vừa khuất sau góc phố, lão vung cả hai tay cuộn thành nắm đấm lên đe doạ và thét lên:
- Thề có Ate và Phurie! Tao không quên đâu!
Rồi lão lại ngất đi.

Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 33
Vinixius bước thẳng đến ngồi nhà bà Miriam đang ở. Trước cổng chàng gặp cậu bé Nazarius, cậu bé bối rối khi trông thấy chàng, chàng liền chào hỏi tử tế và bảo cậu đưa và nhà bà mẹ.
Trong nhà, ngoài bà Miriam, chàng còn gặp ông Piotr, ông Glaukox, ông Kryxpux và cả ông Paven xứ Tarxu, người vừa mới trở về từ vùng Fregenla. Trông thấy chàng hộ dân quan trẻ tuổi, nỗi ngạc nhiên hiện trên nét mặt tất thẩy mọi người, nhưng chàng đã cất tiếng:
- Xin chúc sức khỏe các ông bà nhân danh Chúa Crixtux được các người thờ phụng.
- Sáng danh Chúa đời đời.
- Tôi đã được biết phẩm hạnh của các vị, được hưởng lòng nhân hậu của các ông bà, tôi tới đây như một người bạn.
- Chúng tôi cũng đón tiếp ngài như một người bạn - ông Piotr đáp - mời ngài hãy ngồi xuống đây làm khách, cùng dùng bữa với chúng tôi.
- Tôi xin được ngồi và dùng bữa với các ông, nhưng trước hết, xin hãy nghe tôi thưa chuyện đã, thưa ông Piotr và cả ông nữa, thưa ông Paven xứ Tarxu, để các ông có thể hiểu cho sự chân thành của tôi. Tôi biết rõ hiện Ligia đang ở đâu, tôi vừa từ trước cổng nhà ông Linux đến đây, nhà ông ấy cũng ở gần nhà này. Tôi có quyền đến bắt nàng, quyền đó do hoàng đế ban cho. Tại nhà tôi ở trong thành có gần năm trăm tên nô lệ, tôi có thể cho vây chặt nơi nàng ẩn trốn và bắt nàng, song tôi đã không làm việc đó và sẽ không làm.
- Vậy thì ân phước của Đức Chúa sẽ được cùng ngài, trái tim ngài sẽ được thanh sạch - ông Piotr nói.
- Xin đa tạ người, nhưng xin hãy cho tôi được phép nói tiếp. Tôi đã không làm điều đó mặc dù tôi đang sống trong nỗi đớn đau và thương nhớ. Trước kia, khi chưa được sống với các ông, hẳn tôi sẽ dùng bạo lực bắt giữ nàng ngay, nhưng phẩm hạnh của các ông và giáo thuyết của các ông - dù tôi chưa được giác ngộ giáo thuyết ấy - đã khiến cho tâm hồn tôi biến đổi, tôi không thể nào sử dụng tới sức mạnh. Chính tôi cũng không tự hiểu tại sao lại như vậy, nhưng đúng như thế! Vì vậy, tôi đến gặp các ông, những người thay cho cha mẹ đẻ của nàng Ligia, để thưa rằng: Xin các ông hãy cho nàng được làm vợ tôi, tôi xin thề với các ông rằng không những tôi sẽ không ngăn cấm nàng giác ngộ Đức Chúa Crixtux mà tự tôi cũng sẽ bắt đầu xin học giáo thuyết của Người.
Chàng nói, mái đầu ngẩng cao, giọng cương quyết, song thực ra chàng rất xúc động, hai chân chàng run rẩy dưới tấm áo choàng có dải thắt lưng. Rồi khi mà sau lời chàng nói là một sự im lặng bao trùm, chàng lại nói tiếp, dường như muốn chặn trước một câu trả lời không mong muốn:
- Tôi biết rõ có những trở lực, nhưng tôi yêu quý nàng như chính đôi mắt tôi và mặc dù chưa được là một tín đồ Thiên chúa, nhưng tôi đã không còn là kẻ thù của các ông, của Chúa Crixtux nữa. Tôi muốn được thành thật hết lòng để các ông có thể tin tôi. Lúc này là lúc có can hệ đến vận mệnh của tôi, song tôi vẫn xin nói thực với các ông. Có thể một kẻ nào khác ở địa vị của tôi sẽ nói ngay với các ông: ”Xin hãy cho tôi được chịu lễ rửa tội!". Còn tôi lại nói: ”Xin hãy khai sáng cho tôi!”. Tôi tin vào chuyện phục sinh của Chúa Crixtux, bởi vì chính những người hiện đang sống kể chuyện đó, chính họ đã được gặp Chúa sau khi Người qua đời. Tôi tin, tôi đã được thấy giáo thuyết của các ông gieo mầm đức hạnh, công lý và nhân từ, chứ không phải gieo những tội ác mà người ta gán cho các ông. Cho tới nay, tôi mới hiểu giáo thuyết đó chưa bao nhiêu, chút ít từ chính các ông, qua hành động của các ông, chút ít qua Ligia, chút ít thông qua việc trò chuyện với các ông. Ấy thế mà tôi xin nhắc lại, nó cũng đã làm thay đổi một cái gì đó trong tôi. Trước kia tôi dùng bàn tay sắt đối xử với đám đầy tớ của tôi, giờ đây - tôi không thể. Trước tôi chỉ tin vào bạo lực, giờ tôi chối bỏ nó. Các ông có biết không, chính tôi cũng không nhận ra bản thân mình nữa, tôi kinh tởm tiệc tùng, rượu nho, tiếng đàn ca, những vòng chiến thắng, kinh tởm cung đình hoàng đế, những thân thể lõa lồ, cùng tất thảy những tội ác ghê gớm. Và khi nghĩ rằng nàng Ligia trong sạch như làn tuyết trên đỉnh núi, tôi càng yêu thương nàng, khi nghĩ rằng sở dĩ nàng được như thế là nhờ giáo thuyết của các ông, tôi yêu mến giáo thuyết ấy và thèm khát nó! Nhưng tôi không hiểu nổi nó, chưa biết liệu tôi có sống nổi trong giáo thuyết ấy hay không, liệu cái bản chất của tôi có chịu đựng được nó chăng, cũng vì thế tôi đang phải sống trong thấp thỏm và dằn vặt, như đang sống dưới hầm tối vậy.
Nói đến đây đô lông mày trên trán chàng chau lại thành một nếp nhăn đau đớn, gò má chàng ửng hồng. Chàng nói tiếp, mỗi lúc lột thêm gấp gáp và xúc động:
- Các ông thấy đấy! Tôi dằn vặt bởi tình yêu và sự u mê. Người ta bảo tôi rằng, trong giáo thuyết của các ông không có cả sự sống lẫn niềm vui của con người, không có cả hạnh phúc, luật lệ, trật tự, sự độc tôn lẫn quyền thống trị La Mã. Có phải thế không? Người ta bảo tôi rằng các ông là bọn điên rồ. Xin các ông hãy nói cho tôi hay các ông mang điều gì tới? Yêu nhau có phải là tội lỗi không? Cảm nhận hạnh phúc có phải là tội lỗi không? Tín đồ Thiên chúa có nhất thiết phải là kẻ nghèo hèn không? Tôi có phải từ bỏ Ligia không đây? Chân lý của các ông là gì? Hành động và lời nói của các ông như làn nước trong vắt, nhưng đáy của làn nước ấy ra sao? Các ông chắc cũng thấy là tôi chân thành. Xin các ông hãy xua đuổi bóng tối đi! Bởi vì thậm chí có người còn bảo tôi: ”Hi Lạp sản sinh trí tuệ và cái đẹp, La Mã thì sản sinh sức mạnh, còn bọn họ sẽ mang lại cái gì đây?”. Xin các ông hãy nói đi, các ông mang lại điều gì? Nếu như bên ngoài cánh cửa của các ông là ánh sáng, xin hãy mở toang ra cho tôi!
- Chúng tôi mang lại tình yêu - ông Piotr nói.
Ông Paven xứ Tarxu nói thêm:
Nếu ta nói bằng giọng con người hay giọng thiên thần mà lòng ta không có tình yêu, ta sẽ chỉ như một cái chiêng rỗng tuếch.
Trái tim của vị sứ đồ tuổi tác xúc động trước linh hồn đang đau đớn này, linh hồn như một cánh chim bị giam chặt trong lồng cứ vùng vẫy để được thoát ra với khí trời và vầng dương, ông bèn chìa hai tay ra cho Vinixius và nói:
- Ai gõ thì cửa mở, ân huệ của Đức Chúa hằng ở cùng con, vậy nhân danh Cứu Thế, ta ban phước cho con, cho linh hồn con và tình yêu của con.
Nghe lời ban phước, Vinixius - con người vừa nói những lời nhiệt thành sôi nổi dường kia - liền bước nhanh lại sát ông Piotr và khi ấy xẩy ra một chuyện phi thường: Đó là việc một hậu duệ dòng dõi của các vị Quyrit, kẻ cách đây không lâu còn không thèm nhìn nhận người khác cũng là con người, cầm lấy đôi bàn tay của một ông lão xứ Galilei và thành kính áp vào môi mình.
Ông Piotr vui mừng, ông hiểu rằng thế là hạt giống đã được gieo xuống thêm một thửa ruộng nữa, cái lưới đánh cá của ông lại vớt thêm được một linh hồn nữa.
Những người có mặt cũng vui mừng không kém trước biểu hiện thành kính đối với vị sứ đồ của Đức Chúa, họ đồng thanh thốt lên:
- Ngợi ca Đức Chúa trên cao!
Vinixius đứng dậy, khuôn mặt bừng sáng chàng nói:
- Con thấy rằng giữa các người vẫn có hạnh phúc bởi chính lòng con đang rất sướng vui, con chắc rằng trong tất cả mọi điều các người đã thuyết phục con cũng đều được như vậy. Song con phải nói ngay rằng, chuyện ấy không diễn ra ở Roma được: Hoàng đế đi Anxium, con buộc phải đi cùng hoàng đế vì đã nhận được lệnh. Các người chắc cũng biết không tuân lệnh là chết. Song nếu như con đáng được hưởng ân huệ trong mắt các người, thì xin hãy đi cùng con để dạy cho con chân lý. Tại đó, Người sẽ được an toàn hơn chính con, giữa đám đông khổng lồ ấy, Người có thể truyền bá chân lý cho chính các triều thần của hoàng đế. Người ta đồn rằng nàng Akte là tín đồ Thiên chúa giáo, rằng ngay trong lính cấm vệ cũng có tín đồ, chính con được trông thấy binh lính quỳ trước mặt Người, thưa Piotr, cạnh cổng thành Nomentan. Tại Axium con có một biệt thự, chúng ta sẽ cùng nhau tụ họp tại đó, ngay sát nách Nerô, để lắng nghe giáo thuyết. Ông Glaukox có lần nói với con rằng, các người sẵn sàng đi tới cùng trời cuối đất để cứu một linh hồn, xin hãy làm điều ấy vì con, xin hãy thực hiện vì con những gì các người đã làm cho kẻ khác, những kẻ mà vì họ Người đã phải lặn lội từ xứ Judei đến đây, xin đừng bỏ rơi linh hồn con!
Nghe thấy thế, họ bèn cùng nhau bàn bạc, họ vui sướng nghĩ về thắng lợi của giáo thuyết của họ, về ý nghĩa đối với thế giới ngoại đạo của việc cải tạo cho một vị cận thần, lại là cháu con của một giòng họ lâu đời nhất La Mã. Quả thực, họ sẵn sàng đi đến cùng trời cuối đất vì mỗi linh hồn con người, kể từ khi Thầy qua đời họ có làm điều gì khác ngoài việc ấy đâu, họ không hề có ý định từ chối. Song, hiện nay ông Piotr đang là đấng chăn chiên của cả vùng, ông không thể bỏ mà đi được. Ngược lại ông Paven xứ Tarxu - người mới vừa ở Aryxia và Fregenlae quay về, đồng thời lại đang chuẩn bị một chuyến đi dài ngày sang Phương Đông để thăm viếng các nhà thờ tại đó, khuấy động một tinh thần mộ đạo mới - đồng ý đi cùng hộ dân quan trẻ tuổi tới Anxium, tại đó, ông sẽ dễ dàng tìm được một chiếc tàu đi tới vùng biển Hi Lạp.
Mặc dù hơi buồn vì ông Piotr, người mà chàng bao gắn bó, không thể cùng đi, nhưng Vinixius vẫn chân thành cảm ơn, rồi hướng về Sứ Đồ chàng bày tỏ nguyện vọng cuối cùng:
- Khi biết nơi ở của Ligia - chàng nói - con có thể tự mình đến đó hỏi xem nàng có thuận lấy con hay chăng, một khi linh hồn con đã trở thành linh hồn Thiên chúa giáo, nhưng con muốn cầu xin Người thưa Đức Sứ đồ, xin Người hãy cho con được gặp nàng hay dắt con đến gặp nàng. Con cũng chưa rõ sẽ phải ở lại Anxium bao lâu và xin các người cũng biết cho rằng bên cạnh Hoàng đế không một ai dám nói chắc về ngày mai của bản thân cả. Chính ông Petronius có bảo con hay rằng nơi đó con cũng không được hoàn toàn yên ổn. Xin hãy cho con được gặp nàng, để mắt con được nhìn nàng cho thỏa, con sẽ hỏi xem nàng có quên đi cho con những điều xấu đã qua, liệu nàng có muốn cùng con chia sể những tốt lành sắp tới hay chăng?
Sứ Đồ Piotr mỉm cười nhân hậu và bảo:
- Ai lại chối từ con một niềm sướng vui hợp lẽ, hở con?
Một lần nữa, Vinixius lại cúi hôn tay ông, bởi chàng hoàn toàn không thể kìm nổi trái tim đang dào dạt của mình. Đức Sứ đồ ôm lấy đầu chàng mà bảo:
- Con cũng chớ nên quá sợ Hoàng Đế, ta nói con hay: Sẽ không một sợi tóc nào của con bị rụng mất đâu.
Rồi ông phái bà Miriam đi gọi Ligia, dặn trước bà không nên nói cho nàng hay sẽ được gặp ai, để niềm vui sướng của nàng thêm phần to lớn.
Chỗ nàng cũng không xa, nên chỉ lát sau, những người có mặt trong nhà nhìn qua những khóm sim thơm của khu vườn đã thấy bà Mariam đang dắt tay Ligia đi tới.
Vinixius những muốn chạy ra đón, song vừa chợt nhìn thấy bóng dáng yêu thương, niềm hạnh phúc đã khiến chàng như kiệt sức, chàng đứng đó với trái tim đập mạnh, nín thở, cố gắng lắm mới đứng vững trên đôi chân, trăm lần xúc động hơn so với khi lần đầu tiên trong đời chàng nghe tiếng rít của những mũi tên quân Pariơ bay vút qua sát đầu.
Không hề ngờ đến điều chi, Ligia chạy ùa vào khi trông thấy chàng, nàng cũng đứng chôn chân một chỗ. Mặt nàng đỏ bừng lên rồi lại tái nhợt đi, nàng trố mắt kinh ngạc và lo lắng nhìn những người có mặt.
Nhưng khắp bốn xung quanh, nàng chỉ bắt gặp những cái nhìn nhân hậu. Đức Sứ đồ lại bên nàng và bảo:
- Ligia con, con sẽ yêu mến chàng mãi mãi chứ con?
Một giây im lặng. Đôi môi nàng run rẩy như một đứa trẻ chực khóc khi cảm thấy mình có lỗi và phải nhận lỗi.
- Trả lời đi, con - Đức Sứ đồ bảo.
Khi ấy, bằng giọng nói e lệ vừa sợ sệt, nàng quỳ xuống trước mặt ông Piotr thì thầm:
- Vâng ạ…
Cùng lúc đó, Vinixius cũng quỳ xuống bên nàng, ông Piotr đặt tay lên đầu đôi trẻ và phán:
- Các con hãy yêu mến Đức Chúa và ca ngợi Người, bởi khi yêu nhau, các con không hề có tội.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 43
Vinixius càng tới tường thành càng rõ ra rằng đi đến được Roma còn dễ hơn nhiều so với việc lọt vào được bên trong thành phố. Đi theo đường cái Appia thì khó lòng chen lấn nổi vì nó đang đầy nghẹt những người là người. Nhà cửa, đồng ruộng, nghĩa địa, vườn tược và thần miếu nằm hai bên đường đều biến thành nơi hạ trại. Ở miếu thờ thần Marx nằm ngay sát cạnh Porta Appia, đám đông đã phá vỡ cửa để tìm chỗ trú đêm ở bên trong. Trên các nghĩa địa, người ta chiếm lấy các nhà mồ lớn, đánh nhau đổ cả máu để giành giật chúng. Với cả sự lộn xộn của mình, Uxtrinum mới chỉ cho biết mùi vị sơ sài của những gì đang diễn ra ngay sát cạnh tường thành phố mà thôi. Người ta không còn để ý chút gì tới luật lệ, chính quyền, quan hệ gia đình hay sự khác nhau về đẳng cấp nữa. Thấy cả cảnh bọn nô lệ đang tặng gậy cho các vị công dân. Đám đấu sĩ say khướt rượu vang cướp được ở Emporium tụ tập thành từng toán đông chạy nhông khắp các bãi trống ven đường, với những tiếng kêu la man rợ, dồn đuổi, đánh đập, cướp bóc mọi người. Vô số dân man rợ vốn bị bày bán trong thành phố, trốn thoát khỏi các nhà chứa nô lệ đem bán. Đối với chúng, hoả hoạn và sự diệt vong của thành phố vừa là sự kết thúc kiếp đời nô lệ, vừa là sự báo thù, nên khi đám dân chúng mới bị mất sạch tài sản trong ngọn lửa vừa tìm được chỗ ngồi yên là tuyệt vọng vươn tay lên kêu cầu các vị thần linh cứu giúp, thì bọn chúng lại hú hét lên vì sung sướng, lao vào đánh phá các đám đông, lột sạch quần áo họ và bắt cóc các thiếu nữ trẻ. Liên kết với chúng là đám nô lệ từ lâu đời phải phục dịch ở Roma, bọn khố rách áo ôm không có chút gì che thân ngoài một mảnh vải len che ngang háng, những bóng ma khủng khiếp của hang cùng ngõ hẻm, lũ người mà ban ngày gần như không bao giờ xuất hiện trên các đường phố và người ta khó ngờ rằng chúng tồn tại ở thành Roma. Đám người này, gồm cả người Á, người Phi, người Hi Lạp, người Tơrắc, người German và người Brytani, gào lên bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ của trái đất, hoang dã, cuồng nhiệt, điên lên vì nghĩ rằng đã tới giờ phút chúng được mặc sức đòi phần đền bù cho những năm tháng khổ đau và chịu đựng. Giữa đám người quay cuồng ấy, trong ánh ngày và ánh lửa đám cháy, thấp thoáng mũ trụ của bọn lính cấm vệ đang cố sức bảo trợ cho một nhúm dân chúng, tại nhiều nơi binh lính phải đánh nhau thật sự với đám vô lại đã bị thú dữ hoá. Trong đời mình, Vinixius đã từng trông thấy những thành phố bị công phá, nhưng mắt chàng chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng, trong đó sự tuyệt vọng, những giọt nước mắt, nỗi đớn đau, lời rên rỉ, niềm vui sướng man dại, cái điên loạn, cơn cuồng nộ và sự chặt xích cởi tròng lại trộn lẫn vào nhau thành một mớ hỗn loạn vô hạn độ nhường kia. Còn trên đầu đám người điên loạn nhấp nhô sóng này là một đám cháy đang gào thét, trên những ngọn đồi đang rực cháy cái thành phố vĩ đại nhất thế giới, phả hơi thở lửa của mình và quang cảnh náo động kia, nhả khói mù mịt, che phủ nó đến độ không còn nhìn thấy sắc xanh của bầu trời đâu nữa. Cố gắng hết sức, không kể gì đến nguy hiểm, mãi sau chàng hộ dân quan trẻ tuổi mới len vào tới cổng Appia, song tới đây, chàng mới nhận ra rằng chàng sẽ không tài nào vượt qua khu Porta Capena để vào thành phố, không những chỉ vì đám đông người, mà còn vì hơi nóng kinh khủng đang khiến cho cả bầu không khí ngay sau cổng thành cũng phải run rẩy. Thêm vào đó, chiếc cầu bên cạnh Porta Trigemina, đối diện với thần miếu Bonae Đeae không còn nữa, nên muốn vượt sông Tyber, chàng sẽ phải len đến tận cầu Palovy, nghĩa là sẽ phải đi ngang qua gần Aventyn, băng qua cả phần thành phố đang bị chìm ngập trong cả một biển lửa. Đó là điểu không thể làm nổi. Vinixius hiểu rằng không có cách nào khác, chàng phải quay trở lại hướng Uxtrinum, tại đó rẽ khỏi đường cái Appia, vượt sông ở phía bên dưới thành phố để tới Via Portuenxix, con đường dẫn thẳng tới khu Zatybre. Nhưng ngay cả việc đó cũng không phải là chuyện dễ dàng, vì mỗi lúc con đường Appia lại càng trở nên hỗn loạn hơn. Có lẽ phải dùng gươm để dẹp đường, nhưng Vinixius lại không mang theo vũ khí, bởi lẽ chàng rời Anxium nguyên trạng như lúc cái đám cháy đến chàng tại toà biệt thự của Hoàng đế. Song cạnh nguồn suối Mekury chàng chợt trông thấy một viên xentunion chỉ huy lính cấm vệ mà chàng quen, y đang dẫn vài mươi người ngăn không cho dân chúng tràn vào thần miếu; chàng bèn ra lệnh cho y đi theo; còn y, nhận ra chàng là một hộ dân quan và là cận thần nên không dám cưỡng lệnh.
Vinixius tự mình nắm quyền chỉ huy đơn vị và lúc này chàng chợt quên đi giáo thuyết của ông Paven về tình yêu đối với những người anh em đồng loại để đẩy lùi và rã tách đám đông trước mặt với một sự vội vã mang cái chết đến cho kẻ nào không chịu tránh xa. Những lời nguyền rủa và những cơn mưa đá ném đuổi theo sau họ, nhưng chàng không thèm để ý gì đến, chàng chỉ cốt sao mau mau vượt ra được chỗ thưa người hơn. Tuy nhiên phải nỗ lực hết sức mới có thể tiến lên nổi. Những người đã dựng lều trại không muốn nhường đường cho binh lính, họ nguyền rủa thành lời cả Hoàng đế lẫn bọn lính cấm vệ. Nhiều chỗ đám đông phản ứng rất dữ dội. Tai Vinixius nghe thấy những tiếng nói lên án Nerô đã đốt cháy thành phố.
Người ta công khai đe doạ sẽ giết chết cả Hoàng đế lẫn Poppea. Những tiếng kêu “Sanio!”, “Histrio!” (thằng hề, thằng diễn viên), “Thằng giết mẹ!” vang lên chung quanh. Một số người kêu gào đòi dìm Hoàng đế xuống sông Tyber, những người khác nói rằng La Mã chịu đựng thế là quá mức rồi. Rõ ràng, những lời đe doạ này sẽ có thể biến thành một cuộc khởi loạn thật sự, chỉ cần có người cầm đầu là nó sẽ bùng ra. Trong khi đó sự điên cuồng và tuyệt vọng của đám đông lại hướng về chống lại lính cấm vệ, bọn này sở dĩ chưa làm sao thoát khỏi đám đông còn do bị cảm trở bởi hàng đống đồ đạc được người ta vội vã mang theo lúc chạy hoả hoạn: những chiếc hòm và thùng đựng thực phẩm, các thứ đồ quý giá, bình lọ, cả nôi trẻ con, đồ lót, xe và kiệu khiêng tay. Đây đó xảy ra những cuộc đụng độ, nhưng bọn lính cấm vệ nhanh chóng dẹp yên đám quần chúng tay không tấc sắt. Vất vả vượt qua những con đường Latin, Numixi, Arđei, Lavini và Oxti, vòng qua các biệt thự, những khu vườn, các nghĩa địa và thần miếu, rốt cục Vinixius cũng đến được một thị trấn nhỏ có tên là Vicux Alecxanđri, sau đó chàng vượt qua sông Tyber. Chỗ này thưa người và loãng khói hơn. Qua những người chạy nạn, - đây chẳng thiếu gì bọn họ - chàng được hay rằng chỉ có một ít ngõ hẻm thuộc khu Zatybre là bị cháy, song chắc hẳn chẳng có thứ gì thoát khỏi sức mạnh khủng khiếp của ngọn lửa, bởi lẽ những bọn người cố tình châm lửa đốt nhà, đồng thời không để cho những người khác cứu hoả, chúng kêu lên rằng chúng thực hiện việc ấy theo mệnh lệnh. Giờ đây chàng hộ dân quan trẻ tuổi không còn nghi ngờ việc chính Hoàng đế đã ra lệnh đốt cháy thành Roma và chàng thấy rằng sự báo thù mà đám đông đang gào thét đòi hỏi là hợp lý và công bằng. Liệu Mitryđat hay một ai trong số những kẻ thù ghê gớm nhất của La Mã có thể làm được điều gì hơn thế nữa hay chăng? Quá mức rồi! Sự điên rồ đã trở nên quá đỗi ma quái, đứng trước nó, sự sống của con người trở nên không thể. Vinixius tin rằng giờ tận số của Nerô đã điểm, rằng những đống hoang tàn đổ nát của thành phố sẽ chôn vùi luôn tên hề ma quái cùng tất thẩy những tội ác của y. Giá như có một người nào đủ can trường đứng lên cầm đầu đám quần chúng đang tuyệt vọng kia thì điều ấy sẽ có thể trở thành sự thật trong vòng vài tiếng đồng hồ nữa thôi! Nghĩ tới đây, những ý nghĩ can đảm và đầy ý chí trả thù bắt đầu bay lượn trong đầu óc Vinixius. Nếu như chính chàng làm việc đó thì sao? Cho đến thời gian gần đây nhất, gia đình Vinixius đã từng có biết bao người làm chấp chính quan tối cao, nổi tiếng trong toàn cõi La Mã. Đám quần chúng chỉ cần một cái tên họ nào đó mà thôi. Phải chăng không từng có lần, chỉ vì bốn trăm nô lệ của viên quan Pađanius Xekunđa bị tội chết mà suýt nữa đã nổ ra bạo động và nội chiến đó sao; còn giờ đây cái gì sẽ nổ ra xứng với thảm hoạ khủng khiếp vượt xa mọi thảm hoạ khác mà La Mã từng nếm trải trong suốt tám thế kỷ vừa qua? Ai kêu gọi dân Quiryt cầm vũ khí (Vinixius nghĩ thầm), người ấy sẽ lật đổ Nerô và khoác áo tía cho bản thân. Vậy thì cớ sao chàng lại không thể làm việc đó cơ chứ? Chàng khoẻ hơn, can đảm hơn và trẻ tuổi hơn các cận thần khác… Quả thực Nerô đã ra lệnh cho ba mươi chiến đoàn canh giữ các bờ cõi quốc gia, nhưng ngay cả những chiến đoàn ấy cùng những viên chỉ huy kia có nổi dậy hay chăng khi nghe tin vụ đốt cháy thành Roma, cùng tất thẩy các thần miếu?… Và khi ấy, chính chàng, Vinixius, sẽ trở thành Hoàng đế. Trong đám cận thần người ta vẫn đồn đại rằng một gã thi sĩ nào đó đã từng tiên đoán sắc tía cho chàng Otho. Nhưng chàng có kém gì Otho? Có thể chính Đức Chúa Crixtux cũng sẽ phù hộ cho chàng bằng quyền lực chúa tể của người, và có thể đây chính là ý Chúa. “Cần được như thế!” - Vinixius thầm kêu lên trong lòng. Khi ấy, chàng sẽ trả thù Nerô vì sự đày đoạ đối với Ligia và nỗi bất an của chính chàng, chàng sẽ thiết lập nền trị vì của công bình và chân lý, chàng sẽ truyền bá giáo thuyết của Chúa Crixtux từ sông Euphrat đến tận những bờ bến mù sương của xứ Brytania, rồi chàng sẽ khoác chiếc áo màu tía cho cả Ligia và biến nàng thành bà chúa của trái đất.
Song những ý nghĩ này, những ý nghĩ bừng lên trong trí óc chàng như một chùm tia lửa toé ra từ một ngôi nhà đang cháy cũng nhanh chóng lụi tàn đi như những tia lửa ấy. Trước hết, cần phải cứu Ligia thoát đã. Lúc này chàng mới được chứng kiến thật gần cái thảm hoạ gớm ghê, nên nỗi lo sợ lại chế ngự chàng một lần nữa; trước cái biển lửa và khói này, trước sự va chạm với thực tế phũ phàng, lòng tin mà chàng đặt vào việc đức Sứ đồ Piotr sẽ cứu thoát Ligia hoàn toàn tắt lặng trong tim chàng. Lần thứ hai, sự tuyệt vọng lại tóm được chàng; vậy nên khi lên được con đường Via Portuenxix dẫn thẳng đến khu Zatybre, tới ngay sát cổng thành chàng mới sực tỉnh khi nghe người ta lập lại với chàng cái điều mà dân lánh nạn đã nói trước kia, rằng phần lớn khu phố này chưa bị đám cháy lan tới, mặc dù tại một vài nơi lửa đã vượt được sang bên này sông.
Tuy nhiên, khu Zatybre cũng đặc khói mù và chen chúc đám đông những người lánh nạn, khó lòng vượt qua những đám người này để tiến sâu hơn nữa vào khu phố, bởi lẽ ở đây người ta có nhiều thì giờ để cứu và mang theo nhiều đồ đạc. Tại nhiều chỗ, con đường chính Portava hoàn toàn bị tắc nghẽn bởi các thứ đồ đạc, đồ đạc chất thành từng đống to tại tại gần Naunuchia Augusta. Những ngõ phố chật hẹp đầy đặc khói mù hoàn toàn không thể len chân vào nổi. Hàng nghìn hàng nghìn cư dân cháy trốn thoát ra từ các ngõ phố ấy. Dọc đường, Vinixius trông thấy những cảnh tang thương. Nhiều lúc hai dòng sông người chảy từ hai hướng ngược nhau chợt va phải nhau trong một lối đi chật hẹp, họ dồn ép nhau, chen lấn nhau, đánh giết nhau. Người ta giết chết nhau và giày xéo lên nhau. Trong cảnh hỗn độn, gia đình ly tán, những bà mẹ tuyệt vọng gọi tên con. Tóc Vinixius như dựng đứng cả lên khi nghĩ tới những gì có thể diễn ra khi ngọn lửa tiến đến gần hơn nữa. Trong những tiếng kêu gào và những tiếng ồn ào ầm ĩ thật khó lòng hỏi thăm được chuyện gì, khó lòng hiểu nổi những tiếng gọi. Chốc chốc, từ bên kia sông lại tràn sang những đụn khói mới, đen kịt và nặng nề, chúng lặc lè lê sát mặt đất, nhấn chìm cả nhà cửa người ngợm cùng tất thẩy mọi vật, hệt như bóng đêm trùm phủ thế gian. Rồi ngọn gió do đám cháy tạo nên lại xua khói đi, và những khi ấy Vinixius mới có thể nhích thêm lại gần cái ngõ hẻm, nơi có ngôi nhà của ông Linux. Cái nồng nực của một ngày hè tháng bảy cộng thêm với hơi nóng dội về từ những khu phố đang cháy khiến cho nó trở nên không sao chịu nổi. Khói cay xè trong mắt, ngực ngạt hơi thở. Ngay cả những người hi vọng rằng ngọn lửa không thể vượt qua sông sang bên này, cho tới lúc này còn ở lại nhà, cũng bắt đầu rời nhà ra đi, và cứ thế, mỗi giờ đám người càng đông thêm mãi. Toán lính cấm vệ tháp tùng Vinixius đã rớt lại phía sau. Trong đám đông một kẻ nào đó đã dùng búa đánh bị thương con ngựa của chàng, nó lắc lư chiếc trán đẫm máu, đứng dựng lên và không chịu tuân lệnh người cưỡi nữa. Qua chiếc áo tunica sang trọng, người ta đã nhận ra chàng là một cận thần, và chung quanh lập tức dậy lên những tiếng kêu thét: “Giết chết Nerô và bọn châm lửa đốt nhà đi!”. Giây phút cực kỳ nguy nan đã tới, hàng trăm cánh tay vươn lại phía Vinixius, nhưng con ngựa hoảng sợ lồng lên, giày xéo vào đám người, và một làn sóng mới của những cuộn khói đen ngòm lại tràn đến, nhấn chìm ngõ phố vào bóng tối. Biết là không sao qua được, Vinixius bèn nhẩy vọt xuống đất và cắm đầu chạy bộ, nương theo các bức tường, thỉnh thoảng chàng phải dừng lại chờ cho đám người đang chạy trốn vượt qua. Chàng thầm nhủ rằng đây chỉ là những cố gắng vô ích. Có thể Ligia đã không còn ở trong thành phố nữa, lúc này đây nàng có thể đang chạy trốn thoát thân. Tìm một chiếc kim trên bãi biển còn dễ hơn tìm thấy nàng trong đám đông chật cứng và hỗn loạn này. Nhưng chàng vẫn muốn đến được nhà ông Linux, dù phải trả giá bằng tính mạng của chàng đi chăng nữa. Chốc chốc, chàng phải dừng lại lau mắt. Chàng giật đứt gấu áo tunica bịt chặt lấy mũi cùng miệng rồi chạy tiếp.
Càng đến gần sông, cái nóng càng tăng lên dữ dội. Biết rõ ràng đám cháy bắt đầu từ Đại Hý Trường, thoạt tiên Vinixius cho rằng chắc đó là hơi nóng toả ra từ đám than hồng của Đại Hý Trường và Forum: Boarium cũng như Velabrium nằm ngay gần đây và hẳn là đã bị ngọn lửa nuốt chửng. Nhưng cái nóng mỗi lúc càng trở nên không sao chịu nổi. Một người nào đó đang chạy trốn, một ông lão thọt chân, người cuối cùng mà Vinixius được gặp, kêu lên: “Chớ lại gần cầu Xextius! Cả hòn đảo bị lửa bao trùm rồi!”. Quả thực không thể tự lừa mình lâu hơn nữa. Đến chỗ ngoặt sang Vicux Juđacorum, nơi có ngôi nhà ông Linux, chàng hộ dân quan trẻ tuổi nhìn thấy ngọn lửa đang uốn lượn giữa những đám mây khói. Không những chỉ riêng hòn đảo bốc cháy mà ngay cả khu Zatybre cũng thế, chí ít là đầu kia của cái phố mà Ligia đang ở đã bốc cháy rồi.
Tuy nhiên, Vinixius vẫn còn nhớ rõ ràng ngôi nhà ông Linux có vườn bao quanh, bên ngoài vườn, về phía sông Tyber là một khoảng đồng không rộng lắm nhưng không hề có một công trình xây dựng nào cả. Ý nghĩ ấy đã cổ vũ chàng. Lửa có thể bị chận lại ở chỗ trống. Với niềm hi vọng ấy, chàng chạy tiếp, mặc dù lúc này mỗi làn gió mang đến không chỉ khói mà còn cả hàng nghìn tia lửa, chúng có thể gây nên đám cháy từ đầu phố bên kia và chận mất đường lui.
Song, rốt cuộc, như qua một làn khói mù, chàng cũng trông thấy những cây trắc bá trong vườn nhà ông Linux. Những ngôi nhà nằm phía bên kia khoảng đồng không xây dựng đang cháy như những đống gỗ, nhưng cái biệt thự nhỏ bé của ông Linux vẫn đứng yên lành, chưa bị chạm tới. Lòng tràn ngập niềm biết ơn, Vinixius ngước nhìn lên trời, rồi chàng nhẩy vội đến cạnh ngôi nhà, mặc cho làn không khí nóng đã bắt đầu thiêu đốt. Cánh cổng khép, song chàng đẩy ra và lao vào bên trong.
Khu vườn nhỏ không một bóng người, ngôi nhà hình như cũng hoàn toàn trống vắng.
“Có thể họ đã bị ngất đi vì khói và vì nóng?” - Vinixius nghĩ thầm. Và chàng gọi:
- Ligia! Ligia!
Đáp lại chàng là một sự im lặng. Trong tĩnh mịch, chỉ nghe thấy tiếng gầm réo phía xa xa.
- Ligia!
Đột nhiên vọng đến tai chàng cái tiếng kêu buồn thảm mà đã có lần chàng nghe thấy tại chính khu vườn này. Chắc hẳn cái chuồng thú không xa thần miếu Exkulap trên hòn đảo cạnh đấy đã bốc lửa, trong chuồng, mọi loại thú - kể cả sư tử - bắt đầu gầm thét vì kinh hoàng. Một cơn rùng mình chạy từ chân lên đỉnh đầu Vinixius. Đó đã là lần thứ hai, vào lúc toàn bộ con người chàng đang tập trung trong ý nghĩ về Ligia, thì những tiếng kêu khủng khiếp kia lại vang lên, dường như báo trước những điều bất hạnh, một điềm báo kỳ lạ cho cái tương lai đầy đe doạ.
Song đó chỉ là một ấn tượng ngắn ngủi, kéo dài trong chốc lát, vì tiếng réo ù ù của đám cháy còn kinh khủng hơn tiếng gầm của lũ thú dữ, nó bắt ta phải nghĩ tới chuyện khác. Ligia không đáp lại lời chàng gọi, nhưng rất có thể nàng vẫn đang có mặt trong ngôi nhà đang bị đe doạ này, có thể nàng đã bị ngất đi hoặc bị ngạt thở vì khói. Vinixius nhẩy vội vào nhà. Trong gian chính sảnh nhỏ trống rỗng và tối tăm vì khói mù, đưa tay sờ soạng tìm cánh cửa dẫn vào phòng ngủ, chàng chợt nhận ra một ánh đèn mờ ảo, tiến lại gần, chàng nhìn thấy bàn thờ gia thần, trên đó thay vì các gia thần lại là một chiếc thánh giá. Dưới thánh giá là một ngọn đèn đang cháy. Thoáng qua óc chàng trai mới học đạo như một ánh chớp cái ý nghĩ rằng chính cây thánh giá kia đã gửi đến cho chàng ngọn đèn nhỏ nọ, nhờ đó chàng có thể tìm thấy Ligia chăng; chàng bèn cầm lấy chiếc đèn và bắt đầu tìm kiếm các phòng ngủ. Tìm thấy một phòng, chàng gạt phắt tấm rèm che, giơ đèn soi sáng và nhìn vào bên trong.
Ở đó không có một ai. Tuy thế, Vinixius vẫn tin chắc rằng chàng đã vào đúng phòng ngủ của Ligia, bởi lẽ trên những chiếc đinh đóng vào tường đang treo sống áo của nàng, trên giường là chiếc cappitium, loại áo dài bó chẽn mà phụ nữ mặc ở bên trong. Vinixius giật lấy chiếc áo áp vào môi, rồi vắt nó qua vai, chàng tiếp tục tìm kiếm. Ngôi nhà vốn nhỏ bé, nên chỉ trong một thời gian ngắn chàng đã sục khắp các buồng, thậm chí tìm cả dưới hầm nhà. Nhưng chàng chẳng thấy một ai. Đã quá rõ ràng rằng Ligia, ông Linux và bác Urxux đã cùng các cư dân khác của khu phố chạy tránh lửa. “Phải tìm họ trong đám người bên ngoài thành vậy” - Vinixius nghĩ thầm.
Chàng cũng không mấy ngạc nhiên là đã không gặp họ trên đường Via Portuenxix, vì rất có thể họ đã thoát khỏi khu Zatybre theo lối ngược lại, về phía núi Vatycan. Dù sao, họ cũng đã thoát khỏi bị chết thiêu. Vinixius cảm thấy như có một tảng đá thôi đè lên ngực chàng. Mặc dù chàng đã được thấy cuộc chạy trốn kia gắn liền với những nỗi nguy hiểm ghê gớm ra sao, nhưng cứ nghĩ đến sức lực siêu nhiên của bác Urxux là chàng lại thấy lòng phấn chấn. “Bây giờ mình phải thoát khỏi chốn này (chàng nghĩ thầm), qua vườn Đomoxia đến vườn Agrypina. Tại đó mình sẽ tìm được họ. Ở đó khói không nhiều lắm, vì gió thổi từ hướng núi Xabin lại”
Tuy nhiên, cũng đã đến lúc chàng phải nghĩ ngay đến việc tự cứu lấy thân, vì sóng lửa từ phía đảo mỗi lúc một tiến lại gần hơn, và những cuộn khói đã che phủ gần hết cái ngõ nhỏ. Cây đèn cầy mà chàng dùng để soi sáng gian nhà bị luồng không khí thổi tắt phụt. Nhào ra ngoài phố, giờ đây Vinixius chạy hết sức về phía Via Portuenxix, phía mà chàng đã đến, chàng cảm thấy rõ ràng ngọn lửa của đám cháy đang phả hơi thở bỏng rát của nó đuổi theo sau, lúc thì nó vây chàng trong những đám mây khói mới, lúc lại trùm lên khắp người chàng hàng nghìn tia lửa, chúng rơi lên tóc, lên cổ, lên quần áo chàng. Chiếc áo tunica trên người chàng bắt đầu ngừng cháy một vài chỗ, song chàng chẳng hề để ý đến chuyện ấy mà vẫn chạy thục mạng, sợ rằng khói có thể sẽ khiến chàng ngạt thở. Miệng chàng có vị khét cháy và mùi than tro, cổ họng và trong phổi chàng rát bỏng như có lửa đốt. Máu dồn mạnh lên đầu chàng, khiến đôi khi chàng nhìn mọi vật toàn một màu đỏ, ngay cả khói cũng có màu đỏ. Những khi ấy, chàng tự nhủ: “Đây thật là ngọn lửa có hồn(1)! Tốt nhất mình cứ lăn ra đất chịu chết cho rồi!” Việc chạy mỗi lúc một khiến chàng thêm mệt. Đầu, cổ và lưng chàng đầm đìa mồ hôi, thứ mồ hôi ấy khiến chàng xót như bỏng nước sôi, giá không có cái tên Ligia mà chàng thầm kêu lên trong óc, giá không có chiếc capinium của nàng mà chàng quấn quanh miệng, thì hẳn chàng đã gục ngã mất rồi. Vài giây sau, chàng không còn nhận ra được cái ngõ mà chàng đang chạy nữa. Trí giác dần dần rời bỏ chàng, chàng chỉ nhớ đinh ninh một điều là cần phải thoát, vì ngoài khoảng đồng trống Ligia đang chờ chàng, nàng Ligia mà Sứ đồ Piotr đã hứa sẽ mang đến cho chàng. Và đột nhiên, chàng có một lòng tin kỳ lạ nào đó, như mê như say, như một ảo ảnh trước khi lâm chung rằng chàng nhất định sẽ được gặp mặt nàng, sẽ cưới nàng, rồi sau đó sẽ chết ngay lập tức.
Chàng chạy như một người say, chuệnh choạng từ bên này sang bên kia đường phố. Chính vào lúc ấy, đột nhiên có một thứ gì đó chợt đột biến trong ngọn lửa kinh khủng đang bao trùm cái thành phố khổng lồ. Chắc là tất thảy những gì cho đến lúc này chỉ cháy âm ỉ giờ cùng bùng lên thành một biển lửa, bởi vì gió không còn mang khói tới và đám khói bị tích tụ trong các ngõ hẻm bị một luồng không khí nóng bỏng điên cuồng xua tan đi. Luồng khí nóng ấy lúc này cuốn theo hàng triệu tàn lửa, Vinixius như đang chạy trong một đám mây lửa vậy. Ngược lại, chàng có thể nhìn thấy rõ hơn mọi thứ ở trước mắt, và chính lúc chàng sắp gục xuống thì chàng chợt trông thấy đầu ngõ. Cái đó tiếp thêm sức lực cho chàng. Vượt qua góc phố, chàng ra được cái phố dẫn tới Via Portuenxix và cánh đồng Kođetan. Những tàn lửa thôi không đuổi theo chàng nữa. Chàng hiểu rằng, nếu chạy đến được con đường Portova thì chàng sẽ thoát chết, cho dù có thể bị ngất xỉu ở đấy đi chăng nữa.
Chợt chàng nhìn thấy ở cuối phố có cái gì như một đám mây đen che khuất mất lối thoát. “Nếu như đó là khói, - chàng nghĩ - thì chắc là mình không qua nổi”. Chàng chạy với chút sức cuối cùng còn sót lại. Dọc đường, chàng cởi bỏ chiếc áo tunica bị tàn lửa bén cháy đang thiêu đốt da thịt chàng như chiếc áo của Nexxux, và mình trần, chỉ quấn độc chiếc áo capitium của Ligia che đầu và bịt miệng, chàng lao đi. Chạy đến gần, chàng nhận ra rằng thứ mà chàng ngỡ là khói thực ra là một đám bụi mù mịt, từ trong đó vẳng ra tiếng nói và tiếng kêu la:
“Bọn vô lại đang cướp của!” - chàng tự nhủ.
Song chàng vẫn cứ chạy về hướng có tiếng người. Ở đó chắc hẳn có những người có thể giúp được chàng. Với niềm hi vọng ấy, trước khi chạy tới nơi, chàng đã ra sức kêu cứu. Song đó đã là nỗ lực cuối cùng của chàng. Trước mắt chàng màu đỏ càng sẫm hơn, phổi chàng hụt hơi, xương cốt chàng rã rời, chàng gục xuống.
Nhưng người ta cũng đã nghe thấy tiếng kêu của chàng, đúng hơn, người ta nhận ra chúng, và hai người lao ra cứu chàng mang theo hai bình nước. Ngã xuống vì kiệt sức nhưng không bị mất tri giác, Vinixius ôm chầm lấy cả hai bình và uống cạn đến nửa.
- Cảm ơn. - Chàng nói - Xin hãy dựng tôi dậy, tôi sẽ tự đi tiếp
Người thợ thứ hai dội nước vào đầu chàng, rồi cả hai không những chỉ dựng chàng đứng dậy mà còn nhấc chàng lên, mang tới chỗ một đám người khác, những người này vây quanh chàng, ân cần xem xét thử chàng có bị thương nhiều hay chăng. Sự ân cần ấy khiến Vinixius ngạc nhiên.
- Các người, - chàng hỏi - các người là ai?
- Chúng tôi phá bớt nhà cửa để đám cháy không lan được tới đường Portova. - Một người thợ đáp.
- Các người đã cứu tôi khi tôi ngã, xin cảm ơn các người.
- Chúng tôi không thể không cứu ông. - Vài giọng nói đáp lời chàng.
Lúc này Vinixius - người suốt từ sáng đã phải chứng kiến cảnh những đám đông hoá thành man dã, cảnh đánh nhau và cảnh cướp bóc - bèn ngắm kỹ hơn những khuôn mặt đang vây quanh chàng.
- Cầu… Đức Chúa Crixtux ân thưởng cho các người!
- Sáng danh Chúa! - Cả đám người đồng thanh đáp lại.
- Ông Linux?… Vinixius hỏi.
Song chàng không thể hỏi tiếp và cũng không hề nghe được câu trả lời, bởi vì qua xúc động và vì những nỗ lực vừa qua, chàng ngất đi. Khi tỉnh lại, chàng đang ở trên cánh đồng Kođetan, trong một khu vườn, có mấy người đàn bà và đàn ông vây quanh chàng, và lời đầu tiên mà chàng đủ sức thốt lên là:
- Ông Linux đâu rồi?
Một hồi lâu không có câu trả lời, sau đó một giọng nói mà Vinixius rất quen đột nhiên cất lên:
- Ở bên ngoài cổng thành Nomentan; ông ấy đã đi Oxtrianum… từ hai ngày nay… Bằng an cùng người, hỡi quốc vương Ba Tư!
Vinixius nhỏm người ngồi dậy, bất ngờ trông thấy lão Khilon đang đứng trước mặt.
Lão già Hi Lạp nói:
- Thưa ngài, ngôi nhà của ngài chắc là đã cháy sạch rồi, vì cả ngọn đồi Karyny chìm trong lửa, nhưng bao giờ ngài cũng giàu ngang với vua Midax! Ôi, bất hạnh thay! Hỡi con trai của Xerapix, các tín đồ Thiên chúa giáo đã bảo trước từ lâu rằng lửa sẽ thiêu huỷ thành phố kia mà… Còn ông Linux cùng cô con gái của thần Jupiter đang ở tại Oxtrianum… Ôi, bất hạnh thay, nỗi bất hạnh giáng xuống thành phố này mới lớn làm sao.
Vinixius thấy như người chàng yếu hẳn đi:
- Ngươi trông thấy họ ư? - chàng hỏi
- Tôi trông thấy, thưa ngài… Xin họ hãy tạ ân Chúa vì tất thẩy các vị thần linh vì tôi đã có thể đền đáp lòng hảo tâm của ngài bằng một tin tức tốt lành. Còn tôi, thưa Ođyryx, tôi nguyện sẽ còn đền đáp ơn ngài nhiều nữa kia, thề có thành Roma đang cháy!
Trời đã tối, nhưng trong khu vườn còn sáng như ban ngày, bởi lẽ đám cháy lúc này càng mạnh thêm lên. Hình như không phải từng khu phố riêng lẻ đang cháy nữa mà cả thành phố rộng mênh mông đang cháy. Bầu trời đỏ rực đến hút tầm mắt và thế gian bước vào một đêm màu đỏ.
Chú thích:
(1) Nguyên văn: đây là một ngọn lửa sống động
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 44
Quầng lửa của thành phố đang rực cháy lan khắp bầu trời rộng đến hết tầm mắt nhìn. Từ sau những ngọn đồi, vầng trăng rằm tròn ửng to tướng nhô lên, dường như bị ánh lửa hun nóng, nhuốm màu đồng nung và hình như ngơ ngác nhìn cái thành đô bá chủ thế giới đang bị thiêu huỷ. Trên khoảng mênh mông nhuốm hồng của bầu trời, long lanh những vì sao cũng màu hồng, song ngược với những đêm thông thường, đêm nay đất sáng hơn trời. Mang hình một đống lửa khổng lồ rực cháy, Roma soi sáng cả vùng Kampania. Trong ánh lửa đỏ bầm nhìn rõ cả những ngọn đồi xa hơn nữa của thành phố, những toà biệt thự, những thần miếu, những pho tượng và những đường máng dẫn nước từ những ngọn núi lân cận hướng về thành phố; trên những đường máng nước ấy nghìn nghịt những người là người. Họ đang tìm chỗ náu thân ở đó hoặc đến đó để nhìn đám cháy.
Trong khi đó, hung thần lửa kinh khủng mỗi lúc lại chiếm lĩnh thêm những khu phố mới. Không còn nghi ngờ gì nữa, có những bàn tay tội ác nào đó đã đốt cháy thành phố, và mỗi lúc lại có thêm những đám cháy mới bùng lên ở những địa điểm cách trung tâm đám cháy chính rất xa. Từ những ngọn đồi, trên đó thành Roma được dựng lên, ngọn lửa như những làn sóng biển tràn xuống các vùng thung lũng, nơi dày sít những ngôi nhà năm sáu tầng, đầy nghẹt những nhà gỗ, những lều quán, những khán đài lưu động bằng gỗ được dựng lên cho thích ứng với những trò chơi đủ loại, và rốt cuộc là những kho chứa gỗ, dầu ô liu, ngũ cốc, hồ đào, quả thông mà hạt được dùng để nuôi sống đám dân nghèo, cùng những kho quần áo mà thảng hoặc khi các vị Hoàng đế muốn ban ơn, người ta lại đem phân phát cho đám tiện dân sinh sống trong các ngõ hẻm chật chội. Chính ở đó, ngọn lửa tìm được đủ chất cháy để biến thành hàng tràng tiếng nổ gần như liên tiếp, và với một tốc độ chưa từng thấy, nó ngốn trọn từng đường phố một. Những người đang hạ trại ở ngoại thành hoặc đang đứng trên các máng dẫn nước dựa theo màu lửa mà đoán được đang cháy thứ gì. Chốc chốc, hơi gió điên cuồng lại mang từ biển lửa, rừng rực tung lên cao hàng nghìn hàng triệu những quả hồ đào hạnh nhân đang cháy đỏ, chúng vọt lên trời như một đàn bướm rực rỡ đông không tính xuể, và vỡ toác ra với những tiếng kêu giòn giã trong không khí, hay cuốn theo chiều gió để rồi rơi xuống những khu phố mới, những đường máng nước hay những cánh đồng vây quanh thành phố. Mọi ý định cứu hoả đều có vẻ vô vọng, trong khi đó sự xao động mỗi lúc một tăng thêm, vì một bên đám thị dân đang chạy trốn cố vượt tất cả các cổng thành để ra ngoài, còn một bên thì đám cháy lại thu hút hàng nghìn người từ những vùng lân cận, những cư dân của những thị trấn nhỏ, những nông dân cùng các mục dân nửa phần hoang dã của vùng đồng bằng Kampania, bọn này thậm chí còn hi vọng cướp của nữa.
Tiếng kêu la: “Roma đang tận số!” không rời khỏi miệng đám đông, mà sự tận số của thành đô, vào thời ấy, cũng đồng thời là sự tận số của quyền thống trị, sự tháo cởi của tất thẩy những giềng mối cho đến nay vẫn ràng buộc dân chúng thành một khối. Đám tiện dân, mà đa số là nô lệ và người tứ xứ kéo đến, không có lợi lộc gì trong sự thống trị của đế quốc La Mã, sự sụp đổ của nó đối với họ lại là sự giải thoát khỏi xiềng xích, nên đây đó họ trở thành mối đe doạ. Bạo lực và cướp bóc bắt đầu lan tràn. Dường như duy nhất chỉ còn cảnh thành phố bị thiêu huỷ là có thể thu hút sự chú ý của mọi người và có thể kìm hãm chưa thể nổ ra cuộc tàn sát, sẽ nổ ra ngay lập tức sau khi thành phố chỉ còn là đống tro tàn. Hàng trăm nghìn nô lệ chợt quên đi rằng ngoài các thần miếu và những bức tường thành La Mã còn hàng chục chiến đoàn đóng tại mọi vùng thế giới - dường như họ chỉ chờ có khẩu lệnh và thủ lĩnh là ra tay. Người ta nhắc đến tuổi Xpactakux. Xpactakux còn đâu nữa, các vị công dân bắt đầu tập họp và tự vũ trang bằng tất cả những gì họ kiếm được. Những tin tức kinh khủng nhất loan truyền khắp các cổng thành. Một số người khăng khăng bảo rằng chính thần Vunkan theo lệnh của thần vương Jupiter đang triệt phá thành phố bằng ngọn lửa lấy dưới âm ty; kẻ khác lại nói rằng đó là nữ thần Vexta trả thù về chuyện ni cô đồng trinh Rubria. Những người tin vào chuyện đó không muốn cứu chữa gì hết, họ chỉ vây quanh các thần miếu cầu xin các vị thần linh thương xót. Song loan truyền rộng rãi hơn cả là dư luận cho rằng chính Hoàng đế đã ra lệnh đốt cháy Roma để thoát khỏi mùi xú uế bay lên từ khu Xubura và để có thể dựng nên một thành đô mới mang tên Norônia. Ý nghĩ này khiến dân chúng sôi lên sùng sục. Vinixius nghĩ rằng, nếu như có lãnh tụ nào lợi dụng sự bùng nổ lòng căm thù này, thì giờ tận số của Nerô sẽ điểm sớm hơn nhiều năm.
Người ta cũng đồn rằng Hoàng đế đã phát điên, ra lệnh cho lính cấm vệ và bọn đấu sĩ đánh vào quần chúng, tàn sát tất cả. Một số người viện cả thần thánh ra thề rằng theo lệnh của gã Râu Đỏ, thú dữ đã được thả sổng ra khỏi tất cả các chuồng thú. Người ta đã nhìn thấy trên phố những con sư tử với cái bờm rực cháy và những con voi điên, những con bò tót dày xéo lên dân chúng. Trong những điều đó cũng có một phần sự thật, vì tại một số nơi, trước cảnh đám cháy đang lan lại gần, lũ voi phá tan chuồng thú thoát ra ngoài và kinh hoàng chạy thục mạng về hướng ngược với ngọn lửa, như một cơn bão tàn phá tất cả mọi thứ dọc đường. Những tin tức công khai nói rằng hàng chục người chết cháy trong lửa. Quả thực người chết rất nhiều. Có những người mất toàn bộ gia sản hoặc mất hết những sinh linh thân yêu nhất, tuyệt vọng tự lao mình vào ngọn lửa. Những kẻ khác bị khói làm chết sặc. Ở trung tâm thành phố, một bên là đồi Kapiton, một bên là các ngọn đồi Quirynan, Viminan và Exquilin, cũng như vùng nằm giữa Palatyn và đồi Caelius, nơi có những đường phố sầm uất nhất, đám cháy bùng ra cùng một lúc tại nhiều địa điểm, đến nỗi hàng đám người chạy trốn lửa về một phía nào đấy bất ngờ gặp phải một bức tường lửa lan từ phía ngược lại, đành chịu chết kinh hoàng trong biển lửa.
Trong nỗi kinh hoàng, hoang mang và lộn xộn, rốt cuộc người ta không còn biết phải chạy đi đâu. Đường nghẽn đầy đồ đạc, tại những chỗ vốn hẹp, đường hoàn toàn tắc nghẽn. Những người trốn lửa tại bãi chợ và những quảng trường, nơi về sau này sẽ xây dựng nhà hát Flavian, gần miếu thờ thần Đất, gần hàng hiên Livia và phía trên cao hơn nữa, chung quanh thần miếu Innon và Luxyna, cũng như giữa Clivux Vibriux và cổng thành Exquilin cũ, bị hàng rào biển lửa vây kín chung quanh đều bị chết hết vì nóng. Về sau, ngay tại những chỗ mà ngọn lửa không lan đến, người ta tìm thấy xác hàng trăm người bị hoá thành than, mặc dù đây đó những kẻ bất hạnh ấy đã nhổ bật các phiến đá hoặc tự chôn đến nửa người xuống đất để tránh cái nóng. Gần như không một gia đình nào ở trung tâm thành phố được cứu thoát hoàn toàn, vì vậy dọc theo các tường thành và bên tất cả mọi cổng thành, trên mọi nẻo đường đi, đều vang lên tiếng gào thét tuyệt vọng của đàn bà gọi tên những người thân yêu bị chết mất xác trong đám đông hay ngọn lửa.
Và cứ thế, trong khi một số người cầu xin lòng thương hại của các vị thần thì những kẻ khác lại nhục mạ các thần trước thảm hoạ khủng khiếp này. Người ta thấy những cụ già quay về phía thần miếu Jupiter Xtator vung tay thét lên: “Người là đấng độ thế, hãy cứu vớt lấy bàn thờ của Người và thành đô đi!” Tuy nhiên, nỗi tuyệt vọng chủ yếu quay ngược trở lại chống các vị thần La Mã cổ xưa, những vị mà theo người ta quan niệm phải có trách nhiệm chăm lo chu đáo hơn đến thành phố so với các thần khác. Họ đã tỏ ra bất lực nên phải bị người ta nguyền rủa. Ngược lại, khi trên đường phố Via Arinavia xuất hiện một đoàn các tăng lữ Ai Cập rước pho tượng nữ thần Izyđa mà người ta cứu được trong cái thần miếu nằm cạnh Porta Caelimontan, thì dân chúng liền nhập vào đám rước, bám vào xe và đẩy nó đến tận cổng thành Appia, rồi nhấc tượng ra, rước vào đặt trong thần miếu thờ thần Marx, đồng thời nện cho các vị tăng lữ thờ thần Marx một trận khi họ định cưỡng lại. Tại những nơi khác người ta gọi tên các thần Xerapix, Baan hoặc Jehova. Đám tín đồ của các vị thần này sống đầy rẫy trong các ngõ hẻm thuộc địa hạt khu Xubura và Zatybre, khiến cho những cánh đồng nằm cạnh tường thành vang rền tiếng gào, tiếng kêu. Song trong những tiếng kêu ấy hình như vang lên thanh âm thắng lợi, nên khi có một đám người góp giọng vào dàn đồng ca ngợi ca vinh quang của đấng “Chúa tể thế gian” thì những người khác bực mình vì sự ồn ào vui vẻ kia liền dùng sức mạnh dập tắt nó đi. Đây đó vang lên những bài ca kỳ lạ và trang trọng do những người đàn ông tráng niên, đàn bà, trẻ con và những cụ già hát, người ta không hiểu được ý nghĩa của những bài ca đó cứ chốc chốc lại lặp lại những lời “Đang đến kìa vị quan toà trong cái ngày giận dữ và thảm thương”. Làn sóng người sôi động và không ngủ, như mặt biển nối sóng cồn, cứ thế quay cuồng mãi quanh cái thành phố đang cháy.
Song không gì cứu vãn nổi, cả những lời thoá mạ, nỗi tuyệt vọng lẫn những bài ca. Thảm hoạ này dường như Định Mệnh, không sao cưỡng nổi, không thể van xin, một thảm hoạ hoàn toàn. Gần nhà hát Pompeius bốc cháy những kho chứa gai và dây chão mà người ta cần dùng rất nhiều cho các hý trường, các đấu trường và tất thẩy mọi loại máy móc được sử dụng trong các trò vui thế vận, bốc cháy cả những toà nhà lân cận, nơi chứa các thùng nhựa dùng để bôi trơn các dây chão kia. Suốt mấy giờ liền, toàn bộ phần thành phố nằm cạnh cánh đồng thần Marx được một ngọn lửa vàng tươi rực rỡ chiếu sáng, đến nỗi suốt một hồi lâu, những người xem nửa mê nửa tỉnh vì kinh hoàng ngỡ rằng trong cơn hoạn nạn chung này, ngay cả trật tự ngày đêm cũng bị đảo lộn, họ ngỡ như đang nhìn thấy ánh mặt trời. Song sau đó, một ánh sáng đỏ bầm màu máu đã át tất cả những màu lửa khác. Dường như có những vòi lửa và những cột lửa khổng lồ vọt lên bầu trời đã bị nung nóng bỏng, xoè rộng trên cao thành những chùm lông và hoa lửa, gió xé chúng ra biến thành những sợi chỉ vàng và những sợi tóc lửa, rồi mang mãi đi xa bên trên vùng đồng bằng Kampania, đến tận dẫy núi Anban. Đêm mỗi lúc một sáng thêm, ngay cả không khí không những chỉ chứa đầy ánh lửa mà thậm chí đầy những ngọn lửa. Sông Tyber chảy trôi đi như một dòng lửa sống động. Thành phố bất hạnh biến thành một địa ngục. Đám cháy mỗi lúc một chiếm lĩnh những khoảng không gian rộng lớn hơn, tấn công những ngọn đồi, tràn ngập vùng đồng bằng, nhận chìm các thung lũng, điên cuồng, gào thét và thiêu huỷ.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 45
Người thợ dệt Makrynux, chủ ngôi nhà mà người ta mang chàng Vinixius vào, rửa ráy, mặc quần áo cho Vinixius và cho chàng ăn, sau đó chàng hộ dân quan trẻ tuổi ấy lấy lại sức hoàn toàn, chàng tuyên bố rằng ngay trong đêm ấy chàng sẽ tiếp tục đi tìm ông Linux. Ông Makrynux, một tín đồ Thiên Chúa cũng khẳng định lại lời lão Khilon rằng cùng với thầy tu tuổi tác tên là Klemenx, ông Linux đã tới Oxtrianum, nơi Sứ đồ Piotr rửa tội cho một đám đông các tín đồ của giáo thuyết mới. Những người Thiên chúa giáo trong khu phố này được biết rằng ông Linux giao quyền quản lý nhà ông cho một người tên là Gaiux nào đó đã từ hai hôm nay. Đối với chàng Vinixius, điều đó là bằng chứng chứng tỏ rằng Ligia và bác Urxux không có mặt ở nhà và chắc chắn họ cũng đã cùng ông Linux đi tới Oxtrianum rồi.
Ý nghĩ ấy khiến chàng nhẹ cả người. Là một người già nua tuổi tác, ông Linux khó có thể hàng ngày đi bộ từ khu Zatybre ra mãi khu vực bên ngoài cổng thành Nomentan, rồi từ đó lại trở về Zatybre, nên chắc hẳn mấy ngày đó ông đã lưu lại ở nhà một trong số các đạo hữu bên ngoài thành, và cùng với ông có cả Ligia và bác Urxux nữa. Nhờ vậy họ đã thoát được hoả hoạn, và đám cháy nói chung cũng không lan sang sườn bên kia của ngọn đồi Exquilin, Vinixius thấy như trong tất cả những sự việc đó có sự an bài của Chúa Crixtux; chàng cảm thấy sự bảo trợ của Người đối với chính bản thân chàng, và với trái tim tràn ngập hơn bao giờ hết lòng biết ơn, chàng thầm hứa với Người trong tâm tưởng rằng suốt đời chàng sẽ báo đền ơn Người trước những bằng chứng hiển nhiên của những ân phước kia.
Tuy nhiên chính điều ấy càng khiến chàng nóng lòng muốn đi ngay tới Oxtrianum. Chàng sẽ tìm được Ligia, tìm được ông Linux, ông Piotr và sẽ đưa họ về một miền xa xôi nào đó, đến một mảnh đất nào đó của riêng chàng, thậm chí đến tận Xyxilia. Roma đang cháy và sau vài ngày nữa nó sẽ chỉ còn là một đống tro tàn, vậy họ còn ở lại đây làm gì trước thảm hoạ và đám người náo động? Nơi ấy họ sẽ sống giữa những đám nô lệ bị đày ải, nơi ấy họ sẽ được vây bọc giữa sự yên ả của làng quê và sẽ sống thanh bình dưới đôi cánh che chở của Chúa Crixtux, họ sẽ được ông Piotr ban phước lành. Chỉ cần tìm ra họ nữa mà thôi.
Nhưng đó không phải là chuyện dễ. Vinixius vẫn còn nhớ rõ chàng đã phải vất vả thế nào mới lần được từ đường Via Appia tới khu Zatybre, chàng đã phải chật vật biết bao mới tới được con đường Portova, nên giờ đây chàng quyết định sẽ đi vòng thành phố theo phía bên kia. Đi theo đường Khải Hoàn, dọc theo sông, có thể đến được tận cầu Emilius, từ đó, bỏ qua Pinxiux, xuôi cánh đồng thần Marx, men theo các khu vườn Pompeius, Lukullo và Xaluxtius, có thể đến được Via Nomentan. Đó là con đường ngắn nhất, song cả ông Makrynux lẫn lão Khilon đều khuyên không nên đi theo đường ấy. Cho tới lúc này, ngọn lửa chưa lan tới khu này của thành phố, nhưng tất cả các bãi chợ và đường phố đều có thể bị tắc nghẽn vì người và các thứ đồ đạc của họ. Lão Khilon khuyên nên đi qua Ager Vatykanux đến tận Porta Flaminia, tới đó sẽ vượt sông, rồi tiếp tục đi dọc bên ngoài tường thành, bên ngoài khu vườn Axylius, về phía Porta Xalaria. Sau một lúc ngần ngừ, Vinixius đồng ý với lời khuyên ấy.
Ông Makrynux phải ở lại để canh nhà, song ông đã cố tìm được hai con la mà họ có thể dùng để lên đường tiếp tục đi tìm Ligia. Ông cũng định cấp thêm cho một người nô lệ nữa đi cùng nhưng Vinixius từ chối, vì chàng nghĩ rằng đám quân cấm vệ đầu tiên mà chàng gặp được trên đường đi sẽ tuân theo lệnh chàng, giống như lần vừa rồi.
Lát sau, cùng với lão Khilon, chàng lên đường vượt qua Pagux Janiculenxix về hướng đường Khải Hoàn. Ngay cả tại đây, những chỗ trống cũng đã biến thành khu hạ trại, tuy nhiên họ vẫn len qua được, ít vất vả hơn, vì phần lớn dân chúng chạy trốn theo đường Portova dồn về phía biển. Qua cổng Xeptymian họ đi dọc con đường nằm giữa dòng sông và những khu vườn Đomixia tuyệt đẹp, những cây trắc bá của nó bị đám cháy hắt ánh đỏ rực trông như nhuộm trong ráng chiều. Đường mỗi lúc một thoáng người hơn, chỉ thảng hoặc họ mới phải đương đầu với dòng dân quê đi ngược lại mà thôi. Vinixius thúc la đi nhanh hết sức, còn lão Khilon theo sau chàng suốt dọc đường cứ lầm bầm tự nhủ: ‘’Thế là đám cháy đã nằm lại phía sau và đang làm nóng rát lưng ta. Chưa bao giờ trên con đường này ban đêm lại sáng tỏ đến thế. Lạy thần Zeux! Nếu người không trút mưa rào xuống dập tắt đám cháy này thì điều đó có nghĩa là Người không còn yêu gì Roma nữa cả. Sức người không thể dập nổi đám cháy nhường kia. Cả một thành đô được cả Hi Lạp lẫn toàn thế giới phục sự kia mà! Ấy vậy mà giờ đây bất kỳ một tên Hi Lạp nào cũng có thể nướng đậu trong đám tro than của thành phố! Ai ngờ được chuyện ấy kia chứ!… Sẽ không còn Roma và sự thống trị của La Mã nữa rồi… Khi đám tro tàn này nguội đi, kẻ nào muốn dẫm lên và huýt sáo sẽ được bình an mà huýt sáo tuỳ thích. Lạy các thần linh! Huýt sáo giễu cả cái thành đô thống trị thế giới thế này. Kẻ nào trong đám dân Hi Lạp hay ngay cả bọn dân man rợ nữa lại có thể ngờ được điều ấy…Vậy mà hắn có thể cứ huýt sáo, bởi vì đám tro tàn dù là còn lại sau đống lửa của bọn mục đồng hay sau một thành phố đã bốc cháy thì cũng chỉ là một đống tro tàn, chóng hay chầy rồi gió cũng thổi tung hê đi hết mà thôi”
Vừa lầm bầm, thỉnh thoảng lão lại vừa quay nhìn về phía sóng lửa với bộ mặt vừa vui mừng vừa dữ tợn. Rồi lão lại lẩm bẩm tiếp:
“Nó đang chết! đang chết! Sẽ không còn có nó trên mặt đất nữa. Giờ thì thế giới biết gửi đi đâu ngũ cốc, ô liu và tiền bạc của mình kia chứ? Ai sẽ cướp bóc vàng và ép ra những giọt nước mắt của thế giới? Cẩm thạch tuy không cháy nhưng sẽ nát vụn ra trong lửa. Kapiton thành gạch vụn và Palatyn đang thành gạch vụn. Hỡi thần Zeux! Roma vốn là mục đồng mà các dân tộc khác như đàn cừu. Khi mục đồng đói lòng, hắn chọc tiết một con cừu, chén thịt nó và dâng lên Người tấm da, hỡi vị cha đẻ của tất thẩy các thần! Còn giờ đây, hỡi vị thần Dôn Mây Mù, ai sẽ chọc tiết cừu cho Người. Người biết trao chiếc roi chăn dắt vào tay ai đây? Bởi Roma đang cháy thưa cha, như chính Người đã dùng sét của Người thiêu cháy vậy”
- Quàng lên, - Vinixius giục lão. - Ngươi làm gì thế?
- Tôi đang khóc thương Roma, thưa ông chủ. - Lão Khilon đáp, - một thành đô thần vương như thế!(1)…
Hồi lâu họ cứ đi trong im lặng, lắng nghe tiếng gầm réo của đám cháy và tiếng xao động của những cánh chim. Giống bồ câu vốn làm tổ hàng đàn hàng lũ trong những toà biệt thự và những thị trấn khắp vùng Kampania, cùng đủ loại chim đồng, từ biển và từ vùng núi lân cận, bay hàng đàn như đui như mù lao vào đám lửa, chắc hẳn chúng tưởng nhầm ánh lửa cháy là ánh sáng mặt trời.
Vinixius là người đầu tiên phá vỡ im lặng:
- Khi đám cháy bùng nổ, ngươi đang ở đâu?
- Tôi đang đến thăm ông bạn Euryxius, thưa ông chủ, ông ta đang giữ một quầy hàng cạnh Đại Hý Trường. Tôi đang suy ngẫm về giáo thuyết của Đức Chúa Crixtux, thì vừa lúc người ta bắt đầu kêu lên: “Cháy!” Người ta tụ tập chung quanh hý trường vừa để cứu hoả vừa vì tò mò, nhưng đến khi ngọn lửa trùm lên cả hý trường, đồng thời lại xuất hiện ở một vài nơi khác, thì người ta phải nghĩ ngay tới chuyện tự cứu lấy bản thân.
- Ngươi có trông thấy những kẻ ném đuốc đang cháy vào các nhà không?
- Có gì mà mắt tôi không thấy, hỡi cháu nội của ngài Eneas! Tôi đã trông thấy người ta dùng gươm để dọn đường trong đám đông; tôi đã trông thấy những đám đánh nhau và gan ruột người bị dẫm đạp nhầy nhụa trên đường. Ôi, thưa ngài, giá ngài nhìn thấy cái đó hẳn ngài ngỡ rằng bọn man rợ đã chiếm lĩnh được thành phố và đang tàn sát. Bốn chung quanh người ta gào lên rằng đã tới hồi tận thế mất rồi. Một số kẻ hoàn toàn mất tinh thần, không còn muốn trốn chạy và chờ đợi một cách vô hồn cho đến khi ngọn lửa ngoạm lấy chúng. Bọn khác điên khùng lên, bọn khác nữa hú hét lên vì tuyệt vọng, song tôi cũng trông thấy cả những kẻ hú hét lên vì sung sướng, bởi vì, thưa ngài, trên đời này có biết bao kẻ đốn mạt, không hề biết đánh giá đúng cái tốt đẹp của sự thống trị an bình của chúng ta và của những quyền chính đáng, cho phép các ngài được tước đoạt hết của tất cả mọi người những gì họ có thể chiếm làm của mình. Loài người không biết sống hoà hợp với ý chí các vị thần linh!
Quá bận tâm tới những ý nghĩ riêng tư, Vinixius không nhận thấy sự châm chọc rung ngân trong những lời của lão Khilon. Cơn rùng mình kinh hoàng chạy xuyên dọc suốt người chàng khi nghĩ rằng Ligia có thể rơi vào đám hỗn loạn đó, trên những phố xá kinh khủng đó, nơi người ta chà đạp lên ruột gan của con người. Vậy nên mặc dù đã tới mười lần chàng hỏi lão Khilon về tất thẩy những gì lão có thể biết, chàng vẫn còn quay lại hỏi lão lần nữa:
- Vậy nhưng chính mắt ngươi đã trông thấy họ tại Oxtrianum chứ?
- Tôi đã trông thấy, thưa con trai của nữ thần Venera, tôi đã trông thấy nàng trinh nữ, bác Ligi tốt bụng, ông Linux thánh thiện và đức Sứ đồ Piotr.
- Trước khi có đám cháy chứ?
- Trước đám cháy, hỡi Mitro!
Song trong lòng chàng Vinixius lại nẩy sinh lòng ngờ vực, không hiểu lão Khilon có bịa chuyện không, chàng bèn kìm con la, nhìn lão Hi Lạp vẻ đầy đe doạ rồi hỏi:
- Thế nhà ngươi làm gì ở đó?
Lão Khilon bối rối. Mặc dù cũng giống như nhiều người khác, lão ngỡ rằng một khi Roma tiêu huỷ thì cũng chấm dứt sự thống trị của La Mã, nhưng lúc này lão đang đối mặt với Vinixius, lão chợt nhớ ra rằng chính chàng đã cấm lão dòm ngó những người Thiên chúa, đặc biệt là ông Linux và Ligia, với một lời đe doạ khủng khiếp nếu lão vi phạm.
- Thưa ngài, - lão nói, - sao ngài lại không tin rằng tôi yêu mến họ? Chính thế, tôi có mặt tại Oxtrianum, bởi vì bản thân tôi đã nửa phần là tín đồ Thiên chúa, Piron đã dạy tôi phải đánh giá phẩm hạnh cao hơn triết lý, nên càng ngày tôi càng gắn bó với những con người đức hạnh. Ngoài ra, thưa ngài, tôi nghèo khó, và trong khi ngài, thưa thần Jupiter, đang chơi bời ở Anxium, thường khi tôi phải chịu đói lòng trên những trang sách, vậy nên tôi đành phải ngồi bên tường thành tại Oxtrianum, bởi lẽ những tín đồ Thiên chúa, mặc dầu bản thân họ cũng nghèo, nhưng bố thí nhiều hơn tất thẩy các công dân La Mã cộng lại.
Đối với Vinixius, lý lẽ này hoàn toàn đủ nên chàng bèn hỏi tiếp với vẻ ít dữ tợn hơn:
- Và ngươi không biết thời gian ấy ông Linux sống tại đâu chứ?
- Đã một lần ngài trừng phạt tôi tàn khốc, thưa ngài, về tội quá tò mò.
Vinixius im lặng tiếp tục đi.
- Thưa ngài, - lát sau lão Khilon lên tiếng - ngài không thể tìm nổi nàng trinh nữ giá như không có tôi, vậy một khi ta tìm được nàng, ngài sẽ không quên nhà hiền triết nghèo khổ này chứ ạ?
- Ngươi sẽ nhận được một ngôi nhà với vườn nho ở gần Ameriola, - Vinixius đáp.
- Tạ ơn người, hỡi Herkulex! Với trại nho sao?…Cảm ơn người! Ồ, phải! Với trại nho!
Lúc này họ băng qua ngọn đồi Vatykan đỏ rực trong ánh lửa, rồi sau khi qua Naumakhia họ rẽ phải để vượt qua cánh đồng Vatykan tiến đến bờ sông, và vượt qua sông đi tới Porta Flaminia. Đột nhiên lão Khilon ghìm con la lại và bảo:
- Thưa ngài, tôi chợt nghĩ ra một ý hay!
- Nói đi! - Vinixius bảo.
- Ở giữa đồi Janikun và đồi Vatykan, bên kia khu vườn Agrypina có những hầm ngầm, nơi người ta khai thác đá và cát để xây dựng để xây dựng hý trường Nerô. Thưa ngài, xin ngài hãy nghe tôi! Thời gần đây, bọn Do Thái, mà như ngài biết đấy, chúng sinh sống rất đông ở khu Zatybre, bắt đầu rình mò gắt gao những người Thiên chúa giáo. Ngài chắc nhớ là từ thuở sinh thời Hoàng đế Klauđius hiển linh đã từng xẩy ra những vụ lộn xộn đến nỗi Hoàng đế buộc phải đuổi cổ bọn chúng ra khỏi Roma. Hiện nay một khi đã quay trở về và nhờ có thế lực của Augusta mà chúng cảm thấy được yên ổn, thì chúng lại càng quấy phá tín đồ Thiên chúa giáo dữ hơn. Tôi biết rõ chuyện đó lắm. Tôi trông thấy mà! Chưa có một đạo luật nào chống dân Thiên chúa được ban bố, nhưng chính bọn Do Thái đã kiện với ngài đô trưởng rằng dân Thiên chúa giết chóc trẻ con, thờ bọn lừa và truyền bá một thứ giáo thuyết chưa được Viện Nguyên lão công nhận, và chính bọn chúng đã đánh đập họ và tấn công vào các nhà nguyện của họ hung tợn đến mức dân Thiên chúa giáo buộc phải che giấu chúng những hoạt động của họ.
- Nhưng nhà ngươi muốn nói điều gì? - Vinixius hỏi.
- Rằng, thưa ngài, các khu nhà nguyện tồn tại công khai ở khu Zatybre, nhưng để tránh bị theo dõi, dân Thiên chúa giáo phải cầu nguyện một cách bí mật, họ tụ tập nhau lại trong các lều hoang ở ngoại thành hoặc trên các đấu trường bỏ trống. Những kẻ sinh sống ở khu Zatybre đã chọn đúng chỗ này, nơi được hình thành vì lí do xây dựng hý trường, cùng nhiều ngôi nhà khác nhau dọc sông Tyber. Giờ đây, khi thành phố đang bị tiêu huỷ, chắc hẳn các tín đồ của Chúa Crixtux đang cầu nguyện. Chúng ta sẽ tìm ra bọn họ, đông vô kể, trong các hầm ngầm dưới đất, vì thế tôi xin ngài, chúng ta sẽ rẽ vào đó trên đường đi.
- Thế mà nhà ngươi lại nói rằng ông Linux đã rời tới Oxrtrianum! - Vinixius sốt ruột thốt lên.
- Còn ngài thì hứa cho tôi một ngôi nhà có trại nho ở gần Ameriola, - lão Khilon đáp, - vậy nên tôi muốn tìm kiếm nàng trinh nữ khắp mọi nơi, những nơi mà tôi hi vọng tìm thấy nàng. Khi đám cháy bùng nổ họ có thể đã quay lại khu Zatybre… Có thể họ đã đi vòng quanh thành phố giống như chúng ta lúc này đang làm vậy. Ông Linux vốn có một nếp nhà, có thể ông ấy muốn được ở gần nhà hơn để nhìn xem đám cháy có lan tới khu này hay không. Nếu như họ quay trở về, thì tôi xin thề với Perxefon, thưa ngài, rằng chúng ta nhất định sẽ tìm thấy họ đang cầu nguyện trong hang ngầm, tệ nhất thì chúng ta cũng thu được những tin tức nào đó về họ.
- Ngươi nói phải, vậy hãy dẫn đường đi! - Chàng hộ dân quan nói.
Không ngần ngại, lão Khilon quành về bên trái, về hướng ngọn đồi. Hồi lâu sườn đồi che khuất đám cháy cho họ, nên mặc dù những chỗ cao gần đấy vẫn ngập trong ánh sáng, nhưng chính họ lại chìm trong bóng tối. Bỏ qua hý trường, họ rẽ sâu hơn nữa về bên trái và lọt vào một chốn giống như một khe núi, trong đó hoàn toàn tối đen. Nhưng trong bóng tối đó Vinixius trông thấy nhiều đèn lửa chập chờn.
- Bọn họ đấy! - lão Khilon thốt lên - Hôm nay bọn họ sẽ đông hơn bao giờ hết, bởi vì những nhà nguyện khác đã bị thiêu huỷ hoặc đang dầy đặc khói giống như cả khu phố Zatybre.
- Phải, ta có nghe tiếng hát, - Vinixius nói.
Quả thực từ một lỗ hổng tối tăm bên trên vọng ra những giọng người đang hát, còn những ánh đèn lần lượt thay nhau mất hút vào trong ấy. Song từ những khe núi bên cạnh mỗi lúc một hiện ra những bóng người mới, và lát sau Vinixius cùng lão Khilon lọt vào giữa một đám đông người.
Lão Khilon bước xuống la, gật đầu với một thiếu niên đang bước đi bên cạnh và bảo:
- Ta là tăng lữ của Đức Crixtux, một giám mục. Ngươi hãy trông la cho chúng ta, ngươi sẽ được ta ban phước lành và rửa sạch mọi thứ tội lỗi.
Rồi không chờ trả lời, lão ấn dây cương vào tay cậu bé và cùng với chàng Vinixius nhập vào toán người đang đi.
Lát sau, họ đi vào hang ngầm dưới đất, lần mò theo ánh đèn mờ ảo chập chờn trong cái hành lang tối tăm cho đến khi tới được một cái vòm hang rộng rãi, nơi trước kia hẳn người ta đã khai thác đá, vì các vách hang được tạo thành từ những phiến đá với những vết toác mới tinh khôi.
Ở đây sáng hơn trong hành lang, vì ngoài những cây đèn cầy và đèn nhỏ còn có các ngọn đuốc cháy rần rật. Trong ánh đuốc, Vinixius trông thấy một đám đông người đang quỳ gối vươn hai tay lên trời. Chàng chẳng thấy Ligia, sứ đồ Piotr và ông Linux đâu cả. Ngược lại, vây chung quanh chàng là những khuôn mặt trang trọng và đầy xúc động. Trên một số khuôn mặt hiện rõ vẻ chờ trông lo lắng và hi vọng. Ánh đèn lửa nhẩy nhót trong lòng trắng của những đôi mắt đang ngước nhìn lên, mồ hôi tuôn chảy trên những vừng trán nhợt nhạt như phấn, một số người đang ca hát, những kẻ khác thành tâm gọi cầu tên Chúa Jexux, một vài người đấm ngực thình thình. Có thể đoán được rằng người ta đang chờ trông một cái gì đó trọng đại sắp xẩy ra sau phút chốc nữa thôi.
Đột nhiên những người hát im bặt và trên đầu đám người, trong một cái ô cửa hình thành sau khi lấy đi một phiến đá khổng lồ, chợt hiện ra khuôn mặt ông Kryxpux, quen thuộc với Vinixius, khuôn mặt gần như mê hoảng, tái nhợt, sùng tín và khắc nghiệt. Mọi cặp mắt đều hướng về ông, dường như chờ đợi những lời động viên và hi vọng, còn ông, sau khi chào đám người, bắt đầu cất tiếng nói vội vã, gần như những tiếng kêu la:
- Các người hãy than tiếc đi cho những tội lỗi của các người, bởi giờ đã đến rồi! Đấy, Đức Chúa đã trút ngọn lửa huỷ diệt xuống cái thành phố tội ác và trác táng này như xuống một thành Babilon mới. Đã điểm rồi giờ phút xét xử, giận dữ và thảm hoạ… Chúa đã báo trước rằng Người sẽ đến và các ngươi sẽ được trông thấy Người. Nhưng Người sẽ không đến đây như Con Chiên đã từng hiến máu chuộc tội cho các ngươi, mà như một vị quan toà kinh khủng, nhân danh công lý của Người, dìm những kẻ có tội và bất tín vào vực thẳm… Thảm thương thay cho những kẻ có tội, vì đối với chúng sẽ không còn có lòng nhân từ nữa… Con đã thấy Người kia rồi, hỡi Chúa Crixtux! Những cơn mưa sao đang sa xuống mặt đất, vầng thái dương tối tăm đi, mặt đất há ra những vực thẳm khôn cùng, những hồn ma của những người đã quá cố thức dậy, và Người đi giữa tiếng kèn, giữa đoàn Thiên sứ, giữa tiếng sấm và làn chớp giật. Con đã thấy và đang nghe thấy tiếng Người kia, hỡi Chúa Crixtux!
Ông chợt câm bặt và ngửa mặt lên dường như đang dõi nhìn một cái gì xa xôi và khủng khiếp. Và chính lúc ấy, trong cái hang ngầm chợt vang rền tiếng ầm ầm câm đặc, một, hai rồi mười tiếng. Đó là tiếng của hàng dãy những ngôi nhà cháy trụi đang sập đổ trong tiếng ầm ầm giữa một thành phố đang rừng rực cháy. Nhưng phần lớn những người Thiên chúa giáo xem tiếng động đó là tín hiệu báo rõ ràng giờ kinh khủng đã tới, vì trong số các tín đồ ấy, lòng tin vào sự xuất hiện lần thứ hai và nhanh chóng của Chúa Crixtux cùng với sự tận thế được truyền bá rất rộng, lúc này lòng tin ấy được củng cố thêm bởi hoả tai của thành đô. Vậy nên nỗi sợ Chúa Trời trùm lên đám người. Nhiều giọng nói lắp đi lắp lại: “Ngày phán xét!… Người đang đến kia rồi!” Nhiều người lấy tay che mặt vì tin rằng chỉ giây lát nữa thôi mặt đất sẽ rung lên dưới chân, và từ những vực thẳm của nó, những bầy thú dữ của địa ngục sẽ kéo ra để lao vào những kẻ có tội. Những kẻ khác kêu lên: “Lạy Chúa Crixtux, xin hãy thương tình. Hỡi Người chuộc tội, xin Người hãy nhân từ…” Còn một số người nữa lớn tiếng thú tội, và cuối cùng có những người ôm chặt lấy nhau, để có được bên mình những trái tim gần gũi trong giờ phút kinh khủng.
Song cũng có những khuôn mặt chứa chan nụ cười thiên giới, thanh thản và không hề biểu lộ nỗi sợ hãi. Nhiều chỗ vang lên những lời bàn tán trong cơn cuồng tín, người ta bắt đầu kêu to những câu không ai hiểu nổi bằng những thứ ngôn ngữ khó hiểu. Từ một góc hang tối đen có ai đó kêu lên: “Hãy tỉnh dậy đi, kẻ nào còn đang ngủ!” Bên trên tất cả là tiếng kêu của ông Kryxpux: “Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy!”
Tuy nhiên thỉnh thoảng im lặng lại bao trùm, dường như ai nấy đều nín thở chờ xem điều gì sẽ xảy ra. Vào những lúc đó, có thể nghe rõ tiếng ầm ầm xa xa của những khu phố đang sụp đổ. Rồi lại vang lên tiếng rền rĩ, lời cầu nguyện, bàn tán và tiếng kêu cầu: “Hỡi người chuộc tội, xin Người hãy thương tình!” Chốc chốc ông Kryxpux lại lên tiếng, ông kêu lên: “Các ngươi hãy chối bỏ đi những của cải trần thế, bởi vì chỉ chốc nữa thôi sẽ không còn đâu mặt đất dưới chân các ngươi! Hãy chối bỏ đi những tình yêu trần thế, bởi Chúa sẽ không nhận những kẻ nào yêu vợ con hơn yêu Người! Thương thay cho kẻ nào yêu thương vật được sáng tạo hơn người sáng tạo! Đáng thương thay cho kẻ giàu! Đáng thương thay những kẻ xa hoa! Đáng thương thay những kẻ truỵ lạc! Đáng thương thay cho chồng, cho vợ, cho con!…”
Đột nhiên, một tiếng rền mạnh hơn tất thẩy những tiếng động trước kia làm rung chuyển cả khu mỏ đá. Tất cả mọi người đều nằm lăn ra đất, giang tay thành hình chữ thập, mong dùng cái dấu hiệu này tự vệ trước những loài quỷ dữ. Im lặng bao trùm, trong đó chỉ nghe những hơi thở gấp gáp, những tiếng thì thầm đầy kinh hoảng: “Jexux, Jexux, Jexux!”, và đây đây có tiếng khóc trẻ thơ. Đúng vào lúc đó, bên trên cái biển người đang nằm rạp, chợt vang lên một giọng nói thật bình tĩnh:
- Bằng an cùng các người!
Đó là tiếng của Sứ đồ Piotr, người vừa mới bước vào hang. Nghe thấy tiếng ông, lập tức nỗi sợ hãi của mọi người qua đi, hệt như nỗi hãi hùng của đàn chiên con qua ngay khi người chăn chiên xuất hiện. Người ta nhổm dậy, những người ở gần nép vào chân ông, như tìm kiếm chỗ nương tựa dưới cánh ông, còn ông giơ đôi cánh tay lên đầu họ và nói:
- Sao các người lại sợ hãi trong lòng? Ai trong các người có thể đoán trước được những điều gì sẽ đến với mình trước khi giờ phút điểm? Chúa đã dùng lửa trừng phạt thành Babilon, nhưng đối với các ngươi, những kẻ đã chịu lễ rửa tội, những kẻ đã được máu của chính Con Chiên chuộc cho mọi lỗi lầm, thì sẽ là lòng nhân từ của Người, các ngươi sẽ chết với tên Người trên môi. Bằng an cùng các ngươi!
Sau những lời dữ tợn và thiếu lòng nhân của ông Kryxpux, những lời của ông Piotr đến với những người có mặt tựa như mật ngọt. Thay cho nỗi sợ Chúa, lòng yêu Chúa tràn ngập lòng người. Họ lại tìm thấy được một Đức Chúa Crixtux mà họ hằng yêu qua những lời kể của đức Sứ đồ, không phải là một vị quan toà chẳng chút nhân từ mà là một Con Chiên ngọt ngào và kiên nhẫn, mà lòng nhân trăm lần vượt quá sự dữ của nhân loại. Một cảm giác nhẹ nhõm xâm chiếm toàn bộ đám người, nỗi vui sướng cộng với lòng biết ơn đức Sứ đồ tràn ngập muôn trái tim. Nhiều giọng nói từ các phía khác nhau vang lên: “Chúng tôi là chiên con của Người, xin Người hãy chăn dắt chúng tôi!” Những kẻ được ở gần hơn thì nói: “Xin đừng bỏ chúng tôi trong ngày hoạn nạn!” Và họ quỳ quanh chân ông. Nhìn thấy thế, Vinixius tiến lại gần, nắm lấy mép chiếc áo choàng của ông, chàng cúi đầu nói:
- Xin Người hãy cứu lấy con! Con tìm kiếm nàng trong khói của đám cháy cũng như trong đám người dày đặc, nhưng chẳng nơi đâu con tìm nổi nàng. Song con vẫn hằng tin rằng Người sẽ có thể mang nàng trả về cho con.
Ông Piotr đặt tay lên đầu chàng:
- Con hãy tin, - ông nói, - và hãy đi cùng ta.
Chú thích:
(1) Nguyên văn: một thành đô của Jupiter như thế!
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 46
Thành phố vẫn cháy triền miên. Đại hý trường đổ sụp thành một đống tro tàn, sau đó, tại những khu phố bị bốc cháy đầu tiên, từng dãy phố, từng ngõ phố cùng đổ sụp. Mỗi lần sụp đổ như thế, những cột lửa lại vọt lên cao đến tận trời. Gió đã đổi chiều và với một sức mạnh khó đo nổi thổi về từ phía biển, mang tới Caelinux, mang lên đồi Exquilinux và đồi Viminalix những sóng lửa, tàn lửa và trot han. Tuy nhiên, người ta cũng bắt đầu nghĩ tới việc cứu hỏa. Theo mệnh lệnh của Tygelinux - kẻ mãi ngày thứ ba mới từ Anxium chạy về - người ta bắt đầu phá sập các ngôi nhà trên đồi Exquilinux, để khi gặp phải chỗ trống ngọn lửa sẽ tự tắt đi. Song đó chỉ là một sự cứu chữa vô ích mà người ta cố công tiến hành để cứu lấy phần còn lại của thành phố, bởi vì đối với những gì đã cháy trụi đi rồi thì chẳng cần thiết phải nghĩ tới chuyện cứu chữa làm cho nữa. Ngoài ra, còn phải lo đối phó với những hậu quả tiếp theo sau thảm họa. Cùng với thành Roma, đã bị tiêu hủy vô vàn của cải, toàn bộ tài sản của các cư dân thành đô, khiến cho giờ đây chung quanh tường thành hàng trăm ngàn người cùng khổ phải sống trong cảnh lang thang màn trời chiếu đất.
Ngay từ hôm thứ hai, cái đó đã bắt đầu đe dọa đám người đông nhung nhúc này, bởi lẽ những kho lương thực dự trữ đầy ắp trong thành phố bị thiểu hủy cùng với nó, mà trong cảnh hỗn loạn chung vè tình trạng rã rời của các quan chức, chưa một ai nghĩ tới chuyện chuyển số lương thực mới tới cung cấp. Mãi sau khi Tygelinux tới mới có những mệnh lệnh thích hợp được gửi tới Oxtia, song lúc này dân chúng đã bắt đầu trở nên mỗi lúc một hung tợn hơn.
Ngôi nàh gần Aqua Appia, nơi Tygelinux tạm nương náu, bị bao vây bởi những đám đông đàn bà kêu gào từ sáng sớm đến đếm: "Bánh mì và nhà ở". Bọn lính cấm vệ được điều từ trại binh lớn nằm giữa Via Xafaria và Nomenta cố công nhung không sao duy trì được trật tự. Nhiều nơi người ta công khai dùng vũ khí chống lại chúng, nơi khác, những đám đông không một tấc sắt chỉ tay về phía thành phố đang cháy thét lên: "Với ngọn lửa kia chúng mày hãy cứ giết chúng tao đi!". Người ta nguyền rủa hoàng đế, đám cận thần, lính cấm vệ và mỗi giờ không khí lại sôi sục lại càng nóng bỏng thêm lên, đến nỗi ban đêm, khi nhìn hàng nghìn đám lửa vây quanh thành phố, Tygelinux tự nhủ thầm rằng đó chính là lửa của các trị binh kẻ thù vậy. Theo lệnh y, ngoài bột mì, người ta còn chở đến rất nhiều bánh mì đã nướng sẵn, không những chỉ từ Oxtia mà từ khắp các thị trấn và làng mạc trong vùng, nhưng khi chuyến hàng đầu tiên được chở tới Emporium, dân chúng đã phá cổng thành chính từ phía đồi Aventyn và chỉ trong chớp mắt đã cướp sạch sành sanh số lương thực ấy, gây ra một cảnh náo động kinh hoàng. Trong ánh lửa đỏ, người ta giật nhau, cướp từng ổ bánh mì, dẫm nát vô số khác dưới chân. Từ những bao bột mì bị rách, bột vung vãi như tuyết trắng phủ đầy khoảng không gian từ các kho ngũ cốc đến tận cổng vòm Đruxux và Germanik, cơn náo động kéo dài mãi cho tới khi bọn lính vât chặt các tòa nhà và dùng tên đạn xua đuối đám người. Kể từ khi xẩy ra cuộc tấn công của người Gali dưới sự thống lĩnh của Brennux, Roma chưa khi nào gặp phải một thảm họa tương tự. Và người ta cũng tuyệt vọng khi so sánh hai đám cháy ấy với nhau. Trước kia, dù sao quanh Kapiton là cả một vùng lửa rừng rực. Dù đá cẩm thạch không bị lửa đốt cháy, nhưng ban đêm, khi thỉnh thoảng những ngọn lửa bị gió thổi dạt ra, có thể trông rõ những hàng cột của đền thượng Jupiter bị nung đỏ và phát ra ánh sáng màu hồng giống như những hòn than cháy bỏng. Vả chăng, thời Brennux, Roma có một đám dân chúng có kỷ cương, thống nhất, gắn bó với thành đô và với với bàn thờ, còn giờ đây, bốn chung quanh bức tường thành của thành phố hừng hực cháy đang lang thang một đám người lang chạ đủ mọi thứ ngôn ngữ, mà phần đông là nô lệ và nô lệ giải phóng, náo động, vô cương và dưới tác dộng của sự bần hàn, sẵn sàng chỉa mũi nhọn chống lại cả chính quyền lẫn thành đô.
Tuy nhiên, chính cái quy mô to lớn của đám cháy, khiến trái tim người tràn ngập hãi hùng, đã dẹp yên một phần nào đó đám tiện dân. Sau hỏa hoạn sẽ có thể tiếp đến nạn đói và bệnh tật, vì không may chính những ngày đó lại là những ngày tháng bẩy nóng nực vô chừng. Bị thiêu đốt bởi ngọn lửa và mặt trời, không sao thở được. Đêm không những không mang đến đối chút dễ chịu mà lại trở thành địa ngục. Còn ban ngày thì phơi bày ra một cảnh tượng kinh hoàng và dữ dội. Ở giữa trung tâm là thành đô khổng lồ trên các ngọn đồi đang biến thành một núi lửa phun, còn khắp bốn chung quanh, tới tận núi Anban, là một khu trại vô tận gồm những nhà, những lều, trại căng tạm, xe ngựa, càng, kiệu, những đống lửa, bị che khuất trong những đám khói, đám bụi mù mịt, được chiếu sáng bởi những tia nắng mặt trời hung hung đỏ vì xuyên qua đám cháy, đầy tiếng ồn ào, tiếng kêu la, lời đe dọa, nỗi hằn thù và sự sợ hãi, một đám quần hợp quỷ quái của những đàn ông, đàn bà và trẻ con. Giữa những người Quyrit là dân Hy Lạp, những cư dân mắt màu nhạt của phương Bắc, những người Châu Phi và Châu Á, giữa đám công dân là bọn nô lệ, nô lệ giải phóng, đấu sĩ, thương nhân, thợ thủ công, nông dân và binh lính, cả một biển người thực sự vây quanh hòn đảo lửa.
Đủ loại tin tức khác nhau là xao động cái biển cả này như gió làm nổi lên những làn sóng. Những tin lành và những tinh không lành. Người ta kháo nhau về những kho vô vàn lương thực và quần áo đã được chở tới Emporium và sẽ được phát chẩn. Người ta còn nói rằng, theo lệnh của hoàng đế, các tỉnh trấn ở Châu Á và Châu Phi sẽ bị cướp sạch sành sanh tài sản của cải, số cướp được thu vào ngân khố sẽ đem chia cho dân chúng thành Roma, để mỗi người có thể tự xây dựng lại nhà ở cho chính mình. Song đồng thời người ta cũng truyền đi những cái tin, ví như nước trong đường máng đã bị đánh thuốc độc và Nerô muốn hủy diệt thành đô, triệt hết cư dân thành phố, để chuyến đến Ai Cập hoặc Hy Lạp và từ đó thống trị thế giới. Mỗi tin tức đều lan truyền nhanh như chớp và đều tìm thấy lòng tin trong đám tiện dân, gây nên những cơn bùng nổ hy vọng hay giận dữ, kinh hoàng hoặc điên khùng. Rốt cuộc hàng nghìn hàng nghìn con người lang thang ấy dường nhưu bị lên một cơn sốt nào đó. Lòng tin của các tín đồ Thiên Chúa giáo rằng ngày tận thế kết thúc bằng lửa đã đến gần, mỗi ngày thêm lan rộng giữa đám tín đồ thờ các vị thần. Người ta rơi vào cơn chán chường nhắm mắt đưa chân hoặc vào cơn điên loạn. Người ta trông thấy giữa những đám mây được quầng lửa chiếu sáng là những vị thần đương nhìn xuống sự hủy diệt trái đất, họ vươn tay lên cầu xin lòng thương xót, hoặc trỏ tay nguyền rủa các thần.
Trong khi đó, với sự trợ lực của một số cư dân thành phố, binh lính vẫn tiếp tục phá dỡ nhà trên đồi Exquilin, trên đồi Caeliux, cũng như ở khu Zatybre, nhờ đó mà phần lớn khu này được cứu thoát. Nhưng giữa lòng thành phố đã cháy rụi nhiều kho báu vô kể được tích tụ qua bao thể kỷ chiến thắng, những tác phẩm nghệ thuật vô giá, những thần miếu tuyệt vời và những kỷ vật quý giá nhất của quá khứ và niềm vinh quang La Mã. Người ta đồ rằng cả thành phố chỉ cứu được vài khu phố nằm ngoài rìa và hàng trăm nghìn con người trở nên không có mái che thân. Một số người tuy vậy vẫn đồn rằng: Binh lính phá nhà không phải để kìm hãm ngọn lửa mà chính là để cho không còn một thứ gì của thành phố còn sót lại. Trong từng bức thư, Tygelinux đều cầu xin hoàng đế hãy trở về và dùng sự có mặt của người làm yên lòng đám dân chúng đang tuyệt vọng. Nhưng Nerô chỉ lên đường khi ngọn lửa đã chiếm lĩnh "domus transitoria"(1), ngài vội vã để không bỏ lỡ mất thời điểm khi đám cháy đạt tới sức mạnh khủng khiếp nhất.
Chú thích:
(1) Latinh : Nhà truyền ngôi
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 47
Trong khi ấy ngọn lửa đã lan đến Via Nomentan, từ đí cùng với gió đổi chiều, nó ngoặt về phía Via Lât và phía sông Tyber, vòng quanh đồi Kapiton, tràn xuống Forum Boarium và tàn phá tất thẩy những gì mà nó lướt qua trong đà cuốn đầu tiên, nó lại tiến đến gần Palatyn một lần nữa. Tập trung tất cả lực lượng quân cấm vệ, Tygelinux phái hết điệp sứ này đến điệp sứ khác đến báo tin cho hoàng đế đang tiến về, rằng sự tuyệt vời của cảnh tượng chưa bị mất mát chút gì hết, vì đám cháy đang ngày một mạnh thêm lên. Nhưng Nerô muốn đến vào lúc ban đêm để có thể chiêm ngưỡng cảnh thành phố đang bị hủy diệt một cách hoàn hảo. Nhằm mục đích đó, ngài dừng chân lại trong vùng Auqa Anbana rồi gọi diễn viên bi lịch Aliturux vào lều giúp ngài chuẩn bị thân hình, bộ mặt, cái nhìn. Ngài hằn học nhẩm những cử chỉ thích hợp, tranh luận sôi nổi với y xem khi nói những lời: "Ôi, thành đô thần thánh, những tưởng trường tồn hơn cả Iđa!" - ngài sẽ phải vươn cả hai tay lên trời hay một tay cầm cây đàn forminga để thõng dọc thân mình, còn tay kia giơ lên. Và đối với ngài, câu hỏi đó lúc này quan trọng hơn tất thảy mọi sự. Mãi đến xế chiều ngài mới lên đường và còn hỏi ông Petronius xem trong những vần thơ dành cho thảm họa có nên cài thêm vài lời chế giễu các thần minh và liệu những lời như thế xuất phát từ quan điểm nghệ thuật có phải là những lời tất yếu thốt ra từ miệng một con người bị mất quê hương, ở trong hoàn cảnh tương tự hay không.
Gần nửa đêm, cũng với đám quần thần hùng mạnh của mình gồm các cận thần, nguyên lão, hiệp sĩ, nô lệ giải phóng, nô lệ, phụ nữ và trẻ con, ngài mới tiến đến gần tường thành. Mười sáu ngàn lính cấm vệ dàn thành đội hình chiến đấu ở dọc đường đi canh gác cho sự yên ổn và bảo đảm an toàn cho chuyến đi của ngài, đồng thời giữ một khoảng cách nhất định với đám dân chúng đang náo động. Tuy dân chúng quả thực có nguyền rủa, gào thét và huýt sáo khi nhìn thấy bóng dáng bầu đoàn thê tử của ngài, nhưng không dám tấn công. Nhiều nơi thậm chí còn vang lên những tiếng hoan hô do bọn vô lại phát ra, bởi bọn chúng chẳng có tí gì nên cũng chẳng hề bị mất mát gì trong đám cháy, chúng còn trông ngón một sự ban phát lương thực, ôliu, quần áo và tiền bạc hậu hĩnh hơn thường lệ. Và nói cho cùng, cả tiếng hoan hô lẫn tiếng huýt sáo và gài thét đều bị át đi trong tiếng kèn và tù và mà Tygelinux ra lệnh thổi. Sau khi vượt qua cổng thành Oxtia, Nerô dừng chân một lúc và thốt lên: "Vị chúa tể không nhà của đám dân chúng không nhà, biết đặt ở đâu cho qua đêm mái đầu bất hạnh của ta?", rồi đi theo đường Vlivus Đenphini, ngài bước lên những bậc thang chuẩn bị sẵn cho ngài leo lên đường máng nước Appia, theo sau là các cận thần và dàn đồng ca của các ca công mang theo thi cầm, đàn tranh và các nhạc cụ khác.
Và tất cả mọi người đều nín thở chở xem ngài có nói ra những lời kỳ vĩ nào đó hay chăng, những lời mà họ cần phải nhớ để được an toàn cho bản thân mình. Nhưng ngài chỉ đứng, trang nghiêm, như mù lòa, khoác manh áo choàng màu đỏ thắm, đội một vòng lá nguyệt quế màu vàng, chăm chú ngắm nhìn sức mạnh cuồng bạo của ngọn lửa. Khi Terpnox trao cho ngài chiếc đàn luýt bằng vằng, ngài ngước mắt nhìn lên bầu trời ngập tràn ánh lửa, dường như chờ cảm hứng.
Từ đằng xa dân chúng đưa tay chỉ trỏ ngài đang ngập trong ánh lửa đỏ. Phía x axa những con rắn lửa réo rít, đang cháy sáng những di tích vĩnh hằng thiêng liêng nhất, cháy thần miếu Herkulex do chính Evanđer dựng nên, thần miếu Jupiter Xtator và thần miếu Luna do Xrevius Tulius xây dựng, ngôi nhà của Numa Pomponius và di tích Vexta với những vị gia thần của dân chúng Roma, thỉnh thoảng trong đám bờm lửa hiện ra Kapiton, quá khứ và linh hồn của La Mã trong đám cháy, còn ngài, vị hoàng đế, thù đứng cầm chiếc đàn luýt trong tay, với bộ mặt của một gã diễn viên bi kịch và với ý nghĩ không phải là quê hương đang chết, mà về dáng vẻ và những lời trang trọng mà ngài có thể diễn tả tốt nhất sự kỳ vĩ của thảm họa, để gây nên sự thán phục to loén nhất và có được những tiếng hoan hô nồng nhiệt nhất.
Ngài căm thù cái thành phố này, căm thù các cư dân của nó, ngài chỉ yêu có những khúc háy lời thơ của mình mà thôi, vậy nên trái tim ngài sung sướng hân hoan vì rốt cuộc ngài được chứng kiến cái bi kịch tương tự như cảnh mà ngài mô tả. Gã thợ vẫn cảm thấy hạnh phúc, tên xướng đọc cảm thấy hứng khởi, kẻ tìm kiếm xúc cảm mê mẩn bởi cảnh tượng kinh khủng và khoái chá nghĩ rằng ngay cả sự triệt phá thành Towrroa cũng chẳng là cái thá gì so với sự triệt phá thành đô khổng lồ này. Ngài còn có thể đòi hỏi điều gì hơn nữa? Kìa, thành Roma, thành Roma bá chủ thế giới đang bị cháy, còn ngài đang đứng trên những vòm cung của đường máng nước, với chiếc đàn tuýt bằng vàng trong tay, nổi bật, đỏ tươi, được kinh ngạc, đầy tuyệt vời và đầy thi tứ. Đâu đó tận phía dưới kia, trong bóng tối, dân chúng xôn xao và bạo loạn. Nhưng chúng nó cứ việc xôn xao đi! Nhiều thế kỷ sẽ trôi qua, hàng nghìn năm sẽ qua đi, nhưng người ta vẫn hằng nhớ và ngợi ca nhà thơ đã hát về sự triệt phá và về đám cháy thành Tơroa ngay trong một đêm như đêm nay. So với ngài, Homer là cái thá gì? Ngay cả thần Apolon với chiếc đàn forminga của thần cũng là cái thá gì? Đến đây, ngài vung tay lên, đập vào những sợi dây đàn và thốt lên những lời của vua Priam:
- Ôi, tổ ấm của cha ông tan ôi cái nôi yêu dấu!...
Trong không khí ngoài trời, bên tiếng gầm của đám cháy và tiếng ồn ã phía xa xa của đám đông hàng nghìn người, giọng của ngài có vẻ thảm hạo, run rẩy và nhỏ bé đến lạ lùng, còn những thanh âm họa theo vang lên như tiếng v ove của loài ruồi. Song những vị nguyên lão, các quan chức và cận thần đứng tụ tập trên đường máng nước đều cúi đầu lắng nghe trong niềm tán thưởng câm lặng. Còn ngài hát mãi và chỉnh giọng mỗi lúc một não lòng hơn. Những lúc ngài lặp lại vần thơ sau chót, rồi đó, bằng một cử chỉ học được của Aliturux, Nerô lại vứt bỏ khỏi vai chiếc "xyrma" bi thương, đập vào dây đàn và hát tiếp. Cuối cùng ngài cũng hát hết bài ca đã được soạn ra từ trước và bắt đầu ứng tác, tìm những sự so sánh kỳ vĩ trong cái quang cảnh đang trải ra trước mắt ngài. Mặt ngài bắt đầu biến đổi. Ngài không hề xúc động trước sự tàn phá của thành phố quê hương, nhưng ngài lại say sưa và xúc động bởi sự trang trọng của những lời thơ của chính ngài đến mức đột nhiên ngài buông cây đàn luýt rơi thành tiếng xuống chân, quấn mình trong chiếc xyrma, ngài đứng lặng yên như hóa đá, trông hệt như một trong những pho tượng Niobe trang trí cho sân trong cung điện Palatyn.
Sau một giây im lặng, một tràng sấm hoan hô vang lên. Nhưng đáp lại chúng từ xa là tiếng hú hét của đám người. Giờ đây không còn ai nghi ngờ gì nữa là chính hoàng đế đã ra lệnh đốt cháy thành phố để dựng lên một quang cảnh và ca hát những bài ca trên cái phông ấy. Nghe thấy tiếng kêu gào đó của hàng trăm nghìn con người, Nerô bèn quay lại phía các cận thần với nụ cười buồn đầy tuyệt vọng của một con người bị xúc phạm và nói:
- Đấy, dân Quiryt biết đánh giá ta và thi ca như vậy đấy!
- Bọn khốn nạn! - Vatynius đáp - Xin người hãy ra lệnh cho lính cấm vệ đánh thẳng vào bọn chúng.
Nerô quay sang Tygelinux.
- Liệu ta có thể tin vào sự trung thành của binh lính chăng?
- Vâng, thưa thánh thượng! - Viên chỉ huy quân cấm vệ đáp.
Song ông Petronius nhún vai.
- Tin được vào sự trung thành của chúng chứ không thể trông cậy vào số lượng của chúng đâu - Ông nói - Tạm thời xin người hãy ở lại đây, nơi người đang đứng, bởi đây là chỗ an toàn hơn cả, còn đám dân chúng kia thì chỉ cần phải làm yên đi đã.
Cả ông Xeneka lẫn chấp chính quan Lixynius cũng cùng ý kiến như thế. Trong khi đó, phía dưới kia, sự sôi động tăng lên. Quần chúng tự vũ trang bằng những phiến đá, cọc chống lều, những miếng ván phá từ các cỗ xe và những chiếc cáng, cùng đủ các loại sắt thép khác nhau. Lúc sau, một vài viên chỉ huy toán vệ binh tiến lại báo rằng, bị đám quần chúng lấn ép, lính cấm vệ phải cố hết sức mới duy trì được đội hình chiến đấu và do không được lệnh tấn công nên chúng đang không biết phải làm thế nào.
- Lạy các thần! - Nerô thốt lên - thật là một đêm khó tả! Một bên là đám cháy, một bên là biển người đang gào thét.
Và ngài lại bắt đầu tìm những vần thơ khả dĩ có thể diễn tả một cách tuyệt vời nhất nỗi nguy hiểm của thời điểm ấy, song nhìn thấy chung quanh toàn những khuôn mặt tái nhợt và những cái nhìn không yên, bản thân ngài cũng đâm ra sợ.
- Hãy đưa cho ta một chiếc áo choàng màu sẫm có mũ che! - Ngài kêu lên - Có thật sắp phải đánh nhau rồi hay chăng?
- Tâu hoàng thượng - Tygelinux đáp với giọng không mấy chắc chắn - thần đã làm tất thẩy những gì có thể, nhưng mối nguy hiểm này thật đáng sợ…Xin người hãy lên tiếng đi, thưa hoàng thượng, xin hãy nói với mọi người và hãy hứa hẹn với bọn chúng.
- Hoàng đế mà lại phải nói chuyện với bọn vô lại sao? Có ai nhân danh ta làm việc đó hay chăng? Ai nhận nào?
- Thần ạ! - Ông Petronius bình thản đáp.
- Đi đi nào, bạn ta! Khanh là kẻ trung thành với ta nhất trong lúc hoạn nạn…Đi đi, và chớ có tiếc lời hứa!
Ông Petronius quay lại phía đoàn người tùy giá với vẻ mặt đầy khinh thị và giễu cợt.
- Các vị nguyên lão có mặt tại đây, - Ông nói - Ngoài ra, cả ông Pizo, anh Nerva và Xenexio đi cùng với tôi.
Rồi ông khoan thai bước xuống khỏi đường máng nước, những người được ông gọi đi theo sau ông không phải không ngần ngừ nhưng cũng được cổ vũ chút ít bởi sự bình tĩnh của ông. Xuống đến chân những vòm cung, Petronius ra lệnh đưa tới cho mình một con ngựa bạch, rồi ngồi lên lưng ngựa, ông dẫn đầu toán người đồng hành vượt qua những toán cấm binh dày đặc, hướng về đám tiện dân đen ngòm đang hú hét, không một tấc sắt, trong tay ông chỉ có một chiếc gậy mỏng manh bằng ngà voi mà ông thường dùng để chống.
Ông tiến đến sát tận nơi, ngựa ông va cả vào đấm người. Chung quanh, trong ánh sáng của đám cháy, thấy rõ những cánh tay giơ cao cầm đủ mọi loại vũ khí, những đôi mắt cháy bỏng, những bộ mặt bóng nhẫy mồ hôi và những cặp môi ngầu bọt đang gào thét. Làn sóng điên loạn ấy lập tức vây chặt lấy ông và cả toán tùy tùng, phía sau trông rõ cả một biển những cái đầu, chuyển động, lắc lư, kinh khủng.
Tiếng huyên náo càng tăng lên và biến thành tiếng rống gầm không giống tiếng người nữa, những chiếc gậy, đinh ba, thậm chí cả những thanh gươm nữa hoa lên trên đầu ông Petronius, những cánh tay thú dữ vươn ra muốn tóm lấy cương ngựa ông, muốn tóm cả ông nữa, nhưng ông vẫn cứ tiến vào mỗi lúc một sâu thêm, lạnh lùng, thản nhiên, khinh khi. Thỉnh thoảng, ông lại dùng gậy đập lên đầu những kẻ táo tợn nhất, ngỡ như ông đang dẹp đường cho mình trong một đám đông rất đỗi thường tình và chính sự tự tin của ông, sự bình tĩnh của ông khiến đám tiện dân đang náo động phải kinh ngạc. Mãi sau người ta bắt đầu nhận ra ông, nhiều giọng gào lên:
- Petronius! Arbiter elegantiarum! Ngài Petronius!...
- Petronius! Bốn phía đều vang rền tiếng gọi.
Và càng nhắc tên ấy bao nhiêu, những bộ mặt chung quanh càng bớt dữ tợn đi bấy nhiêu, tiếng huyên náo càng đỡ phần gay gắt, bởi nhà quý tộc trang nhã này mặc dù chẳng bao giờ lấy lòng dân chúng song lại được người ta yêu mến. Người ta xem ông là một người nhiều nhân tính và hào phóng, ông đặc biệt nổi tiếng kể từ lúc có vụ án Peđanius Xekunđa, khi ông lên tiếng đòi giảm nhẹ bản án thảm khốc tử hình tất cả các nô lệ của viên quan nọ. Kể từ sau vụ đí, đám nô lệ lại đặc biệt ngưỡng mộ ông với một tình yêu mến không kìm hãm nổi, thứ tình yêu mà những con người bất hạnh và bị chà đạp thường dành cho những người biểu lộ cho họ dù chỉ chút ít đồng cảm. Ngoài ra, vào lúc này, người ta còn tò mò muốn biết vị sứ giả của hoàng đế sẽ nói điều gì, bởi không một ai nghi ngờ rằng hoàng đế đã cố ý phái chính ông.
Còn ông cởi chiếc áo toga màu trắng có những đường viền đỏ thắm, giơ lên đầu vẫy vẫy ra hiệu muốn nói.
- Im đi! Im đi kìa! - Khắp các phía người ta kêu lên.
Một lúc sau người ta im lặng thực. Khi ấy, đứng thẳng người trên lưng ngựa, ông cất tiếng nói, giọng vang động nhưng bình tĩnh:
- Hỡi các công dân! Những kẻ ai được nghe ta nói hãy lặp lại lời ta cho những kẻ đứng xa hơn, mọi người hãy cư xử cho ra hồn người chứ không phải như lũ thú dữ trong đấu trường.
- Chúng tôi nghe đây! Chúng tôi xin nghe!...
- Vậy thì hãy nghe đây. Thành phố sẽ được xây dựng lại. Các khu vườn Lukullo, Mexenax, Xedar và Agrypina sẽ mở rộng cửa đón các người. Từ ngày mai sẽ bắt đầu phát chẩn ngũ cốc, rượu vang và ôliu đến mức các người có thể tọng đầy đến tận họng. Sau đó hoàng đế sẽ tổ chức cho các người những hội vui mà cho đến nay thế gian chưa từng thấy bao giờ, trong đó các người sẽ được hưởng tiệc rượu và quà tặng. Sau đám cháy các người sẽ giàu có hơn trước đám cháy rất nhiều!
Đáp lời ông là những tiếng rì rầm lan từ giữa ra khắp bốn chung quanh, hệt như những làn sóng lan trên mặt nước khi có ai đó ném xuống nước một hòn đá, đó là những người ở gần ông đã lặp lại cho kẻ xa hơn những lời ông vừa nói. Sau đó đôi chỗ vang lên những tiếng kêu la vẻ tức giận hay tán thưởng và rốt cuộc những tiếng đó biến thành một tiếng hô đồng thanh vang động.
- Panem et circenses...(1)
Ông Petronius quấn chặt người trong chiếc áo toga và đứng yên hồi lâu, trong bộ phục trang sắc trắng, nom ông hệt như một pho tượng cẩm thạch. Tiếng hò reo càng tăng thêm, át cả tiếng gầm của đám cháy, vang rộng khắp bốn phía, mỗi lúc một sâu hơn, song rõ ràng là vị sứ giả hãy còn điều gì đó muốn nói, bởi ông cứ đứng chờ.
Mãi, sau giơ cánh ta ra lệnh im lặng, ông nói to:
- Ta hứa với các người panem et circenses, còn bây giờ, các người hãy hò reo lên để chào đón hoàng đế, người đã nuôi các người ăn, cho các người mặc, rồi sau đó hãy đi mà ngủ đi, hỡi lũ vô lại, vì trời sắp sáng rồi kìa.
Nói đoạn, ông quay ngựa lại và vừa dùng chiếc gậy đập nhẹ vào đầu, vào mặt những kẻ đứng chắn đường, ông khoan thai tiến về phía những hàng lính cấm vệ.
Lát sau, ông đã đến dưới chân đường máng nước. Lên trên, ông gặp một cảnh tượng gần như hoảng loạn. Người ta không hiểu rõ tiếng hò reo: “Panem et circenses!“ và cho rằng lại bùng nổ một cơn cuồng nộ mới. Thậm chí người ta cũng không ngờ rằng ông Petronius lại có thể thoát thân, nên vừa thoáng trông thấy ông, Nerô đã chạy tới tận cầu thang, mặt nhợt nhạt vì xúc động, hỏi dồn:
- Thế sao? Đằng ấy xảy ra chuyện gì thế? Đã đánh nhau rồi chăng?
Petronius hít một hơi đầy phổi, thở ra thật mạnh và đáp:
- Thề có Ponklux! Chúng nó nồng nặc mùi mồ hôi và xú khí. Ai đưa hộ cho tôi bình xông hương nào, tôi đến chết ngất mất thôi!
Rồi ông quay sang hoàng đế.
- Thần đã hứa hẹn với chúng nó ngũ cốc, ôliu, mở cửa các khu vườn và trò vui - Ông nói - Thế là chúng nó lại ca ngợi hoàng thượng và bằng những cặp môi sùi bọt, chúng lại gào lên chào đón người. Lạy các thần linh, lũ tiện dân này có cái mùi mới khó chịu làm sao!
- Lính cấm vệ của tôi đã sẵn sàng - Tygelinux kêu lên - Và giá như ông không dẹp yên chúng thì bọn hò la kia sẽ phải ngậm miệng đời đời! Tâu hoàng thượng, thật đáng tiếc là hoàng thượng đã không cho phép thần dùng sức mạnh.
Petronius nhìn kẻ đang nói, nhún vai và bảo:
- Cũng chưa bị mất gì đâu. Ông có thể sẽ phải dùng sức mạnh vào ngày mai đấy.
- Không, không! - Hoàng đế phán - Ta sẽ ra lệnh mở cửa các khu vườn và ban phát ngũ cốc cho chúng. Cảm ơn khanh, Petronius! Ta sẽ tổ chức những cuộc vui và ta sẽ công diễn bài ca mà hôm nay ta hát cho các khanh nghe.
Nói đoạn ngài đặt tay lên vai ông Petronius, im lặng hồi lâu, cuối cùng, sau khi đã bớt xúc động, ngài mới hỏi:
- Khanh hãy nói thật lòng nhé: Khanh thấy khi hát ta thế nào?
- Hoàng thượng thật xứng với quanh cảnh này, cũng như quanh cảnh thật xứng với người - Ông Petronius đáp.
Rồi ông quay lại phía đám cháy.
- Song chúng ta hãy ngắm nhìn nữa đi - Ông nói - Và hãy vĩnh biệt thành Roma cũ.
Chú thích:
(1) Bánh mì và hội thi. - Trong thời kỳ đế quốc La Mã, đây là đòi hỏi chủ yếu của đám tiện dân và thường được chính quyền thỏa mãn phần lớn.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 48
Lời của đức Sứ đồ rót lòng tin vào tâm hồn những người Thiên chúa giáo. Lúc nào họ cũng vẫn nghĩ rằng ngày tận thế sắp tới rồi, song họ cũng đã bắt đầu tin rằng cuộc phán xét kinh khủng kia không phải sẽ diễn ra ngay tức khắc và trước đó có thể họ sẽ được thông thấy ngày tận số của triều đại Nerô, mà họ xem là triều đại của một tên chống Chúa, sẽ được thấy hình phạt của Chúa đối với những tội ác của ý đang kêu gọi phải được trả thù. Phấn chấn trong lòng, họ bắt đầu tản đi ra khỏi cái hang ngầm sau khi kết thúc cuộc cầu nguyện, trở về những nơi trú ngụ tạm bợ của mình, thậm chí quay trở về khu Zatybre, vì có tin báo rằng, tuy được châm tại mười mấy điểm, nhưng do gió đổi chiều, nên lửa quay lại phía sông, và tại những chỗ đã cạn sạch những gì có thể cháy được, lửa không còn lan rộng ra nữa.
Sứ đồ, có sự tùy tùng của chàng Vinixius và lão Khilon đi theo sau, cũng rời khỏi hang. Chàng hộ dân quan trẻ tuổi không dám làm gián đoạn việc cầu nguyện nên lặng lẽ bước đi hồi lâu, chàng chỉ đưa mắt khẩn cầu tình thương và run lên vì lo lắng. Song còn nhiều người đến hôn tay và gấu áo của Sứ đồ, những người mẹ chìa cho ông những đứa trẻ, đám khác quỳ trong cái lối đi dài tối tăm, đưa cao đèn xin ông ban phước, những người khác nữa đi ngang qua và ca hát, nên không có lúc nào thuận tiện để có thể hỏi và đáp. Trong cái khe núi ấy cứ diễn ra như vậy. Mãi đến khi họ bước ra ngoài trời, nơi có thể nhìn thấy thành phố đang cháy, sau khi đã ba lần từ biệt đám tín đồ kia, Sứ đồ mới quay sang Vinixius và bảo:
- Con đừng sợ! Gần đây là nhà của một người đào đá, tại đó chúng ta sẽ gặp Ligia cùng ông Linux và người nô bộc trung thành của nàng. Đức Chúa Crixtux, người đã ban nàng cho con, cũng là người đã gìn giữ nàng cho con đấy.
Vinixius loạng choạng phải bíu tay vào một tảng đá. Con đường dài từ Anxium trở về, những va chạm gần tường thành phố, cuộc tìm kiếm Ligia trong đám khói nóng bỏng, cả đêm không ngủ và nỗi lo âu kinh khủng cho nàng đã khiến chàng kiệt sức, chút sức còn lại bị mất nốt bởi cái tin mái đầu thân yêu nhất của chàng trên đời này đang ở gần đây và chỉ lát nữa thôi là chàng được gặp. Chàng đột nhiên thấy sức người yếu hẳn đi, chàng để người tuột xuống chân đức Sứ đồ rồi ôm lấy đầu gối ông, chàng cứ quỳ nguyên như thế, không thể thốt nổi một lời.
Đức Sứ đồ ngăn không cho chàng cảm ơn và bày tỏ lòng thành kính, ông nói:
- Không phải ta, không phải ta, hãy cảm ơn Đức Chúa Crixtux kia!
- Thật là một vị thần quảng đại! - từ phía sau vang lên tiếng lão Khilon. - Song tôi đang không biết phải làm gì với lũ la đang chờ ở đây kia.
- Con hãy đứng dậy và đi cùng ta. - Ông Piotr nói và dìu tay chàng trai.
Vinixius đứng dậy. Trong anh lửa sáng trông rõ những giọt lệ chảy dài trên khuôn mặt nhợt đi vì xúc động của chàng. Môi chàng run rẩy như đang cầu nguyện.
- Ta đi. - Chàng nói.
Nhưng lão Khilon lại hỏi một lần nữa:
- Thưa ngài, tôi phải làm gì với lũ la đang chờ kia, có thể nhà tiên tri đáng kính đây muốn cưỡi la hơn đi bộ chăng?
Vinixius cũng không biết trả lời ra sao, nhưng nghe ông Piotr bảo rằng nhà của thợ đào đá ở ngay cạnh đấy, chàng bèn đáp:
- Ngươi hãy đưa la về chỗ ông Makrynux.
- Xin hay thứ lỗi, thưa ngài, rằng tôi lại lưu ý ngài về ngôi nhà ở Ameriola. Trước một đám cháy khủng khiếp nhường này, thật dễ quên những chuyện vặt vãnh như thế.
- Ngươi sẽ nhận được nó.
- Hỡi cháu ruột của ngài Numa Pompillius, bao giờ tôi cũng vẫn tin chắc như thế, nhưng giờ đây, một khi cả vị Sứ đồ rộng lượng đây cũng được nghe lời hứa kia, thì tôi không phải nhắc thêm ngài rằng ngài đã hứa cho tôi cả trại nho nữa đấy. Pax vobiscum!(1) Tôi sẽ lại tìm được ngài, thưa ông chủ. Paxvobiscum!
Họ bèn đáp lại:
- Và cùng ngươi nữa!
Rồi cả hai quay sang phải, bước về phía đồi. Dọc đường Vinixius nói:
- Thưa cha! Xin người hãy dùng nước rửa tội cho con, để con có thể được gọi là một tín đồ thật sự của Đức Chúa Crixtux, bởi lẽ con yêu Người với tất cả sức mạnh tâm linh con. Xin hãy rửa tội cho con nhanh lên với, bởi trong tim con đã sẵn sàng rồi! Và con sẽ làm tất cả những gì Người khuyên con làm, nhưng xin Cha hãy nói cho con hay: con có thể làm được điều gì hơn thế nữa.
- Hãy thương yêu mọi người như anh em, - đức Sứ đồ đáp, - bởi chỉ có bằng tình yêu thương con mới có thể phụng sự Người.
- Vâng! Con cũng đã hiểu được và cảm thụ được điều đó. Khi còn là một đứa trẻ, con hằng tin vào các vị thần linh La Mã, nhưng không hề yêu bọn họ, nhưng con yêu Đức Chúa Duy Nhất kia đến nỗi con vui sướng hiến dâng vì Người cả cuộc sống.
Rồi chàng ngước nhìn trời, thành tâm lặp đi lặp lại:
- Bởi Người là duy nhất. Bởi Người duy nhất tốt lành và nhân ái! Vậy thì dù cho không chỉ riêng một thành phố này bị tiêu hủy mà toàn thế giới đi chăng nữa, còn cũng vẫn tuyên thệ và tin thờ mỗi một mình Người mà thôi!
- Còn Người sẽ ban phước cho con và cho mái nhà của con. - Sứ đồ kết thúc.
Lúc này họ rẽ vào một khe núi khác, ở cuối khe núi đó thấp thoáng một ánh đèn mờ tỏ. Ông Piotr chỉ tay về phía ngọn đèn bảo:
- Kia là nhà người thợ đào đá đã cho chúng ta trú chân khi chúng ta từ Oxtrianum quay về, mang theo ông Linux bị ốm và không thể tới được khu Zatybre.
Lát sau họ tới nơi. Cái nhà thực ra là một chiếc hang khoét vào mỏm núi, bên ngoài được chắn bởi một bức vách đắp bằng đất sét và lau sậy. Cửa ra vào khép kín, nhưng qua lỗ hổng dùng thay cửa sổ vẫn thấy bên trong sáng lửa.
Một hình người đen sẫm khổng lồ nhổm dậy đón những người mới tới và hỏi:
- Các ông là ai?
- Tôi tớ của Chúa Crixtux. - Ông Piotr đáp lại. - Bằng an cùng bán, bác Urxux!
Bác Urxux cúi xuống chân Sứ đồ, rồi sau khi nhận ra Vinixius, bác nắm lấy cổ tay chàng nâng lên miệng.
- Cả ngài nữa ư? - Bác nói. - Cầu cho sáng danh Con Chiên vì niềm vui sướng mà ngài sẽ mang đến cho nàng Kalina.
Nói đoạn bác mở cửa và họ cùng bước vào. Ông Linux ốm nằm trên những bó rơm, mặt gầy gò và chiếc trán vàng như ngà voi. Ligia ngồi bên đống lửa, cầm trong tay một xâu cá xâu bằng một sợi dây, hẳn là dùng cho bữa tối.
Mải bận rút ra ra khỏi dây xâu và tin rằng người vào chỉ là bác Urxux, nàng không hề ngước mắt lên. Vinixius bèn tiến đến gần, gọi tên nàng và chìa tay cho nàng. Nàng bật ngay dậy: một ánh chớp nhạc nhiên và mừng rỡ thoáng qua khuôn mặt nàng, và không nói một lời nào, giống hệt như đứa trẻ sau những ngày dài lo âu và hãi hùng đã tìm lại được cha mẹ, nàng lao vào vòng tay rộng mở của chàng.
Chàng ôm lấy nàng, ghì chặt hồi lâu vào ngực, nồng nhiệt như nàng vừa được cứu sống một cách thần kỳ. Rồi buông vòng tay, chàng ôm lấy thái dương nàng, hôn lên vầng trán, vào đôi mắt, rồi lại ôm ghì người nàng, nhắc mãi tên nàng, cúi xuống gối nàng, xuống lòng nàng, chào đón nàng, ngưỡng mộ và thành kính nàng. Nỗi vui sướng cũng như tình yêu và niềm hạnh phúc của chàng như vô bờ.
Mãi sau chàng mới bắt đầu kể nàng nghe chàng đã lao từ Anxium trở về ra sao, đã tìm kiếm nàng ở gần tường thành và trong đám khói mù mịt, trong ngôi nhà ông Linux ra sao, chàng đã lo sợ cho nàng xiết bao, chàng đã đau đớn dằn vặt biết bao trước khi đức Sứ đồ chỉ cho chàng biết nơi trú ngụ của nàng.
- Nhưng giờ đây, - chàng nói, - một khi đã tìm được nàng, tôi không thể nào để nàng ở lại nơi đây trước ngọn lửa và những người đang hóa rồi kia. Người ta giết nhau ngay sát tường thành phố, người ta nổi loạn và bắt cóc nô tỳ. Chỉ có Chúa họa chăng mới biết những tai họa nào nữa sẽ có thể trút xuống Roma. Nhưng tôi sẽ cứu nàng và tất cả các người. Ôi nàng thân yêu của tôi!... Các người có muốn đi cùng tôi đến Anxium chăng? Đến đó chúng ta sẽ xuống một chiếc tàu bơi ra đảo Xyxilia. Đất đâi của tôi sẽ là đất đai của các bạn, nhà cửa của tôi sẽ là nhà cửa của các bạn! Xin hãy nghe lời tôi! Ở Xyxilia, nàng sẽ tìm gặp lại ông bà Aulux, tôi sẽ trả nàng lại cho bà Pomponia, để rồi sau đó sẽ đón nàng từ chính tay bà. Nàng sẽ không bao giờ phải sợ tôi nữa đâu, hỡi carissima(2). Nước rửa tội chưa gột rửa tôi đâu, nhưng xin nàng hãy hỏi ông Piotr xem có phải vừa lúc nãy đây, trên đường tới gặp nàng, tôi đã chẳng nói cùng ông rằng tôi muốn trở thành một tín đồ chân chính của Chúa Crixtux, có phải tôi đã chẳng cầu xin ông hãy rửa tội cho tôi, dù là ngay trong ngôi nhà của người thợ đá này chăng nữa. Xin nàng hãy tin tôi, và xin tất cả các người hãy tin tôi!
Ligia lắng nghe những lời này với nét mặt bừng sáng. Tất cả những người ở đây quả thực sống trong cảnh bấp bênh và lo sợ triền miên, hồi trước là vì sự theo dõi của bọn Do Thái, còn giờ đây là vì hỏa tai và sự lộn xộn do tai họa gây nên. Việc đi ra đảo Xyxilia thanh bình kia sẽ chấm dứt mọi nỗi lo, đồng thời cũng mở ra thời kỳ mới đầy hạnh phúc trong cuộc đời họ. Giá như Vinixius chỉ muốn mang mỗi một mình nàng theo, hẳn nàng sẽ từ chối sự cám dỗ kia, bởi không muốn bỏ Sứ đồ Piotr và ông Linux, nhưng Vinixius đã nói với bọn họ: “ Xin các bạn hãy đi với tôi! Đất đai của tôi sẽ là đất đai của các bạn, nhà cửa của tôi cũng sẽ là nhà cửa của các bạn!”.
Vậy nên nàng cúi xuống hôn tay chàng biểu lộ sự ưng thuận rồi nàng nói:
- Bếp lửa của chàng cũng là của em!
Sau đó nàng xấu hổ vì đã nói ra lời mà theo phong tục La Mã thì chỉ các cô dâu mới nói ra trong đám cưới, nàng đỏ nhừ mặt, đứng im lặng trong ánh lửa, đầu cúi xuống, không rõ người ta có chê trách nàng chăng.
Nhưng trong cái nhìn của Vinixius chỉ ánh lên lòng ngưỡng mộ vô bờ. Tiếp đó chàng quay sang ông Piotr và lại cất tiếng nói:
- Roma bị cháy theo lệnh của Hoàng đế. Ngay từ lúc ở Anxium y đã than phiền là chưa bao giờ được trong thấy một đám cháy lớn. Nếu y đã không lùi trước một tội ác như thế, xin Cha hãy nghĩ xem, những gì còn có thể xảy ra tiếp nữa! Liệu có ai dám chắc là một khi đã kéo quân đội về đây, y lại không ra lệnh giết chóc dân chúng. Ai biết sẽ còn có những mật chỉ gì nữa, ai hay, liệu sau cơn hỏa hoạn lại chẳng tiếp đến nạn nội chiến, giết chóc và đói kém? Vậy xin các bạn hãy tự bảo vệ lấy bản thân và chúng ta cùng bảo vệ Ligia. Nơi ấy các bạn sẽ sống trong bình yên chờ cho qua cơn bão tố, và khi nó qua rồi, các bạn sẽ lại trở về gieo tiếp những hạt giống của các bạn.
Bên ngoài, từ phía Ager Vaticanux, dường như để khẳng định những điều lo lắng của Vinixius, vang lên những tiếng kêu xa xôi nào đó đầy điên cuồng và hãi hùng. Chính vào lúc đó người thợ đá, chủ của căn nhà, bước vào, vội vã đóng sập cửa lại và kêu lên:
- Người ta đang giết nhau cạnh hý trường Nerô! Bọn nô lệ và đấu sĩ tấn công các công dân.
- Các bạn đã nghe thấy chưa - Vinixius nói.
- Hết mức rồi, - Sứ đồ lên tiếng - và tai họa sẽ như biển cả vô biên.
Rồi quay sang Vinixius ông trỏ tay chỉ Ligia và nói:
- Con hãy mang cô gái mà Chúa đã dành cho con ra đi, cứu lấy nàng, còn ông Linux đang đau ốm và bác Urxux cũng hãy ra đi cùng hai trẻ.
Song Vinixius, người yêu mến đức Sứ đồ với toàn bộ sức mạnh tâm linh không bao giờ kìm hãm nổi của chàng, kêu lên:
- Xin thề với người, hỡi thầy của con, con không thể để thầy ở lại đây chịu chết!
- Và Đức Chúa sẽ ban phước cho con vì lòng tốt ấy, - Sứ đồ đáp, - nhưng con không nghe thấy rằng chính Chúa Crixtux đã ba lần nhắc lại cho ta lúc ở trên hồ: “ Ngươi hãy chăn đàn chiên con của ta!” đó sao?
Vinixius nín lặng.
- Vậy nếu như con, vốn không được ai giao phó việc chăm lo cho ta, còn nói rằng sẽ không để ta lại đây chịu chết, thì lẽ nào còn lại muốn rằng ta bỏ đàn chiên con của ta mà chạy thoát thân trong ngày tai ương? Khi bão nổi trên hồ, khi chúng ta run sợ trong lòng, Người đã không bỏ rơi chúng ta, vậy làm sao ta, kẻ nô bộc của Người, lại không đi theo gương của Chúa ta?
Khi ấy ông Linux ngẩng khuôn mặt gầy guộc của mình lên và hỏi:
- Vậy sao tôi lại không được bước theo gương của Người, hỡi vị thuộc hạ của Đức Chúa?
Vinixius lấy tay xoa đầu, dường như chàng đâu đấu tranh với bản thân hoặc đang suy nghĩ lao lung, rồi nắm chặt tay Ligia, chàng thốt lên với giọng nói vang lên nghị lực của một người lính La Mã:
- Xin hãy nghe tôi, hỡi Piotr, Linux và nàng nữa, hỡi Ligia! Tôi đã thốt ra những gì mà trí óc người thường của tôi bảo tôi phải nói, nhưng các người có một thứ trí óc khác, trí óc ấy không nhìn đến sự an toàn của bản thân mình mà theo những lời răn của Đấng Cứu thế. Phải! Tôi đã không hiểu nổi điều đó và đã lầm lạc, bởi mắt tôi chưa được tháo bỏ lớp màng, và cái bản chất xưa kia lại lên tiếng trong lòng tôi. Nhưng bởi tôi yêu mến Chúa Crixtux và muốn được làm một kẻ tôi tớ của Người, nên dù ở đây tôi không chỉ lo đến cái đầu của mình, tôi vẫn quỳ xuống đây trước mặt các người xin thề rằng, cả tôi nữa cũng sẽ làm theo lời răn yêu thương và sẽ không bỏ những người anh em tôi trong ngày hoạn nạn.
Nói đoạn chàng quỳ xuống, và trong một niềm phấn khích đột ngột, chàng ngước mắt và vươn tay lên trời kêu lên:
- Phải chăng con đã hiểu được Người, hỡi Chúa Crixtux? Phải chăng con đã xứng đáng với Người?
Tay chàng run rẩy, mắt chàng long lanh lệ, thân thể chàng cồn lên những cơn rùng mình của lòng tin và tình yêu thương; còn đức Sứ đồ Piotr cầm lấy chiếc bình nước bằng đất lại gần chàng và long trọng cất lời:
- Ta rửa tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh thần, amen!
Lúc đó, niềm hứng khởi tôn giáo tràn ngập lòng những người có mặt. Họ ngỡ như ngôi nhà bừng sáng một thứ ánh hào quang thiên giới nào đó, họ ngỡ như đang nghe thấy một thứ âm nhạc thiên giới nào đó, chiếc hang đá như mở ra trên đầu họ, và từ trời cao bay xuống hàng đàn thiên sứ, còn tít trên cao họ như trông thấy cây thánh giá và hai bàn tay bị đinh xuyên thủng đang ban phước lành cho họ.
Trong lúc ấy bên ngoài vẫn vang động tiếng kêu của những kẻ đang đánh nhau và tiếng gầm gừ của ngọn lửa thiêu đốt thành phố.
Chú thích:
(1) Bằng an cùng các người
(2) La tinh: Nàng thân yêu

Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 49
Những lều trại con người dàn trải khắp các khu vườn thượng uyển tuyệt vời của hoàng đế, trước kia được gọi là vườn Đomixxia và Agrypina, khắp cánh đồng thần Marx, trong những khu vườn Poppeius, Xaluxtius và Mexenax. Người ta chiếm lấy hàng cột những tòa nhà dùng để phơi phóng, những ngôi nàh nghỉ mùa hè xinh xắn và cả những nhà gỗ được dựng lên dành cho bọn súc vật. Lũ công, hồng hạc, thiên nga và đà điều, lũ nai vàng và linh dương của Phi châu, lỹ hươu và hoẵng dùng để trang điểm cho các khu vườn, đều làm mồi cho lưỡi dao của đám tiện dân. Lương thực bắt đầu được chuyển từ Oxtia đến nhiều đến nỗi người ta có thể vượt từ bờ này sông Tyber sang bờ kia qua các bè và tàu thuyền đủ loại đậu san sát, như bước qua cầu. Người ta bán rộng rãi ngũ cốc với giá rẻ chưa từng thấy là ba xexterxi, còn đối với người nghèo thì hoàn toàn cấp không. Người ta mang về đây không biết cơ man rượu vang, ooliu và hồ đào, từ vùng núi hàng ngày người ta lùa về hàng đàn bò và cừu. Đám dân nghèo, trước đám cháy thường ẩn náu trong những ngõ hẻm của khu Xubura và bình nhật thường chết đân chết mòn vì đối, nay sống sung sướng hơn trước. Bóng ma đói đã bị đẩy lùi hẳn, ngược lại khó lòng chống lại nạn cướp bóc và tham nhũng. Cuộc sống lang thang ngoài trời khiến cho bọn kẻ cắp không bị trừng trị, nhất là khi chúng tự tuyên bố là những kẻ nhiệt thành ủng hộ hoàng đế và không hề tiếc người những tràng vỗ tay, dù người xuất hiện ở bất cứ nơi nào. Thêm nữa, do tình hình thực tế, chính quyền hoàn toàn mất hiệu lực, đồng thời thiếu lực lượng vũt rang tại chỗ có thể ngăn chặn sự lộng hành, nên trong thành phố, nơi cả cái thế giới ấy sinh sống hỗn độn, xẩy ra biết bao chuyện vượt quá sức tưởng tượng của con người. Đêm đêm lại xẩy ra những vụ đánh nhau, những vụ giết người, bắt cóc phụ nữ và trẻ con. Cạnh cổng Porta Mugionĩ, chỗ dừng chân của những đàn súc vật được dồn từ núi Anban xuống, thường xẩy ra những vụ đánh nhau chết hàng trăm người. Cứ sáng sáng hai bờ sông Tyber lại đầy những xác người trôi, chẳng được ai chôn cất, những cái xác rữa ra nhanh chóng do tiết trời cực nóng nực cộng thêm với cái nóng của đám cháy, khiến không khí tràn ngập mùi hôi thối kinh tởm. Trong các lều trại, bệnh tật phát sinh thường xuyên và những người hay sợ hãi đoán trước là sẽ xẩy ra bệnh dịch.
Thành phố vẫn bốc cháy triền miên. Ngày thứ sáu, ngọn lửa gặp phải một khoảng trống trải trên đồi Exquilin, nơi người ta đã cố ý phá đi rất nhiều nhà cửa, nên bắt đầu yếu dân. Song những đám than hồng rừng rực vẫn chiếu sáng mạnh đến nối dân chúng không tin rằng tai họa đã chấm dứt. Quả tình đến đêm thứ bẩy đám cháy lại bùng lên với một sức mạnh mới trong những tòa dinh thự của Tygelinux, tuy nhiên do thiếu chất cháy nên nó kéo dài chẳng mấy đỗi. Đây đó chỉ còn những ngôi nhà đã bị cháy trụi thỉnh thoảng lại sụp đổ, ném lên không trung những lưỡi lửa uốn éo và những chùm tia lửa. Song dần dần những đống đổ nát - dẫu hãy còn cháy bỏng dưới sâu - cũng đã bắt đầu xám đén lại trên bề mặt. Sau lúc mặt trời lặn, bầu trời không còn cái quầng lửa đỏ bầm chiếu sáng nữa, chỉ trong đêm, trên cái hoang mạc đen thẫm mênh mông, mới leo heo những lưỡi lửa xanh lè thoát lên từ các đống than.
Trong số mười bốn khu phố của Roma chỉ còn lại mỗi bốn khu, kể cả khu Zatybre, những khu kia đã bị ngọn lửa nuốt chửng. Mãi tới khi những đống than đã hóa thành tro tàn mới thấy rằng, kể từ bờ sông Tyber đến tận đồi Equilin là cả một khoảng không gian mênh mông màu xám xịt, buồn thảm, chết chóc, trên đó nhô lên dàng dẫy ống khói mang hình các hàng mộ chí trên nghĩa địa. Giữa những hàng cột ấy, ban ngày thường rải rác những đám người đang tìm kiếm các đồ vật quý giá hay xương cốt những người thân. Đêm đến, lũ chó tru trên đống tro tàn và đổ nát của những ngôi nhà xưa.
Toàn bộ sự hào phóng và trợ giúp mà hoàng đế biểu lộ cho dân chúng vẫn không ngăn nổi những lời nguyền rủa và phẫn nỗ. Chỉ có bọn ăn cướp, bọn kẻ cắp và những kẻ bần cùng vô gia cư là hài lòng, vì chúng có thể được ăn, được uống và được cướp bóc tùy thích. Còn những người đã bị mất đi những sinh linh thân yêu nhất cùng của cải tài sản không thể hài lòng, bất chấp việc mở cửa các khu vườn thượng uyển, phát chẩn lương thực, những lời hứa hẹn về hội thi và quà tặng. Nỗi bất hạnh quá lớn lao và chưa từng có. Những người trong lòng còn le lói một đốm lửa nào đó của tình yêu thành phố quê hương thì tuyệt vọng bởi cái tin: Tên cũ "Roma" sẽ biến mất hoàn toàn khỏi mặt đất và hoàng đế định xây dựng trên đống tro tàn một thành phố mới với cái tên Nerôpolix(1). Làn sóng phản kháng cồn dậy và lớn lên hàng ngày, bất kể những lời tán tụng của đám cận thần, bất kể những lời dối trá của Tygelinux, Nerô vốn nhậy cảm hơn tất thảy các hoàng đế trước ngài đối với lòng dân, vẫn lo sợ khi nghĩ rằng, trong cuộc chiến đấu một mất một còn thầm lặng mà ngài đang tiến hành chống lại giới quý tộc và viện nguyên lão, rất có thể ngài sẽ thiếu đi chỗ dựa. Chỉnh bản thân các vị cận thần cũng không kém phần lo lắng, bởi lẽ mỗi một sáng mai đều có thể mang tới cho họ sự diệt vọng. Tygelinux nghĩ tới việc đưa vài chiến đoàn từ Tiểu Á trở về. Vatynius, kẻ cười ngay cả khi bị người ta tát vào mặt, mất cả cui. Vitelius ăn mất ngon.
Ngững người khác bàn nhau tìm cách đối phó với nỗi nguy hiểm, vì chẳng một ai không biết rằng, một khi cơn bùng nổ kia quét đi hoàng đế, thì có thể ngoại trừ mỗi mình ông Petronius, còn không một ai trog đám cận thần có thể thoát chết. Bởi lẽ người ta cho rằng sự điên rồ của Nerô là do ảnh hưởng của bọn họ, tất cả những tội ác mà ngài phạm là do những lời sám tấu của bọn họ. Lòng căm thù dành cho bọn họ thậm chí có thể còn lớn hơn cả lòng căm thù hoàng đế.
Vậy nên họ cố nặn óc tìm cách trút bỏ khỏi mình trách nhiệm về việc đốt cháy thành phố. Nhưng muốn trút bỏ trách nhiệm cho bản thân, cần phải tẩy rửa cho cả hoàng đế tránh khỏi những lời dị nghị, bằng không chẳng một ai có thể tin rằng họ không phải là thủ phạm gây nên tai hạo. Nhằm mục đích ấy, Tygelinux thương nghi với Đomixius Apher, thậm chỉ cả với ông Xeneka, mặc dù y căm ghét ông. Poppea cũng hiểu được rằng cái chết của Nerô đồng thời cũng sẽ là bản án dành cho ả, nên ả tìm lời khuyên nhủ của đám bạn tâm giao thân hữu cùng các tăng lữ Hebrai, vì mọi người cho rằng, đã từ vài năm nay, ả gửi lòng tin vào đấng Jehova. Còn Nerô thì tự mình tìm ra phương sách, thường là những phương sách kinh khủng, nhưng nhiều hơn là những phương sách rất hề, do vậy lúc thì ngài rơi vào nỗi hãi hùng, lúc thì lại đùa vui như trẻ con, song trước hết ngài thường hay trình diễn những điều suy nghĩ của ngài.
Một lần nọ, tại ngôi nhà Teberius còn nguyên vẹn sau đám cháy, đã diễn ra một cuộc bàn luận kéo dài và không chút kết quả. Ông Petronius cho rằng để tránh những điều phiền toái nên đi Hy Lạp, rồi từ đó đến Ai Cập và Tiểu Á. Cuộc hành trình được dự liệu đã lâu, lần lừa mãi mà làm gì, trong khi đó ở lại Roma vừa chán ngán vừa nguy hiểm.
Hoàng đế nghe lời bàn một cách hăm hở, nhưng sau khi suy nghĩ hồi lâu, ông Xeneka nói.
- Đi thì dễ, nhưng sau đó khó mà trở về.
- Thề có Heraklex! - Ông Petronius đáp - có thể trở về dẫn đầu các chiến đoàn Châu Á được lắm chứ!
- Ta sẽ làm như thế! - Nerô thốt lên.
Song Tygelinux bắt đầu chống lại. Bản thân y không thể tìm ra được một phương sách gì và giá như phương sách của ông Petronius mà là của y, chắc chắn y sẽ trình bày nó như một giải pháp hữu hiệu, song y không muốn để ông Petronius lại là người duy nhất biết giải cứu mọi cái cho mọi người trong những giờ phút khó khăn.
- Xin thánh thượng hãy nghe thần! - Y nói - Lời tâu khuyên ấy là con đường chết! Trước khi người kịp đi tới Oxtia thì đã nổ ra nội chiến, ai cũng biết chắc là liệu có kẻ nào đó trong số những họ hàng con cháu của hoàng đế Auguxt thần thánh lại chẳng tự xưng danh hoàng đế và khi ấy chúng ta biết làm gì, nếu các chiến đoàn đó ngả sang phía y?
- Chúng ta sẽ thực hiện việc đó - Nerô đáp lại - và trước hết chúng ta sẽ cố gắng để không còn một hậu duệ nào của Auguxt nữa. Bọn chúng cũng chẳng còn mấy mồng, nên việc giải quyết chúng cũng dễ thôi.
- Có thể làm điều đó, nhưng đâu phải chỉ có bọn chúng? Những người của thân, mới hôm qua đây chứ chẳng lâu la gì, nghe thấy đám đông người ta báo rằng, lẽ ra phải là một người như Tradeas làm hoàng đế mới phải.
Nerô cắn môi. Nhưng lúc sau ngài ngước mắt lên trời và thốt ra ra:
- Bọn người không bao giờ thỏa mãn và vô ơn! Chúng nó đã có đủ bột mì và than để nướng bánh, chúng nó còn muốn gì hơn nữa kia chứ?
Tygelinux bèn đáp:
- Cần báo thù!
Im lặng bao trùm. Đột nhiên hoàng đế đứng dậy, giơ tay lên trời và đọc:
Những trái tim đòi báo thù
Sự báo thù đòi những vật hy sinh
Rồi quên hết mọi chuyện, ngài kêu lên với khuôn mặt rạng ngời:
- Hãy đưa cho ta bảng và bút đây, để ta ghi lại dòng thơ này! Lukan chưa bao giờ đặt được một câu thơ như thế! Các ngươi có thấy ta tìm ra nó trong một chớp mắt hay không?
- Ôi, thật khôn sánh! - Vài giọng nói vang lên.
Nerô ghi câu thơ rồi nói:
- Phải! Sự báo thù đòi những vật hy sinh!
Sau đó ngài dõi cái nhìn lướt qua những người có mặt:
- Thế nếu như phao tin rằng chính Vatylius ra lệnh đốt thành phố và hy sinh hắn ta cho cơn thịnh nộ của dân chúng thì sao?
- Ôi thánh thượng! Thần có là cái thớ gì đâu? - Vatynius kêu lên.
- Phải rồi! Cần một kẻ nào đó to hơn ngươi!...Vitenlius chăng?
Vitelius tái người, song lại bắt đầu cười:
- Mỡ của thần - hắn đáp - rất có thể sẽ lại làm bùng lên một đám chay mới.
Nhưng thực sự Nerô nghĩ tới một kẻ thù khác, bởi ngài thầm tìm kiếm một vật hy sinh quả thực có thể thỏa cơn giận dữ của dân chúng.
- Tygelinux - lát sau ngài nói - chính ngươi đã đốt cháy Roma!
Một cơn rùng mình chạy suốt lượt những người có mặt. Họ hiểu rằng lần này hoàng đế không đùa nữa và giây phút chứa đầy những sự biến đã đến rồi.
Mặt Tygelinux nhăn nhúm lại như mõm con chó sẵn sàng cắn.
Thần đã đốt cháy Roma theo lệnh của hoàng thượng - y nói.
Và họ bắt đầu gờm gờm nhìn nhau như hai con quỷ dữ. Im lặng bao trùm, đến nỗi có thể nghe thấy cả tiếng vo ve của những con ruồi bay qua gian chính sảnh.
- Tygelinux này - Nerô lại lên tiếng - khanh có yêu ta chăng?
- Người cũng biết đấy, tâu hoàng thượng.
- Vậy khanh hãy hy sinh vì ta.
- Tâu thánh thượng - Tygelinux đáp - sao người lại đưa cho thần thứ nước ngọt ngào mà thần không được phép đưa lên môi? Dân chúng đang xôn xao và nổi loạn, phải chăng người còn muốn cả quân cấm vệ cũng bắt đầu nổi loạn nữa chăng?
Cảm giác bị đe dọa bóp chặt trái tim những người có mặt. Tygelinux là tổng quản quân cấm vệ và những lời của hắn mang ý nghĩa của một lời đe dọa. Bản thân Nerô cũng hiểu điều đó và mặt ngài trắng nhợt đi.
Đúng lúc đó Epaphođyt, nô lệ giải phóng của hoàng đế, bước vào nói rằng Auguxta thánh hậu muốn được gặp Tygelinux, vì ở chỗ hoàng hậu đang có mặt những người mà quan tổng quan cần gặp.
Tygelinux cúi chào hoàng đế và bước ra với bộ mặt bình thản và khinh mạn. Đấy, khi người ta muốn đánh hắn, hắn đã nhe nanh, đã tỏ cho người ta biết hắn là ai và vì hiểu rõ tính hèn nhát của Nerô, hắn tin chắc rằng vị chúa tể thế gian này khong bao giờ dám giơ tay chống lại hắn.
Còn Nerô ngồi im lặng một hồi lâu, song thấy những người có mặt đang chờ ngài nói một lời gì đó, ngài thốt lên:
- Ta đã nuôi rắn độc trong lòng!
Ông Petronius nhún vai như muốn nói rằng thật dễ dàng dứt đứt đầu một con rắn như thế.
- Khanh muốn nói gì? Hãy nói đi, hãy khuyên ta với! - Nerô kêu lên khi nhìn thấy cử chỉ của ông - Ta chỉ tin mỗi một mình khanh, bởi lẽ khanh nhiều trí tuệ hơn tất cả bọn chúng và khanh yêu ta.
Ông Petronius chực nói: "Xin hãy phong thần làm tổng quản cầm quân, thần sẽ nộp Tegelinux cho dân chúng và chỉ trong một ngày thần sẽ làm yên thành phố!". Nhưng sự lười nhác bẩm sinh đã thắng. Làm tổng quản cũng có nghĩa là phải gánh trên vai bản thân hoàng đế và hàng nghìn công việc xã hội khác. Ông cần gì đến những việc vất vả ấy kia chứ? Phải chăng tốt hơn là nên đọc thơ trong cái thư viện dễ thương, ngắm những chiếc bình cổ hoặc ôm vào lòng thân thể thần thánh của nàng Eunixe, luồn tay vào mớ tóc vàng của nàng và chìa môi đón đôi môi đỏ như san hô của nàng?
Ông bèn nói:
- Thần khuyên nên đi Akhai.
- A - Nerô trả lời - ta chờ ở ngươi một cái gì hơn thế. Viện nguyên lão căm thù ta. Một khi ta đã ra đi, ai có thể đảm bảo rằng bọn chúng không nổi loạn chống ta và không tuyên cáo một kẻ khác làm hoàng đế? Hồi trước, dân chúng trung thành với ta, nhưng bây giờ họ sẽ theo bọn chúng…Thề có Hađex! Giá như nguyên lão viện và đám dân chúng kia chỉ có một cái đầu duy nhất…
- Xin thánh thượng hãy cho thần được nói rằng muons duy trì được Roma cần phải giữ được dù chỉ vài cái đầu Roma chứ ạ - Ông Petronius nói với một nụ cười.
Song Nerô bắt đầu ca thán:
- Ta cần gì Roma và dân Roma! Ngay cả ở Akhai người ta cũng sẽ lắng nghe ta. Chốn này chỉ có sự phản bội vây quanh ta. Tất cả đều bỏ rơi ta. Và cả các người cũng sẵn sàng phản bội ta. Ta biết, ta biết rõ điều đó!...Các ngươi không hề nghĩ đến những điều mà những thế kỷ mai này sẽ nói, một khi các người rời bỏ một nghệ sĩ như ta.
Nói tới đây đột nhiên ngài đập vào trán kêu lên:
- Đúng rồi!...Mải lo những chuyện ấy, ta quên bẵng mất ta là ai.
Đoạn ngài quay sang ông Petronius với nét mặt đã hoàn toàn rạng rỡ.
- Này Petronius - ngài nói - dân chúng đang xôn xao, nhưng nếu ta cầm lấy cây đàn luýt và bước ra cánh đồng thần Marx, nếu ta hát cho chúng nghe bài ca mà ta hát cho các khanh nghe khi còn đám cháy, thì theo khanh liệu ta có thể khiến được chúng xúc động bằng tiếng hát của ta như chàng Orfeus xưa kia từng khiến lũ dã thú phải xúc động hay chăng?
Nghe thấy thế Tulius Xenexio, kẻ đang nóng lòng muốn được quay về với lũ nô tỳ mà y mang từ Anxium về, liền nói:
- Tâu hoàng thượng, không nghi ngờ gì nữa, chỉ cần chúng nó để cho người được lên tiếng.
- Vậy thì chúng ta hãy đi Hellađa! - Nerô chán nản thốt lên.
Nhưng chính vào lúc ấy Poppea bước vào, cùng với hoàng hậu là Tygelinux. Mắt của những người có mặt bất giác đều hướng về phía hắn, bởi chưa một người chiến thắng nào tự hào tiến lên đồi Kapiton như hắn khi dừng bước trước mắt hoàng đế.
Rồi hắn bắt đầu nói, khoan thai và đĩnh đạc, với giọng nói dường như vang lên tiếng loảng xoảng của sắt thép:
- Xin hãy nghe thần nói, tâu hoàng thượng, thần có thể nói cùng hoàng thượng rằng: Thần đã tìm được rồi! Dân chúng đang đòi báo thù và vật hy sinh, nhưng không phải một vật mà hằng trăm hằng nghìn. Đã có khi nào người nghe nói đến Crextox, kẻ đã bị Ponxius Pilat đóng đinh lên thập tự là ai hay chưa? Người có biết bọn Thiên Chúa giáo là ai không? Phải chăng thần đã không trình lên hoàng thượng những tội ác và những cuộc hành lễ vô luôn cùng những điều tiên đoán của bọn chúng, rằng chính lửa sẽ mang đến ngày tận thế? Dân chúng căm ghét và nghi ngờ bọn chúng. Không một ai thấy mặt chúng tại các thần miếu, bởi chúng xem các vị thần của chúng ta là quỷ dữ. Hoàng thượng không gặp chúng ở sân vận động, bởi chúng khinh bỉ các cuộc đua. Chưa bao giờ bàn tay của một tên Thiên Chúa giáo nào vỗ để tán thưởng người. Không một tên nào thừa nhận hoàng thượng là thần. Chúng là kẻ thù của người. Dân chúng đang xôn xao chống lại người, nhưng đâu phải người, thưa hoàng thượng, đã ra lệnh cho thần đốt cháy thành Roma, cũng như không phải thần đã đốt cháy thành đô…Dân chúng khao khát báo thù, vậy hãy cho chúng được rửa hận. Dân chúng nghi ngờ người, hãy để cho sự nghi ngờ của chúng quay sang phía khác.
Thoạt tiên Nerô nghe hắn với vẻ ngạc nhiên. Nhưng càng nghe những lời của Tygelinux, bộ mặt diễn viên của ngài càng biến đổi, mang những nét giận dữ, tiếc thương, đồng cảm, phần nộ thay nhay. Đột nhiên ngài đứng bật dậy, dứt bỏ chiếc áo toga, để cho nó tuột dài xuống chân, vươn cả hai tay lên trời và đứng dậy, im lặng hồi lâu.
Mãi sau ngài mới cất giọng một diễn viên bi kịch mà rằng:
- Hỡi các thần Zeux, Apolon, Hera, Atena, Perxefona, hỡi tất cả các vị thần linh bất tử, tại sao các người không giáng thể cứu giúp chúng tôi? Cái thành đô bất hạnh này đã làm gì lũ người bạo tàn kia để chúng đốt cháy nó một cách bất nhân đến thế?
- Chúng nó là kẻ thù của loài người và của hoàng thượng - Poppea nói.
Những người khác cũng bắt đầu kêu lên:
- Xin người hãy thực hành công lý! Hãy trị tội lũ đốt nhà! Chính các thần cũng đang đòi được trả thù!
Hoàng đế ngồi xuống, gục đầu xuống ngực và lại im lặng, dường như sự vô sỉ mà ngài vừa nghe nói đã khiến ngài bị xúc động mạnh. Song lát sau ngài vung vẩy hai tay thốt lên:
- Có hình phạt nào, có nỗi đớn đau nào tương xứng với tội ác này chăng? Song các thần đã tiếp sức cho ta và nhờ những sức mạnh của Tatar, ta sẽ hiến cho chúng dân của ta những cảnh trí huy hoàng đến nỗi nhiều thế kỷ sẽ còn nhắc đến ta với lòng biết ơn.
Một đám mây đen bỗng như bao phủ vầng trán ông Petronius. Ông nghĩ đến nỗi nguy hiểm đang treo trên đầu Ligia, Vinixius, người mà ông yêu mến, cũng như những người khác, mà dù có từ chối giáo thuyết của họ, ông vẫn tin chắc vào sự vô tội của họ. Ông cũng nghĩ rằng sắp diễn ra một cảnh cuồng hoan đẫm máu mà cặp mắt một nhà duy mỹ như ông không thể chịu đựng nổi. Song trước hết ông tự nhủ: "Ta phải cứu Vinixius, kẻ chắc chắn sẽ phát điên nếu cô gái kia bị hại" và cái quan điểm này chiến thắng mọi ý nghĩ khác. Bởi lẽ Petronius hiểu rất rõ rằng ông sắp bắt đầu một trò chơi nguy hiểm chưa từng có trong đời.
Tuy nhiên ông vẫn bắt đầu nói một cách phóng túng và khinh thị như thường lệ, khi ông phê phán hay cười chê những ý tưởng không mấy thẩm mỹ của hoàng đế và các cận thần:
- Thế là các ngươi đã tìm thấy vật hy sinh! Hay lắm! Các người có thể ném chúng ra đấu trường hoặc mặc cho chúng những chiếc áo "tunica đau đớn". Đều hay cả, những xin hãy lắng nghe tôi nói. Các người có chính quyền, có lính cấm vệ, các người có sức mạnh, vậy xin các người chí ít cũng hãy thành thật một chút khi không có kẻ nào nghe lỏm các người. Các người đánh lừa dân chúng, nhưng xin chớ đánh lừa ngay cả chính mình. Các người cứ việc đưa bọn Thiên Chúa giáo cho dân chúng, các người cứ việc kết tội chúng phải chịu những cực hình nào các người nào các người muốn, song xin các người hãy can đảm mà tự nhận với mình rằng: Không phải bọn họ đã đốt cháy Roma…Phải! Các người gọi tôi là arbiter elegantiarum nên tôi xin tuyên bố cùng các người rằng: Tôi không chịu nổi những tên diễn viên kịch xoàng xĩnh! Phải! Ôi sao mà tất cả trò này khiến tôi nhớ đến cá nhà hát tồi tàn gần Porta Asinaria đến thế, nơi đó các diễn viên đong vai các thần linh và các vị hoàng đế để mua vui cho đám hạ lưu ngoại thành, để rồi sau khi biểu diễn sẽ được nhắm hành sống với rượu vang chua loét hoặc bị nện nhừ tử. Xin các người hãy làm những vị thần linh và những hoàng đế thật sự, bởi tôi xin phép thưa với các người răng, các người có thể cho phép mình làm việc đó. Còn nếu nói về người, thưa hoàng thượng, người đã mang sự xét xử của tòa án những thế kỷ ngày mai ra dọa chúng thần, song xin người hãy nghĩ thêm rằng, những tòa án ấy cũng sẽ tuyên án cả cho người nữa đấy. Lạy Klio thần thánh! Nerô chúa tể thế giới, Nerô thần thánh, người đã đốt cháy thành Roma bởi trên mặt đất người hùng mạnh như thần Zeux trên núi Olimpơ. Nerô thi sĩ yêu thi ca đến độ dám dâng hiến thi ca cả tổ quốc của mình. Từ thưở khai nguyên thế giới chưa có một ai hành động tương tự, chưa một ai dám làm một việc tương tự. Thề có chín vị thần Libetryđa, thần xin hoàng thượng chớ từ bỏ một vinh quang như thế, vì khi ấy những bài ca về người sẽ vang ngân đến tận cùng muốn thế kỷ. Bên cạnh người, vua Priam, Agamenon, Asilex sẽ là cái thớ gì, ngay cả các vị thần linh nữa cũng có ra gì? Chẳng cần biết việc đốt cháy thành Roma có là việc tốt hay không, nhưng đó là một hành động vĩ đại và phi thường. Thêm vào đó, thần xin nói với hoàng thượng rằng dân chúng không hề giơ một cánh tay nào chống lại hoàng thượng cả! Đó là một điều không đúng! Xin người hãy can đảm! Hãy coi chũng những hành động không xứng đáng với người, bởi người chỉ bị đe dọa bởi mỗi một điều thôi, đó là những thế kỷ ngày mai sẽ có thể nói rằng: "Nerô đã đốt cháy thành Roma, nhưng y là một hoàng đế non gan, một thi sĩ non gan, y đã chối một hành động vĩ đại vì sợ hãi, đã đổ lỗi cho những người vô tội".
Lời của ông Petronius thường gây những ấn tượng mạnh đối với Nerô, song lần này chính ông Petronius cũng không hề có ảo tưởng, bởi ông hiểu rõ rằng điều mà ông nói là biện pháp cuối cùng, trong trường hợp may mắn lắm nó mới có thể cứu nổi những người Thiên chúa giáo, song nó cũng có thể làm ông mất mạng như bỡn. Tuy nhiên ông đã không ngần ngại vì ông lo cho tính mạng Vinixius, người mà ông yêu thương, đồng thời đây là cuộc đỏ đen ông đang chơi. "Quân bài đã quật xuống rồi - ông tự nhủ - ta hãy xem xem ở loài khỉ nỗi lo sợ cho tính mạng lớn hơn bao nhiêu so với lòng yêu chuộng vinh quang".
Và trong thâm tâm ông không hề nghi ngờ rằng dù sao nỗi lo sợ kia vẫn chiếm phần thắng.
Lần này, tiếp theo sau lời ông là một sự im lặng bao trùm. Poppea và tất cả những kẻ có mặt đều nhìn chăm chăm vào mắt Nerô như nhìn ánh cầu vồng, còn ngài thì đang nhướng môi trên lên gần sát lỗ mũi như ngài vẫn thường làm khi chưa biết cư xử ra sao. Sau cùng, vẻ bối rối và sự ác cảm hiện rõ trên mặt ngài.
- Tâu hoàng thượng - Tygelinux kêu to khi nhìn thấy thế - xin hãy cho phép thần được ra đi, vì một khi người ta muốn đưa chính bản thân hoàng thượng ra thách đố, hơn nữa lại dám gọi người là một hoàng đế non gan, một nhà thơ non gan, là kể đốt nhà và là một diễn viên hài kịch, thì tai của thần đây không thể nào nghe nổi những lời như thế.
"Ta thua rồi" - Ông Petronius nghĩ thầm.
Song ông vẫn quay lại nhìn Tygelinux và cái nhìn đầy khinh miệt của một ông chủ vĩ đại và một con người quý phái dành cho một kẻ cùng đinh mạt hạng, rồi ông nói:
- Tygelinux, chính ngươi mới là kẻ mà ta gọi là diễn viên hài kịch, bởi vì thậm chí ngay cả lúc này đây ngươi vẫn đang đóng kịch.
- Phải chăng vì ta không muốn nghe những lời nhục mạ của ông?
- Vì ngươi đóng giả một tình yêu vô bờ bến đối với hoàng thượng, ấy thế mà mới một lát trước đây thôi, chính ngươi đã mang quân cấm vệ ra dọa người, điều mà tất thảy chúng ta và cả người đều hiểu rõ.
Tygelinux không ngờ răng ông Petronius dám ném những là bài như thế lên mặt bàn, hắn tái cả người, bối rối và không thốt ra lời nào. Song đó là thắng lợi cuối cùng của arbiter elegantiarum trước đối thủ, bởi chính lúc đó Poppea lên tiếng:
- Hoàng thượng ơi, sao người có thể cho phép một ý nghĩ như thế nảy sinh trong đầu óc của bất cứ kẻ nào, hơn nữa ai đó lại dám lớn tiếng tuyên bố nó ngay trước mặt người kia chứ?
- Xin hãy trừng trị kẻ táo gan! - Vitelius kêu to.
Nerô lại nhướn nhướn môi trên lên gần lỗ mũi, rồi quay đôi mắt thủy tinh cận thị của ngài sang nhìn ông Petronius, ngài nói:
- Ngươi đáp lại tinh thần thân hữu mà ta vốn dành cho ngươi như thế đó sao?
- Nếu như thần có lầm, xin hoàng thượng hãy chỉ cho thần được rõ - Ông Petronius đáp - Nhưng xin người hãy biết cho rằng thần nói những điều mà chính tình yêu hoàng thượng lệnh cho thần phải nói.
- Xin hãy trừng trị kẻ táo gan! - Vitelius lặp lại.
- Xin hãy trừng trị! - Vài giọng nữa họa theo.
Trong gian chính sảnh thông thiên ồn ào và náo động, bởi lẽ mọi người bắt đầu tránh xa ông Petronius. Tránh xa ông ngay cả Tulius Xenexio, người bạn thường xuyên của ông trong chốn cung đình và cả chàng trai trẻ tuổi Nerva, người cho đến nay vẫn dành cho ông một mối tình thân hữu cao nhất. Lát sau ông Petronius còn lại mỗi một mình ở phía trái gian chính sảnh, với một nụ cười trên môi, ông dùng tay vuốt lại những nếp gấp của chiếc áo toga và chờ xem hoàng đế sẽ nói hoặc là gì tiếp nữa.
Song hoàng đế nói:
- Các khanh muốn ta trừng phạt y, nhưng đó là kẻ thân hữu và người bạn của ta, nên dẫu y có làm đau đớn trái tim ta, hãy cứ để cho y biết rằng, đối với bạn bè, trái tim ấy chỉ mang lòng vị tha mà thôi.
"Ta đã thua cuộc và chết" - Ông Petronius nghĩ thầm.
Vừa lúc đó hoàng đế đứng dậy, cuộc nghị bàn kết thúc.
Chú thích:
(1) Latinh: Neropolius - Thành phố Nerô
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 50
Ông Petronius đi về nhà, còn Nerô và Tygelinux đi sang gian chính sảnh thông thiên của Poppea, nơi những người mà trước đó viên tổng quản cấm quấn vừa trò chuyện đang chờ.
Ở đó có hai vị thầy cả(1) từ khu Zatybre tới, khoác những chiếc áo choàng trọng thể, với những nhành sim thơm trên đầu, một viên ký lục trẻ tuổi là trợ thủ của họ và lão Khilon. Nhìn thấy hoàng đế, các vị tăng lữ tái người đi vì xúc động, cùng giơ hai tay lên cao bằng vai, đầu cúi xuống tận bụng.
- Xin kính chào vị quân vương của các quân vương, vua của các nhà vua - Vị già hơn lên tiếng - Xin kính chào người chúa tể của trái đất, người bảo trợ cho chúng dân và hoàng đế, sư tử giữa đàn người mà sự trị vì như ánh sáng mặt trời tỏa rạng, như cây bách hương xứ Liban, như nguồn suối, như bóng cọ và như nhựa thơm Jerokhon!...
- Thế các ngươi không gọi ta là thần linh sao? - Hoàng đế hỏi.
Hai vị tăng lữ còn tái người hơn nữa, vị cao niên hơn lại lên tiếng:
- Lời của người, tâu hoàng thượng, ngọt ngào như chùm nho gốc và như trái chín mọng, bởi lẽ Đức Jehoha đã khiến cho trái tim người chứa đầy sự tốt lành. Song ngay cả vị tiền nhân của cha người, hoàng đế Kaius, dẫu là một người tàn bạo, mà các sứ giả của chúng thần không gọi là thần linh, đặt cái chết của bản thân cao hơn sự báng bổ dòng tu.
- Và Kaligula đã ra lệnh ném bọn chúng cho sư tử phải không?
- Không đâu, tâu hoàng thượng! Hoàng đế Kaius vẫn sợ cơn giận của Đức Jehova.
Và họ ngẩng đầu, bởi cái tên Đức Jehova hùng mạnh đã tiếp thêm can đảm cho họ. Tin vào sức mạnh của Jehova, họ đã dám can đảm hơn nhìn vào mắt Nerô.
- Có phải các ngươi muốn kết tội bọn Thiên Chúa giáo đã đốt cháy thành Roma? - Hoàng đế hỏi.
- Tâu hoàng thượng, chúng thần khi kết rằng chúng là kẻ thù của dòng tu, kẻ thù của loài người, kẻ thù của Roma và kẻ thù của chính người, rằng đã từ lâu chúng đem lửa ra đe dọa thành đô và thế giới. Còn lại, hoàng thượng sẽ nghe con người này nói, người mà miệng lưỡi chưa hề phạm điều dối trá, bởi lẽ trong huyết quản của mẹ ông ta luôn chảy dòng máu của một dân tộc thanh cao(2).
Nerô quay sang lão Khilon:
- Ngươi là ai?
- Là kẻ ngưỡng mộ người, hỡi Ozyryx, ngoài ra là một nhà khắc kỷ khốn khó…
- Ta căm thù lũ khắc kỷ - Nerô nói - Ta căm ghét Trazeas, căm ghét Muzonius và Kornutux. Ta kinh tởm ngôn ngữ của chúng, sự báng bổ nghệ thuật của chúng, sự nghèo khổ tự nguyện của chúng và sự rách rưới của chúng.
- Tâu hoàng thượng, thầy học của người, ngài Xeneka, có đến nghìn gốc cam quýt. Nếu người muốn, thần sẽ có gấp đôi. Thần làm một người khắc kỷ theo nhu cầu. Hỡi vầng thái dương, xin người hãy cài chủ nghĩa khắc kỷ của thần vào vòng hoa hồng của người và đặt trước mặt nó một bình rượu nho, nó sẽ hát những khúc ca của Anakeontơ và ngay lập tức át hẳn tiếng tất cả các môn đệ của phái Epikurơ.
Rất khoái trí với tên gọi "vầng thái dương", Nerô mỉm cười và bảo:
- Người vừa ý ta đấy.
- Người này cân nặng bao nhiêu thì đáng giá bấy nhiêu vàng đấy ạ! - Tygelinux kêu lên.
Lão Khilon đáp lại:
- Tâu hoàng thượng, xin người hãy cho thêm vào số cân nặng của thần sự hào phóng của người, nếu không gió sẽ thổi bay mất số tiền người ban thưởng đấy ạ.
- Đúng thế, có thể ngươi không nặng bằng Vitelius - Hoàng đế cắt ngang.
- Ơ hơ, hỡi vị thần có cây cung bạc, sự hài hước của thần đâu có bằng chì.
- Ta thấy rằng dòng tu của ngươi không cấm được ngươi gọi ta là thần.
- Hỡi vị thần linh bất tử! Dòng tu của thần nằm ở chính người, lũ Thiên Chúa giáo đang chống lại dòng tu ấy và vì thế thần căm thù chúng.
- Ngươi biết những gì về dân Thiên Chúa?
- Người có cho phép thần được khóc không, tâu hoàng thượng?
- Không - Nerô nói - Cái đó khiến ta chán ngán.
- Và người có lý đến ba lần vì cặp mắt nào đã từng được thấy người sẽ phải khô lệ mãi mãi. Tâu hoàng thượng, xin hãy che chở thần tránh khỏi lũ nghịch thù.
- Hãy nói về bọn Thiên Chúa giáo đi - Poppea nói với vẻ hơi sốt ruột.
- Sẽ nói, một khi người đã ra lệnh, hỡi nữ thần Izyđa! - Lão Khilon đáp - Ngay từ những năm tuổi trẻ, thần đã hiến dâng đời mình cho triết học, thần tìm tòi chân lý. Thần đã tìm nó ở các vị thánh hiền linh hiển xa xưa, tại hàn lâm viện ở Aten và tại Xerapeum ở thành Alekxanđria. Khi nghe nói đến những người Thiên Chúa giáo, thần nghĩ rằng đó là một trường phái mới, trong đó thần có thể tìm thấy vài hạt chân lý, và thế là thần làm quen với bọn chúng. Bất hạnh thay cho thần! Tên Thiên Chúa giáo đầu tiên mà số phận chẳng lành đã xui khiến thần tiếp xúc là lão Glaukox, một thầy thuốc ở Neapon. Chính nhờ hắn ta dần dần thần được biết rằng bọn chúng thờ phụng một gã Crixtux nào đó, kẻ đã hứa với chúng sẽ tiêu diệt hết con người và triệt phát tất cả các thành phố trên mặt đất, còn chúng thì y sẽ để cho được sống nếu chúng giúp y trong việc tiêu diệt những cháu con của Đekalion. Chính vì thế mà, tâu hoàng thượng, bọn chúng căm thù con người, vì thế mà chúng đánh thuốc độc cái đài phun nước, vì thế mà trong các cuộc tụ họp chúng trút bao lời nguyền rủa lên thành Roma và tất thảy các thần miếu nơi người ta thường bày tỏ lòng thành kính lên các vị thần của chúng ta. Tên Crixtux đã bị đóng đinh lên thập tự, nhưng y cũng đã hứa với chúng rằng khi nào thành Roma bị lửa thiêu thì y sẽ tái sinh một lần nữa và khi ấy y sẽ mang đến cho bọn chúng quyền thống trị thế giới…
- Giờ thì dân chúng sẽ hiểu tại sai thành Roma lại bị đốt cháy - Tygelinux ngắt lời.
- Nhiều người đã hiểu, thưa ngài - Lão Khilon đáp - Bởi vì tôi đã đi khắp các khu vườn, qua cánh đồng thần Marx và dạy bảo mọi người. Song nếu như các ngài vui lòng nghe tôi nói hết các ngài sẽ hiểu được những lý do khiến tôi phải căm thù chúng. Thoạt tiên lão thầy thuốc Glaukox không để lộ cho tôi biết rằng giáo thuyết của bọn chúng dạy phải căm thù loài người. Ngược lại, lão bảo tôi rằng Crixtux là một vị thần tốt bụng và cơ sở học thuyết của y là tình yêu thương. Trái tim đầy tình âu yếm của tôi không thể cưỡng nổi những chân lý ấy. Thế là tôi đâm mến yêu lão Glaukox và tin ở lão ta. Tôi xẻ chia cùng lão từng mẩu bánh mì, từng đồng xu một, ấy thế mà ngài có biết lão đã trả ơn tôi ra sao không? Trên đường từ Neapon đi Roma lão đã thọc cho tôi một nhát dao, còn vợ tôi, nàng Berenika trẻ trung và xinh đẹp của tôi, thì lão bán cho bọn buôn nô lệ. Nếu Xofoklex biết được chuyện đời tôi…Nhưng tôi nói gì vậy nhỉ! Đang có người còn hơn cả Xofoklex lắng nghe tôi kia.
- Thật là một con người đáng thương! - Poppea nói.
- Ai đã từng được nhìn thấy dung nhan nàng Afrođyta sẽ không bao giờ là kẻ đáng thương, tâu lệnh bà, mà chính lúc này thần đây đang được chiêm ngưỡng nàng. Nhưng hồi ấy thần đi tìm an ủi trong triết học. Đến được Roma, thần cố tìm mọi cách lọt được tới những bậc cao niên trong giới Thiên Chúa giáo, để có thể giành lại công lý đối với Glaukox. Thần nghĩ rằng có thể sẽ buộc lão trả vợ cho thần…Thần được biết một viên đạo trưởng của chúng, thần quen với tên đạo trưởng thứ hai, tên là Paven, trước kia từng bị giam giữ ở đây những sau đó được tha, thần làm quen với con trai của Debeđeus, thần biết rằng lão Linux, Kletux và nhiều kẻ khác nữa. Thần biết rõ chúng nó cư ngụ nơi đâu trước đám cháy, biết chúng hay lui tới những đâu, thần có thể chỉ ra một cái hang ngầm trong đồi Vatykan cùng một nghĩa địa ở bên ngoài cổng thành Nomentan, nơi chúng hay tiến hành những cuộc lễ vô luôn của chúng. Tại đó thần đã trông thấy Sứ Đồ Piotr, đã thấy lão Glaukox lúc lão đang giết trẻ con để Sứ Đồ có cái mà vẩy lên đầu những người có mặt, thần cũng đã nhìn thấy nàng Ligia, con nuôi của bà Pomponia Grexyna, nàng ta khoe khoang rằng tuy khong mang máu trẻ con đến, nhưng đã mang đến cái chết của một đứa hài nhu vì đã dùng bùa ám tiểu Auguxta, công chú của người đấy, thưa Ozyryx và cả của người, thưa Izyđa!
- Người đã nghe thấy chưa, thưa thánh thượng! Poppea thốt lên.
- Có thể nào lại thế được chăng? - Nerô kêu lên.
- Thần có thể bỏ qua những điều xúc phạm tới bản thân - Lão Khilon nói tiếp - Nhưng khi nghe nói đến các người, thần muốn đâm ngay cho ả một nhát dao. Tiếc thay, ngài Vinixius thanh cao, kẻ yêu mến ả, đã ngăn cản thần.
- Vinixius? Thế sao con kia lại chạy trốn hắn ta?
- Ả chạy trốn, chàng ta đi tìm ả, vì không thể sống thiếu ả. Để kiếm mấy đồng tiền mọn, thần đã giúp hắn tìm ả và đã trỏ cho hắn ngôi nhà nơi ả đang ẩn náu giữa bọn Thiên Chúa ở khu Zatybre. Chúng thần cùng nhau đi tới đó, cùng đi có cả vị đô vật của hoàng thượng là ngài Kroton, người mà Vinixius thuê để thêm phần an toàn. Song tên Urxux, nô lệ của Ligia, đã bóp chết tươi Kroton. Đó là một người có sức khỏa thật kinh hồn, tâu hoàng thượng, hắn có thể dễ dàng vặn gãy cổ bò tót như người khác bẻ gẫy một cây thuốc phiện vậy. Ông bà Aulux và Pomponia yêu mến hắn chính vì lẽ đó.
- Thề có Herkulex! - Nerô thốt ra - Kẻ phàm trần(3) đã bóp chết Kroton thật xứng đáng được tạc tượng tại Forum. Nhưng này lão già, lão nhầm lẫn hoặc bịa đặt sao ấy chứ, vì Kroton bị lưỡi dao của Vinixius đâm chết kia mà!
- Con người thường lừa dối các vị thần linh như thế đấy. Ôi tâu thánh thượng, chính thần đã nhìn thấy những chiếc xương sườn của Kroton gẫy vụn trong tay Urxux như thế nào, tiếp đó hắn quật ngã cả Vinixius. Chắc hẳn hắn sẽ giết tươi chàng ta nếu không có Ligia. Sau đó Vinixius ốm rất lâu, còn bọn kia lại chăm sóc chàng ta với hy vọng vì yêu, chàng ta sẽ trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Và rốt cuộc hắn đã trở thành tín đồ Thiên Chúa thực.
- Vinixius?
- Chính thế.
- Có thể cả Petronius nữa chăng? - Tygelinux háo hức hỏi.
Lão Khilon bắt đầu vặn vẹo, cọ cọ hai tay vào nhau và nói:
- Tôi thán phục sự sáng suốt của ngài lắm tháy! Ôi…Có thể! Có thể lắm!
- Giờ thì thần đã hiểu tại sao hắn lại bênh vực cho bọn Thiên Chúa giáo đến thế.
Nhưng Nerô bật cười.
- Petronius mà là tín đồ Thiên Chúa giáo! Petronius mà lại là kẻ thù của cuộc sống và lạc thú! Các người đừng có là bọn ngốc và cũng đừng có mong ta tin vào chuyện đó, nếu không ta sẵn sàng không tin vào chuyện gì nữa cả.
- Nhưng chàng Vinixius cao quý đã thành tín đồ Thiên Chúa giáo rồi, thưa thánh thượng! Thần xin thề trên ánh sáng phát ra từ hoàng thượng rằng thần nói sự thật và không có gì khiến thần kinh tởm như sự dối trá. Bà Pomponia là tín đồ Thiên Chúa, cậu Aulux là tín đồ Thiên Chúa, cả Ligia và Vinixius nữa. Thần đã trung thành phục vụ hắn ta, vậy mà để trả công thần, hắn ta đã ra lệnh đánh đòn thần, mặc dù thần già cả, ốm đau và đói khát. Và thần đã thề với Hađex rằng sẽ ghi nhớ với hắn ta chuyện đó. Hoàng thượng ôi, xin người hãy trả thù chúng cho những điều thần bị xúc phạm, còn thần sẽ nộp cho người cả sứ đồ Piotr, lẫn lão Linux, cả Kleutx lẫn lão Glaukox và lão Kryxpux, toàn một lũ già, cả Ligia lẫn Urxux, thần sẽ chỉ cho hoàng thượng bọn chúng, hàng trăm, hàng nghìn đứa sẽ chỉ những nhà nguyện, các nghĩa địa, tất cả những nàh ngục của ngài không đủ chỗ chứa bonuj chúng đâu! Không có thần các người không thể tìm nổi bọn chúng! Cho tới nay, trong những nỗi cơ cực của mình thần chỉ đi tìm niềm an ủi ở triết học, xin để giờ đây thần sẽ tìm niềm an ủi ở triết học, xin để giờ đây thần sẽ tìm trong những ân huệ sẽ rót xuống người thần. Thần già rồi, nhưng chưa từng biết đời sống là gì, xin hãy để cho thần được nghỉ ngơi.
- Ngươi muốn trở thành một nhà khắc kỷ ngồi trước cái đĩa đầy tú hụ phải không? - Nerô lên tiếng.
- Kẻ nào phục vụ hoàng thượng, chính kẻ đó sẽ được phần đầy.
- Ngươi không lầm đâu, hỡi nhà triết học!
Song Poppea vẫn chưa thôi nghĩ đến những kẻ thù của mình. Quả tình, lòng say mê của ả đối vwois Vinixius cũng chỉ là một ham muốn nhất thời, phát sinh dưới ảnh hưởng của lòng ghen, cơn giận và lòng tự ái bị tổn thương. Nhưng sự lạnh lùng của chàng quý tộc trẻ tuổi đã xúc phạm ả một cách sâu sắc, khiến lòng ả tràn đầy một niềm ác cảm cay cú. Chỉ nguyên việc chàng dám đặt một người phụ nữ khác lên cao hơn ả, đối với ả đã là một hành vi đáng được báo thù. Còn nếu nói đến Ligia,a r căm nàng ngay từ giây phút đầu tiên, lúc sắp đẹp của đóa hoa huệ phương bắc ấy khiến ả lo lắng. Ông Petronius, người đã gièm về cái hông quá hẹp của cô gái, có thể khiến cho hoàng đế nhầm tưởng thế nào không biết, chứ chẳng thể đánh lừa nổi hoàng hậu. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, ả Poppea sành sỏi đã hiểu ngay rằng trong toàn cõi La Mã chỉ mỗi mình Ligia có thể địch với ả, thậm chí thắng cả ả. Và kể từ lúc ấy, ả đã thể phải diệt nàng bằng được.
- Tâu thánh thượng! - Ả lên tiếng - Xin người hãy báo thù cho con của chúng ta!
- Xin các ngài hãy mau chân lên - Lão Khilon kêu lên - Xin hãy nhanh chân lên với! Nếu không, Vinixius sẽ giấu cô gái mất. Thần sẽ chỉ ngôi nhà mà họ quay về sau hỏa hoạn.
- Ta sẽ cho mười người đi, đi ngay đi - Tygelinux bảo.
- Thưa ngài! Ngài chưa được thấy cảnh Kroton nằm trong tay gã Urxux, nếu ngài cho năm mươi người, tôi chỉ dám chỉ ngôi nhà từ đằng xa. Còn nếu các ngài không bỏ tù luôn cả Vinixius thì tôi chết mất.
Tygelinux nhìn Nerô.
- Tâu thánh thượng, có phải là điều tốt hay chăng nếu chúng ta giải quyết luôn một lần cả cậu lẫn cháu?
Nerô nghĩ một lúc rồi đáp:
- Không! Chưa phải lúc!...Người ta sẽ không tin nếu như cứ cố tình bảo họ rằng Petronius, Vinixius hoặc mụ Pomponia Grexyna đốt cháy Roma. Bọn họ có những ngôi nhà quá đẹp. Hôm nay cần những vật hiến tế khác, sau này sẽ tới lượt bọn kia.
- Vậy xin hoàng thượng hãy cấp cho thần binh mính để chúng bảo vệ thần - Lão Khilon nói.
- Tygelinux sẽ nghĩ tới chuyện ấy.
- Tam thời nhà người hãy trú ở chỗ ta -Viên tổng quản cấm quân nói.
Nỗi vui sướng bắt đầu nở trên mặt lão Khilon.
- Thần sẽ khai tất cả bọn chúng! Chỉ cần các ngài nhanh chân lên! Hãy nhanh chân lên! - Lão kêu lên, giọng khàn đặc.
Chú thích:
(1) Nguyên văn: Rabbi (La tinh).
(2) Nguyên văn: Một dân tộc được lựa chọn.
(3) Nguyên văn: Kẻ không bất tử.

Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 51
Từ chỗ Hoàng đế ra, ông Petronius ra lệnh cáng về ngôi nhà của ông trên đồi Karyny, ngôi nhà ba mặt có vườn bao quanh, còn mặt trước kề với tiểu Forum Xexyli nên trong thời gian có hoả hoạn nó là ngôi nhà duy nhất còn sót lại.
Cũng vì lý do đó, những cận thần khác, bị mất sạch nhà cửa với bao thứ tài sản khác và các tác phẩm ở bên trong, thường gọi ông Petronius là người may mắn. Mà nói cho cùng, đã từ lâu người ta đồn rằng ông là con trai cả của nữ thần Fortuna, và tình thân ngày càng tha thiết mà thời gian gần đây Hoàng đế biểu lộ với ông hình như cũng khẳng định sự đúng đắn của ý kiến đó.
Song giờ đây, đứa con đầu tiên của thần tài Fortuna ấy có thể phải suy nghĩ về sự đổi thay của bà mẹ đẻ, hay nói cho đúng hơn, về sự giống nhau giữa nữ thần với thần Eronox, kẻ đã xé xác con đẻ của chính mình.
"Giá như nhà của ta cũng bị cháy trụi - ông tự nhủ - cùng với tất thẩy những viên ngọc chạm, những chiếc bình Etrux, đồ pha lê Alekxanđria và đồ đồng Koryntơ của ta, có thể Nerô sẽ quên đi điều xúc phạm kia. Thề có Ponlukx! Cứ nghĩ thử xem, nhẽ ra chỉ còn phụ thuộc vào ta, vào quyết định của ta, để lúc này đây ta đã là tổng quản cấm quân! Ta sẽ tuyên bố rằng Tygelinux là kẻ đã đốt thành phố, mà thực ra chính là hắn chứ ai, ta sẽ mặc cho hắn chiếc tunica đau đớn, sẽ giao hắn cho dân chúng, sẽ bảo vệ được những tín đồ Thiên chúa và sẽ xây dựng lại Roma. Biết đâu những người trung thực lại chẳng được dễ chịu hơn lên. Nhẽ ra ta phải làm việc đó, dù chỉ vì mỗi mình Vinixius mà thôi! Nếu như công việc quá nhiều, ta sẽ nhường cho cháu ta quyền tổng quản - và Nerô sẽ không hề phản đối việc ấy… Rồi sau đó mặc sức Vinixius muốn rửa tội cho tất thẩy đám lính cấm vệ, cho ngay cả Hoàng đế nữa càng hay, ta có thiệt gì đâu cơ chứ. Một Nerô kính Chúa, một Nerô phẩm hạnh và nhân từ - thật là một điều đáng mừng, dù cho y có điều bộ đến mấy đi nữa"
Và sự vô lo của ông lớn đến nỗi ông bất giác mỉm cười, song chỉ giây lát sau, ý nghĩ của ông đã hướng về một phía khác. Ông ngỡ như đang còn ở Anxium và ông Paven xứ Tarxu đang nói với ông:
"Các ngài gọi bọn chúng tôi là kẻ thù của cuộc sống, nhưng thưa ngài Petronius, xin ngài hãy trả lời tôi: nếu như Hoàng đế lại là một tín đồ Thiên chúa và hành động theo giáo thuyết của chúng tôi, thì có phải cuộc sống của các ngài sẽ trở nên chắc chắn và yên ổn hơn chăng?"
Nhớ đến những lời ấy, ông lại tự nhủ:
"Thề có Kaxtor! Nơi đây người ta đã tàn sát biết bao tín đồ Thiên chúa, vậy mà Paven lại tìm được ngần ấy tín đồ mới; nếu như thế gian không thể đứng nổi trên sự đểu giả, thì ông ta nói có lý… Nhưng biết đâu nó sẽ đứng được cũng nên, một khi nó vẫn đang đứng được đấy thôi. Chính bản thân ta, mặc dù học hành đã nhiều, nhưng vẫn chưa học nổi cách trở thành một thằng đểu giả cỡ bự, vì vậy ta sẽ phải tự mở phanh mạch máu ra thôi… Sự thể rồi sẽ phải kết thúc bằng cách ấy, mà nếu như không bằng cách ấy thì cũng sẽ phải kết thúc bằng cách khác. Ta chỉ thương Eunixe và tiếc cho chiếc bình quý xứ Miren của ta, mà Eunixe đã là người tự do, còn chiếc bình sẽ đi theo ta kia mà. Dù thế nào đi nữa, Ahenobarbux cũng không thể nhận được chiếc bình ấy! Ta cũng thương cho Vinixius. Mà nói cho cùng, mặc dù thời gian gần đây ta thấy ít buồn chán hơn trước kia, nhưng ta cũng vẫn sẵn sàng. Mọi vật trên thế gian đều tươi đẹp, nhưng đại đa số con người thì lại dung tục đến nỗi chẳng đáng tiếc chi cuộc sống. Kẻ nào biết sống, kẻ đó hẳn sẽ biết chết. Và dù rằng ta nằm trong đám cận thần, ta vẫn là một con người tự do hơn chúng nó có thể tưởng nhiều lắm."
Nghĩ tới đây ông nhún vai:
"Chúng nó có thể nghĩ rằng lúc này đây đầu gối ta đang run rẩy và nỗi sợ hãi khiến tóc trên đầu ta dựng ngược cả lên, còn ta, khi trở về nhà, ta sẽ tắm trong nước ngâm hoa đồng thảo, rồi Nàng Tóc Vàng của ta sẽ đích thân xoa dầu thơm cho ta, và khi ăn chúng ta sẽ bảo chúng hát thật to bản tụng ca dâng thần Apolon mà Antemiox đã soạn. Ngày trước có lúc ta đã từng nói:"Không cần nghĩ đến cái chết vì không có chúng ta góp sức thì tự nó cũng vẫn nghĩ đến chúng ta". Song dù sao cũng thật đáng ngạc nhiên nếu như quả có thực những Cánh đồng Elize nào đó, nơi có những bóng ma… Nếu vậy thỉnh thoảng Eunixe sẽ đến với ta và chúng ta sẽ cùng nhau lang thang trên những nội cỏ mọc đầy hoa lan nhật quang. Ta sẽ tìm ra được những người bạn bè tốt đẹp hơn ở chốn này. Một lũ hề! Một lũ làm xiếc, một đám thường dân dung tục chẳng có lấy một chút thị hiếu văn hoá nào! Có đến mười vị arbiter alegantiarum cũng chẳng thể cải biến nổi bọn Trymalkhion ấy thành những người đứng đắn. Thề có nữ thần Perxefona! Ta ngán chúng quá thể!"
Song tiếp đó, ông bắt đầu cân nhắc tình thế. Nhờ sự sáng suốt của mình, ông hiểu rằng cái chết đe doạ ông ngay tức thời. Nerô đã lợi dụng một giây phút thích hợp để nói vài lời đẹp đẽ, cao vọng về tình bằng hữu, về sự tha thứ, và chính vì thế hắn tự ràng buộc bởi những lời nói đó. Giờ đây hắn sẽ phải tìm cớ, và trước khi hắn tìm ra, có thể cũng phải mất khối thời gian. "Trước tiên, hắn còn phải tổ chức cuộc hội thi với những người Thiên chúa giáo đã - ông Petronius tự nhủ - rồi sau đó hắn mới nghĩ tới ta, và nếu đúng thế thì chẳng cần chi phải lo lắng và thay đổi nếp sống. Vinixius bị đe doạ bởi những mối nguy sát sườn hơn!…"
Từ lúc đó, ông chỉ nghĩ tới Vinixius, người mà ông quyết định phải cứu bằng được.
Đám nô lệ khiêng chiếc kiệu đi nhanh giữa những đống phế tích, tro tàn và những ống khói đang còn đầy rẫy trên đồi Karyny, song ông ra lệnh cho chúng phải chạy thật nhanh để có thể mau chóng về đến nhà. Vinixius đang ở nhà ông vì toà biệt thự của chàng bị cháy và may thay, chàng đang có mặt ở nhà.
- Hôm nay anh có gặp Ligia không? - ông Petronius hỏi mào đầu
- Cháu vừa từ chỗ nàng quay về.
- Hãy nghe cậu nói đây, và đừng có hỏi thêm mà phí mất thời gian. Hôm nay, ở chỗ Hoàng đế người ta đã quyết định trút tội đốt cháy Roma cho dân Thiên chúa. Họ sẽ bị truy nã và sẽ chịu cực hình. Cuộc săn lùng sẽ bắt đầu ngay bây giờ đấy. Anh hãy mang Ligia đi trốn ngay tức khắc, sang bên kia dẫy Anpơ hay đến tận Phi Châu cũng được! Nhanh chân lên, vì từ Palatyn tới khu Zatybre gần hơn từ đây.
Vinixius vốn là một người lính, chàng không để mất thì giờ hỏi những câu thừa. Chàng lắng nghe ông nói, đôi lông mày cau lại, nét mặt chăm chú và dữ dội, nhưng không hề run sợ. Rõ ràng, trước mối nguy, cảm giác đầu tiên thức dậy trong con người này là ý muốn chiến đấu và tự vệ.
- Cháu đi đây. - Chàng nói.
- Một lời nữa thôi: hãy mang theo tráp đựng vàng, mang theo khí giới và một ít người trong số tín đồ Thiên chúa của anh. Nếu cần, đánh tháo!
Vinixius đã ra đến cửa gian chính sảnh.
- Hãy cho cậu biết thông tin qua một tên nô lệ. - Ông Petronius còn gọi với theo người ra đi.
Và còn lại một mình, ông bắt đầu đi dạo dọc những hàng cột được trang trí trong gian chính sảnh, suy nghĩ về những gì vừa xảy ra. Ông biết rằng sau khi đám cháy tắt, Ligia và ông Linux lại quay về ngôi nhà cũ, ngôi nhà - cũng như phần lớn khu Zatybre - còn sống sót, và đó là một điều bất lợi, vì nếu không thì khó lòng tìm nổi họ trong đám đông dân chúng. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng rằng không một kẻ nào trong cung điện Palatyn biết nơi họ ở, nên thế nào Vinixius cũng sẽ đến trước bọn lính cấm vệ. Ông cũng nghĩ rằng, muốn ra tay một lần bắt được thật nhiều tín đồ Thiên chúa, hẳn Tygelinux sẽ phải chăng lưới trên toàn thành Roma, mà điều đó cũng có nghĩa là hắn sẽ phải chia lính cấm vệ thành từng toán nhỏ. Nếu như có không quá mười tên đến bắt nàng - ông nghĩ - thì chỉ cần một mình chàng khổng lồ xứ Ligi cũng đủ bẻ gẫy xương bọn chúng, huống hồ lại có thêm Vinixius đến giúp sức nữa. Nghĩ thế, ông hởi lòng hởi dạ. Thực ra, dùng vũ khí chống lại lính cấm vệ cũng gần như đồng nghĩa với việc mở đầu cuộc chiến tranh chống Hoàng đế. Petronius cũng hiểu rõ rằng, nếu Vinixius trốn tránh cuộc trả thù của Nerô, thì sự trả thù ấy rất có thể sẽ giáng xuống đầu ông, nhưng ông chẳng lo lắng nhiều về điều ấy. Ngược lại, ý nghĩ về việc đảo lộn, quấy rối Nerô và Tygelinux khiến ông vui lên. Ông quyết định sẽ không tiếc cả tiền của lẫn người để làm việc đó, và vì rằng hồi ở Anxium, ông Paven xứ Tarxu đã cải đạo cho đa số nô lệ của ông, nên ông có thể hoàn toàn tin rằng: trong việc bảo vệ cô nàng nữ tín đồ Thiên chúa ông có thể tin vào sự sẵn sàng hi sinh của bọn họ.
Eunixe bước vào làm gián đoạn những dòng suy nghĩ của ông. Nhìn thấy nàng, tất thẩy những lo lắng và ưu tư của ông tan biến không còn một mảy may. Ông quên cả Hoàng đế, cả tình trạng thất sủng mà ông vừa rơi vào, cả lũ cận thần khốn nạn, cả cuộc truy quét đang đe doạ những người Thiên chúa, cả Vinixius cùng Ligia, ông chỉ còn biết ngắm nàng với cặp mắt của một nhà duy mỹ đang say mê những đường nét tuyệt vời, và với cặp mắt của một người tình đang hít thở hương tình ái toát ra từ những đường nét đó. Mặc một chiếc áo dài màu hoa cà trong suốt thường được gọi là Coa Vestis, qua đó trông rõ thân thể hồng hào của nàng, nàng quả đẹp như một nữ thần. Thêm nữa, cảm thấy mình đang được ngưỡng mộ, lại yêu ông với cả tâm hồn, lúc nào cũng khao khát những ve vuốt của ông, nàng ửng hồng vì sung sướng, dường như nàng không phải là một tỳ thiếp mà là một nàng trinh nữ ngây thơ.
- Nàng sẽ nói điều gì cùng ta đấy, hỡi tiên nữ Kharyta? - ông Petronius vươn cả hai tay đón nàng.
Nàng cúi mái tóc vàng của nàng lại gần ông và nói:
- Thưa ông chủ, ngài Antemiox cùng các ca công đã đến và hỏi ông chủ có muốn nghe ngài hát hôm nay chăng?
- Anh ta cứ đợi đấy đã nhé. Anh ta sẽ hát cho chúng ta nghe bản thiều ca dâng thần Apolon trong bữa trưa. Chung quanh hãy còn đầy đổ nát và tro tàn, còn chúng ta sẽ nghe thiều ca dâng lên Apolon! Thề có những khu rừng Barfox! Cứ nhìn nàng trong chiếc áo Coa vestis này ta lại ngỡ như chính nữ thần Afrođyta đã vén riềm trời xuống đây đứng trước mặt ta vậy.
- Ôi ông chủ! Eunixe thốt lên.
- Hãy lại đây, hỡi Eunixe, hãy ôm chặt ta trong vòng tay em và cho ta uống đôi môi em… Em yêu ta chứ?
- Em yêu ông chủ hơn cả thần Zeux nữa!
Nói đoạn nàng áp môi nàng vào môi ông, nàng run lên vì sung sướng trong vòng tay ông.
Lát sau, ông Petronius nói:
- Nhưng nếu như chúng ta phải lìa nhau?…
Eunixe nhìn ông với nỗi kinh hoàng trong mắt:
- Sao lại thế, thưa ông chủ?…
- Nàng đừng sợ… Nàng thấy không, biết đâu ta sẽ phải lên đường vào một cuộc hành trình xa thẳm.
- Xin hãy mang em theo với…
Ông Petronius đột nhiên thay đổi câu chuyện và hỏi:
- Nàng hãy nói ta hay, trên các thảm cỏ ngoài vườn có hoa lan nhật quang hay chăng?
- Ngoài vườn cả trắc bá lẫn thảm cỏ đều vàng úa đi vì đám cháy, những cây sim thơm cũng trút hết lá, cả khu vườn trông như đã chết rồi.
- Cả thành Roma cũng như đã chết rồi, và chẳng mấy chốc nữa nó sẽ là một nghĩa địa thực sự. Nàng có biết là đã có mật lệnh chống lại dân Thiên chúa giáo và sẽ bắt đầu cuộc khủng bố bọn họ, trong đó hàng nghìn người sẽ mất mạng?
- Người ta trừng phạt họ vì tội gì cơ, thưa ông chủ? Đó là những người rất tốt và hiền lành cơ mà?
- Chính vì tội ấy!
- Vậy chúng ta hãy đi về vùng biển. Đôi mắt thiên thần của ông chủ vốn không thích trông thấy máu.
- Được rồi, nhưng bây giờ ta phải tắm đã. Nàng hãy tới xoa dầu cho ta với nhé. Thề có chiếc thắt lưng của nữ thần Kapryđa! Chưa bao giờ ta thấy nàng đẹp đến thế. Ta sẽ ra lệnh làm cho riêng nàng một bể tắm có hình trai ngọc, và nằm trong đó, nàng sẽ giống như một viên ngọc trai quý giá… Đến nhé, Tóc Vàng của ta!
Rồi ông bước ra, và một giờ sau, cả hai đầu đội những vòng hoa hồng, với đôi mắt mơ màng, nằm trước chiếc bàn đầy những bát đũa bằng vàng. Những tiểu đồng phục dịch họ đều mặc giả các thiên đồng ái tình, họ vừa uống rượu nho bằng những chiếc cốc quý giá quấn dây thường xuân vừa nghe bản thiều ca dâng lên thần Apolon được hát lên có đàn hạc đệm theo dưới sự điều khiển của Antemiox. Họ có cần biết chi đến việc chung quanh toà biệt thự đang nhô lên từ đống hoang tàn những chiếc ống khói của những ngôi nhà và gió đang mang tro tàn của thành phố Roma bị thiêu cháy đi rải khắp nơi. Họ chỉ cảm thấy hạnh phúc và chỉ nghĩ đến tình yêu, thứ tình yêu đã biến cuộc đời họ thành một giấc mơ thiên giới.
Nhưng trước khi bản thiều ca kết thúc, tên nô lệ quản gian chính sảnh đã bước vào.
- Trình ông chủ, - hắn nói với một giọng nói trong đó run lên nỗi lo sợ, một viên xentunion cùng một toán lính cấm vệ đang đứng trước cổng mang theo mệnh lệnh của Hoàng thượng muốn được gặp ngài.
Tiếng ca và những thanh âm của đàn hạc ngừng hẳn. Nỗi lo lắng lan ra khắp tất cả những người có mặt, bởi vì trong quan hệ với những người bạn, Hoàng đế không bao giờ sử dụng đến lính cấm vệ, và trong thời buổi ấy, việc chúng đến nhà chẳng báo hiệu điều gì tốt lành cả. Chỉ mỗi mình ông Petronius không tỏ một chút xúc động nào, ông nói như người đã quá chán ngán những lời mời mọc triền miên:
- Ít nhất chúng cũng phải để cho ta được yên ổn dùng xong bữa trưa đã chứ?
Rồi ông quay sang viên quản gian chính sảnh:
- Cho vào!
Người nô lệ biến đi sau bức trướng che; một lát sau có thể nghe thấy những bước chân nặng nề vang lên và viên bách trưởng Aper mà ông Petronius quen, bước vào, giáp trụ đầy người và chiếc mũ chiến bằng sắt trên đầu.
- Thưa quý ngài, - y nói - đây là thư của Hoàng thượng.
Petronius uể oải đưa bàn tay trắng nuốt cầm lấy chiếc bảng lướt mắt nhìn qua rồi hoàn toàn bình thản đưa nó cho Eunixe.
- Tối nay Người sẽ đọc một khúc ca mới trong thiên "Thành Tơroa", ông nói, - và Người mời ta đến dự.
- Tôi chỉ được lệnh trao thư cho ngài, - Viên bách trưởng lên tiếng.
- Phải, sẽ không có thư trả lời đâu. Nhưng này bách trưởng, anh có thể nghỉ ngơi chốc lát với chúng tôi và dốc cạn một cốc rượu nho hay chăng?
- Xin cảm ơn quý ngài. Tôi sẽ rất vui lòng uống cạn cốc rượu nho chúc sức khoẻ ngài, nhưng tôi không thể nghỉ được vì đang làm công vụ.
- Sao người ta lại giao cho người đưa thư thay vì gửi nô lệ mang đến?
- Tôi không rõ, thưa ngài. Cũng có thể nhân tiện tôi được phái tới khu vực này vì một việc khác.
- Ta biết, - ông Petronius nói, - việc chống dân Thiên chúa.
- Đúng thế, thưa ngài.
- Cuộc truy quét đã bắt đầu lâu chưa?
- Một số đơn vị đã được phái đến khu Zatybre ngay trước ngọ.
Nói đoạn, viên bách trưởng gẩy từ cốc một ít rượu vang dâng chiến thần Marx, sau đó uống cạn rồi nói:
- Xin các vị thần linh hãy ban cho ngài những gì ngài muốn, thưa ngài.
- Ngươi hãy cầm chiếc cốc ấy về! - ông Petronius bảo.
Rồi ông ra hiệu cho Antemiox hát nốt bản thiều ca dâng Apolon
"Râu Đỏ bắt đầu đóng trò với ta và Vinixius đây - ông nhủ thầm khi những chiếc đàn hạc lại vang lên - Ta đoán được ý định của hắn. Gửi lời mời qua viên xentunion, hắn muốn ta phải hoảng sợ. Tối nay chúng sẽ hỏi viên bách trưởng xem cách thức ta nhận thư ra sao. Chớ, chớ! Chớ có vội mừng, hỡi con rối độc ác và hà khắc kia! Ta biết là ngươi không quên lời nhục mạ đâu, ta biết rằng cái chết không bỏ qua ta, nhưng nếu ngươi nghĩ rằng ta sẽ nhìn vào mắt ngươi với vẻ van xin, rằng ngươi sẽ nhìn thấy trên nét mặt ta nỗi sợ hãi và luồn cúi, thì ngươi nhầm đấy."
- Hoàng đế viết rằng: "Các khanh hãy đến dự nếu các khanh muốn", - Eunixe nói - Vậy người có đi không, thưa ông chủ?
- Ta đang ở trong một tâm trạng rất tuyệt và ta có thể nghe ngay cả thơ của Người, - ông Petronius đáp, - Vậy ta sẽ đi, thêm nữa còn vì Vinixius không tới dự được.
Sau bữa trưa và sau khi đi tản bộ theo lệ thường ông để cho các nô tỳ chải tóc và xếp nếp áo, rồi một giờ sau, đẹp như một thiên thần, ông ra lệnh cáng đến đồi Palatyn. Giờ đã muộn, buổi tối yên tĩnh, ấm áp, mặt trăng chiếu sáng đến nỗi những tên lampađaria(1) đi trước kiệu tắt đuốc đi. Trên các đường phố và giữa những đám tro tàn lang thang những toán người đã nốc say rượu nho, quấn đầy dây thường xuân và những loài dây dại, mang trên tay những cành sim thơm và nguyệt quế hái trong các khu vườn thượng uyển của Hoàng đế. Sự dồi dào của lương thực và niềm hi vọng sẽ không có những hội vui vĩ đại khiến lòng người tràn ngập niềm vui. Đây đó người ta hát vang những bài ca ca ngợi "Đêm thần thánh" và tình yêu, đây đó người ta nhẩy múa trong ánh trăng; mấy lần liền, đám nô lệ phải hét lên yêu cầu nhường đường cho "ngài Petronius tôn kính", và những khi ấy đám đông vừa tránh ra vừa gào lên chào con người mà họ kính mến.
Còn ông cứ nghĩ hoài về Vinixius và ngạc nhiên vì không nhận được một tin tức gì từ chàng cả. Ông là người theo chủ nghĩa hưởng lạc và là một người ích kỷ, nhưng tiếp xúc với ông Paven xứ Tarxu, với Vinixius và hàng ngày được nghe về những người Thiên chúa giáo, ông đã thay đổi ít nhiều, mặc dù bản thân ông cũng không nhận thấy chuyện ấy. Có một làn gió nào đó thổi từ họ vào người ông, mang đến cho tâm hồn ông những hạt giống lạ. Ngoài bản thân mình, ông bắt đầu lưu ý đến những người khác, còn riêng đối với Vinixius thực ra ông đã gắn bó từ lâu, vì ngay từ thời thơ ấu ông đã rất yêu mẹ chàng, chị ruột của ông, nên giờ đây tham dự vào việc của chàng, ông theo dõi nó căng thẳng như thể theo dõi một vở bi kịch.
Ông vẫn không mất hi vọng rằng Vinixius sẽ đến trước khi bọn lính cấm vệ tới, và chàng đã trốn thoát cùng Ligia, hoặc trong trường hợp cần thiết, chàng đã đánh tháo cho nàng. Nhưng ông muốn biết thật chắc, vì ông thấy trước là sẽ phải trả lời đầy đủ các thứ câu hỏi, tốt nhất là cần chuẩn bị trước.
Dừng trước dinh thự Tyberius, ông bước ra khỏi kiệu và chỉ lát sau ông đã vào gian chính sảnh đầy các cận thần. Những người bạn hôm qua, mặc dù ngạc nhiên vì ông vẫn được mời, song vẫn xa lánh ông, còn ông bước vào giữa bọn họ, tươi đẹp, khoáng đạt, vô tư và tự tin như chính ông mới là người có thể ban phát ân sủng. Một số kẻ thấy ông như vậy đâm ra lo lắng trong dạ, không biết có phải họ đã biểu lộ với ông quá sớm sự dửng dưng hay chăng?
Tuy nhiên Hoàng đế vờ như không trông thấy ông và không đáp lại cái cúi chào của ông, giả vờ là đang bận nói chuyện. Ngược lại, Tygelinux tiến đến gần ông và nói:
- Xin chào vị arbiter alegantiarum! Có phải bao giờ ngài cũng vẫn khẳng định rằng bọn Thiên chúa giáo không phải là người đã đốt cháy Roma?
Ông Petronius nhún vai, vỗ vào đùi hắn như đối với một tên nô lệ mới giải phóng và đáp lại:
- Ông cũng hiểu rõ như tôi cần phải nghĩ về chuyện ấy thế nào.
- Tôi đâu dám sánh với sự thông thái của ngài.
- Và vô hình trung ông nghĩ có lý đấy, bởi vì nếu thế thì khi Hoàng thượng đọc cho chúng ta nghe một khúc ca mới trong bản "Thành Tơroa", thay vì việc kêu quang quác như một lũ công, ông sẽ phải nói được một câu cho đúng chỗ.
Tygelinux cắn môi. Hắn không vui vẻ gì với chuyện Hoàng đế quyết định hôm nay sẽ đọc một khúc ca mới, vì điều đó lại mở ra một lĩnh vực trong đó hắn không thể đọ sức nổi với ông Petronius. Quả thực, trong khi xướng đọc, Nerô theo thói quen cũ bất giác vẫn đưa mắt nhìn ông Petronius, chăm chú quan sát xem có thể đọc được qua nét mặt ông điều gì chăng. Còn ông, khi nghe ông nhướng mày lên, đôi chỗ ông gật gù, đôi chỗ căng tai chú ý như muốn kiểm tra lại cho rõ xem ông nghe có đúng không. Rồi sau đó, chỗ thì ông khen, chỗ thì ông chê, đòi sửa lại hoặc trau chuốt thêm một số câu thơ. Bản thân Nerô cảm thấy rằng, trong những lời ca tụng bốc trời, những kẻ khác chỉ quan tâm đến bản thân mà thôi, riêng mỗi mình con người này quan tâm đến thi ca chỉ vì thi ca, rằng chỉ mỗi mình ông hiểu, và nếu như ông có khen ngợi điều gì thì có thể tin chắc rằng những dòng thơ ấy xứng đáng được ca ngợi. Dần dần ngài bắt đầu thảo luận cùng ông, đôi co với ông, và cuối cùng khi ông Petronius nêu nghi ngờ của ông về sự chính xác của một cách diễn đạt, thì ngài bảo ông:
- Khanh sẽ thấy ở khúc ca cuối cùng vì sao ta lại dùng nó.
"À, - ông Petronius nghĩ thầm. - Vậy là ta vẫn chờ được đến khúc ca cuối cùng".
Nghe thấy thế, không chỉ một kẻ tự nhủ:
"Khổ thân ta chưa! Có nhiều thời gian, Petronius có thể lại quay về với ân sủng và sẽ đánh bại cả Tygelinux"
Rồi bọn họ lại bắt đầu nhích tới gần ông. Song kết cục của buổi tối ít may mắn hơn, bởi vì lúc ông Petronius từ biệt ngài, Hoàng đế bỗng nheo mắt hỏi ông với nét mặt vừa nanh ác vừa vui mừng:
- Mà sao Vinixius lại không đến?
Nếu như ông Petronius biết chắc Vinixius và Ligia đã ở bên ngoài cổng thành, hẳn ông đã đáp lại: “Được phép Người, y đã cưới vợ và ra đi rồi”. Nhưng trông thấy nụ cười lạ lùng của Nerô ông đáp:
- Tâu thánh thượng, lời mời của Người đến vào lúc hắn không có mặt ở nhà.
- Bảo với hắn rằng ta rất vui sướng được gặp hắn, - Nerô trả lời, - và nhân danh ta bảo hắn đừng có bỏ qua cuộc đấu, trong đó bọn Thiên chúa giáo sẽ đăng đàn.
Những lời ấy khiến ông Petronius lo lắng, vì ông thấy hình như chúng đề cập trực tiếp đến Ligia. Ngồi vào kiệu, ông bảo đưa thẳng về nhà và giục đi nhanh hơn cả ban sáng. Song đó không phải là chuyện dễ. Trước dinh thự Tyberius tụ tập một đám đông dầy đặc và huyên náo, cũng say sưa như lúc trước nhưng không ca hát nhẩy múa mà hình như đang phẫn nộ. Từ xa vang lại những tiếng người kêu la mà ông Petronius không hiểu được ngay lập tức, những tiếng kêu to dần lên, tăng mãi lên để cuối cùng trở thành một tiếng hò la man dã vang động:
- Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!
Những chiếc kiệu xinh xắn của các cận thần trôi đi giữa đám người đang gào thét. Từ lòng sâu của những dãy phố cháy trụi dồn về thêm bao đám người nữa, nghe tiếng kêu họ cũng lặp lại. Người ta truyền khẩu nhau tin cuộc tróc nã đã bắt đầu từ trưa, rằng đã tóm được hàng lũ bọn đốt nhà, và thế là chẳng mấy chốc trên những đường phố mới vạch và những đường phố cũ, trong những ngõ hẻm chỉ còn là phế tích, chung quanh đồi Palatyn, trên tất cả những ngọn đồi và khu vườn, vang rền những tiếng hò la điên cuồng hơn nữa, rộng và dài như thành Roma:
- Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!
- Bọn súc vật! - ông Petronius khinh bỉ nhắc lại, - dân chúng thật xứng với Hoàng đế.
Và ông bắt đầu nghĩ rằng cái thế giới dựa trên bạo lực, trên sự dã man mà ngay cả những tộc người man rợ cũng không hề sánh nổi, trên những tội ác và sự trác táng đến điên loạn, cái thế giới ấy sẽ không thể tồn tại được. Roma là bá chủ thế giới và là cái ung nhọt của thế giới. Từ đó đang toát ra mùi tử thi. Bóng đen của cái chết đã đổ xuống cuộc sống thối tha này. Đã nhiều lần người ta nói đến điều đó, ngay cả trong đám cận thần, nhưng chưa bao giờ ông Petronius thấy rõ cái sự thật, rằng cỗ xe vinh quang, trên đó Roma ngồi chĩnh chệ như một người ca khúc khải hoàn, kéo theo sau một đàn các dân tộc bị dày xéo, đang đi tới bờ vực thẳm. Ông thấy như cuộc sống của cái thành phố bá chủ thế giới này là một đám rước của lũ hề, một cuộc sống cuồng hoan nhất định sẽ phải chấm dứt.
Giờ đây ông hiểu ra rằng chỉ có những người Thiên chúa giáo có được những cơ sở khác để sống, nhưng ông nghĩ chẳng mấy chốc nữa các tín đồ Thiên chúa cũng sẽ chẳng còn lấy một chút dấu vết nào. Và khi ấy sẽ là cái gì?
Cuộc diễu hành của lũ hề đang tiếp tục với sự chỉ huy của Nerô, nhưng nếu như Nerô có biến đi thì lại có một kẻ khác hệt như y hay tồi tệ hơn, vì với một đám dân chúng thế kia, một đám quý tộc thế này thì không có lý do gì để có được kẻ khác tốt đẹp hơn. Sẽ lại là một cuộc cuồng hoan mới, thêm nữa, càng dung tục và đáng tởm hơn.
Mà cuồng hoan thì không thể kéo dài được, sau đó cần phải đi ngủ, chí ít cũng vì kiệt sức.
Nghĩ về điều đó, ông Petronius cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Có đáng sống hay chăng trong sự bấp bênh của ngày mai, chỉ để mà nhìn một trật tự tương tự của thế gian? Thần chết đâu có kém đẹp đẽ hơn thần ngủ và cũng mang đôi cánh trên vai kia mà?
Kiệu dừng lại trước cửa nhà, người canh cửa tỉnh ngủ mở cửa ngay tức khắc.
- Ngài Vinixius cao quý đã về chưa? - ông Petronius hỏi y.
- Vừa mới về xong, thưa ông chủ. - Người nô lệ đáp.
“Vậy là hắn ta không đánh tháo được cho nàng” - ông Petronius nghĩ thầm.
Và cởi vội chiếc áo toga, ông chạy vào gian chính sảnh. Vinixius đang ngồi trên chiếc ghế ba chân, đầu cúi sát xuống gần gối, hai tay ôm đầu; nghe tiếng bước chân, chàng ngẩng lên với bộ mặt đã hoá đá, trên đó chỉ có đôi mắt phát ra những tia nóng bỏng.
- Anh đến quá muộn sao? - ông Petronius hỏi.
- Vâng, chúng bắt nàng từ trưa.
Im lặng bao trùm.
- Anh đã gặp nàng chưa?
- Đã.
- Ở đâu?
- Trong nhà ngục Mamertyn
Ông Petronius rùng mình nhìn Vinixius dò hỏi.
Chàng hiểu ngay.
- Không, - chàng nói, - chúng không ném nàng vào Tullianum mà cũng không đưa vào ngục giữa. Cháu đã đưa tiền mua chuộc một tên gác ngục để hắn nhường phòng hắn cho nàng. Bác Urxux nằm ở ngưỡng cửa canh cho nàng.
- Sao Urxux không bảo vệ nàng?
- Chúng phái tới những năm chục tên lính cấm vệ. Mà cũng vì ông Linux cấm bác ấy.
- Thế ông Linux đâu?
- Ông Linux sắp chết. Vì thế chúng không bắt ông.
- Anh định thế nào?
- Cứu thoát nàng hoặc chết cùng nàng. Cháu cũng tin Chúa Crixtux.
Vinixius nói với vẻ như bình thản, nhưng trong giọng nói của chàng có cái gì đó xé lòng, khiến trái tim ông Petronius rung lên một tình thương chân thành.
- Cậu hiểu cháu, - ông nói, - nhưng cháu muốn cứu nàng bằng cách nào?
- Cháu mua chuộc bọn gác ngục trước nhất để tránh cho nàng khỏi bị làm nhục, sau nữa để chúng không cản trở nàng khi trốn.
- Khi nào chuyện ấy sẽ xẩy ra?
- Bọn chúng bảo rằng không thể trả nàng ngay cho cháu bởi vì chúng sợ trách nhiệm. Bao giờ nhà ngục đầy người và người ta không còn nắm nổi con số tù nhân, chúng sẽ giao nàng cho cháu. Nhưng đó là phương sách cuối cùng! Còn trước tiên chính cậu sẽ cứu nàng và cháu! Cậu là bạn thân của Hoàng đế. Chính Hoàng đế đã ban nàng cho cháu. Xin cậu hãy đến gặp ngài và cứu lấy cháu!
Thay vì đáp lại, ông Petronius gọi một người nô lệ và ra lệnh cho y mang đến hai chiếc áo khoác màu sẫm và hai thanh gươm, rồi ông mới quay sang Vinixius:
- Dọc đường cậu sẽ nói anh nghe, - ông bảo, - còn bây giờ anh hãy mặc áo, cầm vũ khí và chúng ta sẽ tới nhà ngục. Đến đó, anh sẽ đưa cho lũ gác ngục một trăm nghìn xexterxi, đưa cho chúng gấp đôi hoặc gấp năm cũng được, miễn là chúng thả Ligia ngay lập tức. Nếu không sẽ quá muộn.
- Ta đi thôi. - Vinixius nói
Lát sau, cả hai đã ra ngoài phố.
- Bây giờ nghe cậu nói đây. - ông Petronius lên tiếng. - Cậu không muốn phí thì giờ. Lúc này cậu đang bị thất sủng. Tệ hơn nữa cậu chắc là Hoàng đế sẽ làm ngược với điều cậu yêu cầu. Nếu không thế đời nào cậu lại khuyên anh đi trốn cùng Ligia hoặc đánh tháo cho nàng. Vì một khi anh trốn thoát thì cơn thịnh nộ của Hoàng đế sẽ quay lại trút lên đầu cậu. Nhưng bây giờ thì y thà làm điều gì đó theo yêu cầu của anh hơn là yêu cầu của cậu. Song chẳng nên tính đến chuyện ấy làm gì. Anh hãy chuộc nàng ra khỏi nhà tù và trốn đi! Chẳng còn cách nào khác đâu. Nếu không thành công, lúc ấy sẽ có thời giờ tìm cách khác. Anh nên biết là chúng bắt Ligia không phải chỉ vì nàng tin vào Chúa Crixtux, mà cơn tức giận của Poppea đang đe doạ cả anh lẫn nàng. Anh có nhớ rằng chính anh đã xúc phạm tới Auguxta vì đã từ chối ả hay không? Ả biết là anh từ chối ả vì Ligia, người mà ả căm ghét ngay từ cái nhìn đầu tiên. Hồi trước ả đã cố tình giết nàng bằng cách vu cho nàng làm chết con ả. Trong chuyện vừa xảy ra có bàn tay của Poppea! Nếu không làm sao anh có thể giải thích nổi tại sao Ligia là người đầu tiên bị bắt? Kẻ nào có thể chỉ nhà ông Linux? Cậu xin nói anh hay rằng chúng đã theo dõi nàng từ lâu rồi! Cậu biết là cậu đang làm tan nát lòng anh và đang tước đoạt của anh chút hi vọng cuối cùng, nhưng cậu cố tình nói cho anh biết, bởi vì nếu anh không giải thoát cho nàng trước khi chúng nó nghĩ rằng anh có thể làm chuyện ấy, thì cả hai sẽ chết.
- Vâng, cháu đã hiểu.
Vì đêm đã khuya, những đường phố vắng tanh, song câu chuyện của họ bị gián đoạn bởi một tên đấu sĩ say khướt đi ngược lại, hắn lăn vào ông Petronius, bíu tay vào vai ông, phả vào mặt ông hơi thở sặc mùi rượu vang và gào lên bằng giọng khê nặc:
- Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!
- Này gã Mirmilon, - ông Petronius bình thản bảo, - ngươi hãy nghe lời khuyên và xéo theo đường của ngươi!
- Nhưng kẻ say lại dùng nốt tay kia túm lấy vai ông:
- Mày phải kêu lên cùng với tao, nếu không tao sẽ vặn gẫy cổ mày: ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!
Nhưng thần kinh của ông Petronius đã chịu đựng quá đủ những tiếng gào la ấy. Kể từ lúc rời khỏi Palatyn, chúng như một cơn ác mộng khiến ông ngạt thở, chúng xé rách cả màng tai ông, nên khi nhìn thấy nắm đấm của tên khổng lồ vung lên trên đầu mình, ông hết chịu đựng nổi.
- Này anh bạn, - ông nói, - anh sặc mùi vang thối và anh lại xúc phạm đến ta.
Nói đoạn ông thọc thanh đoản kiếm mà ông tự vũ trang khi ra khỏi nhà vào ngực hắn, ngập đến tận chuôi, rồi nắm lấy tay Vinixius, ông nói tiếp như chẳng có chuyện gì xẩy ra:
- Hôm nay Hoàng thượng bảo cậu: “Hãy nhân danh ta nói với Vinixius phải có mặt ở võ hội, lúc bọn Thiên chúa giáo lên võ đài”. Anh có hiểu điều đó có nghĩa gì không? Bọn chúng muốn được xem nỗi đớn đau của anh đấy. Việc ấy đã được xếp đặt rồi. Cũng có thể vì thế cho tới nay chúng chưa bắt anh và cậu. Nếu anh không cứu thoát nàng ngay bây giờ, thì… cậu cũng chẳng biết nữa! có thể Akte sẽ đứng ra bênh vực anh, nhưng liệu cô ấy có được tích sự gì không?… Đất đai của anh ở đảo Xyxilia cũng có thể hấp dẫn Tygelinux đấy. Cứ thử xem!
- Cháu sẽ dâng cho hắn tất cả những gì cháu có. - Vinixius đáp.
Từ đồi Karyny đến Forum không xa lắm, nên chỉ lúc sau họ đã tới nơi. Đêm đã bắt đầu rạng dần và những bức tường của lâu đài nhô ra rõ nét từ bóng đêm.
Đột nhiên, khi họ rẽ về phía nhà ngục Mamertyn, ông Petronius đứng dừng ngay lại và bảo:
- Lính cấm vệ!… Muộn mất rồi!
Quả thực hai hàng lính đang vây quanh nhà ngục. Ánh rạng đông rát bạc lên những chiếc mũ trụ bằng sắt và những ngọn thương của chúng.
Mặt Vinixius tái nhợt như đá cẩm thạch.
- Ta đi thôi. - chàng nói.
Lát sau họ dừng lại trước hàng quân. Ông Petronius, người có trí nhớ phi thường, ông nhớ không phải chỉ các chỉ huy mà gần như tất cả lính cấm vệ, nên trông thấy viên chỉ huy toán quân quen mặt, ông vẫy anh ta lại:
- Có chuyện gì thế, Niger? - ông hỏi, - Các anh được lệnh phải canh giữ nhà ngục à?
- Đúng vậy, thưa ngài Petronius tôn kính. Ngài tổng quản lo rằng chúng nó sẽ đánh tháo cho bọn đốt nhà.
- Các ngươi có lệnh giữ không cho bất cứ ai vào không? - Vinixius hỏi
- Không, thưa ngài. Những người thân có thể thăm tù nhân, bằng cách ấy chúng ta sẽ tóm được nhiều bọn Thiên chúa giáo hơn.
- Vậy hãy để cho ta vào. - Vinixius nói.
Rồi siết chặt tay ông Petronius, chàng nói với ông:
- Cậu hãy đến gặp Akte, cháu sẽ về để xem nàng trả lời cậu ra sao.
- Về nhé! - ông Petronius đáp.
Chính lúc đó từ dưới đất và từ sau những bức tường dầy chợt vang lên tiếng hát. Bài hát, thoạt tiên trầm đục và bị chặn lại, mỗi lúc một to lên. Giọng đàn ông, đàn bà và trẻ con hoà vào nhau thành một dàn đồng ca thống nhất. Trong sự yên tĩnh của buổi rạng đông, cả nhà ngục cùng cất tiếng hát như một chiếc đàn hạc. Nhưng nó không phải là âm điệu não nùng và tuyệt vọng. Ngược lại, trong bài ca vang ngân niềm vui lẫn sự khải hoàn.
Binh lính kinh ngạc nhìn nhau. Trên bầu trời xuất hiện những ánh hồng và ánh vàng đầu tiên của buổi bình minh.
Chú thích:
(1) La tinh: Nô lệ soi đường
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 52
Tiếng kêu: “Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử” vang lên triền miên khắp các khu của thành phố. Thoạt tiên, không những không một ai nghi ngờ rằng các tín đồ Thiên chúa giáo không phải là thủ phạm gây ra thảm họa, mà thậm chí cũng chẳng ai muốn nghi ngờ làm gì, vì việc trừng trị họ đồng thời cũng là một trò giải trí tuyệt vời cho dân chúng. Nhưng người ta đồn loang ra rằng thảm hoạ đã không đạt tới tầm cỡ như vậy nếu như không có cơn tức giận của các vị thần linh, và thế là tại các thần miếu người ta dâng hiến piacula tức là lễ vật giải hạn. Theo sách Xybili, viện nguyên lão tổ chức các cuộc lễ và những buổi cầu nguyện công cộng các thần Vunkan, Xerera và Prozerpina. Các bà mẹ dâng lễ vật lên nữ thần Zunon, cả đám rước đi đến bên bờ biển lấy nước để vẩy vào tượng nữ thần. Những cô gái đã có chồng sửa soạn các bữa tiệc dâng các thần và những cuộc canh đêm. Cả thành Roma tẩy rửa tội lỗi, dâng cống lễ vật và cầu xin các vị thần bất tử. Trong lúc ấy người ta vạch ra những đường phố mới rộng rãi giữa những đống tro tàn. Đây đó đã đặt móng cho những toà nhà, những lâu đài và những thần miếu tuyệt vời. Tuy nhiên, trước tiên người ta gấp rút xây dựng với tốc độ chưa từng thấy những nhà hát khổng lồ bằng gỗ, nơi các tín đồ Thiên chúa sẽ chịu tội hình. Ngay sau cuộc bàn bạc tại dinh thự Tyberius, các vị thái thú đã nhận được lệnh phải cung cấp dã thú. Tygelinux vét sạch chuồng thú của tất cả các thành phố Italia, không trừ những trấn nhỏ bé. Tại Phi châu, theo lệnh hắn, người ta tổ chức những cuộc đi săn khổng lồ, trong đó tất cả dân chúng địa phương đều phải tham gia. Người ta mang về đây voi và hổ từ châu Á, cá sấu và hà mã từ sông Nin, sư tử vùng núi Atlax, chó sói và gấu từ núi Pirene, loài chó điên từ vùng Hibernia, chó khổng lồ từ Epirơ, trâu và những con bò rừng khổng lồ dữ tợn từ Germania. Về số lượng tù nhân, cuộc hội sẽ có độ lớn vượt tất cả những gì mà người ta được chứng kiến từ xưa đến nay. Hoàng đế muốn nhấn chìm kí ức về đám cháy trong máu đỏ và dùng máu đỏ để làm say Roma nên chưa bao giờ việc đổ máu lại được hứa hẹn là sẽ tuyệt vời đến thế.
Đám dân chúng được kích thích giúp bọn vigin và lính cấm vệ trong việc săn đuổi những người Thiên chúa giáo. Đó cũng không phải là việc khó, vì hàng đám đông tín đồ, vốn dựng trại chung với các cư dân khác trong các khu vườn, công khai thừa nhận tín ngưỡng của mình. Khi bị bao vây, họ quỳ xuống và hát vang những bài ca và để cho chúng bắt đi mà không hề chống cự. Song sự cam chịu của họ chỉ càng làm tăng thêm cơn thịnh nộ của dân chúng, vốn không hiểu nổi cội nguồn của sự cam chịu ấy, lại coi nó là tính quyết liệt và chai sạn của họ trước tội ác. Cơn điên cuồng trùm lên những người bị khủng bố. Đã xẩy ra chuyện đám đông giằng những tín đồ Thiên chúa ra khỏi tay binh lính rồi dùng tay xé xác họ; đàn bà bị người ta túm tóc lôi vào nhà ngục, trẻ con bị đập đầu vào đá. Ngày cũng như đêm, hằng nghìn người hú hét chạy khắp các đường phố. Người ta sục tìm nạn nhân trong đám hoang tàn, trong các ống khói và trong các đường hầm. Trước nhà ngục, bên những đống lửa, vây quanh là những thùng rượu nho, người ta tổ chức những tiệc tế thần rượu và nhẩy múa. Đêm đêm, người ta say sưa lắng nghe những tiếng gầm rống tựa như tiếng sấm vang động khắp cả thành phố. Các nhà ngục chật cứng hàng nghìn con người, và cứ mỗi ngày, đám dân chúng cùng lính cấm vệ lại dồn tới những nạn nhân mới. Tình thương tắt ngấm. Ngỡ như người ta quên cả nói, và trong cơn điên cuồng hoang dã, người ta chỉ còn nhớ có mỗi một tiếng kêu: “Ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử!” mà thôi. Đó là những ngày nồng nực đến lạ kỳ và những đêm ngột ngạt chưa từng thấy trước đó bao giờ. Ngay cả không khí hình như cũng thấm đẫm cơn điên, máu và tội ác.
Đáp lại cái mức độ tràn đầy của sự dã man ấy là mức độ tràn đầy của lòng khao khát tử vì đạo. Các tín đồ của Chúa Crixtux tự nguyện đi tới cái chết, thậm chí đi tìm cái chết, cho đến khi những mệnh lệnh nghiêm khắc của các bậc trưởng lão ngăn cấm chuyện ấy. theo lời khuyên của các bậc ấy, họ bắt đầu chỉ tụ tập nhau ở ngoại thành, trong các hang ngầm trên đường Appia và trong các trại nho ngoại thành thuộc quyền sở hữu của các nhà quý tộc là tín đồ Thiên chúa, mà cho tới nay chưa một ai trong số này bị bắt. Ở Palatyn người ta biết rõ rằng cả Flavius, cả Đomitylia, cả bà Pomponia Grexyna, cả ông Kornelius Puđenx lẫn Vinixius đều là tín đồ Thiên chúa. Nhưng chính Hoàng đế sợ sẽ không thuyết phục nổi dân chúng rằng những người như thế lại đốt cháy Roma, mà trước tiên cần phải chiếm được lòng tin của dân chúng; vậy nên người ta đành tạm hoãn hình phạt và sự báo thù tới những ngày say này. Những kẻ khác lại tưởng rằng chính ảnh hưởng của nàng Akte đã cứu các vị quý tộc đó. Ý nghĩ ấy thật sai lầm. sau khi chia tay với Vinixius, ông Petronius quả có đến gặp Akte để tìm cách cứu Ligia, nhưng nàng chỉ có thể cho ông được những giọt lệ mà thôi, bởi lẽ nàng đang sống trong lãng quên và đau đớn, càng đau đớn hơn vì phải che giấu trước Poppea và Hoàng đế.
Tuy vậy nàng cũng đến thăm Ligia trong nhà ngục, mang cho cô quần áo và thức ăn, và trước tiên là bảo vệ cô gái khỏi bị làm nhục bởi bọn cai ngục mặc dù bọn này đã bị Vinixius mua chuộc.
Dầu sao đi nữa, Petronius vẫn không thể quên được rằng giá như không có ông, không có ý định của ông bắt Ligia phải rời khỏi gia đình ông bà Aulux, thì hẳn giờ đây nàng không phải sa vào cảnh ngục tù, thêm vào đó, ông còn muốn thắng Tygelinux trong cái trò đỏ đen này, nên ông không tiếc thì giờ vào những cuộc chạy vạy. Chỉ trong vòng có mấy ngày ông đã đến gặp ông Xeneka, Đomixius Afer, Kryxpinilla - qua ả ông muốn đến với Poppea, - gặp Terpnox và Điođor, gặp chàng Pitagorax xinh đẹp, và rốt cuộc, gặp Alitulux và Paryx, những người mà Hoàng đế chẳng hề từ chối điều gì. Nhờ sự giúp đỡ của nàng Khoryzotemix, hiện đang là tình nhân của Vatynius, ông muốn được hỗ trợ, và đối với hắn cũng như đối với người khác ông không hề tiếc cả lời hứa hẹn lẫn bạc tiền.
Song tất thẩy những cố gắng đó đều không kết quả. Xeneka, không tin chắc ở ngày mai của bản thân, bắt đầu thuyết ông rằng thậm chí nếu những người Thiên chúa giáo quả thực không đốt cháy Roma đi nữa thì họ cũng bị lên án vì quyền lợi của thành phố, nói tóm lại ông ta biện hộ cho cuộc giết chóc sắp tới bằng cái lý của tình thế. Terpnox và Điođor lấy tiền nhưng chẳng làm gì cả. Vytanius mách Hoàng đế rằng người ta đang cố sức mua chuộc hắn. Chỉ mỗi mình Aliturux, thoạt tiên rất căm ghét dân Thiên chúa giáo, nhưng bây giờ đâm ra thương họ, là dám nhắc Hoàng đế về cô gái đang bị giam, đồng thời xin cho nàng, nhưng cũng chẳng xin được gì ngoài câu trả lời:
- Thế ngươi tưởng rằng tâm hồn ta hẹp hòi hơn cả Brutux, người đã không tiếc cả con đẻ của mình vì quyền lợi của La Mã hay chăng?
Khi anh ta nhắc lại những lời này cho ông Petronius, ông nói:
- Một khi ngài đã so sánh với Brutux thì chẳng còn cách nào cứu nữa.
Song ông vẫn thương Vinixius và lo sợ khi nghĩ rằng chàng rất có thể sẽ liều thân. "Giờ đây, - ông tự nhủ - anh chàng vẫn được nâng đỡ bởi các cuộc chạy chọt đang tiến hành để cứu nàng thiếu nữ, bởi vẫn được trông thấy nàng và bởi bản thân nỗi đau khổ, nhưng một khi tất cả các phương sách đều thất bại và tia hi vọng cuối cùng tắt đi, thì lạy Kaxtor! Anh chàng không thể sống thiếu nàng và sẽ lao người vào mũi kiếm". Ông Petronius thậm chí hiểu được rằng, có thể kết thúc như thế còn hay hơn là cứ yêu thương và chịu đựng. Trong khi ấy, Vinixius làm tất cả những gì chàng có thể nghĩ ra để cứu Ligia. Chàng lui tới thăm các vị cận thần, và trước kia vốn tự hào đến thế, giờ đây chàng đi ăn mày sự trợ giúp của họ. Qua Vitelius, chàng hứa dâng cho Tygelinux đất đai của chàng ở đảo Xyxilia và tất cả những gì mà hắn đòi hỏi. Nhưng chắc không muốn chạm đến Auguxta nên Tygelinux từ chối. Việc gặp thẳng Hoàng đế, ôm lấy đầu gối y mà van xin cũng chẳng đưa đến điều gì. Thực ra, Vinixius những muốn làm cả việc ấy nữa, nhưng ông Petronius nghe ý định ấy của chàng đã hỏi lại:
- Thế nếu ngài từ chối, nếu ngài đáp lại bằng một câu đùa cợt hay một lời đe doạ vô luân, thì anh sẽ làm gì?
Nghe hỏi, nét mặt Vinixius co rúm lại vì đau đớn và phẫn nộ, răng chàng nghiến ken két.
Nhưng Vinixius cố nén, và đưa tay vuốt vầng trán đẫm mồ hôi lạnh, chàng nói:
- Không! Không! Cháu là tín đồ Thiên chúa.
- Và anh sẽ quên đi điều đó như vừa mới quên. Anh có quyền tự sát nhưng không có quyền mang cái chết đến cho nàng. Hãy nhớ con gái Xeyan đã phải chịu điều gì trước khi chết.
Khi nói thế ông không hoàn toàn thành thật, vì thực ra ông lo cho Vinixius nhiều hơn cho Ligia. Nhưng vì hiểu rằng không có gì kìm giữ chàng khỏi liều mạng tốt hơn là nói cho chàng hay rằng bằng việc ấy chàng có thể mang cái chết không tránh khỏi đến cho Ligia. Và thực ra ông có lý, vì tại cung điện Palatyn người ta cũng đã nghĩ đến khả năng chàng hộ dân quan trẻ tuổi sẽ tới và đã tiến hành những biện pháp đề phòng. Nhưng khổ ải của Vinixius vượt quá những gì mà sức lực con người có thể chịu đựng. Kể từ khi Ligia bị tống ngục, khi nàng có cơ bị tử vì đạo, không những chàng chỉ yêu nàng trăm lần hơn lên, mà trong tâm hồn, chàng bắt đầu thành kính nàng với một thứ tình cảm gần như tôn giáo, như đối với một siêu linh siêu nhiên nào đó. Và bây giờ khi nghĩ rằng sinh linh thân yêu vừa thiêng liêng kia sẽ phải lìa đời, không những thế còn có thể sẽ phải trải qua những cực hình khủng khiếp hơn cái chết, thì máu trong huyết quản chàng dường như đông lại, tâm linh chàng như biến thành một tiếng kêu rên, trí óc chàng như hoá dại. Đôi khi chàng cảm thấy như trong sọ chàng chứa đầy một thứ lửa hừng hực nào đó, nó sẽ thiêu rụi đầu óc hoặc sẽ làm vỡ tung sọ não ra. Chàng không còn hiểu nổi những gì đang xảy ra, không hiểu nổi vì sao Chúa Crixtux, Đức Chúa từ thiện nhường kia lại không thể giáng thế cứu những tín đồ của Người, vì sao những bức tường đẫm máu của cung điện Palatyn không bị chôn vùi luôn xuống đất, cùng với nó cả Nerô, ũ cận thần, trại cấm binh và cái đô thành tội ác này. Chàng nghĩ rằng không thể và nhất thiết không thể nào khác được, rằng tất thẩy những gì mắt chàng trông thấy, những gì khiến trái tim chàng rên xiết, khiến tâm hồn chàng tan nát, chỉ là một giấc mơ mà thôi. Song tiếng gầm rống của lũ dã thú bảo chàng rằng đó là hiện thực, tiếng chan chát của những chiếc rìu đang dựng nên võ đài bảo chàng rằng đó là sự thực, và khẳng định thêm điều ấy là tiếng hú hét của dân chúng cùng những nhà ngục chật ních. Khi ấy lòng tin của chàng vào Chúa Crixtux giảm đi, và sự suy giảm ấy lại là một nỗi khổ ải mới nữa, có thể là nỗi khổ ải kinh khủng nhất trong số tất cả những nỗi khổ của chàng.
Thế mà bây giờ ông Petronius lại còn nói với chàng:
- Hãy nhớ đến cái mà trước khi chết con gái Xeyan còn phải trải qua.
CHƯƠNG 53
Và mọi việc đều hỏng cả. Vinixius hạ mình đến mức chàng tìm chỗ víu ngay cả bọn nô lệ giải phóng và nô tỳ của cả hoàng đế lẫn của Poppea, mua chuộc chúng bằng những lời hứa hẹn và những món quà tặng đắt tiền, những mong được lòng chúng. Chàng tìm đến người chống đầu tiên của hoàng hậu, Rufiux Kryxpinux và được y viết cho một bức thư, chàng tặng tòa biệt thự tại Anxium của chàng cho đứa con trai của ả trong cuộc hôn nhân đầu tiên, cũng tên Rufiux, nhưng điều đó chỉ càng khiến cho hoàng đế - kẻ vốn căm ghét đứa con riêng của vợ - thêm tức giận mà thôi. Nhân có một điệp sứ, chàng viết thư cho chồng thứ hai của Poppea là Otho tận Tây Ban Nha, hứa sẽ dâng toàn bộ của cải và cả bản thân mình nữa, mãi cho đến khi chàng chợt nhận ra rằng chàng chỉ là trò chơi của mọi người và giá chàng giả vờ rằng việc bỏ tù Ligia chẳng quan hệ mấy tới chàng, thì có khi bọn họ lại chóng tha nàng hơn.
Cả ông Petronius cũng nhận ra điều ấy. Trong khi đó, ngày nối nhau trôi đi. Các nhà hát đã hoàn thành. Người ta đã phân phát các tesser, tức là các vé vào cửa dự lundus maturium(1). Nhưng lần này, do số lượng tội nhân nhiều chưa từng thấy, hội đấu "sáng" có thể sẽ kéo dài hàng ngày, hàng tuần thậm chí hàng tháng. Người ta không còn biết nhốt dân Thiên Chúa vào đâu nữa. Các nhà ngục đã chật ních và trong đó bắt đầu phát sinh dịch sốt nóng. Các puticuli tức là các hố nhốt người, nơi người ta chứa bọn nô lệ, cũng bắt đầu chật cứng. Sợ rằng bệnh dịch sẽ lan tràn ra khắp thành phố, người ta quyết định sẽ tổ chức gấp hội thi đấu.
Và tất cả những tin tức ấy đập vào tai Vinixius khiến những tia hy vọng cuối cùng trong lòng chàng tắt nốt. Khi còn thời gian, chàng còn có thể ảo vọng rằng sẽ kiếm được cách nào đó, nhưng bây giờ thì ngay cả thời gian cũng không còn. Đã sắp bắt đầu các cuộc biểu diễn rồi. Chỉ vài ngày nữa thôi, Ligia sẽ có mặt trong các phòng chứa của hý trường, từ đó chỉ còn một lối là bước ra đấu trường mà thôi. Vinixius không biết ố phận và sự tàn bạo của bạo lực sẽ ném nàng vào đâu, chàng tới khắp các hý trường, mua chuộc bọn canh cửa và những người quản thú dữ, đặt ra cho họ những đòi hỏi mà họ không thể nào thực hiện được. Nhiều khi chàng nhận ra rằng chàng chỉ còn biết tìm cách làm cho cái chết của nàng bớt phần thảm khốc hơn thôi và những khi ấy chàng cảm thấy trong sọ chàng thay cho bộ óc là những hòn than cháy bỏng.
Chàng cũng không hề nghĩ đến chuyện sống tiếp mà không có nàng, chàng quyết định sẽ cùng chết với nàng. Song chàng nghĩ rằng nỗi đau có thể sẽ thiêu rụi sự sống trong người chàng trước khi cái thời hạn kinh khủng kia tới. Bạn bè chàng và ông Petronius cũng nghĩ là chẳng bao lâu nữa trước mắt chàng sẽ mở ra vương quốc của các hồn ma. Mặt Vinixius xám lại, trở nên giống như mặt nạ bằng sáp mà chàng đặt trên bàn thờ gia thần. Trên nét mặt chàng ngưng đọng một nỗi ngạc nhiên, dường như chàng không sao hiểu nổi có chuyện gì xảy ra và có thể xảy ra. Khi có người nào đó nói với chàng, chàng máy móc đưa cả hai tay lên đầu bóp chặt lấy thái dương, nhìn người nói với cái nhìn kinh hoàng và dò hỏi. Đêm đêm, cùng bác Urxux, chàng nằm canh cửa cho Ligia trong nhà ngục, còn nếu nàng bảo chàng phải về nhà nghỉ, thì chàng đến chỗ ông Petronius và cứ đi đi lại lại trong gian chính sảnh cho tới tận sáng. Đám nô lệ thường gặp chàng đang quỳ giơ hai tay lên đầu hoặc nằm úp mặt xuống đất. Chàng cầu nguyện Chúa Crixtux, bởi đó là niềm hy vọng cuối cùng của chàng. Tất cả mọi cách đều hỏng cả rồi, họa chăng thì chỉ có một điều kỳ diệu mới có thể cứu nổi Ligia, vì thế Vinixius đập đầu vào những phiến đá cầu xin sự kỳ diệu đó.
Nhưng chàng cũng còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng lời cầu nguyện của ông Piotr có nghĩa hơn của chàng, ông Piotr đã hứa mang lại Ligia cho chàng. Ông Piotr đã rửa tội cho chàng, chính ông Piotr cũng biết làm những điều kỳ diệu, vậy hãy để ông mang tới cho chàng sự cứu rỗi và trợ giúp.
Và một đêm, chàng đi tìm ông. Hiện giờ, những người Thiên Chúa giáo ít ỏi còn sót lại ẩn náu ngay cả đối với nhau, để nếu có kẻ nào đó kém tinh thần cũng không thể vô tình hay hữu ý phản bội họ được. Trong cơn hỗn loạn và sự khủng bố chung, lại hoàn toàn bận tâm về việc tìm cách cứu Ligia khỏi nhà tù. Vinixius mất liên lạc với ông Piotr và kể từ khi được rửa tội, chàng chỉ được gặp ông mỗi một lần, từ trước khi bắt đầu cuộc tróc nã. Nhưng khi đến gặp người thợ đá, chủ ngôi nhà mà chàng được chịu lễ rửa tội, chàng được ông cho hay rằng, tại trại nho nằm ngoài cổng Porta Xalaria, thuộc về tài sản của ông Kornilius Puđenx, sẽ có một cuộc tụ họp của các tín đồ Thiên Chúa. Người thợ đá nhận dẫn Vinixius đến nơi, ông cam đoan với chàng rằng họ sẽ tìm được ông Piotr tại đó. Sẩm tối, họ lên đường ra ngoài thành, tiếp đó đi theo những hóm đồi mọc đầy lau sậy, họ tới cái trại nho nằm biệt lập và hơi lạ lùng. Cuộc tụ họp diễn ra trong căn lều thường làm nơi ép nho. Thoạt tiên, vọng đến tai Vinixius tiếng cầu nguyện lào xào, khi bước vào, trong ánh sáng mờ mờ của đèn dầu, chàng thấy vài mươi người đang quỳ gối chìm trong cầu nguyện. Họ đọc kinh cầu theo kiểu xướng họa, dàn đồng ca của những giọng đàn ông cùng đàn bà chốc chốc lại lặp lại: "Xin Chúa Crixtux, xin hãy rủ lòng thương!". Trong những giọng kêu cầu ấy rung lên một nỗi buồn thương sâu thẳm, xé lòng người.
Ông Piotr đang có mặt. Ông quỳ ở phía trước, dưới một cây thánh giá bằng gỗ đóng vào vách lều và đang cầu nguyện. Từ xa, Vinixius nhìn rõ những sợi tóc bạc và đôi cánh tay ông đang vươn lên. Ý nghĩ đầu tiên của chàng quý tộc trẻ là băng qua đám người, quỳ xuống chân đức Sứ Đồ và kêu lên: "Hãy cứu lấy con". Nhưng không rõ sự trang trọng của cuộc cầu nguyện hay sự kiệt sức khiến hai đầu gối chàng khuỵu xuống, chàng bèn quỳ ngay ở cửa ra vào, xiết chặt hai nắm tay và rên lên, lặp đi lặp lại: "Lạy chúa Crixtux, xin hãy rủ lòng thương!". Giá như chàng tỉnh táo, chàng có thể hiểu ra rằng, không chỉ trong lời cầu của chàng vang lên tiếng rên rỉ, không chỉ riêng chàng mang tới đây nỗi đớn đau, niềm thương tiếc và sự sợ hãi của mình. Trong cuộc tụ họp này không có một linh hồn nào không bị mất đi những sinh linh yêu dấu và khi mà những tín đồ mộ đạo và dũng cảm nhất đã bị cầm tù, khi mà từng giờ từng phút đều mang tới thêm những tin tức mới về nỗi tủi nhục và cực hình mà người ta gât ra cho họ trong ngục tù, khi mà tầm cỡ của tai ương vượt quá tất cả mọi điều dự đoán, khi mà chỉ còn lại một nhúm người bé nhỏ ngần kia, thì trong bọn họ chẳng có trái tim nào không hoảng sợ trong niềm tín ngưỡng của mình, không nghi ngờ tự hỏi: Vậy Chúa Crixtux đâu rồi? Tại sao Người lại để cho sự dữ mạnh hơn cả Chúa Trời?
Nhưng lúc này họ đang hãy còn tuyệt vọng cầu xin Người hãy nhân từ, bởi vì trong mỗi linh hồn vẫn còn le lói một tia hy vọng rằng Người sẽ tới, quét sạch sự dữ, đẩy Nerô vào vực thẳm và sẽ ngự trị thế gian…Họ hãy còn đang ngước nhìn lên trời, hãy còn đang lắng nghe, hãy còn run rẩy mà cầu nguyện. Vinixius cũng thế, càng lặp lại nhiều lần câu cầu nguyện: "Lạy Chúa Crixtux, xin Người rủ lòng thương!". Chàng lại càng thấy niềm hứng khởi tựa như hồi nào trong nhà người thợ đá. Người ta đang gọi Chúa từ nơi sâu thẳm của nỗi đạu, từ đáy vực thẳm. Ông Piotr cũng đang gọi Chúa kia, vậy thì chỉ chốc lát nữa thôi, bầu trời sẽ tách ra, đất sẽ rung lên dưới chân và Chúa sẽ giáng thế, trong vầng hào quang chói lói với những vì sao dưới chân, đầy nhân từ song cũng đầy lòng giận dữ, Người sẽ nâng đỡ những ai trung thành và ra lệnh cho vực thẳm nuốt chửng những kẻ khủng bố.
Vinixius đưa hai tay che mặt và áp mặt xuống đất. Đột nhiên, sự im lặng vây lấy chàng, dường như nỗi sợ đã trói chặt những lời kêu cầu trong miệng những người có mặt. Chàng ngỡ như rốt cuộc phải có một điều gì đó xảy ra, giây phút kỳ diệu sẽ phải đến. Chàng tin chắc rằng khi nhổm dậy, mở mắt ra, chàng sẽ nhìn thấy một vừng ánh sáng khiến những đôi mắt phàm trần bị chói và sẽ nghe một giọng nói khiến những trái tim xúc động lịm đi.
Nhưng im lặng vẫn kéo dài triền miên. Cuối cùng, một tiếng nức nở của phụ nữ phá tan bầu không khí im lặng.
Vinixius nhổm dậy và ngơ ngác nhìn.
Trong căn nhà gỗ, thay vì ánh hào quang thiên giới, vẫn le lói những ánh đèn dầu và nhập nhoạng ánh trăng chiếu qua một lỗ thủng trên mái. Những người đang quỳ cạnh Vinixius ngước đôi mắt đẫm lệ lên nhìn thánh giá, đôi chỗ vang lên những tiếng nức nở khác, từ bên ngoài vọng vào tiếng huýt sáo thận trọng của những người gác. Khi ấy, ông Piotr đứng dậy, quay lại phía đám người và nói:
- Các con ta, hãy dâng trái tim lên Đấng Cứu Thế của chúng ta và hiến cho người những giọt lệ của các con.
Rồi ông nín lặng.
Đột nhiên, từ trong đám người đang tụ tập vang lên một giọng đàn bà, đầy hàm ý kêu ca thắm thiết và đau đớn vô hạn:
- Tôi là đàn bà góa, chỉ có mỗi một đứa con trai nuôi tôi…Hãy trả nó về cho tôi, hỡi Chúa!
Rồi im lặng một giây lâu. Ông Piotr đứng trước đám người đang quỳ gối, già nua, sầu não và họ thấy như vào giây phút này, ông dường như là biểu tượng của sự già yếu và bất lực.
Rồi lại vang lên giọng ca thán thứ hai:
- Bọn đao phủ làm nhục con gái tôi mà Chúa Crixtux vẫn cho phép chúng làm chuyện đó!
Sau đó giọng thứ ba:
- Tôi chỉ có một thân một mình với đàn con thơ, nếu bọn chúng bắt tôi đi, ai sẽ cho chúng bánh mì và nước uống?
Rồi giọng thứ tư:
- Ông Linux, trước bọn chúng không thèm bắt, giờ lại bắt đi chịu nhục hình rồi, Chúa ơi!
Và giọng thứ năm:
- Một khi chúng tôi trở về nha, bọn cấm vệ sẽ bắt ngay. Chúng tôi biết trú ngụ nơi đâu bây giờ?
- Thương thay lũ chúng ta! Ai sẽ cho chở chúng ta đây?
Và cứ thế, trong sự tĩnh mịch của đêm thâu, lời ca thán nối lời ca thán. Người lão ngư nhắm mắt, lắc lắc mái đầu bạc trên những nỗi đau và niềm lo của con người. Im lặng lại bao trùm, bên ngoài lều chỉ có cirngs huýt gió khe khẽ của những người đang gác.
Vinixius lại một lần nữa định bật dậy để băng qua đám đông đến với Đức Sứ Đồ đòi ông phải cứu, đột nhiên chàng ngỡ như thấy trước mặt mình một vực thẳm, hình ảnh ấy khiến thân chàng đờ ra. Sẽ ra sao đây nếu như Sứ Đồ thừa nhận sự bất lực của ông, nếu ông khẳng định hoàng đế La Mã mạnh hơn Crixtux Nazaen? Ý nghĩa ấy khiến tóc chàng như dựng đứng trên dầu, chàng cảm thấy rằng, khi ấy sẽ rơi nhào xuống cái vực thẳm kia không những mảnh hy vọng còn sót lại của chàng, mà cả chàng, cả Ligia của chàng, cả tình yêu của chàng đối với Chúa Crixtux, cả lòng tin của chàng và tất thảy những gì mà chàng dùng để sống, chỉ còn lại cái chết và đêm đen thẳm như biển cả tràn bờ.
Trong khi ấy, ông Piotr cất tiếng nói, thoạt đầu khẽ khàng đến nỗi chỉ vừa đủ nghe thấy:
- Các con ta! Trên núi Gongot ta đã trông thấy chúng đóng đinh Đức Chúa lên thánh giá. Ta nghe thấy tiếng búa, ta nhìn thấy chúng dựng cây thập ác lên để chúng dân có thể nhìn thấy cái chết của Con đẻ nhân loại...
- ...Và ta nhìn thấy chúng mổ sườn Chúa, thấy Chúa qua đời. Và khi ấy, từ thành giá quay về, trong niềm đau, ra đã kêu lên như các con vừa kêu: “Thương thay! Thương thay! Thầy ơi! Người là Đức Chúa! Sao người lại để cho chúng làm thế, sao Người lại chết đi, sao Người để trái tim chúng con tan nát, chúng con, những kẻ hằng tin rằng rồi sẽ đến vương quốc của Người?”
Còn Người, chủ của chúng ta và Chúa của chúng ta, ngày thứ ba đã sống dậy, đã đứng giữa chúng tôi, trước khi đi về vương quốc của Người trong một vùng ánh sáng rực rỡ....
Còn chúng tôi, nhận ra lòng tin của mình nhỏ bé, chúng tôi củng cố trong lòng và gieo hạt giống của Người từ ấy....
Đến đây, ông quay về phía phát ra tiêng ca thán đầu tiên và bắt đầu nói với giọng mạnh hơn:
- Tại sao các con lại ca thán? Chính Chúa từng chịu nhục hình và cái chết, vậy mà các con lại muốn Người che chở các con trước những điều ấy hay sao? Hỡi những con người kém lòng tin! Vậy ra các con đã thấm nhuần giáo thuyết của Người như thế đấy, vậy ra Người chỉ hứa hẹn cho các con một cuộc sống này thôi sao? Người đang đến và nói với các con: “Hãy theo con đường ta đi”. Người nâng các con lên gần Người, vậy mà các con dùng cả hai tay bắm chặt lấy mặt đất mà kêu lên: “Chúa ơi, cứu lấy con!”. Ta chỉ là một hạt bụi trước Chúa, nhưng với các con ta là Sứ Đồ và tổng quản của Chúa, nhân danh Chúa Crixtux, ta nói cùng các con: Trước mắt các con không phải là cái chết mà là cuộc sống, không phải là đớn đau mà là nỗi sung sướng vô bờ, không phải lời than van và nước mắt mà là tiếng ca hát, không phải kiếp nô lệ mà là sự ngự trị! Ta, Sứ Đồ của Chúa, nòi cúng con, hỡi người vợ góa: Con của con không chết, mà nó được sinh trong sự ngợi ca trên cuộc sống vĩnh hằng và con cũng sẽ được gắn bó với nó! Còn con, người cha có đứa con gái bị bọn đao phủ vấy bẩn, ta hứa rằng con sẽ được gặp lại cháu trong trắng hơn những đóa hoa huệ xứ Hebron! Còn các con, hỡi những bà mẹ sẽ bị bắt đi, bỏ lại những đứa trẻ mồ côi, các con, những kẻ mất cha, các con, những kẻ đang ca thán, các con, những kẻ sẽ phải tận mắt trông thấy cái chết của những người thân yêu, các con những kẻ ưu phiền, bất hạnh, lo hãi và các con, những kẻ sẽ phải chịu tội chết, nhân danh Chúa Crixtux, ta xin nói rằng, các con sẽ được tỉnh dậy như vừa ngủ một giấc say, như từ đêm sang bình minh của Chúa. Nhân danh Crixtux, cầu cho màng che mắt các con được cất đi và cầu cho trái tim của các con được hâm nóng!
Nói đoạn ông giơ bàn tay như ra lệnh, còn họ cảm thấy như có một dòng máu mới chảy trong huyết quản, đồng thời như có một cơn rùng mình trong xương cốt, vì đứng trước họ không còn là một ông lão lụ khụ và âu lo nữa, mà là một người hùng mạnh đã nâng tâm hồn của họ từ bụi đất và hãi hùng lên cao.
- Amen! - Vài giọng nói vang lên.
Còn ông, mắt ông mỗi lúc một tỏa sáng hơn, toàn thân ông toát ra sức mạnh, sự tôn nghiêm, thiêng liêng. Những mái đầu cúi xuống trước ông và khi những tiếng “Amen” lặng đi, ông nói tiếp:
- Các con hãy gieo hạt trong than khóc để gặt hái trong ngày vui. Tại sao các con sợ hãi sức mạnh của sự dữ? Trên trái đất, trên toàn La Mã, trên những bức tường thành đô, có Chúa ta ngự trị, Người ở trong lòng các con. Đã thấm ướt nước mắt, cát ngấm đẫm máu đào, những cái hố sâu đầy nghẹt xác người, nhưng ta nói cùng các con rằng: Các con sẽ chiến thắng! Chúa đang đến để công phá cái thành phố tội ác, áp bức và xa hoa này, các con là những chiến đoàn của Người! Chính Người đã bằng cực hình và máu của mình để chuộc tội cho toàn thế giới. Người muốn các con cũng bằng cực hình và máu của mình chuộc tội cho cái tổ vô luôn này!...Đó là chính Người qua miệng ta nói với các con điều ấy!
Rồi ông giang tay, mắt ngước lên đăm đắm nhìn trời, tim họ gần như ngừng đập trong lồng ngực, bởi vì họ cảm thấy ông đang trông thấy cái điều mà những con người trần thế của họ không sao thấy được.
Nét mặt ông biến đổi và sáng bừng lên, một lúc lâu ông cứ nhìn đăm đăm trong im lặng, dường như ông không thể thốt nên lời vì ngưỡng mộ, rồi sau đó họ nghe thấy tiếng ông:
- Người đã đến, Chúa ơi và chỉ cho tôi con đường phải đi!...Sao lại thế, hỡi Crixtux?...Không phải ở Jeruzalem mà tại chính cái thành phố này của quỷ Sa Tăng. Người muốn lập thủ đô của Người sao? Tại nơi đây, nơi hôm nay Nerô đang ngự trị, sẽ dựng nên vương quốc vĩnh hằng của Người sao? Chúa ôi, Chúa ôi! Người bảo những con người đang run sợ này lấy xương họ xây nên nền móng thế giới, còn linh hồn tôi Người dạy phải cai quản họ và loài người trên mặt đất sao? Và đây kia, Người đang rót lòng sức cho những kẻ yếu để họ được mạnh lên, Người bảo tôi từ nay phải chăn đàn chiên của Người cho đến khi đủ vòng thế kỷ...Ôi, xin được ngợi ca trong những phán quyết của Chúa, Người ra lệnh chiến thắng: Hosanna! Hosanna!
Những người vừa mới đây run sợ đứng bật dậy, những kẻ vừa mới đây nao núng như được cấp thêm lòng tin. Một số giọng đồng thành thốt lên: “Hosanna!”, những giọng khác: “Pro Christo!”(2) rồi sau đó lại im lặng. Những tia chớp mùa hè lóe lên chiếu sáng bên trong căn nhà gỗ và những khuôn mặt đang tái đi vì xúc động.
Ông Piotr vẫn dõi mắt đăm đăm nhìn sự hiển hiện và cầu nguyện mãi sau, rốt cuộc như sực tỉnh, quay lại đám người với khuôn mặt chan hòa ánh sáng, đầy hứng khởi và nói:
- Chúa đã chiến thắng sự nghi ngờ trong lòng ta, các con hãy đi và chiến thắng như Người, nhân danh Chúa!
Và mặc dù biết chắc rằng họ sẽ chiến thắng, biết chắc những gì sẽ mọc lên từ máu và nước mắt của họ, nhưng giọng ông vẫn run run xúc động khi làm dấu thánh giá từ biệt họ, ông nói:
- Còn bây giờ ta ban phước cho các con, các con của ta, trước cái chết và sự vĩnh hằng!
Nhưng họ quỳ xuống quanh ông và kêu lên: “Chúng con đã sẵn sàng, nhưng còn Người, bộ óc của hội thánh, xin Người hãy trốn đi, vì Người là đấng tổng quản thay mặt Chúa để cai quản những người Thiên Chúa kia mà!”. Và vừa nói thế, họ vừa bám lấy áo ông, ông đặt tay lên đầu họ, từ biệt từng người một, như người cha già từ giã đàn con sắp lên đường vào một cuộc viễn du.
Rồi họ bắt đầu rời khỏi căn nhà gỗ, vì họ rất nóng lòng muốn trở về nhà, từ đó họ sẽ vào nhà ngục rồi lên đấu trường. Tâm tưởng họ đã rời khỏi trái đất, linh hồn họ đã bay tới chốn vô cùng, họ bước đi như trong mộng hay trong một cơn mê đắm đuối, cưỡng chống lại sức mạnh vốn tồn tại trong lòng họ, chống lại bạo lực và sự tàn bạo của bọn “thú dữ”.
Đức Sứ Đồ được Nereus, một đầy tớ của ông Puđenx dễn đi theo một đường mòn ẩn trong vườn nho đến nhà mình. Nhưng trong đêm sáng vằng vặc, Vinixius bước theo sau họ và khi họ đến được túp lều của Nereus, chàng đột ngột quỳ xuống chân Sứ Đồ.
Nhận ra chàng, ông hỏi:
- Con muốn gì kia, hở con?
Nhưng sau những gì được nghe trong căn nhà gỗ, Vinixius không dám van xin ông điều chi nữa, chàng chỉ dùng hai tay ôm lấy chân ông, ghì chặt trán mình vào đó, vừa nức nở và bằng cách thức không lời ấy chàng muốn khẩn cầu tình thương.
Ông nói:
- Ta biết rồi. Chúng nó bắt mất người con gái mà con yêu thương. Vậy hãy cầu nguyện cho nàng.
- Người ơi! - Vinixius nức lên, càng ghì chặt hai chân Đức Sứ Đồ hơn nữa - Người ơi! Con chỉ là loài sâu bọ hèn mọn, còn Người quen biết Chúa Crixtux, xin hãy khẩn cầu Chúa, xin Người hãy bênh vực con với!
Và run lên như một chiếc lá cây vì nỗi đớn đau, chàng đập trán xuống đất, chàng biết khả năng của Đức Sứ Đồ và hiểu rằng chỉ mỗi mình ông mới có thể mang nàng về cho chàng mà thôi.
Chính nỗi đau đớn kia khiến ông Piotr động lòng. Ông nhớ lại rằng chính Ligia, hồi nào bị ông Krypxpux mắng, cũng đã từng làm như thế này dưới chân ông để khẩn cầu tình thương. Ông nhớ là chính ông đã đỡ nàng dậy và an ủi nàng, nên giờ đây ông bèn đỡ Vinixius dậy.
- Con của ta - Ông nói - Ta cũng cũng sẽ cầu nguyện cho nàng, nhưng con hãy nhớ những điều ta đã nói với những kẻ ngờ vực kia, rằng chính Đức Chúa đã tự mình trải qua nỗi đau bị đóng đinh câu rút và hãy nhớ rằng, sau cuộc đời này sẽ bắt đầu một cuộc sống khác, vĩnh hằng.
- Con hiểu!...Con đã được nghe - Vinixius đáp, đôi môi tái nhợt của chàng hớp hớp không khí - Nhưng Người thấy đấy...Con không thể: Nếu cần máu, Người hãy xin Chúa Crixtux lấy máu của con đây...Còn là người lính. Hãy cho con phải gấp đôi, gấp ba những khổ hình dành cho nàng, con sẽ chịu được, nhưng xin hãy cứu giúp lấy nàng! Người ôi, nàng hãy còn là một đứa trẻ, mà Đức Chúa lại mạnh hơn cả hoàng đế, con tin! Người mạnh hơn! Chính Người cũng yêu thương nàng! Chính Người đã ban phước cho chúng con! Đó hãy còn là một đứa trẻ vô tội!....
Rồi chàng lại cúi xuống dụi mặt vào đầu gối ông Piotr, lặp đi lặp lại:
- Người quen biết Chúa Crixtux! Người quen! Chúa sẽ chiều theo ý Người! Xin Người hãy bênh vực nàng!
Ông Piotr nhắm nghiền mắt lại và cầu nguyện khẩn thiết.
Những ánh chớp mùa hè lại rạch sáng bầu trời. Vinixius nhìn đăm đăm vào miệng Đức Sứ Đồ trong ánh chớp, chờ đợi lời phán quyết sống hay chết. Trong sự tĩnh mịch, nghe rõ tiếng những con chim cun cút gọi nhau trong vườn nho và tiếng vọng trầm đục xa xa của nhwungx cno đường nằm gần Via Xalaria.
- Vinixius - Mãi sau Sứ Đồ hỏi - Vậy con có tin không?
- Thưa người, nếu không sao con lại tới đây? - Vinixius đáp.
- Vậy thì hãy gắng tin cho đến chót, vì lòng tin có thể lay chuyển cả núi. Dù cho con có trông thấy nàng thiếu nữ ấy ở dưới thành gươm hay trong hầm sư tử, hãy tin rằng Chúa Crixtux vẫn có thể cứu được nàng! Hãy tin và cầu nguyện lên Người, còn ta sẽ cầu nguyện cùng con.
Rồi ngước mặt lên trời, ông nói to:
- Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, xin hãy nhìn xuống trái tim đang đau đớn này và an ủi! Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, hãy thổi gió vào lòng chiên! Hỡi Đức Chúa Crixtux nhân từ, Người đã từng cầu xin Chúa Cha bỏ cốc đắng cay ra khỏi miệng Người, xin hãy bỏ cốc ấy khỏi miệng kẻ tôi tớ này đây của Người! Amen!
Còn Vinixius vươn cả hai tay len phái những vì sao, rên rỉ thốt lên:
- Hỡi Đức Chúa Crixtux! Con là của Người! Xin hãy cho con được chiun thay nàng!
Đằng đông, trời bắt đầu rạng sáng.
Chú thích:
(1) Latinh: Hội thi đấu.
(2) Latinh: Vì Chúa Crixtux
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 54
Từ biệt đức Sứ Đồ, Vinixius đến nhà ngục với trái tim được niềm hy vọng tái sinh. Đâu đó sâu thăm thẳm trong tâm hồn chàng hãy còn tiềm ẩn nỗi tuyệt vọng và kinh hãi, nhưng chàng cố dập đi trong lòng những tiếng nói đó. Chàng nghĩ không lẽ nào sự bênh vực của vị tổng quản thay mặt Chúa và sức mạnh của lời cầu nguyện của ông lại không mang lại kết quả gì. Chàng sợ thiếu mất niềm hy vọng, chàng sợ nghi ngờ. "Ta sẽ tin vào lòng nhân từ của Chúa - chàng tự nhủ - ngay cả khi nhìn thấy nàng nằm trong hàm sư tử". Và nghĩ như thế, mặc dù tâm linh chàng run lên và thái dương chàng toát mồ hôi lạnh, chàng thấy tin tưởng. Giờ đây mỗi nhịp đập của trái tim chàng như một lời cầu nguyện. Chàng bắt đầu hiểu được rằng lòng tin có thể dời núi, bởi chàng cảm thấy trong lòng có một sức mạnh kỳ lạ mà trước đây chàng chưa hề cảm thấy. Chàng ngỡ như mình có thể làm nổi những việc chỉ mới hôm qua đây thôi còn vượt quá sức của chàng. Đôi khi chàng có cảm tưởng rằng điều dữ đã đi qua. Và khi nỗi tuyệt vọng lại lên tiếng rên rỉ trong tâm hồn, chàng nhớ lại cái đêm hôm ấy và mái đầu tóc bạc thiêng liêng đã ngước lên nhìn trời cầu nguyện. "Không! Đức Chúa Crixtux sẽ không từ chối con người vừa là môn đồ số một của Chúa vừa là kẻ chăn đàn con chiên! Chúa Crixtux sẽ không từ chối Người, còn ta sẽ không bao giờ nghi ngờ gì cả".
Chàng chạy đến nhà ngục như một sứ giả mang tin tức mới.
Nhưng tại đây, chàng gặp phải một sự bất ngờ.
Gần như tất cả bọn lính cấm vệ thay nhau canh gác nhà ngục mamertyn đều quen mặt chàng và thường chúng không hề gây cho chàng một khó khăn nào cả, nhưng lần này sợi dây xích sắt không mở ra, ngược lại viên bách trưởng tiến đến gần chàng và bảo:
- Xin hãy tha lỗi, thưa ngài hộ dân quan cao quý, hôm nay chúng tôi được lệnh không cho một ai vào cả.
- Lệnh à? - Vinixius tái mặt hỏi lại.
Người lính nhìn chàng thông cảm và đáp:
- Vâng, thưa ngài. Lệnh của hoàng thượng. Trong nhà ngục có rất nhiều người ốm, có thể người ta sợ rằng những người đến thăm sẽ mang bệnh dịch lây cho thành phố.
- Nhưng người vừa nói rằng lệnh chỉ cho riêng ngày hôm nay thôi mà?
- Đến trưa sẽ đổi gác.
Vinixius nín lặng và bỏ mũ, vì chàng cảm thấy chiếc mũ pileolus mà chàng đang đội trên đầu nặng như chì.
Lúc đó người lính tiến sát lại hạ giọng nói:
- Xin ngày hãy bình tâm. Lính cánh và cả bác Urxux đang trông giữ nàng.
Nói đoạn anh ta cúi xuống và nhanh như chớp dùng kiếm dài kiểu Gan của mình vạch lên phiến đá hình một con cá.
Vinixius liếc nhanh nhìn anh ta.
- Và ngươi lại là cấm quân?
- Cho tới khi nào tôi còn chưa bị nhốt vào trong kia - Người lính vừa đáp vừa trỏ vào nhà ngục.
- Cả ta cũng kính Chúa Crixtux.
- Cầu cho sáng danh Người! Thưa ngài, tôi biết chứ! Tôi không thể để ngài vào ngục được, nhưng nếu ngài viết thư, tôi sẽ chuyển cho bọn cai ngục hộ.
- Xin cảm ơn người anh em.
Chàng xiết chặt tay người lính rồi bước đi. Chiếc mũ pileolus thôi không đè nặng như chì lên đầu chàng nữa. Mặt trời buổi sớm lên cao bên trên tường nhà ngục và cùng với ánh mặt trời sáng chiếu, một niềm cổ vũ lại len vào tim Vinixius. Người lính là tín đồ Thiên Chúa này với chàng như một bằng chứng mới về sự hùng mạnh của Chúa Crixtux. Lát sau, chàng dừng lại, dán mắt vào những đám mây màu hồng đang lơ lửng trên đồi Kapiton cùng thần miếu Xtator và thốt lên:
- Hôm nay con không được gặp nàng, Chúa ôi, nhưng con tin vào sự nhân từ của Chúa!
Ở nhà, ông Petronius đang đợi chàng, như thường lẹ, ông “lấy đếm làm ngày’ và vừa mới trở về. Song ông cũng đã kịp tắm và xoa dầu để chuẩn bị đi ngủ.
- Cậu có tin mới dành cho anh đây - Ông nói: Hôm nay cậu vừa ở chỗ Tulius Xexenion, có mặt cả hoàng đế tại đó nữa. Không rõ tại sao hoàng hậu lại nẩy ra ý định mang thằng bé Rufiux theo...Có thể là để dùng sắc đẹp của thằng bé làm mềm lòng hoàng đế cũng nên. Không may, đứa bé buồn ngủ và thiếp đi trong lúc đọc thơ, giống như Vexpazian dạo nọ, trông thấy thế, Ahenobarbux ném ngay cốc rượu vào thằng bé, khiến nó bị thương nặng, Poppea ngất xỉu, tất cả mọi người đều nghe hoàng đế thốt: “Quá đủ đứa con thêm này rồi!”, mà anh biết đấy, điều đó cũng đồng nghĩa với cái chết.
- Cơn giận dữ của Chúa đang treo trên đầu hoàng hậu - Vinixius đáp - nhưng sao cậu lại kể cho cháu nghe chuyện ấy?
- Cậu kể vì cả anh lẫn Ligia đều bị cơn giận của Poppea theo đuổi, bây giờ bị vướng nỗi bất hạnh của chính mình có thể ả không muốn trả thù nữa và có thể lấy được lòng ả cũng nên. Tối nay cậu sẽ gặp và nói chuyện với ả.
- Cảm ơn cậu, cậu mang cho cháu một tin tốt lanh.
- Anh đi tắm rửa rồi nghỉ ngơi đi. Môi anh tím tái, anh chỉ còn là một cái bóng thôi đấy.
Nhưng Vinixius lại hỏi:
- Thế người ta không báo bao giờ bắt đầu cuộc ludus matutimus đầu tiên sao?
- Mười ngày nữa. Nhưng người ta sẽ lấy các nhà ngục khác trước. Chúng ta càng còn nhiều thời gian càng tốt. Chưa phải mọi thứ đều hỏng cả đâu.
Ông nói thế nhưng là nói những điều chính ông cũng không còn tin nữa, bởi ông biết rõ rằng, một khi hoàng đế đã tìm được một lời đáp tuyệt vời chứa đầy ngụ ý để trả lời điều khẩn cầu của Aliturux, trong đó người tự so sánh với Bratux, thì ông còn cách nào cứu nổi Ligia. Vì thương hại, ông cũng giấu đi điều mà ông nghe được tại nhà Xexenion, rằng hoàng đế và Tygelinux đã quyết định sẽ chiếm lấy cho mình và cho đám bạn bè những trinh nữ Thiên Chúa giáo xinh đẹp nhất để làm nhục trước khi họ chịu khổ hình, số còn lại sẽ ban cho bọn lính cấm vệh và quản thú trong ngày bắt đầu hội thi.
Biết rằng Vinixius không khi nào muốn sống khi Ligia đã chết, ông cố tình gieo niềm hy vọng trong tim chàng, trước hết vì đồng cảm với chàng, sau nữa, con người duy mỹ này cũng muốn rằng một khi phải chết, Vinixius sẽ chết đẹp đẽ, chứ không phải với bộ mặt xám xịt đã bị nỗi đau đớn và mất ngủ hủy hoại.
- Hôm nay cậu sẽ nói với Auguxta - Ông bảo - Ít nhiều như thế này: “Người hãy cứu lấy Ligia cho Vinixius, còn tôi sẽ cứu Rufiux cho người”. Và cậu sẽ suy nghĩ về việc đó thật đấy. Đối với Ahenobarbux, chỉ cần một lời được nói vào giây phút thích hợp, cũng có thể cứu sống hoặc giết chết một mạng người. Mà chí ít thì chúng ta cũng kéo dài được thời gian.
- Cảm ơn cậu - Vinixius lặp lại.
- Tốt nhất anh hãy cảm ơn cậu một khi đã được ăn và được nghỉ. Thề có Atena! Ngay cả trong nỗi bất hạn lớn nhất, Ođyxe cũng vẫn nghỉ đến chuyện ăn và ngủ. Chắc suốt cả đêm anh thức trong tù?
- Không - Vinixius trả lời - Vừa rồi cháy định đến nhà ngục, nhưng đã có lệnh không cho một ai vào. Xin cậu, thưa Petronius, cậu hãy tìm hiểu xem chỉ có lệnh cho ngày hôm nay hay cho đến tận hôm hội thi đấu.
- Đêm nay cậu sẽ tìm hiểu và sáng sớm mai sẽ nói cho anh hay lệnh ấy có giá trị đến bao giờ và tại sao lại được ban bố. Còn bây giờ, dù cho vì buồn phiền thần Heliox có lặn xuống đất nước Kimeri đi chăng nữa, cậu cũng phải đi ngủ đã, còn anh hãy làm theo gương cậu.
Và họ chia tay, nhưng Vinixius lại tới thư viện và bắt đầu viết cho Ligia một bức thư.
Viết xong, chàng tự tay mang đến giao cho người gác trưởng là tín đồ Thiên Chúa, người ấy lập tức mang thư vào nhà ngục. Lát sau, anh ta quay lại với lời chúc sức khỏe của Ligia và hứa rằng ngay trong ngày hôm nay anh ta sẽ mang cho chàng thư trả lời của nàng.
Song Vinixius không muốn quay về, chàng ngồi xuống một phiến đá đợi thư Ligia. Mặt trời đã lên cao trên bầu trời và như thường lệ, những đám đông người băng qua Clivux Argentariux đổ dồn về Forum. Bọn mua đi bán lại rao mời những món hàng của chúng, đám thầy coi bói xin được phục vụ những người đi qua, các vị công dân dậm những bước chân trang trọng đến các diễn đàn công cộng để nghe các diễn giả qua đường hoặc kể lại cho nhau nghe những tin tức sốt dẻo nhất. Khi cái nóng thiêu đốt mạnh hơn, những đám đông vô công rồi nghè lại nấp dưới những hàng cột của các thần miếu, từ trong đó chốc chốc lại bay vù ra hàng đàn bồ câu với tiếng đập cánh ồn ã, lông trắng lóng lánh trong sắc sáng láng và thẳm xanh của vòm trời.
Dưới tác dụng của ánh sáng quá chói, của tiếng ồn ào, của sự ấm áp và sự mỏi mệt quá đỗi, mắt Vinixius bắt đầu díp lại. Tiếng kêu đơn điệu của những chú bé đang chơi trò đoán ngón tay ở bên cạnh và những bước chân đều đặn của binh lính ru đưa chàng vào giấc ngủ. Chàng còn ngẩng đầu dậy vài lần đưa mắt nhìn nhà ngục, rồi tựa đầu vào tảng đá, thở dài như một đứa trẻ ngủ thiếp đi sau một hồi lâu kêu khóc, chàng thiếp đi.
Và chàng mơ những giấc mơ. Chàng thấy như giữa đêm thâu chàng bế Ligia đi qua một khu vườn nho lạ, trước chàng là bà Pomponia Grexyna cầm cây đèn trong tay để soi đường. Một giọng nói nào đó, chừng như tiếng ông Petronius gọi từ đằng xa sau lưng chàng: “Quay lại đi!”. Nhưng chàng không để ý gì đến tiếng gọi đó, cứ bước tiếp theo sau bà Pomponia, chơ tới lúc họ đến một chiếc lều, trên ngưỡng cửa là Sứ Đồ Piotr đang đứng. Khi ấy chàng trỏ vào Ligia và nói: “Chúng con vừa thoát khỏi đấu trường, thưa Người, nhưng không sao đánh thức nàng nổi, xin Người hãy làm nàng tỉnh dậy”. Nhưng ông Piotr trả lời: ”Chính Đức Chúa Crixtux sẽ đến để đánh thức nàng dậy!”.
Rồi những cảnh tượng bắt đầu lẫn lộn. Trong giấc mơ chàng thấy Nerô và Poppea đang bế trong tay cậu bé Rufiux với cái trán đẫm máu mà ông Petronius đang lau, gã Tygelinux đang rắc tro lên chiếc bàn bày đầy những món ăn đắt tiền, Vitelius đang ngốn những món ăn ấy, bao nhiêu cận thần nữa đang ngồi trong tiệc. Còn chính chàng đang nằm bên cạnh Ligia, nhưng giữa các bàn là lũ sư tử đang dạo bước, máu đang chảy ròng ròng từ những chiếc mõm màu vàng hoe của chúng. Ligia cầu xin chàng hãy đưa nàng ra ngoài, nhưng chàng không thể nhích nổi chân tay. Rồi những giấc mơ của chàng là một sự hỗn độn khốn cùng và rốt cuộc tất cả chìm trong một bóng đen dày đặc.
Chàng tỉnh khỏi giấc ngủ say sưa khi cái nóng của mặt trời và những tiếng kêu vang lên ngay cạnh chỗ chàng ngồi đánh thức chàng. Vinixius dụi mắt, đường phố đông đặc những người là người, hai kẻ dẹp đường, mặc áo tunica màu vàng, vừa dùng chiếc sào dài gạt xô đám đông vừa kêu lên dẹp đường cho một chiếc kieeun tuyệt đẹp do bên tên nô lệ người Ai Cập lực lường khiêng đi.
Trong kiệu có một người nào đó mặc ào dài màu trắng đang ngồi, không trông rõ mặt người ấy vì y đang giữ một cuốn giấy chỉ thảo ngay trước sát gần mắt chăm chú đang đọc.
- Dẹp chỗ cho ngài cần thần tôn quý! - Bọn dẹp đường thét lên.
Nhưng đường phố đang đông chật người khiến chiếc kiệu phải dựng lại một lát. Khi ấy vị cận thần nóng ruột buông cuộn giấy xuống, nhô đầu ra ngoài gọi:
- Đuổi ngay bọn khốn kia đi cho ta! Mau!
Đột nhiên, nhận ra Vinixius, y thụt đầu vào và đưa vội cuộn giấy lên che mắt.
Vinixius đưa tay lên trán, ngỡ như chàng vẫn đang nằm mơ.
Trong kiệu, lão Khilon đang ngồi.
Lúc ấy bọn dẹp đường đã dẹp xong và những người Ai Cập sắp tiến lên, đột nhiên chàng hộ dân quan trẻ tuổi, người chỉ trong giây lát đã hiểu ra được nhiều điều trước kia chàng không sao hiểu nối, tiến đến sát chiếc kiệu.
- Xin chúc sức khỏe ngài Khilon! - Chàng nói.
- Hỡi chàng trai trẻ! - Lão Hy Lạp đáp với vẻ trịnh trọng và tự hào, cố tạo ra nét bình thản, điều mà trong lòng lão không có nổi - Xin Chào, nhưng chớ có giữ ta lại bởi ta đang vội đi gặp bạn ta ngài Tygelinux cao quý.
Vinixius nắm lấy mép kiệu, cúi lại phía lão, nhìn thẳng vào mặt lão, hạ giọng nói:
- Có phải chính ngươi đã bán rẻ Ligia?
- Hỡi người khổng lồ của Menmon! - Lão Khilon kinh hoàng kêu lên.
Nhưng trong mắt Vinixius không có anh đe dọa nên cơn sợ hãi của lão già Hy Lạp nhanh chóng qua đi. Lão nghĩ rằng lão được sự che chở của Tygelinux và của chính hoàng đế, những thế lực mà tất thảy mọi người đều phải run sợ và lão đang được những nô lệ tráng kiện vây quanh, còn Vinixius đứng trước lão, không một tấc sắt, với nét mặt hốc hác và dáng người còng xuống vì đau đớn.
Nghĩ thế, sự táo tợn quay trở lại với lão. Trừng đôi mắt có đường viền đỏ quạnh nhìn Vinixius, lão thì thào đáp lại:
- Còn ngươi, khi ta đang chết đói, chính ngươi đã ra lệnh đánh đòn ta.
Một giây lâu, cả hai cùng nín lặng, rồi giọng trầm đục của Vinixius cất lên:
- Tôi đã xúc phạm đến lão, Khilon à!...
Lão Hy Lạp bèn ngẩng cao đầu và đập ngón tay vào nhau, động tác mà ở La Mã là dấu hiệu của sự xem thường và khinh miệt, rồi lão cao giọng đáp cho mọi người đều nghe thấy:
- Anh bạn này, nếu như anh có điều gì khẩn cầu ta, hãy tới nhà ta trên đồi Exquilin vào buổi sáng, vào giờ đó sau khi ta tắm ta sẽ tiếp khách và khách hàng.
Rồi lão gật đầu ra hiệu cho bọn Ai Cập nhấc chiếc kiệu lên, đám nô lệ mặc áo tunica màu vàng lại bắt đầu vừa gào lên vừa vung vẩy chiếc roi dài:
- Tránh đường cho kiệu ngài Khilon Khiloniđex cao quý! Dẹp đường! Dẹp đường!...
CHƯƠNG 55
Ligia vĩnh biệt Vinixius trong một bức thư dài viết vội. Nàng được biết rằng không ai được vào nhà ngục nữa và nàng chỉ còn có thể được trông thấy Vinixius khi lên đấu trường. Do vậy, nàng xin chàng hãy có mặt ở đấu trường, vì trước khi chết nàng còn muốn được trông thấy chàng một lần nữa. Trong thư của nàng không hề thấy sợ hãi. Nàng viết rằng nàng cũng như những người khác mong ngóng được ra đấu trường, bởi lẽ tại đó họ sẽ được giải phóng khỏi kiếp ngục tù. Đoán rằng ông bà Aulux và Pomponia sẽ về, nàng cầu xin cả ông bà cũng đến dự. Trong từng lời lẽ của nàng đều thấy có niềm hứng khởi và sự tách ly khỏi đời sống mà tất cả các tù nhân đang sống, đồng thời thấy cả lòng tin không lay chuyển, rằng những lời được hứa sẽ thành hiện thực bên kia nấm mồ. “Hoặc Chúa Crixtux (nàng viết) giải phóng cho em bây giờ, hoặc sẽ giải thoát cho em sau khi chết, nhưng qua miệng đức Sứ Đồ, Người đã hứa ban em cho chàng, vậy thì em là của chàng”. Và nàng khẩn cầu chàng đừng tiếc nàng và đừng để cho nỗi đau khổ chế ngự. Cái chết đối với nàng không phải là sự gián đoạn những lời thề nguyền. Với lòng tin của trẻ thơ, nàng cam đoan với Vinixius rằng, ngay sau khổ hình và đấu trường, àng sẽ thưa cùng Chúa Crixtux rằng ở Roma đang còn vị hôn phu của nàng, Chàng Marek, người nhớ thương nàng bằng cả tấm lòng. Và nàng nghĩ rằng có thể Chúa Crixtux sẽ cho phép linh hồn nàng quay về với chàng một lúc để báo chàng hay rằng nàng vẫn đang sống, nàng không còn nhớ gì đến những cực hình và nàng vô cùng sung sướng. Cả bức thư của nàng tràn đầy một niềm hạnh phúc và một hy vọng to lớn. Trong đó duy nhất chỉ có một điều liên quan với những chuyện trần thế: Nàng yêu cầu Vinixius đưa xác nàng từ sporliatam(1) về và chôn nàng như vợ của chàng trong nhà mộ, nơi mà một khi nào đó chàng cũng sẽ yên nghỉ.
Chàng đọc bức thư ấy, lòng tan nát, song chàng vẫn thấy không thể nào Ligia lại chịu chết trong nanh thú dữ mà không được Đức Chúa đoái thương. Chính trong đó tiềm ẩn niềm hy vọng và lòng tin. Quay trở về nhà, chàng viết trả lời rằng hàng ngày chàng sẽ đến đứng chờ bên tường nhà ngục Tulianum cho tới khi nào Đức Chúa Crixtux phá tan những bức tường để trả nàng về với chàng. Chàng khuyên nàng hãy tin vào Chúa, rằng ngay trong hý trường. Người cũng vẫn có thể trả nàng về, rằng chính Đại Sứ Đồ đã cầu xin Chúa điều ấy và giờ phút giải phóng đã gần kề. Viên Xenturion đã được cải hóa sẽ mang cho nàng bức thư này vào sáng mai.
Nhưng ngày hôm sau, khi Vinixius đến nhà ngục, viên gác trưởng rời hàng ngũ tiến lại gần chàng và nói:
- Xin ngài hãy lắng nghe tôi. Đức Chúa Crixtux mà ngài hẵng tin đã ban ân huệ mà Người dành cho ngài. Đêm qua các nô lệ giải phóng của hoàng đế và ngài tổng quản tới đây để chọn các tỉnh nữ Thiên Chúa giáo cho họ làm nhục, chúng hỏi đến người ngào yêu mến, nhưng Đức Chúa đã gửi đến cho nàng một cơn sốt nóng, bệnh sốt đã khiến cho các tù nhân bị chết tại ngục Tulianum và thế là chúng không muốn bắt nàng đi nữa. Chiều hôm qua nàng đã bất tỉnh, cầu cho được sáng danh Đấng Cứu Thế, vì cơn bệnh đã cứu nàng thoát điều nhục nhã cungx có thể sẽ cứu nàng thoát chết.
Vinixius tỳ tay len vai người lính để khỏi bị ngã, anh ta nói tiếp:
- Ngài hãy tạ ơn Chúa. Bọn chúng đã lôi ông Linux đi chịu tội nhưng thấy ông ấy sắp chết, chúng lại trả ông về. Cũng có thể bây giờ chúng sẽ trả nàng cho ngài và Chúa Crixtux sẽ lại cho nàng sức khỏe.
Chàng hộ dân quan trẻ tuổi đứng hồi lâu, cúi đầu, rồi sau chàng ngẩng lên và bảo:
- Phải rồi, hỡi gác trưởng! Chúa Crixtux, Người đã cứu nàng thoát điều nhục nhã sẽ giải thoát nàng cả cái chết.
Rồi chàng ngồi bên tường nhà ngục cho đến tận chiều, sau đó chàng trở về nhà, phái người đi đón ông Linux và ra lệnh mang ông về một trong các biệt thự của chàng ở ngoại thành.
Biết những chuyện ấy, ông Petronius quyết định hành động tiếp tục. Lần trước ông đã đến gặp hoàng hậu, lần này ông lại tới tìm ả một lần nữa. Ông gặp ả đang ở bên giường cậu bé Rufiux. Cậu bé bị vỡ đầu đang mê sảng trong cơn sốt, còn người mẹ thì cứu chữa cho con với nỗi tuyệt vọng và lo sợ trong lòng khi nghĩ rằng, nếu như cứu được nó đi chăng nữa thì, có thể chỉ là để chẳng bao lâu nữa nó sẽ bị chết thảm thương hơn mà thôi.
Bận bịu với nỗi đau của riêng mình, thậm chí ả không thèm nghe nói tới Vinixius và Ligia, nhưng ông Petronius đe ả: “Thế là người đã xúc phạm đến một vị thần mới rồi đấy” - Ông bảo ả - Thưa hoàng hậu, người hình như thờ Đức Jehova của người Do Thái, mà các tín đồ Thiên Chúa giáo thì bảo rằng Crixtux là con đẻ của ông ta. Vậy xin ngươi hãy nghĩ xem cơn giận của người cha kia có trút lên người hay chăng? Biết đâu điều vừa xảy ra lại chẳng phải là sự trả thù của họ va mạng sống của Rufiux lại chẳng lệ thuộc vào hành động của người.
- Thế ông muốn ta phải làm gì? - Poppea hoảng sợ hỏi.
- Tạ lỗi vị thần chưa biết ấy.
- Bằng cách nào?
- Ligia đang ốm. Hãy tác động đến hoàng đế hoặc Tygelinux để trả cô ta cho Vinixius.
Ả hỏi một cách tuyệt vọng:
- Ông nghĩ là ta có thể làm việc ấy ư?
- Vậy người có thể làm việc khác. Nếu như Ligia khỏe lại, cô ta sẽ phải chết. Người hãy đến đền thờ Vexta và đòi Virgo Magna(2) phải làm như tình cờ có mặt gần ngục Tulianum vào lúc người ta bắt đầu đưa tù nhân ra chịu chết và phải ra lệnh giải phóng cô gái ấy. Đại ni cô đồng trinh sẽ không từ chối người việc ấy đâu.
- Còn nếu Ligia chết vì sốt nóng thì sao?
- Tín đồ Thiên Chúa nói rằng Đức Chúa Crixtux hay báo thù nhưng lại rất công mình. Người có thể cầu xin ông ta tha thứ bằng chính sự thành tâm của mình.
- Chỉ cần ông ta cho ta thấy một dấu hiệu gì chứng tỏ nhất định ông ta cứu được Rufiux.
Ông Petronius nhún vai:
- Tôi đến đâu phải là sứ giả của ông ta, hỡi thiên hậu, tôi chỉ khuyên người rằng: Tốt hơn cả là nên sống hòa thuận với tất cả các vị thần La Mã cũng như ngoại đạo.
- Ta sẽ đi! - Poppea nói với giọng bị khuất phục.
Ông Petronius thở một hơi thật dài.
“Rốt cuộc mình cũng đạt được chút gì!” - Ông nghĩ thầm. Rồi quay về với Vinixius, ông bảo chàng:
- Anh hãy cầu xin Đức Chúa của anh đừng để cho Ligia bị chết vì cơn sốt, vì nếu nàng không chết thì đại ni cô đồng trinh sẽ ra lệnh phóng thích nàng. Chính hoàng hậu sẽ yêu cầu cô ta làm việc ấy.
Vinixius nhìn ông với cặp mắt long lanh và trả lời:
- Nàng sẽ được Chúa Crixtux giải thoát.
Còn Poppea, kẻ sẵn dàng thiêu lễ vật tế hiến tất cả các vị thần linh trên thế giới để cứu sống Rufiux, ngay chiều hôm đó lên Forum, đến gặp các ni cô đồng trinh, giao đứa trẻ ốm lại cho bà nhũ mẫu trung thành là Xynvia, người trước kia đã từng bú mớm chỉnh ả.
Nhưng bản án dành cho đứa bé đã được ban ra tại Palatyn. Kiệu của hoàng hậy vừa khuất sau Đại môn, thì liền có hai nô lệ giải phóng của hoàng đế tiến vào buồng cậu bé Rufiux đang nằm, một người lao tới bị miệng bà Xynvia, người kia tóm ngay pho tượng Xfinkx bằng đồng giáng cho bà một cái.
Rồi chúng tiến lại gần Rufiux. Đứa bé đang mê và bị cơn sốt dày vò không hề biết chuyện gì đang xẩy ra bên mình, nó nhoẻn cười cới chúng và hấp háy đôi mắt tuyệt đẹp dường như cố nhận ra chúng. Song chúng đã lột chiếc thắt lưng được gọi là cinggulum của người nhũ mẫu, choàng quay quanh cổ thằng bé và xiết lại. Đứa bé chỉ kịp gọi mẹ mỗi một lần rồi chết ngay. Sau đó, chúng quấn thằng bé vào khăn trải giường, nhảy lên lưng con ngựa đang chực sẵn, phóng vội đến tận Oxtia, nơi chúng quăng cái thây xuống biển.
Khong gặp được đại ni cô đồng trinh bởi nàng cũng các ni cô đồng trinh khác đang ở chỗ Vatinius. Poppea vội quay trở về Palatyn. Trông thấy cái giường trống không và cái xác đã lạnh giá của Xynvia, ả ngất xỉu, sau khi được người ta cứu hồi lại, ả bắt đầu kêu thét, những tiếng kêu la hoang dại của ả vang lên suốt đếm ấy và cả ngày hôm sau.
Song đến ngày thứ ba, hoàng đế ra lệnh cho ả phải tới dự tiệc, ả bèn mặc chiếc áo tunica màu ngọc tím tới dự, ngồi với bộ mắt đá, tóc vàng hoe, câm lặng, tuyệt đẹp và dữ dội như thần chết.
Chú thích:
(1) Latinh: Nhà chứa xác chết trong đấu trường.
(2) Latinh: Đại ni cô đồng trinh
CHƯƠNG 56
Trước khi Flavius dựng lên Koloseum, các nhà hát ở Roma được xây dựng phần lớn bằng gỗ, vì vậy gần như tất cả đều bị cháy trụi trong thời gian hoả hoạn. Để tổ chức những hội thi như đã hứa, Nerô lại ra lệnh dựng lên vài nhà hát mới, trong đó có một nhà hát khổng lồ mà ngay sau khi lửa tắt, người ta bắt đầu chở theo đường biển và đường sông Tyber những cây gỗ to tướng chặt trên những sườn núi Atlax để xây dựng. Vì các hội thi này phải vượt xa tất cả các hội thi trước kia về sự tuyệt vời cũng như số lượng vật hi sinh, người ta làm thêm nhiều phòng rộng để chứa người và thú. Hàng nghìn thợ làm ngày làm đêm trên công trường xây dựng. Người ta xây dựng và trang trí không một phút ngơi tay. Dân chúng kể cho nhau nghe những chuyện phi thường về những chỗ tựa được khảm đồng, hổ phách, ngà voi, ngọc trai và vẩy đồi mồi. Dọc theo những ghế ngồi là các mương dẫn nước lạnh giá từ trên núi về để duy trì cái mới mẻ, dễ chịu bên trong nhà, ngay cả khi thời tiết nóng nực nhất. Một tấm velarium màu tía khổng lồ che những tia nắng mặt trời. Giữa các hàng ghế ngồi, người ta bố trí các lò xông hương để đốt các loại hương liệu Ả Rập. Trên trần, người ta đặt các dụng cụ để vẩy nước hoa mã tiên thảo và kỵ phù lam cho người xem. Xeverux và Xeder, những nhà xây dựng lừng danh, đã mang tất cả tài nghệ của mình dựng lên một nhà hát không gì sánh nổi, có thể chứa được một số người hâm mộ mà chưa một nhà hát nổi danh nào từ xưa tới nay từng chứa nổi.
Cũng vì vậy, trong ngày khai mạc ludus matutinus, đám tiện dân chờ từ rạng sáng đợi người ta mở cổng, khoái chí lắng nghe tiếng rống của lũ sư tử, tiếng gầm của hùm beo và tiếng hú của chó. Đã hai ngày nay, người ta không cho bọn thú dữ ăn, mà chỉ kéo qua trước mặt chúng những miếng thịt đẫm máu để càng khiến cho chúng thêm điên cuồng và đói khát. Chốc chốc, một cơn bão những tiếng gầm rú man dã ấy lại khiến cho những người đứng trước hý trường không sao nói chuyện nổi với nhau, còn những kẻ nhát gan thì tái người vì sợ. Nhưng đúng lúc mặt trời lên, trong các gian phụ của hý trường bắt đầu vang lên tiếng hát lảnh lót, nhưng bình thản: người ta lắng nghe tiếng hát ấy với vẻ kinh ngạc, nhắc đi nhắc lại với nhau: “Bọn Thiên chúa! Bọn Thiên chúa đấy!”. Quả thực nhiều toán tín đồ đông đảo đã bị đưa tới nhà hát ngay từ lúc còn đêm, không phải chỉ từ một nhà ngục như ý định ban đầu mà từ tất cả các nhà ngục, mỗi nơi một ít. Đám đông biết rằng hội thi sẽ kéo dài hàng tuần hàng tháng, nhưng họ cãi nhau xem với phần tín đồ Thiên chúa dự liệu cho ngày hôm nay, liệu có thể kết thúc trong vòng một ngày hay chăng. Những giọng đàn ông, đàn bà, trẻ con đang hát bài thánh ca buổi sáng nghe đông đến nỗi những kẻ hiểu biết cấm đoán rằng dù mỗi lần có mang ra một hay hai trăm người đi chăng nữa lũ thú dữ cũng sẽ mệt, no nê tới chiều và không thể nào cắn xé tất cả. Những người khác lại khẳng định rằng, nếu số người đã bị đưa ra đấu trường quá nhiều một lúc thì sẽ khiến cho sự chú ý bị phân tán và không cho phép thưởng thức đầy đủ các cảnh tượng. Càng dần tới giờ phút mở các hành lang dẫn vào bên trong - được gọi là vomitor - dân chúng càng sôi động, vui vẻ, càng cãi nhau hăng về hàng nghìn thứ liên quan tới cảnh tượng sẽ được trông thấy. Người ta bắt đầu chia thành các phe phái, cho rằng sư tử hoặc hổ thành thạo hơn trong việc cắn xé con người. Đôi chỗ người ta đánh cuộc với nhau. Những người khác thì lại bàn cãi về các đấu sĩ sẽ biểu diễn trên đấu trường trước người Thiên chúa, và lại hình thành các phe phái ủng hộ bọn Xamnit, bọn Gan, bọn Mirmilon, bọn Trak hoặc bọn lưới thủ. Sáng sớm nay, những toán đấu thủ các loại, nhiều hay ít, dưới sự chỉ huy của các võ sư được gọi là lanista, đã kéo tới nhà hát. Không muốn mệt nhọc trước giờ vào cuộc, bọn họ đi không vũ khí, thường khi hoàn toàn trần truồng, cầm trong tay những cành lá xanh hoặc những vòng hoa, trẻ trung, xinh đẹp trong ánh bình minh, và tràn dâng sức sống. Thân thể họ bóng nhoáng dầu ô liu, to lớn, dường như được làm bằng đá cẩm thạch, khiến đám dân chúng quen thưởng thức những đường nét của con người trầm trồ thán phục. Nhiều kẻ trong bọn họ được người ta biết tên, và chốc chốc lại vang lên những tiếng gọi: “Xin chào Furniux! Chào Leo! Chào Makxymux! Xin chào Điomeđex” Các thiếu nữ trẻ ngước những đôi mắt chan chứa tình yêu nhìn họ, còn họ cố tìm xem nàng nào xinh đẹp nhất và đùa cợt đáp lại, dường như không hề vướng bận nỗi lo lắng nào, họ gửi những chiếc hôn gió hoặc gọi to: “Hãy ôm nhau đi nào, trước khi cái chết ôm lấy ta!”. Rồi họ biến mất vào sau cổng, cánh cổng mà bao kẻ vĩnh viễn không bao giờ còn được bước ra. Mỗi lúc càng nhiều những đám diễu hành, khiến đám đông phải chú ý. Theo sau các đấu sĩ là đám đốc chiến, được gọi là mastygofor, đó là những người được vũ trang bằng roi dài, có nhiệm vụ đốc thúc vầ cổ vũ những người đang đấu nhau. Sau đó, lũ la kéo về phía spolarium hàng dẫy xe, trên chở hàng chồng quan tài bằng gỗ. Nhìn thấy cảnh ấy dân chúng sung sướng lắm, họ căn cứ vào đó để tính tầm cỡ của hội vui. Phía sau kéo đi một dẫy những kẻ có trách nhiệm giết chết hẳn những người bị thương, họ ăn vận giống như lão già Kharon hoặc thần Merkury, tiếp đến là những người giữ trật tự trong hý trường, xếp chỗ ngồi; theo sau là các nô lệ mang thức ăn cùng nước giải khát, và cuối cùng là đám cấm vệ mà mỗi Hoàng đế bao giờ cũng phải có sẵn để trù bị trong các hý trường.
Sau cùng, người ta cũng mở cổng và đám đông lao vào trong nhà. Nhưng dân chúng tụ tập đông đến nỗi dòng người cứ chẩy mãi, chẩy mãi vào trong mất hàng tiếng đồng hồ chưa hết, đến nỗi người ta ngạc nhiên sao nhà hát lại có thể chứa được nhiều người đến thế. Ngửi thấy hơi người tiếng gầm rống của dã thú lại càng vang động. Trong khi chiếm chỗ ngồi, dân chúng ồn ào như những làn sóng trong cơn bão tố.
Sau rốt, ngài đô trưởng thành phố đến, trong đám virgin vây quanh, kéo theo sau là một dẫy dài vô tận những chiếc kiệu của các vị nguyên lão nghị viện, chấp chính quan, pháp quan, quan thị chính, các chức dịch nhà nước và chức dịch cung đình, các võ quan chỉ huy lính cấm vệ, đám quý tộc và những phụ nữ quyền quý. Một số kiệu có những tên liktor cầm rìu bó trong những bó chổi đi trước, những kiệu khác lại có một đám nô lệ dẫn đầu. Lấp lánh trong ánh mặt trời những chỗ dát vàng của các kiệu, những tà áo trắng và áo dài loè loẹt, những chùm lông, những vòng tai, đồ trang sức, lưỡi thép của những chiếc rìu chiến. Từ trong hý trường vang ra tiếng reo hò mà chúng dân dùng để chào đón các vị quan chức cao cấp. Thỉnh thoảng lại có những toán quân cấm vệ kéo tới thêm
Các tăng lữ của đủ mọi thứ thần miếu đến chậm hơn một ít, sau họ, người ta kiệu theo các trinh nữ thiêng liêng của nữ thần Vexta có đám liktor đi trước. Để khai mạc hội thi, người ta chỉ còn chờ mỗi mình Hoàng đế, Người không muốn dân chúng phải chờ đợi quá lâu, đồng thời lại muốn dùng sự vội vã của mình để thu phục thêm lòng dân, nên Người tới ngay, có Hoàng hậu và các cận thần tuỳ tùng.
Ông Petronius ở giữa đám cận thần, trong kiệu của ông là chàng Vinixius. Chàng biết rằng Ligia đang ốm và đang mê man, nhưng những ngày gần đây việc ra vào nhà ngục được canh phòng vô cùng nghiêm mật, bởi lẽ đám gác ngục cũ đã bị thay thế bằng một bọn mới, bọn này không được trò chuyện với lính canh cũng như không được trao đổi tin tức gì với những người đến thăm hỏi tù nhân, do vậy chàng không biết chắc liệu nàng có mặt trong đám nạn nhân được phân bổ cho ngày đầu tiên hay không. Đối với lũ sư tử, người ta có thể ném cả người ốm, thậm chí người đang bất tỉnh kia mà. Nhưng vì lẽ các nạn nhân bị khâu vào trong các tấm da thú và được đẩy hàng loạt ra đấu trường nên không một khán giả nào có thể kiểm tra xem có thêm hay bớt đi một kẻ nào trong đám nạn nhân ấy, và không ai có thể nhận ra ai. Đám gác và toàn bộ những người phục dịch trong nhà hát đều đã bị mua chuộc, chàng cũng đã ngoặc được với bọn canh thú dữ: chúng sẽ giấu Ligia vào một góc tối tăm nào đó của nhà hát và đến đêm sẽ giao cho một người làm thuê của Vinixius, người này sẽ đưa ngay nàng vào dãy núi Anban. Được cho biết điều bí mật ấy, ông Petronius khuyên Vinixius đi cùng ông tới nhà hát một cách công khai, sau khi lọt qua cửa, chàng sẽ len lẫn vào đám đông và tìm đến gian hầm ngầm, nơi chàng sẽ đích thân chỉ Ligia cho bọn gác, để tránh trường hợp nhầm lẫn.
Bọn gác để chàng lọt qua những cánh cửa nhỏ chỉ có chúng được qua lại. Một tên trong bọn, tên là Xyrux, dẫn ngay chàng tới gặp những người Thiên chúa giáo. Dọc đường, y nói:
- Thưa ngài, không rõ ngài có tìm thấy người cần tìm không. Chúng tôi đã hỏi dò về cô gái mang tên Ligia nhưng chẳng một ai trả lời chúng tôi, có thể bọn họ không tin chúng tôi chăng?
- Họ có đông không? - Vinixius hỏi.
- Thưa ngài, nhiều người sẽ phải chờ đến mai.
- Trong bọn họ có người nào ốm không?
- Không có kẻ nào tự động đi được.
Nói đoạn, Xyrux mở một cánh cửa và họ cùng bước vào một gian phòng rộng lớn, nhưng thấp lè tè và tối tăm, bởi lẽ ánh sáng chỉ lọt vào đây qua những cái lỗ có chấn song ngăn cách với đấu trường. Thoạt tiên, Vinixius không thể nhận ra vật gì, chàng chỉ nghe trong phòng ồn ào giọng nói và tiếng kêu la của dân chúng vang từ nhà hát vào. Nhưng chỉ lát sau, khi mắt đã quen với bóng tối, chàng trông thấy một đám đông hình hài kỳ lạ, giống chó sói và gấu. Đó chính là các tín đồ Thiên chúa bị khâu vào da thú. Một số người trong bọn họ đang đứng, số khác đang quỳ và cầu nguyện. Đây đó, những làn tóc chẩy dài trên bộ lông thú, có thể đoán được rằng nạn nhân này là phụ nữ. Những bà mẹ, trông giống những con sói cái, bế trên tay những đứa trẻ cũng bị khâu vào da thú. Nhưng từ dưới bộ da lộ ra những khuôn mặt trong sáng, trong bóng tối mắt chúng ánh lên niềm vui và cơn sốt. Rõ ràng phần đông đám người này đều có chung một ý nghĩ, biệt lập và thiên giới, khiến họ ngay khi còn sống đã không còn cảm thấy những gì đang xẩy ra chung quanh, những gì có thể sẽ đến với họ. Một vài người được Vinixius hỏi về Ligia nhìn chàng với đôi mắt dường như vừa tỉnh cơn mơ, không hề đáp lại câu hỏi; những người khác mỉm cười với chàng, đặt tay lên môi hoặc trỏ vào những gióng cửa sắt, qua đó những chùm ánh sáng lọt vào. Chỉ lũ trẻ cất tiếng khóc đây đó, chúng sợ tiếng gầm rống của dã thú, tiếng hú gào của lũ chó, tiếng huyên náo của dân chúng và những hình hài giống như thú dữ của chính cha mẹ chúng. Đi bên người gác Xyrux, Vinixius nhìn vào từng khuôn mặt, tìm kiếm, hỏi thăm, chốc chốc chàng lại vấp phải thân mình những người bị ngất đi trong đám đông chật chội, trong hơi người và cái nóng, chàng len vào góc tối của căn phòng rộng như cả một nhà hát.
Đột nhiên chàng đứng sững lại vì chàng nghe như cạnh chấn song có tiếng ai quen quen đang gọi chàng. Nghe ngóng hồi lâu, chàng len qua đám đông, nhích về phía tiếng gọi. Luồng ánh sáng rọi và đầu người đang nói, và trong ánh sáng ấy Vinixius nhận ra khuôn mặt gầy gò, không khoan nhượng của ông Kryxpux dưới một tấm da gấu.
- Các người hãy than khóc cho tội lỗi của mình, - ông Kryxpux nói, - vì giờ phút đã đến đây rồi. Nhưng những kẻ nào nghĩ rằng bằng cái chết có thể chuộc lại lỗi lầm, kẻ đó lại phạm thêm lỗi mới, và sẽ bị đẩy vào ngọn lửa vĩnh hằng. Mỗi một tội lỗi của các ngươi phạm phải khi sống đều khiến Chúa phải chịu cực hình một lần nữa, vậy sao các ngươi lại dám nghĩ rằng khổ hình đang chờ các ngươi có thể chuộc được? Ngày hôm nay, người chân chính và kẻ có tội cùng chết một cái chết giống nhau, nhưng Đức Chúa sẽ chọn ra những người của Chúa. Đáng thương thay cho các ngươi, vì mặc dù răng nanh lũ sư tử sẽ xé nát thân xác các ngươi, nhưng không xé nổi những lỗi lầm của các ngươi, cùng sự thanh toán với Chúa. Chúa đã tỏ ra quá đỗi nhân từ khi để cho mình bị đóng đinh lên thánh giá, nhưng từ đây Người sẽ chỉ là quan toà, không bỏ qua một lỗi lầm nào không có hình phạt. Vậy, những kẻ nào nghĩ rằng bằng khổ hình các người có thể xoá mờ đi những tội lỗi của mình, thì chính các ngươi đã dám khinh nhờn chống lại công lý của Chúa Trời, và vì thế các ngươi lại càng đắm mình hơn nữa. Lòng nhân từ đã chấm dứt, đã tới hồi thịnh nộ của Chúa. Chỉ lát nữa đây thôi, các ngươi sẽ đứng trước toà phán khủng khiếp mà chỉ có những người vô cùng đức hạnh may ra mới có thể trụ nổi. Các ngươi hãy than khóc đi cho những tội lỗi của các ngươi, vì vực thẳm của địa ngục đang há hoác ra kia; thảm thương thay cho các ngươi, những chồng và vợ, thảm thương thay cho các ngươi, những cha mẹ và con cái!
Và cái bàn tay xương xẩu của ông giơ cao, rung rung trên những mái đầu đang cúi gục của họ, không run sợ nhưng cũng không hề khoan nhượng ngay cả trước cái chết mà chỉ lát nữa đây thôi tất cả các tội nhân đều phải đón nhận. Sau những lời ông nói dậy lên nhiều tiếng kêu: “Chúng con tiếc cho những tội lỗi của chúng con” rồi im lặng bao trùm, chỉ còn nghe tiếng khóc trẻ thơ và tiếng đấm tay vào ngực. Vinixius cảm thấy như máu thôi chảy trong huyết quản. Là người đặt cả lòng tin vào sự nhân từ của Chúa Crixtux, giờ đây chàng lại nghe nói rằng ngày giận dữ đã đến rồi và ngay cả cái chết trên đấu trường cũng không thể cầu xin nổi lòng nhân từ. Trong đầu óc chàng thoáng qua ý nghĩ cũng nhanh và sáng rực như ánh chớp, rằng đức Sứ đồ Piotr chắc sẽ nói cách khác với những người phải chết kia. Tuy nhiên những lời đe doạ cuồng tín của ông Kryxpux, cái gian phòng tối tăm sau song sắt kia, trong lúc bên ngoài là mảnh đất khổ hình, sự tiếp xúc gần gũi với những khổ hình cùng đám đông đầy nghẹt những nạn nhân mà cái chết đã lựa chọn khiến lòng chàng tràn đầy hãi hùng và kinh sợ. Tất cả những thứ ấy gộp lại đối với chàng thật kinh khủng, trăm lần kinh khủng hơn những trận chiến đấu đẫm máu nhất mà chàng đã từng tham dự. Hơi người và cái nồng nực bắt đầu khiến chàng ngộp thở. Mồ hôi lạnh vã đầy trán chàng. Chàng sợ sẽ bị ngất đi như những thây người mà chàng vấp phải khi tìm vào sâu trong phòng, nên vừa chợt nghĩ rằng cửa song sắt có thể mở ra vào bất cứ lúc nào, chàng lên tiếng gọi to Ligia và bác Urxux, với hy vọng nếu không họ thì cũng có ai đó biết họ trả lời chàng.
Quả thực, ngay tức khắc có một người khoác da gấu kéo áo toga của chàng và nói:
- Thưa ngài, họ vẫn còn trong ngục. Tôi là người cuối cùng bị dẫn ra, tôi vẫn nhìn thấy nàng đang ốm nằm trên giường.
- Ông là ai? - Vinixius hỏi.
- Thợ đá, tại nhà tôi đức Sứ đồ đã rửa tội cho ngài đó, thưa ngài. Chúng đã bắt tôi ba ngày nay, và hôm nay tôi sẽ chết.
Vinixius thở dài. Bước chân vào đây, chàng cầu mong tìm thấy Ligia, nhưng lúc này chàng sẵn sàng cảm ơn Chúa Crixtux là nàng không có ở đây, và chỉ nguyên điều đó cũng đủ cho chàng thấy lòng nhân từ của Người.
Người thợ đá kéo áo toga của chàng một lần nữa và nói:
- Thưa ngài, ngài có nhớ rằng chính tôi đã đưa ngài tới trại nho của ông Kornelius, nơi đức Sứ đồ rao giảng trong căn lều gỗ hay chăng?
- Ta nhớ. - Vinixius đáp
- Sau đó tôi còn được gặp Người một lần vào hôm trước ngày chúng bắt tôi. Người ban phước cho tôi và bảo rằng Người sẽ đến nhà hát để từ biệt những người chịu chết. Tôi muốn lúc chết được trông thấy Người và dấu thánh giá, khi ấy tôi sẽ dễ dàng hơn. Vậy nêu ngài biết Người đang ở đâu, xin ngài hãy nói lại với Người điều ấy.
Vinixius hạ giọng đáp:
- Người đang ở trong đám người nhà của ngài Petronius, đóng giả làm nô lệ. Ta không rõ Người chọn chỗ nào, nhưng ta sẽ quay lại hý trường và sẽ tìm. Ngươi hãy nhìn ta khi bước ra đấu trường, ta sẽ nhổm dậy và nhìn vào chỗ họ. Khi ấy ngươi sẽ thấy được Người.
- Xin cảm ơn ngài và bằng an được cùng ngài!
- Cầu Đấng Cứu thế nhân từ đối với ngươi!
- Amen!
Vinixius bước ra khỏi phòng và lần ra nhà hát, nơi chàng đã có chỗ ngồi cạnh ông Petronius, trong đám cận thần.
- Có chứ? - ông Petronius hỏi chàng.
- Không có. Nàng ở lại trong nhà ngục.
- Này, cậu vừa nẩy ra một ý nữa. Nhưng vừa nghe cậu nói vừa nhìn Nigiđia để chúng tưởng ta đang trò chuyện về cách chải tóc của ả nhé… Tygelinux và Khilon đang nhìn chúng ta kia kìa… Anh nghe nhé: ban đêm bảo họ cho Ligia vào quan tài, khiêng ra khỏi ngục như người chết, phần còn lại anh nghĩ nốt xem.
- Vâng. - Vinixius đáp.
Câu chuyện bị gián đoạn bởi Tulius Xenexio, y nghiêng người sang phía họ, hỏi:
- Các vị có biết liệu người ta có cấp vũ khí cho bọn Thiên chúa không nhỉ?
- Không rõ. - ông Petronius đáp.
- Tôi muốn cứ cấp cho bọn chúng - Tulius nói, - nếu không đấu trường sẽ nhanh chóng biến thành nơi giống như phản hàng thịt. Song cái nhà hát mới tuyệt vời làm sao chứ!
Quả thực, cảnh trí thật tuyệt vời. Những hàng ghế phía dưới, đầy những áo toga, trắng như tuyết. Hoàng đế ngồi trên một chiếc bục dát vàng, mang chuỗi hạt kim cương quanh cổ, với vòng hoa bằng vàng trên đầu, bên cạnh ngài là Auguxta, tuyệt đẹp và u sầu; hai bên là các ni cô đồng trinh, các quan chức lớn, các nguyên lão mặc những chiếc áo khoác có viền, các võ quan trong những bộ giáp phục, nói tóm lại, tất thẩy những gì là hùng mạnh, tuyệt vời và giàu có của La Mã đều tập trung ở đây. Các vị hiệp sĩ ngồi ở những hàng ghế xa hơn, còn trên nữa, đen kịt một biển những đầu người, nhô lên những chiếc cột treo những tràng hoa bện bằng hoa hồng, huệ, xaxauka, dây thường xuân và dây nho.
Dân chúng trò chuyện ầm ĩ, gọi nhau, ca hát, chốc chốc lại nổ ra một tràng cười đáp lại một lời hài hước nào đó mà người ta gửi cho nhau từ dãy này sang dãy khác, họ dậm chân vì nóng ruột mong mau mau biểu diễn.
Rốt cuộc tiếng chân dẫm trở thành mạnh như tiếng sấm rền và không dứt. Khi ấy, viên đô trưởng, trước đó đã cùng một đoàn tuỳ tùng sang trọng diễu một vòng quanh đấu trường, giơ khăn tay ra hiệu, cả nhà hát đáp lại bằng một tiếng: “Aaa…” đồng thanh bật ra từ hàng nghìn lồng ngực.
Thông thường cuộc diễn mở đầu bằng cảnh săn bắt một loài dã thú nào đó do các cư dân dã man phía bắc và phía nam đảm nhiệm; nhưng lần này thú vật quá nhiều, nên người ta bắt đầu bằng các andabat, tức là những người đội những chiếc mũ sắt không có lỗ khoét cho mắt, và do vậy họ giết nhau như một lũ mù. Mươi tên ra đấu trường cùng lúc, bắt đầu vung kiếm trong không khí. Đám đốc chiến dùng những chiếc đòn chĩa dài đẩy họ lại gần nhau để có thể gặp nhau. Những khán giả sang trọng nhìn cảnh tượng này một cách khinh bỉ và không chút hứng thú, nhưng dân chúng khoái chí trước những động tác vụng về của các kiếm sĩ; những khi tình cờ họ va lưng vào nhau, dân chúng lại cười ồ lên kêu thét: “Sang phải!”, “Sang trái!”, “Tiến thẳng!”, và thường cố ý đánh lừa các đấu thủ. Tuy nhiên, vài đôi vẫn bám được nhau và cuộc đấu bắt đầu đẫm máu. Các đấu thủ hăng máu hơn ném khiên đi, đưa tay trái cho nhau nắm để không bị lạc mất nhau, còn tay phải đánh nhau sống chết. Kẻ nào ngã xuống lại giơ những ngón tay lên trời xin tha mạng, nhưng vào đầu hội đấu khán giả thường đòi giết chết những kẻ bị thương, nhất là đối với các andabat, vì bọn này bị bịt kín mặt nên họ không rõ là ai. Dần dần, số người đấu giảm đi trông thấy, rốt cuộc chỉ còn lại có hai, họ lao thẳng vào nhau mạnh đến nỗi khi gặp nhau cả hai cùng lăn ra cát và cùng đâm chết nhau. Khi ấy, giữa những tiếng kêu “Gục rồi!”(1), đám phục dịch dọn đi các xác chết, còn bọn tiểu đồng hót những vũng máu trên đấu trường, rồi dùng những túm lá kỵ phù xoá chúng đi.
Bây giờ sẽ đến lượt một trận đấu quan trọng hơn, làm thích thú không chỉ đám tiện dân mà ngay cả những người sang trọng. Trong cuộc đấu ấy các cậu công tử quý tộc nhiều khi đánh cuộc rất to, nạo nhau sạch túi mới thôi. Người ta truyền nhau những chiếc bảng nhỏ ghi tên các đấu sĩ mà họ ưa chuộng, đồng thời với số xexterxi và mỗi người đặt cuộc cho người mình chọn. Các spectali - tức các đấu sĩ - thường xuất hiện trên đấu trường và đã từng giành chiến thắng có nhiều người hâm mộ hơn cả, song trong đám đặt cược cũng có những kẻ đặt những số tiền khổng lồ cho các đấu sĩ mới và hoàn toàn chưa có chút danh tiếng gì, với hi vọng rằng, một khi họ thắng cuộc, những người này sẽ thu được một món lợi khổng lồ. Ngay cả Hoàng đế, các tăng lữ, các ni cô đồng trinh, các nguyên lão nghị viện và các hiệp sĩ cũng đánh cuộc như dân chúng. Đám tiện dân khi bị thiếu tiền, thường dùng ngay sự tự do của bản thân để đặt cược. Do vậy, người ta hồi hộp, thậm chí lo sợ chờ đợi sự xuất hiện của các kiếm sĩ và nhiều người lớn tiếng cầu các vị thần, xin họ phù hộ cho những người mình ưa chuộng.
Khi tiếng kèn đồng inh tai vang lên, cả nhà hát lặng im chờ đợi. Hàng nghìn cặp mắt đổ dồn vào cái chốt cửa khổng lồ, có một người mặc giả làm Kharon(2) đang tiến lại gần và trong sự yên lặng toàn thể, y dùng búa gõ ba lần vào đó, dường như gọi những người đang náu phía sau cánh cửa ra chịu chết. Hai cánh cửa từ từ mở, để lộ một vực thẳm đen ngòm, từ trong đó các đấu sĩ lần lượt tản ra khắp đấu trường sáng sủa. Họ đi thành từng toán hai mươi lăm người, người Trak riêng, người Mirmilon riêng, người Xamnit riêng, người Gan riêng, tất cả đều võ trang nặng trịch, và cuối cùng là đám retiarii một tay cầm lưới, một tay cầm đinh ba. Nhìn thấy họ, những tiếng vỗ tay vang lên đây đó trong các hàng ghế ngồi, chúng nhanh chóng biến thành một cơn bão rầm rập và kéo dài. Từ trên xuống dưới chỉ thấy những bộ mặt đỏ ửng, những bàn tay vỗ, những cái miệng há hốc bật ra những tiếng kêu. Các đấu sĩ đi vòng quanh đấu trường với nhịp bước đều đặn và rắn chắc, trang bị và các thứ vũ khí đắt tiền lấp lánh, rồi họ đứng dừng lại trước bục ngồi của Hoàng đế, đầy tự hào, bình thản và tuyệt vời. Một tiếng tù và vang động át cả tiếng vỗ tay, các đấu sĩ giơ cánh tay phải lên trời, mắt hướng về Hoàng đế, kêu to lên, hay nói đúng hơn là hát bằng một giọng kéo dài:
Ave, caesar imperator!
Morituri te salutant!(3)
Rồi họ nhanh chóng tản ra chiếm lấy những vị trí khác nhau ở rìa đấu trường. Họ sẽ đánh nhau từng toán, nhưng trước tiên, người ta cho phép những kiếm sĩ lừng danh đấu với nhau một số trận tay đôi, trong đó họ có thể chứng tỏ rõ rệt nhất sức mạnh, sự khéo léo và lòng can đảm trước các đối thủ. Cho nên trong số những người Gan tách ra một đấu thủ rất nổi tiếng đối với những người hâm mộ nhà hát dưới biệt danh “Đồ tể” (Lanio), người đã thắng trong nhiều hội đấu. Trong chiếc mũ trụ khổng lồ đội trên đầu, trong bộ giáp phục che đằng trước và đằng sau bộ ngực đồ sộ của chàng, dưới ánh sáng trên nền cát vàng của đấu trường, nom chàng y hệt như một con bọ sừng khổng lồ bóng nhoáng. Viên retiarius tên là Kalenđio, kẻ cũng không kém phần nổi tiếng, tiến ra đứng đối diện với chàng.
Trong đám khán giả người ta bắt đầu đặt cược.
- Năm trăm xexterxi cho tên Gan!
- Năm trăm cho Kalenđio!
- Thề có Herkulex! Một nghìn!
- Hai nghìn đấy!
Trong khi ấy chàng Gan bước vào giữa đấu trường rồi bắt đầu lùi lại chĩa gươm và hạ thấp đầu, qua khe hở trong vành mũ sắt, chàng chăm chú nhìn vào đối thủ, còn chàng retiarius, hoàn toàn trần truồng trừ một dải bịt ngang bộ hạ, người nhẹ nhõm, với những đường nét đẹp như tượng, cứ vòng vòng quanh địch thủ, hoa hoa chiếc lưới một cách duyên dáng, chĩa ngọn đinh ba xuống hoặc nâng nó lên trời, và hát vang bài ca thông dụng của những tay “lưới thủ”:
Tao không muốn bắt mày, tao đi tìm cá
Sao mày lại chạy trốn, hở thằng Gan!(4)
Nhưng chàng xứ Gan không chạy trốn, vì lát sau chàng đứng lại tại chỗ, chỉ quay người chút ít để lúc nào địch thủ cũng ở trước mặt. Trong dáng dấp chàng và trong cái đầu to một cách kỳ dị giờ đây có cái gì đó thật đáng sợ. Khán giả hiểu rõ rằng cái thân hình nặng nề bọc đồng kia đang chuẩn bị bất ngờ lao tới để có thể phân thắng bại của trận đấu. Trong khi đó, chàng cầm lưới lúc thì sáp vào, lúc thì nhẩy lùi ra, sử dụng chiếc đinh ba linh hoạt đến nỗi mắt người khó lòng theo dõi kịp. Tiếng răng đinh ba đập vào khiên vang lên đã mấy lần, chàng xứ Gan vẫn không hề chao đảo, chứng tỏ chàng có sức lực thật gớm ghê. Toàn bộ sự chú ý của chàng hình như không tập trung vào chiếc lưới đang quay tròn trên đầu chàng như một con chim hung tợn. Khán giả nín thở theo dõi trò chơi bậc thầy của các đấu sĩ. Rốt cuộc, chọn được thời cơ thích hợp, Lanio lao vào địch thủ, nhưng nhanh như cắt, chàng kia đã tránh được lưỡi gươm và cánh tay đang vung lên, đứng thẳng người dậy và bủa lưới.
Chàng xứ Gan quay người tại chỗ, đưa khiên đỡ lưới, rồi cả hai cùng nhẩy lùi. Nhà hát vang ầm lên tiếng hò reo: “Macte!”(5) và ở những hàng ghế thấp người ta bắt đầu đánh cuộc lại. Ngay cả Hoàng đế, đầu tiên mải trò chuyện với ni cô đồng trinh Rubria và cho tới lúc này không thật để mắt đến đấu trường, giờ đây cũng quay mặt lại nhìn trường đấu.
Còn hai đấu sĩ vẫn tiếp tục chiến đấu thành thạo và chính xác trong từng động tác, đến nỗi nhiều khi dường như họ không quan tâm đến sự sống và cái chết, chỉ cố gắng biểu diễn sự khéo léo của mình mà thôi. Lanio, đã hai lần thoát khỏi lưới, lại bắt đầu lùi ra mép võ đài một lần nữa. Khi ấy, những kẻ đặt cược chống lại chàng không muốn chàng được nghỉ ngơi, liền kêu lên: “Đâm đi!”. Chàng xứ Gan nghe lời và đâm một nhát. Vai của chàng lưới thủ bỗng toé máu, chiếc lưới rũ xuống. Lanio co người nhẩy tới định đâm cho địch thủ đòn cuối cùng. Nhưng đúng vào lúc ấy, Kalenđio, người chỉ vờ như không làm chủ được chiếc lưới nữa, đột ngột ngả người sang bên tránh cú đâm và xỉa đinh ba vào giữa đầu gối địch thủ, quật ngã địch thủ xuống đất.
Chàng Gan định đứng dậy, nhưng chỉ trong nháy mắt chàng đã bị bọc trong những sợi dây tai ác mà mỗi cử động lại khiến chân tay chàng bị quấn chặt hơn. Trong khi đó chiếc đinh ba liên tiếp ghìm chàng xuống đất. Cố hết sức lần cuối, chàng chống tay nhổm lên định đứng dậy, nhưng quá muộn rồi! Chàng đưa cánh tay đã đuối sức không còn cầm nổi thanh gươm lên đầu rồi ngã ngửa ra. Kalenđio dùng đinh ba chẹn cổ chàng xuống đất, rồi ghì cả hai tay ghìm cán, chàng quay nhìn về phía Hoàng đế ngồi.
Cả hý trường rung động bởi những tràng vỗ tay và tiếng hò reo. Đối với những người đã đặt cược cho Kalenđio, lúc này chàng còn vĩ đại hơn cả Hoàng đế, song cũng chính vì thế mà họ hết cay cú chống lại Lanio, người bằng máu của mình đã khiến họ được đầy túi. Do vậy, nguyện vọng của dân chúng chia thành hai phe. Trên các hàng ghế ngồi, một nửa ra hiệu đòi giết chết, còn một nửa xin tha thứ, song người lưới thủ chỉ nhìn vào lô của Hoàng đế và các ni cô đồng trinh, chờ điều họ phán xét.
Không may, Nerô không thích Lanio, vì trong mấy hội đấu gần đây, được tổ chức trước hoả tai, ngài đã đặt cược chống lại chàng, song ngài bị thua Lixynus một số tiền đáng kể, ngài bèn chìa tay ra và quay chúc ngón cái xuống đất.
Các ni cô đồng trinh cũng làm theo ngài ngay tức khắc. Kalenđio bèn quỳ xuống ngực chàng Gan, rút chiếc dao ngắn đeo ở thắt lưng, hé bộ giáp phục gần cổ địch thủ, đâm lưỡi dao hình tam giác vào họng chàng Gan, ngập đến tận cán.
- -Peractum est(6)! - tiếng người vang động trong nhà hát.
Lanio còn rùng mình một lát nữa như con trâu bị đâm, chân đạp tung cát, rồi chàng ưỡn thẳng người và bất động.
Người mặc giả thần Merkury không cần dùng sắt nung đỏ để thử xem chàng còn sống hay không. Chàng được dọn đi ngay và tiếp đến những đôi mới, sau cùng mới sôi động trận chiến đấu của cả toán. Dân chúng tham gia vào trận đấu bằng cả tâm hồn, trái tim và đôi mắt: họ rú, họ gào, họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ cười sằng sặc, họ cổ vũ những người tham chiến, họ điên lên. Trên đấu trường, hai toán đấu sĩ được phân chia đánh nhau với sự điên cuồng của dã thú: ngực đập vào ngực, những thân mình bện chặt vào nhau trong một cơn ghì gớm ghê, chân tay kêu răng rắc, những lưỡi kiếm ngập sâu trong ngực và trong bụng người, những cái mình xám ngoét ốc máu ra mặt cát. Mươi chàng đấu sĩ non nớt, cuối hiệp đấu sợ hãi quá đến nỗi, đến nỗi vùng ra khỏi đám hỗn chiến tìm cách chạy trốn, nhưng bọn đốc chiến dùng những chiếc roi dài bịt chì đuổi họ trở lại cuộc chiến. Trên mặt cát hình thành những đám màu thẫm to tướng; mỗi lúc thêm nhiều những thân hình trần truồng hoặc có giáp phục nằm ngổn ngang thành đống. Những kẻ còn sống chiến đấu trên thây những người đã chết. Họ đánh nhau bằng vũ khí, nện nhau bằng khiên, làm đổ máu những đôi chân giáp phục tả tơi, rồi ngã gục. Dân chúng không thể ngồi yên chỗ vì vui sướng, say mê thưởng thức cái chết, hít thở nó, nhìn nó đến no mắt và khoái chí hít vào buồng phổi hơi thở của nó.
Rốt cuộc hầu như tất cả những kẻ bị chinh phục đều gục ngã. Chỉ còn vài người bị thương quỳ ở giữa đấu trường, chìa tay hướng về khán giả xin tha chết. Người ta phát phần thưởng cho những người chiến thắng, những vòng lá, những vòng cành ô liu, và tiếp đến là giờ giải lao mà theo lệnh của vị Hoàng đế bá chủ được biến thành một bữa tiệc. Người ta đốt hương liệu trong các bình. Đám vẩy nước thơm hiến cho dân chúng những cơn mưa nước kỵ phù lam và đồng thảo. Người ta mang ra phân phát nước mát, thịt nướng, bánh ngọt, rượu nho, quả ô liu và các loại quả khác. Dân chúng nhai ngấu nghiến, trò chuyện và gào lên ca tụng Hoàng đế, để bằng cách ấy vòi Người phải hào phóng hơn nữa. Và khi người ta đã thoả mãn cơn đói khát, hàng trăm nô lệ khiêng ra những sọt đầy quà tặng, còn các tiểu đồng mặc giả thần ái tình lấy từ đó đủ thứ vật dụng khác nhau và dùng cả hai tay ném tung vào giữa các dẫy ghế. Vào lúc người ta phát vé xổ số diễn ra một trận ẩu đả thực sự: dân chúng chen lấn, ngã lên nhau, kẻ nọ dẫm lên người kia, kêu la cầu cứu, nhảy vọt qua những hàng ghế ngồi và đè nhau ngạt thở trong đám đông hỗn loạn kinh khủng, bởi vì ai vớ được con số may mắn có thể trúng cả một ngôi nhà có vườn, một nô lệ, bộ quần áo sang trọng hoặc những con thú hiếm mà sau đó họ lại bán cho các nhà hát. Vì lẽ nảy sinh một cảnh hỗn loạn đến nỗi nhiều lần bọn cấm vệ phải lập lại trật tự, và sau mỗi lần ban phát, người ta lại mang ngay ra khỏi phòng khán giả những người bị gẫy tay, gẫy chân hoặc bị dẫm chết trong đám đông.
Những kẻ giàu hơn không tham gia cuộc tranh cướp vé. Trong khi đó, đám cận thần đang thích thú với lão Khilon và chế giễu những nỗ lực vô vọng của lão cố chứng tỏ cho mọi người thấy lão cũng có thể nhìn cuộc chiến đấu và cảnh đổ máu như những người khác. Lão già Hi Lạp bất hạnh hoài công nhíu mày, cắn môi và nắm chặt tay đến nỗi những chiếc móng đâm sâu vào lòng bàn tay. Cả bản chất Hi Lạp lẫn sự hèn nhát của lão không chịu đựng nổi những cảnh tượng thế kia. Mặt lão tái nhợt, trán tháo mồ hôi hột, môi tím ngắt, mắt hõm vào, răng bắt đầu đánh lập cập, thân mình run cả lên. Sau khi cuộc đấu kết thúc, lão định thần phần nào, nhưng một khi người ta dùng lưỡi chế giễu lão, lão bỗng nổi cơn giận dữ bất ngờ và đáp trả một cách tuyệt vọng:
- -Này, lão Hi Lạp. Lão không chịu nổi cảnh người ta bị sầy da! - Vatynius vừa nói vừa kéo bộ râu cằm của lão.
Lão Khilon nhe hai chiếc răng vàng khè cuối cùng của lão đáp lại:
- -Cha ta không phải thằng thợ giầy, nên ta không biết cách vá da.
- -Macte! Habet - vài giọng kêu lên.
Nhưng những người khác tiếp tục giễu:
- -Đâu phải lỗi của lão, một khi thay vì trái tim, trong ngực lão lại là một mẩu phomat! - Xenexio kêu lên.
- -Ngươi cũng không có lỗi khi thay vì cái đầu ngươi lại là một cái bong bóng rỗng tuếch. - Khilon trả miếng.
- -Lão có thể trở thành một đấu sĩ được đấy! Nhìn lão cầm lưới vung trên võ đài thì tuyệt!
- -Giá ta dùng lưới tóm được ngươi, ta sẽ chỉ được một cái đít thối hoẵng.
- -Thế còn với bọn Thiên chúa giáo thì sao? - Fertux xứ Liguria hỏi. - Lão có muốn thành chó để cắn xé bọn chúng không?
- -Ta không muốn thành anh ngươi đâu.
- -Mày là thằng hủi mắt cừu!
- -Mày là đồ lừa Liguria!
- -Chắc là da mày đang ngứa, nhưng chớ có dại xin tao gãi hộ cho nhé!
- -Mày gãi cho mày ấy, nếu mày gãi phải mụn ghẻ, mày sẽ diệt mất cái tốt đẹp nhất của mày đấy!
Cứ thế, người ta tấn công lão, còn lão đánh trả một cách quyết liệt giữa tiếng cười của mọi người. Hoàng đế vỗ tay, lặp đi lặp lại “Macte” và ngài cổ vũ thêm. Song lát sau ông Petronius tiến lại gần, dùng chiếc gậy nhỏ khảm ngà voi chạm vào vai lão già Hi Lạp và lạnh lùng bảo:
- Hay lắm, hỡi nhà triết học, nhưng ngươi chỉ lầm mỗi một điều thôi: các thần linh tạo ra ngươi là một thằng ăn cắp, thế mà ngươi lại thành quỷ ác, và vì thế ngươi sẽ không chịu đựng nổi đâu!
Lão già dương đôi mắt đỏ quạch nhìn ông, lần này lão không tìm được một lời thoá mạ nào cả. Lão im lặng giây lâu, rồi đáp lại như với một sự cố sức nào đó:
- -Ta sẽ chịu được!…
Nhưng lúc này kèn báo hiệu giờ giải lao đã chấm dứt. Người ta bắt đầu rời khỏi các ngăn đã tụ tập đến để trò chuyện và cho đỡ chồn chân. Lại bắt đầu cảnh nhộn nhạo chung và những cuộc cãi cọ thường tình nhằm chiếm lại cái ghế mà mình đã ngồi từ trước. Các vị nguyên lão và quý tộc đi về chỗ của mình. Tiếng ồn ào lắng dần, nhà hát trật tự trở lại. Trên đấu trường xuất hiện một đám người để hót đi những chỗ cát còn đọng máu đây đó.
Đã đến lượt những người Thiên chúa giáo. Nhưng đối với dân chúng, đấy là một cảnh tượng mới, và không một ai biết sẽ phải cư xử ra sao, mọi người đều chờ đợi họ với một nỗi tò mò. Không khí chung của đám đông là tập trung chú ý, vì người ta chờ những cảnh tượng phi thường, nhưng thù địch. Chính những người sắp xuất hiện giờ đây là những kẻ đã đốt cháy Roma cùng những kho của vĩnh hằng của thành đô. Bọn chúng chính là những kẻ sống bằng máu hài nhi, những kẻ đánh thuốc độc nước uống, những kẻ rủa nguyền toàn thể loài người và sẵn sàng phạm những tội ác gớm ghê nhất. Không có hình phạt nào dù hà khắc đến đâu thoả mãn nổi lòng căm thù bị kích động và nếu như có nỗi lo ngại nào bóp chặt trái tim, thì chỉ là cho rằng những cực hình không xứng với những kẻ tội nhân dữ tợn này.
Lúc ấy, mặt trời đã lên cao, ánh sáng của nó chiếu qua tấm che trần mầu đỏ tía, khiến cho nhà hát ngập tràn màu máu. Cát nhuốm màu lửa đỏ, và trong thứ ánh sáng ấy, trên những khuôn mặt người cũng như trong cái trống trải của bãi đấu trường mà chỉ lát nữa đây sẽ tràn ngập nỗi đau đớn của con người và sự điên cuồng của dã thú, chợt có cái gì thật kinh khủng. Ngỡ như trong không khí có sự đe doạ và cái chết đang lơ lửng. Đám đông dân chúng thường khi vẫn vui nhộn, giờ đây, dưới tác động của chí căm thù, lại im lặng. Những bộ mặt lộ vẻ quyết liệt.
Viên đô trưởng ra hiệu: khi ấy liền xuất hiện lão già mặc giả Kharon đã gọi các đấu sĩ đi chịu chết, lão khoan thai bước ngang qua đấu trường, và giữa không khí im phắc như tờ, lão lại dùng búa gõ ba lần vào cánh cửa.
Toàn nhà hát vang lên tiếng rì rầm:
- -Bọn Thiên chúa! Bọn Thiên chúa!
Những song sắt rít lên trong những cái hốc tối tăm, vang lên những tiếng kêu thường nhật của bọn đốc chiến: “Đi ra mặt cát!” và chỉ trong một thoáng, võ đài đã đầy một đám người trông như những hình nộm khoác da thú. Tất cả đều chạy nhanh, hơi nóng nẩy, và đến giữa vòng tròn họ quỳ xuống bên nhau, tay vươn cả lên. Dân chúng cho rằng đó là lời cầu khẩn lòng thương hại, họ bực mình với sự hèn nhát ấy và bắt đầu dẫm mạnh chân, huýt sáo, ném những bình rượu nho đã rỗng, những khúc xương đã gặm sạch và rống lên: “Thú dữ! Thả thú dữ ra đi!”… Nhưng đột nhiên xảy ra một điều hoàn toàn không ngờ. Đó là giữa đám người ma quái kia chợt cất lên những giọng hát, và ngay phút ấy vang rền bài ca mà lần đầu tiên người ta được nghe trong các hý trường La Mã:
Christus regnat!(7)
Nỗi kinh ngạc bao trùm xuống dân chúng. Những tội nhân ca hát với đôi mắt ngước nhìn lên tấm che trần, người ta nhìn thấy những bộ mặt nhợt nhạt nhưng dường như tràn đầy cảm xúc. Mọi người đều hiểu ra rằng những con người này không khẩn cầu tình thương hại, dường như họ không trông thấy cả hý trường, cả dân chúng, cả nguyên lão viện lẫn Hoàng đế. “Christus regnat” vang lên mỗi lúc một to hơn, và trong những hàng ghế mãi tít phía trên gần tới nóc kia, những hàng người xem không phải chỉ một người tự đặt cho mình câu hỏi: cái gì vậy nhỉ, là ai thế cái ông Crixtux, người trị vì trên môi những người sẽ phải chết kia? Nhưng lúc ấy người ta đã lại mở ra những gióng cửa sắt mới nữa và cả một đàn chó tràn ra đấu trường với một đà phóng điên dại và tiếng sủa man dã: những con chó khổng lồ màu hoe vàng xứ Peloponeđơ, những con chó vện xứ Perene và những con chó kunđen giống sói xứ Hibernia, bị cố tình bỏ đói, với hai bên sườn hóp vào và những đôi mắt ngầu máu. Tiếng hú và tiếng sủa tràn ngập cả nhà hát. Sau khi kết thúc bài thánh ca, những người Thiên chúa giáo quỳ bất động, dường như đã hoá đá, chỉ lắp đi lắp lại như một dàn đồng ca rên xiết: “Pro Christo! Pro Christo!”. Lũ chó tuy cảm thấy có người trong những bộ da thú, nhưng ngạc nhiên vì sự bất động của họ, không dám lao vào họ ngay lập tức. Một số con trèo lên tường lô như muốn tới chỗ khán giả, một số con khác chạy vòng quanh, sủa inh ỏi như đang đuổi theo một con thú vô hình nào đó. Dân chúng bực mình. Hàng nghìn giọng người kêu lên, một số khán giả giả tiếng rống của súc vật, kẻ khác sủa ông ổng như chó, bọn khác nữa xuỵt chó bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ. Nhà hát ồn ào đủ mọi loại tiếng huyên náo. Lũ chó bị kích động bắt đầu lao vào những người đang quỳ gối, rồi lại lùi lại, nhe nanh; mãi đến khi một con chó khổng lồ bập răng vào cổ một người đàn bà đang quỳ ở hàng đầu và lôi đi.
Khi ấy hàng chục con lao ngay vào giữa như vượt qua lỗ thủng hàng rào. Đám đông ngừng kêu la để chăm chú nhìn. Trong tiếng chó rú và tiếng nhai rau ráu, còn nghe thấy những tiếng kêu thê thảm của đàn ông và đàn bà: “Pro Christo! Pro Christo!”, nhưng trên võ đài chỉ còn thấy một đống hỗn độn run rẩy những thân chó lẫn với thân người. Bây giờ máu phun ra như suối từ những thây người bị xé rách. Lũ chó giằng giật nhau từng cái chân tay người đẫm máu. Mùi máu và mùi ruột gan bị rách nát át hẳn những hương thơm Ả Rập, tràn ngập cả hý trường. Cuối cùng đây đó chỉ còn lại những hình người cô độc đang quỳ gối, rồi ngay tức khắc họ cũng bị một đám đông vừa hú hộc vừa di động trùm lên.
Vinixius, người đã đứng dậy vào lúc những tín đồ Thiên chúa chạy ra, và đúng như lời chàng hứa với người thợ đá, chàng quay người về phía ông Piotr đang ẩn trong đám người nhà ông Petronius, lúc này lại ngồi thụp xuống và ngồi lặng với nét mặt của một người đã chết đang giương cặp mắt thuỷ tinh không hồn nhìn cái cảnh tượng đẫm máu kia. Thoạt tiên, nỗi sợ hãi rằng người thợ đá có thể nhầm lẫn và Ligia đang ở trong đám nạn nhân kia khiến chàng mất hồn, nhưng khi chàng nghe những tiếng kêu: “Pro Christo!”, khi chàng nhìn thấy cực hình của ngần ấy nạn nhân đang chịu chết mà vẫn tuyên cáo chân lý và Đức Chúa của mình, lòng chàng tràn ngập một cảm giác khác hẳn, cũng nhói như một nỗi đau kinh khủng nhất, nhưng là một cảm giác không gạt bỏ nổi, rằng một khi Chúa Crixtux đã phải chết trong cực hình, một khi hàng nghìn con người đang chết theo Người đây kia, một khi hằng biển máu đã đổ ra, thì thêm một giọt nữa cũng chẳng nghĩa lý gì hết, và thật tội lỗi nếu cầu xin lòng từ thiện. Ý nghĩ ấy từ bãi đấu trường đến với chàng, xuyên thấu qua hồn chàng cùng với tiếng rên rỉ của những người đang hấp hối, cùng với mùi máu tươi của họ. Vậy mà chàng vẫn cầu nguyện và lắp bắp với đôi môi đã khô cong: “Hỡi Đức Chúa Crixtux, hỡi Chúa Crixtux, ngay cả vị Sứ đồ của Người cũng đang cầu nguyện cho nàng! ”. Rồi chàng mất tri giác, không còn nhớ gì nữa, chỉ cảm thấy rằng máu trên võ đài cứ nhiều lên, nhiều lên mãi, cao vồng lên, rồi chảy tràn từ hý trường ra toàn thành Roma. Chàng không nghe thấy gì hết, không nghe tiếng chó hú, không nghe tiếng người ồn ào, không nghe cả giọng của đám cận thần đột nhiên kêu to lên:
- -Lão Khilon xỉu rồi!
- -Khilon ngất rồi! - ông Petronius lặp lại và quay về phía lão già Hi Lạp.
Quả thực, lão đã ngất đi, lão ngồi đó, trắng nhợt như màu vải, đầu ngật về phía sau, mồm há hoác, trông giống hệt một thây ma.
Chính lúc ấy, người ta lại bắt đầu xô đẩy một đám nạn nhân mới, cũng bị khâu trong da thú, ra đấu trường.
Những người này cũng quỳ xuống ngay lập tức như những người trước, nhưng lũ chó mệt nhoài không còn muốn cắn xé họ nữa. Chỉ có vài con lao tới những người quỳ gần chúng nhất, những con khác nằm tại chỗ, ngước những cái mõm đẫm máu tươi lên trời, dũi dũi hai bên sườn và ngáp dài nặng nhọc.
Khi ấy, bồn chồn trong dạ, nhưng đã say máu người và điên cuồng lên, dân chúng bắt đầu gào lên bằng giọng kinh khủng:
- -Sư tử! Sư tử! Thả sư tử ra!…
Sư tử nhẽ ra được giữ lại cho những ngày sau, nhưng trong nhà hát dân chúng thường bắt tất cả mọi người, ngay cả Hoàng đế, phải tuân theo ý chí của họ. Chỉ mỗi mình Hoàng đế Kaligula táo tợn và hay thay đổi trong những cơn ham thích của y, là dám cưỡng lại, thậm chí có lần y ra lệnh dùng gậy nện vào dân chúng, nhưng thường khi y cũng vẫn chiều theo lòng dân. Nerô, kẻ mà tiếng vỗ tay hoan hô quý hơn tất cả mọi thứ trên đời, không khi nào cưỡng lại, nhất là lúc này đây, ngài càng không muốn chống đối, vì ngài đang mong vỗ về xoa dịu những đám dân chúng đang điên tiết sau vụ hoả hoạn và đang muốn trút tội gây ra thảm hoạ ấy cho những người Thiên chúa.
Ngài bèn ra hiệu cho người ta mở các gian hầm cuniculum. Thấy thế, dân chúng yên ngay tức khắc. Tiếng cửa sắt rít lên ken két, sau những song sắt đó là lũ sư tử. Nhìn thấy chúng, lũ chó dồn lại thành một đám phía bên kia vòng tròn, sủa khe khẽ, còn bọn sư tử nối nhau đi ra võ đài, to lớn, lông hoe vàng, với những cái đầu khổng lồ, lông lá xồm xoàm. Ngay cả Hoàng đế cũng quay bộ mặt chán chường của mình nhìn về phía chúng và ngài đưa viên bích ngọc lên mắt để nhìn rõ hơn. Các vị cận thần đón chào chúng bằng tiềng vỗ tay; đám đông dân chúng bấm đốt ngón tay tính số sư tử và thèm thuồng theo dõi những ấn tượng mà chúng gây ra đối với những người Thiên chúa giáo đang quỳ ở giữa vòng tròn, họ bắt đầu lặp lại những lời mà nhiều kẻ không hiểu nhưng khiến tất thẩy đều cáu bẳn: “Pro Christo! Pro Christo!”
Lũ sư tử tuy bị bỏ đói nhưng cũng không vội lao vào nạn nhân. Ánh đỏ chiếu trên đấu trường khiến chúng khó chịu, chúng nheo nheo mắt như bị chói, nhiều con lười nhác duỗi thân hình vàng hoe, những con khác ngoác mồm ngáp, dường như chúng muốn cho người xem thấy những chiếc răng nanh khủng khiếp của mình. Nhưng sau đó, mùi máu và những mảnh thây người rách tướp đang nằm ngổn ngang trên đấu trường bắt đầu tác động đến chúng. Những động tác của chúng liền trở nên nóng nảy, bờm chúng xù ra, mũi thèm thuồng hít hít không khí. Một con lao tới thây người đàn bà có cái mặt bị cào nát, quỳ hai chân trước đè lên xác chết, đưa chiếc lưỡi đầy gai lởm chởm liếm những giọt máu đông, con thứ hai tiến lại gần người đàn ông Thiên chúa giáo đang bế một đứa trẻ khâu trong da hươu non trên tay.
Đứa bé kêu khóc giãy dụa, cuống quít ôm chặt lấy cổ cha, người cha cố muốn kéo dài thêm dù chỉ giây lát thôi sự sống của con, cố giằng tay con ra khỏi cổ để đưa nó cho những người đang quỳ ở phía xa hơn. Nhưng tiếng kêu khóc và sự cử động đã kích thích con sư tử. Nó đột ngột gầm lên một tiếng cụt lủn, đứt đoạn, rồi vả một cái làm đứa bé dập nát và ngoạm đầu người cha vào cái hàm khủng khiếp của nó, cắn vỡ vụn trong một chớp mắt.
Nhìn thấy thế, tất cả những con khác liền lao vào đám người Thiên chúa giáo. Vài người phụ nữ không kìm nổi một tiếng kêu kinh hoàng, nhưng lại bị dân chúng át đi trong những tiếng vỗ tay hoan hô, rồi những tiếng vỗ tay cũng lặng đi, vì người ta muốn được nhìn ngắm cho thoả mắt. Người ta trông thấy những cảnh tượng thật kinh khủng: những cái đầu người biến mất hoàn toàn trong vực thẳm của hàm thú, những bộ ngực bị rạch dọc toang hoác bằng những nhát cào của những vuốt sắc, những trái tim buồng phổi bị dứt đứt; người ta nghe tiếng xương gẫy răng rắc trong những hàm răng. Có những con sư tử ngoạm vào sườn hoặc vào lưng nạn nhân nhảy những bước chồm chồm điên loạn lôi đi khắp đấu trường, như tìm một chỗ kín để có thể ăn thịt người. Những con khác, trong cuộc tranh giành mồi, chồm lên nhau, dùng chân ôm nhau như các đô vật và gầm vang nhà hát. Người ta đứng bật dậy. Nhiều người bỏ chỗ ngồi lần xuống những hàng ghế dưới thấp để nhìn cho rõ hơn, họ chen nhau đến chết bẹp. Tưởng như rốt cuộc cả cái đám đông đang háo hức kia sẽ lao ra đấu trường và bắt đầu cùng với lũ sư tử xé xác người. Chốc chốc lại vang lên những tiếng kêu la không còn giống tiếng người, chốc chốc lại có tiếng vỗ tay, chốc chốc lại tiếng gầm, tiếng rống, tiếng răng đập vào nhau côm cốp, tiếng hú của lũ chó, đôi khi chỉ nghe thấy những tiếng rên rỉ.
Giữ viên bích ngọc kề bên mắt, lúc này Hoàng đế đang chăm chú xem. Vẻ mặt ông Petronius toát lên sự tởm ghét và khinh bỉ. Lão Khilon đã được người ta khiêng ra khỏi hý trường từ trước.
Nhưng từ các hầm chứa người ta lại đẩy ra mỗi lúc thêm nhiều nạn nhân mới.
Sứ đồ Piotr nhìn xuống bọn họ từ hàng ghế cao nhất trong nhà hát. Không một ai nhìn ông, bởi lẽ tất cả những mái đầu đều đang nhìn xuống đấu trường, ông cứ đứng vậy, và giống như hồi nào trong trại nho của Kornelius ông ban phước trước cái chết và sự vĩnh hằng cho những người mà ông biết tên, giờ đây ông làm dấu thánh giá từ biệt những người đang hy sinh dưới nanh vuốt dã thú, máu của họ, những cực hình của họ, cùng linh hồn họ đang bay lên từ mặt cát sũng máu. Một số nạn nhân ngước mắt lên, nhìn ông, và khi ấy mặt họ rạng ngời, họ mỉm cười khi nhìn thấy trên đầu họ, tít mãi trên cao, dấu thánh giá. Còn ông đứng đó, với trái tim đau xé, thốt lên: “Hỡi Chúa! Xin ý Chúa được thực hiện, bởi đàn chiên con của tôi đang chết cho sự sáng danh của Người, để làm chứng cho chân lý! Chúa đã bảo tôi phải chăn dắt họ, vậy xin hiến Chúa, xin Người hãy đếm lấy, hãy đón lấy họ, hãy làm lành cho họ những vết thương, hãy làm dịu cho họ cơn đau, và hãy ban cho họ nhiều phước phận hơn những cực hình mà họ phải chịu nơi đây!”
Và cứ thế, ông từ biệt họ, người khác tiếp theo người khác, đám này tiếp đám khác, với tình yêu thương bao la như thể họ chính là con cái của ông mà ông trao thẳng vào tay Chúa Crixtux. Đúng lúc ấy, không hiểu vì nhớ lại hay vì muốn cho hội đấu này phải vượt xa tất thẩy những hội thi mà người ta được trông thấy ở Roma từ trước đến nay, Hoàng đế chợt thì thầm vài lời vào tai viên đô trưởng, y rời bục đi tức khắc vào hầm chứa. Và dân chúng chợt ngạc nhiên khi lại trông thấy những cánh cửa sắt mở ra lần nữa. bây giờ người ta thả ra đủ mọi loại thú dữ: hổ xứ Eufrat, báo xứ Numiđi, gấu, chó sói, linh cẩu lông vằn và lang núi. Cả đấu trường như bị bao trùm bởi một làn sóng sống động những bộ da vằn vện, vàng khè, hoe hoe bạc, đen sẫm, nâu nâu và lốm đốm. Hỗn loạn cả lên, khiến mắt người không thể phân biệt nổi cái gì, trừ một cuộc nhào lộn và chồng đống lên nhau những cái bờm dã thú. Cảnh tượng mất đi cái bề ngoài thực tại, để biến thành gần như một cuộc cuồng hoan của máu, một giấc mơ khủng khiếp, một cảnh tượng ma quái của đầu óc người điên. Quá mức rồi! Giữa những tiếng rống, tiếng gầm, tiếng sủa, từ trên các hàng ghế khán giả vang lên đây đó những tiếng cười sằng sặc điên loạn rợn người của phụ nữ, những kẻ không còn sức chịu đựng nữa. Người ta bắt đầu thấy sợ. Những bộ mặt nhăn nhúm. Nhiều giọng gào lên: “Đủ rồi! Quá đủ rồi”
Nhưng thú dữ thả thì dễ mà lùa vào thì khó. Tuy nhiên Hoàng đế cũng tìm ngay ra được cách khử chúng khỏi đấu trường, đồng thời cũng là một trò giải trí mới cho dân chúng. Giữa những hàng ghế ngồi trong tất cả các ông chợt xuất hiện những toán người Numiđi da đen, cài lông chim và đeo vòng tai, tay cầm cung. Dân chúng đoán được chuyện gì sẽ xẩy ra nên đón chào họ bằng một tràng hò la tán thưởng. Còn họ bắt đầu tiến lại gần bờ ngăn, đặt tên vào dây cung và bắn vào đám thú dữ. Quả thực, đó lại là một cảnh tượng mới. Những thân hình đen thui thon thả ngả người về phía sau, căng dây cung và bắn đi hết phát tên này đến phát tên khác. Tiếng dây bật và tiếng veo véo của những mũi tên lông vũ, hoà với tiếng rống của thú dữ và tiếng kêu thán phục của khán giả. Chó sói, gấu, hổ, báo và những người còn sống sót nằm sõng sượt cạnh nhau. Đây đó, một con sư tử cảm thấy tên cắm vào sườn, đột ngột quay phắt cái hàm nhăn nhúm lại vì điên giận để ngoạm lấy và cắn nát mũi tên. Những con thú khác rên rỉ vì đau đớn. Những loài thú nhỏ hoảng hốt chạy như mù quanh đấu trường đập đầu vào gióng sắt, trong lúc những mũi tên cứ réo lên vun vút, vun vút cho đến khi tất cả những gì còn sống đều phải nằm thẳng cẳng trong những cơn co giật dãy chết.
Khi ấy, hàng trăm nô lệ phục dịch nhà hát bèn túa ra đấu trường, mang theo mai, xẻng, chổi, cáng, sọt để đựng lòng ruột và những túm cát. Họ đua nhau tràn ra khắp vòng tròn đấu trường, ra sức làm việc. Chẳng mấy chốc người ta đã dọn sạch hết xác chết, máu và phân, đã sàng lọc, san bằng và xới lộn một lớp cát mới. Sau đó các thiên đồng rải những cánh hoa hồng, hoa huệ cùng đủ loại hoa khác. Người ta đốt những lò sông hương mới và cất bỏ tấm che trần vì mặt trời đã xuống thấp lắm rồi.
Đám đông nhìn nhau ngạc nhiên và hỏi nhau xem còn cảnh nào chờ đợi họ trong ngày hôm nay nữa hay chăng?
Và họ đã chờ đợi để xem một cảnh mà không một ai ngờ trước. Đó là Hoàng đế, ngài rời bục ngồi một thời gian, đột nhiên xuất hiện trên đấu trường rắc hoa, mặc một chiếc áo choàng màu đỏ thắm và đội vòng hoa vàng. Mười hai ca công với thi cầm trong tay xuất hiện sau lưng ngài, còn ngài, ôm chiếc đàn luýt bằng bạc, trang trọng bước từng bước ra chính giữa, cúi chào khán giả mấy lần, ngước mắt nhìn trời và cứ đứng lặng như thế một lúc như đợi chờ thi hứng.
Rồi người gẩy dây đàn và cất tiếng hát:
Hỡi người con rực rỡ của Leto
Chủ nhân xứ Kila, Khơryza,Teneđ
Chính Người vẫn là vị thần bảo trợ
Cho toà thành thiêng liêng của Ilion
Nỡ lòng nào Người ném nó cho cơn cuồng điên của người Akhip
Nỡ nào người đành lòng nhìn máu dân Tơroa
Bắn toé lên cả chiếc bàn thờ thiêng liêng
Nơi ngọn lửa thờ phụng Người hằng sáng
Đang chìa tay xin Người kia, những cánh tay run rẩy của cụ già
Hỡi vị thần có cây cung bạc
Gọi tên Người những giọng đầy nước mắt
Của mẹ hiền, từ sâu thẳm nỗi đớn đau
Van xin Người xót thương con trẻ
Lời than khóc kia khiến cả đá cũng mềm lòng
Mà Người vẫn trơ trơ hơn cả đá, hỡi Xmintei
Trước nỗi đau của con người!…
Bài ca chuyển dần thành một khúc bi thương tang tóc, chan chứa nỗi đau. Hý trường im lặng. Lát sau, chính Hoàng đế cũng xúc động, ngài cất tiếng hát tiếp:
Người có thể dùng tiếng nhạc của chiếc đàn forminga thần kỳ
Át đi lời than khóc của trái tim và tiếng kêu xé ruột
Khi đến hôm nay mắt kia còn ứa lệ,
Như giọt sương trên những đài hoa
Nghe thanh âm của bài hát thảm sầu này
Vẳng lên từ tro than và cát bụi
Của hoả hoạn, của tai ương, của ngày tuyệt diệt
- Hỡi Xmintei, người khi ấy ở nơi đâu?
Hát đến đây, giọng ngài run lên và mắt ngài nhoà lệ. Hàng mi của các ni cô đồng trinh long lanh nước mắt, dân chúng im lặng lắng nghe hồi lâu trước khi bùng lên cơn bão kéo dài không ngớt của những tiếng vỗ tay.
Trong khi đó, từ phía ngoài, qua những lối thông để ngỏ, gió đưa vào tiếng kẽo kẹt của những cỗ xe, trên đó người ta xếp lên những mảnh thây đẫm máu của các tín đồ Thiên chúa, đàn ông, đàn bà và trẻ con để chở tới những chiếc hố khủng khiếp được gọi là puticuli.
Còn ông Piotr đưa hai tay ôm ghì mái đầu bạc phơ run rẩy của mình và kêu thầm trong dạ:
“Chúa ơi! Chúa ơi! Người giao cho ai quyền sinh sát thế gian này? Phải chăng chính Người muốn dựng thủ đô của Người ở chính cái thành phố đây chăng?”
Chú thích:
(1) Peractum est! (Chú thích của tác giả)
(2) Kharon: người lái đò chở hồn qua sông Xtykx hoặc Akhêrôn ở cõi âm đến xứ sở Hadex.
(3) Kính chào, Hoàng đế quân vương.
(4) No te peto, piscem peto.
Quid me fug is, Galle (La tinh, chú thích của tác giả)
(5) La Tinh: Cao thủ.
(6) La Tinh: Gục rồi
(7) La Tinh: Đấng Crixtux ngự trị
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 57
Lúc ấy mặt trời đã ngả về tây và dường như tan chảy trong ráng chiều. Buổi biểu diễn đã kết thúc. Những đám người lần lượt nối nhau rời nhà hát qua các lối ra được gọi là vormitor nối với thành phố. Chỉ còn đám cận thần ở lại, chờ cho làn sóng người đi qua đã. Tất cả bọn họ đều rời chỗ ngồi, tụ tập chung quanh cái bục, nơi Hoàng đế lại xuất hiện để được nghe ca ngợi. Mặc dù khán giả không tiếc ngài những tràng vỗ tay sau khi bài ca kết thúc, nhưng ngài vẫn chưa lấy thế làm đủ, bởi ngài chờ đợi một nhiệt tình đến mức điên loạn kia. Giờ đây chỉ vô ích những bản tụng ca tán thưởng vang lên, chỉ vô ích đám ni cô đồng trinh xúm nhau hôn mãi bàn tay “thần thánh” của ngài, còn Rubria cúi sát đến nỗi mái đầu tóc hung hung của nàng chạm cả vào ngực ngài. Nerô không hài lòng và không giấu nổi điều đó. Đồng thời ngài ngạc nhiên và lo lắng vì ông Petronius vẫn giữ im lặng. Vào lúc này, những lời ca ngợi nào đó, nêu đúng được những ưu điểm của khúc ca, thốt từ miệng ông, sẽ là một niềm cổ vũ lớn đối với ngài. Cuối cùng, không kìm nổi, ngài gật đầu ra hiệu cho ông lại gần ngục và nói:
- Khanh hãy nói xem…
Ông Petronius đáp lạnh lùng:
- Thần im lặng bởi không tìm ra lời. Hoàng thượng đã vượt lên bản thân mình.
- Ta cũng cảm thấy như thế, nhưng sao dân chúng?…
- Liệu người có thể đòi hỏi thần dân phải hiểu biết thi ca hay chăng?
- Nghĩa là khanh cũng nhận thấy rằng chúng không cảm ơn ta như ta đáng được hưởng?
- Bởi người chọn phải một thời điểm không hay.
- Tại sao?
- Tại vì những bộ óc nhiễm đầy mùi máu không thể nào lắng nghe chăm chú được.
Nerô nắm chặt tay đáp lại:
- Ôi, cái lũ Thiên chúa giáo này! Chúng đã thiêu cả Roma, giờ lại xúc phạm đến ta. Ta biết nghĩ ra cho chúng những hình phạt gì nữa đây?
Petronius nhận thấy ông đã đi nhầm đường, những lời ông nói mang lại kết quả ngược hẳn những gì ông định đạt tới, nên muốn đánh lạc hướng sự chú ý của Hoàng đế, ông cúi lại gần Hoàng đế và thì thầm:
- Bài ca của Người thật tuyệt vời, thần chỉ xin có mỗi một điều lưu ý nhỏ thôi: trong dòng thứ tư của khổ thứ ba, âm luật còn có thể hoàn thiện hơn chút nữa.
Nerô đỏ mặt vì xấu hổ như bị bắt quả tang đang làm một việc nhục nhã, ngài hoảng hốt nhìn quanh và đáp lại cũng khẽ như thế:
- Cái gì ngươi cũng nhận ra!… Ta biết!… Ta sẽ chữa lại!… Không ai khác nhận thấy chứ? Đúng không? Còn ngươi, nói có tình yêu kính các thần, chớ nói cho ai cả… nếu như… như ngươi còn muốn sống.
Nghe thấy thế, ông Petronius nhíu mày đáp lại, dường như ông bùng nổ vì chán ngán và bất bình:
- Tâu Thánh thượng, người có thể bắt thần phải chết, nếu thần làm phiền Người, nhưng xin đừng đem cái chết doạ thần, bởi các thần linh biết rõ thần có sợ tử thần hay chăng.
Vừa nói, ông vừa nhìn thẳng vào mắt Hoàng đế, còn ngài, lát sau mới đáp lại:
- Khanh đừng giận… Khanh biết là ta yêu khanh.
“Dấu hiệu không lành” - ông Petronius nghĩ.
- Ta định mời các ngươi dự tiệc hôm nay, - Nerô nói tiếp, - nhưng ta thà đóng cửa để chau chuốt cái dòng thơ khốn kiếp của khổ thứ ba kia còn hơn. Trừ ngươi ra lỗi của ta còn có thể bị cả Xeneka nhận ra, mà cũng có thể là cả Xekunđux Karynax nữa, nhưng ta sẽ trị chúng ngay bây giờ.
Nói đoạn, ngài cho gọi ông Xeneka và bảo ông rằng, ngài ra lệnh cho ông cùng Akratux và Xekunđux Karynax đi Italia, đến tất cả các tỉnh trấn để thu tiền, số tiền mà ngài lệnh cho phải thu từ các thành phố, các làng quê, các thần miếu danh tiếng, nói tóm lại, từ tất cả những nơi nào có thể tìm được và bóp nặn được. Nhưng hiểu rằng người ta giao cho mình công việc của một kẻ bóp nặn, một kẻ phạm thánh và một tên ăn cướp, ông Xeneka bèn từ chối:
- Tâu Hoàng thượng, thần phải trở về thôn quê, - ông nói. - và ở đó chờ cái chết đến, bởi lẽ thần già rồi, thần kinh thần có bệnh.
Thần kinh xứ Iber của ông Xeneka còn mạnh hơn của lão Khilon, không thể có bệnh được, nhưng sức khoẻ của ông nói chung là yếu, trông ông như một chiếc bóng, và chỉ trong thời gian gần đây, đầu ông đã hoàn toàn bạc trắng.
Nerô nhìn ông và nghĩ rằng quả thực rất có thể thần chết chẳng phải chờ đợi ông lâu nữa, ngài bèn nói:
- Ta không muốn khanh phải nhọc nhằn đường xá khi khanh đau yếu, nhưng vì tình mến yêu đối với khanh, ta muốn khanh ở gần ta, vậy thì thay vì đi về thôn quê, khanh hãy đóng cửa ở tại nhà và sẽ không phải rời khỏi nhà nữa.
Rồi ngài cả cười và bảo:
- Nếu ta chỉ phái Akratux và Karynax đi thì chẳng khác nào phái chó sói đi tìm cừu. Ta biết đặt ai chỉ huy hai người này nhỉ?
- Xin hãy cử thần, tâu Hoàng thượng! - Đomixius Apherơ nói.
- Không, ta không muốn thần Merkury giận La Mã, người mà các ngươi sẽ xúc phạm đến bằng sự đánh cắp của các ngươi. Ta cần một người khắc kỷ nào đó như Xeneka hay như người bạn mới của ta, nhà triết học Khilon đây.
Nói xong ngài nhìn quanh và bảo:
- Lão Khilon ra sao rồi nhỉ?
Sau khi đã tỉnh lại trong không khí mát mẻ, lão Khilon đã quay vào nhà hát nghe bài ca của Hoàng đế, lão bèn tiến ra và nói:
- Thần đây, hỡi bào thai toả sáng của vầng thái dương và chị Hằng! Thần bị mệt, nhưng tiếng hát của Hoàng thượng đã khiến thần khoẻ lại
- Ta phái ngươi đi Akhai, - Nerô bảo, - Ngươi phải biết rõ từng xu có trong mỗi thần miếu.
- Xin hãy làm việc ấy, hỡi thần Zeux, các vị thần sẽ nộp cho Người một khoản tiền thuế mà họ chưa từng nộp cho ai nhiều đến thế.
- Ta cũng muốn thế, nhưng lại không nỡ tước mất của ngươi cảnh tượng hội đấu.
- Hỡi Baan!… Lão Khilon thốt lên.
Đám cận thần vui mừng vì Hoàng đế đã phần nào vui vẻ, họ cười to và nói:
- Chớ, chớ, tâu Hoàng thượng! Xin chớ tước mất của con người Hi Lạp can trường này những cảnh tượng của hội đấu.
- Nhưng xin Người hãy tước đi hộ thần cảnh tượng những con ngỗng Kapiton hay kêu mà bộ óc của chúng có gom lại cũng chẳng đầy nổi một chiếc đĩa tí xíu. - Khilon đáp lại. - Hỡi vị con đầu của thần Apolon, thần sẽ xin viết một khúc thiều ca bằng tiếng Hi Lạp để dâng lên Người, và vì vậy thần muốn được rảnh rỗi vài ngày đến thần miếu của các thi thần để cầu xin thi hứng.
- Ồ không! - Nerô kêu lên,- Ngươi muốn chuồn khỏi những buổi diễn sắp tới. Không được đâu!
- Tâu Hoàng thượng, thần xin thề là đang viết thiều ca!
- Vậy ngươi sẽ viết nó ban đêm. Hãy cầu xin Điana ban cho ngươi cảm hứng, nữ thần là chị ruột của Apolon mà.
Lão Khilon cúi gục đầu, căm tức nhìn những người có mặt, họ lại phá lên cười. Hoàng đế quay sang phía Xenexion và Xuiliux Nerulinux nói:
- Các ngươi hãy hình dung xem, ngày hôm nay chúng ta chỉ giải quyết được một nửa số tín đồ Thiên chúa dự định mà thôi.
Nghe thấy thế, ông lão Akvilux Regulux, một người rất thành thạo về những việc có liên quan tới nhà hát liền lên tiếng:
- Những buổi biểu diễn của những người sine armis et sine arte(1) kéo dài gần như nhau, nhưng ít hấp dẫn hơn.
- Ta sẽ ra lệnh cấp khí giới cho chúng.- Nerô đáp.
Song lão Vertynux mê tín chợt choàng tỉnh khỏi những điều suy tư và hỏi với giọng đầy bí mật:
- Các người có thấy rằng bọn chúng nhìn thấy một cái gì đó trước khi chết không? Chúng nhìn lên trời và chịu chết như không hề đau đớn. Tôi chắc bọn chúng phải trông thấy một thứ gì…
Nói đoạn lão ngước mắt nhìn lên lỗ trống của nhà hát, nơi nàng đêm đã kéo tấm velarium dầy đặc những vì sao của mình che phủ. Song những người khác chỉ cười cợt và đáp lại bằng những giả định chế giễu về những gì mà tín đồ Thiên chúa nhìn thấy trong giờ phút lâm chung. Lúc ấy Hoàng đế ra hiệu cho đám nô lệ cầm đuốc, rồi ngài rời khỏi nhà hát, theo sau là các ni cô đồng trinh, nguyên lão, quan chức và cận thần.
Đêm sáng sủa và ấm áp. Trước cửa hý trường hãy còn tụ tập những đám người muốn ngắm cảnh Hoàng đế ra về, nhưng họ trầm mặc và nín lặng. Đây đó nổi lên vài tiếng vỗ tay nhưng lại tắt ngay. Từ spolarium, những cỗ xe kêu cót két vẫn chở mãi chở mãi những mảnh thây đẫm máu của các tín đồ Thiên chúa.
Ông Petronius và Vinixius đi trong im lặng. Mãi đến gần biệt thự, ông Petronius mới hỏi:
- Anh đã suy nghĩ về điều cậu nói với anh chưa?
- Thưa đã, - Vinixius đáp
- Không biết anh có tin rằng giờ đây ngay cả đối với cậu điều ấy cũng là vấn đề quan trọng bậc nhất? Cậu phải giải thoát cho nàng bằng được, ngược với ý muốn của Hoàng đế và Tygelinux. Đó như một trận chiến đấu mà cậu muốn chiếm bằng được thắng lợi, đó như một trò chơi mà cậu muốn được cuộc, dù phải trả bằng mạng sống…Ngày hôm nay càng khiến cậu quyết tâm hơn.
- Cầu Chúa Crixtux đền đáp cho cậu!
- Rồi anh sẽ thấy.
Vừa trò chuyện như thế họ vừa dừng lại trước cổng biệt thự và bước xuống kiệu. Chính vào lúc ấy, một bóng đen tiến lại gần họ hỏi:
- Đây có phải ngài Vinixius cao quý hay chăng?
- Phải. - Chàng hộ dân quan đáp - Ngươi muốn gì?
- Tôi là Nazarius, con trai bà Miriam, tôi từ nhà ngục đến mang cho ngài tin tức nàng Ligia.
Vinixius đặt tay lên vai thằng bé và trong ánh đuốc chàng nhìn mãi vào mắt nó, không thể thốt nổi một lời, song Nazarius liền đoán ngay được câu hỏi đã hình thành trên môi chàng và đáp:
- Cho tới nay nàng vẫn còn sống. Bác Urxux phái tôi đến gặp ngài để thưa với ngài rằng trong cơn sốt nóng nàng vẫn hằng cầu nguyện và gọi tên ngài.
Vinixius trả lời:
- Ngợi ca Chúa Crixtux, người sẽ có thể trả nàng về với ta.
Rồi chàng đưa Nazarius vào thư viện. Lát sau ông Petronius cũng tới để được nghe câu chuyện của họ.
- Bệnh tình đã cứu nàng thoát điều nhục nhã, bởi bọn đao phủ sợ lây. - cậu bé nói. - Ngày và đêm, bác Urxux cùng thầy thuốc Glaukox thức canh cho nàng.
- Bọn canh ngục vẫn là bọn cũ chứ?
- Vâng, thưa ngài, nàng đang ở trong phòng của bọn chúng. Những người tù sống trong hố giam đều bị chết cả vì sốt nóng hoặc ngạt thở.
- Ngươi là ai? - ông Petronius hỏi.
- Ngài Vinixius tôn kính biết cháu. Cháu là con trai bà goá mà nàng Ligia từng ở nhờ.
- Và là tín đồ Thiên chúa?
Cậu bé nhìn Vinixius dò hỏi, nhưng thấy lúc này chàng đang cầu nguyện, bèn ngẩng đầu và nói:
- Thưa vâng.
- Làm sao ngươi lại được tự do vào nhà ngục?
- Thưa ngài, cháu được thuê mang thây những người chết ra ngoài, cháu cố tình làm việc ấy để có thể lui tới giúp đỡ những người anh em của cháu, mang đến cho họ những tin tức ngoài phố.
Ông Petronius bắt đầu ngắm chăm chú hơn khuôn mặt dễ thương của cậu bé, đôi mắt xanh thẳm và làn tóc đen huyền rất dầy của cậu, rồi ông hỏi:
- Hỡi tiểu đồng, cháu từ đất nước nào tới đây vậy?
- Cháu người Galilei, thưa ngài.
- Thế cháu có muốn Ligia được tự do không?
Cậu bé ngước mắt nhìn lên:
- Dù cho ngay sau đó cháu phải chết cũng cam lòng.
Khi ấy Vinixius thôi cầu nguyện, chàng nói:
- Em hãy nói với bọn gác ngục đặt nàng vào quan tài như đã chết. Em hãy chọn thêm người giúp sức, đêm đến họ sẽ cùng với em khiêng nàng ra. Ở gần những Hố Thối em sẽ gặp những người mang kiệu chờ sẵn và hãy đưa áo quan cho họ. Hãy nhân danh ta hứa với bọn canh ngục rằng ta sẽ cho chúng số vàng đủ cho mỗi tên mang đầy một chiếc áo choàng.
Khi nói thế, mặt chàng mất đi vẻ thiếu sinh khí thường có, người lính trong chàng tỉnh thức, được niềm hi vọng trả lại nghị lực thuở trước.
Còn cậu bé Nazarius tươi hơn hớn vì vui, cậu vươn cả hai tay kêu lên:
- Cầu Đức Chúa Crixtux khiến nàng khoẻ lại, vì nàng sẽ được tự do.
- Cháu nghĩ rằng bọn canh ngục sẽ đồng ý à? - ông Petronius hỏi.
- Bọn chúng ư, thưa ngài? Chúng chỉ cần biết rằng sẽ không bị trừng phạt và nhục hình là đủ.
- Đúng thế! - Vinixius nói. - Bọn canh ngục muốn đồng ý ngay cả với chuyện để nàng chạy trốn, chắc chắn chúng càng dễ cho phép mang nàng ra như một kẻ đã chết rồi.
- Thực ra cũng có một người, - Nazarius nói - chuyên dùng sắt nung đỏ để kiểm tra xem những xác mà chúng cháu mang ra đã chết hay chưa. Nhưng hắn chỉ cần vài đồng xexterxi là đủ để không áp sắt nóng vào mặt người chết. Và chỉ cần một đồng aureux hắn sẽ chỉ chạm vào áo quan chứ không chạm vào xác.
- Cháu hãy nói với hắn rằng hắn sẽ nhận được đầy một tráp những đồng aureux. - ông Petronius bảo. -Nhưng liệu cháu có biết chọn những người giúp việc tin cẩn không?
- Cháu sẽ chọn được những kẻ vì tiền có thể bán ngay cả vợ con.
- Cháu sẽ tìm bọn chúng ở đâu?
- Ngay trong nhà ngục hoặc ngoài thành phố ạ. Bọn lính canh, một khi được trả tiền, sẽ đưa vào bất kỳ người nào cháu muốn.
- Vậy em hãy đưa ta vào như một kẻ làm thuê. - Vinixius nói.
Nhưng ông Petronius cả quyết can chàng đừng làm việc ấy. Bọn lính cấm vệ có thể nhận mặt chàng, dù chàng có cải trang đi nữa, và thế là sẽ hỏng mọi sự. “Không được đến nhà ngục, cũng không được tới Hố Thối - ông nói - Cần làm sao để tất cả bọn chúng, cả Hoàng đế lẫn Tygelinux, tin rằng cô gái chết thực, nếu không bọn chúng sẽ ra lệnh truy lùng ngay lập tức. Chúng ta chỉ có thể không gây nghi ngờ bằng cách ở lại Roma trong khi những người khác đưa nàng vào núi Anban, hoặc xa hơn nữa, đến tận Xyxilia. Một hoặc hai tuần sau đó, anh sẽ lâm bệnh và cho mời ngự y của Nerô, hắn sẽ khuyên anh nên đi lên núi nghỉ. Khi ấy, anh chị sẽ được gặp nhau, còn sau đó…”
Đến đây, ông suy nghĩ một lúc rồi khoát tay và bảo:
- Sau đó sẽ có thể là thời khác rồi.
- Cầu Đức Chúa Crixtux rủ lòng thương nàng, - Vinixius nói, - vì trong khi cậu nói tới Xyxilia thì nàng đang ốm nặng và có thể chết mất.
- Vậy thì chúng ta sẽ để nàng ở gần hơn. Chỉ cần chúng ta đưa được nàng thoát khỏi nhà ngục, thì ngay cả không khí cũng đủ chữa nàng khỏi bệnh. Anh không có đâu đó trong núi một tá điền đủ tin cẩn hay sao?
- Đúng rồi! Có! Đúng rồi! - Vinixius vội đáp. - Ở gần Coriola, trong núi có một người tâm phúc đã từng bế cháu trên tay khi cháu hãy còn là đứa trẻ, người ấy cho đến nay vẫn thương yêu cháu.
Ông Petronius đưa cho chàng tấm bảng con.
- Anh hãy viết cho ông ấy và bảo ông ấy ngày mai có mặt ở đây. Cậu sẽ phái người chạy giấy đi tức khắc.
Nói đoạn ông gọi viên nô lệ cai quản gian chính sảnh và ra cho anh ta những mệnh lệnh thích hợp. Vài phút sau, một nô lệ phi ngựa trong đêm đến Coriola.
- Cháu muốn bác Urxux đưa nàng cùng đi. - Vinixius nói- Cháu sẽ cảm thấy yên lòng hơn.
- Thưa ngài, - Nazarius nói - đó là một người sức khoẻ phi thường, bác ấy có thể bẻ gẫy chấn song sắt và trốn ra đi cùng nàng. Có một cửa sổ không có lính canh bên dưới, ở trên một bức tường cao, dựng đứng. Cháu sẽ mang cho bác Urxux một cuộn dây, còn lại bác ấy sẽ tự lo liệu được.
- Thề có Herkulex! - ông Petronius lên tiếng - Nếu bác ta thích, cứ để bác ta vượt ngục, nhưng đừng có cùng với Ligia hoặc sau nàng hai ba ngày, vì bọn chúng sẽ lần theo bác ta và sẽ phát hiện ra nơi ẩn náu của nàng. Thề có Herkulex! Các người muốn làm mất mạng cả nàng lẫn bản thân phải không? Ta cấm các người không được nói gì với bác ta về Coriola, nếu không ta mặc các người đấy.
Cả hai đều thừa nhận điều ông nói có lý và cùng nín lặng. Rồi Nazarius từ biệt, hứa là sáng sớm mai sẽ tới.
Cậu bé định ngay tối nay sẽ thu xếp với bọn canh ngục, nhưng trước đó cậu muốn rẽ vào thăm mẹ, người mẹ không phút nào yên lòng vì con trong cái thời buổi phấp phỏng và khủng khiếp này. Sau khi suy nghĩ, cậu quyết định sẽ không tìm người trong phố làm kẻ trợ thủ, mà sẽ mua chuộc một trong những người vẫn cùng cậu mang tử thi ra khỏi nhà ngục.
Nhưng ngay trước khi rời bước, cậu bé còn dừng lại, kéo Vinixius ra một bên thì thầm cùng chàng:
- Thưa ngài, tôi sẽ không hé cho một ai ngay cả mẹ tôi biết việc này, nhưng ông Piotr hứa rằng từ nhà hát sẽ đến nhà chúng tôi, và tôi sẽ thưa cùng ông tất cả.
- Trong nhà này em có thể cứ nói to. - Vinixius bảo. - Ông Piotr có mặt trong nhà hát cùng với người nhà ngài Petronius. Mà ta sẽ cùng đi với em.
Rồi chàng ra lệnh mang cho mình một chiếc áo choàng nô lệ, cả hai ra đi.
Ông Petronius thở một hơi dài.
“Ta từng mong sao - ông nghĩ thầm - cô bé chết vì cơn sốt nóng ấy cho rồi, vì đối với Vinixius cách ấy còn ít khủng khiếp hơn. Nhưng giờ thì ta lại sẵn sàng hiến dâng Expulap chiếc giá ba chân bằng vàng ròng để đổi lấy cho nàng sức khoẻ… Ôi, hỡi ngươi, Ahenobarbux, ngươi muốn đem nỗi đau của một người yêu ra làm cảnh kịch!Hỡi người, Augusta, đầu tiên ngươi ghen với sắc đẹp của thiếu nữ, giờ ngươi lại muốn nhai sống nuốt tươi nàng, vì thằng bé Rufiux của ngươi đã thiệt mạng… Còn ngươi, Tygelinux, ngươi muốn giết nàng vì căm ghét ta!… Để rồi xem! Ta nói các ngươi hay rằng mắt các ngươi sẽ không được nhìn thấy nàng trên bãi đấu trường đâu, vì hoặc là nàng sẽ chết cái chết tự nhiên, hoặc ta sẽ giật nàng khỏi tay các ngươi như giật ra khỏi hàm lũ chó… Và ta sẽ giật nàng ra mà các ngươi không hề hay biết, để sau đó hễ cứ nhìn các ngươi là ta lại tự nghĩ thầm: đó là lũ xuẩn mà Petronius đã chơi cho một vố.”
Và hài lòng với bản thân, ông bước sang phòng tiệc, cùng với nàng Eunixe ngồi vào bữa tối. Trong thời gian đó, viên xướng đọc ngâm những bài mục ca của Teokryt. Ngoài sân gió dồn mây từ phía núi Xorakte và một cơn giông bất thần khuấy động sự bình lặng của đêm hè yên ả. Chốc chốc, sấm lại rền vang trên bảy ngọn đồi, còn họ, nằm bên nhau cạnh bàn, nghe thơ thôn dã, người bằng thổ ngữ Đoryx đang du dương ca hát về tình yêu của chàng mục đồng, rồi sau đó, khi đã thoả mãn rồi, họ chuẩn bị để bước vào một giấc ngủ ngọt ngào.
Tuy nhiên, trước đó Vinixius lại quay về. Biết chàng về, ông Petronius đến phòng chàng và hỏi:
- Sao?… Các anh có thực hiện được điều gì mới nữa chăng và Nazarius đã vào nhà ngục chưa?
- Vâng, - chàng trai vừa nói vừa vuốt làn tóc ướt đẫm nước mưa, - Nazarius đã đi thu xếp với bọn canh ngục, còn cháu, cháu được gặp ông Piotr, Người bảo cháu hãy cầu nguyện và tin tưởng.
- Hay lắm! Nếu tất cả đều xuôi chiều, đêm mai có thể mang được nàng ra…
- Người tá điền và gia nhân sẽ có mặt lúc rạng sáng.
- Đường ngắn thôi mà. Anh đi nghỉ đi.
Nhưng Vinixius quỳ gối trong buồng ngủ của chàng và bắt đầu cầu nguyện.
Vào lúc mặt trời mọc, người tá điền Niger từ vùng gần Coriola đã đến, và theo lời dặn của Vinixius, ông mang theo mấy con la, một chiếc kiệu và bốn người tin cẩn được lựa chọn trong số những nô lệ Brytania, những người này ông đã sáng suốt để lại nhà trọ tại khu Xubura.
Thức chờ suốt đêm, Vinixius bước ra đón họ; người tá điền cảm động khi nhìn thấy cậu chủ, hôn tay và mắt chàng rồi hỏi:
- Thưa cậu chủ, cậu bị ốm hay những lo phiền đã hút kiệt máu ở gò má cậu, vì thoạt nhìn tôi không thể nhận nổi ra cậu?
Vinixius đưa ông vào hàng cột bên trong, được gọi là ksystum, và ở đó chàng cho ông hay điều bí mật. Ông Niger chăm chú lắng nghe và trên nét mặt khoẻ mạnh, dãi dầu nắng gió của ông có thể nhận thấy một niềm xúc cảm lớn lao mà ông không thể kìm giữ nổi.
- Vậy ra nàng là tín đồ Thiên chúa giáo? - ông kêu lên.
Và ông nhìn vào mặt Vinixius với cái nhìn dò hỏi, chàng hiểu ngay điều mà mắt người nông phu muốn hỏi, chàng bèn đáp:
- Và cả ta nữa cũng là tín đồ Thiên chúa…
Mắt ông Niger ràn rụa lệ; ông nín lặng hồi lâu, rồi vươn cả hai tay lên trời, ông nói:
- Ôi, cảm ơn Người, hỡi Chúa Crixtux, Người đã tháo bỏ màng che cho những đôi mắt thân yêu nhất trên đời của con!
Rồi ông ôm lấy đầu Vinixius khóc nức lên vì sung sướng và hôn lên trán chàng.
Lát sau ông Petronius bước đến, dẫn theo cậu bé Nazarius.
- Những tin tốt lành! - Ông kêu lên từ xa
Quả thực toàn tin tốt lành. Trước hết ông Glaukox thầy thuốc cam đoan rằng Ligia sẽ sống, cho dù nàng cũng bị mắc căn bệnh sốt nóng nhà ngục, căn bệnh đã khiến cho hàng trăm người chết mỗi ngày trong nhà tù Tulianum cũng như các nhà tù khác. Còn nếu nói về bọn canh ngục và người kiểm tra xác thực cái chết của tù nhân bằng sắt nung đỏ, thì không hề có khó khăn gì. Người trợ thủ tên là Altyx, cũng đã đồng ý.
- Chúng cháu đã khoét nhiều lỗ trong áo quan để người ốm có thể thở được. - Nazarius nói. - Toàn bộ nguy hiểm là ở chỗ làm sao nàng đừng rên rỉ hoặc đừng lên tiếng lúc chúng cháu đi ngang qua gần bọn lính cấm vệ. Nhưng nàng yếu lắm và sáng nay nàng nằm, mắt nhắm nghiền. Thêm nữa ông Glaukox sẽ cho nàng một liều thuốc ngủ mà ông tự tay điều chế từ những thứ thuốc cháu mang ngoài thành phố vào. Nắp áo quan sẽ không đóng đinh. Các ngài sẽ dễ dàng nhấc nó lên và đưa người ốm sang kiệu, còn chúng cháu sẽ đặt vào quan tài một túi cát dài mà các ngài nhớ chuẩn bị sẵn cho.
Nghe những lời ấy, Vinixius tái nhợt mặt mày, nhưng chàng vẫn lắng nghe với sự chú ý hết mức, đến nỗi dường như chàng đoán trước từng lời Nazarius sẽ nói.
- Người ta có mang những xác chết nào khác ra khỏi ngục không? - ông Petronius hỏi.
- Đêm hôm qua có khoảng hai mươi người chết, từ giờ đến chiều còn chết độ mươi người nữa, - cậu bé đáp, - chúng cháu sẽ phải đi cùng với một toán người khác, nhưng cháu sẽ tìm cách lần chần để rớt lại đằng sau. Đến chỗ ngoặt đầu tiên, người bạn cháu sẽ cố tình đi khập khiễng. Bằng cách ấy sẽ tụt lại sau những người khác rất xa. Các ngài hãy chờ cạnh cái miếu nhỏ thờ Libityna. Chỉ mong sao Chúa cho đêm thật tối trời vào.
- Chúa sẽ ban cho, - Ông Niger nói. - Chiều qua sáng trời, nhưng rồi đột nhiên lại có giông. Hôm nay cũng đẹp trời nhưng ngay từ sáng sớm đã nóng bức. Bây giờ đêm thường có mưa và giông.
- Các người đi có mang theo đèn đuốc gì không? - Vinixius hỏi.
- Người ta chỉ mang đuốc đi dẫn đầu thôi. Dù sao cũng xin các ngài có mặt gần miếu Libityna ngay từ lúc trời tối, mặc dù thường thường phải trước nửa đêm chúng tôi mới khiêng xác chết ra.
Họ cùng im lặng, chỉ nghe thấy nhịp thở dồn dập của Vinixius.
Ông Petronius quay sang chàng.
- Hôm qua cậu bảo rằng tốt nhất cả hai ta đều nên ở lại nhà, - ông nói, - nhưng giờ cậu thấy rằng ngay cả cậu cũng khó lòng mà ngồi yên được… Mà nói thật ra, giá như đây là một cuộc chạy trốn thì ta phải giữ mình thật cẩn thận, nhưng một khi nàng được mang ra như kẻ đã chết rồi, thì có lẽ không có kẻ nào nẩy ra ý nghi ngờ đâu nhỉ.
- Vâng! Vâng! - Vinixius đáp. - Cháu phải có mặt ở đó. Chính cháu sẽ nhấc nàng ra khỏi áo quan.
- Còn khi nàng đã đến được nhà tôi gần Coriola, tôi sẽ chịu trách nhiệm về nàng. - ông Niger nói.
Cuộc chuyện trò kết thúc ở đó. Ông Niger đến quán trọ với những người nhà ông. Nazarius mang chiếc tráp đựng vàng dưới áo tunica quay trở lại nhà ngục. Đối với chàng Vinixius, bắt đầu một ngày đầy lo lắng, nóng ruột, sợ hãi và chờ đợi.
- Việc tất phải thành công vì đã được cân nhắc kỹ - ông Petronius bảo chàng - Không thể nào sắp đặt mọi việc tốt hơn được nữa. Anh sẽ phải đóng vai một người sầu não mặc áo toga mầu thẫm vào. Nhưng đừng có bỏ các hý trường. Cứ để cho chúng thấy mặt anh… Mọi chuyện đều được suy tính kỹ lưỡng cả rồi, không thể nào hụt được. Này, nhưng anh có hoàn toàn tin chắc gã tá điền của anh không thế?
- Đó là một tín đồ Thiên chúa. - Vinixius đáp
Ông Petronius nhìn chàng kinh ngạc, rồi ông nhún vai và nói như với riêng mình:
- Thề có Ponlukx! Thế mà nó vẫn cứ lan rộng! Nó vẫn giữ được lòng người!… Bị đe doạ đến thế này thì người ta đã từ bỏ ngay tất cả các vị thần linh La Mã, Hi Lạp, Ai Cập! Thật là kỳ lạ!… Thề có Ponlukx!… Giá mình tin rằng trên đời này có một thứ gì lệ thuộc vào các vị thần của chúng ta, ngay lúc này mình sẽ hứa hiến cho mỗi vị sáu con bò đực màu trắng, riêng Jupiter Kapiton mười hai con…Nhưng anh cũng đừng có tiếc lời hứa với Chúa Crixtux của anh nhé.
- Cháu đã dâng cho Người linh hồn của cháu. - Vinixius đáp.
Và họ chia tay. Ông Petronius quay trở lại phòng ngủ. Còn Vinixius ra đi để đứng từ xa nhìn nhà ngục, rồi từ đó chàng đi tới tận sườn đồi Vatykan, đến cái lều của người thợ đá, nơi chàng được chính tay đức Sứ đồ rửa tội. Chàng cảm thấy như chính tại ngôi nhà này Chúa Crixtux sẽ chóng nghe thấu lời chàng hơn bất cứ nơi nào khác, nên khi tìm ra, chàng liền lăn ra đất, dồn tất cả sức mạnh tâm linh đang đau đớn của mình vào sự cầu nguyện xin tình yêu thương, chàng tập trung cầu nguyện đến nỗi quên bẵng mình đang ở đâu và đang có chuyện gì xảy ra với chàng.
Đến chiều, chàng chợt bừng tỉnh nhờ tiếng kèn vọng từ hý trường Nerô đến. Chàng bèn bước ra khỏi lều nhìn quanh với đôi mắt như vừa tỉnh giấc mơ. Thế gian nồng nực và yên tĩnh, chỉ thỉnh thoảng mới bị khuấy động bởi tiếng chuông và tiếng côn trùng rên rỉ triền miên. Không khí trở nên oi bức, bầu trời trên thành phố hãy còn xanh thẳm, nhưng phía núi Xabin đã tụ về những đám mây đen thấp ngang đường chân trời.
Vinixius quay về nhà. Ông Petronius đang chờ chàng trong gian chính sảnh thông thiên.
- Cậu vừa ở trên Palatyn. - ông bảo. - Cậu cố tình ló mặt ra ở đó, thậm chí cậu còn ngồi vào bàn chơi mạt chược nữa. Tối nay ở nhà Annixius có tiệc, cậu nói là chúng ta sẽ tới, nhưng mãi nửa đêm kia, vì trước đó cậu còn phải ngủ đã. Cậu sẽ có mặt, và giá cả anh cũng đến được thì tốt quá.
- Có tin gì từ ông Niger hoặc từ Nazarius không ạ? - Vinixius hỏi.
- Không. Đến nửa đêm chúng ta mới gặp họ. Anh có để ý là sắp có giông không?
- Có ạ.
- Ngày mai sẽ là cảnh đóng đinh tín đồ lên thập ác, nhưng có thể mưa sẽ làm hoãn lại chăng?
Nói đoạn, ông lại gần, chạm tay vào vai Vinixius và nói:
- Nhưng anh sẽ không thấy nàng trên cây thập tự đâu, mà ở Coriola kia. Thề có Kaxtor! Dẫu có đánh đổi lấy tất cả những viên ngọc chạm của La Mã, cậu cũng không muốn bỏ qua giây phút chúng mình giải phóng cho nàng. Gần tối rồi…
Buổi tối đang xích lại, bóng đêm bắt đầu trùm lên thành phố sớm hơn thường lệ, vì mây đen đang bao phủ toàn bộ đường chân trời. Khi đêm đến, trời đổ một trận mưa lớn, nước bốc hơi từ những tảng đá bị hun nóng ban ngày khiến những đường phố tràn ngập một làn sương mờ. Rồi sau đó lúc tạnh, lúc lại có những cơn mưa ngắn.
- Ta hãy nhanh chân lên thôi, - cuối cùng Vinixius nói, - do có mưa có thể người ta sẽ mang xác chết ra khỏi nhà ngục sớm hơn.
- Đến lúc rồi! - ông Petronius đáp.
Và khoác những manh áo choàng kiểu Gan có mũ trùm đầu, họ đi qua cổng nhỏ ở vườn để ra phố. Ông Petronius vẫn mang theo chiếc dao ngắn kiểu La Mã, được gọi là sica mà bao giờ ông cũng có bên mình trong những chuyến đi đêm.
Vì cơn giông, thành phố vắng teo. Thỉnh thoảng chớp loé sáng rạch nát những đám mây, soi sáng những bức tường vừa mới dựng, những ngôi nhà vừa xây xong, và những phiến đá lát đường ướt đẫm. Trong ánh chớp, sau một thôi đường dài, mãi rồi họ cũng trông thấy một gò đất, trên đó là cái miếu bé nhỏ thờ nữ thần Libityna, bên gò là một toán la và ngựa.
- Niger! - Vinixius gọi khẽ.
- Tôi đây, thưa cậu. - một giọng nói cất lên trong mưa.
- Sẵn sàng cả chưa?
- Rồi ạ, cậu thân yêu! Trời vừa tối là chúng tôi đã có mặt ngay. Nhưng cậu và ông hãy ẩn xuống dưới hào chứ không thì ướt hết mất. Giông quá đi mất! Tôi đồ chừng sẽ có mưa đá nữa đấy.
Quả thực nỗi lo của ông Niger trở thành hiện thực, vì một lúc sau trời bắt đầu trút mưa đá, thoạt tiên là những mẩu nhỏ, sau mỗi lúc một to và dày hơn. Không khí lạnh ngắt ngay lập tức.
Họ đứng dưới hào ẩn tránh gió và những viên đạn băng giá, thấp giọng trò chuyện.
- Dù ai trông thấy chúng ta, - ông Niger nói, - thì họ cũng chẳng nghi ngờ gì, nom chúng ta giống như một đám người chờ cho qua cơn giông vậy. Nhưng tôi lo không hiểu người ta có hoãn việc mang xác chết ra không?
- Mưa đá chẳng kéo dài đâu. - ông Petronius bảo- Chúng ta phải chờ, dù là cho tới sáng.
Họ chờ đợi, lắng nghe xem có tiếng của toán người đang đến không. Mưa đá ngừng, nhưng sau đó tiếp liền một trận mưa rào ào ạt. Chốc chốc, gió lại lặng đi, và từ phía Hố Thối bốc lên mùi thây người đang rã hôi kinh khủng, những cái thây mà người ta chôn quá nông và sơ sài.
Đột nhiên ông Niger nói:
- Tôi thấy có ánh lửa qua màn sương mù… Một, hai, ba… Đuốc rồi!
Và ông quay lại phía người của ông:
- Coi chừng không là lại kêu đấy!
- Họ đến kìa! - ông Petronius nói.
Ánh sáng mỗi lúc một hiện rõ hơn. Lát sau đã có thể phân biệt được những ngọn đuốc đang chao đảo trong gió.
Ông Niger bắt đầu làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Trong khi đó, đám ma thê lương kia kéo tới mỗi lúc một gần và rốt cuộc đi qua ngang trước mặt miếu thờ Libityna thì dừng lại. Ông Petronius, Vinixius và ông Niger im lặng nép vào gò, không hiểu thế có nghĩa là thế nào. Nhưng bọn kia chỉ dừng lại để dùng giẻ bịt mũi và miệng tránh mùi hôi thối, mà ngay sát cạnh các hố puticuli thì quả không tài nào chịu nổi, rồi họ lại mang những chiếc cáng có tử thi đi tiếp.
Chỉ có một chiếc quan tài dừng lại đối diện với thần miếu.
Vinixius nhẩy ngay lại, sau chàng là ông Petronius, Niger và hai nô lệ Brytania khênh kiệu.
Song trước khi họ đến nơi, trong bóng tối đã nghe giọng nói đầy đau đớn của Nazarius:
- Thưa ngài, chúng nó chuyển nàng và bác Urxux đến nhà ngục Exquilin mất rồi… Chúng cháu khiêng một cái xác khác! Chúng nó bắt nàng đi trước lúc nửa đêm.
Quay về nhà, ông Petronius âu sầu như cơn mưa và thậm chí không buồn an ủi Vinixius nữa. Ông hiểu rằng không thể mơ tới chuyện cứu Ligia thoát khỏi nhà ngục Exquilin ngầm dưới đất. Ông đoán rằng bọn chúng đưa nàng rời Tulianum để nàng không bị chết vì bệnh sốt nóng và để nàng không thể tránh khỏi cái nhà hát đã dành cho nàng. Nhưng đó lại chính là bằng chứng cho thấy chúng canh giữ và coi chừng nàng kỹ càng hơn những người khác. Ông Petronius thương Vinixius đến tận đáy lòng, nhưng ngoài ra, ông còn bị ám ảnh bởi ý nghĩ: lần đầu tiên trong đời ông gặp một cái gì đó không thành công, lần đầu tiên ông bị thất bại.
“Hình như thần tài Fortuna rời bỏ ta rồi - ông tự nhủ - nhưng các vị thần nhầm đấy nếu nghĩ rằng ta chịu sống một cuộc sống như hắn ta”
Nghĩ đến đây, ông nhìn sang Vinixius, chàng cũng đang nhìn ông với đôi đồng tử nở rộng.
- Anh làm sao thế? Anh bị sốt chăng? - ông Petronius hỏi.
Chàng đáp lại bằng một giọng nói lạ lùng, gẫy khúc và chậm chạp, như tiếng một đứa trẻ ốm:
- Nhưng cháu vẫn tin rằng Người sẽ mang nàng về cho cháu.
Tiếng sấm cuối cùng của cơn giông lặng đi trên thành phố.
Chú thích:
(1) La tinh: Không có vũ khí và không có nghệ thuật
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 58
Trận mưa ba ngày liền, hiện tượng ngoại lệ ở Roma trong mùa hè, cũng như cơn mưa đá trái với quy luật của thiên nhiên, không chỉ giáng xuống ban ngày hay chiều tối mà thậm chí vào lúc nửa đêm, đã làm gián đoạn các buổi biểu diễn. Dân chúng bắt đầu lo sợ. Người ta tiên đoán mất mùa nho và khi mà một buổi chiều kia, sét đánh cháy pho tượng đồng của nữ thần Xerera trên đồi Kapiton, người ta bèn dâng lễ vật trong thần miều Jupiter Xanvator. Các tăng lữ thờ nữ thần Xerera loan tin rằng cơn giận của các vị thần linh trút xuống trừng phạt thành phố vì việc trừng phạt quá muộn màng những người Thiên Chúa giáo, thế là đám đông dân chúng lại bắt đầu đòi hỏi để được tiếp tục các hội thi đấu, bất kể cả thời tiết và niềm vui tràn ngập cả thành Roma khi rốt cuộc người ta loan báo rằng các cuộc ludus sẽ lại tiếp tục sau ba ngày tạm hoãn.
Trong khi đó thời tiết lại đẹp. Từ sáng đến đêm nhà hát đầy nhong nhóc hàng nghìn người, ngay cả hoàng đế cũng đến sớm, cùng các ni cô đồng trinh và triều thần. Buổi biểu diễn được bắt đầu bằng cuộc chiến đấu giữa những người Thiên Chúa với nhau, họ được mặc giáp làm các đấu sĩ và được cung cấp loại vũ khí mà các kiếm thủ thường sử dụng để tấn công hoặc phòng thủ. Nhưng người ta đã thất vọng. Các tín đồ Thiên Chúa ném hết lưới, chúc giáo và gươm xuống mặt cát, thậm chí họ còn ôm chặt lấy nhau và cứ ôm nhau như thể bất chấp cả cực hình và cái chết. Khi ấy, công chúng bị xúc phạm sâu sắc và cực kỳ phẫn nộ. Người thì trách họ cố tình không muốn đánh nhau vì căm thù dân chúng và để tước đoạt niềm vui mà những cảnh tượng biểu thị lòng can trường thường đem đến cho mọi người. Cuối cùng, theo lệnh của hoàng đế, người ta cho các đấu sĩ thực thụ đánh vào bọn họ, bọn này trong nháy mắt đã giết sạch đám người không có vũ khí đang quỳ gối.
Nhưng sau khi dọn sạch xác chết, buổi diễn thôi không còn là cuộc đấu nữa mà biến thành một chuỗi những cảnh tượng thần thoại theo sáng kiến của chính hoàng đế. Người ta được nhìn thấy cảnh Herkulex bị thiêu sống tên núi Oeta. Vinixius rùng mình khi nghĩ rằng người ta có thể bắt bác Urxux đóng vai Herkulex, nhưng rõ ràng là chưa tới lượt người nô bộc trung thành của nàng Ligia, vì trên dàn hỏa là một tín đồ Thiên Chúa giáo khác, hoàn toàn xa lạ với Vinixius, bị thiêu cháy. Ngược lại, ở cảnh tiếp theo, lão Khilon - người mà hoàng đế không muốn tha cho việc có mặt trong buổi biểu diễn - lại được gặp những người quen. Người ta trình diễn cái chết của Đeđan và Ikar(1). Trong vai Đeđan là ông lão Euryxius, cụ già mà hồi nào đã vẽ cho lão Khilon hình con cá, còn trong vai Ikar là cậu Quartux, con trai của cụ. Cả hai được một cái máy đặc biệt nhấc lên cao, sau đó người ta bất thần buông họ từ cái độ cao kinh người ấy xuống đấu trường. Cậu Quartux rơi xuống sát gần bục ngồi của hoàng đế đến nỗi máu không những chỉ bắn tóe lên những vật trang sức bên ngoài mà còn lên cả chỗ tựa trải lụa tía. Lão Khikon không nhìn thấy lúc rơi vì lão nhắm nghiền mắt lại, lão chỉ nghe tiếp thân người đập xuống trầm đục, rồi lát sau khi nhìn thấy máu ở ngay cạnh mình, lão suýt ngất đi lần nữa. Nhưng những cảnh diễn thay đổi nhanh lắm. Nhục hình ghê tởm của các trinh nữ bị làm nhục bởi bọn đấu sĩ mặc giả thú vật như làm vui lòng đám đông. Người ta được nhìn thấy các nữ tu sĩ Kibela và Xerera, thấy những nàng tiên Đanaiđa, thấy nàng Đirrxe và Paxifae, cuối cùng thấy cả những thiếu nữ chưa kịp lớn bị lũ ngựa hoang giằng xé. Dân chúng vỗ tay hoan hô những ý tưởng mỗi lúc một mới của hoàng đế, ngài sung sướng vì những ý tưởng đó thỏa mãn với những tràng vỗ tay nên không lúc nào ngài rời viên bích ngọc ra khỏi mắt, say ngắm những thân thể trắng nõn nã bị sắt xé rách nát cùng những cơn co giật trước khi chết của các nạn nhân. Người ta cũng trình diễn cả những cảnh tượng trích trong lịch sử thanh đô. Sau các trinh nữ, người ta thấy được Muxius Xevôla, một tay bị buộc chặt vào chiếc giá ba chân có lửa, khiến nhà hát tràn ngập mùi thịt bị cháy khét lẹt, nhưng cũng giống như Xevôla thật, nạn nhân vẫn đứng yên không hề rên rỉ, mắt người nhìn lên với những lời cầu nguyện lầm rầm trên đôi môi tím tái. Sau khi gỡ ông ra và kéo thây vào nhà xác, người ta nghỉ giải lao vào giữa trưa như lệ thường trong các buổi biểu diễn. Hoàng đế cùng các ni cô đồng trinh và đám cận thần rời nhà hát đến một cái lều màu đỏ thắm khổng lồ được cố ý dựng lên, trong đó đã chuẩn bị sẵn cho ngài và khách một bữa điểm tâm tuyệt diệu. Phần lớn đám công chúng cũng theo gương ngài rút ra bên ngoài, chia thành nhiều nhóm đủ màu sắc cạnh lều để cho tứ chi được nghỉ ngơi sau khi bị tê cứng suốt một hồi lâu ngồi xem, đồng thơi dùng các món ăn mà nhờ ơn hoàng đế lũ nô lệ mang đi phân phát rất dồi dào. Chỉ có những kẻ tò mò nhất, sau khi rời ghế ngồi liền bước xuống đấu trường, và vừa chạm tay vào lớp cát đẫm máu hãy còn đang dinh dính, họ vừa ra vẻ thành thạo hoặc say lê tán tụng về những gì vừa diễn ra và những gì sắp tới nữa. Tuy nhiên chẳng mấy chốc cả những vị lắm mồm này cũng bước ra ngoài để không trễ mất bữa tiệt, chỉ còn vài người đứng lại, không phải vì tò mò mà vì đồng cảm với các nạn nhân.
Những người này ẩn trong các lô hoặc những chỗ thấp, trong khi đó người ta san phẳng lại bãi đấu trường và bắt đầu đào những cái hố liền nhau thành hàng khắp cả bãi, từ mép này đến mép kia, hàng cuối cùng chỉ cách bục ngồi của hoàng đế hơn chục bước. Từ phía bên ngoài hý trường vọng vào tiếng người ồn ào tiếng kêu và tiếng hoan hô, còn bên trong người ta vội vã chuẩn bị cho một khổ hình mới. Ngay sau đó người ta mở các hố nhốt người và từ tất cả các cửa thông ra mở các hố nhốt người và từ tất cả các cửa thông ra đấu trường, người ta bắt đầu lùa ra những đám tín đồ Thiên Chúa, trần truồng, vác những cây thập ác trên vai. Họ đứng đầy cả nhà hát. Những cụ già còng lưng dưới trọng lượng các dầm gỗ, bên cạnh đó là những đàn ông tráng niên, những phụ nữ xõa tóc cố che đi sự trần truồng của thân mình, những cậu thiết niên đang lớn và những em bé còn rất nhỏ tuổi. Đa phần các thập ác cũng như những nạn nhân đều được cài hoa. Đám phục dịch trong nhà hát không tiếc sức dùng roi bắt họ phải đặt cọc vào những cái hố đào sẵn và đứng thành hàng vào sát chân cột. Bằng cách này sẽ được chết, những người nào đầu tiên của hội đấu chưa kịp bị người ta đẩy vào mồm sư tử và các loài dã thú. Bây giờ đến lượt các nô lệ da đen túm lấy họ đặt nằm ngửa lên gỗ, bắt đầu đóng tay họ vào gióng ngang, hăng hái và nhanh nhẹn đến nỗi dân chúng hết giải lao quay trở vào thấy các cây thập tự phần lớn đã được dựng lên. Cả nhà hát ầm vang tiếng búa, tiếng búa vang đến những hàng ghế cao nhất và vang cả ra quảng trường vây quanh nhà hát, vang vào lều nơi hoàng đế đang thù tiếp các ni cô đồng trinh và đám bạn hữu của ngài. Nơi đó người ta nốc rượu nho, châm chọc lão Khilon và thì thầm những lời kỳ dị vào tai các ni cô đồng trinh của nữ thần Vexta, còn trên bãi đấu trường, công việc sục sôi, những chiếc đinh đóng phầm phập vào tay và chân các tín đồ Thiên Chúa, những lưỡi xẻng xoàm xoạp xúc đất lấp vào đầy hố đặt cọc
Trong những nạn nhân đang chờ đến lượt có cả ông Kryxpux. Lũ sư tử không đủ thì giờ để cắn xé ông, người ta bèn dành cho ông cây thập ác, còn ông vốn sẵn sàng chờ chết nên sung sướng nghĩ rằng giờ phút của ông đã điểm. Hôm nay trông ông khác hẳn, vì cái thân thể khô khẳng của ông đã bị lột truồng hoàn toàn, chỉ còn một dải dây thưỡng xuân quấn quanh háng ông, đầu ông đội một vòng hoa hồng. Nhưng trong ánh mắt ông cũng vẫn ánh lên cái nghị lực không bao giờ cạn kiệt, mặt ông vẫn là khuôn mặt khắc nghiệt và cuồng tín, nhô ra dưới vòng hoa. Trái tim ông cũng không hề thay đổi, vì giống như hôm nào trong hầm chứa ông đã từng mang cơn thịnh nộ của Chúa ra đe dọa những người anh em bị khâu vào da thú, thì hôm nay ông cũng khủng bố họ, thay vì động viên.
- Các người hãy tạ ơn Đấng Cứu Thế - Ông nói - Vì Người đã cho phép các ngươi được chết cái chết như Người. Có thể một phần tội lỗi các người vì thế sẽ được bỏ qua, tuy nhiên các ngươi hãy run lên đi, vì công lý được thực hiện và không thể có cùng một phần thưởng như nhau cho những kẻ xấu cũng như người tốt.
Lời của ông được tiếng búa đóng đinh vào tay chân các nạn nhân họa theo. Mỗi lúc một thêm nhiều cây thập tự được dựng lên trên đấu trường, còn ông quay về phía đám đông những người còn đang đứng bên cây gỗ của mình nói tiếp:
- Ta thấy bầu trời đang rộng mở, nhưng ta cũng thấy mở rộng cả vực thẳm…Ta cũng không biết sẽ thưa cùng Chúa ra sao đây về cuộc đới ta, mặc dù ta vẫn hằng tin, vẫn hằng căm thù sự ác, ta không sợ cái chết, mà là sự phục sinh, không sợ cực hình mà là tòa phán xét, vì ngày giận dữ đã tới rồi.
Khi đó, từ những hàng ghế gần đó chợt vang lên tiếng của ai đó bình tĩnh mà trang trọng:
- Không phải ngày thịnh nộ mà là ngày nhân ái, ngày giải thoát và phước lành, bởi ta nói cùng các anh em rằng Chúa Crixtux khao khát anh em, an ủi anh em và đặt anh em ngồi bên phải Người. Anh em hãy tin rằng bầu trời sẽ rộng mở đón anh em.
Nghe những lời ấy mọi cặp mắt đều quay lại phía những hàng ghế, ngay cả những người đã bị treo lên thập ác cũng ngẩng những gương mặt tái nhợt mệt mỏi nhìn về phía người đang nói.
Người ấy tiến lại cái vách ngăn vây quanh đấu trường và làm dấu thánh giá từ giã họ.
Ông Kryxpux giơ tay về phía người kia dường như định đeo dọa, nhưng thấy mặt người ấy, ông bỏ ngay tay xuống, rồi hai đầu gối ông sụp xuống, miệng ông thì thào:
- Đức Sứ Đồ Paven!...
Trước sự ngạc nhiên của đám phục dịch hý trường, tất cả mọi người chưa bị đóng đanh câu rút đều quỳ gối, ông Paven xứ Tarxu hướng về phía ông Kryxpux và nói:
- Kryxpux, ông đừng dọa họ, vì ngày hôm nay họ sẽ cùng ông lên thiên đường. Ông nghĩ rằng họ sẽ bị phê phán sao? ai sẽ phê phán họ? Chẳng lẽ Đức Chúa, người dâng cho họ chính con mình, lại làm việc đó chăng? Chẳng lẽ Chúa Crixtux, người đã chết để chuộc tội cho họ, giống như họ đang chịu chết vì sáng danh Người, lại làm thế chăng? Làm sao Người đang yêu thương lại có thể chê trách? Ai sẽ buộc tội kẻ mà Chúa lựa chọn? Ai sẽ dám gọi máu này là "đáng nguyền rủa"?
- Thưa cha, tôi căm thù sự dữ - Vị thầy già đáp.
- Chúa Crixtux dạy yêu thương con người hơn là căm thù sự ác, vì giáo thuyết của Chúa là tình yêu, chứ không phải là lòng căm thù.
- Tôi đã phạm tội trong giờ lâm chung - Ông Kryxpux nói.
Rồi đấm tay vào ngực.
Lúc đó người quản hàng ghế tiến lại gần đức Sứ Đồ hỏi:
- Người là ai mà nói chuyện với bọn tội nhân?
- Công dân La Mã - Ông Paven bình thản đáp.
Rồi quay lại phía ông Kryxpux, ông nói:
- Ông hãy tin, vì đây là ân phước và hãy chết bình yêu, hỡi tôi đòi của Chúa.
Hai người da đen lúc này đến gần ông Kryxpux để đặt ông nằm lên cây gỗ, nhưng ông còn nhìn quanh và kêu lên:
- Hỡi các anh em của tôi, xin hãy cầu nguyện cho tôi!
Và nét mặt ông mất đi vẻ khắc nghiệt thường ngày, những đường nét bằng đá mang vẻ thanh tĩnh và ngọt ngào. Tự ông dang tay ra dọc theo xà ngang của thập tự để giúp công việc thêm phần dễ dàng, mắt ông nhìn thẳng lên trời, ông bắt đầu nhiệt thành cầu nguyện. Dường như ông không cảm thấy gì nữa, vì khi những chiếc đinh xuyên sâu vào tay ông, thân thể ông không đau đớn, ông cầu nguyện tiếp khi người ta đóng đinh chân ông, ông vẫn cầu nguyện khi người ta dựng cây thập tự lên và lèn đất chung quanh gốc. Mãi tới khi những đám đông cười nói la hét bắt đầu tràn vào nhà hát, thì đôi lông mày của cụ già ấy mới nhíu lại như giận rằng dân ngoại đạo đã làm náo động sự im lặng và thanh tĩnh của cái chết ngọt ngào.
Nhưng trước đó người ta dựng hết các thập tự lên khiến cho đấu trường trông như một khu rừng có người trên cây. Ánh mặt trời chiếu lên các gióng ngang của thập tự và xuống đầu những kẻ tử vì đạo, còn trên mặt đấu trường hình thành những cái bóng trông như những đường ô vuông rắc rối, giữa những đường kẻ đó sáng lên màu cát vàng. Đó là cảnh diễn, trong đó đối với dân chúng toàn bộ nỗi khoái lạc là được ngắm nhìn một cái chết từ từ, chậm chạp. Nhưng cho tới nay chưa bao giờ người ta được thấy một rừng dầy đặc thập tự như thế. Những cây thập tự lèn chặt đấu trường đến nỗi đám phục dịch vất vả lắm mới có thể len đi giữa các cột. Ngoài cùng phần lớn là phụ nữ, nhưng ông Kryxpux được coi là cầm đầu nên được dựng ngay trước bục ngồi của hoàng đế trên một cây thập tự khổng lồ, phía dưới có quấn dây leo. Chưa có ai trong số các nạn nhận bị chết, nhưng một vài người trong số bị đóng đinh trước nhất đã ngất đi. Không một ai rên rỉ và kêu xin. Một số người ngả đầu sang vai hoặc gục đầu xuống ngực dường như đang ngủ, một số người như đang suy tư, những người khác nhìn lên trời, môi khẽ động đậy. Trong khu rừng thập tự kinh khủng này, trong những người thân bị đóng đinh căng ra ấy, trong sự câm lặng của các nạn nhân, có một cái gì thật dữ dội. No nê và phè phỡn sau bữa tiệc, dân chúng bước vào hý trường với những tiếng kêu la, nhưng họ chợt lặng đi không biết nên dừng mắt ở thân người nào và không biết nên nghĩ gì. Sự trần truồng của những thân hình đàn bà bị căng ra không còn kích thích giác quan của dân chúng nữa. Người ta thậm chí không đánh cuộc với nhau như thường lệ xem người nào sẽ chết trước nhất, việc mà người ta vẫn làm khi trên đấu trường có một số lượng tội nhân. Hình như ngay cả hoàng đế cũng chán ngán, vì người quay đầu, bằng cử chỉ biếng nhác chữa lại chuỗi hạt quanh cổ, vẻ mặt ngái ngủ và uể oải.
Chính lúc đó ông Kryxpux đang bị treo trước mặt ngài, người vừa nãy mắt nhắm nghiền như một kẻ đã bị ngất hay chết rồi, chợt mở bừng mắt và nhìn xói vào hoàng đế.
Mặt ông lại mang vẻ không khoan nhượng, mắt ông cháy ngời ánh lửa, khiến cho đám cận thần bắt đầu thì thào và dùng tay trỏ ông, cuối cùng cả hoàng đế cũng chú ý tới ông và nặng nhọc đưa viên bích ngọc lên mắt.
Im lặng hoàn toàn. Mắt khán giả dán chặt vào người ông Kryxpux, người đang cố gắng động đậy tay phải như muốn nhổ bật nó ra khỏi mặt gỗ.
Ngực ông phồng lên, những chiếc xương sườn nhô ra, ông thét lớn:
- Thằng giết mẹ! Đáng thương cho mày!
Nghe thấy lời chửi rủa ghê gớm ném thẳng vào mặt vị chúa tể thế gian trước mặt đám đông, công chúng hàng nghìn người, các vị cận thần không dám thở nữa. Lão Khilon như chết lặng. Hoàng đế run lên, buôn rơi viên bích ngọc khỏi tay.
Dân chúng cũng nín thở. Giọng ông Kryxpux vang rền mỗi lúc một mạnh mẽ, tràn ngập cả nhà hát:
- Đáng thương cho mày, đồ giết vợ và em, đang thương cho mày, hỡi kẻ chống Chúa! Vực thẳm khốn cùng đang mở dưới chân mày, thần chết đang chìa tay bắt mày, nấm mộ đang đợi mày kia. Thương thay cho mày, hỡi cái thây đang sống, vì mày sẽ phải chịu chết trong nỗi hãi hùng và sẽ bị đời nguyền rủa!...
Và không thể rứt nối tay bị đóng đinh vào thân gỗ, ông gắng hết sức căng người ra, một thân hình khủng khiếp, ngay từ lúc ống cũng đã giống một bộ xương, không khoan nhượng như định mệnh, ông rung rung bộ râu bạc phơ phía trên bục Nerô ngồi và lắc lác mái đầu làm rụng những cánh hoa hồng từ cái vòng hoa mà người ta khoác vào sọ ông.
- Thương thay cho mày, hỡi kẻ giết người kia! Mày đã quá mức rồi, giờ chết của mày đang tiến gần!...
Đến đây ông gồng người lên một lần nữa, suốt một hồi lâu người ta ngỡ rằng ông sẽ rứt được bàn tay ra khỏi cây thập tự và sẽ dữ tơn vung nó lên trên đầu hoàng đế, nhưng đột nhiên hai cánh tay gầy guộc của ông dài ra, thân mình ông dồn xuống phía dưới, đầu ông gục xuống ngực và ông qua đời.
Trong khu rừng những cây thập tự, những người yếu sức hoan cũng bắt đầu giấc ngủ vĩnh hằng.
Chú thích:
(1) Theo truyền thuyết thì Đeđan bay được từ đảo Cret đến đảo Xyxilia, nhưng trong các nhà hát La Mã ông cũng bị chết như Ikar.
CHƯƠNG 59
Tâu hoàng thượng - lão Khilon nói - lúc này biến giống như dầu ô lia và song dường như đang ngủ…Ta hãy đi Akhai! Nơi ấy đang chờ hoàng thượng, niềm vinh quang của Apoplon, nơi ấy đang chờ hoàng thượng những vòng chiến thắng, khúc khải hoàn, nơi ấy chúng dân ngưỡng mộ người như một vị thần, còn các vị thần sẽ tiếp đón người như một vị khách sánh ngang cùng họ, còn nơi đây, tâu hoàng thượng….
Nhưng lão chợt ngừng lời, bởi môi dưới của lão bắt đầu run rẩy đến nỗi những lời lão nói biến thành những thanh âm không hiểu nổi.
- Chúng ra sẽ đi sau khi kết thúc hội thi - Nerô đáp - Ta biết rằng đã có nhiều kẻ gọi bọn Thiên Chúa giáo là innoxia corpora(1). Nếu ta đi nữa thì tất cả mọi người đều lặp lại tên gọi đó. Ngươi sợ gì hả đồ nấm thối kia?
Nói thế, ngài nhíu mày, những bắt đầu nhìn lão Khilon bằng cái nhìn dò hỏi như đang chờ ở lão một lời giải thích, vì thực ra ngài chỉ giả vờ bình tĩnh mà thôi. Trong buổi diễn gần đây, chính ngài cũng sợ những lời ông Kryxpux và khi quay về nhà, ngài không sao ngủ được vì căm tức và xấu hổ, đồng thời còn vì sợ nữa. Khi ấy, lão Vextynux mê tín, kẻ vẫn lặng lẽ nghe câu chuyện của họ, bèn nhìn quanh và nói với một giọng bí mật:
- Xin người hãy nghe lão già này, tâu hoàng thượng: Ở bọn Thiên Chúa giáo có cái gì đó thật lạ lùng…Chúa của chúng cho chúng được chết nhẹ nhàng, nhưng cũng rất có thể hay trả thù.
Nerô bèn đáp vội vàng:
- Không phải ta bày ra các cuộc thi đấu. Tygelinux đấy chứ!
- Vâng! Chính hạ thần - Tygelinux đáp lại kho nghe thấy câu trả lời của hoàng đế - Chính thần và thần dám cười mỉa tất cả các vị thần linh Thiên Chúa. Tâu hoàng thượng, Vextynux chỉ còn là một cái bong bóng chứa đầy những chuyện mê tín, còn người Hy Lạp ca trường này sẵn sàng chết vì hãi khi trông thấy một ả gà mái xù lông bảo vệ lũ gà con.
- Được rồi - Nerô nói - Nhưng ngươi hãy ra lệnh cắt lưỡi hoặc bịt miệng bọn Thiên Chúa lại kể từ nay trở đi nghe chưa.
- Lão sẽ bịt miệng chúng lại, tâu thánh thượng.
- Thương thay thân ta chưa! - Lão Khilon rên lên.
Nhưng hoàng đế được lòng tự tin ngạo mạn của Tygelinux cổ vũ, đã cất tiếng cười và vừa trỏ tay vào lão già Hy Lạp và nói:
- Các ngươi nhìn kìa, hậu duệ của chàng Asinlex đấy!
- Quả tình, nom lão Khilon thật khủng khiếp. Những sợi tóc lơ thơ còn sót lại trên sọ lão trắng phớ cả ra, mặt lão mang một nỗi lo sợ, hãi hùng và dằn vặt vô biên nào đó. Nhiều lúc nom lão như người mất hồn. Lão thường không trả lời câu hỏi, nhưng cũng thường nổi giận và trở nên táo tợn, vì thế đám cận thần thấy tốt nhất là không nên chọc lão làm gì.
Lúc này cũng mà một lúc như thế.
- Các người muốn làm gì tôi cũng được, nhưng tôi sẽ không đi dự hội thi nữa đâu! - Lão tuyệt vọng kêu lên, gõ gõ những ngón tay vào nhau.
Nerô nhìn lão hồi lâu rồi quay sang Tygelinux, ngài bảo:
- Ngươi hãy làm sao để lúc ở trong vườn, gã khắc kỷ này đứng gần ta. Ta muốn được thấy những ấn tượng mà các ngọn đuốc của chúng ta gây ra đối với gã.
Tuy nổi đóa nhưng lão Khilon chợt run sợ trước mối đe dọa rung lên trong giọng nói của hoàng đế.
- Tâu hoàng thượng - Lão nói - Thần sẽ không thấy gì cả, vì ban đêm chàng không nhìn được.
Hoàng đế đáp lại với một nụ cười đáng sợ:
- Đêm sẽ sáng như ban ngày.
Rồi ngài quay sang các cận thần khác và bắt đầu trò chuyện với họ về những cuộc đua mà ngài định tổ chức vào cuối hội thi.
Ông Petronius lại gần lão Khilon và chạm vào vai lão, ông nói:
- Ta đã báo trước mà! Ngươi không chịu nổi.
Lão trả lời:
- Tôi muốn uống thật say…
Rồi lão chìa tay run rẩy mấy một cốc rượu nho, nhưng không sao đưa nổi lên miệng, nhìn thấy thế Vextynux giằng lấy cái cốc, rồi len qua sát gần, y hỏi với vẻ mặt háo hức và hãi hùng:
- Các thần Furie theo đuổi lão hả? Sao?...
Lão già há hốc miệng nhìn y hồi lâu dường như không hiểu câu hỏi, rồi hấp háy mắt.
Vextynux lặp lại:
- Furie theo đuổi lão phải không?
- Không - Khilon đáp - Nhưng trước mặt tôi là đêm tối.
- Sao lại đêm?...Cầu các thần rủ lòng thương ngươi! Sao lại là đêm?
- Đêm tối kinh khủng và đen đặc, trong đó có cái gì đó cục cựa, có cái gì đó đang tiến lại phía tôi. Tôi không rõ là cái gì và tôi sợ.
- Bao giờ tôi cũng tin chắc rằng đó là bọn phù thủy. Lão có mơ thấy gì không?
- Không, bởi tôi không ngủ. Nhưng tôi đâu có biết rằng người ta trừng trị họ đến mức đó.
- Lão có thương họ không?
- Tại sao các người lại làm đổ ngần kia máu? Ông có nghe ông già ấy nói từ trên cây thập tự không? Đáng thương cho chúng ta!
- Tôi có nghe - Vextynux đáp khẽ - Nhưng đó là bọn đốt nhà kia mà.
- Không đúng!
- Bọn thù địch của loài người.
- Không đúng!
- Bọn đánh thuộc độc nước uống.
- Không đúng!
- Và bọn giết chóc trẻ em...
- Không đúng!
- Sao lại thế? - Vextynux ngạc nhiên hỏi - Chính lão nói thế và nộp bọn họ cho Tygelinux kia mà!
- Vì thế đêm tối mới vây quanh tôi và thần chết đang tới cùng tôi... Đôi khi tôi ngỡ như tôi đã chết rồi, cả các người cũng thế.
- Không! Bọn chúng chết, còn chúng ta đang sống. Nhưng lão hãy nói cho tôi hay: Khi chết bọn chúng trông thấy gì thế?
- Chúa Crixtux...
- Đó là vị thần của chúng à? Thần ấy có mạnh không?
Song lão Khilon đáp lại cũng bằng một câu hỏi:
- Những ngọn đuốc mà người ta sẽ đốt trong vườn là thế nào vậy? Ông có nghe hoàng thượng vừa nói không?
- Có nghe và tôi biết. Người ta gọi như thế là sarmenticil và semaxil(2)… Người ta mặc cho họ những chiếc áo tunica tẩm nhựa, buộc vào cột và châm lửa... Cầu sao vị thần của bọn họ đừng trút lên thành phố tai họa gì khác...Semaxil! Đó là một hình phạt khủng khiếp.
- Tôi thà thấy cảnh ấy còn hơn, vì sẽ không có máu - Lão Khilon đáp - Ông hãy bảo thằng nô lệ nào đó đưa cốc lên môi hộ tôi với. Tôi muốn uống, nhưng cứ làm đồ rượu nho, bởi tay tôi run rẩy vì tuổi tác...
Trong lúc đó, những người khác cũng đang trò chuyện về người Thiên Chúa giáo. Lão già Đomixius Afer chế nhạo họ:
- Chúng nó nhiều đến nỗi - Lão nói - Có thể gây ra nội chiến đấy, các ông có nhớ đã từng có người sợ rằng chúng sẽ chống cự chăng? Thế mà chũng nó chịu chết như những con cừu.
- Chúng cứ thử cách khác mà xem! - Tygelinux nói:
Nghe thấy thế ông Petroniux liền lên tiếng:
- Các vị nhầm rồi. Bọn họ vẫn chống cự.
- Bằng cách nào kia?
- Bằng sự nhẫn nại.
- Cách mới nhỉ!
- Dĩ nhiên. Nhưng liệu các vị có thể nói rằng bọn họ chết như những tên tội phạm bình thường? Không! Họ chết cứ như tội phạm chính là những kẻ đã khiến họ phải chết, đó là chúng ta và toàn thể dân chúng Roma.
- Nói gì bậy bạ thế! - Tygelinux kêu lên.
- Hic abdera(3) - Ông Petronius đáp lại.
Nhưng những người khác bị tác động bởi sự chính xác trong điều nhận xét của ông bắt đầu kinh ngạc nhìn nhau và lặp lại:
- Đúng rồi! Có cái gì khác lạ và ngược đời trong cái chết của họ.
- Tôi đã bảo các ông rằng họ nhìn thấy vị thần của mình mà! - Vextynux đứng bên cạnh kêu lên.
Vài vị cận thần quay lại phía lão Khilon:
- Này, lão già, ngươi hiểu rõ bọn họ, hãy nói chúng ta biết xem bọn họ nhìn thấy gì?
Lão Hy Lạp nhổ toẹt ngụm rượu nho ra áo tunica đáp lại:
- Sự phục sinh!...
Và lão bắt đấu run lên, khiến cho những vị khách ngồi cạnh phải phá lên cười.
Chú thích:
(1) Latinh: Đám người vô lại
(2) Latinh: Quấn dây leo và trói vào cột
(3) Thành ngữ Latinh có nghĩa: Đây là thằng ngốc nhất trong những thằng ngốc (chú thích của tác giả).
CHƯƠNG 60
Đã mấy ngày nay Vinixius qua đêm không về nhà. Ông Petronius nghĩ rằng có thể chàng lại đang vạch một kế hoạch mới để giải thoát Ligia khỏi nhà ngục Exquilin, nhưng ông không muốn hỏi chàng điều gì để khỏi mang chuyện chẳng hay đến cho kế hoạch của chàng. Dưới một khía cạnh nào đấy, con người hoài nghi quý phái này cũng đã trở nên mê tín, hay nói đúng hơn, kể từ khi ông không thành công trong việc cứu cô gái ra khỏi ngục Mamertyn ngầm dưới đất, ông không còn tin vào ngôi sao chiếu mạng của mình nữa.
Giờ đây ông cũng không tin những công cuộc của Vinixius sẽ đem lại kết quả tốt đẹp. Nhà ngục Exquilin mà người ta lập ra nhanh chóng từ tầng hầm của những ngôi nhà đã bị phá sập để ngăn lửa, không đến nỗi kinh khủng như ngục Tulianum gần đồi Kapiton, ngược lại được canh phòng trăm lần cẩn mật hơn. Ông Petronius hiểu rất rõ rằng người ta chuyển Ligia đến đấy cốt để nàng thoát chết vì bệnh mà sẽ không tránh được phải ra nhà hát, ông dễ dàng hiểu chính vì thế người ta sẽ phải canh giữ nàng như con ngươi trong mắt(1).
"Rõ ràng - ông tự nhủ - Hoàng đế cùng Tygelinux định dùng nàng cho một buổi diễn đặc biệt nào đó, kinh khủng hơn tất cả các buổi, và Vinixius sẽ mất mạng trước khi cứu được nàng ra".
Thực ra Vinixius cũng đã mất hi vọng cứu được nàng. Giờ đây chỉ mỗi mình Chúa Crixtux có thể làm nổi điều đó. Chàng hộ dân quan trẻ tuổi chỉ muốn tìm cách vào thăm nàng trong nhà ngục mà thôi.
Từ một lúc nào đấy chàng cứ vẩn vơ mãi với cái ý nghĩ là Nazarius vào được nhà ngục Mamertyn làm người chuyên chở xác chết thuê, chàng quyết định sẽ thử theo hướng này.
Bị mua chuộc bởi một số tiền rất lớn, viên quản các Hố Thối rốt cuộc cũng nhận chàng vào danh sách các thuộc hạ mà đêm đêm hắn phái vào các nhà ngục chuyên chở xác chết. Nỗi nguy hiểm của việc Vinixius bị nhận mặt thực ra rất nhỏ. Chàng được che chở bởi đêm tối, bộ quần áo nô lệ và điều kiện chiếu sáng rất kém trong nhà ngục. Vả chăng kẻ nào rỗi hơi nghĩ tới chuyện một vị quý tộc, cháu con của các vị chấp chính quan tối cao lại có thể xuất hiện trong đám phu mộ, chịu hít thở hơi hôi hám của các nhà ngục và các Hố Thối, chịu nhận một việc làm mà thường khi chỉ có kiếp nô lệ và cảnh bần hàn cùng cực mới đẩy người ta vào.
Còn chàng, khi buổi tối mong ngóng đã tới, chàng sung sướng che ngang háng và bịt đầu bằng một mảnh dẻ hôi hám có tẩm dầu thông, rồi với trái tim đập dập dồn, chàng đi cùng một toán người đến Exquilin.
Bọn lính cấm vệ canh gác không hề cản trở, vì tất cả mọi người đều có một loại thẻ thích hợp được viên xenturion xem xét trong ánh đèn. Lát sau, những cánh cửa sắt khổng lồ mở ra trước họ, và họ bước vào.
Vinixius trông thấy trước mặt một tầng hầm rộng có trần, từ đó thông sang một loạt hầm khác. Những chiếc đèn cầy le lói soi bên trong đầy nghẹt những người là người. Một số người nằm sát tường, chìm đắm trong giấc ngủ hoặc cũng có thể đã chết rồi. Những người khác vây quanh một chiếc thùng to đựng nước đặt ở chính giữa, họ uống như những người đang bị cơn sốt hành hạ; những kẻ nữa ngồi ngay trên mặt đất, cùi chỏ chống gồi, đầu đỡ trong hai lòng bàn tay; đây đó lũ trẻ con đang ngủ, nép vào người mẹ. Chung quanh nghe toàn những tiếng rên rỉ và tiếng thở rất to của những người ốm, lúc thì tiếng khóc, tiếng thì thầm cầu nguyện, lúc thì những bài ca được ngân nga khe khẽ, lúc lại tiếng nguyền rủa của bọn cai ngục. Trong hầm nồng nặc mùi xác chết và đám đông. Trong các hõm sâu tối tăm lúc nhúc những hình người đen sẫm, khi đến gần, trong ánh đèn nhập nhoạng mới thấy những khuôn mặt nhợt nhạt, kinh khủng, gầy vêu vao và đói khát, với những đôi mắt đã tắt ngấm hoặc đang hừng hực cơn sốt, những đôi môi tím tái, những dòng mồ hôi ròng ròng trên trán và những mái tóc ướt át dính bết. Trong các góc, những người ốm mê sảng rất to, kẻ khác kêu xin nước, người kia đòi mang đi chết cho rồi. Mà đó còn là nhà ngục ít kinh khủng hơn nhà ngục cũ Tulianum. Chân Vinixius như quỵ xuống trước cảnh tượng này, ngực chàng tức thở. Cứ nghĩ rằng chính Ligia cũng đang ở trong cảnh cơ hàn và cùng cực này, tóc trên đầu chàng dựng đứng, ngực chàng nghẹn một tiếng kêu tuyệt vọng. Nhà hát, nanh thú dữ, thập tự- tất thẳy hãy còn tốt hơn những hầm ngầm khủng khiếp đầy hơi người chết này, nơi từ khắp các góc vẳng ra những giọng kêu xin:
- Các người hãy mang chúng tôi đi giết cho rồi!
Vinixius bấu chặt móng tay vào lòng bàn tay, bởi chàng cảm thấy yếu sức hẳn đi và mất tri giác đến nơi. Tất cả những gì chàng đã phải trải qua, cả tình yêu và nỗi đau trong chàng đều biến thành một nỗi khát khao được chết.
Lúc ấy bên chàng vang lên giọng của viên quản các Hố Thối:
- Hôm nay các anh có mấy xác?
- Sẽ chừng một tá, - viên cai ngục đáp, - nhưng tới sáng sẽ còn nhiều hơn, vì cạnh tường đang có mấy đứa hấp hối kia kìa.
Rồi hắn bắt đầu kêu ca những người phụ nữ đã giấu bọn trẻ con bị chết để giữ chúng bên mình thêm chút nữa, chứ không chịu giao cho người ta mang tới Hố Thối. Mãi đến khi xác chết có mùi mới nhận ra, vì thế bầu không khí vốn đã kinh tởm lắm rồi lại càng hôi thối hơn nữa. "Tôi thà chịu kiếp nô lệ ở các ngục khổ hình thôn quê, - hắn nói, - còn hơn canh giữ những con chó hôi thối ngay từ khi đang sống thế này". Viên quản Hố Thối an ủi hắn, bảo rằng công việc của y cũng chẳng nhẹ nhõm gì hơn. Trong lúc đó, Vinixius dần dần định thần lại, quay về với thực tế và chàng bắt đầu nhìn quanh trong hầm, chàng hoài công đưa mắt dõi tìm Ligia và nghĩ rằng rất có thể chàng sẽ không còn được gặp nàng khi nàng còn sống. Có tới mười mấy cái hầm nối với nhau bằng những đường hào mới đào, nhưng phu mộ chỉ vào những hầm nào có xác người chết cần mang ra, nên chàng sợ rằng điều mà chàng đã đạt được bằng ngần ấy công lao, có thể sẽ chẳng được tích sự gì hết.
May thay người chỉ huy của chàng đã kịp thời trợ giúp.
- Xác chết phải mang ra ngoài ngay, - y nói, - vì bệnh dịch lan tràn mạnh nhất qua xác chết. Nếu không, cả các anh lẫn bọn tù đều chết hết.
- Chỉ có mỗi mười mống chúng tôi canh tất cả các hầm, - viên cai ngục đáp lại, - mà chúng tôi cũng phải ngủ chứ.
- Vậy tôi sẽ để lại cho các anh bốn người của tôi, ban đêm họ sẽ đi tới các hầm nhìn xem có đứa nào chết không.
- Nếu anh đảm nhận việc ấy, ngày mai chúng tôi sẽ khao rượu anh. Chỉ cần mang xác chết đi khám nghiệm, vì đã có lệnh đâm cổ người đã chết rồi sau đó mang ngay ra hố.
- Được rồi, nhưng chúng ta sẽ uống ra trò đấy nhé! - viên quản nói.
Sau đó, y cắt ra bốn người, trong đó có Vinixius, những người còn lại bắt tay vào việc đặt các xác chết lên cáng
Vinixius thở một hơi dài. Chàng tin rằng chí ít giờ đây chàng cũng sẽ tìm gặp được Ligia.
Rồi chàng bắt đầu chăm chú xem xét gian hầm đầu tiên. Chàng ngó vào tất cả góc tối, nơi ánh đèn hầu như không rọi tới, chàng xem mặt những hình người nằm ngủ dọc tường dưới tấm che, chàng nhìn những người ốm nặng được người ta lôi ra một góc biệt lập, song chàng chẳng thấy Ligia đâu cả. Trong gian hầm thứ hai và thứ ba, cuộc tìm kiếm của chàng cũng không mang lại chút kết quả nào.
Trong khi đó, đêm đã khuya, người ta đã mang hết xác chết ra ngoài. Bọn cai ngục ngả mình trong những hành lang nối liền các hầm cũng đã ngủ say, trẻ con khóc mãi quá mệt cũng hầu im tiếng, trong các nhà hầm chỉ còn nghe tiếng thở nặng nhọc và đâu đây có tiếng thì thầm cầu nguyện.
Cầm chiếc đèn cầy, Vinixius bước tới căn hầm thứ tư, nhỏ hơn rất nhiều, và giơ cao đèn, chàng bắt đầu nhìn quanh hầm.
Bỗng nhiên chàng run lên, vì hình như chàng thấy bên dưới cái lỗ chấn song sắt trên tường là thân hình khổng lồ của bác Urxux.
Thổi tắt phụt ngay ngọn đèn, chàng tiến lại sát bên bác và hỏi:
- Bác Urxux đấy có phải không?
Người khổng lồ quay đầu lại.
- Ông là ai?
- Bác không nhận ra tôi sao? - chàng trai hỏi.
- Ông tắt mất đèn, làm sao tôi có thể nhận ra ông được?
Song chính lúc ấy Vinixius đã trông thấy Ligia đang nằm trên một chiếc áo khoác cạnh tường, không nói gì thêm, chàng quỳ sụp xuống bên nàng.
Bác Urxux cũng đã nhận ra chàng, thốt lên:
- Ngợi ca Đức Chúa Crixtux! Nhưng xin đừng đánh thức nàng, ngài nhé!
Vinixius cứ quỳ đó ngắm nàng qua hàng lệ. Mặc dù bóng tối, chàng vẫn nhìn thấy gương mặt nàng, khuôn mặt nhợt như màu vải, cùng đôi vai gầy guộc. Thấy cảnh ấy chàng chợt cảm thấy một tình yêu thương giống như nỗi đau xé ruột, xáo động tâm hồn đến tận chốn thẳm sâu, và đồng thời chan chứa tình thương xót, thành kính và ngưỡng mộ, đến nỗi chàng cúi mặt xuống, đưa lên môi mép chiếc áo choàng trên đó mái đầu yêu quý hơn tất cả mọi thứ trên đời của chàng đang nghỉ.
Bác Urxux cứ lặng im nhìn chàng hồi lâu, cuối cùng bác kéo kéo áo chàng:
- Thưa ngài, - bác hỏi, - làm thế nào ngài vào được đây, có phải ngài đến cứu nàng không?
Vinixius ngước lên và một hồi lâu dường như chàng còn phải cố nén nỗi xúc động.
- Bác hãy chỉ cho tôi cách cứu với! - chàng nói.
- Tôi cứ nghĩ rằng ngài sẽ tìm được, thưa ngài. Tôi chỉ nghĩ được có mỗi một cách thôi…
Nói đến đây, bác hướng mắt nhìn vào lỗ cửa có chấn song, rồi như tự trả lời cho chính mình, bác cất tiếng:
- Phải!… Nhưng ngoài kia là bọn lính…
- Cả một bách cấm quân. - Vinixius đáp.
- Nghĩa là… ta không qua nổi!
- Không!
Bác người Ligi đưa tay vuốt trán và hỏi lại:
- Làm sao ngài vào được đây?
- Tôi có thẻ của viên quản Hố Thối…
Đột nhiên chàng ngắt giữa chừng như có một ý nghĩ nào đó chợt loé trong đầu.
- Thề có những khổ hình của Đấng Cứu thế! - chàng nói gấp gáp. - Tôi sẽ ở lại đây, còn nàng sẽ cầm thẻ của tôi, quấn đầu vào mảnh giẻ, phủ đôi vai bằng manh áo khoác, và sẽ thoát ra ngoài. Trong đám phu mộ cũng có vài đứa tiểu đồng, nên bọn lính cấm vệ không thể nhận ra nàng được đâu, và một khi nàng tới được nhà ông Petronius thì nàng sẽ được cứu sống!
Nhưng bác người Ligi gục đầu xuống ngực mà đáp:
- Nàng sẽ không đồng ý thế đâu, vì nàng yêu ngài, hơn nữa nàng lại đang ốm và không thể tự mình đứng vững nữa kia.
Rồi lát sau bác nói thêm:
- Nếu như ngài và ngài Petronius cao quý không cứu nổi nàng thoát khỏi ngục tù thì còn ai cứu nổi nàng kia chứ?
- Chỉ mình Chúa Crixtux!…
Rồi cả hai cùng im lặng. Với trí óc chất phác của mình, bác người Ligi nghĩ thầm: “Người đã có thể cứu sống tất cả mọi người kia chứ, nhưng nếu Người đã không làm điều ấy thì hẳn là đã đến thời thống khổ và chết chóc rồi đây”. Bác sẵn sàng chịu đựng nhưng bác thương tiếc đến tận đáy lòng đứa trẻ kia, người đã lớn lên trên chính đôi tay của bác, người mà bác yêu thương hơn cả cuộc đời mình.
Vinixius lại quỳ bên Ligia. Qua lỗ cửa bịt chấn song, ánh trăng len vào hầm và soi sáng gương mặt nàng rõ hơn ngọn đèn cầy duy nhất đang bập bùng trên cửa ra vào.
Vừa lúc Ligia chợt mở mắt, và đặt đôi bàn tay nóng bỏng của mình lên hai tay Vinixius, nàng thốt lên:
- Em trông thấy chàng… em biết là chàng sẽ tới.
Chàng lao vào tay nàng, đưa tay nàng đặt lên trán rồi lên trái tim, sau đó đỡ nàng ngồi dậy trên tấm trải, đặt nàng tựa vào ngực mình.
- Tôi đã tới, nàng thân yêu. - Chàng thốt ra. - Cầu Chúa Crixtux trông coi và cứu sống nàng, hỡi Ligia yêu quý!…
Chàng không nói được gì hơn, bởi trái tim chàng kêu lên vì nỗi đau đớn và tình yêu thương, nhưng chàng không muốn để lộ cho nàng thấy nỗi đớn đau.
- Em đang ốm, chàng Marek, - Ligia trả lời, - và hoặc trên đấu trường, hoặc ở nơi đây, trong nhà ngục, em phải chết… Nhưng em hằng cầu nguyện để được gặp chàng trước khi chết, và chàng đã đến đây rồi, Đức Chúa Crixtux đã nghe thấu lời em!
Và trong khi chàng chưa thể thốt nổi nên lời mà chỉ ghì chặt nàng vào ngực, nàng nói tiếp:
- Em thường nhìn thấy chàng qua cửa sổ ở Tulianum, em biết là chàng muốn vào lắm. Giờ đây Đấng Cứu thế cho em tỉnh lại một lúc để chúng mình có thể từ biệt nhau. Em sắp đến với Người đây, Marek ạ, nhưng em yêu chàng và sẽ yêu chàng mãi mãi.
Vinixius cố gắng hết sức, bóp nghẹt nỗi đau đớn trong lòng và nói bằng giọng mà chàng đã gắng tạo ra vẻ bình tĩnh:
- Không đâu, nàng yêu dấu! Nàng sẽ không chết! Đức Sứ đồ đã dặn phải tin, Người đã hứa sẽ cầu nguyện cho nàng. Người quen Đức Chúa Crixtux, Chúa yêu mến Người và sẽ không từ chối Người một điều gì hết… Nếu như nàng phải chết, đức Piotr hẳn đã không bảo tôi phải tin, thế mà người lại bảo tôi: “Con hãy tin!”. Không, Ligia ơi! Chúa Crixtux sẽ rủ lòng thương tôi… Chúa không muốn nàng phải chết, Chúa sẽ không cho cái chết đến… Tôi xin thề cùng nàng nhân danh Đấng Cứu thế rằng ông Piotr đang cầu nguyện cho nàng!
Im lặng. Ngọn đèn duy nhất treo trên cửa đã tắt, nhưng ánh trăng lại tràn vào qua cả lỗ cửa. Một đứa trẻ nào nằm trong góc đối diện của hầm chợt khóc thút thít rồi lại nín. Bên ngoài chỉ có tiếng bọn cấm vệ vọng vào, sau khi hết phiên canh chúng lại chơi trò đoán ngón tay ăn tiền ở cạnh tường…
- Ôi Marek! - Ligia đáp - Chính Đức Chúa Crixtux xưa từng kêu cùng Chúa Cha: “Xin hãy cất cho con cốc đắng cay này”, nhưng Người cũng vẫn tự mình chịu hết. Chúa Crixtux đã chịu chết trên thánh giá, giờ đây vì Người, có hàng nghìn người đang chết, vậy tại sao Người lại tiếc một mình em? Em là gì hở chàng Marek? Em từng nghe đức Piotr nói rằng rồi Người cũng sẽ chết một cái chết khổ hình, còn em là gì so với Người kia chứ? Khi bọn lính cấm vệ đến bắt, em sợ chết và nhục hình, nhưng bây giờ em chẳng còn sợ gì nữa cả. Chàng nhìn xem, cái nhà ngục đã khủng khiếp chưa, còn em sẽ được lên trời. Chàng nghĩ mà xem, nơi đây có Hoàng đế, còn nơi kia là Đấng Cứu thế tốt lành và nhân từ. Và không hề có cái chết. Chàng yêu em, xin chàng hãy nghĩ xem em sẽ hạnh phúc biết bao. Ôi, Marek thân yêu, hãy nghĩ rằng chàng sẽ đến đó cùng em!
Đến đây nàng im lặng để hít hơi vào lồng ngực ốm yếu của mình rồi nàng đưa tay chàng lên môi:
- Marek!
- Sao hở nàng thân yêu?
- Chàng đừng khóc em và hãy luôn nhớ rằng chàng sẽ đến đó cùng em. Em sống ngắn, nhưng Chúa đã ban cho em linh hồn chàng. Vậy nên em muốn thưa cùng Chúa Crixtux rằng, mặc dù em đã chết rồi và chàng đã được chứng kiến cái chết của em, chàng phải sống trong nỗi tiếc thương, nhưng chàng sẽ không hành động ngược với ý chí của Người và sẽ kính yêu Người mãi mãi. Còn chàng sẽ kính yêu Người và sẽ kiên nhẫn gánh chịu cái chết của em, phải không?… Bởi khi ấy Người sẽ cho chúng ta gặp nhau, mà em thì yêu chàng và muốn được sống cùng chàng…
Nói đến đây nàng lại hụt hơi và nàng kết thúc với giọng phải cố lắm mới nghe thấy:
- Chàng hãy hứa cùng em thế đi, Marek!
Vinixius ôm chặt nàng bằng đôi tay run rẩy và đáp:
- Tôi xin thề trên mái đầu thiêng liêng của em!…
Và lúc đó, trong ánh sáng buồn bã của vầng trăng, khuôn mặt nàng chợt sáng lên. Nàng đưa tay chàng lên môi một lần nữa và thì thầm:
- Em là vợ chàng!…
Bên ngoài tường, bọn lính cấm vệ đang chơi trò đoán ngón tay và cãi nhau ỏm tỏi, còn họ quên hết ngục tù, quên cả trái đất, và cảm thấy ở nhau linh hồn thiên sứ, họ bắt đầu cất tiếng nguyện cầu.
Chú thích:
(1) Nguyên văn: như đôi mắt trên đầu
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»