.
Đỗ Ngọc Yến thuở thiếu thời
Đỗ Tăng Bí ghi
Một buổi sáng cuối năm 1963, anh Đỗ Ngọc Yến đến nói với tôi: “Bí này, chúng mình phải làm cái gì để cản bớt mấy cái trò nhảy nhót đang tràn lan các trường đại học mới được...” Một số trường đại học ở Sài Gòn lúc đó, nhân đà “Cách Mạng 1 Tháng Mười Một,” thay nhau tổ chức các đêm dạ vũ ăn chơi tưng bừng, từ cuối Tháng Mười Một, 1963 trở đi. Lúc đó mức độ giao tranh ác liệt ngoài chiến trường đang gia tăng, số thương vong mỗi ngày một nhiều, miền quê tràn lan khói lửa. Chúng tôi chia sẻ với nhau ý nghĩ rằng trong khung cảnh đó bọn thanh niên, sinh viên học sinh thành thị thi nhau vui chơi phè phỡn thì đâu có được.
Thế là chúng tôi chỉ có ba người, phân chia công việc: Anh Yến với anh Toàn soạn một bản tuyên cáo kêu gọi ngưng các sinh hoạt phù phiếm trong khuôn viên đại học, còn tôi viết một lô các khẩu hiệu trên những tờ bìa khổ lớn gấp đôi, nội dung đả đảo những buổi nhảy nhót tại trường học, kêu gọi sinh viên học sinh tẩy chay các sinh hoạt đó. Buổi chiều cùng ngày, tôi cầm bản viết tuyên cáo đến Ronéo Mỹ Hiệp thuê đánh máy và quay 500 bản ronéo. Ngay chiều hôm đó chúng tôi đạp xe một vòng qua các tòa soạn những tờ báo lớn thời đó, khoảng trên chục tờ, gửi cho ông chủ nhiệm, chủ bút một bì thư trong có bản ronéo tuyên cáo kể trên. Đồng thời chúng tôi đi lén dán các tấm bìa khẩu hiệu viết bằng bút nét lớn tại các trường đại học sắp mở “bal” mừng Giáng Sinh năm đó.
Tôi không nhớ rõ nội dung các anh viết những gì. Chỉ nhớ đầu đề là “Tuyên Cáo Chống Sinh Hoạt Đồi Trụy Xa Hoa Phóng Đãng,” sau đó nêu một số điểm, rồi ký tên là “Phạm Hồng Thái,” thay mặt “Nhóm Sinh Viên Chống Sinh Hoạt Đồi Trụy Xa Hoa Phóng Đãng.” Mượn cái cái tên của một anh hùng tuẫn quốc chỉ cố để nhắc nhở thanh niên phải sống có lý thưởng, không nhớ ai gợi ra cái ý kiến “vô lễ” đó.
Không ngờ, giới báo chí hưởng ứng lời tuyên cáo của chúng tôi ngay trong số báo ra vào chiều hôm sau. Có ít nhất hai tờ báo, tôi không còn nhớ đích xác tờ nào, đã lấy nguyên bản tuyên cáo thay cho mục xã luận. Một số tờ trích phần nào nội dung để bình luận. Có tờ làm bản tin về tuyên cáo và trích dẫn. Tựu trung báo chí đều cho rằng phong trào nhảy nhót trong trường học lúc đó là không được.
Mấy trăm bản ronéo chúng tôi phân phối đi các trường học bằng nhiều cách, qua các bạn bè, phần đông là Hướng Đạo, rải ở các trường trung học. Có bạn gấp các “truyền đơn” để lên cánh quạt trần, khi bắt đầu giờ học, học sinh mở quạt, truyền đơn bay như bươm bướm. Tôi nhờ một cô nữ sinh Trưng Vương, cũng là nữ hướng đạo sinh, mang mấy bản ronéo vào dán ở trường. Cô kể lại rằng phải cố gắng lắm mới dán được hai bản trên tường nơi cầu thang lên xuống, nhưng đủ để học sinh xôn xao, và khiến các cô hiệu trưởng, tổng giám thị và các giáo sư Trưng Vương lo lắng, hội họp tìm hiểu, điều tra. Không khí của thời âm mưu tổ chức biểu tình mấy tháng trước đó còn nặng lên tâm trí mọi người.
Đó là một trong vài kỷ niệm đầu tiên ngoài khuôn khổ sinh hoạt hướng đạo tôi có với anh Đỗ Ngọc Yến. Từ đó cho đến hôm nay, hơn 40 năm qua đi, trừ 16 năm tôi ở Thanh Hóa, rồi Sài Gòn, khi anh Yến ở Mỹ, hầu hết thời gian còn lại tôi vẫn làm việc, sinh hoạt với anh Yến, hoặc thường trực, hoặc cách đoạn. Ngay cả mấy năm tôi ở trong quân đội, những sinh hoạt này vẫn được nối tiếp.
Một số những người cùng thời anh Yến đều có chung kinh nghiệm này: Lúc còn bé thơ, chúng ta không được chơi đáo, đánh quay, bắn bi như những bạn cùng lứa tuổi trên đường phố, trong sân trường học. Hình như chúng ta tự dưng bị ngăn cách sao đó với sinh hoạt trẻ thơ. Anh Đỗ Ngọc Yến cũng là trường hợp đó, 15 tuổi đã làm báo lậu là một thí dụ kinh nghiệm không phù hợp với tuổi; 16, 17 tuổi đã chui trong các hậu trường ca nhạc cải lương là một thí dụ khác. Và những kinh nghiệm không hợp lứa tuổi này thường khó có ai cùng lứa tuổi làm chung. Cho nên, muốn phác họa chân dung anh Đỗ Ngọc Yến thời niên thiếu chúng tôi phải góp nhặt nhiều lần qua những lúc anh cao hứng kể cho nghe, chứ không thể nhờ ai đó làm nhân chứng kể lại.
Sau biến cố trò Trần Văn Ơn bị bắn chết, những năm sau đó các nhóm bí mật đều tổ chức truy điệu. Vụ này anh Yến nhớ lại như sau: “Hồi đó tôi còn nhỏ quá (khoảng 13, 14 tuổi), hồi đó cái vụ truy điệu tôi không phải là cánh ‘tổ chức,’ đôi khi tôi tới chỉ tham dự. Sở dĩ tham dự là vì lúc đó tôi là một hướng đạo sinh, hướng đạo mình thường khuyến khích đoàn sinh đi đâu mình cũng tích cực giúp ích, phải đóng cái vai trò phục vụ. Thí dụ như ăn uống thì mình phục vụ bằng cách tổ chức cho người ta ăn uống có thứ tự, vệ sinh; đưa đón mình tổ chức đưa đón giúp, rồi làm trật tự này kia; nhưng mà thực sự mình không biết chương trình của họ. Nghĩa là chuyện đó họ định làm như thế nào thì mình không biết. Nhưng thấy có một số người tập họp thì mình giúp phần ‘tổ chức’ thế nào cho cuộc họp có trật tự. Đó là năm 1955, nhưng từ năm 1956 tôi đi sâu vào chuyện sản xuất báo, báo bí mật, báo lậu. Năm 1957 thì tổ chức hội họp bí mật. Đến năm 1959 tôi bị bắt.”
Bây giờ anh vẫn khiêm nhượng nhận rằng chỉ học được nghề báo từ cụ Nguyễn Đức Quỳnh, từ Lê Xuyên, từ Phạm Xuân Ẩn,... nhưng thực ra anh Đỗ Ngọc Yến vào nghề báo từ năm 15 tuổi! Chuyện “làm báo” từ 1956 anh kể như sau: “Báo in ở đây là báo in bột, tức là bột thường, bột gạo, nhưng có điều đặc biệt là mực in phải mua ở tiệm bán ở đường Catinat. Loại mực đó là loại mực của Ấn Độ. Lọ mực cũng đắt tiền, lúc đó đi mua lọ mực cũng tốn kém bằng bao anh em đi một chầu ciné. Mực chà lên bột, mực thấm vào, rồi lăn bột lên từ tờ giấy này qua tờ giấy kia, lăn độ chừng ba chục trang thì bột xộc xạch và chữ ngoằn ngoèo hết, đôi khi muốn làm nhiều phải in hai lần. Sau này người ta gọi in sương sa thì cũng là nguyên tắc đó. Nói cho đúng thì cái đó chỉ là chuyện học tập làm công tác, thực sự nội dung của những tờ đó không có gì đặc biệt.”
Trong chúng ta, một số người ra đời trước và sau 1940 vài năm thì cảnh “tản cư” là một phần ký ức của tuổi thơ. Cùng với ký ức tản cư, có thể chúng ta còn ghi nhận những cảnh Tây về làng “điểm mục,” lính kín ruồng xét, cho “bao bố nhận diện.” Tôi không biết từ “điểm mục” có phổ biến không. Ký ức thời 5, 6 tuổi của tôi đã ghi nhận hai chữ đó. Điểm mục là lính Tây, lính “dõng” về làng, tập họp cả làng lại điểm danh, nhìn từng khuôn mặt xem có ai là “du kích,” làm việc cho “Ủy Ban Hành Chánh” hay không. Giai đoạn tản cư của anh Đỗ Ngọc Yến ngắn và gần, nghĩa là chỉ tản cư chung quanh Sài Gòn chứ không đi xa.
Anh kể: “Hồi đó tôi đi tản cư ở Lái Thiêu (những mảnh vườn mà sau này chúng ta đi cắm trại, ăn trái cây), để tránh Nhật bỏ bom tại Sài Gòn vào cuối 1944, đầu 1945. Tôi không có dự vào những cuộc tản cư lớn. Trong đầu óc tôi tản cư là những cảnh nên thơ, tản cư là các cụ thuê các xe cá. Xe cá là xe ngựa kéo, xe cá có ít nhất hai con ngựa kéo. Còn xe ngựa, xe thổ mộ, chỉ có một con ngựa thôi. Xe cá giống như xe minivan, phía trên rộng có thể để tủ lớn chồng lên nhau. Xe cá này chở người tản cư từ Sài Gòn về phía ngoại ô, thường thì chạy về Lái Thiêu hoặc Tân Quy vì ở đây có nhiều nhà vườn. Người dân Sài Gòn chạy về đó, nhờ đồng bào tại đây cho tá túc.”
“Sau này, khoảng 1954, 1955, tôi hay đạp xe đạp về vùng đó chơi, đi thăm những cụ già, những ‘ngôi nhà tá túc’ hồi đó. Đặc biệt năm 1955 tôi đạp vô vườn chơi, có chứng kiến một cảnh, sau này mới vỡ lẽ ra. Lúc đó tôi khoảng 13-14 tuổi, tôi thấy mấy ông nông dân mặc quần áo đen ngồi đầy, đông lắm, ngồi rất trật tự. Sau này tôi mới hiểu là mấy ông tập kết. Nhưng có hình ảnh từ trước đó mà tôi còn nhớ rõ nhất, cái hình ảnh mà trong sử cũng nói, là ủy ban hô hào dân chúng xuống đường, đi ra đường Catinat thời 1945. Ông già tôi đã dắt tụi tôi đi từ sáng sớm, ghé tiệm Tàu đầu đường làm ly cà phê mà ông Bình Nguyên Lộc từng mô tả là ‘đổ ra cái dĩa’ uống, lúc đó tôi khoảng 4 tuổi.”
“Sau đó cảnh đáng nhớ nữa là cảnh Tây đi xét nhà. Đầu tiên chúng chỉ xét thôi, xét xong có mấy người Việt Nam đi theo bắt mở tủ, rương... ra, rồi tôi thấy đồ đạc nhà mình bị chúng lấy đi. Nếu tụi Tây và người lớn trong nhà mình thấy vậy kêu lên thì Tây thì bắt bọn ‘lính dõng’ đó phải trả lại. Còn không thì mất!”
“Nhưng cái cảnh bắt đầu biết sợ là sợ cảnh bị Tây bố. Hồi đó cứ sáng sớm, ‘đi bố, đi bố’ nghĩa là Tây bao hết vùng đó, trước cửa ngôi trường Nguyễn Bá Tòng sau này. Tất cả đàn ông bị lùa hết ra ngoài khu đất trống, nằm trước cửa nhà tôi. Tất cả ngồi chồm hổm, hai tay để lên đầu; đàn bà con nít thì đứng lóng ngóng quanh đó. Sau đó bị lên xe ‘cây’ chở về bót.”
“Rồi đến ‘bao bố nhìn mặt,’ nghĩa là cho đi nhận diện mọi người, những người làm việc nhận diện thì được chụp bao bố lên đầu. Ai bị người đó nhìn mặt và gật đầu thì bị giữ lại, không thì cho về. Về sớm nhất là những ông công chức, gần nhà tôi có mấy ông công chức Sở Hỏa Xa. Sở Hỏa Xa không phải là của nhà nước nhưng có chế độ công chức nên được ưu tiên. Và từ đó trong đầu tôi có ý niệm thế nào là công chức, công chức thì oai quyền lắm, làm công chức thì an toàn, rồi được về trước cho đi làm. Chờ đến chừng 10-11 giờ nghe nói ông già được thả thì mừng, còn giờ đó không được thả về, mà có tin ‘bao bố trùm mặt’ gật đầu, thì chết. Đây là những giây phút điếng hồn của các gia đình lúc bấy giờ. Vài năm sau thì có lựu đạn nổ ngay trước cửa nhà tôi. Hay trong những năm đó, hình ảnh những ông Việt Minh cứ đến nhà xin tiền bố tôi - thanh niên ngày ấy ai cũng tầm vông vạt nhọn đi quanh quanh khu phố - hay có những ông bạn già đến nhà... và sau đó mới biết rằng đó là những ông Việt Minh, là những người bị bắt mới được thả ra.”
“Thường những người được thả ra đều đã bị đánh đập xơ xác rách mướp, đau ốm ho lao, phải đi loanh quanh xin tiền bạn bè. Những gia đình bình thường dù muốn dù không ai cũng giúp đỡ. Và những cảnh này cứ trở đi trở lại hoài.”
Tuổi thơ chúng ta có thể còn chất chứa thêm những ký ức về cuộc sống trong vùng “ấm ớ hội tề.” Ở làng tôi ngoài Bắc Ninh, ban ngày mấy ông “hội Tề” cai quản. Ban đêm, mấy ông “Ủy Ban Hành Chính” từ bên kia sông qua tập họp nói chuyện, thu thuế,... Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh những “anh nuôi” đêm đêm lén lút về xin tiền, xin thuốc chữa bệnh của mẹ tôi. Chế độ chính trị trong vùng thật ấm ớ, không ai làm chủ, nên mới gọi là “ấm ớ hội tề.” Về khoản này, anh Yến không có cơ hội trải qua:
“Ngược lại tôi hoàn toàn sống dưới chế độ mà bên kia gọi là ‘tạm chiếm.’ Nhưng tôi lại có liên hệ (đến phía Việt Minh) nhiều nhất là khi vào học ở Petrus Ký. Trường Petrus Ký là cái ổ! Khi tôi vào Petrus Ký thì vừa xảy ra vụ Trần Văn Ơn được hai năm, cao trào này đang từ từ đi lên. Trong trường Petrus Ký lúc này học sinh đi học là một chuyện nhưng mặt khác bị chi phối quan tâm đến một lối sống khác: Họp hành, đọc sách báo này nọ... Nhà tôi lúc đó ở Bùi Thị Xuân. Gần khu Bàn Cờ, Lê Văn Duyệt thì có hai bãi đất trống bán sách báo cũ - cũ đây là cũ chừng 3, 4 năm thôi - các sách vào thời kỳ bắt đầu kháng chiến, mà đặc biệt là toàn là sách báo từ vùng kháng chiến. Những sách của Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, với các nhà xuất bản Thần Đồng, Sống Chung, Nam Việt, toàn là tuyên truyền cho kháng chiến chống Pháp chứ không có mùi nào là cộng sản. Dần dần ở chợ Sách cũng có sách báo của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ. Những cuốn sách đầu tiên của Thông Tin Hoa Kỳ vào truyền bá về thế giới tự do. Tôi nhớ là báo Thế Giới Tự Do số hai là tôi đã được trông thấy, và tôi biết tòa soạn của Thế Giới Tự Do đặt ở lầu 4 một ngôi nhà tại phố như thế nào, mà khi đó tụi con nít chúng tôi thường chạy đến, tìm cách chạy lên xuống thang máy, vì hiếu kỳ muốn biết cái thang máy thế nào.”
Những cuốn sách đầu tiên được Thông Tin Mỹ dịch ra mà anh Yến nhắc đến là cuốn “Đêm hay ngày” của Koestler, những cuốn “Tôi chọn tự do,” “Tôi chọn công lý” của mấy người Nga đi trốn cộng sản, in thật dày. Trong đó cũng có những cuốn về văn hóa Mỹ như “Dũng sĩ da đỏ,” “The Last of the Mohicans” của James Fenimore Coopper, lúc đầu là mấy cuốn đó. Rồi đến thời kỳ ông Diệm từ năm 1954 trở đi, những loại sách văn học như cuốn “Cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer,” “Đôi bạn phiêu lưu” vân vân, mới được dịch ra. Trước đó, những cuốn sách dịch khác đều là sách chính trị hết, duy có vài cuốn về văn học như “Bác Sĩ Arrowsmith” của Sinclair Lewis. Có thể nói là toàn những sách nói về Mỹ. Có một cuốn nổi tiếng khác là “Tẩy Não Tại Trung Hoa Đỏ” (1949).
Anh Yến kể: “Trong trường hợp của tôi, tôi khác với nhiều bạn vì tôi là một thằng bé lớn lên hoàn toàn trong thành phố, chỉ nghe nói đến kháng chiến ở xa xa. Thành ra có hai hình thức tranh đấu của phe kháng chiến tôi được quen từ bé, trước năm 1954, cho đến khi tôi lớn lên: Tranh đấu nội thành công khai hợp pháp, và tranh đấu ngấm ngầm trong hoàn cảnh chính trị đặc biệt giữa hai phe lúc đó. Như tôi đã nói, những người trẻ như tôi có thể tìm đọc bao nhiêu sách ca tụng ‘kháng chiến’ dười nhiều hình thức, ở ngay giữa Sài Gòn. Lúc đó mình còn nhỏ nhưng đủ sức tò mò để tự đặt câu hỏi tại sao có những sách đề cao kháng chiến như thế này mà lại có thể phổ biến đầy ở giữa Sài Gòn được? Nếu muốn thì cảnh sát công an của chính phủ Sài Gòn có thể quét sạch được chứ? Sao họ không dẹp? Sau này có một người thông thạo vấn đề đó cắt nghĩa tôi mới hiểu. Lúc đó Pháp và chính phủ quốc gia ở Sài Gòn người ta cố tình để cho có tình trạng sách Việt Minh bán giữa Sài Gòn như vậy để gián điệp của người Mỹ phải thấy là có tài liệu cộng sản trải khắp mọi nơi, thấy hoạt động cộng sản tưng bừng khắp ngõ. Làm như vậy để cho Mỹ sợ làm sóng cộng sản đang lan tràn khắp Đông Nam Á, do đó Mỹ phải ủng hộ, viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.”
Trở lại trường Petrus Ký mà anh Yến nói là “cái ổ”. Đó cũng là nơi xuất thân của các ông Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước... những vị mà sau này nổi tiếng trong giai đoạn cách mạng bùng lên. Anh Yến cho rằng ngôi trường đó đúng là một chỗ quy tụ nhiều người trí thức yêu nước, những người ý thức về thân phận của dân tộc của đất nước, để bắt đầu nghĩ đến tranh đấu. Truyền thống đó đã tiếp tục cho đến vụ Trần Văn Ơn, vụ này cũng là một yếu tố nuôi dưỡng, mà sau này khi anh Yến vô học Petrus Ký anh đã cảm được cái không khí tranh đấu đó ở trong lớp học Petrus Ký. Những người hoạt động bí mật thời đó thì được học sinh coi như là những thần tượng. Không phải chỉ anh Yến, các bạn khác của anh như Lê Đường, Trần Đại Lộc vẫn nhìn thấy ánh hào quang của những năm cuối 1940 đầu 1950 còn phảng phất tại Petrus Ký.
Về trường Petrus Ký, anh Yến nói: “Nói tóm tắt, một là nó có truyền thống, và hai là nó có nề nếp lớp trước lớp sau rồi. Nghĩa là lớp nào cũng có những người thuộc loại lăng xăng thích hoạt động, có liên hệ với những anh có tên tuổi hoạt động lớn hơn mình chừng hai, ba tuổi, hai ba lớp hay là có thân nhân ở ngoài hoạt động. Trước đó thì những học sinh này không có suy nghĩ chính trị gì hết, nhưng sau dần dần chịu ảnh hưởng của những đàn anh kia. Trong trường hợp tôi, trước đó tôi không có liên hệ với đàn anh nào hết, nhưng lúc đó tôi là xì-cút (Hướng Đạo). Trong xì-cút có dạy nhiều thứ, như dạy anh phải là một thành phần tích cực ở trong lớp của anh, nghĩa là trong lớp cần gì thì anh phải tự nguyện, phải gánh lấy công việc, v.v.. Thầy giáo ở Petrus Ký cũng có nhiều thầy hóc búa như các ông giám thị, nhưng cũng có một số thầy luôn luôn kích thích tinh thần yêu nước của học trò. Tôi còn nhớ năm học Đệ Tứ, một thầy giáo dạy sử địa, mà đã từng ở tù thời xảy ra vụ Trần Văn Ơn. Ông này đã dạy sử trong tinh thần kích thích học trò lòng yêu nước. Thầy giáo này mê báo Đời Mới của Trần Văn Ân, chủ bút là Hà Việt Phương, đó là một bút hiệu của cụ Nguyễn Đức Quỳnh. Năm học Đệ Tứ tôi đã có gần đủ các số báo Đời Mới này (có khoảng 154 số) - đến Tháng Tư năm 1955 thì tờ báo đóng cửa - tôi chỉ đi ra nhặt ở đầu đường các báo cũ bán lẻ. Ngày tôi bị ra tòa rồi đi tù, tôi mang hết bộ đó biếu cho ông thầy sử địa này. Khi ra khỏi tù, cảnh sát cứ theo điều tra xem mình bị ảnh hưởng bởi những ai, ai nói cho mình điều này, ai nói cho mình thế kia. Không khí thời đó là như vậy.”
Anh Yến đã nhắc lại giai đoạn học Petrus Ký, anh bị vướng vụ “Kiến Nghị,” biểu tình. Đang học Đệ Nhị, đang hoạt động tưng bừng thì tự nhiên anh hoàn toàn bị cô lập vì bị đuổi học, bị theo dõi. Sau đó anh Yến làm quen với những nghệ sĩ cải lương, cũng chỉ vì ham thích văn nghệ. Có lẽ thành tích “đấu tranh” trong giới học sinh của anh được bên kia “lưu ý” cho nên, anh nhớ lại, “Sau đó vài tháng thì cũng có người đến liên lạc; nhưng họ không nói về chuyện hoạt động học sinh nữa mà họ khuyên tôi đi họp trong Tổng Liên Đoàn Lao Động, mời các nghệ sĩ tham gia lập một nghiệp đoàn văn nghệ sĩ. Bấy giờ là lúc các ổng lo đấu tranh vào khu vực văn nghệ từ những rạp hát, cải lương, v.v.. Anh chị em trong giới đó họ dễ bị tuyên truyền, lôi cuốn hơn và họ lại dễ gây ảnh hưởng trên quần chúng hơn.”
Lúc đó anh Yến chẳng phải là văn nghệ sĩ, không hát hỏng mà cũng chưa viết lách gì ngoài những trang báo trong trường. Nhưng từ xa xưa anh vốn đọc sách nhiều, đã có cái nhìn “viễn kiến,” nên “người ta” dễ tìm đến anh. Anh kể: “Tôi đâu có viết lách gì, nhưng đại khái mình là dân hoạt động. Rủ là tôi đi. Vô ngồi họp ở đây thì bàn bên cạnh là bàn công an. Tụi công an ngồi đó 24/24 để ghi lại tất cả những chuyện đó; vì là đấu tranh công khai mà. Tôi lại nghĩ thầm, ‘Đây lại là một cái vụ rắc rối nữa đây.’ Nhưng kệ, làm thì cứ làm. Lúc này tôi cũng đã bắt đầu chơi với đám văn nghệ sĩ rồi nhưng cũng chỉ là tép riu thôi. Nhưng vấn đề là hệ thống tổ chức. Tức là anh đã sinh hoạt phía học sinh rồi bị lộ, thì họ đưa anh sang hoạt động khác, vì đây là một hệ thống của họ, có tổ chức đủ mặt mà.”
“Sau đó lại bắt đầu khó khăn sao đó nên họ dặn tôi đừng liên lạc với Liên Đoàn Lao Động nữa. Nhưng họ dặn là nếu muốn liên lạc gì thì phải đi lên trên Hóc Môn, đi vào các vườn họp. Khi muốn đi họp thì lên đường Chi Lăng, Phú Nhuận, chỗ nhà ông Phạm Duy đi ngược về Bà Chiểu; cứ buổi chiều từ 4, 5 giờ muốn gặp thì đứng chờ ở đó có người đạp xe đạp ngang qua đón. Tôi có tới đó gặp một anh đi xe đạp cuốc tới chờ mình. Anh ta hỏi thăm những chuyện mình làm, mình biết, vân vân. Nghĩ là dùng mình để lấy tin tức thôi, chứ cũng không đi xa hơn. Một dạo rồi tôi chán không tới đó nữa. Mà họ cũng không tìm cách liên hệ với tôi làm gì, chắc vì sợ chính họ bị lộ, trong khi họ có những quân bài học sinh hoặc văn nghệ khác, dùng được an toàn hơn. Đại khái như thế, các bạn đã biết phần nào thời niên thiếu của tôi trước khi tôi đi chơi với mấy anh em văn nghệ học sinh, rồi làm báo làm chí với họ.”
Trong một bài viết về anh Đỗ Ngọc Yến, chị Quyên có nói về khả năng “lách” của anh, chị gọi là món võ “lăng ba vi bộ” theo chữ trong tiểu thuyết của cụ Kim Dung viết về nhân vật Đoàn Dự. Anh Yến đi qua khá nhiều thứ sinh hoạt, trước tiên vì tò mò muốn biết những hoạt động trong xã hội chung quanh mình nó như thế nào. Chúng ta vừa mới lướt qua về thời thơ ấu của anh Yến, hình dung vài nét phác họa chân dung anh hồi nhỏ. Chúng ta có thể hiểu được khả năng “lăng ba vi bộ” của anh có là nhờ từ đâu tới. Chỉ vì cái máu xì cút muốn tham dự vào mọi việc của xã hội, cộng thêm cái tính tò mò vì ảnh hưởng tiểu thuyết trinh thám gián điệp. Tuy nhiên, theo tôi, những hoạt động trong đời anh chỉ để làm lợi, làm tốt cho những đồng bào cần giúp đỡ, cho cộng đồng, cho cuộc đời, chứ không phải vì danh vọng, tiền tài cho cá nhân; cũng chẳng phải vì một phe đảng nào trong những cuộc tranh chấp chính trị ở nước mình trong bao nhiêu năm chúng ta đã sống qua.
Và đó là điều đáng quý của anh Đỗ Ngọc Yến, lúc nào anh cũng theo tinh thần giúp ích của một hướng đạo sinh.
*
Nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều cơ quan truyền thông, nhiều trường đại học Mỹ và các sắc tộc thiểu số đã công nhận sự đóng góp của nhà báo, nhà hoạt động Đỗ Ngọc Yến, cho sự phát triển và hội nhập của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, và sự hoà hợp với các cộng đồng bạn. Độc giả đã được đọc và nghe nhiều chương trình phỏng vấn, bài báo viết về anh Đỗ Ngọc Yến. Riêng phần ghi dưới đây sẽ cho chúng ta thấy bàng bạc hình ảnh anh Yến hồi còn rất trẻ qua ký ức của ông về Sài Gòn những năm tháng 1950. Phần ghi này trích từ “chương trình” nói chuyện giữa Đỗ Ngọc Yến và bạn bè vào cuối năm 1999. Chúng tôi thường nêu ra với anh Yến các thắc mắc về những điều xẩy ra trong giai đoạn trước đây chúng tôi chưa hiểu rõ, và Anh trả lời như một đóng góp hiểu biết của Anh. Về đề tài “Thời nhỏ của anh Yến”, chúng tôi gồm Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát và Đỗ Tăng Bí thay nhau nêu câu hỏi...
HTC : Đó là thời dưới chế độ của Tây. Còn hồi nhỏ anh cũng không có một thời gian nào sống dưới chế độ Việt Minh?
Đ.N.Y: Không. Nhưng ngược lại tôi lại hoàn toàn sống dưới chế độ mà bên kia gọi là “tạm chiếm.” Nhưng vì lý do đó tôi liên hệ (đến phía Việt Minh) nhiều nhất là khi vào học ở Petrus Ký, Petrus Ký là cái ổ! Khi tôi vào Petrus Ký thì vừa xảy ra vụ Trần Văn Ơn được hai năm, cao trào này đang từ từ đi lên. Trong trường Petrus Ký lúc này học sinh đi học là một chuyện nhưng mặt khác bị chi phối quan tâm đến một lối sống khác: họp hành, đọc sách báo này nọ... Nhà tôi lúc đó ở Bùi Thị Xuân, gần khu Bàn Cờ, Lê Văn Duyệt thì có hai bãi đất trống bán sách báo cũ — cũ đây là cách đó chừng 3, 4 năm thôi — các sách vào thời kỳ bắt đầu kháng chiến, mà đặc biệt là toàn là sách báo kháng chiến. Dần dần có sách báo của Thông Tin Hoa Kỳ. Những cuốn sách đầu tiên của Thông Tin Hoa Kỳ vào truyền bá về thế giới tự do. Tôi nhớ là báo Thế Giới Tự Do số hai là tôi đã được trông thấy, và tôi biết tòa soạn của Thế Giới Tự Do đặt ở lầu 4 tại phố như thế nào, mà khi đó tụi con nít chạy đến, tìm cách chạy lên thang máy vì hiếu kỳ.
Những cuốn sách đầu tiên được dịch ra là cuốn “Đêm hay ngày” của Koestler, cuốn “Tôi chọn tự do, chọn công lý” của mấy anh đi trốn ở Nga thật dày; trong đó cũng có những cuốn về văn hóa Mỹ như “Dũng sĩ da đỏ,” rồi “The Last of Mohican” của P. Coopper, lúc đầu là mấy cuốn đó. Rồi đến thời kỳ ông Diệm từ năm 1954 trở đi, mới dịch những loại sách văn học như cuốn “Kho tàng phiêu lưu” của Tom Sawyer, “Đôi bạn phiêu lưu”... Nhưng trước đó, những cuốn sách khác đều là sách chính trị hết, duy có vài cuốn về văn hóa như “Bác sĩ Aerosmith” của Sand Lewis có thể nói là sách nói hoàn toàn về Mỹ. Có một cuốn nổi tiếng “Tẩy Não Tại Trung Hoa Đỏ” (1949)...
Trong trường hợp của tôi, tôi khác với nhiều bạn vì tôi là một thằng bé lớn lên hoàn toàn trong thành phố, thành ra hai loại tranh đấu này tôi quen từ bé đến lớn: tranh đấu nội thành và công khai hợp pháp tranh đấu dưới một chế độ chính trị đặc biệt nào đó. Lúc đó mình đủ sức tò mò để nghĩ tại sao có sách như thế này, mà lại có thể phổ biến được, nhưng không hiểu tình hình chính trị ra sao? Sau này có một người thông thạo vấn đề đó cắt nghĩa mới hiểu. Lúc đó chính phủ Sài Gòn người ta để tình trạng như vậy để người Mỹ quan sát thấy là có tài liệu cộng sản khắp mọi nơi, hoạt động cộng sản tưng bừng khắp ngõ, để người ta sợ chế độ cộng sản mà ủng hộ viện trợ cho phe Tây ở Việt Nam.
HTC: Lúc đó anh đã đọc được những sách của ông Hoàng Văn Chí chưa? Cuốn mỏng, nhỏ cũng do Thông Tin Hoa Kỳ xuất bản?
Đ.N.Y: Sách Thông tin Hoa Kỳ tôi đã xem từ đầu, bời vì từ năm 49 hoạt động, thì mấy năm đầu chưa có loại sách đó đâu. Hai cuốn của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó nổi tiếng nhất là cuốn sách hình “Tám bậc vĩ nhân” (Hoa Kỳ) trong đó có từ ông Washington đến ông Jefferson rồi ông Headman rồi trong đó có một ông Tây đen là ông B. Washington (?), rồi một ông thi sĩ Whitman, rồi ông G. Nixon... Rồi đến báo Thế Giới Tự Do, số đầu tiên thì tôi không biết nhưng tôi biết số Thế Giới Tự Do 2. Còn nhà xuất bản của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó được đặt tên là Tân Á. Rồi báo Sức Mạnh và Tự Do, đây là báo người ta bỏ... nhà cầu. Tôi có đọc một đoạn trong tờ báo này về “Đêm hay Ngày” và bắt đầu hiểu, khi ấy tôi khoảng 11-12 tuổi, hiểu rằng cuốn này đặt đề tài là nếu anh chấp nhận thế này thì anh là cộng sản rồi, tức là ở đời quan trọng nhất là tự do với cơm áo, nếu anh muốn có cơm áo thì phải chấp nhận cộng sản, còn chấp nhận tự do thì phải cãi nhau với cộng sản.
Hồi đó sách vở cũng đủ sức để dạy cho mình những hiểu biết, lúc đó tôi chừng 9-10 tuổi.
P.P.M: Anh Yến vừa nói lúc nãy là ở trường Petrus Ký thời ấy là cái ổ. Tôi cũng hiểu được đó là cái chỗ mà ông Huỳnh Văn Tiễn, Lưu Hữu Phước... những vị mà sau này nổi tiếng về cách mạng, đó đúng là một chỗ quy tụ những trí thức yêu nước, những người ý thức về thân phận của dân tộc của đất nước để bắt đầu tranh đấu. Truyền thống đó đã tiếp tục cho đến vụ Trần Văn Ơn, đây cũng là một yếu tố nuôi dưỡng, mà sau này khi tôi vô học Petrus Ký tôi cũng thấy không khí đó ở trong lớp học sinh cũ của Petrus Ký. Khi chơi với các anh Yến, Lê Đường, Trần Đại Lộc là còn hào quang của những năm cuối 40 đầu 50, còn phảng phất tại Petrus Ký. Chuyện hoạt động bí mật thời đó thì coi như là những thần tượng.
Đ.N.Y: Nói tóm tắt là nó có những truyền thống, và hai là nó có nề nếp rồi. Nghĩa là lớp nào nó cũng có những người, hai ba loại: loại lăng xăng có liên hệ với những tên hoạt động lớn hơn chừng hai, ba tuổi, hai ba lớp hay là thân nhân ở ngoài. Trước đó thì nó không có gì hết nhưng sau bị ảnh hưởng của những anh kia. Trong trường hợp tôi, trước đó tôi không có liên hệ với ai hết, nhưng lúc đó tôi là xì-cút (Hướng đạo). Trong xì-cút có dạy nhiều thứ như dạy anh phải là một thành phần nào trong lớp của anh, nghĩa là trong lớp cần gì thì anh phải tự nguyện v.v... Thầy giáo ở Petrus Ký cũng có nhiều thầy hóc búa như ông Giám thị, nhưng cũng có một số thầy luôn luôn kích thích tinh thần yêu nước của học trò. Tôi còn nhớ năm học Đệ tứ, một thầy giáo dạy Sử Địa, mà người này đã từng ở tù thời Trần Văn Ơn. Ông này đã dạy Sử trong tinh thần kích thích học trò. Thầy giáo này mê báo Đời Mới của ông Hoàng Thương lắm. Năm học Đệ tứ tôi đã có gần đủ số báo Đời Mới này (có khoảng 154 số) — đến tháng 4 năm 1955 thì tờ báo đóng cửa — tôi chỉ đi ra nhặt ở đầu đường bán lẻ. Ngày tôi bị ra tòa rồi đi tù tôi mang hết bộ đó biếu cho người thầy này. Khi ra khỏi tù, cảnh sát cứ theo điều tra xem mình bị ảnh hưởng bởi những ai, ai nói cho mình điều này, ai nói cho mình thế kia.
PPM: Anh vừa nói cái vụ bị ra tòa và bị đi tù, anh nói sơ lại chi tiết này một chút.
Đ.N.Y: Có hai lần. Thời kỳ đi tù đầu là năm 1957, lúc đó tôi 16 tuổi. Ông Minh học xong Đệ tứ (ở Miền Trung) để vào Nam học Đệ Tam, còn tụi tôi học dưới này Đệ Ngũ, Đệ tứ lên. Trước đó thì vẫn tự động lên Đệ Tam nhưng đến năm đó vào khoảng tháng 3, một thông tư của Bộ Giáo Dục là, từ giờ trở đi ai là học sinh Đệ tứ muốn lên Đệ tam phải đỗ “bình thứ,” nếu không có thì phải thi vào. Tự nhiên là tương lai của đại đa số bị đe dọa. Từ chuyện này đã phát sinh ra phong trào Kiến nghị. Vào khoảng đầu năm 1957, cả lớp có 40 chục người Kiến nghị thì đứa nào cũng ký vào hết, nhưng phải có một học sinh đại diện, mà thường học sinh đại diện này phải là người học giỏi trong lớp. Như thế có 10 lớp Đệ tứ có 10 lá thư như vậy. Mỗi lá thư đính kèm 30, 40 chục chữ ký. Chẳng những trường Petrus Ký làm thế mà tất cả những trường công ở Sài Gòn đều làm, (và người đại diện ký kiến nghị cho cả trường Trưng Vương là bà Dung (vợ anh Cát bây giờ). Thế là cả Sài Gòn kể cả trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An đều ký, nhưng đến khi ra tòa thì không có những học sinh này. Chẳng những trường dưới miền Tây như Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho, trường Thoại Ngọc Hầu ở Phan Thanh Giảng cũng đều ký hết.
Khi kiến nghị thì phải đèo theo hai điều, là đèo theo học bổng, cải thiện về giáo dục. Phong trào này xảy ra đầu năm 57, đây là năm đầu tiên đấu tranh Chống Hiệp Thương. Trên nguyên tắc là năm 56 thì đòi Hiệp Thương nhưng hai bên lắc đầu nhau, đến 57 điều này xảy ra thì là con đẻ của chuyện kia thôi.
Các trường lớp được tổ chức họp tại Sài Gòn, rồi miền Nam mười mấy trường họp lại trong một nhà hóc bà tó tại Bàn Cờ. Tôi thì không đại diện lớp đại diện trường nhưng tôi lại là người tổ chức cuộc họp đó mà địa điểm lại không biết ai cho mượn (vì tất cả đều là bạn bè, người một tay). Tôi lại là người tổ chức đi lại, ăn uống và cuối cùng tôi là chủ tọa của buổi họp đó, bạn bè tôi thì được dặn để làm này nọ, còn tôi thì không ai dặn hết, chỉ vì tinh thần xì-cút mà có tinh thần tổ chức. Vì là chủ tọa cho nên sau đó tôi ra bưu điện gửi thư cho Tổng thống và Quốc Hội. Tất cả những thư từ lúc đó khi gởi cho hai cấp đó phải có số căn cước của mình, còn nếu gởi thư bảo đảm thì không thành vấn đề. Khi đưa căn cước là tôi thầm biết, “Me,ï lúc này là bắt đầu lãnh đủ rồi đấy nhá!” Nhưng đã lao theo thì phải tới luôn. Và dĩ nhiên là thơ không đời nào có câu trả lời. Thế là phải họp lại và xuống đường.
Cuộc xuống đường tại Nha Trung Tiểu học đường Lê Văn Duyệt trước cửa Tao Đàn, nơi trước là văn phòng Thủ tướng Ngô Văn Thinh ngày xưa treo cổ chết, mà tôi là đại diện của phe biểu tình 200, 300 trăm người với cờ xí. Tôi vào nói chuyện với ông Tổng Giám Đốc Trung Học Bùi Phượng Trì. Xong về nhà, đến ngày hôm sau thì mới thấy những bạn kia đến nói cảnh sát ở quận nhì quận nhất quận ba gọi tôi.
Mới đầu chỉ có 1, 2 thằng báo tôi còn không tin nhưng sau đó 7, 8 thằng báo tin thì biết đúng là nó đã lùa hết đám này ra rồi.
Thằng nào cũng báo tin cho biết là họ đang đi tìm xem vụ này có những ai. Đến lúc này tôi biết tình hình nguy đến nơi. Tôi dò hỏi thì biết cảnh sát đặc biệt miền Đông ở chỗ Mạc Đỉnh Chi, tôi đến trình diện, “Tôi đây không cần phải đi tìm.” Thế là cảnh sát giữ tôi ở đó.
Trong bản khai tại đó có những câu hỏi rằng: Những ý kiến này là của ai. Tôi biết vậy nên nhất định chứng minh rằng đó là ý kiến của chính anh em học sinh. Thế là tôi bị giam một thời gian sau đó thả ra. Trước khi thả ra tôi phải ký vào giấy cam kết phải báo cáo cho họ biết nếu có những ai tiếp xúc... Tôi ký xong về và suy nghĩ tìm cách báo cho mọi người biết là tôi đã bị theo dõi rồi các anh đừng liên lạc với tôi nữa. Nhưng tôi khám phá ra rằng tất cả những người chơi với tôi cũng đều đã được dặn như vậy hết rồi, nghĩa là không đứa nào liên lạc với đứa nào nữa. Thì rồi lại yên.
Trong năm Đệ tam đó, tôi đang hoạt động tưng bừng thì tự nhiên hoàn toàn bị cô lập. Sau đó vài tháng thì cũng có người đến liên lạc nhưng không phải là chuyện học sinh nữa mà lúc đó là họ liên lạc, mời tôi đi họp trong Tổng Liên đoàn Lao động, lập một nghiệp đoàn Văn Nghệ Sĩ, bây giờ là đấu tranh văn nghệ từ những rạp hát, cải lương, báo chí v.v...
PPM: Nghiệp đoàn văn nghệ sĩ? Lúc đó anh đã là văn nghệ sĩ, đã viết lách gì chưa?
Đ.N.Y: Tôi đâu có viết lách gì, nhưng đại khái mình là dân hoạt động. Rủ là tôi đi. Vô họp đây thì bàn bên cạnh là bàn công an. Tụi công an ngồi đó 24/24 để ghi lại tất cả những chuyện đó vì là đấu tranh công khai mà. Tôi lại nghĩ thầm, “đây lại là cái rắc rối nữa đây. Nhưng kệ, làm thì cứ làm.” Lúc này tôi cũng đã bắt đầu chơi với đám văn nghệ sĩ rồi nhưng cũng chỉ là tép riu thôi, nhưng vấn đề là hệ thống tổ chức tức là anh đã bị lộ phía học sinh rồi thì họ sẽ (đưa anh) vào sâu sang hoạt động khác, vì đây là một hệ thống có tổ chức mà. Sau đó khó khăn thì họ dặn tôi đừng liên lạc với Liên đoàn Lao động nữa, muốn liên lạc gì thì đi lên trên Hóc Môn, đi vào các vườn họp. Khi đi họp lên đường Chi Lăng, từ Chí Nhuận từ nhà ông Phạm Duy đi ngược về Bà Chiểu, cứ buổi chiều từ 4, 5 giờ muốn gặp thì đứng chờ ở đó có người đạp xe đạp ngang qua. Rồi, như thế các bạn đã biết hồi nhỏ của tôi thế nào rồi đấy.
Nguồn: Người Việt