📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU 🔒

48 trả lời, 12.469 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-29 21:51:59NuHiepDeThuong>
VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU
DƯƠNG QUẢNG HÀM

BỘ GIÁO DỤC
TRUNG TÂM HỌC LIỆU XUẤT BẢN 1968


BIÊN TẬP ĐẠI Ý



Quyển này gồm có hai phần:

1) Phần lược khảo về văn học lịch sử nước Việt Nam nhan là “Việt Nam văn học sử yếu”
2) Phần trích lục những bài thơ văn cổ kim viết bằng Việt văn để dùng trong khoa giảng văn , nhan đề  là “Việt Nam thi văn hợp tuyển”

Việc khảo cứu về văn học lịch sử nước Nam.

Ai cũng biết rằng hiện nay không có quyền sách nào chép về văn học lịch sử nước ta, không nói gì những sách tham khảo tinh thường cho các học giả dùng, ngay đến những sách tóm tắt các đại cương cho học sinh dùng cũng không có. Gần đây, các báo chi, thỉnh thoảng có những bài nghiên cứu về một tác giả, một tác phẩm hoặc một vấn đề thuộc về văn học sử của ta. Lại có mâý nhà khảo cứu người Pháp đã dịch những tác phẩm của ta sang Pháp văn hoặc theo các tài liệu trong sử sách của ta mà viết những thiên chuyên khảo về văn tịch nước ta. Nhưng các bài khảo cứu ấy còn tản mạn ở các sách, các báo và chưa thành hệ thống gì. Lại có nhiều vấn đề vì còn thiếu tài liệu để kê cứu nên chưa thể giải quyết được.

Nay chúng tôi lấy tài sơ học thiển soạn ra quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu nầy, cũng tự biết là làm một việc quá bạo và chắc rằng tác phẩm của chúng tôi còn nhiều điều thiếu thốn, phải đợi công cuộc khảo cứu tra tầm của các học giả sau nầy mà bổ khuyết dần.
Dù sao chăng nữa, trong việc biên tập, chúng tôi đã hết sức cẩn thận. Khi xét về vấn đề nào trước hết sưu tập các tài liệu tản mạn ở các sách các báo, rồi khảo sát, suy nghĩ: điều gì xác thực chắc chắn mới chép, điều gì còn hồ nghi thì để huyền, điều gì có nhiều thuyết tương đương thì giải bày rõ ràng để sau nầy có thể nghiên cứu thêm mà quyết định.
Tóm lại, chúng tôi lấy sự thực làm trọng; không khi nào dám lấy ý riêng mà giải quyết một nghi vấn theo cách võ đoán, cũng không hấp tấp theo liêù những ý kiến thông thường nhiêù khi sai lầm hoặc thiên lệch. Bởi thế, mỗi việc quan trọng kể ra, mỗi cái chứng cớ dẫn ra, thường có chưa rõ xuất xứ. Cuối mỗi chương, đều có kể rõ các tác phẩm để kê cứu và các bản in, bản dịch để độc giả có thể theo đó mà kiểm điểm những điều đã chép ở trên.

Về mỗi tác giả nói đến trong sách (trừ những tác giả còn sống) , chúng tôi có kèm theo một cái tiểu truyện: những điều nói trong tiểu truyện nầy (năm sinh, năm mất, năm thi đỗ, quê quán v.v...) chúng tôi đã kê cứu cẩn thận ở các sử ký liệt truyên đăng khoa lục, v.v. ..

Cuối mỗi chương, thường có các bài đọc thêm, hoặc trích ở những tác phẩm đã xuất bản, hoặc tự chúng tôi biên dịch ra để độc giả được hiểu rõ một vấn đề quan trọng đã nói đến ở trong chương.

Ở cuối sách, có một bản liệt kê tên các tác giả và các tác phẩm theo thứ tự A B C; sau mỗi tên có chứa số trang trong sách đã nói đến tác giả hoặc tác phẩm ấy để độc giả tiện sự tra cứu.

Việc sắp đặt và lựa chọn các thơ văn trích lục

Việc học văn học sử phải căn cứ vào các tác phẩm: học trò không những cần biết những điều cốt yếu về thân thế và văn nghiệp của mỗi tác giả, lại cần đọc nhiều thơ văn của tác giả ấy mới có thể lĩnh hội được cái khuynh hướng về tư tưởng và cái đặc sắc về văn từ của tác giả ấy. Bởi thế phần thứ nhì quyển nầy, “Việt Nam thi văn hợp tuyển vừa là một tập hợp những bài thơ văn hay để dùng trong khoa giảng quốc văn, vừa là một tập khảo chứng cốt làm tỏ rõ những điều đã nói trong phần “Văn Học Sử Yếu”. Nên, muốn cho tiện việc đối chiếu, chúng tôi hợp các bài cùng một tác giả lại với nhau và sắp đặt các tác giả theo thứ tự thời gian, trừ các ca dao và các tác phẩm vô danh để lên đầu sách.

Trong việc lựa chọn, chúng tôi chú ý đến những bài không những có giá trị về đường tư tưởng và đường văn từ mà lại có thể làm tiêu biểu cho công trình trứ thuật của tác giả.

Việc khảo sát, dẫn giải, chú thích các thơ văn trích lục

Trước khi trích lục một tác phẩm trường thiên nào, chúng tôi có tóm tắt đại ý và lược thuật các tình tiết trong tác phẩm ấy để học trò được biết ý nghĩa của toàn thiên mới hiểu rõ các đoạn trích lục ở sau.

Các bản in quốc ngữ những thơ văn cổ (trừ những bản đứng đắn do các học giả chủ trương) thường có nhiều chỗ sai lầm làm mất cả ý nghĩa nguyên văn, nên chúng tôi đã so sánh các bản và nhiều khi phải tra ở các bản Nôm cũ để khảo sát lại, rồi lựa bản nào xét ra đúng hơn cả in vào trong bài làm bản chính, còn các bản chép khác đều in ở dưới bài để tiện việc khảo cứu, trừ những bản hiển nhiên là sai lầm (hoặc in sai, hoặc phiên âm sai) không kể; ở một vài chỗ chúng tôi lại giải rõ cái lẽ sỡ dĩ đã chọn lấy một chữ khác với chữ vẫn thường thấy.

Trong nguyên văn ,thứ nhất là trong các thơ văn cổ có những điển tích hoặc chữ khó nào, đều có chú thích kỹ lưỡng. Những từ ngữ gốc ở Hán tự, đều có chữ Nho bên cạnh và giảng nghĩa đen từng chữ để học trò được hiểu rõ.

Đó là những phép tắc chúng tôi đã theo để soạn thành quyển sách nầy. Còn về việc ghi chép, chúng tôi lấy sự minh bạch làm trọng: đoạn mạch cốt sắp đặt rõ ràng, lời văn vụ bình thường giản dị, dù vậy quyển sách nầy có nhiều chỗ thiếu thốn sơ lược, sau nầy cần phải bổ khuyết hoặc giải thích thêm, chúng tôi cũng mong rằng quyển sách nầy sẽ là một bức bản đồ giản ước theo đó các bạn thanh niên biết được phương hướng và đường lối chính để đi vào khu vườn văn học của nước ta, ngõ hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ, quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm rạp, thì thật là hân hạnh cho chúng tôi lắm.

Hà nội, tháng sáu tây năm 1941.

Dương Quảng Hàm


VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU


Chương dẫn đầu


Văn chương bình dân.
Ở nước ta, cũng như ở các nước khác, trước khi các nhà học thức viết những bài văn theo khuôn phép hẳn hỏi, thì người bình dân trong nước đã biết đem tư tưởng tính tình mà diễn thành những câu tục ngữ, những bài ca dao theo giọng điệu tự nhiên.
Văn chương bình dân ấy tuy không theo phép tắc nhất định như văn chương bác học , nhưng cũng có nhiều áng hay, đời đời do sự khẩu truyền mà lưu lại đến nay, rất phong phú; lại biểu lộ tính tình phong tục của dân ta một cách chất phác, chân thực; thật là một cái kho tài liệu quí hóa cho ta. Vậy ta phải xét trước tiên nền văn chương bình dân ấy (chương thứ 1)

Ảnh hưởng của người Tàu
– Dân tộc ta, sau khi chiếm lĩnh đất Bắc kỳ và phía bắc Trung kỳ và tự tổ chức thành xã hội – lúc ấy dân ta còn ở trong trình độ bán khai – thì bị nước Tàu chinh phục và đô hộ trong hơn một nghìn năm (từ 207 tr,Tây lịch đến 939 s. TL)
Trong thời kỳ ấy, dân ta chịu ảnh hưởng của người Tàu về cả các phương diện: chính trị, xã hội. luân lý, tôn giáo, phong tục. Riêng về đường văn học, dân ta học chữ Nho, theo đạo Nho, thâu thập dần tư tưởng và học thuật của người Tàu. Bởi thế ta phải xét đến cái ảnh hưởng ấy và những duyên do khiến cho văn học Tàu truyền sang nước ta; đó là chủ địch các chương thứ II, III, IV, V và VI.

Các chế độ: phép hịch, phép thi – Các ảnh hưởng của người Tàu rất là sâu xa, nên sau này tuy dân ta lấy lại được nền tự chủ về đường chánh trị mà về đường tinh thần, thứ nhất là đường văn học, dân ta vẫn phụ thuộc vào nước Tàu.

Trong non một ngàn năm (từ năm 939 đến cuối thế kỷ thứ XIX) trải mấy triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý Trần, Hậu Lê và Nguyễn, chữ Nho vẫn được coi làm chữ của chánh phủ dùng: học hành, thi cử, luật lệ, dụ sắc, giấy tờ việc qua đều dùng chữ nho; các sĩ phu trong nước vẫn học các kinh truyện, sử sách của Tàu, đọc các thơ văn, tác phẩm của Tàu, rồi đến lúc ngâm vịnh, trứ thuật cũng viết bằng chữ Nho. Bởi vậy ta phải xét các chế độ do các triều vua đặt ra để qui định việc học, việc thi, và khuyến khích việc văn học trong nước thế nào; đó là chủ đích các chướng thứ VII, VIII, IX và X.

Các thể văn – Tuy các sĩ phu học chữ Nho, thi chữ nho, viết văn chữ nho, nhưng một đôi khi, do cái bản tính thiên nhiên, cũng nhớ đến tiếng Nam là thứ tiếng hàng ngày vẫn và vẫn nghe, mà đem giải bày tư tưởng, tính tình bằng tiếng ấy, thứ nhất là những khi có mối cảm xúc băn khoăn ở trong lòng. Bởi thế, dù tiếng Nam không được Triều đình săn sóc đến. lại nhiêù khi bị phái nhà Nho khinh bỉ coi là “nôm na mách qué” mà vẫn sản xuất ra văn chương; không những thư văn bình dân như trên đã nói, mà từ khi Hàn Thuyên (hạ bán thế kỷ thứ XIII) biết phỏng theo Đường luật làm thơ phú bằng tiếng Nam, thì các học giả theo gương ông mà kế tiếp viết nhiều bài văn Nôm.
Thành ra, không kể những tác phẩm viết bằng Hán văn, nay ta còn có nhiêù tác phẩm viết bằng Việt văn của các tiền nhân để lại.

Tuy nhiên, ngay trong những tác phẩm viết bằng Việt văn ấy, các tác giả cũng vẫn không thoát ly ảnh hưởng của văn chương Tàu.

Trừ mấy thể riêng của ta, phần nhiều các thể văn lắp phỏng theo của Tàu … Đề mục, văn liệu, điển tích phần nhiều cũng mượn của Tàu. Ngay thứ chữ dùng để viết văn tiếng nam ấy cũng do sự ghép các bộ phận của chữ Nho mà đặt ra: tục là chữ Nôm.
Vậy ta phải xét các thể văn, hoặc mượn của Tàu, hoặc tự ta đặt ra mà các nhà làm văn nước ta đã viết bằng chữ Nôm: đó là chủ đích các chương XI, xIII, XIV, XV, XVI và XVII.


Ảnh hưởng của người Pháp
– Dân tộc ta chịu ảnh hưởng duy nhất của người Tàu mãi đến thế kỷ thứ XVII là lúc những người châu Âu sang nước ta hoặc để buôn bán, hoặc để truyền giáo, trong số các giáo sĩ, phải kể ông cố đạo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes là người thông thạo ngôn ngữ, phong tục, lịch sử của nước ta lắm. Các giáo sĩ ấy đã mượn những tự mẫu La Mã đặt ra một thứ chữ để viết tiếng ta một cách giản tiện : tức là chữ Quốc ngữ. Nhờ có sự sáng tác ấy, dân ta có một thứ chữ có quy cũ để viết tiếng Nam và cũng nhờ đó mà nền quốc văn gần đây mới thành lập được. Bởi thế ta phải xét vấn đề đó trong chương thứ XVII.


Vấn đề ngôn ngữ văn tự.
- Nay người nước Nam ta cũng biết lấy tiếng nước Nam làm trọng, ai cũng mong cho quốc văn một ngày một phát đạt, vậy ta phải xét đến vấn đề ngôn ngữ văn tự của ta, thứ nhất là sự khác nhau của tiếng Bắc , tiếng Nam, để nhận rõ nguyên do, thể cách sự khác nhau ấy và tìm phương bổ cứu, ngõ hầu một ngày kia tiếng ta thành nhất trí và có chuẩn đích, khiến có thể trở nên một thứ văn tự hoàn toàn được. Đó là chủ địch chương thứ XIX.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-29 22:05:24NuHiepDeThuong>

THIÊN THỨ NHẤT
 

VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN
 
 

Chương thứ nhất

Văn chương truyền khẩu


Văn chương truyền khẩu – Như chương dẫn đầu đã nói, ở nước ta, trước khi có văn chương bác học, đã có một nền văn chương bình dân truyền khẩu.
Văn chương truyền khẩu ấy là tục ngữ và ca dao.
Vậy ta phải xét nền văn ấy trước.


1. Tục ngữ

Định nghĩa những chữ tục ngữ, ngạn ngữ, và phương ngôn.
- tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời ngữ: lời noí) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi.  Tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ ngữ , vì chữ ngạn nghiã là lời nói của người xưa truyền lại.
Còn phương ngôn (phương; địa phương, vùng) là những câu tục ngữ chỉ thông dụng trong một vùng chứ không lưu hành khắp trong nước.

Nguồn gốc của tục ngữ :- Xét về nguồn gốc, ta có thể chia tục ngữ ra làm hai loại:

1) Những câu vốn là tục ngữ, tức là những câu nói thường, lúc ban đầu chắc cũng do một người phát ra trước tiên, rồi vì ý nó xác đáng, lời nó gọn ghẽ, người khác nghe đến nhớ ngay, sau cứ thế nhắc lại mà truyền tới bây giờ, đến nay ta không biết tác giả là ai nữa. Những câu về loại này chiếm phần nhiều nhất.

2) Những câu vốn là thơ ca mà sau biến thành tục ngữ. Những câu nguyên ở trong một bài thơ hoặc một bài ca của một tác giả nào, nhưng vì ý đúng, lời hay, nên người ta truyền tụng đi mà làm thành một câu tục ngữ.
Thí dụ: Câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân” vốn là một câu trong tập Gia huấn ca của Nguyễn Trãi.

Hình thức của tục ngữ: -xét về hình thức, tục ngữ có thể chia ra làm hai loại.

1) Những câu không vần, có ít. Những câu này có hai cách đặt:

a) Hoặc đặt lấy đối: một câu chia làm hai đoạn đối nhau.
Thí dụ: “Giơ cao đánh sẽ”- “No nên bụt, đói nên ma”.

b) Hoặc đặt không đối, chỉ cốt ý đúng lời gọn thôi.
Thí dụ: “Mật ngọt chết ruồi”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
 

2) Những câu có vần, rất nhiều.
Vần trong các câu tục ngữ thường là yêu vận (yêu:lưng) nghĩa là vần ở lưng chừng câu, thỉnh thoảng mới có cước vận (cước: chân) nghĩa là vần ở cuối câu.
Thí dụ: “Ăn cây nào, rào cây ấy” , “Nói ngọt lọt đến xương” – “Khôn cho người vái, dại cho người thương, dở dơ ương ương, tổ người ta ghét”.

Ý nghĩa các câu tục ngữ - tục ngữ của nước ta rất nhiều mà mỗi câu mỗi ý.
Tựu trung, ta cũng có thể chia làm mấy loại như sau:

1) Những câu thuộc về luân lý. Những câu nầy:

a) Hoặc dạy đạo làm người.
Thí dụ: “tốt danh hơn lành áo” – “Giấy rách giữ lấy lề”, “Sống đục sao bằng thác trong”.

b) Hoặc cho ta biết những lý sự đương nhiên.
Thí dụ “Khôn sống, mống chết” , -“Mạnh được, yếu thua”.
Hoặc dạy khôn dạy ngoan.
Thí dụ “Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau”, “gửi lời thì nói , gửi gói thì mở” – “Ăn no nằm ngũ, chờ bàu chủ mà lo”.

Nền luân lý trong tục ngữ là một nền luân lý bình thường, tuy không có tính cách cao siêu nhưng cũng đủ khiến cho người ta thành một người lương thiện và không đến nỗi khờ dại để người khác khác lường gạt được.

2) Những câu thuộc về tâm lý người đời. Những câu nầy là tả thế thái nhân tình, nhờ đó mà ta biết được tâm lý của người đời.
Thí dụ “Của người bồ tát, của mình lạt buộc”, “Vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy” ,”Yêu nên tốt, ghét nên xấu” , “Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen”.

3) Những câu thuộc về phong tục, nhờ đó mà ta biết các tập tục, tín ngưỡng ở nước ta.
Thí dụ: “Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp”, “Vô vọng bất thành quan” , “ Cao nấm ấm mồ”, “Sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm.”

4) Những câu thuộc về thường thức. Những câu nầy:

a) Hoặc nói về thời tiết.
Thí dụ: Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”.

b) Hoặc nói về việc canh nông.
Thí dụ: “Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa”. “Lúa giỗ, ngả mạ; vàng rạ thì mạ xuống đồng”.

c) Hoặc nói về thổ sản.
Thí dụ: Dưa La (1), cà Láng (2), nem Báng (3) , tương Bần (4), nước mắm Vạn Vân (5), cá rô Đầm Sét (6).

d) Hoặc nói về lễ phép, thù ứng.
Thí dụ: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “ăn miếng chả, trả miếng nem”, “Có đi có lại, mới toại lòng nhau” v.v..

(1) La: tức là tổng La nội, phủ Hoài đức, tỉnh Hà Đông.
(2) Láng: tên nôm của làng Yên lãng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà đông.
(3) Báng có lẽ là làng Đình bảng, phủ Từ sơn, tỉnh Bắc ninh.
(4) Bần : tên nôm của làng Yên nhân, phủ Mỹ hào, tỉnh Hưng yên
(5) Vạn Vân (vạn: làng bọn thuyền chài), tức là tổng Vân hải huyện Hoành hồ, tỉnh Quảng yên.
(6) Đầm sét: tên nôm của làng Diêm khê, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà đông.


Những câu nầy là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một cái tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời.

Thành ngữ:  Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn.
Trong những câu người ta thường gọi là tục ngữ, có rất nhiều câu chỉ là thành ngữ chứ không phải là tục ngữ thật.
Thí dụ: “dốt đặc cán mai”, “Nói toạc móng heo”, “Miệng hùm nọc rắn”, “Tiền rừng bạc bể” .

Sự khác nhau của tục ngữ và thành ngữ là ở chỗ nầy: một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì ,còn như thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè.

Câu ví: Trong số các thành ngữ của ta, có rất nhiều câu dùng để so sánh hai sự vật với nhau, thứ nhất là một ý nghĩ ở trong trí với một vật, hoặc một cảnh tượng ở ngoài: những câu ấy tức là câu ví. Thí dụ: “đắng như bồ hòn”, “Trắng như trứng gà bóc”, “Lào nhào như cháo với cơm”, “Nhởn nhơ như con đĩ đánh bồng”, “Thẳng như ruột ngựa, “”Nói như đóng đanh vào cột”, “trông như trông mẹ về chợ."  

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 16:42:46Huyền Băng>
2. Ca dao



Định nghĩa : Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai ; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên , rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.

Thể văn: - Ca dao viết theo mấy thể văn nầy:

1) Thể lục bát chính thức (câu 6 câu 8 kế tiếp nhau, hoặc thể lục bát biến thức (thỉnh thoảng có xem những câu dài hơn 6 hoặc 8 chữ).  Thí dụ:

Thể lục bát chính thức:

Tò vò mà nuôi con dện (nhện)
Ngày sau nó lớn nó quến nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti:
“Dện ơi! Dện hỡi ! Mầy đi đàng nào?”

Thể lục bát biến thức:

Công anh đắp nấm, trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vịn cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề
Huống tam thu như bất kiến hề,
Đường kia, nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia.
Bắc thang lên thử hỏi trăng già,
Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời.
May ra gặp được giếng khơi,
Vừa trong vừa mát lại nơi thanh nhàn
Chẳng may số phận gian nan.
Lầm tham cũng chịu phàn nàn cùng ai.
Đã yêu nhau, giá thú bất luận tài!

2) Thể song thất lục bát chính thức hoặc biến thức.
Thí dụ:  Thể song thất chính thức:

Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nước thơ ngây.
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Thể song thất biến thức :

Tròng trành như nón không quai,
Như thuyền không lái như ai không chồng
Gái có chồng như gông đeo cổ,
Gái không chồng như phản gỗ long đanh.
Phản long đanh anh còn chữa được,
Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi.
Không chồng khốn lắm, chị em ơi!

3) Thể nói lối: câu đặt thường bốn chữ, cứ chữ cuối câu trên vần với chữ thứ hai, hoặc chữ cuối câu dưới. Thí dụ:

Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày
Lấy bát cơm đầy
Lấy khúc cá to.

4) Có khi một bài gồm hai hoặc ba thể trên. Thí dụ:

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa.
Anh lấy em từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son.
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

Cách kết cấu:

a) Theo cách kết cấu (kết: tết lại; cấu: gày thành) nghĩa là cách sắp đặt các ý tứ cho thành một bài văn, thì ca dao chia làm ba thể:

1/Thế phú: phú nghĩa là phô bày, mô tả; trong thể nầy, muốn nói về người nào, việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy, việc ấy. Thí dụ:

Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Hoặc:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô.

2/ Thể tỉ: tỉ nghĩa là ví, so sánh; trong thể này, muốn nói gì, không nói thẳng ra, lại mượn một sự vật ở ngoài làm tỉ ngữ để người nghe ngẫm nghĩ mà hiểu lấy cái ý ngụ ở trong.
Thí dụ:
Bài “Tò vò mà nuôi con dện: đã dẫn ở trên.
Hoặc :
Bầu ơi ! thương lâý bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

3/ Thể hứng: hứng là nổi lên, đây nói về tình của người ta nhân cảm xúc vì vật ngoài mà phát ra. Trong thể nầy, trước tả một vật gì làm câu khai mào, rồi mượn đấy mà tiếp tục xuống ý mình muốn nói.

Thí dụ: Bài “quả cau nho nhỏ” đã dẫn ở trên.

Hoặc:

Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng ,chung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thời anh mua gạch Bát tràng về xây.
Xây dọc, rồi lại xây ngang.
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

B) cũng có khi một bài kiêm nhiêù thể, như
1/ Phú và tỉ. Thí dụ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài này vừa tả hoa sen (phú), vừa ví người quân tử với hoa sen (tỉ) .

2/ Phú và hứng. Thí dụ;

Qua cầu ngả nón trông cầu,
Câù bao nhiêu dịp (nhịp), em sầu bấy nhiêu.
Bài này vừa tả cái câầ (phú), vừa mượn cảnh cái cầu mà nói nỗi sầu của mình (hứng)
3/ Hứng và tỉ. Thí dụ;
Dao vàng bỏ đẫy kim nhung,
Biết rằng quân tử có dùng ta chăng?
Trong bài này, có mượn cao dao vàng để nói đến tình mình (hứng), vừa ví mình như con dao vàng (tỉ).

4/ Phú, hứng và tỉ. Thí dụ:

Sơn bình Kẻ Gốm không xa,
Cách một cái quán ,với ba quãng đồng.
Bên dưới có sông,
Bên trên có chợ.
Ta lấy mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng.

Toàn bài là thể hứng: bốn câu đầu là thể phú; câu cuối là thể tỉ.

Ý nghĩa: Ca dao nước ta thật là phong phú và diễn tả đủ các tình ý trong lòng người và các trạng thái xã hội. Ta có thể chia làm mấy loại như sau:

A) Các bài hát của trẻ con (đồng dao). Thí dụ bài “Thằng Bờm (xem phần thư hai, bài số 2)
B) Các bài hát ru trẻ. Thí dụ: Bài “Bao giờ cho đến tháng ba ..” (Xem phần thứ hai, bài số 3) .
Trong các bài về hai loại trên nầy, có nhiều bài xét toàn thiên không có ý nghĩa gì, chỉ là một mớ chữ sắp thành câu có vần và cũng khiến cho trẻ con thuộc được ít nhiêù danh từ về các vật thường dùng.
Thí dụ:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng,
Có lưng hũ rượu,
Có chiếu bám đu,
Thằng cu xí xoá,
Bắt trai bỏ giỏ,
Cái đỏ ẳm em,
Đi xem đánh cá
Có ra vo gạo,
Có gào múc nước
Có lược chải đâù
Có trâu cày ruộng.
Có muống thả ao,
Ông sao trên trời. ..

C) Các bài hát của con nhà nghề. Các người lao động, những lúc làm ăn vất vả, cất tiếng hát một vài câu thì dễ quên nỗi mệt nhọc và được vui vẻ mà làm ăn. Bởi thế, những người cày ruộng, cấy mạ, gặt lúa, hái dâu thường một đôi khi nghêu ngao những câu hát. Lại có nhiêù việc như chèo thuyền, đẩy xe, kéo gỗ, có nhiều người cùng làm với nhau cần phải mượn câu hát để lấy nhịp mà cùng làm cho đều tay. Vì vậy, nên có những bài hát của con nhà nghề. Thí dụ:

1/ Bài hát của người thợ cấy:

Người ta đi cấy lấy công,
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời trong, biển lặng mới yên tấm lòng.

2/ Bài hát của người chèo đò (Xem phần thứ hai, bài số 4)
3/ Bài hát của người tiêù phu (Xem phần thứ hai, bài số 5), v.v. ..
D) Các bài thuộc về luân lý. Thí dụ: Xem phần thứ hai, bài số 6,7,8.
E) Các bài tả tâm lý người đời. Những bài này:

1/ hoặc tả thế thái, nhân tình. Thí dụ: Xem phần thứ hai, bài số 9.10 .
2/ Hoặc ta tư cách các hạng người.
a) Bậc quân tử. Thí dụ bài : “Trong đầm gì đẹp bằng sen .. .” đã dẫn ở trên.
b) Bậc anh hùng. Thí dụ:

Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.

c) Bậc nhân tản. Thí dụ:

Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn vũ, hạc là người quen.

d) Người biết tự lập. Thí dụ:

Làm trai có chí lập thân,
Rồi ra gặp hội phong vân cũng vừa.
Nên ra tay kiếm, tay cờ,
Chẳng nên thì chớ, chẳng nhờ tay ai.

e) Người khôn. Thí dụ:

Người không đón trước rào sau,
để cho người dại biết đâu mà dò.

f) kẻ lười. Thí dụ:

Chửa tối đã vội đi nằm,
Em coi giấc ngủ đáng trăm quan tiền.

g) người ăn chơi. Thí dụ:

Ăn được ngủ được là tiên,
Không ăn không ngủ là tiền vất đi.

h) kẻ nói khoác. Thí dụ:

Ở đâu mà chẳng biết ta,
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên lôi.
Xưa kia ta ở trên trời,
Đứt dây rơi xuống làm người thế gian. v.v.

F) các bài có tính cách xã hội. Những bài nầy:

1/ Hoặc tả tình cảnh các hạng người trong xã hội, thứ nhất là người đàn bà và người nhà quê. Thí dụ: Xem Phần thứ hai, bài số 11,12.

2/ hoặc ta các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, dị đoan của người bình dân nước ta. Thí dụ:

Đàn ông quan tắt thì chầy,
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan.

Mồng bốn cá đi ăn thề
Mồng tám cá về, cá vượt vũ môn.

Chẳng thiêng ai gọi là Thần,
Lối ngang đường tắt, chẳng gần ai đi?

Mồng năm, mười bốn, hăm ba (7)
Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn.

G) Các bài dạy những điều thưởng thức. Những bài nầy nói về:
1/ Canh nông. Thí dụ: xem phần thứ hai, số 13.
2/ Sản vật. Thí dụ:

Ai lên Đồng tỉnh, Huê cầu (8)
Đồng tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm.
Dù ai đi chợ Thanh Lâm. (9)
Mua anh một áo vải thâm hạt rền.
--
(7) Ba ngày ấy, trong lịch Tàu gọi là “nguyệt kỵ” nghĩa là ngày phải kiêng trong một tháng.
(8) Đồng tỉnh: tên một làng thuộc huyện Văn giang, tỉnh Bắc Ninh – Huê Cầu: tên cũ của làng Xuân cầu, cũng thuộc huyện ấy.
(9) Thanh lâm: tên một làng thuộc huyện Lang tài, tỉnh Bắc Ninh.
--
3/ Thiên văn. Thí dụ:

Mồng một lưỡi trai (hoặc: không trăng)
Mồng hai lá lúa (hoặc: không trăng )
Mồng ba câu liêm,
mồng bốn lưỡi liềm,
Mồng năm liềm giật,
Mồng sáu thật trăng
Mười rằm trang nâu,
Mười sáu trăng treo,
Mười bảy sẩy giường chiêú,
Mười tám trăng lẹm,
Mười chín dụn dịn,
Hai mươi giấc tốt,
Hăm mốt nửa đêm,
Hăm hai bằng đầu
Hăm ba bằng tai,
Hăm bốn ở đâu (hoặc: bằng râu)
Hăm nhăm ở đấy (hoặc: bằng cầm)
Hăm sáu đã vày,
Hăm bảy làm sao
Hăm tám thể nào,
Hăm chín thế ấy,
Ba mươi không trăng.

4/ Thời tiết. Thí dụ:

Thâm đông, hồng tây, dựng may (10)
Ai ơi, ở lại ba ngày hẳng đi.

5/ Sông núi. Thí dụ:

Đi bộ thì khiếp Ải Vân (11)
Đi thuyền thì sợ sóng thần hang Dơi (12)
--
(10) phương đông thì đen, phương tây thì đỏ, gió may bắt đầu thổi; ta cho đó là triệu chứng trời sắp mưa to gió lớn.
(11) Ải vân: tức là đèo Hải Vân, ởchỗ giáp giới tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Nam.
(12) Sóng thần hang Dơi: Phía bắc chân núi Hải vân sát tới bể có Bức cốc (Hang Dơi) hoặc gọi là Tiên Châu (Bãi Chuối). Tương truyền khi xưa chỗ âý có sóng thần, thuyền đi qua đó, chìm đắm nhiêù lắm (Đại Nam nhất thống chí)
--

6/ Tướng người. Thí dụ:

Những người ti hí mắt lươn,
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người.

H) Các bài hát phong tình, nghĩa là những bài tả những cuộc tình duyên của trai gái: từ lúc mới gặp nhau ngỏ lời nói ướm, đến khi thề nguyền gắn bó, dạm hỏi cưới xin, rồi những cảnh nhớ mong, chờ đợi, đoàn tụ, biệt ly, những nỗi trái duyên, bội ước, quá lứa, lỡ thì, ở trong ca dao đều tả cả.
Phần nầy là phần giàu nhất trong ca dao mà cũng là phần có văn chương lý thú nhất.

Thí dụ: Xem phần thứ hai bài số 15,16,17,18,19.

LỜI CHÚ. Chính những bài hát phong tình này đã dùng làm tài liệu cho các cuộc hát trống quân và hát quan họ hoặc hát đúm (13)

1/ Các bài hát liên lạc đến lịch sử. Có nhiều bài ca dao ám chỉ đến một việc trong lịch sử, hoặc nhân một việc trong lịch sử đã xảy ra mà làm nên. Thí dụ:

Nhớ em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang (14)
Phá Tam giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm.

(13) cuộc hát trống quân thường tổ chức ở các vùng nhà quê về dịp tết Trung thu, do các người đàn anh trong làng treo giải. Một người con trai và một người con gái ngồi đối diện nhau, vừa hát vừa gỏ vào một cái dây để lấy nhịp (dây này căng thẳng, trong khoảng hai cái cọc ở giữa buộc vào một tấm ván hoặc một cái thùng sắt tây chôn xuống đất để lấy tiếng vang). Hai bên đối đáp, mượn những câu hát có sẵn mà biến báo thay đổi cho hợp vớ itình ý mình: đến khi nào một bên không hát được nữa là thua, bên kia sẽ được lĩnh giải. - Tục hát quan họ thịnh hành ở vùng Bắc Ninh (các huyện Võ giàng, Tiên du, Yên phong) và Bắc Giang (huyện Việt yên) nhân các ngày hội chùa, trai gái mấy vùng ấy họp thành từng bọn (lúc đương cuộc, họ xưng hô với nhau là anh Hai, anh Ba, chị Hai, chị Ba, v.v. coi nhau như người cùng một họ, bởi thế mới gọi là hát quan họ), rồi bọn con trái hát lối đáp với bạn con gái khác ở trước sân chùa hoặc trên những đồi núi đồng ruộng gần chùa hoặc có khi mời nhau về nhà hát.

(14) Truông nghĩa là rừng. Truông nhà Hồ tức là HỒ xá lâm ở huyện Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị; vùng này xưa lắm giặc cướp, ai đi qua đấy cũng sợ. Phá nghĩa là lạch biển. Tam giang là ba con sông. Phá tam giang là cái lạch biển ở huyện Quảng Điên2 ,tỉnh Thừa Thiên, về phía tây nam có ba ngọn sông (Tả giang, Hữu giang, Trung giang) chảy vào . rồi đổ ra cửa bể Thuận an. Vùng ấy xưa nhiêù sóng lớn, thuyền bè qua đây rất sợ. Sau phá ấy cạn đi, nên tên chữ cũng gọi là Hạc hải (bể cạn). (Theo Đại Nam nhất thống chí)
-----

Bài này ám chỉ ông Nguyễn khoa Đăng, làm Nội tán đời chúa Hiến tôn (191-1725), đã dẹp yên giặc cướp ở vùng Truông nhà Hồ.

Câu đố. Trong số các bài ca dao, có nhiêù bài là những câu đố, hoặc tả một người, một vật gì để người nghe đoán ra hoặc đặt thành những câu hỏi liên tiếp đố nhau về nhiều việc. Thí dụ:

Ngã lưng cho thế gian nhờ,
Vừa êm, vừa ấm lại ngờ bất trung.

Tức là cái phản.

Bài hát đố: Xem phần thứ hai Bài số 20.

Kết luận.
Tóm lại mà nói, thì tục ngữ ca dao chiếm một địa vị quan trọng trong văn học giới nước ta, vì đó là một cái kho tài liệu để ta khảo cứu tính tình, phong tục, ngôn ngữ của người nước ta và là một mền văn rất phong phú trong đó có đủ cả các kỹ thuật về khua từ như (nói ví ý nầy ý kia; thí dụ: “cả vú lấp miệng em”. – “có bột mới gột nên hồ”;
Phản ngữ nói trái lại ý mình muốn nói; thí dụ: Ở đời Kiệt , Trụ (15) sướng sao! Có rừng nem béo, có ao rượu đầy. Ở đời Nghiêu, Thuấn (16) khổ thay ! Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn) điển tích (đặt những chữ có ám chỉ đến một việc xưa, một sự tích xưa; thí dụ :Ai về nhắn họ Hi, Hòa (17). Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh) lông ngữ (bỡn chữ; thí dụ: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già. Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non”, nhân hóa (làm cho các vật vô tri có tính cách như người; thí dụ “cơm tẻ, mẹ ruột” , “của đau con xót”, cụ thể hoá (làm cho các ý trừu tượng hóa thành vật có hình thể; thí dụ:”Miệng mật, lòng dao” “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”. v.v.

(15) Kiệt (1818-1783) , Trụ (1154-1122) là hai ông vua nước Tàu có tiếng là dâm bôn, tàn bạo.
(16) Nghiêu (2357-2257), Thuấn (2255-2207) là hai bậc thánh quân ở bên Tàu.
(17) Hi – Hòa : vua Nghêu sai hai họ này làm lịch, đặt ra tháng nhuận và định bốn mùa.


Các tác phẩm để kê cứu
1) Phạm Quynh, tục ngữ ca dao.
2) Phan Khôi, Tục ngữ phong dao và địa vị của nó trong văn học. Tao đàn tạp chí.
3) Hoàng Ngọc Phách. Xét tâm lý người thôn quê bằng những câu hát.
4) Minh Trúc, Hát quan họ, Trung Bắc Tân văn .
5) Nguyễn Văn Huyên, Chants alternés des garcons et des filles en Annam, Paris, Geuthner.
6) G. Gordier, Essai sur la littérature annamite; La chanson, La Revue Indochinoise 1920, Hanoi.
7) Phạm Quỳnh, Le paysan tonkinois à travers le parler populaire, Nam Phong tùng thơ, Đông kinh ấn quán, Hà nội.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 13:43:03NuHiepDeThuong>
THIÊN THỨ HAI

ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC TÀU

CHƯƠNG THỨ HAI

VĂN CHƯƠNG CỔ ĐIỂN


Những điều giản - yếu về các sách giáo khoa cũ để học chữ Nho

(Thứ nhất là cuốn Tam Tự kinh)

Như chương dẫn đầu đã nói, xưa kia, ở nước ta, chữ Nho là thứ chữ dùng trong việc học việc thi.
Trước khi học đến Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Cổ văn, thì người học chữ Nho phải học qua các sách giáo khoa thông thường để có được cái học lực kha khá mà đọc các sách kia. Vậy ta phải xét các sách ấy, trước khi nói đến kinh, truyện.

Mục đích và phương pháp sự học chữ Nho. Trước hết ta nên nhận rằng mục đích sự học chữ Nho của ta ngày xưa không những là học chữ Nho thông hiểu văn tự, mà thứ nhất là học cương thường đại nghĩa. Ta đã có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn (Trước hẳn học lễ phép, sau mới học văn chương) đủ chứng rõ cái khuynh hướng của sự học ấy.

Bởi cái mục đích chú trọng về luân lý ấy, nên cách dạy không vụ sự mẫn tiệp, khiến cho người học chóng biết dùng chữ đặt câu, không theo những phương pháp sư phạm như “do thiển nhập thâm”, nghĩa là dạy từ điều dễ đến điều khó. Bất kỳ bài học nào cũng là bài học luân lý, mà dạy một câu là dạy một điều đạo nghĩa, cương thường, nên không kể gì tuổi và trình độ của học trò mà có khi đem những chữ rất khó, những nghĩa lý rất cao dạy ngay những trẻ mới vỡ lòng. Như mấy câu đầu trong cuốn Tam tự kinh đã nói đến thiên tính người ta là một vấn đề triết học rất cao mà hiện nay các nhà tư tưởng còn tranh luận chưa ngã ngũ ra sao.
Chữ Nho vốn là thứ chữ “tượng hình” mỗi chữ là một hình vẽ có nhiêù nét mà không hình nào giống hình nào: học thứ chữ ấy cho thuộc được mặt chữ để đọc và viết đã cần nhiều trí nhớ lắm rồi. Lại thêm cách dạy của ta xưa không theo thứ tự từ dễ đến khó, không dùng phép phân tích (phân: chia, tích: chẻ; chia tách ra từng phần) để giúp cho sự hiểu biết của học trò. Nhất nhất cái gì cũng học thuộc lòng thành ra phải dùng đến trí nhớ nhiêù quá. Có lẽ cũng vì thế mà ở phần nhiều người nước ta khiếu nhớ rất mở mang mà trí phán đoán, phê bình có kém, và trong nền học thuật của ta, phần “hấp thụ” của người thì nhiều mà phần “sáng tạo” của mình thì rất ít. Âu cũng là một cái kết quả không hay của phương pháp dạy học của ta ngày trước.

I. Sách của người nước Nam làm.

Trong các sách xưa dùng dạy chữ nho, có thứ do người nước ta làm, có thứ của người Tàu làm.
Sách của ta làm có mấy cuốn sau này:
Nhất thiên tự: Tên sách nghĩa là “một nghìn chữ”, nhưng thực ra có 1015 chữ đặt theo thể ca lục bát, cứ một chữ Nho thì tiếp theo nghĩa của chữ ấy. Các chữ sắp đặt không theo thứ tự gì và các câu không có ý nghĩa gì. Trích lục mấy câu đầu:

Thiên trời, địa đất, vân mây, vũ mưa, phong gió, trú ngày, dạ đêm, tinh sao, lộ móc, tường diềm , hưu lành, khánh phúc, tăng thêm, đa nhiều…

Tam Thiên tự: Tên sách đặt thế, vì cuốn ấy có “ba nghìn chữ” Chữ và nhĩa kế tiếp nhau thành từng đoạn hai tiéng một, cứ tiếng cuối đoạn trên ăn vần với tiếng cuối đoạn dười. Các chữ sắp đặt không thành loại mục, ý nghĩa gì.  Trích lục một đoạn đầu:

Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước.

Ngũ thiên tự. Cuốn này, theo như tên đặt, có “năm nghìa chữ”. Chữ và nghĩa ghép lại theo thể ca lục bát như cuốn Nhất thiên tự, nhưng các chữ đêù sắp thành từng mục như những mục thiên văn, địa lý, quốc chính, luân thường, tứ dân, ẩm thực v.v.. . Trích lục mấy câu đầu:

Thừa nhân, nhân vằng, hạ rồi.
Càn trời, khôn đất, tài bồi trồng vun.
Tích xưa, tự chữ, do còn.
Quan xem, soạn soạn, viên tròn, thiên thiên. . .


Sơ học vấn tân. Nhan sách nhĩa là “bắt đầu học hỏi bến” (hỏi bến nghĩa bóng là hỏi đường lối về việc học) Sách gồm có 270 câu bốn chữ. Câu đặt không có vần, nhiều câu cũng không đối. Chia làm ba phần:
a) Phần thứ nhất (130 câu) : tóm tắt lịch sử nước Tàu từ đầu đến đời Đạo Quang (1821-1850) nhà Thanh.
b) Phần thứ hai (64 câu): tóm tắt lịch sử nước Nam từ đời Hồng Bàng đến triều Nguyễn.
c) Phần thứ ba (76 câu): lời khuyên học trò về việc học và cách xử thế.
Trích lục mấy câu ở phần thứ hai :

Âm. Kỳ tại quốc bản, cổ hiệu việt thường; Đường cải An nam, Hàn xưng Nam Việt, Thần nông tứ thế, thứ tử phân phong; viết Kinh Dương Vương, hiệu Hồng Bàng thị.

Nghĩa. Ở nước ta, xưa gọi là Việt Thường; nhà Đường đổi làm An nam, nhà Hán gọi là Nam Việt. Cháu bốn đời vua Thần nông , (vốn là) con thứ được phong (làm vua ở xứ ta) gọi là vua Kinh Dương hiệu là Hồng Bàng.

Ấn học ngũ ngôn thi. Nhan sách nghĩa là “thơ năm tiếng (để) trẻ học”. Sách gồm có 278 câu thơ ngủ ngôn, đại ý nói về lạc thú và kết quả của sự học và tả cái mộng tưởng của một người học trò mong thi đậu trạng nguyên. Bởi thế cuốn ấy cũng gọi là Trạng nguyên thi. Trích lục một đoạn:

Âm. Di tử kim mãn doanh, hàn hư giáo nhất kinh. Tinh danh thư quế tịch, chu tử liệt triều khanh. Dưỡng tử giáo độc thư, thư trung hữu kim ngọc, Nhất tử thụ hoàng ân, toàn gia thực thiên lộc.

Nghĩa. Để cho còn đầy hòm vàng, sao bằng dạy con một quyển sách. Họ tên chép vào sổ quế (sổ người được đỗ vi thì đỗ thường gọi là bẻ quế), mặc màu đỏ tiá (màu áo đại trào) đứng gnang hàng các bậc công khanh trong triều. Nuôi con mà dạy con đọc sách, (tức là) trong sách có vàng ngọc. Một người con được chịu ơn vua, cả nhà được ăn lộc trời.

2. Sách của người Tàu làm


Những sách của người Tàu làm mà xưa ta dùng để học chữ Nho thì có cuốn Thiên tự vạn (1) trong có một nghìn chữ đặt thành những câu bốn chữ có vần, cuốn Hiêu kinh của Tăng tử chép (2) lời đức Khổng tử dạy về đạo hiếu; nhưng thông dụng hơn cả là những cuốn Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn và thứ nhất là cuốn Tam tự kinh.

(1) Cuốn này do Chu Hưng Tự làm quan đời nhà Lương soạn ra.
(2) Tăng Tử: tên là Sâm tự là Tử dư học trò đức Khổng tử.


Minh tâm bảo giám . Nhan sách nghĩa là “tấm gương báu soi sáng cõi lòng” Sách này sưu tập các câu cách ngôn của các bậc thánh hiền đời xưa chép trong kinh truyện và các sách để dạy người ta sửa tâm rèn tính cho ngày một hay lên. Sách chia làm 20 thiên.  Trích lục mấy câu trong thiên thứ nhất là thiên “Kế thiện”

Âm: Tử viết: Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc (phước); vi bất thiện giả, thiên bào chi dĩ họa.

Nghĩa
: Đức Khổng tử nói rằng: “Người làm điều lành thì trời lấy phúc mà báo cho; người làm điêù chẳng lành thì trời lấy vạ mà báo cho”.

Âm: Thượng thư vân: Tác thiện giáng chi bách trường, tác bất thiện giáng chi bách ương.

Nghĩa: Sách Thượng thư chép rằng: “ai làm điêù lành trời giáng cho trăm điều phúc, ai làm điều chẳng lành, trời giáng cho trăm điều vạ.”

Âm: Trang tử viết: “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi”

Nghĩa: Ông Trang tử nói rằng : “Một ngày không nghĩ đến điều thiện, thì mọi điều ác đều tự dấy lên”

Minh đạo gia huấn. Nhan sách nghĩa là “sách dạy trong nhà của Minh đạo”. Minh đạo tức là Trinh hiệu(3), một bậc danh nho đời Tống. Sách gồm có 500 câu thơ tứ ngôn, hoặc mỗi câu mỗi gieo vầ, hoặc cách một câu mới có vần. Các câu ấy đều là những lời khuyên răn về luân thường đạo lý và chỉ bảo về cách tu thân xử thế. Có nhiều câu lời gọn ý hay đã thành những câu cách ngôn được người ta truyền tụng.

(3) Trinh Hiệu: tự Bá Thuần, anh Trinh di, học trò Chu Đôn Di, đổ Tiến sĩ, làm quan về đời Tống Thần Tôn (1068-1086) có soạn những sách Định tính và Thái cực đồ thuyết . Đến lúc mất, Văn Ngạn Bác để ở mộ, gọi là Minh đạo tiên sinh, bởi thế người đời sau vẫn danh hiệu ấy để gọi ông.

Thí dụ:

Khai quyển hữu ích. Chi giả cành thành (câu 71-72)
(Mở sách có ích. Người có tri thì nên)

Tích cốc phòng cơ; tích y phòng hàn
(Trữ thóc phòng đói, trữ áo phòng rét)

Giáo phụ sơ lai; giáo tử anh hài
(Dạy vợ lúc mới về; dạy con lúc còn thơ)

Nữ vật tham tài; nam vật tham sắc.
(Gái chớ tham của; trai chớ tham sắc.)

Bần nhi vô xiểm; phú nhi vô kiêu
(Nghèo mà không nịnh; giàu mà không kiêu)

Nhân tham tài tử; điểu tham thực vong.
(Người tham của thì chết; chim tham ăn thì mất)

Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ
(Đói rét thiết đến thân, không đoái tới liêm sỉ )

Tự tiên trách kỷ, nhi hậu trách nhân.
(Trước tự trách mình, rồi sau trách người)

Hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu
(Ngậm máu phun người, trước bẩn miệng ta)

Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác
(Trữ thiện gặp thiện, trữ ác gặp ác)

Cận chân giả xích, cận mặc giả hắc
(Gần son thì đỏ, gần mực thì đen. )

Đãn hoạn vô tài, bất hoạn vô dụng
(chỉ lo không có tài, chẳng lo không được dùng)

Tam tự kinh. Nhan sách nghĩa là “sách ba chữ” vì các câu trong cuốn âý đều có ba chữ. Các chữ cuối câu chẵn đều có vần, và cứ hai vần trắc lại đổi sang hai vần bằng. Sách ấy vẫn truyền là do vương Ứng Lân, người đời nhà Tống soạn ra.

(4). Vương Ứng Lân, tự là Bá Hậu, người đời Khánh nguyên, nhà Tống (1105-1201)- Đến đời nhà Thanh, Vương Tấn Thăng có làm bài giải thích sách Tam tự kinh, nhan là Tam tự kinh huấn hỗ trong bài tựa đề năm Bính ngọ niên hiệu Khang Hi (1666), cũng nói là sách ấy do vương Bá Hậu soạn ra. những các nhà khảo cứu gần đây lại cho sách ấy là do Khu Thích tử, người cuối đời Tống làm ra.

Sách có 358 câu, chia làm bảy đoạn đại ý như sau:
1) Đoạn thứ I : Nói về tình người và sự dạy dỗ.
2) 2) Đoạn thứ II: Lễ nghi, hiểu để, bổn phận của trẻ con
3) Đoạn III: Các điều thường thức: kể rõ các số mục giải thích thế nào là tam tài (trời, đất, người), tam quang (mặt trời, mặt trăng, sao), tam cương (ba giềng: vua tôi, cha con, vợ chồng), tứ thời (bốn mùa), tứ phương (bốn phương), ngủ hành (năm hành :thủy, hỏa,mộc, kim, thổ) , ngũ thường (năm nết thường: nhân, nghĩa, lể trí, tín), lục cốc (sáu giống lúa) lục súc (sáu giống vật nuôi), thất tình (bảy mối tình trong lòng người), bát âm (tám thứ tiếng trong âm nhạc), cửu tộc (chín đời trong họ.), thập nghĩa (mười điều nghĩa).
4) Đoạn thứ IV: Các sách học : Hiếu kinh (sách dạy về đạo hiếu), Tứ thư (bốn cuốn sách gốc trong đạo Nho), Ngủ kinh (Năm cuốn sách chính trong đạo Nho), ngủ tử (năm nhà triết học) chư sử (các sách sử)
5) Đoạn thứ V: Kể các triều vua trong lịch sử nước Tàu từ đâù đến đời Nam Bắc triều;
6) Đoạn thứ VI: Kể gương của người chăm học đời xưa để khuyến khích học trò.
7) Đoạn VII:Mấy lời khuyên trẻ con nên chăm học để sau này được hiển vinh.
8)

Trích lục một đoạn:

Âm: dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi nọa. Tử bất học, phi sở nghị. Áu bất học, lão hà vi. Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý

Nghĩa: Nuôi mà chẳng dạy là lỗi của người cha. Dạy mà chẳng nghiêm, do sự lười của ông thâỳ .Người con mà không học là lỗi đạo làm con. Bé không học, già làm gì. Hòn ngọc không giũa không thành được đồ dùng. Người ta không học, không biết được lẽ phải.

Kết luận.
Tất cả các sách kể trên này, xét về phương diện sư phạm, đều không hợp với trình độ trẻ con, vì quyển nào cũng ngay tự chỗ bắt đầu, dùng những chữ khó hoặc về ý nghĩa, hoặc về mặt chữ. Nhưng ta cũng phải nhận rằng ,trừ ba quyển trên chỉ là những sách dạy tiếng một đặt thành câu có vần cho dễ nhớ không kể, còn các quyển dưới đều có chủ ý dạy trẻ biết luân thường đạo nghĩa, lại phần nhiều đặt theo lối văn vần, thành ra trẻ con học thuộc những câu ấy, tuy lúc nhỏ chưa hiểu rõ nghĩa lý, nhưng đến lúc lớn, nhớ ra, ôn lại, thời dần dần cũng vỡ vạc thấm thía các nghĩa lý ấy mà coi những câu ấy như những câu châm ngôn để tu thân xử thế, thật rất có ảnh hửởng về đường tinh thần luân lý vậy.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 13:45:56NuHiepDeThuong>
CHƯƠNG THỨ BA

CÔNG DỤNG CỦA VĂN HỌC TÀU


Xét qua Bộ Tứ Thư


Công dụng của văn học Tàu. Như Chương dẫn đâù đã nói ,dân tộc Việt Nam, ngày từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu. Cái văn hóa ấy truyền sang nhước ta tuy do nhiều cách, nhưng thứ nhất là do văn học, tức là nhờ sự học chữ Nho và các sách chữ Nho của người Tàu đem sang. Chính cái văn học của người Tàu ấy đã chi phối tư tưởng, học thuật, luân lý, chánh trị, phong tục của dân tộc ta.

Trong các trào lưu tư tưởng của người Tàu tràn sang bên ta, có ảnh hưởng sâu xa đến dân tộc ta nhất là Nho giáo. Các sách làm gốc cho Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh; các sách ấy vừa là kinh điển của các môn đồ đạo Nho, vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ ở nước Tàu. Vậy ta phải xét những bộ sách ấy trước. Thoạt tiên xét về bộ Tự thư (bốn sách) gồm có Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử.

Đại học ,


A) Cuốn nầy là sách của bậc “đại học” cốt dạy cái đạo của người quân tử.

Sách chia làm hai phần:
1) Phần trên gọi là kinh, chếp lời đức Khổng tử. (1) có I chương.
--
(1) Khổng tử (551-479) , chính tên là Khưu, người nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn đông) trước làm quan Đại tư khấu, (coi việc hình ở nước Lỗ, sau được cất lên nhiếp tường sự. Sau vì vua Lỗ không muốn dùng ngài, ngài đi chu du các nước chư hầu (Vệ, Tống, Trần v.v. .. ) trong 14 năm, nhưng không ông vua nào biết dùng ngài. Ngài bèn trở về nước lỗ dạy học trò, san định các Kinh, làm sách Xuâ Thu để bày tỏ cái đạo của Ngài. Tuy ngài không phải là người sánglập ra Nho giáo vì như ngài đã nói: “Thuật nhi bất tác, ngài chỉ thuật lại đạo giáo của cổ nhân mà không sáng tác ra gì, nhưngngài đã có công lớn đem cái đạo của thánh hiền thời thượng cổ mà phát huy ra và lập thành hệ thống để truyền cho đời sau; bởi thế ngài vẫn được coi là ông tổ của Nho giáo.
--
2) Phần dưới, gọi là Truyện, là lời giảng giải của Tăng tử (2) là môn đệ của Khổng tử có 10 chương.
Mục đích bậc đại học hay cái tôn chỉ của người quân tử, đã tóm ở câu đầu sách là: “Đại học chi đạo, tại minh chi đức, tại thân dân, tại chỉ ư chi thiện. Nghĩa là: Cái đạo của người theo bậc đại học là cốt làm sáng cái đức (đức tốt) của mình, cốt làm mới (ý nói cải hóa) người dân, cốt dừng lại ở cõi chí thiện. Vậy người quân tử trước phải sửa sang đức tính mình cho hay, rồi lo dạy người khác nên hay, và lấy sự chí thiện làm cứu cánh.

C) Mục đích đã như vậy, phương pháp phải thế nào? Phải sửa mình trước (tu thân), rồi mới chỉnh đốn việc nhà (tề gia), cai trị việc nước (trị quốc) và làm cho cả thiên hạ được bình yên (bình thiên hạ). Cái phương pháp ấy là tuần tự mà tiến, tự mình đến người ngoài, mà điều cốt yếu nhất là việc sửa mình, nên trong Đại học có câu:”Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản, nghĩa là: Từ ông vua đến kẻ thường dân, ai nấy đều lấy việc sửa mình làm gốc.
--
(2) Tăng tử: xem lời chú số (2) ở chương thứ hai.
--

D) Nay muốn sửa mình, phải thực hành theo cách nào?
Trước hết phải cách vật nghĩa là thấu lẽ mọi sự vật, rồi phải trí tri, nghĩa là biết cho đến cùng cực, thành ý: nghĩa là ý phải thành thực, chánh tâm, nghĩa là lòng phải cho ngay thẳng. Bốn điều ấy phải theo htứ tự kể trên mà tiến hành, có làm được điều trên mới làm được điều dưới. Làm được bốn điều áy thì thì sẽ tu được thân, rồi tề được nhà, trị được nước và bình được thiên hạ, mà làm trọn được cái đạo của người quân tử.

Trung Dung. Cuốn này là gồm những lời tâm pháp của đứcKhổng tử do học trò ngài truyền lại, rồi sau Tử tư là cháu ngài chép thành sách, gồm có 33 chương.

“Ông Tử Tư dẫn những lời của Khổng Phu tử đã giảng về đạo trung dung. Ngài nói rằng: Trung hòa là cái tính tình tự nhiên của trời đất, mà trung dung là cái đức hạnh của người ta. Trung là giữa, không lệch về bên nào: dung là thường, nghĩa là dùng đạo trung làm đạo thương (4). đạo trung dung thì ai ai cũng có thể theo được, thế mà không mấy người chịu theo. Khác nào như ai cũng ăn uống cả, nhưng ít người ăn mà biết rõ mùi vậy. Chỉ có thánh nhân mới theo được mà thôi, vì theo đạo ấy cốt phải có ba cái đạt đức là trí, nhân và dũng. Trí là để biết rõ các sự lý, nhân là để hiều điều lành mà làm, dũng là để có cái khí cường kiện mà theo làm điều lành cho đến cùng.

“Ông Tử tư lại dẫn lời đứcKhổng Phu tử nói về chữ thành, “Thành là đạo Trời, học cho đến bậc thành là đạo người” Đạo người là phải cố gắng hết sức để cho đến bậc chí thành. Phải học cho rộng, xét hỏi cho kỹ, nghĩ ngợi cho sâu, biện biệt điều phải trái cho rõ, và dốc lòng làm điều thiện cho đến cùng. Hể ai làm được như thế thì rồi ngu thành sáng, yếu thành ra mạnh, tức là dần dần lên đến bậc chí thành. Ở trong thiên hạ duy có bậc chí thành tức là bậcthánh, thì mới biết rõ cái tính của Trời; biết rõ cái tính của trời thì biết rõ cái tình của người; biết rõ cái tình của người, thì biết được cái tính của vạn vật; biết rõ cái tính của ạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và có công ngang với trời đất vậy …
--
(3) Tâm pháp (tâm: lòng; pháp: phép) là những điều đạo giáo thày trò dạy bảo truyền thụ cho nhau.
(4) Trung dung là đạo người quân tử ăn ở đúng mực, không thái qua, không bất cập. chữ dung ở đây nghĩa là không thay đổi.

(5) Trung dung XX.

--
“Sách Trung dung nói cái đạo của thánh nhân căn bản ở Trời, rồi giải diễn ra hết mọi lẽ, khiến người ta phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và khi im lặng một mình. Suy cái lý ấy ra cho đến sự nhân nghĩa, để khiến cho thiên hạ được bình trị và lại tán dương cái công hiệu linh diệu của đạo ấy cho đến chỗ tinh thần vô thanh, vô sắc mới thôi. Thật là một quyển sách triết lý rất cao” (Trần Trọng Kim, Nho giáo, q1, tr.279-285)

Luận ngữ.
A) Luận ngữ (nghĩa đen là bàn nói) là cuốn sách chép các lời đức Khổng tử khuyên dạy học trò hoặc các câu chuyện ngài nói với những người đương thời về nhiều vấn đề (luân lý, triết lý, chánh trị, học thuật) do các môn đệ ngài sưu tập lại.

Sách ấy chia làm hai quyển (thượng, hạ) gồm có 20 thiên (mỗi thiên lâý hai chữ đầu đặt tên). Các chương không có liên lạc thống hệ gì với nhau.

B) Sách luận ngữ cho ta biết những điều gì? – Sách Luận ngữ có thể coi là cuốn sách dạy đạo người quân tử một cách thực tiễn và mô tả tình tình, cử chỉ, đức độ của đức Khổng tử như phác họa ra một cái mẫu mực hoạt động cho người đời sau theo.

Xem sách ấy ta có thể biết được:
1) Nhiều câu cách ngôn xác đáng về đạo người quân tử.
2) Phẩm cách cao thượng (hồn hậu, thành thực, khiêm cung, khoái hoạt) của đức Khổng tử biểu lộ ra trong những chuyện ngài nói với học trò.
3) Cảm tình phong phú và lòng ái mỹ của ngài.
4) Khoa sư phạm của ngài. Trong các lời khuyên dạy chuyện trò với học trò, ngài tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làm cho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ cảnh ngộ của mỗi người. có khi cùng là một câu hỏi mà ngài trả lời khác, tùy theo tư chất và chí hướng của từng người (Xem bài đọc thêm số 1)

Mạnh tử.

A) Đó là tên cuốn sách của Mạnh tử (6) viết ra.
Sách gồm có 7 thiên. Các chương trong mỗi thiên thường có liên lạc với nhau và cùng bàn về một vấn đề.

B) Tư tưởng của Mạnh tử . Xem sách ấy, ta có thể nhận được tư tưởng của mạnh tử về các vấn đề sau này:
1) Về luân lý. a) Ông xướng lên cái thuyết tính thiện để đánh đổ cái thuyết của người đương thời (như Cáo Tử) cho rằng tính người không thiện không ác. Theo ý ông, thì thiên tính người ta vốn thiện, ví như tính nước vốn chảy xuống chỗ thấp; sở dĩ thành ác là vì làm trái thiên tính đi, ví như ngăn nước cho nó phải lên chỗ cao vậy (xem bài dọc thêm số 2).

b) Tính người vốn thiện, nhưng vì tập quan, vì hoàn cảnh vì vật dục làm sai lạc đi, hư hỏng đi, vậy cần phải có giáo dục để muôi lấy lòng thiện, giữa lấy bản tính. Mấy điều cốt yếu trong việc giáo dục ấy là: dưỡng tính (giữ lấy thiện tính), tồn tâm (giữa lấy lòng lành), trì chí (cầm lấy chí hướng cho vững), dưỡng khí (nuôi lấy khí phách cho mạnh).
--
(6) Mạnh Tử (372-289) tên là Kha, người đất Châu (nay thuộc tỉnh Sơn đông), ở về đời Chiến quốc, học trò Tử tư cháu đích tôn Khổng tử) Ông hiểu rõ đạo của Khổng tự, lại có tài hùng biện, thường đi du lịch các nước chư hầu (Tề, lương, Tống, đằng), muốn đem cái đạo của thánh nhân ra cứu đời, nhưng không được ông vua nào biết dùng. Sau lúc gần già thấy cái đạo ấy không thể thực hành được, ông về nhà dạy học trò và soạn ra sách Mạnh tử. Ông là người có công to nhất trong việc làm sáng tỏ đạo lý Nho giáo và bệnh vực đạo ấy để chống với các học thuyết khác về đời Chiến quốc, nên vẫn được coi là bậc á thánh (gần bậc thánh)

--
c) Ông thường nói đến phẩm cách của người quân tử mà ông gọi là đại trượng phu hoặc đại nhân: bậc ấy phải có đủ bốn điêù là : nhân, nghĩa, lễ, và trí.

2. Về chính trị. Ông nói bậc làm vua trị dân phải trọng nhân nghĩa chớ đừng trọng tài lợi thì mới tránh được sự biến loạn và việc chiến tranh (Xem bài đọc thêm số 3)

2) Ông cũng lưu tâm đến vấn đề kinh tế lắm. Ông nói: Người ta có hằng sản, rồi mới có hằng tâm, nghĩa là người ta có của cải đủ sống một cách sung túc thì mới sinh ra có lòng tốt muốn làm điêù thiện. Vậy bổn phận kẻ bề trên làp hải trù tính sao cho tài sản củadân được phong phú rồi mới nghĩ đến điều dạy dân và bặt dân làm điều hay được. Ông lại chỉ các phương lược mà các bậc vua chúa phải theo để làm cho việc canh nông, mục súc, công nghệ của dân được phát đạt.

C) Văn trừ trong sách Mạnh tử.Mạnh tử không những là một nhà tư tưởng lỗi lạc, lại là một vậc văn gia đại tài. Văn ông rất hùng hồn, và khúc triết: ông nói điều gì, cãi lẽ gì, thật là rạch ròi, góc cạnh. Ông hay nói thí dụ: muốn cho ai hiểu điều gì, muốn bắt ai chịu phục lẽ gì, ông thường dẫn các thí dụ mượn ở sự vật cho người ta dễ nhận xét. Ông lại hay dùng thể ngụ ngôn hoặc kể những câu chuyện ngắn để diễn đạt tư tưởng cho người nghe vui thích và dễ nhận cái thâm ý của ông (Xem bài đọc thêm số 4).

Kết luận. - Bộ Tứ thư là bộ sách gồm những điều cốt yêu của Nho giáo, ai muốn hiểu rõ đạo giáo ấy tất phải nghiên cứu bộ ấy. Trong bộ ấy, có nhiều câu cách ngôn xác đáng, nhiều chân lý đương nhiên đáng để cho chúng ta, bất kỳ là người nước nào, ở thời đại nào, ngẫm nghĩ suy xét và rất có bổ ích về đường tinh thần, đức hạnh của ta vậy.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 13:54:03NuHiepDeThuong>
CÁC BÀI ĐỌC THÊM


1. Thế nào là hiếu?

Mạnh Tử (7) hỏi thờ đáng thân thế nào gọi là hiếu? Đức Khổng nói rằng: “Thờ đấng thân mà không ngang trái là hiếu”

Thầy Phàn Trì (8) ngự xe cho đức Khổng, đức Khổng bảo cho rằng: “Họ Mạnh tôn (8) hỏi ta điều hiếu ,ta thưa rằng: “Không ngang trái” Thầy Phàn Trì hỏi rằng: “Lời ấy là ý bảo thế nào?” Đức Khổng nói rằng: “Ta nói không ngang trái là không ngang trái với lẽ phải. Người con thờ đấng thân, khi đấng thân còn thì phụng dưỡng cho phải lễ; khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ; khí tế đáng thân thì tế cho phải lễ”

Mạnh Vũ Bá (9) hỏi điều hiêú. Đức Khổng nói rằng: “Cha mẹ chị chăm lo về tật bệnh người con”

Thầy Tử Du (10) hỏi điều hiếu. Đức Khổng nói rằng: “đời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính, thì có khác gì!”

Tử Hạ (11) hỏi điều hiếu, Đức Khổng nói rằng: “Khi thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết phục dịch làm thay việc khó nhọc cho phụ huynh, và có rượu cơm mời ngài xơi, những điều ấy có kể là hiếu đâu!”
Luận ngữ (Thiên vi chính thứ hai, chương V – VIII) Nguyễn Hữu tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch. Luận ngữ quốc văn giải thích (Đông kinh ấn quán, Hà Nội).

2.- Cái thuyết “tính thiện” của Mạnh tử.

Cáo tử (12) nói rằng: Tính người ta cũng như nước chảy quanh vậy; khơi sang phương đông thì chảy phương đông, khơi sang phương tây thì chảy phương tây; tính người không phân biệt thiện với bất thiên, cũng như nước không phân biệt phương đông với phương tây vậy”.

Thầy Mạnh nói rằng: “Nước đành là không phân biệt phương đông phương tây, nhưng lại không phân biệt chỗ cao chỗ thấp đấy ư? Tính người ta vốn thiện, cũng như nước vốn chảy chỗ thấp; tính người ta không có người nào là chẳng thiện, nước không có nước nào là chẳng chảy chỗ thấp. Nay nước kia đập mà cho bắn lên, có thể khiến vọt qua tràn; ngăn mà cho đi ngược, có thể khiến tràn đến núi; ấy há phải cái nguyên tính của nước thế đâu, vì cái thế nó bị đập, bị ngăn thì nó mới thế vậy; người ta mà khá khiến làm điều bất thiện, vì cái tính nó bị vật dục che lấp cũng như nước bị người đập hay ngăn đi vậy.

Mạnh tử (Thiên Cáo tử thượng, Chương 11) Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch. Mạnh tử uqốc văn giải thích (Trung Bắc tân văn Hà Nội xuất bản)
--
(7) Mạnh Ý tử : quan đại phu nước Lỗ, họ Trọng tôn, tên là Hà Kỵ.
(8) Phàn Trì: học trò 9ức Không, tên là Tu, Mạnh tôn: tức : Trọng Tôn.
(9) Mạnh Vũ Bá: con Mạnh Ý tử, tên là Trệ.
(10) Tử Du: học trò đứcKhông, họ Ngôn, tên là Yến.
(11) Tử Hạ: học trò đức Khổng, họ là Bốc, tên là Thương
(12) Cáo tử: người đồng thời với thâỳ Mạnh.

--

3. Ông vua phải lấy nhân nghĩa làm đầu

Thầy Mạnh yết kiến vua Huệ vương nước Lương. Vua hỏi: “cụ chẳng quản xa xôi nghìn dặm mà đến đây, chừng cũng có thuật gì làm lợi cho nước tôi chẳng?”
Thầy Mạnh thưa: “Nhà vua hà tất phải nói đến lợi, chỉ nên nói nhân nghĩa mà thôi. Nếu vua lên mà nói rằng làm thế nào có lợi cho nước ta, thời các quan Đại phu cũng bắt chước mà nói rằng làm thế nào lợi cho nhà ta; kẻ trên người dưới giao nhau tranh lợi, thời nước nguy mất! Rồì thì có cái kẻ giết vua nước vạn thặng đó, tất là cái nhà thiên thặng; cái kẻ giết vua thiên thặng đó, tất là cái nhà bách thặng. Khi xưa đấng tiên vương chia đất: trong phần vạn, quan Công Khanh đã được phần thiên; trong hần thiên, quan Đại phu đã được phần bách; được thế cũng đã nhiêù lắm rồi, nếu lại cho nghĩa là hoãn mà bỏ lại sau, cho lợi là kíp mà xướng lên trước, thời cứ như cái lòng tham lợi ấy, không cướp được của nhau, không biết thế nào là đủ. Chửa thấy kẻ có nhân mà bỏ cha mẹ mình bao giờ; chửa thấy kẻ có nghĩa mà trễ nải việc vua mình bao giờ. Vua cũng chỉ nên nói nhân nghĩa mà thôi, hà tất phải nói đến lợi. !”
Mạnh tử (Thiên Lương Huệ vương, thượng. Chương 1) Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch (Sách đã kể trước).

4. Vợ chồng người nước Tề.

Một người nước Tề cùng ở một nhà với hai vợ. Người ấy cứ ngày ngày đi đâu về cũng thấy no say. Người vợ cả hỏi đi ăn uống với ai, thì người ấy nói đi ăn uống rặt với những người sang giàu cả. Người vợ cả bảo người vợ lẽ rằng: “chồng ta đi đâu thì cũng ăn uống no say rồi mới về. Hỏi thì nói rằng: “Đi ăn uống với những người sang giàu hết cả. Thế mà ta chưa thấy ai là người sang trọng đến nhà ta. Ta sẽ dò xem chồng ta đi những đâu”. Ngày hôm sau, sáng dậy, người vợ cả lẻn đi theo chồng. Đi khắp mọi nơi, không thấy ai đứng nói chuyện với chồng mình. Sau thấy người chồng đi đến xóm đông, chỗ có người đang cải mả, xin những đồ người ta cúng lễ xong mà ăn, ăn chưa đủ, lại nghễnh lên trông xem có chỗ nào lại đi đến xin ăn nữa. Ấy là cái cách của người ấy làm cho được no say là thế. Người vợ cả nói với người vợ lẽ rằng: “Người chồng là người của ta trông cậy suốt đời, nay đê hạ như thế đấy”. Người vợ cả nói cái xấu xa của chồng với người vợ lẽ, rồi cả hai cùng khóc ở giữa sân. Người chồng về không biết, hớn hở đi từ ngoài vào, lên mặt với hai vợ.
Cứ người quân tử xét ra, thì người cầu phú quý lợi đạt, mà thê thiếp không xấu hổ và khóc với nhau, là ít có vậy.

Mạnh tử (Thiên Ly Lâu hạ, Chương XXXII) Lệ Thần Trần Trọng Kim dịch; Nho giáo quyển 1 (Trung Bắc tân văn Hà Nội)

CÁC TÁC PHẨM KÊ ĐỂ KÊ CỨU

1) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Etudes sur la littérature sinoannamite, Hanoi. Editions du Trung Bắc tân văn 1930.
2) Phạm Quỳnh, L’idéal du Sage dans la philosophie confucéenne (cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng) avec traduction annamite. Nam phong tùng thư, Hanoi, Đông kinh ấn quán x.b.1928.
3) Lệ Thần Trần Trọng Kim, Nho giáo, Quyển 1. Hanoi. Editions du Trung Bắc tân văn, 1930.
4) Nguyễn Hữu Tiến, Học thuyết thầy Mạnh, N.P.t.XXXII. số 133 tr. 340-350.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 14:01:13NuHiepDeThuong>
CHƯƠNG THỨ TƯ

NHỮNG ĐIỀU GIẢN YẾU VỀ KINH THI,

TẬP CA DAO CỔ CỦA NGƯỜI TÀU


Nói qua về ngũ Kinh

A) Ngủ kinh (năm cuốn sách) ũng như Tứ thư, là những sách gốc của Nho giao. Nguyên trước có sau kinh, nhưng vì sự đốt sách của Tần Thủy hoàng (246-209). một kinh kinh là Kinh Nhạc (am nhạc) mất đi (1)

B) Ngũ kinh là;
1) Thi (thơ), do đức Khổng tử sưu tập và lựa chọn, sẽ nói rõ về sau.
2) Thư (nghĩa đen là ghi chép) , do đức Không tử sưu tập, trong chếp điển, mô, huấn, cáo, thệt, mệnh (2) của các vua tôi bên Tàu tự đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu (tự năm 2357 đến năm 77t tr. T.L)
3) Dịch (nghĩa đen là thay đổi) là cuốn sách sách tượng số dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hoá của trời đất và sự hành 9dộng của muôn vậ.t Nguyên vưa Phục HI (4480-4365) đặt ra bát quái (tám quẻ, tức là tám hình vẽ),tám quẻ ấy lại lần lượt đặt trồng lên nhau thành ra 64 trùng quái (quẻ kép); mỗi trùng quái có sáu nét vạch (hoặc vạch liền biểu thị lẽ dương, hoặc vạch đứt biểu thị lẽ âm gọi là hào, thành ra 384 hào.
4) Lễ ký (chép về lễ) là sách chép các lễ nghị trong gia đình, hương đảng và triều đình. Hiện cuốn Lễ ký còn truyền lại đến giờ phần nhiêù là văn của Hán nho, chứ chính văn do đức Khổng tử san định về đời Xuân thu không còn mấy.
5) Xuân thu (mua xuân và mùa thu), nguyên là sử ký nước Lỗ, do đức Khổng tử san định lại, chép công việc theo thể biên niên tự năm đầu đời Lỗ Ẩn công đến năm thứ 15 đời Lỗ Ai công (tự 722 đến năm 481 tr. T.L) cộng là 243 năm.

Lược sử kinh Thi.

A) Kinh Thi vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương ở nơi triều miếu của nước Tàu về đời thượng cổ. Các thiên trong “Thương tụng” (Xem ở dưới) có lẽ làm tự đời nhà Thương (1783-1135), còn các thiên khác đều làm về đời nhà Chu, tự thế kỷ thứ XII đến thế kỷ thứ VI. Các bài ấy do các nhạc sư sưu tập và đem hát trong khi có yến tiệc và tế lễ.
B) Nguyên trước có đến gần ba ngàn thiên, sau Đức Khổng tử lựa chọn lấy hơn ba trăm thiên và theo ý nghĩa các thiên sắp đặt thành bốn phần.
C) Đến đời Tần Thủy hoàng, Kinh Thi, cũng như các kinh khác bị đốt, nhưng có nhiều nhà Nho còn nhớ.
D) Đến thế kỷ thứ II tr. TL về đời nhà Hán, có bốn bản kinh Thi xuất hiện, đại thể giống nhau, duy chữ viết có khác. Truyền lại đến nay là bản của Mao Công (tức Mao Trường)

Nội dung của kinh Thi. Kinh Thi có bốn phần gồm 305 thiên (bài thơ) . Trong đó có 6 thiên chỉ truyền lại đề mục mà không còn bài. Mỗi thiên lấy vài chữ chính trong thiên làm đề mục và chia ra làm nhiều chương. Bốn phần trong kinh thi là : Quốc phong, Tiểu nhã, Đại nhã và Tụng.

A) Quốc Phong - Quốc nghĩa làn ước (đây là các nước chư hầu về đời nhà Chu) phong nghĩa đen là gió; ý nói các bài hát có thể cảm người ta như gió làm rung động các vật. Vậy quốc phong là những bàica dao của dân các nước chư hầu mà đã được nhạc quan của nhà vua sưu tập lại.
Quốc Phong chia làm 15 quyển, mỗi quyển là một nước, gồm có:
1) Chính phong (hai quyển Chu nam và Thiệu nam) (3) gồm những bài hát tự trong cung điện nhà vua truyền ra khắp thiên hạ.
2) Biến phong , gồm những bài hát của 13 nước chư hầu khác.
B) Tiểu nhã. Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát dùng ở nơi triều đình. Tiểu nhã chỉ những bài dùng trong những trường hợp thường như khi có yến tiệc.
Tiểu nhã gồm có 8 thập, mỗi thập có 10 thiên.
C) Đại nhã.- Đại nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường hợp quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường.
Đại nhã gồm cỏ thập, mỗi thập 10 thiên, trừ thập thứ ba có 11 thiên.
D) Tụng.- Tùng nghĩa là khen, gồm những bài ngợi khen các vua đời trước và dùng để hát ở nơi miếu đường.
Tụng có 5 quyển gồm 40 thiên, chia ra làm:
1) Chu tụng: 31 thiên (3 quyêể đâầ)
2) Lỗ tụng : 4 thiên (quyển thứ 4)
3) Thương tụng: 5 thiên (quyển thứ 5).

Thể văn trong Kinh Thi.-

A) Các bài trong Kinh Thi viết theo thể thơ 4 chữ (thỉnh thoảng có câu 3 chữ hoặc 5 chữ.
B) Cách kết cầu các bài làm theo ba thể:
1) Thể phú (xem bài đọc thêm số 1)
2) Thể tỷ (Xem bài đọc thêm số 2)
3) Thể hứng (xem bài đọc thêm số 3)
Ba thể ấy đã giải thích rõ trong chương thứ I (mục nói về Ba thể văn trong ca dao).

Luân lý trong Kinh Thi
.-

A) Đức Khổng tử đã nói: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà. , nghĩa là: Cả ba trăm thiên Kinh Thi, chỉ một câu có thể chùm được, là: Không nghĩ bậy. (Luận ngữ: Vi chính II). Vậy người đọc Kinh Thi phải làm thế nào cho lòng mình không nghĩ đến điều sằn bậy, dâm tà để có được tính tình trong sạch; đó là bài học luân lý của sách ấy, mà cũng là chủ ý của đức Không tử khi ngài san định kinh ấy.
B) Ngài lại nói: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chi ư điểu thú, thảo mộc chi danh. , nghĩa là: Xem kinh Thi, có thể phấn khởi được ý chí, xem xét được việc hay dở, hòa hợp với mọi người, bầy tỏ nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây. (Luận ngữ: Dương Hoá, XVII). Đó là sự ích lợi của việc đọc kinh Thi.

Đọc kinh Thi, biết được những điều gì? đọc kinh Thi, ta biết được tính tình, phong tục của người dân và chánh trị các đời vua cùng các nước chư hầu ở nước Tàu về đời Thượng cổ. Thí dụ:
Đọc Mân phong, ta biết được tục cần kiệm của người dân nước ấy.
Đọc Vệ phong, ta biết được tục dâm bôn của người dân nước âý.
Đọc Tần phong, ta biết được sự hối quá của người dân nước ấy.
Đọc Đại nhã, Tiểu nhã, ta biết được chánh trị của nhà Chu thịnh suy thế nào.

Ảnh hưởng kinh Thi đối với văn chương nước Tàu và nước Nam.

A) Kinh Thi là một cái nguồn thi hứng các thi sĩ thường mượn đề mục ở đâý.
B) Kinh Thi lại là một cái kho điển tích: các nhà làm văn hay lấy điển hoặc lấy chữ ở đấy. Ta cứ đọc Truyền Kiều thì thấy rất nhiều điển và chữ mượn ở Kinh Thi.

Kết luận. Kinh thi, cũng như ca dao của ta, là cái nền thơ lối cổ của nước Tàu, trong đó có nhiêù bài mô tả tính tình, phong tục dân Tàu một cách chất phác, hồn nhiên, thật là một cái kho tài liệu cho ta khảo cứu vậy.

CÁC BÀI ĐỌC THÊM

Rau quyền nghiêng giỏ còn vơi,
Hái rau lòng những nhớ người nẻo xa.
Nhớ ai thơ thẩn lòng ta,
Giỏ rau đặt xuống bên kia vệ đường.
Lên gò, lên núi, ta lên đồi;
Ngựa chồn, tớ mệt ta ngồi nghỉ ngơi.
Chén vàng rót rượu đầy vơi,
Cho khuây khỏa nỗi ngậm ngùi nhớ thương.

Thơ nầy là bà Hậu phi (vợ Chu Văn Vương) tự làm ra, xem mà cũng đủ thấy cái tính tình trinh tĩnh và chuyên nhất. Ấy hoặc là đương những khi Văn đi chầu, đi hội, đi đáp dẹp các hơi, hay trong lúc phải ngồi ở Dữu lý (4) mà bà Phi ở nhà làm ra chăng? Nhưng không thể xét được vậy.

Thi kinh (Quốc Phong, Chu Nam, Quyển nhì)
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn
Đặng đức Tộ cùng dịch
Kinh Thi, Quyển thứ nhất
(Nghiêm Hàm ấn quán, Hà nội).

Gió đông hong
Gió hòa mưa thuận
Dốc một lòng
Có giận nhau chi!
Kìa như phong phỉ rau kia
Hái rau sao có kể gì cuống rau.
Tiếng tăm trong sạch trước sau.
Sống cùng nhau, thác cùng nhau với mầy.

Đây là thể tỷ - Rau phong, rau phỉ, ngọn và cuống đều ăn được cả mà cuống nó thời có lúc ngon, có lúc không ngon. Người đàn bà bị chồng bỏ, cho nên làm ra thơ nầy, để kể những tình thương nỗi oán. Nói âm dương hòa mà rồi mới có mưa thuận, vợ chồng hòa mà rồi mới nên cửa nhà, cho nên trong đạo vợ chồng, nên rằng gắng gượng để cùng lòng với nhau mà không nên đến có sự giận dữ. Lại nói như hái rau phong, rau phỉ, không nến thấy vì cái cuống nó không ngon mà bỏ cả cây rau: vợ chồng với nhau, không nên vì nhan sức kém xưa mà phụ nhau vậy. Tiếng tăm giữ được trong sạch thời cũng đáng cùng mầy cho đến thác, chớ sao.

Thi kinh (Quốc phong, Bội Phong, Cốc phong. Chương thứ I )
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm thượng Văn, , Đặng Đức Tô cùng dịch (sách đã kể trên).

Kià trông con én nó bay
Nó sa cành nầy, nó liệng cánh kia,
Gã kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về, đến quãng đồng không.
Trông theo nào thấy mà trông,
Nước mắt ta khóc ròng ròng như mưa.

Đây là thể hứng. Gã kia là nói vào nàng Đái Vỹ. Về là về hẳn nhà bố mẹ đẻ. Bà Trang Khương không có con, lấy con của nàng Đái Vỹ (người con gái của nước Trần, cũng lấy vua Trang công) để ra, tên là Hoàn, làm con mình. Vua Trang công mất. Hoàn lên ngôi, bị Châu Hu (con của một người thiếp yêu) giết chết. Vậy nên Đái Vỹ về hẳn nhà (nước Trần) mà Trang Khương đi tiện làm ra bài thơ nầy.

Kià trông con én nó bay,
Bay bổng nơi nầy, bay xuống nơi kia.
Gã kia bước chân ra về
Ta tiễn mình về, chẳng quản đường xa.
Trông theo nào thấy đâu mà
Một mình thơ thẩn đứng mà khóc thương.

Đây là thể hứng.
  
 Kìa trông con én nó bay.
Kêu lên tiếng nầy, kêu xuống tiếng kia.
Gã kia bước chân ra về.
Ta tiễn mình về , xa tiễn sang nam.
Lòng ta vơ vẩn ai làm.
Trông theo chẳng thấy cho thêm nhọc lòng.

Đây là thể hứng.
Tiễn sang nam là vì nước Trần ở phía nam nước Vệ.
Thi Kinh (quốc Phong, Hội phong, Yến-yến. chươngI, II, II)
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô cùng dịch. (Sách đã kể trên)

(1) chỉ còn lại một thiên, sau đem vào sách Lễ ký, đặt là thiên nhạc ký.
(2) Điển là phép tắc: mô: mưu bàn, kế sách; huấn : lời dạy dỗ; cáo: lời truyền bảo, thệ: lời răn bảo tướng sĩ; mệnh: mệnh lệnh.
(3) Chu nam, Thiệu nam: Chu và Thiệu là tên đất (nay là đất huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây; nam là nước chư hầu ở phương nam. Đất chu, đất Thiệu nguyên là cố ấp của nhà Chu. đến đời chu Văn Vương mới chia cho 2 người con là Đán và Thích: Đán được ăn phần đất Chu nên gọi là Chu công, Thích được ăn phần đất Thiệu nên gọi là Thiệu công.
(4) Hữu lý là chỗ vua Trụ giam vua Văn phải ngồi tù ở đó (lời chú của dịch giả)

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 14:06:53NuHiepDeThuong>
CHƯƠNG THỨ NĂM

HỌC SINH NGƯỜI NAM SANG DU HỌC Ở TÀU


Sự truyền bá Hán học ở nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc. Từ khi nước ta nội thuộc nước Tàu (111 tr.TL) chữ Nho cùng Hán học dần dần truyền bá sang nước ta. Sự truyền bá ấy nhờ mấy duyên cớ naỳ:

A) Các lương lại Tàu đã có bụng tốt mở mang việc học trong xứ ta. Trong số ấy, sử còn ghi tên những ông sau này:

1. Tích Quang, làm thái thú quận Giao chỉ về đờ Hán Bình đế, dạy dân lấy điêù lễ nghĩa
(CM. tiền biên, q.2, tờ 9b)
2. Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu chân từ năm 29 đến năm 33, dạy dân lễ giá thú
(CM. tiền biên q.2 tờ 9a)
3. Sĩ Nhiếp làm thái thú quận Giao chỉ từ năm 187 đến năm 226.
Ông là một người có văn học, lại chăm mở mang việc học, nên vẫn được suy tôn là “Nam bang học tổ". (Ông tổ việc học ở nước Nam). Nhưng ta không nên lầm tưởng ông là người đầu tiên đem chữ Nho sang dạy dân ta; ông chỉ là một người có công to trong việc truyền bá Hán học ở xứ ta thôi.
4. Đỗ Tuệ Độ làm thứ sử Giao châu về cuối đời nhà Tấn (đầu thế kỷ thứ V) , chăm việc mở trường dạy dân học (CM. tiền biên, q.3, tờ 24b).

B) Các sĩ phu Tàu chạy loạn sang nước ta.
1. Về thời Vương Mãng (1) (8-23), có nhiều quan lại và sĩ phu nhà Hán, không muốn thờ kẻ tiếm nghịch, chạy sang đất Giao chỉ theo Tích Quang , rồi khuyến khích và giúp đỡ quan Thái thú trong việc truyền bá văn hóa Tàu ở xứ ta. (Theo H. Maspèro, BEFEO, XVIII, số 3, tr.12)
2. Lại sau khi vua Hán Linh đế mất (189) nước Tàu rối loạn, chỉ có đất Giao chỉ là yên ổn, bởi thế bấy giờ có nhiều người danh vọng ở bên Tàu chạy sang ở bên ta (Theo P.Pélliot, T’oungpao, 1918-1919, tr.273)
Xem hai việc ấy đủ biết trong khi nước ta nội thuộc nước Tàu, có nhiều bậc học thức người Tàu sang ở bên ta, rồi truyền bá Hán học ở đấy.

C) Các nhà sư Tàu (sẽ nói rõ trong Chương sau).

D) Các học sinh người Nam sang du học ở Tàu: đó là vấn đề ta sẽ xét ở đoạn dưới.

Học sinh người Nam sang du học ở Tàu.

A) Nguyên nhân.- tuy các nhà cầm quyền người Tàu có lo đến việc dạy dân ta học chữ Nho thật. Nhưng nền học ấy vẫn ở một cái trình độ thiển cận: mục đích chỉ cốt luyện lấy người dùng làm lại thuộc ở các ty, các nha, chứ không phải là đào tạo nhân tài. Vì thế những người tuấn tú trong nước ta muốn học cho thành tài tất phải sang bên Tàu.

B) Các người hiển đạt và nổi tiếng. – Trong số các người sang du học ở bên Tàu, sử sách còn ghi tên mấy người hiền đạt và nổi tiếng là những người nầy:
1. Trương Trọng đi du học ở đất Lạc dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam) về đời Hán Minh đế (58-75), sau được bổ làm quan thái thú ở Kim thành (tên quận, nay thuộc tỉnh Cam túc) (theo Chu bội Liên, tựa sách Thánh mô hiền phạm của Lê Quý Đôn) .
2. Lý Tiến được bổ làm thứ sử ở Giao chỉ năm 187 (Hán Linh đế, Trung bình thứ 4). Ông có dâng sớ xin cho người Giao chỉ được bổ làm quan như người ở trung châu bên Tàu. Vua Tàu chỉ cho những người đỗ mậu tài (2) hoặc hiếu liêm (3) được làm lại thuộc ở trong xứ, chứ không được làm quan ở trung châu.
3. Lý Cầm làm túc vệ trong điện vua nhà Hán lúc bấy giờ, thấy việc của Lý Tiến xin không được, mới rủ mấy người đồng hương ra cùng kêu xin. Vua nhà Hán bèn bộ một người Giao chỉ đổ mậu tài làm quan lệnh ở Hạ dương, và một người đổ hiếu liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp . Sau Lý Cầm làm quan đến Tư lệ hiệu úy (CM, tiền biên, q.2. tờ 26)
4. Khương Công Phụ ở về đời Đường Đức Tôn (78-804), đậu tiến sĩ, làm quan đến chức bình chương (An nam chí nguyên, bản in PQVĐHX, tr.178-180)

Ảnh hưởng về việc học sinh ta sang du học bên Tàu.

Việc học sinh ta sang du học ở Tàu có ảnh hưởng đến sự truyền bá Hán học ở nước ta. Cái ảnh hưởng ấy phát triển ra có hai cách:
a) Các học sinh thành tài về nước đem những điều mình đã học được mà truyền dạy cho người đồng bang.
b) Cái gương các học sinh thành tài được hiển đạt, vinh dự làm cho các người trong nước nức lòng mà chăm chỉ học tập, nhờ đó mà Hán học càng ngày càng lan rộng trong nhân gian.

Các tác Phẩm kê cứu.

(1) Nguyễn Bá Trác, Bàn về Hán học, N.P.VII , số 10 tr.324-336
(2) Lê Thước. L’Enseignement des caractères chinois: Ext. de la Revue indochinoise, 1921, Hanoi, Imp, d’Extrème-Orient.
--
Chú thích :

(1) Vương Mãng: nguyên làm quan với nhà Hán, rồi giết vua Bình đế mà tiếm ngôi vua sau bị vua Hán Quang Vũ giết chết.
(2) Mậu tài: tức là tú tài. Sau vì vua Hán Quang Vũ tên là Tú, nên đỗi chữ tú là chữ mậu.
(3) Hiếu liêm: vua Hán Vũ đế bắt đâù truyền lệnh cho mỗi quận trong nước cử một hiếu liêm; các đời sau cũng theo lệ ấy: châu thi cử tú tài, quận thi cử hiếu liêm.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-12 14:19:11NuHiepDeThuong>
CHƯƠNG THỨ SÁU

SỰ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VÀ ĐẠO GIÁO


Trong hai chương thứ ba và thứ tư, ta đã xét qua hai bộ Tứ thư và Ngũ kinh nói về học thuyết Nho giáo là cái đạo giáo được Việt Nam tôn sùng nhất. Nhưng trừ Nho giáo ra, người nước ta còn chịu ảnh hưởng của hai tôn giáo khác nữa là Phật giáo và Đạo giáo, mà cả hai tôn giáo ấy cũng từ nước Tàu, hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp, truyền sang ta. Vậy ta phải xét quả chủ nghĩa hai tôn giáo và sự truyền bá hai tôn giáo ấy trong nước ta như thế nào ?

Phật giáo.

Phật tổ. Người sáng lập ra Phật giáo (hoặc Thích giáo là Tất Đạt Đa, họ Cồ Đàm (Gotama), thuộc dòng Thích ca hoặc Thích già (Sakya); bởi thế ta thường gọi ngài là Thích ca mâu ni (Sakya Muni) (mâuni: tịch mịch, lặng lẽ). Ngài sinh ở thành Ca-tỳ-la (Kapilavastu) ở phía bắc Ấn độ, vào thế kỷ thứ VI và mất vào khoảng năm 480 tr.T.L nghĩa là ở đồng thời với Đức Khổng tử. Ngài là con một nhà quí tộc, có vợ con, nhưng thấy sự khổ sở của người đời, bỏ cả quyền vị phú quí, đi tu trong sáu năm, sau ngài tỉnh ngộ, tự xưng là Như lai (1), rồi đi thuyết pháp các nơi để truyền đạo giáo của ngài. Đời sau gọi ngài là Phật (2) và tôn ngài là ông tổ Phật giáo.
--
(1) Như lai: Bậc giác vi như, kim giác vi lại, nghĩa là: vốn biết là như, nay biết là lai (đạo viên tập)
(2) Phật , hoặc Phật đà hoặc Bồ đề (chữ Phạn là Bouddha) nghĩa là giác (biết): một là tự giác (tự mình tỉnh ngộ), hai là giác tha (thuyết pháp để cứu độ người khác), ba là giác hành viên mãn (sự biết và làm đều trọn vẹn)
--

Chủ nghĩa của đức Thích ca.

A) Đức Thích ca nhận thấy cuộc đời là khổ ải tức là biển khổ (sinh, lão, bệnh, tử, v.v.) mà người ta bị trầm luân nghĩa là chìm đắm trong đó. Sự khổ ấy, không phải một kiếp nầy phải chịu mà hết kiếp nầy sang kiếp khác, cứ sinh tử, tử sinh mãi mà chịu nỗi khổ ấy không bao giờ thôi: tức là người ta phải ở trong vòng luân hồi nghĩa là cái bánh xe xoay hết vòng lại trở lại mãi. Cái nghiệp ta chịu kiếp nầy là cái quả của công việc ta về kiếp trước mà những công việc của ta về kiếp nầy lại là cái nhân của nghiệp ta về kiếp sau, thế là ta cứ phải chịu sự nghiệp báo (karma) ấy mãi.

B) Cái nguyên nhân của sự khổ là gì?
Chính là lòng tham muốn của người ta: tham sống, tham sướng, tham mạnh.

C) Vậy muốn diệt khổ nghĩa là dứt hết nổi khổ não thì phải tiêu trừ lòng ham muốn không để cho còn một chút nào. Muốn thế, phải dốc chí tu hành, chánh tâm theo đạo để cắt đứt những cái nhân duyên nó ràng buộc mình ở trần thế. Khi đã diệt được sự khổ rồi, tức là được giải thoát, nghĩa là ra khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo, không sinh không tử nữa mà tới cõi Niết bàn (Nirvana).

Tóm lại, đức Phật cho đời người là khổ và mục đích lập giáo của ngài là cứu độ chúng sinh cho thoát nỗi khổ não (Xem bài đọc thêm số 1 và số 2)

Sự bành trướng của Phật giáo. – Sau khi Phật tổ mất, Phật giáo dần dần lan rộng:

A) Trong nước Ấn độ, thoạt tiên ở khu vực sông Hằng Hà (Gange) là nơi sinh trưởng của Phật tổ rồi đến khắp cả nước Ấn Độ (thế kỷ thứ III tr.T.L)

B) Ra các nước ngoài do hai đường:
1) Do đường bộ, sang các nước Trung hoa (thế kỷ thứ I, về đời nhà Hán), Cao ly (thế kỷ thứ IV), Nhật Bản (thế kỷ thứ VI), các xứ ở Trung Á như Tây Tạng, Mông Cổ (thế kỷ thứ VII).
2) Do đường thủy sang đảo Tích Lan (Sri Lanka), Nam dương quần đảo (Indes Néerlandaises)v.v.


Sự truyền bá Phật giáo ở nước Nam.
- Phật giáo truyền sang nước ta do hai cách:

A) Nhờ các vị sư Tàu sang tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua Hán Linh đế mất (189) trong khi nước Tàu có nội loạn (cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III):

B) Nhờ các vị sư người Thiên trúc : Khang cư, Nguyệt thị, Indoseythe (4) sang ở nước ta, hoặc đi qua nước ta để sang Tàu trong thế kỷ thứ III.

Xem thế thì biết Phật giáo sang ta hoặc theo cách trực tiếp từ Ấn độ sang, hoặc theo cách gián tiếp tự bên Tàu sang. Nhưng về sau cái ảnh hưởng Phật giáo Tàu mạnh hơn nên nay Phật giáo ở bên ta cũng theo phái Đại thừa (5) như ở bên Tàu vậy.

Lịch sử Phật giáo ở nước Nam.

Có thể chia ra làm ba thời kỳ:

A) Thời kỳ truyền bá (từ cuối thế kỷ thứ II đến cuối thế kỷ thứ VI, tự lúc nội thuộc nhà Hán đến hết đời Nam Bắc triều): nhờ các vị sư Tàu và thứ nhất là các vị sư Ấn độ mà Phật giáo dần dần truyền trong dân gian, nhưng chưa có tổ chức gì.

B) Thời kỳ phát đạt: (tự thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIV , từ lúc nội thuộc nhà Tùy đến cuối đời nhà Trần): trong thời kỳ này, có ba Thiền phái (6) kế tiếp nhau thịnh đạt ở nước ta.
1) Tự năm 580, vị sư người Tây trúc tên là TiniĐaLưuChi, đến ở chùa Pháp vân (nay thuộc tỉnh Bắc ninh) lập một Thiền phái thứ nhất ở nước Nam truyền được 19 đời (680-1216) trong các vị Pháp Hiền (+626), Đỗ Pháp Thuận (+990+, Vạn Hạnh (+1018), Từ Đạo Hạnh (+1122).
2) Tự năm 820, vị sư người Tàu tên là Vô Ngôn Thông đến ở chùa Kiến sơ (ở làng PHù đổng, huyện Tiên du, tỉnh Bắc ninh) lập một Thiền phái thứ hai truyền được 14 đời (820-1221) trong có các vị sư Ngô Chân Lưu (+1011) và vua Lý Thái Tôn (1000-1054) .
3) Đến thế kỷ thứ XI, vị sư Tàu tên là Thảo Đường được phong làm quốc sư lập một Thiền phái thứ ba truyền được 5 đời (1069-1205), trong các vị vua nhà Lý: Thánh tôn (1023-1072), Anh Tôn (1136-1175), Cao tôn (1173-1210)

Trong thời kỳ nầy, đạo Phật ở nước ta rất thịnh, hầu được coi như quốc giáo: triểu đình đặt chức quốc sư, mở khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Lão); nhiêù ông vua nhà Lý, nhà Trần đi tu sau khi thoái vị và chùa chiền dựng lên ở trong nước rất nhiều.

C) Thời kỳ suy đồi (từ thế kỷ thứ XV tức là tự đời Hậu Lê trở về sau): Phật giáo bị phái Nho công kích không được nhà vua săn sóc đến nữa, lâu dần thành một tôn giáo của dân chúng, không có tổ chức thống hệ gì nữa. Các tăng ni phần nhiều là người vô học thức bày ra các mối dị đoạn, các lễ nghi phiền phức để cho bọn hạ lưu (thứ nhất là đàn bà) dua theo còn các giáo lý cao thâm của đạo Phật ít người hiểu nữa.
--
(3) Khang cư (Sogdiane): tên cũ một xứ ở Châu Á, nay là xứ Boukhara thuộc Turkestan russe.
(4) Nguyệt thị (Indescythe): giống người ở phía bắc Ấn độ, phía trên sông Indus bây giờ.
(5) Vào khoảng thế kỷ thứ II sau T.L, Phật giáo chia làm hai phái: một là Tiểu thừa (nghĩa đen là xe nhỏ: chữ phạn là Hinayâna) về giáo lý thì Tiểu thừa được giữ chính truyền của Phật tổ hơn. Về sau các nước thuộc về Nam tôn (như Tích lan, Xiêm la, Miến điện, Cao Miên) theo phái Tiểu thừa, cón các nước htuộc về Bắc tôn (như Tây tạng, Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam ) theo phái đại thừa.
(6) Thiền phái hoặc thiền tôn: Một phái của Phật giáo do ông tổ thứ 28 là Bồ đề đạt ma (Bodhidharma - mất năm 528) người Thiên trúc, sang đất Quảng Châu bên tàu về đời nhà Lương lập ra. Thiền nghĩa là thanh tĩnh; phái này cốt đem lòng thanh tĩnh để tu luyện cho thành Phật, không cần văn tự nên cõng bọi là “tâm tôn”.
--

2. Đạo giáo

Lão tử.- Người sáng lập ra Đạo giáo là Lão Tử (hai chữ này chỉ là danh hiệu và nghĩa là “ông thầy già”, nhưng thân thế của ông ,ta không biết rõ. Theo sách Sử ký của Tư mã Thiên (7) thì ông họ là Lý, tên là Nhĩ tự là Bá dương thụy là Đam người huyện Hỗ thuộc nước Sở (nay thuộc tỉnh Anh huy) không rõ sinh và mất năm nào (có sách cho là sinh năm 570 và mất năm 490 tr.TL(nhưng cũng ở đồng thời với đức Khổng tử, nghĩa là vào thế kỷ thứ VI tr.T.L vì sử chép rằng năm 522, Khổng tử có một lần đến hỏi lễ ở ông. Ông có làm quan trụ hạ sử (quan giữa công văn) nhà Chu. Sau ông bỏ đi về phía tây (Cam túc), không biết rồi ra thế nào. Nhưng có người lại bác cái thuyết ấy, cho rằng Lão tử chính tên là Dương Bá Phú ở vào thế kỷ thứ VIII tr.TL chứ không phải là Lão Đam ở đời Xuân thu nói trên.

Dù sao chăng nữa, ông có viết ra Đạo đức kinh (hai thiên, 81 chương, hơn năm ngàn lời nói) để bày tỏ cái tôn chỉ của ông, bởi thế mới gọi cái đạo của ông sáng lập là đạo giáo.

Về sau lại có Liệt tử và Trang Tử cũng làm sách để diễn giải và truyền bá cái tôn chỉ của ông và bài bác các học thuyết khác, thứ nhất là Nho giáo.
--
(7) Tư Mã Thiên: Một đại sử gia nước Tàu vào thế kỷ thứ I tr. T.L về đời nhà Hán.
(8) Liệt tử: Họ Liệt, tên là Ngự Khấu người nước trịnh (nay thuộc tỉnh Hà Nam) ở về đời Chiến Quốc, vào quảng thế kỷ thứ V, thứ IV tr. TL . Các môn đệ của ông chép những lời ông dạy thành chữ Liệt Tử gồm có 8 thiên.

(9) Trang Tử: tên là Chu, người đất Mông (nay thuộc tỉnh An Huy) ở về đời Chiến quốc, vào thế kỷ thứ IV tr. TL soạn ra sách Trang tử gồm hơn mươi vạn lời nói.

--
Tôn chỉ của Lão tử

A) Về triết lý.- Lão tử cho Đạo là một nguyên lý rất huyền diệu do đấy mà sinh ra trời đất và vạn vật. Đạo vốn là đơn nhất, sinh ra âm dương; âm dương sinh ra trời, đất và khí; trời, đất và khi sinh ra muôn vật, muôn vật sinh ra khắp cả thế gian, rồi quay trở về Đạo. Trở về Đạo,rồi lại hóa ra vạn vất, cứ đi đi về về mãi thế, tức là cái cuộc biến cải sống chết ở đời, mà là cái cuộc tuần hoàn theo lẽ tự nhiên.

B) Về Luân lý.- Người ta muốn theo đạo thì nên thanh tĩnh vô vi. Nghĩa là phải tuyệt hết cái bụng nghĩ ngợi, ham muốn và quên cả hình hài đi để được trong sạch yên lặng mà không hành động gì cả, cứ phó mặc tự nhiên không phải nhọc trí nhọc sức. Sở dĩ người ta phải khổ sở, lo nghĩ là vì phải hành động mà nguồn gốc của sự hành động là dục tình; bởi thế, nếu dứt hết dục tình thì không hải hành động, không phải lo nghĩ khổ sở mà lòng được thư thái, thân được an nhàn. Cho nên trong nhân loại kẻ gần Đạo nhất là đứa anh nhi mà người có nhiều đức cũng hồn nhiên như đứa bé con vậy.

Đạo giáo biến đổi thế nào? – tư tưởng của Lão tử là một nền triết học cao thâm quá, người thường không hiểu, nên không bao lâu đạo ấy biến đổi đi mà thành một tôn giáo có nhiều dị đoan và ảo thuật. Người ta tôn Lão tử làm Thái thượng Lão quân và bày ra thuật tu tiên, luyện đan (luyện thuốc tràng sinh bất tử), thuật số, phù thủy v.v. ..

Sự truyền bá Đạo giáo sang nước ta.
Đạo giáo truyền sang ta từ đời Bắc thuộc, những không có môn phái thống hệ gì.

Bậc thượng lưu học thức xem sách của Lão tử và của các môn đồ Đạo giáo như Liệt tử, Trang tử thì nhiễm những tư tưởng tiêu diêu phóng khoáng, chán đường công danh phú quý, cần sự an nhàn tự do.
Còn thường dân thì tin các dị đoan về thần tiên, về phù thủy và theo các ảo thuật như bùa bèn, ấn quyết v.v..

Ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo đối với văn chương của ta.- Không kể phương diện tín ngưỡng và dị đoan, Phật giáo và Đạo giáo rất có ảnh hưởng đến văn chương nước ta. Trong tác phẩm cũ của ta, bao nhiêu những tư tưởng phóng khoáng, nhàn tản, yếm thế là do ở đạo giáo mà ra. Thí dụ, trong tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong tập hát nói của Nguyễn Công Trứ, những bài vịnh cảnh nhàn đêù là chịu ảnh hưởng của Đạo giáo cả.

Còn những tư tưởng về khổ ải, trầm luân, nhân quả, nghiệp báo, là do Phật giáo mà ra cả.
Ta cứ xem khúc Cung oán (đoạn nói về cuộc đời khổ sở) và Truyện Kiều thì thấy nhiều ý tưởng đã thoát thai ở Phật giáo mà ra.

Các bài đọc thêm.


1) Phật thuyết pháp lần thứ nhất về “tứ diệu đề”
“Nầy các thầy sa môn, ở đời có hai sự thái quá, người tu đạo phải lánh xa. Hai sự thái quá là gì? Một là đam mê trong vòng sắc dục : như thế thì hèn xâú, trái với đạo lý, uổng công không đáng. Này các thầy sa môn, hai sự thái quá ấy , Như lai đều phải lánh xa cả.
Như lai đã tìm được con đường đi giữa, để mở mặt, mở trí cho người ta, khiến cho tinh thần được bình tĩnh, được thông tỏ, được sáng suốt, được tới cõi nát bàn. Vậy các thấy có biết con đường giữa mà như lai đã tìm được ấy, con đường đểm ở mắt mở trí cho người ta, khiến cho tinh thần được bình tĩnh, được thông tỏ, được sáng suốt, đươc tới cõi nát bàn ấy, là gì không?
Con đường thần diệu ấy gọi là đường bát chính: 1) Chính kiến (samyaksadrsti), nghĩa là thành thực mà tin đạo; 2) Chính tư duy (samyaksankalpa) , nghĩa là thành thực mà suy xét; 3) chính ngữ (samyaksarmaunta), nghĩa là thành thực mà làm việc; 5) Chính mệnh (samyabjvara), nghĩa là thành thực mà mưu sinh; 6) Chính tinh tiến ( sayakvyâma), nghĩa là thành thực mà mong tới; 7) Chính niệm (samyaksmarti) nghĩa là thành thực mà tưởng nhớ ; 8) Chính định (samyaksamạdhi) , nghĩa là thành thực mà ngẫm nghĩ. Nầy các thầy sa môn, ấy đó là con đường trung đạo. Như Lai đã phát minh ra được, để mở mắt mở trí cho người ta, khiến cho tinh thần được bình tĩnh, được sáng suốt, được tới cõi niết bàn.
“ Nầy các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự khổ: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cái gì không ưa mà phải hợp là khổ, cái gì ưa mà phải dời là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trọc là khổ (10) .
“Nầy các thầy sa môn, đây là phép mầu về nguyên nhân sự khổ: nguyên nhân sự khổ là lòng tham sống, vì tham sống mà phải luân hồi sinh tử, càng tham càng muốn, càng được càng tham, tham sống, tham sưóng, tham mạnh (11)
“Nầy các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự diệt khổ, diệt khổ phải tiêu trừ lòng tham dục, phải giải thoát chi hết lòng tham dục, không để cho còn một chút nào. (12)
“Nầy các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự diệt khổ, đạo diệt khổ tức là đạo bát chính: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định (13)”

Phạm Quỳnh
Phật giáo lược khảo
(Nam phong tạp chí, t.VII số 40, tháng 10-1920)

--
(10) Đây tức là đệ nhất diệu đề.- “Ngũ trọc” hay là “ngũ uẩn” (panchaskandha) là năm cái nguyên tố họp lại làm thành ra thân thể tâm thần người ta: 1: sắc uẩn (rupaskhandha) là hình thể người; 2. thụ uẫn (vedaskandha), là sự cảm giác; 3 tưởng uẩn (sanjnaskandha), là sự tưởng tượng; 4: hành uẩn (sanskaraskandha) là sự hành vi, 5: thức uẩn (vijnânaskandha, là sự ý thức.
(11) đệ nhị diệu đề
(12) đệ tam diệu đề.
(13) Đệ tứ diệu đề - Bốn diệu đề trong sách Tàu thường nói tóm lại bốn chữ là khổ tập, diệt đạo


--

2. Nát bàn là gì?


Thuộc về Nát bàn, các học giả Âu châu nghị luận cũng đã nhiều, nhiều người lấy cái lý tưởng riêng của Âu châu mà bình phẩm, đại khái trách đạo Phật rằng lấy sự hư vô tịch diệt làm cứu cánh cho đời, một tôn giáo như thế thời không những không bổ ích gì cho quần sinh, mà lại có thể di hại cho xã hội. Nay không muốn nối gót các học giả Âu châu mà phẩm bình bao biếm đạo Phật, nhưng phải biết rằng đạo Phật đã lấy sự “khổ” làm tiền để thời phải lấy sự “diệt” làm hậu kết, đã cho rằng người ta có thên là có khổ thời muốn hết khổ tất phải diệt thân, trước sau thật là duy nhất, lý luận không có mâu thuẫn. Vậy rút lại vấn đề chỉ ở một câu, ở đời có khổ hay không? Câu hỏi đó , thiết tưởng không ai là không trả lời rằng có, không ai là không cùng phật công nhận rằng sống là khổ, và nước ở đời ví đem tích lại thời sánh với nước mặn bể khơi cũng chưa thấm vào đâu.Sự khổ đã có, thì phải tìm đường thoát khổ, muốn thoát khổ thời phải diệt khổ, nhưng khổ là liền với thân, khổ là một với sống, diệt khổ tức là diệt thân, diệt sống, tự diệt vậy.

Song người đời vẫn lấy sự hư vô làm sợ; nếu mãn kiếp tu hành, hết sức học đạo mà cứu cánh chỉ đến tiêu nhập vào chốn hư vô, thời kinh hải biết dường nào ! Phật cũng biết thế, nên Phật đối với vấn đề cứu cánh cũng giữ một thái độ như khổng phu tử đối với qủy thần vậy; không hề nói rõ bao giờ, mỗi khi đề cập đến, vẫn có ý thoái thác. Khổng tử thời môn đệ hỏi đến việc qủy thần, đến sự chết, trả lời rằng: “Các anh chưa biết việc đời người đã hỏi việc qủy thần làm chi, các anh chưa biết sự sống đã hỏi sự chết làm gì?” Phật tổ thời đệ tử hỏi cứu cánh có phải là cõi hư vô không, và khi linh hồn đến khi nhập nát bàn còn gì nữa không, bèn dùng cách tỉ dụ mà hỏi lạirằng: “Ta hỏi : nay có một người bệnh thập tử nhất sinh, có kẻ đem thuốc lại cứu cho khỏi chết, người ấy có chịu uống ngay không, hay là còn hỏi thuốc kia ở đâu mà lại, thuốc kia làm bằng vật gì? Như lai thấy chúng sinh trầm luân trong bể khổn, muốn ra tay tế độ cho siêu thoát, khác nào như kẻ cho thuốc người bệnhh bệnh nặng, thuốc ẳsn, cứ việc uống còn hỏi gì?” – Xưa nay những bậc triết nhân quân tử đã sáng suốt muôn lẽ, đã thấu hiểu mọi sự, muốn ra tay tế độ cho quần sinh thường có nhiều điều tự mình biết mà không thể truyền bá ra được cũng tức như ông thầy thuốc biết là bệnh trạng nguy mà không dám nói rõ cho bệnh nhân biết vậy. Phật tổ cũng vậy; chắc trong ý riêng vẫn biết rằng linh hồn sau khi tịch diệt rồi là vào cõi tịch mịch hư vô, chớ chẳng phải nơi thiên đàng cực lạc gì; nhưng không hề thuyết minh cho ai biết bao giờ, là sự có kẻ chưa thoát sạch trần tục, nhân thế mà ngã lòng tu đạo chăng? Vì những sự biết như thế là sự biết “chết người” vậy. Bởi thế nên dầu các nhà bác học tìm khắp trong kinh sách, cũng không hề giải được nát bàn là thế nào. Ông Oldengerg đã phải chịu thú thật rằng: “Chúng tôi đã hết sức nghiên cứu mà kết quả cũng lạ thay: chỉ có hai thuyết, không ra ngoài được, một rằng nát bàn là cõi hư vô, hai rằng nát bàn là nơi cực lạc, thời rút cục lại chẳng thuyết nào đúng hẳn” (14)

Phạm Quỳnh
Phật giáo lược khảo.


--
(14) “Le résultar deces recherches est d’ailleurs assez singulier; les deux alternatives qui formaient, semble-t-il, un véritable dilemme, à savoir que dans ;’ancienne communauté, le nirvâna devait être concu soit comme le néant, soit comme la beatitude suprême, it s’est trouvé que ni l’une ni l’autre n’avait tout à fait raison” Oldengerg, P.274, Tự số 910 đến 14): (Lời chú thích của tác giả)
--

3. Đạo là gì?

Đạo là gì mà tự đâu sinh ra? Lão tử cho là thoạt kỳ thủy thì không có gì cả (15), bởi cái không mà thành ra cái có, rồi do cái có đó mà thành ra muôn vật, nghĩa là trước hết là không, rồi tự nhiên thành ra một vật độc nhất trong khoảng không gian: do vật độc nhất ấy mà sinh muôn vật trong thiên hạ.

Vật độc nhất đó gọi là gì? Không biết gọi tên là gì, nhưng ta đặt tên là chữ đạo (16). Đạo là một chữ đặt ra để có tên mà gọi cho dễ, chứ kỳ thực thì không sao mà tả rõ ra được, vì rằng: (17) cái đạo mà đã nói rõ ra được thì không phải cái thuờng bao giờ cũng có nữa mà một vật đã có thể gọi tên ra được thì cũng không phải cái vật thường vẫn có ấy nữa.

Đạo là một vật tự nhiên hỗn thành ra trước khi có trời đất, mờ mờ mịt mịt, im lặng một mình trong khoảng không gian ở đâu cũng có, mà bao giờ cũng thế, không suy suyển chút nào mà muôn vật trong vũ trụ cũng bởi đó mà sinh ra cả.

Đạo lại là một giống rất to, mà không có hình thể gì cả. (19) Trông không trông thấy được, nghe không nghe thấy được, sờ không sờ thấy được, mênh mông, lờ mờ, dẫu muốn suy diễn đến đâu cũng không xiết được, mà bao giờ các toàn thể của Đạo vẫn là đơn nhất, nghĩa là chỉ có một mà thôi, chứ không có hai ba nào cả. Nhân có cái tính đơn nhất ấy mà thành ra có trời đất và muôn vật, nghĩa là do cái tính đơn nhất của Đạo mà sinh ra âm dương , tức là trời đất, trời đất cùng với khí sinh ra vạn vật. Với tính đơn nhất ấy thực là linh hoạt. Trời có được cái tính đơn nhất ấy mới sáng, đất có nó mới vững, thần có nó mới thiêng, muôn vật có nó mới sinh sản mãi mãi. (22)

Trần Trọng Kim
Đạo giáo
(Nam Phong tạp chí t.XII, số 57 tháng giêng 1923)



4. Lẽ sinh tử theo Trang tử.


Người ta sinh ra ở trong khoảng trời đất này chẳng khác gì cái bóng mặt trời thoáng qua trước cái khe cửa. Đường sin htử là cái lối đi ra đi vào của vạn vật. Sự đi lại ấy thật là nhẹ nhàng, dễ dàng, ai ai cũng thế, chứ không ai khác ai. Vì sự hóa mà sinh, rồi lại vì sự hóa mà tử, vậy thì việc gì mà ta lo, ta buồn. Những người lấy sự sống chết làm lo làm buồn là người không biết gì, khác nào như muốn đem cất cai cung của trời, thắt cái túi áo của trời, làm trái với mệnh trời thì làm sao được. Ta nên để mặc cái cung trời lúc dương lúc trùng, cái túi áo trời lúc mở lúc xếp, cứ biết rằng cái lẽ sống chết là một lẽ thay đổi, vừa liên tiếp, vừa thong thả, khi hồn phách ở thì thân mình ở, khi hồn phách đi thì thân mình đi theo, cũng về cả trong quãng thái hư mà thôi (23)

Sự sống chết là thế thì việc gì mà lo sợ. Chẳng qua mình lo sợ cái mình chưa biết ra thế nào, chứ biết đâu sự thay đổi của tạo hóa là một sự hay. “Ngày xưa, người con gái đẹp đất Lệ sang lấy vua nước Tấn, lúc ở nhà đi ra thì kêu khóc. Đến lúc về ở với vua được đủ mọi điều sung sướng, lúc ấy mới hối sự mình kêu khóc”. Thế thì biết đâu người chết rồi lại không hối lúc trước mình đã cầu sống. thường đêm nằm chiêm bao uống rượu thấy sáng dây có sự buồn rầu, hoặc đêm nằm chiêm bao thấy sự buồn rầu, sáng dậy có sự vui vẻ, nghĩa là sự chiêm và sự thực không giống nhau. Đương lúc mình chiêm bao mình không biết là chiêm bao, mà trong lúc chiêm bao mình vẫn đoán việc chiêm bao, mãi đến khi tỉnh dậy mới biết là chiêm bao thật. Chỉ có bậc đại giác thì mới biết được cuộc đời là một giấc chiêm bao lớn mà thôi, con người ngu thì chiêm bao vẫn cho là tỉnh, rồi tưởng mình chủ tể được cái tâm trí ấy (24)

Thường giấc mộng mơ màng là cuộc sống ở đời, mà lúc tỉnh dậy là sự chết đó thôi. Bởi vậy cho nên những bậc “chân nhân” cứ tự nhiên nhi nhiên, hễ gặp vào lúc sống mà sống là hợp thời, gặp lúc nào chết mà chết là thuận cảnh, hợp thời và thuận cảnh, thì còn có việc gì mà buồn hay vui? Người ta lúc sống chẳng qua cũng như bị cái dây nó treo mình ở trong khoảng không gian, lúc chết cổi cái dây ấy mà xuống. Cũng thí dụ như củi với lửa: Củi là hình hài, lửa lái tinh thần, lửa bén vào củi, rồi củi hết là lửa tắt. nhưng kỳ thực là ta biết thế nào là lửa hết được: lửa tắt là vì hết củi đó thôi (25)

Trần Trọng Kim
Đạo giáo II
(Nam phong tạp chí t.XII, số 58, tháng hai 1923)


--
(15) Đạo đức kinh chương thứ 40
(16) Đạo đức kinh chương thứ 25
(17) Đạo đức kinh chương thứ1
(18) Đạo đức kinh chương thứ 25
(19) Đạo đức kinh chương thứ 41
(20) Đạo đức kinh chương thứ 14
(21) Đạo đức kinh chương thứ 42
(22) Đạo đức kinh chương thứ 39
(23) Trang tử: Trí bắc du
24) Trang tử: Tế vật.
--.
(

Các tác Phẩm để kê cứu


1. Phạm Quỳnh Phật giáo đại quan, Nam phong tùng thư, Hà Nội, Đông kinh ấn quán x.b
2. Trần Trọng Kim, Đạo giáo, Nam Phong tạp chí t.XII tr.12-32 và 103-113; tXIII, tr.113-127 và 197-209; Phật lục, Hanoi, Imp, du Nord 1940.
3. Đại nam cao tăng truyện , Nam phong tạp chí, t.XXI, Phần chữ Hán, trang 27-30, 41-44, 54-57.
4. Phật giáo nam lai khảo, Nam phong tạp chí t. XXII , Phần chữ Hán tr.45-48.
5. Trần văn Giáp , Le Bouddhisme en Annam, des origines au XIIIè siècle BEFEO. T.XXXII fase. L.pp.191.268
6. Oldengerg. Le Bouddha.Sa vie, sa doctrine, sa communauté, traduit de l’1allemand par A.Fourcher, Bibliothèque de philosophie contemporainee 3è édition francaise, Paris, Félix Alcan 1921.
7. Tené Grousset. Histoire de la philosophie orientale. Inde Chine Japon, Bibliothéque francaise de philosophie, Paris, Nouvelle Librair nationale, 1923.
8. Le P.Léon Qieger. Histoire des croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine depui l’origine jusqu’à nos jours. Hokien fou Imp. De la Misision catholique, 1917.
9. Le P. Léon Wieger, Textes philoshophiques. Sommaire des notions chinoises depuis ; l’origine jusqu’à nos jours. Hokien fou. Imp de la Mission catholique, 1906.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
THIÊN THỨ BA
CÁC CHẾ ĐỘ VỀ VIỆC HỌC THI
Chương thứ Bảy


Việc dùng chữ Nho làm quốc gia văn tự
Cách tổ chức việc học.

1. Việc dùng chữ Nho làm quốc gia văn tự

Dân tộc ta, trước khi nội thuộc nước Tàu có thứ chữ riêng để viết tiếng ta hay không? Đó là một vấn đề hiện nay không thể giải quyết được, vì không có di tích, tài liệu mà khảo cứu.

Duy từ khi nước ta tự chủ (939) cho đến khi nước Pháp sang bảo hộ, thì trong khoảng hơn chín thế thể kỷ ấy, triều đình vẫn lấy chữ Nho làm quốc gia văn tự: các luật lệ, dụ chỉ của nhà vua, công văn, án từ của các quan, việc học, việc thi, đều dùng chữ Nho cả. Trong dân gian, các khế ước, chúc thư, khoán lệ, sổ sách cũng dùng chữ nho.

Chỉ có hồi đức Nguyễn Ánh còn xưng vương, chưa bình định xong Nam Bắc, là có dùng tiếng Nôm làm các dụ sắc và công văn, vì bấy giờ trong nước loạn lạc, việc học, việc thi chữ nho khoáng phế đã lâu, không có người văn học để dùng; vả các tướng tá, quân nhân cũng ít người biết chữ nên phải dùng tiếng Nôm cho tiện. Hiện nay còn truyền lại một tập công văn viết bằng tiếng Nôm về hồi ấy (Xem bài đọc số 1)

Vậy ta phải xét cách tổ chức việc chọc chữ nho ở nước ta trong các triều vua thế nào.
2) Cách tổ chức việc học chữ Nho

Xét về vấn đề này, ta có thể phân biệt ra hai thời kỳ:
Việc học chữ Nho trong các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý sơ (từ đầu thế kỷ thứ X đến giữa thế kỷ thứ XI)- Mấy triều Ngô, Đinh và Tiền Lê, phần vì ngắn ngủi, phần vì các vua còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu để làm cho nền tự chủ được vững, nên chưa có thì giờ tổ chức việc học chữ Nho. Trong thời kỳ ấy, việc dạy chữ Nho phần nhiều do các nhà sư đảm nhận, vì Phật giáo bâý giờ đương thịnh và các vị sư đều thâm Hán học cả. Xem như năm 986 (Thiên Phúc thứ 7), có xứ nhà Tống sang, vua Lê Đại Hành sai ông sư Đỗ PHáp Thuận đi đón, lại sai ông sư Ngô Chân Lưu làm bài từ để tiển sứ Taù; lại xen như Sử chép vua Lý Thái Tổ thuở nhỏ học ông Sư Vạn Hạnh thì đủ biết các vị sư bấy giờ nhiêù người giỏi chữ Nho và dự một phần lớn trong việc truyền bá Hán học.

Việc học chữ Nho trong các triều Lý, Trnần, Kê, Nguyễn (từ giữa thế kỷ thứ XI đến cuối thế kỷ XX) – Trong thời kỳ này, việc học chữ Nho đã được triều đình tổ chức để các sỹ phu có nơi học tập.

A) Lý- Năm 1070, vua Lý Thánh Tôn dựng văn miếu ở Thăng Long (nay là văn miếu Hà Nội để thờ đức Khổng tử và các vị tiên hiền ,tỏ ra rằng nhà vua tôn sùng Nho giáo. Ngài lại sai Hoàng tử đến học ở đấy.

Năm 1076, vua Lý Nhân Tôn đặt ra Quốc Tử giám chọn các quan có văn học bổ vào đấy coi việc giảng dạy.

B) Trần- Năm 1236, vua Trần Thánh Tôn đặt ra Để điệu Quốc tử viện để cho con em các quan văn vào đấy học. Năm 1243, ngài sai làm lại Quốc tử giám. Năm 1252, ngài cho con thường dân người nào tuấn tú được theo học với con các quan ở Quốc tử giám.
Năm 1253, ngài lập Quốc học viện để giảng Tứ thu, Ngũ kinh.
Năm 1237, về đời vưa Trần Thuận Tôn, Hồ Qúi Ly thấy việc học trong nước, trừ kinh đô ra, còn ngoài chưa hề tổ chức, bèn hạ lệnh đặt ở các lộ, phủ, châu các học quan coi việc dạy dỗ và cấp ruộng cho các viên ấy.
C)Lê – Vua Lê Thái tổ, sau khi ngài lên ngôi, liền lưu ý đến việc học. Năm 1428, ngài lập Quốc tử giám ở kinh đô để dạy con cháu các quan và các người tuấn tú trong dân gian; còn ở ngoại thì đặt nhà Lộ học chọn con em các lương gia trong dân sung làm Lộ hiệu sinh và bổ thày để dạy dỗ.
Năm 1483. vua Lê Thánh tôn mở rộng thêm nhà Thái học (tức là Quốc tử giám), làm các phòng cho các sinh viên ở và kho Bí thư để chứa sách.
Sau khi nhà Lê trung hưng, thì việc cũng phỏng theo đời Tiền Lê. Ở Quốc tử giám thì đặt quan tế tửu và quan tư nghiệp để làm giảng quan, mỗi tháng một lần tiểu tập, ba tháng một lần đại tập. Năm 1734, đời vua Thuận Tôn, Trịnh Giang lại sai khắc in các sách Kinh Truyện phát ra mọi nơi để khỏi phải mua sách in ở bên Tàu.
D) Nguyễn. – Năm 1803, vua Gia Long dựng nhà Quốc học ở kinh đô (Huế). Ngài lại đặt chức đốc học ở các trấn , giáo thụ, huấn đạo ở các phủ, huyện để coi việc dạy học .
Năm 1821, vua Minh Mệnh đổi tên nhà Quốc học gọi là Quốc tử giám, dựng thêm một giảng đường, một Di luân đường cùng hai học xá ở bên tả, bên hữu. Năm 1826, lại dựng thêm học phòng bên tả, bên hữu mỗi bên mười chính gian để làm chỗ sinh viên học tập.

Cách học tập ở các trường công hồi xưa.-

Cách học tập ở các trường công ngày xưa thường tổ chức như sau:
A) Sự giảng sách.- Mỗi tháng định mấy kỳ giảng sách. Những hôm ấy, các học trò tề tựu ở học đường, rồi các quan đốc học, giáo huấn giảng nghĩa các kinh truyện cho học trò nghe.
B) Sự tập văn.- Mỗi tháng lại định những kỳ làm văn. Đến hôm ấy, các giáo quan ra đầu bài cho học trò đem về nhà làm; cũng có khi làm ở trường trong một ngày phải xong (cách ấy gọi là làm văn nhật khắc). Học trò làm xong văn nộp quyển; học quan, khi đã điểm duyệt xong, họp các sinh viên lại mà bình các quyển văn hay. Một đôi khi cũng phát ra những giải thưởng nữa (1)

Kết luận:- Trong cách tổ chức việc học ở nước ta hồi xưa. Triều đình chỉ chú trọng đến một trường đại học ở kinh đô và đặt các giáo chức ở lộ, phủ để cho các học trò lớn cố chỗ học tập mà dự khoa thi. Còn việc học ở dân gian như nay gọi là bậc “tiểu học” thì Triều đình không tổ chức, cứ để các tư gia đón thầy dạy lấy con cháu. Tuy vậy, việc học của bình dân cũng được phồ cập, vì các trường tư mở ra rất nhiều và các “ông đồ” trong có các bậc hưu quan, các nhà khoa mục, được người trong nước một lòng tôn trọng.
--
(1) Trên đây là nói về việc học chữ Hán ở nước ta trước khi nước Pháp can thiệp. Sau khi nước Pháp lấy xứ Nam kỳ (1892 và 1867) thì bãi việc học việc thi chữ Nho ở trong ấy mà tổ chức nền học Pháp Việt. Còn ở Trung, Bắc kỳ thì chính phủ bảo hộ trước vẫn để nguyên như cũ, sau mới thương lượng với Nam triều lập ra Hội đồng cải lương học vụ để sửa đổi lại phép học, phép thi. Ngày 31 tháng năm năm 1906, chính phủ ban hành một đạo vụ về việc ấy. Về phép học thì chia làm ba bậc: 1) Ấu học: dạy ở các trường tổng sư và lấy bằng tuyển sinh làm tốt nghiệp; 2) Tiểu học dạy ở các trường phủ, huyện (giáo thụ, huấn đạo) và các trường qui thức ở tỉnh lỵ, lấy bằng khoá sinh làm tốt nghiệp. 3) Trung học dạy ở các trường tỉnh (đốc học) để luyện học trò thi Hương. Chương trình học vẫn lấy chữ Nho làm gốc, nhưng có học thêm các khoa cách trí, sử ký, địa dư, toán pháp bằng chữ quốc ngữ và một ít chữ Pháp.

CÁC BÀI ĐỌC THÊM


1. Một đạo dụ viết bằng quốc văn về đời đức Nguyễn Ánh.
Lời dụ ban cho tướng sĩ trong khi duyệt binh ở Gia Định ngày 26 tháng ba năm Canh thân (1800)
“Cơn bát loạn chẳng lo sao đặng, năm sáu phen đăng định , dễ muốn chi qua giáp biền đê; hội trung hưng phải quyết mới xong, muốn nghìn dặm thu công, bao nỡ để sinh linh đồ thán.
“thời dĩ chí, khá rằng vội tưởng: cơ khá thừa, vậy phải sớm toan.
Ta nay: gặp hội trung vi, dựng nền tái tạo. Tám chín phủ gian sơn đồ sộ, đặng chỗ này lo chỗ khác, thù tổ tôn đâu dám nguôi lòng, mười ba thu tướng sĩ nhọc nhằn, đánh trận nọ qua trận kia, đạo thần tử trước đà gắng sức . Vậy năm ngoái thu thành Bình định, rất đỗi cần lao; tưởng năm nay nghỉ chốn Đồng nai, yên bề hưu tức. song liệu chừng thế nó, tướng phẫn binh tàn, hạ lăng, thượng phế, dù chẳng đánh cũng hư; nhân tính lại việc ta đồn quân , tích tướng, trữ súng, tăng thuyền, phải sắm thêm mới mạnh.
“Nên nỗi: theo đường phú liễn, nặng việc công sưu. Dân thời cung cống lương tiền, nhịn mặc, nhịn ăn, tật khổ ta đâu không rõ; quân thời tân cần chinh địch, gắng công gắng sức huân lao ta vốn không quên.

“Trước tuy nhật xúc kinh doanh, rày đã sẵn rồi chiến cụ. Cũng muốn dưỡng uy súc nhuệ, trời Gia định nghỉ nhơi cho khoẻ, ngõ chư hầu đều được lạc sinh; nào ngờ cùng khấu xương cuồng, lũy Bàn xà đến rấn vào vậy, bởi nghịctặc tư lai tống tử.
“Huống nó, em phản anh, tôi phản chúa, lại thêm ngoại viện tàng sư, trường thành thất hiểm, tai phần sào đã quyết từ nay; mà ta lương thì đủ, quân thì ròng, sẳn có tướng tài quy phụ, chư quốc liên binh, thế phà trúc chờ bao thuở nữa.
“Cứ ấy: vội vàng trục bắc, hăm hở bình tây. Trước là lo tôn xã mà phục thù, kẻo lăng tẩm một trời man mác; sau là bị thần dân mà tiếc phẫn, kẻo thương sanh khắp chốn than van. Cơ hội này ai nỡ đặng thôi; công danh ấy người âu phải gắng.
“Rày mới vui lòng sư lữ, mở tiệc cảo lao. Muốn cho đặng tấm lòng chung, tôn ti nhất thể; vậy phải phô bày lời thật, minh thệ tam quân. Quân thời nợ nước lo đền, khoán thiết thơ son đành tạc đó; quân thì thù trai dóc trả, cung dâu tên cỏ phỉ nguyện xưa (Liễn (những) người tiến kiến hướng minh, chót đã lập công, chớ đển Trần Bình riêng thuở Hán; những kẻ hậu lại qui thuận đều cho báo hiệu, mữa nhường Kính Đức ngợi đời Đường. Phép vô tư chẳng khuất một ai, dầu bộ khúc thiên ty, có công ắt thưởng ; quyền tất phạt không riêng nửa mảy, tuy huân thần qui thích, phạm tội nào dung. Trên dưới tua dọc chí cần vương; tướng hiệu cũng một lòng địch khái. Thành Quy nhơn chỉ bắc, đạp phá trùng vi: đô Thuận hóa rung cờ ,dẹp yên đảng nguỵ. Công tru bạo gắng rôì một thuở, phúc thái bình đều hưởng nghìn năm. Ai tưởng câu chủ qui thần vinh mà phụng tại triều, quan ắt đặt tên đề trúc bạch, ai muốn chữ công thành thân tạo mà qui hưu tại dã, quân thời xá thuế lính chinh diêu. Trên đã bày lời, dưới tua tỏ ý.
“Khâm tai sắc dụ”
An Khê sao lục
(Nam phong tạp chí, t XIV số 80, Février 1924)

2) Vua Lê Thánh tôn sử lại nhà Thái học:
Lúc buổi đâù Quốc triều (tức là nhà Lê) nhà Thái học vẫn theo phép cũ của nhà Trần, qui chế còn nhiêù điều thiếu thốn. Đến khi ấy (tháng giêng năm Hồng Đức thứ 14, 1483), vua sai mở rộng ra; trước nhà Đại học, dựng điện Đại thành của văn miếu để thờ tiên thánh, đông vu, tây vu để chia thờ các bậc tiên hiền, tiên nho, điện Canh phục (thay đồ mặc) để làm chỗ túc trực, một kho chứa đồ tế và một buồng bếp. Đằng sau, dựng cửa nhà Thái học, Minh luân đường, Đông Tây giảng đường để dạy học trò. Lại đặt thêm kho Bí Thư để chứa các ván in sách. Phiá đông, phía tây đều có 3 dãy nhà ở có 3 hạng “xá sinh (2), mỗi dãy có 25 gian. Phía đông, phía tây đêù có một cái nhà bia. Qui mô thực là to tát rộng rãi.
Dương Quảng Hàm dịch
(Theo Khâm định Việt sử thông giám chương mục, q.23, tr.38b-39a)
--
(2) Xá sinh : Về đời vua Lê Thánh Tôn, các giám sinh ở Quốc tử giám họp lại thi. Ai trúng tam trường được sung “thượng xá sinh”, ai trúng nhị trường được sung “trung xá sinh, ai trúng nhất trường được sung “hạ xá sinh”, mỗi xá lấy 100 tên, tiền lương tháng thì thượng xá sinh được cấp một quan, trung xá sinh được 9 tiền, hạ xá sinh được 8 tiền (theo C.M 23, tr.39h-40a)
--

Các Tác Phẩm kê cứu


1) Nguyễn Bá Trác, Bàn về Hán học N.P, tvII số 40, tr. 324-336
2) Lê Thước, L’enseignement des caractères chinois, Ext. de la Revue Indochinoise; 1921, Hanoi, Imp. D’Extrème Orient.
3) Aurousseau. Le Temple de la littérature de Hanoi, Revue Indochinoise, nouvelle série; t.XX, juillet – Decebrre 1913, pp.1.12.
4) Quốc tử giám khảo, N.P,t.X.số 39, phần chữ Hán tr.172-176.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-04 14:03:37Huyền Băng>
CHƯƠNG THỨ TÁM
NHÀ NHO, KHOA CỬ, LỊCH SỬ KHOA CỬ Ở NƯỚC TA

Nhà nho


A) Thích nghĩa – Nho nghĩa đen là học giả, Nhà nho là người đã theo Nho học, hiểu đạo lý của thánh hiền đời xưa, có thể dạy bảo người đời cư xử cho phải đạo và nếu được đặc dụng , thì đem tài đức của mình mà giúp dân giúp nước.
B) Địa vị trong xã hội. – Tùy theo cảnh ngội, nhà nho có thể chia làm ba hạng:
1) Hiển nho là những người đã hiển đạt, thi đổ làm quan, giúp vua trị dân, có quyền hành, địa vị cao quí trong xã hội.
2) Ẩn nho là những người tuy có học thức tài trí mà không muốn ra gánh vác việc đời, ẩn náu ở nơi sơn lâm hoặc chốn thôn dã để vui thú an nhàn.
3) Hàn nho là nhữngngười cũng theo Nho học, nhưng không đổ đạt để ra làm quan được, ở nhà theo nghề dạy học, làm thuốc, v.v. để lâý kế sinh nhai.
Nhưng dù cảnh ngộ có khác, các nhà nho đều có một tư cách và một chí hướng chung, đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo, hoặc lấy sự nghiệp mà giúp vua giúp dân hoặc lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho người đời, hoặc lấy giáo hoá mà tác thành bọn hậu tiến, nên đều được xã hội tôn trọng, dù chẳng được triều định ban cho chức vị, bổng lộc cũng được dân chúng quí mến phục tòng (xem bài đọc thêm số 1) .

C) Cách tuyển người làm quan. – Xã hội ta xưa tổ chức theo khuôn phép Nho giáo, nên người cầm quyền trong nước để giúp vua trị dân phải là người trong phái nhà nho, tức là người đã am hiểu đạo lý của Nho giáo. Bởi thế quan trường ở nước ta ngày xưa là do nho phái xuất thân.

Cách lựa chọn các người ra làm quan là khoa cử. Vậy ta phải xét lịch sử và chế độ khoa cử ở nước ta hồi xưa như thế nào.

Lịch sử khoa cử ở nước ta.- Như chương trước đã nói, trong các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, triều đình chưa kịp tổ chức việc học việc thi, mãi đến đời nhà Lý thì việc khoa cử mới bắt đầu qui định.

A) (1009-1225)- Năm 1075, vua Lý Nhân tôn mở khoa thi Tam trường để kén người minh kinh bác học (rõ nghĩa sách và học rộng): nước ta bắt đầu có khoa cử tự đấy. Song trong triều nhà Lý, khoa cử chưa có thường lệ, cứ khi nào nhà vua cần người thì mở khoa thi: trừ khoa trên. Sử còn chép đến năm khoa nữa mở vào những năm 1086, 1152, 1165, 1185 và 1193.

Năm 1195, vua Lý Cao tôn mở khoa thi Tam giáo tức là: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo; xem đấy thì đủ biết Phật giáo bấy giờ được coi ngang hàng với Nho giáo.
B) Trần (1225-1400), phụ nhà Hồ (1400-1407) - Đến đời nhà Trần thì khoa cử đã có thường lệ và hai khoa thi chính là thi hương và thi hội , đã đặt ra.

1) Thi hội – Năm 1232, vua Trần Thái tôn mở khoa thì Thái học sinh (tức sau này là tiến sĩ) và đặt ra tam giáp, nghĩa là chia các người đỗ ra làm ba hạng: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, và đệ tam giáp. Đến năm 1247, ngài lại đặt ra tam khôi (ba người đổ về đệ nhất giáp) là trạng nguyên (trùm đầu), bảng nhỡn (mắt bảng) và thám hoa (thăm hoa). Đến năm 1304, vua Trần Anh tôn đặt thêm tên Hoàng giáp để gọi người đỗ đầu về đệ nhị giáp. Năm 1374, vua Trần Duệ tôn mở khoa Đình thi (thi ở sân vua) lấy tiến sĩ Tên “tiến sĩ” bắt đâù có từ đấy. Nhưng mãi đến năm 1442, đời Lê Thái tôn mới chuyên dùng chữ “tiến sĩ” mà bỏ chữ “thái học sinh”. Năm 1396, vua Trần Thuận tôn qui định lại phép thi, cứ năm trước thi hương, năm sau thi hội: tên “thi hội” bắt đầu có từ đấy.

Còn kỳ hạn các khoa thi, thì năm 1246 vua Trần Thái tôn định cứ 7 năm một khoa. Đến năm 1404, Hồ Hán Thương định cứ 3 năm một khoa, nhưng vì nhà Hồ sắp mất ngôi, nên lệ ấy không thực hành được, mãi đến năm 1463 đời Lê Thánh tôn, lệ ấy mới theo.

2) Thi hương.- Năm 1396, vua Trần Thuận tôn đặt ra thi hương lấy cử nhân; thi hương bắt đầu có tự đấy.
3) Thi tam giáo- Đạo Phật về đời nhà Trần vẫn còn thịnh nên năm 127, vua Trần Thái tôn cũng có mở khoa thi tam giáo.
C) Hậu Lê (1428-1527) : phụ nhà Mạc (1527-1592) - Buổi đầu vua Lê Thái tổ chưa kịp lập lại các khoa thi thường lệ, ngài chỉ mở những khoa bất thường; khoa minh kính (rõ nghĩa sách) năm 1429, khoa hoành từ (lời lẽ lớn lao) năm 1431.
Đến năm 1434, vua Lê Thái tôn mới xuống chiếu định điều lệ thi hương, thi hội, hẹn đến năm 1438 thì mở khoa thi hương, năm 1439 thì mở khoa thi hội, rồi cứ ba năm lại mở một khoa. Nhưng thực ra thì khoa thi hội đâù tiên ở triều Lê mãi đến năm 1442 mới mở, mà lệ ba năm một khoa, đến năm 1463 (đời Lê Thánh tôn) mới thực hành được.
1) Thi hội.- Về khoa thi hội năm 1442, các tiến sĩ cũng chia làm tam giáp và cũng lấy tam khôi như lệ nhà Trần. Năm 1448, vua Lê Nhân tôn chia Tiến sĩ là cập đệ, chánh bảng và phụ bảng. Năm 1484, vua Lê Thánh tôn đổi trạng nguyên, bảng nhỡn, thám hoa làm tiến sĩ cập đệ, chánh bảng làm tiến sĩ xuất thân, phụ bảng là đồng tiến sĩ xuất thân. Năm 1466, ngài đặt ra lệ xướng danh (gọi tên các người trúng tuyển một cách long trọng) (xem Bài học thêm số 2) và lệ vinh qui (rước về nguyên quán). Năm 1484, ngài lại định khắc bia tiến sĩ; tên các ông tiến sĩ mỗi khoa đều khắc trên một tấm bia đá dựng ở Văn miếu Hà nội (hiện hãy còn). Ngài sai khắc tên các tiến sĩ tự khoa 1442 là khoa đầu tiên trở xuống.
2) Thi Hương.- Năm 1462, vua Lê Thánh tôn chia các người đổ thi hương làm hương cống (tức là cử nhân trước) và sinh đồ hai tên “hương cống và “sinh đồ” bắt đầu từ đấy.

Nhà Mạc, sau khi tiếm ngôi nhà Lê, cũng theo phép thi cũ của nhà Lê, cứ ba năm mở một khoa như trước .
D) Lê Trung hưng (1533-1789)- Sau khi nhà Lê trung hưng, mãi đến năm 1554, vua Lê Trung Tôn mới mở khoa thi. Buổi đầu thỉnh thoảng mở một khoa. Rồi đến năm 1590, lại mở thi Hội; từ đó về sau, lại theo lệ ba năm một khoa như đời Tiền Lê. Nhưng cách thi cử còn sơ lược; đến năm 1664 đời vua Lê Huyền tôn, Trịnh Tạc mới định lại qui thức thi Hội. Còn thi Hương thì đến năm 1678, đời Lê Hi tôn, mới định lại điêù lệ rõ ràng.

Trừ các khoa thi Hương, thi Hội, trong đời Lê Trung hưng lại mở những khoa thi bất thường; khoa Sĩ vọng, khoa Đông các, khoa Hoành từ và khoa Tuyển cử.

Nhưng sự thi cử đời bấy giờ không được nghiêm như đời Tiền Lê. Như năm 1750 đời Lê Hiển tôn, vì nhà nước thiếu tiền đặt ra lệ thu tiền thông kinh: hể ai nộp ba quan thì được đi thi Hương, không phải khảo hạch. Thành ra những người làm ruộng, đi buôn, ai cũng được nộp quyển vào thi ; rồi người thì dùng sách, kẻ thì thuê người làm bài, kẻ thực học mười người không được một .

Đ) Nguyễn triều.- Trong triều nhà Nguyễn, chế độ khoa cử cũng châm chước theo triều Hâu Lê, vẫn có hai khoa thi, thường lệ là thi hương và thi hội; thỉnh thoảng lại có mở các khoa bất thường nữa.
1)Thi hội- Trong đời Gia Long, chưa mở thi hội. Mãi đến năm 1882, vua Minh Mệnh mới mở khoa thi hội đầu tiên: các tiến sĩ cũng chia làm ba giáp như đời Lê; lệ xướng danh, vinh qui, khắc bia cũng theo như trước (các bia tiến sĩ về triều Nguyễn đều dựng ở Văn miếu trong kinh đô Huế. Năm 1229, Minh Mệnh thứ 10, dưới bực tiến sĩ , lại lấy thêm phó bảng (bảng phụ viết tên các ông này, đối với chánh bảng viết tên các ông tiến sĩ): danh hiệu “phó bảng” bắt đâù có từ đấy .
2) Thi hương – Khoa thi hương đâù tiên mở về triều Nguyễn là khoa năm 1807, Gia Long thứ 6. Trước còn định 6 năm một khoa, rồi đến năm 1825, Minh mệnh thứ 6, lại định ba năm một khoa, cứ các năm tý, ngọ, mão, dậu thì thi hương, các năm thìn, tuất, sửu, mùi thì thi hội. Năm 1828 Minh Mệnh thứ 9, đổi hương cống làm cử nhân, sinh đồ làm tú tài .
3) Các khoa thi bất thường - Trừ các khoa thi thường lệ, trong triều Nguyễn, lại mở các ân khoa (khoa thi gia ơn), cả hương lẫn hội, khi trong nước có việc vui mừng, như lễ đăng quang (vua lên ngôi), lễ vạn thọ, v.v. và các khoa thi đặc biệt như khoa hoành từ mở năm 1851, Tự đức thứ 4, khoa nhã sĩ mở năm 1865, Tự Đức thứ 18.
Thể thức và chương trình các khoa thi.- Tóm lại, ngày xưa nước ta có hai khoa thi chính thức: 1 thi hương hoặc hương thi (hương: từng vùng), để lấy cử nhân (hoặc hương cống) và tú tài (hoặc sinh đồ); 2 thi hội hoặc hội thi (hội; họp lại) để lâý tiến sĩ (trước là thái học sinh) và phó bảng. Vậy ta phải xét quả thể thức và chương trình hai khoa thi ấy.
A) Thể thức- Thi hương thì mở ở nhiều nơi (như về triều Nguyễn thì có các trường Thừa thiên, Gia Định, An Giang, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, còn lại thi hội thì các thí sinh họp lại cả ở kinh đô.
Hương thi chia làm bốn kỳ hoặc trường (có khi chỉ có ba trường; hoặc thi cả bốn trường, rồi mới theo văn bài mà lấy đỗ, đánh hỏng; lệ ấy gọi là quán quyển; hoặc trúng kỳ trước mới được vào kỳ sau, trúng được bốn trường thì đậu cử nhân, trúng ba trường thì đậu tú tài. (Xem bài đọc thêm số 3). Đậu cử nhân rồi mới được dự khoa thi hội.

Hội thi cũng chia làm bốn trường. Trúng cả bốn trường mới được vào thi đình hoặc đình thi (đình: sân vua) vì học trò làm văn ở sân điện nhà vua, không phải thi ở trường thi như mâý kỳ trước. nhưng ta nên nhận định thi không phải là một khoa thi riêng mà chỉ là kỳ cuối cùng của khoa thi tiến sĩ. Người nào nhiều số phân được lấy đỗ tiến sĩ, ít số phân được lấy đổ phó bảng.

B) Chương trình – Chương trình thi trước kia thế nào. Sử không chép rõ. Đến năm 1304, vua Trần Anh tôn định lại phép thi, thì chương trình bốn kỳ như sau: 1. kỳ đệ nhất : ám tả; 2. đệ nhị: kinh nghĩa, thơ, phú; 3. đệ tam: chiếu, chế, biểu; 4. đệ tứ: văn sách.

Năm 1396, đời vua Trần Thuận Tôn, bỏ ám tả và định kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa, đệ nhị thi thơ, phú, còn hai kỳ sau như cũ.

Năm 1404, Hồ Hán Thương thêm vào một kỳ thứ năm thi thư (viết) và toán (tính).
Năm 1434 vua Lê Thái Tôn định lại phép thi: kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; đệ nhị thi chiêú, chế, biểu; đệ tam thi thơ, phú, đệ tứ thi văn sách. Suốt đời nhà Lê, cả thi hương và thi hội đều châm chước theo chương trình ấy .

Vua Gia Long khi mở khoa thi hương thi chương trình theo đúng như đời hậu Lê. Đến năm 1832, vua Minh Mệnh sửa lại phép thi; cả thi hương và thi hội, bốn kỳ rút bớt đi một kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; đệ nhị thi thơ, phú; đệ tam thi văn sách.

Năm 1850, vua Tự Đức lại lập lại bốn kỳ: cả thi hương và thi hội, kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; kỳ đệ nhị văn sách; kỳ đệ tam thi chiếu, biểu luật; kỳ đệ tứ thi thơ, phú; còn thi đình thì đối sách một bài.

Năm 1858, Tự Đức thứ 11, lại rút các kỳ thi xuống ba: kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa: kỳ đệ nhị thi chiếu, biểu, luận; đệ tam thi văn sách; còn kỳ đệ tứ thi thơ, phú bỏ đi.

Năm 1876, Tự Đức thứ 29, kỳ đệ nhị của khoa thi hương lại bỏ chiếu, biểu, luận mà thi thơ, phú.

Năm 1884, Kiến Phúc nguyên niên, thi hương, trừ ba kỳ trước, lại đặt thêm kỳ phúc hạch (xét lại) thi lược bị một bài kinh nghĩa, một bài phú, một bài văn sách (1).

Kết luận. _ Khoa cử ở nước ta bắt đầu có tự đời Lý, đến đời Trần thì đã có thường lệ, đời Hậu Lê thì đặt thêm các điều vinh dự để hậu đãi người có khoa mục. Chương trình thì trong các triều đều đại đồng tiểu dị, chỉ chú trọng về văn chương mà không hỏi về các khoa thực dụng. Duy có họ Hồ muốn cải cách đôi chút, thêm vào một kỳ thi toán pháp là có ý lưu tâm đến thực học, nhưng vì họ Hồ mất ngôi ngay, nên sự cải cách âý không có hiệu quả. Chính vì chế độ khoa cửa ấy mà cái học từ chương, thói chuộng hư văn một ngày một lưu tệ và bao nhiêu người thông mình tuấn tú, trong nước đêù xô nhau vào trường khoa cử không ai lưu tâm đến khoa học và kỹ nghệ, thương mại nữa.
--
(1) Trên đây là nói về chương trình các khoa thi lối cũ của ta. Theo đạo dụ ngày 31 tháng năm 1906 (xem lại Chương thứ VII, Lời chú (1) thì chương trình thi hương đôỉ lại, về phần chữ Nho thì bỏ kinh nghĩa và thơ phú, chỉ có văn sách và luận, về phần chữ quốc ngữ thì có bài luận và những bài hỏi về địa dư, cách trí, và toán pháp; lại thêm những bài dịch chữ Pháp (trước còn cho bất nguyện giả bất cưỡng, sau thì bắt buộc). Chương trình thi hội cũng đổi lại: về phần chữ Nho chỉ giữ văn sách, chiếu biểu, dụ, tấu , sớ, biểu văn và luận, còn thêm vào những bài chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
--

CÁC BÀI ĐỌC THÊM


1. Chức vụ của nhà nho

Cái tên “nhà nho” không những là để chỉ người biết chữ, học đạo thánh hiền trong Nho giáo; lại là chỉ một giai cấp trong xã hội, tức là hạng thượng lưu trí thức trong nước. Vì xưa kia ngoài Nho học không có cái học nào khác nữa, nên phàm người đi học là học đạo Nho hết cả. Đạo Nho có cái địa vị độc tôn, nên hâù như thành một tôn giáo; mà thực ra cũng chính là cái quốc giáo của nước Nam từ xưa đến giờ.

Những người phụng sự cái quốc giáo đó, tức là nhà nho. Vậy thời nhà nho là kẻ có học hành, biết chữ nghĩa; nhà nho là bậc thức giả xã hội trong nước; nhà nho là tín đồ của cái tôn giáo họ Khổng. Về đường xã hội, về đường chính trị, về đường trí thức, tinh thần đêù có một cái địa vị đặc biệt, đối với một chức vụ đặc biệt.

Chức vụ này cao quí, có thể gọi là một thiên chức được, vì là chức vụ hướng đạo cho quốc dân, làm tiêu biểu cho cả nước. .. Xã hội nước ta chỉ có hai giai cấp lớn: một hạng bình dân, là dân quê làm ruộng, một hạng học thức, tức là nhà nho. Hạng bình dân coi hạng học thức là thầy dạy bảo, là người đưa đường , sẳn lòng phục tòng, không có đố kỵ. Hạng học thức cũng tự nhận cái chức trách đó, không lạm dụng, không kiêu căng, vì coi ,mình như kẻ giáo sĩ của đạo Khổng, Mạnh, thiên hạ thờ là thờ đạo, kính là kính đạo, mà nhớ cái dư oai của tôn giáo mới khiến cho mình có một địa vị tôn trọng vậy. Muốn cho xứng đáng với địa vị đó, thời như ông linh mục tuyên truyền đạo giáo, phải đem cái đạo thánh hiền, cái học của tiên nho mà truyền dạy trong dân gian, đem thân tiêu biểu cho danh giáo, hộ vệ cho đạo đức. Mà thật thế; nhà nho chân chính thật là chức linh mục của đạo Khổng , Mạnh. Đạo này là một đạo thông thường, một đạo nhập thế không có gì là siêu nhiên thần bí cho nên những người tuyên truyền phụng sự cũng không cần phải phát nguyện tu hành gì. Nhưng cái chức vụ truyền đạo dạy đời thời cũng chẳng khác gì nhà giáo sĩ, chức linh mục của các đạo khác vậy.
Phạm Quỳnh
Nhà Nho
(Nam Phong tạp chí, t.XXX, số 172, tháng 5 năm 1932)


2. Lể xướng danh trong khoa thi hội về Bản triều

Ngày xướng danh gọi là ngày truyền lô. Hôm đó, bày nghị vệ đại triều ở đền Thái Hòa, các quan mặc đồ triêù phục, chia ban đứng chầu, phụng Hoàng thượng ra ngự điện, rồi quan Khâm mạng tâu lại việc thi, quan Giám thí thì triệu các tân khoa tiến sĩ vào nhà công văn, phụng mệnh vua mà ban thưởng mỗi người một bộ áo mũ. Các tiến sĩ qui lãnh rôì, quan Lễ bộ dẫn vào quì sắp hàng trước sân rồng rồi qua Truyền Lô cầm sổ theo thứ tự mà xướng danh. Đâu đấy mới treo bảng ở trước lầu Phú văn ba ngày.

Sau khi ra bảng, ban ăn yến tại dinh Lễ bộ và ban cho mỗi người một cành kim trâm. Sáng hôm ấy , các quan trường và các tân khoa tiến sĩ mặc đồ triều phục, lễ vọng tạ ơn ban yến. Ăn yến đoạn, mỗi ông tân khoa phải dâng một bài biểu tạ ơn.

Quan Lễ bộ lại dẫn các quan Giám thị và các ông tân khoa vào vườn Ngự uyển xem hoa, mỗi người đều mặc đồ triều phục cưỡi ngựa che lọng, xem hoa xong thì ra từ cửa thành đông mà đi diễu xem các phố xá .

Phan Kế Bính
Việt Nam Phong Tục
(Đông dương tạp chí, lớp mới, số 41)


Cách thức thi hương về Bản triều
Đại để phép thi của ta, cứ năm nào đến khoa thi thì quan Đốc học các tỉnh phải sát hạch học trò, ai đỗ hạch mới được đi thi. Gần đến tháng thi, học trò đỗ hạch và những tú, ấm phải nộp quyển trước cho quan Đốc học bản hạt, mỗi người nộp ba quyển, mỗi quyển độ một hai chục tờ, đóng bằng giấy thi,mặt quyển để họ tên, niên canh, quán chỉ và phải khai họ tên, nghề nghiệp tổ phụ tam đại nhà mình. Quan Đốc sai lễ sinh thâu quyển, rồi đóng hòm tử tế, làm danh sách, đợi đến ngaỳ thi thì đem nộp cho quan trường.

Quan trường thì do tự Bộ cử ra một ông Chánh chủ khảo, một ông Phó chủ khảo, còn mấy ông Giám khảo, Đề diệu, Phân khảo, Giám sát, Phúc khảo, Sơ khảo thì tùy tràng to nhỏ mà cử nhiêù hoặc ít. Chánh, phó chủ khảo giữ quyền ra đâù bài, chấm quyển lần sau cùng là lấy người đổ; Phân khảo có quyền xét lại những quyển hỏng; Giám, Sơ, Phúc thì chỉ được phép chấm quyển ba lần trước mà thôi. Để điệu, Giám sát thì coi về việc giữ quyển và kiểm xét sự gian phi của quan trường và của học trò; lại phải vài chục người lại phòng để coi việc nhận quyển, làm sổ sách, viết bảng, vân vân.

Trước hôm thì vài ngày, các quan trường vào trang thi gọi là ngày tiến trường. Tiến trường rồi thì bốn mặt trường có linh canh giữ nghiêm cẩn, cấm không ai được tự tiện ra vào nữa.

Hôm học trò vào trường thi chia làm bốn vi hoặc tám vi, mỗi vi có một cửa, ai vào cửa nào, quan trướng phải yết bảng trước cho học trò biết.

Học trò mỗi người vác một lều chiếu, cổ đeo ống quyển, bầu nước, vai đeo một cái tráp chứa đồ ăn, thức dùng, phải chực sẳn ở ngoài cửa trường từ đêm.

Tan ba hồi trống thì quan trường chia nhau, mỗi ông võng lọng ra một cửa; quan Chánh ra cửa giáp, quan phó ra cửa ất, quan Phân, quan giám ra hai cửa tả, hữu, mỗi cửa đốt hai cây đinh liệu sáng rực trời, quan trường áo mũ đai mằng ngồi trên ghế chéo, sai lại phòng xướng danh, giao quyển cho học trò vào trường.

Học trò vào đóng lều đâu đấy, sáng rõ thì có đâù bài Học trò phải tĩnh túc mà làm văn. Đến trưa phải đem quyển vào nhà thập đạo lấy dấy nhật trung. Tối làm văn xong thì nộp quyển. Bấy giờ quan trường hội ở cả nhà thập đạo, học trò nộp quyển rồi thì cứ do cửa tiền mà ra.

Phan Kế Bính
Việt Nam Phong tục
(Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 41)


CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU

1) Phạm Quỳnh, Nhà nho, NP , t.XXX, số 172, tr.449-458.
2) Tuyết huy, Khảo cứu về sự thi ta. N.P.t.IV số 23, tr.373-385/
3) Nghĩa viên Nguyễn văn Đào, Hoàng Việt khoa cử kinh N.P. tVIII, phần chữ nho, tr.60-64, 97-100; 138-143.225.-227, t/IX, tr.59-62, 168-168, t.XIV, tr.85-85. 105-107;t.XV,tr.12-15;23-26.
4) 4) Hch.1.26-38 Khoa mục chí (đã in trong N.P, tXXVIII)
5) Trần Văn Giáp, Lược khảo về khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến khoa Mậu ngọ (1918) , KTTĐTS, số 2 và 3, tr.41.tđ.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
CHƯƠNG THỨ CHÍN

CÁC LỐI VĂN CỬ NGHIỆP VIẾT BẰNG CHỮ NHO:
KINH NGHĨA, VĂN SÁCH, CHIẾU BIỂU V.V.


Trong chương trước, ta đã xét chương trình các khoa thi chữ Nho xưa Trong các lối văn dùng về việc thi cử, trừ lối thơ và lối phú là hai thể văn vần các văn sĩ Tàu và ta thường viết (1), còn các lối khác như kinh nghĩa, văn sách, chiếu, chế, biểu, chỉ là những lối văn ứng thí dùng trong trường ốc; ngoài ra ít khi dùng đến. Vậy ta nên xét qua thể thức mấy lối ấy để hiểu rõ cái tính cách khoa cửa của ta xưa thế nào ?

(1) Sẽ nói ở chương thứ XIII và XIV.

Kinh nghĩa

A) Định nghĩa – Kinh nghĩa đen là sách, đây tức là tứ thư và ngũ kinh hợp lại thành chín kinh. Kinh nghĩa là một bài văn giải thích ý nghĩa một câu trích trong truyện, bởi thế cũng gọi lối ấy là tinh nghĩa (tinh: làm rõ).

B) Phép làm kinh nghĩa theo lối “bát cổ”- Lối kinh nghĩa thông dụng nhất là lối “bát cổ” (tám vế). Lối này là một lối biền văn (biền: hai con ngựa chạy sóng đôi) không có vần mà có đối.

Các đoạn mạch trong một bài kinh nghĩa làm theo lối ấy gồm có:
1) Phá đề: mở bài 2 câu (lời mình nói)
2) Thừa đề : nối theo đoạn phá, vài ba câu (không phải đối) Từ đoạn sau trở đi phải thay lời người xưa mà nói.
3) Khởi giảng: nói khai mào đại ý của đề mục (đối hay không đối)
4) Khai giảng: mở ý đầu bài (cuối đoạn này có một câu Hoàn đề nhắc lại câu đầu bài.
5) Trung cổ: thích thực rõ nghĩa đầu bài
6) Hậu cổ : nghị luận rộng ý đầu bài
7) Kết cổ : đóng ý đầu bài lại (cuối đoạn này có một vài câu thắt đầu bài lại gọi là thúc đề)
(Từ đoạn 4 - đến 7) Bốn đoạn này đều mỗi đoạn chia làm 2 vế đối nhau.

Văn sách.
A) Định nghĩa – Sách nghĩa là mưu hoạch, văn sách là một bài văn làm để trả lời những câu hỏi của đầu bài để tỏ kiến thức và mưu hoạch của mình. Văn sách là một thể văn không có vần, thường thì có đối, nhưng viết thành văn xuôi cũng được.

B) Văn sách mục và văn sách đạo. – Theo cách ra đầu bài, văn sách chia làm hai loại:
1. Văn sánh mục: Đầu bài ra thật dài, đem hoặc một vấn đề hoặc nhiều vấn đề ra hỏi. Trước hết nêu lên một câu phủ đầu bao quát cả ý nghĩa đầu bài gọi là đề án, rồi ở dưới dẫn các lời trong kinh truyện và các việc trong lịch sử có liên lạc đến đề mục ấy mà hỏi; cuối cùng hỏi một vài câu về thời sự cũng thuộc về đề mục ấy.
2. Văn sánh đạo. - Đầu bài ra ngắn và hỏi riêng về từng việc.
C) Cách làm bài văn sách.- Lúc làm bài đáp lại, cứ theo từng câu hỏi trong đầu bài mà trả lời lại, phải biện lý, dẫn chứng, giải thích sao cho vỡ vạc gãy gọn. Lắm khi đầu bài hỏi lăng líu, câu nọ chẳng sang câu kia, thì lúc làm bài, hoặc theo thứ tự các câu hỏi, hoặc đảo lên đảo xuống. liệu cách mà gở lần từng mối, sao cho đáp khỏi thiếu ý mà cũng đừng thừa ý.

Chiếu, chế, biểu

A) Định nghĩa - Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân. . Chế là lời của vua phong thưởng cho công thần. Biểu là bài văn của thần dân dâng lên vua, để chúc mừng (hạ biểu) hoặc tạ ơn (tạ biểu) hoặc bày tỏ điều gì.
B) Cách làm chiếu chế, biểu, theo lối “tứ lục”
Ngày xưa ba lối ấy làm theo văn xuôi gọi là cổ thể: từ đời nhà Đường, mới làm theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây). Tứ lục (bốn sáu) cũng là một lối biền văn, lối ấy gọi thế vì mỗi câu thường chia làm hai đoạn một đoạn 4 chữ, một đoạn 6 chữ .

1) Cách đặt câu- Cứ hai câu đối nhau, gọi là hai vế. Mỗi vế chia làm hai đoạn, hoặc trên 4 dưới 6, hoặc trên 6 dưới 4, hoặc có khi trên dưới đặt dài hơn số chữ cũng được. Thí dụ:
Sớm chiều lo sợ, một lòng kính cẩn ban đầu:
Công việc thì hành, trăm mối tính lo cất nhắc.
(Trích trong Bài chiếu của vua Minh Mệnh khuyên răn thần dân về lúc đầu năm)

2) Niêm.- Niêm (nghĩa đen là dính) là sự liền lạc về âm luật của hai câu văn. Trong lối tứ lục, hai câu niêm với nhau khi nào hai chữ cuối câu cùng một luật, nghĩa là hoặc cùng bằng bằng, hoặc cùng trắc trắc, thành ra bằng niêm với bằng , trắc niêm với trắc theo thứ tự này:

Chữ cuối câu thứ 1 là bằng (1)
Chữ cuối câu thứ 2 là trắc (2)

Câu 2 niêm với câu 3

Chữ cuối câu thứ ba là trắc (3)

Chữ cuối câu thứ 4 là bằng (4)
Chữ cuối câu thứ 5 là bằng (5)

Câu 4 niêm với câu 5
v.v...
Lời chú. Thể tứ lục còn dùng để làm những bài sắc (lời của vua phong thưởng cho thần dân hoặc bách thần. Cáo (lời của vua tuyên bố một chủ nghĩa hoặc kết quả một công cuộc gì cho dân biết) hịch (bài của vua, tướng, hoặc người lãnh tụ một đảng kể tội kẻ thù để khuyến khích tướng sĩ và nhân dân), trướng (bài văn chúc tụng về dịp thượng thọ hoặc thăng quang, hoặc phong tặng v.v. ..)

Kết luận : - Trong các lối văn dùng về việc khoa cử kể trên này thì lối kinh nghĩa cốt xem xét học trò có thuộc và hiểu nghĩa kinh truyện không, nhưng phải làm theo thể thức riêng và thay lời người đời xưa và giải thích sao cho đúng ý của cổ nhân, chứ không được bày tỏ ý kiến riêng và lời phẩm bình của mình. Chiếu, chế, biểu là lối văn ứng thế, chỉ khi nào thi đỗ làm quan mới có dịp dùng đến. Duy có lối văn sách dùng để bày tỏ kiến thức, kế hoạch của mình còn có thực dụng, những cũng phải là những người có lịch duyệt nhiều, có học thức rộng mới ra ngoài khuôn sáo thường mà làm được những bài văn có giá trị.

BÀI ĐỌC THÊM


1. Một bài kinh nghĩa làm mẫu
2. Đầu bài
Mẹ ơi! Con muốn lấy chồng.

Bài làm

(Phá đề) – Nói nhỏ tình riêng cùng mẹ, muốn muốn khéo lạ lùng thay !

(Thừa đề)- Phù, lấy chồng chi sự, ai chẳng muốn vậy, nãi muốn nhi chi ư nói với mẹ, muốn sao muốn gớm muốn ghê, gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

(Khởi giảng)- Tưởng khi năn nỉ cùng mẹ rằng:

Nhất âm nhất dương; nãi thiên địa cổ kim chi đạo mà nghi gia, nghi thất, thực thế gian duyên kiếp chi thường. Sa chân bước xuống cõi phù sinh, đố ai giữa được tiếng trinh trên đời. Buồn mình lại nghĩ duyên mình, nay con xin kể tâm tình mẹ hay.
(Khai giảng)- Con nghĩ: rằng xuân xanh thấm thoắt, người ta như có lứa chi măng: phỏng hôn giá chi cập thời tức chồng loan vợ phượng chi duyên, cũng quang thái ư môn mi chi rạng rỡ.

Con luống sao tơ đỏ nhữ nhàng, phận những chịu long đanh chi vân; ngẫm thanh xuân chi bất tài, tức chớp bể mưa nguồn chi hội, cũng buồn tênh ư mai xiếu chi lơ thơ.

(Hoàn đề)- sự này mẹ đã hay chưa? Nay con luống những ngẩn ngơ về chồng.

(Trung cổ) – Kìa những kẻ son phai phấn nhạt (lạt), cuộc phong trần luống đã chán chường xuân. Nay con lấy mặt hoa mày liễu chi dung nghi chính đương độ tuần rằm chi bóng nguyệt; bởi vì ai dỡ dang phận bạc, dịp chưa thông ả chức chi Ô kiều. Khắc khoải rồng mây, lược không muốn chải; khát khao cá nước, gương chẳng muốn soi. Đêm thanh tơ tưởng khách thừa lương, chăn phỉ thúy suốt năm canh trằn trọc. Ngồi với bóng lại thở than với bóng: mẹ ơi! Con muốn đem ông trời xuống cõi trần, hỏi xem duyên có nợ nần chi không?

Khi những kẻ liễu yếu đào thơ, tình vân vũ hãy còn e ấp nguyệt. Nay con lấy sắc nước hương trời chi phẩm giá, đã ngoài vòng đôi tám chi xuân xanh; bởi vì ai ngăn đón gió đông, đàn chưa gãy chàng Tương chi Hoàng Khúc. Ước ao sứ điệp phán chẳng muốn tô; mong mỏi tin ong, vòng không muốn chuốt. Ngày vắng mơ màng duyên bốc phương, gối uyên ương thâu sáu khắc bồi hồi. Buồn vì thu ngao ngán vì thu; mẹ ơi! Con muốn đem một sợi chỉ đào, để cho ông Nguyệt xe vào cho con.

(Hậu cổ) - Mẹ chẳng xem; trên trời chim kia chi liền cánh, dưới đất cây nọ chi liền cành; cảnh vật ấy còn dèo bồng ân ái. Nay con tủi là thân bồ liễu, giữ đầu xanh ấp một buồng hông. Nao người tích lục, nào kẻ tham hồng, biết cùng ai mà phỉ nguyền tác hợp? Mẹ ợi! có chồng kẻ đón người đưa, không chồng đi sớm về trưa mặc lòng. Bực mình lại ngán cho mình, tình cảnh ấy mẹ hay chăng là.

Mẹ chẳng xem: Bắc lý kẻ nọ chi nghênh thê, Nam lân người kia chi tống nữ; người ta từng nao nức đông tây. Nay con hổ là phận thuyền quyên, mang má phấn nằm trong mệnh bạc. Nào kẻ tương tri, nào người tương thức, biết cùng ai mà kết giải đồng tâm? Mẹ ơi! Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chăn loan đệm quế không chồng cũng hư. Tủi phận mà than với phận, tâm sự này mẹ rõ cho chưa?

(Kết cổ) – Sau dẫu tơ đào lá thắm, ự chắp nối kia bởi tại trăng già.
Song le chỉ Tấn, tơ Tần, việc gả bán chẳng qua lòng mẹ.
(Thúc đề).-Mẹ nghĩ sao?

2. Một bài văn tứ lục làm mẫu

Tần cung nữ oán Bái công văn.

(Khi nhà Tần mất nước, Bái công - tức Hán Cao tổ sau này – đem quân vào đất Quan Trung là kinh đô nhà Tần, thấy cung điện nguy nga và cung nữ đẹp đẽ, ý muốn ở lại đấy. Nhưng bầy tôi là Phàn Khoái và Trương Lương lấy lẽ vua nhà Tần vì say đắm sắc dục mà mất nước, khuyên ông không nên lưu lại đấy, Bái công nghe theo, đem quân về Bá thượng để chống với Hạng Vũ. Bài văn này làm thay lời cung nữ nhà Tần oán trách Bái công đã bỏ họ mà về Bá thượng

Tác giả bài này không biết đích là ai: người thì bảo là NGUYỄN HỮU CHỈNH (xem tiểu truyêệ ở Năm thứ nhì, Chương thứ X, lời chú 3) người thì bảo là ĐẶNG TRẦN THƯỜNG (xem tiểu truyện ở Phần thứ nhì trước Bài số 80, chưa biết thuyết nào là đúng)

Khói tỏa cung A; - mây tuôn (1) đồn Bá.
Xuân tin bỗn gửi (2) cùng điệp sứ; - Phương tâm đành (3) hẹn với long nhan.
Thuở (4) tuổi xanh xảy gặp bụi hồng, thuyền ngư phủ chẳng (5) đưa vào động biếc (6) – khách má đỏ thường đeo phận bạc, dây nguyệt ông nên (7) dắt lại lầu son.

Vẻ vang chưa (8)! một tiếng cung nhân (9); - ngao ngán (nhẽ)! mười nguyền thất nữ .

Cầu thước (11) giậm tiếng hát (12), tựa sấm, sô bồ dưới nguyệt gót kim liên; gác phượng chen bóng bội (13) đường mây, nhấp nhánh trong gương da bạch ngọc.

Thềm huê (14) nọ thôi cười với bóng (15); gốc (16) thúy kia lại ủ cùng hoa.

Nét mày xanh từ cái lá cũng ghen, cây khiển hứng đành chìm dòng nước chảy; làm môi đỏ đến (17) con chim còn ghét (18) giấc thừa ân qua buổi (19) bóng trăng tà.

Ngẩm thân (20) duyên từng rỏ (21) nước mắt thầm:- nghĩ (22) thế sự những (23) đổ mồ hôi trộm.

Cung Dĩ (24) - thủy túc nỉ non tiếng dế, trường thu phong lạc bậc (25) quản huyền xưa; - cửa Hàm quan khi phất phới (26) ngọn đào, rèm tà (27) nguyệt ố (28) màu la ỷ cũ.
Quán ngán nhẽ ! cửa (29) bạch câu một nháy (30); nực cười (31) thay! Tranh thương cẩu trăm hình.
Con hươu bách nhị lạc loại đâu. Hoa cỏ ngậm ngùi vườn thượng - uyển; - cái én tam thiên ngơ ngẩn đó (32) mây mưa bát ngát đỉnh Vu phong.
Sương đã liền mái (33) tóc kim sinh; chàm đâu nhuộm mối (34) tơ lai thế.
Ví (35) thân đã rời (36) hương Cấm dịch, cỏ Ly sơn đành lấp tóc da mồi;- bởi phận còn quyến (37) lá Ngư câu, trăng Vị (38) -thủy hãy cầm hình bóng lại.
Kiếp ngọc (39) nử xương còn im đóng (40) ; tiếng chân nhàn gió đã đưa xa.
Dòng Đào đường róc tách dưới (41) sông Lưu, mụ Xà (42) khóc bên đường nghe cũng tủi; mây Mang lĩnh chờn vờn về đất (43) Bài, chị Trĩ theo trong núi nghĩ mà thương.
Thấy bóng (44) cờ ai chẳng rượu dê mừng; - nghe nhạc ngựa người đêề đàn (45) sáo rước.
Bên Chỉ đạo xe vôi ngựa phấn, trộm thấy lòng bất nhẫn cũng mừng thầm (46): trước Kim lâu xiêm bụi áo (47) bùn, vàng (48) biết ý dục lưu càng (49) khép nép.
Ngắm (50) khí sắc đã (51) nên năm vẻ; - cảm cơ (52) duyên âu cũng (53) ba sinh.
Bất kỳ mà nương bóng (54) rồng bay, thà mây phủ mưa dần cho đáng số (55);- giải cấu phỏng lầm (56) hơi khỉ tắm, nỗi hoa bay nước chảy (57) cũng oan tình.
Hẳn quản gia (58) mà có (59) dạ ái nhân; - thời thánh thể nở (60) bề ai oán nữ.
Âu ca thuở về cùng (61) thuấn, Vũ Cao Dao Hậu Tắc (62) nào ngăn;- Huyên hoàng khi đến với (63) Thang, Văn, Y Doãn, châu công há (64) cấm.
Nay trong trường (65) chưa một lời mở (66) mặt, mà ngoài sâu đã (67) lắm tiếng vang (68) tai.
Quả ngán thay! Nắng chẳng thương hoa; mưa (69) nào xót nguyệt.
Ngọn xích xi ùn ùn về Bá Thượng, mưa tuông nước xiết (70) lạt lẽo thay tình; - mà (71) Lam điền dặc dặc đến (72) Quan trung, phấn cuốn hương phai (73) bẽ bàng bấy (74) phận.
Nín thời những đeo sầu ngậm tủi (75); nói ra tuồng (76) ép dấu nài thương.
Úp (77) bánh xe là bởi tại (78) Lý Tư, nào ai đem nhất tiếu khuynh thành, mà dương Vũ (79) nhẽ vong Tần cho đáng; giở roi (80) ngựa ấy khoe (81) danh Châu hậu (82), lấy ai đủ thập phần phụ quốc, mà thầy cho rằng trợ Kiệt nên tin (83).

Trương (84) con ngươi nào (85) ngắm cuộc tang thươn, -uốn dầu (86) lưỡi bỗn rời (87) duyên phấn đại.
Mặt bán thịt mới mua duyên năm nọ (88) , chẳng qua bệnh (89) dì nó đánh ghen thay; tay (90) cắp dùi toan (91) mất vía ngày xưa, hẳn còn vị (92) chúa mình gây (93) giận mãi.

Sức bao nả cũng hùm hăm dưới bệ (94) ; trung với (95) ai mà thỏ thẻ bên màn?
Nếu vì chưng tiền tốt bạc ròng (96), ngăn nước (97) dãi phú ông thời cũng phải; song những kẻ hoa cười nguyệt nói (98) dứt tầm lòng du tử thế cho đang.

Ngày (99) đông cư lòng hiếu sắc sao chiếu (100)? – nay tây nhập sức (101) hữu vi mà cấm.

Một là bởi giật mình cửu quận (102) dần lén ra dành (103) đợi tướng quân vào; - hai là toan theo gót (104) năm hồ, sẽ nứu lại lừa đem (105) Tây tử bước (106).
Đã cay đắng (107) một liều thuốc độc; - lại dỡ dang (108) ba tấc lưỡi mềm.
Bởi rủi ro vì chút phận bình bồng, vòng kim giáp (109) để hơi hương chẳng thấu; vì may mắn nhằm duyên (110) ai cơ trửu, giọt minh (111) y cho (112) chút bụi nào rơi.
Lượng khoan dung bao nả (113) hẹp hòi; tư minh đạt để đâu lầm lỗi (114).
Nào thuở trước dưới (115) rừng cây, nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng (116) kiệu, những than dài (117) chí cả trượng phu; - mà đến nay (118) ngồi bệ (119) ngọc ngắm tranh người, xôn xao đầu mũ gót hài, lại làm khoảnh (120) ngôi sang (121) Hoàng đế.

Gương trong đuốc sáng mặc lòng trên;-cỏ ủ hoa sầu đành phận dưới.

Nơi hang kín phỏng hơi dương con thấu, ắt trong nước ai chăng thần thiếp, lại phòng tiên cung quế cũng cam lòng;- chốn non kinh dầu vẻ ngọc còn tươi, thời dưới trời đâu chẳng giang sơn, âu cửa trúc nhà tranh còn mát mặt.

Số là bởi tình chung mới nói; há rằng vì phận mếch mà thưa.
Xin chớ cười người khách thơ ngây; - dám gửi lạy đức ông khoát đạt.
----
Bản chép riêng: (1) lồng, - (2) muốn ngỏ; (3) e; - (4) nợ ; - (5) bỗng; - (6) bích; - (7) chỉ óng tơ dành; (8) thay; - (9) phi; -(10) nỗi; -(11) hồng; - (12); -giây;- (13) bụi; (14) Đài Loan; - (15) nguyệt; -(16) nệm ; - (17) thăm đầu; - (18) cũng né; - (19) hoan rất nỗi; - (20)Nghĩ cơ; - (21) càng sa; - (22) nghe; - (23) bỗng; - (24) Vy;- (25)lãng nhịp; - (26) chói lọi; -(27) tân; - (28) lạt; - (29) ngẩn ngơ nhẽ bóng; - (30) nhoáng; - (31) xót xa; - )32) vơ vẫn đấy; - (33) Tuyết đã đeo; - (34) sướng nào nhuốm mùi; - (35) vì; - (36) lây; -(37) vương; - (38) Ty; - (39) Tiết thục; - (40) in giống ;- (4`) xuống; - (42) mẹ rắn; - (43) ấp; - (44) Trông ngọn; - (45) dâu không kèm ; - (46) những thầm thì; - (47) dưới Hàm quan áo bụi xiêm; - (48) vẫn; - (49) đà; - (50) Xem; - (51) vẫn; - (52) tưởng căn; - (53) hẳn;- (54) vì may mà gặp hội; - (55) âu lửa đươm hương nồng cho phỉ nguyện; - (56) e rủi phải lây; - (57) để hồng trôi thắm nhạt; - (58) minh vương; - (59) thiệt; - (60) có; - (61) chầu về ; - (62) Bà ích; - (63) đón rước; - (64) dâu; -(65) Trong trướng gấm; - (66) lạn; (67) ngoài thềm hoa dà; -(68) ỏi; -(69) mây; -(70) hoa trôi nước chảy; - (71) cầu; - (72) thui thủi ở; - (73) rã hoa rơi; -(74) với; -(74) với;- (75) chác não; -(76) dường; -(77)rấp; -(78) tội; - (79) khoái; -(80) Theo gót; - (8) nổi; -(82) loạn; -(83) cho cam, (84) Troo75n; (85)không; - (86) là; -(87) chỉ gièm; -(88)trước; - (89) vì; - (90) gan; - (91) cùng; - (92) e cũng bởi; - (93) lây; - (94) mà chun lòn dưới trướng; - (95) cùng; -(96) giả như loại hươu nội lợn đồng; - (97) giọt; -(98) đâu đến nỗi nhạn sa cá lặn; (99)Thuở; - (100) sở hiếu nào chịu; -(101) thế; -(102) Hay là hẳn sức hơi chín quận; - (103) phải lành ra mà; - (104) hay là vì vui thú;- (105) dành lần lại để tìm ; - (106) rước; - (107)Miệng đắng nghét; - (108) tai chưa ; - (109) Bởi lạc loài là phận bèo mây cửa cấm thất ; -(110) như; - (111) nên bích; - (112) chẳng; - (113) nhơn đâu có; - (114) hoát đạt lẽ nào sót lạc; - (115) chẳng nhớ lúc núp; (116) tàn giàn; -(117) khen thầm; -(118) may bây giờ; - (119) chiếu; - (120) nghênh; (121) cao.
---

CÁC TÁC PHẨM KÊ CỨU


1) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo (sách đã kê trước)
2) Ưu thiên Bùi Kỹ, Quốc văn cụ thể, Hà Nội, Tân Việt nam thư xã 1932.
3) Nguyễn Đông Châu, Cổ xuý nguyên âm. Lối văn thơ nôm, cuốn thứ nhì. Hà nội Đông kinh ấn quán , 1918.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
Chương thứ 10

Vua Lê Thánh Tôn và Hội Tao Đàn


Trong triều Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tôn là đời thạnh trị nhất. Ngài lưu tâm đếm việc văn học và khuyến khích việc trứ thuật. Bởi vậy ta phải xét riêng về đời Ngài.

Vua Lê Thánh Tôn (1442-1497). Ngài tên là Tư Thành, hiệu là Thiên Nam Động chủ, là ông vua thứ tư triều Hậu Lê, trị vì từ năm 1460 đến 1497. Trong 38 năm làm vua, ngài đánh Chiêm thành để mở mang bờ cõi nước ta về mạn nam; lại sửa sang chánh trị, san định luật lệ, chẩn chỉnh phong tục (ngài đặt ra 24 điều giáo hóa cho dân thường giảng đọc để giữ lấy luân thường và phong hóa tốt).

Ngài cũng lưu tâm đến việc văn học lắm. Chính ngài đặt ra lệ xướng danh và khắc bia tiến sĩ để tưởng lệ các sĩ phu trong nước. Năm 1479, ngài sai tìm các tác phẩm của Nguyễn Trãi đã soạn ra. Cũng năm ấy, ngài sai Ngô Sĩ Liên biên tập bộ Đại Việt Sử ký toàn thư (sẽ nói ở năm thứ hai, chương thứ bảy). Tóm lại, ngài thật là một anh quân về triều Hậu Lê vậy.

Hội tao đàn.- Vua Lê Thánh Tôn có tài thơ văn và thích ngâm vinh, nên ngài có lập ra Hội Tao đàn (tao: tao nhã, văn chương; đàn: nền) chọn 28 người văn thần sung vào gọi là nhị thập bát tú (28 chòm sao). Ngài làm Tao đàn nguyên suý và cử Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm phó nguyên suý. Ngài cùng với nhân viên hội bàn bạc sách vở và xướng họa thơ văn.

Thiên nam dư hạ tập.- Năm 1483, vua Lê Thánh tôn sai Thân Nhân Trung, Quách định Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm văn Lễ, biên tập bộ Thiên Nam dư hạ tập (Thiên nam: trời nam; dư hạ: nhàn rỗi). Cứ theo sách Lịch triều hiến chương (văn lịch chí) của Phan Huy Chú thì bộ ấy gồm 100 quyển chép đủ chế độ, luật lệ, văn hàn, sách cáo; đại lược theo sách hội điển nhà Đường, nhà Tống, nhưng bộ ấy ngay đến đời Lê Trung Hưng đã tản mát mất nhiều, mười phần chỉ còn một hai. Hiện nay chỉ còn sót lại tập thơ của vua Lê Thánh Tôn cùng với các nhân viên trong Hội Tao đàn xướng họa như Minh lương cẩm tú, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Xuân văn thi tập, Văn minh cổ xuý (sẽ nói ở Năm thứ hai. Chương thứ V) và các tập sau này:

1) Chinh Tây kỷ hành (ghi việc đi đánh phía Tây) chép các bài thơ soạn trong khi vua Lê Thánh Tôn đi đường vào đánh Chiêm Thành (1470-1471)
2) Chinh Chiêm Thành sự vụ (công việc đánh Chiêm Thành 1470.)
3) Thiên hạ bản đồ kỷ số liệt kê các xứ, phủ , huyện, châu cùng số làng về đời Hồng Đức (niên hiệu vua Lê Thánh Tôn tự năm 1470 đến năm 1497.
4) Quan chế chép về sổ ngạch, phẩm chức các quan văn võ trong ngoài.
5) Điều luật chép các đạo luật ban hành trong đời vua Lê Thánh tôn tự năm 1460 đến 1497.

Kết luận.- Hội Tao đàn do vua Lê Thánh tôn lập ra có thể coi là một hội văn học đầu tiên ở nước ta. Bộ Thiên nam dư hạ tập thất lạc đi mất nhiều thực là một điều đáng tiếc vì bộ ấy có thể cho ta biết rõ tình hình chính trị và văn hóa về đời Lê Thánh Tôn là một đời thịnh trị nhất trong triều Hậu Lê.

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU

1) Émile Gaspardone, Bibliographie annamite, N.10 (B.E.F.O.t.XXXIV, Fase I pp.37-41)
2) Trần Văn Giáp Les chapitres bibliographiques de Lê Quí Đôn et de Phan Huy Chú, chap, bibliog. De Le Qui Đôn No.11 (Bul. De la Soc. Des Etudes indochinoises . Nouv. Se1r.t,XIII, N.I,pp49-50)


Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
THIÊN THỨ TƯ

CÁC THỂ VĂN

CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT
CHỮ NÔM


Dân tộc ta trước khi nội thuộc nước Tàu, có thứ chữ riêng để viết tiếng Nam hay không; đó là một vấn đề, hiện nay vì không có di tích và thiếu tài liệu, không thể giải quyết được. Duy có một điều chắc là khi các bậc học giả trong nước muốn làm thơ văn bằng tiếng Nam, vì không có chữ Việt, phải đặt ra một thứ chữ để viết tiếng: tức là chữ nôm là thứ chữ đã dùng để viết các tác phẩm bằng Việt văn cho đến khi ta biết dùng chữ quốc ngữ. Vậy ta phải xét lịch sử và cách chế các thứ chữ ấy thế nào.

Chữ nôm là gì? Chữ nôm là thứ chữ hoặc dùng nguyên hình chữ nho, hoặc lấy hai ba chữ nho ghép lại, để viết tiếng Nam.

Chữ nôm có tự bao giờ?

A) Chữ nôm đặt ra tự bao giờ và do ai đặt ra, đó là một vấn đề chưa thể giải quyết được. Nhiều người thấy sử chép: Hàn Thuyên là người bắt đầu biết làm thơ phú bằng quốc âm, vội cho rằng chữ nôm cũng đặt ra từ đời ông, nghĩa là vào cuối thế kỷ thứ XIII về đời nhà Trần. Đó là một sự sai lầm, vì Sử chỉ ghi việc ông làm thơ phú bằng tiếng nôm, chứ không hề nói ông đã đặt ra chữ nôm, hoặc chữ nôm đã đặt ra về đời ông. Đành rằng muốn viết văn nôn, tất phải dùng đến chữ nôm; những biết đâu chữ ấy lại chả có từ trước đời Hàn Thuyên rồi ư? Ta chỉ có thể vịn vào việc ấy mà nói rằng chữ nôm đến cuối thế kỷ XIII đã dùng để viết văn nôm rồi.

B) Hiện nay, về gốc tích chữ nôm, chỉ có hai điều sau này là xác thực:
1) Theo Sử chép, cuối thế kỷ thứ VIII (794) Phùng Hưng là người nước ta nổi lên đánh quan Đô hộ Tàu thua và giữ việc cai trị trong ít lâu; sau ông được dân trong nước tôn là “Bố cái đại vương. Hai chữ Bố cái là tiếng Nam thuần tuý, nếu đã đem hai tiếng ấy mà đặt danh hiệu cho một vị chúa tể trong nước, thì có lẽ phải có chữ để viết hai tiếng ấy, mà chữ ấy tất là chữ nôm; vậy có lẽ chữ nôm đã có từ cuối thế kỷ thứ VIII rồi.
2) Người ta đã tìm thấy ở Hộ thành sơn thuộc tỉnh Ninh bình một tấm bia đề năm 1343 (Trần Dụ Tôn, Thiệu phong thứ 3) trên có khắc hai mươi tên làng bằng chữ nôm: đó là cái tự tích chắc chắn về chữ nôm còn truyền lại đến giờ.

Cách chế tác chữ nôm.-

A) Tiếng Nam ta gồm có :
1. Những tiếng gốc ở chữ nho mà cách đọc :
a) hoặc giống hẳn chữ nho. Thí dụ: dân, tỉnh.
b) hoặc hơi khác âm chữ nho một chút. Thí dụ: côi (do chữ cô) cuộc (do chữ cục)
2. Những tiếng có lẽ cũng gốc ở chữ nho, nhưng âm đã sai lạc nhiều, chỉ còn nghĩa là đúng. Thí dụ: nhà (với gia) ghế (kỷ)
3. Những tiếng không phải gốc ở chữ nho, nhưng âm hoặc giống hẳn hoặc na ná với âm một chữ nho. Thí dụ: một (chỉ số) đồng âm với chữ một (có nghĩa là mất); là, âm na ná với chữ la.
4. Những tiếng không phải gốc ở chữ nho mà cũng không đồng âm với chữ nho nào. Thí dụ: đến, nói, trời.
Những tiếng thuộc về hạng thứ nhất bao giờ trong chữ nôm, cũng dùng một chữ nho để viết; những tiếng thuộc hạng thứ nhì và thứ ba thường cũng dùng một chữ nho; còn những tiếng thuộc hạng thứ tư phải dùng hai hoặc ba chữ nho mà ghép lại.

B) Vậy sự viết chữ nôm có thể chia làm ba cách như sau:
1. Dùng nguyên hình chữ nho để viết:
a) Những tiếng gốc ở chữ nho, âm và nghĩa không đổi.
Thí dụ: tài; mệnh.
b) Những tiếng gốc ở chữ nho, âm hơi sai nhưng nghĩa không đổi. thí dụ (cô) = côi, (cục)= cuộc.
c) Những tiếng có lẽ cũng gốc ở chữ nho, nhưng âm khác nhiều, chỉ có nghĩa là giống. Thí dụ (kỷ) = ghế , quyển = cuốn.
d) Những tiếng khác hẳn âm nhưng đồng âm với chữ nho ấy. Thí dụ: một, qua.
e) Những tiếng khác hẳn âm những cùng nghĩa với chữ nho ấy. Thí dụ (vị) = mùi, (dịch)= việc.
2. Ghép hai chữ nho thành một dấu hiệu riêng.
a) Thông lệ - Xét các chữ nôm đặt theo cách này thì cái thông lệ là mỗi chữ có hai phần: một phần chỉ ý và một phần chỉ âm.
Thí dụ:
Chữ đến gồm có chữ (nghĩa là đến) là phần chỉ ý và chữ (đọc là điển) là phần chỉ âm;
Chữ năm gồm có chữ (đọc là nam) là phần chỉ âm và chữ (nghĩa là năm) là phần chỉ ý;
Chữ trăm gồm có chữ (nghĩa là trăm) là phần chỉ ý và chữ (nghĩa là lâm) là phần chỉ âm.
Còn cái địa vị của hai phần ấy thì không nhất định: khi thì phần chỉ ý ở bên trái (thí dụ thứ nhất); khi thì phần ấy ở bên phải (thí dụ thứ hai): khi thì phần áy ở trên (thí dụ thứ ba) .

Lời chú. Phần chỉ ý có khi là những chữ thường (như trong mấy thí dụ trên), có khi những chữ bộ trong tự điển Tàu. Khi dùng chữ bộ ấy, thì chữ ấy đặt ở bên trái hoặc ở trên. Thí dụ: chữ nói có bộ khẩu (nghĩa là miệng) chỉ ý vã chữ nội (đọc là nội) chỉ âm.
Các bộ hay dùng đến là:
[nhân ] (người )
[khẩu] (miệng)
[thổ] (đất)
[thủ] (tay)
[thủy] (nước)
mộc (cây)
[thảo] (cỏ)
[nhục] (thịt)
[trúc] (tre
[mịch] (tơ)

b) Biệt lệ - Trái với thông lệ, có khi hai phần của một chữ nôm đều chỉ ý cả. thí dụ: chữ trời có hai phần là chữ [thiên] (nghĩa là trời) và chữ [thượng] (nghĩa là trên), đều chỉ ý cả .
3. Ghép một chữ nho (chỉ ý) với một chữ nôm (chỉ âm). Thí dụ: chữ nhời hoặc lời do chữ nôm [khẩu] là chữ nhỏ nghĩa là miệng (chỉ ý) và chữ [trời] là chữ chữ nôm đọc là trời (chỉ âm) ghép lại mà thành.
Khuyết điểm của chữ nôm. – Xem cách viết chữ nôm đã kể trên này thì thứ chữ ấy không phải là không có phép tắc. Những chữ nôm chưa thành được một thứ văn tự hoàn toàn vì còn mấy khuyết điểm sau này:
1/ Có khi một chữ nho mà dùng để viết hai tiếng khác nhau một tiếng cả âm và nghĩa giống chữ nho, một tiếng chỉ có nghĩa giống chữ nho. Thí dụ chữ (bản)
a) có khi đọc là vốn, như trong câu: Vốn dòng họ Hoạn danh gia (Truyện Kiều)
b) Có khi đọc là bản, như trong câu: Bản sư rôồ cũng đến sau (Truyện Kiều)
2/ Có khi cùng một tiếng mà có hai cách viết khác nhau.
Thí dụ: tiếng đến có thể viết:
a) gồm hai phần: [chí] nghĩa là đến] chỉ ý và [điển] chỉ âm.
b) gồm hai phần: [chí] (nghĩa là đến chỉ ý và chữ [đán] chỉ âm.
3/ Có nhiều chữ nho không viết nguyên hình mà viết tắt.
Thí dụ: chữ cối [âm khác là hội) viết tắt để ghép với bộ mộc thành chữ cội .
4/ Các nguyên âm và phụ âm trong tiếng Nam nhiều hơn chữ nho, thành ra chữ nho thiếu chữ để phiên âm nhiều tiếng cho thật đúng, phải dùng những chữ có âm na ná thôi. Như trong chữ Nho không có hai phụ âm G và R cùng những nguyên âm kép AU, EO, EN, ON, v.v.
5/ Số thanh trong tiếng Nam nhiều hơn số thanh của chữ nho, nên khó tìm được chữ phiên âm đúng thanh tiếng Nam. Nhiều khi , muốn cho người đọc biết rằng một chữ phải đọc khác thanh với chữ nho, có người thêm ở góc tay phải chữ ấy các dấu nháy (&lt;) hoặc ở góc trên tay trái chữ [khẩu] nhỏ.

Vì các khuyết điểm ấy, nên muốn đọc một bài văn viết bằng chữ nôm, nhiều khi phải xem cả toàn thiên hoặc cả câu mà đoán; tuy vậy, cũng có khi không được chắc chắn lắm.

Kết luận: Sở dĩ chữ nôm còn nhiều khuyết điểm và chưa có chuẩn đích, là vì xưa kia chữ ấy không được triều đình công nhân, nên không được sửa đổi cho thành hẳn quy củ nhất định, mỗi người mỗi ý, không được nhất trí . Vì khiến có người am hiểu thanh âm nhân đó mà sửa đổi quy định các thể thức phân mình, rồi ra một cuốn tự vị ai nấy theo đó mà viết mà đọc, thì thứ chữ có thể soạn ra thứ văn tự hoàn toàn không khác gì chữ Hòa văn của Nhật bản cũng là mượn các bộ phận của chữ nho mà đặt ra.

CÁC TÁC PHẨM KÊ CỨU

1) G Cordier, Les trois écritures utilisées en Annam: chữ nho, chữ nôm et quốc ngữ, Conférence faite à l’ École coloniale à Paris le 28 mars 1925, in Bul. De la Soc. D’Enseignement mutuel du Tonkin, t.XV Nos 1 pp: 113-122.
2) Nguyễn Văn Tố , Langue et littérature annamites, Notes criliques I, est du B.E.F.E.O. t.XXX. Nos 1-2 pp 144-145 (4-5) 6-12.
3) Dương Quảng Hàn, Le chữ nôm ou écriture démotique, Son Importance dans l’étude de l’ancienne litérature annamite, in Bulletin général de l’Instruction publique, mars 1942, partie générale, pp 277-280





Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI

HÀN THUYÊN VÀ CÁC NHÀ MÔ PHỎNG ÔNG


Như chương dẫn đầu đã nói, trước đời Hàn Thuyên, quốc văn ở nước ta chỉ có tục ngữ ca dao, nghĩa là loại văn bình dân truyền khẩu. Ông là người đầu tiên biết làm thơ phú bằng quốc âm, nên ông có thể coi là ông tổ văn nôm, loại văn bác học có theo qui tắc cũ nhất định. Vậy ta phải xét về việc ộng đã khởi xướng lên và các nhà đã mô phỏng ông mà làm các tác phẩm bằng tiếng Nam.

Hàn Thuyên

A) Tiểu truyên.- Ông vốn họ Nguyễn, người huyện Thanh lâm (nay là Phủ Nam sách, tỉnh Hải dương) đậu thái học sinh về đời vua Trần Thái Tôn (1225-1257)

Theo lời Sử chép (Cm.9,7 tr.26a), ông đương làm hình bộ thương thư, có con ngạc ngư (cá sấu) đến sông Phú lương (tức sông Nhị Hà) Vua sai ông làm bài văn vất xuống sông. Cá sấu tự đi. Vua cho việc ấy giống việc Hàn Dũ bên tàu (1) nên cho ông đổi họ Hàn.

Về bài văn ném xuống sông để đuổi cá sấu này, sử không chép rõ là viết theo thể văn nào và làm bằng Hán văn hay Việt văn; vậy ta cũng không nên vội cho – như ý kiến thông thường rằng bài ấy là một bài văn tế và viết bằng tiếng nôm. Chỉ khi nào tìm thấy nguyên bài văn ấy mới giải quyết được vấn đề ấy, mà hiện nay thì bài ấy không thấy chép ở sách nào cả.

B) Hàn luật.- Nhân việc đuổi cá sấu kể trên, Sử chép thêm rằng: Hàn Thuyên có tài làm thơ phú quốc ngữ; người đời ấy nhiều người bắt chước. Đời sau, thơ quốc âm gọi là Hàn luật là vì thế.

Ta phải nhận rằng Hàn luật không phải do ông sáng tác ra; đó chỉ là Đường luật (luật thơ phú của nhà Đường bên Tàu, sẽ nói rõ ở chương sau) mà ông đã biết ứng dụng vào việc làm thơ phú quốc âm thôi. Tuy vậy công ông không phải là nhỏ. Vì có ông biết theo Đường luật làm thơ phú nôm thì về sau mới có người bắt chước mà nền văn nôm ở nước ta mới thành lập từ đấy.

C) Tác phẩm—Theo sách H.ch (mục Văn tịch chí) q.34 thì ông có làm Phi sa tập (phi sa: phân cát ra; do câu Phi sa giản kim, bới cát chọn vàng) trong có nhiều bài thơ bằng quốc âm; tiếc rằng tập ấy nay đã mất.
Các nhà mô phỏng Hàn Thuyên - Việc ông làm gây thành một cái phong trào; đời bấy giờ chắc có nhiều người theo gương ông mà làm thơ văn bằng quốc âm, tiếc rằng sử sách không ghi chép tường tận. Hiện nay, chỉ còn truyền lại mấy nhà sau này:

1/ Nguyễn sĩ Cố. – Theo sử chép (Cm., q 8 tr.44a) , ông có tài làm thơ quốc âm và khéo khôi hài, người đương thời ví ông với Đông Phương Sóc (2).

2/ Chu An (+1370)(3) – Theo Hch. (q.43) thì ông có làm Quốc ngữ thi tập.
--
(1) ông làm nội thị học sĩ đời vùa Trần Thánh tôn (1258-1278) và thiên chương học sĩ đời vua Trần Anh tôn (1293-1313) coi việc giảng Ngũ kinh.
(2) Đông Phương Sóc: người nhà Hán bên Tàu, khéo khôi hài, hoạt kê. Làm quan đời Hán Vũ Đế, thường đem tài trào phúng chữa lỗi cho vua.
(3) Chu An: Một bậc danh nho đời Nhà Trần, hiệu Tiều Ẩn người xã Quang liệt, huyện Thanh đàm (nay là xã Thanh liệt, huyện Thanh tri, Hà động). Đời vưa Trần Minh tôn (1314-1340) ông làm Quốc tử giám tu nghiệp và coi việc giảng kinh cho Thái tử; ông bèn soạn sách Tứ thứ thuyết ước. Đến đời Dụ tôn (1341-1368), ông dâng sớ xin chém bảy người nịnh thần (Thất trảm sớ) vua không nghe,

--
C) Hồ Qui Ly là người tiếm ngôi nhà Trần làm vua năm 1400 cũng hay làm thơ nôm. Theo sử chép (Cm.q.11tr.3b), năm 1387 đời Trần Đế Nghiên, Thượng hoàng (tức là Nghệ Tôn) cho Quý Ly một thanh gươm trên có đề : “Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức. Ông làm thơ quốc ngữ để tạ ơn.

Đến năm 1437, vua Lê Thái tôn muốn xem thủ chiếu và thơ văn của họ Hồ. Nguyễn Trãi thu thập lục ra, được mấy chục thiên thơ văn quốc ngữ dâng lên ngài xem (Tth,. Q.11.tr.38a) . Xem thế thì biết họ Hồ từng làm nhiều thơ văn bằng quốc âm.

Kết luận,- Hàn Thuyên bắt đầu làm thơ phú quốc âm, thực đã mở đường cho các nhà viết văn nôm của nước ta sau này. Tiếc rằng tác phẩm của ông cùng mấy nhà kể trên đều không truyền lại đến nay nữa, nên ta không được biết văn nôm buổi phôi thai thế nào.

Các tác phẩm để kê cứu.


1. R.A. Nos 49,53.
2. Chap.bibl,. 26,28.
3. Sources. Nos 32,20.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-28 09:39:08Huyền Băng>
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BA

CÁC THỂ VĂN CỦA TÀU VÀ CỦA TA.
THI PHÁP CỦA TÀU VÀ ÂM LUẬT CỦA TA.


Từ khi Hàn Thuyên biết theo Đường luật của Tàu mà làm thơ phú nôm thì văn quốc âm một ngày một phát đạt. Các văn sĩ không những làm thơ phú mà còn làm các thể văn khác nữa. Vậy ta phải xét phép tắc các thể văn ấy .

I. Các thể văn của Tàu và của ta.

Thể văn mượn của Tàu và thể văn riêng của ta – Ta có thể chia các thể văn của ta ra làm hai loại: một là những thể văn mượn của Tàu; hai là những thể văn riêng của ta.

A) Những thể mượn của Tàu có thể chia làm hai hạng:
1) Vận văn là văn có vần: thơ, phú.
2) Biền văn là văn không có vần mà có đối: câu đối tứ lục, kinh nghĩa (lối bát cổ)

B) Những thể riêng của ta là : Lục bát, song thất, và các biêế thể của hai lối ấy (hát nói, sẩm, lý, hề, điên, v.v. ) nói lối (về tuồng) đều thuộc về loại văn vần cả.

Còn các lối văn xuôi của Tàu (như tự, bạt, truyện, ký, bí, luận) thì các cụ hồi xưa ít viết bằng quốc âm. Còn các lối văn xuôi mới (như tiểu thuyết, luận thuyết, ký sự, diễn thuyết, kịch) thì mãi gần đây ta chịu ảnh hưởng của Tây học mới biết dùng đến .

Lời chú.- Một điều khiến ta phân biệt được thể văn nào là mượn của Tàu và thể văn nào là riêng của ta là cách gieo vần.

a) Những thể văn vần của Tàu thì bao giờ vần cũng gieo ở cuối câu. Thí dụ: trong thể thơ, các chữ vần gieo ở cuối câu thứ nhất và cuối câu chẳn.

b) Những thể văn của ta thì vần vừa gieo ở câu cuối gọi là cước vận (cước; chân), vừa gieo ở lưng chừng câu gọi là yêu vận (yêu: lưng). Hí dụ: trong lối lục bát thì vần câu lục gieo ở cuối (cước vận lại hiệp với chữ thứ sáu của câu bát (yêu vận). Trong thể song thất thì vần câu thất trên gieo ở cuối (cước vận) lại hiệp với chữ thứ năm câu thất dưới (yêu vận)

Ta sẽ lần lượt xét phép tắc các thể văn mượn của Tàu, rồi đến các thể văn riêng của ta.

2.- Thơ Đường luật.

Thi pháp của Tàu và âm luật của ta.- Như trên đã nói, thơ nôm ta làm theo phép tắc thơ Tàu, mà âm thanh tiếng ta cũng tương tự tiếng Tàu (cũng là thứ tiếng đan âm và cũng chia làm tiếng bằng tiếng trắc). nên thi pháp của ta tức là thi pháp của Tàu và các niêm luật của thơ ta cũng phỏng theo thơ Tàu cả .

Thơ ngũ ngôn và thơ thất ngôn.- Thơ (chữ nho là thi) là thể văn, có thanh, có vận, có thể ngâm vịnh được.

Theo số chữ trong câu, thơ cổ có hai lối chính:

1) Ngũ ngôn, mỗi câu năm chữ;
2) Thất ngôn, mỗi cây 7 chữ;

Thơ cổ phong và thơ Đường luật.- Theo cách làm, thơ chia làm hai thể;
1) Cổ phong là thể thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định.
2) Đường luật hoặc cận thể là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618-907) phải theo niêm luật nhất định.

Thơ Tứ tuyệt và thơ bát cú.- Theo số câu, thơ Đường luật chia làm hai lối:
1) tứ tuyệt, mỗi bài bốn câu.
2) Bát cú, mỗi bài tám câu.

Lối Đường luật bát cú là lối chính và thông dụng nhất, vậy ta hãy xét phép tắc lối ấy trước.

I. Bát Cú :

Trong lối thơ Đường luật, có năm điều này phải xét
1) vần; 2) Đối; 3) luật; 4) niêm; 5) cách bố cục.

Vần thơ.-
A) Định nghĩa .- Vần (chữ nho là vận là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hướng ứng nhau).
B) Cách gieo vần:-
1/ Thơ Đường luật thường dùng vần bằng; gián hoặc mới dùng vần trắc.
2/ Suốt bài thơ Đường luật chỉ hiệp theo một vần, tức là theo lối độc vận.
3/ Trong một bài bát cú có 5 vần gieo ở cuối câu đầu và cối các câu chẵn.
C) Lạc vận và cưỡng áp.- Gieo vần sai hẳn, không hiệp nhau gọi là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng không được hiệp lắm thì gọi là cưỡng áp (đặt ngượng) , đều không được cả.
Phép đối trong thể thơ.-
A) Định nghĩa.- Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.
1/ Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.
2/ Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một tự loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh từ, hoặc động từ , v.v. )
3/ Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú. - Trừ hai câu đầu và hai câu cuối, còn bốn câu giữa thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

Luật thơ.- định nghĩa: Luật thơ là cách xếp đặt tiếng bằng tiếng trắc trong các câu của một bài thơ.

B) Tiếng bằng và tiếng trắc. – Muốn hiểu luật thơ, phải biết phân biệt tiếng bằng tiếng trắc. Bằng (chữ nho là bình) là những tiếng lúc phát ra bằng phẳng đều đều. Trắc (nghĩa đen là nghiêng, lệch) là những tiếng khi phát ra hoặc tự thấp lên cau hoặc tự cao xuống thấp.

Trong tiếng ta có tám thanh thì có hai thanh bằng và sáu thanh trắc. Các thanh ấy liệt kê trong các biểu sau này:

Loại thanh Tên các thanh Dấu chỉ thanh Chua thêm
Bằng Phù bình thanh Không có dấu
Trầm bình thanh Huyền (`)
Trắc Phù thượng thanh Ngã (~)
Trầm thượng thanh Hỏi (? )
Riêng cho các
tiếng đằng sau
Phụ âm e, ch, p,t
Phù khứ thanh Nặng (.)
Phù nhập thanh Sắc ( ’ )
Trầm nhập thanh Nặng (.)

C) Luật bằng và luật trắc.- Thơ có thể làm theo hai luật.
1) Luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng;
2) luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc.

D) Các luật thơ.- Nay liệt kê các luật thơ thông dụng như sau (b= tiếng bằng; t = tiếng trắc; v - tiếng vần; - những chữ in lối nghiêng là phải theo đúng luật; những chữ in thường thì theo đúng luật hoặc không theo đúng luật cũng được, theo các cái lệ “bất luận” sẽ nói sau) :
I,Luật bằng II. Luật trắc
A. Vần bằng A. Vần bằng.
1) ngũ ngôn bát cú 2) Ngủ ngôn bát cú

E) Bất luận và khổ độc .- Vì sự theo đúng luật bằng trắc như trên đã định là một việc rất khó, nên có lệ bất luận (không kể), nghĩa là trong câu thơ có một vài chữ không cần phải đúng luật.

1/ Trong bài thơ ngũ ngôn thì chữ thứ nhất và chữ thứ ba không cần đúng luật: tức là nhất, tam bất luận.
2/ Trong bài thơ thất ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không cần đúng luật: tức là nhất, tam , ngũ bất luận.
Tùy theo lệ bất luận có thể thay đổi luật mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng trắc mà đổi ra bằng thì bao giờ cũng được, chứ đáng bằng mà đổi ra trắc thì trong vài trường hợp, sự thay đổi làm cho câu thơ thành ra khổ độc (khó đọc) không được. Những trường hợp ấy là:

1) Trong bài thơ ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn và chữ thứ ba của cả các câu đáng bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

2) Trong bài thơ thất ngôn, chữ thứ ba các câu chẵn và chữ thứ năm các câu lẽ đáng bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

F) Thất luật.- Một câu thơ đặt sai luật nghĩa là một chữ đáng bằng mà đổi ra trắc hoặc trái lại, thế thì gọi là thất luật (sai mất luật) không được.

Niêm.-
A) Định nghĩa – Niêm (nghĩa đen là dính) là sự liên lạc về âm luật củ hai câu thơ trong bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc.
B) Những câu niêm với nhau trong một bài thơ bát cú. Trong một bài thơ bát cú (xem lại biểu các luật thơ ở trên) những câu sau này niêm với nhau: 1 với 8; 2 với 3; 4 với 5; 6 bới 7; 8 với 1.
C) Thất niêm.- Khi các câu trong một bài thơ, vì sự đặt sai, không niêm với nhau theo lệ đã định; thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền) không được.

Cách bố cục.- Một bài thơ bát cú có bốn phần:
1) Đề gồm có phá đề (câu 1) là mở bài và thừa đề (cầu) là nối câu phá mà vào bài.
2) Thực hoặc trạng (hai câu 3-4) là giải thích đầu bài cho rõ ràng.
3) Luận (hai câu 5 -6) là bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.
4) Kết (hai câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại.

II.- Tứ Tuyệt.
Định nghĩa.- tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành.

Các cách làm thơ tứ tuyệt.- Vì một bài thơ bát cú có thể ngắt nhiều cách, nên cũng có nhiều cách làm thơ tứ tuyệt:
1/ Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Thí dụ.

Con voi (Lê Thánh Tôn ?)
(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)
Xông pha bốn cõi bể chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc, (3)
Sức này nào quản búa rìu tay.(4)
( 3) và (4) đối nhau.

2/ Ngắt 4 câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câu đối nhau Thí dụ:
Khóm gừng tỏi (Ôn Như Hầu)
(so sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)
Lởm chởm vài hàng tỏi (1)
Lơ thơ mấy khóm gừng (2)
Vẻ chi là cảnh mọn, (3)
Mà cũng đến tang thương (4)
(1) và (2) đối nhau, (3) và (4) đối nhau .
3/ Ngắt 4 câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu trên đối nhau, hai câu dưới không đối. Thí dụ:

Để chùa Vô vi (Vô danh)
(so sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng ở trên)
Vắt vẻo sườn non Trạo (1)
Lơ thơ mấy ngọn chùa. (2)
Hỏi ai là chủ đó?
Có bán tớ xin mua
(1) và (2) đối nhau.

4/ Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thàn hra bài thơ 3 vần, cả 4 câu không đối. Thí dụ:

Cái pháo (Nguyễn Hữu Chỉnh)
(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)
Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm.
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

5/ Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6 , thàn hra bài thơ 3 vần hai câu cuối đối nhau. Thí dụ:

Con cóc (Lê Thánh Tôn)
(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật trắc, vần bằng ở trên)
Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Tép miệng năm ba con kiến gió (3)
Nghiến răng chuyện động bốn phương trời (4)
(3) và (4) đối nhau.

3. Thơ cổ phong

Số chữ và số câu trong lối thơ cổ phong. - Lối này chỉ có sổ chữ trong câu là nhất định (hoặc ngũ ngôn, hoặc thất ngôn): ngoài ra, không phải theo thể lệ chặt chẽ như lối đường luật, nghĩa là không có niêm, luật, không phải đối (một đôi khi có đối là tùy nhà làm thơ, chứ không bắt buộc.

Lối này cũng không hạn số câu: cứ tự 4 câu trở lên, muốn làm dài ngắn bao nhiêu cũng được. Các thi gia thường cũng hay làm mỗi bãi câu (tứ tuyệt) hoặc 8 câu (bát cú). Nhưng cũng có bài làm 6 câu hoắc 12 câu. Nhưng bài thất ngôn dài quá 8 câu và ngủ ngôn dài quá 16 câu gọi là tràng thiên (thiên dài).

Cách gieo vần trong lối thơ cổ phong. - Lối thơ cô phong có thể cả bài dùng một vần (độc vận), hoặc dùng nhiều vần (liên vận). Khi dùng liên vận thì hoặc mỗi hai câu mỗi đổi vần (lối này phải dùng vần liên châu mỗi cuối câu mỗi hạ vần), hoặc bốn câu đổi dùng một vần (như lối thơ tứ tuyệt), hoặc tám câu đổi dùng một vần (như lối thơ bát cú). Mỗi khi đổi vần, câu thứ nhất hoặc có gieo vần, hoặc không gieo vần cũng được. Trong bài thơ liên vận , có thể dùng vừa vần bằng, vừa vần trắc.

Những bài thơ cổ phong làm mẫu:
(Ngũ ngôn bát cú)

Khen Trần Bình Trọng
Giỏi thay Trần Bình Trọng!
Dòng dỏi Lê Đại Hành
Đánh giặc dư tài mạnh
Thờ vua một tiết trung.
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỉ thác cũng vinh
Cứng cỏi lòng trung nghĩa
Ngàn thu tỏ đại đanh

Phan Kế Bính

Thất ngôn bát cú

Dế duỗi bên đèn

Kiến chẳng phải kiến, voi chẳng voi,
Trời sinh dế duổi cũng choi choi
Ngắn cánh lên trời bay chẳng thấu,
Co tay vạch đất cũng khoe tài.
Mưa sa nước chảy lên cao ở
Lửa đỏ dầu sổi nhảy tới chơi
Quân tử có thương xin chớ phụ
Lăm lăm bay nhảy để mà coi

Tú Qùi

Ngũ ngôn tràng thiên (liên vận)
Bài ghi trên chỗ ngồi
Người xấu chơ nên nói,
Mình hay chớ nên khen
Làm ân chớ nên nhớ
chịu ân chớ nên quên
đời khen không đủ mến,
Duy lấy nhân làm nền
Chúa bụng rồi mới động,
Gièm pha có ngại gì
đừng để danh quá thực,
Thánh ở trong ngu si,
Giữ mình cốt trong trẻo,
Ánh sáng lộ tỷ ty.
Mềm mỏng được bền dai,
Lão Đam khoẻ mới kỳ
Hầm hầm nết kẻ hèn,
Khoan hòa người lượng cả.
Nói cẩn, ăn có chừng
Biết vừa, không tai vạ.
Cứ thế được mãi mãi,
Thơ tho cũng thoả dạ.

Thôi Tử Ngọc – Phan Kế Bính dịch nôm Việt Hán văn khảo (Éditions du Trung Bắc tân văn)

Thất ngôn tràng thiên (liên vận)
Ông Lã Gia

Ngồi buồn xem lại sử Nam nhà
Quan đời vua Triệu ông Lã Gia
Ngôi cao quyền trọng đầu râu bạc,
Hai vai gánh vác một san hà,
Giặc ngoài ngắm nghe, vua Hưng nhỏ,
Nước đổ, thành nghiêng, một cụ gia.
Cù Hậu, sứ thần trong nửa tiệc,
Quét sạch hội tanh, tan nát hoa.
Con trưởng vua Minh dựng nối dòng,
Hai nghìn vào cõi tính đã xong
Gói cờ tiết Hán để mặt ải,
Bao nơi hiểm yếu dàn canh phòng
Năm nghìn lại tiếp quân Tàu sang,
Chín chục chết theo cơ nghiệp Triệu
Chưa chắc loạn thần hay trung trinh
Văng vẳng nghìn thu không kẻ hiểu

Nguyễn Khắc HIếu
Khối tình con
(Quyển thứ nhất – Đông kinh ấn quán, Hà Nội)

4. Các lối thơ riêng

Trừ hai lối Đường luật và cổ phong vừa kể trên là những lối thông dụng nhất, còn có mấy lối thơ riêng một đôi khi thì gia cũng dùng đến.

Trong các lối liệt kê sau đây thì 5 lối trên là bắt chước của Tàu, e lối sau riêng của ta có; còn hai thể dưới, hoạ vận là liên ngâm, thực ra không phải là lối riêng, chỉ là một cách làm thơ để vui chơi cho các thi gia Tàu và ta.

Thủ vĩ ngâm.- Thủ vĩ ngâm (thủ: đầu; vĩ: đuôi; ngâm: đọc) là lối thơ câu đầu câu cuối giống nhau.

Thí dụ:
Tết
Anh em đừng nghĩ Tết tôi ngheo,
Tiền bạc trong kho chửa lãnh tiêu.
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quảy;
Trà sen mượn hỏi, già còn kiêu.
Bánh đường sắp gói, e mồm chảy;
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu.
Thôi thế thì thôi, đành Tết khác,
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.

Trần Tế Xương.

Liên hoàn.- Liên hoàn (liên : liền; hoàn: vòng) là lối thơ có nhiều bài mà cứ câu cuối bài trên lấy làm câu đầu bài dưới . Thí dụ:

Hủ nho tự trào (bốn bài)
I
Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta,
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà !
Thơ suông nước ốc còn ngấm váng;
Rượu bự non chai vẫn chén khà.
Múa mép rõ ra văn chú chiệc;
Dài lựng quen những thói con nhà.
Phen này cái hủ xua đi hết.
Cứ để cười nhau hủ mãi a?

II
Cứ để cười nhau hủ mãi a ?
Cười ta, ta cũng biết rằng ta.
Trót quen nho nhã đầu khăn lượt.
Hóa kém văn minh cổ áo là.
Khó vậy làm em, giàu đã chị;
No thì nên bụt, đói ra ma,
Nay được buổi học ganh đua mới.
Còn giữ lề xưa mãi thế là!

III
Còn giữ lề xưa mãi thế là !
Trông gương ta lại tức cho ta.
Ngâm câu dã giả, đùi rung nẩy,
Ngó chữ a b, mắt quáng lòa,
Tai mặt cùng vui đình đám hội;
Mày râu riêng thẹn nước non nhà.
Ai ơi! giấc ngủ sao mê qua!
Mưa gió năm châu rộn tiếng gà.

IV
Mưa gió năm châu rộn tiếng gà,
Cái hồn văn tử tỉnh dần ra,
Trống khua giáo dục kêu vang nước;
Đuốc rọi văn minh sáng rực nhà.
Khai hóa đã đành thay lối cũ;
Cải lương còn phải tính đường xa.
Anh xem nghĩ lại sao không cố,
Ngán nỗi nhà nhỏ bọn hủ ta.

Tình si Tử.

Thuận nghịch độc.- Thuận nghịch độc (thuận: xuôi; nghịch: ngược) là lối thơ đọc xuôi đọc ngược cũng thành câu có nghĩa cả; co khi đọc xuôi thành thơ quốc âm mà đọc ngược thành thơ chữ Hán.

Đền Ngọc Sơn (Hà Nội)

(Bài đọc xuôi)

Linh uy tiếng nổi thật là đây:
Nước chắn, hoa rào, một khoá mây.
Xanh biếc nước soi, hồ lộn bóng:
Tim bầm rêu mọc, đá tròn xoay.
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng;
Khách văng khi đưa xạ ngát bay.
Thành thị tiếng vang đồn cảnh thắng:
Rành rành nọ bút với nghiên này.

(Bài đọc ngược)

Này nghiên với bút nọ rành rành:
Thắng cảnh đồn vang thiếng thị thành
Bay ngát xa đưa khi vắng khách;
Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn canh .
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím,
Bóng lộn hồ soi nước biếc xanh.
Mây khóa một rào hoa chắn nước,
Đây là thật nổi tiếng uy linh

Vô danh

Yết hậu.- Yết hậu (yết: nghỉ; hậu; sau) là lối thơ có bốn câu trên đủ chữ, còn bốn câu dưới chỉ có một chữ. Thí dụ:

Lươn
cứ nghĩ rằng mình ngắn,
ai ngờ cũng dài đườn.
Thế mà còn chê trạch:
Lươn!

Vô danh

Lục ngôn thể .- Lục ngôn thể là lối thơ thất ngôn xen vào cái câu chỉ có 6 chữ. Lối thơ này ở nước ta về đời Trần, Lê hay dùng. Thí dụ :
Cảnh nhàn
Lọ là thành thị, lọ lâm toàn,
Được thứ thì hơn miễn phận nhàn.
Vụng, bất tài nên kém bạn (lục ngôn thể)
Già, vô sự ấy là tiên (lục ngôn thể)
Đồ thư một quyển nhà làm của;
Phong nguyệt năm hồ khách nổi thuyền.
Dù nhẫn chên khen, dù miệng thế,
Cơ mầu tạo hóa mặc tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tiệt hạ.- Tiệt hạ (tiệt: ngắt, hạ: dưới) là lối thơ nào cũng bỏ lửng như bị ngắt, bớt ở cuối, nhưng ý nghĩa rõ rệt, người đọc đoán mà hiểu được. Thí dụ:
Thác bức rèm châu chợt thấy mà …!
Chẳng hay người ngọc có hay đà …!
Nét thu dợn sóng hình như thể …
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là …
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn ..
Nết na xem phải thói con nhà ..
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy …
Tình ngắn tình dài chút nữa ta …

Vô danh

Vĩ tam thanh- Vĩ tham thanh (vĩ: đuôi; tam: ba, thanh: tiếng ) là lối thơ ba tiếng cuối cùng, câu nào cũng phát âm giống nhau. Thí dụ:
Ta nghe gà gáy tẻ tè te,
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè.
Non một chồng cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở loẻ loè loe.
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa,
Ong nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè.
Danh lợi mặt người ti tí tỉ
Ngủ trưa chưa dậy khoẻ khoè khoe

Vô danh.

Song điệp.- Song điệp (song: đôi; điệp: trùng nhau) là lối thơ mỗi câu hoặc ở đâu hoặc ở cuối có đặt hai cặp điệp tự (chữ lắp lại) Thí dụ:

Vất vất vơ vơ cũng nực cười!
Căm căm cúi cúi có hơn ai?
Nay còn chị chị anh anh đó,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn, dại dại chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ, ăn ăn, nói chuyện chơi

Vô danh

Hoạ vận.- Hoạ vận (họa: hòa theo; vận: vần) là bài thơ gieo đúng các chữ vần của bài trước tức là bài xướng (hát lên) để đáp lại ý nghĩa bài trước, hoặc biểu đồng tình hoặc phản đối lại. Thí dụ:

Tôn phu nhân qui Thục

Bài xướng
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng;
Ngân thu rạng tiết gái Giang đông.
Lìa Ngô bịn rịn chòm mấy bạc;
Về hán trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dày gió bụi;
Đá vàn chi để thẹn non sông.
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn;
Thà mất lòng anh được bụng chồng.

Tôn Thọ Tường.

Bài họa

Cài trâm xóc áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa trời Ngô un sắc trắng;
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất;
Một gánh cương thường nặng núi sống.
Anh hởi ! Tồn Quyền ! anh có biết?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Phan văn Trị.

Liên ngâm hoặc liên cú.- Liên ngâm hoặc liên cú (liên: liền, ngâm: đọc; cú: câu) là một bài thơ do nhiều người cùng làm, cứ lần lượt mỗi người đọc một hai câu cho liên tiếp thành bài. Thí dụ:
Cảnh hồ Tây
(Bài này do bà Liễu Hạnh cùng với ông PHùng Khắc Khoan, một ông họ Lý, một ông họ Ngô đi chơi thuyền ở Hồ Tây liên ngâm mà thành)

Liễu: Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời.
Lý: Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi.
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh.
Phùng: Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi,
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ.
Ngô: chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng,
Lý: Trời hôm bếp thổi khói tuôn hơi.
Mơn mơn tay lái con chéo quê,
Phùng: Xàn xạt mình đeo chiếc áo tơi.
Thuyền Phạm phất phơ chơi bể rộng.
Ngô: Bè Trương thấp thoáng thả sông trời
Đò đưa bãi lác tai dòn dã,
Lý: Giọng hát bờ lau tiếng thảnh thơi
Cò xuống đua qua vùng cát đâu
Phùng: Diều bay sẽ liệng đám mây chơi.
Khúc ca trong đục ầm bên nước,
Ngô: Quầng mắt xanh đen sạch bụi đời
Đầu gối long hà lai láng chuyện.
Lý: Tay soi tiền giáp lả lơi cười.
Chốc sen ngả nón chứa rau búp,
Phùng: Đáy nước dìm phao bắt cá tươi
Có lúc kê hoa bày tiệc rượu
Ngô: Hoạ khi tựa bóng đứng đầu mui.
Say rồi, cởi áo quăng dòng mát.
Lý: Tắm đoạn, xoay quần hóng gió phơi.
Trẻ mục yên hoa bày tiệc rượu.
Phùng: Lũ tiều Thượng uyển hẹn lời dai.
Bắt cò cứ vũng ngồi rình bụi.
Ngô: Mò ngọc khen ai khéo lặn ngòi
Tay lưới thế thần khôn mắc vướng.
Lý; Lưỡi câu danh lợi nhẹ tham mồi,
Hạ rồi bến mát còn yêu nắng.
Phùng; Đông hết thành xuân chửa thấy mai.
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ.
Ngô: Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi.
Xe săn vị thủy thu hồ hỏi,
Lý: Thuyền tới Đào Nguyên mặc sức bơi.
Chuông sớm giục thanh lòng phật đó.
Liễu: Trăng tròn soi một bóng tiên thôi.

(Nguyên văn chữ nho Truyện Liễu chúa Phan Kế Bính dịch nôm trong Việt Hán văn khảo)

Các tác phẩm để kê cứu

1) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo (sách đã kể trước)
2) Ưu thiên Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể (sách đã kể trước)
3) Đông châu, Cổ xuý nguyên âm. Lối văn thơ nôm. Cuốn thứ nhất. Đông kinh ấn quán. Hà Nội.
4) Ôn Như Nguyễn văn Ngọc, Nam thi hợp tuyển. Quyển nhất; Vĩnh hưng long thư quán. Hà nội.
5) Huyên mặc đạo nhân Dương Mạnh Huy, Đường thi hợp tuyển. cuốn thứ nhất (có dạy luật phép làm thơ). Liễu viên thư xã. Saigon.
6) Chương dân thi thoại. Nhà in Đắc lập, Huế.
7) Phạm Quỳnh, Văn học bình luận. Bàn về thơ nôm. N.P.t.1, số 5 tr.293-297.





📎 vanbt|h2thiencuoi|h4thiencuoi|h1thiencuoi

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-08 07:19:50Huyền Băng>
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN


PHÉP ĐỐI VÀ THỂ PHÚ TRONG VĂN TÀU VÀ VĂN TA: PHÚ, VĂN TẾ


1.* Phép đối

Phép đối trong văn Tàu và văn ta. một cái đặc tính của văn chương Tàu và ta là phép đối (chữ nho là đối ngẫu, đối: sóng nhau; ngẫu: chẵn . đôi): không những là văn vần (như thơ, phụ) theo phép ấy, mà các biền văn (câu đối, từ lục, kinh nghĩa) và đến cả văn xuôi nhiều khi cũng đặt thành hai câu đối nhau, hoặc hai đoạn trong một câu đối nhau.

Thế nào là đối?- Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau. Vậy trong phép đối, vừa phải đối ý vừa phải đối chữ.

A) đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.
B) Đối chữ thì phải xét về hai phương diện: thanh của chữ và loại chữ.

1) Về thanh thì bằng đối với trắc, trắc đối với bằng. tùy thể văn, có khi cả các chữ trong câu đều phải đối thanh (như thể thơ), có khi chỉ một vài chữ theo lệ đã định phải đối thanh (như thể phú).
2) Về loại thì hai chữ phải cùng một loại mới đối nhau được. Ngày xưa các cụ chia các chữ ra làm thực tự hay chữ nặng như: trời, đất, cây, cỏ và hư tự hay chữ nhẹ như: thế, mà, vậy, ru. Khi đối thì thực tự phải đối với thực tự, hư tự phải đối với hư tự.

Nay nếu theo văn phạm Âu Tây mà chia các chữ trong tiếng ta ra thành tự loại rõ ràng thì ta có thể nói rằng hai chữ đối nhau phải cùng thuộc về một tự loại, như cùng là hai chữ danh từ (noms), hoặc loại từ (spécificatifs), hoặc động từ (verbes), hoặc trạng từ (adverbes) v.v. ..
Nếu có đặt chữ nho thì phải chữ nho đối với chữ nho.
Khi đối, nếu chọn được hai chữ cùng một tự loại mà đặt sóng nhau thì là chỉnh đối hay đối cân. Nếu hai chữ ấy không những cùng một loại mà lại có ý nghĩa trái nhau như đen với trắng, béo với gầy , v.v. thì gọi là đối chọi.

2.* Câu đối.


Một thể văn trong đó phép đối được hoàn toàn ứng dụng là câu đối. Vậy ta cần xét phép tắc câu đối trước khi xét đến các thể văn trong có dùng đến phép ấy.

Định nghĩa.- Câu đối (chữ nho là doanh thiếp hoặc doanh liên: (Doanh: cột; thiếp: mảnh giấy có viết chữ; liên: đối nhau) là những câu văn đi đôi với nhau thế nào cho ý và chữ và luật bằng trắc cân xứng với nhau .

Cách làm câu đối.- Một đôi câu đối có hai câu đi sóng nhau, mỗi câu là một vế, vế trên, vế dưới.

Trong cách làm câu đối, phải xét số chữ, cách đặt câu và luật bằng trắc. Theo số chữ và cách đặt câu, có thể chia câu đối ra mấy thể sau đây:
1) Câu tiểu đối là những câu tự 4 chữ trở xuống. Những câu này nếu đặt được bằng đối với trắc, trắc đối với bằng thì hay lắm. Thí dụ:




3) Câu đối phú là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú
a) Lối câu song quan (hai cửa) là những câu có tự 5 chữ trở lên, 9 chữ trở xuống đặt thành một đoạn liền.
b) Lối câu cách cú (cách: ngăn ra; cú: câu) mỗi vế có hai câu: một câu ngắn, một câu dài, thành ra hai câu đối nhau có một câu xen vào giữa làm cách nhau ra.
c) Lối câu gối hạc hoặc hạc tất là những câu mỗi vế có tự ba đoạn trở lên, đoạn giữa thường ngắn xen vào hai đoạn kia như cái đầu gối ở giữa hai ống chân con hạc.

Về luật bằng trắc trong lối câu đối phú thì chỉ kể chữ cuối vế, và chữ cuối đoạn (gọi là chữ đậu câu). Chữ cuối vế phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Nếu mỗi vế có tự hai đoạn trở lên (như lối cách cụ, gối hạc), Hể chữ cuối vế là bằng thì các chữ đậu câu phải là trắc; trái lại, hể chữ cuối vế là trắc thì các chữ đậu câu phải là bằng. Thí dụ:

Song quan – Cách cú

Con ruồi đậu mâm xôi đậu (1);
Cái kiến bò dĩa thịt bò (b)
Ngói đỏ lợp nghè (b) lớp trên đè lớp dưới (t)
Đá xanh xây cống (t) hòn dưới nống hòn trên (b)

Gối hạc

Quan chẳng quan thì dân (b) / chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên (b)/nào lính, nào cả, nào bàn ba (b)/ xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp làm sao (b); thủ lợn nhìn lâu trở cả mắt (t).
Già chẳng già thì trẻ (t) / đàn tiểu tử nháp nhô đứng trước (t); này phú, này thơ, này đoạn một (t) / bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế (t) mắt (t) gà đem mãi mỏi bên tai (b)

3.* Phú
Định nghĩa.- Phú (nghĩa đen là bày tỏ, mô tả) là một thể văn có vần dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình.

Phú cổ thể và phú Đường luật.- Theo cách làm phú có thể chia làm hai lối;
1) Cổ thể (thể cũ) là thể phú có trước đời nhà Đường, có vần mà không có đối, hoặc như một bài ca thật dài hoặc như một bài văn xuôi mà có vần, lối sau này gọi là lối phú lưu thủy. (nước chảy) (xem bài đọc thêm 1)
2) đường luật là thể phú đặt ra tự đời nhà đường, có vần có lối, có theo luật bằng trắc. Lối này phải theo qui củ nhất định và là lối phú thông dụng nhất. Vậy ta phải xét kỹ phép tắc lối này.

Cách hiệp vần trong lối phú Đường Luật.- Cách hiệp vần có thể theo.
1) Lối độc vận: từ đầu đến cuối chỉ dùng một vần.
2) Lối liên vận: một bài dùng nhiều vần.
Nếu đầu bài ra sẳn cho mình làm (như trong khi đi thi) thì có hai cách:
1) Hạn vận: (hạn chế các vần), tức là ra sẳn một câu làm vần, mình phải theo thứ tự các chữ trong câu ấy mà gieo vần cho đủ và không được gieo vần khác vào.
2) Phóng vận (phóng: thả, cho tự do) nghĩa là mình muốn gieo vần gì cũng được tùy ý mình.
Trong lối Đường phú, bao giờ cũng đặt hai câu đối nhau gọi là hai vế thì vần gieo ở cuối về dưới.

Cách đặt câu trong lối Đường phú.- Trong lối Đường phú, có mấy cách đặt câu như sau:
1) Câu tứ tự, mỗi vế bốn chữ:
2) Câu bát tự, mỗi vế tám chữ chia làm hai đoạn bằng nhau;
3) Câu song quan
4) Câu cách cú

Luật bằng trắc trong lối Đường phú.- Về luật bằng trắc như trên đã nói, chỉ kể những chữ cuối vế và những chữ đậu câu.

1.) Nếu mỗi vế chỉ có một đoạn (tứ tự, song quan) thì hể chữ cuối vế trên là bằng thì chữ cuối vế dưới phải là trắc; hoặc trái lại thế. Thí dụ:
Tứ tự
Đau quá đòn hằn (b)
Rát hơn lửa bỏng (t)
(Trần Tế Xương – Bài phú hỏng thi)

Song quan
Năm vua Thành Thái mười hai (b)
Lại mở khoa hti Mỹ trọng (t)
(Trần Tế Xương – Bài phú hỏng thi)

3) Nếu mỗi vế có nhiều đoạn (bát tự, cách cú, gối hạt), hễ ở vế trên cuối chữ vế là bằng thì các chữ đậu câu phải là trắc; đến vế dưới thì chữ cuối vế đổi làm trắc mà các chữ đậu câu lại là bằng. Thí dụ:

Bát tự
Nghiện chè nghiện rượu (t), nghiện cả cao lâu (b)
Hay hát hay chơi (b) hay nghề xuống lõng (t)

Cách cú
Thầy chắc hẳn văn chương có mực (t), lễ thánh xem giò (b).
Có mừng thầm mũ áo đến tay (b), gặp người nói mộng (t)
(Trần Tế Xương – Bài phú hỏng thi)

Gối bạc
Áo vải thô nặng trịch (t), lạnh làm mền, nực làm gối (t), bốn mùa thay đổi bấy nhiêu (b)
Khăn lau giắt đỏ lòm (b) , giải làm chiếu, vận làm quần (b), một bộ ăn chơi quá thú (t)
(Nguyễn Công Trứ - Hàn nho phong vị phú)

Cách bố cục trong bài Đường phú.- Cách sắp đặt các đoạn mạch trong bài Đường phú cũng tựa như bài thơ;
1) Lung là đoạn mở bài nói bao quát cả ý nghĩa đầu bài.
2) Biện nguyên là đoạn nói nguyên ủy gốc tích cho rõ ý đầu bài;
3) Thích thực là đoạn giải thích rõ ý đầu bài;
4) Phu diễn là đoạn bày tỏ cho rộng ý đâầ bài;
5) Nghị luận là đoạn bàn bạc về ý nghĩa đầu bài;
6) Kết là đoạn thắt lại ý đầu bài.

Trong mỗi đoạn phú hoặc mỗi vần phú (trong các bài phú liên vận thì các câu hiệp theo một vần họp lại thành một vần phú), thường đặt vài bốn câu tứ tự hoặc bát tự trước, rồi đến một ít câu song quan, sau đến ít nhiều câu cách cú hoặc gối hạc. thì dụ: Đoạn “Lung” trong bài phú Khổng tử mộng Chu công của Nguyễn Nghiễm.
(Tứ Tự) Cơ mầu vận chuyển; -Lòng thực cảm thông.
(song quan) khác thuở điềm xưa Hiên hậu; - Lạ chừng giấc mộng Cao tông.
(Cách cú) Gánh cương thường nhậm lấy một mình, khá khen Phu tử; - Thuở mộng mị đường bằng có ý, từng thấy Chu công.

Cũng có khi cả bài phú, từ đầu đến cuối, đều đặt những câu 4 chữ; loại này có thể gọi là lối phú tứ tự (Xem Bài đọc thêm số 2).

4.* Văn tế
Định nghĩa.- Văn tế (chữ nho là tế văn) là một bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết công đức của người ấy và tỏ tấm lòng kính trọng và thương tiếc của mình.

Các lối văn tế.- Văn tế có thể làm theo nhiều lối;
1) Lối văn xuôi: Thí dụ Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh (Xem Việt văn giáo khoa thư bậc Cao đẳng tiểu học, tr.66)
2) Lối tán (tán là bài văn vần làm để khen ngợi phẩm hạnh công đức một người) mỗi câu bốn năm chữ, có vần, có đối, hoặc không đối (Xem bài đọc thêm số 3)
3) Lối phú cổ thể hoặc lưu thủy
4) Lối phú Đường luật. Lối này là lối thông dụng nhất. Thí dụ: Văn tế Vũ Tính và Ngô Tùng Châu (xem phần thứ nhì, bài số 79)
5) Trong văn nôm ta, văn tế lại có thể làm theo thể song thất lục bát (sẽ nói ở chương XV,2 *) Thí dụ: bài văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.

Phép làm văn tế theo lối Đường phú .-
A) Cách hiệp vần (thường dùng độc vận) , cách đặt câu và luật bằng trắc theo đúng như thể thức đối phú Đường luật đã nói trên . Xem 3*
B) Các đoạn mạch.- Một bài văn tế thường chia ra làm các đoạn sau này:
1) Đoạn mở bài (bắt đâầ bằng hai chữ “than ôi”) hoặc “Than rằng” hoặc “Thương ôi” trước đặt một câu cách cú hoặc gối hạc, rồi đến một câu song quan.
2) Đoạn kể đức tính công nghiệp người chết (thường bằng đầu bằng mấy chữ “Nhớ cha xưa” hoặc “Nhớ bạn xưa, v.v.” trước đặt vài câu tứ tự, hoặc bát tự rồi đến những câu cách cú, song quan , gối hạc, nhiều ít tùy ý.
3) Đoạn than tiếc người chết (thường bắt đầu bằng chữ “Ôi!”: cách sắp đặt các câu cũng như đoạn trên.
4) Đoạn tỏ tình thương nhớ của người đứng tế (thường bắt đâu bằng mấy chữ “con nay” hoặc “Bản chức nay”, v.v. Cách xếp đặt các câu cũng như đoạn trên. Cuối đoạn này thường đặt hai chữ Thượng hưởng (ước mong hưởng cho) là hết.

CÁC BÀI ĐỌC THÊM


1. MỘT BÀI PHÚ LƯU THỦY

Bài phú sông Bạch đằng.

Khách có kẻ: chèo bể bơi trăng, buồm mây giong gió. sớm ngọn Tương kia, chiêu hang Vũ nọ. Vùng vẫy Giang, Hồ; tiêu dao Ngô, Sở. Đi cho biết đây, đi cho biết đó. Chằm Vân mộng chứa ở trong kho tư tưởng, đã biết bao nhiêu; mà cái trí khi tứ phương, vẫn còn hăm hở!

Mời học thói Tử trương; bốn bể ngao du. Qua cửa Đại-Than, sang bến Đông Triều; đến sông Bạch Đằng, đủng đỉnh phiếm chu. thắng xoá sông kềnh muôn dặm; xanh rì đặng ác một màu. Nước trời lộn sắc, phòng cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cõi, bến lách đìu hiu. Giáo gậy đầy sông, cốt khô đầy gò. Ngậm ngùi đứng ngắm cuộc phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hãy còn lưu.

Kia kìa bên sông, phụ lão người đâu. Lượng trong bụng ta, chừng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa của vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.

May sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó. Khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích bích khi xưa, giặc Bổ Kiên bị tan ở bến Hợp phì thuở nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời; mà cái công tái tạo của ta, lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang san. Trời đặt ra nơi hiểm trở, người tính lấy cuộc tồn an. Hội nào bằng hội Mạnh tân, như vương sư họ Lã; trận nào bằng trận Duy thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Kìa trận Bạch Đằng này mà Đại thắng, bởi chưng Đại vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi, bia miệng bao mòn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với nước non!

Rồi vừa đi vừa hát rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê!
Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông.
Trời Nam sinh kẻ anh hùng,
Tăm kềnh yên lặng, non sông vững vàng.
Khách vừa đi vừa hát rằng:
Vua Trần hai vị thánh quân
Sông kia còn dấu tẩy trần giáp binh
Nghìn xưa gẩm cuộc thăng bình.
Tài đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.
(Nguyên văn chữ nho của Trương Hán Siêu – Đông Châu dịch - )
Khảo về địa dư và lịch sử tỉnh Quảng yên (Nam Phong tạp chí, t.XIV số 84, tháng 6-1924)

Một bài phú tứ tự

Bài phú tài bàn.
(Lung) Tài bàn, tài bàn ! Ai sinh ra chàng? Trăm hai mươi quân, phu ba kéo hàng. Cũng vạn, cũng sách: cũng chi, lão, thang. Nào ăn nào đánh, muốn dọc, muốn ngang. Có gì lạ đâu; Tổ tôm một phường. Có gì khác đâu: khác chín lừng khàn. Từ khi mới sang, vác mặt nghiêng ngang. Đi đầu theo đó, sum họp thành làng.

(Biện nguyên) Nguyên người ở đâu? – Ngươi ở bên Tàu. Tên ngươi ai đặt? Họ ngươi ai đầu? Trong phường dệt gấm chú chiệc bán dầu.

(Thích thực hai vần) Vài mươi năm trước, qua nước Nam Việt. Xưa chửa biết ai, nay ai cũng biết. Càng quen thuộc lắm, chơi bời càng riết. Kể mặt làng chơi, tín hsao cho xiết.

Thím khách, cô tây; bác thông, cậu ký, Thầy giáo thâầ nho; cụ tổng, cụ lý. Ông cả, bà lớn; bố cu, mẹ đĩ. Đến cả sãi chùa, cùng đàn trẻ bé. Rằng buồn, ông chơi , thấy vui, cháu ké.

(Phu diễn hai vần) Nơi thời: lầu hồng gió cuốn, gác tía trăng soi. Đèn pha lê thắp, sập vân mẫu ngồi. Kẻ hầu bốc nọc, đứa chực chia bài. Trăn nghìn không kể, chơi lấy kẻo hoài.

Nơi thời: Mấy mặt làng nho, vài người bạn cũ. Điếu thuốc, miếng giầu; câu thơ, vần phú. Ngày hãy còn dài, ta chơi cho bõ.

(Nghị luận hai vần ) lại kìa: mấy cậu dẻo trai, mấy ả mày ngài. đồng hồ túi áo, kim cương hoa tai. Ma-đam, me-sừ; giắt lưng cỗ bài. Chim chuột là cốt, được thua cũng lời.

Lại kia : nhà tranh rấch rác, giường tre lệch lạc. Thằng quấn lồng bàn, đưa khăn mãnh bát. Xỏ lá một phường, bợm keo một loạt. Thuốt khét râu ngô, bước bung chè hạt. Người mươi đồng xu, bài mọt cỗ nát. Ngọn đèn lờ mờ, năm canh xào xạc.

(Kết) Thôi thôi thôi thôi: Chú tài, thím tài; ông bàn , bà bàn ! Xin xuống tàu trước, cả nước tôi van!

(Nễ giang Nguyễn Thiện Kế).

2. Một bài văn tế làm theo lối tán .

Văn tế một vị công chúa.
Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu
Hoa tàn, nguyệt khuyết
(Mạc Đĩnh Chi)

Dịch nghĩa : Một đám mây trên trời xanh, một giọt tuyết trong lò trời, một cánh hoa ở vườn nhà vua, một vừng trăng ở dưới ao tiên. Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU


1) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo
2) Ưu Thiên Bùi Kỷ, quốc văn cụ thể
3) Đông Châu, Cổ xuý nguyên âm. Cuốn thứ nhì
4) Thái phong Vũ khắc Tiệp, Phú nôm, tập trên và tập dưới, Việt văn thư xã, Vĩnh hưng Long thư quán, Hà Nội.


📎 hchuong141copy

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-10 03:01:27Huyền Băng>
CHƯƠNG THỨ MƯỜI LĂM


Các thể văn riêng của ta: Truyện, Ngâm, Hát Nói .

1 Truyện
Lục bát và biến thể lục bát. - Truyện là tiểu thuyết viết bằng văn vần. Các truyện nôm của ta viết theo hai thể :

I. Lục bát; 2- Biến thể lục bát.

1. Thể lục bát : Lục bát nghĩa đen là sáu tám, vì theo thể này cứ lần lượt đặt một câu sáu chữ, lại đến một câu tám chữ, muốn đặt dài ngắn bao nhiêu cũng được, miễn là phải dừng lại ở cuối câu tám.
Cách hiệp vần trong thể lục bát.- Cứ chữ cuối câu trên phải vần với chữ thứ sau câu dưới và mỗi hai câu mỗi đổi vần, mà bao giờ cũng gieo vần bằng. Theo lệ ấy thì chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám, rồi chữ cuối câu tám lại vần với chữ cuối câu sáu sau. Thành ra câu tám có hai vần: một yêu vận ở chữ thứ sáu và một cước vận ở chữ thứ tám.
Thí dụ: (yv = yêu vận; cv = cước vận):

Thành tây có cảnh Bích câu,
Cỏ hoa họp lại một bầu (yv) xinh sao (cv)!
Đua chen thu cúc, xuân đào,
Lưu phun lửa hạ, mai chào (yv) gió đông (cv)!
(Bích Câu kỳ ngộ)

Luật bằng trắc trong thể lục bát - Luật bằng trắc của thể lục bát theo thứ tự này:
Câu sáu: b B t T b B
Câu tám: b B t Tb B T B
(chữ bằng (B) hay trắc (T) viết hoa là buộc theo luật bằng trắc; còn chữ viết thường thì không buộc theo đúng luật, theo lệ “nhất , tam, ngũ bất luận” )
Lời chú.- Trong câu tám, tuy chữ thứ sáu và chữ thứ tám đều là tiếng bằng, nhưng không được cùng một thanh, nghĩa là nếu chữ thứ sáu thuộc phù bình thanh thì chữ thứ tám phải thuộc trầm bình thanh, hoặc trái lại thế. Thí dụ: (pht = phù bình thanh; tbt = trầm bình thanh)
Lựu phun lửa hạ mai chào (tbt) gió đông (pbt)
Cỏ lan lới mục, rêu phong (pbt) dấu tiều (tbt)
(Bích Câu kỳ ngộ)

Khi nào câu sáu chia làm hai đoạn dài bằng nhau, thì chữ thứ hai có thể đổi ra trắc được. Thí dụ;
Dù mặt lạ, đã lòng quen
(Bích Câu kỳ ngộ)

II. Biến thể lục bát
Biến thể lục bát.- Biến thể nghĩa là thể văn có biến đổi đi. Thể này tức cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có xen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác thể lục bát nói trên. Thể này thường dùng để viết các truyện có tính cách bình dân như Quan thế âm, Phạm Công Cúc Hoa, Lý Công , v.v. ..
Sự biến đổi trong cách hiệp vần và luật bằng trắc của lối biến thể lục bát. Nay lấy mấy câu trong truyện lý công làm mẫu:
Câu sáu: Khoan khoan chân bước lên đường.
Câu tám: Thấy chàng họ Lý ngồi đương ăn mày.
Câu sáu: Đầu thời đội nón cỏ may.
Câu tám: Mặt võ mình gầy, cầm sách giờ lâu.
Câu sáu: Dưới đất có bốn rồng chầu.
Câu tám: kiệu vàng, tàn tía trên đầu hào quang.
Câu sáu: thị Hương xem thấy rõ ràng,
Câu tám: Bước tới vội vàng, chào Lý thánh Quan.

Xét tám câu ấy, ta nhận thấy bốn câu in chữ đứng theo đúng phép tắc thể lục bát, còn bốn câu in chữ nghiêng là thuộc về biến thể lục bát.
1. Một điều biến đổi là ở cách hiện vần; chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ tư câu tám, chứ không vần với chữ thứ sáu như trong thể lục bát chính thức.
2. Một điều biến đổi nữa là ở luật bằng trắc:
a) Luật của câu tám: vì chữ yêu vận trong câu tám đổi chỗ, nên luật bằng trắc của câu ấy cũng phải đổi cho hợp. Câu tám trong thể lục bát bắt đầu bằng bằng thì trong lối biến thể lại bắt đầu trắc trắc để cho chữ thứ tư là chữ vần đặt được tiếng bằng. Luật cả câu ấy là:
t T b B t T b B
b) Luật của câu sáu:- Nhiều khi luật của câu sáu cũng thay đổi và bắt đầu trắc trắc theo thứ tự này :
t T b B T B

Thí dụ:
Thuở ấy có vua Bảo vương,
Sinh ra công chúa phi phương lạ lùng (Lý công truyện)

3. Ngâm
Song thất lục bát – Ngâm là một bài văn vần tả những tình cảm ở trong lòng, thứ nhất là những tình buồn, sầu, đau, thương. Các ngâm khúc trong văn ta làm theo thể song thất lục bát, thường gọi tắt là song thất.

Số chữ trong câu của thể song thất.- Song thất lục bát, nghĩa đen là “hai bảy, sáu tám”,. Phép đặt câu trong thể này cứ hai câu bảy chữ, rồi đến một câu sáu chữ, một câu tám chữ. Cứ bốn câu thành một đoạn con, muốn đặt dài ngắn tùy ý, miễn là phải đặt cho trọn từng đoạn. thể này cũng gọi là lục bát gián thất nghĩa là câu sáu, câu tám có xen vào những câu bảy.
Cách hiệp vần trong thể song thất.- Chữ cuối câu 7 trên vần với chữ thứ năm câu bảy dưới, đều là vần trắc. Chữ cuối câu bảy dưới vần với chữ cuối câu sáu, đều là vần bằng. Chữ cuối câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám mà là vần bằng (theo như thể lục bát). Chữ cuối câu tám lại vần với chữ thứ năm câu bảy trên của đoạn sau mà cũng là vần bằng. thành ra mỗi đoạn bốn câu có bốn vần: một vần trắc và ba vần bằng. Trừ câu sáu không kể, các câu kia mỗi câu đều có hai chữ vần; một yêu vận và một cước vận. Thí dụ: Tám câu đầu trong chinh phụ ngâm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi (cvt)
Khách má hồng nhiều nỗi (yvt) truân chuyên (cvb)
Xanh kia thăm thẳn từng trên (cvb)
Vì ai gây dựng cho nên (yvb) nỗi này (cvb) !
Trống Trường thành lung lay (yvb.1) bóng nguyệt (cvt2).
Khói cam tuyền mờ mịt (yvt.2) thức mây (cvb.3)
Chín tầng gươm báu trao tay *cvb.3)
Nửa đêm truyền hịch định ngày (yvb.e) xuất chinh (cvb.4)

Luật bằng trắc trong thể song thất.- Hai câu sáu tám theo đúng luật của thể lục bát đã nói trên. Đến hai câu bảy thì trừ chữ thứ nhất không kể, muốn đặt tiếng gì cũng được, còn sáu chữ sau chia làm ba đoạn mỗi đoạn hai chữ. Trong câu bảy thì có đoạn đầu trắc trắc; đến câu bảy dưới thì luật trái lại: đoạn đầu bằng bằng. Vậy luật bằng trắc trong thể song thất theo thứ tự này (0=chữ đầu câu bảy gác ra ngoài không kể; những chữ thường (t,b) không cần theo đúng luật, theo lệ “nhất, tam, ngũ bất luận “đã nói trước):





Lời chú. - Nếu hai câu bảy đặt thành hai câu sóng nhau hoặc đối, hoặc không đối thì đoạn đầu câu bảy trên (hai chữ 2,3) theo lệ phải đặt trắc trắc có thể đổi làm bằng bằng được. Thí dụ;
Chàng thì đi cõi xa mưa gió (1)
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn (2)
((1) và (2) đối nhau)
(Chinh Phụ Ngâm)
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm (1)
Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon (2)
(1) và (2) đối nhau
(Cung oán ngâm khúc)

Chàng từ đi vào nơi gió cát (1)
Đêm trăng này, nghỉ mát phương nao? (2)
(1) và (2) không đối.
(Chinh phụ ngâm)

2. Hát nói
Hát nói là một trong các lối hát ả đào hay đào nương ca (1). Hát ả đào gồm những lối ca trù do đào nương (hoặc cô đào) hát, đối với lối hát trai hay Hà nam do giáp công (hoặc kép) hát.

Hát ả đào kể có nhiều lối như dâng hương, giáo trống, gửi thư, thét nhạc, vân vận. Nhưng chỉ có lối hát nói là thông dụng nhất là có văn chương lý thú nhất.

Hát nói có thể coi là một biến thể của hai thể lục bát và song thất.

Đủ khổ, dôi khổ và thiếu khổ.- Mỗi bài hát nói chia làm nhiều đoạn gọi là khổ bài. Mỗi khổ có bốn câu, trừ khổ cuối chỉ có 3 câu.

Theo số khổ , hát nói chia làm ba thể:
1) Đủ khổ là những bài có ba khổ (khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu) cộng là 11 câu. Thể này là chính thức.
2) Dôi khổ là những bài có hơn ba khổ (khổ dôi ra là khổ giữa)
3) Thiếu khổ là những bài thiếu một khổ (thường là khổ giữa) chỉ có 7 câu.
Hai thể sau là biến thức.

1. Đủ khổ

Các câu trong bài đủ khổ.- theo tiếng nhà nghề, 11 câu trong bài đủ khổ có tên riêng là:
Khổ đầu: hai câu 1-2 là lá đầu; hai câu 3-4 là xuyên thưa.
Khổ giữa: hai câu 5-6 là thơ; hai câu 7-8 là xuyên mau .
Khổ xếp: câu 9 là dồn; câu 10 là xếp; câu 11 là Keo.

Số chữ trong câu hát nói:- Số chữ không nhất định.
Thường đặt những câu 7,8 chữ; nhưng có khi đặt những câu ngắn hơn chỉ cõ, 5 chữ, hoặc dài tới 12, 13 chữ.

Duy có câu cuối bao giờ cũng đặt 6 chữ và hai câu 5-6 đặt thành hai câu thơ thì phải theo thơ ngũ ngôn (5 chữ) hoặc thất ngôn (7 chữ). Nhưng hai câu 5-6 không đặt theo thể thơ và có số chữ so le cũng được. Thí dụ: (hai câu 5-6 trong bài Rõ mặt tu mi của Nguyễn Công Trứ):
Đố kỵ sá chi con Tạo.
Nợ tang bồng quyết trả cho xong.

Cách gieo vần trong bài hát nói.- Cách gieo vần phải theo các lệ sau này:
1. Trong bài hát nói, dùng cả hai thứ vần; vần bằng và vần trắc. Khi nào trong một câu đang vần bằng đổi sang vần trắc hoặc trái lại thế, thì vừa có yêu vận và cước vận. Những câu ấy là các câu chẵn, trừ câu thứ sáu là câu thơ nên chỉ có cước vận thôi.
2. Trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối phải dùng tiếng trắc, cước vận của hai câu giữa phải dùng tiếng bằng. Còn yêu vận của câu thứ hai thì dùng tiếng trắc mà của câu thứ tư thì dùng tiếng bằng để có thể chuyển vần trắc sang vần bằng hoặc vần bằng sang vần trắc được.
3. Yêu vận gieo vào chữ cuối đoạn thứ nhì (về sự chia đoạn, xem rõ Mục sau)

Luật bằng trắc trong bài hát nói.- Đại khái luật bằng trắc các câu trong mỗi khổ bài hát nói là như sau (những chữ thường) không cần theo đúng luật, theo lệ (nhất, tam, ngũ bất luận):
Câu thứ nhất: t T b B t T
- thứ nhì: b B t T b B
- thứ ba: b B t T b B
- thứ tư : t T b B t T

Nên nhận: Câu đầu và câu cuối theo một luật vì hai câu ấy đều gieo vần trắc; hai câu giữa đều theo một luật vì hai câu ấy đều gieo vần bằng.
Lời chú: 1. Khổ xếp chỉ có ba câu thì theo luật của ba câu đầu kể trên
2. Những câu 5-6 và những câu khác trong bài hát nói, nếu đặt thành câu thơ, thì phải theo đúng luật thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
3. Những câu 6 chữ theo đúng luật kể trên. Còn những câu dài hơn 6 chữ thì, đói với việc ứng dụng luật ấy, phải chia làm ba đoạn con, mỗi đoạn 2 chữ, hoặc 3, 4 chữ hay dài hơn nữa. Trong mỗi đoạn, chỉ kể chữ cuối là phải theo luật bằng trắc, những chữ trên gác ra ngoài không kể, muốn đặt tiếng gì cũng được .
4. Những câu 4, 5 chữ chỉ chia làm hai đoạn thì đoạn thiếu là đoạn đầu không kể, còn hai đoạn dưới theo đúng luật. Thí dụ: Câu đầu bài Chơi thuyền Hồ Tây của Nguyễn Khuyến:
Thuyền(b) lan(b) nhẹ(t) nhẹ(t).
Câu đầu bài Cái thú say rượu của Nguyễn Công Trứ (?)
Say (b) chưa?(b) say(0) mới(t) thú(t).

5. Những câu lấy chữ sẵn không theo đúng luật bằng trắc. Thí dụ: Câu thứ hai của khổ xếp trong bài này Mộng sự với chân thân của Cao Bá Quát (?)
Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai.
(Câu này là câu lấy chữ sẳn ở trong bài Tương tiến tửu của Lý Bạch)

Lời chú.- Lệ gieo vần và luật bằng trắc tuy như đã kể trên, những một đôi khi nhà làm văn không theo đúng hẳn cũng được, miễn là câu đặt có thể hát lưu loát thì thôi.

Một bài hát nói đủ khổ làm mẫu: nợ nam nhi của Nguyễn Công Trứ (0=chữ gác ra ngoài luật; b = bằng; t = trắc; yv = yêu vận; cv = cước vận; (hết một đoạn);




II. Dôi khổ

Cách làm bài hát nói dôi khổ.- Trong những bài dôi khổ, khổ đầu, vẫn ở trên, khổ xếp vẫn ở dưới, còn khổ giữa thì làm dôi ra thành hai ba khổ hoặc nhiều hơn nữa tùy ý.

Trong những khổ dôi ra, số câu, số chữ, cách gieo vần và luật bằng trắc cũng theo như các khổ chính. Thí dụ: phong cảnh Hương sơn của Chu Mạnh Trinh (xem phần thứ nhì, bài số 133)

III. Thiếu khổ
Những bài thiếu khổ.- Một đôi khi bài hát nói thiếu hẳn đi một khổ, thường là khổ giữa, chỉ còn lại có 7 câu.

Thí dụ :

Tiễn biệt
Ngán cho nỗi xoay vần thế cục,
Sum họp này chả bỏ lúc phân ly!
Hởi ông tơ! Độc địa làm chi!
Bắt kẻ ở người đi mà nỡ được!
Thôi đã trót cùng nhau nguyện ước,
Duyên đôi ta chẳng trước thì sau,
Yêu nhau nhớ lấy lời nhau!

Cung Thúc Thiêm

IV. Mưỡu


Định nghĩa.- Mưỡu là những câu làm theo thể lục bát đi kèm với bài hát nói, hoặc ở trên (mưỡu đầu), hoặc ở dưới (mưỡu hậu).

Không phải bài hát nói nào cũng có mưỡu; có nhiều bài không có. Lại có bài chỉ có mưỡu đầu hoặc mưỡu hậu; có bài có cả mưỡu đầu và mưỡu hậu.

Mưỡu đầu.- Mưỡu đầu có thể đặt một cặp câu lục bát (Mưỡu đơn) hoặc hai cặp câu lục bát (mưỡu kép).

Những câu mưỡu đầu bao giờ cũng đặt trùm trên bài hát nói. Câu mưỡu cuối không phải hiệp vần với câu đầu bài hát nói. Thí dụ:
Mưỡu đơn: Đồng tiền.

Hôi tanh chẳng thú vị gì.
Thế mà ai cũng kẻ vì, người yêu.
Tạo vật bất thị vô để sử
Bòn chài ra một thứ quấy chơi
Đủ vuông tròn tượng Đất, tượng Trời.
Khẳm họa, phúc, nguy, yên, tử, hoạt.
Chốn kim môn nơi tử thát,
Mặc phao tuồng không kẻ phòng nhàn
Đương om sòm chớp giật, sấm ran,
Nghe xốc xách, lại gió hòa mưa ngọt
Kẻ tài bộ đã vào phương vận đạt,
Không ngươi, cùng ải với cỏ cây.
Người yêm yêm đành một phận trầm mai,
Có gã, lại trổ ra sừng gạc.
Dốc đầy túi, mặt Nguyễn lang ngơ ngác,
Trổng đầu giường, gan tráng sĩ làu bàu.
Để đoàn ấm á càu nhàu,
Khiến lũ tài danh vơ vẫn.
Khả quái tầm thường “a đồ vật”
Khước giao đáo để đại thần linh
Đương đồ ai chẳng chuộng gia huynh.
Thù thế, kể lấy làm đệ nhất.
Tiếng xỏng xảnh đầy trong trời đất
Thần cũng thông, huống nữa là ai?
Long đồ nghĩ cũng nực cười.

(Nguyễn Công Trứ.)

Mưỡu kép: Hồ Hoàn Kiếm.

Lênh đênh dưới nước trên trời,
Quanh thuyền trăng gió một vài ông thơ,
Bút nghiên để sẵn bao giờ
Đề câu tuyệt duyệt còn nhờ tay ai?
Thu phong thu nguyệt.
Cảnh Kiếm hồ bao xiết vẻ phong quang.
Soi biết bao lợi tẩu danh trường,
Kìa vân cẩu mảnh gương còn mãi đó.
Nước biếc khôn tìm gương Thái tổ.
Đá xanh hầu mốc chữ Phương đình.
Chẳng quản chi người chí nhục, kẻ chí vinh,
Lấy sơn thủy hữu tình làm khế hữu.
Khi bình hoa, khi đối tửu.
Kho trời chung phong nguyệt của riêng ta:
Chơi đi kẻo nữa mà già.

Hoàng Cảnh Tuân.

Mưỡu hậu.- Mưỡu hậu bao giờ cũng là mưỡu đơn. Mưỡu hậu thường đặt ở câu xếp và câu keo; nhưng cũng có khi đặt ở dưới câu keo, nghĩa là đặt hẳn xuống cuối bài hát nói. Nếu hai câu mưỡu hậu đặt xen vào giữa câu xếp và câu keo, thì câu lục phải ăn vần với câu xếp ở trên mà câu bát phải buông vần xuống cho vần câu keo ở dưới bắt vào. Thí dụ: Cầm kỳ thi tửu của Nguyễn Công Trứ (xem phần thứ nhì, Bài số 102)
Một bài hát nói có thể vừa có mưỡu đầu và mưỡu hậu.
Thí dụ:
Vịnh Tiền Xích bích
Gió trăng chứa một thuyền đầy.
Của kho vô tận biết ngày nào vơi
Ông Tô tử qua chơi xích bích,
Một con thuyền với một túi thơ
Gió hiu hiu mặt nước như tờ,
Trăng chếch chếch đầu non mới ló.
Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ,
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương.

Ca rằng:
Quế trạo hề lan tương
Kích không minh minh hề tố lưu quang.
Diễu diểu hề dư hoài
Vọng mĩ nhân hề thiên nhất phương
Người ỷ a réo rắt, khúc cung thương
Tiêng kêu lẫn tiếng ca vang đáy nước
sực nhớ kẻ quay ngọn giáo vịnh câu thơ thuở trước
Nghĩ sự đời nên cảm nỗi phù du.
Đành hay trời đất dành cho
Hai kho phong nguyệt nghìn thu hãy còn.
Còn trời, còn nước, còn non.
(Nguyễn Công Trứ)

Các Tác Phẩm để kê cứu
1) Phan Kế Bính, Việt hán văn khảo
2) Ưu Thiên Bùi Kỷ, quốc văn cụ thể: Tân Việt Nam thư xã Hà Nội.
3) Đông châu, Cổ xuý nguyên âm, cuốn thứ nhì
4) Ôn như Nguyễn văn Ngọc, Đào nương ca tập 1, Hát nói và hát mưỡu. Việt Nam thư xã, Vĩnh Hưng Long thư quán Hà nội.
5) Phạm văn Duyện, Hát ả đào, Q . thứ nhất. Imp. du Trung Bac tan van Ha-noi.
6) Hoàng Tăng Bý, Văn ca trích cẩm 200 bài hát ả đào, Tân dân thư quán Hà Nội.
7) Phạm Quỳnh, Văn chương trong hát ả đào P.N.t XII số 69, tr.171-188.

📎 h1ch15|hinh2ch15

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-13 13:45:22Huyền Băng>
CHƯƠNG THỨ MƯỜI SÁU

CA HUẾ VÀ HÁT BỘI


1. Ca Huế

Các lối ca khúc của ta.- Các lỗi ca khúc (những bài hát hòa với âm nhạc) của ta rất nhiều.Những đại thể ta có thể phân làm hai loại:
1) Các biến thể của hai thể lục bát và Song thất: cái đặc tính của các lối này là vừa có yêu vận vừa có cước vận. Trừ lối hát nói ta đã xét rõ phép tắc trong chương trên, còn có các lối xẩm (xẩm nhà trò, xẩm chợ), hề, điên, đò đưa chũng châm chước theo hai thể lục bát và song thất (Xem những Bài đọc thêm số 1, 2, 3, 4, 5)
2) Các biến thể của thơ có cái đặc tính là chỉ có cước vận, mà không có yêu vận. Các lối sau này gọi chung là ca Huế hoặc hát ; ý. Nay ta phải xét qua thể cách các lối này .
Nguồn gốc các lối ca Huế.- Về nguồn gốc các lối ca này có hai thuyết:
1) Nhiều người cho rằng các lối ca Huế là do ta phỏng theo các ca khúc của người Chiêm Thành mà đặt ra .

Nay xét trong Nam sử, thấy chép hai việc sau này: Năm 1044 (Thiên cảm Thánh-vũ nguyên niên), vua Lý Thái tôn đi đánh Chiêm thành, chém vua Chiêm là Sạ đẩu, rồi vào thành Phật-thệ (nay ở xã Nguyệt biều, huyện Hương-thuỷ, tỉnh Thừa-thiên), bắt vợ, thiếp cùng cung nữ của vua Chiếm biết múa hát khúc Tây Thiên về. Khi về, ngài sai làm cung riêng cho bọn cung nữ ấy ở (C.M.q.3, tờ, 8,9,10)

Lại năm 1202 Thiên gia Bảo-hữu nguyên niên), vua Lý Cao tôn sai nhạc công soạn ra nhạc khúc mới gọi là Chiêm thành âm, tiếng sầu oán thương xót, nghe đến phải khóc (C.M. 1.5 tr.28a)

Xem hai việc chép trong sử ấy thì biết ta có tiếp xúc với ca nhạc của Chiêm thành và chịu ảnh hưởng của nền ca nhạc ấy. Sau này khi dân tộc Chiêm-thành đã mất nước, nỗi buồn rầu, lòng cảm cựu thổ lộ trong giọng hát, cung đàn, nên có nhiều vẻ não nùng ai oán truyền sang nhạc của ta.

2) Có người lại cho rằng các ca khúc của ta là phỏng theo các từ khúc của Tàu mà làm ra,vì các lối ấy, cũng như từ khúc của Tàu, chỉ có cước vận và đã thành câu dài ngắn không đều nhau.
Xét ra thì các điệu ca Huế có thể chia làm hai loại: một là những điệu hát Nam (tự phương Nam lại); giọng réo rắt, như các điệu Nam ai, Nam thương, Nam bình, Vọng phu v.v.; hai là những điệu hát Bắc (tự phương Bắc lại). giọng vui vẻ như các điệu cổ bản, Kim tiền, Tứ đại cảnh, Phú lục, Lưu thủy, Hành vận, v.v. Các điệu hát Nam có lẽ chịu ảnh hưởng của ca khúc Chiêm thành, còn các điệu hát Bắc có lẽ phong theo từ khúc của Tàu mà làm ra.

Các điệu ca Huế.- Các điệu ca Huế rất nhiều. Nay kể các điệu chính như sau:

1) Cổ bản (bản cũ, điệu cũ) có 6 khổ, 6 vần. Thí dụ:

Tự tình

Số câu (1) số chữ (9)
1 9 Duyên thắm duyên càng đượn, vì giống đa tình.
2 7 Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh
3 7 Bực khuynh thành thực là tài danh
4 9 Song duyên kia đừng phụ nào trách chi mình.
5 7 Chỉ non thề nguyện cùng trời xanh
6 5 Lòng dặn lòng cho đành
7 3 Nỗi kết mình (kết mình)

1 6 Thư nhạn đưa tin (đưa tin) tháng ngày,
2 7 Nguồn ái ân dám đâu vơi đầy
3 7 Thương càng bận, làm bận lòng đây,
4 6 Vấn vương tình tự vì đây.
5 7 Tơ hồng khéo xe, thực là may,

1 4 Trăng gọi thềm hoa
2 4 Lầu ngọc sáng lòa
3 4 Hương thơm ngát nhà
4 3 Khắp gâầ xa
5 4 Tiếng đàn hòa ca

1 5 Ngâm vinh mấy chén quỳnh
2 4 Say sưa cùng mình
3 6 Sánh tày vai
4 8 Nhân ngãi (nhân ngãi) lâu dài
5 7 Thực là vui, dám nào phai
6 9 Tâm đầu ý hợp, như rứa mấy người
7 8 Ngọc vô hà, Biện Hòa mới hay.
8 5 Một ngày tương tri tình si, ấy là ai
7 8 Muôn vàng không ngại, mua ngay tiếng cười
8 5 Gọi mười người như mười
1 7 Anh hùng có đâu, có là đâu.
2 11 Thôi thôi đừng, thôi đừng năn nỉ, suy nghĩ thêm sầu
3 3 Mặc ai giầu
4 4 Lại hầu thương yêu
5 4 Mặn nồng bao nhiêu
6 3 Đường còn lâu,
7 3 Chút tình sâu,
8 8 Vui lòng ưng ý, danh lị chí cầu !

2) Kim tiền có hai khổ hai vần . Thí dụ :

Trai gái tự tình

1 5 Xa xôi gửi lời thăm
2 7 Lúc nhắn nhe đôi bạn sắt cầm
3 5 Mong kết nghĩa đồng tâm
4 4 Với người tri âm
1 6 Thương nhau hoài nhớ nhau mãi
2 8 Thương nhau hoài ai chớ phụ tình ai
3 4 Duyện vì trúc mai
4 8 Trúc mai hòa hợp, cùng bạn lâu dài
5 4 Đặng dài lâu dài
6 6 Thương thì xin đó đừng phai (thương thì xin đó đừng phai)
7 8 Ấy ai tình tự, tác dạ (tạc dạ) chớ phai
8 6 Chớ phai, hởi người tình tự!

3.) Tứ đại cảnh có bảy khổ. Thí dụ:

Gặp anh hùng
1 11 Cơn phong trần, tay khí võ, nay mới tỏ (mới tỏ) tài tình
2 7 Thôi thôi thực gặp buổi (danh) giương danh.
3 3 Ngắm trời xanh
4 4 Mở hội hoàn doanh
5 4 Bày cuộc đua ganh
1 3 Xui nên chuyện
2 3 Vang châu huyện
1 4 Lắm chuyện kỳ thay!
2 7 Ai là kẻ hào kiệt (tay) ra tay?
3 3 Nay mừng thay
4 4 Cờ mở gió bay.
5 4 Trống động trời lay ,
1 3 Trông ra dạng
2 3 Nguy nga trạng
1 4 Chức trọng quyền cao
2 7 Nghiêng trời bể lừng lẫy (bao) xiết bao!
3 7 Xưa phỉ nguyền rày ước mai ao,
4 4 Ngày khát đêm khao
1 5 (Người) người đâu tung hoành thế?
2 6 Mới hay, biết tay anh hùng
3 3 Luống những mong
4 4 Lượng bể bao dong
5 4 Phận liễu đoái trông
6 3 Lòng lòng mong
7 5 Ân tình thắm , có xong
8 4 Có xong chăng là ?
1 10 Mưa sa, chùm hoa sân ngọc rườm rạp (rườm rạp xuân) thêm xuân.
2 6 Tư quân mấy phận chung tình
3 7 Tin xét đến có chừng ấy chuyện
4 7 Xin ghi tạc có từng ấy câu

4) Lưu thủy (nước chảy) có bốn khổ. Thí dụ:

1 3 Kể từ ngày (từ ngày) gặp nhau
2 7 Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau
3 7 Dây tơ mành xe chặt lấy nhau;
1 7 Xe không đặng, đem tình thương nhớ
3 7 Cảm thương người ngẫm nghĩ ba thu
3 7 Xa cách nhau đêm nằm vẫn thấy;
4 5 Thấy là thấy (là thấy) chiêm bao
5 7 Biết bao lại vấn vương bên mình,
6 5 Mình giật mình, giật mình, đôi cơn.
1 7 Biết đâu lại quan sơn một đường
2 6 Tình (tình) thương, tơ vương mọi đường
3 5 Xin cho trọn (cho trọn), cương thường.
1 7 Ai đơn bạc thì mặc lòng ai.
2 5 Xin cùng bạn (cùng bạn) trúc mai.
3 4 Trăm năm lâu dài.

Hành vân (mây di) có bốn khổ, bốn vần. Thí dụ:

Nhắn tri âm

1 3 Một đôi lời (một đôi lời)
2 4 Nhắn bạn tình ơi!
3 7 Thề non nước, giao ước kết đôi,
4 4 Trăm năm tạc dạ
5 10 Dần xa cách, song tình thương chớ phụ thì thôi
1 7 Niềm trọn niềm, xin đừng xao nhãng.
2 6 Trời kia định nợ ba sanh.
3 3 Đẹp duyên lành
4 7 Trọn niềm phu phụ bậc tài danh (tài danh)
1 6 Dầu tiên có tại non bồng
2 4 Kết mối tơ hồng
3 5 Ấy thời trông (thời trông)
1 3 Nghĩa sắt cầm
2 4 Hòa hợp trăm năm.
3 10 Bởi vì xa cách, nhắn nhe cùng bạn tri âm.

6) Nam ai (nam: phương Nam; ai: thương) có ba khổ ba vần. Thí dụ

Khuyến hiếu

1 10 Khuyên ai gắn bó đền công trình thầy mẹ
2 8 Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao.
3 5 Ơn cúc dục cù lao.
4 6 Sinh thành lo sự xiết bao
5 5 Lo cơm bữa nhường nao
6 4 Ẳm bồng (vào) ra vào
1 8 Nâng niu bú mớm đêm ngày, xem tày vàng ngọc
2 8 Hay chạy hay đi, lúc nắng lúc mưa
3 4 Từ xưa đến giờ
4 4 Lúc hãy còn thơ.
5 3 Đến bây giờ,
6 3 Chịu nhuốc nhơ
1 4 Biết bao nhiêu mà
2 5 Trong năm trọn ngày qua.
3 6 Da mồi tóc bạc mây xa
4 5 Khuyên trong cõi người ta
5 4 Thảo ngay mới là.

7) Nam thương có ba khổ, ba vần. Thí dụ:

Tìm bạn

1 10 Tay mang khăn gói băng ngàn, vô hàng tìm bạn
2 9 Nguyên đồng học ngày xưa, cách trở mấy năm.
3 5 Nay nhớ bạn tri âm.
4 6 Băng ngàn bất quản sơn lâm
5 5 Nay nhớ nghĩa tình thâm
6 5 Xui trong dạ (thầm thương thầm)
1 8 Non cao suối hiểm, không nài, (không nài) khó nhọc
2 10 Trông cho gặp thai huynh, kẻo trong dạ tư lang.
3 4 Trăng kia xế tàn.
4 3 Núi bàn san,
5 3 Khôn thở than;
6 3 Nhớ bạn vàng,
7 4 Khó nỗi hỏi han
8 5 Nên chi tôi băng ngàn,
9 7 Nay băng ngàn cũng vì nhớ bạn
1 5 Nay anh gửi thư ra,
2 6 Thành hành bất quản đường xa
3 6 Xui trong dạ tôi bôn ba,
4 4 Phút đâu tới nhà

8) Nam bình hoặc Nam bằng có ba khổ, ba vần. Thí dụ:

Tình ly biệt

1 11 Ôi! Tan hợp xiết bao, tháng ngày đợi chờ non nước.
2 4 Ngàn dặm chơi vơi,
3 6 Mấy lời, nào dễ sai lời
4 7 Ai ơi ! chớ đem dạ đổi dời
5 7 (Ưng tình ưa ý), ý ưng tình thêm càng ưa ý.
6 5 Thiệt là đặng mấy người
7 3 Lại sai lời
1 9 Tương tri cho đá vàng, thêm lại yêu vì
2 6 Nhớ khi cuộc rượu, câu thi
4 8 Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì.
1 11 Nặng vì tình, tình đôi ta, duyên trao nợ rằng ai.
2 4 Buộc lại người sinh
3 4 Lời hẹn ba sinh
4 4 Vấn vương tơ tình.

Thể cách các lối ca Huế.- Đại khái thể cách các lối ca Huế như sau:

A) số câu và số nhịp.- Số câu trong bài không nhất định. Mỗi bài chia làm nhiều khổ, mỗi khổ tự hai đến chín câu, mỗi nhịp mỗi đổi vần.
B) Số chữ trong câu.- Số chữ trong câu không nhất định ngặn tự ba chữ, dài đến 11 , 12 chữ. Mỗi câu chia làm hai, ba đoạn hiệp với cung bậc của bài đàn.
C) Cách gieo vần .- Các câu trong một nhịp hiệp theo một vần. Vần bao giờ cũng gieo cuối câu. Thường thì mỗi câu mỗi gieo vần, thỉnh thoảng có câu không gieo vần, thứ nhát khi nào chữ cuối câu ấy khác thanh với chữ cuối các câu kia.
Vần thường dùng vần bằng, gián hoặc dùng vần trắc

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0

2.
Hát bội


Các lối kịch của ta.- Văn kịch của ta chia làm hai lối: một là hát bội hoặc tuồng; hai là chèo.

1) Hát bội hoặc tuồng.- Chữ tuồng có người cho là bởi chữ tượng mà ra. Tượng nghĩa là hình trạng hiển hiện ra. Vậy tuồng là hình dung, dáng dập cử chỉ của người đời xưa. Lối tuồng thường diễn những sự tích oanh liệt hoặc sầu thảm, lời lẽ trang nghiêm, hùng hồn để làm cho người xem cảm động.

2) Chèo.- Chữ chèo có người cho là do chữ trào mà ra. Trào nghĩa là giễu cợt. Lối chèo thường diễn những sự việc vui cười, những tật rởm thói xấu của người đời, lời văn có nhiều giọng khôi hài, bông lơn để người xem buồn cười.

Cách kết cấu một bản tuồng của ta.-

A) Lối tuồng của ta không theo phép tam nhất trí (tam: ba; nhất trí: thu về một mối) như lối bi kịch của người PHáp. Nhiều khi một bản tuồng diễn những việc xảy ra ở nhiều nơi và trong một thời gian khá lâu (có khi một vai tuồng khi ra trò còn trẻ tuổi mà khi tan trò đã là người già); các tình tiết trong bản tuồng cũng phiền phức, chứ không tập trung vào một việc chính để đi tới kết cục.

B) Cách dàn xếp cũng không tách bạch ra từng hồi, từng cảnh như lối bi kịch Pháp. Vì cách bài trí trên sân khấu rất sơ sài (có khi diễn cả một bản tuồng chỉ dùng một cách bày trí) nên một bản tuồng chỉ chia ra làm hồi, chứ không chia ra làm cảnh. Gần đây các nhà soạn tuồng mới theo phép dàn xếp các bi kịch Pháp mà chia các hồi ra làm nhiều cảnh rõ ràng.

Các thể văn trong lối tuồng.- Trong lối tuồng, dùng ba thể văn:
1) Thế nói lối dùng để viết các câu nói chuyên, kể việc, thể này là thể văn hay dùng đến nhất trong lối tuồng.
2) Các thể văn vần, hoặc của ta như song thất lục bát (tức là hát Nam), hoặc của Tàu như thơ, phú (tức là hát Bắc).
3) Thể văn xuôi dùng để đặt những câu đệm lót thêm vào những câu viết theo hai thể trên cho rõ ý.
Các thể văn vần ta đã biết rồi, nay phải xét về cách thức thể nói lối.
Nói lối.-

A) định nghĩa. Nói lối là những câu nói có cách, có lối, có vần.

B) cách đặt câu.-Những câu nói lối tự 4 chữ đến 8 chữ đặt thành hai vế đi song đôi nhau; hoặc đối, hoặc không đối, cứ chữ cuối vế dưới vần với chữ cuối hoặc một chữ lưng chừng của vế trên câu tiếp theo sau. Về luật bằng trắc thì chữ cuối vế trên phải đối thanh với chữ cuối vế dưới (nghĩa là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng): mỗi vế chia làm nhiều đoạn con thì cứ mỗi chữ cuối đoạn phải đổi thanh, nghĩa là nếu chữ cuối đoạn thứ nhất là bằng thì chữ cuối đoạn thứ nhì phải là trắc, v.v. Thí dụ.
Vế trên: Bên tường (b) thông hơi gió (t);
- dưới: Trước mặt (t) nức mùi hương(b)

Vế trên: Hay là (b) tuệ nhãn (t) dao quang (b)
- dưới : Lân mẫu (t) ngu tình (b) sở nguyện (t)

Vế trên : (Âu là ) đầu rút trâm (b), tay cổi xuyến (t)
- dưới : Chân thay dép (t), gót đôổ hài (b)

Vế trên: Bây giờ (b) vui rặng đá (t) đồi cây (b)
- dưới: Chẳng còn tưởng (t) lầu son (b) gác tía (t)

(Sơn hậu)

Lời chú.- Thể “nói lối” không những dùng trong văn tuồng, lại còn dùng để đặt nhiều câu tục ngữ, nhiều bài ca dao và những bài vè (một thể văn vần có 1 tính cách trào phúng để chế giễu một nhân vật hoặc một thói rởm nết hư nào).

Thí dụ:
a) Mấy câu tục ngữ đặt theo thể nói lối:
Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục,
Rắn già rắn lột, người gia người chột.
Ăn cây nào, rào cây ấy.
Biết sự trời mười đời chẳng khó.
Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ.
Đi học thầy đánh, đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói.

b) Một bài ca dao đặt theo thể nói lối:
Con công hay múa’
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xoè cánh ra
Nó đỗ ành đa
Nó kêu ríu rít;
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống
Nó đỗ dưới ruộng
Nó kêu tầm vông
Con công hay múa.

Một bài vè: Vè đánh bạc (trích lục mấy câu đầu)

Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè đánh bạc
Đầu hôm xáo xác,
Bạc tốt như tiên
Đêm khuya không tiền
Bạc như chim cú
Cái đầu sù sụ,
Con mắt trõm lơ,
Hình đi phất phơ,
Như con có đói.
Chân đi cà khói,
Dạo xóm dạo làng
Quần rách lang thang
Lấy tay mà túm.

Các cách điệu trong lối tuồng.- Lói tuồng có nhiều điệu, nhưng tóm lại có thể chia làm hai cach: một là cách nói; hai là cách hát.
A) Cách nói.
- 1) Cách nói có hai điệu:
a) Hường là những câu chính, thét to, đặt theo thể nói lối.
b) Tán là những câu phụ, để đệm xuống dưới những câu hường cho ý được liên tiếp, cắn xát, bởi thế cũng gọi là “hàn”; những câu này nói nhỏ và đặt theo thể văn xuôi, dài ngắn tùy ý.

2)Cách nói dùng vào những câu hỏi sau này:
a) Giáo đầu là câu của trùm phường tuồng nói trước khi diễn trò để chúc tụng và kể đại ý bản tuồng, hoặc của một vai tuồng nói phủ đầu. Thí dụ:
Câu giáo đầu bản tuồng Giang tả cầu hôn:
      Âu vàng rực rực,
      Đuốc ngọc lầu lầu
      Trên chín lần sánh gót Đường Ngu,
      Dưới trăm họ vui lòng hoài cát
      Gặp ngày khang cát,
      Diễn tích người xưa:
      Truyện Chu Du khéo đặt mưu mô,
      Dùng Quận chúa để làm mồi cá.
      Câu lấy Kinh Châu thiên hạ.
      Làm cho Lưu Bị cô thân,
      Phải Khổng Minh nhập quỉ xuất thần
      Cho Triệu Tử cẩm nang diệu kế.
      Ở cũng thế mà về cũng thế
      Chối không xong mà bắt không xong.
      Ngô hầu nổi trận đùng đùng
      Đô đốc nát gan vàng đá,
      Thế mới là:
      Chu lang diệu kế an thiên hạ
      Bồi liễu phu nhân hữu chiết binh.

      Câu giáo đầu của vai Lương Diệc Thương trong bản tuồng Tân diễn Đệ bát tài tử hoa tiến ký Hoàng Tăng Bý.

      Trời nam khai thán vận,
      Đất Bắc nhạ tân trào,
      Dòng Tiên Long miên duệ trường lưu
      HỘi âu á văn minh tiêế bộ.
      Cõi Tô châu trú ngụ,
      Tôi biểu tự Diệc Thương;
      Tự nghiêm quân chấp binh trung đường,
      Nương từ khổn độc thư cố lý,
      Như tôi, được đợi thuở giao đằng phụng khỉ.
      (Nên chí) chưa vầy duyên lữ yến trù oanh.
      (Tôi nghĩ lại); nếu chày Lam kiều không gắng sức thư sinh.

      Thời động Vu giáp dễ gặp người tiên nữ!
      (Phải phải), vào bẩm cùng từ mẫu,
      Xin du học viễn phương;
      Hoạ may giải cấu là duyên,
      Ngõ đặng sắt cầm phỉ nguyện (a)

      c) Xưng danh là câu của một vai nói họ tên, chức nghiệp của mình. Thí dụ:

      Phù Tề thất tổ tiên khai sáng
      Mỗ tính pHàn, biểu hiệu Định công;
      Chỉ hiềm hai chữ hiếu trung
      Giữ vững một câu nghĩa khí.
      (Sơn hậu)

      Phụng thánh chỉ bình nhung,
      Ngã Địch Thanh nguyên suý,
      (Tống Địch Thanh)

      c) Câu nói là những câu nói chuyện hoặc kể việc. Thí dụ:

      Trại Ba

      Nga văn sắc biến,
      Hốt thính tâm kinh
      Có đâu nên nên nỗi sự tình,
      (Ối thôi!) hẳn đã ra lòng chí khí (rồi)
      (Phu quân ơi!) tâm khổ hĩ, tâm khổ hĩ,
      Lệ nan can, lệ nan can.
      (Phu quân nỡ bỏ em mà đi rằng đành) ,
      Nỡ phụ thề bích thủy thanh san
      Mà tếch dặm sơn nhai hải giác (cho đành)
      (Như phu quân tôi), bạc nên quá bạc,
      Chồng hỡi là chồng!
      (Em đây dám hỏi): rượu giao hoan mùi đã mặn nồng
      Tình phân ngoại cớ sao bạc bẽo?
      (Khi nào) phu quân nói cùng em: một ở Đơn, hai ở Đơn, ba bốn cũng ở Đơn.
      Dây dưới nguyệt đã đành dan díu,
      Chim ven trời đòi đoạn cao bay (là cao bay mần răng cho đành, phu quân ơi)
      Ôi thôi! Vô duyên thay chút phận thuyền quyên !
      Bất tình bấy cho người quân tử!
      (Ai đi), bỏ vợ đó không ừ hữ, mà tôi giận đã hết khôn;
      (Như tôi bây giờ), mất chồng đi khó nỗi bôn chôn, mà tôi thương đà quá dại.
      Hay là tôi theo chân? Người ta không tưởng tới mình, mình còn theo mà làm chi? Nhưng rứa mà nếu không theo thì mất chồng đi chứ (chẳng không) : đó đã đành phụ nghĩa.
      Đây há dám vong tình.
      Giục vó lừa chỉ dăm non xanh.
      Cắp bảo kiếm dò lần dặm tía.
      (Tống Địch Thanh)

      B) Bài hát.- Cách chia làm điệu hát Nam và điệu hát Bắc.
      1) Điệu hát Nam. - Điệu hát Nam là những điệu đặt theo hai thể song thất và lục bát là những thể văn riêng của người Nam ta.
      a) Hát Nam - Một bài hát Nam thường có những câu sau này:
      Hai câu vỉa đặt theo thể song thất, nhưng câu đầu chỉ có 6 chữ và nhắc lại mấy chữ ở “câu nói” cuối cùng.
      Hai hoặc bốn câu Nam đặt theo thể lục bát.
      Một đôi khi, giữa những câu vỉa hoặc giữa câu vỉa và câu nam có xen vào những câu tán.
      Tiếng nhà nghề gọi câu vỉa là câu sống; câu nam là câu mái và câu tán là câu con.
      Điệu hát Nam dùng để đặt những câu văn tức là những câu hát tiếp với câu nói. Thí dụ: sau đoạn “câu nói: của Trại Ba đã dẫn trên, tiếp đến mấy câu “vãn” theo điệu hát Nam này:

      Trại ba vãn viết:
      (vỉa) Bảo liếm dò lần dặm tía,
      Nguyện theho chồng vẹn nghĩa tòng phu
      Hữu tình mà hoá vô tình,
      Bơ vơ nỗi thiếp , lênh đênh dạ chàng.
      (Nam) Cương thường một gánh nặng vai,
      Cũng nguyền sông trải non trèo mà thôi.
      (Tống Địch Thanh)

      b) Hát Nam tẫu mã.- Hát Nam còn có một điệu nữa gọi là điệu Nam tẩu mã. Tẩu mã nghĩa là chạy ngựa; điệu này gọi thế vì giọng hát rất mau. Điệu này cũng đặt theo thể lục bát, lúc hát đệm thêm những tiếng ây ây vào.
      Điệu này cũng dùng để đặt những câu tiếp với câu nói khi một vai tuồng chạy hoặc đi đâu nhanh. Thí dụ:
      Trịnh Kiểm
      Chừ bỗng nghe đấng chúa Nguyễn ngài kiến nghĩa
      Sầm Châu, âu ta thử ruổi co ngựa hồ tới đó nên chẳng?
      Hát Nam tẩu mã:
      Khen ai tỏ nẻo đưa chừng (ây ây)
      Cho ta lặn suối (ây ây) phá rừng đến đây (ây ây)
      Nguyễn chúa phù Lê hoàng (IV.-N.P.số 117)
      3) Điệu hát Bắc.- Điệu hát Bắc hoặc hát khách là những điệu đặt theo thể thơ, thể phú (lối câu song quan người hoặc cách cú) là những thể văn ta mượn của người Tàu.
      I. Bạch là những câu của một vai nói khi mới ra trò; những câu này làm theo thể thơ (ngũ ngôn hoặc thất ngôn). Thí dụ.

      Võ Tánh bạch viết:
      Gia định tam hùng đệ nhất hùng
      Trì chùng nan cửu khuất thần long
      Nhất chiêu văn vũ thiên biên hiện,
      Đặc chí phi đằng đáo cửu không
      Hoàng Thái Xuyên
      tượng kỳ khí xa, hồi I, đoạn I, cảnh 1
      (Imprimerie Tokinoise, Hanoi)

      II. Loạn là những câu để bổ ý hoặc thi hành câu nói. Những câu này làm theo thể thơ hoặc thể phú (lối câu cách cú). Thí dụ:
      Loạn đặt theo thể thơ:

      Nguyễn Chúa viết:
      (Chư tướng) ta cùng chư tướng, đại giá thân chinh, do hải đạo kei6m trình, vọng Qui nhân tấn phát (a).
      Đồng loạn viết:
      Vạn lý bin hxa cấp khải hành
      Thử lai chỉ vị cứu cô thành
      Tha thần cộng tế gian nan nghiệp
      Y cựu thanh cao sáp Ngự bình
      (Tượng kỳ khi xa, Hồi II, đoạn I, Cảnh II )
      Loạn đặt theo thể phú:
      Nguyễn Tấn Huyên viết:
      (Dạ)
      Đoạn viết:
      Ngã võ duy dương, viễn tài cảm trí tam hiệp chí. Vương sư mạc dịch, tiền đồ giao vọng nhất điền khai.
      (Tượng kỳ khí xa, Hồi I, Đoạn II, Cảnh II)
      III&gt; Xướng hoặc trần tình là những câu kể rõ đầu đuôi việc gì; những câu này làm theo thể phú (cách cú) có xen những câu lót bằng văn xuôi. Thí dụ.
      NGUYỄN CHÚA xướng viết:
      (Ta từ khi qua Xiêm, Xiêm vương cũng có lòng tử tế, cho hai tướng đưa ta về nước nhưng chẳng may cho ta khi đến Long Hồ lại phải thua cùng giặc, bởi vậy cho nên) binh bại Long HỒ. (lúc bấy giờ quân Xiêm thì chạy về Xiêm) tùng thử Xiêm nhân hoàn diện khứ. (Khi rứa chừ ta cùng tướng quân Nguyễn Văn Thành qua đây là cốt về Phú quốc để mà tìm thăm mẫu thân), địa tầm Phú đảo, (chẳng may đi đến đây lại gặp giặc đó mà), cự kỳ Điệp thạch hãm trùng vi.
      (Tượng kỳ khí xa, Hồi I, Đoạn I, Cảnh II. )

      Lưu Khánh trần tình viết:
      (Số là): La hải cao tài dĩ d9ao5t liễu Tiên gia bảo bối;
      Nguyên nhung hữu mệnh, sử hạ thần Đơn quốc cầu binh.
      (Tống Địch Thanh)

      IV. Than là những câu tỏ tình bi ai sầu thảm đặt theo hte63 thơ (tứ tự hoặc thất ngôn). Thí dụ.
      Than đặt theo thể thơ tứ tự:
      Võ Tánh than rằng:
      (Hiền huynh ôi!) ai là không thác, đạo phải cho tròn.
      Thương thay hiền hữu, lòng đỏ như son.
      Vì nòi vì giống, vì nước vì non,
      Dẫu nghìn năm nữa, bia miệng không mòn.
      (Tượng kỳ khí xa, Hồi II, d9ao5n II, Cảnh V)
      Than đặt theo thể thơ thất ngôn:
      Nguyễn Chúa than rằng:
      Mây trắng xa trông luống ngậm ngùi,
      Một nhà mẫu tử rẽ đôi nơi
      Những mong nghiệp chúa còn đem lại,
      Hay cũng cơ trời chỉ thế thôi!
      (tượng kỳ khí xa, Hồi I, đoạn II, cảnh II)

      V. Ngâm là những bài thơ của một vai làm và đọc để tả tình ý của mình. Thí dụ:
      Nguyễn Chúa ngâm viết:
      (Ta nghĩ lại từ khi ta sai Võ Tánh ra trấn thành Bình Định cũng đã lâu ngày, sau mà không có tin tức gì đó mà)
      Nhạn không tin tức cá không thơ. (Bởi vậy cho nên)
      Thổn thức lòng ta luống đợi chờ. (Nhưng rứa mà xem ra lòng người hãy còn tư cựu đó mà).
      Bởi chắc lòng người còn nhớ cũ.
      Mong cho nghiệp chúa lại như xua .
      (tượng kỳ khí xa, Hồi II, đoạn I, Cảnh II)
      b) Hát Bắc tẩu mã.- điệu hát Bắc cũng có lối hát tẩu mã đặt theo thể thơ hoặc thế phú (cách cú). Thí dụ:
      Hát Bắc tẩu mã theo thể thơ:
      (Dương Thiên Hổ giả làm quân mọi, lọt vây mà ra) rồi nói: thấu dịch vi, may đã thoát thân; vọng kinh địa, kíp mau tiến bộ (a):
      Hát tẩu mã:
      Giang sơn niệm trọng cố thân khinh.
      Trường lộ huy tiên khoái mã hành
      Bào trạch tam quân ca địch khái
      Khẳng dung xú loại tự tung hoành.
      (Tân diễn Đệ bát tài tử hoa tiên ký, Hồi thứ nhì)

      Hát Bắc tẩu mã theo thể phú:
      Trại Ba hát tẩu mã:
      Bạc nghĩa vô tình, đông vãng tây chinh hình đắc ảnh.

      Địch Thanh hát tẩu mã:
      (Công chúa mà cho tôi đi phen này là): Đại ân bất tận địa dung thiên tải cảm hà thâm.

      Trại Ba hát tẩu mã:
      (Lưu Khánh mày hể mày): Quái nễ thất phu, đoạn ngã nhất sinh ân ái.

      Lưu Khánh hát tẩu mã:
      (Nguyên soái theo tôi, tối đố bà): Cảm lai a1cp hụ, xung khai vạn l1y trường đồ
      (Tống Địch Thanh)

      Nói tóm lại, lối tuồng cổ của ta chỉ có cách nói lối và các điệu hát Nam và hát Bắc; gần đây, trong lối “tuồng cải lương: người ta mới thêm vào các lối ca Huế và ca Sài Gòn.

      CÁC BÀI ĐỌC THÊM


      1. Một bài xẩm nhà trò
      Ôm cầm.
      (Bên thì trời), chị em ai lận đận bên th2i trời,
      Non cao nước chảy ấy ai người tri âm
      Lúc đêm thanh ngồi dậy cố ôm câầ
      Lòng tơ tơ tưởng ẩm thầm tiếng tơ
      Khúc đàn này vẫn khúc ngày xưa
      Mà người đoái khúc bây giờ đâu xa?
      Nhớ đầu xanh con đương độ mười ba
      Cười trắng bóng xế thương hoa thu tàn.
      Thế mà cái phận hồng nhan ?
      (Nguyễn Khắc Hiếu - Khối tình con, quyển thứ hai – nhà in Văn Minh Hải phòng)

      2. Một bài xẩm mới

      Sông kia nước chảy đôi dòng,
      Đèn khêu đôi ngọn, anh trông ngọn nào?
      Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào,
      Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.
      Đôi tay vịn cả đôi cành,
      Quả chín thì hái quả xanh thì đừng
      Ba bốn năm nay, anh ăn ở trên rừng,
      Chim kêu vượn hót, anh nửa mừng nửa lo.
      Sa chân lỡ bước xuống đò.
      Gieo mình xuống sập còn lo nỗi gì?
      Gặp nhau thiên tải nhất thì.
      (Vô Danh)

      3. Một bài hề
      Con Chim xanh
      Con chim xanh, tang tình em ơi, nó lặn, con cá vàng nó rạch, phú lý nọ lên non.
      Cô Thúy Kiều, xưa kia còn, má phấn môi son;
      Lầu xanh chưa mãn, cô mới ở lại bon sang ở chùa
      Cái phận đàn bà, em ơi, nghĩ đến thế mà lo;
      Làm thân bây giờ con gái , sao cho phú lý nọ sớm chồng.
      Sự trăm năm, ông trời kia, đã kết có dải đồng;
      Du duyện dù nợ cái đức tam tùng em cũng phải cho ngoan.
      Lấy chồng bây giờ, em mơi, gánh láy mà giang san;
      Mẹ cha trông xuống chứ để thế gian có trong vào,
      Mặc ai tối mận mai đào.
      (Nguyễn Khắc Hiếu – sách kể trên)

      4. Một bài điên

      Ào ào gió thổi,
      Liệng liệng cò bay
      Hay hỡi là hay!
      Lạ ơi là lạ !
      Giữa rừng rừng rụng tử rơi hồng.
      Cảm thương con chịm nhạn vợ chồng bắc nam.
      Mịt mờ khói tỏa động Lam
      Triết vương khuất mặt, cổ am lạnh lùng.
      Tơ lý hồng, tơ lý hồng, hồng tơ, hồng tơ lý hồng.
      Phương này có sông, sông nhị hà, sông Nhị hà, sóng kêu dồn dã .. .
      Phương này có núi, núi Ba vì, núi Ba vì, khuất ngả lầu tây.
      đấy mong chồng, cho đây nhớ vợ.
      Mảnh chung tình phân trở đôi nơi.
      Đôi nơi chung dưới một trời;
      Lúc sầu, lúc oán, lúc giận, cười, ới bỡi lại tươi.
      (Nguyễn khắc HIếu – Sách kể trên)

      5. Một bài hát đò đưa.
      Sông thu ngược gió xuôi thuyền,
      (Thuyền thì xuôi) thuyền xuôi gió ngược cho phiền lòng anh.
      (Ta trót) đem nhau lên thác xuống ghềnh,
      Trăm năm đòi chữ chung tình ta chớ quên.
      (Nguyễn Khắc Hiếu - Khối tình con)



Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY
 
TÍNH CÁCH CHÍNH CỦA CÁC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG: CÁC ĐIỂN CỔ
 
Trong một chương sau (Năm thứ nhì, chương thứ nhất), ta sẽ xét chung về các tính cách của văn chương Tàu và ta cả về đường tinh thần và đường hình thức. Trong chương này, ta xét về một cái tính cách đặc biệt của văn Tàu và văn ta là sự dùng điển cố.
 
Các văn sĩ Tàu và ta, khi viết văn, thường mượn một sự tích xưa hoặc một câu thơ, câu văn cổ để diễn tình ý của mình, nhưng không kể rõ việc ấy hoặc dẫn cả nguyên văn, mà chỉ dùng một vài chữ để ám chỉ đến việc ấy hoặc câu văn ấy. Cách làm văn ấy có thể gọi chung là dùng điển cố. Nhưng nói tách bạch ra thì có hai phép: một là dùng điển, hai là lấy chữ.
 
Cách dùng điển.-
A) Định nghĩa.- Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc là một câu có ám chỉ đến một việc cũ, một sự tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến việc ấy, sự tích ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của câu văn. Dùng điển chữ nho gọi là dùng điển hoặc sử sự (nghĩa đen là khiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình. Thí dụ:
 
Trong Truyện Kiều, lúc nàng Kiều báo ơn bà Giác Duyên, nàng nói (câu 2347-2348)
“Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
“Mà lòng Xiếu mẫu mấy vàng cho cân”
 
Hai chữ “nghìa vàng” và “Xiếu mẫu” ứng nhau mà thành điển, những chữ ấy nhắc đến một việc chép trong sử Tàu; Lúc Hàn Tín còn hàn vi, một hôm đói, bà Xiếu mẫu cho ăn một bữa cơm, về sau, Tín làm nên phú quí, trả ơn bà một nghìn vàng (Sử ký).
 
B) Điển lấy ở đâu ra? Các điển có thể ám chỉ đến các việc thực chép trong sử, truyện (thí dụ trên), hoặc đến các việc hoang đường kỳ dị chép ở các truyện cổ tích, thần tiên tiểu thuyết vân vân. Thí dụ:
 
Chữ “Xích Thằng” hay “chỉ hồng” dùng để nói đến việc hôn nhân:
Dù khi lá thắm chỉ hồng (Truyện Kiều,câu 333)
Nàng rằng: “Hồng điệp xích thằng (Truyện Kiều, câu 459) do ở tích Vi Cố chép trong Tình sử.
 
Cách lấy chữ.- Lấy chữ là mượn một vài chữ ở trong câu thơ và câu văn cổ để đặt vào câu văn của mình, khiến cho người đọc phải nhớ đến câu thơ hoặc câu văn kia mới hiểu được cái ý mình muốn nói. Thí dụ:
Trong Truyện Kiều, tác giả tả cái sắc đẹp của nàng Kiều, viết câu (câu 27):
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành.
Bốn chữ “nghiên nước nghiêng thành” là lấy ở hai câu ca của Lý diên Niên: “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc. Ngoảnh lại một cái làm nghiêng thành, ngoảnh lại một cái nữa làm nghiêng nước.
 
Lại trong bài Văn tế trận vong tướng sĩ, nói đến cái chết của các tướng sĩ, có những câu: nắm lông hồng theo đạn lạc tên bay; … phong da ngựa mặc bèo trôi sóng vỗ”. Mấy chữ “nắm lông hồng” là lấy ở câu của Tư Mã Thiên: “Người ta ai cũng phải một lần chết, những có cái chết nặng như núi Thái sơn, có cái chết nhẹ như lông chim hồng”; còn mấy chữ “phong da ngựa” là lấy ở nói của Mã Viện: “làm tài trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng.
 
Công dụng của sự dùng điển, lấy chữ.- Sự dùng điển, lấy chữ có nhiều công dụng trong văn chương.
 
A)   Dùng điển, lấy chữ khéo làm cho câu văn gọn gàng, ít chữ mà nhiều ý. tỉ như hai chữ “Xiếu mẫu” trong câu truyện Kiều đã dẫn trên dùng để nói đến một bậc ân nhân đã có lòng cứu giúp kẻ cùng khốn thì thật gọn mà bao hàm được nhiều ý nghĩa.
B)   Nhiều khi làm văn, nếu dùng lời nói thường mà diễn đạt ý tưởng thì lời văn nhạt nhẽo vô vi; bằng khéo dùng một điển gì hoặc một chữ gì khiến cho người đọc phải nhớ đến một sự tích xưa hoặc một câu văn cũ thì lời văn thành ra đậm đà lý thú Như trong Truyện Kiều, Kim Trọng muốn nói ý mình vẫn ước ao được nghe tiếng đàn của nàng Kiều mà hạ câu (cẫu 464): “Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ” để nhắc lại việc Chung tử Kỳ, bạn tri âm của Bá Nha là một tay danh cầm đời Xuân thu, khi nghe tiếng đàn của bạn mà biết được rằng trong trí bạn đang nghĩ đến nước hoặc núi, thì lời văn kín đáo và có ý vị biết chừng nào!
 
C)  Làm văn có khi phải nói đến những việc khó nói, nếu dùng lời thường thì hoặc thô tục, hoặc sổ sàng. Gặp những chỗ ấy mà khéo dùng điển, lấy chữ, thì tuy ý tứ vẫn được rõ ràng mà lời văn thành trang nhã. Như trong Truyện Kiều, khi nàng Kiều thấy Kim Trọng có ý lả lơi, nàng nói mấy lời này để cự tuyệt (câu 501-508)
 
Thưa rằng: “đừng lấy làm chơi,
“sẽ cho thưa hết mọi nhời đã nao!
Vẻ chi một đoá yêu đào,
Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh
Đã cho vào bực bố kinh
Đạo tòng phu, lấy chữ Trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc, trong dâu
Thì con người ấy ai cầu làm chi ! “
 
Dùng chữ “yêu đào” để nói cái thân mình là một người con gái trẻ tuổi, chữ “chim xanh” để nói đến người tình nhân, chữ “bố kinh” để nói đến đạo làm vợ, “trên Bộc trong dâu” để nói đến thói dâm bôn thì thật là lời nói kín đáo nhã nhặn biết chừng nào!
 
D)  Điển cố nhiều khi lại là chứng cớ trong văn chương nữa. tục ngữ đã có câu: “Nói có sách, mách có chứng”. Lắm khi làm văn, cần phải dẫn lời nói hoặc sự tích xưa để chứng minh cái lý của mình. Dùng điển, lấy chữ cũng là một cách dẫn chứng, tuy không dẫn nguyên cả câu văn cổ hoặc kể rõ hẳn một việc cũ, những cùng làm cho người đọc phải nhớ đến câu ấy, việc ấy mà thừa nhận cái ý tưởng của mình. Như khi Thúc sinh muốn lấy nàng Kiều làm thiếp, nàng còn e nỗi vợ cả ghen mà nói:
“Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gửi người đằng la …
(Truyện Kiều, câu 1349-1350)
Thì hai chữ “sư tử” nhắc đến hai câu thơ của Tô Đông Pha giễu một người bạn sợ vợ (Hốt văn Hà đông sư tử hống. Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên. Chợt thấy sư tử Hà đông rống, tay rơi gậy chống, bụng rối beng). Làm cho cái ý của nàng muốn nói mạnh lên nhiều.
 
Kết luận- Tóm lại mà nói sự dùng điển cố có công dụng lớn trong văn chương. Tuy vậy, cách dùng điển cố nên cho vừa phải, không nên lạm dụng mà làm cho lời văn vì thế thành ra tối nghĩa; phải cho đích đáng; nghĩa là lời xưa hoặc việc xưa mình lấy làm điển cố phải hợp với ý mình muốn nói phải cho tự nhiên, không nên câu nệ cầu kỳ quá; lại phải cho thích hợp với lời văn, gịong văn, vì có chỗ dùng chữ thường lại hay hơn dùng điển cố, phải cho mới mẻ biến hóa, không  nên dùng nhiều những chữ sáo. Lại một điều nữa là trong nền văn cũ của ta, không những văn chữ Hán mà cả đến văn nôm, các cụ thường lấy điển và chữ các thơ, văn, sử, truyện Tàu, mà ít khi lấy ở các sử sách và tục ngữ, ca dao của ta, để cho người đọc vừa dễ hiểu vừa nhớ đến lịch sử văn chương của nước ta: đó cũng là một khuyết điểm đáng tiếc vậy.
 
BẢI ĐỌC THÊM
 
Cách dùng điển trong quốc văn ngày nay
 
Nay ta xét xem cách dùng điển trong quốc văn bây giờ nên thế nào ? Xưa kia các cụ làm thơ văn thường dùng điển cố lấy trong các thơ, văn, sử, truyện, tiểu thuyết của Tàu. Điều đó cũng là lẽ tự nhiên, vì xưa kia các cụ học chữ nho, đọc các sách vở văn chương của người Tàu, lúc làm văn chữ nho đã dùng điển cố trong sách Tàu, nên lúc làm văn nôm cũng lấy các điển cố ấy mà diễn ý đạt tình. Nhưng hiện nay tình thế có khác, chữ nho ít người học mà thứ nhất là ít người có đủ sức để hiểu được các điển cố ấy, vì các điển cố ấy không những là lấy ở kinh truyện và chánh sử mà phần nhiều lại lấy ở các ngoại thư, các tiểu thuyết, phi những người học rộng xem nhiều không thể hiểu hết được. Vả chăng nay ta đã biết lấy quốc văn làm trọng, thì hễ có cái gì phát huy được cái hay cái đẹp trong quốc văn, ta cũng nên để ý đến, mà một cách phát huy cái hay của văn chương tức là cách dùng điển cố, vì làm cho người ta phải nghĩ ngợi, nhắc nhỡ đến câu thơ câu văn xưa mà chứng mình rằng văn chương nước mình có điển cố. Đành rằng văn nôm của ta không được phong phú bằng văn Tàu, nhưng ta cũng có nhiều câu tục ngữ rạch ròi chí lý không kém gì các câu cách ngôn của Tàu, những bài ca dao hay đủ sánh được với các bài thơ trong Kinh Thi; lại có được ít thơ văn, ca, truyện có thể làm điển cố cho ta dùng. Ta lại có một cuộc lịch sử mấy nghìn năm, trong sử sách thiếu gì những chuyện hay tích lạ, những việc tiết nghĩa, gương hiếu hạnh, những bậc trung thần liệt nữ, danh sĩ giai nhân. Ta cũng nên đem ra mà dùng làm điển cố, cũng là một cách làm rõ rệt cái công đức của tiền nhân mà người xem dễ hiểu, dễ nhớ, chả cũng hay hơn không?
 
Vậy về cách cùng điển cố trong quốc văn sau này, đành rằng không có thể bỏ được các điển cố ở sách Tàu, vì các điển cố ấy, các cụ xưa đã đem vào thơ văn nôm và vì những lời nói hay, những công việc hay thì dù ở nước nào ta cũng nên biết; những ta cũng nên lấy tục ngữ thơ ca của ta, công việc sự tích chép trong sách ta mà dùng làm điển cố .
 
Hải lượng (Dương Quảng Hàm)
Việc dùng điển trong thơ văn, Van học tạp chí, số 2, Juin 1932.
 
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
 
1)    Hải lượng (Dương Quảng Hàm.) Việc dùng điển trong thơ văn, Văn học tạp chí, số 2, tr.19-25)
2)    Phan Khôi ,sự dùng điển trong thơ văn. Văn học tạp chí, sỗ tr.9-31.
3)    Le P.Corentin Pétillon, S.J. Allusions littéraires. (Variétés sinologiques, N-8) Chang-hai, Imp. De la Mission catholique, 2è ed. 1909.


Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-24 14:06:36Huyền Băng>
THIÊN THỨ NĂM
 
ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC PHÁP
 
CHƯƠNG THỨ MƯỜI TÁM
 
CÁC GIÁO SĨ, CỐ ALEXANDRE DE RHODES
VIỆC SÁNG TÁC CHỮ QUỐC NGỮ
 
 
 

Như bài dẫn đầu đã nói, nước ta xưa kia chỉ tiếp xúc với các dân tộc lân cận, về phía nam các dân tộc theo văn hóa Ấn độ (Chiêm thành, Chân Lạp) và thứ nhất là về phía bắc với dân tộc Trung hoa, nên ảnh hưởng của văn hóa Tàu đối với dân ta rất là sâu xa. Mãi đến thế kỷ thứ XVII, người Châu Âu bắt đầu tràn sang Á đong nhân đó mà cái văn minh Âu tây cũng dần dần tiêm nhiễm vào nước ta. Một việc sẽ có ảnh hưởng lớn đến nền văn học nước ta sau này là việc sáng tác chữ quốc ngữ do các giáo sĩ người Âu đặt ra. Vậy ta phải xét vấn đề ấy trong chương này.
 
Các giáo sĩ người Âu sang nước ta. Về thế kỷ thứ XVI, lúc nước ta chia làm Bắc triều (vua Lê, chúa Trịnh) và Nam triền (chúa Nguyễn), sau khi các đường giao thông trên mặt biển tự châu Âu sang Á đông đãm ở mang, các người châu Âu bắt đầu sang nước ta, mà đầu tiên là các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa.
 
A)   Các giáo sĩ đầu tiên sang nước ta.- Cứ theo sách Việt sử cương mục (q.33, tr.6b) thì ở Đàng ngoài (Bắc kỳ) , nằm đầu Nguyên hóa đời vua Lê Trang Tôn (1553), có người Âu tên I-Nê-Khu đi đường biển vào giảng đạo ở các làng Ninh-cường, Quần- anh thuộc huyện Nam-chân (nay là Nam-trực, tỉnh Nam-định) và làng Trà-lũ thuộc huyện Giao-thủy (nay thuộc phủ Xuân-trường, tỉnh Nam-định).
 
Theo sách Nam-sử (Cours d’histoire annamite) của ông Trương-Vĩnh-Ký thì năm 1596 đời chúa Nguyễn-Hoàng có giáo sĩ người Tây-Ban-nha tên là Diego Adverte (còn gọi Diego Aduarte theo Ch.Maybon) đến Đàng trong (Trung kỳ) trước tiên, nhưng được ít lâu phải bỏ đi.
 
B)   Các giáo đoàn trong thế kỷ thứ XVIII.- Tuy trong thế kỷ XVI đã có giáo sĩ người Âu đến nước ta rồi, nhưng đến thế kỷ sau (XVII) thì các giáo sĩ mới ở hẳn lại trong nước. Giáo đoàn Đàng-trong (Mission de la Conchichine) do cố Fracesco Busomi lập ra năm 1615 và Giáo đoàn Đàng-Ngoài (Mission du Tonkin) do cố Alexandre de Rhodes lập ra năm 1627.
 
Các giáo sĩ sau truyền đạo Thiên Chúa ở nước ta hoặc thuộc về Dòng-Tên (Ordre des Jésuites) là một tu đạo hội lập ra năm 1534, hoặc thuộc về Hội truyền giáo ngoại quốc (Société des Mission étrangères) lập ra ở Paris năm 1663 và là người của nhiều nước: Pháp, Ý, Nhật, Tây-Ban-nha, Bồ-đào-nha.
 
C)  Sự cấm đạo.- Vì quan niệm về tôn giáo khác nhau, nên các vua chúa nước ta, cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh, tuy lúc đầu có dung thứ, nhưng sau đều cấm việc truyền đạo Thiên-Chúa và nghiêm trị các giáo sĩ cùng các giáo đồ. Tuy thế mặc lòng, các giáo sĩ vẫn lén vào torng nước và đi truyền đạo mà số người theo đạo cũng càng ngày càng đông.
 
Cố Alexandre de Rhodes (1951-1660) – Ông người đất Avignon (nay thuộc nước Pháp) và thuộc Dòng Tên. Cuối năm 1624, ông được cử sang sung vào Giáo đoàn Đàng Trong. Trong sáu tháng trời, ông học tiếng Nam vá nói được rất sõi.
 
Vì thế, ông được cử ra Đàng-Ngoài lập một Giáo đoàn mới, ông ở đây hơn ba năm tự năm 1627 đến năm 1630, dụ được nhiều giáo đồ. Sau bị chúa Trịnh (Trịnh-Tráng) đuổi, ông sang ở Macao nhưng hể có dịp, ông lại sang nước ta, cứ đi đi lại lại mấy lần. Đến năm 1645, ông phải dời nước ta hẳn trở về châu Âu.
 
Trong hơn bảy năm trời ông ở nước Nam, ông nghiên-cứu phong-tục, tính tình, lịch-sử người Nam, rất là am tường. Ông viết nhiều sách có giá trị như cuốc sử xứ Bắc kỳ bằng chữ La tinh có dịch ra chữ Pháp, cuốn tự điển tiếng Nam dịch ra tiếng Bồ-đào-nha và tiếng la-tinh (sẽ nói rõ ở mục sau) và cuốn sách giảng đạo nhan là Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn (muốn) chịu phép rửa toi (rửa tội) ma beào (vào) đạo thánh đức Chúa blời (trời) (Xem bài đọc thêm số 1)
 
Việc sáng tác chữ quốc ngữ?-
A)   Chữ quốc ngữ là gì? - Chữ quốc ngữ là một thứ chữ dùng tự mẫu (chữ cái) La mã để phiên âm tiếng an-nam. Quốc-ngữ nghĩa đen là tiếng nói của nước: vậy cái từ ngữ ấy dùng gọi thứ chữ mới đặt ra đây, kể thì không đúng, vì đó là một thứ chữ chứ không phải là một thứ tiếng ; nhưng từ ngữ ấy đã dùng quen rồi, không thể đổi được nữa.
 
B)   Ai đặt ra chữ quốc ngữ?.- Các giáo sĩ người Âu, khi đến nước ta truyền giáo về thế kỷ thứ XVII, thấy ở xứ ta chỉ có chữ nôm là thứ chữ dùng để việt tiếng Nam như chưa có chuẩn đích, và học lại mất nhiều công phu, nên mới mượn các mẫu tự La mã đặt ra chữ quốc ngữ để tiện việc dịch sách, soạn sách cho con chiên xem.
 
Việc sáng tác chữ quốc ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đó có cả các giáo sĩ người Tây-Ban-nha, Bồ-đào-nha và Pháp-lan-tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố Alexandre de Rhodes vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng chữ quốc ngữ, thứ nhất là một cuốn tự điển, khiến cho người sau có tài liệu mà học và kê cứu (xem bài đọc thêm số 2) Vậy ta phải xét về cuốn tự điển của ông đã soạn ra.
 
C)  Cuốn tự điển của cố Alexandre de Rhodes - cuốn ấy chính nhan là dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum (nghĩa là Tử điển An-nam, Bồ-đào nha và La-tinh) in ở La-mã (Rome) năm 1651; nhân sự in cuốn ấy, nhà in của Giáo hội thành La mã đúc chữ quốc ngữ lần đầu tiên.
 
1)    Theo bài tựa của tác giả thì các nguyên thư tác giả đã xem để làm cuốn ấy là:
a)    Tự vựng An-nam Bồ-đào-nha của cố Gaspar de Amaral, người Bồ-Đào-nha.
b)    Tự vựng Bồ đào nha An-nam của cố Antoine de Barbosa, người Bồ-đào-nha. Hai cuốn này đều viết bằng tay và nay không còn truyền lại nữa.
2)    Cuốn ấy chia làm ba phần:
a)    Tự điển;
b)    Mục lục để tra bằng tiếng La-tinh;
c)    Phần giảng qua về mẹo tiếng An-nam.
 
3)    Theo cuốn tự điển ấy thì âm vận tiếng ta và cách viết chữ quốc ngữ hồi ấy (giữa thế kỷ thứ XVII) có khác ngày nay ít nhiều.
a)    Về âm vận tiếng ta, ta nhận thấy:
I.- Có vài âm khác nhau:
Phụ âm b ngày xưa nay đọc ra v.
Thí dụ  : bua = vua; bó ngựa = vó ngựa.
phụ âm d ngày xưa nay đọc ra nh.
Thí dụ: dè dẹ = nhè nhẹ.
 
II.- Có vài phụ âm mất hẳn:
phụ âm bl hay đổi làm
gi. Thí dụ: dối blá = dối giá ; blả ơn = giả ơn;
l. thí dụ: tàu blúc blắc = tàu lúc lắc.
tr. Thí dụ: blái núi = trái núi; blổ tài = trổ tài.
 
Phụ âm ml hoặc mnh nay đổi làm l hoặc nh. Thí dụ;
Chém một mlát = chém một lát (nhát) ; mlẽ, mnhẽ = lẽ, nhẽ ; mlời, mnhời = lời, nhời.
 
phụ âm tl nay đổi làm tr. Thí dụ: ăn tlôm = ăn trộm, tlăm con tlâu = trăm con trâu.
 
b)    về cách viết chữ quốc ngữ, ta nhận thấy vài cách viết khác bây giờ:
ão (xưa) = ong (nay) . Thí dụ são = song ; chào = chòng; tlao = trong.
ãu (xưa) = ông (nay) . Thí dụ: cou4 = công ; sòu = sống; tlão = trông.
Ũ (xưa) = ung (nay) . Thí dụ : cũ = cung;
uân (xưa) = uôn (nay). Thí dụ: muấn = muốn.
uâng (xưa) = uông (nay). Thí dụ: huấng = huống;
ưâng (xưa) = ương (nay). Thí dụ: từâng = tường ;
 nhừâng = nhường; xưâng = xương ,v.v. ..
Cuốn tự điển của cố Alexdre de Rhodes không những là một bằng chứng để ta khảo cứu âm vận tiếng ta và hình thể chữ quốc ngữ về tiền bán thế kỷ thứ XVII, mà lại là một cuốn sách gốc để các nhà ngữ học về sau kê cứu mà làm các tự điển khác về tiếng ta.
 
Kết luận.- Các giáo sĩ người Âu đặt ra chữ quốc ngữ, chủ ý là có được một thứ chữ để viết tiếng ta cho tiện và dùng trong việc truyền giáo cho dễ. Không ngờ rằng, vì tình thế lịch sử xui nên, thứ chữ ấy nay thành thứ văn tự phổ thông của cả dân tộc Việt Nam ta. Đành rằng cũng như các công trình do người ta sáng tác ra, thứ chữ ấy cũng còn có một vài khuyết điểm, những ta nên nhận rằng ở trên hoàn cầu này, không có thứ chữ nào tiện lợi và dễ học dễ biết bằng thứ chữ ấy.
 
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
 
1.    Một bài văn viết theo lối chữ quốc ngữ tiền bán thế kỷ thứ XVII.
 
Trong bài này, những chữ gạch dưới là chưa theo cách viết ngày nay.
Phép giảng tám ngày. Ngày thứ nhít (nhất)
Tà cầu (cùng) đức chúa blời (trời) giúp sức cho ta biết tỏ từâng (tường) đạo chúa là nhuầng (nhường) nào, vì bậy (vậy) ta phải ăn ở thế nầy chẳng có ai sõú (sống) lâu; vì chưng kẻ đến bảy tám mười tuẩi (tuổi) chẳng có nhềo (nhiều) . Vì bậy (vậy) ta nên tìm đàng nào cho được sóũ (sống) lâu, là kíem (kiếm) đàng sóũ (sống) bậy (vậy); thật là việc người cuên (quân) tử khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú quí são (song) le chẳng làm được cho ta ngày sau khỏi làm tiểu-nhin (nhân) khốn nạn. Vì bậy (vậy) ta chẳng phải haọc (học) đạo cho ta được phú quí ở thế nầy. Vì chưng ích đạo thánh đức chúa blời (trời) về đời sau. Người thế sự đời này lành dữ thì hay, mlẽ (lẽ) qua đời này cho khi chết được bui bẻ (vui vẻ) đời sau thì chàng hay. Cho được biết đàng ếy (ấy), trưấc (trước) thì phải hay loại người ta có hai sự: một là xác, hai là linh hồn, xác bởi cha mẹ mà có xưâng (xương), có máu, có thịt, hay nát hay mòn, saõ (song) le linh hồn là tính thiêng chảng hay mòn, chảng hay nát, chảng hay chết, chảng phải bởi cha mẹ mà ra, thật bởi bề blên (trên) mà có. Linh hồn như chúa nhà, xác như tôi tá hay là đầi  (đầy) tớ vô thi phải phục linh hồn như chúa, vì chưng đầi (đầy) tớ (cùng) tôi tá làm chúa nhà hay là chúa nhà làm tôi tá, thì lộn lạo (cũng) chẳng phải mlẽ (lẽ)
 
Saõ (song) ta xét ta lo tlước (trước) cho đầi (đầy) tớ, hay là cho chúa nhà? Thật là ta làm tlước (trước) cho chúa nhà, sau lo cho đầi (đầy) tớ thì mới phải. Cày ruộng, buôn bán, những việc thể ếy (ấy) là việc về xác. Có kẻ đi cầy đi cấy mà được lúa nhềo (nhiều) tlãõ (trong) kho, đến khi qua đời nầy một nhám lúa đam (đem) đi (cũng) chảng được. Có kẻ đi hầu hạ chầu chức bua (vua) chúa mà được làm quan. Đến khi linh hồn ra khỏi xác , những sự ếy  (ấy) thì phải bỏ, đem về chảng được đi gì sốt. Có mlời (lời) rằng: khi sinh ra chảng có đam (đem) một đòũ (đồng) mà lại chết (cũng) chảng có cầm một dòũ (đồng) mà đi. Vì chưng người ta ở thế nầy chảng ai khỏi sự ếy (ấy), thì phải haọc (học) đạo thánh về đời sau, cho ngày sau chúng ta được sóũ (sống) lâu vô- (cùng).
 
(Trích trong sách Phép giảng tám ngày … của cố Alexandre de Rhodes in ở thành La-mã năm 1651 – Theo bản lục đăng trong bài Khảo về chữ quốc ngữ. N.P.,t.XXI, số 122)
 
2. Vấn đề sáng tác chữ quốc ngữ.
 
Thuộc về vấn đề cỗi rễ chữ quốc ngữ, nhà sử học Maybon thuật lịch sử của cố Alexandre de Rhodes rồi, có phán đoán như sau này:
 
“.. . cách dịch âm ấy là do các cố đạo Tây chế ra, điều đó đã chắc hẳn rồi, nhưng người nào là người chế ra đầu tiên thì khó mà biết được. Thiên hạ cứ quen miệng nói là chính các cố đạo người Bồ-đào-nha đặt ra chữ quốc ngữ; có lẽ cái ý kiến đó cũng là một điều trong vô số điều sai lầm mà ở Đông-Pháp thiên hạ cứ theo nhau mà truyền đi không xem xét cho kỹ. Vì sở dĩ thành ra cái ý kiến đó là bởi thấy torng lối dịch âm của chữ quốc ngữ có nhiều vần đọc giống như vần tiếng Bồ-đào. Nhưng phải biết rằng tiếng Bồ-đào là tiếng thông thương chung của các người Tây giao thiệp với người An-nam tự thế kỷ thứ 17. Không những nhà buôn các nước cùng những thông ngôn của họ gọi là Jurabas thông dụng thứ tiếng ấy, mà các cố đạo cũng dùng, cố đạo bồ đào thì đã cố nhiên rồi, nhưng cả cố đạo Y-pha-nho, Ý-đại-lợi hay Pháp-lan-tây nữa. Như vậy thì tiếng Bồ đào có ảnh hưởng trong việc chế tác ra chữ quốc ngữ, điều đó thật không lấy gì làm lạ. Vậy thời nếu cứ theo ý kiến thông thường mà cho chữ quốc ngữ là tự các cố bồ đào chế ra, thật không lấy gì làm bằng cứ vậy. Chữ quốc-ngữ chắc là do nhiều người cùng nhau nghĩ đặt ra, chứ không phải một người Bồ đào mà thôi. Có một điều đích hẳn, là khi nhà in ở Âu-châu – đây là sở in của Hội Truyền-giáo ở La-mã, do giáo hoàng Urbain thứ XIII lập ra năm 1627 có đủ thứ chữ các nước - mới bắt đầu đúc chữ quốc ngữ, thì là chủ ý để in các sách của một ông có người Pháp … “ 
 
Nói tóm lại thì chữ quốc ngữ là do các cố Tây sang giảng đạo bên nước Nam đặt ra vào đầu thế kỷ thứ 17, các cố đó người Bồ đào có, người Ý đại lợi có, người Pháp lan tây có, chắc là cùng nhau nghĩ đặt, châm chước, sửa sang trong lâu năm, chứ không phải một người nào làm ra một mình vậy.  Duy đến khi in ra thành sách thì là một ông cố người nước Pháp Alexandre de Rhodes, in một bộ tự điển và một bộ sách giảng đạo bằng chữ quốc ngữ trước nhất. Vậy thời hai bộ sách đó là hai quyển sách quốc ngữ cổ nhất còn lưu truyền đến nay.
 
Phạm Quỳnh
Khảo về chữ quốc ngữ
(Nam Phong tạp chí, t-XXI.số 122)
 
Các tác phẩm để kê cứu
 
1)    Charles B.-Maybon, Histoire moderne du Pays d’annam (1592-1820) Étude sur les premiers rapports des Européens et des Annamites et sur l’établisment de la dynastie annamite des Nguyễn, Paris Plon-Nourrit et Cie, 1919 (Chapitre II. Pp27-50)
2)    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Hanoi, Imp. Du Trung Bắc tân văn, 1920 Tập thứ nhì, Chương VII, tr.79-84)
3)    Phạm Quỳnh, Khảo về chữ quốc ngữ, N.P.t, XXI; số 122 tr.327-329.
 

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-28 10:21:34Huyền Băng>
THIÊN THỨ SÁU
 
VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ VĂN TỰ
 
CHƯƠNG THỨ MƯỜI CHÍN
 
NHỮNG SƯ KHÁC NHAU VỀ THỔ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT NAM
(Tiếng Bắc và tiếng Nam)

 
Sự nhất trí của tiếng Việt Nam.- so với tiếng nói của nhiều nước (như nước Trung Hoa) thì tiếng Việt Nam có thể coi là một thứ tiếng có nhất trí. Có hai tang chứng hiển nhiên về sự nhất trí ấy:
1)    Khi nói, miễn là nói thong thả, rõ ràng, người ba kỳ (Bắc – Trung – Nam) vẫn hiểu nhau.
2)    Khi viết thì các báo chí sách vở xuất bản ở một xứ nào, người xứ khác xem vẫn hiểu cả.
 
Một vài điều khác nhau về thổ âm.- Tuy vậy, vì phong thổ mỗi nơi một khác và thứ nhất là vì sự giao thông xưa không được tiện lợi, người ba kỳ thường cách biệt nhau, nên có một vài điều khác nhau về ngôn ngữ, văn tự, những chẳng qua cũng chỉ là những điều tiểu dị trong sự đại đồng, chứ không hề vì thế mà người kách xứ trong nước ta không hiểu nhau được.
 
Về phương diện ngôn ngữ khác nhau này, đại khái có thể chia nước ta ra làm hai khu vực: Bắc (Bắc kỳ và phía bắc Trung kỳ) Nam (Nam kỳ và phía Nam Trung kỳ). Tựu trung, ở Trung có vài âm thanh và tiếng dùng khác với Bắc Kỳ và Nam kỳ. Nay ta phải xét về các điều khác nhau ấy.
 
Khi xét về vấn đề này, ta nhận thấy rằng những điều khác nhau ấy có thể chia làm hai loại:
1)    những điều khác nhau do sự nói sai viết sai mà ra. 2) những điều khác nhau hẳn vì phong thổ mỗi xứ.
Những điều khác nhau vì nói sai viết sai.- tiếng Nam xưa kia không được làm tiếng của chính phủ dùng, nên ở các trường không dạy, các học giả không để tâm nghiên cứu, ai nấy cứ theo thói quen từ thuở nhỏ mà nói, cứ thuận miệng mà đọc, không chịu đắn đo cẩn thận, nên có những âm thanh vì thế mà sai lạc đi, thành ra nơi này khác với nơi nọ. Những sự khác nhau về loại này chia làm hai hạng:
A)   Sai cả cách nói lẫn cách viết.
1)    Bài về âm.
 
a)    Ngoài Bắc (nhất là Bắc kỳ) thường nói và viết sai những phụ âm (consonnes) ở đầu các tiếng:
Âm tr lẫn với âm ch. Thí dụ: tra (khảo) lẫn với cha (mẹ).
Âm d, r lẫn với âm gi. Thí dụ: dời (chỗ) lẫn với giời đất; rời (rã) lẫn với (con) giời.
Âm s lẫn với âm x. Thí dụ: sa (xuống) lẫn với xa (xôi).
 
b)    Trong Nam (nhất là Nam kỳ) thường nói và viết sai những phụ âm ở cuối các tiếng.
Âm c sai thành âm t :
Ac = at . Thí dụ: vác cuốc sai thành vát cuốc.
ắc = ăt . Thí dụ: cân nhắc thành cân nhắt.
âc = ât . Thí dụ: phản phấc thành phản phất.
uốc = uôt . Thí dụ: mua chuốc thành mua chuốt.
ươc = ươt . Thí dụ: đại lược sai thành đại lượt v.v.
Trái lại:
Âm t sai thành âm c
At = ac . Thí dụ: nhát gan sai thành nhác gan.
Ăt = ăc . Thí dụ: dắt trâu sai thành dắc trâu.
ất = âc . Thí dụ: nất đi sai ngấc đi.
Uôt = uôc. Thí dụ : thẳng tuột sai thành thẳng tuộc;
Ươt = ươc . Thí dụ : lũ lượt sai thành lũ lược v.v. ..
Âm n sai thành âm ng :
An = ang . Thí dụ: Phan Thanh Giản sai thành Phan Thanh Giảng.
Ăn = ăng . Thí dụ: căn bổn sai thành căng bổn
Iên = iêng . Thí dụ: kiên nhẫn sai thành kiêng nhẫn
Uôn – uông . Thí dụ : tuôn nước sai thành tuông nước; v.v. ..
 
Trái lại :
Âm ng sai thành âm n.
Ang = an . Thí dụ ngang dọc sai thành ngan dọc.
Ang – ăn. Thí dụ căng vài sai thành căn vải.
Iêng = iên. Thì du : thăm viếng sai thành thăm viến;
Uông = uôn. Thí dụ: buông tha sai thành buôn tha v.v. ..
 
Sai về thanh.- Trong Nam thường lẫn:
dấu hỏi ( ? ) với dẫu ngã (~) . Thí dụ: kết quả sai thành kết quã.
Trái lại , lẫn;
dấu ngã (~) thành dẩu hỏi ( ?)  -. Thí dụ: gương vỡ sai thành gương vở.
Lời chú.- Hiện nay, các nhà học thức đã biết phân biệt và viết đúng các âm thanh trên này, cứ xem báo chí sách vở xuất bản gần đây thì rõ.
 
B)   Viết đúng mà đọc sai
2) ở vùng Huế:
phụ âm nh đọc như gi. Thì dụ: nhà cửa đọc như già cửa;
1 Trong Nam kỳ:
phụ âm v đọc hầu như d. Thị dụ: vợ chồng đọc hầu như dợ chồng.
 
Những điều khác nhau hẳn vì phong thổ.
A)   Về âm .
1) Nguyên âm (voyelles).- Trong ít nhiều tiếng, Nam và Bắc dùng nguyên âm khác nhau nhưng vẫn tương tự khiến cho người xứ khác tinh cũng hiểu ngay. Dưới đây, liệt kê một ít tiếng làm thí dụ. 
 
 

 
Lời chú. - Một cớ khiến cho nguyên âm tiếng Bắc tiếng Nam khác nhau là sự kiêng tên húy của bậc vua chúa, thần thành. Thí dụ:
Tiếng tùng ngoài Bắc thường đọc là tòng vì kiêng tên một chúa Trịnh (Trịnh Tùng); tiếng cang thường được là cương vì kiêng tên một chúa Trịnh (Trịnh Cang).
 
 
Trong Nam thì tiếng hoàng đọc là huỳnh vì kiêng tên một chúa (Nguyễn Hoàng); tiếng phúc đọc là phước vì kiêng một chữ thuộc về chữ họ của bản triều (họ Nguyễn Phúc); tiếng hoa đọc là huê vì kiêng tên bà Hoàng quí phi về đời Thiệu Trị. Tiếng hồng đọc là hường vì kiêng tên vua Tự Đức (Hồng Nhậm)
 
Cũng vì sự kiêng tên ấy mà có nhiều chữ nho ta đọc sai chính âm đi, như chữ tông đọc là tôn, chữ thật đọc là thiệt hoặc thực, chữ thì đọc là thời v.v. .
 
2)    Phụ âm (consonnes).- Trong ít nhiều tiếng, ngoài Bắc dùng phụ âm này thì trong Nam lại dùng phụ âm khác. Thí dụ:
 

Lời chú.- sự khác nhau về âm hoặc nguyên âm, hoặc phụ âm này, không làm cho người Nam kẻ Bắc không hiểu nhau được vì các âm tuy khác những vẫn tương tự, nên người nghe hơi tinh ý một chút có thể nhận ra ngay; vả chăng, cũng có nhiều âm đã thông dụng cả trong Nam ngoài Bắc rồi như trời với giờ, lẽ với nhẽ, nhuôm với duộm v.v. vậy sự khác âm này không phương phại gì đến sự nhất trí của tiếng Nam ta.
 
C)  Về tiếng dùng-.- có một ít tiếng ngoài Bắc mà trong Nam ít dùng hay không biết hẳn, hoặc trái lại thế. Sau đây liệt kê mấy tiếng làm thí dụ:
 

Kết luận.- Xét kỹ các điều khác nhau trong tiếng Việt Nam đã kể trên này, thì về loại thứ nhất là những điều khác nhau vì nói sai, viết sai, nay nhờ nhờ sự học tiếng Nam phổ thông và tinh tường sẽ mất hẳn đi. Còn về loại thứ nhì là những điều khác nhau vì phong thổ thì sau này nhờ sự giao thông tiện lợi, kẻ Nam người Bắc gặp nhau luôn, lại nhờ các sách vở báo chí lưu thông trong ba kỳ, người Bắc sẽ hiểu và dùng các tiếng vốn có trong Nam, mà trái lại, người Nam cũng sẽ hiểu và dùng các tiếng vốn có ở ngoài Bắc. như thế tiếng ta lại thêm giàu ra, vì nếu có hai tiếng để nói một ý, một vật thì trong việc làm thơ văn, các thi sĩ, văn gia sẽ được rộng rãi lựa chọn. Hiện nay ta xem sách vở báo chí xuất bản ở ba kỳ , đã thấy tác giả biết tham dụng cả tiếng Nam Bắc thì ta có thể tin rằng ngôn ngữ, văn tự nước ta có ngày sẽ bước tới chỗ hoàn tất nhất trí vậy. Miễn là ai nấy, khi nói tiếng ta và khi viết quốc ngữ, nên thận trọng và chịu khó suy xét tra cứu cho khỏi lầm lẫn thì tức là giúp vào việc nhất trí tiếng ta một phần lớn vậy.
 
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
 
1)    Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Chương XXXV, Thanh âm, ngôn ngữ, Đông dương tạp chí, lớp mới, số 47, tr. 2316-2319.
2)    Nguyễn tử Lăng, Tiếng Nam Bắc khác nhau (Tự vựng Hà Nội – Sài gòn) NP: t.XXVII, số 152, tr.56-60.
3)    Lã Vĩnh Lợi, Việt Nam chính tả tự vị (dictionaire orthographique de la langue annamite). Hanoi Imp. thụy kỳ. 1927.
4)    Trần Mạnh Đàn, Quốc Ngữ đinh ngoa. Hà nội Đông kinh ấn quán 1934.
 
📎 h1thiencuoi|h2thiencuoi|h4thiencuoi

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
PHẦN II
 
VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU
 
Hán văn và Việt văn.
 
Khi xét về văn học nước nào, thường ta chỉ cần xét các tác phẩm viết bằng tiếng nước ây. Nhưng khi xét đến văn học nước ta, thì không những phải xét đến các tác phẩm viết bằng tiếng Nam, tức văn nôm, mà phải xét đến các tác phẩm của người Nam ta viết bằng chữ nho, tức là Hán văn. Vì tình hình lịch sự gây nên, hồi xưa, như trước đã nói (xem Năm thứ nhất, Thiên II và III), các văn gia nước ta học chữ nho, thi chữ nho, lúc làm quan lại viết các công văn bằng chữ nho; nói tóm lại, lấy chữ nho làm “chữ ta” nên khi các nhà ấy muốn diễn đạt tư tưởng tính tình của mình, muốn bàn bạc, ghi chép điều gì, cũng thường dùng chữ nho. Vì thế, những tác phẩm viết bằng Hắn văn của các bậc tiền nhân nước ta lại nhiều hơn số tác phẩm viết bằng văn nôm, mà phần nhiều những sách có quan hệ đến văn hóa nước ta (như chính trị, lịch sử, địa chí, phong tục, lễ nghi v.v. ) lại viết bằng Hán văn. Bởi vậy, khi xét đến văn học nước ta, không thể không xét đến Hán văn được.
 
Các thời kỳ lớn trong lịch sử văn học nước ta. Xét về lịch sử văn học nước ta từ đầu đến cuối thế kỷ thứ XIX, có thể chia làm bốn thời kỳ
 
1)      Thời kỳ Lý, Trần (thế kỷ XI đến XIV). Trong thời kỳ này, Hán học đã đào tạo nên những bậc nhân tài, hoặc những mãnh tướng (như Lý thường Kiệt, Trần quốc Tuấn) đem tài thao lược ra đánh giặc cứu nước; hoặc các bậc hiền thần như (Tô Hiến Thành, Nguyễn Trung Ngạn) lấy lòng trung trực để giúp vua trị dân; hoặc các bậc danh nho (như Chu Văn An) đem đạo học ra dạy dỗ người đương thời.
 
Trong thời kỳ ấy, về phần Hán ăn, tuy chưa có những tác phẩm quan trọng (trừ Sử ký) xuất hiện, nhưng đã có những thơ văn của các bậc danh tướng lương thần làm ra mà phần nhiều đều có ý nghĩa thiết thực, vụ đạo lý hơn là từ chương.
 
Một cái tính cách đặc biệt nữa của thời kỳ ấy là Phật học còn thịnh, được cùng với Nho học mà tiến hành, nên có nhiều vị cao tăng tính thâm Hán học và trứ tác ra thơ văn; lại có nhiều tác phẩm hoặc chịu ảnh hưởng của Phật giáo, hoặc giải thuyết về đạo lý của Phật giáo.
 
Về phần văn nôm thì từ khi Hàn Thuyên xướng lên cái phong trào làm thơ phú bằng quốc âm, các văn gia cũng phỏng theo ông mà ngâm vịnh, trứ tác. Tiếc rằng các tác phẩn ấy hầu hết thất truyền, nên ta không thể xét được tính cách nền Việt văn lúc phôi thai ấy.
 
2)      Thời kỳ Lê, Mạc (thế kỷ XV và XVI)- Trong thời kỳ này, Nho học nhờ có triều đình cổ võ và tưởng lệ, nên dần dần át cả Phật học và chiếm địa vị ưu thắng.
 
Các tác phẩm về hán học đã có phần phong phú: có nhiều thơ văn sách vở xuất hiện. Nhưng tuy về đường từ chương có tiến mà về đường đạo lý ngày một kém dần; trừ những bộ sử ký và sách truyện ký, hầu hết các tác phẩm đều là thơ văn ngâm vịnh cả.
 
Văn nôm thì sau thời kỳ phôi thai của đời Trần, một ngày một phát đạt, nhưng nền văn ấy còn chịu ảnh hưởng của văn Tàu nhiều (dùng nhiều chữ Nho; mượn đề mục, thi tứ, cảnh sắc ở thơ văn Tàu).
 
3)      Thời kỳ Nam Bắc phân tranh (thế kỷ XVII và XVIII) Thời kỳ này là thời kỳ rối loạn nhất trong lịch sử nước Nam; các cuộc chiến tranh kế tiếp nhau không dừng, hết cuộc Nguyễn Trịnh phân tranh, đến việc nhà Tây sơn nổi lên đánh chúa Nguyễn, dứt chúa Trịnh, sau đến cuộc đức Nguyễn Ánh đánh nhà Tây sơn để nhất thống Nam Bắc.
 
Văn học cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử ấy. Về Hán văn, thơ văn ngâm vịnh có phần ít hơn; trái lại, ta thấy những tác phẩm trong đó các văn gia ghi chép những điều mắt thấy tai nghe theo thể “tùy bút” hoặc thể “ký sự”.
 
Văn nôm trong thời kỳ này rất phát đạt; nền văn ấy dần dần thoát ly ảnh hưởng của văn Tàu mà có tính cách tự lập. Có nhiều tác phẩm có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ hoặc do các nhân vật có liên lạc đến lịch sử soạn ra như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huy Lượng v.v. .. ) hoặc lấy những công việc tình trạng đương thời làm đề mục (Chinh Phụ ngâm, Hoài Nam khúc).
 
4)      Thời kỳ cận kim: Nguyễn triều (thế kỷ thứ XIX)- Trong thời kỳ này Nho học vẫn được tôn sùng như ở đời Hậu Lê. Về phần Hán văn thì trừ những sách chép về sử ký, địa chí, hiến chương, còn phần nhiều cũng vẫn là thơ văn ngâm vịnh. Vì lối học cử nghiệp càng ngày càng tệ, nên phần từ chương cũng càng ngày càng thịnh mà phần đạo lý càng ngày càng suy.
 
Văn nôm thì nhờ công trứ tác của những bậc có biệt tài: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương v.v. nên có những tác phẩm trường thiên (Hoa tiên, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên,v.v. . ) và những thơ ca có giá trị xuất hiện khiến cho Việt văn có cơ sở vững vàng, nhờ đó mà nền Quốc văn hiện thời mới thành lập được. Về cuối thế kỷ thứ XIX, những việc xảy ra ở trong nước (thứ nhứt là việc can thiệp của nước Pháp) có ảnh hưởng đến thơ văn; các văn gia hoặc mượn đề mục ở những việc đã xảy ra, hoặc nói đến cảm tưởng của mình đối với những việc ấy (cuộc xướng họa của Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị, Chính khí ca, Hạnh thục ca v.v.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
THIÊN THỨ NHẤT
 
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN CHƯƠNG TÀU
 
Chương Thứ Nhất
 
Tính cách phổ thông của văn chương Tàu và văn chương Việt Nam
 
Văn chương nước ta chịu ảnh hưởng của văn chương Tàu rất sâu xa, nên cũng có những tính cách phổ thông như văn chương Tàu. Vậy trong chương này, ta xét chung về tính cách của hai nên văn ấy. Trước hết xét về phương diện tư tưởng rồi sau xét về phương diện văn từ.
 
1. Tư tưởng.
 
Chú trọng về luân lý. Các văn sĩ Tàu và ta xưa ấn định cho văn chương một cái mục đích giáo huấn, nghĩa là muốn dùng văn chương để răn dạy người đời; ngay những nhà có tư tưởng phóng khoáng lãng mạng, cũng không quên cái chủ nghĩa ấy. Bởi vậy, trong thơ văn, thường nói đến cương thường đáo nghĩa hoặc tả thế thái, nhân tình; cũng nhiều khi nói đến ái tình, nhưng chủ ý để khuyên răn người đời hơn là tả những cuộc tình duyện éo le, trắc trở.
 
Cũng do cái quan niệm ấy nên nhiều tác phẩm, kể về phương diện văn chương thuần túy, thì rất hay mà vẫn bị liệt vào hạng “dâm thư” và những sách như tiểu thuyết, kịch bản vẫn coi là “ngoại thư” không được đem ra giảng đọc ở học đường.
 
Trọng lý tưởng, không vụ tả thực. – Đã chú trọng về luân lý, nên văn chương thường khuynh hướng về mặt lý tưởng mà không vụ sự tả thực. Trong thơ văn các tác giả thường đem một lý tưởng gì mả diễn giải ra một tâm trạng nào mà biểu lộ ra mà ít mô tả các ngoại cảnh, các thực sự. Tả cảnh thì thường tả những cảnh tượng trưng ra (như cảnh thần tiên mộng ảo): hoặc có ta cảnh thiên nhiên thì hay tả cảnh nào hợp với tính thình của tác giả hoặc các vai chủ động trong truyện nghĩa là tả cảnh để mà tả tình vậy. Những việc kể ra cũng thường là việc bày đặt cho hợp lý tưởng của mình chứ ít khi là những việc thực đã từng quan sát. Trong cách mô tả nhiều khi mung lung, phieu diêu, ít có xác thực, rõ ràng có cái tính cách của một bức tranh phá bút khiến hco người đọc mơ màng trong cõi mộng; hoặc chỉ vẽ vài nét chính, không có tỉ mỉ rậm rạp, để cho người xem lấy trí tưởng tượng và đem những ký ức của mình mà tô điểm thêm vào.
 
Tôn kính cổ nhân.- Các văn sĩ Tàu và ta lấy các bậc thánh hiền xưa làm mẫu mực, các câu danh ngôn cổ làm chuẩn đích, nên trong thơ văn thường mượn lại các đề mục của người xưa làm bằng cứ. Cũng vì thế nên văn chương ít có tính cách cá nhân, ít có đặc sắc. Nhưng cách tả người, tả cảnh, kết cấu, tự thuật thường theo khuôn sao cũ mà ít có phần mới lạ đột ngột.
 
 
Tính cách cao quý – Các văn sĩ Tàu và ta là những bậc trí thức (nhiều người lại có chức vị, danh vọng cao), tự liệt mình vào hạng thượng lưu trong xã hội, nên lúc viết văn cũng cốt để cho những kẻ cao sang, người học thức xem, chứ không phải để cho hạng bình dân xem. Bởi vậy văn chương thường có tính cách cao quí. Các tác giả thường tả cuộc đời của các bậc phong lưu, quyền quí, các phong cảnh hùng vĩ, thanh tao (núi sông, hoa cỏ, danh lam, thắng cảnh), chứ ít khi tả đến cuộc sinh hoạt của kẻ bình dân, người lao động và những cảnh vật thông thường hàng ngày trông thấy ở quanh mình (cảnh đồng áng, chợ búa, cày bừa, cấy gặt). Tuy một đôi khi cũng có đem những người, những việc tầm thường làm đề mục cho thơ văn, nhưng tác giả không phải chủ ý muốn mô tả người ấy, việc ấy, mà chỉ cốt mượn người ấy, việc âấ làm tượng trưng (1) cho các nhân vật cao quí như ông vua, ông tướng, hoặc cho các công việc lớn lao như trị dân, giúp nước (thí dụ những bài thơ nôm: Thằng mõ, Người ăn mày, Dệt vải (của vua Lê Thánh Tôn?) ,Tát nước (của Trần Tế Xương)
 
Cũng vì thế nên văn chương có tính cách chủ quan (2) hơn là khách quan  (3) vì các tác giả thường đem những cảnh ngộ, tính tình quan niệm của mình làm đề mục, chứ không lấy trí quan sát mà nhận xét tình trạng của hạng người khác, của hoàn cảnh khác. Cũng bởi thế nên văn chương ít có tính cách xã hội nghĩa là ít nghiên cứu về các vấn đề có liên lạc đến cuộc sinh hoạt và sự hạnh phúc của kẻ bình dân, người nghèo không trong xã hội.
 
2.Lời văn 
Điển cố- Chính vì sự tôn kính cổ nhân và tính cách cao quí ấy, nên văn chương Tàu và ta hay dùng điển cố (xem lại Phần thứ nhất. chương thứ XVII) khiến cho lời văn thêm uẩn súc, những cũng chỉ có các độc giả đã từng học rộng, xem nhiều mới hiểu thấu và thưởng thức được. Lời văn thường hoa mỹ, cao kỳ, ít khi bình thường tự nhiên và sáng sủa.
 
Âm điệu- Văn chương Tàu và ta rất chú trọng về âm điệu, nghĩa là lời văn đặt sao cho êm ai, nhịp nhàng, khiến cho khi đọc, khi ngâm, được vui tai, xướng miệng. bởi thế không những trong văn vần , mà cả trong văn xuôi cũng chú trọng đến âm luật, nghĩa là các tiếng bằng, trắc, các thanh phù, trầm phải sắp đặt cho khéo để câu văn khỏi trúc trắc khó nghe; lại hay dùng phép đối (biền ngẫu) nhiều khi văn thường đặt thành hai đoạn đối nhau, hoặc hai câu đối nhau; ngay trong một câu văn, cũng thường có những đoạn con đối với nhau và những chữ đơn, chữ kép phải sắp đặt sao cho cân  và không so le thì đọc lên mới được êm ái dễ nghe.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 16:32:27diên vỹ>

Thiên Thứ Tư

Thời Kỳ Nam Bắc Phân Tranh
(Thế kỷ thứ XVII và XVIII)



Chương Thứ Chín

Hán Văn Trong Thời Kỳ Lê Trung Hưng



 
Thời Kỳ Lê Trung Hưng (1592-1789) là thời kỳ Nam Bắc phân tranh trong lịch sử nước ta. Nước Nam bấy giờ chia làm hai khu vực: Đàng Ngoài (khu vực vua Lê chúa Trịnh ) và Đàng Trong ( khu vực của Nguyễn ) . Trước thì chúa Nguyễn đánh nhau với chúa Trịnh ; sau thì họ Tây sơn nổi lên đánh đổ cơ nghiệp của chúa Nguyễn, rồi lại dứt nhà Lê và nhà Trịnh . Bởi vậy, văn chương trong thời kỳ ấy cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh: có nhiều tác phẩm do nhân vật có liên lạc với lịch sử viết ra, hoặc lấy các việc đương thời làm đề mục .
 
Trước hết ta xét chung về các văn gia thi sĩ trong thời kỳ ấy, rồi ta xét riêng về một tác giả trứ thuật nhiều nhâ”t là Lê Quí Đôn .
 

Các Thi Gia, Văn Gia Và Sử Gia


     
    Thi Gia và Văn Gia – A) Ở đằng ngoài - Phần nhiều các tập thơ xuất hiện trong thời kỳ ấy là những tập của các thi gia làm trong khi đi sứ Tàu như Phùng công thi tập hoặc Nghi trai thi tập của Phùng Khắc Khoan (1) trong có nhiều bài thờ tác giả làm khi sang sứ Tàu , ( tựa của tác giả viết năm 1586, của xứ Cao Ly Tối Quan viết năm 1597 và của Đỗ Uông viết năm 1599) Trúc ông phụng sứ tập ( tập thơ đi sứ của Trúc ông ) của Đặng Thụy (2) ; Nguyễn trạng nguyên phụng sứ tập ( tập thơ đi sứ của ông trạng nguyên họ Nguyễn) của Nguyễn Đăng Đào (3); Tinh sài thi tập ( Tập thơ bè sao ) (4) của Nguyễn   Công Hãng (5), Dao đình sứ tập ( tập thư đi sứ của Dao đình ) hoặc Hoa trình khiển hứng ( tựa 1779 ) của Hồ Sĩ Đống (6)
     
    Ngoài ra , phải kể Tuyết trai thi tập và Nam trình liên vịnh tập ( tâp liên vịnh một cuộc đi chơi phương Nam ) của Ngô Thì Ức (7); Chinh phụ ngâm ( khúc ngâm của vợ   một người lính) của Đặng Trần Côn (8) Kiền nguyên thi tập ( kiền nguyên : quẻ đầu trong kinh Dịch chỉ trời ) (trong vừa có thơ chữ Hán và thơ nôm) của Trịnh Doanh (9);    Tâm thanh tồn dụy tập, tiếng cõi lòng giữ gìn và luyện tập (10) Năm tuần ký trình ( ghi   việc đi tuần này đều vừa có thơ chữ Hán vừa có thơ chữ Nôm ); Anh ngôn thi tập ( tập thơ vẹt nói ) và Ngọ phong văn tập của Ngô Thi Sĩ (12) : Nghệ an thi tập, Tồn am văn tập (13) và Lữ trung tạp thuyết . (13) Bùi tiên sinh lại sưu tập các thơ cổ ở nước ta soạn thành sách Hoàng Việt thi tuyển (6q.. có bài dẫn của tác giả viết năm 1788 và đã khắc in năm 1825 ) và các văn cổ soạn thành sách Hoàng Việt văn tuyển (8q .. cũng khắc in năm ấy )
     
    B) Ở Đàng Trong - Ở đàng trong ( khu vực chúa Nguyễn ) thì có hai thi gia có tiếng :
    1. Mạc Thiên Tích (15) tác giả Hà tiên thập vinh tập ( tập thơ vịnh mười cảnh Hà tiên ) (16) trong có cả các bài họa lại của các thi gia Tàu và Ta ( tựa năm 1739 )
     
    2. Nguyễn Cư Trinh ( 17) thường cùng với Mạc Thiên Tích lấy thơ văn tặng đáp nhau . Ông có họa lại mười bài Hà tiên thập vịnh và có Đạm am văn tập truyền lại .
     
    C) Truyện ký – Văn truyện ký thì có những sách
     
    1. Công dư tiệp ký – (những truyện chép nhanh trong khi rảnh việc quan ) của Vũ Phương Đề (18) trong chép tiểu truyện các danh nhân theo phương diện địa lý ( tựa năm 1774 ) (19) . Quyển ấy sau có nhiều người tục biên thêm .
     
    2. Tục truyền ký ( nói vào quyển Truyền Kỳ ) hoặc Truyền kỳ tân phả ( quyển Truyền Kỳ mới ) của Đoàn Thị Điểm  (20) trong có sáu truyện (21) tức là sách tiếp với sách Truyền kỳ man lục của Nguyễn Dữ ( xem chương IV)
     
    3.  An nam nhất thống chí hoặc Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Thì Chí (22) . Sách này , trái với nhan đề, không phải là sách địa chí , mà là một quyển lịch sử tiểu thuyết viết theo lối truyện “tam quốc diễn nghĩa ” của Tàu, chia làm 7 hồi, chép công việc nhà Hậu Lê từ đời Trịnh Sâm đến lúc nhà Trịnh mất nghiệp Chúa , tức là từ năm 1767 đến năm 1787 . Một bản tục biên (hồi 8-17) chép tiếp từ lúc vua Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu đến lúc đem di hài ngài về táng ở Bàn thạch ( thanh hóa ) ; theo Ngô gia thế phả, Ngô Du (23) có chép 7 hồi : không biết có phải ông này soạn 7 hồi không ?
     
    4. Thượng Kinh kỷ sự ( chép việc lên Kinh đô ) của Lê Hữu Trác (24 )
     
    Sử Gia - Trừ các ông Pham Công Trứ, Lê Hi đã nói trong Chương thứ V, các sử gia trong thời kỳ Lê Trung Hung còn có :
     
    1. Hồ Sĩ Dương (25) làm lại ( trùng tu ) sách Lam sơn thực lục (25 bis ) chép việc vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh quân Minh (3 q.; tựa năm (1676) và soạn ra sách Lê triều đế vương trung hưng công nghiệp thực lục chép công việc xảy ra tự đời vua Lê Lợi đến năm vua Lê Gia tôn mất (1675) , thứ nhất là việc nhà Mạc chiếm ngôi và việc nhà Lê trung hưng (3 q.; tựa năm 1677 )
     
    2. Nguyễn Nghiễm (26 ) soạn ra sách Việt sử bị lãm ( xem đủ sử nước Việt ) trong ông cải chánh lại những chỗ sai lầm của sử cũ (7q.)
     
    3. Ngô Thi Sĩ (27) soạn ra sách Việt sử tiêu án ( nêu lên những điều phán đoán về sử nước Việt ) là sách khảo sát, phê bình các bản sử Nam cũ (đến năm 1418 ) và Hải dương chí lược hoặc ( Hải đông chí lược ) chuyên khảo về lịch sử, địa dư và nhân vật tỉnh Hải dương .
     
    4. Nguyễn Hoàn (28) soạn ra Đại Việt lịch triều đăng khoalục (29) liệt kê danh sách các người đỗ đại khoa ( thái học sinh, tiến sĩ …v.v. ) theo thứ tự các khoa thi tự năm 1075 về đời nhà Lý đến năm 1787 về đời Hậu Lê, mỗi tên người đỗ có kèm theo một tiểu truyện ngắn (4.q . tựa năm 1779; in lại về đời Tự Đức ) (30)
     
    5. Phan Huy Ôn (31) soạn ra sách Thiên Nam lịch triều liệt huyện đăng khao bị khảo trong chua ra từng huyện mà chép vè các người đậu tiến sĩ trong các triều vua (32) . Sách này khảo cứu rộng và xác thực, có nhiều sử liệu hơn sách Đăng Khoa lục trên và thuỷnh thoảng có phe bình nữa . Ông lại soạn ra quyển Khoa bản tiêu kỳ ( nêu những điều lạ trong việc thi đỗ ) , trong chia ra nhiều mục chép về các ông tiến sĩ đỗ trẻ, các ông đỗ đầu, các ông cùng một họ mà kế tiếp nhau đỗ hoặc đồng thời đỗ một khoa.
     


    Lê Quí Đôn; tác phẩm viết bằng Hán Văn và Việt văn của ông .
       


     
    Tiểu truyện : Lê Quí Đôn (1726-1784) , tự Doãn hậu, hiệu Quế đường, người xã Duyên hà, h. Duyên hà ( Thái bình ) , con cả Trung hiếu công Lê Phú Tử ( 1694-?1781 ?, đậu tiến sĩ năm 1724 , Lê Dụ Tôn, Bảo thái thứ 5 làm quan đến Hình bộ thượng thư ) . Ông nổi tiếng thông minh tự thuở nhỏ : năm 18 tuổi đậu giải nguyên ;  năm 27 tuổi (1752, Lê Hiển tôn, Cảnh hưng thứ 23), đậu bảng nhỡn ( tam nguyên )
     
    Ông làm quan về đời vua Lê Hiển tôn, bắt đầu bổ Hàn làm viện thị thư (1753) , rồi làm quan đến Công bộ thượng thư ( 1784 là năm ông mất ) . Khi thì ông làm quan ở trong triều, khi thì ông làm quan ở các trấn . Năm 1760-1762, ông có sang sứ bên Tàu, cùng với các văn sĩ Tàu và sứ thần Cao ly xướng họa , đuợc họ khen ngợi; lại đưa các sách đã soạn cho các danh sĩ Tàu xem và đề tựa . Năm 1769-1720, ông có dự vào việc đánh đồ đảng Lê Duy mật ở Thanh hóa, Nghệ an có công. Năm 1775, ông được cử làm tổng tài về việc tục biên Quốc sử với Nguyễn Hoàn ( xem chương VII) thọ 59 tuổi .
     
    Tác phẩm viết bằng Hán văn – Ông học thức rộng, kiến văn nhiều, lại khi sang sứ tàu , được xem nhiều sách lạ; nên ông trứ thuật rất nhiều . Có thể chia các tác phẩm của ông ra làm năm loại như sau:
     
    A)   Các sách bàn giảng về kinh, truyện :
     
    1)     Dịch kinh phụ thuyết ( Lời bàn nông nổi về kinh dịch ) 6. quyển .
     
    2. Thư kinh diễn nghĩa ( giảng nghĩa kinh thư ) 3 q. có tựa của tác giả đề năm 1772  và có khắc in
     
    B)    Các sách khảo cứu về cổ thư .
     
    1) Quần thư khảo biện ( xét bàn các sách ) có khắc in và có tựa của tác giả đề năm 1757 cùng với Chu Bội Liên ( người Tàu ) và Hồng Khải Hi ( sứ Cao ly đề năm 1761)
     
    2) Thánh mô hiền phạm lục ( chép về mẫu mực các bậc thánh hiền ) . 12 q., cũng có t. ưa của Chu Bội liên và Hồng Khải Hi đề năm 1761 , trong có dẫn các câu cách ngôn, danh ngôn trích ở các sách Tàu.
     
    3) Vân đài loạn ngữ ( Lời nói, chia ra từng loại, ở nơi đọc sách (33), 4q,. , mỗi mục lại chia làm nhiều điều; Trong mỗi mục, tác giả trích dẫn các sách Tàu ( cổ thư, ngoại thư ) nhiều quyển hiếm có,  rồi lấy ý riêng của mình mà bàn . Coi sách này thì biết tác giả đã xem rộng đọc nhiều .
     
    C)    Các sách sưu tập thi văn :
     
    1)     Toàn Việt thi lục ( chép đủ thơ nước Việc ) 15 q.
     
    Sách này ông phụng chỉ biên tập, dâng lên vua xem năm 1768 ( Lê Hiển Tôn, Cảnh hưng thứ 29 ) trong sưu tập thơ của các thi gia nước ta từ đời  Lý đến Hậu Lê, gần hai trăm nhà, mỗi nhà đều có một tiểu truyện ngắn : thật là một quyển sách quí để khảo     cứu về tiểu sử và tác phẩm của thi gia .
     
    2) Hoàng Việt văn hải ) Bể văn ở nước Việt của nhà vua), trong sưu tập các bài văn hay .
     
    D)   Các sách khảo về sử ký đại chí :
     
    1) Lê triều thông sử hoặc Đại Việt thông sử . Theo bài tựa của ông đề năm 1789 ( Lê Hiển Tông, Cảnh hưng thứ 10 ) thì chủ ý ông muốn chép một bộ sử theo thể “kỷ truyện ” (35) , trong có Đế kỷ ( chép việc nhà vua ) tự Lê Thái Tổ đến Lê Cung hoàng ( tự năm 1418 đến năm 1527 ) chỉ có phần Bản ký này là theo phép biên niên ); rồi đến các Chí là những thiên chuyên khảo về các vấn đề quan trọng và Liệt truyện chép tiểu truyện các nhn vật ; hậu phi, thế hệ ; công thần; tướng văn, tướng võ, nho gia ; tiết nghĩa; cao sĩ; liệt phụ ; phương kỹ ( những người có phương lạ thuật khéo ), ngoại thích ( người họ nhà vợ vua ) ; nịnh thần; gian thần; nghịch thần ; tứ di ( các nước mọi rợ ở xung quanh nước ta ) . Đó là theo lời ông đã nói trong bài tựa, nhưng không rõ ông đã kịp làm xong bộ ấy chưa. Dù sao chăng nữa, hiện nay chỉ còn truyền lại mấy phần như sau:
     
    a) Đế kỷ 2 q., tự năm vua Lê Lợi khởi nghĩa (1418) đến năm Thuận thiên thứ 6  (1433)
     
    b) Nghệ văn chí ( chuyện chép về sách vở văn chương ) 1 .q .
     
    c) Liệt truyện , có m ấy quyển : hoàng tử; danh thần (đời vua Lê Thái Tổ ) ; nghịch   thần (đời vua Lê Thái Tổ ) ; nghịch thần ( tự cuối đời Trần đến nhà Mạc ; tiểu sử các vua nhà Mạc từ Mạc Đặng Dung trở xuống, 1527 – 1677, đều chép ở phần này ) (36)
     
    2. Phủ biên tạp lục ( Chép lẫn lộn về chính trị cõi biên thùy ) 6 q. tựa viết năm 1767 , Sách này, ông soạn khi được phái vào làm Hiệp đồng kinh lý quân sự trong hai đạo Thuận háo, Quảng nam năm 1776, là một bộ sách chuyên khảo về lịch sử, địa dư, chính trị, phong tục của hai đạo ấy tức là các tỉnh phía giữa Trung kỳ ngày nay (37)
     
    3) Bắc sứ thông tục ( Chép đủ việc sang sứ Tàu ) 4.q . tựa năm 1763, trong ông chép các công văn, thư từ, núi sông, đường sá, chuyện trò, ứng đối trong khi sang sứ Tàu (1760-1762)
     
    4) Kiến văn tiểu lục ( chép vặt những điều thấy  ngh e) 12 q., tựa làm năm 1777 , ghi chép những điều ông thấy trong khi đọc các sách và thuộc về lịch sử hoặc văn minh nước ta tự cuối đời Trần đến đời tác giả, trong có rất nhiều tài liệu để kê cứu (38)
     
    E)    Các thơ văn
     
    1)     Quế đường thi tập các bài thơ đều có chú thích .
     
    2) Liên châu thi tập , 4q .. trong  có hơn bốn trăm bài thơ của ông cùng các thi gia khác và những bài trả lời của các thi sĩ Tàu và Cao Ly làm ông sang sứ Tàu .
     
    3) Quế đường văn tập , 4 q.
     
    Tác phẩm viết bằng Việt – văn - Về nôm nay chỉ có bài thơ nhan là “Rắn đầu biếng học ”, bài kinh nghĩa đề mục là “Vãng chi nhữ gia , tất kính tất giới , vô vi phụ tử ” ( Mày về nhà chồng phải kính phải răn, chớ trái lời chồng) và bài văn sách hỏi về câu “ Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công tô điểm má hồng răng đen”, vẫn truyền là của ông soạn ra, nhưng không được chắc lắm .
     
    Kết luận : Lê Quí Đôn thật là một nhà bác học về đời Lê mạt : một tay ông đã biên tập , trứ thuật rất nhiều sách. Tuy tác phẩm của ôngnay đã thất lạc mất ít nhiều, nhưng những bộ còn lưu lại cũng là một cái kho tài liệu để ta khảo cứu về lịch sử, địa dư và văn hóa của nước ta .
     
     

    Các Bài Đọc Thêm
     

    Loạn Kiêu Binh (39)



       
      (Nguyên chúa Trịnh là Trịnh Sâm ( 1767-1782) bỏ con là Trịnh Khải ( con thái phi Dương Ngọc Hoàn ) mà lập con thứ là Trịnh Cán ( con Đặng thị Huệ, sau phong làm Tuyên phi ) làm thế tử . Ngày 13 tháng 9 năm Lê Cảnh Hưng thứ 43 (1782) . Sâm mất, để di chiếu lập Cán làm chúa và Huy quận công hoàng Đình Bảo làm phụ chánh . Đảng Trịnh Khải bèn mưu với quân tam phủ nổi loạn để lập Khải lên .
       
      Bấy giờ đang ngày 24 tháng mười năm Nhâm dần (1782), quận Huy đã nghe biết, nói khắp ở trong triều rằng :
       
      Ngày mai sinh biến, tôi sắp chết, nhưng tôi chết cũng có năm ba người chế ttheo …
       
      Bấy giờ có người khuyên quận Huy mang chúa Cán trốn đi với quân ngoài để bắt đảng gian; có người khuyên mang dùng sĩ khí giới vào trong phủ để giữ mình .
      Quận Huy rằng:
       
      Lâu nay tập tục thường hay đồn sằng, vị tất đã có sự ấy ; phỏng có sự ấy, tôi cũng cứu ra, chẳng trốn đâu được ; nếu sự kíp lắm, thì ta là Phụ chính đại thần chỉ có cái chết mà   thôi .
       
      Đến tối vào nằm trong phủ, đầy tớ hầu vẫn như thường không dùng quân giữ gìn gì. Ngày hôm sau, lễ điện buổi sớm vừa xong, các quan lui ra chợt nghe trống trong phủ đường ba hồi chín tiếng . Các quan trông nhau sợ hãi. Quận Huy lập tức sai người đóng cửa gác , bắt được biện Bằng ( 40) , muốn sai đem chém ngay .
       
      Thùy trung (41) nói rằng:
       
      - Nó làm mưu ấy , hẳn không phải một người, bây giờ chém nó, sợ lũ gian nó lọt ra lưới phép, không bằng giao giam cung tra, cho tiệt gốc loạn đi .
       
      Quận Huy cũng nghe .
       
      Lại nói các quân nghe đoưọc trống hiệu ai cũng nhảy nhót cầm binh trượng tranh nhau vào phủ, thấy cửa gác đông, tiếng reo rầm trời đất .
       
      Quận Huy lập tức đòi Quận Châu (42 ) bảo rằng:
       
      - Cậu chức giữ quân lính, để cho nó vô phép như thế mà không cấm được, tôi tâu chúa để lấy đầu cậu đi .
       
      Quận Châu sợ hãi mà ra .
       
      Quận Huy mới tâu với Chúa Cán rằng:
       
      - Tôi chịu việc chúa trước phó thác cho tôi bảo hộ chúa , bây giờ ba quân nó sinh biến, tôi xin đem quân ra đánh, đoưọc thì nhờ oai linh chúa, thua thì tôi xin chết theo chúa trước . Vậy tôi xin lĩnh thanh bảo kiếm để đánh .
       
      Quan thị đưa gươm ra. Quận Huy quì lĩnh lấy gươm cưỡi voi ra đánh . Quận Châu đứng trong cửa gác, cách tường bảo các quân rằng :
       
      - Quân phải có lễ phép, bây giờ quân chúa còn quân trong phủ, không nên kinh động, có muốn nói gì, hãy về làm một tờ khai, tôi xin đề bạt hộ lên .
       
      Các quân hét to rằng:
       
      - Cậu cũng làm phải với quận Huy ư ? Cửa này không mở cậu không giữ được đầu đâu :
       
      Quận Châu mới sợ, mở ngay cửa ra . Các quân chen vai nhau mà vào . Bấy giờ Quận Huy đã cỡi voi ra giữa sân, cầm gươm trỏ ra nói rằng:
       
      - Ba quân bay không được rức lác, phải đâu về đấy, không thì tao chém đầu chúng bây !
       
      Các quân vẫn sợ thanh thuế Quận Huy, coi thấy cưỡi coi dữ dội, đều ngồi xuống cả, không dám nói gì . Một chốc mọi người đứng dậy cả .
       
      Quận Huy bảo rằng:
       
      - Đứa nào đứng dậy thì chém !
       
      Bấy giờ một nửa ngồi một nửa đứng, những người đứng xông lên trước đầu voi, rồi những người ngồi cũng đúng dậy . Quận Huy thúc voi ra đánh , các quân tránh ngà voi, chạy chung quanh, người thì lấy gươm mà chém, người thì lấy gạch ném voi . Voi cuốn vòi phục xuống gầm lên , không dám cuốn người . Quận Huy dương cung b’ăn ra, dây cung đứt . Bỏ đạn vào súng thì lửa tắt. Các quân mới lấy câu liêm lôi quản tượng xuống mà chém  . Con voi đứng dậy, các quân đi quanh chân voi. Voi chật đường không động được nữa, các quân mới lôi Quận Huy xuống đánh chết đi , m bụng lấy gan ăn, bỏ thây ngoài của Tuyên võ .
       
      Em Quận Huy là Trung Vũ nghe tiếng đến cứu. Mới đến cửa chùa Báo thiên, các quân bắt lại, lấy gạch ở đường đánh chết, vất xuống hồ thủy quân . Anh em Quận Huy chết rồi, các quân vui reo như sấm. Đến nhà Tả xuyên cùng đem Trịnh Khải ra giữa phủ đường, để lên trên vai . Các quan đứng chung quanh . Bấy giờ vội vàng, chưa có sập ngồi , để tạm lên trên mâm thờ tám người đội, lấy tay đỡ mâm để lên trên đầu, lúc cao lúc thấp , các quân đều vỗ tay reo mừng . Quận Châu cầm cờ phất ở trên phủ đường , đánh trống thu quân hơn một trống canh mới yên .
       

       
      Ngô Thi Chí
      Hoàng Lê nhất thống chí ( Hồi thứ hai )
      Cát Thành dịch
      (Cát thành thư quán Hà Nội )
       



       
      2 . Phủ chúa Trịnh ở Thăng long
       


       
                  Tôi liền sắm khăn áo ra lên vòng để đi vào trong phủ .  Bấy gìờ người dịch mục đi trước hét đưòng, võng thì khiêng chạy như ngựa lồng, tôi bị nó làm xốc xáo một mẻ nhọc mệt đến khổ . Vào cửa hậu rồi theo người đưa đi qua hai lần cửa nữa, theo con đường bên tay tả mà đi, rồi ngẩng đầu lên trông thì thấy tứ phương bát diện chỗ nào cũng những cây cối rườm rà chim kêu díu dít, những đóa danh hoa đua nở, gió thoảng đưa nhang qua những dẫy hàng lang, câu lơn khúc chiết, bức nọ liền vời bức kia, hai bên câu đối như một; những tên gác cửa truyền bảo dộn dã, người làm việc đi lại đông như mắc cửi, lính thị vệ thì canh giữ cửa cung, ai ra vào phải có thẻ .
       
                  Đi được độ vài trăm bước, qua mấy lần cửa ngăn mới đến cái điếm Hậu mã quân túc trực, đếm làm ở bên một cái hồ lớn, có những thứ cây lạ lùng và những đá non bộ kỳ quái, kiểu điếm thì cột với bao lơn lượn ra ngoát vào xem có một cách kỳ xảo . Quan Chánh đường (43) khi nào thoái triều thì ra nghỉ ngơi ở đấy để túc trực ; thấy tôi đến, ông bảo quan Truyền chỉ rằng : “ Chiều hôm qua tôi đi lâu rồi, Thánh thượng ngự ban cho ông này vào chầu và xem mạch cho đức Đông cung thế tử (44)” Nói rồi, ông đi với quan Truyền chỉ, bảo tôi đi tùy hành và cho mấy tiểu hoàng môn đi theo . Đi đến một cửa lơn, lníh thị vệ thấy tôi ăn mặc lạ con mắt thời giữ lại, quan Truyền chỉ nói : “ Có Thánh chỉ tuyên triệu ” họ mới cho đi . Đi sang dẫy hàng lang mé tây qua một cái nhà rất cao lớn rộng rãi, hai bên bày hai cỗ ngự kiện, những đồ nghi trượng thiếp vàng nuột cả ; giang gia kê một cái sập ngự thiếp vàng, trên sập mắc một cái võng điều, đàng trước sập và hai bên tả hữu thời bày tinh những kỷ án và đồ chơi mà nhân gian ta chưa từng thấy bao giờ . Tôi chỉ liếc mắt trong qua rồi cúi đầu mà đi . Lại qua lần bích môn nữa đến một cái gác   vừa cao vừa rộng, trong gác ấy bao nhiêu gường cột từ trên dưới đều sơn son vẽ vàng cả . Tôi hỏi nhỏ quan Truyền chỉ, ông nói : “Cái nhà đao góc vừa mới đi qua là Đại đuờng mà đây là Tử các, nay đức Thế tử đến ở đây để ngự trà , cho nên gọi là phòng trà; vì kiêng gọi thốc mà gọi là trà ”
       
       

      Lê Hữu Trác
      Thượng Kinh kỷ sự
      Nguyễn Trọng Thuật dịch
      (trong một tập du ký của cụ Lãn ông )
      (Nam phong tạp chí , t. XIII , số 78 )
       
       
       

      Các tác phẩm để kê cứu


       
      1. Sources
      2. BA
      3. Chap, bibi
      4. Hch, q. 8, 11, 42, 44
      5. Lt,. Bản dịch của Phan Kế Bính trg. ĐDTC, Lớp mới : Nguyễn Cư Trinh, tr. 42: Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ, tr. 45.
      6. Đông hồ, Hà tiên Mạc thị sử , NP., t. XXV, tr. 322 tđ.
      7. Nguyễn Trọng Thuật, một nhà danh nho và danh y của nước ta ngày xưa: cụ Lãn ông, NP., t. XII, tr. 191 tđ., 290 tđ .
      8. Lê Quế Đường tiên sinh tiểu sử NP., t XXV , phần chữ nho,, tr 46 tđ,. , 58 tđ.
       

      Các Bản Dịch


       
      1. Bùi Huy Bích Lữ trung tập thuyết, Tuyết trang Trần Văn Ngoạn trích dịch trong mục   Tồn cổ lục ( NP ., t. IV. Tr. 53 tđ )
       
      2. Hoàng Lê nhất thống chí diễn nghĩa, traduit en quốc ngữ par Cát thành, Hà nội, Cát thành thư quán , in lần thứ hai .
       
      3. Lê Hữu Trác, Thượng Kinh kỷ sự, Bản dịch của Nguyễn Trọng Thuật : một tập du ký   của cụ Lãn ông. Thượng Kinh kỷ sự ( NP,. t. XIIỊ 369, 459 , đ., - ị XIV, tr. 37, 122, 416 tđ., - t. XV, tr. 64 , 226 tđ., )
                 

       



      [/align] 
      Chú Giải
       
      (1)Phùng Khắc Khoan (1528-1613), tự Hoằng phu hiệu Nghi trai, Người Xã phùng xá ( nay là Phùng Thôn ) huyện thạch thất, Sơn tây ) Lúc nhà Mạc chiếm ngôi, ông vào Thanh hoá, thi đậu Hương cống và theo giúp Vua Lê. Năm 53 tuổi (1580 , Lê Thế tôn, Quang Hưng thứ 3 ) ông đậu tiến sĩ làm quan đến Hộ bộ thượng thư, tước Mai quận công, có sang sứ Tàu năm 1597. Thọ 86 tuổi. Ông có soạn Ngư phủ nhập đào nguyên truyện ( Truyện người đánh cá vào suối hoa đào bằng quốc âm )
       
      (2) Đặng Thụy (1649-1735) , tự Đình tương hiệu Trúc ông hoặc Trúc trai tiên ông, người xã Lương xá, huyện Chương đức ( nay là huyện Chương mỹ, Hà đông ) đậu tiến sĩ năm 22 tuổi  (1670, Lê Gia Tôn, Cảnh trị thứ 8 ), có sang sứ Tàu năm 1697 , làm quan đến Đại tư mã Quốc lão . Thọ 87 tuổi .
       
      (3) Nguyễn Đăng Đạo (1651-1719) sau đổI tên là Đăng Liên người xã Hoài bão (nay là Hoài an ), Huyện tiên du ( Bắc ninh ), đậu trạng nguyên năm 38 tuổi (1683, Lê Hi Tôn Chính Hòa thứ 4 ) làm quan đến Binh bộ thượng thư, được phong tước bà, có sang sứ Tàu năm 1697.  Thọ 69 tuổi .
       
      (4)Tinh Sài ( bè sao ): điển lấy trong Kinh Sở tuế thời kỳ : Trương Khiên cưỡi bè tmì nguồn sông Hồng Hà .
       
      (5) Nguyễn Công Hãng (1680-1732) , Tự Thái Thanh, hiệu Tĩnh am người xã Phù chẩn, huyện Đông ngạn ( nay là phủ Tứ Sơn, Bắc ninh ) đậu tiếng sĩ năm 21  (1700-, Lê Hi Tôn, Chính hoà thứ 21 ) làm quan đến Lại bộ thượng thư, có sáng sứ Tàu năm 1718 . Năm 1732 , bị biếm và bắt phải tự tận . Thọ 53 tuổi .
       
      (6) Hồ Sĩ Đống (1739-1785)  sau đổi tên là Sĩ Đồng tự Long cát hiệu Long phủ, dnòg dõi Hồ Tôn Thốc người xã Hoàn hậu huyện Quỳnh Lưu ( Nghệ An ), đậu tiếng sĩ năm 34 tuổi (1782, Lê Hiển Tôn, Cảnh hưng thứ 3 ) làm quan đến thượng thư, Tước Dao iđ`nh hầu, có sang Tàu năm 1777, thọ 47 tuổi .
       
      (7) Ngô Thì Ức (1690-1736) hiệu Tuyết Trai, cha Ngô Thi Sĩ người xã  Tả thanh oai, huyện Thanh oai ( Hà Đông ) , đậu hương cống, đi thi hội hỏng, ở nhà không làm quan …Tập thơ thứ nhì, ông làm khi đi chơi huyện Đông quan ( nay thuộc tỉnh Thái bình )
      (8) Đặng Trần Côn, người xã Nhân mục ( tên nôm là Mọc ) huyện Thanh trì ( Hà o^ng ), ở vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ XVIII , làm tri huyện Thanh oai ( Hà đông ) năm 1740 đời Lê Hiển tôn . Ông còn soạn một quyển tuyết thuyết nhan là Bích câu kỳ       ngộ  .
       
      (9) Trịnh Doanh (1720-1767) : tức là Minh đô vương, làm chúa tự năm 1740 đến 1767 .
       
      (10) Tập thơ này ông soạn ra từ khi còn làm thế tử đến năm 1769 chia làm 4 mục : 1. Thừ phụng ; 2 . Ban tứ ; 3. Cảm hứng ; 4. Đề vinh .
       
      (11) Trịnh Sâm (1734-1782) : tức là Tĩnh đô vương làm chúa tự năm 1767 đến năm 1782 .
       
      (12) Xem tiểu truyện ở Chương  VII, lời chú (9)
       
      (13) Tập văn này chia làm ba loại : 1. Lệ ngữ loại ( loại văn có đối ); 2. Tản văn ( loại văn xuôi ); 3. Thư trát loại ( loại thư tứ )
       
      (14) Bùi Huy Bích (1744-1818) tự Hi chương, hiệu Tồn am và Tồn ông , tước Kế liệt hầu, người xã Địch công, huyện Thanh Trì, Hà đông, ở xã Thịnh liệt ( nay là tổng,    thuộc Hà Đông ), đậu nhị giáp tiến sĩ năm 26 tuổi (1769, Lê Hiểu tôn, Cảnh hưng thúu 30 ), làm đốc đồng Nghệ an tự năm 1777 đến năm 1781 . Năm 1786, ông đem quân đi chống với quân Tây Sơn , bị thua trận, . Năm Sau, khi vua Lê Chiêu Thống lên ngôi ông cáo bệnh về lánh ẩn trong vùng Sơn tây, Hải dương . Đến khi vua Gia Long lên ngôi, ông trở về Hà nội , nhưng không ra làm quan . Thọ 75 tuổi .
       
      (15) Mạc Thiên Tích ( + 1780) , nguyên là Mạc Tứ , sau mới đổi là Mạc Thiên Tích; tự Sĩ lân, con Mạc Cửu , làm đô đốc trân Hà tiên tự năm 1735 . Nam 1775, khi chúa Nguyễn là Định vương phải bỏ thành Phú xau^n chạy vào Gia định , ông đi theo giúp .   Đến khi Định vương bị quân Tây sơn bắt (1777) , ông chạy sang Tiêm la, roT^`u sau tự tử ở bên ấy . Khi ông còn ở Hà tiên, ông có hợp các văn nhân lập thành Chiêu anh các để cùng nhau xướng họa .
       
      (16) Mười cảnh ấy là : 1 ( sóng lớn Kim dữ ) 2. ( cây rậm Bình san ) ; 3. ( chuông sớm chùa Tiêu ) ; (trống khuya Giang thành ) ; 5. ( Thạch động nuốt mây ) (cò sa Châu nham ); 7 (trăng in Đông Hồ ) (nước sông Nam phố ) ; 9 . (xóm ở núi Lộc ) (bến cá khe Lư .)
       
      (17) Nguyễn Cư Trinh ( 1716-1767) , hiệu Đạm am; tổ tiên vốn người phường Phù lưu, huyện Thiên lộc ( nay là huyện Can lộc, Hà tĩnh ), sau đời vào ở xã An hòa , huyện Hương Trà ( Thừa Thiên ), đỗ hương tiến, làm quan trong hai đời chúa ( Võ vương và Đinh vương ) đến Lại bộ kiêm Tào vận Sứ . Có tài thao lược và có công trong việc đánh rợ Thạch bích ở Quảng Ngãi và việc đánh Chân lạp . Thọ 52 tuổi .
       
      (18) Vũ Phương Đề, tự Thuần phủ người xã Mộ trạch , huyện Đường an ( nay là phủ Bình Giang , Hải dương ) , đậu tiến sĩ năm 39 tuổi (1736, Lê Ý Tôn, Vĩnh hựu thứ 2 ) làm quan đến Đông các học sĩ .
       
      (19) Theo sách Hch, q . 45 , quyển Công dư tiệp ký có 43 truyện chia làm 12 loại : 1. Thế gia ; 2 . Danh thần ; 3 . Danh nho ; 4 . Tiết nghĩa ; 5. Chí khí ; 6. Ác báo ; 7. Tiết phụ ; 8. Ca nữ ; 9. Thần Quái ; 10. Âm phân dương trạch ( mồ mả nhà ở ); 11. Danh thắng ( Cảnh đẹp ) ; 12. Thú loại ( loại thú ).
       
      (20) Bản in sách Tục truyền kỳ năm 1811 (Gia long thứ 10 ) ở Lạc thiên đường có  đề Truyền kỳ tân phả, bà Phu nhân họ Đoàn, hiệu Hồng hà người Văn giang làm , có lời phê bình của anh, hiệu Tuyết am tự Đạm như phủ. Lại theo sách Nam sử tập biên . q.5 , thì bà là em ông giám sinh Đoàn Luân, người xã Hiến phạm, huyện Văn giang ( Bắc ninh ) . Vậy  bà chính họ là Đoàn nhưng vì bà lấy chồng họ Nguyễn, nên có sách chép là   Nguyễn thị Điểm và cho bà là em gái ông Nguyễn Trác Luân, người h. Đường Hào, Hải   dương (nay là h. Mỹ hào, Hưng yên ) . Bà lấy lẽ ông Nguyễn Kiều , đậu tiếng sĩ năm 1715 (Lê Dụ Tôn, Vĩnh Thịnh thứ II) người h. Từ Liêm  ( nay là p. Hoài đức, Hà đông )
       
      (21) Sáu truyện ấy là : Bích câu kỳ ngộ; Hải khẩu linh từ ; 3. Hoành Sơn tiên cục ; 4. Vân cát thần nữ ; 5. An áp liệt nữ ; 6. Nghĩa khiển khuất miêu .
       
      (22) Ngô Thì Chí, tự Học tốn hiệu Uyên mật, con Ngô Thi Sĩ, làm quan đời Lê mtạ, theo vua Lê Chiêu thống chạy đến Chí linh ( Hải dương ) . Vua sai lên Lạng sơn tụ   tập đồ đảng; đi đến h. Phượng nhỡn ( nay thuộc Bắc giang ) ông ốm, rồi mất ở h. Gia bình, nay thuộc Bắc ninh ) . Ông có soạn những tập thơ văn chép trong Ngô gia văn phái .
       
      (23) Ngô Du là Trưng phủ , hiệu văn bắc, điệt của Ngô Thi Sĩ . Xem Chương V,    lời chú (9)  . Ông làm đốc học Hải dương . Thọ 69 tuổi . Có viết thơ văn chép trong Ngô gia văn phái .
       
      (24) Lê Hữu Trác : nhất danh là Lê Hữu Huân , hiệu Lãn ông hoặc Hải thượng Lãn ông tục gọi là Chiêu Bảy ( vì ông là con thứ bảy quan thượng thư Lê Hữu Kiều ), người xã Liêu xách, Đường hào ( nay thuộc Yên mỹ, tỉnh Hưng yên, năm 1782 ( Lê Hiểu tôn Cảnh hưng thứ 43 ) Ông đương ở xã Tinh diễm h. Hương sơn ( nay thuộc Hà tĩnh thì chúa Trịnh Sâm triệu ông ra Kinh đô ( Hà nội ), nhân đó ông soạn tập kỷ sự trên . Ông là bậc danh nho và danh y đời bấy giờ, ông có soạn mấy bộ sách thuốc ; Lãn ông y tập hoặc Hải thượng y tông tâm lĩnh toàn trai, 63 q. + đầu + q. cuối là tập Thượng Kinh kỷ sự nói trên ( theo bản khắc in lại năm 1885 )
       
      (25) Hồ Sĩ Dương (1621-1681) : dòng dõi Hồ Tôn Thốc , người xã Hoàn hậu, h. Quỳnh lưu ( nghệ an ) đậu tiến sĩ năm 1652 (Lê Thần Tôn, Khánh đức thứ 4 ) làm quan đ’ên Binh bộ thượng thư, Quốc sử tổng tài, có sang sứ Tàu năm 1673  và có dự vào việc biên tu bộ Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên năm 1663 -1665 do Phạm Công Trứ đứng làm ổng tài ( xem chương VII )
       
      (25 bis ) Nguyên sách này vua Lê Thái Tổ sai làm tự năm 1431 ( Thuận thiên thứ 4 ) , nhưng về hồi nhà Mạc chiếm ngôi, sách ấy bị đốt cháy hầu hết, nên đến niên hiệu Vĩnh trị ( 1676-1679) đời vua Lê Hi tôn, mới sai ông cùng với mấy sử thần nữa làm lại. Nhưng theo văn nghệ chí của Lê Quí Đôn thì ông thay đổi thêm bớt nhiều quá đến mất cả nguyên văn đi .
       
      (26) Nguyễn Nghiễm : xem tiểu truyện ở Chương V, lời chú (10)
       
      (27) Ngô Thi Sĩ : xem tiểu truyện ở chương VII, Lời chú (9)
       
      (28) Nguyễn Hoàn xem tiểu truyện ở Chương VII, lời chứ (11)
       
      (29) Sách này ông cùng soạn với các ông Vũ miên xem tiểu truyện ở Chương VII. Lời chú (13), Phan Trọng Phiên và Uông Sĩ Lãng .
       
      (30) Về triều Nguyễn danh sách các tiến sĩ và phó bảng chép trong bộ Quốc triều ađng khoa lục ( hoặc Quốc triều Khoa bản lục của Cao Xuân Dục , chép tự năm 1822 đến năm 1892 (3q.; tựa năm 1893,  in năm 1891 ); và danh sách các cử nhân trong Quốc triều hương khoa lục cũng của Cao Xuân Dục chép tự năm 1707 đến năm 1891 (5q.; in năm 1893)
       
      (31) Phan Huy Ôn (1755-1786): trước tên là Huy Uông tự Trọng dương hiệu Nhã hiên  sau đổi là Huy Ôn, tự Hòa Phủ hiểu Chỉ am người xã Thu hoạch , huyện Thiên lộc ( nay là huyện Can lộc, Hà tĩnh ) đậu tiến sĩ năm 1780 ( Lê Hiển Tôn, Cảnh hưng 41 ), làm           đốc đồng Sơn tây  và Thái nguyên , tước Mỹ xuyên bá .
       
      (32) Sách này gồm có 6 tập : 1. Kinh bắc ( Bắc ninh ) Bắc giang, Phúc yên ); 2 . Sơn nam ( Hà đông, Hưng yên, Hà nam, Nam định, Thái bình ) ; 3. Sơn tây ( Sơn tây, Hà đông, Vĩnh yên, Phú thọ ) ; 4. Hải dương ( Hải dương, Hưng yên, Kiến an, Thái nguyên, Tuyên quang, Hưng hóa  ( Phú thọ ) , Thuận hóa ( Trung kỳ ) An quảng ( Quảng yên và các vùng lân cận ). Phụng thiên ( Hà nội ); 5 Thanh hóa và Ninh bình ; 6. Nghệ an và Hà tĩnh )
       
      (33) Vân là một thứ cỏ dùng để giữ nhạy khỏi cắn sách . Bởi thế gọi sách là vân  biên và gọi thư viện hoặc nơi đọc sách là vân đài vân thự .
       
      (34) Chín mục ấy là : 1. Lý khí ( lý khí trời đất ), 2. hình tượng ( hình tượng trăng sao, núi sông ) , 38 điều ; 3. Khu vũ (địa dư ) 93 điều; 4. Điền vựng (điển lệ ), 120 điều ; 5. Văn nghệ ( văn chương ) , 48 điều; 6. Âm tự ( tiếng và chữ ) 111 điều; 7. Thư tịch (sách vở ), 107 điều ; 8 . Sĩ quí ( phép làm quan ) . 7 điều ; 9. Phẩm vật (đồ dùng và vật   loại ) , 320 điều , cộng là 951 điều .
       
      (35) Cách chép sử của Tàu hồi xưa có hai thể : 1. biên niên ( chép các việc theo năm tháng ; 2. kỷ truyện ( chia làm kỷ chép công việc của nhà vua và truyện chép liệt truyện của các nhân vật ). Thể  biên niên bắt đầu từ sách Tả truyện ; thể kỷ truyện bắt đầu từ bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, một sử gia đời Hán. Bộ này chép từ đời Hoàng Đế đến đời Hán Vũ đế , chia làm Kỷ để chép về các đế vương, niên biểu để kê năm tháng, thư để chép chính sư, thế gia để chép về công hầu, liệt truyện để chép về sĩ thứ . Một bộ Sử lớn nữa của Tàu cũng chép theo thể kỷ truyện là bộ Tống sử của Tháo Khắc Thác đời Nguyên phụng sắc vua soạn, gồm có bản kỷ, chí , biểu, Liệt truyện . Theo đấy thì biết Lê Quí Đôn muốn phỏng theo bộ Tống sử mà chép bộ Lê Triều thông sử của ông .
       
      (36) Theo sách Hch, q. 42, thì Lê Quí Đôn còn soạn bộ Quốc sử lục biên , , 8 q. chép sử tự năm vua Lê Trang Tôn trung hưng (1533) đến hết đời vua Lê Gia Tôn (1675), nhưng hiện nay bộ ấy không thấy truyền lại ; có lẽ sáp nhập bộ Đại Việt sử ký tục biên ( Xem Chương VI) chăng ?
       
      (37) Sách Phủ biên tập lục có các mục sau này: 1. Lịch sử việc khai thác và khôi phục hai đạo Thuận, Quảng, cùng liệt kê tên các phủ , huyện, xã ; 2. núi song, thành trì, đooừng sá ; 3. Ruộng đất , thuế khóa ; quan chế, bình chế trấn dinh ; 4. Việc cai trị đất thượng du; thuế đò; thuế chợ ; kim khoáng; vận tải ; 5. Danh nhân ; thi văn ; 6. Thổ sản ; phong tục
       
      (38) Các mục trong bộ Kiến văn tiểu lục : là Châm cảnh ( khuyên răn ) (q. 1 ) ; Thể lệ  ( q . 2-3)  ; Thiêng chương ( thiêng và chương nói về thơ văn ( q. 4 ) ; Tài phẩm ( những bậc có tài đức ( q.5 ) ; Phong vực ( bờ cõi ) ( q. 6-8 ); Thiền dật ( những bậc ẩn dật ở nơi chùa chiền ( q.9 ); Linh dật ( những bậc ẩn dật đi tu tiên )  ( q. 10 ) ; Phương thuật ( các phép thuật ) (q. 11 ) ; Tùng đàm ( những câu chuyện gom góp )(q.12 )
       
      (39) Kiêu binh : quân lính kêu căng. Từ khi họ Trịnh làm chúa, các quân túc vệ ở kinh đô chuyên dùng lính ba phủ ở Thanh Hóa và 12 huyện ở Nghệ An gọi là ưu binh ( bơ/I thế lính ưu binh ở Thanh, Nghệ cũng gọi chung là lính tam phủ ) . Bọn lính ấy thường cậy công, kiêu hãnh, làm nhiều điều trái phép , nên gọi là kêu binh .
       
      (40) Biện Bằng : tức là Nguyễn Bằng, làm biện lại đội quân Tiệp oánh, người làng Nam hồ, huyện Nam đường, xứ Nghệ an, là người thủ xướng việc khởi loạn, đoạn bọn kiu êbinh tôn làm mưu chủ .
       
      (41)Thùy Trung : Tức là Tạ Danh Thùy , hoạn quan, người xã Khương thượng huyện Yên mô ( Nay thuộc huyện Yên khánh, Ninh Bình )
       
      (42) Quận Châu : tức là Lê Đình Châu .
       
      (43) Quan chánh đường: tức là Huy quận công Đình Bảo, trước tên là Đang Bảo, sau đổi là Tố Lý, lại đổi là Đình Bảo, người xã Phụng công, huyện văn giang ( Bắc Ninh ), điệt của Hoàng Ngũ Phúc, năm 1777 làm trấn thủ Nghệ an ; năm 1778, được Trịnh Sâm tin dùng cho coi việc phủ chúa và lĩnh chức trấn phủ Sơn nam ; sau khi Sâm mất, giữ chức phụ chánh, bị quân tam phủ nổi loạn giết chết .
       
      (44) Thế tử : tức là Trịnh Cán, con Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ .
       
       
       
       
       
       
       

      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 16:17:39diên vỹ>
      Chương Thứ Mười
      VIỆT - VĂN TRONG THỜI - KỲ LÊ TRUNG – HƯNG
       
       
      Trong đời Lê Trung - hưng, Việt - Văn phần nhiều cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh; hoặc là thơ văn do những nhân vật có liên lạc đến lịch sử soạn ra, hoặc là tác phẩm lấy những công việc, tình trạng đương thời làm đề mục. Trước hết ta xét chung về nền văn nôm trong thời kỳ ấy, sau ta sẽ xét riêng về ba tác phẩm trường thiên là Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc Hoa tiên truyện .

      1. Các nhà viết văn nôm và các tác phẩm

      Các nhà viết văn nôm . - Trong các nhà viết văn nôm về thời kỳ ấy, ta phải kể :

      1.) Nguyễn Bá Lân (1), rất giỏi về nghề phú, có soạn ra những bài Giai cảnh hứng tình phú. Ngã ba Hạc Phú, Trương Lưu hầu phú .

      2.) Đoàn Thị Điểm (2) dịch khúc Chinh phụ ngâm (nguyên văn chữ nho của Đặng Trần Côn ; (xem chương thứ IX) ra lời ca song thất (sẽ nói rõ ở mục sau.

      3.) Nguyễn Hữu Chỉnh (3), một nhân vật có liên lạc mật thiết với lịch sử nước ta về buổi Lê mạt, cũng là một tay hay nôm; ông có soạn một tập thơ khi còn hàn vi nhan là Ngôn ẩn thi tập , tập Cung oán thi và bài Quách Tử Nghi phú. (4)

      4.) Nguyễn Gia Thiều , tước Ôn như hầu (5), tác giả Cung oán ngâm khúc (sẽ nói rõ ở mục sau .

      5.) Nguyễn Huy Tự (6) tác giả Hoa tiên truyện (sẽ nói rõ ở mục sau ).

      6.) Nguyễn Huy Lượng (7), truớc thờ nhà Lê, sau thờ Tây Sơn. Ông có soạn bài Tụng Tây hồ phú, trong ông mô tả và khen ngợi phong cảnh Tây hồ (Hà nội ) và kết lại tán tụng công đức nhà Tây Sơn .

      7.) Phạm Thái (8), vốn có chí khôi phục nhà Lê, sau khi được xem bài phú trên, bèn theo đủ 85 vần của bài ấy mà làm bài Chiến Tụng Tây hồ phú , để công kích thái độ của Nguyễn Huy Lượng. Ông còn soạn nhiều văn thơ nôm và một cuốn truyện nôm nhan là Sơ kinh tân trang, lược gương kiểu mới ;(soạn năm 1804) trong ông kể cuộc tình duyên trắc trở của ông với nàng Trương Quỳnh Như .

      Các tác phẩm có liên lạc với lịch sử . - Trừ các văn gia kể trên, trong thời kỳ ấy, còn có nhiều tác phẩm có liên lạc mật thiết với lịch sử lúc bấy giờ.

      1.) Ngoạ Long cương của Đào Duy Từ (9) là bài văn lục bát ông làm khi còn hàn vi để tỏ chí hướng mình muốn đem tài trí ra giúp chúa Nguyễn, trong tự ví mình như Chư Cát Lượng bên Tàu khi còn ở ẩn núi Ngọa Long (con rồng nằm ) trước khi vua Lưu Bị vời ra làm tướng .

      2.) Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh (10). Năm 1780 (đời Võ vương), ông đương làm tuần phủ Quảng ngãi, có bọn mọi Thạch bích (vách đá ) làm loạn, ông định đem quân đi đánh, có nhiều người ngại lam chướng hiểm trở, can ông đừng đi, ông mới soạn bài văn đối thoại này làm theo thể vè và dùng lời sãi vãi nói chuyện để khuyến khích bọn đồng liêu không nên ham cảnh yên vui mà ngại sự gian nan nguy hiểm .
       
      3.) Hoài nam khúc ( khúc hát nhớ phương Nam ) của Hoàng Quang (11), soạn giữa lúc      đức Nguyễn Ánh đương đánh nhau với Tây sơn ở Gia định, trước kể công nghiệp của các chúa Nguyễn đã khai thác cõi Nam , rồi nhắc lại việc Trươcng PhúcLoan chuyên queyèn làm bậy gây nên cái loạn Tây sơn, cuối cùng nói đ’ên lòng người đang chán ghét nhà Tây sơn và tưởng nhớ cựu triều , lời văn rất là bi ai hùng tráng. Bài ấy truyền vào trong Nam,   đức Nguyễn Ánh sai tuyên bố cho quan quân được biết.
       
      4.) Bài văn tế vua Quang Trung và bài văn Khóc vua Quang Trung của bà Ngọc Hân (12) viết khi chồng bà là Nguyễn Huệ mất (1792)
       
      5.) Bài văn tế phò mã Chưởng hậu quân Vũ Tinh và Lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Chu ( hai ông tử tiết ở thành Bình định năm 1801) và Hồi loan khởi ca ( khúc hát mừng xe nhà vua thắng trận về ) của Đặng Đức Siêu (13)
       
      6.) Bài văn tế trận vong tướng sĩ của quan Tiền quân Nguyễn Văn Thành đọc khi tế các toưóng sĩ đã chết trong trận hồi theo vua Gia Long đánh dẹp các nơi . Trong bài, lấy cái cảm tình một ông võ tướng mà dãi bày công trạng anh hùng của kẻ đã qua, thổ lộ tấm lòng thương tiếc của người còn lại , lời văn thống thiết, giọng văn hùng hồn, thật là một bài văn tế rất hay .
       
      2. – Ba tác phẩm trưòong thiên: Chinh phụ, Cung oán, Hoa tiên .
       
      Trong đời Lê trung hưng, có ba tác phẩm trường thiên đã chiếm một địa vị đặc biệt trong nền văn nôm cũ của ta . Vậy ta phải xét riêng mấy tác phẩm trong mục này .
       
      Chinh Phụ Ngâm -  Nguyên văn khúc này do Đặng Trần Côn (14) viết bằng chữ nho vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ XVIII. Bấy giờ, đương đời Lê Hiển Tôn, nhân trong nước loạn lạc, quân lính phải đi đánh dẹp các nơi, ông thấy những cảnh biệt ly trong dân gian bèn soạn ra khúc này , làm ra lời than vãn của một người đàn bà còn trẻ tuổi mà chồng đi lính xa lâu không về . Cảnh biệt ly, tình nhớ thương, nỗi lo cho chồng phải xông pha trận mạc, nỗi buồn cho mình phải lẻ loi lạnh lùng, bao nhiêu tâm sự của một người thiếu phụ vắng chồng mà biết thủ tiết đều tả rõ cả ; rồi kết lại ý mong cho chồng lập nên công danh và chóng trở về để lại được sum vầy như xưa . Khúc này viết theo thể thơ “troừong đoản cú ” (câu dài câu ngắn xem lẫn nhau, có câu chỉ có 3 chữ, có câu dài đến 11 chữ ) trong có nhiều câu muợn các bài Nhạc Phủ (15) của Tàu, thứ nhất là của Lý Bạch, vì cái đề mục ấy, các thi sĩ nước Tàu và nước ta từng đem ra ngâm vịnh .
       
      Khúc này soạn xong, được nhiều bậc danh sĩ đương thời khen hay . Có nhiều nhà ( như Phan Huy Ích , Đoàn Thị Điểm ) đem dịch ra lời nôm . Trong các bản dịch ấy, bản của bà
      Đoàn Thị Điểm (16) hay hơn cả, nên còn truyền đến giờ . So bản dịch của bà với bản chữ nho thì thấy văn dịch rất sát nghĩa nguyên văn mà lời văn êm đềm ảo não , rõ ra giọng một người đàn bà buồn bả, nhưng có vẻ thê lương hơn vẻ đau đớn ; không đến nỗi réo rắt sầu khổ như giọng văn Cung oán; thật là lời văn hợp với cảnh vậy . Bản dịch viết theo thể “song thất ” . Có nhiều đoạn đặt theo lối “liên hoàn ”: ;những chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, thật hợp với tình buồn liên miên không dứt của người chinh phụ .
       
      Cung oán ngâm khúc – Khúc này do Nguyễn Gia Thiều , tước Ôn như hầu (1741-1798) viết ra theo thể “song thất lục bát ”. Đề mục tác giả chọn đây có lẽ không liên lạc gì với thân thế của ông (17) và các việc xẩy ra ở trong nước lúc bấy giờ . Duy ta nhận thấy có nhiều thi sĩ đương thời cũng đem đề mục ấy ra ngâm vịnh (18)
       
      Tác giả làm ra lời một người cung phi có tài sắc, trước được vua yêu chuộng, nhưng không bao lâu bị chán bỏ, than thở về số phận mình . Tác giả đã khéo vẽ nên hai bức tranh: một bức tả cảnh rực rỡ, vui sướng khi nàng được vua yêu, một bức tả những nỗi
      buồn tẻ âu sầu khi nàng bị vua bỏ . Rồi kết lại cái ý rằng sợ khi vua có lòng nghĩ lại thì giữ sao được nhan sắc như xưa .
       
      Tác giả chịu ảnh hưởng Phật học rất sâu, nên trong một đoạn khái luận về thân thế con người ta ở đời ( câu 45-116) tác giả đà đem cái ý tưởng của đạo Phật mà diễn đạt ra ( cuộc đời là biển khổ ; phú quí vinh hoa đều như giấc mộng; muốn được thảnh thơi sung sướng phải dút mối thất tình mà đi tu )
       
      Lời văn thì rõ là của một bậc túc nho uẩn súc : đặt câu thì gọt giữa, cao kỳ; diễn ý thì dùng nhiều chữ bóng bẩy và nhiều điển cố . Thứ nhất là trơng những đoạn tả nỗi buồn rầu của người cung phi thì giọng văn réo rắt, thật tả hết nỗi đau khổ, bực rọc của một người đàn bà còn trẻ mà bị giam hãm trong cảnh lẻ loi lạnh lùng . Văn nôm trong cuốn ấy thật
      đã tới một trình độ rất cao .
       
      Hoa tiên truyện - Truyện Hoa tiên là do Nguyễn Hữu Tự (19) soạn ra và Nguyễn Thiện (20 ) nhuận sắc lại .
       
      Bản truyện nôm là phỏng theo một cuốn tiểu thuyết của Tàu nhan đề Đệ bát tài tử Hoa
      Tiên ký  mà soạn ra ; nên có nhiều bản chép tay vẫn để nhan truyện ấy là Đệ bát tài tử Hoa Tiên diễn âm . Cũng như hầu hết cái tiểu thuyết cũ của Tàu, truyện ấy tuy là một câu chuyện tình, nhưng có chủ ý khuyên răng người đời về đường luân thường (Xem lược truyện ở Phần thứ nhì trước, bài số 68 ) . Bởi thế , Cao Bá Quát, trong một bài tựa chữ Hán, đã có câu rằng : “ Trong truyện Hoa tiên, có nhiều ý tú hay, trước thì trai gái gặp gỡ, vợ chồng yêu đương, rồi đến đạo cha con, nghĩa vua tôi, sự bè bạn, tình anh em, lớn thì triều chính , binh mưu, bao trung khuyến tiết; nhỏ thì nhân tình, thế thái, mây gió , cỏ cây ”
       
      Văn truyện ấy thật là lối văn uẩn súc, điêu luyện dùng rất nhiều điển cố; bởi thế cuốn ấy
      được các học giả thưởng thức, nhưng không được phổ cập như cuốn Truyện kiều .
       
      Khi ta đọc truyện Hoa Tiên, thấy có nhiều câu hoặc giống hẳn, hoặc hơi giống những câu trong Truyện Kiều (21) thì biết rằng tác giả Truyện Kièu đã được đọc truyện Hoa Tiên và
      đã chịu ảnh hưởng của truyện ấy .
       
      Kết luận - Cứ xét các tác phẩm kể trên thì biết văn nôm về thế kỷ thứ XVIII đã tiến đến một trình độ khá cao ; tuy các tác giả còn chịu ảnh hưởng của Hán văn nhiều, nhưng các nhà ấy đã có công rèn luyện , trau chuốt lời văn khiến cho thế kỷ sau nhờ đó mà sản xuất được những tác phẩm có giá trị đặc biệt như truyện Kim Vân Kiều .
       
       
      Các tác phẩm kê cứu
       
      1. Trúc khê Ngô Văn Triệu , Khảo biên về khúc Cung oán ngâm. Trg . Văn học tạp chí , t. III sô” 29 tr. 456; t , IV số 30, trang 10 .
       
      2. Nguyễn Huy Chương , cụ Nguyễn Huy Tự, tác giả truyện Hoa Tiên, trg . Văn học tạp chí , t. số 53, 8 9 -1834 , tr. 4-5
       
      3. Nguyễn Văn Tố - Langue et littérature annamites, Notes critiques, I, in BEFEO., t. XXX , Nos 1-2 pp. 141 et ss.
       
      4 . Nguyễn Văn Tố Le Hoa Tiên de Nguyễn Huy Tự, in BESMT. t. XVI 3-4 Juil. Déc, 1936 pp. 141 et ss .
       
      5. Nguyễn Tiến Lãng , Les beautés de Hoa Tiên , in BAVH, 1938
       
      6. Hoàng Xuân Hãn , nguồn gốc văn Kiều ( văn phái Hồng sơn ) trg. Thanh nghị tạp chí , số 29, 30, 31
       
      7. Đào Duy Anh , Hoa tiên truyện , trg . Tri tân tạp chí  86
       
      Các bản in và các bản dịch
       
      1. Chuyện Hoa tiên ( Bản phiên âm ra chữ quốc ngữ của Đặng Trần Tiến do Nguyễn Văn Nghị cho đăng ) trg . ĐDTC lớp mới, phần văn choưong 1916 , tr. 1853 tđ.
       
      2. Hoa tiên truyện dẫn giải của Đinh Xuân Hội, Hà nội, Tân dân thư quán xb., 1930
       
      3. Hoa tiên ký diễn âm (Đệ bát tài tử  bản in của ông Nguyễn Văn Tố ) trg . BSEMT., t XVI, số 3-4 Julị - Déc . 1936 tr. 601 tđ.
       
      4. Ngâm khúc I. Cung Oán – II Chinh Phụ - III – Tỳ bà, Nguyễn Quang Oánh hiệu khảo. Việt văn thư xã; Hà nội, Vĩnh hưng long thư quán 1930
       
      5. Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải, Nguyễn Đỗ Mục biên tập, Hà nội , Tân dân thư quán , 1920
       
      6. Chinh phụ ngâm dịch ra Pháp văn , Plainte de la femme d’un guerrier . Poème populaire annamite, Tranduction littérale et interprétation francaise par Uyên toàn, in Văn học tạp chí , Nos 2 et ss.
       
      7. Hoàng Xuân Nhị , Les plaintes d’une Chinh Phụ, Paris, Ed., du Mercure de France, 1939
       
      8. Ôn Như Hầu, Cung oán ngâm khúc dẫn giải của Đinh Xuân Hội, Hà nội, Tân dân thư quán 1920
       
      9. Cung oán ngâm khúc, Poème annamite traduit et annoté par G. Cordier, in BSEMT., t, X, 1929 pp. 117 et ss.
       
      10 . Nguyễn Văn Tố , Poésies inédites de l’époque des Lê, in BSEMT., t. XIV, 1934 , 31, 460 et ss .
       
      11. Phú nôm Thái phong Vũ Khắc Tiệp biên tập , Việt văn thư xã Hà nội, Vĩnh hưng long thư quáng , 1930
       
      12. Nguyễn Hữu Chỉnh, ngôn ẩn thi tập trg. NP ., t. XIII tr. 79 , 164
       
      13. Tần cung nữ oán Bái công, trg. Tân văn , số 28, 12-10-1925
       
      14. Tần cung nữ oán Bái công qui Bái thượng trg. NP, NVI, trg. 384 td.
       
      15. Tần cung oán, Phúc Trung Ngọc giải nghĩa và phê bình, Huế Imp Tiếng dân, 1933
       
      16. Tần cung nữ oán Bái công văn, Ưng Trung và Ưng Lão sao lục dẫn giải và phê bình, Huế, Imp. Đắc lập 1933
       
      17. Phổ chiêu thiền sư thi văn tập, Sở cuồng văn khố, Quốc học tùng san, Hà nội Nam kỳ thư quán xb.
       
      18. Đào Duy Từ, Ngoạ long cương vãn, trg. Văn học tạp chí , chi số, tr. 17 tđ.
       
      19. Nguyễn Cư Trinh, Sãi Vãi trg. NP., t XIII trg. 128 tđ.; trg BSEMT 1920 tr. 18 tđ.
       
      20. A. Chéon , Sãi vãi Bonze et Bonzesse ( Dialogue salirique ) in Excursion et Reconnaissances , No 25
       
      21. Hoàng Quang Hoài Nam khúc , tr. NP,. t. XIII tr. 128, 219, 294 tđ.
       
      22. Bà Ngọc Hân , Khóc vua Quang Trung, trg. Đông thanh tạp chí số 5 trg. Việt dân tuần báo số 19
       
      23. Duex oraisons funèbres en annamite publiées et traduites par Phạm Quỳnh : Văn tế trận vong tướng sĩ – Văn tế phò mã Chưởng hậu quân Vũ Tinh và Lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Chu, in BEFEO, 1914, No 5 trg. BSEM t. V. tr. 317 tđ.
       

      Chú Giải
      (1). Nguyễn Bá Lân (1701-1785): người xã Cổ đô, h. Tiên Phong (ngay thuộc p. Quảng oai, Sơn tây ) , đậu tiến sĩ năm 31 tuổi (1731, Lê Duy Phương Vĩnh - khánh thứ 3 ), làm quan đến thượng thư, được phong tước hầu .

      (2). Đoàn Thị Điểm: xem Tiểu truyện ở chương IX, Lời chú (20)
      .
      (3). Nguyễn Hữu Chỉnh: (+ 1787): người xã Đông hải, h. Châu phúc (nay là h. Nghi lộc, Nghệ an), đậu hương cống năm 16 tuổi nên thường gọi là Cống Chỉnh; sau lại học võ; năm 18 tuổi, thi võ, vào được ba kỳ. Trước theo Hoàng Ngũ Phúc (tướng của chúa Trịnh) thường đi đánh giặc bể có công. Sau khi Phúc mất, ông lại theo Hoàng Đình Bảo. Năm 1782, quân tam phủ nổi loạn giết Đình Bảo, ông sợ vạ lây, vượt bể trốn vào Qui Nhơn theo Nguyễn Nhạc, bày mưu cho Tây Sơn ra đánh ngoài Bắc, Nhạc cho ông làm hữu quân đô đốc theo Nguyễn Huệ ra đánh lấy Phú xuân (Huế ), rồi ông lại xui Nguyễn Huệ ra đánh Bắc Hà, giết Trịnh Khải (1786). Lúc Tây sơn rút quân về, lưu ông ở lại giữ đất Nghệ an. Sau đảng Trịnh lại nổi lên, hiếp chế nhà vua; vua Lê Chiêu Thống mật triệu ông ra giúp. Khi ông đã phá tan đảng Trịnh, được phong làm đại tư đồ Bằng trung công, cầm binh quyền, giữ quốc chánh. Nhưng Nguyễn Huệ nghe tin ấy sai tướng là Vũ Văn Nhậm ra đánh, bắt được ông rồi đem giếc (1787).

      (4). Có người cho bài Tần cung nữ oán Bái công văn (xem nguyên văn ở năm thứ I, chương XI. Bài đọc thêm số 2) cũng là của Nguyễn Hữu Chỉnh soạn ra, nhưng chưa được chắc .

      (5). Nguyễn Gia Thiều (1741-1798): người xã Liễu ngạn huyện Siêu loại (nay là phủ Thuận thành Bắc ninh). Năm 19 tuổi, ông được sung chức hiệu úy; sau đi đánh giặc có công được thăng chỉ úy đồng tri và phong tước hầu. Năm 1782, ông sung chức lưu thủ xứ Hưng hoá. Ông tuy sinh ở nơi quyền quí mà không ham công danh, phú quí, thường nguyên cứu đạo Tiên, đạo Phật và cùng các bạn hữu uống rượu làm thơ. Đến khi nhà Tây Sơn ra đánh lấy Bắc Hà, ông đi ẩn, không chịu ra làm quan. Thọ 58 tuổi . - Thơ chữ nho của ông có Tiền hậu thi tập , về văn nôm còn có Tây hồ thi tập Tứ trai thi tập.

      (6). Xem tiểu truyện ở dưới . Lời chú (9)

      (7). Nguyễn Huy Lượng: trước làm quan với nhà Lê, sau làm quan với Tây Sơn, được phong tước Chương lĩnh hầu.

      (8). Phạm Thái (1777-1813): người xã Yên thường, huyện Đông ngạn (nay là phủ Từ sơn, Bắc ninh). Cha ông trước làm quan với nhà Lê, được phong tước Trạch trung hầu; sau khi Tây sơn dứt nhà Lê, có khởi binh chống lại, bị thua. Ông nối chí cha, đi tìm người đồng chí để lo sự khôi phục. Vì bị truy nã ông phải trá hình đi tu ở chùa Tiêu sơn (thuộc huyện Yên phong, Bắc ninh), lấy hiệu là Phổ chiêu thiền sư. Một người bạn đồng chí là Trương Đăng Thụ đương làm quan ở Lạng sơn cho người đón ông lên đấy, nhưng không được bao lâu Thụ mất . Ông mới đến xã Thanh nê (thuộc huyện Ý yên, Nam định) là quê Đăng Thụ viếng bạn và ở lại đấy ít lâu. Cha Đăng Thụ muốn gả người con gái là Trương Quỳnh Như cho ông, nhưng bà mẹ không ưng. Sau khi Quỳnh Như chết, ông buồn bã chán nản, chỉ uống rượu ly bì, tự hiệu là Chiêu Lỳ. Năm 37 tuổi thì mất .

      (9). Đào Duy Từ (1572-1634) : người xã Hoa trai, Ngọc sơn (nay là phủ Tĩnh gia , Thanh hoá ). Vì là con nhà xướng ca nên đi thi hương bị đánh hỏng; ông phẫn chí mới vào Đàng Trong tìm đường lập công. Trước còn ở chăn trâu cho một người nhà gần ở phủ Hoài nhơn (nay thuộc Bình Định). sau nhờ có quan khán lý Trần Đức Hóa tiến cử với Chúa Sãi, ngài cho làm nội tán và phong tước Lộc Khê hầu. Trong tám năm trời, ông giúp chúa Nguyền và có công to trong việc xây thành đắp lũy : chính ông đã đắp cái lũy Trường dục ở huyện Phong lộc ( nay là phủ Quảng ninh , Quảng bình ) và lũy Nhật lệ ( cửa Đông hới ) tức là Địch Bắc trường thành mà người ta thường gọi là Lũy Thầy .
       
      (10) Nguyễn Cư Trinh: Xem tiểu truyện ở Chương XI, Lời chứ (17)
       
      (11)Hoàng Quang : người xã Thái dương, huyện Hương trà ( Thừa thiên ) có tài văn chương , Nguyễn Huệ nghe tiếng vời ra cho làm quan, nhưng ông không chịu ra . Năm 1802, khi đức Nguyễn Ánh lấy được kinh thành phú xuân ( Huế ) thì ông đã mất, ngài bèn triệu con ông là Hoàn cho làm quan, sau làm đến Lại bộ hữu tham tri .
       
      (12) Ngọc Hân công chúa : con gái vua Lê Hiển Tôn . Năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ở trong Nam ra Thăng long, dứt chúa Trịnh, vào chầu vua Lê Hiển Tôn, tâu bày các lẽ phù Lê diệt Trịnh; vua bèn phong Huệ làm nguyên soái và gả bà cho . Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế phong bà làm Bắc cung hoàng hậu .
       
      (13) Đặng Đức Siêu ( ? – 1810) người huyện Bồng sơn ( nay là phủ Hoài nhơn, Bình định ). Năm 16 tuổi đậu hương tiến ; đời đức Duệ Tôn (Định vương 1768-1777), làm quan trong viện Hàn lâm. Sau gặp quân nhà Trịnh vào xâm, kế đến quân Tây sơn lấy kinh thành, đều có vời ông ra làm quan, nhưng ông không chịu. Sau nghe đức Nguyễn Ánh nổi binh ở Gia định, ông tìm vào giúp ngài; trong mấy năm bình định, ông rất có công . Sau ông làm quan đến Lễ bộ thượng thư .
       
      (14) Xem tiểu truyện ở Chương thứ IX, lời chú (8)
       
      (15) Nhạc Phủ - nguyên là một sở coi về âm nhạc do vua Hán Vũ đế lập ra . Sau các nhạc chương dùng trong triều miếu đều gọi (kêu ) là nhạc phủ . Rồi sau các khúc hát cũng gọi là nhạc phủ , như bài Đại phong ca của vua Hán Cao Tổ , bài Cai hạ ca của Hạng Vũ . Thể “trường đoản cú ” ở đời Đường, Tống, thể “Nam Bắc khúc ” ở đời Kim, Nguyên cũng là biến thể của nhạc phủ ( xem Từ nguyên, Thình )
       
      (16) Xem tiểu truyện ở Chương thứ IX, lời chú (20)
       
      (17) Xem tiểu truyện ở Chương thứ IX, lời chú (36)
       
      (18) Như Cung oán thi tập của Vũ trinh (1759-1821) , Cung oán thi của Nguyễn Huy Lượng, Cung oán thi của Nguyễn Hữu Thỉnh (? -1787)
       
      (19) Nguyễn Huy Tự (1743-1790) - người xã Lai thạch, huyện La sơn ( nay là huyện Can lộc, tỉnh Hà tĩnh ), con Nguyễn Huy Oánh (đổ thám hoa năm 1784), đậu hương công năm 17 tuổi (1759), làm quan về đời vua Lê Hiển Tôn đến chức Đốc đồng, được tập tước là Nhạc đình bá .
       
      (20) Nguyễn Thiện : người xã Tiên điền, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà tĩnh, cùng họ với Nguyễn Du, đậu hương cống năm 20 tuổi (1872)
       
      (21) Thí dụ : những câu giống hẳn :
      Đã gần chi có điều xa ( H.T., câu 427; K., câu 1567)
       
      Những câu hơi giống :
       
      Tà tà bóng ngả in doành ( H.T., câu 45)
      Tà tà bóng ngã về tây ( K., câu 51)
      Thiên thiên sẳn đúc dày dày ( H.T., câu 97)
      Dày dàn sẵn đúc một toà thiên nhiên  ( K., câu 1310)
      Bụi hồng dút nẻo chiêm bao đi về (H.T., câu 258)
      Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao ( K., câu 250)
      Tay tiên mưa táp gió bay (H.T., câu 337)
      Tay tiêng gió táp mưa sa ( K. câu 404)
      Tưởng bây giờ là bao giờ, Song song đôi mặt còn ngờ chiêm bao ( H.T., câu 1247-1248)
      Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao ( K,. câu 3007-3008)
       

      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 16:24:00diên vỹ>
      Chương Thứ Mười Một
       
      Thời Kỳ Lê Mạt, Nguyễn Sơ Những Tác Phẩm Đặc Biệt Của Thời Kỳ Ấy: Sách Tang Thương Ngâu Lục Và Sách Vũ Trung Tùy Bút .
       
      Nước ta về thời kỳ Lê Mạt, Nguyễn Sơ
      (Cuối thế kỷ thứ XVII và thế kỷ thứ XIX)
       


       
      A)   Thời kỳ ấy, trong lịch sử nước ta, là một thời kỳ loạn lạc ; các cuộc chiến tranh cứ kế tiếp nhau không dừng; hết cuộc Tây Sơn đánh chúa Nguyễn, đánh chúa Trịnh, đánh quân Tàu, lại đến cuộc đức Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn .
       
      B)    Trong khoảng hai mươi nhăm năm trời (tự năm 1778 là năm Nguyễn Nhạc xưng vương đến năm 1802 là năm vua Gia Long lên ngôi ) mà trong nước thay ngôi đổi chủ mấy lần, vì thế lòng người cũng phân vân. Sau khi Tây Sơn dứt họ Trịnh, bọn cựu thần nhà Lê và các sĩ phu ngoài Bắc kẻ thì ra phò tân triều, người thì đi ẩn lánh các nơi ; trong Nam cũng có nhiều người không chịu ra làm quan với nhà Tây Sơn. Ngay sau khi vua Gia Long đã nhất thống thiên hạ mà ngoài Bắc cũng còn nhiều  người tưởng nhớ nhà Lê không chịu ra thờ triều Nguyễn hoặc miễn cưỡng phải ra làm quan .
       
      C)    Văn chương trong thời kỳ ấy cũng chịu ảnh huởng của hoàn cảnh; các tác phẩm buổi ấy phần nhiều ghi chép những điều các tác giả đã trông nghe thấy theo văn “tùy bút “ (theo ngọn bút, ý nói gặp cái gì chép cái ấy ).
       
      Sách “Vũ trung tùy bút “ của Phạm Đình Hổ  (1) Vũ trung tùy bút nghĩa là “Theo ngọn bút viết trong khi mưa ”. Sách này có hai quyển, gồm những bài văn ngắn, mỗi bài chép về một đề mục . Các bài có thể chia làm mấy loại như sau này:
      A)   Tiểu truyện các bậc danh nhân  : Phạm Ngũ Lão, Phạm Trấn, Đỗ Uông, Lê Lợi, Nhà họ Nguyễn ở Tiên điền ..v.v..
      B)    Ghi chép các cuộc du lãm , những nơi thắng cảnh : cảnh chùa Sơn Tây, cảnh đền Đến Thích …v.v.
      C)    Ghi chép các việc xảy ra về cuối đời Lê : việc cũ phủ chúa trịnh, cuộc bình văn trong nhà Giám, các việc tai dị, các diềm gở …v.v.
      D)   Khảo cứu về duyên cách địa lý : sự thay đổi tên đất, - xứ Hải Dương , - tên huyện Đường An, - tên làng Châu Khê …v..v
      E)    Khảo cứu về phong tục :-  cảnh chơi lan, -  cách uống chè, - nón đội, - quần áo, - trộm cắp, - mộng số, - chuyện khách để của, - thần hổ , - thần trẻ con …v.v.
      F)    Khảo cứu về học thuật : học thuật đời Lê Mạt, - các thể văn, - các lối chữ, - âm nhạc, - đàn , - y học ….v..v
      G)   Khảo c’ưu về lễ nghi : quan (lễ đội mũ ), - hôn, - tang, - tế, - lễ tế giao, - lễ nhà miếu, - lễ sách phong …v.v.
      H)   Khảo cứu về điển lệ : Khao cử, - phép thi, - quan chức  …v.v.
       
      Sách “Tang thương ngẫu lục ” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án (2) – Tang thương ngẫu lục nghĩa là “Tình cờ chép về những cuộc dâu bể ” (tức là những việc biến đổi ) . Sách này đã in năm 1806 chia làm 2 quyển : quyển trên (40 bài ) và quyển dưới (50 bài ) ; mỗi bài đều có  đề rõ tên tựa của tác giả : hoặc Tùng niên ( Phạm Đình Hổ ) , hoặc Kính Phủ (Nguyễn Án ). Các bài trong sách có thể chia làm mấy mục, như sau :
      A)   Tiểu truyện các danh nhân: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm ..v.v.v.
      B)    Thắng cảnh: Núi Dục Thúy, Núi Phậc Tích ..v.v.v.
      C)    Di tích : Bia núi Thành Nam, Tháp chùa Báo Thiên …v.v.
      D)   Việc cuối đời Lê: thi hội về đời Lê , - lễ triều hạ đời Lê Cảnh Hưng, - tết trung thu trong phủ chúa Trịnh …vv.
      E)    Chuyện  hay chuyện lạ : Nguyễn Bá Dương, Hoàng Sầm, Nguyễn Văn Giai , …v.v.
       
      Kết Luận : - Cả hai bộ sách Vũ trung tùy bút và Tang thương ngẫu lục đều là những tài liệu qhi để ta khảo cứu về lịch sự, địa lý, điển lễ, phong tục về cuối đời Lê .

       

      [/align] ___________
       
      Chú giải

      (1)  Phạm Đình Hổ ( 1768 – 1839 ) tự tùng niên hoặc Bỉnh Trực hiệu Đông Dã Tiều tục gọi là Chiêu Hổ, người xã Đang loan, huyện Đường an ( nay là phủ , Bình giang, Hải dương ) . Ông sinh vào cuối đời Cảnh hưng, trong nước loạn lạc, nên muốn ẩn cư . Ông học rộng, có tài nôm, thường cùng với bà Hồ Xuân Hương xướng hoạ. Năm Minh mệnh thứ 2 ( 1821 ) , vua ra bắc tuần, nghe tiếng, vời ông cho làm hành tẩu viện Hàm lâm; được ít lâu ông từ chức. Năm Minh mệnh thứ 7 (1826) vua lại triệu cho làm thừa chỉ viện Hàm lâm và Quốc tử giám tế tửu, năm sau, ông xin nghỉ dưỡng bệnh và từ chức. Sau lại vào cung chức, được thăng thị giảng học sĩ. Thọ hơn 70 tuổi . – Ông làm rất nhiều sách ; có thể chia làm 3 loại :
      a)     Loại điển lệ :
      1.     Lê triều hội điển chia làm 6 bộ, chép tường điển lệ về cuối đời Lê
      2.     Bang giao điển lệ ( phép tắc về việc giao thiệp nước này với nước nọ . 1 quyển .
      b)     Loại địa lý :
      1.     An nam chí
      2.     Ô châu lục
      3.     Kiều khôn nhất lãm ( ngó qua trời đất ): bắt đầu trích lục các bộ Nhất thống chí đời Thanh, rồi đến những bản đồ các đường đi ở nước Nam .
      4.     Ai lao sứ trình (đường đi Ai lao )
      c)     Tạp loại :
      1.     Hi kinh trắc lãi (bàn về kinh Dịch )
      2.     Nhật dụng thường đàm ( sách dạy những chữ nho hàng ngày dùng đến khi nói chuyện thường ) có dịch nghĩa ra tiếng ta và sắp thành loại mục .
      (2)  Nguyễn Án ( 1770 – 1815 ):  tự Kính phủ , hiệu Ngu Hồ người làng Du lâm, huyện Đông ngạn ( nay là phủ Từ sơn, Bắc ninh ) Ông thông minh và ham học, xem rộng sách . Năm Gia long thứ 4 (1805 ) ông được vời ra làm quan bổ tri huyện huyện Phù dung ( nay là Phù cử Hưng yên ), nhân có việc riêng từ quan về . Năm thứ 6 ( 1808) , lại được bổ tri huyện Tiên minh ( nay là Tiên lãng , Kiến an ) , sau phải bệnh mất ở chổ làm quan . Ông có một tập thơ chữ nho nhan là Phong lâm minh lại thi tập .
       

       

      [/align]
       
      Các Bài Đọc Thêm
       

      - Việc cũ trong phủ chúa Trịnh .

         
        Trong năm giáp ngọ ất mùn ( 1774 – 1775 ) , trong nước vô sự, Thịnh Vương ( Trịnh Sâm ) lưu ý về việc ngoạn hỏa, thường đi ngụ chơi các ly cung ở trên Tây hồ ở núi Tử trầm, núi Dũng thúy, việc công tác khởi làm luôn mãi. Mỗi tháng ba bốn lần ngự chơi cung Thụy liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu quanh vòng bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần thì đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà, dân bày bách háo xung quanh bờ hồ để bán . Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan  ỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các hóa vật như các cửa hàng buôn trong chợ . Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chung chùa Trần quốc hay là ngồi ở bóng cây bến đá nào đó , hoà vài khúc nhạc âm .

        Khi ấy phàm bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cy cảnh ở chốn dân gian đều sức thu lấy không thiếu một thứ gì …. Trong phủ tùy chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề , hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió tap vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết là cái triệu bất tường .
         
        Phạm Đình Hổ
        Vũ trung tùy bút
        Đông Châu dịch
        (Nam Phong tạp chí , t. XXI, số 121 )
         

        - Mẹo Kẻ Cắp

           
          Một hôm ở phường Đông các ( phố hàng Bạc ) , có một bà lớn đi võng mành mành cách soá đến dừng võng trước cửa nhà hàng bạc, đầy tớ lính hầu rậm rịch, truyền thị tỳ chấu vng lại đó để hỏi mua mấy chục nén bạc, mà cả giá chưa xong, bà lớn nồi trong võng truy`ên vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh trình quan lớn xem qua sẽ định giá, chủ nhà hàng cũng không ngờ, một lát thì những đứa thị tỳ và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lníh khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi cũng chẳng thấy con vú già cầm bạc trở lại . Nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc, mở mành mành ra xem thì té ra là một mụ lão ăn mày mù cả hai mắt, mặc cái áo nhiễu điều ngồi chiễm chiệ trong vng, bấy giờ mới hoảng lên không biết nói làm sao cả chỉ bắt được có cái võng lại cái võng cũ và nát, hỗ giá kho6ng đáng mười quan tiền, cho đi tìm khắp mọi nơi không còn thấy tăm hơi đâu cả .
           
          Phạm Đình Hổ
          Vũ trung tùy bút
          Đông Châu dịch
          (Nam Phong tạp chí, t. XXI, số 124 )
           
          Bà liệt phụ họ Đoàn


           
          Phu nhân là vợ thứ hai ông Nguyễn phúc Du, con trai một ông tướng võ, lại là nanh vuốt (3) của hầu Du lĩnh, coi đội tiên phong về đời Cảnh hưng; tháng 6 năm Bính ngọ (1786), iđ đánh giặc chết trận . Bà vợ cả thì đi tu, phu nhân là người thật đẹp, mà không có con, ông coi cũng như vợ cả, đến khi ông phải nạn, phu nhân cứ nói cười như không, người nhà ai cũng lấy làm lạ .
          Được ít lâu phu nhân thu xếp công việc cửa nhà, xong đâu vào đấy, giao lại cho con, rồi đến Chùa Kiến sơ làng Phú đổng làm một tuần chay, tế độ cho chồng; chùa ấy là chổ bà vợ  ra tu ở đấy .
          Làm chay xong, lại cùng với vợ cả và con chồng, ra bờ sông Thúy ái (4) là nơi quan tướng đã ngả ngọn cờ, đặt bài vị làm lễ chiêu hồn, người đến xem đông như kiến . Phu nhân mặc quần áo lượt là, đeo hoa  hột chảy chuốt, một mình chở chiếc thuyền con, ra giữa dòng sông, đành cho cát lấp sóng vùi . Dân chung quanh đấy, lấy làm thương sót, dựng đền để thờ .
          Quan huấn An nhân, Hà Sách Huân, có câu thơ rằng: “ Thương thay nước cũ hai năm lẻ, giữ vững cương thường một phu nhân ”, ai nghe đều lấy làm truyền tụng .
           

          Kính Phủ
          Tang thương ngẫu lục
          Tuyết trang Trần văn Ngoạn
          (Nam phong tạp chí t. I, số 6 )
           

          - Miếu Thanh Cẩm


             
            Miếu ở xóm Đông các, huyện thọ xương, thờ ông liệt sĩ đời nhà Mạc, tên họ không tường . Ông đổ tiến sĩ đời Mạc, làm quan đến đài tỉnh (5). Khi bấy giờ vua Triết vương đem quân nghĩa sư ra đánh nhà Mạc, vua nhà Mạc bỏ thành chạy, quân đuổi gần kịp, việc đã kịp quá, ông mặc áo đeo đai, đi quanh hồ Thái cực ra trước phố Đông các, ung dung mà n’mă lấy cương ngựa chúa Trịnh. Chúa Trịnh rung cương dừng qua6n để họp các tướng chém ông ấy. Đến khi nghĩa sư trở về nhà Mạc lại giữ được Long biên, chính chỗ ông ấy chết, làm cái miếu để thờ, khói hương nghi ngút, ngày đêm không tắt …
             

            Tùng niên
            Tang thương ngẫu lục
            Tuyết trang Trần văn Ngoạn dịch
            (Nam Phong tạp chí , t. II , số 12 )
             
             

             
            Các tác phẩm để kê cứu


            1. Ba - , 130
            2. Chap, Bibl  …, L. 115; P 196n.
             
            Các Bản Dịch
            2. Vũ trung tùy bút, Đông châu dịch, NP., t. XXI, tr 236, 357, 455, 561 t. XXII, tr. 31, 159, 264, 599 tđ.
            2. Tang thương ngẫu lục,  Tuyết trang Trần văn Ngoạn trích dịch trong mục Tồn cổ lục, NP ., t. I. tr 396; t. II tr. 105, 240, 371; t. IV, tr, 202 Nguyễn Hữu tiến dịch tiếp . t. IV, tr. 311 ; t. V. tr. 48 tđ .
             
            __________________
            (3) Nanh vuốt : ông tướng giỏi mà lại thân thiết ( Lời chú của dịch  giả )
            (4) Làng Thúy ái ở gần bến Thanh trì, huyện Thanh trì, tỉnh Hà đông ( cũng thế )
            (5)  Đài tỉnh như là thượng thư, tổng đốc và ngự sử ( cũng thế )
             
             
             
             
             
             

            0
            <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 16:19:33diên vỹ>
            CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI
             

            NGƯỜI ÂU CHÂU ĐẾN NƯớC NAM
            CÁC NHÀ BUÔN VÀ CÁC GIÁO SĨ , ẢNH HƯỞNG
            CỦA GIÁM MỤC BÁ ĐA LộC,
            SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
            SỰ PHÁT ĐẠT CỦA NGHỀ IN
             
            Trong chương thứ XVIII, Năm thứ  nhất , ta đã xét về việc các giáo sĩ người Âu sang truyền đạo Thiên chúa ở nước ta và việc các nhà ấy đặt ra chữ quốc ngữ. Nhưng ngoài các giáo sĩ còn có các nhà buôn người Âu cũng đến đất nước ta lúc bấy giờ . Vậy trong chương này, ta phải xét chung về vấn đề người Âu châu đến nước ta trong cận cổ thời đại và xét cái ảnh hưởng của họ đối với văn hoá nước ta thế nào .
             
            Người Âu châu đến nước Nam - Bắt đầu tự thế kỷ thứ XV, thuật hàng hải đã tiến bộ, các nhà thám  hiểm người Âu đi khắp toàn cầu, mở các đường giao thông mới trên mặt biển ; năm 1492 Christophe Columb ( Kha Luân Bố ) vượt Đại tây dương tìm thấy châu Mỹ; năm 1497, Vasco de Game đi vòng quanh châu Phi sang đất Ấn độ; 1521 , Magellan vượt Đại tây dương, đi vòng quanh châu Nam Mỹ sang Thái bình dương, rồi đến quần đảp Phi luật tân ( Philippines ) . Tự đấy, các dân tộc châu Âu đua nhau đi tìm kiếm thị trường mới mà chiếm lĩnh các thuộc địa: năm 1563, ngoưòi Bồ đào nha sang ở đất Áo môn ( Ma cao ) của nước Tàu ; năm 1568 , người Tây ban nha sang lấy quần đảp Phi luật tân; năm 1596, người Hòa lan sang lấy Nam dương quần đảo ( Indes néelandaises ) ; đến thế kỷ thứ XVII thì người Pháp và người Anh sang chiếm đất Ấn độ ; thế là đến cuối thế kỷ thứ XVI , người châu Âu đã sang chiếm lĩnh đất đai phía nam châu Á rồi .
             
            Nước Nam ta ở gần đất Phi luật tân và Nam dương quần đảo, lại ở trên con đường từ châu Âu sang Á đông ( Tàu, Nhật ) . Tất không tránh khỏi người Âu để mắt đến, nên ngay tự thế kỷ thứ XVI, đã có người Âu sang đất nước ta .
             
            Trong số các người Âu sang bên ta, có hai hạng người : một là các giáo sĩ sang truyền đạo Thiên Chúa; Hai là các nhà buôn sang thông thương .
             
            Các nhà buôn và các giáo sĩ - Về các giáo sĩ, trong chương XVIII, Năm thứ nhất, ta đã xét rồi . Nay nói về các nhà buôn .
             
            Các nhà buôn bắt đầu biết đến nước ta và ghé vào các hải cảng nước ta tự thế kỷ XVI, nhưng đến thế kỷ sau (XVII) thì việc buôn bán mới có hướng . Các nhà buôn ấy phần nhiều là tự các thuộc địa hoặc các thương điếm của người Âu ở Á đông  (  như Hirabo ) (Nhật Bản), Macao ( Tàu ) , Batavia, Bautam (Java), Madras, Surate (Ấn Độ ) sang ta . Bấy giờ nước ta đương chia làm Bắc triều ( vua Lê chúa Trịnh ) ở Đàng ngoài và Nam triều ( chúa Nguyễn ) ở Đàng trong hai bên đương tranh đánh nhau .
             
            A) Việc buôn bán của người âu - Cứ đại thể mà nói thì ở Đàng Trong người Bồ đào nha đến buôn bán đông và thịnh vượng hơn cả; họ mở cửa hàng ở Hội an ( tức là Faifo, nay thuộc tỉnh Quảng nam ) . Hội An bấy giờ là một nơi buôn bán sầm uất, có cả người Tàu, người Nhật đến ở đấy . Năm 1636, người Hòa lan cũng đến mở thương điếm ở đấy nhưng đến năm 1641 họ phải bãi đi . Còn người Pháp và người Anh có đến điều đình việc thông thương nhưng chưa thực hành được việc ấy .
             
            Ở Đàng Ngoài thì người  Hòa lan chiếm địa vị ưu thắng hơn cả ; họ lập thương điếm ở
            phố Hiến ( gần tỉnh lỵ Hưng yên bây giờ ) tự năm 1637, mãi đến năm 1700 mới thôi hẵn . Phố Hiến bấy giờ là một nơi đô hội buôn bán rất vui vẻ, có cả người Tàu , người Nhật, người Xiêm ở đấy . Bởi vậy, lúc đó đã có câu tục ngữ : “ Thứ nhất kinh kỳ ( tức là Hà nội bây giờ ), thứ nhì Phố Hiến ”. Năm 1672 người Anh lập một thương điếm ở đấy nhưng đên năm 1697 thì bãi đi . Năm 1680, người Pháp mở một cửa hàng ở Phố Hiến,  nhưng không bao lâu lại phải bãi đi . Còn người Bồ đào nha chỉ có tàu thuyền ra vào buôn bán, chứ không ở hẳn .
             
            Việc buôn bán của người Âu ở nước ta có phần thịnh vượng trong thế kỷ thứ XVII; đến thế kỷ thứ XVIII thì các thương điếm của họ đều bãi đi cả ; tuy thỉnh thoảng cũng có tàu của họ ra vào đất nước ta và vài lần họ muốn mở lại thương điếm , nhưng đều không thành công .
             
            B) Các nhà buôn và việc giúp chúa Nguyễn, chúa Trịnh - Ở Đàng Trong thì chúa Nguyễn nhờ người Bồ đào nha giúp, còn ở Đàng Ngoài thì chúa Trịnh nhờ người Hòa lan giúp . Phần nhiều họ giúp khí giới , đạn dược và các nguyên liệu dùng làm thuốc súng, hoặc họ đem tặng, hoặc họ đem bán . Ở Đàng Trong, năm 1641 về đời Chúa Sãi, một người Bồ đào nha tên là Jean de la Croix lại lập hẳn ở gần Huế một lò đúc súng nay người ta còn gọi chỗ ấy là “Phường đúc ”
             
            Còn sự giúp quân lính, tuy các Chúa cũng có vài lần ngỏ lời yêu cầu, nhưng họ thường thoái thác không chịu giúp . Duy có một lần, về cuối năm 1643, người Hòa lan phái ba chiếc tàu để giúp chúa Trịnh ( Trịnh Tráng ) đánh chúa Nguyễn ( Công Thượng Vương ) , nhưng bị thua: hai chiếc bị đám, còn một chiếc chạy thoát . Có lẽ cũng vì thế mà các Chúa trước có ý hoan nghênh các nhà buôn người Âu, sau thấy họ không chịu giúp mình trong việc binh, nên sinh ra chán ghét mà không hậu đãi họ nữa, vì th’ê mà việc buôn bán của họ cũng suy dần đi .
             
            Ảnh hưởng của Giám mục Bá đa lộc - Sự giao thiệp của nước ta với người Âu bẵng đi
            một độ . Đến cuối thế kỷ thứ XVIII, sau khi nhà Tây sơn đã dứt nghiệp chúa  Nguyễn ở Đàng Trong, một người dòng dõi nhà Nguyễn là đức Nguyễn Phúc Ánh, đương lo khôi phục cơ nghiệp củatổ tiên thì gặp một vị Giám mục người Pháp là Bá đa lộc (1) , rồi nhờ ông sang Pháp cầu viện . Ông thay mặc Nguyễn vương ký với Pháp đình tờ hiệp ước ở Versailles ngày 28 tháng mười một năm 1787, theo đấy vua nước Pháp giúp quân lính, khí giới cho Nguyễn vương thu phục lại đất nước . Nhưng vì nhiều duyên cớ, tờ hiệp ước
            ấy không thi hành được . Ông Bá đa lo6.c bèn xuất tài lực đứng lên mộ người, mua tàu chiến và khí giới giúp đức Nguyễn Ánh đánh nhà Tây sơn . Cái công của Giám mục Bá đa lộc trong việc vua Gia long bình định và thống nhất Nam Bắc thế nào, trong Nam sử đã chép rõ . Ta chỉ cần xét cái ảnh hưởng của ông đối với văn học nước ta thế nào . Cái ảnh hưởng ấy tức là làm cho chữ quốc ngữ do các giáo sĩ người Âu đặt ra vào thế kỷ thứ XVII ( xem lại Năm thứ nhất , chương thứ XVIII ) có cái hình thức nhất định như ngày nay .
             
            Cứ theo bộ tự điển của cố Alexandre de Rhodes soạn và in năm 1651 thì chữ quốc ngữ về hạ bán thế kỷ thứ XVII còn có nhiều cách phiêm âm khác bây giờ và chưa được hoàn toàn tiện lợi . Theo cố Cadière trong một bài thông cáo đọc ở Hội đồng khảo cổ Đông Pháp ở Paris (Commission archéologique de l’Indochine) năm 1912 thì các hình thức hiện thời của chữ quốc ngữ chính là do Đức cha Bá đa lộc đã sửa đổi lại mà thành nhất định . Đức cha có soạn cuốn Từ điển an nam la tinh., tuy chưa xong hẳn, nhưng cố Taberd đã kế tiếp cong cuộc ấy mà soạn ra cuốn Nam việt dương hiệp tự vựng ( Dictionarium annamitcico latinum), in năm 1838 . Trong cuốn này, cách viết chữ quốc ngữ giống hệt gây giờ; mỗi tiếng Nam đều có chứa kèm chữ nôm ; cuốn ấy sẽ là một cuốn sách làm gốc cho các tự điển tiếng Nam sau này .
             
            Sự bành trướng của chữ quốc ngữ và sự phát đạp của nghề in - Tự thế kỷ thứ XVII, sau khi đặt ra chữ quốc ngử, các giáo sĩ dịch các Kinh Thánh và soạn các sách truyền giáo cho tín đồ xem, mà số tín đồ cũng mỗi ngày một đông, nhờ thế mà số người biết đọc  , biết viết chữ quốc ngữ càng ngày càng nhiều lên .
             
            Số sách viết bằng chữ quốc ngữ càng nheièu thì nghề in hoạt bản dùng thứ chữ ấy theo đấy mà mở mang ra . Về hạ bán thế kỷ thứ XVII, cố Alexandre de Rhodes phải đem cuốn tự điển của ông về La mã mới in được . Đến đời cố Taberd thì ở thành Serampur ( thuộc tnh Bengale bên Ấn độ ) đã có một nhà in đúc đủ cả chữ quốc ngữ và chữ nôm , nên năm 1838, cuốn tự điển của ông in ngay ở đấy, không phải đem về Âu châu nữa . Kế đấy, ngay cạnh nước Nam ở thành Vọng các ( Bangkok) là kinh đô nước Xiêm, lại có một nhà in của Nhà Chung lập nên in được sách quốc ngữ . Nhà in này xuất bản rất nhiều sách quốc ngữ về đạo như Tân ước, Cựu ước .v..v
             
            Kết luận - Việc giám mục Bá đa lộc và các người Pháp giúp vua Gia long thật là một dịp may cho người nước ta tiếp xúc với văn minh châu Âu và hiểu biết những ưu điểm của nền văn minh ấy . Giả sử các nhà cầm quyền nước ta về đầu thế kỷ thứ XIX biết nhân cơ hội ấy mà, sau khi đã dẹp yên trong nước, một mặt thì canh cải việc nội chánh ngoại giao cho hợp thời thế, một mặt thì đón thầy chuyên môn ngoại quốc đến mở trường dạy các khoa hol.c, các kỹ nghệ để chỉnh đốn việc binh bị, việc kinh tế và phái người nước ta sang du học bên châu Âu để học lấy những khoa thực dụng, những phương pháp mới, rồi về chủ trương việc chính trị và việc khai thác các tài nguyên trong xứ, thì nước ta  cũng có thể trở nên một nước giàu mạnh được . Hiềm vì khi đã bình định xong, Triều đình nhà Nguyễn và sĩ phu trong nước lại cứ theo khuôn phép cũ, không hề canh cải đèu gì, trong thì thủ cựu ngoài thì gây những mối thù oán với nước ngoài , khiến cho nước yếu dân nghoè, để cho đến khi hữu sự không thể đối phó với thời cục được .
             
            Các tác phẩm kê cứu
             
            1. Trần Kim Trọng Việt nam sử lược , tập thúu nhì, chương VII, VIII và XII (Hanoi impr. Du Trung Bắc tân van , 1920)
             
            2. Charles B. Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam , Paris, Librairie Plon)
             
             

             
            [/align] 
            Chú Giải
             
            (1) Bá đa lộc (1741-1799) chính tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine, sinh ở Origny en Thiérache; sau khi tốt nghiệp ở Trường  thầy dòng của Hội ngoại quốc truyền giáo, ông được phái sang Viễn đông sung vào Giáo đoàn Đàng Trong. Năm 1767, đến Hà tiên, được cử làm quản đốc Trường thầy dòng ở Hòn đất ( gần Hà tiên ). Năm 1770, ông uđuợc phong làm giám mục ( Evèque d’Adran); năm 1771, vị giám mục khu Đàng Trong là Piguel mất, ông được cử lên thay . Tháng mười năm 1777, ông gặp Đức Nguyễn Ánh đương trốn tránh và giúp cho ngài đi lánh nạn  ở Cù lao Poulo Panjang ở vịnh Tiêm la . Đến tháng 11 năm ấy, Nguyễn vương lấy lại được thành Gia định, ông đến ở Tân triều
            (gần Biên hoà ) và thường giao thiệp với ngài . Nhưng đến tháng ba năm 1783, thành Gia định lại mất về quân Tây sơn, Nguyễn vương phải trốn ra vịnh Tiêm la, ông cũng phải trống tránh như ngài . Cuối năm 1784, ông gặp ngài ở Cù lao Paulo Panjang; sau khi bàn tính, Nguyễn vương phái ông đem Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện . Năm 1787 ông tới Pháp và ký tờ hiệp ước Versailles. Năm 1789, ông trở lại Gia định. Từ đấy, ông giúp mưu kế, giữ việc văn thư cho Nguyễn vương và thoưòng theo ngài đánh trận . Năm 1799,
            ông theo Nguyễn vương ra đánh thành Qui nhơn ; đang khi vây thành, ông mắc bệnh mất ngay ở đấy, thọ 58 tuổi .
             
             

            0
            Thiên Thứ Năm
             
            Thời Kỳ Cận Kim
             
            (Nguyễn  Triều - Thế Kỷ Thứ XIX)
             
            Chương Thứ Mười Ba
             
            Các Vua Triều Nguyễn, Chánh Sách Học Qui Các Đời Minh Mệnh, Thiệu Trị Và Tự Đức
             
             
            Từ khi triều Nguyễn lên cầm quyền, nghĩa là từ năm 1802 trở đi, sự tiến bộ của khoa học và cơ khí đã thay đổi cả cục diện của thế giới. Nhờ sự giao thông tiện lợi và nhanh chóng, các dân tộc Âu Châu đi khắp hoàn cầu tìm kiếm thị trường để buôn bán và chiếm lĩnh thuộc địa để khuếch  trương thế lực của mình. Nước Nam ta, vốn ở giữa con đường từ châu Âu sang Viễn Đông, không thể tránh khỏi tầm mắt và gót chân người châu Âu. Vậy đối với cái tình thế mới ấy, các vị vua và triều đình nhà Nguyễn, trong mấy đời Minh - mệnh ( 1820 – 1840). Thiệu trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1847-1883) sẽ đối phó ra sao ? Ta cứ xét chính sách nội trị ngoại giao và phép học, phép thi trong mấy đời ấy thì có thể hiểu được nguyên do việc nước Pháp can thiệp đến nước ta và cac’ việc quan trọng đã xảy ra trong lịch sử Việt nam về cận kim thời đại .
             
            Chánh Sách . - Trước xét về việc nội chánh, sau xét về việc ngoại giao .
             
            A) Về mặt nội chánh thì theo chủ nghĩa thủ cựu. Cánh tổ chức quốc gia và xã hội nước ta hồi xưa là theo khuôn Nho giáo, lấy trật tự tôn ti làm gốc : trên thì có phái nhà nho là những người đã học đạo Khổng, Mạnh, thi đỗ làm quan, giữ các quyền bính để giúp vua trị dân, biết lấy luân thường đạo nghĩa làm trọng; nhưng phần nhiều chỉ biết chuộn văn chương, giữ nề nếp cổ, chứ ít người có con mắt trông rộng nom xa, có trí phát minh sáng kiến và thứ nhất là có tài học thực nghiệm chuyện môn; duới thì có bọn thường dân, phần nhiều chuyên về nghề nông, tính tình chất phác, trí thức hẹp hồi, chỉ biết làm ăn theo lề lối xưa  , quyến luyến hương thôn là nơi có nhiều tục lệ ràng buộc, còn ngoài ra các việc công nghệ, thương mại không được phát đạt. Cái chế đo6. ấy không phải là không có điều hay, cuộc sinh hoạt ấy không phải là không có vẻ êm đềm, thực là hợp với một dân tộc “ dĩ nông vi bản ” như dân tộc ta, nhưng tình thế hoàn cầu đã thay đổi mới, khoa học đã tiến bộ, việc giao thông thương mại của các nước ngoài đã mở rộng, nên cách tổ chức xã hội và kinh tế ấy không hợp thời nữa. Tuy vậy, triều đình và sĩ phu noưóc ta vẫn không hiểu biết, chỉ lấy văn minh nước Tàu làm mẫu mực, nhất thiết các việc nội chánh đều theo khuông phép cũ mà làm, không hề canh cải điều gì, thứ nhất là đoưòng binh bị, kỹ nghệ; thương mại vẫn y nguyên như cũ, vì thế mà nước không thể mạnh, dân không thể giàu được.
             
            B) Về mặt ngoại giao thì theo chánh sách bế môn tỏa cảng, nghĩa là đóng cửa không cho người ngoại quốc vào và không giao thiệp với nước ngoài. Tại sao các nhà cầm quyền nước ta lại theo chánh sách ấy ? Xét ra thì có hai cớ chính :
            1. Lòng tự cao : tự coi mình là  văn minh, và trừ nước Tàu ra, coi người nước khác là man di mọi rợ cả (xem như buổi ấy , trong văn thư thường gọi người Âu châu là “Bạch Quỉ “ thì đủ hiểu  cái tâm lý ấy ) . Vì lòng tự cao ấy, nên không muốn giao hảo người nước ngoài.
             
            2. Lòng nghi kỵ : đã không để cho người nước ngoài đến ở đất nước mình, lại không hề cho người mình đi du học hoặc buôn bán ở nước ngoài, nên không biết tính tình, phong tục của người nước ngoài; lại thấy họ dùng những máy móc kỳ dị, nên sinh lòng nghi kỵ, không dám cho họ vào nước mình, sợ họ có manh tâm mưu sự xâm chiếm chăng .
             
            Vì hai cớ ấy, nên triều đình buổi ấy mới thực hành cái chánh sách ngoại giao theo hai phương diện này .
             
            1o Không cho người ngoại quốc vào thông thương. Mấy lần nước Pháp và nước Anh sai phái viên đến xin đặt lĩnh sự và điều đình việc ký thương ước, triều đình đều từ chối cả.
             
            2o Cấm các giáo sĩ người Âu không đuợc truyền đạo Thiên Chúa, cho rằng các giáo sĩ ấy đem truyền những tà thuyết trái với chế độ, phong tục trong nước và có ý thám thính để mở đường cho sự xâm lược. Nhiều lần hạ lệnh bắt giam hoặc giết các giáo sĩ cùng các tín đồ theo đạo ấy.
             
            Học quí . – Sở dĩ các nhà cầm quyền và các sĩ phu nước ta lúc bấy giờ không biết cải cách việc nội chánh và có những ý tưởng sai lầm về việc ngoại giao, chính vì kiến văn hẹp hòi, tri thức khiếm khuyết, chỉ biết đọc sách Tàu, hiểu việc nước Tàu, còn ngoài ra, tình thế thiên hạ, lịch sử, địa dư, văn minh các nước khác trên hoàn cầu đều không rõ cả ; chỉ chuyên học về văn chương, luân lý, mài miệt về lối văn cử nghiệp mà không hề nguyên cứu đến các khoa học thực dụng, nên không biết rằng cơ khí, binh bị, kỹ nghệ, thương mại có mật thiết quan hệ đến sự giàu mạnh sinh tồn của một dân, một nước trong thế kỷ thứ mười chín. Mà cái cớ khiến cho kiến văn hẹp hòi, học thức khiếm khuyết, thế l àchính vì phép học phép thi ở nước ta không thay đổi.
             
            Đành rằng nho học và khoa cử nước ta cũng đã đào tạo được nhiều nhân tài và giúp cho nước ta thành một nước có văn hiến, nhưng cái lối học thuầy lấy văn chương, lun lý, lịch sử làm gốc không hợp thời nữa . Gia dĩ cái lối học cử nghiệp càng lâu ngày càng sinh tệ : các sĩ phu chỉ biết tầm chương trích cú, đẻo gọt câu thơ, câu văn, thành ra thói chuộng hư văn một ngày một tệ thêm.
             
            Cách tổ chức việc học, việc thi trong triều nhà Nguyễn ta đã xét rõ trong Năm thứ nhất, Chương thứ VII và VIII; nay ta nhận kỹ thì phép tắc ấy cũng là phỏng theo qui củ đời Hậu Lê.
             
            A) Về việc học thì triều đình cũng chỉ tổ chức một trường lớn ở kinh đô là Quốc tử giám và đặt các chức đốn học, giáo thụ, huấn đạo để trông nom việc học ở ngoài; có bậc tiểu học tức là việc học của bình dân vẫn không tổ chức đến .
            B) Về việc thi thì cũng vẫn có hai khoa chính là thi Hương và thi Hội và chương trình thì cũng vẫn có thơ, phú, kinh nghĩa văn sách , tứ lục.
             
            Kết luận . - Về việc học thì ở nước ta không thay đổi cho hợp thời, nên dân trí không mở mang mà các bậc sĩ phu trong nước không hiểu thời thế. Vì việc nội chánh không canh cải, nên nền kinh tế trong nước không được thịnh vượng, việc binh bị trong nooức không được sung túc. Lại thêm việc ngoại giao thất sách, thành ra gây oán với nước ngoài: đó chính là cái cớ sâu xa về việc người Pháp sẽ can thiệp đến nước ta vậy.
             
            Bài Học Thêm
             
            Triều đình nước Nam về đời vua Tự Đức
             
            Từ đầu thập cửa thế kỷ trở đi, văm minh và học thuật của thiên hạ đã tiến bộ nhiều, mà sự cạnh tranh của các nước cũng kịch liệt hơn trước. Thế mà những người giữ cái trách nhiệm chánh trị nước mình chỉ chăm việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốcv sự thì phi Nghiêu , Thuấn , lại Hạ, Thương, Chu, việc mấy nghìn năm trước cứ đem làm gương cho thời hiện tại, rồi cứ nghễu nghiện tự xưng mình là hơn người, cho thiên hạ là dã man. Ấy là triều đình nước Nam ta lúc bấy giờ phần nhiều là những người như thế cả. Tuy có một vài người đã đi ra ngoài, trông thấy cảnh tượng thiên hạ, về nói lại, thì các cụ ở nhà cho là nói bậy, làm hủy hại mất kỷ cương ! Thành ra người không biết cứ mo6.t niềm tự đắc, người biết thì phải làm câm làm điếc, không thở ra với ai được phải ngồi khoanh tay mà chịu.
             
            Xem như mấy năm về sau, nhà vua thường có hỏi đến việc phú cường binh, các quan bàn hết lẽ nọ lẽ kia, nào chiến, nào th ủ, mà chẳng thấy làm được việc gì ra trò. Vả thời bấy giờ, cũng đã có người hiểu thời thế, chịu đi du học và muốn thay đổi chính trị. Nhưng năm bính dần (1866) là năm Tự Đức thứ 19, có mấy người ở Nghệ An là Nguyễn Đức Hậu,  Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điều đi du học phương tây. Sau Nguyễn Trường Tộ về làm một bài điều trần rất dài, kể hết cái tình thế nước mình và cái cảnh tượng các nước, rồi xin nhà vua phải mau mau cải lương mọi việc, không thì mất nước. Vua giao tờ điều trần ấy cho các quan duyệt nghị.  Đình thần đều lấy làm sự nói càn, khng ai chịu nghe.
             
            Năm mậu thình (1868) là năm Tự Đức thứ 21, có người ở Ninh bình tên là Đinh Văn Điền dân tờ điều trần nói nên đặt doanh điền, khai mỏ vàng, làm tàu hoả, cho người các nước phương tây vào buôn bán, luyện tập sĩ tốt, để phòng khi chiến thủ, thêm lương thực cho quan quân, bớt sưu dịch dn sự,  thưởng cho những kẻ có công, nuôi nấng những người bị thương, tàn tật...v.v.v. Đại để là những điều ích quốc lợi dân cả, thế mà đình thần cho là không hợp thời thế, rồi bỏ không dùng.
             
            Các quan đi sứ các nơi về tâu bày mọi sự, vua hỏi đến đình thần thì mọi người đều bác đi, cái gì cũng cho là không hợp thời.
             
            Trần Trọng Kim
            Việc Nam sử lược, Tập thứ nhất
            ( Hà nội, Imprimerie du Trung Bắc tân văn )
             
             
             
             
             

            0
            «« « 1 2 » »»