<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 05:43:14Huyền Băng>
Chương Thứ Mười Bốn
Việc Mưu Đồ Canh Tân, Nguyễn Trường Tộ và Chương Trình Cải Cách Của Ông
Trong chương trước, xét về chánh sách nội trị, ngoại giao của các vua triều Nguyễn, ta đã nói cái chánh sách “thủ cựu ” và “bế quan ” theo lúc bấy giờ là do một nguyên nhân chính: các nhà cầm quyền và các sĩ phu trong nước không hiểu rõ tình thế trong thiên hạ .
Tuy vậy, không phải hết thảy người trơng nước đều mê muội cả. Cũng có một số ít người, nhờ đã đi ra nước ngoài nên hiểu rõ tình hình thế giới, lúc về, muốn đem điều sở đắc mà giúp cho việc cải cách trong nước hiểu rõ tình thế trong thiên hạ.
Trong số các người ấy, xuất sắt nhất là Nguyễn Trường Tộ.
Nguyễn Trường Tộ ( 1827-1871) .
– A . Tiểu sử . – Ông người thôn Bùi châu, huyện Hưng nguyên ( nay là phủ ), tỉnh Nghệ an, theo học chữ nho từ thuở nhỏ. Ông cũng có tài về thơ văn, nhưng vì ông chán về lối học từ chương và có khuynh hướng về lối học thực dụng , nên ông không theo đường cử nghiệp. Ông vốn theo đạo Thiên Chúa, nên nhà dòng ở Tân ấp mời ông làm thầy giáo dạy chữ Hán : nhân đó, vị Giám mục Gauthier (Ngô gia Hậu ) dạy ông học chữ Pháp và các khoa học phổ thông.
Sau ông theo vị Giám mục ấy qua Ý rồi đi sang Pháp, ở lại đấy học tập xem xét trong ít lâu. Khi trở về, ông có dừng lại Hương cảng.
Khi về nước, giữa lúc người Pháp đương đánh lấy Gia Định, ông có giúp việc từ hàn cho Soái Phủ Nam Kỳ trong ít lâu, chủ tâm để giúp vào việc giảng hoà của hai chính phủ Pháp và Nam, (ông nói rõ tâm sự ông lúc nào trong bản trần tình khải , đề ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức thứ 16 dắc giúp người đồng ban về việc khẩn đất, lập ấp và việc kiến trúc ; đồng thời ông viết những bản điều trần để xin triều đình canh cải mọi việc.
Năm 1866 ( Tự đức thứ 19 ) , ông được cử đi tìm mỏ ở vùng Nghệ an, Hà tĩnh. Tháng 6 tây năm ấy, ông được quan tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tà Viêm giao cho việc cắm lối để đào sông Thiết cảng ( Kênh Sắt ) . Tháng chín tây năm ấy, ông cùng Giám mục Gauthier và Nguyễn Điều sung phái bộ sang Pháp để mượn thợ và mua máy móc. Nhưng vì việc giao thiệp Triều đình ta với soái phủ Nam kỳ đương gay go ( tháng sáu tây năm 1867, thiếu tướng de la Grandière đã lấy nốt ba tỉnh phía tây Nam kỳ ) , nên đang khi ông lo toan các việc ở Pháp thì nhận được lệnh đình lại các việc mượn người và mua khí cụ mà về nước.
Năm 1868 (Tự đức thứ 21 ), có chỉ phái ông sang công cán bên Pháp, nhưng vì ông đau không đi được. Năm 1871 ( Tự đức thứ 24 ), lại có lệnh đòi ông vào Kinh để đem học sinh ta sang Pháp, nhưng ông đương đau phải từ chối. Giữa năm ấy thì ông mất, thọ 44 tuổi. Trước khi ông mất, ông còn viết mấy bản điều trần nữa.
B) Các bản điều trần . – Sau khi ông xuất dương về thì chí ông đã định : ông muốn đem những điều đã quan sát hiểu biết dược thảo một cái chương trình cải cách đệ lên các nhà cầm quyền, mong để giúp cho việc phú quốc cường dân để đối phó với thời cục . Bởi thế, từ năm 1863 đến năm 1871 là năm ông mất, ông có dâng lên nhà vua hoặc các quan đại thần nhiều bản điều trần, trong đó có những bản này là quan trọng .
1. Ngày 11 tháng 2 năm Tự đức thứ 16 (29-3-1863) : Điều trần về việc tôn giáo .
2. Tháng 6 năm Tự đức thứ 19 (12-7, 9-8-1866): Điều trần về việc phái học sinh đi du học ngoại quốc.
3. Ngày 23 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 ( 1-9-1866): Lục lợi từ ( lời bàn về sáu điều ) lợi .
4. Ngày 25 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 (3-9-1866): Điều trần thời sự .
5. Ngày 20 tháng 10 năm Tự đức thứ 20 (15-11-1867) : Tế cấp bát điều ( Tám điều cứu giúp )
6. Ngày 19 tháng 2 năm Tự đức thứ 21 (12-3-1868) : Giao thông sự nghi bẩm minh ( Bẩm rõ về việc nên giao thiệp với nước ngoài)
7. Ngày 10 tháng 2 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1971): Điều trần về việc nên thông thương với nước ngoài .
8. Mồng 2 tháng 5 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1871): Điều trần về việc tu chỉnh võ bị .
9. Mồng 2 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (16-9-1871) : Điều trần về tình thế phương Tây.
10. Ngày 20 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (14-10-1871): Điều trần về việc nông chính .
11. Tháng chín năm Tự đức thứ 24 (14-10 __ 12 – 11 - 1871): Học tập trữ tài trần thỉnh tập ( tập bài xin về việc học tập để trử lấy nhân tài ).
Còn mấy bản sau này không ghi rõ ngày tháng :
12. Điều trần về đại thế trong thiên hạ.
13. Điều trần về việc ngoại giao.
14. Điều trần về việc khai mỏ.
Chương trình cải cách của ông . – Nay theo các bản điều trần kể trên mà xét cái chương trình cải cách của ông, ta cũng có thể hai phương diện mà xét : 1. ngoại giao, 2. nội chính .
A) Ngoại giao . - Về phương diện này, ông bàn :
1.) Phải hoà với người Pháp, vì lẽ chống nhau với người Pháp thế nào cũng thua và có hại, chứ nếu giao kết với nước Pháp thì ở ngoài có thể chống lại với cường quyền khác muốn dòm ngó đất ta, ở trong được bình yên mà lo việc cải cách cho nước giàu mạnh lên ( Bản thứ 5 và thứ 9 . – Xem bài đọc thêm số 1).
2.) Phải giao thiệp với các cường quốc , một mặt thì đặt sứ thần và lĩnh sự ở các nước ấy để giữ tình giao hiếu với họ và biết rõ tình thế trong thiên hạ, một mặt cho người họ đến thông thương ở nước mình ; như thế nước ta vừa được lợi mà các nước ấy, đều có quyền lợi ở nước ta vừa được lợi mà không để nước nào xâm chiếm đất nước ta được .(Bản thứ 4 và thứ 6. – Xem bài đọc thêm số 2 )
B) Nội chính - Việc nội chính phải cải cách cho nước mạnh dân giàu . Lần lượt , ông xét các vấn đề sau này :
1. Cai trị -
a) Nên giảm số tỉnh, phủ, huyện để bớt số quan lại vô ích thì mới có thể tăng lương và nghiêm trị sự hối lộ và sự hà lạm .
b) Nên phân biệt quyền thẩm phán và quyền cai trị để cho các quan tư pháp được biệt lập mà phân xử theo lẽ công bằng.
2. Vũ bị
a) Nên hậu đãi quân lính để cho nghề võ được trọng .
b) Mở trường và đón thầy ngoại quốc để dạy dỗ và luyện tập sĩ tốt theo binh pháp mới.
c) Tổ chức lại quân đội : tuyển lính trẻ và mạnh ; chọn kỹ các quan võ.
d) Tổ chức sự phòng bị : xây pháo đài ; chế khí giới ; tích trữ vật liệu cần dùng khi có chiến tranh; sửa sang các đường bộ, đường thủy trong nước.
3. Học chánh – Sau khi chỉ trích những điều sai lầm và thiếu thốn của lối học cũ, ông xin :
a) Cải cách việc học, việc thi trong nước : dạy các khoa thực dụng : canh nông, cơ khí, luật lệ, thiên văn ; định lại chương trình các khoa thi : không những chỉ có văn chương phải có cả các khoa học hợp thời.
b) Dùng quốc văn ( viết bằng chữ nôm ông gọi là “Quốc âm Hán tự ” trong việc dạy học, làm sách và các giấy tờ việc quan (ông chỉ trích sự bất tiện về việc dùng chữ nho ) (Xem Bài đọc thêm số 3 )
c) Phái học sinh sang du học các nước châu Âu.
d) Dịch các sách ngoại quốc ( thứ nhất các sách về máy móc ) , ra tiếng Nam; in và phát các sách có ích và nhật trình để dân được biết luật lệ và công việc của chính phủ .
4. Tài chánh . – Muốn thực hành các việc cải cách trên, phải có tiền. Bởi thế , ông đề xướng các điều thay đổi sau này cho tài chánh trong nước được dồi dào.
a) Bắt mọi người phải chịu thuế ; bỏ cái lệ miễn sưu cho nhiều hạng người ( như các khoá sinh ) không có ích gì cho nước mà được hưởng đặc ân.
b) Đặc thứ thuế đánh vào các nhà giàu là những người được hưởng nhiều ân huệ của nhà nước mà có nhiều quyền lợi phải bảo vệ.
c) Điều tra rõ dân số trong nước để đánh thuế cho công bằng.
d) Đạc điền để định rõ diện tích và thuế ngạch các ruộng đất cho công bằng và tránh gian lận .
e) Đặt các thuế mới đánh vào các cách ăn chơi xa xỉ ( cờ bạc, rượu , thuốc lá, thuốc phiện ) để khuyến khích sự tiếc kiệm và sự điều độ .
f) Tăng thuế các hàng nhập cảnh, thứ nhất là xa xỉ phẩm và các hàng trong nước đã có ( như che Tàu, hàng tấm của Tàu ) để khuyến khích sự dùng nội hóa và công nghệ bản quốc.
5. Kinh tế ( các bản điều trần thứ 3, 10 và 11 ) – Làm giàu cho công quĩ chưa đủ, lại phải lo tính cho dân trong nước được giàu. Bởi vậy, ông xin :
a) Tổ chức một sở Địa dư và vẽ địa đồ để biết hình thế và tài sản trong nước, rồi mới theo đấy mà làm các công tác (đường sá, đê điều, dẫn thủy nhập điền ..v..v ) được .
b) Chấn hưng nông nghiệp : đặt nông quan ( lấy các cử nhân, tú tài cho chuyên học tập về nông chánh ) và các sở chuyên môn để cải lương các làm ruộng, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang; kinh lý việc dẫn thủy nhập điền .
c) Chấn hưng công nghệ : khuyến khích và ban thưởng cho những người sáng chế các đồ dùng mới mẻ và tiện lợi , hoặc tìm ra cách chế hoá các đồ ăn , đồ uống cho hương vị tăng lên hay có thể để lâu mà không hư hỏng.
d) Chấn hưng thương nghiệp : khuyến khích và ban thưởng cho những người biết hợp cổ để buôn, hoặc đóng và mua được các tàu biển để thông thương với nước Tàu và các nước khác.
e) Khai khẩn các mỏ : về việc này, ông trình bày các kế hoạch rất tường tận . Ông bàn lúc đầu phải cộng tác với các công ty khai mỏ người Pháp để họ đứng chủ trương việc tìm khoáng mạch trông nom cách khai mỏ và huấn luyện các thợ chuyên môn để sau này người nước ta có thể thay họ mà làm việc ấy được . Ông lại xét cẩn thận các điều khoản và bản hợp đồng phải ký với các công ty ấy có thể nào cho có lợi và tránh những sự xung đột về sau.
Kết luận - Cứ xem lời lẽ trong các bản điều trần thì biết Nguyễn Trường Tộ là một người học thức rộng, kiến văn nhiều, lại có lòng nhiệt thành yêu nước, muốn đem những điều sở đắc mà giúp vào việc cải cách cho nước ta trở nên giàu mạnh bằng người. Lúc đầu, nhà vua thấy kế hoạch của ông có nhiều điều hay, cũng có ý muốn đem ra thực hành, nên một lần ( năm 1866) giao cho ông việc đi tìm mỏ, lại một lần ( cũng năm ấy ) phái ông sang Pháp mua máy móc và tuyển thợ khéo. Nhưng tiếc rằng triều thần bấy giờ phần nhiều không hiểu thời cục , chỉ một mực thủ cựu , không ai tán thành các việc ông xin, lại tìm cách bài bác, công kích, nên nhà vua không có chí quả quyết ; bởi thế cái chương trình của ông đã tốn bao tâm lực để dự thảo không được đem ra thực hành, thật là một việc rất đáng tiếc vậy.
Các Bài Đọc Thêm
1. Nên hòa hiếu với nước Pháp
…..Nếu ta không theo thời mà ứng biến, nếu ta không chịu nhường một phần đất để giữ lấy nền tự chủ, nếu chả may ta bị thua vỡ tan nát thì ta sẽ mất tất cả đất nước của ta …. Các bậc có chí giữ lấy thiên hạ bao giờ cũng biết đánh chịu những điều thiệt nhỏ để giữ gìn lấy cái lớn .
Vậy cái thượng sách của ta bây giờ thì thôi việc chiến tranh, cắt chổ đất biên thùy cho họ, để họ giữ nơi phiên giậu cho ta, con hổ mạnh đã ở núi thì đàn hổ không dám dòm ngó nữa . Thế là chỉ nhường một ít đất mà dân được chịu cái ơn vô cùng ….
Dân đã yên, rồi sẽ sai kẻ hiền tài vượt biển ra ngoài, nghiên cứu các phép đánh giữ các phép đánh giữ của các nước lớn , học tập những cái khôn khéo của thiên hạ. Khi đã ở với họ lâu, thì dò đức lường sức, biết rõ tình trạng của họ. Học đã tin thì thành khéo, khéo đã cực thì thành mạnh . Nuôi chứa lấy hơi sức , đợi thời mà hành động, thì cái mất buổi sáng buổi tối có thể thu lại, chửa muộn gì.
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần thiên hạ đại thế
(Nguyên văn chữ nho in trong N. B., tr. 47 th )
2. Chính sách ngoại giao có những lợi gì ?
….Ngang hàng nước Nam, hãy xem gương nước Xiêm cũng không rộng không mạnh hơn gì nước ta ; thế mà khi tiếp xúc với người Tây phương, nước ấy biết tỉnh ngộ ngay, mà giao hiếu với nước Anh, nước Tây ban nha, nước Bồ đào nha, thông thương với các nước ấy và giữ được quyền tự chủ . Nước ấy không cần phòng thủ biên giới và quyền lợi mà vẫn được trọng nể như liệt cường . Nước Pháp và nước Anh , dù muốn chiếm lấy nước ấy, cũng phải để y nguyên đất cát cho họ. Tình thế dặc biệt ấy, nước Xiêm chỉ nhờ sự ngoại giao mà có, mà sự ngoại giao ấy lại làm cho nước ấy ngày một giàu mạnh thêm.
Hiện nay ta chỉ có một cách tự vệ là thuật ngoại giao và chính sách đối ngoại. Tôi không còn cách gì hay hơn nữa. Mà nếu ta không biết quyết định và hành động cho mau, thì ta càng hồ nghi trì hoãn chừng nào, họ càng tiến bộ chừng ấy. Khi họ đã tới một trình độ tiến hoá quá cao, ta có tỉnh ngộ cũng quá chậm mà có phản động cũng đã muộn rồi.
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần về sự ích lợi của việc giao thông
(Ngày 20 tháng 2 năm Tự đức thứ 19, 5 Avril 1866 )
3. Dùng quốc văn tiện lợi thế nào ?
Nước nào có chữ nước ấy, và khi đọc chữ lên thành ngay ra tiếng nói hàng ngày mà ai nấy điều hiểu . Thế mà nước ta vì quá trọng một thứ chữ ngoại quốc, không dám dặt ra một thứ chữ bản quốc mà dùng. Những chữ nho ta dùng, dù có đọc to lên, cũng chỉ số ít người hiểu được là bọn nhà nho, mà bọn ấy muốn học và hiểu thứ chữ ấy phải tốn gấp đôi công lao để học thứ chữ bản quốc. Nếu có thứ chữ riêng phiên âm tiếng ta thì việc học ở nước ta sẽ dễ dàng biết chừng nào mà thì giờ còn thừa sẽ dùng để học các khoa có ít hơn …..
Sự dùng chữ nho trong việc quan cũng sinh ra nhiều mối tệ và nhiều sự khó khăn mà thường các dân trị hạ cũng các quan không hiễu lẫn nhau….
Ta cũng có những bậc thông thái có thể sáng chế ra một thứ chữ để phiên âm tiếng ta. Nhưng vì ta đã quen dùng chữ nho quá rồi, nếu thay đổi hẳn sợ cả bàn dân bỡ ngỡ . Vậy hiện nay cái kế hay nhất là cứ giữ nguyên những chữ nho nào phiên âm đúng những tiếng của ta và ấn định cho những chữ ấy cái nghĩa của tiếng Nam. Còn những chữ nho nào mà cách đọc hơi giống âm tiếng Nam. Một việc quan trọng nữa phải làm là sắp các chữ trong tiếng ta thành từng hạng, rồi thu thập lợi trong một cuốn tự điển và phân phát cuốn tự điển ấy trong các công sở, các trường học. Sự học “Quốc Âm Hán Tự ” ấy sẽ dễ hơn sự học chữ Nho nhiều về sau này ai viết cũng phải theo đúng các chữ đã lập thành ra không được thay đổi tí gì. Các văn sĩ có thể viết sách bằng chữ nho , nhưng các giấy tờ việc quan phải viết bằng chữ bản quốc do Triều đình đã qui định.
Người nào dịch nổi các sách hay của ngoại quốc, ta sẽ khuyên họ dịch ngay ra “ Quốc âm Hán tự ” . Người nào muốn soạn sách mới thích hợp với sự nhu yếu hiện thời, ta cũng nói với họ viết ngay ra “Quốc âm Hán tự ” . Các người hậu sinh chỉ việc học sách viết bằng tiếng Nam ấy, không cần phải học bằng một thứ chữ khác rồi lại phải dịch và gĩang nghĩa ra tiếng Nam : xem thế thì biết công việc của họ dễ biết chừng nào …
Nguyễn Trường Tộ
Tế cấp bát điều (Điều thư tư, Khoản thứ năm )
Dương Quảng Hàm dịch
Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
1. Lê Thước , Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, N. P., t. XVIII Phần chữ nho, tr. 4 tđ .
2. Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Trường Tộ trên lịch sử Việt Nam N. P., t, XXXII tr. 1 tđ.
3. Đào Đăng Vỹ, Page historique, Nguyễn Trường Tộ et son temps, Patrie annamite, Nos 221 et ssp .
4. Từ ngọc Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, Huế, Nhà in Viễn đệ xb ., 1941
Các Bản In
1. Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế nguyên tâp, N.P., t. XVIII , Phần chữ nho, tr. 47 tđ.
2. Nguyễn Trường Tộ tiên sinh di thảo, N. P. T. XX, tr. 54 và 66 tđ t. XXI tr. 3, 17, 31, 45 tđ.
Việc Mưu Đồ Canh Tân, Nguyễn Trường Tộ và Chương Trình Cải Cách Của Ông
Trong chương trước, xét về chánh sách nội trị, ngoại giao của các vua triều Nguyễn, ta đã nói cái chánh sách “thủ cựu ” và “bế quan ” theo lúc bấy giờ là do một nguyên nhân chính: các nhà cầm quyền và các sĩ phu trong nước không hiểu rõ tình thế trong thiên hạ .
Tuy vậy, không phải hết thảy người trơng nước đều mê muội cả. Cũng có một số ít người, nhờ đã đi ra nước ngoài nên hiểu rõ tình hình thế giới, lúc về, muốn đem điều sở đắc mà giúp cho việc cải cách trong nước hiểu rõ tình thế trong thiên hạ.
Trong số các người ấy, xuất sắt nhất là Nguyễn Trường Tộ.
Nguyễn Trường Tộ ( 1827-1871) .
– A . Tiểu sử . – Ông người thôn Bùi châu, huyện Hưng nguyên ( nay là phủ ), tỉnh Nghệ an, theo học chữ nho từ thuở nhỏ. Ông cũng có tài về thơ văn, nhưng vì ông chán về lối học từ chương và có khuynh hướng về lối học thực dụng , nên ông không theo đường cử nghiệp. Ông vốn theo đạo Thiên Chúa, nên nhà dòng ở Tân ấp mời ông làm thầy giáo dạy chữ Hán : nhân đó, vị Giám mục Gauthier (Ngô gia Hậu ) dạy ông học chữ Pháp và các khoa học phổ thông.
Sau ông theo vị Giám mục ấy qua Ý rồi đi sang Pháp, ở lại đấy học tập xem xét trong ít lâu. Khi trở về, ông có dừng lại Hương cảng.
Khi về nước, giữa lúc người Pháp đương đánh lấy Gia Định, ông có giúp việc từ hàn cho Soái Phủ Nam Kỳ trong ít lâu, chủ tâm để giúp vào việc giảng hoà của hai chính phủ Pháp và Nam, (ông nói rõ tâm sự ông lúc nào trong bản trần tình khải , đề ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức thứ 16 dắc giúp người đồng ban về việc khẩn đất, lập ấp và việc kiến trúc ; đồng thời ông viết những bản điều trần để xin triều đình canh cải mọi việc.
Năm 1866 ( Tự đức thứ 19 ) , ông được cử đi tìm mỏ ở vùng Nghệ an, Hà tĩnh. Tháng 6 tây năm ấy, ông được quan tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tà Viêm giao cho việc cắm lối để đào sông Thiết cảng ( Kênh Sắt ) . Tháng chín tây năm ấy, ông cùng Giám mục Gauthier và Nguyễn Điều sung phái bộ sang Pháp để mượn thợ và mua máy móc. Nhưng vì việc giao thiệp Triều đình ta với soái phủ Nam kỳ đương gay go ( tháng sáu tây năm 1867, thiếu tướng de la Grandière đã lấy nốt ba tỉnh phía tây Nam kỳ ) , nên đang khi ông lo toan các việc ở Pháp thì nhận được lệnh đình lại các việc mượn người và mua khí cụ mà về nước.
Năm 1868 (Tự đức thứ 21 ), có chỉ phái ông sang công cán bên Pháp, nhưng vì ông đau không đi được. Năm 1871 ( Tự đức thứ 24 ), lại có lệnh đòi ông vào Kinh để đem học sinh ta sang Pháp, nhưng ông đương đau phải từ chối. Giữa năm ấy thì ông mất, thọ 44 tuổi. Trước khi ông mất, ông còn viết mấy bản điều trần nữa.
B) Các bản điều trần . – Sau khi ông xuất dương về thì chí ông đã định : ông muốn đem những điều đã quan sát hiểu biết dược thảo một cái chương trình cải cách đệ lên các nhà cầm quyền, mong để giúp cho việc phú quốc cường dân để đối phó với thời cục . Bởi thế, từ năm 1863 đến năm 1871 là năm ông mất, ông có dâng lên nhà vua hoặc các quan đại thần nhiều bản điều trần, trong đó có những bản này là quan trọng .
1. Ngày 11 tháng 2 năm Tự đức thứ 16 (29-3-1863) : Điều trần về việc tôn giáo .
2. Tháng 6 năm Tự đức thứ 19 (12-7, 9-8-1866): Điều trần về việc phái học sinh đi du học ngoại quốc.
3. Ngày 23 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 ( 1-9-1866): Lục lợi từ ( lời bàn về sáu điều ) lợi .
4. Ngày 25 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 (3-9-1866): Điều trần thời sự .
5. Ngày 20 tháng 10 năm Tự đức thứ 20 (15-11-1867) : Tế cấp bát điều ( Tám điều cứu giúp )
6. Ngày 19 tháng 2 năm Tự đức thứ 21 (12-3-1868) : Giao thông sự nghi bẩm minh ( Bẩm rõ về việc nên giao thiệp với nước ngoài)
7. Ngày 10 tháng 2 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1971): Điều trần về việc nên thông thương với nước ngoài .
8. Mồng 2 tháng 5 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1871): Điều trần về việc tu chỉnh võ bị .
9. Mồng 2 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (16-9-1871) : Điều trần về tình thế phương Tây.
10. Ngày 20 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (14-10-1871): Điều trần về việc nông chính .
11. Tháng chín năm Tự đức thứ 24 (14-10 __ 12 – 11 - 1871): Học tập trữ tài trần thỉnh tập ( tập bài xin về việc học tập để trử lấy nhân tài ).
Còn mấy bản sau này không ghi rõ ngày tháng :
12. Điều trần về đại thế trong thiên hạ.
13. Điều trần về việc ngoại giao.
14. Điều trần về việc khai mỏ.
Chương trình cải cách của ông . – Nay theo các bản điều trần kể trên mà xét cái chương trình cải cách của ông, ta cũng có thể hai phương diện mà xét : 1. ngoại giao, 2. nội chính .
A) Ngoại giao . - Về phương diện này, ông bàn :
1.) Phải hoà với người Pháp, vì lẽ chống nhau với người Pháp thế nào cũng thua và có hại, chứ nếu giao kết với nước Pháp thì ở ngoài có thể chống lại với cường quyền khác muốn dòm ngó đất ta, ở trong được bình yên mà lo việc cải cách cho nước giàu mạnh lên ( Bản thứ 5 và thứ 9 . – Xem bài đọc thêm số 1).
2.) Phải giao thiệp với các cường quốc , một mặt thì đặt sứ thần và lĩnh sự ở các nước ấy để giữ tình giao hiếu với họ và biết rõ tình thế trong thiên hạ, một mặt cho người họ đến thông thương ở nước mình ; như thế nước ta vừa được lợi mà các nước ấy, đều có quyền lợi ở nước ta vừa được lợi mà không để nước nào xâm chiếm đất nước ta được .(Bản thứ 4 và thứ 6. – Xem bài đọc thêm số 2 )
B) Nội chính - Việc nội chính phải cải cách cho nước mạnh dân giàu . Lần lượt , ông xét các vấn đề sau này :
1. Cai trị -
a) Nên giảm số tỉnh, phủ, huyện để bớt số quan lại vô ích thì mới có thể tăng lương và nghiêm trị sự hối lộ và sự hà lạm .
b) Nên phân biệt quyền thẩm phán và quyền cai trị để cho các quan tư pháp được biệt lập mà phân xử theo lẽ công bằng.
2. Vũ bị
a) Nên hậu đãi quân lính để cho nghề võ được trọng .
b) Mở trường và đón thầy ngoại quốc để dạy dỗ và luyện tập sĩ tốt theo binh pháp mới.
c) Tổ chức lại quân đội : tuyển lính trẻ và mạnh ; chọn kỹ các quan võ.
d) Tổ chức sự phòng bị : xây pháo đài ; chế khí giới ; tích trữ vật liệu cần dùng khi có chiến tranh; sửa sang các đường bộ, đường thủy trong nước.
3. Học chánh – Sau khi chỉ trích những điều sai lầm và thiếu thốn của lối học cũ, ông xin :
a) Cải cách việc học, việc thi trong nước : dạy các khoa thực dụng : canh nông, cơ khí, luật lệ, thiên văn ; định lại chương trình các khoa thi : không những chỉ có văn chương phải có cả các khoa học hợp thời.
b) Dùng quốc văn ( viết bằng chữ nôm ông gọi là “Quốc âm Hán tự ” trong việc dạy học, làm sách và các giấy tờ việc quan (ông chỉ trích sự bất tiện về việc dùng chữ nho ) (Xem Bài đọc thêm số 3 )
c) Phái học sinh sang du học các nước châu Âu.
d) Dịch các sách ngoại quốc ( thứ nhất các sách về máy móc ) , ra tiếng Nam; in và phát các sách có ích và nhật trình để dân được biết luật lệ và công việc của chính phủ .
4. Tài chánh . – Muốn thực hành các việc cải cách trên, phải có tiền. Bởi thế , ông đề xướng các điều thay đổi sau này cho tài chánh trong nước được dồi dào.
a) Bắt mọi người phải chịu thuế ; bỏ cái lệ miễn sưu cho nhiều hạng người ( như các khoá sinh ) không có ích gì cho nước mà được hưởng đặc ân.
b) Đặc thứ thuế đánh vào các nhà giàu là những người được hưởng nhiều ân huệ của nhà nước mà có nhiều quyền lợi phải bảo vệ.
c) Điều tra rõ dân số trong nước để đánh thuế cho công bằng.
d) Đạc điền để định rõ diện tích và thuế ngạch các ruộng đất cho công bằng và tránh gian lận .
e) Đặt các thuế mới đánh vào các cách ăn chơi xa xỉ ( cờ bạc, rượu , thuốc lá, thuốc phiện ) để khuyến khích sự tiếc kiệm và sự điều độ .
f) Tăng thuế các hàng nhập cảnh, thứ nhất là xa xỉ phẩm và các hàng trong nước đã có ( như che Tàu, hàng tấm của Tàu ) để khuyến khích sự dùng nội hóa và công nghệ bản quốc.
5. Kinh tế ( các bản điều trần thứ 3, 10 và 11 ) – Làm giàu cho công quĩ chưa đủ, lại phải lo tính cho dân trong nước được giàu. Bởi vậy, ông xin :
a) Tổ chức một sở Địa dư và vẽ địa đồ để biết hình thế và tài sản trong nước, rồi mới theo đấy mà làm các công tác (đường sá, đê điều, dẫn thủy nhập điền ..v..v ) được .
b) Chấn hưng nông nghiệp : đặt nông quan ( lấy các cử nhân, tú tài cho chuyên học tập về nông chánh ) và các sở chuyên môn để cải lương các làm ruộng, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang; kinh lý việc dẫn thủy nhập điền .
c) Chấn hưng công nghệ : khuyến khích và ban thưởng cho những người sáng chế các đồ dùng mới mẻ và tiện lợi , hoặc tìm ra cách chế hoá các đồ ăn , đồ uống cho hương vị tăng lên hay có thể để lâu mà không hư hỏng.
d) Chấn hưng thương nghiệp : khuyến khích và ban thưởng cho những người biết hợp cổ để buôn, hoặc đóng và mua được các tàu biển để thông thương với nước Tàu và các nước khác.
e) Khai khẩn các mỏ : về việc này, ông trình bày các kế hoạch rất tường tận . Ông bàn lúc đầu phải cộng tác với các công ty khai mỏ người Pháp để họ đứng chủ trương việc tìm khoáng mạch trông nom cách khai mỏ và huấn luyện các thợ chuyên môn để sau này người nước ta có thể thay họ mà làm việc ấy được . Ông lại xét cẩn thận các điều khoản và bản hợp đồng phải ký với các công ty ấy có thể nào cho có lợi và tránh những sự xung đột về sau.
Kết luận - Cứ xem lời lẽ trong các bản điều trần thì biết Nguyễn Trường Tộ là một người học thức rộng, kiến văn nhiều, lại có lòng nhiệt thành yêu nước, muốn đem những điều sở đắc mà giúp vào việc cải cách cho nước ta trở nên giàu mạnh bằng người. Lúc đầu, nhà vua thấy kế hoạch của ông có nhiều điều hay, cũng có ý muốn đem ra thực hành, nên một lần ( năm 1866) giao cho ông việc đi tìm mỏ, lại một lần ( cũng năm ấy ) phái ông sang Pháp mua máy móc và tuyển thợ khéo. Nhưng tiếc rằng triều thần bấy giờ phần nhiều không hiểu thời cục , chỉ một mực thủ cựu , không ai tán thành các việc ông xin, lại tìm cách bài bác, công kích, nên nhà vua không có chí quả quyết ; bởi thế cái chương trình của ông đã tốn bao tâm lực để dự thảo không được đem ra thực hành, thật là một việc rất đáng tiếc vậy.
Các Bài Đọc Thêm
1. Nên hòa hiếu với nước Pháp
…..Nếu ta không theo thời mà ứng biến, nếu ta không chịu nhường một phần đất để giữ lấy nền tự chủ, nếu chả may ta bị thua vỡ tan nát thì ta sẽ mất tất cả đất nước của ta …. Các bậc có chí giữ lấy thiên hạ bao giờ cũng biết đánh chịu những điều thiệt nhỏ để giữ gìn lấy cái lớn .
Vậy cái thượng sách của ta bây giờ thì thôi việc chiến tranh, cắt chổ đất biên thùy cho họ, để họ giữ nơi phiên giậu cho ta, con hổ mạnh đã ở núi thì đàn hổ không dám dòm ngó nữa . Thế là chỉ nhường một ít đất mà dân được chịu cái ơn vô cùng ….
Dân đã yên, rồi sẽ sai kẻ hiền tài vượt biển ra ngoài, nghiên cứu các phép đánh giữ các phép đánh giữ của các nước lớn , học tập những cái khôn khéo của thiên hạ. Khi đã ở với họ lâu, thì dò đức lường sức, biết rõ tình trạng của họ. Học đã tin thì thành khéo, khéo đã cực thì thành mạnh . Nuôi chứa lấy hơi sức , đợi thời mà hành động, thì cái mất buổi sáng buổi tối có thể thu lại, chửa muộn gì.
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần thiên hạ đại thế
(Nguyên văn chữ nho in trong N. B., tr. 47 th )
2. Chính sách ngoại giao có những lợi gì ?
….Ngang hàng nước Nam, hãy xem gương nước Xiêm cũng không rộng không mạnh hơn gì nước ta ; thế mà khi tiếp xúc với người Tây phương, nước ấy biết tỉnh ngộ ngay, mà giao hiếu với nước Anh, nước Tây ban nha, nước Bồ đào nha, thông thương với các nước ấy và giữ được quyền tự chủ . Nước ấy không cần phòng thủ biên giới và quyền lợi mà vẫn được trọng nể như liệt cường . Nước Pháp và nước Anh , dù muốn chiếm lấy nước ấy, cũng phải để y nguyên đất cát cho họ. Tình thế dặc biệt ấy, nước Xiêm chỉ nhờ sự ngoại giao mà có, mà sự ngoại giao ấy lại làm cho nước ấy ngày một giàu mạnh thêm.
Hiện nay ta chỉ có một cách tự vệ là thuật ngoại giao và chính sách đối ngoại. Tôi không còn cách gì hay hơn nữa. Mà nếu ta không biết quyết định và hành động cho mau, thì ta càng hồ nghi trì hoãn chừng nào, họ càng tiến bộ chừng ấy. Khi họ đã tới một trình độ tiến hoá quá cao, ta có tỉnh ngộ cũng quá chậm mà có phản động cũng đã muộn rồi.
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần về sự ích lợi của việc giao thông
(Ngày 20 tháng 2 năm Tự đức thứ 19, 5 Avril 1866 )
3. Dùng quốc văn tiện lợi thế nào ?
Nước nào có chữ nước ấy, và khi đọc chữ lên thành ngay ra tiếng nói hàng ngày mà ai nấy điều hiểu . Thế mà nước ta vì quá trọng một thứ chữ ngoại quốc, không dám dặt ra một thứ chữ bản quốc mà dùng. Những chữ nho ta dùng, dù có đọc to lên, cũng chỉ số ít người hiểu được là bọn nhà nho, mà bọn ấy muốn học và hiểu thứ chữ ấy phải tốn gấp đôi công lao để học thứ chữ bản quốc. Nếu có thứ chữ riêng phiên âm tiếng ta thì việc học ở nước ta sẽ dễ dàng biết chừng nào mà thì giờ còn thừa sẽ dùng để học các khoa có ít hơn …..
Sự dùng chữ nho trong việc quan cũng sinh ra nhiều mối tệ và nhiều sự khó khăn mà thường các dân trị hạ cũng các quan không hiễu lẫn nhau….
Ta cũng có những bậc thông thái có thể sáng chế ra một thứ chữ để phiên âm tiếng ta. Nhưng vì ta đã quen dùng chữ nho quá rồi, nếu thay đổi hẳn sợ cả bàn dân bỡ ngỡ . Vậy hiện nay cái kế hay nhất là cứ giữ nguyên những chữ nho nào phiên âm đúng những tiếng của ta và ấn định cho những chữ ấy cái nghĩa của tiếng Nam. Còn những chữ nho nào mà cách đọc hơi giống âm tiếng Nam. Một việc quan trọng nữa phải làm là sắp các chữ trong tiếng ta thành từng hạng, rồi thu thập lợi trong một cuốn tự điển và phân phát cuốn tự điển ấy trong các công sở, các trường học. Sự học “Quốc Âm Hán Tự ” ấy sẽ dễ hơn sự học chữ Nho nhiều về sau này ai viết cũng phải theo đúng các chữ đã lập thành ra không được thay đổi tí gì. Các văn sĩ có thể viết sách bằng chữ nho , nhưng các giấy tờ việc quan phải viết bằng chữ bản quốc do Triều đình đã qui định.
Người nào dịch nổi các sách hay của ngoại quốc, ta sẽ khuyên họ dịch ngay ra “ Quốc âm Hán tự ” . Người nào muốn soạn sách mới thích hợp với sự nhu yếu hiện thời, ta cũng nói với họ viết ngay ra “Quốc âm Hán tự ” . Các người hậu sinh chỉ việc học sách viết bằng tiếng Nam ấy, không cần phải học bằng một thứ chữ khác rồi lại phải dịch và gĩang nghĩa ra tiếng Nam : xem thế thì biết công việc của họ dễ biết chừng nào …
Nguyễn Trường Tộ
Tế cấp bát điều (Điều thư tư, Khoản thứ năm )
Dương Quảng Hàm dịch
Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
1. Lê Thước , Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, N. P., t. XVIII Phần chữ nho, tr. 4 tđ .
2. Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Trường Tộ trên lịch sử Việt Nam N. P., t, XXXII tr. 1 tđ.
3. Đào Đăng Vỹ, Page historique, Nguyễn Trường Tộ et son temps, Patrie annamite, Nos 221 et ssp .
4. Từ ngọc Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, Huế, Nhà in Viễn đệ xb ., 1941
Các Bản In
1. Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế nguyên tâp, N.P., t. XVIII , Phần chữ nho, tr. 47 tđ.
2. Nguyễn Trường Tộ tiên sinh di thảo, N. P. T. XX, tr. 54 và 66 tđ t. XXI tr. 3, 17, 31, 45 tđ.







![[:)]](/images/smiley/s1.gif)