📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU 🔒

48 trả lời, 12.468 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 05:43:14Huyền Băng>
Chương Thứ Mười Bốn
 
Việc Mưu Đồ Canh Tân, Nguyễn Trường Tộ và Chương Trình Cải Cách Của Ông
 
Trong chương trước, xét về chánh sách nội trị, ngoại giao của các vua triều Nguyễn, ta đã nói cái chánh sách “thủ cựu ” và “bế quan ” theo lúc bấy giờ là do một nguyên nhân chính: các nhà cầm quyền và các sĩ phu trong nước không hiểu rõ tình thế trong thiên hạ .
 
Tuy vậy, không phải hết thảy người trơng nước đều mê muội cả. Cũng có một số ít người, nhờ đã đi ra nước ngoài nên hiểu rõ tình hình thế giới, lúc về, muốn đem điều sở đắc mà giúp cho việc cải cách trong nước hiểu rõ tình thế trong thiên hạ.
 
Trong số các người ấy, xuất sắt nhất là Nguyễn Trường Tộ.
 
Nguyễn Trường Tộ ( 1827-1871) .
– A . Tiểu sử . – Ông người thôn Bùi châu, huyện Hưng nguyên ( nay là phủ ), tỉnh Nghệ an, theo học chữ nho từ thuở nhỏ. Ông cũng có tài về thơ văn, nhưng vì ông chán về lối học từ chương và có khuynh hướng về lối học thực dụng , nên ông không theo đường cử nghiệp. Ông vốn theo đạo Thiên Chúa, nên nhà dòng ở Tân ấp mời ông làm thầy giáo dạy chữ Hán : nhân đó, vị Giám mục Gauthier (Ngô gia Hậu ) dạy ông học chữ Pháp và các khoa học phổ thông.
 
Sau ông theo vị Giám mục ấy qua  Ý rồi đi sang Pháp, ở lại đấy học tập xem xét trong ít lâu. Khi trở về, ông có dừng lại Hương cảng.
 
Khi về nước, giữa lúc người Pháp đương đánh lấy Gia Định, ông có giúp việc từ hàn cho Soái Phủ Nam Kỳ trong ít lâu, chủ tâm để giúp vào việc giảng hoà của hai chính phủ Pháp và Nam, (ông nói rõ tâm sự ông lúc nào trong bản trần tình khải , đề ngày 20 tháng 3 năm Tự Đức thứ 16 dắc giúp người đồng ban về việc khẩn đất, lập ấp và việc kiến trúc ; đồng thời ông viết những bản điều trần để xin triều đình canh cải mọi việc.
 
Năm 1866 ( Tự đức thứ 19 ) , ông được cử đi tìm mỏ ở vùng Nghệ an, Hà tĩnh. Tháng 6 tây năm ấy, ông được quan tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tà Viêm giao cho việc cắm lối để đào sông Thiết cảng ( Kênh Sắt ) . Tháng chín tây năm ấy, ông cùng Giám mục Gauthier và Nguyễn Điều sung phái bộ sang Pháp để mượn thợ và mua máy móc. Nhưng vì việc giao thiệp Triều đình ta với soái phủ Nam kỳ đương gay go ( tháng sáu tây năm 1867, thiếu tướng de la Grandière đã lấy nốt ba tỉnh phía tây Nam kỳ ) , nên đang khi ông lo toan các việc ở Pháp thì nhận được lệnh đình lại các việc mượn người và mua khí cụ mà về nước.
 
Năm 1868 (Tự đức thứ 21 ), có chỉ phái ông sang công cán bên Pháp, nhưng vì ông đau không đi được. Năm 1871 ( Tự đức thứ 24 ), lại có lệnh đòi ông vào Kinh để đem học sinh ta sang Pháp, nhưng ông đương đau phải từ chối. Giữa năm ấy thì ông mất, thọ 44 tuổi. Trước khi ông mất, ông còn viết mấy bản điều trần nữa.
 
B) Các bản điều trần . – Sau khi ông xuất dương về thì chí ông đã định : ông muốn đem những điều đã quan sát hiểu biết dược thảo một cái chương trình cải cách đệ lên các nhà cầm quyền, mong để giúp cho việc phú quốc cường dân để đối phó với thời cục . Bởi thế, từ năm 1863 đến năm 1871 là năm ông mất, ông có dâng lên nhà vua hoặc các quan đại thần nhiều bản điều trần, trong đó có những bản này là quan trọng .
 
1.     Ngày 11 tháng 2 năm Tự đức thứ 16 (29-3-1863) : Điều trần về việc tôn giáo .
2.     Tháng 6 năm Tự đức thứ 19 (12-7, 9-8-1866): Điều trần về việc phái học sinh đi du học ngoại quốc.
3.     Ngày 23 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 ( 1-9-1866): Lục lợi từ ( lời bàn về sáu điều ) lợi .
4.     Ngày 25 tháng 7 năm Tự đức thứ 19 (3-9-1866): Điều trần thời sự .
5.     Ngày 20 tháng 10 năm Tự đức thứ 20 (15-11-1867) : Tế cấp bát điều ( Tám điều cứu giúp )
6.     Ngày 19 tháng 2 năm Tự đức thứ 21 (12-3-1868) : Giao thông sự nghi bẩm minh ( Bẩm rõ về việc nên giao thiệp với nước ngoài)
7.     Ngày 10 tháng 2 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1971): Điều trần về việc nên thông thương với nước ngoài .
8.     Mồng 2 tháng 5 năm Tự đức thứ 24 (19-6-1871):  Điều trần về việc tu chỉnh võ bị .
9.     Mồng 2 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (16-9-1871) : Điều trần về tình thế phương Tây.
10.  Ngày 20 tháng 8 năm Tự đức thứ 24 (14-10-1871): Điều trần về việc nông chính .
11.  Tháng chín năm Tự đức thứ 24 (14-10  __ 12 – 11 - 1871): Học tập trữ tài trần thỉnh tập ( tập bài xin về việc học tập để trử lấy nhân tài ).
 
Còn mấy bản sau này không ghi rõ ngày tháng :
 
12.  Điều trần về đại thế trong thiên hạ.
13.  Điều trần về việc ngoại giao.
14.  Điều trần về việc khai mỏ.
 
Chương trình cải cách của ông . – Nay theo các bản điều trần kể trên mà xét cái chương trình cải cách của ông, ta cũng có thể hai phương diện mà xét : 1. ngoại giao, 2. nội chính .
 
A)   Ngoại giao . - Về phương diện này, ông bàn :
 
1.)   Phải hoà với người Pháp, vì lẽ chống nhau với người Pháp thế nào cũng thua và có hại, chứ nếu giao kết với nước Pháp thì ở ngoài có thể chống lại với cường quyền khác muốn dòm ngó đất ta, ở trong được bình yên mà lo việc cải cách cho nước giàu mạnh lên ( Bản thứ 5 và thứ 9 . – Xem bài đọc thêm số 1).
 
2.)   Phải giao thiệp với các cường quốc , một mặt thì đặt sứ thần và lĩnh sự ở các nước ấy để giữ tình giao hiếu với họ và biết rõ tình thế trong thiên hạ, một mặt cho người họ đến thông thương ở nước mình ; như thế nước ta vừa được lợi mà các nước ấy, đều có quyền lợi ở nước ta vừa được lợi mà không để nước nào xâm chiếm đất nước ta được .(Bản thứ 4 và thứ 6. – Xem bài đọc thêm số 2 )
 
 
B)    Nội chính - Việc nội chính phải cải cách cho nước mạnh dân giàu . Lần lượt , ông xét các vấn đề sau này :
 
1.     Cai trị -
a) Nên giảm số tỉnh, phủ, huyện để bớt số quan lại vô ích thì mới có thể tăng lương và nghiêm trị sự hối lộ và sự hà lạm .
 
b) Nên phân biệt quyền thẩm phán và quyền cai trị để cho các quan tư pháp được biệt lập mà phân xử theo lẽ công bằng.
 
2.     Vũ bị
a) Nên hậu đãi quân lính để cho nghề võ được trọng .
 
b) Mở trường và đón thầy ngoại quốc để dạy dỗ và luyện tập sĩ tốt theo binh pháp mới.
 
c) Tổ chức lại quân đội : tuyển lính trẻ và mạnh ; chọn kỹ các quan võ.
 
d) Tổ chức sự phòng bị : xây pháo đài ; chế khí giới ; tích trữ vật liệu cần dùng khi có chiến tranh; sửa sang các đường bộ, đường thủy trong nước.
 
3.     Học chánh – Sau khi chỉ trích những điều sai lầm và thiếu thốn của lối học cũ, ông xin :
 
a)     Cải cách việc học, việc thi trong nước : dạy các khoa thực dụng : canh nông, cơ khí, luật lệ, thiên văn ; định lại chương trình các khoa thi : không những chỉ có văn chương phải có cả các khoa học hợp thời.
 
b)     Dùng quốc văn ( viết bằng chữ nôm ông gọi là “Quốc âm Hán tự ” trong việc dạy học, làm sách và các giấy tờ việc quan (ông chỉ trích sự bất tiện về việc dùng chữ nho ) (Xem Bài đọc thêm số 3 )
 
c)     Phái học sinh sang du học các nước châu Âu.
 
d)     Dịch các sách ngoại quốc ( thứ nhất các sách về máy móc ) , ra tiếng Nam; in và phát các sách có ích và nhật trình để dân được biết luật lệ và công việc của chính phủ .
 
4.     Tài chánh . – Muốn thực hành các việc cải cách trên, phải có tiền. Bởi thế , ông đề xướng các điều thay đổi sau này cho tài chánh trong nước được dồi dào.
 
a)     Bắt mọi người phải chịu thuế ; bỏ cái lệ miễn sưu cho nhiều hạng người ( như các khoá sinh ) không có ích gì cho nước mà được hưởng đặc ân.
 
b)     Đặc thứ thuế đánh vào các nhà giàu là những người được hưởng nhiều ân huệ của nhà nước mà có nhiều quyền lợi phải bảo vệ.
 
c)     Điều tra rõ dân số trong nước để đánh thuế cho công bằng.
 
d)     Đạc điền để định rõ diện tích và thuế ngạch các ruộng đất cho công bằng và tránh gian lận .
 
e)     Đặt các thuế mới đánh vào các cách ăn chơi xa xỉ ( cờ bạc, rượu , thuốc lá, thuốc phiện ) để khuyến khích sự tiếc kiệm và sự điều độ .
 
f)      Tăng thuế các hàng nhập cảnh, thứ nhất là xa xỉ phẩm và các hàng trong nước đã có ( như che Tàu, hàng tấm của Tàu )  để khuyến khích sự dùng nội hóa và công nghệ bản quốc.
 
5.     Kinh tế ( các bản điều trần thứ 3, 10 và 11 ) – Làm giàu cho công quĩ chưa đủ, lại phải lo tính cho dân trong nước được giàu. Bởi vậy, ông xin :
 
a)     Tổ chức một sở Địa dư và vẽ địa đồ để biết hình thế và tài sản trong nước, rồi mới theo đấy mà làm các công tác (đường sá, đê điều, dẫn thủy nhập điền ..v..v ) được .
 
b)     Chấn hưng nông nghiệp : đặt nông quan ( lấy các cử nhân, tú tài cho chuyên học tập về nông chánh ) và các sở chuyên môn để cải lương các làm ruộng, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang; kinh lý việc dẫn thủy nhập điền .
 
c)     Chấn hưng công nghệ : khuyến khích và ban thưởng cho những người sáng chế các đồ dùng mới mẻ và tiện lợi , hoặc tìm ra cách chế hoá các đồ ăn , đồ uống cho hương vị tăng lên hay có thể để lâu mà không hư hỏng.
 
d)     Chấn hưng thương nghiệp : khuyến khích và ban thưởng cho những người biết hợp cổ để buôn, hoặc đóng và mua được các tàu biển để thông thương với nước Tàu và các nước khác.
 
e)     Khai khẩn các mỏ : về việc này, ông trình bày các kế hoạch rất tường tận . Ông bàn lúc đầu phải cộng tác với các công ty khai mỏ người Pháp để họ đứng chủ trương việc tìm khoáng mạch trông nom cách khai mỏ và huấn luyện các thợ chuyên môn để sau này người nước ta có thể thay họ mà làm việc ấy được . Ông lại xét cẩn thận các điều khoản và bản hợp đồng phải ký với các công ty ấy có thể nào cho có lợi và tránh những sự xung đột về sau.
 
 
Kết luận - Cứ xem lời lẽ trong các bản điều trần thì biết Nguyễn Trường Tộ là một người học thức rộng, kiến văn nhiều, lại có lòng nhiệt thành yêu nước, muốn đem những điều sở đắc mà giúp vào việc cải cách cho nước ta trở nên giàu mạnh bằng người. Lúc đầu, nhà vua thấy kế hoạch của ông có nhiều điều hay, cũng có ý muốn đem ra thực hành, nên một lần ( năm 1866) giao cho ông việc đi tìm mỏ, lại một lần ( cũng năm ấy ) phái ông sang Pháp mua máy móc và tuyển thợ khéo. Nhưng tiếc rằng triều thần bấy giờ phần nhiều không hiểu thời cục , chỉ một mực thủ cựu , không ai tán thành các việc ông xin, lại tìm cách bài bác, công kích, nên nhà vua không có chí quả quyết ; bởi thế cái chương trình của ông đã tốn bao tâm lực để dự thảo không được đem ra thực hành, thật là một việc rất đáng tiếc vậy.
 
Các Bài Đọc Thêm
 
1. Nên hòa hiếu với nước Pháp
 
…..Nếu ta không theo thời mà ứng biến, nếu ta không chịu nhường một phần đất để giữ lấy nền tự chủ, nếu chả may ta bị thua vỡ tan nát thì ta sẽ mất tất cả đất nước của ta …. Các bậc có chí giữ lấy thiên hạ bao giờ cũng biết đánh chịu những điều thiệt nhỏ để giữ gìn lấy cái lớn .
 
Vậy cái thượng sách của ta bây giờ thì thôi việc chiến tranh, cắt chổ đất biên thùy cho họ, để họ giữ nơi phiên giậu cho ta, con hổ mạnh đã ở núi thì đàn hổ không dám dòm ngó nữa . Thế là chỉ nhường một ít đất mà dân được chịu cái ơn vô cùng ….
 
Dân đã yên, rồi sẽ sai kẻ hiền tài vượt biển ra ngoài, nghiên cứu các phép đánh giữ các phép đánh giữ của các nước lớn , học tập những cái khôn khéo của thiên hạ. Khi đã ở với họ lâu, thì dò đức lường sức, biết rõ tình trạng của họ. Học đã tin thì thành khéo, khéo đã cực thì thành mạnh . Nuôi chứa lấy hơi sức , đợi thời mà hành động, thì cái mất buổi sáng buổi tối có thể thu lại, chửa muộn gì.
 
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần thiên hạ đại thế
(Nguyên văn chữ nho in trong N. B., tr. 47 th )
 
 
2. Chính sách ngoại giao có những lợi gì ?
 
….Ngang hàng nước Nam, hãy xem gương nước Xiêm cũng không rộng không mạnh hơn gì nước ta ; thế mà khi tiếp xúc với người Tây phương, nước ấy biết tỉnh ngộ ngay, mà giao hiếu với nước Anh, nước Tây ban nha, nước Bồ đào nha, thông thương với các nước ấy và giữ được quyền tự chủ . Nước ấy không cần phòng thủ biên giới và quyền lợi mà vẫn được trọng nể như liệt cường . Nước Pháp và nước Anh , dù muốn chiếm lấy nước ấy, cũng phải để y nguyên đất cát cho họ. Tình thế dặc biệt ấy, nước Xiêm chỉ nhờ sự ngoại giao mà có, mà sự ngoại giao ấy lại làm cho nước ấy ngày một giàu mạnh thêm.
 
Hiện nay ta chỉ có một cách tự vệ là thuật ngoại giao và chính sách đối ngoại. Tôi không còn cách gì hay hơn nữa. Mà nếu ta không biết quyết định và hành động cho mau, thì ta càng hồ nghi trì hoãn chừng nào, họ càng tiến bộ chừng ấy. Khi họ đã tới một trình độ tiến hoá quá cao, ta có tỉnh ngộ cũng quá chậm mà có phản động cũng đã muộn rồi.
 
Nguyễn Trường Tộ
Điều trần về sự ích lợi của việc giao thông
(Ngày 20 tháng 2 năm Tự đức thứ 19, 5 Avril 1866 )
 
3. Dùng quốc văn tiện lợi thế nào ?
 
Nước nào có chữ nước ấy, và khi đọc chữ lên thành ngay ra tiếng nói hàng ngày mà ai nấy điều  hiểu . Thế mà nước ta vì quá trọng một thứ chữ ngoại quốc, không dám dặt ra một thứ chữ bản quốc mà dùng. Những chữ nho ta dùng, dù có đọc to lên, cũng chỉ số ít người hiểu được là bọn nhà nho, mà bọn ấy muốn học và hiểu thứ chữ ấy phải tốn gấp đôi công lao để học thứ chữ bản quốc. Nếu có thứ chữ riêng phiên âm tiếng ta thì việc học ở nước ta sẽ dễ dàng biết chừng nào mà thì giờ còn thừa sẽ dùng để học các khoa có ít hơn …..
 
Sự dùng chữ nho trong việc quan cũng sinh ra nhiều mối tệ và nhiều sự khó khăn mà thường các dân trị hạ cũng các quan không hiễu lẫn nhau….
 
Ta cũng có những bậc thông thái có thể sáng chế ra một thứ chữ để phiên âm tiếng ta. Nhưng vì ta đã quen dùng chữ nho quá rồi, nếu thay đổi hẳn sợ cả bàn dân bỡ ngỡ . Vậy hiện nay cái kế hay nhất là cứ giữ nguyên những chữ nho nào phiên âm đúng những tiếng của ta và ấn định cho những chữ ấy cái nghĩa của tiếng Nam. Còn những chữ nho nào mà cách đọc hơi giống âm tiếng Nam. Một việc quan trọng nữa phải làm là sắp các chữ trong tiếng ta thành từng hạng, rồi thu thập lợi trong một cuốn tự điển và phân phát cuốn tự điển ấy trong các công sở, các trường học. Sự học “Quốc Âm Hán Tự ” ấy sẽ dễ hơn sự học chữ Nho nhiều về sau này ai viết cũng phải theo đúng các chữ đã lập thành ra không được thay đổi tí gì. Các văn sĩ có thể viết sách bằng chữ nho , nhưng các giấy tờ việc quan phải viết bằng chữ bản quốc do Triều đình đã qui định.
 
Người nào dịch nổi các sách hay của ngoại quốc, ta sẽ khuyên họ dịch ngay ra “ Quốc âm Hán tự ” . Người nào muốn soạn sách mới thích hợp với sự nhu yếu hiện thời, ta cũng nói với họ viết ngay ra “Quốc âm Hán tự ” . Các người hậu sinh chỉ việc học sách viết bằng tiếng Nam ấy, không cần phải học bằng một thứ chữ khác rồi lại phải dịch và gĩang nghĩa ra tiếng Nam : xem thế thì biết công việc của họ dễ biết chừng nào …
 
Nguyễn Trường Tộ
Tế cấp bát điều (Điều thư tư, Khoản thứ năm )
Dương Quảng Hàm dịch
 
Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
 
 
1. Lê Thước , Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử, N. P.,  t. XVIII Phần chữ nho, tr. 4 tđ .
 
2. Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Trường Tộ trên lịch sử Việt Nam N. P., t, XXXII tr. 1 tđ.
 
3. Đào Đăng Vỹ, Page historique, Nguyễn Trường Tộ et son temps, Patrie annamite, Nos 221 et ssp .
 
4. Từ ngọc Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, Huế, Nhà in Viễn đệ xb ., 1941
 
Các Bản In
 
1. Nguyễn Trường Tộ điều trần thiên hạ đại thế nguyên tâp, N.P., t. XVIII , Phần chữ nho, tr. 47 tđ.
 
2. Nguyễn Trường Tộ tiên sinh di thảo, N. P. T. XX, tr. 54 và 66 tđ  t. XXI tr. 3, 17, 31, 45 tđ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 06:18:36Huyền Băng>
Chương Thứ Mười Lăm
 
Văn Chương Triều Nguyễn
 
Hán văn trong triều Nguyễn cũng như về đời nhà Lê rất thịnh về mặt từ chương, thứ nhất là thơ. Ta có thể chia làm ba thời kỳ :
 

I)  Thời kỳ thứ nhất : Buổi Nguyễn sơ;
II)  Thời kỳ thứ nhì : Trước khi nước Pháp lập cuộc bảo hộ ;
III)  Thời kỳ thứ ba : Sau khi nuớc Pháp lập cuộc bảo hộ .


     
    I)Thời kỳ thứ nhất . – Trong buổi Nguyễn sơ, các thi gia hoặc là những bậc cựu thần nhà Lê, hoặc là những bậc văn thần đã có công giúp vua Gia long trong việc bình định.
     
    A) Các cựu thần nhà Lê hoặc ẩn lánh không ra làm quan , hoặc miễn cưỡng ra thờ tân triều, nên trong lời thơ thường thấy thổ lộ tấm lòng tưởng nhớ nhà Lê, than tiếc cảnh cũ. Hai thi gia tiêu biểu cho phái ấy là Phạm Qui Thích (1) , tác giả Thảo đường thi  tập ( hơn 990 bài ) và Lập trai văn tập . Nguyễn Du (2), tác giả Bắc hành thi tập ( tập thơ đi sứ Tàu năm 1813).
     
    B) Còn về các bậc khai quốc công thần thì phải kể Trịnh Hoài Đức (3) tác giả Cấn trai thi tập , Bắc sứ thi tập ( Tập thơ đi sứ Tàu năm 1802) ., và Lê Quang Định (4) một tác giả trong tập Gia Định tam gia thi ( 5 ) .
     
    II)Thời kỳ thứ nhì –
    A ) Trong thời kỳ này, trước hết phải kể các vua Minh mệnh (6 ), Thiệu trị (7), Tự Đức (8) đều là những bậc hay chữ và có thi tập cả.
     
    Vua Minh mệnh có hai tập : ngự chế thi tập và Ngự chế tiễu bình Nam kỳ tặc khẩu thi tập (tập thơ vịnh việc dẹp yên giặc giã ở Nam kỳ tức là loạn Lê văn Khôi , 1833-1835)
     
    Vua Thiệu trị có ba tập : Ngự chế danh thắng đồ hội thi tập ( tập vịnh các phong cảnh đẹp ), Ngự chế Bắc tuần thi tập ( tập thơ vịnh việc đi tuần du ở Bắc kỳ ) , Ngự chế vũ công thi tập ( tập thơ vịnh công đánh dẹp ) .
     
    B) Kế đến bốn nhà làm thơ văn nổi tiếng đã được khen trong hai câu thơ truyền tụng : “ Văn như Siêu, Quát, vô Tiền Hán ; Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường “ (Văn như văn của Siêu, Quát, thì không còn nhà Tiền Hán ; thơ đến thơ của Tùng, Tuy, thì mất cả nhà Thịnh Đường ) .
     
    Siêu tức Nguyễn Văn Siêu (9) tác giả Phương đình thi tập (4q. ) Phương đình văn tập ( 5.q.) Tùy bút lục (6q. ) là một bậc văn sĩ có tài lỗi lạc.
     
    Quát tức Cao Bá Quát (10) là một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ cao kỳ, ông còn một tập thơ truyền lại : Chu thần thi tập .
     
    Tùng tức Tùng Thiện Vương ( 11) , tác giả Thương sơn thi tập, Nạp bị tập và Tuy Lý vương (12), tác giả Vĩ dã hợp tập (11q. in năm 1875), đều là hai nhà làm thơ đã nổi tiếng ở đất kinh đô và đã được các thi gia Tàu khen ngợi .
     
    C) Ngoài bốn nhà ấy, còn phải kể Hà Tôn Quyền (13) , tác giả Tốn phủ thi văn tập và Mộng dương tập hoặc Dương mộng tập là tập thơ ông làm khi đi phải bộ sang Ba lăng (ở Nam dương quần đảo ) ; Phan Thanh Giản (14) , tác giả Lương khê thi văn thảo (in năm 1876)  Trương Quốc Dụng (15), tác giả quyển Thoái thực ký văn có tựa đề năm 1851 (16) và Phạm Phú Thứ (17) tác giả Giá viên thi văn tập và Tây phù thi thảo ( tập thơ làm khi ông sang sứ bên Pháp )
     
    Thời kỳ thứ ba . – Trong thời kỳ này , vì có các việc xảy ra trong lịch sử, thứ nhất là việc nước Pháp đặt cuộc bảo hộ ở Trung Bắc kỳ, nên thơ văn đương thời cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh ; có nhiều tác phẩm nhắc đến những việc đã xảy ra , hoặc tỏ bày các cảm tưởng của tác giả đối với những việc ấy. Ta có thể kể mấy nhà sau này : Nguyễn Tư  Giản (18) tác giả Thạch nông thi văn tập, Thạch nông tùng thoại và Yên thiền thi thảo tập thơ làm khi ông sang sứ Tàu , Yên = tỉnh Trực lệ của Tàu , thiều = xe ngựa ) ; Nguyễn Thông (19) , tác giả Ngoạ du sào thu văn tập ( in năm 1884), Kỳ xuyên thi văn sao , Độn am văn tập; và Kỳ xuyên công độc ( công độc : thư từ về việc công ); Nguyễn Khuyến (20), tác giả Quế sơn thi tập : Dương Lâm (21), tác giả Dương Lâm văn tập ; Nguyễn Thượng Hiền (22) tác giả Nam chi tập .
     
    Các Bài Đọc Thêm
     

    Bài thơ tổng vịnh truyện Kiều

      Phạm Quí Thích
       
      Giai nhân bất thị đáo Tiền đường,
      Bán thế yên hoa trái vị thường .
      Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc ,
      Băng tâm tự khả đối Kim lang .
      Đoạn trường mộn lý căn duyên liễu,
      Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
      Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,
      Tân thanh đáo để vị thùy thương
       
      Bản dịch (Xem phần thứ nhì, bài số 77 )
       

      Đền Trấn võ Hà nội

        Tùng Thiện Vương
         
        Cao lâu độc thượng tứ đê hồi,
        Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi .
        Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,
        Tàn bi vô tự tảo thương đài,
        Bách niên đồng tượng nguy thiên tại,
        Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi .
        Chỉ thặng Tây hồ vân tháo hảo,
        Tùy phong do phất hoạ liêm lai.
         
        Bản dịch
         
        Lầu cao một chắc ruột vò tơ,
        Trời tối chuông chùa tiếng vẩn vơ .
        Cây cổ có ngành treo nguyệt rạng.
        Bia tàn mất chữ phủ rêu lờ .
        Tượng đồng muôn thuở còn trơ trội,
        Cửa ngọc năm triều nửa đồ hư.
        Lựa có Hồ Tây mây khá đẹp,
        Bay theo chiều gió lọt rèm thưa.
         
        Việt Ngâm dịch
        (Tiếng Dân ngày 21 – 9 – 1953)
         

        Cũng đề mục trên

          Cao Bá Quát
           
          Tích du vô kế phục đăng lâu,
          Tà ỷ lan can vọng bích lưu.
          Quân diệc đa tình đáo yên thủy,
          Ngã do di hận mãn thinh châu .
          Nhật tà thiên địa song bồng mấn,
          Xuân tịnh giang hồ nhất bạch âu.
          Dao tưởng đương niên hành lạc xứ,
          Tàn hoa do tự cố cung đầu .
           
          Bản dịch
           
          Chưa thể chơi xa lại dựa lầu,
          Lan can ngồi chệch ngắm dòng sâu
          Nước mây đưa khách thêm buồn cảm
          Doi bãi riêng ta chất khói sầu
          Trời đất bóng chiều phai tóc bạc,
          Giang hồ xuân lặng lẻ mình âu
          Trò vui ngày trước là nơi đấy
          Cung cũ hoa tàn trải mấy thu
           
          Việt Ngâm dịch
          (Tiếng Dân ngày 12-9-1935)
           

          Xuân nhật thị chư nhi

            Nguyễn Khuyến
            Đồi hồ mao phát tiệm tham tham
            Bất giác niên đăng ngũ thập tam
            Đương thế thi thư hà sở dụng
            Lão lai quan đái thượng đa tàm
            Loạn ly xuân sắc chân vô lại
            Ưu khổ nhân tình tổng bất kham.
            Đối thủ quan âm hà dĩ úy ?
            Chư nhi do tự tửu ca hàm .
             
            Tác giả tự dịch
             
            Ngày xuân răn con cháu
             
            Tuổi thêm thêm được tóc râu phờ,
            Nay đã năm mươi có lẻ ba !
            Sách vở ích gì cho buổi ấy ?
            Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già .
            Xuân về ngày loạn còn lơ láo,
            Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ .
            Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng ?
            Sao con đàn hát vẫn say sưa.
             

            Núi Ngũ hành ở Quảng nam

              Nguyễn Thượng Hiền
               
               
              I
              Ngộ nhập hồn trần chấp ngũ niên,
              Bồng lai hồi thủ tứ mang nhiên .
              Như kim đáo đắc Tàng chân động
              Tảo thạch niêm hoa lễ chúng tiên .
               
              II
              Linh ứng đài cao ẩn thúy vi,
              Tàng chân động cổ thạch đài hi
              Thu phong độc ỷ Tùng quan vọng
              Bất kiến thiên nhai hải hạc phi .
               
              III
              Ẩm bãi tùng lao tạo thúy vi,
              Tiên ông tằng thử tức trần ky
              Cố nhân tung tích quân  hưu vấn
              Nhất phiến nhàn vân vạn lý phi.
               
              Bản dịch
               
              I
              Hai mươi năm lẻ xuống trần gian,
              Ngảnh lại Bồng lai gẫm dở dang
              Kìa động Tàng chân nay được đến,
              Dân hoa quét đá lễ tiên ban .
               
              II
              Linh ứng đền xây giữa núi sâu,
              Tàng chân động cổ đã sưa ( thưa ) rêu .
              Gió thu giữa cửa Tùng quan ngắm ,
              Hạc biển bay mù chả thấy đâu
               
              III
              Non cao mấy chén rượu từng say,
              Xa tục, tiên ông ẩn chốn này .
              Tung tích người xưa thôi chớ hỏi,
              Chùm mây muôn dặm tự do bay .
               
              Việt Ngâm dịch
              (Tiếng Dân ngày 28-9-1935)
               
              Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
               

              Đại nam chính biên liệt truyện .
              Phạm Lập trai tiên sinh truyện, N., t. XXII, phần Nho, tr. 57 td.
              Phạm Sĩ Bàng và Lê Thước, truyện cũ Nguyễn Du, Hà nội, Mạc Đình Tư, 1924
              Cụ Phương đình Nguyễn văn Siêu N. P., t. XXIII; tr. 328 tđ.
              Trần Thanh Mại, Tuy lý vương, Ưng linh x.h, . 1938 .
              Hoa bằng hà Tôn Quyền, Nước Nam tuần báo số 50 tđ.
              truyện Phan Thanh Giản, Lục tính tân văn, số ngày 7-12-1932 tđ .
              Chương dân Chuyện quan hiệp biện Phạm Phú Thứ, N. P., t. VI . tr. 303 tđ .
              Hoa bằng Nguyễn Thượng Hiền . Nước Nam tuần báo, 24-45 .
              Cao Xuân Dục, Quốc triều khoa bảng lục Long cương tùng bản, 1894 .
              Cao Xuân Dục Quốc triều hương khóa lục, Long cương tùng bản 1893 .


                 

                [/align] 
                (1)  Phạm Quý Thích (1760-1825) : tự Dữ đạo, hiệu Lập trai biệt hiệu Thảo đường cư sĩ, người xã Hoa đường, huyện Đường an ( nay là xã Lương ngọc, phủ Bình giang, tỉnh Hải dương, đổ tiến sĩ năm 1779) Lê Hiển tôn, Cảnh hưng thứ 40) làm quan về đời nhà Lê đến chức Tri công phiên . Đến khi Tây sơn lấy Bắc hà, ông đi ẩn lánh. Năm đầu Gia long ( 1802) ông được vời ra bổ Thị trung học sĩ, ông xin từ không được. Năm 1811, ông lại được triệu vào Kinh giữ việc chép sử. Sau ông cáo bệnh về. Năm Minh mệnh thứ 2 ( 1821), lại có chỉ triệu ra làm quan, nhưng ông xin từ chối vì đương đau. Ông thường dạy học trò, có nhiều  người hiển đạt như các ông Nguyễn văn Lý, Nguyễn văn Siêu .
                 
                (2)  Nguyễn Du ( 1765-1820) : tự Tố như, hiệu Thanh hiên, biệt hiệu Hồng sơn liệp hộ , người xã Tiên điền, huyện Nhi xân ( Hà tĩnh ). Tổ tiên nhà ông đời đời làm quan với nhà Lê. Ông có khí tiếc, không chịu ra làm quan với nhà Tây Sơn . Năm Gia long nguyên niên ( 1802) , ông được triệu ra làm quan, từ mãi không được. Năm thứ 13 (1813) , thăng Cần chánh điện học sĩ sung làm chánh sứ sang cống bên Tàu. Đến khi về thăng Lễ bộ hữu tham trị . Năm Minh mệnh nguyên niêm (1820) lại có lệnh sang sứ Tàu , nhưng chưa đi thì ông mất .
                 
                (3)  Trịnh Hoài Đức (1765-1825): hiệu Cấn trai; tổ tiên nguyên là người tỉnh Phúc kiến bên Tàu, sau di cư sang đất Trấn biên ( Biên hoà ) trong Nam kỳ . Năm 1788, sau khi đức Nguyễn Ánh lấy lại được gia định ngài mở khoa thi ; ông đi thi đỗ, được bổ dụng mà theo giúp ngài có công . Trải thờ hai triều ( Gia long và Minh mệnh ), làm quan đến Hiện biện đại học sĩ . Năm 1802, có sang sứ Tàu.
                 
                (4)  Lê Quang Định (1760-1813), tự Tri Chỉ , hiệu Tấn trai, quê ở huyện Phú vinh ( Thừa thiên ), vào ngụ trong đất Gia định, cùng đỗ một khoa thi với Trịnh Hoài Đức năm 1783 (xem Lời chú (3) ở trên ) , được bổ dụng vào theo giúp đức Nguyễn Ánh sau làm quan đến chức Thượng thư . Ông viết tốt, vẽ tài, khi sang sứ Tàu (1802) đi đến đâu thường vịnh thơ vẽ cảnh đến đó, người Tàu đã phải khen .
                 
                (5)  Tập này gồm có thơ của ba ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh .
                 
                (6)  Vua Minh mệnh ( 1791-1840): trị vì tự năm 1820 đến năm 1840.
                 
                (7)  Vua Thiệu trị ( 1811-1847): trị vì tự năm 1840 đến năm 1847 .
                 
                (8)  Vua Tự đức ( 1829-1883): trị vì tự năm 1847 đến năm 1883 .
                 
                (9)  Nguyễn Văn Siêu ( 1799-1872) theo tiểu truyện của ông đang trong NP. t. XXIII, tr, 328 tđ ; - theo Quốc triều khoa bảng lục , q. 10; tờ II b  thì ông sinh năm Bính thìn, ( 1796); tự Tốn ban hiệu Phương đình, người thôn Dũng thọ, huyện Thọ xương, tỉnh Hà nội ( nay là phố Án sát Siêu ở thành phố Hà nội ) đỗ phó bảng năm 1838 ( Minh mệnh thứ 19) làm quan đến chức án sát, xin cáo về dạy học trò nhiều người phát đạt . Ông có sang sứ Tàu năm 1849 .
                 
                (10)                   Cao Bá Quát ( ? - 1845) hiệu Chu thần, người xã Phú thị, huyện Gia làm ( nay là phủ thuộc Bắc ninh ) đỗ cử nhân năm 1831, Minh mệnh thứ 12 ) . Nguyên quan trường lấy đỗ thứ nhì, sau Bộ duyệt lại quyển văn truất xuống cuối cùng. Làm quan đến chức giáo thụ phủ Quốc oai ( Sơn tây ), xin cáo về . Năm 1854, nổi loạn ( tục thường gọi là “ Giặc Châu chấu ”, thua bị xử tử .
                 
                (11)                   Tùng thiện vương (1819-1870): Miên Thẩm tự Thận minh , hiệu Thương sơn, biệt hiệu Bạch hào tử, con thứ 10 vua Minh mệnh, có giữ chức tả tôn nhân về đời vua Tự Đức .
                 
                (12)                   Tuy lý vương (1820-1897): Tên Miên Trinh , hiệu Vĩ dã con thứ 11 vua Minh mệnh, giữ chức Hữu tôn chánh về đời vua Tự đức . Sau khi vua Tự đức mất; vì có người con muốn đánh đổ phe Tường , Thuyết, ông bị giam, rồi phải đi đày (1883) ở Quảng ngãi. Đến khi vua Đồng khánh lên ngôn (1885 ), mới được về Kinh . Khi vua Thành thái còn nhỏ ông làm phụ chánh thân thần . Thọ 69 tuổi .
                 
                (13)                   Hà Tôn Quyền (1798-1839): tự Tốn phủ, hiệu Phương trạch, biệt hiệu Hải   ông người xã Cát động, huyện ( nay là phủ ) Thanh oai (Hà đông ), đỗ tiến sĩ năm 1822 (Minh mệnh thứ 3 ) làm quan về đời Minh mệnh đến Lại bộ tham tri . Năm 1832, ông bị khiển trách , phải xuất dương đi Ba lăng để hiệu lực .
                 
                (14)                   Phan Thanh giản (1796-1867): tự Tĩnh bá và Đạm như hiệu Lương khê biệt hiệu Mai xuyên , người xã Bảo thạnh, Bảo an, trấn Vĩnh thanh ( nay thuộc quận Ba tri, tỉnh Bến tre), đổ tiến sĩ năm 1826 (Minh mệnh thứ 7 ), trải ba đời vua ( Minh mệnh , Thiệu trị, Tự Đức ) làm quan tới hiệp biện đại học sĩ . Năm 1862, được cử làm chánh sứ điều đình và ký tờ hoà ước với nước Pháp . Năm 1863, sang sứ nước Pháp thương nghị việc chuộc lại ba tỉnh phía đông Nam kỳ . Sau khi về, sung chức Kinh lược sứ ba tỉnh phía Tây Nam kỳ. Năm 1867, quân thuyền nước Pháp tiến đến Vĩnh long định đánh lấy ba tỉnh ấy, cụ nộp Thành trì cho người Pháp, rồi uống thuốc độc tự tử .
                 
                (15)                   Trương Quốc Dụng (1797-1864) : tự Dĩ hành người xã Phong phú , huyện Thạch hà ( nay là phủ thuộc Hà tĩnh ), đỗ tiến sỉ năm 1829 (Minh Mệnh thứ 10 ), làm quan trong hai đời Minh mệnh, Tự đức đến Hình bộ thượng thư. Năm 1864 , được cử làm hiệp thống đánh giặc tạ Văn Phụng ở Quảng yên , chết trận ở đấy .
                 
                (16)                   Quyển này gồm 7 phần : 1.) Phong vực (bờ cõi ); 2.) chế độ (phép tắc ); 3.) Nhân phẩm ( phẩm cách người ); 4.) Kỳ trưng (điềm lạ ) ; 5.) Tạp sự (việc vặt ); 6.) Vật loại (các vật ) ; 7.) Cổ tích, sơn xuyên (vết xưa, núi sông )
                 
                (17)                   Phạm Phú Thứ (1820-1881): tự Giáo chi, hiệu Trúc đường, người xã Đông bàn, huyện Diên phúc, tỉnh Quản nam, đỗ tiến sĩ năm 1843 (Thiệu trị thứ 3 ) làm quan đến Hộ bộ thượng thư. Năm 1863, ông có sang sứ bên Pháp với Phan Thanh Giản, nhân đó có viết ra tập Tây hành nhật ký .
                 
                (18)                   Nguyễn Tư Giản (1823-1890): trước tên là Văn Phú, tự Tuân thúc, người huyện Đông ngạn ( nay là phủ Từ sơn, Bắc ninh ), đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi (1844, Thiệu trị thứ 4 )làm quan trong ba đời Thiệu trị, Tự đức , Đồng khánh đến chức Tổng đốc . Năm 1857, sau khi đệ bản điều trần về việc trị thủy, đưọc cử sung biện lý đê chính sự vụ ở Bắc kỳ; năm 1868, sung phó sứ sang sứ bên Tàu . Ông có dự vào cuộc khảo duyệt bộ C.M .
                 
                (19)                   Nguyễn Thông (1827-1894): tự Hi phần, hiệu Kỳ xuyên , biệt hiệu Độn am, người huyện Tân thịnh, tỉnh Gia định, đỗ cử nhân năm 28 tuổi (1849), Tự đức thứ 2, làm quan về đời Tự đức đến chức bố chính, có dự vào việc khảo duyệt bộ C.M.
                 
                (20)                   Nguyễn Khuyến (1835-1909): trước tên là Thắng , hiệu Quế sơn, người xã Yên đổ, huyện Binh lục ( nay là phủ, thuộc Hà nam ) đỗ tam nguyên năm 1871 (Tự đức thứ 24 ) làm quan đến chức tổng đốc rồi xin cáo về dạy học .
                 
                (21)                   Dương Lâm (1851-1920), hiệu Vân trì, người xã Vân đình huyện Sơn minh (nay là phủ Ứng hòa , Hà đông) đỗ cử nhân năm 1873 ( Tự đức thứ 31 ) , làm quan đến chức thượng thư.
                 
                (22)                   Nguyễn Thượng Hiền (1868 – 1926 ), hiệu Mai sơn, người làng Liên bạt, phủ Ứng hoà, tỉnh Hà đông, đỗ Hoàng giáp năm 1892, làm chức Đốc học . Sau khi người Pháp truất phế vua Thành Thái, ông từ chức về phụng dưỡng cha già là cụ Hoàng giáp Nguyễn Thượng Phiên . Năm 1908, ông xuất dương để hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1926, ông mất tại Hàng châu, Trung Hoa.
                  

                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-04 06:29:05Huyền Băng>
                Chương Thứ Mười Sáu
                 
                Các Bộ Sử Ký, Địa Chí: Việt Sử Cương Mục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Lịch Sử Bản Triều: Thực Lục và Liệt Truyện .
                 
                Trong triều nhà Nguyễn, việc biên chép quốc sử và địa chí là chức trách của Quốc Sử và địa chí là chức trách của Quốc Tử giám do vua Minh mệnh lập ra . Về mặt sử ký, có bộ Việt sử cương mục chép tự đời Hồng bàng đến hết đời Hậu Lê và các bộ Thực lục Liệt truyện chép công việc Bản triều ; về mặt địa chí, có các bộ Nhất thống chi .
                 
                Ngoài ra, trong nước cũng có những bậc học giả biên chép các sách học thuộc về sử ký, địa chí . Vậy trong chương này ta phải xét các tác phẩm ấy .
                 

                Sử ký .

                   
                  Khâm định Việt sử thông giám cương mục . - Bộ này do quốc sử quán ( tổng tài là Phan Thanh Giản (1) phụng mệnh vua Tự đức soạn ; sau việc biên tập (1856-1859) và việc kiểm duyệt (1871-1884), đến năm 1884 , Kiến phúc nguyên niên ) thì tiến trình và khắc in .
                   
                  A) Nội dung - Bộ này gồm một quyển thủ và 52 quyển , chia làm hai phần :
                   

                  tiền biên (5q.) chép tự đời Hồng bàng đến đời Thập nhị sứ quân (2879 tr. T.C. – 967);
                  Chánh biên (47 q.) chép tự đời Đinh Tiên Hoàng đến đời Lê Mẫn đế (968-1789)

                     
                    B) Cách chép - Bộ này chép theo phép biên niên và phép cương mục ( xem lại Chương thứ VI ). Lại có những lời Cẩn án , là lời phê bình những điều đã chép ở sử  mà các nhà sang định bộ Cương mục cho là sai lầm . Chứ chưa nói về các tên người , tên đất và Ngự phê là lời phê của vua Tự đức in lên khoảng trắng trên các tờ .
                     
                    C) Các sách tham khảo - Bộ này tham khảo :
                     
                    1.)   Các sách của ta : hoặc chánh sử như bộ Đại Việt sử ký ( xem Chương thứ VII ) ; hoặc những sách các sử gia khác, như Nguyễn Trải, Lê Quí Đôn, Phan Huy Chú, v.v.
                     
                    2.)   Các sách của Tàu : các bộ Bắc sử và những tác phẩm của các sử gia khác như Cao Hùng Trưng , Chu Khứ Phi, Cố Tổ Vũ …v.v.
                     
                    D) Giá trị - Bộ này thu thập được nhiều tài liệu ở sử cũ và sách cũ để bổ những chỗ khuyết ở bộ Đại Việt sử ký . Nhưng một đôi khi cũng làm sai sự thực đã ghi ở sử cũ và vẫn theo phép biên niên khiến cho cách phép việc thành ra gián đoạn không được quán thông nhất trí .
                     
                    Đại nam thực lục - Bộ này chép rõ công việc các chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn , chia làm :
                     
                    A) Đại Nam thực lục tiền biên chép công việc các chúa Nguyễn trước khi vua Gia long lên ngôi ( làm xong năm 1841)
                     
                    B) Đại Nam thực lục chánh biên chép công việc các vua Bản triều, mỗi đời vua là một kỷ . Hiện nay đã có : 1. Đệ nhất kỷ ( Gia long ) ; 2. Đệ nhị kỷ (Minh mệnh ); 3. Đệ tam kỷ ( Thiệu trị ) ; 4. Đệ tứ kỷ (Tự đức ); 5. Đệ ngũ kỷ ( Kiến phúc ) ; 6. Đệ lục kỷ (Đồng khánh )
                     
                    Đại nam liệt truyện - Bộ này chép tiểu truyện các nhân vật (người có tiếng) nhà Nguyễn, cũng chia làm :
                     
                    A) Đại Nam liệt truyện tiền biên chép về các nhân vật ở đời các chúa Nguyễn ( làm xong năm 1852)
                     
                    B) Đại Nam chánh biên liệt truyện chép về các nhân vật ở đời các vua nhà Nguyễn. Hiện nay đã có : 1. Sơ tập ( Gia long ); 2. Đệ nhị tập (Minh mệnh đến Đồng khánh )
                     
                    Mỗi tập đều có các mục sau này : hậu phi ( vợ vua ), - hoàng tử ( con trai vua ), - công chúa ( con gái vua ), - chư hầu (các bầy tôi ), - ẩn dật ( người ở ẩn ), - liệt nữ ( các đàn bà có khí tiếc mạnh mẽ ), - cao tăng ( các vị sư có danh vọng ) , - nghịch thần ( các bầy tôi phản nghịch ), - ngoại quốc (các nước ngoài )
                     
                    2- Địa chí
                     
                    I – Các Bộ Do Các Quan Hoặc Quốc Sử Quán Phụng Chỉ Soạn
                     
                    Nhất thống dư địa chí - Bộ này do quan Binh bộ thượng thư Lê Quan Định (2) phụng sắc soạn và dâng lên Ngự lãm năm 1806 ( Gia long thứ 5 )
                     
                    Bộ này ( chưa in ) gồm có 10 quyển và một quyển thủ :
                     
                    A) Tự q. 1 đến q. 4 : 1. Tả đường bộ tự Quản đức ( Kinh đô ) vào Trấn biên ( Biên hoà ) và tự Quảng đức đến Lạng sơn ; 2. Tả đường thủy tự Gia định ( Sài gòn ) đến Vĩnh trấn ( Vĩnh long )
                     
                    B) Tự q. 5 đến q. 10 : chép rõ về các trấn và các doanh ( dinh ) ; cương giới, phong tục, thổ sản, dịch lộ (đường trạm ), phân hạt ( phủ, huyện, châu ) .
                     
                    Bộ này chú trọng về đường sá trong nước .
                     
                    Đại nam nhất thống chí – A) Bộ này do Quốc sử quán phụng chỉ soạn năm 1865 ( Tự đức thứ 18 ) lấy năm ấy làm gốc, soạn xong năm 1882 ( Tự đức thứ 35 ) chưa in .
                     
                    Bộ này là  bộ đủ nhất , chép theo từng tỉnh . Mỗi tỉnh gồm có các mục : cương giới, diên cách ( sự thay đổi tên đất và bờ cõi ) phân hạt ( các phủ , huyện, châu ) , hình thế, khí hậu , thành trì, học hiệu , số dân đinh, số ruộng đất, núi sông, suối , đầm, cổ tích, lăng mộ, đền miếu, chùa chiền , quan tân ( cửa ải và bờ biển ), nhà trạm, đường cái, bến đò, cầu cống, đê, phố và chợ, nhân vật, hạnh nghĩa , liệt nữ, thổ sản .
                     
                    Bộ này tuy cách biên chép có phần vụn vặt, không được nhất trí, nhưng rất có nhiều tài liệu để ta khảo cứu về địa lý nước ta trong thời kỳ cận kim .
                     
                    B) Đến năm 1909 ( Duy tân thứ 3 ) quan Học bộ thượng thư, Quốc sử quán tổng toà Cao Xuân Dục ( 3) có dọn lại bộ này cũng vẫn giữ cái nhan cũ là Đại Nam nhất thống chí ( 17 q. ) nhưng chỉ chép về các tỉnh xứ Trung kỳ thôi .
                     
                    Đồng khánh địa dư chí lược - Bộ này các quan phụng sắc soạn năm 1886 (Đồng khánh nguyên niên ) không có các mục như bộ trên, nhưng mỗi tỉnh có kê rõ tên các phủ, huyện, tổng, xã và có địa đồ. Bộ này không chép các tỉnh Nam kỳ vì đã nhượng cho nước Pháp rồi .
                     
                     
                    II – Các Bộ Do Các Học Giả Soạn
                     
                                Gia định thông chí của Trịnh Hoài Đức (4) soạn, trong chép lịch sử và địa lý đất Gia Định ( nay là Nam kỳ ) về đời các Chúa Nguyễn .  Xem sách này ta biết công các Chúa Nguyễn đã đánh lấy và khai thác đất Nam kỳ thế nào .
                     
                                Bắc thành địa dư chí do một số văn thần giúp việc quan Tổng trấn Bắc thành Lê Chất soạn ra về đời Minh mệnh, có 12 quyển, chép về thành Thăng long và 11 trấn ở Bắc thành ( Bắc kỳ ); mỗi trấn cũng có các mục tương tự như các mục trong bộ Đại Nam nhất thống chí nói trên .
                     
                                Phương đình địa chí loại ( tựa viết năm 1862, Tự đức thứ 15 ) của Nguyễn văn Siêu (5) soạn . Bộ này đã in, có 5 quyển : quyển đầu trích lục các sách Tàu nói về nước Nam ; quyển thứ hai chép địa chí nước Nam về đời hậu Lê; tự quyển thứ ba trở xuống chép về thời đại cận kim .
                     
                                Kết luận – Nói tóm lại trong triều nhà Nguyễn, có nhiều sách sử ký, địa chí xuất hiện . nhưng các tác phẩm ấy, vì thiếu phương pháp khoa học, nên còn có nhiều khuyết điểm .
                     
                    Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                     

                    Sources
                    II . Maspéro . Le protectoral général de l’Annam sous les T’ang . Esso, de géographie historique, BEFEO., t. X, tr, 539 tđ.
                    Aurousseau, Compte-rendu de Ch. B. Maybon “Histoire moderne du pays d’Annam “, BEFEO, t. XX , q. IV, tr . 73 tđ.

                      Các Bản Dịch
                       

                      Abel des Michels . Les Annales impériales de l’Annam . Paris . Leroux 1892 (Bản dịch Pháp văn 5q. về phần Tiền biên của Bộ Khăm địch Việt sử )
                      G. Aubaret, Histoire el description de la Basse Cochinchine (pays de Gia định ) , Paris . Imprimerie impériale, 1863 ( Bản dịch Pháp văn bộ Gia định thông chi của Trịnh Hoài Đức )
                      Đại Nam nhất thống chí , của Quốc sử quán phụng chỉ biên soạn . Cụ Thiếu bảo lĩnh HỌc bộ Cao Xuân Dục tổng tài, Phan Kế Bính lược dịch, ĐDTC, Lớp mới, số 70-137 .
                      Đại Nam liệt truyện tiền biên . Phan Kế Binh lược dịch . ĐDTC, Lớp mới , số 181-192.
                      Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập và đệ nhị tập . Phan Kế Bính lược dịch , ĐDTC, Lớp mới, số 592 tđ.


                         
                         

                        [/align] 
                        Chú Thích
                         
                        (1)  Xem tiểu truyện ở chương XV, lời chú (14)
                        (2)  Xem tiểu truyện ở chương thứ XV . Lời chú ( 4)
                        (3)  Cao Xuân Dục (1842-1923) tự Tử phát hiệu Long cương, người xã Thịnh khách ( nay là Thịnh mỹ ), huyện Đông thành, tỉnh Nghệ an, đổ cử nhân năm 1877 (Tự đức thứ 29 ) làm quan đến Học bộ thượng thư, tước An xuân tử . Trừ bộ sách kể trên, ông còn soạn nhiều sách về loại tham khảo : Quốc triều khoa bảng lục, Quốc triều hương khoa lục ( Xem chương thứ VII, Lời chú 25 ) , Đại Nam dư địa chí ước biên .
                        (4)  Xem tiểu truyện ở Chương thứ XV , Lời chú (3)
                        (5)  Xem tiểu truyện ở Chương thứ XV, Lời chú (9)
                         
                          

                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 15:45:25Huyền Băng>
                        Chương Thứ Mười Bảy
                         
                        Các Sách Về Loại Tham Khảo , Bộ Lịch Triều Hiến Chương ( Một Bộ Bách Khoa Toàn Thư Về Nước Nam Thời Cổ )
                         
                        Trong các sách soạn về triều Nguyễn, có bộ Lịch triều hiến chương loại chí là một bộ sách kham khảo các chế độ, điển lệ nước ta đời xưa , thật là một bộ sách quí để kê cứu về văn hoá nước ta .
                         
                        Tác giả
                        - A) Tiểu thuyết – Tác giả bộ ấy là Phan Huy Chú ( 1782-1840) tự Lâm Khanh , hiệu Mai phong , quán ở xã Thư hoạch huyện Thiên lộc xứ Nghệ An  ( nay là Can lộc, thuộc Hà tỉnh (1), con của Phan Huy Ích ( 1750 – 1822) , đậu tiến sĩ năm 1775, làm quan về đời Lê và Tây Sơn ) và điệt của Phan Huy Ông ( 2) .  Ông sinh vào buổi Lê mạt ( Cảnh hưng ) ; ngay lúc còn trẻ, đã đọc nhiều sách và học rộng: đậu tú tài hai khoa ( 1807 và 1819 ) . năm 1821 ( Minh mệnh thứ 2 ), được bổ biên tu viện Hàn lâm. Tháng tư năm ấy, ông dâng bộ Lịch triều hiến chương . Năm 1824 ( Minh mệnh thứ 5 ), ông được cử làm ất phó sứ sáng sứ bên Tàu. Năm 1828, ( Mịnh mệnh thứ 9 ) , làm phủ thừa phủ Thừa thiên ; rồi lại hiệp trấn trấn Quản Nam. Năm 1830 (Minh mệnh thứ 11 ) lại được cử làm ất phó sứ sang sứ bên Tàu ; lúc về, cùng với ông Chánh sứ đều bị cách chức (3) . Cuối năm ấy, ông dự phái bộ sang Giang lưu ba (Batavia ) để hiệu lực . Lúc về (cuối năm 1833), được bổ tư vụ bộ Công, rồi ông cáo bệnh xin nghỉ về ở tổng Thanh mai, huyện Tiên phong ( Nay là phủ Quảng oai ) tỉnh Sơn tây để dạy học trò .
                         
                        B) Tác phẩm - Trừ bộ Lịch triều hiến chương , ông còn làm :
                         
                        1.     Hoàng Việt địa dư chí , 2q ;
                         
                        2. Hoa thiền ngâm lục ( tập thơ sang sứ Tàu ) 2q. ông làm khi sang sứ Tàu lần thứ nhất, có tựa viết năm 1826 ;
                         
                        3. Hoa trình tục ngâm ( tập thơ sang sứ Tàu tiếp theo ), ông làm khi sang sứ Tàu lần thứ hai, có tựa viết năm 1832 ;
                         
                        4. Dương trình kỳ kiến là tập ghi chép những điều trông thấy khi ông sang Batavia .
                         
                        Lịch triều hiến chương loại chí (phép tắc các triều vua chép thành loại ). A) Nội dung - Bộ này gồm có 49 quyển chia làm mười phần :
                         
                        1. Địa dư chi ( q. 1-5) chép về bờ cõi các triều và phong thổ các đạo khác như thế nào .
                                    2. Nhân vật chí (q. 6-12) chép tiểu truyện các bậc danh nhân : đế vương, huân hiền, danh tướng, danh nho, tiết nghĩa.
                         
                                    3. Quan chức chí ( q. 13-19 ) chép về danh hiệu , chức chưởng, phẩm tước, bổng lộc và cách tuyển cử các quan lại.
                                    4.  Lễ nghi chí ( q. 20 – 25 ) chép các điển lễ thuộc về triều nghi, giao tự, tôn miếu, khách hạ, quốc tang, tấn tôn , sách phong, tế cáo .
                         
                                    5. Khoa mục chí ( q. 26 – 28 ) chép về phép tắc và chương trình các khoa thi ( hương thí, hội thí, điện thí ) cùng liệt kê các khoa thi tiến sĩ ( số đỗ và tên người đổ đầu )
                         
                                    6. Quốc dụng chí ( q. 29 -32 ) chép  về các phép đinh điền, các ngạch thuế, các tiền tiêu, các lệ trưng thu, các khoản kinh phí .
                         
                                    7. Hình luật chí ( q. 33-38) chép về luật lê, hình phạt .
                                   
                                    8. Bình chế chí (q. 39-41) chép về phép tuyển lính cách tổ chức quân đội cùng các việc dưỡng cấp, luyện tập, giảng duyệt .
                         
                                    9. Vân tịch chí ( q. 42 – 45 ) chép về các sách của người nước ta soạn, chia làm bốn loại : hiến chương ( phép tắc ) , kinh sử ( kinh truyện và lịch sử ), thi văn ( thơ và văn xuôi ), truyện ký . Mỗi loại đều kê tên các sách và lược thuật về tác giả ; nhiều khi có trích dẫn bài tựa hoặc ít nhiều nguyên văn .
                         
                                    10. Bang giao chí ( q. 48 – 49) chép về các điển lệ có quan hệ đến việc nước ta giao thiệp với nước Tàu như các việc phong sách, cống hạ, thông sứ , biên cương .
                         
                                    Trong mỗi phần, ông tham khảo các sách Tàu và sách ta biên chép theo thứ tự thời gian tự đời thượng cổ đến cuối nhà Hậu Lê .
                         
                                    B) Giá trị - Bộ ấy đã thu thập một cách có phương pháp các tài liệu ở các sách vở cũ về hiến chương , chế độ của nước ta trước đời nhà Nguyên , rất tiện cho việc kê cứu. Ta có thể lấy bộ ấy làm gốc mà tham khảo thêm ở các sách sử ký, địa chí , điển lệ của ta để biết được văn hoá cổ thời của nước ta . Bởi thế gần đây các nhà bác học người Pháp, người Nam cũng theo đấy để khảo cứu về chế độ văn chương nước ta ( 4) . Xem đó thì biết bộ ấy là một bộ sách có giá trị đặc biệt vậy .
                         
                        Bài Đọc Thêm
                         
                        Bài tựa Lịch triều Hiến chương loại chí
                         
                                    Tôi nghe : trong việc học để biết cho đến nơi thì hiến chương là phần lớn vậy . Đức Phu Tử ( tức là Khổng tử ) đã nói : “ Học rộng cốt ở văn ” . Cái gọi là văn, tức là sự ký xưa nay thế nào là phải, điển lệ của quốc gia điều gì là cần . Nhà nho đọc sách , trừ kinh sử ra , càng nên hỏi rộng kiếm chung quanh tìm xa lấy gần, khảo cứu mà chiết trung, ngõ hầu không xấu hổ là người học rộng ; có phải chỉ nhặt lấy chương cú, chắp thành lời hoa mỹ mà đủ gọi là văn ru !
                         
                                    Nước Việt ta sau khi thành lập, tự đời Đinh, Lê , Lý, Trần, phong hội đã mở, mỗi đời đều có phép tắc của đời ấy. Kịp đến nhà Hậu Lệ gây dựng sắp đặt, phép tắc rõ đủ , tiếng tăm văn vật rất thịnh, không kém gì nước Tàu : phàm những phương pháp đặt quan, phép tắc lấy kẻ sĩ, qui thức chế binh, lý tài, lễ nghi giao thiệp với nước láng diềng không có điều gì là không đủ các điểu chương, có các điển yếu . Vì rằng tự đời Hồng đức tài định, rồi các đời sau noi theo; trong khoảng đó lại qua các bậc vua giỏi chúa hiền châm chước , các bậc danh thần hiền phụ sửa sang, hơn ba trăm năm gìn giữ noi theo ; thường bảo điển lệ cứ đời nọ nhân của đời kia ra , hơn kém có thể biết được vậy .
                         
                                    Hiềm rằng hội điển các triều, từ trước chưa chép thành sách , mà các bộ Quốc sử biên niên ghi chép còn nhiều chỗ sơ lược . Phương chi tự khi có việc binh đao năm bính ngọ (1786) về sau , giấy tờ cũ tán mạn mất mát, còn lại ít nhiều lưu trữ ở các cố gia thế tộc, ghi chép gián đoạn thiếu sót, lại đều lẫn lộn, sai lầm chưa thành đầu cuối, khiến cho khi bàn đến điển cố các đời, không lấy gì làm bằng cứ . Thế thì thu thập những điều mắt thấy tai nghe , phân biệt các việc thành ra loại mục để soạn một bộ sách chép về điển chương ; chả phải là công việc cần thiết của học cổ ru ?
                         
                                    Hãy đem các điều cốt yếu mà nói : như việc mở mang bờ cõi, lúc chia lúc hợp không giống nhau ;việc thâu thái nhân tài, đời trước đời sau có khác nhau ; đặt quan thời có phân biệt phẩm trật, chức chưởng; định lễ thời có các phép miếu, tự , giao , xã ; mở khoa thi thì phép kén kẻ sĩ hoặc tường hoặc nặng ; việc hình để giúp sự trị dân mà luật lệ san định có khác nhau ; việc binh đẻ giữ nước mà danh hiệu đặt để không giống nhau ; đến như sách vở trứ thuật trong các đời , nghi văn tiếp ứng với Bắc triều, đều quan hệ đến điển chương cả, nhà khảo cổ nên nghiên cứu mà đính chính vậy .
                         
                                    Tự Lý, Trần trở về trước, điển cũ đã mất, đại lược chỉ thấy chép trong sử . Còn triều Lê hồi sáng nghiệp, buổi trung hưng, điển chương hãy còn , nhưng lại tán mạn ở các sách vở sót lại hầu như không có thống hệ gì ; nếu không để ý tìm tòi, phân biệt ra khu loại, chưa dễ mà kê cứu được .
                         
                                    Tôi tự nhỏ ham học, thường có chí ấy, may nhờ mấy đời tích trữ, lại được trong nhà dạy bảo , nên về các điển chương cũng dò được ít nhiều manh mối . Chỉ hiềm nỗi sử sách tán mạn chưa có lúc rảnh mà biên chép . Từ khi vào núi (ý nói đi ẩn ) đến giờ , mới đóng cửa ngồi nhà, hết sức thâu thái; hễ rảnh việc đọc sách , lại theo từng loại mà khảo đính; gián hữu nghĩ ngợi được điều gì thì bàn bạc thêm vào, nhật tích nguyệt lữy, đã được mười năm nay rồi . Biên chép đã thành, gồm có mười chí là : địa dư, nhân vật, quan chức , lễ nghi, khoa mục, quốc dụng, hình luật, binh chế, văn tịch, bang giao . Mỗi chi đều có lời tự để thuật đại ý . Trong mỗi chi, lại chia làm tiết mục chép riêng cho tách bạch thấu suốt , đặt tên là “ Lịch triều hiếu chương loại chi “ gồm có 49 quyển .
                         
                                    Than ôi ! Việc trứ thuật là khó, người đời xưa từng than thở về nỗi ấy . Phương chi sau khi sách vở đã tan nát mất mát mà muốn dung hợp xưa nay, phân biệt sự cố, góp nhặt giấy mà còn sót lại của nghìn năm để làm thành quyển sách thông lãm ( coi suốt, trong một đời; việc đó ngay các bậc học rộng tài cao còn lấy làm khó . Tôi đây học thức hẹp hòi, sao dám bàn đến ; hẵng lấy việc thu thập những điều mắt thấy tai nghe cho khỏi sót thiếu là may. Tuy vậy , khảo dấu vết đời xưa mà không dám nói sai, xét quá phiền, hoặc lược mà nhặt được điều cốt yếu , khiến cho dấu vết những phép tắc các đời rõ ràng đủ làm tang chứng đều còn lại trong bộ sách này. Mong được các nhà thông đạt cao minh, lấy trí sáng suốt mà xem xét lại, kê cứu thêm để sửa sang lại, ngõ hầu cũng có thể giúp một phần trong việc chánh trị của nhà vua vậy .
                         
                        Thần Phan Huy Chú Cẩn Tự
                        Dương Quảng Hàm dịch

                         

                        [/align]Các Tác Phẩm Để kê Cứu
                         
                        1.)   Sources, tr. 619
                        2.)   BA. Tr. 29-23
                        3.)   Chap, bibl., tr. 35-38
                        4.)   CI E Maitre . Préface à la Justice dans ;’ancien Annam de R Deloustal, BEFEO, VIII , tr. 178 - 179
                         
                                   
                         
                         
                         

                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 15:58:49Huyền Băng>
                        Chương Thứ Mười Tám
                         
                        Truyện Kim Vân Kiều Của Nguyễn Du
                         
                        Trong ba chương trước, ta đã nói về Hán văn trong triều nhà Nguyễn, nay ta phải xét về văn nôm trong triều ấy. Trong thời kỳ ấy , có mấy tác phẩm trường thiên đã được phổ thông trong nước và có ảnh hưởng lớn trong văn giới , tức là các truyện nôm ; vậy ta phải xét đến các tác phẩm ấy trước .
                         
                        Một tác phẩm đã chiếm một địa vị quan trọng trong quốc văn là quyển Kim Vân Kiều tân truyện , nhất danh là Đoạn trường tân thanh (1) , mà tác giả là Nguyễn Du (2)
                         
                        Nguồn gốc truyện Kiều (3) – Tác giả, trong đoạn mở bài ( câu 7 – 8) đã viết :
                         
                        Kiểu thơm lần giở trước đèn
                        Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh .
                         
                        Vậy tác giả đã được xem một cuốn sách của Tàu rồi nhân đấy mà viết ra truyện Kiều. Nhưng bốn chữ “ phong tình cổ lục ” chỉ có nghĩa là một câu chuyện phong tình xưa, tức là một cái phổ thông danh từ, chứ không phải là nhan riêng một cuốn sách. Vậy sách ấy chính nhan là gì và do ai làm ra ?
                         
                        Lâu nay, ở nước ta, vẫn có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay (4) nhan là Kim Vân Kiều truyện mà các học giả vẫn cho là một cuốn tiểu thuyết Tàu do đấy Nguyễn Du đã soạn ra cuốn truyện nôm .
                         
                        Gần đây, chúng tôi lại được xem một cuốn sách nội dung giống như cuốn trên này, nhưng là một cuốn sách in ( mộc bản ) ở bên Tàu (5). Sách gồm có 4 quyển và chia làm 20 hồi . Ở đầu mỗi quyển , có đề : …(6) – (Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện , quyển chi .. (6) – Thánh thán ngoại thư – Thanh tâm tài nhân (7) biên thứ )
                         
                        Khi ta so sánh nguyên văn quyển Kim Vân Kiều truyện này với nguyên văn truyện Kiều củ Nguyễn Du thì ta thấy rằng đại cương tình tiết hai quyển giống nhau : các việc chính , các vai nói đến trong truyện Kiều đều có cả trong cuốn tiểu thuyết Tàu.
                         
                        Sự so sánh ấy lại tỏ rõ rằng Nguyễn Du không phải chỉ dịch văn xuôi của Tàu ra văn vần của ta mà thôi. Tác phẩm của ông thật có phần sáng tạo đặc sắc : ông sắp đặt nhiều việc một cách khác để cho hợp lý hơn hoặc để tránh sự trùng điệp ; ông thay đổi nhiều điều tiểu tiết để tả cảnh ngộ hoặc tình hình các vai trong truyện một cách rõ rệt hơn ; ông lại bỏ đi nhiều chỗ thô tục ( như đoạn kể rõ “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề ” ) và nhiều đoạn rườm , thừa, không bổ ích cho sự kết cấu câu chuyện.
                         
                        Vậy nguồn gốc truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Tàu nhan là Kim Vân Kiều Truyện do một tác giả hiệu là Thanh Tâm tài nhân soạn ra về cuối thế kỷ thứ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII (8) và do một nhà phê bình có tiếng là Kim Thành Thán (9) bình luận (10) .
                        Lược truyện – Xem phần thứ nhì, Bài số 78.
                         
                        Tâm sự tác giả trong truyện Kiều . - Truyện Kiều có thể coi là một câu truyện tâm sự của Nguyễn Du tiên sinh . Cái tâm sự ấy là cái tâm sự của một người bầy tôi trung mà vì cảnh ngộ không thể giữ trọn được chữ trung với cựu chủ Tác giả vốn tự coi mình như một cựu thần của nhà Lê, mà gặp lúc quốc biến không thể trọn chữ trung với Lê hoàng, lại phải ra thờ nhà Nguyễn. Tâm sự thật không khác gì Thúy Kiều đã đính ước với Kim Trọng mà vì gia biến phải bán mình cho người khác, không giữ được chữ trinh với tình quân. Bởi vậy tác giả mới mượn truyện nàng Kiều để ký thác tâm sự của mình.
                         
                        Triết lý truyện Kiều – Cái triết lý trong truyện là mượn ở Phật giáo. Ngay đoạn mở đầu, tác giả nhận rằng ở trên đời này tài và mệnh thường ghét nhau (tài mệnh tương đố ) . Cả thân thế nàng Kiều là một cái tang chứng và điều  ấy: Kiều là một người có tài có sắc mà gặp bao nỗi long đong lưu lạc, thật là số mệnh hẩm hiu. Nhưng tại sao Thúy Kiều không làm gì nên tội mà lại phải chịu những nỗi khổ ấy ? Muốn giải điều ấy, tác giả mượn cái thuyết nhân quả của đạp Phật. Cái nghiệp ta chịu kiếp này là cái kết quả của công việc ta về kiếp trước cũng như công việc ta kiếp này sẽ là cái nguyên nhân của nghiệp ta về kiếp sau. Thế thì Thúy Kiều phải chịu những nỗi khổ sở là để trả cái nợ, rửa cái tội kiếp trước.
                         
                        Bởi vậy muốn cho cái nghiệp của mình về kiếp sau được nhẹ nhàng, thì phải giữ mối thiện tâm, phải làm điều thiện, Thúy Kiều tuy gặp bao tai nạn oan khổ mà giữ được lòng thiện (11), biết bán mình để trọn đạo hiếu, cứu muôn người để làm điều nhân, nên sau một hồi mười lăm năm luân lạc phong trần, lại được hưởng hạnh phúc vệ hậu vận (đoạn tái hợp ) . Nên tác giả kết lại khuyên người ta nên giữ lấy chữ tâm cái thiện tâm có thể gỡ được cái tội nghiệp của mình về kiếp trước và gây nên cái quả phúc cho mình về sau.
                         
                        Đã mang lấy nghiệp vào thân,
                        Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
                        Thiện căn ở lại lòng ta,
                        Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
                         
                        Truyện Kiều, câu )3249-3252)
                         
                        Luân lý truyện Kiều . - Về phương diện văn chương thì ai cũng công nhận truyện Kiều là hay . Nhưng về đường luân lý, hồi xưa các cụ theo lễ tục cổ  có ý cho là một quyển sách không nên cho đàn bà con gái xem. Bởi vậy  mới có câu:
                         
                        “Đàn ông chớ kể Phan Trần (12)
                        “Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều ”.
                        Các cụ nói thế, có lẽ vì hai câu này :
                         
                        1.) Trong truyện Kiều, có một vài đoạn (như những đoạn tả đêm hôm động phòng của Mã Giám sinh với Thúy Kiều, tả cách ăn chơi đón tiếp ở nơi thanh lâu, tả lúc Thúy Kiều tắm ) các cụ cho là khiêu khích dục tình .
                         
                        2.) Theo lễ tục xưa, con gái phải đợi mệnh của cho mẹ “đặt đâu ngồi đấy ”, để quyền cho cha mẹ kén chọn gả bán. Thế mà Thúy Kiều tự ý sang nhà Kim Trọng trước khi nói với cha mẹ : đó là một điều các cụ cho là trái với lễ tục cổ .
                         
                        Nay ta thử xét xem hai cớ ấy có phương hại gì cho nền luân lý không ?
                         
                        Về cớ thứ nhất, tuy tác giả có tả các điều kể trên, nhưng bao giờ cũng dùng lời văn rất thanh nhã kín đáo, không hề tục tằn bộc lộ, chỉ khiến cho người đọc hiểu việc mà sinh lòng hoặc thương hại cho Thúy Kiều, hoặc ghê tởm về cảnh tượng, chứ không phải lối văn khiêu khích dục tình. Như đoạn tả đêm hôm động phòng của Mã Giám sinh với Thúy Kiều, tác giả để viết (câu 845-852):
                         
                        Tiếc thay một đóa trà mi,
                        Con ong đã tỏ đường đi lối về.
                        Một cơn mưa gió nặng nề,
                        Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến  hương.
                        Đêm xuân một giấc mơ màng,
                        Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.
                        Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa
                        Phần căm nỗi khách, phần dơ mỗi mình.
                         
                        Ta đọc mấy câu văn kín đáo ấy, cũng như nàng Kiều, ta chỉ căm giận về thối vũ phu của một kẻ phàm tục mà thương xót cho thân phân một người con gái tuyết sạch giá trong chả may sa vào nơi bùn lầy dơ bẩn.
                         
                        Đến đoạn tả Thúy Kiều tắm ( câu 1309 – 1312):
                         
                        Buồng the phải buổi thong dong,
                        Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa .
                        Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
                        Rành rành sẵn đúc một tòa thiên nhiên !
                         
                        Tuy tả một việc rất thô, mà lời văn thanh nhã biết chừng nào ! Đọc bốn câu ấy, ta có cái cảm giác về mỹ thuật khác nào như đứng trước một pho tượng khoả thân của nhà điêu khắc tạo ra, chứ không hề có cái cảm giác về nhục dục.
                         
                        Về cớ thứ nhì, cứ theo cái quan niệm mới về việc hôn nhân để cho trai gái có quyền lựa chọn miễn là trước khi lấy nhau phải được cha mẹ ưng thuận, thì việc làm của Thúy Kiều kể cũng không đáng trách, vì tuy nàng có thề thốt với Kim Trọng, nhưng vẫn giữ được sự trong sạch và vẫn đinh ninh dành quyền quyết định cho cha mẹ.
                         
                        “Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong .
                        “Dù khi lá thắm, chỉ hồng,
                        Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha “
                         
                        Câu (332 – 334)
                         
                        Đó là câu Thúy Kiều trả lời Kim Trọng khi chàng ngỏ lời yêu nàng. Kim Trọn cũng thuận theo ý ấy, chỉ xin Thúy Kiều ưng trước rồi sẽ nhờ mối lái hỏi theo lễ tục thường:
                         
                        “Chút chỉ gắn bó một hai,
                        “Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh ”
                         
                        (Câu 505 – 508)
                         
                        Lại chính Thúy Kiều đã lấy lời lẽ đoan chính mà răn Kim Trọng khi thấy chàng có ý lả lơi ( câu 505 – 508)
                         
                        “Đã cho vào bậc bố kinh,”
                        “Đạo tòng phu lấy chữ Trinh làm đầu .”
                        “Ra tuồng trên Bộc, trong dâu,”
                        “Thì con người ấy ai cần làm chi ? ”
                         
                        Xem thế thì biết Thúy Kiều tuy là một người giàu về tình ái nhưng không phải là con người đam mê tình dục, thực đúng như lời vãi Giác Duyên đã phán đoán trong câu (2682):
                        “Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm ”
                         
                        Phương chi khi Thúy Kiều, sau mười lăm năm lưu lạc, lại gặp tình nhân, nàng tự cho thân mình là xấu xa không còn xứng đáng với người yêu xưa, nên dù Kim Trọng nài ép cũng nhất định xin đổi tình vợ chồng thành tình bè bạn để giữ lấy tấm lòng trong sạch, lấy chữ “trinh” trong tâm hồn thay cho chữ “trinh ” về thân thể đã mất. Xem thế thì biết Thúy Kiều là một người đàn bà có tính tình cao thượng.
                         
                        Vả chăng, xét cả thân thế nàng kiều, dù có cho việc vượt ra ngoài vòng lễ tục ấy là một điều lỗi, thì việc nàng bán mình chuộc tội cho cha, hy sinh chữ tình để theo trọn chữ hiếu cũng đủ chuộc được điều lỗi của nàng. Vì sự hy sinh ấy mà trong mười lăm năm nàng phải chịu bao nỗi khổ sở, khổ vì cảnh ngộ đã đành, mà thứ nhất là khổ vì mối chung tình với Kim Trọng. Thế thì ta chỉ nên thương hại thay cho nàng, chứ không nên trách nàng đã yêu vụng dấu thầm chàng Kim.
                         
                        Đó là xét riêng về hai điều kể trên. Nay nếu xét cả cuốn truyện thì ta nhận thấy ở trong ấy có nhiều bài học luân lý rất hay.
                         
                        Về đường cá nhân luân lý, thì Thúy Kiều treo cho ta cái gương một người biết trọng phẩm giá :
                         
                        “Đến điều sống đục, sao bằng thác trong “
                        (Câu 1026)
                         
                        Biết giữ thủy chung, vì tuy bị lưu ly, lúc ở thanh lâu, lúc lấy Thúc sinh, lúc lấy Từ Hải mà bao giờ nàng cũng nhớ đến Kim Trọng là người đã gắn bó với nàng từ trước.
                         
                        Về đường xã hội, luân lý, thì việc Chung ông giúp Kiều để cứu cha nàng là một việc nghĩa, việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để cứu nhân dân, là một việc nhân. Tác giả lại khéo tả các cách hành động của những kẻ gian ác, cái thói tham nhũng của một bọn sai nha, khiến cho người đọc sinh lòng tức giận. Vậy một quyển sách gây nên nhiều thiện cảm như truyện Kiều chả phải là một tác phẩm có ảnh hưởng tốt về đường luân lý hay sao ?
                         
                        Văn chương truyện Kiều . – Xưa nay ai cũng công nhận cái giá trị đặc biệt của truyện Kiều về đường văn chương. Cách kết cấu toàn thiên đã có phương pháp , cách sắp đặt trong mỗi hồi, mỗi đoạn lại phân minh. Các câu chuyện thật là thần tình khéo léo. Tả cảnh thì theo lối phác hoạ mà cảnh nào cũng linh hoạt khiến cho người đọc cảm thấy cái thi vị của mỗi cảnh và cái tâm hồn của mỗi vai ở trong cảnh ấy. Tả người thì vai nào rõ ra tính cách vai ấy, chỉ một vài nét mà như vẽ thành bức truyền thần của mỗi vai, khám phá đuợc tâm lý của vai ấy, khiến cho nhiều vai ( như Sở khanh, Tú bà ) đã thành ra những nhân vật dùng làm mô dạng cho đời sau. Văn tả hình thì thật là thắm thía thiết tha làm cho người đọc phải cảm động. Cách dùng điển thì đính đáng, tự nhiên, khiến cho người học rộng thì thưởng thức được lối văn uẩn súc của tác giả mà người thường cũng hiểu được đại ý của câu văn. Bởi thế truyện Kiều mới thành quyển truyện phổ thông nhất ở nước ta: trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các kẻ thường dân phụ phụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều. Rồi nhân đấy mà làm ra các bài vịnh Kiều, tập Kiều, án Kiều, thật là một cuốn sách rất có ảnh hưởng về đường văn học và phong tục  ở nước ta vậy.
                         
                        Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                         
                        1.) Phan Sĩ Bàng và Lê Thước, Truyện cụ Nguyễn Du, trước giả Truyện Thúy Kiều, Hà nội, Mạc Đình Tư, 1924 .
                         
                        2.) Phạm Quỳnh, Truyện Kiều, NP ,, t. V. 480 tđ.
                         
                        3.) Vũ Đình Long, Văn chương Truyện Kiều, NP, t XIV, tr. 211, 420, tđ; t XV, tr. 55, 240 tđ.
                         
                        4.) Truyện Kiều và xã hội Á đông, nguyên Pháp văn của René Crayssac,, T. –C dịch NP., t, XIX, tr, 421, 531, tđ.
                         
                        5.) Đồ Nam, Nghiên cứu và phán đoán về Truyện Kiều, NP, t, XXII tr . 41. 150 tđ.
                         
                        6.) Trần Trọng Kim, Lý thuyết Phật học trong Truyện Kiều , KTTDTS, số 1.
                         
                        7.) Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Phụ ; Thanh hiên thi tập, Huế , Quan hải tùng thư, 1943 .
                         
                        Các Bản In Và Các Bản Dịch
                         
                        1.)   Kim Vân Kiều tân truyện, Nouvelle histoire de Kim Vân et Kiều transcrite et publiée par Edmond Nordemann, 4è éđ ., Hanoi, Mạc Đinh Tư, 1911.
                         
                        2.)   Nguyễn văn Vĩnh, Kim Vân Kiều dịch ra quốc ngữ có chú dẫn các điển tích, in lần thứ tư, Hà nội, hiệu Ích ký, 1915.
                         
                        3.)   Bùi Khánh Diễn, Kim Vân Kiều chú thích nhà in Ngô Tử Hạ, Hà nội, không đề năm .
                         
                        4.)   Nguyễn Du, Truyện Thúy Kiều (Đoạn trường tân thanh ) Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Việt văn thư xã, Hà nội, Vĩnh hưng long thư quán , 1925 .
                         
                        5.)   Tản đà Nguyễn Khắc hiếu, Vương Thúy Kiều, chú giảo tân truyện, Hà nội, nhà xu’t bản Tân dân , 1941.
                         
                        6.)   Poème Kim Vân Kiều truyện, transcrit pour la première fois en quốc ngữ avec des notes explicatives, et précédé d’un résumé succinct en prose par. – J. B Trương Vĩnh Ký, Saigon, Imp. Du Gouvernement, 1875.
                         
                        7.)   Les poèmes de l’Annam Kim Vân Kiều tân truyện, publié et traduit pour la première fois par Abel des Michels. Publications de l’Ecole des langues orientales vivantes, II série, vol, XIV et XV Paris, E. Leroux, 1884 – 1885 .
                         
                        8.)   Nguyễn Du, Kim Vân Kiều, Traduction en francais par Nguyễn Văn Vĩnh, Hanoi, Editions Alexandre de Rhodes, 1942 .
                         
                        9.)   Kim Vân Kiều, lecélèbre poème annamite de Nguyễn Du, traduit en vers francais par René Grayssac, Hanoi, Lê Vân Tân, 1927 .
                         

                         

                        [/align] 
                        Chú Giải
                         
                        (1) Đoạn trường tân thanh nghĩa là “tiếng mới đứt ruột ”. Tác giả đặt cái nhan ấy, chủ ý rằng quyển ấy kể một câu chuyện đau khổ theo một bản truyện cũ, nên gọi là tiếng mới .
                         
                        (2) Nguyễn Du : xem tiểu truyện ở Chương thứ XV, Lời chú (2)
                         
                        (3) Về vấn đề nguồn gốc truyện Kiều, chúng tôi đã khảo cứu kỹ lưỡng trong bài “Les sources du Kim Vân Kiều , célèbre poème de Nguyễn Du” đăng trong Bulletin général de l’Instruction publique, số Juin – Aout 1941; bài ấy có dịch ra quốc văn và nhan là “nguồn gốc truyện Kiều của cụ Nguyễn Du ” đăng trong Trí tân tạp chí, số 4, 24 – 6 – 1941, tr. 3 tđ.
                         
                        (4) Ở PQVĐHV. Thv., hiện có một bản truyện Kiều chữ Hán chép tay ấy (A 953) , Sách gồm có 4 quyển và chia làm 20 hồi. Đầu quyển thứ nhất (tờ 5a) . Đầu quyển sau, cũng đề y như thế, chỉ khác số quyển đổi đi. - Bản Kiều chữ Hán này ông Hùng sơn NGUYỄN Duy NGUNG đã dịch ra quốc văn nhan là Kim Vân Kiều tiểu thuyết Tn dân thư quán x. b. Hà nội, 1928 .
                         
                        (5) Về quyển sách này, chúng tôi đã tả rõ trong bài “nguồn gốc quyển truyện Kiều của cụ Nguyễn Du  ” nói trên .
                         
                        (6) nhất, hoặc nhị hoặc tam, hoặc tứ, tùy theo từng quyển.
                         
                        (7) Chữ nhân này trong nhiều bản chép tay, viết sai ra chữ tử . Bốn chữ “Thanh tâm tài nhân” ý hẳn là hiệu của tác giả theo như thói thường của các văn sĩ Tàu và hay ký tác phẩm bằng hiệu.
                         
                        (8) Tuy là không biết tác giả tên thực là gì và sống về đời nào nhưng các việc kể trong tiểu thuyết đều thuộc về đời Gia tĩnh nhà Minh tức là tự năm 1522 đến năm 1566, mà sách ấy lại do Kim Thánh thán sống tự năm 1627 đến năm 1662 phê bình (xem lời chú dưới), vậy theo đấy ta có thể biết được rằng sách ấy làm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XXI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII.
                         
                        (9) Kim Thánh thán (1627 -1662) ; người cuối đời Minh, vốn họ Trương tên Thái, sau đổi họ Kim, tên Vị , tự Thánh thán người cuồng ngạo, có kỳ khí, có phê bình nhiều sách như Thủy Hử, Tây Sương Ký . Đến đời nhà Thanh, bị án chết, thọ 35 tuổi.
                         
                        (10) Sở dĩ biết rằng sách ấy do Thành thán phê bình, vì như trên đã nói, ở đầu mỗi quyển có đề : “Thánh thán ngoại thư ” là những chữ ta thường thấy để ở đầu các sách do ông đã học và phê bình ( thí dụ trên đầu bộ Tam quốc diễn nghĩa ) ; vả chăng ta lại thấy đề mấy chữ “Quán hoa đường bình luận ”, mà Quán hoa đường tức là tên thư viện của Thánh thán.
                         
                        (11) Có người cho rằng việc báo oán của Kiều (giết Tú bà , Mã Giám sinh, Khuyển ,  Ưng ) là một việc ác trái với tôn chỉ của đạo Phật lấy chữ từ bi bác ái làm trọng, nhưng ta nên nhận rằng cái tội của bọn ấy phải chịu chính là cái kết quả các việc gian ác của chúng đã làm : vậy việc chúng làm ác gặp ác cũng là hợp với thuyết quả và nghiệp báo của Phật giáo vậy .
                         
                        (12) Về ý kiến nói trong câu này, ta sẽ xét ở Chương XIX khi nói đến truyện Phan Trần.
                         
                         
                         
                         
                         
                         
                         
                         
                         

                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 16:12:17Huyền Băng>
                        Chương Thứ Mười Chín
                         
                        Các Truyện Nôm Khác: Lục Vân Tiên Bích Câu Kỳ Ngộ, Nhị Đô Mai, Phan Trần
                         
                                    Trong các truyện nôm của ta, trừ truyện Hoa tiên và truyện Kim Vân Kiều ta đã nói đến trước, còn có nhiều truyện , tuy văn chương không được đặc sắc như hai quyển trên, nhưng cũng là những tác phẩm có giá trị và chính vì lời văn giản dị nên được phổ cập trong đám bình dân. Vậy trong chương này, ta xét đến bốn quyển trong những chuyện ấy là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu và Bích câu kỳ ngộ - Nhị độ mai, Phan Trần không rõ tác giả là ai.
                         
                        Lục Vân Tiên – Trong các truyện nôm của ta, cuốn Lục Vân Tiên cũng là một cuốn được nhiều người xem, thứ nhất là ở trong Nam Kỳ.
                         
                                    Tác giả là Nguyễn Đình Chiểu (1) , một nhà nho học chân chính, chẳng may vì cướp nhà mà lâm vào cảnh tàn tật, rồi lại gặp lúc có nạn nước mà phải long đong lưu lạc, nhưng lúc nào cũng giữ được tấm lòng trong sạch, phẩm cách thanh cao.
                         
                                    Nhân đọc một cuốn tiểu thuyết Tàu nhan là Tây minh (Trước đèn đọc truyện Tây minh L.V.T. c. 1)  thấy vai chính trong truyện là Lục Vân Tiên gặp nhiều cảnh ngộ thảm thương tựa thân thế mình, bèn theo đấy mà soạn ra bản truyện nôm. Vậy truyện ấy, cũng như Truyện Kiều đối với Nguyễn Du, là một cuốn sách tác giả viết ra để gửi tâm sự của mình vào đó. Truyện ấy lại là một cuốn luân lý tiểu thuyết cốt dạy người ta đạo làm người ; ngay ở đoạn mở bài ( câu 3 – 6 ) , tác giả đã nói rõ cái chủ ý cuốn truyện :
                         
                                    Ai ôi lẳng lặng mà nghe,
                        Dữ răng việc trước, lành dè thân sau.
                        Trai thời trung, hiếu làm đầu
                        Gái thời tiết hạnh là câu sửa mình .
                         
                        Tác giả muốn đem gương đời xưa mà khuyên người ta về đường cương thường đạo nghĩa, nên trong truyện tác giả đã khéo đối chiếu kẻ hay người dở, kẻ thiện người ác mà kết cấu lại thành ra những kẻ hay người thiện, dù có gặp nỗi gian truân khổ sở, sau cùng được phần vinh hiển sung sướng, mà những kẻ dở người ác, dù có lúc được giàu sang rực rỡ, rút cục lại cũng đều bị tội vạ khốn cùng .
                         
                        Trong chuyện, trừ hai vai chính là Lục Vân Tiên, một người học trò có tài có hạnh mà chả may gặp nhiều nỗi gian truân khổ sở, và Kiều Nguyệt Nga, một người con gái biết thủ tiết dù phải hy sinh tính mệnh (mạng ) cũng đành, tác giả lại khéo phác họa tâm lý của các vai phụ : nào những người tuy ở địa vị tầm thường (tiều phu, ngư ông ) mà có một tấm lòng vàng, biết trọng nghĩa khinh tài, biết cứu giúp người khác trong cơn hoạn nạn : nào những kẻ tuy ở trong cảnh giàu sang mà có lòng bội bạc ( như Vũ công, bố vợ Lục Vân Tiên, khi thấy con rể mù , định hãm hại chàng để gả con cho người khác ; Trịnh Hâm lập mưu hại bạn ) ; nào những kẻ ỷ quyền thế để thỏa lòng dục vọng và làm hại người lương thiện ( như Thái sư, vì ép duyên Kiều Nguyệt Nga không được, đem lòng thù oán, bắt nàng sang cống Phiên ) xem đó thì biết tác giả là một người hiểu thấu nhân tình thế thái lắm .
                         
                        Lời văn truyện này bình thường giản dị, tuy không được điêu luyện uẩn súc như văn truyện Kiều và truyện Hoa tiên, nhưng có vẻ tự nhiên, có giọng chất phác, cũng là một áng văn hay trong nền quốc văn ta.
                         
                        Bích câu kỳ ngộ - Phần nhiều các truyện nôm cũ của ta mượn sự tích ở sử sách hoặc tiểu thuyết Tàu ; truyện Bích câu này không thế, vì kể một việc có tính cách kỳ dị đã xảy ra ở nước ta tức là việc một người học trò tên là Trần Tú Uyên gặp một nàng tiên ở đất Bích Câu (Xem lược truyện ở phần thứ nhì, trước bài số 28 ) , bởi thế mới đặt tên truyện là Bích câu kỳ ngộ ( sự gặp gỡ lạ lùng ở Bích câu ) .
                         
                        Cứ theo trong truyện thì việc ấy xảy ra ở đời nhà Hậu Lê ; nhiều văn sĩ nhà Lê để chép truyện  ấy, như trong cuốn Tục truyện ký của bà Đoàn Thị Điểm cũng thấy ở truyện Bích câu kỳ ngộ viết bằng Hán văn. Còn bản truyện nôm thì không biết tác giả là ai và làm  về đời nào.
                         
                        Truyện cũng viết theo lối văn điêu luyện , nhiều đoạn không kém gì văn truyện Kiều hoặc truyện Hoa tiên, nên được các học giả thưởng thức, nhưng không được phổ cặp trong dân gian. Trong truyện, có nhiều câu hơi giống những câu truyện Kiều (1) , nhưng hiện nay ta không có tài liệu để định rằng truyện này đã chịu ảnh hưởng của truyện Kiều hoặc trái lại thế , vì ta không biết truyện ấy đã viết trước hay viết sau truyện Kiều.
                         
                        Nhị độ mai . – Cuốn này soạn theo một cuốn tiểu thuyết Tàu nhan là Trung hiếu tiết nghĩa, nhị độ mai ( nhị độ mai: hoa mai nở hai lần ; trong truyện có chép việc ấy coi là một điềm hay ) .
                         
                        Cuốn này là một cuốn luân lý tiểu thuyết chủ ý khuyên người ta nên theo luân thường , nên giữ trọn những điều trung, hiếu, tiết, nghĩa. Trong truyện, bày ra một bên là những vai trung chính, dù gặp hoạn nạn cũng không đổi lòng, sau được vẻ vang sung sướng ; một bên là những vai gian ác, tuy được đắc chí một thời , sau cũng phải tội vạ, để tỏ cho người đời nhận biết cái lẽ báo ứng của trời :
                         
                        Trời nào phụ kẻ trung trinh,
                        Dầu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia .
                        Danh thơm muôn kiếp còn ghi ,
                        Để gương trong sạch, tạc bia dưới đời.
                        Gian tà đắc chí mấy hơi ,
                        Mắt thần khôn giấu, lưới trời khôn dung .
                        Uy quyền một phút như không,
                        Xem bằng lửa đá, ví cùng đám mây.
                         
                        (NH. Đ. M. c 7 – 14 )
                         
                        Cốt truyện ( Xem lược truyện ở Phần thứ nhì trước Bài số 30 ) là những nỗi gian truân của hai gia đình, họ Mai và họ Trần, chỉ vì hai bậc gia trưởng có lòng cương trực chống nhau với bọn gian thần mà gặp bao cảnh tử biệt sinh ly, long đong khốn khổ, nhưng kết cục rồi lòng trung nghĩa cũng thấu đến nhà vua mà thù xưa được trả sạch và bọn gian nịnh phải trị tội. Nhưng kết cấu câu chuyện hơi vụng, thành ra vai chánh vai phụ không được phân minh và tình tiết trong truyện nhiều chỗ phiền toái, rối ren .
                         
                        Lời văn truyện này bình thường giản dị, ai xem cũng hiểu; vả lại câu chuyện hoàn toàn có tính cách luân lý, nên rất được phổ cập trong dân chúng .
                         
                        Phan Trần - Truyện Phan Trần ( họ Phan và họ Trần ) lấy sự tích ở bên Tàu về đời nhà Tống tự niên hiệu Tĩnh khang đến niên hiệu Thiệu Hưng ( tự năm 1126 đến năm 1147 ).
                         
                        Truyện cốt kể cuộc tình duyên trắc trở của hai người là Phan sinh và Trần Kiều Liên (Xem lược truyện ở phần thứ nhì, trước Bài số 23 ). Hai bên đính ước với nhau từ lúc còn ở trong thai , rồi sau một hồi ly loạn cách biệt, lại được cùng nhau sum họp.
                         
                        Các cụ xưa thường răn các người con trai không nên đọc truyện này : “Đàn ông chớ kể Phan Trần ”, vì trong truyện có một đoạn tả Phan sinh tưởng nhớ người yêu thành ra ốm tương tư và quá si tình đến nỗi toan bề tự tận . Các cụ cho rằng một người con trai không nên có những tính tình quá nhu nhược ủy mị như thế .
                         
                        Tuy vậy, trong truyện có nhiều đoạn tả cảnh, tả tình rất khéo, như đoạn tả nổi buồn của Kiều Liên khi nhớ mẹ và tình nhân, đoạn tả nỗi thất vọng của Phan sinh khi bị Diệu Thường cự tuyệt .
                         
                        Lời văn chải chuốt êm đêm, có nhiều đoạn không kém gì văn truyện Kiều và so với văn Nhị độ mai có phần hơn .
                         
                        Kết luận – Các truyện nôm nói trong hai chương này là những tác phẩm đã được phổ  cập trong nước ; hoặc được các học giả thưởng thức,  hoặc được các thường dân ngâm đọc ; có nhiều người thuộc lòng những cuốn ấy, rồi thì mẹ kể cho con nghe, bà hát cho cháu nhớ, nhân đó mà ảnh hưởng sâu xa đến tính tình người dân; lại các nhà văn thường dẫn các câu và các từ ngữ trong những cuốn ấy làm điển cố hoặc làm tài liệu trong thơ văn của mình, thành ra những tác phẩm ấy đã có công dụng lớn trong văn chương nước ta .
                         
                        Các Bản In Và Bản Dịch
                         
                        1. Bích câu kỳ ngộ truyện . Le’ miracle de Bích câu . Poéme populaire annamite transcrit et publié par Ed. Nordemann . Huế, 1905 .
                         
                        2. Nhị độ mai, transcrit en quốc ngữ et pulié par Nguyễn Ngọc Xuân 2d éd. Hanội, Lib. Ích ký, 1920
                         
                        3. Phan Trần truyện . Les familles Phan et Trần. Poème populaire annamite transcrit et publié par Ed. Nordemann, Huế 1900
                         
                        4. Georges Cordier, Bích câu kỳ ngộ ou la renconire merveilleuse du canal de jade, poème tonkinois; in Revue indochinoise, nouv. Sér, t XXI 1919, N. 1, Janvier, pp . 1-22
                        5. Landes, Nhị độ mai, Traduction francaise, en Excursions et Reconnaissances, t.  IV et VIII
                         
                        6. Nguyễn Đình Chiểu , Lục Vân Tiên truyện, Ed. Trương Vĩnh Ký, Saigon A. Book . 1889; 4e éd ., Saigon, Claude 1897
                         
                        7. Les poemes de l’Annam Lục Vân Tiên diễn ca Texte en caractères figuratifs. Transcription en caractères latins el traduction par Abel des Michels, Paris, L. Laroux. 1883
                         
                        8. Eugène Bajet, Histoire du grand lettré Louc Vian Té-ien, Paris Challamel ainé 1883
                         
                        9. Nguyễn Đình Chiểu Lục Vân Tiên traduit en francais par Nghiem Liễn, in BSEMT, t. VII , 1926, Nos 3 et ss.
                         
                        10. Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên Traduction en francais par Dương Quảng Hàm , hanoi, Éditions Alexandre de Rhodes, 1944

                         

                        [/align] 
                        Chú Giải
                         
                        (1) Nguyễn Đình chiểu (1822-1888) sinh ở thôn Tân thời, huyện Bình dương, tỉnh Gia Định ( thôn Tân thới nay ở trong khu vực thành phố Sài gòn ) . Cha là Nguyễn Đình Huy vốn người Thừa thiên, nhân vào làm Văn hàn ty thơ lại ở dinh tổng trấn trong Gia định thành, mới lấy người thiếp ở đấy mà sinh ra ông . Năm 1843 (Thiệu trị thứ ba ), ông đậu tú tài ở trường Gia định. Sau ông ra kinh đô thi hội, chợt nghe tin mẹ mất (1848) khóc quá thành mù . năm sau, về  nhà cư tang và mở trường dạy học ( bởi thế, tục thường gọi (kêu ) là cụ Đồ Chiểu . Năm 1858 , quân Pháp lấy Gia định, ông chạy về que vợ ở Cần giuộc . Năm 1861, Cần giuộc mất, ông về ở Ba tri ( Bến Tre ) Bấy giờ có nhiều người ( như Trương Văn Định, tục kêu Quản Định ) nội lên chống với người Pháp, muốn mời ông ra làm quân sự cho mạnh thanh thế, nhưng ông từ chối . Sau chánh phủ Pháp, th’y ông là người có tài  mà chẳng may bị tàn tật, có ngỏ ý muốn cấp tiền dưỡng lão cho ông, nhưng ông không nhận .
                         
                        Trừ cuốn Lục Vân Tiên, ông còn viết nhiều bài thơ nôm, mấy thiên vần lục bát : Dương Từ, Hà Mậu – Ngư tiều vấn đáp . Trong thơ văn , ông thường đem những đạo nghĩa ra khuyên răn người đời và thường đời và thường tỏ ra là người băn khoăn đến việc nước việc đời.
                         
                         
                         
                         
                         

                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 17:31:24Huyền Băng>
                        Chương Thứ Hai Mươi
                         
                        Các Nhà Viết Văn Nôm Về Thế Kỷ Thứ XIX
                         
                                    Ở Chương thứ XII ta đã xét về các nhà viết Hán văn trong thế kỷ thứ XIX, nay ta nói về các nhà viết văn nôm trong thế kỷ ấy .
                         
                                    Trong thế kỷ thứ XIX tức là từ khi nhà Nguyễn lên cầm quyền đến khi, vì sự tiếp xúc với văn học nước Pháp, phong trào văn quốc giữ mới nhóm lên, cũng có nhiều nhà viết văn nôm có tài . Theo tác phẩm các nhà ấy , ta nhận thấy bốn khuynh hướng sau :
                         
                                    Khuynh hướng về đạo lý . - Những nhà có khuynh hướng này theo cái quan niệm cổ điển của văn chương Tàu và ta, đem các điều luân thường đạo lý diễn đạt trong thơ văn, chú ý để khuyên răn người đời .
                         
                                    Lý văn Phức (1785 – 1849) (1) – Ông soạn ra những tập Nhị thập tứ hiếu diễn âm (truyện hai mươi bốn người con có hiếu ở bên Tàu diễn ra lời ca lục bát ) Phụ châm tiện lãm ( lời khuyên răn cho đàn bà tiện xem ) điều là những sách giáo huấn và nhiều bài văn nôm như Tự thuật ký , Bất Phong lưu truyện , Sứ trình tiện lãm khúc …v.v.
                         
                                    Dực Tôn (1829-1883) – Ngài có soạn cuốn Luận ngữ diễn ca ( sách Luận ngữ dịch ra lời ca ). Thập điền diễn ca ( bài ca mười điều khuyên răn )
                         
                                    Nguyễn Đình Chiểu ( 1822 -1888) (2) – Ông là tác giả cuốn truyện Lục vân tiên (đã nói rõ ở Chương thứ XIX) và những tập Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều vấn đáp trong đều nói về đạo nghĩa; ông lại soạn nhiều thơ ca, văn tế nôm tỏ ra là một người hữu tâm với thời cục và quốc văn lúc bấy giờ .
                         
                                    Bùi Hữu Nghĩa (1807 – 1872 ) (3) – Ông có làm nhiều thơ nôm là một bản tuồng nhan là Kim Thạch kỳ duyên ( duyên lạ của Kim và Thạch ) trong mượn một sự tích ở bên Tàu để khuyên người ta nên giữ lòng tiết nghĩa và dạ thủy chung .
                         
                                    Hoàng Cao Khải (1850 – 1933) (4) – Ông có soạn những cuốn Gương sử Nam ( bàn các việc to tát trong sử Nam ) . Việt nam nhân thần giám ( gương các người làm bầy ti ở nước Nam ), và những tập Vịnh nam sử ( tập thơ vịnh các nhân vận trong sử Nam ) . Làm con phải hiếu ( truyện các người con có hiếu ở nước ta ), Đàn bà nước Nam (truyện các người đàn bà có tiếng ở nước Nam ) đều là những sách trong đó tác giả mượn các nhân vật hoặc sự trạng trong lịch sử để khuyên răn người đời. Ông còn soạn hai bản tuồng : Tây Nam đắc bằng diễn về tích ông Bá Đa Lộc giúp vua Gia Long và Tượng kỳ khí xa diễn tích của Vũ Tính tuẫn tiếc ở thành Bình định .
                         
                                    Khuynh hướng về chủ nghĩa quốc gia – Các việc biến cố trong nước ta về hạ bán thế kỷ thứ XIX (nhất là việc can thiệp của nước Pháp ) đã kích thích các sĩ phu lúc bấy giờ , nhân đó các nhà ấy viết ra nhiều thơ văn để thuật lại các việc đà xảy ra , hoặc phẩm bình các nhân vật đương thời, hoặc biểu lộ cái cảm tưởng đối với thời cục .
                         
                                    Tôn thọ tường (5) và Phan văn Trị
                         
                        Hai ông này là người Nam kỳ, ở về đời Tự đức . Chánh phủ Pháp sau khi đánh lấy Nam kỳ có vời các văn thân trong xứ ra giúp việc . Bấy giờ sĩ phu trong Nam chia ra làm hai phái, một phái muốn cộng tác với người Pháp và chịu ra làm quan : đúng đầu phái ấy là Tôn Thọ Tường; một phái theo chủ nghĩa “trung thần bất sự nhị quân ” không chịu ra giúp việc “Tân trào ” , đứng đầu phái này là Phan văn Trị. Hai ông lại có tài làm thơ, nên thường ngâm vịnh để tỏ ý chí mình mà hễ một bên làm ra bài nào, là bên kia liền làm bài hoạ lại đẻ phản đối . Nhờ cuộc bút chiến ấy, nay ta được biết tâm sự, chí hướng của đám văn thân trong Nam kỳ lúc bấy giờ. Trong cuộc bút chiến ấy, đặc sắc nhất là muời bài thơ liên hoàn nhan là Tự Thuật của Tôn thọ Tường cùng mười bài hoạ lại của Phan văn Trị và bài Tôn phu nhân qui Thục cũng vừa bài xướng vừa bài hoạ .
                         
                        Nguyễn Nhược Thị (7) – Bà là một người có học thức, lại ở trong hoàng cung được mục kích việc Kinh thành thất thử năm Ất dậu (1885) nhân đó vua Hàm nghi phải chạy trốn ; bèn soạn ra bài Hạnh Thục ca (8) kể rõ công việc đã xảy ra nỗi khốn khổ của dân sự lúc bấy giờ và chỉ trính thái độ của bọn quyền thần đã gây nên việc ấy .
                         
                        Cũng thuộc về loại văn ấy, ta nên kể bài Chính khí ca (9) của Nguyễn văn Giai ( tục gọi là Ba Giai ) (10) trong đó ngợi khen việc quan Tổng đốc Hoàng Diệu tuần tiết khi thành Hà nội thất thủ năm Nhâm ngọ (1882)
                         
                        Khuynh hướng về tình cảm – Trong các nhà có khuynh hướng về tình cảm ta nhận thấy có nhiều tính cách khác nhau ; hoặc là tình cảm lãng mạn như Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh: hoặc là tình cảm đoan chính như là Bà huyện Thanh quan; hoặc là tình cảm hào hùng cao nhã của một bậc đại nhân như Nguyễn Công Trứ ; hoặc tình cảm phẫn uất chán nản của một kẻ bất đắc chí như Cao Bá Quát.
                         
                        Hồ Xuân Hương (11) – Bà là một nữ sĩ có thiên tài và giàu về tình cảm, nhưng vì số phận hẩm  hiu, thân thế long đong, nên trong tập thơ của bà (Xuân hương thi tập ), hoặc có ý lẳng lơ, hoặc có giọng mai mỉa, nhưng bài nào cũng chứa chan tình tứ, mà cách tả cảnh, tả tình, dùng chữ hiệp vần rất khéo, thật là một nhà viết thơ văn thuần túy thoát hẳn ảnh hưởng của thơ văn chữ Hán .
                         
                        Chu Mạnh Trinh (1862-1805) (12) – Ông cũng là một thi gia về phái lãng mạn, trong tập thơ vịnh Kiều (Thanh tâm tài nhân thi tập ) và các bài ca Hương sơn phong cảnh ca , Hương sơn nhật trình ca , ông tỏ ra là một bậc tài tình phong nhã, lời thơ rất êm đềm bay bổng .
                         
                        Bà Huyện Thanh Quan (13) - Những bài thơ nôm của bà còn truyền lại có ít, phần nhiều là thơ tả cảnh, tả hình, nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước . Lời văn rất trang nhã, điêu luyện .
                         
                        Nguyễn Công Trứ (1778-1857) (14) – Ông là một người có tài kinh bang tế thế, lúc làm quan biết tận tụy với chức vụ và lập nên công nghiệp hiển hách, đến khi về hưu lại biết gác bỏ danh lợi mà sinh hoạt trong cảnh an nhàn, nên trong tập thơ nôm và nhất là trong những bài hát nói là lối văn sở trường của ông , ông thường khuyên người tài trai phải gắng sức lại nên sự nghiệp để trả nợ cho nước cho đời, rồi đến khi đà làm xong phận sự thì nên hưởng lấy cuộc an nhàn. Ông lại có tính tình vui vẻ , dù gặp cảnh nghèo vận rủi cũng vẫn thủng thỉnh tự nhiên, nên văn ông không thiên về tính buồn sầu như phần nhiều thơ ca của ta mà ý tứ mạnh mẽ, từ điệu dắn dỏi khiến cho người đọc cũng thấy phấn khởi hăng hái lên .
                         
                        Cao Bá Quát ( ? – 1854) (15) – Ông là một bậc có tài lỗi lạc , nhưng không được trọng dụng, nên sinh ra chán nản bực tức, khinh thế ngạo vật, kết cục đến làm loạn mà phải giết chết, bởi thế trong thơ ca của ông ( còn truyền lại ít bài thơ nôm và hát nói ) , ta nhận thấy cái tư tưởng yếm thế ; cái tình cảm phẫn uất của một kẻ bất đắc chí .
                         
                        Khuynh hướng về trào phúng – Các nhà thuộc về phái này thường tả thế thái nhân tình để châm chích chế giễu cái dở, cái rởm, thói hư tật xấu của người đời .
                         
                        Nguyễn Quý Tân (1811 – 1858) (16) – Ông là một người tài hoa phóng túng, ưa sự tự do, nên không chịu ra làm quan . Ông sở trường về lối văn hài hước ; gặp việc gì chưóng tai nghịch mắt ông thường làm thơ ca để giễu cợt pha trò .
                         
                        Nguyễn Văn Lạc (17) – Ông là một người học giỏi nhưng không hiển đạt, lại có tính cứng cỏi , ngạo đời, không chịu phục tòng những kẻ quyền thế, bi thế ông thường làm thơ để châm chích bọn ấy . Thơ ông thường dùng vần trắc .
                         
                        Nguyễn Khuyến (1835 – 1909)  (18) ông là một người từng trải việc đời, lại có biệt tài về văn nôm . Văn ông làm đủ các lối : thơ, ca, hát nói, câu đối, văn tế, ..v.v. . Ông thích tự vịnh, tự trào, có vẻ ung dung phóng khoáng . Ông cũng hay giễu cợt người đời, chỉ trích thói đời một cách nhẹ nhàng kín đáo, rõ ra một bậc đại nhân quân tử muốn dùng lời văn trào phúng để khuyên răn người đời .
                         
                        Trần Tế Xương (1870-1907) (19) – Ông là một người có tài nhưng suốt đời không làm nên danh phận gì, lại gặp nhiều cảnh nghèo cùng cực khổ, nên trong thơ văn ta thấy có nhiều bài tả cái thân thế long đong, cái nông nỗi dở dang của ông . Ông cũng hay mai mỉa những thói rỏm, nết xấu, những tính giả dối bội bạc của người đời, mà mai mỉa một cách cay chua độc địa, ông lại có tài xuất khuẩu thành chương, nên văn ông rất tự nhiên linh hoạt .
                         
                        Kết luận – Văn nôm của ta về thế kỷ thứ XIX, so với trước, thật có tiến bộ nhiều, không kể cuốn truyện Kiều (xét riêng ở Chương thứ XVIII ) là một tác phẩm trường thiên đã chiếm một điạ vị đặc biệt trong nền quốc văn, ta nhận thấy các thể thơ, hát nói, song thất, lục bát đều có phần khởi sắc và các văn sĩ ta đã nhiều khi thoát ly cái ảnh hưởng của thơ văn Tàu mà diễn đạt tư tưởng tính tình một cách thành thực để sáng tạo một nền văn đặc biệt của dân tộc ta .
                         
                        Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                         

                        Đại Nam chính biên  liệt truyện , Q, 20 . 25 . 46 .
                        Chap. Bibl., p. 35 n. t.
                        Chương dân thi thoại , Huế, Đắc lập, 1936
                        Tiểu sử cụ Đồ Chiểu , tr. Tân văn tuần báo, số 27 ngày 16 -2 – 1935 tr. 3
                        Phan văn Thiết Minh oan cho ông Tôn Thọ Tường, trg.  Việt dân tuần báo, số 1-12-1921, trg. 16-18
                        Nguyễn văn Tố Compte-rendu des deux Conférences faites les 18-11-1920 et 31-3-1921 sur Le Hạnh Thục ca de Nguyễn Nhược thị par M. Thân Trọng Huề, Tổng đốc, Membre de la Cour d’Appel de Hanoi, in BSEMT. t . II, 1921, N. 1. p., 47 – 55
                        Đông châu Nguyễn Hữu Tiến, Giai nhân di mặc, sự tích và thơ từ Xuân Hương , 2p. Hanoi Imp. Tonkinoise .
                        Nguyễn Văn Hạnh, Hồ Xuân Hương, Tác phẩm, thân thế và văn tài, Sài gòn, nhà in Aspar, 1936
                        Lê Thước, Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ , Hànội, Imp Lê văn Tân, 1928
                        Tiên đàm Nguyễn Tường Phượng. Thân thế và văn chương hai ông họ Cao, trg. VHTC., số 5, trg. 31 và số 6, trg. 66. tđ , - Một nhân vật tỉnh Bắc ninh : ông Cao Bá Quát  ( bài diễn thuyết ở hội Tri tri Hànội ngày 29-11-1934) , trg. BSEMT., XIV, 1934, số 4 trg. 588 tđ .
                        Nguyễn Thúc Khiêm , Truyện ông nghè Tân, NP., t. XXVII số 153, trg. 137-147
                        Trần Thanh Mại Trông giòng sông Vị, Phê bình văn chương và thân thế ông Trần Tế Xương, Huế, Trần Thanh Địch ấn hành, 1935
                        Khuông Việt, Tôn Thọ Tường , Hànội, Nhà in Ngày nay, 1942

                           
                           
                          Các Bản In Bản Dịch
                           
                          (Nhiều thơ văn của các tác giả nói trong Chương này đã lục đăng ở các tạp chí như Đ D T C ., NP,. V H T C., Đ T ., Việt dân tuần báo ở Sài gòn , Tân dân tạp chí ở Sài gòn và bộ Văn đàn bảo giám do ông Trần Trung Viên sao lục, 3 q. Hà nội, Nam Kỳ thư quán xb. )
                           

                          Nhị thập tứ hiếu, Haiphong, Hanoi, Imp. Lib, Văn minh . 1944
                          Kim Thạch kỳ duyên , Edition Bùi Quang Nhơn, Sài gòn, Imp Claude  et Cie, 1895; - Edition Thạnh phát (Cần thơ ) Hanoi, Imp … du Trung Bắc tân văn, 1919
                          Bùi Quang Nghĩa L’union merveilleuse de Kim et de Thạch . Manuscrit en chữ nm précédé d’une intruduction et des commentaires par Pt Midan, in BSEI., nouv, sér ., t. IX 1934 , nos 1-2
                          Hoàng Cao Khải, Gương sử Nam. En Annam . Traduction francaise par le Commandant Roux, Hà Nội, nhà in Dufour và Nguyễn văn Vĩnh 1910; - Việt nam nhân thần giám . Quelques grandes figures de l’histoire d’Annam . Traduction fracaise par Đỗ Thuận, Hanoi, Imp . d’E . O., 1915 ; - Vịnh Nam sử, trg ., - Đàn bà nước Nam, trg . ĐDTC, số 85, - Tây Nam đắc bằng, Hanoi, Imp. Tonkinoise; - Tượng kỳ khí xa, Hanoi, Imps. Tonkinoise 1916 .
                          Ba Giai , Chính khí ca, trg. tuần báo Mai, 15 và 21
                          Hồ Xuân Hương thi tập, transcrit en quốc ngữ et publié par Xuân lan , 4e  éd …. Haiphong, Hanoi, Imp. Văn minh , 1914
                          Thanh tâm tài nhân thi tập (Các bài bàn và các bài thơ Kim Vân Kiều của quan Án Chu soạn ) transcrit en quốc ngữ et publié par Xuân lan , 2d éd …Haiphong, Hanoi, Imp . Văn minh, 1913
                          Thơ nôm quan Tam nguyên Yên đổ, Song an Nguyễn Thanh Đàm biên tập. Q. thứ nhất Hà nội, Nam anh thư quán, 1927
                          Vị xuyên thi văn tập, Văn thơ dật sử ông Trần Tế Xương, Sở cuòng văn khố, Quốc học tùng san đệ nhị tập, Hà nội , Nam kỳ thư quán xb. 1931


                             

                            [/align] 
                            Chú Giải
                             
                            (1) Lý văn Phức tự Lân chi , hiệu Khắc trai, người làng Hổ khẩu,  huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà nội (nay thuộc huyện hoàn long, tỉnh Hà đông ), đậu cử nhân năm 1819 (Gia long thứ 18 ), làm quan trong ba đời vua Minh mệnh, Thiệu trị, Tự đức , có sang sứ Tàu một lần (1841) và nhiều lần được cử đi phái bộ ở các nước lân cận nước ta như Tiểu Tây dương (1830) , nhân cuộc đi này ông soạn tập Tây hành kiến văn lục hoặc kỷ lược ) , Tân gia ba (singapour ), Lữ Tống (Lucon ), Quản đông (1833-1834) – nhân đó ông soạn hai tập Việt hành ngâm hoặc thi thảo và Việt hành tục ngâm , Áo môn (Ma cao ) nhân đó ông soạn tập thơ Kính hải tục ngâm ) mấy tập này đều viết bằng chữ Hán cả .
                             
                            (2) X. Tiểu truyện ở Chương thứ XIX, Lời chú (1)
                             
                            (3) Bùi Hữu Nghĩa: nhất danh là Quang nghĩa người làng Bình thủy, huyện Vĩnh định, tỉnh An giang ( nay thuộc tỉnh Cần thơ ) đậu thủ khoa năm 1835 (Minh mệnh thứ 16 ) (bởi thế tục thường gọi là Thủ khoa Nghĩa ), được bổ tri huyện, sau bị cách chức và sung quân . Sau nhờ đánh giặc Cao miên và công, được bổ phó quản cơ, coi đồn Vĩnh thông (Châu đốc ) . Nhưng không bao lâu ông từ chức về ở Long Tuyền, mở trường dạy học, vui thú điền viên .
                             
                            (4) Hoàng Cao Khải : trước tên là Văn Khải là Thái xuyên người làng Đông thái, huy.nê La sơn, tỉnh Hà tĩnh, đậu cử nhân năm 1868 ( Tự đức thứ 21 ) trước làm quan ở trong bộ, sau bổ ra Bắc kỳ. Bấy giờ nước Pháp vừa đặt cuộc bảo hộ xong trong xứ còn nhiều loạn lạc, ông đi đánh dẹp các nơi (Hưng yên , Bắc ninh, Hải dương ), tiễu trừ các đảng cách mệnh, có nhiều quân công với Pháp . Năm 1888 , ông được bổ Tổng đốc Hải dương, rồi hai năm sau (890) , sung chức Kinh lược Bắc kỳ. Năm 1897 nhân bãi nha Kinh lược, ông được triệu vào trong kinh làm phụ chánh đại thần .
                             
                            (5) Tôn Thọ Tường (1825-1877) : người huyện Bình dương phủ Tân bình, tỉnh Gia định, lúc trẻ đã nổi tiếng “ hay chữ ” , có đi thi một khoa Hương thi (1855) không đỗ . Sau khi nước Pháp lấy Nam kỳ (1862), ông ra giúp việc Chánh phủ Pháp, làm đến chức   Đốc phủ sứ . Ông từng được cử theo sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp , (1863-64) dạy khoa Hán văn ở trường hậu bổ (Collège des Stagiaires ) (1871) , phải ra giúp việc cho viên lãnh sự Pháp De Kergaradec tại Hà nội (1875) . Trong khi ông theo viên này đi quan sát miền thượng du Bắc kỳ thi bị mắc bệnh mất .
                             
                            (7) Nguyễn Nhược Thị (1830-1909): chính tên là Nguyễn thị Bích, tự là Lang Hoàn, người huyện An phúc, đạo Ninh thuận (nay thuộc tỉnh Phan rang ), con gái quan bố chánh Nguyễn Nhược San ; thuở nhỏ . có khiếu thông minh, nổi tiếng văn học. Năm 1892 (Thành thái thứ 2 ) được tấn phong là Lễ tần .
                             
                            (8) Hạnh Thục : nghĩa đen là (Vua ) đi trên đất Thục, tức là nói về việc vua Đường Huyền tôn bên Tàu vi cái loạn An Lộc Sơn phải bỏ kinh đô, chạy vào đất Thục. Đây tác giả mượn từ ngữ ấy để ám chỉ việc vua Hàm Nghi phải bỏ kinh thành Huế mà chạy trốn .
                             
                            (9) Chính khí ca : nguyên là đề mục một bài ca do một nhà nghĩa sĩ ở đời Nam Tống bên Tàu là Văn Thiên Tướng (1236-1282) soạn ra, khi ông bị quân Nguyên bắt giam, để tán dương cái khí chính đại của những bậc trung thần nghĩa sĩ . Tác giả mượn để mục ấy để đặt cho bài văn của mình .
                             
                            (10) Nguyễn văn Giai : người làng Hồ khẩu, huyện Vĩnh thuận , tỉnh Hà nội (nay thuộc huyện Hoàn long, tỉnh Hà đông ) có tài nôm, thường dùng mưu trí khiến cho người đương thời bị mắc lỡm để làm trò cho mình .
                             
                            (11) Hồ Xuân Hương : con Hồ Phi Diễn quê ở làng Quỳnh đôi, huyện Quỳnh lưu, xứ Nghệ an và một người thiếp quê ở Hải dương . Bà ở vào khoảng Lê mạt Nguyễn Sơ, cùng thời với Phạm Đình Hổ tức Chiêu Hổ (1768-1839). Học giỏi có tài thơ văn, nhưng duyên phận long đong, sau phải lấy lẽ một ông thử khoa làm tri phủ Vĩnh tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh yên ) . Được ít lâu ông phủ mất, bà lại lấy một người cai tổng tục danh là Cốc, không bao lâu, ông này cũng chết . Từ bấy giờ, bà chán về số phận mình, thường đi chơi các nơi thắng cảnh và ngâm vịnh thơ ca để khuây khoả nỗi buồn .
                             
                            (12) Chu Mạnh Trinh : người làng Phú Thụy, huyện Đông yên (nay là phủ Khoái châu ), tỉnh Hưng Yên; đậu tiến sĩ năm 1892 (Thành thái thứ 4 ) làm quan đến chức án sát .
                             
                            (13) Bà Huyện Thanh Quan : họ tên bà là gì không rõ . Người làng Nghi tâm ( nay thuộc huyện Hoàn long , tỉnh Hà đông ), lấy ông Lưu Nghị người làng Nguyệt áng, huyện Thanh trì ( cũng tỉnh ấy ), đậu cử nhân năm 1821 (Minh mệnh thứ 2 )  làm tri huyện huyện Thanh quan (nay là phủ Thái ninh, tỉnh Thái bình ) nên thường gọi là bà Huyện Thanh quan, bà có được vời vào trong Kinh làm “cung trung giáo tập ”
                             
                            (14) Nguyễn Công Trứ : tự Tồn chất, hiệu Ngộ trai, biệt hiệu là Hi văn, người xã Uy viễn, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà tĩnh, đậu giải nguyên năm (1891) ( Gia long thứ 18) làm quan trong ba đời Minh mệnh, Thiệu Trị và Tự đức từ chức hành tẩu Sử quán, thăng lên đến Binh bộ thượng thư lĩnh chức Tổng đốc (bởi vậy tục thường  gọi là cụ Thượng Trứ ), nhưng chìm nổi nhiều phen; mấy lần bị giáng chức , một lần bị cách tuột . Ông có công to khai khẩn đất hoang ở vùng bãi biển để lập ra hai huyện Tiền hải ( nay thuộc Thái bình ) và Kim sơn ( nay thuộc Ninh bình ) . Năm 71 tuổi (1848), về hưu; tự bấy giờ, ông gác bỏ việc đời, ngao du sơn thủy , an hưởng cảnh nhàn . Thọ 81 tuổi .
                             
                            (15) Xem Tiểu truyện ở Chương thứ XV, Lời chú (10)
                             
                            (16) Nguyễn Quí Tân : hiệu là Đĩnh Trai, biệt hiệu là Tản tiên đình cư sĩ, người làng Thượng Cốc, Gia lộc, tỉnh Hải dương. Lúc ít tuổi đã nổi tiếng là người có văn tài lỗi lạc. Năm 29 tuổi (1842 , Thiệu trị thứ 2 ) đậu tiến sĩ ( bởi thế tục thường gọi là Nghè Tân ), được bổ tri phủ ; nhưng ông có tính phóng túng chơi bời, nên được ít tháng xin từ chức, rồi chỉ đi đây đi đó , ngao du tiêu khiển .
                             
                            (17) Nguyễn Văn Lạc : thường gọi là Học Lạc ( Học là học sanh, một ngạch do Bản Triều lập ra, được cấp lương và ở học tại trường quan Đốc học ), biệt hiệu là Sầm Giang, người làng Mã chánh ( nay thuộc tỉnh Mỹ tho ) học giỏi nhưng không đỗ đạt gì, làm nghề dạy học và bốc thuốc .
                             
                            (18) X. Tiểu truyện ở Chương thứ XV. Lời chú (20)
                             
                            (19) Trần Tế Xương : sau đổi làm Cao Xương, người làng Vị xuyên huyện Mỹ lộc, tỉnh Nam định, đậu tú tài năm 1874 (Thành thái thứ 6 )
                             
                             
                             
                             
                             
                             

                            0
                            <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-30 09:54:37diên vỹ>

                            Năm thứ ba ban Trung học Việc Nam
                            (Lớp triếc học và Lớp Toán pháp)
                             
                             
                            Mấy Lời Dẫn Đầu
                             
                                        Trong hai năm thứ nhất và thứ nhì, ta đã xét văn học nước ta tự thế kỷ thứ XIX trở về trước , tức là nền văn học thuần chịu ảnh hưởng của nước Tàu . Mục đích bản chương trình năm thứ ba là xét về văn học nước ta và thế kỷ thứ XX, từ khi ta chịu ảnh hưởng của văn học Âu tay thứ nhất là của nước Pháp.
                             
                                        Chương trình ấy gồm có ba phần như sau :
                             
                                        1. Xét vè ảnh hưởng đã gây  nên nền quốc văn mới của ta và vấn đề những danh từ mới đà sáp nhập vào tiếng ta (Chương I và II )
                             
                                        2. Xét về viêc. Thành lập nền quốc văn mới cùng những phái, những người đã có công trong việc thành lập ấy ( Chương III và IV )
                             
                                        3. Xét về sự biến hoá về thể thức, về tư tưởng , về nghệ thuật trong nền quốc văn mới (Chương V, VI và VII )
                             
                             
                            Chương Thứ Nhất
                             
                            Ảnh Hưởng Của Nền Văn Học Mới Nước Tàu (Lương Khải Siêu ) Và Nền Pháp Học Đối Với Tư Tưởng Và Ngôn Ngữ Người Nam
                             
                                        Trong hai năm thứ nhất và thứ nhì, ta đã xét về văn học nước Nam tự thế kỷ thứ XIX trở về trước . Ta đã nhận ra rằng nền văn học ấy chịu ảnh hưởng của nền văn học cổ nước Tàu, thứ nhất của Nho học . Đến cuối thế kỷ XIX, vì các việc xảy ra ở mấy nước láng giềng và ở ngay nước ta, tư tưởng các sĩ phu nước ta có thay đổi. Sự thay đổi ấy do hai nguyên nhân chính: một là sự tiếp xúc với nền văn mới của Tàu ; hai là sự mở mang nền Pháp học ở nước ta .
                             
                                        1. - Nền văn học mới của Tàu
                             
                                        Cuộc cách mệnh văn học của Tàu – Sĩ phu nước Tàu xưa kia phần nhiều cũng mài miệt trong vòng khoa cử và ham chuộng từ chương, đến cuối thế kỷ thứ XIX, vì sự tiếp xúc với người Âu tây và thứ nhất là những sự thất bại của quốc gia ( Nha phiến chiến tranh năm 1840 -42) . – Trung Nhật chiến tranh năm (1894-95), mới tỉnh ngộ rằng lối khoa cử và nền văn học cũ không hợp thời nữa . Bấy giờ các bậc thông minh tân tiến mới sang du học châu Âu để hấp thụ lấy học thuật tư tưởng mới; rồi đến khi về nước, dịch các sách Âu tây về triết học (Montesquieu, Rousseau, Huzley, Stuart Mill, Spencer , Smith …v.v. ) , về văn học (Hugo, Dumas, Balzac, Stevenson, Dickens, Scott, Cervantes, Tolstoi ..v.v.v. ( soạn sách vở và viết báo chí để truyền bá những tư tưởng mới ( chính thể lập hiến, dân chủ, đại nghị ; chủ nghĩa tự do bình đẳng …v.v. ) Đồng thời, các nhà ấy cho lối văn cổ khó hiểu mà học mất lâu công bèn xướng lên việc cải cách văn tự, viết theo lối văn giản dị, sáng sủa, tức là lối văn “bạch thoại ” của Tàu  ngày nay .
                             
                                        Các văn sĩ nổi tiếng – Trong các nhà tân học Tàu nói trên, nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng đến sĩ phu người Nam hơn cả là Khang Hữu Vy và thứ nhất là Lương Khải Siêu .
                             
                                        Khang Hữy Vy (1858-1927) là người chủ trương cuộc biến chính năm 1898 (Thanh Đức Tôn, Quan tự thứ 24 ) ở Tàu; ông có soạn ra những sách Đại đồng thư ( sách bàn về chủ nghĩa đại đồng và Âu châu thập nhất quốc du ký ( chép việc đi chơi 11 nước châu Âu )
                             
                                        Lương Khải Siêu (1873-1929) , người tỉnh Quảng đông , tư chất rất thông minh, năm 17 tuổi đỗ thi hương; năm 18 tuổi đi thi hội hỏng bèn về Quảng đông xin làm môn đệ Khang Hữu Vy , bỏ cựu học theo tân học . Sau trận Trung Nhật chiến tranh (1894) theo thầy lên Bắc kinh dâng thư xin đổi hiến pháp không có hiệu quả, ông đến Thượng hải mở Thời vụ báo . Năm 1898 , ông cùng với thầy hoạt động về việc biến chính vì  bọn thủ cựu phá tan, phải trốn sang Nhật sang Mỹ, rồi đi du lịch hoàn cầu. Sau ông trở về Nhật làm Tân dân tùng báo bỏ chủ nghĩa bảo hoàng ( là chủ nghĩa của thầy ) theo chủ nghĩa cộng hòa . Sau khi Dân quốc thành lập, ông trở về nước . Năm 1929, mất ở Bắc kinh .
                             
                                        Ông học rộng tài cao, trứ thuật rất nhiều . Các tác phẩm chính của ông là Ẩm băng thất văn tập (Ẩm băng thất là biệt hiệu của ông ) Ẩm băng thất tùng trứ (trong bộ này ông nguyên cứu và bình luận về nhiều vấn đề triết học, văn học và chánh trị ) . Trung quốc học thuật tư tưởng biến thiên sử ( sử chép việc biến thiên về học thuật tư tưởng của nước Tàu ) , Thanh đại học thuật khái luận ( Bàn chung về học thuận đời nhà Thanh ) . Ông là một văn sĩ có thiên tài , lời hoạt bát , giọng nồng nàn khiến cho người đọc rất dễ cảm động .
                             
                            Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                             

                            Trần Trọng Kim  Nho giáo , q. III (sách đã kê trước, Xem thiên XI, d) Tân học phái , tr. 527 tđ .
                            Sung niên Hsu, Anthologie de la littérature chinoise (ouvrage cité ) V. Introdution, VI, pp . 68-88
                            Phạm Quỳnh L’évolution intellectuelle et morale des Annamites de puis l’établissement du Protectoral francais, in N. P., t. XI Suppl . en francais, pp. 152-129; t. XII Suppl. En francais pp. 1-17
                            Ưng Quả Il y a une renaissance annamile, in N. P., t, XXX , Suppl. En francais, pp . 63-70

                               

                              0
                              <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 17:46:24Huyền Băng>
                              Chương Thứ Hai
                               
                              Tiếng Việt Nam Và Các Danh Từ Mới Mượn Của Tàu Và Của Nhật
                               
                              Tính cách tiếng Việt Nam - Nếu đem so sánh tiếng Việt nam với các thứ tiếng phong phú trên thế giới , như tiếng Tàu , tiếng Pháp thì ta nhận thấy rằng :
                               
                              1. Tiếng Nam giàu về các từ ngữ cụ tượng ( chỉ các sự vật hữu hình ) thứ nhất là  các phẩm từ và trạng từ .
                               
                              2. Tiếng Nam nghèo về các từ ngữ trừu tượng ( chỉ các ý tưởng vô hình ) thứ nhất là các từ ngữ thuộc về triết học và khoa học . Điều đó không lấy gì làm lạ, vì xưa kia các cụ chưa hề nghiên cứu đến các vấn đề triết học và các khoa học chuyên môn, nên chưa tìm tiếng, đặt tiếng để diễn đạt các tư tưởng ấy .
                               
                              Các danh từ mới – Vì tiếng Nam thiếu nhiều từ ngữ trừu tượng , nên khi các học giả nước ta nghiên cứu đến học thuật Âu tây, phải tìm và đặt tiếng mới để diễn đạt các sự vật hoặc các ý tưởng mới . Các danh từ mới ấy có thể chia làm ba loại :
                               
                              1.     Các danh từ mượn ở chữ nho .
                              A)   Các danh từ thuộc loại này chiếm đại đa số , vì các lẽ sau này :
                               
                              a ) Chữ nho và tiếng Nam có liên lạc mật thiết về âm thanh vì đều là thứ tiếng đan   âm mà mỗi âm có nhiều thanh, nên những danh từ mượn ở chữ nho đối với ta vẫn dễ đọc dễ nghe .
                               
                              b) Chữ nho và tiếng Nam lại có liên lạc về ý nghĩa : các danh từ mới đều do sự ghép các tiếng đơn lại mà thành, mà trong tiếng Nam vốn có nhiều tiếng gốc ở chữ nho, nên phần nhiều người vì đã hiểu nghĩa các tiếng đơn có thể suy ra mà hiểu nghĩa các tiếng ghép do các tiếng đơn ấy lập thành .
                               
                              c) Các danh từ mượn ở chữ nho vẫn giữ được đặc tính của tiếng Nam vì tuy các danh từ ấy làm mượn của người Tàu hay người Nhật mà vẫn đọc theo âm riêng của ta .
                               
                              B)    Các danh từ gốc ở chữ nho đều mượn theo hai cách sau này :
                               
                              a ) Những chữ cũ (đã thấy trong kinh truyện hoặc các sách cũ ) mà người Tàu và người Nhật đã đem dùng theo nghĩa mới , rồi ta lại mượn lại . Thí dụ :
                               
                              Từ ngữ văn minh nguyên là chữ trong Kinh Dịch (thiên hạ văn minh ) Và nguyên nghĩa là “văn ý quan minh ( văn lý sáng rõ ), nay dùng theo nghĩa mới để dịch chữ “civilisation” của người Pháp và chỉ cái trình độ tiến hoá của một dân tộc về các phương diện vật chất, chánh trị và học thuật .
                               
                              Từ ngữ kinh tế nguyên nghĩa là “kinh thế tế dân ” (trị  đời giúp dân ), nay dùng theo nghĩa mới để dịch chữ “économique  ” và nói về các vấn đề có quan hệ đến việc sinh sản, phân phát và tiêu thụ các tài sản, như nói vấn đề kinh tế, khoa học kinh tế .
                               
                              b) Những chữ do người Nhật hoặc người Tàu ghép chữ nho đặc ra để dịch các danh từ Âu tây rồi lại mượn lại của họ ( những chữ do người Nhật đặt ra , thường do người Tàu mượn trước, rồi truyền sang ta ) . Thí dụ : Những từ ngữ duy tâm chủ nghĩa , - duy vật chủ nghĩa , - tam đoạn luận , - khinh khí , - dưỡng khí , - hóa học, - vô tuyến điện …v..v
                               
                              2. Các tiếng nôm do thường dân đặt ra để chỉ các sự vật mới họ thường trông thấy hoặc thường dùng đến . Thí dụ : tàu bay, tàu ngầm, xe lửa ,  xe điện, xe đạp , dây thép, máy nói , ống nhòm, ống tiêm, ống thủy hoặc ống cặp nách , thuốc cháy, thuốc tím, ..v.v
                               
                              3. Các tiếng phiên âm ở tiếng Pháp cũng do thường dân đặt ra . Thí dụ sà phòng hoặc sà bông (do tiếng savon), kê din ( crésyl ), bô tạt ( potasse ), cao su (caoutchouc ), xi (cire ), ximo hoặc xi măng (ciment ), kem (crème ), át xét ( acide ), ô tô (auto ), sà lan (chaland ), tê lê phong ( téléphone ), bơm (pompe ) ..v.v.v
                               
                              Hai loại sau này phần nhiều gồm các tiếng chỉ các vật chất và khí cụ mà dân ta mới biết dùng .
                               
                              Cách dùng các danh từ mới - Sự dùng các danh từ mới , muốn cho xác đáng, cần phải theo các điều kiện sau này :
                               
                              1.) Cần phải lựa chọn cẩn thận, dùng những chữ có ý nghĩa rõ ràng, thích đáng, thứ nhất là những chữ đã được các nhà tri thức dùng trong các sách vở báo chí .
                               
                              2.) Khi nào có thể vừa dùng tiếng nôm vừa dùng chữ nho để diễn đạt một ý tưởng , thì nên dùng tiếng nôm  hơn là chữ nho. Thí dụ nên dùng tiếng “tàu bay ” hơn là tiếng “phi cơ ” hoặc “phi dĩnh ” tiếng “tàu ngầm ” hơn là tiếng “tiềm thủy dĩnh ” . Nhưng khi nào dùng chữ nho mà đúng nghĩa và rõ ràng hơn thì nên dùng chữ nho . Thí dụ : nên dùng “điện tính “ hơn là tiếng “dây thép ” , tiếng “vô tuyến điện ” ( hơn là tiếng “dây thép gió  ” ..v..v
                               
                              3.) Còn các tên riêng ( tên người , tên đất ) của ngoại quốc (trừ nước Tàu ) thì nên phân biệt hai loại .
                               
                              a) Những tên đã phiên âm ra chữ nho mà đã quen dùng từ trước thì cứ nên dùng. Thí dụ : những tên : Pháp, Anh, Nga, Ý, Đức, Mỹ , Phi, Á, Ức , Âu, Ba lê , Luân đôn, Hoa thịnh đốn, Nã phá luân , Thích ca mâu ni ..v.v.
                               
                              b) Còn những tên khác thì nên viết đúng nguyên văn mà chỉ cách đọc ở bên cạnh, chứ không nên dùng những tên phiên âm ra chữ nho vì ít người biết đến . Thí dụ : tên Rousseau thì nên cứ viết là “Rousseau ” mà chỉ cách đọc ở bên cạnh là  (Rút sô ) hơn là dùng chữ “Lư thoa ” do người Tàu phiên âm ra ; tên Voltaire nên viết là “Voltaire” (Von te ) hơn là “Phú lộc đặc nhĩ …” v.v.v.
                               
                              Kết luận - Tiếng Nam vốn là một thứ tiếng giàu về các tiếng cụ tượng để diễn đạt các tính tình và các  trạng thái của sự vật ; lại có liên lạc mật thiết với chữ nho là một thứ văn tự rất phong phú, nên có thể mượn được của thứ chữ ấy nhiều danh từ mới để diễn đạt các ý tưởng và sự vật mới . Vậy nếu các học giả văn gia khéo biết tìm tòi các chữ vốn có trong tiếng Nam và lựa chọn các danh từ mới cho xác đáng thì tiếng ta cũng có ngày trở nên một thứ văn tự hoàn toàn có thể dùng trong việc học và việc nghiên cứu các khoa học mới được .
                               
                              Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                               

                              Phạm Quỳnh , L’évolution de la langue annamite. In NP. t. XII supplément en francais , pp. 39-48 et 59-70
                              Hoàng Xuân Hãn, Quel sera l’avenir de la langue annamite, etc … mémoire primé par le journal “La Patrie annamite ”. No 156 du 11 – 7 – 1936 et ss .
                              Lê Văn Nựu , idem, in la Patrie annamite, No 128 du 21 -12-1933 et s.
                              Edward C. Chodzko, idem, in la Patrie annamite. No 156 du 11-7-1936 et ss .
                              Nguyễn Văn Ngọc , Tiếng dùng trong quốc văn trg NP., t, IV, tr. 37-39
                              Phạm Quỳnh , Bàn về sự dùng chữ nho trong văn quốc ngữ , trg NP, t IV. Tr. 83-97
                              Dương Quảng Hàm, Bàn về tiếng An nam , trg. NP, t IV, tr 287-297
                              Nguyễn Khắc Bính, Vấn đề tiếng ta, trg NP., t XI, 371-380
                              Lê Văn Nựu khảo Việt ngữ Hanoi, Editions Alexandre de Rhodes 1942

                                 
                                 
                                 
                                 

                                0
                                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 11:32:55Huyền Băng>
                                Chương Thứ Ba
                                 
                                Sự Thành Lập Một Nền Quốc Văn Mới
                                 
                                Xưa kia, văn nôm tuy vẫn có, nhưng chỉ là phần phụ đối với văn chữ nho là phần chính. Từ khi người nước ta tiếp xúc với văn hoá Âu tây, mới biết trọng quốc văn và luyện tập cho nền văn ấy thành lập . Trong chương này, ta xét về lịch sử và tính cách của nền quốc văn mới ấy .
                                 
                                Lịch sử nền quốc văn mới - Lịch sử ấy gồm có ba thời kỳ :
                                 
                                1. Thời kỳ dự bị : Các văn dịch và các sách giáo khoa – Trong thời kỳ này, thực ra chưa có các tác phẩm bằng quốc văn xuất hiện ; các học giả hoặc diễn dịch ra tiếng Nam các sách chữ nho , thứ nhất là các tiểu thuyết Tàu như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy  hử , Tây du ký, Chinh Đông, Chinh Tây, v.vv. ; hoặc theo các sách Tàu mà biên tập ra các sách phổ thông giáo khoa như những sách giáo khoa của các ông Trương Vĩnh Ký (1) , Paulus Của (2) , Trần Văn Khánh, Trần Văn Thông ..v..v
                                 
                                            Sự diễn dịch các sách chữ nho và biên tập các sách giáo khoa ấy chính là một cách đào luyện tiếng Nam theo qui củ hai nền văn rất sung túc là văn Tàu và văn Pháp , khiến cho tiếng Nam có thể dùng để viết văn, thứ nhất là văn xuôi là một lối văn vốn xưa ta chưa có .
                                 
                                            2. Thời kỳ thành lập : Các báo chí – Trong thời kỳ  này, các báo chí kế tiếp xuất bản, trong có các nhà viết báo có giá trị, hoặc về phái cựu học, hoặc về phái tân học, soạn ra các bài xã thuyết , nghị luận, và biên dịch các bài khảo cứu về học thuật Đông Tây, nhờ đó mà quốc văn mới thành lập và có cơ sở vững vàng .
                                 
                                            3. Thời kỳ kiến thiết : các tác phẩm bằng quốc văn – Trong thời kỳ này, quốc văn đã thành lập và số người đọc sách quốc văn đã nhiều, nên các văn gia mới xuất bản các tác phẩm tự trứ tác ra . Các tác phẩm ấy thuộc đủ về các thể văn : thơ, ca , lịch sử, khảo  cứu , phê bình, kịch bản, nhưng thể văn thịnh hành nhất là thể tiểu thuyết .
                                 
                                            Tính cách nền quốc văn mới đối với nền văn nôm cũ – Nay ta hãy so sánh hai nền văn ấy để xem tính cách hai đằng khác nhau thế nào.
                                 
                                            1. Văn nôm cũ hầu hết là vận văn (thơ, ca, phú ) hoặc là biền văn ( kinh nghĩa, tứ lục ) chứ văn xuôi hầu không có . Trong quốc văn mới, văn vần tuy cũng có, nhưng chỉ gĩư một địa vị nhỏ hẹp, còn văn xuôi là thể văn mới thành lập lại chiếm phần quan trọng hơn .
                                            2. Văn nôm cũ thường có tính cách cao quí (Xem lại Năm thứ hai, chương thứ nhất ), thường tả tính tình và cảnh huống của các bậc phong lưu, quyền quí. Quốc văn mới có tính cách bình thường, hay mô tả các sinh hoạt, sự làm ăn của người thường dân, của kẻ lao động .
                                 
                                            3. Văn nôm cũ thiên về lý tưởng , nên ít tả các cảnh thực, việc thực . Quốc văn mới vụ sự thiết thực nên thường tả các cảnh vật ở trước mắt và các việc xảy ra ở quanh ta.
                                 
                                            4. Văn nôm cũ thường nói về việc nước Tàu chểnh mảng việc nước ta . Quốc văn mới chú trọng đến việc nước Nam và thường mượn đề mục và tài liệu ở lịch sử, phong tục, tín ngưỡng , văn chương của dân tộc ta .
                                 
                                            5. Về văn từ thì văn nôm cũ thường chuộng sự hoa mỹ cầu kỳ, lại hay dùng điển cố và những chữ sáo. Quốc văn mới có tính cách binh giản, tự nhiên và chuộng sự mới mẻ, đặc sắc .
                                 
                                            Kết luận - Nền quốc văn mới , tuy thành lập vừa được ít lâu nay, cũng đã có phần khởi sắc . Vậy nếu các nhà viết văn chịu gia công luyện tập, các nhà đọc văn biết khuyến khích cổ võ, thì ta có thể hy vọng rằng nền văn ấy sẽ có một cái tương lai tốt đẹp .
                                 
                                Chú Giải
                                 
                                (1) Trương Vĩnh Ký (1837-1898) : người thôn Cái mong, xã Vĩnh thành,  huyện Tàn minh, tỉnh Vĩnh long ( nay thuộc tỉnh Bến tre ) , tinh thông, Pháp văn, Hán văn và nhiều thứ tiếng ngoại quốc. Năm 1863 được cử làm thông ngôn trong sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp. Lúc về, được bổ làm giáo viên, rồi làm đốc học Trường Thông ngôn ( Collège des interprètes,) sau làm giáo viên Trường Cai trị d( Collège des stagiaires ) ở Sài gòn. Năm 1886 , Đại sứ Paul Bert triệu ông ra Huế cho xung vào Viện Cơ mật để gíup vào việc giao thiệp của hai chính phủ Pháp và Nam. Được ít lâu ông xin lui về nghỉ ở Nam Kỳ để chuyên việc trứ tác đến lúc mất. Tác phẩm : Chuyện đời xưa (1866) , Chuyện Khôi hài ( 1882 ) , Miscellanées ou Thông loại khoá trình ( Nos 1-12 , 1888 - 1889 ) Grammaire de la langue annamite ( 1883 ) , Petit dictìonnaire francais annamite (1884). Cours d'histoire annamite, 2 vol, (1875 et 1877). Voyage au Tonkin en 1876. Chuyến đi Bắc kỳ năm ất hợi (1881) v.,..v.
                                 
                                (2) Huỳnh Tịnh Của tức Paulus Của (1834-1907): ngưòi Bà rịa , tinh thông Pháp văn và Hán văn; năm 1861 được bổ làm đốc phủ sứ coi việc phiên dịch các văn án và giữ việc biên tờ Gia định báo. Tác phẩm : Chuyện giải buồn (1880). Chuyện giải buồn, cuốn sau (1885 ). Đại Nam quốc âm tự vị (1895-96) v..v.
                                 
                                 
                                 
                                 

                                0
                                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 11:49:38Huyền Băng>
                                Chương Thứ Tư
                                 
                                Văn Xuôi Mới, Nguyễn Văn Vĩnh Và Các Bản Dịch Của Ông. Ông Phạm Quỳnh Và Phái Nam Phong
                                 
                                            Văn xuôi mới của ta, như Chương thứ ba đã nói , sở dĩ thành lập được, một phần lớn là nhờ các báo chí . Trong các nhà viết báo có công lúc buổi đầu, phải kể Nguyễn Văn Vĩnh và ông Phạm Quỳnh .
                                 
                                1.     Nguyễn Văn Vĩnh và các bản dịch của ông.
                                 
                                Tiểu truyện - Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là người làng Phượng vũ thuộc phủ Thường tin, tỉnh Hà đông.  Sau khi tốt nghiệp trường thông ngôn (Collège des interprètes) năm 1896, ông được bổ làm thư ký toà sứ. Năm 1906 ông được cử đi dự cuộc đấu xảo ở thành Marseille. Lúc về ông xin từ chức để lập doanh nghiệp . Thoạt tiên ông cùng với một người Pháp mở một nhà in ( có xuất bản cuốn Kim Vân Kiều và bộ Tam Quốc chí diễn nghĩa dịch ra quốc ngữ mà trong bài tựa ông có viết câu này : “Nước Nam ta mãi sau này, hay dở cũng ở chữ quốc ngữ ” ) . Đến năm 1907, ông bắt đầu vào làng báo, làm chủ bút tờ Đại Nam đăng cổ tùng báo ( ký biệt hiệu là Tân Nam tử ); nêm 1908, ông đứng chủ trương tờ Notre journal ( xuất bản trong hai năm 1908-1909), ông mở tờ Notre revue ( xuất bản được 12 số ); cũng năm ấy, ông làm chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn ở Sài Gòn, năm 1913, ông làm chủ bút tờ Đông dương tạp chí ở Hà Nội, năm 1915, ông lại kiêm làm chủ bút tờ Trung Bắc tân văn ( cả ba tờ báo này đều do một người Pháp là Schneider sáng lập ). Năm 1919, ông đứng làm chủ nhiệm tờ Trung Bắc tân văn bắt đầu ra hàng ngày (đó là tờ báo hằng ngày đầu tiên ở Bắc kỳ ) và tờ Học báo . Năm 1927, ông cùng với ông Vayrac lập ra một bộ tùng thư đặt tên là Âu Tây tư tưởng ( La pensée de l’Occident ) để in các tác phẩm do ông dịch ở chữ Pháp ra . Năm 1931, ông mở tờ báo chữ Pháp nhan là Annam Nouveau, ông vừa làm chủ nhiệm và chủ bút.
                                 
                                Trên đường chính trị, ông từng làm hội viên hội đồng thành phố Hà nội trong mấy khoá. Tự năm 1931 , ông làm hội viên Viện tư vấn Bắc kỳ ( sau đổi làm Viện dân biểu ) và có chân trong Đại hội nghị Đông Pháp từ khi mới lập ra .
                                 
                                Tác phẩm – Tác phẩm của ông gồm có hai phần : phần trứ tác và phần dịch thuật .
                                 
                                A) Trứ tác – Ông có viết nhiều bài luận thuyết, ký sự đăng trên các báo chí như Xét tật mình (Đông dương tập chí tự số 6 trở đi ). Phận làm dân (Đ. D. T. C. tự số 48 trở đi ), Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã (Đ. D. T.C. tự số 61 trở đi ); Nhời đàn bà ( ký biệt hiệu là Đào Thị Loan , Đ.D.T.C., tự số 5 trở đi ) . Hương sơn hành trình, Đ.D.T.C., số 41-45 ),  v.v. Những bài ấy tỏ ra rằng ông là người rất hiểu dân tình phong tục nước ta và biết nghị luận một cách xác thực .
                                 
                                B) Phần dịch thuật - Phần này là phần quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông . Ông có dịch vài tác phẩm của ta và của Tàu ra chữ Pháp : Kim Vân Kiều tân diễn Pháp văn (Đ.D.T.C., tự số 18 trở đi ), Tiền Xích bích và Hậu Xích bích (Đ.D.T.C., lớp mới , số 66-68 ) . Nhưng ông dịch nhiều tác phẩm chữ Pháp ra tiếng Nam và dịch đủ cả các lối văn : văn luận thuyết. Luân lý học (Đ.D.T.C., số 15 trở đi ) . Triết học yếu lược (Đ.D.T.C., số 28 trở đi ; văn ngụ ngôn ; Thơ ngụ ngôn ( Fables ) của La Fontaine; văn truyện ký : Chuyện trẻ con (Conte ) của Perrault, Truyện các bậc danh nhân Hy lạp và La mã ( Les vies parallèles des hommes illustres de la Grèce et de Rome ) của Plutarque, Sử ký thanh hoa ( Le parfum des humanités ) của Vayrac, P.P. Ông sở trường nhất về việc dịch văn tiểu thuyết và hài kịch . Về tiểu thuyết, ông đã dịch những bộ Truyện Gil Blas de Santillane của Lesage . Qui – le – ve du ký (Les voyages de Gulliver ) J. Swift, Tê-lê- mặc phiêu lưu ký ( Les aventures de Télémaque ) của Fénelon, Truyện ba người ngự lâm pháo thủ ( Les trois Mousquetaires ) của Alexandre Dumas, Mai nương Lệ cốt )Manon Lescaut ) của Abbé Prévost, Truyện miếng da lừa ) La peau de chagrin ) của Honoré de Balzac, Những kẻ khốn nạn ( Les misérables ) của Victor Hugo . Còn về  hài kịch ông đã dịch những vở của Molière : Bệnh tưởng ( Le malade imaginaire ), Trưởng giả học làm sang ( Le bourgeois gentilhomme ), Người biển lận ( L’avare ), Giả đạo đức ( Tartufe ), và của Lesage : Tục ca lệ (Turcaret ) .
                                 
                                Văn nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh – A) Về tư tưởng – Ông làm người học rộng, biết nhiều, lại có lịch duyệt, thiệp liệp tư tưởng học thuật của Âu tây,  nhưng cũng am hiểu tín ngưỡng phong tục của dân ta , muốn đem những quan niệm phương pháp mới nào hợp thời để truyền bá trong dân chúng , nhưng cũng chịu khó tìm tòi và biểu lộ cái dở, cái xấu cũng như cái hay, cái ý nghĩa của các chế độ, tục lệ xưa của các mối mê tín, dị đoan cữ ; vì thế, có người hiểu lầm mà trách ông muốn đem những điều tin nhảm, những cái hủ tục mà tàn dương và khôi phục lại ( như trong việc in cuốn Niên lịch thông thư trong có biên chép ngày tốt ngày xấu và kê cứu các thuật bói toán, lý số )
                                 
                                B) Về văn từ - Văn ông bình thường giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước theo cú phép của văn tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta . Ông lại chịu khó moi móc trong kho thành ngữ, tục ngữ của ta những từ ngữ có màu mè để diễn đạt các ý tưởng ( cả những ý tưởng mới của Âu tây ) thành ra đọc văn dịch của ông tưởng chừng như đọc văn nguyên tác bằng tiếng Nam vậy. Kể về văn dịch tiểu thuyết thì thực ông là người có biệt tài , ít kẻ sánh kịp vậy .
                                 
                                II- Ông Phạm Quỳnh và phái Nam phong .
                                 
                                Cả các văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên tạp chí Nam phong , tạp chí ấy trong một thời kỳ, đã thành  một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông . Vậy ta cần nói đến tạp chí ấy trước .
                                 
                                Tạp chí Nam phong – Nam phong tạp chí xuất bản tự tháng Juillet năm 1917, đến tháng Décembre năm 1934 thì đình bản, tất cả được 17 năm và 210 số. Kể trong các tạp chí đã ra đời ở nước ta, tạp chí ấy là tờ xuất bản được liên tiếp và lâu hơn cả .
                                 
                                A) Tình hình quốc văn hồi tạp chí Nam phong ra đời - Muốn nhận rõ ảnh hưởng của tạp chí Nam phong, cần phải nhắc qua lại tình hình quốc văn ở nước ta hồi tạp chí ấy ra đời. Lúc ấy, trừ các bản dịch tiểu thuyết Tàu ra tiếng ta, chưa hề có sách quốc văn xuất hiện . Trong nước, chỉ có vài tờ báo chí ( Lục tỉnh tân văn ở Nam kỳ , Trung Bắc tân văn và Đông dương tạp chí ở Bắc kỳ) và thiếu hẳn một cơ quan khảo cứu về học thuật tư tưởng để cho người trong nước có thể chỉ xem quốc văn mà mở mang trí thức được .
                                 
                                B) Mục đích của tạp chí Nam phong - Tạp chí ấy có hai mục đích chính sau này :
                                 
                                1) Đem tư tưởng học thuật Âu – Á diễn ra tiếng ta cho những người không biết chữ Pháp hoặc chữ Hán có thể xem mà lĩnh hội được .
                                 
                                2) Luyện tập quốc văn cho nền văn ấy , có thể thành lập được .
                                 
                                C) Sự thực hành của bản chương trình ấy - Muốn thực hành bản chương trình ấy, các nhà biên tập tạp chí Nam phong làm các việc sau này :
                                 
                                1) Viết các bài khảo cứu về triết học, khoa học, văn chương, lịch sử của Á đông và của Âu tây :
                                 
                                2) Dịch các tác phẩm về triết học, văn học nguyên viết bằng chữ nho hoặc chữ Pháp;
                                 
                                3) Sưu tập các thơ văn cổ của nước ta ( cả chữ nho và tiếng nôm )
                                 
                                4) In các sách cũ của nước ta ( như bộ Lịch triều hiến chương loại chí )
                                 
                                D) Ảnh hưởng của tạp chí Nam phong - Tạp chí Nam phong đã có ảnh hưởng về hai phương diện :
                                 
                                1)     Về đường văn tự, tạp chí đã :
                                 
                                a ) Sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ triết học, khoa học mới mượn ở chữ nho.
                                 
                                b ) Luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới .
                                 
                                2.     Về đường học vấn , tạp chí ấy đã :
                                 
                                a ) Phổ thông những điều yếu lượt của học thuật Âu tây ;
                                 
                                b ) Diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cũ của Á đông ( Nho học, Phật học …v…v)
                                 
                                Tác phẩm của ông Phạm Quỳnh – Ông Phạm Quỳnh vừa làm chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Nam phong. Tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại .
                                 
                                A) Loại dịch thuật – Ông có dịch các đoạn văn hoặc các tác phẩm của Âu tây , có phần thiên về triết học ( Phương pháp luận , Discours de la méthode của Descartes, N.P., số 3 trở đi ), luân lý ( Sách cách ngôn . Manuel của Epictète, Âu tây tư tưởng . 1929; Đời  đạo lý, La vie sage, của Paul Carton, N. P. 1929-1932 ) hơn là tiểu thuyết và kịch bản ( Tuồng Lôi xích le Cid, của Corneille, N.P., số 38-39 ; Tuồng Hòa Lạc, Horace , của Corneille, N.P ., số 73-75 )
                                 
                                B) Loại trứ tác - Trừ các bài luận thuyết, ký sự, đoản thiên đăng trên tạp chí ông có viết mấy tác phẩm ghi chép những điều quan sát, nghị luận trong các cuộc du lịch của  ông : Mười ngày ở Huế ( N.P ., số 10 ) . Một tháng ở Nam kỳ ( N. P., số 17, 19, 20 ), Pháp du hành trình nhật ký ( N.P ., 1922-1925)
                                 
                                C) Loại khảo cứu - Loại này là phần quan trọng nhất trong văn nghiệp của ông . Ông nguyên cứu ở các sách , rồi viết ra những bài chuyên khảo về học thuật Âu tây như văn minh luận ( N. P., số 42)  Khảo về các luân lý học thuyết của Thái tây  ( N.P., số 92 trở đi ) . Thế giới tiến bộ sử ( N.P ., số 104 )  của Montesquieu ( N.P ., so6’ 108 ) , của Voltaire ( N.P ., số 114-115 ) ; hoặc về học thuật Á đông như Phật giáo lược khảo ( N. P ., số 40 ) . Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng ( Nam phong tùng thư, 1928 ), hoặc về văn học nước ta như Tục ngữ ca dao N.P., số 46 . Văn chương trong lối hát ả đào ( N.P., số 69 ) . Hán Việt văn tự ( N.P… số 107 trở đi ) Việt nam thi ca ( N.P ., ố 64 )
                                 
                                Phần nhiều những tác phẩm kể trên, sau khi đăng trên tạp chí, đều in lại trong bộ Nam phong tùng thư (Đông kinh ấn quán Hà nội xuất bản )
                                 
                                Kết luận – Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu tây và phát biểu những cái hay trong tiếng Nam ra ; ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới. Đối với nền văn hoá cũ của nước ta , thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín  ngưỡng của dân chúng , mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân .
                                 
                                Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả . Tuy văn nghiệp của mỗi người có tính cách riêng , nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy  .
                                 
                                Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                                 

                                Nguyễn Văn Tố , L’oeuvre de M. Nguyễn Văn Vĩnh , BSEMT t. XVI. Pp 40 – 68
                                Thiếu sơn , Phê bình và Cảo luận Văn học Tùng thư, Editions Nam kỳ, Hà nội 1933
                                Đào Đăng Vỹ , Enquête sur la jeunesse annamite, La jeunesse intellectuelle , V. – Les écrivains et les journalistes ( La Patrie annamite, nos du 2-1-1937 et ss )

                                   
                                   
                                   

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 15:22:59Huyền Băng>
                                  Chương Thứ Năm
                                   
                                   
                                  Biến Hóa Các Thể Văn : Kịch , Phê Bình, Văn Xuôi, Văn Dịch, Văn Viết Báo
                                   
                                              Trong hai chương trước, ta đã xét về sự thành lập nền quốc văn mới và những người đã có công trong việc thành lập ấy, nay ta phải xét xem , trong nền quốc văn mới , các thể văn cũ của ta biến hoá thế nào và những thể văn mới nào đã được các nhà trứ tác theo dùng .
                                   
                                              Trước hết ta nên nhận rằng, trong quốc văn mới , các thể biền văn ( phú , tứ lục, kinh nghĩa , văn sách ) hầu không dùng đến nữa, các thể văn vần ( thơ cổ phong, thơ Đường luật, lục bát, song thất, hát nói, ca khúc ) vẫn có một số ít người viết, nhưng, ngoài lối cũ, lại xuất hiện lối thơ mới ( lối này sẽ xét trong một chương sau ) ; duy có các thể văn xuôi là thịnh hành nhất .
                                   
                                  I - Kịch ( tuồng và chèo )
                                   
                                              Nói qua về lối kịch cổ - Kịch của ta xưa có hai lối : tuồng và chèo ( Xem lại Năm thứ nhất, Chương thứ XVI )
                                   
                                              Tuồng chèo xưa viết theo văn vần ( thơ , phú , lục bát, song thất, nói lối ) thỉnh thoảng xem vào ít câu văn xuôi  ( tán hoặc hàn ) không theo phép “tam nhất trí  ” của lối kịch Pháp ; mỗi bận chỉ chia làm hồi, chứ không dàn thành cảnh phân minh, nên cách bài trí trên sân khấu rất đơn sơ không có chủ đích bày ra cảnh tượng hiển nhiên như thực, mà chỉ có một vài dấu hiện khiến cho người xem phải lấy trí tưởng tượng mà hình dung biến báo thêm vào .
                                   
                                              Sự thay đổi về hình thức - Sự biến cải đầu tiên là thuộc về hình thức: những nhà nho học ( Hoàng Cao Khải (1) , tác giả hai bản tuồng Tây Nam đắc bằng và Tượng kỳ khi xa ; Nguyễn Hữu Tiến, tác giả bản tuồng Đông a song phụng ; Hoàng Tăng Bý (2) , tác giả bản tuồng Đệ bát tài tử hoa tiên ký khác một điều là bản tuồng có chia làm cảnh phân mình và có chỉ cách bài trí trên sân khấu theo như cách dàn xếp của những vở kịch chữ Pháp .
                                   
                                              Lối tuồng chèo cải lương - Lối này phát hiện trước tiên ở Nam kỳ, rồi dần dần lan ra ngoài Bắc. Trong lối này, không những hình thức đã thay đổi ( dàn cảnh và bài trí ) mà thể văn cũng đã biến cải : câu “nói lối ” trong lối tuồng cổ thay làm  những câu văn xuôi, còn về văn vần thì thêm vào những thể mới như ca Huế, ca Sài gòn .
                                   
                                              Lối kịch viết bằng văn xuôi - Lối này là theo hẳn lối kịch ( thứ nhất là hài kịch ) của người Pháp, toàn thiên viết bằng văn xuôi như lời nói thường, chứ không dùng một câu văn vần nào . Thí dụ : Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của ông Vũ Đình Long .
                                   
                                              Kết luận – Nói tóm lại, lối kịch tuy có thay đổi, nhưng thực chưa sản xuất ra tác phẩm nào có giá trị đặc biệt, mà kể về đường văn chương thì các bản mới còn kém các bản tuồng chèo cũ của ta nhiều .
                                   
                                  II – Phê bình
                                   
                                              Thể phê bình là một thể ta mói mượn của Pháp văn . Không phải xưa kia các cụ không hề phê bình, nhưng các lời phán đoán , khen chê của các cụ chỉ xem vào trong một bài văn  hoặc một cuốn sách chứ chưa hề biệt lập thành một tác phẩm, thành một thể văn riêng . Mãi gần đây, các văn gia mới phỏng theo thể phê bình của người Pháp, mà viết các tác phẩm thuộc thể ấy.
                                   
                                              Không kể những bài phê bình đăng trên báo chí , ta đã thấy các sách phê bình xuất bản . Những sách này hoặc phê bình chuyên một thể văn ( thí dụ : Chương dân thi thoại , của ông Phan Khôi, Huế, nhà in Đắc lập ,  1936 ) , hoặc phê bình thân thế và văn nghiệp của một tác giả ( thí dụ : Trông giòng sông Vị, Phê bình văn chương và thân thế ông Trần Tế Xương, của ông Trần Thanh Mại, Trần Thanh Định ấn hành 1935; Hồ Xuân Hương, Tác phẩm, thân thế và văn tài , của ông Nguyễn Văn Hạnh, Sài gòn, Nhà in Aspar. 1936 ) hoặc phê bình các nhân vật các tác phẩm ( thí dụ :  Phê bình và cảo luận của ông Thiếu Sơn , Văn học tùng thư Hà nội, Edition Nam ký, 1933)
                                   
                                              Ngoài những tác phẩm Phê bình về văn chương ấy, ta còn thấy những bài phê bình về học thuyết cốt nói rõ những điều sở trường hoặc sở đoản , những chỗ xác đáng  hoặc sai lầm của một học thuyết, một đạo giáo nào ( thí dụ : Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta của ông Phan Khôi , trong báo Thần Chung, 1929 ); phê bình về lai lịch một tác phẩm cốt xét xem một tác phẩm đó ai làm ra , thành cảo và xuất bản về năm nào, nhân trường hợp gì mà soạn ra ( thí dụ : Ai làm ra sách Đại Nam quốc sử diễn ca ? của ông Trần Văn Giáp, BSEMT, t. XIV , số 3 ) ; phê bình về nguyên văn cốt khảo sát các bản chép tay hoặc bản in của một tác phẩm để khôi phục lại nguyên văn của tác phẩm ấy ( thí dụ : Khảo biện về Cung oán ngâm khúc của ông Ngô Văn Triệu, V.H.T.C …số 29 )
                                   
                                              Thể phê bình mới nhập tịch vào làng văn học của ta , nên các tác phẩm hãy còn thưa thớt và nhiều khi chưa xác đáng hoặc vì sự tây vị về cá nhân hay về đảng phái , hoặc vì thiếu trí phê bình và phương pháp khoa học .
                                   
                                   
                                  III – Văn Xuôi
                                   
                                              Như Chương thứ ba đã nói , xưa kia ta chưa có văn xuôi . Đến khi nền quốc văn mới thành lập, văn xuôi bắt đâu xuất hiện và ngày một phát đạt mà thành ra thể văn chính trong nền Việt văn ngày nay. Xét về sự biến hoá của văn xuôi, ta nhận thấy có ba khuynh hướng .
                                   
                                              Văn xuôi chịu ảnh hưởng của Hán Văn – Lúc ban đầu , các nhà viết quốc văn phần nhiều là thuộc phái nho học hoặc đã thiệp liệp nho học, nên văn các nhà ấy chịu ảnh hưởng của Hán văn nhiều và thường có những tính cách sau này :
                                   
                                              1. Chú trọng về âm điệu cốt cho câu văn đọc lên được êm đềm thành ra có khi vì thế mà ý nghĩa không được sáng suốt rõ ràng .
                                   
                                              2. Cách diễn ý thường theo phép tổng hợp, nghĩa là một câu văn đặt ra chỉ vụ đạt được đại ý, chứ không phân tích ra ý chính, ý phụ để đạt thành mệnh đề chính, mệnh đề phụ và chỉ rõ sự liên lạc các mệnh đề ấy .  Bởi thế câu đặt thường dài, không được tách bạch, khúc chiết và không chấm câu phân mình .
                                             
                                              3. Lời văn thường dùng lối biền ngẫu : nhiều khi hai đoạn giống nhau, hoặc hai câu đối nhau, hoặc một câu chia làm hai phần đối nhau .
                                   
                                              4. Lời văn thường kiểu cách, cầu kỳ, không được bình thường, giản dị . Chữ dùng có nhiều chữ nho, một đôi khi không cần cũng dùng đến .
                                   
                                              Văn xuôi chịu ảnh của Pháp văn - đến khi các nhà Tây học bắt đầu viết quốc văn thì có một cuộc phản động đối với lối văn trên . Các nhà này bắt chước nhiều khi quá đáng cách diễn ý đặt câu của Pháp văn, lập thành một lối văn có các tính cách sau này :
                                   
                                              1. Câu đặc thường ngắn, nhiều khi mỗi ý dù chính dù phụ, đặt thành một câu biệt lập .
                                   
                                              2. Phân biệt các ý trong câu và chĩ rõ sự liên lạc các ý ấy bằng những tiếng liên từ, giới từ, đại danh từ, nhiều khi dịch ở chữ Pháp ra ( như: với , bằng, bởi , ở bên, ở giữa ,của nói ..v.v..v )
                                   
                                              3. Ứng dụng các phép đặt câu đặc biệt của Pháp văn như phép đặt mệnh đề phụ xen vào giữa một mệnh đề khác .
                                   
                                              4. Dịch các từ ngữ bóng bẩy của Pháp văn nhiều khi ép uổng sống sượng .
                                   
                                              Văn xuôi hợp với tinh thần Việt văn và có tính cách tự lập - Cả hai lối văn nói trên đều có tính cách thiên lệch , hoặc quá thiên lệch, hoặc quá thiên về Hán văn, hoặc thiên về Pháp văn; chưa có tinh thần của một nền Việt văn tự lập. Nên những nhà viết văn đứng đắn hiểu rõ cái khuyết điểm ấy đã biết viết lối văn hợp với tinh thần tiếng Nam và có tính cách tự lập :
                                   
                                              1. Lời văn trọng sự bình giản, sáng sủa, nhưng trong cách đặt câu, không quá thiên về bên nào, biết châm chước cả cú pháp của Hán văn có giọng êm đềm, uyển chuyển và cú pháp của Pháp văn cho được tách bạch, rõ ràng .
                                   
                                              2. Câu đặt khi dài khi ngắn, khi đối khi không, tùy theo tình ý trong văn mà thay đổi .
                                              3. Chữ dùng tham bác cả từ ngữ mượn ở chữ Nho mà dịch ở chữ Pháp, miễn là lựa chọn cho cẩn thận và xác đáng .
                                   
                                              Kết luận -  Trong nền quốc văn mới, văn xuôi là thể văn đã biến hoá và có phần  tiến bộ hơn cả , vì thể ấy là thể văn hay dùng đến nhất và được nhiều nhà trứ tác viết đến .
                                   
                                   
                                  IV – Văn dịch
                                   
                                              Hồi xưa các cụ chỉ dịch văn vần chữ Nho ( thơ, phú, từ, ngâm ) ra văn vần ta ( thơ, song thất, lục bát, hát nói ) , nhiều bài dịch cũng hay lắm, vừa giữ được tinh thần nguyên văn, vừa diễn thành lời văn điêu luyện . Thí dụ : Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, Xích bích phú của Tô Đông Pha, Qui khứ lai từ của Đào Tiềm, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn .
                                   
                                              Gần đây, các dịch giả tuy dịch văn vần, nhưng thường dịch văn xuôi nhiều hơn và không những dịch Hán văn, lại dịch cả Pháp văn nữa .
                                   
                                              Thể văn dịch đã trải qua ba thời kỳ sau này :
                                   
                                              1. Dịch tiểu thuyết T àu – Khi chữ quốc ngữ mới phổ cập dân gian , sách quốc văn chưa có để cung cấp cho người đọc, các hành sách nhờ các nhà Nho dịch các tiểu thuyết  của Tàu ra quốc văn như Tây du ký, Chinh Đông, Chinh Tây, Tam quốc diễn nghĩa ..v.v.
                                   
                                              2. Dịch các tác phẩm về loại cổ điển – Khi người nước ta đã biết trọng quốc văn và muốn lấy quốc văn làm lợi khí để truyền bá học thuật, thì các nhà cựu học dịch các bài Cổ văn ( Phan Kế Bính trong Đông dương tạp chí và các sách Kinh truyện của Tàu ( Bản dịch Kinh Thi, Quyển thứ nhất của các ông Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn và  Đặng Đức Tô , Hà nội, Nghiêm hàm ấn  quán , 1924; - bản Trung dung của hai ông Hà Tu Vi và Nguyễn Văn Đang ; - bản dịch Mạnh tử, Mạnh tử quốc văn giải thích của hai ông nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục, Hà nội, Editions du Trung Bắc tân văn, 1932; - bản dịch Luận Ngữ, Luận ngữ quốc văn giải thích, Quyển thượng cũng của  hai ông ấy, Hà nội, Đông kinh ấn quán, 1935; - bản dịch Tả truyện, Khảo về sách Xuân Thu Tả truyện, của Nguyễn Trọng Thuật, N.P. số 127 trở đi, ..v.v. ) Các nhà Hán họclại dịch các thơ văn và sách vở viết bằng chữ nho của các cụ ta ngày xưa ( bản dịch Đại Nam liệt truyện của Phan Kế Bính Đ.D.T.C…Lớp mới , số 181 td: bản dịch Đại Nam nhất thống chí cũng của ông, Đ.D.T.C. Lớp mới, số 70 tđ; - bản dịch Vũ trung tùy bút của Đông Châu , N.P. số 121 tđ ,. V.v ) Đồng thời, các nhà Tây học cũng dịch các đoạn văn và các tiểu thuyết, kịch bản thuộc về nền văn cổ điển của nước pháp . ( các ông Phạm Duy Tốn (3) . Nguyễn Văn Tố trong Đ.D.T.C.; Nguyễn Văn Vĩnh trong bộ Âu tây tư tưởng; Phạm Quỳnh trong N.P.T.C. xem lại chương thứ VI ..v.v..
                                   
                                              3. Dịch các tác phẩm hiện kim của nước Pháp và các sách của ngoại quốc. - Gần đây, các dịch giả lại mở rộng phạm vi của lối văn dịch , bắt đầu dịch các tác phẩm của những văn sĩ hiện kim của nước Pháp ( như bản dịch cuốn La porte étroite, của André Gide do ông Đỗ Đình Thạnh dịch và đặt nhan là Tiếng đoạn trường, 1937) và những sách của các nước khác : Anh, Nga, (như bản dịch các kịch Midsummer Night’s Dream ( Giấc mộng đêm hè ), Hamlet (hâm liệt ), Mecbeth ( mặb biệt ) của nhà văn sĩ nước Anh Willaim Shakespeare do ông Nguyễn Giang dịch và in trong bộ Âu tây tư tưởng 1938 – bản dịch các tiểu thuyết Treasure island ( Châu đảo, trong La revue franco annamite , số 65-108 của văn sĩ Anh Stevenson , Ivan hoe ( Y văn hoa, cũng trong tạp chí ấy, số 139-235) của văn sĩ Anh Qwalter Scott, Anna Karénie (Anna Kha Lệ Ninh , cũng trong tạp chí ấy, số 236-296 ) của văn sĩ Nga Léon Tolstoi đều do Vũ Ngọc Phan dịch ..v.v. )
                                   
                                              Tóm lại mà xét thì văn dịch, nhờ có nhũng tay sành nghề viết, nên đã có khởi sắc . nhưng trong các tác phẩm dịch ra, ta nhận thấy một điều là chưa có các sách của Âu tây chuyên khảo về triết học và khoa học ; đó cũng là một khuyết điểm trong nền học vấn của ta và một cái tang chứng về khuynh hướng của độc giả, nước ta chỉ thích xem những văn giải trí mà chưa chịu để tâm nghiên cứu các vấn đề cao sâu hoặc thiết thực .
                                   
                                  V .- Báo Chí
                                   
                                              Xưa kia, nước ta không có báo chí. Sau khi người Pháp sang nước ta mới theo gương người Pháp mà viết báo . Từ ngày xuất hiện, báo chí quốc văn đã trải qua ba thời kỳ biến hoá .
                                   
                                              Thời kỳ thứ nhất – Trong thời kỳ này, nghề làm báo ở nước ta mới nhóm lên trong nước mới có lơ thơ vài tờ . Những tờ đầu tiên còn do Chính phủ đứng chủ trương . Tờ thứ nhất là tờ Gia định báo ( viết bằng chữ quốc ngữ ) xuất bản ở Sài gòn năm 1865 . Ở Bắc kỳ thì năm 1892 có tờ Đại Nam đồng văn nhật báo ( viết bằng chữ nho ) do Nha Kinh lược đứng chủ trương .
                                   
                                              Kế đó đến các tờ báo do các người tự sáng lập ra. Ở Nam kỳ thì có tờ Nông cổ mín đàm ( 1900) và tờ Nhật báo tỉnh ( 1905) đều viết bằng chữ quốc ngữ, cũng năm 1905, ở Bắc kỳ, có tờ Đại Việt tân báo ( viết bằng chữ nho và chữ quốc ngữ ) do ông Babut làm chủ nhiệm và Đào nguyên Phổ làm chủ bút . Đến năm 1907 , tờ Đại Nam đồng văn nhật báo lấy thêm cái tên là Đang cổ tùng báo và thêm một phần văn do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút và Phan Kế Bính làm trợ bút .
                                   
                                              Trong buổi ấy, các báo có mục đích thông tin tức ở trong xứ và ban bố các mệnh lệnh của Chính phủ .
                                   
                                              Thời kỳ thứ nhì – Trong thời kỳ này, số các báo xuất bản tuy có hơn trước, nhưng cũng còn là ít .
                                   
                                              A)Trong thời kỳ này, số các tờ nhật báo ( Lục tỉnh tân văn xuất bản năm 1910 ; Trung bắc tân văn, 1915; Thực nghiệp dân báo 1920; Trung lập báo, 1923; Tiếng dân, 1927; tờ báo đầu tiên ở Trung kỳ ..v.v.v ) là những cơ quan để thông tin tức và đạo đạt ý tưởng của quốc dân .
                                   
                                              Các tờ tạp chí (Đông dương tạp chí 1913 ; Nam phong tạp chí , 1917 ; Đại việt tạp chí , 1918; Hữu thanh tạp chí, 1921; Annam tạp chí 1926 ..v..v) , thì muốn đem học thuật Âu – Á diễn ra tiếng ta để truyền bá trong dân . Lại, có những cơ quan chuyên khảo về sư phạm ( Học báo, 1919 ); về văn học ( Văn học tạp chí , 1932, Đồng thanh tạp chí, 1932 ); về khoa học (Khoa học tạp chí, 1931 ; Khoa học phổ thông, 1934) ; về nghệ thuật ( Chớp bóng , 1932 ); về canh nông (Vệ nông báo ), về pháp luật  ( Pháp viện báo , 1931 ); về Phật học ( Từ bi âm, 1932 ), về khoa y học về vệ sinh ( Vệ sinh báo, 1926 ; Bảo an y báo, 1934) , về vấn đề phụ nữ ( phụ nữ tân văn, 1929 ; Phụ nữ thời đàm, 1930; Phụ nữ tân tiến, 1932 ); về hoạt kê và trào phúng ( Phong hóa tuần báo , 1932; Loa 1934 )
                                   
                                              Nhưng dù là nhật báo, dù là tạp chí, các tờ ấy đều thiên về mạt văn chương, bởi thế ngay báo hàng ngày cũng có những mục văn uyển , dịch Pháp văn, dịch Hán văn, dịch tiểu thuyết Tàu và Pháp; lại có nhiều tờ thời thường xuất bản một phụ trương về văn chương nữa .
                                   
                                              B) Các báo chí trong thời kỳ này đã gây nên những kết quả sau này :
                                   
                                  1.     Giúp cho việc thành lập quốc văn .
                                  2.     Sáp nhập vào tiếng ta nhiều danh từ mới về triết học và khoa học
                                  3.     Giúp cho sự thống nhất tiếng nói ba kỳ, nhờ có hai tờ :
                                              a) Những tạp chí như Nam phong tạp chí và Phụ nữ tân văn được người bắc kỳ đọc, nên lâu dần người Bắc hiểu được các tiếng dùng riêng ở trong Nam và trái lại thế .
                                   
                                              b) Nhiều nhà báo vốn quê ở Bắc, Trung kỳ vào Nam kỳ viết báo, nên lẽ tự nhiên là biết châm chước dùng các tiếng riêng của cả ba kỳ.
                                   
                                              Trời kỳ thứ ba - Bắt đầu từ năm 1935 , chánh phủ bãi lệ kiểm duyệt các báo chí quốc ngữ, nên số báo chí xuất bản càng ngày càng nhiều ; không những là có cơ quan thông tin tức và chuyên khảo về văn học, nghệ thuật, lại có nhiều cơ quan tuyên truyền những chủ nghĩa và chánh trị, về xã hội ) Ngày nay 1935; Nam cường, 1938; Tin tức, 1938; Cấp tiến , 1938 v.v.v )
                                   
                                              Các báo hàng ngày, trong thời kỳ này, cũng thay đổi tính cách : đăng các tin tức một cách nhanh chóng , in các hình ảnh về các việc xảy ra , viết các bài ngắn bình luận về thời sự chứ không có những bài xã thuyết dài như các tờ nhật báo buổi đầu .
                                   

                                              Kết luận - Nghề làm báo là nghề mới ở nước ta , kể cũng đã tiến bộ lắm . Nhưng ta nên nhận rằng một tờ báo có thể duy trì đuợc là nhờ đọc giả , vì ở nước ta hạng độc giả có trí thức còn ít mà hạng bình thường chiếm đại đa số, nên các báo chuyên khảo về văn học, nghệ thuật không thể phát đạt và trường cửu được : trừ những tờ chuyên đăng tiểu thuyết không kể, hầu hết các tờ ấy chỉ xuất bản được trong ít lâu rồi đình bản . Lại những người thực tâm và nhiệt thành theo một chủ nghĩa nào cũng rất hiếm nên các tờ báo có tính cách tuyên truyền, tuy nhờ phong trào bồng bột nhất thời mà ra đời rất nhiều , nhưng khi cái phong trào ấy đã yên thì các tờ ấy cũng phải chết . Xem như thế thì biết trình độ các báo chí có liên lạc mật thiết với trình độ trí thức của quốc dân vậy .


                                  [/align] 
                                   
                                  Chú Giải
                                  (1)  Hoàng Cao khải, Xem tiểu truyện Chương thứ XX, Lời chú (4)
                                  (2)  Hoàng Tăng Bý (1883-1939 ) . hiệu Nguyên phu, người xã Đông ngạc, phủ Hoài  đức , tỉnh Hà đông, đậu phó bảng .
                                  (3)  Phạm Duy Tốn ( 1883-1924) : sau khi tốt nghiệp ở trường thông ngôn Hà nội năm 1901, được bổ vào ngạch thông ngôn tòa sứ Bắc kỳ ; được ít lâu, ông từ chức về viết báo và doanh nghiệp. Ông là một bậc kỳ cựu trong làng báo, từng giúp việc biên tập cho nhiều báo  (như Đại Việt tân báo Đ.D.T.C . Trung Bắc tân văn ) , Lục tỉnh tân văn ), có viết nhiều bài luận thuyết và sở trường về lối hài văn và đoản thiên tiểu thuyết .
                                             
                                   
                                             
                                   
                                             

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 15:54:47Huyền Băng>
                                  Chương Thứ Sáu
                                   
                                  Xét Về Mấy Thi Sĩ Hiện Đại Và Các Tác Phẩm Của Những Nhà Ấy, Âm Luật, Đề Mục Và Thi Hứng Của Những Nhà Ấy .
                                   
                                              Thơ cũ và thơ mới – Trong các thi sĩ hiện đại, vẫn có những nhà thơ ( như ông Nguyễn Khắc Hiếu , ông Trần Tuấn Khải, ông Đông Hồ ( Lâm Tấn Phác ), v.v. viết theo các lối thơ cũ, hoặc Đường luật, hoặc cổ phong nhưng gần đây lại xuất hiện một lối thơ phá bỏ luật lệ của lối thơ cũ và được mệnh danh là “thơ mới ”
                                   
                                  I – Âm luật
                                   
                                              Trong Năm thứ nhất, Chương XIII, ta đã xét về âm luật lối thơ cũ, vậy ta chỉ còn xét thể cách lối thơ mới .
                                   
                                              Phong trào thơ mới – Vì thơ cũ - thứ nhất là lối thơ Đường luật – có những lệ chặt chẽ về số câu , số chữ, cách gieo vần luật bằng trắc và phép đối , nên các thi gia gần đây cho rằng lối thơ ấy bó buộc nhà làm thơ quá ; nhiều khi luật lệ nghiêm khắc có hại cho thi hứng khiến cho tình ý không thể diễn đạt được tự nhiên . Bởi vậy các thi gia muốn phá bỏ các luật lệ nghiêm ngặt ấy để tự do diễn tình đạt ý . Nhân đấy mà có phong trào thơ mới .
                                   
                                              Thơ mới là gì ? Vậy thơ mới là lối thơ không theo qui củ của lối thơ cũ nghĩa là không hạn số câu, số chữ, không theo niêm luật, chỉ cần có vần và điệu .
                                   
                                              Trong số thơ in trên các báo chí mà vẫn mệnh danh là “thơ mới ”, ta nhận thấy có bài thực ra không đáng gọi tên ấy vì những bài ấy chỉ làm theo các lối thơ đã có từ trước nhưng không phải là lối Đường luật. Vậy dưới đây ta chỉ xét về thể cách của những bài thực là khác thơ cũ .
                                   
                                              Lai lịch lối thơ mới - Mầm mống lối thơ mới là một bài dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine ( Con ve sầu và con kiến ) của Nguyễn Văn Vĩnh đăng ở Đông dương tạp chí , năm 1914 số 40 vì bài ấy đã không theo thể cách của các lối thơ cũ rồi ( Xem bài đọc thêm số 1 ) . Đến năm 1932, ông Phan Khôi khởi xướng lên vấn đề thơ mới và đăng trong Phụ nữ tân văn một bài thơ làm theo lối ấy nhan là Tình già ( Xem bài đọc thêm số 2 ) . Rồi tự đấy các báo chí, thứ nhất là tờ Phong hóa tuần báo , thường đăng các bài thơ mới và cổ võ lối thơ ấy, thì thơ mới bắt đầu thành lập và thịnh hành .
                                   
                                              Nguồn gốc lối thơ mới - Lối thơ mới phát nguyên từ lối thơ của người Pháp . Các nhà làm thơ mới thấy ràng thơ Pháp - trừ mấy lối định thể ( poèmes à forme fixe ) như sonnet, ballade, rondeau  là đã ấn định sẵn số câu và cách hiệp vần – không có hạn định số câu, số chữ , không có niêm luật, không theo phép đối và có nhiều cách gieo vần, nên cũng muốn đem các thể cách rộng rãi ấy ứng dụng trong thơ ta .
                                   
                                              Thể cách lối thơ mới – Nay theo các tác phẩm đã xuất bản mà nhận thể cách lối thơ mới như sau :
                                              A - Số câu trong bài và trong khổ - Số câu trong bài không nhất định . Có khi đặt các câu liên tiếp nhau từ đầu đến cuối ; có khi chia các câu trơng bài thành nhiều khổ . Số câu trong khổ cũng không nhất định : hoặc 4 câu ( xem bài Hoài xuân ở dưới ), hoặc 6 câu ( xem bài hoa nở ở dưới ), hoặc 8 câu ( xem bài Cùng mặt trời ở dưới ) , cũng có khi các khổ trong bài có số câu khác nhau ( xem bài Mùa thu ở dưới )
                                   
                                              B - Số chữ trong câu – Số chữ trong câu cũng không nhất định, ngắn từ 2 chữ , dài đến 12 chữ :
                                   
                                              a ) Có bài gồm những câu dài ngắn khác nhau sắp đặt không theo thứ tự nhất định . Thí dụ : Tiếng trúc truyệt vời (xem ở dưới ) .
                                   
                                              b) Có bài các khổ đều đặt những câu dài ngắn giống nhau . Thí dụ : trong bài “cùng mặt trời ” trích lục một khổ dưới đây , khổ nào cũng đặt những câu 8+8+8+8+4+4+10 chữ :
                                   
                                              Cùng mặt trời ( khổ thứ ba )
                                   
                                  8 chữ . Khi mặt trời biết bị mấy tối phủ che
                                  8 -        Ta ôm đàn, lẳng lặng lắng tai nghe
                                  8-         Trên trời đen nghịt vang lừng sắm động ;
                                  8-         Chớp nhoáng xé mây. Rừng ầm ỹ rống .
                                  8-         Gió điên cuồng gọi sóng sấn lên bờ,
                                  4-         Dưới ánh trăng mờ,
                                  4-         Mặc cho sét nổ
                                  10-       Người trên cao, ôi mặt trời ! nhạo cơn giông tố
                                   
                                  Huy Thông
                                  (trong Phong hóa , số 65, trang 3 )
                                   
                                              c) Nhưng phần nhiều bài viết theo lối câu có số chữ nhất định . Nhưng lối câu thường dùng là những lối này :
                                   
                                  1.     Lối câu 5 chữ . Thí dụ :
                                   
                                  Mùa thu
                                   
                                  Em không nghe mùa thu,
                                  Dưới trăng mờ thổn thức ?
                                  Em không nghe rạo rực
                                  Hình ảnh kẻ chinh phu
                                  Trong lòng người cô phụ ?
                                  Em không nghe rừng thu,
                                  Lá thu kêu xào xạc :
                                  Con nai vàng ngơ ngác
                                  Đạp trên lá vàng khô ?
                                  Lưu Trọng Lư
                                  (trong Những áng thơ hay )
                                  Văn nghệ tùng thư, Hải dương
                                   
                                   
                                  2.     Lối câu 7 chữ . Thí dụ :
                                   
                                  Sống ( khổ thứ 5 )
                                  Dù đường trần khe khắt hiểm nghèo,
                                  Dù gập ghềnh, dù lắm hùm beo,
                                  Cứ quả quyết đường hoàng ta tiến;
                                  Đời thảm đạm, ta càng vinh hiển
                                   
                                  Huy Thông
                                  (trong Phong hoá số 62, trang 3)
                                   
                                   
                                   
                                  3.     Lối câu 8 chữ . Thí dụ : Hoài xuân ( xem ở dưới )
                                  4.     Lối câu 10 chữ . Thí dụ : Trên đường về ( xem ở dưới )
                                  d) Có khi cả bài dùng một lối câu nhưng xen vào một ít câu ngắn hơn hoặc dài hơn . Thí dụ :
                                   
                                  Nhớ rừng ( khổ thứ ba )
                                   
                                  8 chữ : Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
                                  8 --      Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ;
                                  9 --      Đâu những ngày mưa chuyện đống bốn phương ngàn .
                                  9 --      Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới ?
                                  9 --      Đâu những buổi bình minh cây xanh nắng gọi ,
                                  8 --      Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?
                                  9 --      Đâu những buổi chiều lênh láng máu sau rừng ,
                                  8 --      Ta đợi tắt mảnh mặt trời gay gắt ?
                                  8 --      Để chiếm lấy phần tối tăm bí mật ?
                                  8 --      Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ?
                                   
                                  Thế Lữ
                                  (trong Phong hóa , số 95, trang 3 )
                                   
                                              C) Cách hiệp vần – a) Có hai sự thay đổi trong cách gieo vần
                                   
                                              1) Trong một bài thơ, thường mỗi câu  mỗi gieo vần ( trong lối thơ cũ, chỉ gieo vần ở cuối câu đầu và các câu chẵn ) . Tuy vậy, cũng có bài có câu không có vần .
                                   
                                              2) Các câu trong bài hiệp theo nhiều vần, vừa vần bằng, vừa vần trắc ( như lối liên vận trong thể thơ cổ phong tràng thiên ), chứ không hiệp theo một vần dùng một loại vần như thể thơ Đường luật.
                                   
                                              b) Cách hiệp vần thì cũng phỏng theo cách hiệp vần ở thơ chữ Pháp, nghĩa là :
                                   
                                              1 - Vần liên tiếp : hai vần bằng rồi đến hai vần trắc; hoặc trái lại thế . Thí dụ :
                                   
                                              Trên đường về ( 4 câu đầu )
                                   
                                              10 Chữ : Chiều thu. Sau rặng tre xa, mặt trời khuất bóng , (v.t.)
                                              10 --        Ánh vàng còn rải rác trên cách đồng xanh rộng (v.t.)
                                   
                                              10 chữ : Đám mây chiều trắng xám đã nổi ở chân trời (v.b .)
                                              10 --       Từ xa lại, gió thu làm man mác lòng người … (v. b . )
                                   
                                              Nguyễn văn kiện
                                              (trong Phong hoá , số 61, trang 3 )   
                                   
                                  2. Vần gián cách : một vần bằng rồi đến một vần trắc,
                                   
                                  Thí dụ :
                                   
                                  Hồi Xuân ( khổ thứ I )
                                   
                                  8 chữ : Tiếng ve rang trong bóng cây rậm mát :           (v.t.)
                                  8 --      Giọng chim khuyên ca áng sáng mặt trời          (v.b.)
                                  8 --      Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt,                     (v.t.)
                                  8 --      Mùa xuân còn, hết ? Khách đa tình ơi !           (v.b.)
                                   
                                  Thế Lữ
                                  (trong Phong hóa số 68, trang 8 )
                                   
                                  3. Vần ôm nhau : giữa hai vần trắc xen vào hai vần bằng hoặc trái lại thế . Thí dụ :
                                   
                                  Hồn xưa ( khổ thứ I )
                                   
                                  Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay , (v.b.)
                                  “Như khêu gợi nỗi nhớ nhung thương tiếc “     (v.t .)
                                  Những cảnh với những người đã chết, (v.t.)
                                  Tự bao giờ còn phảng bất nơi đây !                 (v.b.)
                                   
                                  Vũ Đình Liên
                                  (trong Những áng thơ hay
                                  Văn nghệ tùng thư Hải dương )
                                   
                                  5.     Vần hỗn tạp : các vần bằng trắc không theo thứ tự nhất định . Thí dụ :
                                   
                                  Tiếng trúc tuyệt vời ( khổ thứ I )
                                   
                                  5 chữ   : Tiếng địch thổi đâu đây,                                (v.b.)
                                  5 --      : Cớ sao nghe réo rắt ?                                    (v.t.)   
                                  9 --      : Lơ lững cao đưa tận lưng trời xanh ngắt        (v.t.)
                                  6 --      : Mây bay ..gió quyến , mây bay …                 (v.b.)
                                  9 --      : Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt      (v.t.)
                                  8 --      : Như hắt hiu cùng hơi gió heo may,                (v.b.)
                                   
                                  Thế Lữ
                                  (trong Phong hóa, số 69, trang 3 )
                                   
                                              D- Điệu thơ - Điệu  ( tức là chữ ), nghĩa đen là cung bậc của âm nhạc. Nói về thơ thì điều là sắp đặt và phân phối các tiếng trong câu thơ sao cho âm thanh và tiết tấu được êm ái dễ nghe và hợp với tình ý trong câu. Chính cái điệu ấy, khi dịu dàng, khi mạnh mẽ, khi mau, khi khoan, làm cho bài thơ có sự điều hoà như một khúc âm nhạc .
                                   
                                              Điệu là một phần tử cốt yếu của thơ . Thơ khác văn xuôi không phải chỉ ở vần, mà thứ nhất là ở điệu nữa .
                                   
                                              Điệu do 2 nguyên tố hợp lại thành : 1 – âm thanh; 2 - tiết tấu .
                                   
                                              1. Âm thanh - Về âm thanh, lối thơ Đường luật phải theo đúng những luật nhất định để sắp đặt tiếng bằng tiêng trắc . Tuy những luật ấy làm cho câu thơ êm ái, những vì phải bó buộc về thứ tự bằng trắc, nên các nhà làm thơ khó lựa chọn các tiếng cho âm hưởng câu thơ hợp với tình ý muốn diễn đạt ra .
                                   
                                              Nay các nhà làm thơ không phải bó buộc trong các luật ấy, nên dễ lựa chọn các âm thanh, cho phù hợp với tình ý trong câu thơ, như dùng những tiếng có âm thanh nhẹ nhàng để diễn những tình cảm êm đềm, những tiếng có âm thanh mạnh mẽ để diễn những tình cảm mảnh liệt ..v..v. Thí dụ : mấy câu thơ sau này tả cái oai lực dũng mãnh của con hổ ở trong rừng có nhũng tiếng (in đứng ) đọc lên có giọng mạnh mẽ :
                                   
                                  Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
                                  Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
                                  Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả cây già,
                                  Với khi tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
                                  Với khi thét khúc trường ca dữ dội
                                  Ta bước chân lên, dõng dạc đường hoàng
                                   
                                  Thế Lữ
                                  (trong Phong hóa số 95 , trang  3 )
                                   
                                  2. Tiết tấu - Tiết tấu nghĩa là nhịp nhàng . Tiết tấu là do cách ngắt câu thơ thành từng đoạn dài ngắn khác nhau mà thành .
                                   
                                  Trong lối thơ cũ thì câu ngũ ngôn thường ngắt làm trên 2 chữ dưới 3 chữ, gián hoặc ngắt làm trên 1 dưới 4 hoặc trên 4 dưới 1 . Thí dụ :
                                   
                                  Khóm gừng tỏi
                                   
                                  Lỏi chởm / gừng vài khói,
                                  Lơ thơ / tỏi mấy hàng .
                                  Vẻ chi / là cảnh mọn
                                  Thế mà / cũng tang thương
                                   
                                  Ôn Như Hầu
                                   
                                  Còn câu thơ thất ngôn thì có hai cách ngắt : 1. trên 4 dưới 3; 2. trên 2 dưới 5 . Thí dụ :
                                   
                                  Qua Đèo Ngang
                                   
                                  Bước tới Đèo ngang , / bóng xế tà ;
                                  Cỏ cây chen đá / lá chen hoa
                                  Lom khom dưới núi , / tiều vài chú ;
                                  Lác đác bên song, / chợ mấy nhà .
                                  Nhớ nước / đau lòng con quốc quốc ;
                                  Thương nhà / mỏi miệng cái gia gia .
                                  Dừng chân đứng lại : / trời , non , nước ;
                                  Một mảnh tình riêng / ta với ta
                                   
                                  Bà huyện Thanh Quan
                                   
                                  Các cách ngắt ấy vì thay đổi, nên điệu thơ thành ra buồn tẻ .
                                   
                                  Nay các nhà làm thơ mới phỏng theo cách ngắt câu ở thơ Pháp mà tùy theo tình ý trong bài ngắt câu thành những đoạn dài ngắn khắc nhau không theo lệ định trước . Lại dùng lối đem xuống đầu câu dưới một vài chữ làm lọn nghĩa câu trên ( rejet ou enjambement ) để làm cho người đọc phải chú ý đến mấy chữ ấy . Thí dụ :
                                   
                                  Bấy lâu nay / xuôi ngược trên đường đời
                                  Anh thấy chăng ? / Tôi chỉ hát, / chỉ cười ,
                                  Như vui sống mãi / trong vòng sung sướng
                                  Là vì tôi muốn / để cho lòng tôi tưởng
                                  Không bao giờ / còn vết thương đau
                                  Không bao giờ / còn thấy bóng mây sầu
                                  Vương vít nữa . /Bạn ơi / nào có được
                                   
                                  Thế Lữ
                                  Bóng mây sầu, 7 câu đầu
                                  (Phong hóa , số 100 , trang 3 )
                                   
                                   
                                  II - Đề mục và thi hứng
                                   
                                  Các nhà làm thơ cũ – Trong các thi sĩ hiện đại về lối thơ cũ, ta có thể kể các ông Nguyễn Khắc Hiếu . Trần Tuấn Khải, Đông Hồ ( Lâm Tấn Phác )
                                   
                                  Dưới đây ta sẽ lần lượt xét về tác phẩm của các nhà ấy .
                                   
                                  Nguyễn Khắc Hiếu (1) – Ông là một nhà nho mà lại có biệt tài về thơ ca . Vì đường công danh trắc trở, thân thế long đong, nên thơ ông thường tả nỗi uất ức buồn chán , nhưng nỗi uất ức ấy không đưa ông đến nỗi thất vọng, lại khiến ông có những tư tưởng phóng khoáng tự do, biết trọng sự thanh cao trong cảnh bần bách, biết tự hào về nỗi nghèo khổ của mình .
                                   
                                  Người ta hơn tớ cái phong lưu
                                  Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo
                                   
                                  ( Sự nghèo trong , Khối tình con quyển thứ II )
                                   
                                  Chính cái lòng tự hào ấy khiến ông có những mộng tưởng ngông cuồng như cái ngông “Muốn làm thằng cuội ” để được làm bạn với chị Hằng . Cái ngông muốn làm chim nhạn để được bay bổng trên từng không :
                                   
                                  Kiếp sau ai chớ làm người
                                  Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
                                  Tuyệt mù bể nước non mây
                                  Bụi hồng trong thẳm như ngày chưa xa .
                                   
                                  (Hát nói trong Khối tình con I )
                                   
                                  Ông thích rượu vì uống rượu là một cách để quên nỗi buồn và cũng là một nguồn thi hứng :
                                   
                                  Rượu thơ mình lại với mình
                                  Khi vui buồn cả cái hình phù du
                                  Trăm năm thơ túi rượu vò
                                  Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai ?
                                   
                                  (Còn chơi )
                                   
                                  Công danh sự nghiệp mặc đời
                                  Bên thời be rượu , bên thời bài thơ
                                  (Tản Đà xuân sắc . 1935 )
                                   
                                  Nhiều khi ông cũng mỉa mai người đời một cách chưa cay :
                                   
                                  Thối ôm sọt phẩn ! nhiều cô gánh ;
                                  Tanh ngắt hơi đồng ! lắm cậu yêu
                                  Quần tía đùi non anh chiệc vỗ ;
                                  Rừng xanh cây quế chú mường leo
                                  ( sự đời trong Khối tình con II )
                                   
                                  Nhưng ông lại có ột cái lòng yêu thương man mác, vẩn vơ khiến ông “nhớ chị hàng cao ”, thương cô “chài đánh cá ” rồi đến “vẻ bâng quơ ”, đến viết “thư đưa người tình nhân không quen biết ”; làm cho ông khi trông thấy “mã cũ bên đường ” (2) mà thương xót thay cho số phận những người đã gặp cảnh long đong hoặc bước phong trần .
                                   
                                  Chính trong tình cảm ấy khiến ông rất hiểu thấu tính tình mộc mạc giản dị của người thường dân ; nên nhiều bài ca dao của ông thật không khác gì những lời ngâm nga than thở tự thâm tâm người dân Việt nam thổ lộ ra vậy .
                                   
                                  Lời thơ ông lại có một cái giọng điệu  nhẹ nhàng du dương ; cách dùng chữ ( thường dùng tiếng nôm ) và đặt câu lại uyển chuyển, êm đềm , nên thơ ông khiến cho người đọc dễ cảm động say mê, ông thực là một thi sĩ có tính cách Việt Nam thuần túy vậy .
                                   
                                  Ông Trần Tuấn Khải (3) . Cái nguồn thi hứng của ông thường là cái cảm tình đối với non sông đất nước, nên ông thường mượn đề mục ở lịch sử để tả tâm sự nhũng bậc anh hùng nghĩa sĩ, như mượn lời Phi Khanh dặn con ( Hai chữ nước nhà trong Bút quan hoài ), lời bà Trưng Trắc khuyên em .
                                   
                                  Ông lại hay mượn cảnh ngộ “anh khoá ” để tả thân thế và hoài bảo của mình : nào “ Tiễn chân anh khoá xuống tàu ” , nào “Gửi thư cho anh khoá ”, nào “Vắng anh khóa ” (4) mà mong mỏi .
                                   
                                  Ông Đông hồ (Lâm Tấn Phác ) (5) – Trong tập thơ của ông ( Thơ Đông Hồ ), ta nhận mấy cái nguồn thi hứng sau này :
                                   
                                  1. Cảnh vật – Ông sinh trưởng ở Hà tiên là một nơi vừa có cảnh núi non sông biển, vừa có di tích của lịch sử (Hà tiên về đời các chúa Nguyễn, là có ấp của họ Mạc : Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích ), nên ông thường đem những danh lam thắng cảnh ấy làm đề mục cho thơ ca : “ Chơi Đồng Hồ”, “Chơi núi Đại Tô Châu ”, “ Chơi Bạch tháp động ”, “Chơi trăng Bình san ”, “Chiều ở Giang thành ” (6) ..v..v
                                   
                                  2. Kỷ niệm – Ông cũng ca vịnh những nỗi đau đớn đã cảm lòng ông, nhưng ông thường không thổ lộ những mối tình ấy khi hãy còn nồng nàn mạnh mẽ mà đợi khi đã nguội đi và chỉ còn là kỷ niệm trong trí nhớ : ta thấy một nỗi buồn nhẹ nhàng một nồi đau êm dịu trong những bài ông tỏ lòng nhớ tiếc người bạn trăm năm đã mất : Nhớ rằm tháng hai ( xem Phần thứ nhì . Bài số 181 ) . Tục huyền  cảm tác .
                                   
                                  3. Tình bè bạn – Ông thường ngâm vịnh cảnh sum họp, nỗi biệt ly trong khi giao du cùng bè bạn :
                                   
                                  Cuộc ly hợp gần xa nỏ bận;
                                  Chổ tâm giao xa vẫn như gần
                                  Biết nhau trong chốn tinh thần
                                  Dầu xa non nước vẫn gần tấc gang
                                   
                                  Nghe tin bác Trọng Toàn từ biệt Phương thành )
                                   
                                  4. Tình thầy trò – Ông là một nhà giáo , nên trong tập thơ có nhiều bài tả cảm tình của ông đối với bọn học trò mà ông đã có lòng chăn dắt, dạy dỗ :
                                   
                                  Tưới nước vun phân : người giáo hoá
                                  Đầm thắm dồi dào âm móc mưa
                                  ……………………………………
                                  Ba xuân tấc cỏ tình sư đệ,
                                  Một hội trăm năm cảnh học đường
                                  (Cảnh học đường )
                                   
                                   

                                              Các nhà làm thơ mới – Các nhà làm thơ mới không những muốn cải cách lối thơ  về đường hình thức mà cũng có cái hoài bão đổi mới lối thơ về đường tinh thần. Các nhà  ấy cho rằng lối thơ cũ thường ngâm vịnh những đề mục cổ , dãi  bày những tình ý sáo, thành ra nhiều khi thơ chỉ có xác mà không có hồn, nên các nhà ấy muốn đem các đề mục mới và hết thảy các cảnh vật, các tình cảm nên thơ mà diễn đạt ra ; đối với các nhà ấy, thơ phải là “cây đàn muôn điệu ” ( xem phần thứ nhì, Bài thứ 184 ) , để các âm thanh trong lòng người và “cây bút muôn màu ” để vẽ đủ các hình sắc trong tạo vật .
                                   
                                              Nhưng ta cũng nên nhận rằng tự cổ chí kim, nguồn thi hứng cũng bất ngoại mấy điều này : cảnh vật của trời đất, linh cảm trong lòng người ( thứ nhất là ái tình ), cảnh huống trong xã hội . Duy cách lựa chọn các tài liệu có khác . Về cảnh vật xưa kia các thi sĩ thường tả những cảnh hùng vĩ ( như núi cao , sông rộng, danh lam, thắng tích ) hoặc những cảnh thanh tao ( như trăng trong, gió mát, thu cúc, xuân lan ) mà ít tả những cảnh bình thường, nhỏ bé , ( như cánh đồng, lũy tre, bông hoa , ngọn cỏ, chim muông, sâu họ ) . Các nhà làm thơ mới thì cho rằng bắt kỳ cảnh gì cũng có cái nên thơ có thể ngậm vịnh được , từ cảnh trời cao, biển cả đến cảnh ruộng lúa, ao rau . Về tình cảm thì xưa kia các cụ hay ca vịnh những lòng trung, hiếu, tiết, nghĩa hoặc những nỗi buồn rầu, nhớ thương; còn về ái tình thì thường nói đến ái tình đoan chính mà cách phô diễn thì kín đáo, nhẹ nhàng . Nay các nhà làm thơ mới cho rằng hết thảy các tình cảm trong lòng người, từ điều mơ ước ngông cuồng đến nỗi thất vọng tê tái, đều có thể làm tài liệu cho thơ ca được cả ; về ái tình thì tả đủ các trạng thái , mà tả một cách đậm đà, nồng nàn . Về cảnh huống trong xã hội thì các thi sĩ ngày xưa hay mô tả cuộc đời của các bậc phong lưu quyền quí mà ít để ý đến cuộc sinh hoạt khó khăn, vất vả của người thường dân . Các thi sĩ ngày nay muốn rằng thơ ca ẵung là tấm ảnh hình dung sự cần cù của kẻ lao động và nỗi khổ sở của người nghèo hèn .
                                   
                                              Về cách phô diễn tình ý , thì các nhà làm thơ mới chịu ảnh hưởng thơ văn chữ Pháp, thường mô tả một cách tỉ mỉ, rõ rệt , theo lối tả chân hơn là theo lối phác hoạ . Tả cảnh, tả người ( như sắc đẹp người đàn bà ) thì không theo khuôn mẫu cũ, mà tùy từng trường hợp lựa các hình sắc cho có tính cách đặc biệt .
                                   
                                              Về lời thơ, thì phần nhiều các nhà ấy đều có Pháp học, nên cách đặt câu nhiều khi phảng phất như cú pháp của văn tây . Lại có nhiều từ ngữ bóng bẩy mà các nhà ấy dịch theo hoặc đặt phỏng các từ ngữ của chữ Pháp .
                                   
                                              Đó là quan niệm chung của các nhà làm thơ mới , nhưng về thể thơ cũng như các thể văn khác mà có phần lại hơn nữa, cần phải có biệt tài mới làm nên những tác phẩm hay, nên tuy cái quan niệm phổ thông là như thế, nhưng mỗi nhà tùy tài riêng của mình mà ứng dụng một khác . Dưới đây, ta xét về tác phẩm của vài nhà đã được nhiều người chú ý đến .
                                   
                                              Hàn Mặc Tử (7) – Hàn Mặc Tử có thể coi là một thi gia bị thần số mạng  hành hạ : đã gặp cảnh nghèo không theo đuổi học nghiệp đến lúc thành công, lại đương buổi thanh niên mắc chứng bệnh nan y làm đau khổ thân thể và tinh thần , bắt xa cách gia đình cùng bạn hữu, nên thơ ông thường là lời than thở nỗi đau thương .
                                   
                                              Ông tả tình yêu, một mối tình yêu nồng nàng, tha thiết, nhưng thất vọng , mơ màng (Thương Thương ): biết rằng không bao giờ được cùng người yêu đoàn tụ, nên thường tả sự gặp gỡ, tình yêu thương , nỗi nhớ nhung trong những giấc chiêm bao ( Mộng – Mơ Thương Thương ), những cuộc mộng du (Đi chơi ) trong cõi tinh thần (Cấp ! Cấp ! như luật lệnh ) .
                                   
                                              Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương
                                              Má đỏ au lên đẹp lạ thường
                                              Bàn tay mềm mại nên thơ quá ,
                                              Màu áo lung linh dày tợ sương .
                                   
                                  (Mộng, khổ thứ nhất )
                                   
                                  Ông ưa tả cảnh đêm tối, cảnh trăng sao (Ương trăng – Cô liêu , Huyền ảo ), cảnh sương mù Đà Lạt trong mơ ) là những cảnh hợp với tâm hồn thê lương, ảm đạm của ông .
                                   
                                  Vì lúc nào cũng bị tử thần ám ảnh, nên ông thường nói đến sự chết (Những giọt lệ ) , sự vĩnh biệt ( Trường tương tư ) và cõi hư vô .
                                   
                                              Cái ý nghĩ về sự chết chiếm cả tâm hồn ông, nhiều khi khiến ông như điên, như dại  ( Thơ điên ), nhưng cũng khiến ông nâng thần trí lên chỗ cao xa, sáng láng . ( Xuân như ý ) , ước ao một cuộc đời lý tưởng tốt đẹp (Ước ao ) và ca tụng, cầu nguyện đức Chúa Trời (ông vốn theo đạo Thiên Chúa ) (Say thơ ):
                                   
                                              Thần trí cao dâng đến chính trời :
                                              Cung cầm rất lạ nổi chơi vơi …
                                              . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
                                              Hào quang vây riết điềm chiêm bao,
                                              Chúa hiện ra trong điệu nhạc nào
                                              Đầy dẫy no nê nguồn sáng láng
                                              Rất nên trăng ngọc với vàng sao …
                                              (Xuân như ý, hai câu đầu
                                              khổ thứ 1 và khổ thứ 2 )
                                   
                                              Nhưng chính vì cái tâm cảnh u sầu ấy mà trong một ít bài ( thứ nhất là những bài nói về những điều thần bí, mầu nhiệm trong tập Thượng thanh khí ) ý tứ không được rõ ràng, lời thơ có vẻ tối tăm .
                                   
                                              Về thể cách, ông bắt đầu viết thơ Đường Luật (ông có một tập Thơ Đường luật soạn trong những năm 1925 – 1934 ), rồi sau ông viết lối thơ mới, nhưng thường cũng vẫn viết theo lối thơ cổ thể hoặc theo thể lục bát nữa .
                                   
                                              Ông Thế Lữ ( Nguyễn Thế Lễ ) – Tác phẩm của ông trước đăng trên Phong hóa tuần báo,  sau in thành sách nhan là Mấy vần thơ ( 8)
                                   
                                              Tác giả tả thân thế mình mà “tự trào ”, tự cho mình là “người vơ vẩn , ”, “người phóng đãng ”, vì vốn ưa thú thơ ca mơ mộng, thích cảm tịch mịch thiên nhiên mà phải chen chân vào nơi phồn hoa náo nhiệt, giấu mình vào trường thực tế cạnh tranh .
                                   
                                              Tôi là một kẻ mơ màng,
                                              Yêu sống trong đời giản dị, bình thường
                                              Cùng với Nàng Thơ tháng năm ca hát
                                              Của non cao, rừng cả ; cảnh đìu hiu
                                              Chốn đồng xa sương trắng chập chờn gieo
                                              Hay cảnh rỡ ràng , bướm tung bay, chim vui hót .
                                   
                                                                                  Trả lời, trong mấy vần thơ
                                                                                  Tập mới , tr . 68
                                   
                                              Tác giả giải bày cái quan niệm về thơ ca ( Cây đàn muôn điệu xem Phần thứ nhì, Bài số 184 , - Lựa tiếng đàn ), cùng tả cái tâm hồn của thi sĩ ( Ngày xưa còn nhỏ , - Giục hồn thơ , - Ý thơ )
                                   
                                              Trong khi giấn bước trên đường đời, tác giả nhận thấy những cảnh chán ngán hoặc buồn rầu ; hoặc sự tàn ác của nhân loại (Ác mộng ), thói giả dối của người đời ( Lời mỉa mai ), hoặc nỗi “chán chường ” của cuộc ăn chơi (Đêm mưa gió ), nỗi “mê tơi ” của đời trụy lạc ( Trụy lạc ) ;  hoặc cảnh “trơ vơ ” của gái giang hồ ( Bên sông đưa khách ), cảnh thất thế của kẻ ngang tàn ( nhớ rừng ) mượn lời con hổ mà tả ) :
                                   
                                              Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
                                              Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
                                              Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn ,
                                              Ta lặng ngắm giang sang ta đổi mới ?
                                              Đâu những bình minh cây xanh nắng gội ,
                                              Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng,
                                              Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng,
                                              Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
                                              Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?
                                              - Than ôi ! thời oanh liệt nay còn đâu ?
                                             
                                             
                                                                      (Nhớ rừng, khổ thứ ba )
                                                                      trg. tập Mấy vàn thơ mới , tr. 10
                                   
                                              Nhưng cũng có những cảnh làm cho tác giả được vui mắt êm lòng : Cảnh hoa đẹp hương thơm ( Hoa thủy tiên ) , cảnh trăng sáng đêm thanh ( Thứ giấc ), thứ nhất là sắc đẹp của giai nhân, hoặc ngây thơ ( Hồ xuân và thiếu  nữ ) , hoặc đắm đuối ( Nhan sắc ), hoặc có vẻ kiều diễm của khách thị thành ( Hoa thủy tiên ), hoặc nhẹ nhàng thoảng qua ( Vẻ đẹp thoảng qua , - Mộng ảnh ), hoặc có vẻ mộc mạc của trang sơn nữ ( Bóng hoa rừng )
                                   
                                              Xuân Diệu – Tác giả tập Thơ thơ  (9) là một thiếu niên có tâm hồn thơ mộng, khao khát sự yêu thương , lại cảm thấy thời bây giờ vùn vụt thoảng qua muốn vội vàng tận hưởng cái cảnh vui đẹp của tuổi xuân hiện tại . Chính tác giả đã tự giải thích thơ mình trong mấy câu này :
                                   
                                              Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
                                              Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,
                                              Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
                                              Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến .
                                             
                                                                      (Cảm xúc trg. Thơ Thơ tr. 71)           
                                   
                                              Tâm hồn đầy thơ mộng, nên tác giả hay tả những cảnh gây nên sự mơ màng, như tả “trăng ” sáng , “núi xa ” (10 ) , cảnh nước chảy mây trôi (Đi thuyền ), cảnh mùa thu thê lương ảo não (Đây mùa thu tới , - Ý thu ), cảnh buổi chiều điều hiu vắng vẻ ( Chiều ). Tác giả cũng thích ca vịnh tiếng âm nhạc du dương, huyền diệu ( Huyền diệu , - Nhị hồ ) và cái sắc đẹp tươi thắm yêu kiều ( Nụ cười xuân )
                                   
                                              Lòng tác khao khát yêu thương: yêu một cách say đắm nồng nàng ( Vô biên ) đến nỗi cùng người yêu gần gũi mà vẫn thấy xa cách ( Xa cách ), được người yêu tha thiết mà vẫn thấy lạnh lùng ( Phải nói ): nhiều khi lại yêu vơ vẩn ( Vì sao ), yêu vu vơ ( Gặp gỡ ), yêu người không muốn yêu mình ( Bên ấy bên này ) yêu người đã yêu kẻ khác ( Muộn màng ) . Bởi thế sinh ra nỗi sầu vơ vẩn ( Chàng sầu ), nỗi buồn vô cớ ( Chiều ).
                                   
                                              Tác giả cảm thấy ngày tháng trôi qua, tuổi xuân chóng tàn :
                                   
                                              Thong thả chiều vàng thong thả lại …
                                              Rồi đi …Đêm xám tới dần dần ..
                                              Cứ thế mà bay cho đến  hết
                                              Những ngày, những tháng, những mùa xuân
                                                                      ( Giờ tàn trong thơ thơ, tr . 64)
                                   
                                              Bởi thế, tác giả muốn vội vàng hưởng hết cái cảnh đẹp đẽ vui tươi của tuổi trẻ, của mùa xuân :
                                   
                                              Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm
                                              Cả sự sống riết mây đưa và gió lượn
                                              Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
                                              Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
                                              Và non nước, và cây, và cỏ rạng
                                              Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
                                              Cho no nê thanh sắc của thời tươi !
                                              - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !
                                   
                                                                          ( Vội vàng trong Thơ thơ trang 57 )
                                   
                                              Tóm lại , Thơ thơ là một tập thơ chứa chan tình cảm lãng mạn, trong đó có nhiều từ mới lạ , tỏ ra tác giả thật có tâm hồn thi sĩ, nhưng cũng có nhiều câu vụng về, non nớt, chứng rằng tác giả chưa lão luyện về kỷ thuật của nghề thơ.
                                   
                                              Kết luận - Cứ xét những tác phẩm đã ra đời thì lối thơ mới có thể thành lập và sản xuất được những bài hay, miễn là nhà làm lối thơ ấy phải là người có biệt tài và có tâm hồn thi sĩ . Nhưng ta cũng nhận thấy rằng các nhà viết lối thơ mới cũng thường viết những bài theo các thể văn vần cũ không có lệ luật chặt chẽ của lối thơ Đường luật ( như cổ thể, song thất, lục bát ) mà những bài ấy thưòng lại là những bài hay cả về tình ý và về âm vận . Lại ngay trong các bài viết theo hẳn lối thơ mới, ta cũng thấy rằng những bài có thi vị vẫn là những bài có thể cách nhất định ( về số câu trong khổ, số chữ trong câu , cách hiệp vần ) . Xem thế thì biết trong nghề thơ, người có thiên tài dù làm theo lối cũ hay mới vẫn có thể làm nên tác phẩm hay được ; mà thể thơ bao giờ cũng phải có khuôn khổ nhất định ( dù cái khuôn khổ ấy rộng rãi thế nào ) và quy củ phân minh ( dù cái qui cũ ấy không chặt chẽ cho lắm ) : cái tài của nhà làm thơ chính là  ở chỗ cứ theo cái khuôn khổ ấy, cái quy củ ấy mà diễn đạt được tình ý một cách tự nhiên và thành thực .
                                   
                                  Các Bài Đọc Thêm
                                   
                                   
                                   
                                  1 – Con ve và con kiến
                                   
                                  Ve sầu kêu ve ve
                                  Suốt mùa hè,
                                  Đến kỳ gió bấc thổi ;
                                  Nguồn cơn thực bối rối
                                  Một miếng cũng chẳng còn,
                                  Ruồi bọ không một con,
                                  Vác miệng chịu khúm núm,
                                  Sang chị kiến hàng xóm,
                                  Xin cùng chị cho vay
                                  Răm ba hạt qua ngày,
                                  “Từ nay sáng tháng hạ
                                  Em lại xin đem trả,
                                  Trước thu, thề Đất Trời !
                                  Xin đủ cả vốn lời ”
                                  Tính kiến ghét vay cậy,
                                  Trăm thói, thói này vì :
                                  “Nắng ráo chú làm gì ?”
                                  Kiến hỏi ve như vậy
                                  Ve rằng : “Luôn đêm ngày
                                  Tôi hát, thiệt gì bác ”
                                  Kiến rằng : “Xưa chú hát ?
                                  Nay thử múa coi đây ”
                                   
                                  Nguyễn Văn Vĩnh
                                   
                                  2 – Tình già
                                   
                                  Hai mươi bốn năm xưa,
                                  Một đêm vừa gió lại vừa mưa,
                                  Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
                                  Đôi cái đầu xanh, kề nhau than thở :
                                  “Ôi ! đôi ta tình thương nhau thì  vẫn nặng
                                  “Mà lấy nhau hẳn đà không đặng ;
                                  “Để đến nỗi tình trước phụ tình sau
                                  “Chi cho bằng sóm liệu mà buông nhau ! ”
                                  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
                                  Phan Khôi
                                   
                                  Các Tác Phẩm Để Kê Cứu
                                   
                                  1.  Nhất linh, Thế nào là thơ mới , trg . Phong hóa tuần báo, số 36; 3-3-1933 , tr. 8
                                   
                                  2. Nguyễn Hữu Tiến, Thơ mới và thơ cũ, tr. NP. t. XXXIV, tr, 109-112
                                   
                                  3. Chất hằng thơ mới, tr. Văn học tạp chí, số 22, 1-8-1933, tr. 91-94
                                   
                                  4. Thương sơn, Thơ mới tức là từ khúc . tr. Văn học tạp chí, số 24, 1-9-1933, tr. 203-208
                                   
                                  5. Đỗ Đức Vượng, Thơ mới, tr. BSEMT, t. XV. số 1, Uanv. – Mars 1935 , tr. 44-67
                                   
                                  6. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Tao Đàn số đặc biệt 1, 1-7-1939
                                   
                                  7. Hà Xuân Tế, Un poèle annamite moderne : Hàn Mặc Tử, in indochine, N 25, 20-2-1941
                                   
                                  8 . Hoài Thanh và Hoài Chân Thi nhân Việt Nam ( 1932-1941) Huế Nguyễn Đức Phiên x.b. 1942
                                   
                                   

                                  [/align] 
                                  Chú Giải
                                   
                                  (1) Nguyễn Khắc Hiếu ( 1889-1939) - hiện Tản đà người xã Khê thượng, huyện  Bất bạt, tỉnh Sơn tây, vốn theo Nho học và có đi thi hương ; sau khi hỏng khoa nhâm tí ( 1912 ), ông bắt đầu viết quốc văn ; năm 1924, ông làm chủ bút “Hữu thanh tạp chí ” trong ít lâu, năm 1926, ông đứng chủ trương tờ Annam tạp chí (đình bản hẳn năm 1933 ). Tác phẩm : Vận văn : Khối tình con .q.I, II và III , - Tiểu thuyết : giấc mộng con , Giấc mộng con thứ hai, giấc mộng lớn, Thần tiên, Thề non nước, Trần ai tri kỷ ; - Luận thuyết : Khối tình , Bản chính và bản phụ ; - Giáo khoa : Lên sáu . Lên tám, Đài gương, Quốc sử huấn mông ; - Phiên dịch : Đại học, Kinh thi , 1 . thứ nhất ) gồm chó Chu nam, Thiệu  nam, Bội dung và Vệ ) , Đàn bà Tàu, Liễu trai chí dị ( dịch được 40 truyện ) ..v.v.
                                   
                                  (2) Những chữ in trong hai dấu ngoặc kép đều là đề mục nhũng bài thơ ca trong Khối tình con .
                                   
                                  (3) Tác phẩm của ông Trần Tuấn Khải ( Hiệu Á Nam ) : Duyên nợ phù  sinh, q. thứ nhất , - q . thứ nhì , - Bút quan hoài, - Gương bể dâu thứ nhất, - Tam tự kinh (dịch và bàn ). Thủy  hử (bản dịch ) v.v.
                                   
                                  (4) Những chữ in trong hai dấu ngoặc kép là đề mục những bài ca của tác giả .
                                  (5) Tác phẩm của Đông Hồ : a) Văn vần : Thơ Đông hồn ( Văn học tùng thư, Nam ký, thư quán , Hà nội xb, 1932 ) , cô gái xuân 1935 ; - b) Văn xuôi : hà tiên Mạc thị sử ( NP. t. XXV, số 143 ), - Thăm đảo phú quốc NP ., t., XXII , số 128) - Quốc văn Nam Việt ( Văn  học tạp chí số 2, Juin 1932 ), v.v.
                                   
                                  (6) Những chữ in trong dấu ngoặc kéo đều là đề mục những bài thơ ca trong tập  thơ Đông Hồ
                                   
                                              (7) Hàn Mặc Tử  (1913-1940) – chính tên là Nguyễn Trọng Trí quê ở Quảng Bình, sinh ở Huế là nơi gia đình ông ở, có học tại trường thầy dòng Pellerin, nhưng vì nhà nghèo phải thôi học . Vào khoảng năm 1927, ông mắc bệnh phong, vào ở trại phong trong tỉnh Qui nhơn đến lúc mất . Tác phẩm : Gái quê (1936), Thơ Hàn mặc Tử ( 1942).
                                   
                                              (8) Hà nội, Đời nay x.b. 1934 – Năm 1941 , tập ấy in lại, nhan là Mấy vần thơ. Tập mới vì có thêm ít nhiều bài .
                                   
                                              (9) Hà nội, Đời nay xb. 1938
                                   
                                              (10) Đề mục hai bài thơ trong tập Thơ Thơ

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 16:07:39Huyền Băng>
                                  Chương Thứ Bảy
                                   
                                  Các Văn Gia Hiện Đại Các Khuynh Hướng Phổ Thông Của Tư Tưởng Phái Tự Lực Văn Đoàn
                                   
                                              Trong chương thứ năm, ta đã xét về sự biến hóa các thể văn xuôi gần đây, nay ta hãy xét về các khuynh huớng của tư tưởng trong nền quốc văn hiện đại .
                                   
                                              Hai khuynh hướng của tư tưởng trong nền văn nôm cũ – Trong văn nôm cũ, có hai khuynh hướng tư tưởng phản nhau :
                                   
                                  1. Khuynh hướng về đạo lý : định cho văn chương cái mục đích duy trì cương thường luân lý, nhà viết văn có cái chức vụ răn dạy người đời . Đó là khuynh hướng của các tác phẩm có tính cách giáo huấn ( như Gia huấn ca, Nữ tắc, Phụ châm tiện lãm , Trinh thử ) và của hầu  hết các truyện nôm cũ của ta .
                                   
                                  2. Khuynh hướng về tình cảm : lấy tình cảm làm cái nguồn cảm hứng cho thơ văn, đem những tình yêu thương, oán giận, những nỗi buồn rầu, ước muốn mà diễn tả ra : đó là cái khuynh hướng ta nhận thấy trong ca dao của bình dân, trong nhiều ngâm khúc ( như Cung oán ngâm, Chính phụ ngâm, Bần nữ thán ) và trong các tác phẩm có tính cách lãng mạn của vài nhà ( như Hồ Xuân Hương )
                                   
                                  I – Các Khuynh hướng phổ thông của tư tưởng trong quốc văn hiện đại .
                                   
                                              Từ ngày quốc văn mới thành lập, ta nhận thấy có mấy khunh hướng sau này :
                                   
                                              Khuynh hướng về học thuật – Các nhà thuộc về khuynh hướng này muốn bảo tồn tinh hoa cũ và thâu nhập học thuật mới để gây một nền văn hoá riêng cho nước ta . Về khuynh hướng này trừ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh , ta đã nói đến ở Chương thứ tư, còn phải kể các nhà sau này :
                                   
                                              Nguyễn Bá Học (1) là một bậc mô phạm đã đem tâm tư của một nhà giáo dục mà viết những “Lời khuyên học trò” và sự từng trải của một bậc lão thành mà soạn những đoản thiên tiểu thuyết vừa khéo mô tả thế thái nhân tình vừa có ngụ ý răn dạy  người đời .
                                   
                                              Phan Kế Bính (2) là một nhà cựu học thức thời đã biết đem cái học lực của mình mà theo phương pháp mới để nguyên cứu về văn chương, phong tục của nước ta .
                                   
                                              Nguyễn Trọng Thuật (3), tác giả quyển tiểu thuyết Quả Dưa đỏ, thường khảo cứu về các danh nhân, các tác phẩm cổ của ta .
                                   
                                              Nguyễn Hữu Tiến ( hiệu Đông châu ) (4) và Lê Dư ( hiệu Sở Cưòng ) (5), hai tay bút đắc lực của tạp chí Nam phong, đã biên tập nhiều bài khảo cứu về lịch sử, địa lý, văn học nước ta và nước Tàu .
                                   
                                              Trần Trọng Kim ( hiệu Lệ thần ) (6) là một nhà sư phạm đã soạn nhiều sách  giáo khoa có giá trị và một học giả đã có công khảo cứu về Nam sử và các học thuyết cổ của Á đông .
                                   
                                              Nguyễn Văn Ngọc ( hiệu Ôn như ) (7) đã có công sưu tập chú giải các thơ văn truyện cổ, tục ngũ, phong dao của nước ta .
                                   
                                              Khuynh hướng lãng mạn , - Trong khuynh hướng này tình cảm và tưởng tượng chiếm phần ưu thắng . Các nhà thuộc về khuynh hướng này hoặc tả những cuộc ái tình trắc trở thảm thương, hoặc diễn những nỗi đau buồn lâm ly ai oán . Mấy  nhà có thể làm tiêu biểu khuynh hướng ấy là :
                                   
                                              Bà Tương phố ( 8) trong bài Giọt lệ thu ( viết năm 1923 ), đã đem hết tâm tình sầu muộn của người quả phụ mà tả nỗi thương tiếc người bạn trăm năm đã mất, lời văn thật là ảo não thiết tha .
                                   
                                              Ông Hoàng Ngọc Phách ( hiệu Song An ) (9) trong quyển Tố tâm (1925) , một quyển tâm lý tiểu thuyết , đã mô tả và phân tích cuộc tình của một cặp trai gái yêu nhau mà vì hoàn cảnh gia đình không lấy được nhau, thành ra người thiếu nữ vì nỗi buồn phiền thụ bệnh chết; lời văn chứa chan tình tự, đầy giọng lâm ly .
                                   
                                              Ông Đông Hồ (10) trong bài Linh phượng, Tập lệ ký của Lâm Trác Chi (1928) ,   đã ghi chép tình cảnh và nỗi lòng của ông khi người bạn trăm năm mắc bệnh và từ trần,   lời văn như  ngậm ngùi thương xót .
                                   
                                              Khuynh hướng xã hội – Các nhà thuộc về khuynh hướng này cho rằng quan niệm cũ, các tập tục cổ ngăn trở sự tiến hóa của quốc dân, nên muốn phá bỏ các phong tục xưa và cải tạo xã hội theo một lý tưởng mới : trên các báo chí hoặc trong các tác phẩm (thứ nhất là tiểu thuyết ), các nhà ấy mô tả để công kích những phong tục , tập quán họ cho là hủ lậu và giãi bày những quan niệm mới đối với các vấn đề thuộc về gia đình hoặc xã hội .
                                   
                                              Trong các văn gia thuộc về khuynh hướng nói trên, có một phái có chương trình nhất định và đã viết được nhiều tác phẩm có giá trị là phái Tự lực văn đoàn ta sẽ xét rõ ở mục dưới .
                                   
                                              Khuynh hướng tả thực – Các văn gia thuộc về khuynh hướng trên tuy cũng trọng sự tả thực ( tả phong tục , tập quán, hành vi, ngôn ngữ các hạng người trong xã hội ), nhưng vì, đối với vấn đề phong tục và xã hội, họ đã có thành kiến mà các tác phẩm của họ nhiều khi là những luận đề, bởi vậy, nên sự quan sát , lựa chọn, mô tả các nhân vật, trạng thái trong xã hội có phần thiên về một mặt về không hình dung được cái cảnh tượng sinh hoạt toàn thể trong xã hội. Cái khuynh hướng tả thực cốt lấy sự tả cái chân tướng của các sự vật làm chủ đích cho việc làm văn, giữ cái thái độ khách quan mà nhận xét và mô   tả các cảnh vật trong vũ trụ, các tính tình trong lòng người và các trạng thái trong xã hội .
                                   
                                              Vì cái chân tướng của ngoại cảnh và của nội giới có thiên hình vạn trạng, nên tác phẩm của các nhà văn tả thực cũng phồn tạp và có thể chia làm nhiều loại tùy theo các đề mục họ đã lựa chọn .
                                   
                                  1.Hoặc tả cuộc sinh hoạt của hạng bình dân, lao động. Thí dụ : Kép Tư Bền của ông Nguyễn Công Hoan; Tôi kéo xe của ông Tam lang ; Lầm than ( tả một cuộc đời bọn phu mỏ ) của ông Lan Khai .
                                   
                                  2.  Hoặc tả cái mặt trái của xã hội ăn chơi, trụy lạc. Thí dụ : Giông Tố của ông Vũ Trọng Phụng; Hà nội lầm than ( tả đời trụy lạc của gái giang hồ, của bọn làng chơi ..v.v. ) của ông Trọng Lang; Bỉ vỏ ( tả cuộc đời của bọn ăn cắp ) của ông Nguyên Hồng .
                                   
                                  3. Hoặc tả cảnh vật, phong tục và cuộc sinh hoặt ở nơi thôn quê . Thí dụ : Cậu bé nhà quê của ông Nguyễn Lân ( hiệu Từ Ngọc );  Cô Dung ( tả tính tình , cử chỉ của một cô gái quê phục tòng gia đình và tập tục ) của ông Lan Khai .
                                   
                                   
                                  2. Tự Lực Văn Đoàn
                                   
                                              Tự lực văn đoàn là một văn phái có chương trình nhất định, có cơ quan xuất bản riêng và đã sản xuất ra nhiều tác phẩm có ảnh hưởng trong xà hội . Vậy ta phải xét sự hành động của văn đoàn ấy .
                                   
                                              Văn đoàn ấy gồm những văn gia thuộc về phái tân học . Người đứng chủ trương là ông Nguyễn Tường Tam ( hiệu Nhất Linh ); các đồng chí thì có các ông Trần Khánh Giư (hiệu Khái Hưng ), Nguyễn Thứ Lễ ( hiệu Thế Lữ ) , Hồ Trọng Hiếu ( hiệu Tú Mỡ ) v.v.v.
                                   
                                              Tôn chỉ -  A) Về đường xã hội , các nhà thuộc văn đoàn ấy muốn phá bỏ hủ tục để cải cách xã hội theo các quan niệm mới . Bởi thế các nhà ấy thường viết những phong tục tiểu thuyết hoặc luận đề tiểu thuyết để chỉ trích các phong tục tập quán cũ mà dãi bày những lý tưởng mới về cuộc sinh hoạt trong gia đình hoặc trong xã hội .
                                   
                                              B) Về đường văn chương, các nhà ấy muốn trừ khử lối văn chịu ảnh hưởng của Hán văn ( dùng nhiều chữ nho, nhiều điển cố , đặt câu dài ) mà viết lối văn bình thường, giản dị, ít dùng chữ nho, theo cú pháp mới , để cho được phổ cập trong dân chúng . Trừ thể trào phúng dùng trong tạp chí để công kích chỉ trích, các nhà ấy thường viết lối truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết  ) và truyện dài ( trường thiên tiểu thuyết )
                                   
                                              Các văn gia và tác phẩm – A) Nhất Linh (11) - Người theo đúng tôn chỉ ấy nhất là ông Nhất Linh chủ trương văn đoàn ấy . Hầu hết các tác phẩm của ông là những luận đề tiểu thuyết . Những quyển để được nhiều người chú ý đến và có thể làm tiêu biểu cho hai khuynh hướng chung của văn đoàn là hai quyển Đoạn tuyệt và Lạnh lùng .
                                   
                                              Đoạn tuyệt  là câu chuyện một người đàn bà vì không thể chịu nổi sự áp bách của chế độ đại gia đình và của tập tục phải (đoạn tuyệt ) với gia đình để thoát ly sự áp bách kia .
                                   
                                              Trong cuốn Lạnh lùng thì ta thấy một người đàn bà góa chồng còn trẻ tuổi yêu người khác mà về cái ảnh hưởng của tập tục và dư luận phải đi vụng trộm với người yêu, phải sống một cuộc đời giả dối để giữ danh giá của mình và thể diện cho nhà .
                                   
                                              Cả trong hai cuốn ấy, ta nhận thấy sự xung đột của quan niệm mới với tập thể cũ, mà kết cục thì hoặc là sự đắc thắng của quan niệm mới ( cuốn trên ) hoặc là sự đắc thắng của tập tục cũ ( cuốn dưới )
                                   
                                              B) Khái Hưng (12) – Các tác phẩm của ông, tuy vẫn có khuynh hướng xã hội, nhưng lại thiên về mặt lý tưởng và có thi vị riêng .
                                   
                                              Như trong cuốn Nửa chừng xuân , tác giả cũng có chú ý dãi bày cuộc xung đột  của hai phái mới và cũ về vấn đề tự do kết hôn . Do sự xung đột ấy, hai vai chủ động trong truyện là Lộc và Mai tuy đã yêu nhau , và lấy nhau, nhưng chỉ vì Bà Án là mẹ Lộc không ưng và tìm hết cách phá, nên hai người phải chia rẽ nhau. Tuy vậy, cuốn ấy lại dãi bày một cái lý sung sướng không gì bằng hy sinh cái cá nhân hạnh phúc của mình để mưu hạnh phúc cho người khác . Bởi thế sau khi dời bỏ Lộc, Mai vì biết tự hy sinh cho em trai và cho con mà thấy đời mình sung sướng .
                                   
                                              Cái khuynh hướng về lý tưởng còn rõ rệt hơn trong cuốn Hồn bướm mơ tiên,  truyện một cặp trai gái tình cờ gặp nhau ở một ngôi chùa, rồi đem lòng yêu nhau nhưng vì người con gái đã phát nguyện đi tu, nên hai người quyết chỉ “yêu nhau trong linh hồn, trong lý tưởng ”.
                                             
                                              Ông Khái Hưng có một cách tả người , tả cảnh tuy xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng , thanh thú, khiến cho người đọc thấy cảm .
                                   
                                              C) Thế Lữ (13) – Ông là một thi gia viết lối thơ mới trong Tự Lực văn đoàn; tập thơ của ông, đã có dịp nói đến rồi (xem Chương thứ VI) . Về thể văn tiểu thuyết, trong các truyện dài ( Vàng và máu ) hoặc truyện ngắn ( Bên đường thiên lôi ) , ông thường công kích những đều mê tín dị đoan . Muốn đạt chủ đích ấy, ông đặt những câu chuyện có vẻ rất rùng rợn làm cho người đọc ghê sợ , rồi đến đoạn kết, ông đem các lẽ khoa học mà giải thích các việc đã xảy ra một cách rất đơn giản tự nhiên .
                                   
                                              D) Tú Mở (14) – Ông chuyên viết những bài văn vần có tính cách khôi hài, trào phúng ; ông đã khéo đem một lối văn vui vẻ, buồn cười, hoạt bát, nhí nhảnh mà chế giễu những cái rởm, cái dở của người đời .
                                   
                                              Công việc của Tự lực văn đoàn – Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường xã hội và đường văn học .
                                   
                                    
                                              A) Về đường xã hội , cái biệt tài trào phúng của các văn gia phái ây, cả trong thơ văn và trong các bức hí hoạ , đã làm rõ rệt cái dở, cái rởm, cái buồn cười, cái giả dối trong các hủ tục, thiên kiến của ta .
                                   
                                              B) Về đường văn học, phái ấy đã gây nên cái phong trào “thơ mới ” và làm cho   thể văn tiểu thuyết được đắc thắng ; phái ấy lại có công trong việc làm cho văn quốc ngữ trở nên sáng sủa, bình giản, khiến cho nhiều người thích đọc .
                                             
                                              Tuy vậy, phái ấy không khỏi không có những điều thiên lệch. Đối với phong tục  cũ của ta, phái ấy điều nhất thiết cho là hủ là đáng bỏ , thành ra có tục không đáng công kích mà cũng công kích. Vả chăng, có nhiều tập tục tuy xét về phương diện này thì có hại, nhưng về phương diện khác không phải là không hay: phái ấy, vì đã có thành kiến sẵn, nên chỉ trông thấy chỗ dở mà không nhận thấy điều hay , thành ra trong sự mô tả, phán đoán có phần thiên lệch . Tỉ như tục đàn bà góa chồng ở vậy chờ nuôi con . Đành rằng tục ấy làm cho một số người đàn bà còn trẻ tuổi mà muốn tái giá ( vì cũng có người thực bụng không muốn tái giá ), nhưng vì sợ dư luận hoặc muốn giữ gia phong mà phải chịu cảnh lẻ loi lạnh lùng, tức là phải hy sinh cái hạnh phúc cá nhân ; song cũng nhờ có   tục ấy mà biết bao gia đình đáng lẽ, sau khi người gia trưởng mất rồi, phải lâm vào cảnh “vỡ đàn tan nghé ” vẫn được đoàn viên vui vẻ, biết bao đứa con mồ côi cho đáng lẽ phải chịu số phận hẩu hiu, vẫn được nuôi dạy trông nom và thành người.  Thật cái tục ấy đã gây nên biết bao điều xả thân, tận tâm, biết bao người mẹ đáng cảm phục. Xem thế thì biết trong sự phán đoán các tập tục xưa, ta cần phải đo đắn cẩn thận và xét cả mọi phương diện mới khỏi sai lầm .
                                   
                                              Dù sao chăng nữa, những điều phán đoán quá đáng và thiên lệch của Tự lực văn đoàn đã gây nên một cuộc phản động trong các văn gia khác , khiến cho các nhà ấy tìm tòi cái hay, cái ý nghĩa của các phong tục tập quán xưa ; đó cũng là ảnh hưởng tốt công việc của phái ấy vậy .
                                   
                                  Chú Thích
                                   


                                  [/align] 
                                  (1) Nguyễn Bá Học (1857-1921) : người xã Giáp nhất, huyện Thanh trì ( Hà đông ), tinh thông Hán học mà Pháp học cũng thiệp liệp, làm giáo học ở Sơn tây và Nam định ; sau khi về hưu trí, chăm việc trứ thuật , sở trường về thể đoản thiên tiểu thuyết . Tác phẩm : Lời khuyên học trò ( Nguyễn văn Minh và Nguyễn văn Khải xb., Hà nội, 1930 ); Gia đình giáo dục ( cũng thế ) và nhiều đoản thiên tiểu thuyết đăng ở Nam phong tạp chí .
                                   
                                              (2) Phan Kế Bính ( 1875-1921) : hiện Bưu văn, người xã Thụy khuê, huyện Hoàn long ( Hà đông ), đậu cử nhân năm 1906, thâm Hán học lại sành quốc văn, là một tay kỳ cựu trong làng báo nước ta từng có công biên tập trong mấy tờ Đăng cổ tùng báo, Đông dương tạp chí, Trung Bắc tân văn và Học báo  . Tác phẩm : Nam hải dị nhân liệt truyện ( Hà nội, Đông kinh ấn quán x.b ), Hưng đạo đại vương truyện ( cũng thế ), Việt Hán văn khảo (Hà nội Ed, du Trung Bắc tân văn ), Việt nam phong tục (trg. Đông dương tạp chí ) ..v..v.v
                                   
                                              (3) Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940 ): hiệu Đồ nam tử, người xã Mạn nhuế , phủ Nam sách ( Hải dương ), tinh thông Nho học, trưóc đi dạy học, sau giữ việc biên tập cho tạp chí Nam phong và báo Đuốc tuệ . Tác phẩm : Quả dưa đỏ (được phần thưởng của Hội Khai trí tiến đức năm 1925 ), Ngụ ngôn thi , cùng nhiều bài nghị luận, khảo cứu, dịch thuật đăng trong Nam phong : Điều đình cái án quốc học ( NP. XXIX , tr. 364 tđ . ) Danh nhân Hải dương ( NP., XXVI, XXVII, XXVIII ) Khảo về sách Xuân thu tả truyện ( NP., XXII, XXVI) , Một tập du ký của Lãn ông : Thượng kinh ký sự ( NP., XIII – XV ) v.v.
                                   
                                              (4) Tác phẩm của ông Nguyễn Hữu Tiến : Giai nhân di mặc. Sự tích và thơ từ Xuân Hương (Đông kinh ẩn quán, Hà nội xb . ) Cổ xúy nguyên âm, Lối văn thơ nôm , 2 q. ( cũng thế ) . Luận ngữ quốc văn giải thích . q. thượng ( cùng soạn với ông Nguyễn Đôn Phục ) Hà nội, Ed. Du trung Bắc tân văn ) và nheièu bài khảo cứu, dịch thuật đăng ở NP.: Nam âm thì văn khảo biện ( NP ,. III, IV ), Khảo về các thứ câu đối nôm ( NP., XVIII ) Khảo về lịch sử luân lý nước Tàu ( NP.. VI, VIII ) Khảo về học thuật tư tưởng nước Tàu ( NP., XXVIII, XXIX ) , Lược ký về lịch sử nước Tàu (NP., XXII ) . Vũ trung tùy bút ( bản dịch ) NP.. XXI, XXII ) v.v.
                                   
                                              (5) Tác phẩm của ông Lê Dư : Nam quốc nữ lưu ( Hà nội, nhà in Trung Bắc tân văn ), Nữ lưu văn học sử ( Hà nội, Đông tây ấn quán ), Tây sơn ngoại sử (Đông thanh tạp chí , số 1 tđ). Thảo trạch anh hùng ( NP ., XXVIII, XXIX ) , Quốc âm thi văn tùng thoại ( NP., XXX tđ ), vvv.
                                   
                                              (6) Tác phẩm của ông Trần Trọng Kim : Sơ học luân lý ( Hà nội Ed. Du Trung Bắc tân văn . Sư phạm khảo yếu lược ( cũng thế ) . Việt nam sử lược, 2 q , Nho giáo 3 q, ( cũng thế ), Phật lục ( Lê Thăng xb ), Việt Nam văn phạm cùng làm với hai ông Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ ) (cũng thế ) Đạo giáo (NP., XII, XIII ), Dương minh học (Đông thanh tạp chí sô 20-28 ) v.v
                                   
                                              (7) Tác phẩm của ông Nguyễn Văn Ngọc : Nam thi hợp tuyển 1 q. Tục ngữ phong dao 2 q , Câu đối, Đào nương ca, Đông tây ngụ ngôn , 1 q , Nhi đồng lạc viên, Để mua vui  1q , Truyện cổ nước Nam 2 q, Cổ học tinh hoa , 2 q. ( Cùng soạn với ông Trần Lê Nhân ) đều do Vĩnh hưng long thư quán, Hà nội xb )
                                   
                                              (8) Tác phẩm của bà Tương Phố : Giọt lệ thư ( NP, Juillet 1928 ) , Một giấc mộng (NP ,, Septembre 1928 ), Mối thương tâm của người bạn gái ( NP., Nov . – Déc . 1928 ) Bức thư rơi (NP .. Juin 1929 )
                                   
                                              (9) Tác phẩm của ông Hoàng Ngọc Phách : Tố tâm, tâm lý tiểu thuyết ( Hà nội , Imp, Chân phương 1925 ), Thời thế với văn chương (Hà nội, Cộng lực x.b. ) Đâu là chân lý (cũng thế )
                                   
                                              (10) Xem lời chú số 5 ở Chương VI
                                   
                                              (11) Tác phẩm của ông Nhất Linh : Đoạn tuyệt - Tối tăm -, Lạnh lùng , - Hai buổi chiều vàng – Gánh Hàng hoa - Đời mưa gió – Anh phải sống ( ba quyển sau cùng soạn với ông Khái hưng ) v.v.
                                   
                                              (12) Tác phẩm của ông Khái hưng : Hồn bướm mơ tiên , - Nửa chừng xuân,  - Tiếng suối reo, - Giọc đường gió bụi . - Trống mái , - Tiêu sơn tráng sĩ , - Tục , Lụy , - Gia đình , - Đợi chờ, Thoát ly , v.v.v..
                                   
                                              (13) Tác phẩm của ông Thế Lữ : Mấy vần thơ , - Bên đường thiên lôi , - Vàng về máu , - Mai hương và Lê phong ..vv.
                                   
                                              (14) Tác phẩm của ông Tú Mỡ : Giòng nước ngược .

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 16:16:29Huyền Băng>
                                  Tổng Kết
                                   
                                              Nền văn học một nước không những chỉ có thi văn, kịch bản, tiểu thuyết, mà gồm có triết học và lịch sử nữa . Vậy ta hãy lần lượt xét về các thể ấy trong lịch sử văn học nước ta thế nào .
                                   
                                              I – Khái luận về nền văn học cũ của ta
                                   
                                  Triết học - Về triết học, xưa ta chịu hai cái ảnh hưởng chính: một là của Phật học, hai là của Nho học .
                                   
                                  1. Phật học thì thịnh về đời Lý, Trần mà suy về đời Lê, Nguyễn . Tuy trong thời kỳ toàn thịnh cũng có nhiều vị cao tăng hiểu rõ tôn chỉ của đức Phật và một ít tác phẩm giải thích về giáo lý ( như Kháo hư lục của Vua Trần Thái Tôn , Đoạn sách lục của Sư Pháp Loa ), nhưng không có vị nào xướng lên một lý thuyết hoặc một phép tu hành nào mới .
                                   
                                  2. Nho học, trong các đời, đều được triều đình tôn sùng và sĩ phu ủng hộ . Về đường tinh thần , luân lý , nho học đã có ảnh hưởng rất tốt và đã đào tạo nên những bậc hiếu tử trung thần, hiền nhân, quân tử có đức độ, có phẩm hạnh , có công nghiệp với quốc gia, xã hội .
                                   
                                  Nhưng về đường tự tưởng học thuật, thì nho phái nước ta theo lối học “huấn hỗ ” (1) của Hán nho và chỉ biết cái “đạo học” của Trình Chu (2) đời Tống, chứ không biết đến cái học thuyết khác ( như cái “tâm học ” của Vương Thủ Nhân (3) đời Minh ); phần nhiều chỉ chọn lối học khoa cử, vụ từ chương mà không trọng nghĩa lý ; lại có cái thiên kiến rằng các điều của thánh hiền đã nói trong Kinh Truyện là bất di bất dịch không cần phải tra tầm suy xét thêm nữa . Bởi thế nên cái học của ta có phần câu chấp, nệ cổ, thành ra không tìm thấy cái đạo lý nào cao xa, không xướng lên cái học thuyết nào đặc biệt .
                                   
                                  Những tác phẩm về triết học đã hiếm lại phần nhiều là những sách chú giải , phu diễn ( như Tứ thư thuyết ước của Chu An, Dịch kinh phu thuyết và Thư kinh diễn nghĩa ca Lê Quý Đôn, Hy kinh trắc lãi của Phạm Đình Hổ ) , chứ không có sách nào là cái kết quả của sự tư tưởng độc lập, của công sáng tạo đặc sắc cả .
                                   
                                  Bởi thế, nếu xét về mặt triết học, thì ta phải nhận rằng nước ta không có quốc học, nghĩa là cái học đặc biệt, bản ngã của dân ta .
                                   
                                  Lịch sử - Về lịch sử thì nước ta có nhiều bộ sử ký ( hoặc chánh sử , hoặc dã sử ) trong đó có nhiều bộ tổng quát như bộ Đại Việt sử ký toàn thư và bộ Khâm địch Việt sử thông giám cương mục, nhưng tiếc rằng hầu hết các bộ ấy đều chép theo thể “biên niên ” , thành ra cách chép việc vụn vặt, khô khan không được quán xuyến, liên tiếp, đã không có tính cách khôi phục cuộc dĩ vãng một cách xác thực, linh hoạt như  những bộ sử của Augustin Thierry ( sử gia nước Pháp ) mà cũng không có tài liệu phong phú, văn từ dắn dỏi như bộ Sử ký của Tư Mã Thiên ( sử gia nước Tàu ).
                                   
                                  Thi văn, kịch bản, tiểu thuyết -  Sau hai môn triết học, lịch sử, ta phải xét đến thi văn, kịch bản, tiểu thuyết, tức là những thể thường gọi chung là “văn chương ”. Ở nước ta ngày xưa, triết học và lịch sử chỉ viết bằng Hán văn ( trừ quyển Đại Nam quốc sử diễn ca là viết bằng văn nôm ) , nhưng đến ba thể dưới thì ta vừa phải xét về Hán văn, vừa phải xét về Việt văn .
                                   
                                  1 - Về Hán Văn ta nhận thấy rằng các cụ ta xưa không hề viết kịch bản và tiểu thuyết ( trừ vài quyển lịch sử tiểu thuyết thể “diễn nghĩa ” của Tàu như Việt nam xuân thu : Hoàng Lê nhất thống chí và những truyện ký phần nhiều chép những chuyện thần kỳ quái đản như Lĩnh nam trích quái, Truyền kỳ mạn lục ); có lẽ các cụ cho hai thể ấy thuộc về loại “ngoại thư ” không phải là loại sách đứng đắn nên các cụ không viết chăng ? Bởi vậy phần phong phú nhất trong Hán văn là tản văn, biền văn và thứ nhất vận văn ( thơ,  phú ) . Trong các thơ văn ấy, những bài hay không phải là hiếm, nhưng thường hay về từ chương mà kém phần tư tưởng, thường ngâm, vịnh những nhân vật, sự trạng của nước Tàu mà chểnh mảng về việc nước ta, thường tả những cảnh vật hùng vĩ, thanh kỳ và cuộc đòi của các bậc phong lưu , quyền quí mà ít khi tả đến những cảnh vật thông thường ở quanh mình và cuộc sinh hoạt của kẻ bình dân, người lao động . Thành ra những tác phẩm đó chỉ là những áng văn hay để cho các bậc tao nhân mặc khách thưởng thức, chứ không phải là những tấm gương phản chiếu tính tình phong tục của dân tộc , những bức tranh lưu lại cảnh tượng sinh hoạt của các thời đại đã qua .
                                   
                                  2. Về Việt văn thì thể tiểu thuyết có những truyện nôm tức là tiểu thuyết viết bằng văn vần trong đó có nhiều quyển có giá trị đặc biệt ( như Kim Vân Kiều, Hoa Tiên, Lục Vân Tiên lại có nhiều tác phẩm vô danh ( như Trinh Thử, Trê Cóc, Lý Công, Phương Hoa ) tuy về phương diện văn chương không được xuất sắc như mấy quyển trên, nhưng lại tả rõ tính tình phong tục người dân nước ta mà lời văn chất phác giản dị dùng nhiều tục ngữ thành ngữ , nên đã được phổ cập trong dân gian và có ảnh hưởng đến dân chúng .
                                   
                                  Về kịch thì có những bản tuồng cổ, chèo cổ, phần nhiều lấy sự tích ở sử sách Tàu ( như Giang tả cầu hồn, Kim thạch ký duyên, Sơn hậu, Tống Địch Thanh ), gián hoặc cũng diễn sự tích ở nước ta như ( Lưu Bình, Dương Lễ ) nhiều bản văn chương cũng hay lắm .
                                  Văn xuôi trong Việt văn hầu như không có, vì những tác phẩm cần viết bằng tản văn các cụ đều soạn bằng Hán Văn cả .
                                   
                                  Các cụ chỉ viết văn như thơ, phú , ca , ngâm . Về những thể này tuy trong lúc ban    đầu ( thế kỷ thứ XIV và XV ), các tác phẩm còn chịu ảnh hưởng của Hán văn một cách quá nặng nề nhưng dần dần về sau đã thoát ly được cái ảnh hưởng ấy mà tự gây lấy tính cách biệt lập ; có mấy nhà có biệt tài ( Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến , Trần Tế Xương ) đã làm cho nền văn ấy khởi sắc hẳn lên .
                                   
                                  Nói tóm lại, trong nền văn học cổ của ta , những tác phẩm thuộc loại kinh sử, hiến chương , truyện ký có ích cho sự khảo cứu về cuộc dĩ vãng và nền văn hoá của nước ta; những thơ văn chữ nho cho ta biết cái tư tưởng của phái nhà nho, còn thơ văn quốc âm và thứ nhất là tục ca dao mới thực là cái nền văn có tính cách quốc gia nhờ đó mà ta biết được tính tình, tín ngưỡng, phong tục của dân tộc ta .
                                   
                                  2. Tương lai của nền quốc văn mới
                                   
                                  Việc can thiệp của nước pháp ở xứ ta về cuối thế kỷ thứ XIV có ảnh hưởng sâu xa đến nền văn học của ta. Vì từ ngày tiếp xúc với văn minh học thuật nước Pháp, tư tưởng phái trí thức nước ta thay đổi nhiều; các học thuyết mới, các tư trào mới dần dần tràn vào xứ ta ; các phương pháp mới cũng được các học giả ứng dụng. Các thể văn cũ biến cải đi; các thể văn mới ( tiểu thuyết, phê bình, kịch ) được các nhà trứ tác viết theo . Nhờ có chữ quốc ngữ là một thứ chữ tiện lợi để phiên âm tiếng ta, các báo chí xuất bản một ngày một nhiều, văn quốc ngữ đã thành lập và đã sản xuất được nhiều tác phẩm có giá trị. Các học giả, văn gia đã biết để ý đến lịch sử, văn hoá, cảnh vật nước ta mà ta gia công khảo cứu , dịch thuật, biên tập. Tuy trong buổi giao thời, tâm trí một số ít người còn hơi rối loạn, qui củ một vài thể văn chưa thành định thức; trong đám tác phẩm ra đời, còn vàng thau lẫn lộn; trong số độc giả xem văn, còn nhiều người ngọc đá chưa sành; trong bọn học giả văn gia, còn có lắm kẻ chỉ biết háo hức theo mới, bắt chước của người mà chưa biết cân nhắc lựa chọn cho tinh để giữ lấy cái bản ngã đặc sắc và luyện lấy cái tinh thần biệt tập của mình. Nhưng dân tộc ta vốn là một dân tộc có sức sinh tồn rất mạnh, trải mấy thế kỷ nội thuộc nước Tàu mà không hề bị đồng hoá lại biết nhờ cái văn hoá của người Tàu để tổ chức thành một xã hội có trật tự, gây dựng nên một nền văn học, tuy không được phong phú, rực rỡ nhưng cũng có chỗ khả quan, có phần đặc sắc, thì chắc rằng sau này dân tộc ta cũng sẽ biết tìm lấy trong nền văn học của nước Pháp những đều sở trường để bổ những chỗ thiếu thốn của mình, thứ nhất là biết mượn các phương pháp khoa học của Tây phương mà nghiên cứu các vấn đề có liên lạc đến nền văn hoá của nước mình, đến cuộc sinh hoạt của dân mình, thâu thái lấy cái tinh hoa của nền văn minh nước Pháp mà làm cho cái tình thần của dân tộc được mạnh lên để gây lấy một nền văn học vừa hợp với cái hoàn cảnh hiện thời, vừa giữ được cái cốt cách cổ truyền. Đó là cái nhiệm vụ chung của học giả , văn gia nước ta ngày nay vậy .
                                   

                                   

                                  [/align]Chú Thích
                                   
                                  (1) Huấn hỗ (huấn : giảng giải ; hỗ : đem kim văn mà giải thích cổ văn ): lối học cốt tìm cho rõ nghĩa từng chữ từng câu .
                                   
                                  (2) Trình Chu : Trình là hai anh em Trình Hiệu và Trình Di, Chu là Chu Hi ; ba bậc danh nho đời Tống .
                                   
                                  (3) Vương Thủ Nhân : tự Bá an, người đời Minh đỗ tiến sĩ; cái học của ông lấy lương tri lương năng làm chủ .

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-13 16:25:04Huyền Băng>
                                  Cám ơn em diễn vỹ,
                                   
                                  Tuy đã không vào thư quán khá lâu nhưng cũng cố gắng giúp chị - và các bạn cùng hoàn tất quyển sách này làm tài liệu cho mọi người tham khảo.
                                   
                                  Trong quá trình gõ không khỏi sai sót, các bạn nào đọc phát hiện sai sót xin thông báo để chúng tôi chỉnh sửa. Thành thật cám ơn.
                                   
                                  Tình thân,
                                  HB

                                  Nhà tranh
                                  Trang nhạcThơ giao lưu
                                  Văn
                                  0
                                  NHDT thấy Mọt Sách đã đưa hết quyển VNVHSY vào thư viện .

                                  Có mấy chương sách chị HB nhờ NHDT gõ, mà NHDT đau tay nên đã nhờ sis CNN gõ giúp.

                                  http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=238851&mpage=1&key=&#238851

                                  http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=238851&mpage=1&#249902

                                  Không rõ Mọt sách có đưa vào thư viện những chương nầy hay chưa.

                                  Nhờ chị HB duyệt lại giúp, nếu đã đầy đủ thì tốt quá. Còn như chưa, xin chị HB cho biết các chương ở liên kết trên phải nằm ở phần nào...  để chúng ta có thể bổ sung phần thiếu vào thư viện cho đủ bộ.
                                  Cảm ơn chị HB thật nhiều.

                                  NHDT chưa kịp duyệt lại chính tả cho những chương sau... Rất mong các bạn nào thấy lỗi thì sửa giúp, và post lại ở đây, &  Mod. sẽ chỉnh sửa lại sau ở thư viện.

                                  Cảm ơn tất cả các bạn đã giúp đỡ.
                                  Thân,
                                  NHDT


                                  Peace is the way of love
                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-01 18:26:40diên vỹ>
                                  Các anh / chị mến ,
                                   
                                  Vì quyển sách  này chia ra làm ba phần....trong mỗi phần lại chia ra các Thiên, và trong các thiên lại có các chương, nên để cho việc đem sách vào thư viện được nối tiếp nhau, dv post lên cái bản mục lục này cho các anh/chị xem nhé .
                                   
                                  Đồng thời phần dv đánh máy là tiếp nối theo phần của sis Chiều Nhạt Nắng,
                                   
                                  Cho nên nếu các anh/ chị đem sách vào thì sau khi đem hết phần của chị Huyền Băng, thì đến phần của sis Chiều Nhạt Nắng, và của dv cuối .
                                   
                                  Mến chúc các anh chị vui .
                                   
                                   
                                   
                                  Mục Lục
                                   
                                  Biên tập đại ý
                                  Những chữ viết tắt

                                   
                                  Năm thứ nhất ban Trung học Việt
                                  Nam
                                  (Lớp nhì trong các trường trung học Pháp)


                                   
                                  Chương dẫn đầu

                                   
                                  THIÊN THỨ NHẤT: VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN


                                   
                                  Chương thứ nhất: Văn chương truyền khẩu ; tục ngữ và ca dao, thành ngữ, phương ngôn, câu đó, câu ví …v.v

                                   
                                  THIÊN THỨ HAI : ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC TÀU


                                   
                                  Chương thứ hai: Văn chương cổ điển. Những điều giản yếu về các sáng giáo khoa cũ để học chữ nho ( thứ nhất là cuốn Tam  tự kinh )
                                   
                                  Chương thứ ba: Công dụng của văn học Tàu . Xét qua bộ Tứ thư ( thứ nhất là cuốn Luận ngữ và cuốn Mạnh tử )
                                   
                                  Chương thứ tư : Những điều giản yếu về Kinh Thi, tập ca dao cổ của người Tàu
                                   
                                  Chương thứ năm : Học sinh người Nam sang du học ở Tàu
                                   
                                  Chương thứ sáu : Sự truyền bá phật giáo và đạo giáo

                                   
                                  THIÊN THỨ BA : CÁC CHẾ ĐỘ VỀ VIỆC HỌC, VIỆC THI


                                   
                                  Chương thứ bảy: Việc dùng chữ nho làm quốc  gia văn tự. Cách tổ chức việc học
                                   
                                  Chương thứ tám: Nhà nho, khoa cử; lịch sử khoa cử ở nước Nam
                                   
                                  Chương thứ chín: Các lối văn cử nghiệp viết bằng chữ nho kinh nghĩa, văn sách, chiếu, biểu v.v.v.
                                   
                                  Chương thứ mười : Vua Lê Thánh Tôn và Hội Tao Đàn

                                   
                                   
                                  THIÊN THỨ TƯ: CÁC THỂ VĂN



                                   
                                  Chương thứ mười một: Chữ nôm
                                   
                                  Chương thứ mười hai: Hàn Thuyên và các nhà mô phỏng ông

                                  Chương thứ mười ba: Các thể văn của Tàu và của ta . Thi pháp của Tàu và âm luật của ta
                                   
                                  Chương thứ mười bốn : Phép đối và thể phú trong văn Tàu và văn ta : phú, văn tế
                                   
                                  Chương thứ mười lăm: Các thể văn riêng của ta: truyện , ngâm, hát nói
                                   
                                  Chương thứ mười sáu: Ca Huế và hát bội
                                   
                                  Chương thứ mười bảy: Tính cách chính của các tác phẩm về văn chương; các điển cố


                                   
                                   
                                  THIÊN THỨ NĂM: ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC PHÁP


                                   
                                  Chương thứ mười tám: Các giáo sĩ . Cố Alexendre de Rhodes. Việc sáng tác chữ quốc ngữ

                                   
                                  THIÊN THỨ SÁU: VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ VĂN TỰ


                                   
                                  Chương thứ mười chín: Những sự khác nhau về thổ âm trong tiếng Việt Nam ( tiếng Bắc và tiếng Nam)
                                   

                                  Năm thứ nhì ban Trung học Việt Nam
                                  (Lớp nhất trong các trường Trung học Pháp)


                                   
                                  Chương dẫn đầu

                                   
                                  THIÊN THỨ NHẤT : ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN CHƯƠNG TÀU


                                   
                                  Chương thứ nhất : Tính cách phổ thông của văn chương Tàu và văn chương Việt Nam
                                   
                                  Chương thứ hai: Các văn sĩ và thi sĩ Tàu đã có ảnh hưởng lớn nhất đến văn chương Việt Nam; Khuất Nguyên , Đào Tiềm, Lý Bạch
                                   
                                  Chương thứ ba: Các văn sĩ và thi sĩ Tàu đã có ảnh hoưỏng lớn nhất đến văn chương Việt Nam: Hàn Dũ, Tô Đông Pha

                                   
                                  THIÊN THỨ HAI : THỜI KỲ LÝ, TRẦN
                                  (Thế kỷ XI đến XIV )


                                   
                                  Chương thứ năm : Các nhà viết thơ văn chữ nho trong triều Hậu Lê ( Phụ nhà Mạc )
                                   
                                  Chương thứ sáu: Nguyễn Trải, Tác phẩm viết bằng Hán văn và Việc văn của ông
                                   
                                  Chương thứ bảy : Các bộ Nam sử đầu tiên: Bộ Đại Việt sử ký ( cùng học với cuốn Việc  sử ca )
                                   
                                  Chương thứ tám: Các tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nam, Thơ đời Hồng Đức ( thế kỷ thứ XV ) . Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm tức Trạng Trình .

                                   
                                  THIÊN THỨ TƯ: THỜI KỲ NAM, BẮC PHÂN TRANH
                                  (thế kỷ XVII và XVIII )


                                   
                                  Chương thứ chín : Hán văn trong thời kỳ Lê trung hưng
                                   
                                  Chương thứ mười: Việt văn trong thời kỳ Lê trung hưng
                                   
                                  Chương thứ mười một: Thời kỳ Lê mạt, Nguyễn Sơ . Những tác phẩm đặc biệt của thời kỳ ấy : Sách Tang thương ngẫu lục và sáng Vũ trung tùy bút
                                   
                                  Chương thứ mười hai : Người Âu Châu đến nước Nam . Các nhà buôn và các giáo sĩ. Ảnh hưởng của Giám mục Bá - đa - lộc . Sự bành trướng của chữ quốc ngữ . Sự phát đạt của nghề in .
                                   

                                  THIÊN THỨ NĂM: THỜI KỲ CẬN KIM
                                  (Nguyễn - Triều - Thế kỷ thứ  XIX)


                                   
                                  Chương thứ mười ba: Các vua triều Nguyễn. Chánh sách học qui . Các đời Minh mệnh, Thiệu Trị  và Tự Đức
                                   
                                  Chương thứ mười bốn: Việc mưu đồ canh tân, Nguyễn Trường Tộ và chương trình cải các của ông .
                                   
                                  Chương thứ mười lăm: Văn chương triều Nguyễn
                                   
                                  Chương thứ mười sáu: Các bộ sử ký, địa chí : Việc sử cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch sử Bản Triều: Thực lục và Liệt truyện .
                                   
                                  Chương thứ mười bảy: Các sách về loại kham khảo, Bộ Lịch triều hiến chương ( một bộ bách khoa toàn thư về nước Nam thời cổ )
                                   
                                  Chương thứ mười tám : Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du
                                   
                                  Chương thứ mười chính: Các truyện nôm khác : Lục Vân Tiên, Bích câu kỳ ngộ, Nhị độ mai, Phan Trần
                                   
                                  Chương thứ hai mươi: Các nhà viết văn nôm về thế kỷ thứ XIX

                                   
                                  Năm thứ ba ban Trung học Việt Nam
                                  (Lớp triết học và Lớp Toán pháp)


                                   
                                  Mấy lời dẫn đầu
                                   
                                  Chương thứ nhất: Ảnh hưởng của nền văn chương nước Tàu (  Lương Khải Siêu ) và nền pháp học đối với tư tưởng và ngôn ngữ người Nam
                                   
                                  Chương thứ hai : Tiếng Việt Nam và các danh từ mới mượn của Tàu và Nhật
                                   
                                  Chương thứ ba: Sự thành lập một nền quốc văn mới .
                                   
                                  Chương thứ tư: Văn xuôi mới, Nguyễn Văn Vĩnh và các bản dịch của ông. Ông Phạm Quỳnh và phái Nam phong
                                   
                                  Chương thứ năm: Sự biến hoá các thể văn : Kịch ,- Phê bình, - Văn xuôi, - Văn dịch, - Văn viết báo
                                   
                                  Chương thứ sáu : Xét về mấy thi sĩ hiện đại và các tác phẩm của những nhà ấy . Âm luật, đề mục và thi hứng của những nhà ấy .
                                   
                                  Chương thứ bảy: Các văn gia hiện đại. Cái khuynh hướng phổ thông của tư tưởng phái Tự lực văn đoàn .
                                   
                                  Tổng kết
                                   

                                   
                                   

                                  0
                                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-08 13:56:36Ct.Ly>
                                  Cảm ơn DV và chị HB. [:)]



                                  @Mọt Sách:

                                  Chắc nhờ MS xem lại và bổ sung đoạn nào thiếu nhen.

                                  Cảm ơn MS thật nhiều. [:)]
                                  Thân,
                                  NHDT


                                  Peace is the way of love
                                  0
                                  «« « 1 2 » »»