📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Báo cáo lỗi chính tả - Truyện ở Thư viện

46 trả lời, 17.782 lượt xem — Trang 1 / 2
Chào các bạn,
 
Thư quán xin chân thành cảm ơn các thành viên đọc bài phát hiện sai sót và báo cáo ở đây.
Ban quản lý sẽ tranh thủ thời gian để chỉnh sửa lại một cách nhanh chóng, gọn gàng.
 
Bạn nào có thể copy lại truyện có lỗi, và chỉnh sửa lỗi thì xin đăng bài lại ở box Hiệu đính truyện.
Xin đừng quên đưa link dẫn truyện.

 
Xin cảm ơn các bạn. 


Ghi chú :
 
Người báo cáo lỗi nên dùng lời lẽ tế nhị để giữ hòa khí và để không phụ công người đã ra sức gõ bài .

Tất cả những post không liên quan đến việc báo cáo lỗi chính tả trong thư viện, sẽ bị xoá bỏ mà không cần thông báo trước.  Cảm ơn sự thông cảm của các bạn.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-14 01:37:39huytran>
Không biết đăng ở đây có đúng chỗ không?

Thư quán có 2 truyện:





Gã râu xồm
Đỗ Quang Đình
Kiếm Hiệp

GÃ RÂU XỒM
Lâm Ngữ Đường
Truyện ngắn

Hai truyện này giống nhau không khác một chữ.

Truyện Gã râu xồm này đúng ra nên cho là truyện của Lâm Ngữ Đường, vì đây là bản do ông chấp bút và thuật lại tiểu thuyết cổ của Đỗ Quang Đình. Và nó không có liên quan gì đến kiếm hiệp nhiều lắm.
 
Truyện Những rặng núi lớn, hình của ông John Steinbeck bị post trùng 2 lần.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Huytran nhiều nhé
 
Ct.Ly sẽ sửa lại ngay
 
Chúc Huytran luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0
    Vì bài Cầu Hiền là bài cuối trong Những tấm gương xưa nên mình đọc hơi kỹ. Có vài lỗi mình đã sửa lại rồi. Duy chỉ có câu "Đại mo6.người thùy tiên giác?" thì không biết trong bản gốc thế nào? Nhờ bạn xem lại.
Thân


Cầu Hiền

 
 
Người hiền tài chân chính luôn luôn thận trọng .
Được người ta mời ra làm việc cho nước cho dân , kẻ thật có chân tài không bao giờ hấp tấp . Trước khi nhận lời hay từ khước, họ phải xem xét, suy tính kỹ càng .
Không phải làm khó để thách thức giá cao, mà chính là biết tự trọng, tự trọng một cách chân chính . Như trường hợp Khổng Minh là một .
Khổng Minh họ Gia Cát tên Lượng, là một kỳ sĩ đất Nam Dương . Có tài ngang dọc trời đất , song lấy thú ẩn dật làm vui , cùng em là Gia Cát Quân vỡ đất cày ruộng . Nhà ở trên đồi Ngọa Long Cương, nên lấy hiệu là Ngọa Long tiên sinh .
 
Ngọa Long có bốn người bạn chí thân là :
- Thôi Châu Bình ở Bác Lăng .
- Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Châu
- Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam
- Từ Nguyên Trực tức Từ Thứ .
Ngọa Long tiên sinh cũng thường tới lui cùng nhà ẩn sĩ Tư Mã Thủy Kín tức Tư Mã Huy .
Lúc Từ Thứ lên đường về Tào, tiến cử Khổng Minh cho Huyền Đức .
Huyền Đức hỏi :
- Trước đây Thủy Kính tiên sinh có bảo Bị rằng "trong hai người Ngọa Long , Phụng Sồ mà cầu được một thì an định thiên hạ " . Vậy Khổng Minh có phải Ngọa Long , Phụng Sồ đó chăng ?
Từ Thứ đáp:
- Phụng Sồ tức là Bàng Thống . Còn Ngọa Long tức là Ngọa Long tiên sinh .
Huyền Đức hết sức mừng .
Từ Thứ đi rồi Huyền Đức sắm lễ vật rất hậu, cùng Quan, Trương tới Nam Dương cầu Khổng Minh .
 
Đi được mươi dặm, thấy xa xa có mấy người đương cày bên sườn núi, vừa cày vừa hát nghêu . Bài hát có phong vị thần tiên . Huyền Đức gò cương ngựa, gọi mấy nông phu lại hỏi :
- Ai làm bài hát ấy ?
Đáp:
- Ngọa Lông tiên sinh làm .
Huyền Đức mừng thầm, hỏi :
- Nhà tiên sinh ở đâu ?
Nông phu chỉ tay, nói :
- Ở phía Nam trái núi này , có dãy gò cao, đó là gò Ngọa Long . Đầu gò, trong đám rừng thưa có một nóc nhà tranh . Đó chính là nơi Tiên Sinh cao ngọa .
Huyền Đức cảm ơn, rồi giục ngựa tiến bước .
Đi vài dặm nữa, xa xa trông thấy dãy Ngọa Long Cương, quang cảnh thật là thanh u nhã tịch .
 
Huyền Đức tới trước nhà, xuống ngựa, đích thân vào gọi cửa . Một chú tiểu đồng ra hỏi . Huyền Đức nói :
- Ta là Tả Tướng quân Nghi Thành Đình Hầu của nhà Hán, lĩnh chức Dự Châu Mục, Hoàng thúc Lưu Bị, tới đây xin bái kiến Tiên sinh .
Tiểu đồng nói :
- Danh hiệu ngài dài quá, tôi nhớ làm sao nổi !
Huyền Đức cười :
- Thế thì em cứ vào thưa rằng có Lưu Bị đến thăm .
Lấy tư cách "phương diện quốc gia " xin vào không được, bèn lấy tư cách cá nhân để xin gặp . Nhưng tiểu đồng lại đáp:
- Rất tiếc, Tiên Sinh mới vừa đi vắng khi sáng .
- Tiên sinh đi đâu ?
- Khi nơi này, khi nơi nọ, không thể biết được .
- Liệu đến bao giờ thì Tiên sinh về ?
- Cũng không biết chừng nào mà đoán ! Khi thì đôi ba ngày, khi thì năm bảy ngày, có khi đến mươi, mươi lăm hôm ...
 
Huyền Đức buồn bã, dùng dằng chưa quyết nên nán lại hay ra về, thì Trương Phi giục :
- Tìm không gặp thì về quách cho xong .
Huyền Đức ôn tồn đáp:
- Hãy đợi một lát nữa xem sao .
Quan Vũ bàn :
- Hãy tạm về, rồi cho người tới dò la, xem lúc nào ông ấy có nhà hãy đến .
Huyền Đức nghe lời, và dặn chú tiểu đồng:
- Chừng nào Tiên sinh về thì em thưa rằng có Lưu Bị đến bái kiến nhé .
Dặn rồi lên ngựa ra về .
 
Đi được vài dặm, dừng ngựa ngoảnh lại ngắm phong cảnh Ngọa Long một lần nữa . Quả thấy : Núi không cao mà xinh tươi, nước không sâu mà trong xanh, đất không rộng mà phì nhiêu, bằng phẳng, rừng không lớn mà xanh mát sum sê . Vượn từng bâỳ, hạc từng đàn, quấn quít nhau trên những khóm tùng rặng trúc, dờn dờn sắc lục lẫn màu xanh ...
Còn đương thưởng lãm thì chợt thấy một người dung mạo hiên ngang, phong tư tuấn tú, đầu đội khăn tiêu dao, mình mặc áo thụng thâm, tay chống gậy lê, từ con đường nhỏ ven núi đi ra . Huyền Đức đoán :
- Chắc là Ngọa Long tiên sinh đây .
Liền xuống ngựa bước tới thi lễ .
Hai bên xưng tên họ, thì người ấy là bạn của Khổng Minh tên là Thôi Châu Bình ở Bác Lăng . Hai người ngồi đối diện trên phiến đá ven rừng, đàm luận cổ kim . Quan, Trương chấp tay đứng hầu . Cảm phục tài biện thuyết, Lưu Bị bèn mời về huyện chơi . Thôi Châu Bình từ chối rồi vái dài một vái mà đi .
 
Về Tân Dã được vài hôm,  Huyền Đức cho người đi dò la tin tức Khổng Minh . Có tin báo:
- Ngọa Long tiên sinh đã về .
Huyền Đức liền sai thắng ngựa đi . Trương Phi nói :
- Phỏng một kẻ cày ruộng như thế , hà tất đại ca phải thân đi tìm ? Cứ cho người tới gọi cũng được chứ .
Huyền Đức gắt :
- Sao ăn nói lạ thế ? Há không nghe lời thầy Mạnh dạy : Muốn gặp người hiền mà không xử theo Đạo thì có khác gì muốn vaò nhà, mà trước khi bước đã đóng cửa lại ? Khổng Minh là bậc đại hiền đời nay, mà toan cho người đến gọi sao ?
Bèn lên ngựa đi tìm Khổng Minh . Trương Phi đành im lặng lên ngựa đi theo .
 
Lúc bấy giờ đang giữa mùa đông, trời rét như cắt thịt , mây bủa đầy trời . Đi được mấy dặm, chợt gió bấc nổi lên ào ào, rồi mưa tuyết bay phơi phới ...Núi non trong phút chốc bao trùm một màu trắng phau phau và óng a óng ánh ...Trương Phi vừa đi vừa lẩm bẩm :
- Trời rét cắt ruột, váng đóng đầy đất thế này, đến dụng binh còn chẳng được, tội gì lặn lội đi cầu lụy hạng người vô ích ! Đi về quách để tránh gió tuyết còn hơn .
Huyền Đức nói :
- Chính ta muốn cho Khổng Minh thấu rõ lòng ân cần của ta . Nếu hai em sợ rét thì hãy về trước .
Trương Phi nói :
- Chết còn chưa sợ, sợ gì rét . Chỉ sợ Đại ca lao tâm tổn sức đó thôi .
Lưu Bị nói :
- Thế thì đừng nhiều lời, cứ lặng lẽ mà đi .
 
Khi gần đến thảo lư, chợt nghe trong quán rượu bên đường có tiếng ngâm nga . Lưu Bị dừng ngựa lắng nghe, rồi xuống ngựa bước vào quán .
Trong quán hai người đang ngồi đối ẩm. Một người mặt trắng râu dài, một người mày xanh trán rộng , cả hai đều có phong thái thần tiên .
Lưu Bị chắc rằng Khổng Minh là một trong hai người . Nhưng hỏi ra mới biết người râu dài là Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Châu, còn người trán rộng là Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam . Lưu Bị xin được hầu chuyện . Thạch, Mạnh từ khước . Lưu Bị bèn lên ngựa đến Ngọa Long Cương .
Đến nơi hỏi tiểu đồng:
- Hôm nay tiên sinh có nhà không ?
Tiểu đồng đáp:
- Thưa có, hiện đương đọc sách ở trong nhà .
Lưu Bị mừng rỡ theo chân đồng tử đi vào . Đến cửa trong thấy hai hàng chữ lớn viết hai bên :
Đạm bạc dĩ minh chí,
Ninh tĩnh dĩ trí viễn .
Huyền Đức xem nét bút tinh diệu và thưởng thức ý nghĩa cao thâm của văn chương, bỗng nghe tiếng ngâm thơ, bèn nép bên cửa nhìn vào : giữa nhà một người trẻ tuổI, mặt sáng mắt sáng, đang ngồi bên lò sưởi mà cao ngâm .
Đợi tiếng ngâm dứt Huyền Đức bước vào thi lễ .
- Bị này  ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu mà chưa có dịp bái hội . Gần đây được Từ Nguyên Trực giới thiệu , Bị đã tới tiên trang một lần, nhưng rủi không được gặp . Hôm nay dầm tuyết băng gió tới đây, may được thấy tôn nhan, thật là vạn hạnh .
 
Người tuổI trẻ vội vàng đáp lễ :
- Tướng quân có phải Lưu Dự Châu muốn gặp anh tôi đó chăng ?
Lưu Bị ngẩn người ! Đoạn hỏi :
- Thế ra tiên sinh không phải Ngọa Long ?
- Thưa tôi là em ruột Ngọa Long, tên Gia Cát Quân . Nhà tôi có ba anh em. Anh trưởng là Gia Cát Cẩn hiện ở giang Đông giúp Tôn Trọng Mưu . Khổng Minh là anh thứ hai tôi vậy .
Sau khi nói đôi câu chuyện cùng Gia Cát Quân, Lưu Bị viết một bức thư để lại rồi từ giã ra về .
 
Thấm thoát hết đông, sang xuân. Huyền Đức chọn ngày lành giờ tốt , chay tịch ba hôm, tắm gội nước hương, thay đổi khăn áo, sắm sửa đi Ngọa Long Cương lần nữa . Quan, Trương nghe tin, rủ nhau vào khuyên can . Lưu Bị nhất định không nghe . Quan, Trương buộc lòng phải đi theo .
Khi còn cách thảo lư độ nửa dặm đường , Huyền Đức xuống ngựa đi bộ . Bỗng gặp Gia Cát Quân. Huyền Đức vội thi lễ :
- Hôm nay lệnh huynh có nhà không ?
Quân đáp:
- Thưa có. Mới về chiều hôm qua . Hôm nay tướng quân có thể cùng gia huynh hội kiến .
Nói xong vùn vụt đi thẳng . Trương Phi giận rằng vô lễ, gườm gườm nhìn theo . Lưu Bị gạt đi, rồi giục Quan, Trương tiến bước .
Đến nơi hỏi thăm tiểu đồng . Tiểu đồng đáp:
- Tiên sinh ngủ chưa dậy .
Lưu Bị bảo Quan, Trương đứng đợi ngoài cổng, rồi nhẹ nhàng từng bước đi vào . Thấy Khổng Minh đang nằm ngửa trên ghế mà ngủ . Lưu Bị bèn chấp tay đứng dưới thềm mà đợi.
 
Đợi ngót nửa giờ mà Khổng Minh vẫn chưa dậy . Quan, Trương nóng ruột bước vào xem . Thấy Lưu Bị chấp tay đứng hầu, Trương Phi nổi nóng nói :
- Sao hắn ngạo mạn đến thế ? Thấy anh ta đứng đợi dưới thềm mà hắn vẫn nằm khểnh giả ngủ . Để em ra nhà sau lấy lửa đốt nhà xem hắn có chịu dậy chăng .
Nói rồi toan thực hiện. Quan Công phải can ngăn hai ba lần, Phi mới thôi . Huyền Đức nghe ồn, quay lại bảo hai em lui ra ngoài cổng rồi đứng chấp tay chờ nữa . Bỗng Khổng Minh vặn mình như muốn dậy . Huyền Đức mừng thầm . Nhưng Tiên sinh lại quay mặt vào phía trong mà ngủ nữa ! Đồng tử thấy khách đợi lâu quá , toan tới đánh thức chủ , nhưng Huyền Đức ngăn lại, và kiên nhẫn đứng chờ ...chờ mãi ...Ngót một giờ nữa Khổng Minh mới tỉnh giấc . Vừa mở mắt đã ngâm thơ:
Đại mo6.người thùy tiên giác ?
Bình sinh ngã tự tri
Thảo đường xuân thụy túc
Song ngoại nhật trì trì .

Nghĩa là :
Mộng lớn ai đà tỉnh ?
Bình sinh ta biết ta
Lều tranh mơ giấc thắm
Bóng ác xế song hoa

 
Ngâm dứt, trở mình hỏi tiểu đồng :
- Có tục khách nào đến chăng ?
Tiểu Đồng thưa :
- Có Lưu Hoàng thúc đứng đợi từ lâu .
Khổng Minh vội ngồi dậy quở tiểu đồng:
- Sao mày không báo ngay ? Để ta vào thay áo đã .
Nói rồi bước vào nhà trong , lâu đến nửa giờ nữa, mới chỉnh tề khăn áo ra tiếp khách .
 
Huyền Đức trông thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như bạch ngọc, mắt sáng như sao mai, đầu đội luân cân , mình khoác áo lông hạc, phiêu nhiên đường bệ nhưng đượm phong thái thần tiên . Liền vái xuống làm lễ . Khổng Minh đáp lễ . Rồi chủ khách chia ngôi thứ mà ngồi .
Chung trà thấm giọng xong . Huyền Đức đem tỏ hết nỗi lòng . Khổng Minh bày giải qua ý kiến đối với thời cuộc . Rồi sai tiểu đồng đem bức địa đồ, treo giữa nhà, chỉ cho Huyền Đức thấy rõ địa thế trong thiên hạ . Lưu Bị hết sức khâm phục , và khẩn cầu Khổng Minh ra giúp mình cứu thế , an bang . Khổng Minh không chịu . Huyền Đức nghẹn ngào năn nỉ :
- Nếu tiên sinh không ra tay, thì sinh linh thiên hạ còn trông mong ai cứu vớt ?
Nói xong không cầm được nước mắt .
Nhận thấy Huyền Đức quả thành thật hết lòng, bèn nhận lời .
Thế là Lưu Bị được Khổng Minh và chia ba thiên hạ , dựng nên nghiệp đế vương .
Xem thế thì lòng thành thắng tất cả . Và đối với kẻ hiền sĩ, người muốn cầu chỉ nên dùng tấc lòng thành mà thôi .



Đăng nhập để trả lời
0
:) là

đại mộng thuỳ tiên giác

thanks bạn

Đăng nhập để trả lời
0
Biết mùa này ai cũng bận nhưng có 1 số lỗi có thể gây ngộ nhận, nên tôi mạn phép liệt ra ở đây:
 
Quyển "Thân phận trí thức" chương




Dẫn
trong thư viện trình bày như sau:
 
Thân phận trí thức

Dẫn
Phần tử trí thức dưới nhãn quan chính trị
 
"Phần tử trí thức dưới nhãn quan chính trị" là phụ đề (sub-title) của cả quyển "Thân phận trí thức". Như vậy, tên nguyên của quyển sách này là "Thân phận trí thức - Phần tử trí thức dưới nhãn quan chính trị". Đó không phải là tựa đề của phần dẫn.
 
Truyện [/color]Một ngày của Ivan Denisovich[/color] , dịch giả là Đào Tuấn Ảnh chứ không phải Đào Anh Tuấn.
 
Truyện Thưa ông Chủ nhiệm có dạng một bức thư. Ở đầu thư có xưng hô "Thưa ông chủ nhiệm," đó thuộc về thân truyện. Khi tôi đánh máy lên, chắc bạn nào đem vào thư viện tưởng là tựa truyện nên cắt đi mất, đọc thấy thiếu thiếu.


 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-31 14:55:34Ct.Ly>
Chào HuyTran

Để Ct.Ly vào sửa lại nhé

Cảm ơn Lucern cho biết và Diên Vỹ sớm trả lời nhé

Ct.Ly sẽ sửa lại tất cả

cảm ơn mọi người

Chúc HuyTran, Lucern và Duyên Vỹ một năm mới nhiều sự may mắn, hạnh phúc và an lành nhé




📎 bonne année 2
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-29 17:52:23Lucern>
Tớ cứ băn khoăn mãi không biết có nên viết không, chỉ là vài lỗi nhỏ thôi, tớ ngồi không nên mắt tinh chứ mà gõ xong một bộ truyện dài như Diên vỹ thì không biết là bao nhiêu lỗi. Thôi có bạn nào sửa lại thì bộ truyện quý này là càng đẹp hơn: Những tấm gương xưa - Miếng ăn:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn2n0nqn31n343tq83a3q3m3237n1n&cochu=

Cự Đà xuôi dòng chay trốn   ---- chạy
rụng một chiếc đầ    ----đầu       
chuyện tương tợ   ----tự?
lào giặt vải bên sông   ----lão
Xin kẻ thêm một chuyện nữa   ---kể
chỉ nhớ mà mại rằng   ----chỉ nhớ lại mà rằng?
mở tiệc đã quần thần   -----đãi
Ngày không nhớ tên lính hầu đã được ngày nhịn món chả ngon cho ăn đó ư   ----ngài
Miếng ăn có tác dụng thế ấy, thì người có được miếng ăn ngon tưởng nên quên những người ở quanh mình, nhất là những người chia sớt công lao khổ, hoặc nhiều hoặc ít, nghĩa là chớ nên dành hưởng trọn miếng ngon một mình ----------tưởng không nên quên
đêm nhau lên núi Thú Dương   ----đem
cụ Nguyễn Công Trú    ---Trứ
sắm sét   ---sấm

Lời nói: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn2n0nqn31n343tq83a3q3m3237nnn&cochu=
vần thương mẹ   ---vẫn
im lặng nhầm lúc   ---nhằm

Lưỡi không xương: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn2n0nqn31n343tq83a3q3m3237n2n&cochu=
Hắn còn mua xác ấy được của ai mà sợ   -----mua xác được của ai?
mọc miệng   ---vào
dắt vợ cơn sang nước khác   ---con
không sách kịp Tô Tần   ----sánh
tức mình đến phải mắn    ---mắng

Đăng nhập để trả lời
0
Tôi là người không có chức vụ gì ở đây, chỉ là tiện đâu nghĩ đấy, mong bạn Lucern vui lòng không trách.
Đã tìm được lỗi chính tả, bạn nên copy lại toàn chương, sửa lỗi, rồi đăng vào mục Hiệu đính. Như vậy rất đỡ mất công người sửa truyện phải đi dò khắp quyển truyện để tìm những lỗi đó. Đã được bạn hiệu đính rồi, người sửa chỉ việc copy lại lần nữa là xong.
 
Chưa chúc năm mới các bạn vì tôi sẽ còn trở lại trước khi đó.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-29 23:46:31Ct.Ly>
Xin tiếp thu ý kiến của bạn huytran
Miếng Ăn

Con Người có ăn mới sống. Cho nên miếng ăn quý nhất đời. Thầy Mạnh Kha nói " Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi thiên" . Nghĩa là " Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm trời" . Lấy ăn làm trời tức là quý lắm vậy.
Miếng ăn rất quý vì nuôi sống người, nhưng cũng rất tồi vì thường con người vì nó mà chém giết lẫn nhau, vì nói mà xem thường nhân phẩm của mình. Như mang tiếng là " ham ăn", là "háu ăn " , là " chực ăn ", là " đồ ăn vụng " , là " phường ăn tạp " ..vân vân ..., nghe thật không sướng tai tí nào cả .
Nhiều khi chỉ vì một miếng ăn, mà người đời quên cả đại nghĩa. Như Cự Đà nước ta , chẳng hạn.
Cự Đà làm quan triều vua Trần Thái Tông (1225-1258).
Một hôm nhà vua ban xoài đầu mùa cho các quan trong triều. Cự Đà không được phần, đem lòng oán giận.
Năm Đinh Tị (1257), giặc Mông Cổ sang đánh nước ta. Quân ta chống không nổi. Vua và triều thần phải bỏ kinh đô, chạy về đóng ở bên sông Thiên Mục tỉnh Hưng Yên. Cự Đà xuôi dòng chạy trốn, xảy gặp Thái Tử Trần Khoán đi thuyền ngược lên . Thái Tử gọi Cự Đà, nói :
- Quân giặc hiện ở đâu ?
Cự Đà lạnh lùng đáp :
- Hãy tìm bọn được ăn xoài mà hỏi .
Vừa đáp vừa bơi thuyền đi thẳng.
Được ít lâu quân ta đánh đuổi được quân Mông Cổ ra khỏi nước. Trở về kinh đô, Thái Tử tâu vua cha theo phép nước trị tội Cự Đà . Thái Tông đáp:
- Lỗi tại ta.
Rồi bỏ qua không hỏi đến .
Chao ôi ! Chỉ vì một miếng xoài không đáng giá bao lăm, mà đến nỗi bỏ nghĩa tôi chúa ! Nếu gặp phải ông vua hẹp lượng, ít ra cũng rụng một chiếc đầu !
Ca dao có câu :

Miếng ăn là miếng tồi tàn
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu


Đó là trường hợp Cự Đà vậy .

Nghe câu chuyện Cự Đà chắc có bạn tưởng là một chuyện độc nhất xưa nay . Thưa không. Xưa nay hiếm gì chuyện tương tự . Tôi xin kể thêm một chuyện nữa làm tin : chuyện người đánh xe của Hoa Nguyên, đời Xuân Thu ở Trung Quốc :
Hoa Nguyên là tướng nước Tống.
Quân Sở sang đánh Tống. Vua Tống sai Hoa Nguyên đem quân chống cự . Trước khi xuất chinh, Hoa Nguyên làm thịt dê đãi sĩ tốt . Người đánh xe cho Hoa Nguyên là Dương Châm không được dự tiệc. Khi ra trận Dương Châm bảo :
Tiệc dê hôm qua đặt dưới quyền ngài . Công việc hôm nay ở trong tay tôi .
Nói xong đánh xe chạy thẳng vào giữa địch. Hoa Nguyên bị giặc bắt, quân Tống thua to . Binh Sở lấy được hơn bốn trăm chiến xa với chiến mã bọc thiết giáp, bắt sống được trên 250 tù binh, và cắt tai hơn trăm quân tử trận . Còn Dương Châm thoát được nạn .
Vua Tống định dâng vua Sở một trăm chíên xa và một trăm cỗ xe tứ mã để chuộc Hoa Nguyên . Nhưng lễ vật chưa đưa sang thì Hoa Nguyên đã trốn khỏi tay địch. Về Tống gặp Dương Châm trước thành, sợ Châm lo ngại, Hoa Nguyên ngỏ lời an ủi:
- Tại con ngựa của nhà ngươi nên mới xảy ra cớ sự .
Dương Châm đáp:
- Đâu phải tại ngựa, chính tại người .
Rồi bỏ trốn sang nước Lỗ .
Sách xưa bàn rằng :
- Dương Châm không đáng làm người . Vì hờn riêng mà làm cho nước bị thua, dân bị hại . Trước pháp luật, không tội nào nặng hơn . Kinh Thi có câu " Nhân chi vô lượng " dùng để chỉ Dương Châm thật xứng đáng .
Đó là vì một miếng ăn mà sanh thù .

Miếng ăn đã sanh được thù, thì lẽ rất nhiên cũng sanh được ân vậy .
Như bát cơm Phiến Mẫu của Hàn Tín.
Hàn Tín là một trong tam kiệt đời Hán .
Lúc còn hàn vi, Tín thường mang gươm đi lang thang hết nơi này đến nơi nọ . Một hôm bị đói cắt ruột, xảy gặp một bà lão giặt vải bên sông, Biết Tín đói, bà lão nhân có mang theo bát cơm, bèn lấy cho ăn. Hàn Tín ghi ơn. Sau mang ấn soái giàu có muôn xe, tìm đến bên sông, thì bà lão đã mất . Để tỏ tấc lòng thành cùng người đã khuất, Hàn Tín lấy ngàn thoi vàng bỏ xuống sông . Không ai biết tên bà lão là gì, nên gọi là bà Phiếu Mẫu, nghĩa là bà mẹ phiếu vải . Và để nói đến ơn người có hảo tâm nhịn miệng cứu người, khách văn thơ thường dùng thành ngữ " bát cơm Phiếu Mẫu :.
Xin kể thêm một chuyện nữa :
Chuyện này cũng như chuyện Hàn Tín, đã xảy ra bên Tàu, bởi vì nước Tàu đất rộng người đông nên mới lắm chuyện để cho những người hay ngứa mồm ngứa mép như tôi có chuyện mà nói cho đỡ buồn . Chuyện xảy ra thời nào và nước nào tôi quên mất, chỉ nhớ lại mà rằng :
Một hôm nhà vua mở tiệc đãi quần thần. Trong bữa tiệc có món chả cá mùi thơm ngon không thể tả . Một người lính hầu thèm nhiểu nước dãi . Một quan hàn lâm trông thấy thương tình. Khi món chả đưa đến, quan hàm lâm lấy phần mình trao cho người lính hầu và nói :
- Ta no quá không ăn được nữa, nhà ngươi ăn hộ ta .
Người lính hầu rất lấy làm ơn .
Sau một thời gian, trong nước có loạn. Giặc đánh vào kinh đô, vua quan mạnh ai nấy chạy . Giặc đuổi theo giết hại rất nhiều . Quan hàm lâm sắp bị khốn thì một tên lính liều thân cứu nạn. Không biết là người nào mà lại hết lòng với mình đến thế , quan mới ân cần hỏi thăm. Người lính cung kính đáp :
- Ngài không nhớ tên lính hầu đã được ngài nhịn món chả ngon cho ăn đó ư ?
Miếng ăn có tác dụng thế ấy, thì người có được miếng ăn ngon tưởng không nên quên những người ở quanh mình, nhất là những người chia sớt công lao khổ, hoặc nhiều hoặc ít, nghĩa là chớ nên dành hưởng trọn miếng ngon một mình . Và người quí món ăn hơn nhân nghĩa, cũng nên dẹp bớt lòng oán giận, những khi miếng ăn không vào miệng được, vì mối thù do miếng ăn sanh ra thường kéo theo những hậu quả không được tốt, như trong chuyện Cự Đà, Dương Châm .

Mà nghĩ cũng nực cười : Người phàm chúng ta thì bám vào miếng ăn, khiến miếng ăn gây được ân được oán . Còn các bậc thánh lại bỏ ăn để cho thiên hạ sợ . Như thánh Cam Địa (Gandhi) Ấn Độ .
Thánh Cam Địa cứ mỗi khi phản đối một chính sách gì của người Anh, mà người Anh không chịu sửa đổi, thì thánh nhịn ăn cho đến khi có kết quả mới thôi, có khi nhịn đói hàng tháng .
Một trường hợp khác là câu chuyện về hai hoàng tử nước Cô Trúc là Bá Di và Thúc Tề .
Bá Di, Thúc Tề là hai anh em ruột . Bá Di là anh , Thúc Tề là em.
Vua Cô Trúc băng hà di chiếu truyền ngôi cho Thúc Tề . Thúc Tề bảo ngôi ấy của anh nên nhường lại cho Bá Di . Bá Di nhất định không nhận vì không dám trái lệnh vua cha . Hai anh em người thì lấy phụ mệnh làm tôn, người thì lấy thiên luân làm trọng, cứ nhường qua nhường lại cho nhau mãi . Rốt cuộc không ai nhượng cho ai được, cả hai bèn bỏ ngôi, đi tìm nơi ẩn dật .
Cuối đời nhà Thương, vua Trụ dâm dật tàn bạo, nhân dân đồ thán . Vũ Vương đương còn trong tang chế, vì dân phải cử binh đi đánh Trụ . Bá Di, Thúc Tề nghe biết, ra nắm dây cương ngựa, cản lại và nói rằng :
- Cha chết chưa chôn, mà đã lo việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không ? Bầy tôi đánh vua để cướp nước , thế có gọi là nhân được không?
Những người thân cận Vũ Vương, tức giận toan giết. Thái Công (tức Lã Vọng ) can:
- Không nên, hai ông là người Nghĩa, phải kính trọng.
Rồi bảo quân lính ôm hai ông lại để ngựa vua Vũ đi .
Khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù . Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, đem nhau lên núi Thú Dương, hái rau Vi mà độ nhật, và có bài Thái Vi (Hái rau Vi ) rằng :
Đăng bỉ Tây Sơn hè, thái kỳ Vi hĩ.
Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kỳ phi hĩ !
Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề,
Ngã an thích quy hĩ ?
Vu ta tồ hề, mệnh chi suy hĩ !

Nghĩa là :
Lên núi Tây hề, hái nắm rau Vi
Lấy bạo thay bạo hề, còn phải trái gì ?
Thần Nông, Ngu , Hạ đã mai một hề,
Ta biết đâu mà qui y
Nghĩ thảm thương hề, thời mạng đã suy !

Sau có người đến bảo rằng :
- Nhà Chu nối ngôi trời trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, mà lại ăn rau núi này thì chẳng phải ăn rau nhà Chu thì là rau ai ?
- Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.
Cổ nhân gọi hai ông là Thánh Chi Thanh, nghĩa là hai vị thánh trong sạch .
Và cụ Nguyễn Công Trứ có bài thơ vịnh hai ông rằng :
Danh chẳng màng mà lợi chẳng mê,
Ấy gan hay sắt hỡi Di, Tề ?
Gặp xe vua Vũ tay dừng lại,
Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi .
Cô Trúc hồn về mây ngụt ngụt,
Thú Dương danh để đá tri tri .
Cầu NHÂN đã được NHÂN thời chớ,
Cũng chẳng hờn chi chẳng trách chi .


Nếu người đời ai cũng như Bá Di, Thúc Tề thì câu " dĩ thực vi thiên " của thầy Mạnh không đứng vững . Nhưng rất tiếc từ xưa đến nay, từ Đông chí Tây chỉ có một Bá Di, một Thúc Tề . Cho nên trong thế gian thường sanh gió mưa sấm sét vì mếng ăn . Để tránh những cảnh tượng không nên thơ vì miếng ăn gây ra, chúng ta nên nhớ câu cách ngôn " Manger pour vivre et non vivre pour manger", nghĩa là " Ăn để sống chớ không phải sống để ăn .




[/align]



Lời Nói

Trời sanh hai lỗ tai để nghe, hai con mắt để nhìn, hai lỗ mũi để thở, thế mà chỉ sanh có một lỗ miệng, lại bắt kiêm nhiệm đến hai chức vụ là ăn và nói .
Do đó, Xưa kia có một anh chàng thường chê hoá công không công , mà cũng không tuyệt xảo . Một hôm anh chàng mua được một xâu nem chua đem về nhà, rồi xách chai đi mua rượu, định sẽ rủ vài ba ông bạn để đánh chén mua vui. Nhưng khi mua rượu về thì không thấy xâu nem bèn hỏi chị vợ. Vợ Đáp:
- Nem mới chua, ngon quá, nên vui miệng em ăn hết rồi.
Nói đoạn kéo chồng ra chỉ đống lá. Anh chàng tức mình nện vợ một tát. Chị vợ liền nổi tam bành lên .... Mà người đàn bà khi nổi tam bành lên thì, chao ôi, tất cả những giông tố ở trong lòng đều tuôn ra nơi cửa miệng. Anh chàng hãi hùng trốn mất, Sau đó anh ta giác ngộ rằng:
- Đấng tạo hoá thật là chí công chí minh. Chỉ có một lỗ miệng mà ăn đến thế ấy, nói như thế ấy, huống hồ cơ quan ăn, cơ quan nói mà cũng sanh cả cặp như cơ quan thấy, nghe, ngửi thì ai chịu nổi, ai sống nổi với chúng.
Lời nói của anh chàng kia thật chí lý thay !
Cho nên từ xưa đến nay ai cũng sợ lỗ miệng. Nói sợ lỗ miệng thì không đúng lắm. Phải nói là ai cũng sợ "khả năng chuyên môn " của cơ quan ấy, nghĩa là sợ việc ăn và việc nói, tức là sự đưa vô, đưa ra của lỗ miệng.

Hai việc đều đáng sợ, nhưng sự đưa vô, tức là ăn không dễ sợ bằng sự đưa ra, tức là nói. Bởi vì có đói mới ăn được và có thức ăn mới có thể ăn. Không đói, không thức ăn, thì dù có tham ăn cho mấy cũng không ăn được. Đến việc nói, thì không nói có, có nói không, muốn hại ai thì đặt đủ điều để vu cáo, muốn bưng bợ ai thì hòn chì cũng chuốt ngót cho thành bạc trắng đồng đen. Cụ Nguyễn Công Trứ có câu:
Lúc ghét dệt thêu ngay hoá vẹo,
Khi thương tô điểm méo nên tròn.


Thật là dễ sợ !
Vì sợ lời nói làm hại cho bản thân, làm hại cho kẻ khác, nên cố nhân rất thận trọng lời nói. Để giới ngôn, người nước Lỗ đúc một pho tượng bằng đồng cao gần một trượng, lỗ miệng khoá ba ống khóa. Người nước Tề sang thấy, không hiểu ý nghĩa ra sao mới tìm người mà hỏi, nhưng không ai chịu nói rõ . Sau cùng gặp một ông lão bảo cho biết rằng:
- Bức tượng ấy cụ thể hóa câu cách ngôn " tam giam kỳ khẩu " nghĩa là " lỗ miệng khoá ba khóa ".
Người nước Tề lại hỏi :
- Tại sao lại khoá đến ba khóa ?
Ông lão đáp :
- Nếu chỉ khoá một thì khóa ở nơi nào ? Khóa ở nơi mép bên hữu ư ? Thì giữa miệng và mép bên tả hở . Khóa ở mép bên tả ư ? Thì giữa miệng và mép bên hữa hở . Khoá ở giữa miệng ư ? Thì hai bên mép hở . Khóa một thì hở hai nơi . Khóa hai thì còn hở một. Mà miệng đã hở ít hay hở nhiều gì cũng đều có hại. Muốn thật kín thì phải khóa ba khóa vậy .
Giữ mồm giữ mép đến thế thật là triệt để .

Xem những sự tích xưa còn để lại thì chúng ta thấy rằng người đời xưa cũng như đời nay đều thích nói , và thích nói nhiều.
Nói, mục đích để truyền sang người ý muốn của mình. Như vậy cần chi phải nói nhiều cho hao hơi, mà chỉ tìm cách nói làm sao cho lời nói của mình lọt vào tai người nghe là đạt được mục đích. Như cách nói của Trần Tử Ngang sau đây là một

Trần Tử Ngang là một thi nhân đời Đường. Thơ của Trần làm rất nhiều và rất hay, nhưng ít người biết đến.
Năm Vĩnh Thuần (682) đời Vua Đường Cao Tôn, Trần đem thi phẩm của mình ra Kinh Đô, nhưng tìm mãi không được người giới thiệu. Một hôm ra chợ thấy một người bán một cây Hồ Cầm mà giá đòi đến một vạn quan tiền. Ai nấy đều ngơ ngác hỏi nhau ; " Đàn này quý ở chỗ nào mà giá đắt đến thế ? " . Một người giàu nhất kinh đô nghe đồn đến xem, nhưng không dám mua. Trần không mặc cả, dốc túi bỏ ngay vạn quan, mua cây đàn. Thiên hạ xúm lại hỏi duyên cớ. Trần đáp :
- Đó là một vật quý nhất đời . Nhưng nay tôi có việc gấp phải đi. Nếu ai muốn biết thì ngày mai đến nơi tôi trú ngụ ở xóm Tuyên Dương, tôi sẽ giải thích rõ .
Sáng hôm sau, thiên hạ kéo đến nhà trọ của Trần đông như hội. Rượu thịt đãi khách đã bày sẵn. Khi chén đã cạn, Trần nâng cây đàn lên nói rằng:
- Tôi là Trần Tử Ngang, quê ở Tứ Xuyên, có hơn một trăm bài thơ đưa đến Kinh đô mà chẳng ai biết cho. Còn cây đàn Hồ Cầm này là một vật nhỏ mọn thì xúm nhau lại xem ! Than ôi ! Chốn văn vật này, ngờ đâu không một ai biết người biết của !
Nói xong đập cây đàn vỡ tan, rồi lấy thơ mình ra phân phát cho mọi người. Chỉ trong một ngày, những bài thơ của Trần Tử Ngang phát ra đã truyền tụng khắp đây đó . Quan Tư Không Vương Thích nức nở khen rằng văn chương đáng đứng đầu thiên hạ .
Năm ấy, Trần đi thi đỗ tiến sĩ, làm chức Tả Thập di.

Được ít lâu, vua Cao Tôn băng hà, Vũ Hậu chấp chính. Trần được thăng Lân Đài Chính sự. Vũ Hậu giết hại Tôn thất, làm nhiều điều dâm loạn, không ai dám hé môi, chỉ có Trần dâng sớ can gián, lời lẽ chính đáng, được Vũ Hậu nghe theo.
Nói cho nghe theo, chẳng những lời nói phải khéo léo, cách nói phải hoà nhã, mà còn phải nhắm đối tượng. Đức Khổng Tử dạy rằng :
- Trung nhân dĩ thượng, khả dĩ ngữ thượng dã. Trung nhân dĩ hạ, bất khả dĩ ngữ thượng dã .
Nghĩa là: từ bậc trung trở lên thì có thể dùng lời cao mà nói. Từ bậc trung trở xuống thì không thể dùng lời nói cao mà nói được.
Các nhà du thuyết mà thành công là nhờ biết rõ đối tượng. Lôi cuốn được nhiều người theo, từ xưa đến nay cũng phải chịu Trương Nghi và Tô Tần thời Chiến Quốc. Nhưng đó là hai nhà du thuyết chuyên nghiệp, nói giỏi là lẽ tất nhiên. Có nhiều người, thỉnh thoảng mới nói, mà nói rất ít, mà lời nói có hiệu quả hơn trăm nghìn lời đại hải tràng giang. Như Dĩnh Khảo Thúc.

Dĩnh Khảo Thúc là người nước Trịnh thời Chiến Quốc.
Vua nước Trịnh là Trang Công vì mẹ làm chuyện phạm pháp quá đáng, bắt đày đi xa và ông thề rằng:
- Bất cập hoàng tuyền vô tương kiến dã .
Nghĩa là " Không xuống suối vàng thì không cùng thấy mặt ".
Đình thần nhiều người khuyên can, nhưng nhà vua nhất định không đổi ý, lại ra lệnh rằng hễ ai còn đề cập đến việc ấy nữa thì sẽ bị tử hình. Ai nấy đều sợ .
Dĩnh Khảo Thúc nghe tin, bắt một con chim vào dâng cho Trang Công. Nhà vua hỏi chim gì. Tâu rằng:
- Đó là giống chim bất hiếu. Lúc nhỏ mẹ tha mồi nuôi cho đến lớn. Lớn lên bắt mẹ ăn thịt. Vì vậy người đời rất ghét, hễ bắt được nhất thiết không tha .
Kịp người đầu bếp dâng thịt dê. Nhà vua lấy một miếng ban cho Dĩnh Thúc. Dĩnh Thúc bái lĩnh, nhưng không ăn, lấy lá gói kỹ cất vào tay áo. Nhà vua lấy làm lạ hỏi. Tâu rằng:
- Tôi còn mẹ già, từ bé chưa bao giờ được ăn món ngon, nên tôi nhịn để về dâng cho mẹ .
Nhà vua cảm động nói:
- Ngươi thật có phước còn mẹ để nuôi. Ta đây không có mẹ !
Dĩnh Thúc giả bộ thất kinh:
- Đại Vương nói gì lạ thế ? Thái hậu vẫn còn sức khoẻ kia mà ?
Trang Công ứa nước mắt, thuật lại chuyện mẹ con bất hòa và lời thề đã lỡ thốt. Dĩnh Thúc tâu:
- Nếu Đại Vương còn thương tưỏng đến Thái Hậu thì phá lời thề ấy có khó gì. Đại Vương cho đào một hầm thật sâu ở dưới đất, rước Thái hậu xuống trước, rồi Đại Vương sẽ xuống hội kiến và rước Thái Hậu về.
Nhà vua cả mừng, làm theo lời Dĩnh Thúc. Mẹ con gặp gỡ ôm nhau mà khóc, bao nhiêu buồn giận đều theo nước mắt mà tan.
Rước Thái Hậu về cung, Trang Công nói cùng Dĩnh Khảo Thúc:
- Nếu không có nhà người chỉ bảo thì ta có khác gì giống chim.
Liền phong tước lộc cho Dĩnh Thúc và cho làm quan tại triều.
Dĩnh Thúc thành công là nhờ biết rõ tâm lý của Trang Công: Giận mẹ nhưng vẫn thương mẹ. Cho nên trước lấy sự bất hiếu của loài chim làm cho nhà vua nhột ý, sau mới đem lòng hiếu thảo của chính mình ra để làm cho nhà vua động lòng, rồi mới đi vào sự việc một cách êm nhẹ . Đó là cách dùng mây để tả trăng vậy.
Chắc có bạn hỏi:
- Ở nước ta xưa nay có người biết nói , nghĩa là nói ít mà gây ảnh hưởng nhiều, như Trần Tử Ngang, Dĩnh Khảo Thúc, chăng?
Thưa không hiếm.
Tôi xin chứng minh bằng một câu chuyện xảy ra thời Pháp thuộc, mà nhân vật trong câu chuyện là cụ Phan Sào Nam.
Cụ Phan bị thực dân Pháp bắt về an trí tại Huế. Cụ có một chiếc thuyền thường neo dưới gốc cây sung nơi bến Ngự .
Một hôm người đi đường thấy thuyền của cụ treo ở trên cây, ai nấy đều lấy làm lạ. Có người làm dạn vào hỏi nguyên nhân. Cụ đáp:
- Nước mất thì thuyền phải treo.
Câu chuyện không mấy chốc mà truyền khắp Thần kinh và rồi lan dần vào Nam ra Bắc. Hai tiếng " nước mất " lập đi lập lại trên đầu môi người này sang người khác và gây ảnh hưởng không ít trong lòng người dân còn biết đến cái nhục bị mất nước, phải chịu làm nô lệ cho ngoại bang.
Thật là lời ít mà ý nhiều, có hiệu quả gấp trăm nghìn lời tuyên truyền dài từng xâu chữ.
Nói nhiều, không phải lúc nào cũng đều không tốt. Nói mà lợi dân lợi nước như cụ Sào Nam, nói mà nên nghĩa nên nhân như Dĩnh Khảo Thúc ..., thì nói mấy lại không được. Ngặt lời nói " té vàng té bạc " thì ít, còn những lời nói " sạt xương mông " thì lại nhiều. Cho nên Thánh Hiền luôn luôn khuyên người đời phải cẩn ngôn, tức là thận trọng lời nói. Cổ nhân ít nói là vì hổ rằng mình không kịp người, hoặc sợ nói ra rủi làm không được thì xấu hổ.

Tây phương có câu : " Lời nói là bạc, sự im lặng là vàng ". Lại có câu : " Nếu xét lời nói có ích lợi hơn sự im lặng thì hãy nói ". Thật là những lời quý hơn vàng.
Nhưng im lặng là im lặng nhằm lúc, chớ đừng im lặng như kiểu cậu bé trong Rừng Cười của ta:
Cậu bé thường nghe cha mẹ dạy :
- Không ai hỏi thì không nên nói.
Cậu vâng lời.
Một hôm đứa em bé té xuống giếng, cậu trông thấy nhưng cứ im lặng. Bà mẹ không thấy con chạy kiếm. Kiếm không ra mới hỏi cậu bé. Cậu bé đáp:
- Em rớt xuống giếng rồi .
Bà mẹ giận quá đánh cho mấy tát tai. Cậu bé vừa khóc vừa nói:
- Đã dặn người ta hễ không ai hỏi thì không nên nói. Người ta nghe lời, không nói, lại đánh người ta!
Đó, trong những trường hợp như thế đó, sự im lặng đâu có phải là vàng ?
Cho nên sự im lặng cũng như lời nói, có giá trị hay không là do sự biết nói, biết im lặng. Nên nói hay nên im lặng là tùy theo chuyện, tùy theo lúc, tùy theo nơi. Nhưng dù phải nơi, đúng lúc, nhằm chuyện đi nữa, nói ít vẫn hơn. Mà ít đây là lời nói, chớ ý thì không nên ít vậy.


Chuyện Vui:
Một người đọc bài Lời Nói trên đây, đến hỏi Q.T.:
- Ông khuyên người ta nên nói ít, mà sao ông lại nói nhiều thế ?
Q.T. thưa:
- Tôi có nói đâu. Tôi viết đó chứ.




[/align]



Lưỡi Không Xương

Tục ngữ có câu:
- Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo.
Vì nhiều đường lắc léo, nên rất lợi hại.
Để diễn tả sự lợi hại của vật không xương kia, người Tây Phương thường nói :
- Lưỡi của Esope (Langues d' Esope)
- Esope là ai mà có lưỡi lợi hại đến nỗi thành tục ngữ ?
- Là một danh nhân Hy Lạp sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VI trước kỷ nguyên Thiên Chúa.
Esope là một nô lệ được giải phóng.
Chủ là Xanthos sai Esope đi chợ và dặn :
- Hãy mua món gì ngon nhất .
Esope mua toàn lưỡi. Hỏi vì sao. Đáp:
- Ở trên đời không có gì tốt hơn lưỡi. Đó là mối dây đoàn kết của xã hội, chìa hoá của khoa học, cơ quan của lý luận, của luân lý, của thành tín ..
Để bắt bí Esope, hôm sau Xanthos sai đi chợ nữa và dặn:
- Hãy mua món gì dở nhất.
Esope cũng mua toàn lưỡi . Hỏi vì sao. Đáp:
- Ở đời không còn có gì xấu hơn lưỡi. Đó là mẹ đẻ của kiện cáo, nguồn gốc của chia rẽ, của giặc giã, quê hương của ngụy biện, của vu cáo, của hành vi bất tín bất thành ...
Do câu chuyện đó mà có thành ngữ " Lưỡi của Esope" kia.
Esope đã chia ra hai thứ lưỡi là lưỡi tốt và lưỡi xấu.
Lưỡi tốt mọc nơi miệng người quân tử, vị tha.
Lưỡi xấu mọc nơi miệng kẻ tiểu nhân, ích kỷ.
Gươm Trạm Lư, gươm Bàn Dĩnh, gươm Ngư Trưòng có tiếng là chặt sắt như chặt bùn, nhưng vẫn chưa bén bằng lưỡi bọn tiểu nhân ích kỷ, bình sanh chỉ biết có lợi và danh. Và gươm dù bén đến đâu cũng không nguy hiểm, không tai hại bằng lưỡi những phường danh lợi, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình. Bởi vì gươm chỉ chém thẳng một đường, còn lưỡi kẻ tiểu nhân uốn bên này cũng được, uốn bên kia cũng được.
Trong sách Hàn Phi Tử có câu chuyện rằng:
Có một người ở nước Sở vừa bán thuẫn vừa bán mâu.
Ai hỏi mua thuẫn thì anh ta khoe:
- Thuẫn này rất chắc, không gì đâm thủng.
Ai hỏi mua mâu thì anh lại khoe:
- Mâu này thật sắc đâm gì cũng thủng.
Một người nghe khoe, bèn hỏi :
- Thế bây giờ lấy mâu của bác đâm vào thuẫn của bác thì sao ?
Đố bà con biết anh ấy trả lời thế nào ?
Sách không thấy nói. Nhưng tôi đoán chắc rằng anh ấy xoa tay cười hì hì và đáp :
- Thì bác phải mua thử cả hai thứ, đem về nhà thí nghiệm tất thấy rõ .
Lưỡi của anh chàng nước Sở đó kể cũng đã lắc léo. Song kể cũng không có hại bao nhiêu và cũng không có gì là ác . Tấc lưỡi Đặng Tích sau đây mới thật là thâm độc không lường.

Đặng Tích là một nhà luật pháp có tiếng thời Xuân Thu, làm quan đại phu nước Trịnh.
Một năm nước sông Vỹ lên to. Một người nhà giàu ở gần sông không may bị chết đuối. Có kẻ vớt được xác. Thân nhân nhà giàu đến xin chuộc. Kẻ kia đòi quá nhiều tiền. Thân nhân người giàu không chịu, đem chuyện thưa cùng Đặng Tích, Đặng Tích bảo:
- Cứ để yên. Hắn còn bán xác ấy cho ai được mà sợ .
Thân nhân người bị nạn theo lời.
Kẻ vớt được xác không thấy thân nhân người bị nạn đến nữa, lấy làm lo cũng đem chuyện thưa cùng Đặng Tích, Đặng Tích cũng đáp:
- Cứ để yên. Hắn còn mua xác được của ai mà sợ.
Kẻ vớt xác cũng theo lời.
Thành ra xác chết bị thúi!
Lưỡi của Đặng Tích làm hại đến cả người chết !

Lưỡi xấu mà mọc vào miệng những kẻ ít tài ít trí, thì cái hại cho đời có ít. Nếu rủi mọc vào miệng những người có nhiều khả năng thì đời sẽ sanh nhiều tai nạn, khả năng của người có lưỡi xấu nhiều bao nhiêu, tai nạn lưỡi gây cho đời cũng nhiều bấy nhiêu. Như lưỡi của Trương Nghi là một.
Trương Nghi là một tay du thuyết đại tài thời Chiến Quốc.
Thời Chiến Quốc là một thời tao loạn. Chánh lệnh của nhà Châu không còn được tuân phụng. Các nước chư hầu luôn luôn gây sự. để thôn tính lẫn nhau. Lần lần bị diệt hết chỉ còn bảy nước là Tần, Sở, Tề, Yên, Triệu, Nguỵ, Hàn gọi là Thất Hùng. Mỗi nước hùng thị một phương. Nhưng địa thế nước Tần thắng lợi hơn cả cho nên các nước thường bị Tần uy hiếp.
Để chống lại nước Tần, Tướng quốc Triệu là Tô Tần xướng lên thuyết Hợp Tung, liên kết sáu nước lại thành một khối, giúp đỡ lẫn nhau, che chở lẫn nhau.
Khi mới bắt đầu, Tô Tần sợ Tần đem binh đánh thì kế hoạch liên hiệp phải thất bại, bèn sai người tâm phúc là Giả Xá Nhân đi tìm Trương Nghị
Trương Nghi vốn cùng Tô Tần là bạn đồng môn, học trò Quỉ Cốc.
Sau khi giã thầy giã bạn, Trương Nghi về nước Ngụy, đến cầu thân cùng Ngụy Huệ Vuơng, nhưng Huệ Vương không dùng. Trương Nghi phải dắt vợ con sang Sở. Tướng quốc nước Sở là Chiêu Dương thấy Trương Nghi nói năng hoạt bác liền thu dùng làm môn hạ. Kế đó Chiêu Dương đem quân đánh Ngụy lấy được bảy thành Tương Lăng, Sở Uy Vương thưởng cho viên Ngọc Bích họ Hoà. Chiêu Dương rất quí, đi đâu cũng đem ngọc theo bên mình .
Một hôm Chiêu Dương cùng tân khách và môn đệ hơn trăm người ra chơi ở Xích Sơn, bày tiệc rượu mua vui. Rượu ngà ngà say, tân khách xin Chiêu Dương cho xem viên Ngọc Bích. Chiêu Dương lấy ngọc để lên bàn, năm sắc óng ánh. Mọi người đều vui mừng rồi thay nhau cầm xem. Chợt viên ngọc biến mất, tìm mãi không thấy. Trong đám tân khách và môn đệ theo hầu Chiêu Dương, Trương Nghi là người nghèo khó nhất, nên bị tình nghi là kẻ lấy trộm ngọc. Chiêu Dương truyền đem tra vấn.
Trương Nghi vốn không phải kẻ lấy ngọc, nên nhất định không chịu nhận lời buộc tội. Bọn môn hạ đánh Trương Nghi đến chết ngất rồi kéo bỏ ngoài gò. Có người thương Nghi bị đánh oan, mới vực đem về nhà. Người vợ trông thấy đau lòng, nói:
- Bởi chàng theo đuổi việc đọc sách và du thuyết nên mới bị nhục. Nếu ở nhà lo cày cuốc làm ăn thì đâu đến nỗi này.
Trương Nghi há mồm hỏi vợ :
- Cái lưỡi ta có còn chăng ?
Người vợ tức cười đáp:
- Còn.
Trương Nghi nói:
- Lưỡi còn tức là tiền của đó. Nàng chớ lo rằng mãi khốn cùng.
Đoạn nghỉ dưỡng sức ít lâu, rồi dắt vợ con sang nước khác. Giữa đường nghe tin Tô Tần đã được vua Triệu phong là Tướng quốc, Trương Nghi toan sang Triệu thì gặp Giã Xá Nhân. hai bên làm quen rồi cùng nhau sang Triệu.
Đến Triệu, Trương Nghi đưa danh thiếp vào xin yết kiến Tô Tần, nhưng không được Tô Tần tiếp. Trương Nghi vừa giận vừa buồn, muốn bỏ đi nơi khác, nhưng vì tiền lưng đã cạn, cực chẳng đã phải ở nán lại. Sau Tô Tần cho gọi vào, đưa mắt lạnh nhạt hỏi:
- Quí huynh vẫn được bình yên đấy chứ ?
Trương Nghi, khí tức đầy ruột, lặng thinh không đáp.
Chợt lính hầu vào bẩm dâng cơm trưa. Tô Tần bảo Trương Nghi:
- Việc quan bận rộn, phiền quí huynh đợi ít lâu. Bây giờ xin mời bửa cơm đạm bạc.
Nói rồi truyền dọn cơm dưới công đường đãi Trương Nghi, còn Tô Tần thì ngồi ăn trên cao. Mâm cơm trên lại ê hề cao lương mỹ vị, còn mâm cơm dưới thì chỉ có rau cùng tương. Trương Nghi tức giận bỏ về.
Đương khi bực tức thì gặp lại Giã Xá Nhân, Trương Nghi liền đem nỗi nhục nhã của mình kể lại. Giã Xá Nhân liền rủ Trương Nghi sang Tần. Trương Nghi mừng rỡ, nói:
- Trong bảy nước chỉ có Tần là mạnh hơn cả. Sức Tần đánh thắng Triệu dễ như chơi. Nếu tôi sang Tần mà được đắc dụng, thì quyết đem quân đánh Triệu để báo thù Tô Tần.
Giả Xá Nhân nói :
- Tôi có người bạn quen làm quan lớn ở Tần. Tôi sẽ tìm cách cho tiên sinh tiến thủ.
Trương Nghi liền cùng Giã Xá Nhân kết làm anh em, rồi cùng nhau lên đường.
Đến Tần, Giã Xá Nhân bỏ tiền đút lót cho những kẻ thân cận vua Tần, xin tiến cử Trương Nghi.
Vua Tần là Huệ Văn Vương nghe kẻ tả hữu bàn về Trương Nghi, liền cho đòi vào yết kiến. Trương Nghi vào cùng nhà vua bàn việc chư hầu, miệng lưỡi như suối. Vua Tần đắc ý, phong Trương Nghi là Khách Khanh.
Sau Trương Nghi được hiển đạt, Giã Xá Nhân từ biệt xin đi. Trương Nghi ứa nước mắt, nói:
- Trước đây tôi bị cùng khốn, nhờ ngài trợ giúp mới có ngày nay. Tôi chưa kịp báo ơn sâu, sao ngày lại vội bỏ tôi như thế ?
Giã Xá Nhân đáp:
- Ơn ấy đâu phải của tôi. Tôi chỉ là kẻ thừa hành của Tô Tướng Quốc.
Trương Nghi ngạc nhiên, hỏi:
- Ngài bỏ vàng bạc ra giúp tôi nên sự nghiệp, cớ sao lại nói đến Tô Tần?
Xá Nhân nói;
- Tô Tướng Quốc chủ trương thuyết liên hiệp chư hầu. Trong lúc chưa thành hình, sợ Tần đem quân sang đánh Triệu, làm hỏng kế hoạch, nên phải tìm người tâm phúc, đến cầm quyền hành chính nước Tần. Việc ấy ngoài Tiên Sinh ra , còn ai làm nổi. Vì vậy mới sai tôi đi tìm Tiên Sinh, lại sợ Tiên Sinh lấy địa vị nhỏ nhặt làm thỏa mãn, nên cố ý ngược đãi để Tiên Sinh quyết chí sang Tần. Tướng Quốc lại đưa cho tôi nhiều vàng bạc để cung ứng cho Tiên Sinh đắc dụng ở Tần. Nay Tiên Sinh đã được đắc dụng, nhiệm vụ tôi đã hết, nên tôi phải về bẩm cho Tướng Quốc hay.
Trương Nghi thở dài :
- Lâu nay ta nằm trong chiến thuật dịch vận của Tô Tần mà không biết. Tài năng ta thật không sánh kịp Tô Tần ! Xin phiền Ngài trở về chuyển lời tôi cám ơn Tô Tần. Và để báo ân Tô Tần đã giúp tôi nên sự nghiệp, tôi sẽ không bàn đến chuyện đánh Triệu.
Nhờ vậy mà thuyết Hiệp Tung của Tô Tần thực hiện được, khiến thiên hạ được yên ổn trong một thời gian.
Nhưng rồi Trương Nghi xướng ra thuyết Liên Hoành, đi du thuyết các nước, làm tan rã khối liên minh. Các nước trở lại đánh nhau không ngớt. Vì binh đau mãi, nước nào cũng trở nên nghèo đói . Nước Tần thừa cơ thôn tính dần dần hết.
Tai hại thay ba tấc lưỡi của Trương Nghi.
Những người dùng miệng lưỡi mình, trí óc mình để làm hại kẻ khác, làm lợi cho mình, nhiều khi hại người chưa thấy đâu, mà cái hại lại quay ngay vào mình trước. Như trường hợp anh thầy kiện trong sách Duyệt Vi. Rằng:
Ngày xưa có một thầy kiện rất giỏi. Mỗi khi thảo đơn kiện cho ai, định buộc tội, gạt lỗi, mà ý nghĩ chưa được sâu sắc, lời nói chưa được chặt chẽ, thì cứ muốn ngồi yên một chỗ để cấu tứ. Những lúc ấy thường dặn nguời nhà không được làm ồn, khách đến không tiếp, cả vợ cũng phải tránh đi nơi khác.
Người vợ thầy kiện vốn có tình cùng người láng giềng, mới nghĩ ra được một diệu kế : những khi thầy kiện cấu tứ, chị ta cứ lại chuyện trò quấy rối. Thầy kiện tức mình đến phải mắng và đuổi sang nhà khác. Thế là những khi thầy kiện cấu tứ thì người vợ đi sang láng giềng ân ái cùng tình nhân. Kể hàng bao nhiêu năm mà thầy kiện không hay biết.
Sau thầy kiện vì cấu tứ mãi mà chết. Người vợ chửa hoang, bị nhà chồng kiện. Quan tra xét căn do. Vợ thầy kiện thú thật. Quan vỗ bàn, thở dài:
- Ngòi bút, chót lưỡi của thầy kiện đã khéo, ai ngờ cơ trời còn khéo hơn.




Đã sửa xong , cảm ơn Lucern nhiều nhé[/align] [/align]Nhưng cái chuyện vui, thì khg biết từ đâu ra cái khúc này, [/align] [/align]Nhờ Lucern chỉ dùm , đưa cái link cho Ct.Ly nhé, [/align]Chúc vui[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-05 06:48:36huytran>
Truyện Bức tranh có ma, nhờ các mod sửa lại giùm
 
* Đường nắng cánh sen đèn hội ma (đèn hội má, đọc hai câu thơ lên sẽ thấy ngay lý do)
                                           Vườn mầu hoa con gái bướm phù dâu

Van Gogh vẽ miệt mài không ngơi tay. Ông cảm giác đang bơi trên một dòng sông nước xiết, ngừng lại sẽ chìm nghỉm, vĩnh viễn nằm dưới đáy tối.
Những quệt màu bừng bừng chạy trên mặt toan như những tia nham thạch miệng một hỏa diệm sơn phun lửa.
Liệu mầu sắc có dẫn ông tới thế giới mong đợi, nơi không còn Gauguin, người bạn tri kỷ đã phản bội ông.
"Ngày mai tôi sẽ trở về Paris..?" Gauguin hạ những chữ tàn nhẫn như lưỡi dao một đao phủ.
"Sao cậu hứa ở với mình đến hết mùa xuân. Mình van cậu, đừng đi. Cậu đi, mình ở đây với ai? Đừng đi, Gauguin... ở lại. Ở lại. Dù một tháng, dù một tuần... cậu không biết mình cô đơn thế nào? Mình cần cậu thế nào?"
Gauguin gạt tay bạn dứt khoát bước ra cửa.
"Thằng phản bội, tao sẽ giết mày."
Ánh nắng Provence lấp lóa trên lưỡi dao cạo dài. Van Gogh vừa chạy vừa thét. Gauguin từ từ quay lại, lừng lững dọa nạt như một pho tượng ăn thịt người trong những tà giáo phương Đông. Hai mắt hắn cháy đỏ như lửa địa ngục... Lạy Chúa! Nó trở thành ma quỷ rồi. Van Gogh đứng sững. Bóng Gauguin xa dần trên con đường chói nắng...
Gauguin! Quay trở lại ? Đừng đi, đừng đi... Trong một cơn tuyệt vọng, Van Gogh lấy dao cạo cắt luôn tai mình... Vẽ, vẽ đi chỉ ngừng lại một giây là những hình ảnh ma quái lại ùa về dồn dập dọa nạt. Van Gogh bóp mạnh những tuýp mầu chẩy tràn cả xuống đất... Vẽ... vẽ... Không thì điên, không thì chết. Chỉ mầu sắc may ra có thể cứu được Van Gogh giây phút hoạn nạn này.
Quệt màu da cam hơn hớn chạy trên toan vẽ, thách thức ánh nắng đang chứa chan vào xuân... Những bông hoa mào gà chói đỏ. Đâu như có lần một người bạn nào đó cho Van Gogh biết các nhà thơ Đường bên Trung Quốc từng gọi loại hoa này là mỹ nhân thảo... Óc tưởng tượng các nhà thơ Tầu thật tuyệt vời!
Những thân cây mào gà mảnh mai mới quyến rũ mới đàn bà làm sao? Ước gì Van Gogh được ngụp lặn trong đó, vĩnh viễn ở đó, không bao giờ trở về nữa.
Ông cầu xin mầu sắc dẫn đường. Liệu chúng có dẫn ông như một người bạn đồng hành trung thành tới một ga hẻo lánh của rực rỡ, của thơ nhỏ, nơi có một người yêu ông thật lòng. (Ôi, người đó cũng chẳng cần đẹp lắm). Người đó đừng phản bội ông như Gauguin, đừng xua đuổi ông như cô gái nước Anh kiêu kỳ...
Nhưng mầu sắc vẫn chưa đến... Van Gogh hành hạ những tuýp vẽ. Mầu ộc trên palét đỏ như vũng máu tươi. Ông đằm bút trong vũng mầu, quệt máu lên mặt toan. Ông hối hả, cuống quít, tưởng như không còn chủ động được nữa. Mầu sắc kéo tay ông vào cuộc mầu hoang dại cuồng nhiệt. Van Gogh chạy theo hổn hển muốn đứt hơi.
Cánh đồng hoa mỹ nhân hiện dần trên mặt toan day dứt kỳ lạ, tưởng chừng như Van Gogh không vẽ phong cảnh bên ngoài mà mải mê phong cảnh tâm hồn mình, những mầu sắc tự sự cả một tuổi hoa niên đã qua, chồng chất những vệt đời, những khao khát, những ấp ủ chết yểu. Những tầng mầu bồi lên nhau những tầng kỷ niệm.
Van Gogh bỗng nghe có tiếng hát. Cánh đồng vắng tuyệt không bóng người.
Thì ra những hòa sắc màu da cam, các manh, xanh cô bạn (xanh cô ban: cobalt) đang hát. Một bài hát xa vời và an lành như một bài thánh ca.
Van Gogh mỉm cười. Một cơn gió nhẹ thổi. Mặt ông bỗng thư dãn, bình yên lạ lùng. Cơn điên đã đi qua. Ave
Maria!


                                              ***
Van Gogh thanh thản bước vào tiệm cà phê quen. Một người cao lớn bỗng xô ra giang tay chặn cửa. Sao Gauguin lại ở đây? Sao đi đâu ông cũng không thoát nổi hắn?
- Ông đi ra ngay, không tôi gọi đội xếp.
Một giọng phụ nữ từ phía sau:
- Ô hay Jean! Sao con lại làm thế?
Một bà đứng tuổi trong quầy hàng chạy ra đon đả:
- Mời ông vào.
Thì ra đó không phải Gauguin là là Jean, con bà chủ tiệm cà phê, Célestine. Bà đẩy người con trai lực lưỡng và càu nhàu sang một bên lấy lối cho Van Gogh.
Đã hơn một năm nay từ ngày tới thị trấn Ariles hầu như ngày nào Van Gogh cũng có mặt ở tiệm cà phê này.
Ông chọn một bàn vắng trong góc tối, nơi ông có thể buồn một mình, không sợ ai quấy rối. Chao ôi ! Buồn chỗ đông người dẫu sao cũng vui hơn buồn gác trọ hiu quạnh. Ông ngồi hàng giờ trước ly rượu ngải... Nghĩ đến cuộc đời bị hắt hủi. Ngay từ khi lọt lòng... Tên Vincent Van Gogh bố mẹ đặt cho là tên người anh bất hạnh vừa mở mắt nhìn ánh sáng đã vĩnh viễn nhắm lại vào cõi đêm bất tận... Nhiều buổi trưa Vincent quanh quẩn bên mộ anh, cúi đầu trên tấm bia chữ khắc đậm nét. "Ở đây yên nghỉ Vincent Van Gogh." Và bỗng tự hỏi "Vincent dưới mồ và Vincent bên mồ, ai là Vincent thật?"
Cỏ xanh lay động dưới cây trắc bá lá khẽ reo hát. Vìncent sống bỗng thèm Vincent chết. "Ở dưới đó chắc bình yên."
                                                * * *
Người ta thường chê Van Gogh hay lui tới đám gái chơi rẻ tiền, và buộc tội ông có những thích thú bệnh tật. Ngay Théo, người em ruột thương anh hết lòng cũng hơn một lần thắc mắc "Thiếu gì người mà anh cứ phải lui tới những nơi đó?"
Vincent cười một mình chua chát. Đúng, thiếu gì người.. . Nhưng vấn đề là người ta có thương mình không? Những Ursula, những Kett những cô gái dịu dàng con nhà tử tế đều khước từ một cách quyết hệt tình yêu chân thật của chàng trai rụt rè.
"Không... Không đời nào tôi thèm yêu anh!"
Chỉ có những cô gái chơi bất hạnh, xấu xí (Vincent cũng không dám mon men những cô gái chơi ít nhiều có nhan sắc) là không xua đuổi ông. Không ai hiểu rằng Vincent thèm yêu và thấp thỏm bị hắt hủi đến mức nào!
Người thiếu phụ đầu tiên chấp nhận tình yêu của ông là Clasina, một cô gái điếm mặt rỗ, cao lớn, tàn tạ. Nhưng vào lúc tàn canh chợt tỉnh trong bóng tranh tối tranh sáng thấy một thân thể đàn bà, dù người đó có đui què, nằm bên còn hơn là thức giấc cô đơn giữa cái trống lạnh mênh mông của chiếc nệm giường trắng như tấm vải liệm.
Ông bỗng nhớ cảng La Haye, một thành phố ẩm ướt, một vòm trời ám khói thấp tè trên những quán bia ồn ào. Đường phố ngổn ngang những thủy thủ say rượu vừa chệnh choạng đi vừa hát. Ôi! Cái tiếng hát người say nghe buồn đến đứt ruột. Và những bóng người dạng chân đứng đái gốc cột đèn vắng để giải thoát những vại bia nốc vô tội vạ và những khối sầu mãn tính. Xa xa là biển
và những hồi còi ú ớ thảm thiết với tiếng xích tàu sóng vỗ loảng xoảng một đoàn năm tháng khổ sai.
Nhưng đây cũng là nơi đầu tiên Van Gogh được yêu. Clasina là một gái điếm nghèo. Căn nhà nhỏ bé, trống trơn. Nàng có hai đứa con nhỏ. Lúc mẹ tiếp khách, đứa chị dắt đứa em ra bãi rác nhặt những chai bia, những đồ hộp, những con búp bê cụt đầu hay què chân xây dựng những thiên đường tưởng tượng dỗ em. Những hôm trời mưa, hai chị em tha thẩn chơi dưới bức tranh Đức Mẹ
Đồng Trinh ố bụi, bức tranh độc nhất trong ngôi nhà. Cạnh những tiếng chửi thề ầm ĩ. những âm thanh tục tĩu từ phía sau tấm rèm.
Clasina là một thiếu phụ kỳ lạ. Hình như người nào dám sống thành thật đều kỳ lạ. Cô uống rượu như một chiếc thùng không đáy... Hay nói theo kiểu cô: Uống rượu như một chiếc váy. Cô đã từng đọ cốc với những tay nhậu lì lợm nhất. Và hát những bài có thể đỏ tai các bà xơ. Đã có lần Van Gogh chứng kiến tận mắt cảnh Clasina trừng phạt một thủy thủ quịt tiền. Tên thủy thủ cao lớn đã bị Clasina đấm ngã và lột trần, chỉ còn thiếu chiếc xi líp, lảo đảo chạy trên đường tuyết.
- Cái đồ đàn ông đ... quịt lẽ ra phải thiến cho tiệt giống!
Cũng chính cái người thiếu phụ ghê gớm ấy...
Van Gogh vẫn còn nhớ... ông đang lang thang trên bờ biển bẩn thỉu, bơ vơ như một cái vỏ ốc luân lạc. Không biết nghĩ thế nào ông bước xuống biển lẳng lặng lội về phía ngọn hải đăng chói sáng như một vùng đất hẹn, một quyến rũ... Bỗng nghe có tiếng chân lội bì bõm phía sau và tiếng gọi thất thanh:
- Anh Vincent... Anh Vincent...
Van Gogh chưa kịp quay đầu lại thì đã thấy Clasina nắm chặt lấy tay:
- Anh điên à, đi đâu ra đây? ... Khổ... em tìm anh suốt, sao đến một tuần rồi anh không tới.
Van Gogh lắp bắp:
- Tôi không có tiền.
Ông bỗng thấy Clasina lùi lại, hai mắt trợn đỏ, tay nắm chặt như muốn đấm cho ông một quả . Van Gogh bất giác lấy tay che mặt.  Chỉ thấy Clasina thở dài rồi lầm lì nắm tay ông xềnh xệch lôi đi như người mẹ lôi đứa con hư về nhà đánh đòn.
- Khổ, chân anh lạnh thế này thì đến ốm mất. Clasina quỳ xuống, hai tay ôm lấy chân ông ủ ấm, áp má vào đó, giọng bé bỏng như muốn khóc:
- Anh có biết em cần anh đến thế nào không?
Rồi nàng bế Van Gogh lên lòng. Người thanh niên rét lạnh như một hài đồng bị cai sữa quá sớm rúc đầu vào bộ ngực đồ sộ, nhàu nát của người gái chơi, ngủ lúc nào không biết...
Ru hời hỡi ru... Trong giấc ngủ đung đưa, hình như ông nghe thấy tiếng ru của mẹ.
Sau buổi đó Van Gogh vẽ chân dung Clasina trong bức ký họa được đời sau biết tới dưới tiêu đề "Sầu." Clasina đã ôm lấy bức tranh nức nở. Lần đầu tiên Van Gogh thấy nàng khóc xối xả như vậy. Và cứ để nước mất ràn rụa. Clasina nghẹn ngào úp mặt vào tay Van Gogh.
"Sao anh lại biết em thời con gái?"

*
Nước mắt Van Gogh ứa ra lúc nào không biết, lặng lẽ rơi vào ly rượu ngải đắng. Van Gogh lén lút lau nước mắt, như một kẻ gian. Nhìn dòng nước mắt lăn trên gò má gầy người trẻ tuổi, bà chủ quán khẽ chép miệng. "Hẳn là con người này phải đau khổ lắm mới  đến tiệm cà phê khóc một mình."
Từ ngày Van Gogh giết hụt Gauguin, cả cái thị trấn bé nhỏ này không còn dung được ông nữa. Một thằng điên như vậy không nhốt nó lại còn đợi đến bao giờ?" Và hai vợ chồng Jean, con trai bà cà phê đã hơn một lần định cấm cửa "thằng điên."
- Nó chỉ đem xúi quẩy vào nhà mình chứ béo bở gì? Lại còn uống chịu nữa!
Nhưng bà Célestine đã có một thái độ kiên quyết không ngờ:
- Ngày nào tôi còn làm chủ tiệm cà phê này thì không một người khách nào bước chân vào đây bị xua đuổi.
Nhìn mặt tường lâu ngày bẩn bụi, ám khói, bà lẩm bẩm:
- Nghe nói anh ta làm thợ vẽ, không biết có quét vôi được không?

*
Thị trấn ngày càng khó sống đối với Van Gogh. Ông nhận được nhiều thư đe dọa và đã mấy lần bị đám trẻ con ném đá. Nhà hội họa quyết định rời bỏ Arles.
Không một sợi dây tình cảm nào níu chân Van Gogh lại đây. Cô gái điếm Rachel, khi Van Gogh trân trọng đem đến tặng vành tai bê bết máu phong bao trong một mảnh giấy điều đã thét lên ù té chạy và từ ngày đó đã vĩnh viễn xa lánh ông.
À còn bà Célestine. Bà đã cư xử nhân đạo với ông, hơn nữa ông còn nợ tiền rượu của quán. Van Gogh không muốn bỏ đi như một thằng ăn quịt. Nhưng trả nợ thì phải có tiền mà Van Gogh lần cả túi trong túi ngoài chỉ còn đúng có năm mươi xu. Ông đành đem bức tranh Cánh đồng hoa mào gà đến gán nợ.
Nhìn bức tranh sù sì gớm ghiếc. bà Célestine không muốn nhận nhưng bà không đành phật lòng người bất hạnh. Người đàn bà tốt bụng đưa cho Van Gogh mười quan và chúc ông lên đường may mắn.
Bức tranh của Van Gogh được treo ở một chỗ khuất che một khoảng tường lở vôi. Và bức tranh sẽ yên sống cuộc đời bụi bậm của nó nếu một bữa kia, một cơn gió chướng không bất thình lình thổi rơi chiếc đèn dìm cả tiệm cà phê trong bóng tối.
Bỗng một tiếng kêu thất thanh "Ma!..." khiến mọi người dựng đứng tóc gáy. Cũng may đều là cánh đàn ông cả. Khi chủ quán thay đèn và không khí đã trở lại yên ổn cùng với ánh sáng, mọi người xúm quanh ông chủ hàng xén, người đã kêu thấy ma. Mặt ông vẫn còn tái xanh. ông trỏ về phía bức tranh:
- Tôi thấy nó bay lập loè ở đây... Một con, hai con rồi hàng chục con nhẩy múa.
Ông rùng mình tợp một hơi rượu mạnh và yêu cầu thêm một ly nữa. Một khách đùa dai. "Hay bố mày say rượu, thần hồn nát thần tính." Một ngọn gió chướng lại nổi lên làm chiếc đèn chao đảo, chao đảo rồi phụt tắt. Lần này đến lượt ông khách đùa dai hét lên:
- Cứu tôi với, cứu tôi với! Ma! Ma!
Đèn lại được thắp sáng. Mọi người đến gần bức tranh. Trên mặt toan bám bụi, những chấm mầu sù sì lung linh đỏ dưới ngọn đèn bị gió thổi lắc lư nom càng ma quái.
Hôm sau người ta được tin Van Gogh nằm tại một nhà thương điên gần đó đã bắn vào ngực tự sát và qua đời đúng lúc trận gió chướng ùa vào quán cà phê.

*
Jean lúc này đã là chủ tiệm cà phê, bàn với vợ cho bức tranh ma quỷ kia vào lò đốt. Nhưng vợ Jean không nghe :
- Vải còn tốt lạ i được phủ một lớp sơn dày không thấm nước, để che chuồng gà cũng được, tội gì lại đem đốt.
Sau một hồi bàn bạc, hai vợ chồng thấy tiện nhất là đem cất tạm bức tranh vào phòng bà Célestine.
Vợ Jean nhún vai:
- Bà cụ cũng sắp ra ma rồi, nó có về rước đi cũng chẳng sao!

*
Sau khi Van Gogh bỏ thị trấn đi được mấy ngày thì bà Célestine bị một cơn tai biến não và nằm liệt giường đã hơn nửa năm.
Tuổi già là một gánh nặng. Lại còn nằm đấy thì đúng là một tội nợ cho con cháu, thử thách lòng kiên nhẫn và hiếu thảo của  chúng. Giá như sau khi liệt độ một tháng mà bà vui lòng qua đời thì có thể là vợ chồng Jean cũng rỏ những giọt nước mắt thương mẹ một cách thành thật. Nhưng bà Célestine không biết điều. Bà sống quá hạn cho phép của lòng biết ơn. Liệt nhưng bà "có liệt ăn liệt đái ỉa đâu, ai mà dọn mãi được?"
Bà Célestine vô tình đã trở thành một đứa trẻ sơ sinh trong tay một mụ dì ghẻ ác nghiệt.
"Người ta còn bận tâm hàng trăm thứ ai có thì giờ đâu mà chăm sóc bà mãi được."
Không có gì ái ngại bằng cảnh một đứa con trai râu ria tắm cho một bà mẹ già. Nó lóng ngóng, nó vụng về, nó làm sao ấy. Có lẽ chính vì thế mà sau một hai lần cố gắng làm việc báo hiếu đó, Jean đã "quên" nó đi. Bà Célestine muốn chết. Nhưng chết nhiều khi cũng khó lắm, khó lắm.
Lấy lý do bà "ăn nhiều lại ỉa nhiều," vợ chồng Jean rút khẩu phần ăn của bà xuống một bữa. Mà một bữa cũng hạn chế. Bà tuy liệt và không nói được nhưng óc bà chưa liệt hẳn. Bà vẫn hiểu và chứng kiến một cách bất lực sự tàn tạ của mình. Mắt bà suốt ngày cầu khẩn van xin. Nhưng trong cuộc sống ồn ào này, quát tháo, nguyền rủa ầm ĩ hay vật nài đến mỏi miệng còn chẳng ăn ai, huống hồ là nói một cách thầm lặng bằng mắt.
Đêm lạnh và cô đơn. Gió xì xồ một ngoại ngữ quái dị. Chúa thì ở xa và có lẽ cũng cô đơn như bà. Hai người gần bà nhất là vợ chồng Jean thì sau khi hoàn thành bổn phận duy trì nòi giống đã ôm nhau ngủ say. Bà kêu ú ớ không thành tiếng.
Bà bỗng thấy những đốm lửa lập lòe từ bức tranh phía tường đối diện.
Có phải người họa sĩ điên đã nghe tiếng kêu cứu câm của bà. Cả một cánh đồng hoa mào gà rực lên dưới ánh nắng... không phải, có lẽ đó là ánh trăng thì đúng hơn. Bà mặc một chiếc váy mới chấm đỏ, tóc bà tết một con bướm đỏ. Bà vừa tung tăng vừa hát. Bà đang tràn trề dậy thì và biết mình đẹp. Tiếng sáo, tiếng trống rộn ràng. Đám con gái làng váy đỏ trong hoa đỏ. Điệu Pharăngđon
nhộn nhịp quá. Bà nhúc nhắc chân, cả người rạo rực, bà phải đi nhanh đến đồng hoa đỏ cho kịp. Người ấy đã hẹn bà.
Ôi! Cái chập môi đầu tiên. Hai người ôm lấy nhau, quấn lấy nhau giữa một đồng hoa lửa. Bà bỗng kêu thét lên. Cả trời hoa, cả đồng sao chao đảo bồng bềnh như sắp bước vào một ngày sáng thế. Bà rướn người, nhắm mắt lại trong một hạnh phúc tuyệt vời.
Hôm sau, khi nghe tiếng chồng gọi thất thanh trong phòng bà Célestine, vợ Jean te tái chạy tới. Hai ngườ trố mắt nhìn bà cụ gục đầu vào bức tranh lìa đời, miệng còn chưa tắt một nụ cười. 
Vợ chồng Jean run run:
- Làm thế nào bà cụ liệt còn bò được đến chỗ bức tranh.
Jean làm dấu chữ thập
- Đúng là bức tranh có ma.


HẬU TỪ
Bức tranh "Cánh dồng hoa mào gà" nghe đâu công ty Christie's bán đấu giá 12 triệu đô vào những năm 70.
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Khổng Ất Kỷ: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nqnvnvn31n343tq83a3q3m3237nvn

Đã Hiệu đính:
Các quán rượu ở Lỗ trấn có một cách sắp đặt khác hẳn nơi khác: Quán nào cũng có một cái quày to, hình thức thợ ngoảnh ra đường cái; phía trong quày có sẵn nước nóng lúc nào cũng có thể hâm rượu được. Trưa hay chiều, các bác thợ đi làm về, người nào cũng đến bỏ ra bốn đồng trinh mua một bát rượu, - đó là chuyện hơn hai năm về trước, bây giờ mỗi bát cũng phải đến nữa đồng - rồi đứng tựa vào quầy, uống khi còn nóng bỏng, vừa uống vừa nghỉ cho đỡ mệt. Nếu chịu bỏ thêm một đồng nữa thì có thể mua được một đĩa măng muối mặn hoặc một dĩa đậu hồi hương làm thức nhắm.
Còn bỏ ra hơn mười đồng thì có thể mua được một đĩa thịt xào. Nhưng những khách hàng này phần nhiều là bọn áo cộc không mấy ai chơi sang như vậy. Chỉ có những vị khách áo dài mới đi vào tận phòng trong, gọi rượu, gọi thịt, ngồi uống khề khà.
Từ hồi mười hai tuổi, tôi (1) đã đến làm công cho quán rượu Hàm Hanh ở chỗ cửa ô đi vào trấn.(2) Ông chủ quán bảo là tôi dáng người đần độn quá, e không hầu nổi các vị khách áo dài, thôi ra đứng ngoài làm việc vặt vậy. Khách áo cộc ở ngoài, tuy dễ dãi hơn nhiều, nhưng cũng lắm ông hay sách hoạch, kỳ kèo đáo để. Thường thường họ đòi được nhìn tận mắt xem rượu có thật múc ở vò ra hay không, đòi nhìn tận mắt xem trong ấm có nước lã hay không, lại đòi được nhìn tận mắt xem khi tôi đặt ấm vào nước nóng. Có thế mới an tâm. Kiểm soát chặt chẽ như vậy, thì làm thế nào mà pha nước vào đây! Cho nên được mấy ngày ông chủ quán lại bảo là tôi không thể đứng bán hàng được. May mà người đưa tôi đến đây là chỗ thân tình với ông ta lắm, nên ông ta không thải ra mà để cho tôi chuyên coi việc hâm rượu, một việc hết sức tẻ nhạt.
Từ đó, tôi đúng cả ngày trong quày, chăm chú làm công việc của mình. Tuy không đến nỗi không làm tròn phận sự, nhưng tôi thấy buồn và chán ghê. Ông chủ quán thì mặt dữ lắm, khách hàng cũng chẳng ai dễ thương, tôi khó lòng vui lên được. Chỉ khi nào có bác Khổng Ất Kỷ đến thì mới có thể cười được ít tiếng. Cho nên mãi đến nay vẫn còn nhớ bác ta.
Bác Khổng Ất Kỷ là người độc nhất mặc áo dài mà lại đứng trước quày uống rượu. Bác ta người to cao, mặt tai tái, giữa những nếp răn thường có vài vết sẹo, lại có một bộ râu hoa râm lổm xổm, rối như mớ bòng bong. Áo tuy là áo dài nhưng vừa bẩn vừa rách, hình như hơn mươi năm nay chưa hề vá mà cũng chưa hề giặt. Bác ta nói chuyện với ai, mở miệng là chi hồ giả dã(3) làm cho người ta chẳng hiểu gì hết. Vì bác ta họ Khổng, nên người ta mới lấy ba chữ Khổng ất Kỷ trong cái câu cũng khó hiểu: "Thượng đại nhân Khổng ất Kỷ"(4) in son trên các thiếp đồ mà đặt biệt hiệu cho. Hễ bác ta bước chân đến quán là bao nhiêu khách đều nhìn bác ta mà cười dậy lên hết. Có người hỏi: 
- Ông Khổng ất Kỷ này! Sao trên mặt lại có một vết thương mới nữa rồi!
Bác ta không trả lời, nói vào trong quày:
- Hâm cho hai bát rượu, và lấy ra đây một đĩa đậu hồi hương nhé!
Rồi xỉa ra chín đồng trinh.
Mấy người kia lại cố ý nói to:
- Nhất định lại xoáy cái gì của nhà ai rồi!
Bác ta trừng mắt lên cự:
- Sao khi không các người lại bịa chuyện làm mất danh giá người ta đi như thế? 
- Danh giá cái gì? Chẳng phải hôm trước chính mắt tớ trông thấy ông ăn cắp sách nhà ông Hà rồi bị treo ngược lên đánh là gì?
Bác ta đỏ mặt, trán nổi gân xanh, cãi lại:
- Lấy sách không phải là ăn cắp! Có biết chữ mới lấy sách chứ? Thế mà bảo là ăn cắp được à?
Tiếp theo là những câu khó hiểu nào là "Quân tử cố cùng" (5), nào là gì "giả hồ", làm cho mọi ngươi cười dậy lên. Trong quán ngoài quán không khí nhộn hẳn.
Nghe người ta bàn tán riêng với nhau thì bác Khổng ất Kỷ vốn cũng có đi học, nhưng thi mãi không đỗ, lại không biết lảm gì ra ăn, do đó, càng ngày càng túng quẫn đến nỗi gần phải đi ăn xin. May được cái viết chữ tốt, nên đi chép sách thuê kiếm cơm. Khổ một nỗi, tính nết không ra gì, thích rượu mà lại nhác làm. Ngồi chép được vài hôm, thế là cả người lẫn sách vở, giấy bút, nghiên mực đều biến mất tang. Mấy lần như vậy, chẳng ai thuê chép nữa. Không còn cách nào khác, bác ta đôi khi phải giở ngón xoáy. Nhưng ở quán rượu chúng tôi thì bác ta đứng đắn hơn ai hết, lúc nào cũng sòng phẳng. Có khi không có tiền mặt thì tạm ghi vào bảng. Nhưng chưa hết tháng, thế nào cũng trả đủ rồi, và tên bác ta lại được xóa đi.
Bác Khổng ất Kỷ uống hết nửa bát rượu thì sắc mặt lại đã trắng dã ra y như trước, không đỏ nữa. Có người đúng cạnh lại hỏi:
- Ông Khổng ất Kỷ này! Ông biết chữ thật đấy chứ? 
Bác ta nguýt một cái, tỏ ý không thèm cãi lại. Thì họ đã nói tiếp:
- Làm thế nào mà đến một chút tú tài cũng không gỡ được hả? 
Tức thì trông bác ta tiều tụy, bối rối hẳn, mặt tái mét, miệng lẩm bẩm cái gì. Lần này thì toàn những chi hồ giả dã, không hiểu chút gì cả. Lúc ấy, mọi người lại cười dậy lên. Trong quán ngoài quán không khí nhộn hẳn. 
Nhân những dịp đó, tôi cũng có thể cười góp vào, ông chủ quán không mắng. Vả lại, mỗi lần thấy bác Khổng ất Kỷ, ông ta cũng thường hỏi đùa như thế làm cho ai nấy phải bật cười. Bác Khổng ất Kỷ biết là mình không thể cùng nói chuyện với những người kia được bèn quay lại nói chuyện với bọn trẻ con. Có lần bác ta hỏi tôi:
- Đã đi học chưa?
Tôi khẽ gật đầu. 
- Đi học rồi à? Để ta khảo xem nào! Chữ hồi trong đậu hồi hương viết thế nào nào?
Tôi nghĩ bụng: người dáng như ăn mày thế kia mà lại dám khảo mình ư? Tôi quay mặt đi, không buồn trả lời. Chờ một hồi lâu, bác ta nói, giọng khẩn thiết:
- Không biết à? Để ta bày cho. Nhớ lấy nhé! Nhũng chữ ấy thì phải nhớ mới được. Tương lai làm ông chủ quán, biên sổ sách phải dùng đến đấy! 
Tôi nghĩ bụng giữa ông chủ quán với tôi còn cách bậc nhiều lắm, mà ông chủ quán của tôi có bao giờ ghi chữ đậu hồi hương vào sổ đâu! Vừa buồn cười, vừa khó chịu, tôi trả lời uể oải:
- Ai mượn bác bày. Chẳng phải là thảo đầu trên chữ hồi là về là gì?
Bác ta ra vẻ thích thú lắm, gõ hai móng tay dài xuống mặt quày, gật đầu nói:  
- Giỏi đấy! Giỏi đấy! Chữ hồi có bốn cách viết, biết không?
Tôi càng khó chịu, bĩu môi bỏ đi. Bác ta vừa nhúng móng tay vào rượu định viết lên mặt quày, nhưng thấy tôi thờ ơ thì lại thở dài, tỏ vẻ tiếc cho tôi lắm.
Có mấy lần, bọn trẻ con hàng xóm nghe tiếng cười cũng chạy đến xem, vây lấy bác ta. Bác ta lấy đậu cho mỗi đứa một hột. Ăn hết đậu, chúng nó vẫn đứng đấy không đi, mắt nhìn dán vào cái đĩa. Bác ta hoảng lên, xòe cả năm ngón tay ụp lấy đĩa, cúi khom xuống, nói:
- Chẳng còn bao nhiêu nữa!
Rồi đứng thẳng dậy, nhìn đĩa đậu, lắc đầu:
- Không nhiều nữa. Nhiều ư? Có nhiều đâu. (6)
Thế là bọn trẻ con cuời ồ lên, chạy tứ tán.
Bác Khổng ất Kỷ mua vui cho người ta như vậy đó, nhưng không có bác thì cũng thế thôi!
Một hôm, hình như vào khoảng hai ba ngày trước tết Trung thu, ông chủ quán ngồi thong thả tính tiền. Ông ta hạ tấm bảng xuống, bỗng dưng nói:
- Đã lâu không thấy lão Khổng ất Kỷ đến nhỉ? Còn nợ mười chín đồng trinh kia đấy!
Tôi mới sực nhớ ra là đã lâu lắm bác ta không đến quán thật. Một người khách nói:
- Làm thế nào mà đến được! Bị đánh què chân rồi!
Ông chủ quán nói:
- Thế à?
- Vẫn giữ cái thói ăn cắp. Lần này điên hay sao lại nhè nhà cụ Cử Đinh mà ăn cắp. Của nhà ấy mà hòng ăn cắp à?
- Rồi thế nào?
- Rồi thế nào à! Rồi viết tờ thú, xong là lôi ra đánh suốt đêm, què chân mới thôi!
- Rồi thế nào nữa?
- Rồi què chân.
- Què chân rồi thế nào nữa? 
- Thế nào, ai biết được? Có lẽ chết rồi cũng nên.
Ông chủ quán không hỏi nữa, cứ ngồi thong thả tính tiền.
Tết Trung thu qua. Gió thu càng ngày càng lạnh, xem chừng gần sang đông. Tôi suốt ngày đứng cạnh lò cũng phải mặc áo bông. Một buổi chiều, quán rượu vắng khách. Tôi đang ngồi, mắt lim dim, bỗng nghe có tiếng ai gọi:
- Hâm cho một bát rượu nhé!
Tiếng nói nhỏ nhưng nghe quen lắm. Nhìn chẳng thấy một ai cả. Đứng dậy nhòm ra thì ra là bác Khổng ất Kỷ đang ngồi trệt dưới quày, ngay chỗ bậc cửa. Mặt bác ta đen sạm, võ vàng, trông không ra hồn người. Bác ta mặc một chiếc áo kép rách ngồi xếp bằng hai chân, dưới lót một tấm bao lác có hai dây thùng bằng rơm treo vào vai. Bác ta nhìn thấy tôi lại nói: 
- Hâm cho một bát rượu!
Ông chủ quán cũng thò đầu ra nhìn và lên tiếng:
- Ông Khổng ất Kỷ đấy à? Còn nợ mười chín đồng trinh đấy nhé!
Bác ta ngẩng mặt lên vẻ tiều tụy: 
- Món ấy... lần sau sẽ hay. Bây giờ, có tiền mặt. Rượu ngon đấy nhé!
Ông chủ quán vẫn như mọi lần, nhìn bác ta cười:
- Này ông Khổng ất Kỷ! Lại xoáy của ai cái gì rồi?
Nhưng lần này, bác ta không chối hẳn, chỉ nói một câu:
- Thôi đừng đùa.
- Đùa à! Không xoáy thì sao lại bị đánh què chân thế kia!
Bác ta nói khe khẽ: 
- Ngã què... Ngã... Ngã...
Mắt bác ta nhìn ông chủ quán trông có vẻ van xin đừng nói nữa. Lúc đó, có mấy người cũng vừa đến. Họ cùng ông chủ quán cười dậy lên. Tôi hâm rượu, bưng ra đặt trên bậc cửa. Bác ta nắm trong túi áo rách lấy ra bốn đồng trinh bỏ vào tay tôi. Tôi thấy tay bác ta lấm những bùn. Thì ra bác ta đi bằng tay! Một lát sau, uống hết rượu, bác ta thong thả chống tay lết đi giữa tiếng nói tiếng cười của những người xung quanh.
Từ đó về sau, lâu lắm, tôi không hề thấy bác Khổng ất Kỷ đâu nữa. Cuối năm, ông chủ quán hạ tấm bảng xuống, nói:
- Lão Khổng ất Kỷ còn nợ mười chín đồng trinh kia đấy!
Đến tết Đoan ngọ năm sau, lại nói:
- Lão Khổng ất Kỷ còn nợ mười chín đồng trinh kia đấy!
Đến tết Trung thu thì không nghe nói nữa. Và cuối năm, cũng chẳng thấy bác ta đến.
Cho đến bây giờ tôi chẳng hề gặp lại. Có lẽ bác Khổng ất Kỷ chết thật rồi chăng?

Tháng 3 năm 1919 

* Truyện này đăng lần đầu tiên tạp chí Tân thanh niên tháng 4 năm 1919. Cuối chuyện có mấy lời chua của tác giả như sau: truyện ngắn vụng về này, tôi viết xong một ngày mùa đông năm ngoái. Ý định lúc đó là miêu tả một cảnh sống trong xã hội để độc giả xem chơi, chứ chẳng có thêm ý gì. Nhưng từ khi dùng hoạt tự để in thì có người bỗng dưng dùng tiểu thuyết để công kích người này người khác. Nhà văn đó đi vào một con đường đen tối nên có thể làm cho tư tưởng người đọc cũng theo tư tưởng mình mà trở thành hư hỏng. Y đã lấy tiểu thuyết làm một thứ dụng cụ để hắt nước bẩn, người bị bẩn chưa biết là ai. Thật là một điều đáng thương, đáng giận hết sức. Cho nén tôi phải thanh minh ở đây để khỏi phải bị hiểu nhầm, làm hại đến nhân cách người đọc. 16-3-1919."

Chú thích
(1) Lỗ Tấn dùng ngôi thứ nhất. nhưng ông không hề làm công cho quán rượu Hàm Hanh bao giờ. Đây là một cách viết làm cho câu chuyện trở thành thân mật, có dáng dấp một thiên hồi ức.
(2) Theo Tôn Phục Viên trong cuốn Một vài việc về ông Lỗ Tấn và Chu Hà Thọ trong cuốn Nhà cũ của Lỗ Tấn, thì quán rượu Hàm Hanh là một quán rượu có thật. và cũng có một nhân vật giống như Khổng ất Kỷ. Ông này họ Mạnh, người ta gọi là Mạnh phu tử, và là bà con xa với Lỗ Tấn. Nhưng hình tượng này có một ý nghĩa điển hình. Khổng ất Kỷ đại biểu cho tầng lớp trí thức dưới trong xã hội phong kiến, bị chế độ khoa cử đầu độc trở thành một người vô dụng.
(3) Chi hồ giả dã các hư tự dùng trong văn ngôn. Ý là: nói theo chữ nghĩa trong sách, tỏ ra có học hơn người.
(4) Trên các thiếp đồ ngày trước thường có viết câu bằng chữ son như sau: "Thượng đại nhân, Khổng ất Kỷ. Hóa tam thiên, thất thập sĩ. Nhĩ tiểu sinh, bát cửu tử. Giai tác nhân, khả tri lễ dã". Câu này đã có từ lâu, từ đời Minh và có thể từ đời Đường, Tống. Thuờng đọc ba chữ một, giống như tam tự kinh, đại khái là kể sự nghiệp của Khổng tử và khuyên trẻ con gắng học. Những chữ này lại giản đơn nên dùng để tập đồ. Ở ta. ngày trước đi học chữ nho, cũng lấy câu này tập đồ.
Theo ông Hứa Khâm Văn, tác giả tập Phân tích Gào thét, thì chính là Thượng đại nhân, thánh ất dĩ tức là Thượng cổ đại nhân, Khổng thị nhất nhân nhi dĩ. Thời thượng cổ chỉ có một người vĩ đại là Khổng tử mà thôi). Chữ dĩ nhầm là kỷ. thành ra ý nghĩa không rõ. Ở Việt Nam, cũng thường đọc thánh ất dĩ
(5) Quân tử cố cùng, chữ trong sách Luận ngữ nghĩa là người quân tử dù trong lúc cùng khốn cũng giữ trọn tiết, không thay đổi.
(6) Câu này nguyên văn là: Đa hồ tai, bất đa dã, chữ trong sách Luận ngữ.



Trương Chính dịch 

Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn n.trang. Cuốn của tôi chắc là tái bản nên có 1-2 lỗi chính tả đó.
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Tam M và HuyTran, Ct.Ly đã sửa xong rồi
 
CHúc vui
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: sherlockhomes
 
nhân tiện mình cũng muốn thông báo là truyện Ngày hội quả bí của tác giả Agatha Christie bị thiếu chương mười bốn. mong Thư viện xem lại.

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnqntn0n31n343tq83a3q3m3237nvntn&cochu=
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn sis HD và SH đã thông báo.

Hiện tại, chưa ai có Chương 14. Cho nên chúng ta cần phải kiên nhẫn đợi ai đó có Ch. 14 đăng lên, lúc đó sẽ bổ sung vào thư viện sau .

Cảm ơn sự thông cảm của các bạn.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-03 04:05:41nguyenuthang>
Thân gửi các bạn ,
Trong bài " Dòng thời gian " ( Tuỳ bút-Tản văn - Link : http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=253505&mpage=1&key=&#253505 )
có sai sót do lỗi đánh máy.Tôi post lên rồi mới nhận ra ,nay đã điều chỉnh xong. Tưởng khó hoá ra dễ thôi. Không biết có thành viên mới nào VNTQ gặp lúng túng như tôi chăng ? Xin bật mí : Các bạn chỉ cần vào Flat Style / sửa là xong ngay.
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi đã đọc lại những truyện ngắn của mình trong Thư viện online và phát hiện thấy có rất nhiều lỗi mo-rat. Thú thực là tôi nhờ người đánh máy và chỉ thực hiện việc đưa lên Diễn đàn thôi. Nay tôi muốn tự mình sửa lỗi trong các truyện ấy. Song quả thật tôi chưa rõ cách thức thế nào. Mong bạn nào bày cách để tôi tự sửa chữa vậy.
Cảm ơn.
Đăng nhập để trả lời
0
Chip thấy truyện Hãy Hiểu tình em không hiểu sao bị mất 2 trang của Chương 17:
Bạn nào có thì bổ sung vào giúp ạ!
Hãy Hiểu Tình Em
Dịch giả: Liêu Quốc Nhĩ
Chương 17
Buổi tối Bội Cầm đang ở nhà Tự Thanh. Nàng đang cùng chàng thảo luận một số vấn đề quan trọng. Từ hôm nhà trường khai giảng đến giờ, sáng nào Bội Cầm cũng có giờ dạy. Nàng chỉ rảnh được buổi chiều và tối. Đó là giờ phút để gặp Thanh.
Nhà Cầm hẹp quá, mẹ lại tính khí thất thường. Vì vậy, muốn nói chuyện thoải mái chỉ có cách là đến nhà Thanh. Thường thì chiều tối, Chúc Vy cũng ít khi có mặt ở nhà. Lúc gần đây Siêu lại bảy chuyện dạy Vy nhảy, hướng dẫn Vy đọc sách làm vườn và tíu tít cùng nhay vun trồng cây cỏ, nên Vy bận rộn luôn.
Tối nay, theo dự tings cũng như mấy hôm, Tùng Siêu sẽ đến, vậy mà không hiểu sao đã tám giờ hơn cũng không có mặt. Điện thoại báo cho biết lý do cũng không. Chúc Vy sốt ruột ngồi trong phòng khách cùng nội chơi đôminô chờ đợi. Chỉ có Bội Cầm và Tự Thanh tâm sự nơi thư phòng. Tự Thanh nói:
- Anh định thế này nhé, hai mươi tháng mười hai chúng ta làm lễ cưới. Anh đã xem lịch rồi, hôm ấy nhằm ngày tốt lắm. Vả lại, lúc ấy gần Noel cũng tiện. Bội Cầm, anh nghĩ là em chẳng có lý do gì để kéo dài nữa. Em thấy đấy, em cũng hơn hai mươi lăm rồi, nhưng quan trọng hơn là anh, anh đã khá lớn tuổi. Nếu kéo dài thêm mấy năm nữa sợ chú rể đầu tóc bạc phơ, em có chịu không?
Bội Cầm cắn nhẹ môi có vẻ suy nghĩ:
- Anh khéo lo, em chỉ sợ nhanh quá vì em còn một số vấn đề phải lo. Bây giờ đã quá nửa tháng mười một rồi, chỉ có một tháng để lo, sợ không kịp.
Tự Thanh cắt ngang:
- Chẳng có gì để em lo lắng cả. Quần áo cưới, nữ trang, lễ phục... Tất cả anh sẽ lo đủ cho em trong vòng mười ngày. Anh sẽ điện thoại cho một nhà may nổi tiếng, họ đến đây đo cắt cho em em thấy sao?Bội Cầm nói:
- Anh đừng gấp gáp như vậy. Chuyện em lo lắng ở đây không phải là chuyện áo quần, nữ trang. Em cũng không cần phải tổ chức rình rang. Em chỉ cần một tờ giá thú là xong, linh đình cho cho mệt, anh thấy thề nào?
Tự Thanh phản đối:
- Không được, anh phải tổ chức một lễ cưới linh đình. Để mọi người biết là anh đã cưới em. Nhưng phải biết ngày tháng cho rõ ràng chứ vì còn phải in thiệp, hẹn nhà hàng, mướn ban nhạc...
Tự Thanh quay sang Bội Cầm:
- Em còn suy nghĩ gì nữa chứ? Phải chăng còn giận chuyện "Vườn Sen". Em thấy đấy, anh đã cho Tô Mộ Nam nghỉ việc. Anh đã giải thích và em đã tha thứ cho anh rồi cơ mà.
- Không phải chuyện đó.
- Vậy thì chuyện gì?
Tự Thanh nhìn thẳng vào mắt Bội Cầm như để tìm kiếm những ý nghĩ của nàng. Cuối cùng Bội Cầm nói:
- Ở đây có vấn đề của cha và mẹ em. Em nghĩ là sau khi đi lấy chồng, nhà cha mẹ em hẳn đơn chiếc lắm.
Tự Thanh nhìn Cầm rồi vòng tay ôm lấy người vợ chưa cưới.
- Hay là chúng mình rước cha mẹ về đây ở luôn?
Bội Cầm lắc đầu, Tự Thanh hỏi:
- Tại sao không được? Nhà chúng ta rộng rãi thế này. Chúc Vy lại sắp lấy chồng. Đem cha mẹ về em yên tâm, mà mẹ anh cũng có bạn.
Bội Cầm cắt ngang:
- Anh cũng biết là như vậy là không được mà. Không lẽ anh không hiểu tính của cha em? Tuy nghèo nhưng cha tự ái lớn lắm. Cha không bao giờ chịu về nhà con rể ở đâu. Hơn nữa mẹ em không bình thường, biết lúc nào bà ấy nổi cơn lên, phiền phức lắm.
- Nhưng sức khỏe của mẹ em lúc này đỡ lắm rồi mà. Lần trước, nghe bác sĩ Chung người mà anh đưa đến khám cho mẹ em đấy. Ông ấy nói là sức khỏe mẹ em đã ổn định và phát triền theo chiều hướng tốt. Vả lại, bà đâu còn hận em nữa.
- Nhưng bác sĩ Chung cũng đâu dám xác định là mẹ đã hồi phục. Ông ấy chỉ nói lầ cần có gì đó để thay thế, thay thế tình yêu của mẹ dành cho Bội Hòa. Chúng ta kiếm ở đâu ra? Có chăng là sau này khi chúng ta có con nhỏ. - Bội Cầm chợt cười thẹn thùng - Rõ ràng là gần đây mẹ không còn hận em nữa. Hôm qua mẹ còn nắm lấy tay em, nhìn vết sẹo trên đó và khóc. Mẹ hiểu chỉnh bà đã gây nên vết sẹo. Em biết mẹ vẫn còn thương em, mẹ biết em sắp lấy chồng, mẹ không muốn mất em, anh có hiểu không?
- Vì vạy anh mới nói là đưa mẹ em về sống chung với chúng mình.
Bội Cầm lắc đầu:
- Không được, em đã nói rồi, cha mẹ sẽ không chịu, vả lại còn mẹ anh...
- Mẹ anh à? Không bao giờ người phản đối.
- Em biết, nhưng mà những người lớn tuổi sống gần nhau thường dễ có chuyện xung đột, mẹ em lại bệnh. Nếu có chuyện gì xảy ra chắc chắn cả hai chúng ta đều không vui... Thường chuyện bất hòa của hai vợ chồng đều bắt nguồn từ người khác. Anh không thấy đó là chuyện phổ biến sao?
Tự Thanh nhìn Cầm:
- Anh không ngờ em nghiên cứu cuộc sống hôn nhân kỹ thế. Em đúng là một chuyên gia giáo dục gia đình, ít ra cũng về mặt lý thuyết. Em nói đúng, anh đã từng theo dõi bao nhiêu vụ án. Phần lớn tranh chấp vợ chồng đều bắt nguồn từ những người thân chung quanh, của vợ hoặc là chồng.
Bội Cầm nhăn mặt:
- Chính vì vậy mà em không muốn cha mẹ em về sống chung với mình. Nhưng em cũng không đành lòng sống xa họ. Anh nghĩ xem, em lấy chồng rồi ông bà sẽ sống ra sao?
Tự Thanh có vẻ bối rối:
- Vậy thì phải làm sao đây? Không lẽ em ở vậy không lấy chồng? Hay là em muốn anh phải ở rể nhà em.
Bội Cầm phì cười, nàng lưỡng lự một chút rồi nói:
- Anh Thanh, em có ý kiến này. Không hiểu anh chấp nhận được không?
- Thì em cứ nói ra xem, nếu có thể được là anh chấp nhận ngay.
- Anh Thanh này, anh đã đến nhà em. Ngôi nhà em đang ở khá cũ kỳ, nó lại không phải là nhà của cha mà là của Nhà nước cấp khi cha mẹ còn đi làm. Bây giờ cha đã nghỉ việc, đương nhiên nó sẽ bị thu hồi. Lúc gần đây em thấy... - Bội Cầm ngập ngừng nói - Khu vực gần nhà anh họ đang xây chung cư, chia lô ra bán. Tiền hưu của cha em có khoảng ba ngàn đồng có thể mua được...
Tự Thanh cắt ngang...
- Thôi được rồi, anh biết em định nói gì rồi. Em cũng đừng đề cập đến tiền hưu của cha em, ngày mai chúng ta sẽ đi coi nhà. Được sẽ chọn một căn, rước cha mẹ đến ở. Như vậy có có thể gần gũi thăm viếng. Được chứ! Không còn gì nữa chứ gì? Chúng ta có thể cử hành hôn lễ vào ngày hai mươi tháng mười hai được chứ?
Bội Cầm nói:
- Khoan đã, anh chưa hiểu rõ ý của em. Anh phải biết là nếu cha mẹ biết ngôi nhà này là của anh mua cho, chắ chắn người sẽ không ở. Con người cha em xưa nay như vậy, không bao giờ chịu để cho người khác thiệt thòi. Nếu em thấy cần sử dụng số tiền hưu của cha. Em đã hỏi rồi, những căn nhà ở đây trị giá mười triệu hai trăm ngàn nhưng có thể mua bằng hình thức trả góp. Bây giờ em muốn anh nói với ông chủ thầy là khi gặp cha em thì chỉ nói chỉ cần đợt đầu ba trăm ngàn thôi, phần tiền còn lại góp dài hạn. Như vậy em có thể dùng tiền dạy học mỗi tháng của mình trả tiền nhà. Chuyện đó chúng ta chỉ làm cha em an lòng thôi. Chứ em biết dù gì cũng phải nhờ anh. Còn chuyện nữ trang, quà cưới, em thấy bao tổn của anh nhiều quá, em không cần gì nhiều. Anh cho em một chiếc nhẫn bạc gọi là trao duyên được rồi.
Tự Thanh nhìn Cầm. Chàng cảm thấy Bội Cầm đáng yêu làm sao. Một yêu cầu nhỏ như vậy mà Cầm cũng thấy xấu hổ đến đỏ cả mặt. Thanh ôm Cầm vào lòng hôn lên má nàng.
- Mai chúng ta sẽ đi mua nhà. Không có gì em phải bận tâm. Còn về nhẫn cưới thì em cứ yên tâm, anh không mua chiếc nhẫn lớn lắm đâu, chỉ năm cara thôi. Anh tặng em chiếc nhẫn kim cương. Bởi vì chỉ có kim cương mới bền vững với thời gian thôi.
- Nhưng mà... Nhưng mà...
- Không có nhưng gì hết. Anh nhất định là lễ cưới sẽ cử hành ngày hai mươi tháng mười hai.
- Nếu anh chu toàn một việc cho cha mẹ em an cư trước ngày đó, thì em đồng ý.
- Anh bảo đảm với em chuyện đó.
(không có trang 286-287)
như mọi thứ chấm hết, nên tôi điện thoại tìm Cầm, nhờ Cầm nghe giúp. Có cách nào giúp tôi không? Chẳng lẽ vì một phút bồng bột mà tôi phải đem cả cuộc dời ra trả ư? Tôi không thể cưới Duy Trân. Nếu phải lấy cô ấy thà chết còn sướng hơn.
- Cậu Tùng Siêu! - Bội Cầm cắt ngang - Cậu đừng có hành động gì nông nổi nhé. Chuyện này khá phức tạp, ngoài cả khả năng giải quyết của tôi. Cậu cần phải được sự giúp đỡ của cả người khác. Thôi thấy không thể không nhờ ý kiến của luật sư Thanh được.
Tùng Siêu nói như hét:
- Đừng, từ xưa tới giờ ông ấy coi tôi như một chành thanh niên hiền lành trong trắng. Nếu bây giờ để bác ấy biết tôi xấu xa như vậy, làm sao bác có thể chấp nhận tôi làm con rể của bác?
Bội Cầm liếc nhanh về phía Tự Thanh nói:
- Ông ấy sẽ chấp nhận. Cậu có nghe rõ không? Chuyện này cần phải giải quyết nhanh chóng và dứt khoát. Gia đình cậu cũng như gia đình luật sư Thanh đều là những gia đình có tên tuổi ở xứ sở này. Chuyện càng để lâu sẽ càng không tốt. Nếu để nổ lớn ra, hậu quả sẽ thế nào cậu biết rồi chứ?
Tùng Siêu có vẻ khổ sở:
- Ồ, tôi không nghĩ đến điều đó. Có điều tôi không hiểu sao Duy Trân cũng biết là tôi không hề yêu cô ấy, vậy mà ràng buộc tôi để làm gì? Cuộc sống hôn nhân như vậy làm gì có hạnh phúc. Tôi sẽ căm thù cô ta suốt đời, tôi cũng sẽ không yêu đứa bé đó, tôi có ngờ là sẽ có con đâu?
- Đừng nói những điều đó lúc này - Bội Cầm cắt ngang - Đó là một bài học lớn để sau này cậu rút kinh nghiệm, còn bây giờ phải vắt óc ra mà nghĩ để còn tính...
- Còn gì mà rút kinh nghiệm nữa? - Tùng Siêu hét - Một lần tởm tới già rồi chị ơi!
- Thôi được rồi, Tùng Siêu, cậu đừng la hét gì nữa - Bội Cầm nói - Bây giờ cậu nghe tôi nói này. Duy Trân đang bức bách cậu, chuyện này cậu không thể không thú nhận với luật sư Thanh, ông ấy có kinh nghiệm, nắm vững yếu tô pháp lý. Trân khó có thể qua mặt ông ấy. Bây giờ việc làm đầu tiên là cậu nên phone sang phòng khách, báo cho Chúc Vy biết là tối nay cậu bận, cậu sẽ không đến, để cô ấy đi ngủ sớm, rồi độ mười giờ cậu sẽ... Bội Cầm suy nghĩ một chút nói - Cậu sẽ đến đây, chúng ta sẽ cùng nhau bàn bạc tìm cách gỡ. Ồ mà không. Hay là thế này... Cậu đang ở nhà hay ở đâu đấy?
- Không phải ở nhà - Tùng Siêu đáp - Tôi đâu dám điện thoại từ nhà đâu. Cha tôi mà hay được thì ông bằm nát tôi ra đấy. Hiện tôi đang ở một quán cà phê.
- Được rồi, cho tôi biết số máy đi, tôi thảo luận với luật sư Thanh một lúc sẽ cho biết kết quả sau. Và Bội Cầm lấy giấy bút ra ghi số máy.
- Bây giờ, cậu điện thoại cho Chúc Vy, bảo cô ấy đi ngủ đi.c ậu muốn cô ấy không biết gì cả chứ?
- Vâng, nhưng mà... Tùng Siêu có vẻ khổ sở - Rồi bác Thanh có giận thôi không?
- Đương nhiên là ông ấy sẽ giận, nhưng tôi chắc là ông ấy sẽ tha thứ.
- Chắc như thế?
- Chắc.
Và Cầm gác máy.
Tự Thanh chăm chú nhìn Cầm hỏi:
- Chuyện gì xảy ra với hắn vậy?
- Hắn phạm phải sai lầm mà nhiều người đàn ông phạm phải. Cái sai lầm đó anh cũng từng mắc - Bội Cầm chậm rãi nói.
Tự Thanh cắt ngang:
- Được rồi! Anh hứa sẽ không giận, không trách gì Siêu cả, ổn chứ. Bây giờ hãy cho anh biết cậu ấy đang làm gì? Có dính dáng đến đàn bà phải không?
- Vâng.
Và bội Cầm bắt đầu kể. Từ chuyện quen biết nhau giữa Tùng Siêu với Duy Trân, mối liên hệ giữa Trân và Cầm. Rồi đến chuyện Trân rủ Siêu đi Long Hải tắm biển ngủ đêm... Bây giờ Trân đã mang thai và bắt Siêu phải cưới.
Tự Thanh ngồi yên suy nghĩ, sau đó chàng nhìn lên, mặt có vẻ khó chịu:
- Duy Trân là em gái của Lâm Duy?
- Vâng.
Tự Thanh gật gù:
- Đây đúng là một chuyện phức tạp. Cô gái đó coi như là bạn của em, thì đương nhiên em phải hiểu rõ tính nết của cô ta, mục đích của cô ta chứ? Đã cố tình quyến rũ trai mới lớn sao lại để cho có con? Mục đích là gì? Hôn nhân ư? Một cuộc hôn nhân không cần tình yêu? Làm gì có chuyện kỳ vậy?
- Khoan đã - Một tia sáng lóe trong đầu Cầm - Anh có biết là... Mục tiêu đầu tiên của cô ấy là bảo em giới thiệu anh cho cô ta. Sau đó, khi biết Ngô Tùng Siêu là con trai của doanh thương Ngô Vọng Nhân, mục tiêu mới được thay đổi. Em nghĩ điều mà cô ấy đeo đuổi, là tiền tài danh vọng chứ không phải là quyến rũ đàn ông suông. Như vậy trên một khía cạnh nào đí, Trân và bà chủ "Vườn Sen" Có sở thích giống nhau.
Tự Thanh có vẻ áy náy:
- Em làm ơn nói chuyện trong chủ đề thôi, đừng đi ra ngoài được chứ?
- Em nói chuyện đúng trọng tâm đấy chứ? - Bội Cầm nói - Anh có biết không, lần đầu tiên em biết về Linda là qua miệng của Trân.
- Đúng là thứ chết tiệt! - Tự Thanh lẩm bẩm.
Bội Cầm ngẩng lên nhìn Thanh:
- Xin lỗi anh. Thật ra em cũng không rõ ý đồ của Trân. Em nghĩ, anh đã từng phân tích tâm lý của Mộ Liên, hẳn anh sẽ hiểu Trân hơn. Biết đâu Trân chẳng yêu Tùng Siêu như Linda yêu anh vậy?
Tụ Thanh đỏ mặt:
- Thôi mà tha cho anh đi, sao em cứ ghép chuyện hai người đó với nhau hoài vậy?
- Được, em không nói nữa - Bội Cầm có vẻ suy nghĩ - Duy Trân năm nay hai mươi lăm tuổi. Đàn bà đến tuổi này thường phân vân, không biết mình có sức lôi cuốn không? - Bội Cầm nhìn Tự Thanh - Xin lỗi anh nhé. Nhưng em phải dẫn lời của anh là có nhiều người đàn bà muốn chứng tỏ sự hấp dẫn của mình vẫn còn mạnh, nên họ tìm cách lôi cuốn thanh niên trẻ hơn, như trường hợp của Linda...
- Bội Cầm, sao em cứ giương đông kích tây mãi?
- Anh lầm rồi, em đang tìm cách giải quyết chuyện Tùng Siêu đấy chứ. Anh không muốn à?
- Sao lại không?
- Vậy thì anh đừng quấy rầy nữa, để em nghĩ xem nào! - Bội Cầm nhìn lên trần nhà suy nghĩ - Như anh biết, có người con gái cần tiền, người cần tình yêu, người lại muốn tìm nơi nương tựa... Còn Duy Trân? Cô ấy cần một người chồng! Một người chồng có chút địa vị trong xã hội, có tiền của. Trân không cần tình yêu của chồng. Trái lại, nàng còn có thể dựa vào đấy để thu hút đàn ông khác. Đúng rồi, đó là mục đích của Trân. Trân đang cần một người đàn ông như thế.
- Không phải chỉ có bấy nhiêu thôi đâu. - Tự Thanh gật gù nói - Theo ý em thì Trân đã nhắm vào Siêu. Và cũng theo em thì Siêu có thể phủ nhận chuyện đó được không? Anh cho rằng không? Tùng Siêu còn ngây thơ, khờ khạo lắm. Hắn không hề biết là bị giăng bẫy. Cái gì hắn cũng tưởng là thật. Chỉ tội nghiệp cho Chúc Vy. Con bé không thế sống thiếu Siêu, xa nhau nó có thể chết mất.
- Em thấy thì ...- Bội Cầm nghĩ đến thái độ của Chúc Vy khi ngồi trong phòng khách nhà họ Ngô. - Hay là chúng ta nên mời Duy Trân đến đây, nói chuyện đâu đấy sòng phẳng coi điều kiện của cô ấy thế nào?
Bội Cầm nhấc điện thoại lên, nhìn Tự Thanh:
- Anh tìm một địa điểm thích hợp nào đi, ta sẽ bảo Tùng Siêu đưa cô ấy đến đây. Mọi chuyện phải giải quyết nhanh chóng, không thể kéo dài được.
Tự Thanh suy nghĩ:
- Thật ra thì biết chỗ nào an toàn thích hợp. Hay là thế này, em cứ điện thoại bảo Tùng Siêu mười một giờ mang Duy Trân đến đây. Chúng ta sẽ thảo luận sự việc trong thư phòng, chỉ có nơi này an toàn nhất.
- Anh không sợ là Chúc Vy nghe được à?
- Mười một giờ, Chúc Vy đã ngủ. Vả lại, phòng ngủ trên lầu, Vy lại không có thói quen nghe lén.
- Thế còn mẹ và vú Ngô?
- Hai người đó ngủ còn sớm hơn
Bội Cầm vẫn thấy không yên tâm.
- Em thấy không ổn.
- Không còn cách nào khác! - Tự Thanh chau mày. - Chuyện này không tốt lành gì, không lẽ nói giữa chốn đông người ư? Thôi em gọi dây nói đi, bảo Siêu mang cô ấy lại đây. Anh muốn xem mặt cô ta thế nào?
- Vâng.
Bội Cầm lẳng lặng đến bên điện thoại.cả căn phòng im lặng, chỉ có tiếng u u và tiếng bấm số vang lên từ phía Cầm. [/align]
Chipmuck
snow_2101@yahoo.com
Đăng nhập để trả lời
0
mình đang sửa chính tả truyện "Tuý tâm kiếm", dù đang trong quá trình đánh máy, nhưng cũng đã có 50 chương rồi.

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=584574
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 10, Kiếp sau của tác giả Marc Levy có rất nhiều lỗi chính tả. Mong BQT xem xét để chỉnh sửa lại ạ!
Cảm ơn./.
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvn1nmn2n31n343tq83a3q3m3237nvn1n
Chipmuck
snow_2101@yahoo.com
Đăng nhập để trả lời
0

Kiếp sau, chương 10

Đã được hiệu đính lại rồi

Cảm ơn Chipmuck nhiều

Đó là lỗi font chữ mà thôi


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-02 17:42:30ArsMagna>
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnnnvnvn31n343tq83a3q3m3237nvn

Truyện "Những ngôi sao xa xôi" bị rất nhiều chỗ sai. Đây là truyện có trong sách giáo khoa, mong BQT sớm thay bằng bản đã sửa chữa.

Bản đã sửa chữa:

Những ngôi sao xa xôi
 
 
 
       Chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một cái hang dưới chân cao điểm. Con đường qua trước hang, kéo lên đồi, đi đến đâu đó, xa! Ðường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ có những thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc. Những tảng đá to. Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất.
 
Việc của chúng tôi là ngồi đây. Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất phải lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom. Người ta gọi chúng tôi là tổ trinh sát mặt đường. Cái tên gợi sự khát khao làm nên những sự tích anh hùng. Do đó, công việc cũng chẳng đơn giản. Chúng tôi bị bom vùi luôn. Có khi bò trên cao điểm về chỉ thấy hai con mắt lấp lánh. Cười thì hàm răng trắng loá trên khuôn mặt nhem nhuốc. Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là "những con quỷ mắt đen".
 
Ðơn vị chăm chúng tôi ra trò. Có gì lại bảo "Ðể cho bọn trinh sát, chúng nó ở trên đó vắng".
 
Ðiều đó cũng dễ hiểu thôi. Ðơn vị thường ra đường vào lúc mặt trời lặn. Và làm việc có khi suốt đêm. Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh thì căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp xung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ... Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang. Bên ngoài nóng trên 30 độ chui vào hang là sà ngay đến một thế giới khác. Cái mát lạnh làm toàn thân rung lên đột ngột. Rồi ngửa cổ uống nước, trong ca hay trong bi đông. Nước suối pha đường. Xong thì nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ mà lúc nào cũng có pin đầy đủ. Có thể nghe, có thể nghĩ lung tung...
Hình như ta sắp mở chiến dịch lớn. Ðêm nào xe cũng đi nườm nượp ngoài đường. Ban đêm chúng tôi được ngủ. Nhưng mấy đêm nay thì chịu. Ðứa nào cũng leo tót lên trọng điểm, cầm xẻng xúc, nói vài câu buồn cười với một anh lái xe nào đó. Chỉ khổ đứa phải trực máy điện thoại trong hang. Bây giờ là buổi trưa. Im ắng lạ. Tôi ngồi dựa vào thành đá và khe khẽ hát. Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa lời ra mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn và ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.
 
Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như cái đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!". Xa đến đâu mặc kệ, nhưng tôi thích ngắm mắt tôi trong gương. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng.
 
Không hiểu sao các anh pháo thủ và lái xe lại hay hỏi thăm tôi. Hỏi thăm hoặc viết những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách nhau hàng nghìn cây số, mặc dù có thể chào nhau hàng ngày. Tôi không săn sóc, vồn vã. Khi bọn bạn gái tôi xúm nhau lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, tôi thường đứng ra xa, khoanh hai tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt. Nhưng chẳng qua tôi điệu thế thôi. Thực tình trong suy nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ.
 
Tôi không nói cho ai điều đó. Nhưng các anh qua đường này hay thăm hỏi tôi một cách trân trọng, thân mến.
- Mày hát hay, người cũng tạm, lại phá bom như quỷ! - Bạn bè tôi giải thích. Tất nhiên, điều đó chẳng chính xác.
Bên ngoài vẫn im ắng. Từ mười giờ sáng đến giờ, máy bay không bay qua cao điểm. Bom chỉ bỏ ở mạn trong, nghe âm âm. Chính cái âm thanh trầm trầm có vẻ thanh mảnh ấy bay đến, sự im lặng ở đây lại căng chùng, như báo hiệu một cái gì dữ dội. Nắng rất gắt. Gió khô. Nhưng trong hang mát.
Nho đang thêu gối. Mỗi đứa một ý thích riêng. Nho thêu. Còn chị Thao thì chép bài hát vào quyển sổ nhỏ để trên đùi. Hai người đang nói chuyện bình thường, tôi không nghe từ đầu. Tôi bỗng chú ý lắng tai:
- Bao giờ thì xong nhỉ! - Nho hỏi.
- Cái gì xong? - Chị Thao không ngẩng lên, nhưng giọng thì tỏ vẻ ngạc nhiên.
Nho ngáp. Rồi im. Tôi biết nó nói gì rồi. Nó sẽ bảo: xong chiến tranh, sẽ xin vào một nhà máy thuỷ điện lớn. Nó làm thợ hàn, sẽ trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy. Nó sẽ đập thật giỏi. Và viết đâu lại sẽ được người ta tuyển vào đội bóng chuyền miền bắc. Còn chị Thao thì muốn làm y sĩ. Chồng chị sẽ là một anh bộ đội đeo quân hàm đại uý, hay đi xa và có râu quai nón. Chị không thích sống cạnh chồng hàng ngày, vì như thế, tình yêu sẽ chóng vô vị.
Tôi cũng hay nói những dự định của tôi. Ước muốn nhiều. Nhưng tôi cũng không rõ mình sẽ chọn cái gì là chủ yếu. Trở thành kỹ sư kiến trúc? Rất hay! Thuyết minh trong rạp chiếu bóng của thiếu nhi, lái xe gấu ở cảng, hay là hát trong đội đồng ca trên một công trường xây dựng...! Tất cả, đều là hạnh phúc. Tôi sẽ hăng say và sáng tạo, như những ngày này, trên cao điểm của chúng tôi, nơi ra đời những ước mơ và khao khát.
Nhưng mà, những cái đó dành cho sau này. Sau chiến tranh. Khi con đường chúng tôi bảo vệ đây sẽ rải nhựa phẳng lì. Ðiện sẽ dăng dây vào rừng sâu và những nhà máy gỗ sẽ đêm ngày không ngủ... Ba chúng tôi đều hiểu như vậy. Hiểu vì tin với một niềm tin mãnh liệt.
Cái gối trên tay Nho nhỏ nhắn, màu trắng. Nho thêu những bông hoa cầu thả và loè loẹt. Những đường viền to như dây thừng. Có ai chê, Nho phớt tỉnh, tay cứ đưa trên mũi kim như không có gì xảy ra. Khi người ta chê lắm, Nho mím môi, rứt chỉ bằng hai hàm răng đều đặn, giọng cao vút lên:
- A, cho nó nổi!
Nho hơi đặc biệt. Vừa thuần hậu, vui vẻ, vừa lỳ bướng. Hai cái đó không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau, khiến Nho có một đặc tính khá hiếm hoi. Nho sống với tôi từ ngày mới tới cao điểm này. Dạo đó, cái gì cũng buồn cười. Tôi ngạc nhiên khi người ta bảo tôi đi gánh đất.
- Thanh niên xung phong như thế này à? Gánh đất? (tôi không tưởng tượng thế. Thanh niên xung phong phải vác súng kia, đi rầm rộ dưới những cánh rừng không trăng sao. Nói với nhau phải mạnh và gọn như những câu khẩu hiệu...)
Nhưng cũng đi gánh đất. Rồi quen dần.
Nhiều bữa cơm không có canh, bọn con gái lấy nước uống chan vào cơm.
Chan công khai và khổ sở đến nỗi bọn con trai phải kêu lên vì thương. Nghe tiếng bom đầu tiên, có đứa chết giấc, nằm dán xuống đất. Nhưng bây giờ quen rồi.
Tôi đến đơn vị sau Nho. Hôm đó, tôi ngơ ngác đặt cái ba lô lên khúc cây ở sau doanh trại. Nho ở dưới suối lên. Tóc ướt... Nước đọng từng giọt trong trên trán và trên sống mũi. Nước suối chắc là nhiều lắm. Có thể bơi... tôi nghĩ. Nho đứng lại, một giây thôi, rồi từ từ lại gần tôi, tay vặn cái khăn mặt ướt. Nó hất đầu một cái rồi lướt đôi mắt khinh mạn nhìn từ đỉnh đầu xuống đôi giầy đầy bùn tôi đang ra sức cọ xát vào nhau.
- Ðơn vị nào bổ sung đến? Quê đâu? Tên gì?
Không cọ xát đôi giày nữa, tôi đứng theo tư thế nghiêm. Những buổi tập quân sự ở trường, tôi có học võ. Tôi chống tay vào sườn, giữ tư thế thủ và suy tính: có nên nện cho nó một quả không ? Nện vào đâu trước tiên? Nếu nó nện lại, tôi sẽ bấm huyệt nhẹ một cái. Huyệt tay.
Nhưng Nho đã xoay người, đút tay vào túi quần, hất hàm:
- Vào ban chỉ huy! - Và bước đi trước tôi.
Tất nhiên chúng tôi chú ý nhiều đến nhau từ đó. Dần quen và thân nhau lúc nào không biết. Hai đứa đều tròn mười bảy tuổi. Ðứa cũ lên mặt với đứa mới một tí, chả có gì đáng để bụng. Tôi đâm thích Nho. Cái tính của nó thật tuyệt. Bọn con trai rất kiềng nhưng cũng rất dễ trêu.
Cũng như tôi, Nho thích sống tự do. Hai đứa bảo nhau: "Từ giờ đến già chỉ yêu thôi chứ không thèm lấy chồng. Lấy chồng khổ lắm. Tã lót, chăn màn, mùn cưa, nước mắm... thì giờ đâu mà đi chơi nữa. Yêu, anh ta sẽ mang đi xem chiếu bóng, dỗ dành một tí khí giận dỗi, đọc sách tha hồ..."
Nho có một anh kỹ sư ở nhà máy cơ khí. Anh ta chăm viết thư và hay viết những cái thư dài, đọc đến mỏi mắt. "Ở Hà nội, dù sao cũng khá thì giờ hơn ở tiền phương...". Anh ta thanh minh. Nho có một cái ảnh lúc lên hai tuổi, anh ta giữ. Nho mặc quần yếm đen, đội mũ vải rộng vành, cầm một nắm hoa dại, đứng dưới mấy gốc cải già. Ðã nhiều thư anh ta gửi Nho, tôi được xem. Anh ta viết: "Anh bây giờ khoẻ mạnh. Thích đá bóng và có hai cánh tay vạm vỡ. Anh nhìn ảnh em năm em lên hai tuổi và không thể nào hình dung nổi em lúc này. Anh chỉ nghĩ: em đây, bé nhỏ, cầm hoa trên tay. Anh sẽ bế em đi chơi, mua kẹo cho em và hỏi: "Cháu muốn đi đâu nữa, chú sẽ bế đi...". Ý nghĩ của anh kỹ sư thật khôi hài. Nhưng chúng tôi không cười khi đọc thư. Nghiêm trang, chúng tôi nhìn về hướng bắc. Ở đó có Hà nội. Chúng tôi xa đã lâu. Chúng tôi nhớ thành phố xanh. Chúng tôi quý sự yên tĩnh như kỷ niệm. Ðây là nơi mà tuổi trẻ chúng tôi đang lớn lên, nhưng không lúc nào chúng tôi không nhớ Hà nội.
Ở Hà nội, tôi có một căn phòng bé, gác hai. Căn nhà của tôi cổ và sâu trong ngõ, có nhiều cây xanh. Những cây ấy cũng qua bao năm tháng rồi, dây tầm gửi leo đầy. Ban đêm, tôi ngồi lên thành cửa sổ nhìn ra những mái nhà nhấp nhô, đen thẫm và hát. Tôi hát say sưa, ầm ĩ. Ở bên cạnh có ông bác sĩ, một người khó ngủ, phải bật đèn lên, lịch sự gõ vào tường ba cái. Một tháng phải có đến hai mươi đêm như vậy. Tôi ngồi chờ giấc ngủ trở lại với ông bác sĩ và hả hê biện hộ cho mình: "Chỉ có mình mới biết được cái bao la và trong lành của đêm thành phố. Ông bác sĩ tìm đâu ra được cái này trong những giấc mơ khó khăn kia?...". Và cũng vì hát say sưa nên có lần tôi suýt lộn nhào từ cửa sổ xuống đất. Khi lập cập níu tay vào cánh cửa rồi, tôi mới choáng váng nhìn xuống cái khoảng sâu thẳm dưới đất. Ở đó có một vòi nước nhỏ chảy suốt đêm vào bể. Tiếng nước xoắn vào nhau, tạo cho tôi cái cảm giác nước sắp tràn tới thành cửa sổ. Tôi nhích lên, bỏ hai chân vào trong một cái cách thận trọng; hát tiếp, nhưng hát nhỏ hơn và lắng nghe tiếng gõ ở tường.
Cái bàn nhỏ kê ở góc phòng, mẹ tôi thuê đóng cho tôi trong hai buổi trưa. Cứ mỗi lần làm việc gì liên quan đến giấy mực, tôi lại lôi tất cả sách vở trong ngăn kéo, trong cặp da, bày bừa bãi lên bàn, lên giường, mặc dù những thứ đó chả cần thiết gì cho việc sắp làm của tôi. Tôi cứ loanh quanh trong đống giấy má đó, mãi không làm được gì mà cũng không thể nào sắp xếp cho gọn được. Bứt rứt đến phát khóc, tôi gào mẹ thật to. Mẹ bỏ máy khâu, chạy vào, vừa cằn nhằn, vừa để cái nào ra cái nấy cho tôi. Bà nguyền rủa, không cương quyết lắm: "Con gái gì cái của mày. Lấy chồng rồi mà no đòn... No đòn...!". Vì thế nên ngay lúc ở nhà tôi đã thề là không lấy chồng...
- Thế nào, chuẩn bị thôi chứ?
- Cái gì? - Tôi giật mình. Từ nãy đến giờ tôi vẫn hát. Hát và nghĩ vớ vẩn. Nho cuộn tròn cái gối, cất nhanh vào túi. Chị Thao nhìn ra cửa hang. Quả thật, máy bay trinh sát. Cuộc sống ở đây đã dạy cho chúng tôi thế nào là sự im lặng. Sự im lặng từ sáng đến giờ không bình thường. Cái không bình thường đó đang đến. Tiếng máy bay trinh sát rè rè. Phản lực gầm gào lao theo sau. Hai thứ tiếng đó trộn lẫn vào nhau, rót vào tai con người một cảm giác khó chịu và căng thẳng.
- Sắp đấy! - Nho quay lưng lại chúng tôi, chụp cái mũ sắt lên đầu. Chị Thao móc bánh bích qui trong túi, thong thả nhai. Những khi biết rằng cái sắp tới sẽ không êm ả thì chị tỏ ra bình tĩnh đến phát bực. Nhưng thấy máu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét, áo lót của chị cái nào cũng thêu chỉ màu. Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm. Nhưng trong công việc, ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo.
Những cái xảy ra hàng ngày: máy bay rít, bom nổ. Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét. Ðất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khăn mặt vắt ở dây cũng rung. Tất cả, cứ như lên cơn sốt. Khói lên, và cửa hang bị che lấp. Không thấy mây và bầu trời đâu nữa.
Chị Thao cầm cái thước trên tay tôi, nuốt nốt miếng bánh bích quy ngon lành:
- Ðịnh ở nhà. Lần này nó bỏ ít, hai đứa đi cũng đủ.
Kéo tay áo Nho, vác xẻng lên vai và đi ra cửa.
Tôi không cãi chị. Quyền hạn phân công là ở chị. Thời gian bắt đầu căng lên. Trí não tôi cũng không thua. Những gì dã qua, những gì sắp tới... không đáng kể nữa. Có gì lý thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về?
Ðiện thoại réo. Ðại đội trưởng hỏi tình hình. Tôi nói như gắt vào máy: - Trinh sát chưa về!
Không hiểu vì sao mình gắt nữa. Lại một đợt bom. Khói vào hang. Tôi ho sặc sụa và tức ngực. Cao điểm bây giờ thật vắng. Chỉ có Nho và chị Thao. Và bom. Và tôi ngồi đây. Và cao xạ đặt bên kia quả đồi. Cao xạ đang bắn. Tiếng súng ở dưới đất lên quả là có hiệu lực. Không gì cô đơn và khiếp sợ hơn khi bom gào thét chung quanh mà không nghe một tiếng trả lời nào dưới đất. Dầu chỉ có một tiếng súng trường thôi, con người cũng thấy mênh mông bên mình một sự che chở đồng tình. Cảm giác đó cũng giống như thấy mình có một khả năng tự vệ rất vững vậy... Sốt ruột, tôi chạy ra ngoài một tí. Không thấy gì ngoài khói bom. Tôi lo. Ðột nhiên cao điểm bên cạnh vang lên dồn dập tiếng 12 ly 7. Hay quá, tiểu đoàn công binh đấy. Họ chi viện cho các anh cao xạ, cho chúng tôi. Bỗng dưng tôi muốn la toáng lên vì thích thú. Xung quanh cao điểm vắng vẻ này có bao nhiêu là người. Các anh cao xạ, thông tin và công binh đều rất mến chúng tôi. Chỉ cần chúng tôi bắn một phát súng báo hiệu yêu cầu giúp đỡ là họ sẽ chạy đến ngay.
Nửa tiếng đồng hồ sau, chị Thao chui vào hang. Bình thản, mệt lả và cáu kỉnh, chị không nhìn tôi:
- Hơn nghìn khối!
Rồi ngồi xuống, uống nước trong bi đông. Nước nhỏ từ cằm xuống áo, liên tiếp như những giọt mưa. Tôi quay điện về đơn vị. Ðại đội trưởng bảo:
- Thế à, cảm ơn các bạn!
Ðại đội trưởng rất hay dùng những từ tế nhị như "cảm ơn", "xin lỗi", "chúc may mắn". Anh trẻ, người gầy, hay đau khớp, hay làm ca dao cho báo tường. Nhà đâu như ở cuối phố Lò Ðúc.
Nho vừa tắm ở suối lên. Khúc suối đó cũng hay có bom nổ chậm. Cứ quần áo ướt, Nho ngồi, đòi ăn kẹo. Tôi móc túi, may còn hai cái kẹo chanh, dính đầy cát, chảy nước:
- Bốn quả nổ chậm, ít thôi.
Nho chống tay về đằng sau, ngả hẳn người ra. Cái cổ tròn những và chiếc cúc áo nhỏ nhắn. Tôi muốn bế nó lên tay. Trông nọ nhẹ, mát mẻ như một khe kem trắng. Ðại đội trưởng hỏi chúng tôi có cần người không. Tôi bảo không. Như mọi lần, chúng tôi sẽ giải quyết hết.
- Hay lắm, cảm ơn các bạn! - Ðại đội trưởng lại cảm ơn - Cả đơn vị đang làm đường cho một trung đoàn tên lửa qua rừng. Ði từ sáng không ngủ. Tôi cũng đi bây giờ, các bạn cố gắng nhé.
Thế là tối lại ra đường luôn. Thường xuyên...
Tôi, một quả bom trên đồi. Nho hai quả dưới lòng đường. Chị Thao, một quả dưới chân cái hầm Barie cũ.
Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Ðất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi lom khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới. Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Ðầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng...
Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Ðất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành.
Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng.
Chị Thao thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi. Dây mìn dài, cong mềm. Tôi khoả đất rồi chạy lại chỗ nấp của mình.
Hồi còi thứ hai của chị Thảo. Tôi nép người vào bức tường, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi cũng đập không rõ. Dường như vật
Tôi trượt chân ngã. Ðèn pin bật tứ tung. Chúng nó đuổi mãi cho đến khi đèn chiếu lệnh về hướng khác: đạn cũng ngừng rít trên đầu. Trung mới níu tôi lại, ngồi phệt xuống, kêu khát và đòi nghỉ. Tôi phải cương quyết xách Trung dậy. Mới đi vài bước, mình ngoảnh lại đã mất hút, không thấy Trung đâu. Ðương bực mình vì phải lộn lại, giận không để đâu cho hết, tôi nghe thấy tiếng Trung đáp khe khẽ: " Lại đây mà giải khát, Phương ơi!". Tôi mò lại tìm, Trung đường loay hoay nhét khăn mặt vào các kẽ đá hút lấy nước. Rồi Trung vắt khăn mặt ngửa mãi mồm ra hứng.
Tôi không nỡ trách Trung nữa. Nhưng tôi giục càng gắt, phải sớm ra khỏi khu núi đá này, sớm được giờ nào hay giờ ấy. Trung rủ tôi tha thiết quá! Tôi theo Trung đi ngắt những búp bòng bòng đọng nước. Lang thang hết khóm này sang khóm khác. Trong tối chỉ còn nghe tiếng mút nước chùn chụt mà theo nhau. Gà chợt gáy dưới làng... Thôi chết! Sáng mất rồi. Chân tôi muốn chạy nhưng đi bước không vững. Ðói lả người...
Ðúng như chúng tôi đã rút kinh nghiệm, mới sáng bảnh mắt Việt gian đã nheo nhéo dưới chân: "Việt Minh ra đi, các quan lớn biết hết rồi. A! Nó kia kìa! Có ra, có ra ngay không , không quan lớn bắn chết."
Cứ đứng ngoài cửa hang chõ mồm vào cửa hang sủa nhặng thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy rõ mình mồn một. Chỉ còn có đợi mình. Anh nào non gan mà chui ra là hết đời. Nhưng được cái anh em "Lê Lợi" chúng tôi, chúng tôi đa đi guốc trong bụng chúng nó. Tôi ngồi nghĩ bụng: "Chúng mày còn đứng chõ mõm vào hang mà sủa, chứ chúng ông, đã ngồi vắt chân lên cổ chúng mày!".
Thật là ngồi bảnh choẹ trên một gốc si rậm tận đỉnh vách thành cao hơn đầu Tây trên hai mươi thước. Cởi thắt lưng, cởi giải rút, xé quần, thôi thì tìm đủ các thứ dây để co cành si lại mà phủ kín lấy người. Thế là cứ yên chí ngồi bình chân như vại. Chỉ có cái "xuỵt" cấm nói. Nói là chó đen, chó vàng nó sửa lên thì hết đường... Tôi và Trung ngồi còn thêm một việc. Hết đưa súng lên ngắm từ những cái đầu, những bộ ngực phanh trần, đến cái bụng đen nhành mồ hôi rồi lại hạ súng xuống, nhìn nhau đồng ý: "Ðếch vào! Ðể dành ra ngoài hãy hay, ông với chúng mày còn gặp nhau nhiều. Phởn lên bây giờ thì hết đơi đấy"!.
Bên dưới chúng nó sủa doạ chán rồi nghiến răng, nghiến lợi bắn liên miên vào hang. Bắn cho có tiếng súng quan nghe rồi nháy nhau chuồn thẳng.
Chúng nó đi khỏi. Chúng tôi hết trò để mà quên. Ngồi rảnh y như rằng lại khát. sao mà khát khổ khát sở đến thế này: "Mẹ kiếp! Giá lúc này có nước ao, nước cống".
Nhưng chúng tôi đã chịu ngay thế nào? Ðể cho cụ Trung cứ lèo nhèo mãi, anh em cũng lấy làm khổ tâm lắm. Phải cho chú mình cùng đi giải khát một cái mới được.
- Này Trung này!... Cứ theo bà cụ mình ra bến ô tô thì được một đôi giấy da láng oai ra phết. Mà chưa biết chừng lại cốc kem hai (xu). Thê mà mình nhất định không thèm đi. Chỉ đòi nằng nặc cho bằng được một đôi guốc mộc. Cậu có biết để làm gì không. Ðể được vào
 
- Cho nhiều đường vào. Pha đặc! - Chị Thao bảo.
Uống sữa xong, Nho ngủ. Máy bay trinh sát vẫn nạo vét sự yên lặng của núi rừng. Chị thao dựa vào tường, hai tay quàng sau gáy, không nhìn tôi.
- Hát đi, Phương Ðịnh, mày thích bài gì nhát, hát đi!
Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan hộ mềm mại, dịu dàng. Thích "ca chiu sa" của Hồng Quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: "Về đây khi mái tóc còn xanh xanh...". Ðó là dân ca ý trữ tình, giàu có, phải lấy giọng thật trầm. Thích nhiều. Nhưng tôi không muốn hát lúc này. Tôi đâm cáu với chị Thao, mặc dù, tôi hiểu, những tình cảm gì đang quay cuồng trong chị. Chị cứ đưa mắt nhìn Nho, lấy tay sửa cái cổ áo, cái ve áo và tóc nó. Chị không khóc đó thôi, chị không ưa cả nước mắt. Nói chung, trên cao điểm này, chúng tôi không ưa nước mắt. Nước mắt đứa nào chảy trong khi cần phải cứng cỏi của nhau này là bị xem như bằng chứng của một sự tự nhục mạ.
Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau điều đó.
Chị Thao hát: "Ðây Thăng Long, đây Ðông Ðô... Hà nội ...". Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào, nhưng chị lại có ba quyển sổ dày, chép bài hát. Rồi là ngồi chép bài hát. Thậm chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa.
Có một đám mây kéo ngoài cửa hang. Một đám nữa. Rồi một đám nữa bay qua ngày càng nhanh. Bầu trời mở rộng trước cửa hang đen đi. Cơn giông đến. Cát bay mù. Gió quật lên, quật xuống những cành cây khô cháy. Lá bay loạn xạ. Ðột ngột như một biến đổi bất thường trong tim con người vậy. ở rừng mùa này thường như thế. Mưa. Nhưng mưa đá. Lúc đầu tôi không biết. Nhưng rồi có tiếng lanh canh gõ trên nóc hang. Có cái gì vô cùng sắc xé không khí ra từng mảnh vụn. Gió, và tôi thấy đau, ướt cả má.
- Mưa đá! Cha mẹ ơi! Mưa đá!
Tôi chạy vào bỏ trên bàn tay đang xoè ra của Nho mấy viên đá nhỏ. Lại chạy ra, vui thích cuống cuồng.
Năm tôi học thì hết lớp mười, cũng có mưa đá. Ðang đêm, đá đập vào tường, đã cũng kêu lanh canh. Tôi mở tung cửa, chạy ra hành lang, rồi chạy đến đập cửa từng phòng, hét toáng lên như một con dở người:
- Trời ơi, dậy mau! Mưa đá!
Và rên rỉ một mình:
- Chỉ có những kẻ ngốc mới nằm yên trên giường lúc này thôi.
Ông bác sĩ không ngốc tí nào, nhưng ông ta trịnh trọng tuyên bố:
- Nếu cô còn làm ồn, chúng tôi buộc phải có biện pháp...
Còn bà giáo ở bên cạnh thì thở dài, thở dài đến nào ruột.
- Mẹ ơi, không cho con người ta ngủ nữa sao..?
Chỉ có anh công nhân lái xe dưới nhà là thức trọn cùng tôi cái đêm kỳ diệu đó. Sau này anh đi bộ đội, thành dũng sĩ diệt xe cơ giới. Anh ta viết thư cho tôi, hay nhắc đến những giọt mưa đã thời nào và gọi đó là "những kỷ niệm đi qua..."
ở đây, trên cao điểm đầy bom này cũng có mưa đá. Nhưng niềm vui còn trẻ của tôi lại nở tung ra, say sưa, tràn đầy. Chẳng ai có thì giờ mà gắt tôi. Chị Thao đang lúi húi hốt cái gì dưới đất. Chắc là đá. Còn nho thì nhổm dậy, môi hé mở:
- Nào; mày cho tao mấy viên nữa.
Nhưng tạnh mất rồi. Tạnh rất nhanh như khi mưa đến. Sao chóng thế? Tôi bỗng thẫn thờ, tiếc không nói nổi. Rõ ràng tôi không tiếc những viên đá. Mưa xong thì tạnh thôi. Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố. Phải, có thể là những cái đó... hoặc là cây, hoặc là cái vòm tròn của nhà hát, hoặc bà bán kem đẩy cái xe chở đầy thùng kem, trẻ con háo hức bâu xung quanh. con đường nhựa ban đêm, sau cơn mưa phùn hạ rộng ra, dài ra, lấp loáng ánh đèn điện trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích nói về những xứ sở thần tiên. Hoa trong công viên. những quả bóng sút vô tội vạ của bọn trẻ con trong góc phố. Tiếng rao của bà bán xôi sáng cáo cải mủng đội trên đầu...
Chao ôi, có thể là tất cả những cái đó. Những cái đó ở thiệt xa... Rồi bỗng chốc, sau một cơn mưa đá, chúng xoáy mạnh như sóng trong tâm trí tôi. Người ta bảo chúng tôi là con gái Hà nội, liệu có xa nhà được ba ngày? Nhưng chúng tôi ở đây, trên cao điểm này đã ba năm. Các anh lái xe và pháo thủ gọi tên từng đứa trong đơn vị tôi, không nhầm lẫn. Còn chúng tôi, chúng tôi biết anh nào can đảm, anh nào hay cáu gắt. Trong đêm, chúng tôi sửa đường, các anh ấy ném xuống cho chúng tôi thuốc đánh răng Ngọc Lan, giấy viết thư ướp nước hoa và kẹo chanh. Thường chúng tôi không biết ai ném xuống vì xe phải qua trọng điểm thật nhanh. Nhưng chúng tôi truyền nhau:
- Có đoàn xe ở Hà nội vào!
ở Hà nội mới có những thứ đó.
Những thứ đó, ở Hà nội, chúng tôi không để ý đến. ở đây, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc khi cầm một tờ giấy thơm mỏng, bỏ vào phong bì, gửi những người còn ở trước chúng tôi nữa.
- Nằm xuống! - Chị Thao thét.
Như bị một quả tống bất ngờ vào bụng, tôi co người lại rồi mới nằm dài ra. Bom! Hình như nó rơi lộp bộp rồi mới nổ. Mặt đất như một người khổng lồ đang rùng mình.
Cứ như có đến hàng ngàn cái máy bay nhào lộn trên đầu. Tôi lết vào hang. Chị Thao lết vào hang. "Mẹ kiếp, không để cho người ta thở nữa chắc..." - Chị lầu bầu. Mảnh dẻ, cân đối, tóc xoã trên vai, cái sẹo chìm trong bóng tối, chị đứng, một tay vịn lên dây phơi khăn mặt. Giá có giọng nói tốt, chị đi đóng kịch thì hơn. Dáng chị lên sân khấu cũng coi được. Nhưng phải cái giọng thì chua đến chối tai. Chị tự nhận như thế.
- Ðẻ cái máy điện thoại lại gần dây! - Nho ra hiệu.
Tôi bưng máy lại cho Nho, cầm thước và đi ra với chị Thao.
Chạy nhiều nên vết thương ở đùi tôi và bắt đầu đau. Miễn là đừng khập khiễng. Chị Thao rất cương quyết. Tất nhiên chị chẳng ngại lên cao điểm một mình.
Rất nhiều hố bom. Chúng tôi do đất và hô lên, cộng nhẩm. Chị Thao ghi vào cuốn sổ trực. Không có bom nổ chậm, nhưng khá nhiều đất. Tổng cộng đến hơn hai nghìn khối. Bỗng, như có cái gì thúc mạnh vào lưng, chị Thao xô tới, ghì tôi vào ngực chị và xoài xuống đất. Chớp nhoáng, một núi đất
không lồ ập xuống chúng tôi. Những tảng đất ướt lẫn với đất vụn khô đào từ đáy hố bom. Nóng. Có cái gì ghì đầu tôi xuống. Tôi ngoi ra, chân đạp xuống lấy đà, ngoi... Thở, cát vào mũi. Lắc đầu. Ðất rơi rào rào. Chung quanh tôi là một màu xám như chì, nặng nề, cuồn cuộn khói.
Không thấy chị Thao đâu. "Chị Thao!" - Tôi ráng sức gào lên. Nhưng cổ tắc nghẹn. Ðất vào đặc cả miệng. Mẹ kiếp! Tôi khạc nhổ ra một cục đất. Tay tôi chạm vào tóc chị Thao. Tôi quay phắt lại, rụt tay rồi xô cả người tới dùng hai tay cào đất lên. Chị Thao mềm nhũn, thở không ra hơi. Chị quàng lấy gáy tôi, đứng lên, loạng choạng.
Nho nhăn mặt như em bé:
- Lại thế rồi?
Chị Thao cười một cách lạ lùng và dần trấn tĩnh:
- Xúi quẩy tí. Nhưng không việc gì đâu.
Xúi quẩy gì. Trong người chị có chín vết thương lớn nhỏ rồi. Người Nho năm. Tôi còn ít hơn, bốn vết. Có một vết ở bụng khá nặng, bị giam vào quân y ba tháng. Còn bị vùi thế này là thường...
Tôi nhìn các bạn tôi. Chị Thao xanh lắm. Chị mệt rồi. Nho bưng lại cho chị một ca nước, đưa ngón tay út bé tạo gẩy những mẩu đất trong tóc chị ra và đột nhiên triết lý:
- Chuyện, cao điểm mà lị!
Chị Thao phì cười, hất đầu lại phía tôi:
- Lấy số ghi kẻo quen mất.
Tôi quay máy điện thoại. Chị Thao vội vàng lại bên tôi!
- Nói rõ tất cả, nhưng bảo rằng trên này vẫn vững.
Không phải đại đội trưởng ở máy mà là liên lạc đại đội. Một anh chàng hiếu khách, lịch sự, không hút thuốc lá và không ưa con gái.
- Ðại đội trưởng đi đâu?
- Ðang chỉ huy ngoài hiện trường, tên lửa gần qua. Nhưng sắp chiều rồi nhỉ. Ai cũng không ngủ được. Thế các cậu?
- Cũng khá mệt. Ðất hơn hai nghìn khối. Còn từ giờ đến tối nữa. Bọn mình vẫn đứng vững...
- Nếu gay quá, bắn úng cấp cứu ngay, nghe chưa? Ðơn vị lúc nò cũng để tâm hết vào các cậu ở trên đó đấy. Xung kích sẽ lên sớm...
Buổi chiều, chị Thao và tôi phải chạy lên cao điểm ba lần nữa. Phá tám quả bom. Còn đất thì lên đến ba nghìn hai trăm khối. Lần nào tôi cũng bày chuyện để chị Thao ở nhà. Nhưng chị láu lắm, khó mà lừa được chị. Chị chạy, thở cứ dồn dập cả lên. Gân xanh, chạy từng dòng nho nhỏ trên thái dương và hai bàn tay chị. Tôi lo chị gục quá. Còn Nho thì cau mày, mỗi lần chúng tôi về hang, lại đi ra, miệng nhắc đi nhắc lại:
- Chị Thao, chị Thao!
Lần cuối cùng chình tôi lại đi như bò về hang. Chị Thao đỡ tôi nằm xuống. Tôi cố mở hai mi mắt đã nhắm lại, dính như keo và chẳng biết mình muốn cái gì bây giờ.
- Em buồn ngủ! - Tôi nghe tiếng tôi thoảng qua. Rồi cái mát mẻ của hang đá tràn ngập trong giấc ngủ của tôi rất nhanh.
Ðồi xung kích của đơn vị ở chỗ làm đường trong rừng ra, chắc chưa kịp ăn cơm đã chạy lên cao điểm... Tiếng họ lơ mơ như từ đâu đưa lại. Họ hỏi cái gì đó, chị Thao trả lời. Họ trêu Nho. Nho cáu, cười. Ai nữa hát nho nhỏ... Có một vài sợi tóc của ai chạm vào má tôi. những tiếng thở ở phía trên, ấm, bao trùm lấy tôi. Tôi có cảm giác như nằm gọn trong vòng tay của mẹ. - Dân Hà nội đấy!
Tôi nhận ra tiếng của liên lạc đại đội và tỉnh hẳn. Cậu ta cũng là dân Hà nội. Bố là công nhân điện. Mẹ là công nhân may mặc. ở nhà, cậu ta hay trốn học và hay bị điểm hai. Có lần cậu ta lăn nằm quả bom xuống vực, bắt chúng nó nổ dưới đó cho khỏi hỏng đường. Cậu ta lịch sự, hiếu khách, không hút thuốc lá, và không ưa bọn con gái chúng tôi. Còn bòn con gái chúng tôi thì chẳng để cho cậu yên.
- Này, nếu đi chơi với người yêu, thế nào cậu cũng bắt cô ta cắt tóc, mặc com-plê và đi ủng đen chứ gì?
Cậu ta lúng túng, gãi đầu, mặt đỏ nhừ:
- Cái gì cũng phải có trường hợp ngoại lệ, thưa các bà! Vả lại tớ chưa có yêu ai!
Tôi mở mắt, trong hang đã tối. Ngọn đèn nhỏ đã thắp trên nắp hòm đạn. ảnh Bác Hồ treo giữa một tờ giấy trắng khổ rộng. Dưới ảnh Bác Hồ có một chiếc vỏ đạn cắm hoa tươi, bao giờ cũng có hoa. Những cánh hoa dưới ánh đèn
không rõ màu, chắc ai vừa mang lên cho chúng tôi. Ưu tiên mà, liên lạc đại đội đang nấu nước. Lưng cậu ta quay lại phía tôi, vạm vỡ như một tấm phản. Nhưng lúc cậu đứng lên, chỗ thắt lưng thon lại, như một cầu thủ bóng bàn, linh lợi, nhanh nhẹn và dễ ưa... Có tiếng rì rầm từ ngoài đường đưa vào. Ðã đén lúc vui rồi đấy. Phải ra mới được. Tôi để hai bàn chan vào tường, đạp mạnh một cái. Hai tay chống đằng sau. Tôi bật dậy, đau ở đùi, nhói lên. Ðau đầu và các khớp xương. Nhưng cũng dậy được. Liên lạc đại đội đỡ tôi:
- Ðiên hả, mệt thì ngủ đi.
- Ra đường đây.
- Ra đường! - Cậu cười, môi mỏng, răng rất đều và hai cái lông mày to - Không đi đâu hết. Trước hết là ngủ.
- Vớ vẩn, ngủ với nghiếc!
Tôi lầu bầu và đi ra cửa hang, sờ soạng như một người mù. Không phải chỉ có tôi "điên" mà Nho cũng đã biến đi đâu mất. Chị thao còn "điên" hơn, tôi nghe tiếng chị cười rất to trên cao điểm.
Tôi thấy Nho trong một tốp bộ đội công binh. Nho cho tôi biết là đã sắp nửa đem, xe gần chạy. Trong khi tôi ngủ, bom nổ trên cao điểm mấy lần nữa. Nhưng ổn hết, vì có đội xung kích.
Cao điểm vẳng xuống tiếng máy ủi đất, tiếng cuốc và tiếng nói cười. Ðôi lúc mìn nổ. Nổ to hơn tiếng bom. những ngôi sao trên đầu tôi lay động, những ngôi sao rất xa, trong những giọt nước xanh biếc, rải khắp bầu trời. Mà bầu tời thì mênh mông làm sao! Tôi chợt nhờ tới bài thơ của một anh trác thủ pháo binh. Bài thơ ấy ném xuống đường khi đoàn pháo đi qua. Anh ấy gọi chúng tôi là những ngôi sao xa xôi trên cao điểm. Những ngôi sao rực rỡ, nhưng không hiểu sao lại "xa xôi"? Chúng tôi tranh luận với nhau và đoán! Chắc anh ấy muốn làm văn làm vẻ tí thôi, chứ sao thì xa đứt đuôi đi rồi... Tôi muốn gặp anh trắc thủ pháo binh đó quá. Nhưng đoàn pháo đi xa đã lâu... Xe chạy lúc 12 giờ đêm. Máy giòn giã. Ðường trở mình ồn ào. Anh lái xe trong ca bin thứ năm trông thấy chúng tôi:
- Này, các cô gái Hà nội ơi! Nhớ mẹ quá hầy!
- Hình như anh Thăng ở đoàn Quang Trung.
Nho thì thầm. Băng ở cánh tay nó trăng. Im lặng, mặt tròn, sống mũi thẳng, nó đứng sát bên tôi, lại nhẹ nhàng và mát mẻ như một que kem trắng.
- Chúng nó bảo tao phải vào quân y. Tưởng bở. tiêm hàng ngày này, thuốc viên này, cháo thịt nữa, phải ăn cho nhiều nhé... Eo ơi! Cứ y như một cô tiểu thư nhõng nhẽo trên giường ấy. Tưởng bở mà bắt được tao đi đấy. Ðến phát sợ lên được! - Nó "xì" một tiếng, làm như là tôi đang chuẩn bị lôi nó lên xe quân y không bằng. Nó quay sang nói chuyện với một anh công binh về về hiện tượng sao băng khi thấy ở đầu cánh rừng có một giọt tinh tú rơi dài xuống, mất đi nửa chừng.
Tôi khoanh tay trước ngực, đứng ra xa một tí, không nhìn anh bộ đội mà nhìn một chiếc xe đang đi tới. Tôi lại điệu thế thôi. Nhưng bảo tôi không điệu sao được? Chẳng lẽ, ngay lúc này đây, tôi lại chạy đến, nắm tay tất cả các chiến sĩ trên cao điểm này mà oà lên khóc vì một niềm vui, một niềm hạnh phúc trẻ trung đang trào dậy. Tôi yêu tất cả mọi người, một tình yêu nồng nàn, khó nói mà có lẽ ai đã đứng trên cao điểm giữa những phút này như tôi mới hiểu thấu...
Xe đi dăng hàng, thành khối trên đường, không ánh đèn. Lá nguỵ trang làm mỗi xe to ra gấp đôi. Ðối với tôi, bao giờ những đoàn xe ấy cũng vô tận, không có sức mà đếm. Dài, Nhiều. Khổng lồ.
- Chắc đêm nay các anh ở Hà nội sẽ vào!
Nho vẫn thì thầm. Nó cũng đang ở trạng thái như tôi. Yêu tất cả. Tình yêu của những con người trong khói lửa. Tình yêu độ lượng, tha thiết, vô tư mà kẻ độc quyền có nó trong tim là những người chiến sĩ. Tôi quàng tay lên vai Nho. Chúng tôi không nói gì với nhau. Tôi xiết chặt cái vai nhỏ nhắn và mềm mại của Nho dưới cánh tay mình. Nó đây, can đảm, dịu hiền, ở cùng thành phố với tôi và cùng đứng với tôi đêm nay, trên cao điểm đấy bom gần mặt trận.
Chúng tôi hiểu nhau và cảm thấy hạnh phúc.
 
 
1971
 
Đăng nhập để trả lời
0


CtLy đã sửa lại rồi,

Cảm ơn ArsMagna nhiều


Đăng nhập để trả lời
0
Phi Hồ Ngoại Truyện - Hồi 33
Trong Khám Thờ Lưu Gia Lánh Nạn
 
Trên đại điện ánh lửa nhảy múa tựa hồ những con hỏa xà chạy lướt trên không gian .
Trong bóng tối ánh lửa lập lòe coi rất ngoạn mục .
Hồ Phỉ thấy những cành khô lửa cháy bay lại rất nhanh chóng , chàng đành thi triển khinh công chạy quanh đại điện để né tránh . Chàng thấy gia nhân , đệ tử , xa phu , tỳ bộc nhà Phụng Thiên Nam đều chạy vào hậu điện .
Cha con Phụng Thiên Nam mắt lộ hung quang đứng một bên .
Hồ Phỉ sợ Phụng Thiên Nam thừa cơ lúc nhốn nháo chạy trốn . Chàng cầm đơn đao hàn quang lấp lánh , mắt không dời khỏi cửa sơn môn .
Sau một lúc ánh lửa nhảy múa trên không dần dần nhỏ đi rớt xuống đất rồi từ từ tắt hết .
Viên Tử Y cười hỏi :
- Hồ đại ca ! Cuộc đấu bữa nay thật cao hứng . Chúng ta đấu đến phân cường ngược nên chăng ?
Nàng huy động cây nhuyễn tiên hết điểm trước ngực lại đánh vào cánh tay mặt Hồ Phỉ .
Hồ Phỉ giơ đao lên gạt được chiêu trước thì gặp chiêu thứ hai lại càng quái dị .
Chàng vội lăn mình dưới đất để né tránh .
Viên Tử Y cười nói :
- Ðại ca bất tất phải hoang mang , tiểu muội không đả thương đại ca đâu .
Hai câu này chạm lòng tự ái của Hồ Phỉ . Chàng lẩm bẩm :
- Chẳng lẽ ta lại sợ cô ư ?
Lúc này cành củi lửa cuối cùng trong đại điện đột nhiên cháy bùng .
Lại nghe Viên Tử Y nói :
- Ðường tiên pháp này của tiểu muội chiêu số rất ly kỳ . Ðại ca hãy coi chừng .
Ðột nhiên sấm nổ ầm ầm gió thổi ào ào . Không hiểu nàng làm thế nào để cây nhuyễn tiên phát ra được thanh âm như vậy .
Hồ Phỉ la lên :
- Hay quá !
Chàng giữ kín môn hộ để coi rõ mấu chốt về tiên pháp của Viên Tử Y rồi mới tiến hành .
Ngọn lửa đột nhiên phát ra tiếng nổ . Tia lửa bắn tung tóe rồi trong nháy mắt lửa tắt phụt . Ðại điện tối đen như mực .
Bên ngoài mưa càng lớn , nước trút xuống mái ngói ầm ầm lẫn với tiếng tiên ào ào của Viên Tử Y làm cho đinh tai nhức óc .
Hồ Phỉ tuy lớn mật nhưng trước tình cảnh này không khỏi sợ run .
Bỗng trong đầu chàng lóe lên một tia sáng . Chàng lẩm bẩm :
- Hôm ấy ở trong miếu Bắc Ðế trấn Phật Sơn , Phụng Thiên Nam toan giơ đao tự sát , một người đàn bà dùng ngân thoa đánh rớt đơn đao của hắn .
Thân hình cùng thủ pháp ng ười đó giống hệt , nhất định là Viên cô nương rồi .
Chàng nghĩ tới đây bất giác run lên , miệng lẩm bẩm :
- Nàng cùng ta kết bạn đồng hành té ra muốn làm điều bất lợi cho ta .
Vì trong óc ngấm ngầm suy nghĩ thành ra phân tâm , bất giác bàn tay nới lỏng . Thanh đao bị cây nhuyễn tiên cuốn lấy suýt nữa tuột mất . Chàng vội vận nội lực giật mạnh một cái .
Viên Tử Y là một cô gia , chiêu số tuy tinh diệu nhưng tý lực còn kém Hồ Phỉ , cảm thấy cánh tay tê chồn . Nàng liền rung cây nhuyễn tiên buông thanh đao ra , xoay chiều điểm vào huyệt âm ốc trên khuỷu tay chàng .
Lúc này toà cổ miếu tối đen như mực . Hai người chỉ nghe tiếng gió để dỡ gạt .
Hồ Phỉ để hết tâm thần đề phòng , chàng nghĩ bụng :
- Nguyên một Viên cô nương ta đã không thắng nổi , huống chi còn thêm bọn Phụng Thiên Nam sắp trợ lực cho cô .
Chàng đoán Viên Tử Y cùng Phụng Thiên Nam là một phe đảng và bữa nay chàng đã lọt vào cạm bẫy của thị .
Hai người trao đổi mấy chiêu nữa , mỗi khi gần vào nhau đều gặp nguy hiểm .
Hồ Phỉ xoay tay chém một đao . Viên Tử Y vội ngửa người về phía sau , cảm thấy đao phong lạnh toát qua mặt , cách da thịt không đầy mấy tấc .
Nàng không khỏi giật mình kinh hãi vì phát giác chàng hạ thủ chẳng nể nang gì . Nàng cười nói :
- Hồ đại ca ! Ðại ca nổi nóng rồi ư ?
Nàng rung cây nhuyễn tiên nhảy lùi lại phía sau .
Hồ Phỉ không đáp , lắng tai nghe xem cha con Phụng Thiên Nam ẩn chỗ nào để đề phòng bị họ ngấm ngầm tập kích hoặc phóng ám khí .
Viên Tử Y lại cười nói :
- Ðại ca không lý gì đến tiểu muội , làm phách quá chừng .
Ðột nhiên nàng tung cây roi móc lấy gót chân chàng .
Nàng ra đòn không một tiếng động . Hồ Phỉ chưa kịp đề phòng , chàng muốn nhảy lên né tránh cũng không được nữa . Chàng vội quét đao xuống đất để gạt cây nhuyễn . Không ngờ cây nhuyễn tiên quấn lại rồi hất qua một bên đẩy văng trảo lực của Hồ Phỉ , nhẹ nhàng đoạt lấy đơn đao của chàng .
Chiêu số đoạt đao này rất xảo diệu . Hồ Phỉ la thầm :
- Nguy rồi ! Ta bị đoạt mất binh khí , bữa nay không khéo phải bỏ mạng trong tòa cổ miếu này .
Trong lúc nguy cấp , chàng tung mình nhảy xô về phía trước đưa tay ra nắm lấy cổ họng nàng .
Chiêu Ưng Trảo Câu Thủ này thật là tàn độc . Hồ Phỉ tuy theo quyền phổ rèn luyện rất tinh thục nhưng bình sinh chưa dùng qua .
Viên Tử Y cảm thấy một luồng nhiệt khí xô đến , bàn tay địch nhân đưa vào cổ họng nàng mà lúc này nhuyễn tiên ở ngoài không rút về kịp để đón đỡ , nàng đành buông tay , ngửa người về phía sau . Mấy tiếng " choang choảng " vang lên . Cả đơn đao lẫn nhuyễn tiên đồng thời rớt xuống đất .
Hồ Phỉ ra chiêu trảo đắc thủ liền thi triển chiêu thứ hai là Tiến Bộ Liên Hoàn tấn công ráo riết .
Viên Tử Y xoay tay đâm vào cánh tay Hồ Phỉ . Trong bóng tối nàng không trông rõ huyệt đạo đối phương , đâm vào chỗ da thịt dầy và cứng .
Nàng rút tay về la lên một tiắng " úi chao " ra chiều đau đớn .
Hồ Phỉ la thầm :
- Thật đáng hổ thẹn . May cô không nhìn rõ thân hình , không thì phát chỉ này mạnh như vậy mà trúng huyệt đạo là hết đường rồi .
Hai người tay không tỷ đấu trong bóng tối đều thủ nhiều mà công ít , vừa đánh vừa chờ cơ hội để đoạt binh khí dưới đất .
Viên Tử Y thấy đối phương càng đánh càng khủng khiếp , không phải là cuộc tỷ võ để so tài cao thấp . Nàng càng nghĩ càng kinh hãi .
Từ ngày nàng dời khỏi Hồi Cương đã chạm trán rất nhiều cao thủ nhưng chưa từng gặp cuộc ác đấu nào như đêm nay .
Ðột nhiên nàng biến đổi thân pháp chạy quanh bốn phía không cho Hồ Phỉ đến gần .
Hồ Phỉ thấy đối phương không áp bức , chàng cũng chẳng truy kích chỉ giữ kín môn hộ , lắng nghe chỗ cha con Phụng Thiên Nam ẩn nấp , hễ chàng phát giác là phóng chưởng đánh chết chúng liền . Nhưng Viên Tử Y chạy rất lẹ , xiêm áo nàng phát ra tiếng gì , chưởng lực cũng nổi lên veo véo khiến chàng không tài nào nghe thấy hơi thở của cha con Phụng Thiên Nam .
Chàng liền nghĩ ra một kế cũng chạy quanh trong đại điện từ Ðông qua Tây , từ Nam qua Bắc theo phương vị Tứ Ðại Tượng và nhắm mắt phóng chưởng cốt để đụng vào cha con Phụng Thiên Nam thì chúng chẳng chết cũng bị trọng thương . Hay chúng né tránh là phát giác ra chỗ chúng ẩn thân .
Hai người lúc trước chiến đấu gần nhau bây giờ đột nhiên đâm bừa đánh ẩu . Hễ ai mon men tới chỗ binh khí rớt xuống là lập tức đối phương xông lại cản trở . Hai bên trao đổi mấy chiêu rồi lại ra xa .
Hồ Phỉ di chuyển trong đại điện hết một vòng mà chẳng phát giác ra hành tung của Phụng Thiên Nam đâu cả . Chàng tự hỏi :
- Chẳng lẽ bọn chúng chuồn vào hậu điện ?
Rồi chàng lại nghĩ :
- Không có lý nào được . Hiện giờ họ mạnh mà ta yếu . Nếu chúng xông cả lại là đưa ta vào đất chết được ngay . Nhất định họ ngấm ngầm bố trí cạm bẫy dụ ta vào tròng . Bậc đại trượng phu phải biết tùy cơ hành động.
Bữa nay ta cần tìm đường thoát thân trước rồi ngày sau sẽ lo mà trả oán .
Chàng liền từ từ tiến về phía cửa định để chờ cơ hội nhảy vọt ra .
Bỗng nghe tiếng phành phạch vang lên rồi một cơn gió lạnh quạt vào mặt . Trong bóng tối chàng nhìn thấp thoáng thấy bóng người cao lớn nhảy xô tới . Chàng cả mừng hô lớn :
- Giỏi lắm !
Chàng vung song chưởng đánh ra đến " sầm " một tiếng trúng vào trước ngực người kia . Chàng đã vận đến mười thành công lực vào hai tay .
Ðáng lý Phụng Thiên Nam phải xương gẫy gân bong ngay đương trường mới phải .
Nhưng bàn tay chàng đụng phải người kia liền biết mình mắc bẫy vì đó là một vật vừa cứng vừa lạnh . Chưởng phóng ra rồi thu về không kịp . Bụi đất bay tứ tung rớt xuống ào ào . Nguyên chàng đã đánh vào pho thần tượng trong miếu .
Lại nghe mấy tiếng ầm ầm . Thần tượng đập vào tường vách , gẫy thành hai đoạn .
Viên Tử Y cười nói :
- Chưởng lực nặng quá !
Thanh âm này phát ra từ ngoài cửa sơn môn . Tiếp theo là những tiếng loảng xoảng . Nguyên đơn đao và nhuyễn tiên đều bị nàng cướp vào tay rồi .
Hồ Phỉ tự hỏi :
- Khí giới cô đã cướp mất . Bây giờ nên tiếp tục đánh nữa hay là tìm kế thoát thân ?
Chàng biết đối phương tuy là một thiếu nữ nhỏ tuổi nhưng võ công cao cường chẳng thể coi thường được . Hai người cùng cầm binh khí tỷ đấu chàng còn chưa địch nổi .
Chàng nghĩ tới đây bỗng nghe tiếng vó ngựa vang lên .
Viên Tử Y la gọi :
- Này này ! Nam Bá Thiên ! Sao lại bỏ đi ngay ! Như vậy há chẳng khiếm khuyết tình bằng hữu ?
Tiếng mưa rào sinh sịch hòa lẫn với tiếng vó ngựa dồn dập .
Viên Tử Y đã lên ngựa đuổi theo .
Hồ Phỉ la thầm :
- Hỏng rồi ! Hỏng rồi !
Thế là phen này chàng bị thua liểng xiểng . Tuy bọn gia nhân cùng tuỳ bộc của Phụng Thiên Nam còn ở cả đó nhưng tên tội khôi bỏ đi rồi mà chàng giết bọn này cho hả giận thì chẳng anh hùng chút nào . Chàng móc đá lửa trong bọc bật lên châm vào đống củi vừa mới tắt . Chàng ngó lại trong điện thì thấy thần tượng Tương Phi đầu gãy tay đứt thành mấy mảnh , gạo trắng và cành cây cùng rơm cỏ tung tóe khắp mặt đất .
Ngoài miếu vẫn mưa như trút nước . Hồ Phỉ nhìn dấu vắt cuộc ác đấu lại nhớ tới những sự nguy hiểm vừa qua không khỏi kinh tâm động phách .
Chàng ngồi trước thần đèn nhìn đống lửa ngơ ngác xuất thần .
Chàng tự nhủ :
- Giữa Viên Tử Y và Phụng Thiên Nam tất có liên quan . Ðó là một điều chắc chắn . Nam Bát Thiên có hậu thuẫn hùng hậu như vậy , lại nhiều người thế lớn ở trấn Phật Sơn thì hắn dư lực kiềm chế ta mà sao hắn đốt nhà bỏ đi ? Bữa nay bọn họ bố trí mai phục ở trong cổ miếu dĩ nhiên ta bị trúng kế . Nếu họ nhất tề bao vây thì ta phải nguy đén tính mạng ? Sao họ đã chiếm được thượng phong mà còn rút lui ? Ta coi Phụng Thiên Nam hai lần toan tự sát tuyệt không phải giả trá . Thế thì Viên Tử Y ngấm ngầm tương trợ dường như hắn không biết trước .
Chàng lại nghĩ tới Viên Tử Y võ công độc đáo trí kế đa đoan .
Mỗi phen cùng nàng tỷ thí đều bị nàng đoạt mất tiên cơ . Vừa rồi chiến đấu trong bóng tối , chàng coi nàng như đại địch . Bây giờ chàng bỗng lộ nụ cười trên môi , trong lòng nẩy ra mối nhu tình êm ái .
Bất giác chàng tự hỏi :
- Vừa rồi đấu kiếm , ta đã ra tay chẳng nể nang gì là nghĩa làm sao ?
Chàng khó mà trả lời được câu hỏi này . Dường như chàng đã vận toàn lực để công kích nhưng sự thật không hạ sát thủ .
Rồi chàng lẩm bẩm :
- Lúc nàng xông vào gần , ta có giết nàng bằng chiêu Xuyên Tâm truỳ mà sao ta không hạ thủ . Ta phóng chiêu Thương Mã Ðao , nàng cúi đầu né tránh , sao ta không sử tiếp chiêu Bá Vương Tá Giáp ? Hồ Phỉ hỡi Hồ Phỉ !
Phải chăng ngươi sợ đả thương nàng ?
Ðột niên chàng động tâm tự nghĩ :
- Nàng đã vung roi đánh xuống đầu vai ta , đột nhiên thu về phải chăng nàng có ý nương nhượng ? Lại còn lúc nàng phóng chỉ đâm tới thì sao ?
Hồ Phỉ ôn lại những chiêu số vừa rồi nghiên cứu tỷ mỷ , trong lòng cảm thấy ngon ngọt , tự nhủ :
- Nhất định nàng không muốn sát hại ta . Chẳng lẽ ... chẳng lẽ ...
Chàng nghĩ tới đây không dám gì nữa , bỗng cảm thấy bụng đói liền bưng cái chảo gang mà lúc nẫy chàng đá lộn đi , coi lại thấy trong chảo hãy còn ít gạo trắng . Chàng liền đải sạch bụi đất rồi đổ nước vào nấu chín .
Chẳng bao lâu , mùi cơm thơm ngát trong chảo bốc ra .
Hồ Phỉ thở phào nghĩ bụng :
- Nếu lúc này ta cùng nàng ngồi sóng vai nấu cơm ăn với nhau há chẳng sung sướng ư ? Không dè thằng cha Phụng Thiên Nam ở đâu lần đến .
Nhưng chàng lại tự nhủ :
- Chạm trán kẻ thù là một điều hay , ta không nên nghĩ với nghĩ vẩn để lạc vào đường rẽ .
Lòng chàng ngầm ngấm hồi hộp , chàng nghĩ tới nét mặt mỉm cười của Viên Tử Y mà bâng khuâng trong dạ . Mùi cơm cháy khét lẹt dần dần tiết ra mà chàng cũng không hay .
Giữa lúc ấy ngoài cửa miếu có tiếng bước chân vang lên rồi cửa miếu kẹt mở . Hồ Phỉ vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ nhảy bổ lên , tự hỏi :
- Phải chăng nàng đã quay trở lại ?
Dưới ánh hỏa quang chàng ngó thấy hai ngưòi tiến vào . Một lão già lối năm mươi tuổi nước da vàng ửng , người ốm nhách . Chính là Lưu Hạc Chân mà chàng đã gặp ở Phong Diệp Trang thành Hành Dương . Còn người nữa là một thiếu phụ lối ngoài hai chục tuổi .
Lưu Hạc Chân một cánh tay băng bó bằng vải xanh treo lên cổ . Hiển nhiên lão bị thương . Thiếu phụ cũng đi tập tễnh , chân mụ bị thương khá nặng . Cả hai người đều ướt hết , bộ dạng rất thảm hại .
Hồ Phỉ toan đứng dậy cất tiếng thì Lưu Hạc Chân đưa mắt lạnh lùng nhìn chàng rồi bảo thiếu phụ :
- Qua bên kia coi .
Thiếu phụ dạ một tiếng , rút đơn đao ở sau lưng ra cầm tay đi vào hậu điện .
Lưu Hạc Chân đứng tựa vào tường thở hổn hển . Ðột nhiên , lão ngồi phệt xuống , vẻ mặt dường như đang chú lắng nghe tiếng động bên ngoài
Hồ Phỉ thấy lão chưa nhận ra mình , chàng nghĩ bụng :
- Hôm ấy xảy cuộc tỷ võ ở Phong Diệp Trang , mọi người đều nhận được lão và Viên cô nương . Ta lẫn vào đám đông như một thằng nhỏ quê mùa , dĩ nhiên là không chú ý nên khô nê š nên
Chàng mở vung ra , mũi ngửi thấy mùi khét lẹt . Nửa chảo cơm cháy cả rồi . Chàng tủm tỉm cười , bốc từng nắm một đút vào miệng nuốt .
Lưu Hạc Chân thấy chàng ăn uống thô lỗ như vậy liền không để ý chàng nữa .
Sau một lúc , thiếu phụ từ hậu điện trở ra . Tây cầm một thanh củi đang cháy nhìn Lưu Hạc Chân nói :
- Không có gì cả .
Lưu Hạc Chân thở phào một cái , tấm lòng giới bị cởi mở được một chút . Lão nhắm mắt ngồi tựa thần đàn điều dưỡng . Áo lão chảy nước xuống đất thành vũng . Trong nước có lẫn máu tươi .
Thiếu phụ cũng cực kỳ mỏi mệt , mụ ngồi bên lão không nhúc nhích .
Coi điệu bộ hai người tựa hồ là đôi vợ chồng , có điều chồng già vợ trẻ chẳng xứng đôi chút nào .
Hồ Phỉ tự hỏi :
- Bản lãnh của Lưu Hạc Chân võ lâm ít người địch nổi mà sao lão bị thảm bại đến thế ? Thế mới biết ngoài vòm trời này còn vòm trời khác , ngoài cõi người này còn cõi người khác , mình không thể coi thường được .
Giữa lúc ấy văng văng có tiếng vó ngựa vọng lại . Lưu Hạc Chân đứng phắt dậy , rút binh khí ở sau lưng ra , binh khí là một cây đoản thương . Lão nói :
- Trọng Bình ! Nàng chạy đi . Ta ở lại đây để liều mạng với hắn .
Lão nói rồi lấy trong bọc ra một cái vó dài chừng hơn thước trao tay cho mụ và dặn :
- Nàng đưa cho y .
Thiếu phụ kia họ Vương chính là vợ kế của lão . Vành mắt đỏ hoe , mụ đáp :
- Không ! Nếu phải chết thì cùng chết với nhau .
Lưu Hạc Chân tức mình nói :
- Chúng ta bôn ba muôn dặm mang thương chiến đấu là vì cái gì ?
Việc này mà chẳng làm xong thì ta chết cũng không nhắm mắt , nàng mau ra cửa sau trốn đi để ta kìm hãm địch nhân .
Vương Trọng Bình vẫn quyến luyến không chịu bỏ đi . Mụ cười đáp :
- Lão gia ơi ! Chúng ta đã nên một trường phu thê . Tiện thiếp không được phục thị lão gia thì ... thì ...
Lưu Hạc Chân giậm chân ngắt lời :
- Nàng làm xong việc lớn này cho ta là hay hơn hết .
Lão vẫy tay giục :
- Chạy lẹ đi ! Chạy lẹ đi !
Hồ Phỉ thấy vợ chồng lão tình nghĩa thâm trọng không nỡ rời tay , nghĩ thầm :
- Lưu Hạc Chân là người chính phái . Không hiểu ai làm khó dễ với lão ? Ta đã gặp đây chẳng thể bỏ qua được .
Giữa lúc ấy tiếng vó ngựa dừng lại ngoài cửa miếu . Hồ Phỉ nghe thanh âm nhận ra ba người kỵ mã thì hai người dừng lại ở cửa trước , còn một người quanh lại cửa sau .
Lưu Hạc Chân ra chiều tức giận nói :
- Họ chặn cửa sau , không đi được nữa rồi .
Vương Trọng Bình đảo mắt nhìn quanh nâng đỡ trượng phu đưa lên thần đàn ẩn vào trong khám thờ . Mụ lại nhìn Hồ Phỉ giơ tay ra hiệu tỏ vẻ khẩn cầu chàng chớ có tiết lộ .
Bức màn vàng trước khám thờ buông xuống vừa xong thì hai người tiến vào trong cửa miếu .
Hồ Phỉ vẫn ngồi dưới đất , bốc cơm nắm lại mà ăn .
Dưới ánh hỏa quang , chàng liếc mắt nhìn hai người bỗng giật mình kinh hãi , mặc dù chàng đã gặp quái nhân rất nhiều . Hai người này mặc áo vải dầu , cặp lông mày đi chênh chếch xuống , cặp mắt hình tam giác một lớn một nhỏ , mũi to và hếch lên . Tướng mạo cực kỳ xấu xa . Hai người ngó Hồ Phỉ nhưng không nói gì . Chúng đi vào hậu điện chẳng mấy chốc lại trở ra . Ðột nhiên người mé tả hú lên một tiếng quái gở . Ngoài sân khẽ có tiếng động . Một người từ nóc nhà nhảy xuống .
Nguyên lúc hai người xục tìm trước sau thì người đứng chặn cổng hậu nhảy lên nóc nhà .
Hồ Phỉ lẩm bẩm :
- Người này khinh công trác tuyệt !
Lại thấy bóng người thấp thoáng . Người đó vọt vào trong điện .
Tướng mạo hắn cũng chẳng khác hai người kia mấy , vừa trông đã biết là huynh đệ đồng bào , có điều hắn nhỏ tuổi hơn một chút .
Ba người bỏ áo mưa ra . Hồ Phỉ lại một phen kinh hãi vì ba người này đều hiếu phục xô gạt , lưng thắt giày cỏ , tựa hồ cha mẹ mới mất .
Trên đại điện soi sáng bằng một thanh củi . Trời mưa rả rích . gió lạnh phập phù thổi ngọn lửa tạt đi lúc mờ lúc sáng khiến cho ba bóng người in vào tường vách chợt lớn chợt nhỏ , khi tỏ khi mờ chẳng khác chi loài quỷ mỵ .
Bỗng nghe người đến sau cùng hỏi :
- Ðại ca ! Ðôi nam nữ đó đều bị thương rồi lại không cưỡi ngựa , theo lẽ ra chúng chưa thể đi xa hơn mà gần đây lại không có nhà cửa thì còn ẩn vào đâu được ?
Người lớn tuổi nhất đáp :
- Chắc chúng ẩn vào trong bụi cỏ hay sơn động nào đó . Chúng ta đừng ngại khó nhọc hãy ra ngoài xục tìm . Bọn chúng tuy bị thương nhưng không nặng lắm . Ta nên thận trọng .
Người kia xoay mình toan đi , đột nhiên dừng bước hỏi Hồ Phỉ :
- Này tiểu tử ! Ngươi có thấy một lão già và một người đàn bà trẻ tuổi không ?
Hồ Phỉ miệng vẫn nhai cơm , ngơ ngác lắc đầu .
Người anh lớn đảo mắt nhìn quanh thấy dưới đất đồ vật tung tóe , hòm siểng bừa bải , một pho thần tượng bể thành nhiều mảnh bỏ dưới chân tường liền sinh lòng nghi hoặc . Hắn nhìn kỹ thấy dưới đất có vết chân còn dính bùn nước .
Vợ chồng Lưu Hạc Chân tiến vào miếu lúc mưa rào , dĩ nhiên bàn chân đem theo vừa bùn vừa nước .
Hồ Phỉ liếc mắt ngó trên thần đàn cũng rõ vết chân , vội nói :
- Lúc nẫy mấy người đánh nhau ở đây , có trai có gái , có già có trẻ , đánh cả Tương Phi nương té xuống đất . Một bọn chạy trốn một bọn đuổi theo và người nào cũng cưỡi ngựa .
Tên em út chạy ra hành lang , quả thấy rất nhiều vết chân ngựa . Hắn tin lời Hồ Phỉ là sự thực . Hắn liền hỏi Hồ Phỉ :
- Bọn họ đi về ngả nào ?
Hồ Phỉ đáp :
- Dường như họ chạy về mặt Bắc . Tiểu nhân ẩn dưới gầm bàn , không dám dòm lên .
Tên tam đệ gật đầu nói :
- Phải rồi !
Gã lấy ra một đĩnh bạc chừng bốn lạng liệng xuống trước mặt Hồ Phỉ nói :
- Cho ngươi đó .
Hồ Phỉ cả mừng , tạ ơn không ngớt miệng .
Chàng lượm đĩnh bạc lên vuốt ve hoài , nét mặt lộ vẻ hoan hỷ khôn xiết nhưng trong bụng nghĩ thầm :
- Ba tên ác quỷ này có vẻ đều là những nhân vật võ công cao cường .
Nếu chúng đuổi kịp bọn Phụng Thiên Nam , đánh loạn một hồi thì thật là hay .
Tên nhị ca nói :
- Lão đại ! Lão tam ! Chúng ta đi thôi .
Ba người khoác áo mưa ra cửa miếu , Hồ Phỉ còn phảng phất nghe tiếng người nói :
- Ðồ vật đó không phải tầm thường . Bất luận trường hợp nào cũng không thể để hắn tranh tiên .
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.02.2014 10:26:37 bởi Ct.Ly>
Phi Hồ Ngoại Truyện -
 
 Hồi 34
Giúp Lưu Lão Hồ Lang Dùng Kế Hoãn Binh
 
Người khác đáp : - Nếu không ngăn chặn được thì đi báo tin hay hơn .
Người trước lại nói :
- Hỡi ơi ! Y đâu có chịu tin lời nói của chúng ta . Hụống chi...
Lúc này trời mưa lớn nên ba người nói gì chàng không nghe rõ nữa .
Hồ Phỉ rất lấy làm kỳ , tự hỏi :
- Không hiểu đồ vật mà chúng nói đó là vật gì ?
Lại nghe trong khám thần khẽ vang lên mấy tiếng lách cách . Vương Trọng Bình đỡ Lưu Hạc Chân xuống .
Ngày trước Hồ Phỉ thấy lão cùng Viên Tử Y tỷ võ ở Phong Diệp Trang, thân thủ mau lẹ phi thường mà bây giờ lên xuống cái thần đàn thấp tè cũng phải bò lòm cồm , người run bây bẩy chỉ sợ té nhào , bất giác chàng lẩm bẩm:
- Lão bị thương trầm trọng đến thế , ba tên ác quỷ kia liên thủ tấn công thì lão địch nổi thế nào được ?
Lưu Hạc Chân ở thần đàn xuống rồi nhìn Hồ Phỉ thi lễ nói :
- Ða tạ tiểu ca đã cứu mạng cho .
Hồ Phỉ vội đáp lễ nhưng chàng không muốn tiết lộ lai lịch , vẫn giả vờ làm kẻ hương nông ngớ ngẩn , mỉm cười đáp :
- Ba người đó hoành hành bá đạo chẳng khác gì bọn hung thần ác sát .
Tại hạ không muốn nói thật với chúng .
Lưu Hạc Chân hỏi :
- Lão phu họ Lưu tên gọi Hạc Chân . Quý tính đại danh của tiểu ca là gì ?
Hồ Phỉ nghĩ bụng :
- Lão đã xưng danh tính với mình , mình không tiện dấu diếm nhưng tên mình không giống một nông dân , cần đổi đi một chút .
Chàng liền đáp :
- Tại hạ họ Hồ tên gọi A Ðại .
Chàng nghĩ rằng song thân chàng chỉ sinh hạ một mình chàng thì có xưng là A Ðại cũng không phải là nói dối .
Lưu Hạc Chân nói :
- Tiểu ca còn nhỏ tuổi lắm chắc ngày sau được hưởng phúc vô cùng .
Lão nói tới đây lại chau mày nghiến răng nhịn đau .
Vương Trọng Bình vội hỏi :
- Lão gia làm sao vậy ?
Lưu Hạc Chân lắc đầu , tựa vào tường mà thở .
Hồ Phỉ chắc hai vợ chồng lão có chuyện muốn nói với nhau , chàng là người ngoài không tiện ngồi gần liền nói :
- Lưu lão gia ! Tại hạ ra nhà sau .
Dứt lời đi vào hậu điện .
Hồ Phỉ nhìn đống rơm cả trên thần đàn không khỏi ngơ ngẩn xuất thần vì trước đây chưa lâu Viên Tử Y đã nằm ở đó . Không ngờ diễn biến xảy ra liên tục , người ngọc đi rồi chỉ còn lại cổ miếu hoang lương tịch mịch .
Chẳng biết sau này còn có dịp gặp nàng nữa hay không ?
Ðột nhiên chàng la thầm :
- Trời ơi ! Nguy rồi ! Bản Quyền Kinh Ðao Phổ của ta bị nàng lấy cắp đem đi . Bây giờ ta còn có thể ngang sức với nàng nhưng mà hậu nàng rèn luyện Quyền Kinh Ðao Phổ thì những chiêu thức của ta nàng đều thuộc lòng . Nếu xây ra cuộc động thủ , nàng có thể đưa ta vào đất chết .
Những mối như tình biến thành khủng khiếp . Chàng liệng thanh củi , ngồi phệt xuống đống rơm .
Lúc chàng nằm bỗng đè lên cái bọc của mình . Trong bóng tối chàng cảm thấy cái bọc có điều khác lạ , dường như nặng hơn trước nhiều . Tiện tay chàng sờ vào thấy có vật cứng rắn .
Nguyên trước chàng dùng bọc để gối đầu sau nghe tiếng Phụng Thiên Nam , chàng ra tầm cừu , chưa đụng đến cái bọc . Bây giờ cái bọc đã dời đến giữa lưng .
Hồ Phỉ lấy làm kỳ nghĩ bụng :
- Vợ chồng Lưu Hạc Chân và ba anh em quái nhân đều vào hậu điện chẳng lẽ bọn họ đã đụng vào cái bọc của ta .
Chàng liền quệt lửa đốt vào cành thông mở bọc ra coi bất giác ngẩn người .
Chàng thấy ngoài quần áo của mình còn thêm một bộ áo ngoài , một tấm áo trắng , một đôi giầy , một đôi tất . Những quần áo , tất , là vật của chàng . Hôm ấy chàng bị Viên Tử Y đẩy xuống đống bùn . Sau chàng xuống sông tắm rửa , mớ quần áo giầy tất này bị nàng đoạt đem đi mất . Không ngờ bây giờ được giặt rõ sạch sẽ như áo mới .
Chàng mở áo ra coi thấy cuốn Quyền Kinh Ðao Phổ nằm trong đó .
Bên đao phổ còn mấy đĩnh vàng và một con phụng hoàng bằng ngọc bích .Con phụng hoàng này điêu khắc rất tỷ mỷ , toàn thân bóng loáng .
Hồ Phỉ ngẩn người ra một lúc rồi gói bọc lại . Chàng cầm con Ngọc phụng hoàng trong tay , dập tắt thanh củi đốt lửa . Lưu Hạc Chân tựa trên cánh tay vợ vào hậu điện nói :
- Hãy ngủ một lúc nữa đi!
Lão nói rồi đi về phía thần đàn coi bộ muốn lên nằm vào đống rơm của Viên Tử Y .
Hồ Phỉ hãy còn tính trẻ , chàng nóng nẩy nói :
- Lưu lão gia ! Lão gia trèo lên nhảy xuống không tiện thì ngủ dưới tiện hơn .
Chỗ nằm của tại hạ xin nhường cho lão gia đó .
Chàng nói rồi chạy đến bên thần đàn bước lên nằm xuống đống rơm .
Lưu Hạc Chân cảm ơn đáp :
- Tiểu ca thật là tử tế !
Hồ Phỉ nằm trong đống rơm còn phảng phất ngửi thấy mùi u hương.
Không hiểu tâm thần chàng tưởng tượng hay là Viên Tử Y còn để lại mùi thơm thực sự . Lòng chàng vừa mừng lại vừa giận nẩy ra những ý vị khôn tả .
Chàng nằm lúc lâu bỗng nghe Lưu Hạc Chân khẽ hỏi :
- Trọng Bình ! Chú nhỏ này là người thật tử tế . Vợ chồng mình nên đối đáp với y cho phải đạo .
Vương Trọng Bình đáp :
- Phải rồi ! Nếu y không hết sức che đậy cho thì vợ chồng chúng ta đã thành hai xác chết rồi .
Lưu Hạc Chân thở dài nói :
- Vừa rồi thật nguy hiểm đến cực điểm . Chung thị huynh đệ muốn làm khó dễ tiểu ca . Dù ta có phải liều cái mạng già này mà cứu được y , ta cũng chẳng quản .
Vương Trọng Bình đáp :
- Dĩ nhiên là thế . Người ta đem lòng nghĩa hiệp đối đãi mình , mình cũng phải đáp lại bằng tấm lòng nghĩa hiệp . Chú nhỏ này tuy không hiểu võ nghệ nhưng lòng dạ còn to hơn những hào kiệt giang hồ .
Lưu Hạc Chân bảo vợ :
- Nói khẽ chứ ! Ðừng quấy nhiễu giấc ngủ của y .
Tiếp theo lão gọi khẽ mấy tiếng :
- Tiểu ca ! Tiểu ca !
Hồ Phỉ chưa ngủ nhưng nghe hai vợ chồng lão tán dương mình đoán là lão muốn ngỏ lời tạ ơn , chàng liền giả vờ ngủ say không đáp lại .
Vương Trọng Bình nói :
- Y ngủ say rồi .
Lưu Hạc Chân ừ một tiếng .
Sau một lúc lão khẽ hỏi vợ :
- Trọng Bình ! Lúc này ta bảo nàng trốn đi một mình sao nàng không đi ?
Giọng nói đầy vẻ trách móc .
Vương Trọng Bình buồn rầu đáp :
- Hỡi ơi ! Lão gia bị thương trầm trọng thế này có lý nào thiếp đi mà khôl nào thiếp đlš
Lưu Hạc Chân nói :
- Nàng có biết phong thơ này quan trọng thế nào không ? Nếu chẳng được đến tay Kim Diện Phật Miêu đại hiệp thì không còn biết bao anh hùng hào kiệt phải chết uổng nữa ...
Hồ Phỉ nghe đến sáu chữ " Kim Diện Phật Miêu đại hiệp " trong lòng run lên xuýt nữa bật tiếng la . Chàng biết Miêu Nhân Phượng có mối liên quan trọng đại với phụ thân chàng hồi sinh tiền . Theo lời đồn đại trên giang hồ thì phụ thân chàng chết về tay y nhưng mỗi khi hỏi đến Bình Tứ Thúc là người nuôi chàng từ nhỏ cho đến khi khôn lớn thì lão nói vụ này không chính xác chút nào . Hiện giờ chàng còn nhỏ tuổi . Sau này chàng nhất định điều tra cho rõ gốc ngọn .
Năm trước , Hồ Phỉ ở Thương Gia Bảo đã có cơ duyên gặp Miêu Nhân Phượng một lần nhưng chàng không nhớ rõ bộ mặt , chỉ biết y thần oai lẫm liệt . Khi đó chàng còn là đứa trẻ nít mà đã đem lòng khâm phục y . Mỗi khi chàng nhớ tới nhân vật này , trong lòng lại nổi lên mối xúc động khôn tả . (Muốn biết rõ mối ơn oán giữa Miêu Nhân Phượng và Hồ Nhất Ðao xin coi bộ Tuyết Sơn Phi Hồ )
Lại nghe Vương Trọng Bình lên tiếng :
- Im đi ! Vụ này cực kỳ cơ mật . Ta ở chỗ vắng người cũng không nên nhắc lại .
Lưu Hạc Chân đáp :
- Phải rồi ! Chúng ta bôn tẩu phen này bản tâm vì muốn cứu vãn biết bao nhiêu anh hùng nghĩa sĩ trong thiên hạ , tuyệt không một chút tư tâm .
Hoàng thiên mà linh thiêng nhất định phù hộ cho chúng ta thành công .
Mấy câu nói đầy nghĩa khí khiến Hồ Phỉ ngấm ngầm nảy lòng khâm phục . Chàng nghĩ bụng :
- Ðây là một việc nhân hiệp . Bất luận Miêu Nhân Phượng là ân nhân hay thù nghich với ta , ta cũng nhất định giúp Lưu Hạc Chân đưa thơ này đến nơi .
Hai vợ chồng nói tới đấy rồi im tiếng .
Sau một lúc lâu , Hồ Phỉ đã hơi buồn ngủ , chàng vừa nhắm mắt lại bỗng nghe mặt Bắc có tiếng vó ngựa vang lên . Chung thị huynh đệ ba người đi rồi quay trở lại .
Hồ Phỉ ngấm ngầm kinh hãi nghĩ bụng :
- Ba người này trở lại miếu lần thứ hai thì e rằng Lưu Hạc Chân khó lòng trốn lánh . Chi bằng ta ra ngoài miếu phát tác bọn chúng trước . Dù ta không địch nổi họ thì vợ chồng Lưu thị cũng có thể thừa cơ chạy trốn để đem thơ đi .
Chàng liền rón rén ra khỏi thần đàn tiến ra cửa miếu , đi về phía ba anh em họ Chung .
Lúc này trời đã tạnh mưa , mặt đường ngập nước cao đến một thước .
Hồ Phỉ chạy rất nhanh , chỉ trong khoảnh khắc chàng đã ngó thấy ba con ngựa chạy nối đuôi nhau đi tới . Hồ Phỉ đứng lại ở giữa đường lớn tiếng quát :
- Ðường núi này do ta mở ra , những cây này do ta trồng nên . Hãy để tiền mãi lộ .
Chung lão tam đi đầu , phá lên cười rồi quát lớn :
- Tên tiểu tặc con nít kia ở đâu chui ra .
Gã cầm roi ngựa xông về phía Hồ Phỉ .
Hồ Phỉ đột nhiên vươn tay chụp lấy cương ngựa kéo mạnh một cái .
Con ngựa đang lao rất nhanh thế nặng đến tám , chín trăm cân . vậy mà Hồ Phỉ kéo giây cương ngựa bắt nó lùi lại mấy bước . Chàng đã sử thần kỹ tá lực. Chàng lôi ngược lại rồi tiện đà buông ra . Con ngựa cao lớn đứng không vững té huỵch xuống . May mà Chung lão tam trí cao mau lẹ nhảy xuống bên đường trước không thì cũng ngã theo .
Diễn biến này khiến cho Chung Thị huynh đệ đều kinh hãi thất sắc .
Chung lão đại và Chung lão nhị đồng thời xuống ngựa . cả ba người trong tay đều cầm một món binh khí cổ quái .
Trời đã bình minh . Trước khi sáng tỏ phải một lúc tối sầm lại . tuy trận mưa lớn đã tạnh nhưng mây đen đầy trời chưa tiêu tan . Hồ Phỉ dương mắt lên nhìn chưa rõ khí giới trong tay ba người là thứ gì .
Bỗng nghe một tiếng người cất lên ồm ồm :
- Chung thị huynh đệ ở Ngạc Bắc đi qua quý địa chưa kịp đến sơn môi bái phỏng quả là thất lễ . Xin các hạ cho biết tôn tính đại danh .
Ba người nghe khẩu âm Hồ Phỉ còn non nớt biết chàng chưa lớn tuổi vốn có coi thường nhưng thấy chàng kéo giây cương đẩy ra một cái khiến con kỵ mã lăn xuống đất mới biết công lực chàng không phải tầm thường . Chúng liền thay đổi sắc mặt . Lão đại là Chung Triệu Anh ngôn ngữ đầy vẻ lễ mạo .
Hồ Phỉ tuy tính hay đùa giỡn và đa trí nhưng vốn không phải kẻ khinh bạc . Chàng liền đáp :
- Tại hạ họ Hồ quên chưa thỉnh giáo đại hiệu của ba vị .
Chung Triệu Anh nghĩ bụng :
- Chung thị huynh đệ nổi danh khắp thiên hạ , người võ lâm còn ai không biết ? Ta đã xưng là Chung thị huynh đệ ở Ngạc Bắc mà gã còn hỏi danh hiệu đủ tỏ kiến thức gã nông cạn lắm .
Hắn đáp :
- Tại hạ là Triệu Anh . Nhị đệ là Triệu Văn , tam đệ là Triệu Năng .
Anh em tại hạ có việc gấp xin Hồ đại ca nhường lối . Hồ đại ca đã lập sơn trại ở đây thì lúc anh em tại hạ trở về nhất định sẽ đến nơi bái tạ .
Hắn nói rồi chắp tay thi lễ .
Chung Triệu Anh là nhân vật nổi tiếng giang hồ mà đối với hậu bối tỏ vẻ khiêm cung như vậy thật là hiếm có . Chỉ vì hắn thấy Hồ Phỉ phô trương bản lãnh , võ công cực kỳ thâm hậu , biết là khó lòng đánh bại huống chi chưa chắc chàng chỉ có một người nếu còn thầy còn bạn ở bên cạnh càng thêm rắc rối .
Hồ Phỉ cũng chắp tay đáp lễ hỏi :
- Chung lão sư thật quá đa lễ . Phải chăng ba vị đi kiếm vợ chồng Lưu Hạc Chân ?
Lúc này trời đã sáng hơn . Ba người nhận ra chàng chính là gã thiếu niên quê mùa vừa gặp lúc hãy còn ở trong miếu Tương Phi . Chung thị huynh đệ nhìn nhau nghĩ bụng :
- Mình nhận lầm người . Té ra thằng nhỏ này cùng một phe với vợ chồng Lưu Hạc Chân .
Hồ Phỉ cũng nhìn rõ Chung thị huynh đệ tay cầm những khí giới kỳ hình . Chung Triệu Anh cầm Thiết bài dài chừng hơn thước trên mặt có khắc chữ . Chung Triệu Văn sử cây khốc tang bổng . Binh khí của Chung Triệu Năng càng lạ nữa . nó là một cành phướn cắm trên linh tỏa của người chết để chiêu hồn . Cây phướn phất phơ bay trước gió kỳ bí khôn lường .
Tướng mạo ba người đã cực kỳ xấu xa , phục sức cũng quái dị mà khí giới đều hung hiểm toàn dùng vào việc đưa ma . Người ngoài chưa động thủ mới ngó thấy đã kinh hãi rồi .
Hồ Phỉ chỉ sợ bọn chúng đột nhiên sinh sự , chàng lại không hiểu cách sử dụng ba món binh khí này nên để hết tinh thần phòng bị không dám lơ đảng .
Chung Triệu Anh hỏi :
- Giữa các hạ và Lưu Hạc Chân lão sư có mối liên quan gì ?
Hồ Phỉ đáp :
- Bữa nay tại hạ mới gặp lão sư lần thứ hai chẳng có liên quan chi hết . Nhưng thấy ba người bức bách họ thái quá mà phải năn nỉ giùm . Người ta thường nói : nếu đình thủ được nên đình thủ , có thể tha người nên tha ngay .
Vợ chồng Lưu lão đã bị thương . Ba vị khoan dung mấy phần được chăng ?
Chung triệu Anh trong lòng nóng nẩy nghĩ thầm :
- Mình đã mất bao nhiêu thì giờ mà còn chần chờ nữa thì Lưu Hạc Chân tất thừa cơ tẩu thoát .
Hắn liền đưa mắt ra hiệu cho đại ca đồng thời từ từ cất bước toan quanh qua mé bên Hồ Phỉ .
Hồ Phỉ giơ tay ra nói :
- Giữa ba vị và Lưu lão sư có điều chi xích mích , tại hạ tuyệt không hay biết . Nhưng Lưu lão sư cũng có công sự gấp rút , xin ba vị để Lưu lão sư hoàn thành sứ mạng rồi các vị sẽ tìm lão trả oán nên chăng ?
Chung Triệu Văn tức giận đáp :
- Bọn ta không để lão làm việc đó , các hạ có nhường lối hay không ?
Hồ Phỉ nhớ tới lời đối đáp giữa vợ chồng Lưu Hạc Chân thì bức thơ kia liên quan đến tánh mạng rất nhiều nghĩa sĩ , lại thấy Chung thị huynh đệ tướng mạo hung dữ , hiển nhiên làm ác đã nhiều . Nếu bữa nay không động thủ thì vụ này khó lòng kết liễu .
Chàng liền cười khanh khách đáp :
- Muốn nhường lối cũng không sao , chỉ cần ba vị đưa ba trăm lạng bạc tiền mãi lộ .
Chung Triệu Văn cả giận vung cây Khốc tang bổng tiến lên toan động thủ .
Không ngờ Chung Triệu Anh cản lại nói :
- Nhị đệ hãy khoan !
Hắn thò tay vào bọc lấy bốn đĩnh bạc nói :
- Chỗ này có dư ba trăm lạng bạc . Xin các hạ thu lấy .
Chung Triệu Văn lại la lên :
- Ðại ca ! Sao đại ca lại làm thế ?
Hắn nghĩ đến Chung thị huynh đệ tam hùng tung hoành đất Kinh Sở sao lại tỏ ra khiếp nhược với một gã hậu bối ? Nhưng Chung Triệu Anh biết là cơ sự cấp bách nếu không ngăn chặn Lưu Hạc Chân mau lẹ thì hỏng đại sự . Hắn đã cân nhắc việc có trọng khinh tùy cơ hoàn cấp . Và đối với gã thiếu niên chẳng có tiếng tăm gì mà hợp lực ba người để thủ thắng cũng là bất võ .
Vì thế hắn thấy chàng đòi tiền mãi lộ liền đưa ra ba trăm lạng bạc cho chàng.
Cử động này ra ngoài sự tiên liệu của Hồ Phỉ . Chàng cười hì hì lắc đầu nói :
- Ða tạ ! đa tạ ! Chung lão sư nói bốn đĩnh bạc này có dư ba trăm lạng nhưng vản bối định giá mỗi vị một trăm lạng . ba vị cộng là ba trăm lạng .
Nếu lấy nhiều quá là bất công . Bây giờ đành thế này vậy . Chúng ta đến tòa thị trấn trước mặt để cân lại coi . vản bối chỉ lấy đúng ba trăm lạng nếu dư sẽ hoàn lại không dám thủ thêm một phân hào nào .
Chung thị tam hùng nghe tới đây , lông mày đều dựng đứng cả lên .
Chung Triệu Anh bỏ bạc vào bọc rồi nói :
- Nhị đệ ! Tam đệ ! Hai vị hãy đi trước .
Rồi quay lại bảo Hồ Phỉ :
- Mời các hạ lấy khí giới ra . Tại hạ đành lĩnh giáo mấy cao chiêu của các hạ .
Hồ Phỉ thấy hắn ung dung bình tĩnh biết là một tay kình địch mà đơn đao của chàng bị Viên Tử Y lấy đem đi rồi . Bây giờ xích thủ không quyền đấu với ba người e rằng khó bề thủ thắng .
Chàng nghĩ tới Viên Tử Y lại thấy mát ruột . Nhưng rồi chàng nghiến răng lẫm bẩm :
- Nếu nàng không lấy binh khí của ta thì bây giờ ta không đến nỗi lâm vào cảnh hiểm nghèo .
Chàng thấy Chung Triệu Văn và Chung Triệu Anh đi qua hai mé bên mà không biết ngăn trở cách nào ?
Chàng động tâm đột nhiên lạng người đi hai bước vung quyền đấm bình một cái vào mũi con ngựa của Chung Triệu Anh .
Thoi quyền này rất trầm trọng và chính là một chiêu cực kỳ lợi hại trong Hồ Gia Quyền . Con ngựa vàng lập tức bị gẫy xương óc . Nó nằm lăn xuống đất , không nhúc nhích nữa . Nó đã chết rồi .
Thủ pháp tiên thanh đoạt nhân này khiến cho Chung thị tam hùng đều thộn mặt ra . Hồ Phỉ tiện ta chụp lấy cái yên ngựa của con ngựa vàng khẽ giựt một cái , bao nhiêu giây buộc đứt hết .
Chàng úp yên ngựa vào trước ngực để hộ vệ chỗ khẩu yếu . Hai tay đều cầm một cái bàn đạp nói :
- Xin lỗi ! Xin lỗi ! Chỉ vì tại hạ không đem theo binh khí nên phải lấy yên ngựa và bàn đạp để dùng tạm .
Dứt lời tay trái chàng cầm bàn đạp vung lên nhằm đánh vào mặt Chung Triệu Văn . Tay mặt cầm bàn đạp tới cánh tay Chung Triệu Năng . Hai bàn đạp đồng thời đưa ra ngăn cản lối đi của hai anh em họ Chung .
Chung thị tam hùng vừa kinh hãi vừa tức giận . Nguyên nhà này trước kia vẫn sử phán quan bút nhưng tám năm trước chúng bị bại về tay Miêu Nhân Phượng gây nên mối đại nhục . Từ đó chúng bỏ không dùng phán quan bút và mỗi người luyện một thứ binh khí cổ quái . Tám năm chuyên cần rèn luyện , võ công tiến bộ rất nhiều . Chúng muốn đi kiếm Miêu Nhân Phượng để quyết sống mái . Không ngờ ở nơi quê mùa hẻo lánh này chúng lại bị một gã thiếu niên vô danh làm nhục .
Chung Triệu Anh hú lên một tiếng . Chung Triệu Văn và Chung Triệu Năng cũng hú lên để đáp lại . Tiếng hú the thé khiến người nghe phải bở vía .
Hồ Phỉ cũng ngấm ngầm kinh hãi .
Cả ba người vung Thiết lịnh bài , Khốc tang bổng và Chiêu hồn phán chia ra ba mặt tấn công .
Hồ Phỉ dùng yên ngựa để che ngực , hai tay múa hai cái bàn đạp tựa hồ cặp Lưu tinh truỳ . Chàng cũng vừa công vừa thủ .
Hồ Phỉ tinh thông về đao pháp và quyền pháp song kém Viên Tử Y ở chỗ chưa tinh thông võ công các phái lại chưa rèn luyện cách dụng Lưu tinh truỳ . Chàng chỉ ỷ vào tâm cơ minh mẫn , thủ pháp mau lẹ , võ học căn cơ của chàng cao hơn người một bậc mới chống đối được . Nhưng Chung thị tam hùng đều là hảo thủ hạng nhất . Về công lực bản thân người nào cũng còn hơn chàng . May mà chàng không hiểu chiêu thuật của Lưu Tinh truỳ mới cùng ba người trao đổi hai , ba chục chiêu vẫn chưa thất bại .
Nguyên Chung thị tam hùng là người biết nhiều hiểu rộng , thấy Hồ Phỉ lây hai cái bàn đạp để làm Lưu Tinh truỳ liền để ý nhận định gia số cũa chàng . Chúng lại thấy chàng tay mặt cầm bàn đạp đánh tới liền nghĩ ngay đây là truỳ pháp bạch Hồng Quán Nhật của Trương gia ở Thanh Châu .
Chúng yên trí cái bàn đạp nơi tay trái chàng thuận đà quét ngang .
Ngờ đâu Hồ Phỉ thấy cây Khốc tang bổng của Chung Triệu Văn từ dưới móc lên . Ðỉnh đầu hắn sơ hở liền rung động bàn đạp bổ dọc xuống thiên linh cái đối phương .
Chung thị tam hùng trong lòng rất lấy làm kỳ tự hỏi :
- Ðây là gia số nào ?
Hồ Phỉ thấy Chung Triệu Văn giơ bổng lên gạt , cái bàn đạp bên tay mặt chàng liền quét tới Chung Triệu Năng .
Chung thị tam hùng lẩm bẩm gật đầu nghĩ bụng :
- Phải rồi ! Té ra gã là môn hạ Chữ Thập Trùy ở Diên Châu tỉnh Thiểm Tây . Nửa dưới chiêu này là Dương Mi Thổ Khí , tất dùng cả hai bàn đạp đánh tới trước ngực .
Ba người thấy chàng đẩy ngựa đánh ngựa , tý lực cực kỳ hùng mạnh .
Nếu để song truỳ đánh trúng ngực thì nguy đến tính mạng . Ba người liền đưa binh khí lên bảo vệ trước ngực .
Không ngờ Hồ Phỉ chẳng biết chiêu số Dương Mi Thổ Khí là gì , chàng thấy ba người đưa binh khí lên hộ vệ trước ngực liền quét ngang cặp bàn đạp để đánh vào hạ bàn ba người .
Chung thị huynh đệ giật nảy mình lên tự hỏi :
- Sao gã lại ra chiêu Phiên Thiên Phúc Ðịa ?

Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Phó Tử Anh, truyện đã sửa xong rồi
 
Chúc PTAnh một mùa Giáng Sinh tràn đầy hạnh phúc
 
📎 Merry-Christmas




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-22 15:30:44only_want_love>
only_want_love gặp một vài lỗi do các bạn không gõ chú thích vào cuối chương, mà đặt ở cuối trang như bản gốc. o_w_l đã sửa lại đặt ở cuối chương, và một số lỗi chính tả khác. o_w_l post vào đây, không biết có đúng không nữa. Nếu không đúng thư quán cứ xóa đi, hoặc đem đặt vào chỗ nào đúng cũng được. o_w_l mới vào nên không hiểu cụ thể thế nào.
Hồi 2
Hồi 5

Hồi 2
Đại Họa Lâm Đầu
 
Dương Châu thành bắt đầu nhiệt náo.
Thành môn bắt đầu mở từ giờ mão, thương nhân, lữ khách, nông dân ra vào thành môn như mắc cửi.
Hàng hóa những chiếc thuyền tối qua cập bến chở tới đều xếp trên bến tàu, nhân lúc này cũng được chuyển vào trong thành, nhất thời tiếng xe ngựa ồn ào, huyên náo cả một góc thành.
Từ Dương Châu đông hạ Trường Giang có thể ra biển đến Oa Quốc(1), Lưu Cầu(2) và Nam Dương(3), vì vậy mà Dương Châu trở thành một trong những trạm trung chuyển hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài quan trọng nhất cả nước, so với cuộc sống ở bất kỳ thành thị nào cũng phồn hoa đô hộ và khẩn trương hơn nhiều.
Bất quá hôm nay không khí có chút dị dạng, trong thành ngoài thành đều có thêm rất nhiều quan binh, việc kiểm tra khi xuất nhập thành cũng hết sức kỹ càng, nghiêm cẩn chứ không qua loa đại khái như trước, vì vậy nên những người ra vào thành đã xếp thành một hàng dài. Có điều tuy ai ai cũng nôn nóng quá quan, nhưng không ai dám mở miệng oán thán nửa lời, bởi những người thường qua lại trên giang hồ đều có thể nhận ra trong đám quan binh địa phương kia có không ít đại hán vận y phục của cấm vệ quân.
Trừ phi không cần mạng nữa, bằng không thì chẳng ai dám đắc tội với lũ ngự lâm quân bá đạo nhất chốn kinh thành này cả.
Trong thành tổng cộng có năm thị tập, trong đó thì thị tập cửa Nam nằm đối diện với bờ nam sông Trường Giang là hưng vượng nhất, những sạp hàng cung cấp đủ loại thức ăn ít ra cũng phải đến mấy chục, có lớn có nhỏ, đây là địa điểm dừng chân lý tưởng cho những lữ khách muốn đi thuyền nghỉ ngơi ăn uống.
Dương Châu ngoại trừ là đầu mối giao thông quan trọng, còn là chốn yên hoa nổi tiếng thiên hạ từ xưa tới nay. Bất luận là phú gia công tử vung tiền như rác hay văn nhân danh sĩ phong lưu tài tử, hoặc những lãng tử mang kiếm tự xưng hiệp khách, nếu như không đến đây một lần, thì đều không thể coi là hảo hán chốn phong nguyệt đường(4).
Vì vậy khung cảnh nơi đây thịnh vượng phồn hoa thế nào, không cần phải nói cũng có thể tưởng tượng ra được.
Trong các quán ăn ở Nam môn này thì bánh bao nhân rau thịt của lão Phùng là nổi tiếng nhất, thêm vào người tiểu thiếp hoa dung nguyệt mạo của lão là Trinh tẩu làm chiêu bài sống, chuyên lo việc bán bánh bao nên sanh ý ngày càng thuận lợi.
Khi lão Phùng mang lồng bánh bao rau thịt bốc khói nghi nghút từ trong bếp ra cho Trinh tẩu ở trước quầy bán thì những người khách đang đứng đợi trước cửa cũng lần lượt lấy tiền ra, tranh nhau đưa cho thị.
Trinh tẩu đang bận đến toát hết mồ hôi, có một cái đầu thò ra, nheo mắt cười cười nói:
– Chào Trinh tẩu, cho tám cái bánh bao rau thịt!
Người này chính thị là Từ Tử Lăng, vì hắn sợ bị lão Phùng phát hiện nên đã khom lưng xuống hết cỡ, thấp hơn một nửa so với những người khác, dáng vẻ vô cùng buồn cười.
Cũng may là tướng mạo hắn lại thập phần đáng yêu, hai mắt dài mà linh lợi, mũi thẳng mà cao, vầng trán rộng mở, mép miệng lúc nào cũng nở một nụ cười ấm áp tựa ánh dương quang. Nếu không phải trên mặt y đầy bùn đất, quần áo lại rách nát, thêm vào khuôn mặt bị Ngôn lão đại đánh cho tím bầm, sưng vù hai môi lên thì quả thật tướng mạo cũng bất phàm lắm. Còn bây giờ, quả thật là khiến cho người ta không thể không cười lên ha hả!
Trinh tẩu nhìn thấy hắn, liền lo lắng quay đầu vào trong nhìn lão Phùng và mụ vợ cả đang bận bịu trong bếp một cái, thấy họ không để ý tới tình cảnh bên này, trong lòng mới có chút yên tâm.
Thị vừa ứng phó với những khách nhân khác, một mặt quay lại gắt giọng nói với Từ Tử Lăng:
– Không có tiền cũng học người ta mua bánh bao à?
Từ Tử Lăng cười nịnh:
– Cho nợ đi mà, ngày mai nhất định trả cho tẩu.
Trinh tẩu dùng thủ pháp nhanh nhất nhặt lấy bốn chiếc bánh bao, lưỡng lự giây lát rồi lấy thêm hai chiếc nữa, dùng giấy gói lại giúi vào tay hắn, thấp giọng mắng:
– Đây là lần cuối cùng đấy nhé! Ồ, xem ngươi lại bị người đánh thành cái thứ gì rồi này!
Từ Tử Lăng vui vẻ reo lên, lùi ra khỏi đám người đang chen chúc, vươn vai đứng thẳng người dậy, dáng vẻ liền trở nên oai phong lên rất nhiều.
Thì ra tuy tuổi y còn nhỏ, song đã cao lớn như hán tử thành niên, vai rộng eo nhỏ, chỉ là do dinh dưỡng không đủ nên thân hình có chút gầy gò mà thôi.
Khấu Trọng thò tay lấy ra một chiếc bánh bao đút vào miệng, vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói:
– Có phải lại là lần cuối cùng không?
Khấu Trọng lớn hơn Từ Tử Lăng một tuổi nhưng lại thấp hơn hắn nửa tấc, vai rộng cơ dày, thân hình tương đối tráng kiện.
Tuy hắn không có vẻ anh tuấn ôn nhu của Từ Tử Lăng, nhưng lại có mặt vuông tai lớn, thân hình tràn đầy khí khái của nam tử hán, và thần thái tựa như không hề để ý đến hết thảy mọi sự trên đời, quả thật hấp dẫn phi thường. Đôi nhãn thần sâu xa, linh động, quyết chẳng kém gì Từ Tử Lăng, khiến cho người ta cảm thấy hắn không phải là kẻ tầm thường.
Bất quá y phục của hắn trên rách dưới vá, trái thủng phải mục, so với Tử Tử Lăng còn rách nát hơn mấy phần, còn so với mấy tên ăn mày thì cũng chẳng hơn được bao nhiêu.
Từ Tử Lăng đã ăn đến chiếc bánh bao thứ ba, hắn chau mày nói:
– Đừng nói Trinh tẩu nữa được không? Bây giờ ở Dương Châu còn có mấy người tốt bụng như tẩu ấy nữa đâu? Chỉ tiếc là cha mẹ tẩu ấy thiếu ngân lượng, người cha lại ham tài như mệnh nên mới bán tẩu ấy cho tên lão Phùng xấu xí làm tiểu thiếp, ông trời thật không có mắt mà!
Hai người ra khỏi thị tập đến con đường lớn, chen vào dòng người đang tấp nập đi về phía Nam môn.
Khấu Trọng ăn đã no bụng, khoác vai Từ Tử Lăng, đưa mắt nhìn quanh nói khẽ:
– Hôm nay cừu béo nhiều lắm, tốt nhất tìm loại lão hồ đồ cao tuổi một chút, y phục phải hoa lệ, đơn thân một mình, lại có vẻ như đang tràn đầy tâm sự, có mất túi tiền cũng chẳng hay.
Từ Tử Lăng cười khổ nói:
– Lần trước Khấu Trọng ngươi đã hạ thủ với một ông già, sau thấy ông ta khóc gào thê thảm quá lại đem túi tiền trả lại cho người ta, liên lụy đến ta bị Ngôn lão đại đánh cho một trận.
Khấu Trọng vặn lại:
– Đừng quên hôm ấy ta chỉ định trả lại cho ông già đó một nửa tiền, nhưng tên khốn nhà ngươi muốn lão đầu đó vui vẻ, cứ nằng nặc bắt ta phải trả hết số tiền đó, vậy mà bây giờ còn nói ta nữa! Hừ, có điều chúng ta làm cường đạo cũng phải có đạo đức, như vậy mới là hảo hán chân chính! Ô, ngươi nhìn kìa ...
Từ Tử Lăng nhìn theo ánh mắt Khấu Trọng, trông thấy một lão nho sinh tuổi chừng hơn năm mươi, đang đi về phía thành môn.
Người này ăn mặc hoa lệ, thần sắc vội vã, chỉ cúi đầu bước đi, hoàn toàn phù hợp với những điều kiện mà Khấu Trọng vừa đưa ra.
Thật là xảo hợp.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đưa mắt nhìn nhau, mục quang chuyển dần sang chỗ phồng lên sau lưng lão nho sinh. Hiển nhiên là ông ta đã giấu túi tiền ra sau lưng rồi.
Khấu Trọng ghé sát miệng vào tai Từ Tử Lăng nói:
– Chúng ta có may mắn được hay không thì phải dựa vào lão này đây!
Từ Tử Lăng cũng nôn nóng:
– Ta cũng phải trả món tiền đó cho Trinh tẩu.
Hai người liền rảo bước đuổi theo, đột nhiên có một đội quan binh đi từ trước mặt lại. Khấu Trọng với Từ Tử Lăng cả kinh, vội cúi đầu quay người lách vào một ngách đường, đi sang một phố lớn khác ở Nam thành.
Hai đứa ngồi phịch xuống dựa lưng vào tường.
Khấu Trọng than ngắn thở dài một hồi, sau lại mơ mộng nói:
– Hay là chúng ta đi thi khoa cử nhỉ. Kiến thức của chúng ta tuy là nghe trộm ở chỗ Bạch lão phu tử, nhưng ít nhất cũng hơn mấy tên có tiền đi học ở đó. Nếu như được kim bảng đề danh, vừa không phải lang thang khắp nơi, lại chẳng chút nguy hiểm mà vẫn có thể làm quan lớn ...
Từ Tử Lăng xen miệng vào:
– Đi làm nghĩa quân cũng là ngươi nói, bây giờ lại đổi thành đi thi khoa cử, nói dễ như là đi xem trộm mấy cô nương ở Xuân Phong Lầu tắm vậy, rốt ...
Khấu Trọng thúc vào mạng sườn của hắn, nháy mắt một cái.
Từ Tử Lăng đưa mắt nhìn ra đường, chỉ thấy lão nho sinh lúc nãy cũng học theo chúng đi vào đường ngách, đi qua mặt chúng vào con đường lớn.
Cả hai vui sướng nhìn theo, rồi nhảy dựng người lên đuổi theo lão nho sinh.
Giờ khắc hành động đã tới.
Lão nho sinh vội vội vội vàng vàng đi trên đường, không hề hay biết y phục sau lưng đã bị rạch một đường dài.
Vừa nãy lão đi về phía Nam môn, định xuất thành nhưng thấy quan binh canh phòng nghiêm ngặt nên lại quay về, biết lúc này không dễ rời khỏi Dương Châu, lại không dám quay về nhà, tìm bằng hữu thì sợ liên lụy người khác, đầu óc đang rồi bung, thì chợt thấy bóng người thấp thoáng chặn ngay trước mặt.
Lão nho sinh còn đang kinh hãi, thì hai bên tả hữu đã bị người kẹp chặt, không thể động đậy.
Người cản đường lão là Vũ Văn Hóa Cập và một đám thủ hạ. Vị cao thủ của Vũ Văn phiệt này vừa cười vừa bước đến trước mặt lão nho sinh, nhìn lão với ánh mắt dò xét rồi nhạt giọng nói:
– Vị này là Điền Văn lão sư, văn thơ nức tiếng Giang Đô đấy phải không? Nghe nói lão sư và Thạch Long sư phó là tri giao với nhau. Vừa rồi chúng ta mạo muội đến quý phủ bái phỏng Điền lão sư, vô ý đã phát hiện thi thể của Thạch sư phó dưới giếng, bây giờ Điền lão sư lại vội vội vàng vàng bỏ đi, không biết là đang có chuyện gì?
Sắc mặt Điền Văn trắng bệch như tờ giấy, nói chẳng nên lời.
Lúc này người đi đường đều đã phát hiện có dị sự, chỉ là trong đám người đang làm khó Điền Văn có cả thủ bị đại nhân của Dương Châu thành nên không ai dám lên tiếng can thiệp cả.
Hai gã đại hán kẹp chặt Điền Văn, cánh tay còn lại rà soát khắp người, nhưng tìm mãi cũng không thấy cuốn sách đáng lẽ phải đang ở trên mình lão.
Trương Sĩ Hòa đành đích thân ra tay, chắc chốc y đã phát hiện y phục sau lưng Điền Văn đã bị người dùng lợi khí rạch rách, biến sắc nói:
– Không xong! Sách bị ăn cắp rồi!
Song mục Vũ Văn Hóa Cập ánh lên sắc hàn, trầm giọng nói:
– Trần thủ bị!
Trần thủ bị vội bước lên phía trước. Bình nhật y hoành hành bá đạo, nhưng vừa mới tiếp xúc với ánh mắt của Vũ Văn Hóa Cập thì hai chân đã mềm nhũn, quỳ xuống run rẩy:
– Có bỉ chức!
Vũ Văn Hóa Cập lạnh lùng nói:
– Lập tức cho đóng cổng thành, đồng thời bắt tất cả bọn lưu manh, kẻ trộm về đây cho ta. Nếu không lấy được món đồ Thánh Thượng cần, thì không kẻ nào được sống cả.
Từ Tử Lăng và Khấu Trọng ngồi sánh vai trong một góc phố yên tĩnh ở Đông thành, ngẩn người mở cuốn sách vừa ăn cắp được ra xem.
Từ Tử Lăng thất vọng nói:
– Lần sau đi móc túi, chớ bao giờ tìm những kẻ trông giống như thư sinh mọt sách này. Quyển sách quỷ quái toàn những phù hiệu lạ lùng này còn khó hiểu hơn là thiên thư nữa. Trọng thiếu gia ngươi không phải thường hay khoe kiến thức chất đầy năm xe hay sao, thử đọc xem trên này viết thứ quái quỷ gì vậy?
Khấu Trọng đắc ý nói:
– Ta nào giống tên tiểu tử bất học vô thuật như ngươi. Quyển sách này nhất định là võ học mật kíp từ đời tam hoàng ngũ đế lưu truyền lai, chỉ cần luyện thành sẽ có thể thiên hạ vô địch, ngay cả Thạch sư phó cũng phải cam bái hạ phong. Chỉ cần nhìn mấy đồ hình người này cũng biết đó là bí quyết vận hành nội khí rồi. Ha! Lần này được bảo vật rồi. Này! Ngươi đã thấy loại giấy quái dị thế này bao giờ chưa?
Từ Tử Lăng cười cười nói:
– Không cần khoa trương đến vậy đâu, đọc thử hai ba chữ cho ta nghe, xem ngươi học nhi hữu thuật thế nào thì được rồi!
Khấu Trọng dương dương tự đắc, hai mắt sáng ngời:
– Có người viết được, tất sẽ có người hiểu được. Ta sẽ tìm một lão học cứu(5) có học vấn nhất, nhờ lão giải nghĩa những văn tự này ra, còn Dương Châu Song Long chúng ta thì chuyên trách luyện công, thế gọi là phân công hợp tác, ai làm việc nấy, đã hiểu chưa?
Từ Tử Lăng bực mình nói:
– Ngươi làm tổng quản Dương Châu chắc? Làm gì có ai điên mà chịu nghe ngươi phân phó, bây giờ Dương Châu Song Xà chúng ta ngay cả cơm ăn ba bữa còn lo không nổi, xem ra đành phải lấy lộ phí để giành ra đổi vài cái bánh bao ăn dằn bụng vậy!
Khấu Trọng cười hì hì, đứng dậy cẩn thận bọc cuốn sách vào trong một lớp áo rồi vươn vai lười nhác nói:
– Cơm trưa để Trọng thiếu gia ta phụ trách! Đi! Chúng ta về nhà lấy ngân lượng, rồi đến bến tàu làm mấy vụ buôn bán không cần vốn rồi lập tức cao chạy xa bay, bằng không để tên Ngôn lão đại xấu xa đó phát hiện chúng ta có đồ quý thì thật là hỏng bét!
Từ Tử Lăng nghĩ đến trận đòn hôm qua, giờ vẫn còn đau liền đứng dậy cùng Khấu Trọng lén lén lút lút đi về "nhà" của chúng.
Vũ Văn Hóa Cập ngồi trong đại đường của phủ tổng quản Dương Châu, uống trà với tổng quản Dương Châu Uất Trì Thắng.
Hai người không những có cựu giao, mà quan hệ còn chẳng tầm thường.
Trước khi Dương Kiên kiến lập đại Tùy là đại thần của Bắc Chu. Sau khi Tuyên Đế nhà Bắc Chu Vũ Văn Vân bệnh chết, y cấu kết với nội sử thượng đại phu Trịnh Dịch và Ngự Chính đại phu Lưu Phưởng, lấy cớ là Vũ Văn Đơn kế vị khi tuổi còn nhỏ, đặc biệt lấy kiệu mời Dương Kiên vào triều chấp chính. Một năm sau thì Dương Kiên bức Tĩnh Đế thoái vị, tự lập làm vua.
Thiên hạ Bắc Chu của nhà Vũ Văn từ đó do rơi vào tay họ Dương.
Nhưng thế lực họ Vũ Văn thân căn cố đế, dù Dương Kiên giành được đế vị, nhưng vẫn không thể trảm thảo trừ căn, tiêu diệt được Vũ Văn phiệt, đến khi nhi tử của y Dương Quang kế vị thì họ Vũ Văn lại trùng trấn thanh uy, dần dần mạnh lên như thuở trước.
Nghiêm khắc mà nói, nhìn bề ngoài thì họ Vũ Văn có vẻ trung thành với nhà Tùy, nhưng kỳ thực chỉ là đem cừu hận giấu sâu trong lòng mà thôi.
Sau khi Dương Kiên soán ngôi đoạt vị, lần lượt đã có ba vị đại thần ủng hộ Bắc Chu dấy binh làm loạn, là Tương Châu tổng quản Uất Trì Chu, Trịnh Châu tổng quản Tư Mã Tiêu Nan và Ích Châu tổng quản Vương Khiêm, những người này không phải là có quan hệ mật thiết với Vũ Văn gia thì là trung thần nghĩa sĩ trung thành với Bắc Chu vương thất. Trong đó Uất Trì Chu chính là đường thúc của Uất Trì Thắng, vì vậy có thể thấy quan hệ của hai người mật thiết thế nào.
Vì vậy hai người nói những chuyện bí mật không hề phải cố kị điều gì.
Vũ Văn Hóa Cập thở dài:
– Quyển sách này quả thật vô cùng quan trọng, ta đã dự bị năng thủ, chỉ cần lấy được bảo thư, lập tức giải dịch ra một bản giả mạo, đưa cho hôn quân đó tham luyện, bảo đảm chưa đầy ba tháng thì y sẽ luyện đến tẩu hỏa nhập ma mà chết. Thật không ngờ đồ vật đã nắm trong tay rồi lại sinh ra lắm chuyện như vậy. Giờ có muốn giả mạo một quyển cũng không được nữa!
Uất Trì Thắng hừ lạnh nói:
– Dù không có bảo thư thì bảo tòa của Dương gia cũng khó giữ được lâu nữa. Trời cao phò hộ cho đại Chu chúng ta, từ sau khi tên hôn quân này kế vị thì hoành hoành bạo ngược, đại hưng thổ mộc, xây dựng cung điện khắp nơi, lại lao sư động chúng, viễn chinh Cao Lệ(6), ba lần đều thất bại thảm hại. Giờ đây phiến quân nổi lên khắp nơi, chúng ta chỉ cần nắm chắc cơ hội, chắc chắn sẽ có thể khôi phục được những ngày tháng huy hoàng của đại Chu.
Vũ Văn Hóa Cập mắt lộ hàn quang, trầm giọng nói:
– Những ngày tháng còn lại của Dương Quảng có thể đếm trên đầu ngón tay. Đáng lo nhất nhà ba thế phiệt còn lại, trong đó thì Lý phiệt là đáng ngại nhất. Phiệt chủ Lý Uyên lại là cháu của Độc Cô thái hậu, được Dương gia tín trọng còn hơn cả Vũ Văn gia chúng ta. Một ngày còn chưa bình định được tam đại thế phiệt này thì con đường phục quốc của chúng ta còn gặp trở ngại lớn.
Y ngừng lại giây lát rồi nói:
– Còn về ngoại tộc thì mối họa lớn nhất chính là bọn Đột Quyết.Hiện nay bọn loạn dân đều lần lượt liên lạc với Đột Quyết ở phương Bắc, tính dựa vào thế lực của chúng nên càng khiến bọn chúng tự cao tự đại. Mà tứ đại cao thủ của Đột Quyết võ công đều xuất thần nhập hóa, càng nghĩ lại càng khiến người ta lo lắng.
Uất Trì Thắng nói:
– Ta cho rằng Hóa Cập huynh không khỏi quá e sợ bọn Lý gia rồi. Lý Uyên tuy là anh em họ với Dương Quảng, nhưng vì người này quảng thi ân đức, kết nạp hào kiệt bốn phương nên Dương Quảng rất nghi kỵ. Bây giờ Lý Uyên tự bảo còn khó, đâu thể ngăn trở ngày nay chúng ta được. Chỉ cần chúng ta có thể sắp đặt xảo kế, làm gia tăng nghi kỵ của Dương Quảng với Lý Uyên, nói không chừng có thể mượn đao giết người, còn mình thì ở giữa làm ngư ông hưởng lợi.
Trong mắt Vũ Văn Hóa Cập thoáng lộ tiếu ý, gật đầu tán thưởng. Chợt Trương Sĩ Hòa chạy vào báo cáo:
– Đại nhân, có manh mối rồi!
Vũ Văn Hóa Cập và Uất Trí Thắng đều lộ sắc vui.
Trương Sĩ Hòa nói:
– Theo khẩu cung của Điền Văn, trước khi lão bị bắt đã bị hai tên tiểu lưu manh khoảng mười lăm, mười sáu tuổi đụng trúng, có lẽ bảo thư đã bị hai tên tiểu tử này lấy cắp.
Vũ Văn Hóa Cập gật đầu nói:
– Sĩ Hòa tất đã điều tra rõ được hai tên lưu manh đó là người thế nào nên mới đến đây báo hỉ, đúng không?
Trương Sĩ Hòa cười đáp:
– Chính là như vậy, hai tên tiểu tử này một tên Khấu Trọng, một tên Từ Tử Lăng, là hai tên trộm vặt nổi tiếng nhất thành Dương Châu, lão đại của chúng tên là Ngôn Khoan, bây giờ đang đi tìm hai tên tiểu tử đó giải về đây.
Uất Trì Thắng cười lớn:
– Vậy thì dễ rồi, trừ phi chúng mọc thêm hai cánh, bằng không chỉ cần ở chúng trong nội thành, thì đừng hòng thoát khỏi bàn tay của chúng ta.
Vũ Văn Hóa Cập thở phào, dựa lưng vào thành ghế, cơ hồ như đã nắm chắc bảo thư trong tay.
Hai tên tiểu lưu manh còn chưa kịp lấy hơn mười xâu tiền trong chỗ cất giấu ra thì đứa phụ trách canh gác là Từ Tử Lăng chợt phát hiện Ngôn lão đại đang ủ rũ cúi đầu dẫn theo mười mấy gã đại hán lạ mặt tiến về phía phế viên.
Từ Tử Lăng cực kỳ tinh linh, tuy bị kinh hãi một chập, song vẫn biết khom người chạy đến hội họp với Khấu Trọng, rồi cả hai chui tọt vào một căn phòng nhỏ chỉ còn lại ba mặt tường, nấp vào trong địa huyệt đã đào từ trước, chuyên dùng để trốn Ngôn lão đại. Bên trên còn ngụy trang rất nhiêu gạch đá, và ván gỗ che hết cửa hầm, chỉ để lại một lỗ nhỏ để thông khí mà thôi.
"Ầm ầm ... rầm ... rầm!" Tiếng đồ vật bị đập vỡ, đạp đổ không ngừng truyền từ lỗ nhỏ vào trong hầm.
Không lâu sau thì Khấu Trọng và Từ Tử Lăng nghe được tiếng kêu thảm thiết của Ngôn lão đại, hiển nhiên là đang bị người hành hạ.
Bọn chúng tuy hận không có người đánh chết Ngôn lão đại, nhưng nghe thấy tiếng kêu của y thảm thiết như vậy, trong lòng cũng không khỏi có chút bất nhẫn.
Đồng thời cũng hết sức kinh ngạc, không hiểu đã xảy ra chuyện gì.
Ngôn lão đại ở Dương Châu cũng có thể xem là nhân vật có chút tiếng tăm, dưới tay có hơn hai chục huynh đệ, gần đây lại bái Đường Chủ của Trúc Hoa Bang là Thường Thứ làm á phụ, nhưng ở trước mặt đám đại hán này lại chẳng bằng con chó.
Một giọng nói âm trầm lạnh lẽo vang lên:
– Lục soát cho ta!
Lời này vừa xuất, Dương Châu Song Long lập tức biến thành song xà, nép mình vào một góc hầm, không dám thở mạnh.
Tiếng nói của Ngôn lão đại run rẩy truyền lại:
– Các vị đại gia, xin hãy cho tiểu nhân một chút thời gian, nhất định sẽ lấy được sách đó mang về, tiểu nhân có thể lấy đầu ra bảo đảm ... ôi!
Hiển nhiên là lại bị người khác cho ăn quyền nếm cước.
Tiếng bước chân lại gần địa huyệt, tiếp đó có người quát lớn:
– Vẫn không tìm thấy à?
Ngôn lão đại đau đớn khản giọng cầu xin:
– Xin các vị đại gia cho tiểu nhân thêm một cơ hội, nhất định là hai tên trời đánh đó đến Thạch Long võ trường xem trộm người ta luyện công phu, ôi da!
Giọng nói âm trầm lại vang lên:
– Thạch Long võ trường sớm đã bị bọn ta niêm phong rồi, còn có gì đâu mà xem.
Y ngừng lại giây lát rồi nói tiếp:
– Bốn người các ngươi ở lại đây, phòng hờ bọn chúng quay về. Còn tên phế vật nhà ngươi dẫn ta đi đến những chỗ hai tên tiểu tử kia hay đến tìm thử xem. Mau, đỡ hắn dậy!
Tiếng bước chân đi xa dần.
Ở dưới địa huyệt, Khấu Trọng và Tử Tử Lăng đưa mắt nhìn nhau, thấy đối phương sợ đến mức mặt trắng bệch như tờ giấy.
Cả hai cùng nghĩ đến con ngòi thông ra ngoại thành ở bên cạnh đông môn.
Bây giờ đó là hy vọng duy nhất của chúng.

------------------------------------------------
(1)Oa quốc:Nhật Bản
(2)Lưu Cầu:là phiên âm Hán Việt của Ryukyu (tiếng Nhật). Đây là tên vương quốc mà hiện giờ chính là vùng Okinawa của Nhật Bản.
(3)Nam Dương:Indonesia
(4)Phong nguyệt đường:chỉ chốn phong lưu, yên hoa.
(5)Học cứu:học giả
(6)Cao Lệ:Hàn quốc



Hồi 5
Sấm Động Giữa Trời Hoang

Khấu Trọng tỉnh lại lúc trời còn chưa sáng.
Nghĩ lại chuyện hôm qua, hắn mồm miệng liền thoắng, lừa ăn lừa uống, đến cả huyện lão gia cũng phải coi hai gã là quý khách, cảm thấy đắc ý vô cùng.
Khi hắn mở mắt ra, mới phát hiện Từ Tử Lăng đã dậy từ lúc nào, đang nửa nằm nửa ngồi, đặt hai tay lên trán, hai mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà, không biết nghĩ gì mà đến xuất thần.
Khấu Trọng đang rầu vì không có ai chia sẻ sự đắc ý với mình, cả mừng ngồi dậy nói:
– Tiểu Lăng, ngươi nhìn xem! Ở Dương Châu chúng ta là ăn mày, lưu manh, nhưng vừa rời khỏi Dương Châu, chúng ta liền trở thành đại thiếu gia, từ khi sinh ra đến giờ đây là lần đầu tiên hai huynh đệ chúng ta được ngủ trên cái giường thoải mái thế này, lại đắp chăn bông thơm nức mà nằm mộng nữa, thay áo mặc áo đều có tiểu mỹ nhân thị hầu. A! Lúc cánh tay nhỏ xinh của tiểu Quyên tỷ đó sờ lên người ta, quả thật ta đã cảm thấy như mình đã làm đến thừa tướng rồi.
Từ Tử Lăng không chút hứng thú nói:
– Nếu ngươi không nghĩ được cách thoát thân, để người ta đưa về Dương Châu thì mới hay đấy!
Khấu Trọng cười hì hì nói:
– Ngươi cứ yên một trăm hai mươi cái tâm đi, đợi lát nữa ăn uống no say, chúng ta về đây lấy vài thứ tinh phẩm, sau đó tùy tiện tìm một lý do nào đó, chẳng hạn như là muốn đi xem phong cảnh chẳng hạn, ra khỏi trấn rồi thì không phải dễ dàng hơn sao?
Từ Tử Lăng biết hắn ngụy kế đa đoan, đối với chuyện này hoàn toàn không hề lo lắng, nên chỉ thở dài một tiếng, không nói gì nữa.
Khấu Trọng ngạc nhiên nói:
– Tối qua ngươi ngủ không ngon à? Tại sao lại dậy sớm vậy?
Từ Tử Lăng càu nhàu nói:
– Chúng ta ăn xong bữa tối liền lên giường, ngủ như thế là đủ lắm rồi!
Khấu Trọng liền tiến thêm một bước:
– Vậy ngươi đang nghĩ gì thế? Hắc! Không phải đang nhớ ác bà nương kia đấy chứ?
Từ Tử Lăng bị gã nhìn ra tâm sự, không nói tiếng nào.
Khấu Trọng dịch người đến sát bên cạnh Từ Tử Lăng, vỗ vai hắn nói:
– Cả đời này chỉ có hai huynh đệ, tiểu Lăng ngươi mau nói xem có phải ngươi đã yêu bà nương kia rồi không?
Từ Tử Lăng xẵng giọng nói:
– Yêu mẹ ngươi thì có! Tuổi cô ta ít nhất cũng đủ làm một nửa mẹ ta rồi, hơn nữa ngươi không nghe cô ta nói à? Ngay cả tư cách kết bạn với cô ta chúng ta còn không có nữa. Chỉ là ta cảm thấy hơi kỳ quái, tên tiểu tử hư đốn như ngươi trước giờ không phải rất thích các cô em xinh đẹp hay sao, bà nương này đẹp hơn tất cả những cô nương mà chúng ta đã gặp, vậy mà tại sao ngươi cứ nghĩ cách tránh xa cô ta thế nhỉ? Bề ngoài thì cô ta có vẻ hung dữ, nhưng đối với chúng ta cũng không đến nỗi tồi, bằng không cũng không đưa chúng ta đến tiểu trấn này.
Khấu Trọng thở dài nói:
– Ta chỉ là nghĩ cho tiền đồ của chúng ta mà thôi, chính vì ác bà nương đó đẹp quá, chúng ta lại đã từng va chạm tiếp xúc thân thể với cô ta, chính vì vậy mới phải đặc biệt đề phòng. Đại trượng phu lấy sự nghiệp làm trọng, đặc biệt là chúng ta công danh chưa thành, nên càng phải tránh xa mỹ sắc, bằng không để tráng chí tiêu tan ... Hắc! Ta giống như là ... cái gì ... ha ha ...
Hai người cười nói một hồi thì trời đã tảng sáng, bên ngoài âm ỉ truyền lại tiếng nữ tỳ, gia nhân quét dọn sân vườn.
Khấu Trọng duỗi duỗi cặp chân vẫn còn mỏi nhừ nói:
– Đợi lát nữa ta lừa tên quan họ Trầm đó lấy ngựa đi chơi, chạy trốn cũng nhanh hơn một chút, lại không mệt đến chân quý của thừa tướng và đại tướng quân này.
Từ Tử Lăng cười khổ nói:
– Ngươi biết cưỡi ngựa à?
Khấu Trọng ngạo mạn nói:
– Có gì khó đâu, chỉ cần trèo lên yên cương, điều khiển đầu ngựa, vỗ vào mông nó hai cái là được chứ gì?
Từ Tử Lăng đang định nói hắn thì ngoài cửa vang lên tiếng cốc cốc cốc.
Khấu Trọng ngỡ rằng đó là nữ tỳ tiểu Quyên nhan sắc bất tục liền đằng hắng một tiếng nói:
– Vào đi!
Cửa phòng bật mở, lão huyện thừa họ Trầm vừa béo vừa lùn, lướt vào như một cơn gió đến trước giường của hai gã, tay chân luống cuống, hành lễ:
– Hai vị đại thiếu gia tỉnh lại rồi thì thật tốt quá, đêm qua hạ quan nghe được tin tức, thì ra quý thúc Vũ Văn đại nhân đang huy động nhân thủ đi khắp nơi tìm hai vị đại thiếu gia. Hạ quan đã phái người đi thông báo, lệnh thúc bất cứ lúc nào cũng có thể đến đây. Khi hai vị thiếu gia gặp lại lệnh thúc, mong hai vị có thể nói tốt cho hạ quan vài lời.
Khấu Trọng và Từ Tử lăng như bị rơi từ tiên cảnh xuống mười tám tầng địa ngục, tay chân lạnh toát, hồn phi phách tán.
Trầm huyện thừa tưởng rằng hai gã vui mừng quá đỗi đến ngẩn cả người, liền cúi đầu thi lễ nói:
– Hạ quan đã phân phó hạ nhân thị hầu hai vị công tử mục dục canh y, hạ quan sẽ ở đại sảnh đợi hai vị cùng dùng bữa sáng. Bây giờ xin được cáo lui.
Trầm huyện thừa vừa ra khỏi, thì bốn tỳ nữ xinh đẹp, trong đó có cả tiểu Quyên tiến vào, cẩn thận thị hầu hai gã tắm rửa thay đồ, so với hôm qua còn long trọng chu đáo hơn nhiều.
Điểm trí mạng là Châu Bình và Trần Vọng cũng đến, niềm nở đứng hầu một bên, khiến hai gã không thể nào thoát thân được.
Đến lúc cùng dùng cơm với Trầm huyện thừa, khí thế còn càng thêm long trọng, hơn mười tên sai dịch đứng hai bên thị hầu, khiến cho hai gã tâm kinh đảm khiếp, khổ không nói được nên lời.
Khấu Trọng đá nhẹ vào chân Từ Tử Lăng một cái, cười ha hả nói:
– Không biết gần huyện thành này có danh thắng cổ tích gì không, nhân lúc gia thúc phụ còn chưa đến, huynh đệ chúng tôi đi du lãm ngoạn cảnh một chuyến cũng rất hay.
Ngũ quan Trầm huyện thừa cơ lại một chỗ, để lộ ra một nụ cười hết sức khó coi:
– Gầy đây thổ phỉ cướp bóc nổi lên khắp nơi, hai vị đại thiếu gia tốt nhất không nên ra khỏi trấn, bằng không nếu xảy ra chuyện, bản huyện làm sao gánh vác nổi.
Khấu Trọng chỉ hận không thể nhảy lên bóp chết lão, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra vui vẻ nói:
– Huyện đại nhân nghĩ thật chu đáo! Hắc! Điểm tốt của huyện đại nhân, hai huynh đệ chúng tôi nhất định sẽ nói lại với thúc phụ, để người luận công ban thưởng.
Bất quá, huynh đệ chúng tôi đây sợ nhất là buồn bực trong phòng. Hay là thế này đi, trong huyện có thanh lâu kỹ viện hay chỗ tầm lạc gì không, ai da ... từ khi rời khỏi Đại Đô, thì chưa được ... Hắc! Huyện đại nhân cũng biết không đựơc cái gì rồi, chúng tôi vốn định đến Dương Châu khoái hoạt một phen, bây giờ ngủ đến tinh thần sảng khoái rồi, thế nào cũng phải đi ... ha ... chuyện nhỏ này, tự nhiên không làm khó nổi huyện đại nhân rồi.
Châu Bình đứng phía sau nói:
– Nhưng giờ này các cô nương còn chưa ngủ dậy.
Trầm huyện thừa quát lớn:
– Chưa ngủ dậy cũng bắt chúng phải dậy.
Đoạn quay mặt lại nở một nụ cười với hai gã:
– Chỉ là một chuyện nhỏ, hạ quan sẽ lập tức an bài.
Lão lại quay sang phía Châu Bình gắt:
– Còn không đi sắp xếp.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đưa mắt nhìn nhau, thầm nhủ nếu như không thể lợi dụng lúc ở thanh lâu trốn thoát, vậy thì tiền đồ vĩ đại và sinh mạng bảo bối của cả hai coi như chấm dứt từ đây.
Hai gã ngồi trong xe ngựa, do đích thân Trầm huyện thừa dẫn đường, hướng về phía thanh lâu lớn nhất trong huyện thành.
Bắc Pha huyện là một huyện thuộc loại lớn nhất ở vùng phụ cận Dương Châu, so với Dương Châu thì cũng không kém nhiệt náo là bao, bởi vì trực thuộc Giang Đô quận nên có đường lớn dẫn thẳng ra ngoài, thủ công nghiệp đặc biệt hưng vượng.
Đáng tiếc cả hai đang lo lắng cho tiểu mệnh, cho dù Trầm huyện thừa có mồm năm miệng mười khoe khoang công đức của mình đối với nhân dân trong huyện, dọc đường cứ chỉ chỉ trỏ trỏ không ngừng, hai gã cũng chỉ tùy tiện ậm ừ mấy câu mà thôi.
Đặc biệt là hơn mười tên sai dịch đi theo bảo vệ trước sau, cảm giác so với bị nhốt trong tù xa giải về Dương Châu thật chẳng khác là bao.
Kỳ thực Khấu Trọng đã nghĩ rất kỹ, định sau khi cùng các cô nương ở thanh lâu vào trong phòng, tránh khỏi thị tuyến của người khác, thì mới từ từ chạy trốn. Nhưng có thể chạy thoát thành công hay không vẫn còn là chuyện chưa biết, vì vậy nên trong lòng cứ thầm sốt ruột.
Uy hiếp lớn nhất là Vũ Văn Hóa Cập bất cứ lúc nào cũng có thể đến đây, bóc trần nguyên hình của hai gã, chẳng những bị mất mặt lại còn mất cả mạng, cảm giác bất lực ấy không cần nói cũng biết rồi.
Mỗi lần Trầm huyện thừa quay mặt ra ngoài, hai gã lại thầm ra dấu tay, dùng phương thức quen thuộc thương lượng đại kế thoát thân.
Xe ngựa oai phong tiến vào trong kỹ viện.
Khi hai gã cùng với Trầm huyện thừa xuống xe, chỉ có vài ả kỹ nữ nhan sắc tầm thường, mắt nhắm mắt mở đi theo một mụ tú bà ra hành lễ với hai vị thiếu gia giả mạo.
Hai gã đang nhìn nhau cười khổ, thì từ phía đằng xa có tiếng vó ngựa dồn dập truyền lại.
Khấu Trọng, Từ Tử Lăng lập tức biết chuyện chẳng lành, đang định liều mạng trốn chạy thì kình phong cuồng khởi, từ trên ép thẳng xuống.
Trầm huyện thừa và đám nha dịch còn chưa biết chuyện gì xảy ra thì đã ngã xuống như rạ, trong hỗn loạn cơ hồ như thấy một đạo bạch ảnh từ trên không giáng hạ.
Đến lúc chúng bò dậy thì Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đã không cánh mà bay, chỉ có bụi đất bị gió lốc cuốn bay mù mịt.
Bạch y nữ chộp lấy eo lưng hai gã, vượt qua mái nhà, trong nháy mắt đã rời khỏi Bắc Pha huyện, lướt đi trên đường núi mà như chẳng tốn mảy may sức lực.
Hai gã tuyệt cảnh phùng sinh, chút nữa thì nhịn không được hét lên sung sướng, nhưng lại sợ chọc giận bạch y nữ nên đành phải dồn nén lại.
Chưa đến nửa khắc, hai gã đã đến bờ sông, chỉ thấy chỗ bến sông có vài chiếc ngư thuyền nhỏ đang đậu, hai bên bờ có vài ngư phu đang sửa sang lưới và dây câu.
Bạch y nữ không hề nghĩ ngợi, tung mình nhảy lên một chiếc thuyền, ném bịch hai gã vào bên trong, vung kiếm chặt đứt dây buộc thuyền, nắm lấy mái chèo, vận kình chèo mạnh. Hoa nước bắn tung toé, chiếc thuyền như một mũi tên lướt ngược dòng mà đi, để lại lão ngư phu tức giận hò hét ở đằng sau.
Hai gã tiểu tử bị nàng ném đến toàn thân đau nhức, lẩm bẩm ngồi dậy, bốn mắt nhìn nhau, thấy mặt bạch y nữ như phủ một lớp sương lạnh, không dám lên tiếng, không khí nặng nề vô cùng.
Chiếc ngư thuyền nhỏ đi được ít nhất hai ba chục dặm thủy lộ, bạch y nữ mới hừ lạnh một tiếng, chầm chậm giảm tốc độ.
Khấu Trọng lấy hết dũng khí, lên tiếng rụt rè hỏi:
– Đại sĩ có phải luôn theo dõi chúng tôi hay không, bằng không tại sao lại xảo hợp như vậy?
Bạch y nữ không thèm nhìn hai gã, khẽ động nộ nói:
– Ai thèm đi theo hai tên tiểu quỷ trộm gà bắt chó như các ngươi chứ, chỉ là ta thấy Vũ Văn Hóa Cập phái người đi lục soát các huyện thành gần đây nên mới quay lại tìm các ngươi mà thôi.
Từ Tử Lăng cung kính nói:
– Đa tạ ân cứu mạng của đại sĩ, sau này có cơ hội huynh đệ chúng tôi nhất định báo đáp!
Bạch y nữ lạnh lùng nói:
– Ta không hề muốn làm chuyện tốt, chỉ là bất kỳ chuyện gì làm Vũ Văn Hóa Cập không vui thì ta đều phải làm, vì thế các ngươi không cần cảm kích ta. Khi nào đến Đơn Dương, thì ai đi đường nấy, sau này không cho phép các ngươi nhắc đến ta nữa, bằng không ta sẽ lấy mạng chó của các ngươi đấy!
Khấu Trọng cười ha hả nói:
– Ai đi đường nấy thì ai đi đường nấy, sau này nếu chúng tôi học thành thần công cái thế, xem có dám gọi ta là chó này chó kia nữa không?
Bạch y nữ song mục lộ ánh hàn quang, nhưng lập tức thu lại, nhạt giọng nói:
– Cho dù ngươi có bái làm môn hạ của Võ Tôn Đột Quyết tộc Tất Huyền đi nữa cũng chẳng thể học được được bản lĩnh gì cả, vì thế theo ta thì tốt nhất hãy bỏ ý định đó đi, tìm một nghề gì đó có thể kiếm tiền mà học, lấy vợ sinh con, sống một cuộc đời an an lạc lạc mới là bình thường.
Hai gã nghe vậy thì cảm thấy bị xúc phạm rất lớn, trợn mắt nhìn nàng một hồi lâu, cuối cùng Từ Tử Lăng nhịn không được liền lên tiếng hỏi:
– Lẽ nào tư chất của chúng tôi lại tệ đến thế?
Bạch y nữ thở dài, nhìn hai người một hồi lâu, đột nhiên cất giọng ôn hòa nói:
– Các ngươi nên biết các ngươi không đủ tư cách để ta phải nói dối các ngươi. Tư chất của các ngươi đích thực tốt hơn bất cứ người nào mà ta đã từng gặp trước đây, bị dày vò như vậy mà cũng không hề sinh bệnh, đích thực là hiếm gặp trên đời, chỉ là các ngươi thiếu một phần duyên số.
Hai gã được nàng tán thưởng, một chút tự tin và tự tôn được hồi phục trở lại, đồng thanh nói:
– Duyên số gì?
Bạch y nữ lắc đầu nói:
– Duyên số luyện võ, phàm là những người muốn trở thành cao thủ xuất quần bạt tụy đều phải luyện tập từ khi còn nhỏ. Theo sư phụ ta nói, một người muốn học bất kỳ thứ gì đến mức đắc tâm ứng thủ thì đoạn thời gian quan trọng nhất chính là từ lúc năm đến mười tuổi. Cũng giống như là học nói vậy, qua khỏi đoạn thời gian này mới học thì học ra sao ngữ âm cũng không chuẩn, võ công cũng như vậy. Nếu như bây giờ các ngươi mới bắt đầu học, vô luận là cần cù chịu khó thế nào, cũng chỉ là tốn công vô ích mà thôi.
Nếu như chỉ làm một tên tiểu tốt thì sớm muộn cũng bị người ta giết đi mà thôi, như vậy chi bằng không học thì hơn. Đã hiểu chưa?
Hai gã ngây người, cảm thấy chân tay lạnh cóng, cuộc sống như mất đi ý nghĩa và mục tiêu.
Khấu Trọng tâm tính quật cường, đưa tay sờ vào cuốn bảo thư sau lưng, gào lớn:
– Lỡ chúng tôi là ngoại lệ thì sao? Hơn nữa chúng tôi còn có bảo thư trong tay, tại sao không có điểm khác mọi người chứ?
Bạch y nữ lộ ra vẻ thương hại, lắc đầu nói:
– Lời thực thường khiến người ta khó chịu, ta đã xem qua cuốn sách của các ngươi rồi, nó tên là Trường Sinh Quyết, là bảo điển của đạo gia, nhưng không hề có một chút liên quan gì đến võ học. Tốt nhất các ngươi nên tìm một chỗ nào đó mà ném nó đi, bằng không nói không chừng sẽ vì nó mà mang họa vào thân đó ... Theo ta thì đó chỉ là trò lừa bịp mà thôi, con người làm sao mà trường sinh bất tử chứ?
Gương mặt hai gã lập tức trắng bệch, không còn chút huyết sắc, nói không nên lời.
Không khí trầm mặc bao trùm cả con thuyền.
Đơn Dương thành là thành thị lớn nhất ở thượng du Dương Châu thành, là nơi buộc phải đi qua nếu muốn từ trong lục địa đến Dương Châu thành để ra biển, tính quan trọng về mặt kinh tế, chính trị chỉ kém sau Dương Châu mà thôi.
Cảnh sắc trong thành hết sức thú vị, thành thị được xây dựng bên Đại Vận Hà, với hơn trăm chiếc cầu lớn nhỏ làm đường, nhà xây sát nước, những căn nhà san sát nối tiếp nhau không ngớt. Phố trên mặt nước, đường trên mặt nước, chợ trên mặt nước, nước, đường, cầu hợp thành một thể, tạo nên một vẻ nhu tình tự thủy, xúc động lòng người.Sáng sớm ngày hôm sau, khi thành môn mở cửa, bạch y nữ và Khấu, Từ ba người trà trộn với những người nông dân vào thành.
Hai tên tiểu tử vì giấc mộng không thành mà con tim tan nát, thất tha thất thểu lê bước theo bạch y nữ vào trong thành.
Sau khi nhập thành, ba người dọc theo con phố chính tiến sâu vào thành nội, hai bên đường đều là cửa hàng cửa tiệm, bày bán đủ thứ hàng hóa thủ công, sanh ý vô cùng hưng vượng, khách khứa ra vào cũng không ít.
Bạch y nữ đến đâu thì nam nam nữ nữ ở đó đều trố mắt ra nhìn, nhưng nàng không hề để ý, tựa như không lấy gì làm lạ, coi như nhìn mà không thấy.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đã nửa ngày không ăn uống gì. Tâm tình xấu cũng không thể thắng được cảm giác cái bụng trống không. Nhưng bạch y nữ dường như không hề nhìn thấy các phạn điếm tửu quán, mà cứ đi thẳng một mạch, Khấu Trọng nhịn không nổi, đằng hắng một tiếng nói:
– Chúng ta có phải nên dừng lại ăn chút gì đó không?
Bạch y nữ dừng lại trước một ngôi nhà lớn tường đỏ, ngói xanh, lạnh lùng nói:
– Ngươi có tiền à?
Từ Tử Lăng đứng bên cạnh liền cười cầu tài nói:
– Chúng tôi đương nhiên không có tiền, bất quá nếu đại sĩ có tiền thì không phải cũng vậy sao?
Bạch y nữ cười lạnh nói:
– Ta có tiền thì cũng như ngươi có tiền à? Thật không biết xấu hổ. Hơn nữa tiền của ta sớm đã bị hai tên tiểu tử các ngươi cúng hết cho hà bá lúc lật thuyền rồi. Ngày hôm qua các ngươi còn được người ta cung phụng ăn uống, cơm no áo ấm, còn ta đây đến nửa cái bánh bao cũng không có mà ăn, bây giờ lại còn đòi ta dẫn đi ăn đi uống nữa hả?
Khấu Trọng phẫn nộ nói:
– Đại sĩ chỉ biết mắng người hay sao? Nếu không phải chúng ta chìm thuyền thì sớm đã bị Vũ Văn Hóa Cốt đuổi kịp rồi, chúng tôi thì bị hắn hóa cốt, còn đại sĩ hoa nhường nguỵêt thẹn thế kia, ắt hẳn sẽ bị hắn lấy làm tiểu thiếp đấy.
Bạch y nữ đột nhiên sững người lại.
Hai gã ngỡ rằng nàng sắp phát tác, lập tức phân làm hai hướng bỏ chạy. Bạch y nữ thoáng cảm thấy ngạc nhiên, thấy biểu tình lo lắng của hai gã, nhịn không nổi hé nở một nụ cười, khiến hai gã nhìn đến ngẩn ngơ.
– Hai tên tiểu quỷ các ngươi ở đây đợi ta đi kiếm một ít ngân lượng về, mời các ngươi ăn uống một bữa rồi từ nay ân đoạn nghĩa tuyệt, không liên can gì đến nhau nữa.
Nói đến đây nàng lại tủm tỉm cười rồi chuyển hướng bước vào một căn tiệm ở phía bên trái.
Khấu Trọng thấy đó là một tiệm cầm đồ, liền bước lên chặn nàng lại, nghiêm mặt nói:
– Cầm đồ hả? Chuyện này tôi là rành nhất đấy!
Bạch y nữ lạnh lùng nói:
– Ta làm sao biết ngươi không tư lợi chứ?
Khấu Trọng bị nàng nói trúng tim đen, thở dài một tiếng, lủi thủi lùi lại đứng bên cạnh Từ Tử Lăng.
Hai gã dùng ánh mắt tiễn nàng vào tiệm cầm đồ, Từ Tử Lăng thở dài than:
– Giấc mộng làm thiên hạ đệ nhất cao thủ của chúng ta đã vỡ rồi, xem ra đành phải chuyên tâm đọc sách thôi, ta làm tả thừa tướng, ngươi làm hữu thừa tướng vậy.
Khấu Trọng cười khẩy nói:
– Trong thời loạn thế này thì thư sinh là đồ vô tích sự nhất, bất quá ta vẫn không tin là Trường Sinh Quyết khỉ gió này hoàn toàn không liên quan gì đến võ công, tuy không có đạo sĩ nào trường sinh bất tử, nhưng đạo sĩ võ công cao thì nhiều không kể xiết, từ đây có thể suy ra luyện không thành trường sinh bất tử cũng có thể luyện thành võ công tuyệt thế.
Từ Tử Lăng thoáng hưng phấn, nhưng sau lại lập tức thở dài nói:
– Thế nhưng bà nương đó không phải đã nói chúng ta đã mất đi thời gian luyện công quý giá nhất rồi hay sao?
Khấu Trọng nói:
– Có thể bà nương đó thấy căn cốt của chúng ta tốt hơn mình, sợ chúng ta sau này sẽ vượt qua cô ta, nên mới cố ý nói những lời đó khiến chúng ta nản lòng, lãnh ý ... ôi ...
Hiển nhiên gã cũng cảm thấy cách nghĩ này chỉ là tự mình an ủi mình, nên không nói tiếp nữa.
Bạch y nữ thần sắc phấn khởi bước ra khỏi tiệm cầm đồ, hai gã vội vàng chạy đến cạnh nàng.
Bạch y nữ thấp giọng nói:
– Hai tên tiểu quỷ ngươi nghe đây, nếu để ta nghe các ngươi ở sau lưng ta nói bà nương này, bà nương nọ lần nữa thì đừng trách ta thủ đoạn độc ác đấy!
Hai gã cảm thấy ngượng ngùng vô kể, vội vã vâng vâng dạ dạ rối rít.
Ba người lên lầu hai của một gian tửu lầu lớn, ngồi xuống một chiếc bàn cạnh cửa sổ, gọi thức ăn lên.
Mười chiếc bàn đã kín khách quá nửa, trong đó một bàn có một vị y phục hoa lệ, xem ra có vẻ là một công tử thế gia có thân phận địa vị, cứ không ngừng nhìn về phía bạch y nữ, dường như đã bị nhan sắc của nàng nhiếp hồn đoạt phách.
Từ Tử Lăng đằng hắng một tiếng nói:
– Dám hỏi đại sĩ cao danh quý tánh, để sau này chúng tôi tiện bề xưng hô.
Bạch y nữ tay nâng chiếc cằm nhỏ nhắn, làm vẻ ngạc nhiên nói:
– Hai tên tiểu quỷ các ngươi bất quá chỉ là hai tên lưu manh ở Dương Châu mà thôi, cớ gì phải cố làm ra vẻ văn nhã như mấy tên hủ nho, thật chẳng hợp chút nào.
Khấu Trọng ngạo mạn nói:
– Đây gọi là người nghèo nhưng chí không đoản, sau này nhất định chúng tôi sẽ có ngày danh lừng thiên hạ, xem lúc đó đại sĩ có còn dám coi chúng tôi là hai tên tiểu lưu manh nữa không?
Bạch y nữ bất thần lộ vẻ quan tâm, nghĩ ngợi giây lát rồi hỏi:
– Sau khi ta đi rồi, các ngươi định làm gì? Lừa ăn lừa uống cũng không phải là một biện pháp ...
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng lần đầu tiên cảm nhận được sự quan hoài của bạch y nữ, bất quá lúc này đồ ăn đã được mang lên, hai gã chẳng nghĩ ngợi nhiều nữa, phục người xuống bàn mà ăn lấy ăn để, dáng vẻ khó coi vô cùng.
Bạch y nữ ăn hai chiếc bánh bao rồi quay mặt ra ngoài cửa sổ trầm ngâm không nói tiếng nào.
Đến lúc hai gã ăn không nổi nữa thì cả bàn thức ăn đã sạch bách, cả hai xoa xoa bụng, ngẩng đầu lên nhìn về phía bạch y nữ.
Bạch y nữ thở dài một tiếng, lấy ra hơn mười đĩnh bạc, đặt lên trước mặt hai gã, nhẹ giọng nói:
– Niệm tình đã cùng chung hoạn nạn, số tiền này ta tặng cho hai ngươi. Lúc này thiên hạ bốn bề loạn lạc, chiến hỏa liên miên, nhưng phương nam vẫn thái bình hơn một chút, nơi này vẫn là hiểm địa, không thể ở lâu, các ngươi tự lo lấy thân đi!
Nói đoạn không để ý đến ánh mắt của hai gã đang chằm chằm nhìn vào đống bạc trên bà, vẫy tay gọi tiểu nhị đến thanh toán. Tên tiểu nhị liền cung kính nói:
– Tiền bàn ăn của cô nương đã được vị công tử ngồi ở bàn kia trả rồi, bọn họ vừa mới đi xong.
– Cạch!
Bạch y nữ ném năm thù(1) tiền lên bàn, lạnh lùng nói:
– Ta không cần kẻ khác trả tiền hộ, mau cầm lấy!
Nói đoạn dài người phóng qua lan can xuống lầu.
Hai gã thấy nàng bỏ đi đầu không ngoái lại, liền đưa mắt nhìn nhau một cái như hội ý. Khấu Trọng vơ đống bạc trên bàn vào túi, chán nản nói:
– Chúng ta cũng đi thôi!
Từ Tử Lăng cũng muốn sớm rời khỏi nơi thương tâm này, liền bước theo Khấu Trọng xuống dưới lầu. Bước ra ngoài phố, chỉ thấy mặt trời rực rỡ, ngoài đường kẻ đi người lại náo nhiệât vô cùng, nhưng lòng hai gã lại chẳng cảm thấy một chút ấm áp.
Trước đây ở Dương Châu, cuộc sống tuy có khó khăn, lại thường xuyên bị người ta đánh chửi, nhưng tương lai đối với hai gã vẫn tràn đầy hy vọng.
Còn bây giờ tuy tự do tự tại, trong túi lại có một món tiền, nhưng lại hư hư đãng đãng, trời đất rộng lớn, nhưng không chỗ nào có thể đi.
Hai gã định tìm bóng hình của bạch y nữ, nhìn thêm một chút cũng tốt, nhưng người đã đi khuất, chỉ làm tăng thêm nỗi thương cảm bồi hồi.
Đầu vai hai gã khẽ chạm vào nhau, tiu nghỉu cất bước đi về phía cổng thành.
Đột nhiên cảm thấy sự lạ, một làn gió thơm ngát thổi tới, bạch y nữ từ phía sau chen lên, đi song song với hai gã.
Cả hai mừng thầm, nhưng lại không dám biểu lộ ra ngoài, càng không dám lên tiếng hỏi han.
Khi nhìn thấy cổng thành, bạch y nữ mới lạnh lùng nói:
– Hai ngươi đừng có nghĩ ngợi lung tung, ta chỉ là sợ Vũ Văn Hóa Cập đuổi đến, cướp lấy Trường Sinh Quyết của các ngươi hiến cho bạo quân để tâng công, nên mới quay lại đưa các ngươi một đoạn đường mà thôi. Đây là để đối phó Vũ Văn Hóa Cập chứ không phải là ta có hảo cảm gì với hai tên tiểu quỷ các ngươi cả.
Từ Tử Lăng dường như rất khó chịu với kiểu nói này của bạch y nữ, lập tức dừng bước, phẫn nộ nói:
– Nếu đã như vậy, chúng tôi cũng không cần đại sĩ nhọc công nữa. Chúng tôi có chân có tay, cũng tự biết đi biết đứng. Tiền của đại sĩ chúng tôi cũng không cần đâu!
Khấu Trọng, trả lại tiền cho người ta!
Khấu Trọng định nói gì xong lại thôi, thở dài một tiếng, cho tay vào trong bọc.
Bạch y nữ cười khúc khích, đưa tay thộp cổ hai gã, kéo chạy thẳng một mạch ra khỏi thành môn, đến tận bờ sông mới bỏ ra.
– Tại sao phải tức giận như vậy, ta trước giờ không biết làm người khác vui vẻ, tính tình cô độc, lần này coi như là đã đắc tội với hai ngươi vậy.
Từ Tử Lăng lần đầu tiên thấy nàng hạ giọng như vậy, gã thiên tính vốn độ lượng nên trong lòng ngược lại cảm thấy ngại ngùng, thoáng đỏ mặt nói:
– Tôi cũng không phải chưa từng bị người khác coi thường, chỉ là khi bị đại sĩ coi thường không hiểu vì sao lại cảm thấy rất bất bình và phẫn nộ mà thôi.
Khấu Trọng ghé sát miệng vào tai bạch y nữ thấp giọng nói:
– Đại sĩ của tôi à! Tên tiểu tử này đã yêu người mất rồi!
Bạch y nữ thúc mạch cùi trỏ vào be sườn Khấu Trọng khiến gã ngã lăn ra đất, đau đớn rên rỉ một hồi.
– Nếu ngươi còn dám nói với bản cô nương những lời như vậy nữa, ta sẽ ... ta sẽ vả miệng ngươi ...
Nàng vốn định nói sẽ giết Khấu Trọng, nhưng tự biết mình không nỡ làm vậy, nên đành đổi thành một thứ hình phạt nhẹ hơn rất nhiều là vả miệng.
Từ Tử Lăng mơ mơ hồ hồ hỏi:
– Hắn nói cái gì vậy?
Bạch y nữ trừng mắt nhìn gã, không nói tiếng nào.
Nhất thời cả ba đều không biết nói gì mới phải, không khí im lặng bao trùm.
Mục quang của bạch y nữ hướng về phía những chiếc thuyền đậu ở bến tàu ngoài thành, lẩm bẩm nói một mình:
– Tại sao có nhiều thuyền từ phía tây về đây mà không thấy chiếc nào đi về phía tây nhỉ?
Hai gã Khấu, Từ cũng định thần quan sát, cảm thấy có chút kỳ lạ.
Những người đợi thuyền đứng trên bến tàu cũng đang bàn luận rôm rả.
Chợt một thanh âm ôn hòa nhã nhặn vang lên bên cạnh ba người:
– Dám hỏi cô nương và hai vị tiểu huynh đệ đây có phải đang đợi thuyền hay không?
Khấu Trọng lúc này đã bò dậy, cùng Tử Tử Lăng quay sang nhìn về phía người vừa lên tiếng, thì ra chính là vị công tử lúc nãy ở trên lầu đã nhìn chăm chăm vào bạch y nữ, lại còn thanh toán tiền bữa ăn cho họ nữa.
Người này dáng vẻ thập phần anh tuấn tiêu sái, phong độ phi phàm, so với Từ Tử Lăng còn cao hơn nửa cái đầu, nhưng không hề có vẻ văn nhược yếu đuối, lưng thẳng vai rộng, tuy rằng y ăn mặc như một văn sĩ, nhưng lại gây cho người ta ấn tượng là một người thông hiểu võ công.
Bạch y nữ không quay đầu lại, lạnh lùng nói:
– Chuyện của chúng ta không cần ngươi quan tâm!
Vị công tử kia không hề lấy đó làm giận, cúi người vái dài nói:
– Đường đột giai nhân, Tống Sư Đạo xin được tạ tội ở đây! Tại hạ vốn cũng không dám mạo muội làm phiền, chỉ là thấy cô nương dường như có vẻ không hiểu vì sao các thuyền lớn thuyền nhỏ đều lần lượt quay lại, nên mới lấy hết dũng khí mà qua đây xin được giải thích, tuyệt không có ý gì khác.
Bạch y nữ quay người lại như một cơn gió, quan sát đánh giá ý một hồi, rồi cất giọng lạnh lùng:
– Nói đi!
Tống Sư Đạo thấy mỹ nhân chịu khai khẩu, cả mừng nói:
– Đó là bởi vì nghĩa quân của Lý Tử Thông ở Đông Hải vừa vượt qua sông Hoài, kết minh với Đỗ Phục Uy, đại phá quân Tùy, đồng thời phái quân đến tấn công Lịch Dương.
Nếu Lịch Dương bị phá, thủy lộ Trường Giang sẽ bị cắt đứt, vì vậy bây giờ mọi người đều giữ thái độ chờ đợi, xem xem tình hình thế nào rồi mới dám đi về phía Tây.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng thấy bạch y nữ lưu tâm lắng nghe, còn Tống Sư Đạo thì bất cứ mặt nào cũng hơn hai gã, trong lòng đều cảm thấy khó chịu vô cùng, nhưng cũng chẳng có cách gì.
Bạch y nữ trầm ngâm không nói gì, Tống Sư Đạo lại nói:
– Nếu cô nương không ngại, có thể ngồi thuyền của tại hạ, bảo đảm dù có gặp phải tặc binh, cũng sẽ không xảy ra chuyện gì.
Bạch y nữ lạnh lùng nhìn Tống Sư Đạo, hờ hững nói:
– Khẩu khí lớn thật, xem ra cũng có chút bản lãnh!
Tống Sư Đạo ung dung nói:
– Tại hạ đâu dám múa búa qua cửa Lỗ Ban, chỉ là hàn gia đích thực có chút thanh danh, chỉ cần treo gia kỳ lên thì bằng hữu trên đường đều nể mặt mà cho đi qua.
Nghe đến đây, cả hai gã Khấu, Từ cũng không thể không thầm tán thưởng tên tiểu tử này nói năng đúng mực, không kiêu ngạo cũng không tự ti, toàn phô ra chỗ tốt.
Bạch y nữ quét mắt nhìn hai người, trầm ngâm không nói, hiển nhiên là đã có chút động tâm.
Nếu như dẫn theo hai tên tiểu tử này đi đường bộ, tất sẽ tốn rất nhiều thời gian, nhưng nếu đi đường thủy, chỉ cần qua khỏi Lịch Dương thì sẽ không sợ Vũ Văn Hóa Cập đuổi kịp nữa.
Khấu Trọng không nhịn đựơc nói:
– Tôi tình nguyện đi đường bộ.
Bạch y nữ còn chưa trả lời thì Tống Sư Đạo đã lên tiếng trước:
– Xin hỏi cô nương, hai vị tiểu huynh đệ này là ...
Bạch y nữ bực mình ngắt lời:
– Chẳng là gì cả, không cần hỏi nữa. Thuyền của các người ở đâu?
Lúc Tống Sư Đạo cả mừng chỉ tay thì Từ Tử Lăng giật giật áo Khấu Trọng nói:
– Đã đến lúc ai đi đường nấy rồi, đại sĩ ngồi thuyền của cô ta, chúng ta đi đường bộ của chúng ta!
Khấu Trọng cũng hiển lộ khí khái, cười ha hả, vỗ vai Từ Tử Lăng tán thưởng:
– Được lắm!
Đoạn dắt tay gã cùng đi về hướng Tây.
Bạch y nữ tức giận quát vang:
– Hai ngươi đứng lại cho ta!
Khấu trọng quay đầu lại vẫy tay nói:
– Tạm biệt!
Bạch y nữ dẫm mạnh chân xuống đất, quay đầu lại nói với Tống Sư Đạo:
– Mời Tống huynh về thuyền trước, ta lập tức sẽ đến ngay!
Đoạn tung người lên phía trước, nháy mắt đã đến sau lưng hai gã Khấu, Từ, nhấc bổng lên như nhấc hai con gà con.
Tống Sư Đạo cảm thấy hết sức mơ hồ, có điều nghĩ đến chuyện giai nhân chịu lên thuyền của mình tự nhiên sẽ không thiếu cơ hội để niềm nở, nên không hề để ý đến chuyện khác, hớn hở quay trở về thuyền.




[/align] 




[/align]---------------------------------------




[/align](1)Thù: đơn vị đo lường thời cổ đại, một thù bằng 1/24 lạng.





[/align]
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-22 15:34:36only_want_love>
link: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n1n1ntn31n343tq83a3q3m3237nqn
Hồi 7
Hòa Thị Chi Bích

Tống Sư Đạo thiết yến trong phòng lớn của chiếc chiến thuyền, giản đơn mà long trọng, chủ tọa là một đôi nam nữ.
Nam tuổi ước chừng bốn mươi, nhưng đầu tóc bạc trắng, trên mặt để một bộ râu dài màu ngân bạch, nhưng không hề có vẻ già cỗi, mà thập phần anh tuấn, có hào khí của nhất phái đại gia, hơn nữa thần thái cũng khiêm cung khách khí phi thường.
Nữ nhân tuổi chừng hai lăm hai sáu, dáng vẻ yêu mị phi thường, thái độ với nam nhân thập phần thân thiết, hơn nữa thần tình dáng điệu vô cùng khiêu khích, gây cho người ta một cảm giác không chính phái. Còn Khấu Trọng và Từ Tử Lăng thì lại liên tưởng đến các cô nương trong Xuân Phong lầu, bất quá nhan sắc của nữ nhân này vượt xa bất kỳ hồng cô nào trong kỹ viện đó mà thôi.
Sau khi Tống Sư Đạo giới thiệu, mới biết nam nhân chính là cao thủ trứ danh của Tống phiệt, Ngân Tu Tống Lỗ, nổi tiếng khắp vùng Giang Nam với một bộ Ngân Long quải pháp tự sáng tạo. Tống Lỗ là tộc thúc của Tống Sư Đạo, cũng là một trong các nhân vật chủ chốt của Tống phiệt.
Nữ nhân tên gọi Liễu Thanh, là tiểu thiếp Tỗng Lỗ mới thu nạp, còn về lai lịch thế nào thì cũng không nói kỹ càng.
Lúc Tống Sư Đạo định giới thiệu ba người mới chợt nhớ ra là y không biết danh tính, đang ngần ngừ không biết phải làm sao thì Phó Quân Sước đã lên tiếng nói tên ba người ra, không hề giấu diếm.
Tống Lỗ mỉm cười nói :
- Cô nương tinh hoa nội liễm, hẳn là người có võ công thượng thừa, bội kiếm cũng khắc biểu tượng của dị quốc, không biết lệnh sư là cao nhân phương nào mà có thể đào tạo ra được một nhân vật cao minh như cô nương đây?
Hai gã Khấu, Từ nhìn nhau le lưỡi, đúng là thành danh không phải may mắn, hai gã tuy chưa từng nghe qua danh tiếng của của Tống Lỗ, nhưng cũng biết y là nhân vật nổi danh, bởi vậy nên nhãn lực mới cao minh như vậy, nói chuyện mới đắc thể như vậy, từ đó không khỏi sinh lòng ngưỡng mộ.
Ánh mắt của hai gã còn có hiệu lực hơn tất cả mọi lời nịnh hót, Tống Lỗ cũng vì vậy mà nảy sinh hảo cảm với hai gã.
Phó Quân Sước chậm rãi đáp lời :
- Xin Tống tiên sinh thứ lỗi, Quân Sước có nghiêm lệnh của gia sư, không thể tiết lộ thân phận lai lịch.
Liễu Thanh lúng liếng liếc mắt nhìn hai gã tiểu tử một cái, mỉm cười nói :
- Hai vị tiểu huynh đệ này thật anh tuấn hiên ngang, tại sao lại không cùng Phó cô nương tham luyện võ công, không biết là người thế nào với Phó cô nương?
Khấu Trọng ưỡn ngực đằng hằng nói :
- Hai huynh đệ chúng tôi đang chuẩn bị theo mẹ của chúng tôi học võ công thượng thừa, đa tạ Tống phu nhân đã tán thưởng!
Tống Sư Đạo nghe thấy gã nói “mẹ của chúng tôi” thì giật thót mình, liếc mắt nhìn thân hình diễm lệ vô song của Phó Quân Sước, biến sắc nói :
- Mẹ của hai người?
Phó Quân Sước thoáng đỏ mặt, nghiêm khắc trừng mắt nhìn Khấu Trọng một cái rồi lên tiếng chữa lời :
- Đừng nghe hai tên tiểu quỷ này hồ ngôn loạn ngữ, tại chúng cứ đòi nhận ta làm mẹ...
Từ Tử Lăng cố ý xoa bụng rầy rà nói :
- Mẹ! Con đói rồi!
Liễu Thanh không nén nổi, khúc khích che miệng cười.
Hai chú cháu Tống Sư Đạo và Tống Lỗ cảm thấy đầu óc mơ hồ, không thể nào hiểu nổi quan hệ giữa mỹ nữ tuyệt sắc với hai tên tiểu quỷ này.
Phó Quân Sước thấy hai tên tiểu quỷ nhìn Liễu Thanh si si dại dại, bất giác sinh ra một cảm giác đố kỵ quái lạ, hừ lạnh một tiếng nói :
- Còn dám hồ ngôn loạn ngữ, ta sẽ... ta sẽ...
Tống Sư Đạo vui vẻ nói :
- Xin mời Phó cô nương và hai vị tiểu huynh đệ nhập tiệc, chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng tâm tính thiếu niên, thấy Tống Sư Đạo tôn trọng mình, bao nhiêu ghen tuông lúc nãy đã giảm đi quá nửa, lại thấy trên bàn toàn là sơn trân hải vị, nên lập tức ngồi xuống, chẳng hề để ý đến lễ giáo giang hồ.
Bọn Tống Sư Đạo cũng đã phần nào đoán được gốc gác của hai gã nên cũng chẳng để vào lòng, chỉ khẩn khoản mời Phó Quân Sước ngồi xuống, Tống Sư Đạo và Tống Lỗ ngồi hai bên tả hữu, Liễu Thanh thì ngồi xuống bên cạnh Tống Lỗ, bồi tiếp Khấu Trọng và Từ Tử Lăng ăn uống.
Hai đại hán đứng hầu lập tức bước lên rót rượu cho mọi người.
Phó Quân Sước nói :
- Trước giờ tôi không uống rượu, hai tên tiểu tử này cũng không tiện uống, ba vị xin cứ tự tiện.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đang muốn thử mùi vị của mỹ tửu xem thế nào, nghe thấy nàng nói vậy lập tức lộ vẻ thất vọng ra mặt.
Phó Quân Sước thầm cảm thấy vui vẻ, cuối cùng thì nàng đã trị được hai tên tiểu quỷ này một mẻ.
Tống Lỗ mỉm cười nói :
- Vậy mọi người không ai uống rượu nữa? Tiểu Thanh có vấn đề gì không?
Liễu Thanh nhoẻn cười nói :
- Thiếp thân làm sao có vấn đề chứ? Chỉ sợ là hai vị tiểu huynh đệ đây có vấn đề thôi!
Khấu Trọng ưỡn ngực nói :
- Đại trượng phu có thể co có thể duỗi, có thể uống cũng có thể không uống, làm sao có vấn đề được chứ?
Ba người Tống gia đều đã lăn lộn giang hồ không ít, biết đủ mọi hạng người, hiểu rõ gã đang nói cứng, nhưng cũng không lên tiếng chọc phá mà chuyển sang nói chủ đề khác.
Tống Lỗ hiển nhiên là người rất sành sỏi ẩm thực, thuận miệng giới thiệu các mỹ thực trên bàn, lại nói cả cách nấu nướng, chọn nguyên liệu, khiến hai gã Khấu Trọng và Từ Tử Lăng đã đói đến mềm người nghe mà tròn mắt há miệng, hai tay liên tục càn quét thức ăn trên bàn.
Phó Quân Sước lại không hề hứng thú với thức ăn trên bàn, chỉ ăn hai ba miếng rau xanh rồi dừng đũa, ngọc dung tịnh như nước hồ thu, đẹp tựa Quan Âm Đại Sĩ giáng thế vậy.
Tống Sư Đạo càng nhìn nàng càng ái mộ, nhưng bởi Tống Lỗ vừa rồi đã chỉ ra là nàng đến từ dị quốc, thật chẳng khác gì một tảng đá đè lên tim y, bởi vì họ Tống nhà y nghiêm cấm việc thông hôn với dị tộc, nếu chẳng may mỹ nữ tuyệt sắc này là người dị tộc, thì trừ phi y ra khỏi gia môn, bằng không chỉ có thể hữu duyên vô phận mà thôi.
Liễu Thanh lại rất có hứng thú với hai tên tiểu tử không biết trời đất là gì này, mỉm cười nhìn hai gã ăn uống như phong quyển tàn vân, thỉnh thoảng còn giúp đỡ hai gã gắp thức ăn, tiếp đãi rất chu đáo.
Đợi cho hạ nhân dọn dẹp hết bát đĩa, Tống Lỗ liền tự tay đun trà đãi khách.
Y thấy Phó Quân Sước không có hứng thú với chuyện ăn uống liền chuyển chủ đề :
- Phó cô nương đến Trung thổ của chúng tôi không biết có quen thuộc hay không?
Tống Sư Đạo lập tức để lộ thần sắc khẩn trương, biết rõ Tống Lỗ đã nhìn ra tấm lòng ái mộ của y với Phó Quân Sước, cố ý dò hỏi để chứng minh thân phận dị tộc của nàng, dập tắt hy vọng của y.
Phó Quân Sước nhạt giọng hỏi lại :
- Tống tiên sinh làm sao chỉ dựa vào bội kiếm của tiểu nữ mà đã đoán định Quân Sước là người đến từ ngoại vực?
Hai mắt Tống Sư Đạo lập tức sáng rực lên.
Tống Lỗ ra vẻ áy náy nói :
- Xin thứ cho Tống mỗ mạo muội, không biết cô nương đã nghe qua câu chuyện về Hòa Thị Bích hay chưa?
Khấu Trọng giơ tay lên như học sinh trả lời thầy giáo :
- Ta đã nghe qua rồi. Tần Chiêu Tương Vương lấy mười lăm tòa thành trì để đổi lấy trấn quốc chi bảo của Thang Huệ Văn Vương là Hòa Thị Bích. Triệu Vương phái Lạn Tương Như hộ tống Hòa Thị Bích đến bái kiến Tần Vương, Lão Lạn này ngu đần mang ngọc bỏ trốn, cũng may là Tần Vương càng ngu hơn, để cho lão và Hòa Thị Bích trở về nước, câu chuyện này gọi là “hoàn bích quy Triệu” hay cái con khỉ mốc gì đó.
Chúng nhân đều bật cười phát lên, Liễu Thanh cười dữ dội nhất, chỉ tay hỏi Khấu Trọng :
- Vậy Hòa Thị Bích đó sau này thế nào?
Phó Quân Sước cũng thầm cảm kích, biết Khấu Trọng sợ nàng không trả lời nổi câu hỏi của Tống Lỗ mà tiết lộ thân phận nên mới tranh trả lời trước, đồng thời nàng cũng thầm kinh ngạc trước sự cơ trí của “đứa con” này.
Khấu Trọng chỉ vì đã nghe qua Bạch lão phu tử kể chuyện hoàn bích quy Triệu nên mới có lời mà nói, còn về chuyện sau khi “quy Triệu” thì làm sao mà gã biết được, đành phải gượng cười nói :
- Chuyện này e chỉ có trời mới biết.
Liễu Thanh cười tươi như hoa nở, dựa cả người vào Tống Lỗ, dáng vẻ yêu kiều khôn tả.
Tống Lỗ thấy tên tiểu tử này làm ái thiếp vui vẻ như vậy, trong lòng cũng rất vui thích, nhất thời quên cả chuyện thăm dò Phó Quân Sước, chậm rãi giải thích :
- Hòa Thị Bích về sau rơi vào tay Tần Thủy Hoàng, Tần Thủy Hoàng đã lệnh cho Lý Tư khắc lên trên ngọc tám chữ triện: “thọ mệnh ư thiên, ký thọ vĩnh xương”, từ đó Hòa Thị Bích liền trở thành ngọc tỷ của Hoàng đế.
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng liền gật gù, biểu tình như kiểu “thì ra là thế”.
Tống Sư Đạo sợ rằng Tống Lỗ sẽ tiếp trục truy vấn Phó Quân Sước liền tiếp lời :
- Sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang lật đổ đại Tần, Tần Vương Tử Anh liền đem Hòa Thị Bích hiến cho Lưu Bang, Lưu Bang liền gọi là “truyền quốc tỷ”, kể từ đó Hòa Thị Bích trở thành tượng trưng cho chuyện được mất thiên hạ. Về sau Vương Mãng có ý đồ soán vị nên đã sai đệ đệ là Vương Vũ vào Trường Lạc cung đánh cắp Hòa Thị Bích trong tay Lý Nguyên thái hậu, không ngờ bị Lý Nguyên thái hậu ném xuống đất làm vỡ mất một mảnh. Vương Mãng liền sai người dùng hoàng kim vá vào, khiến Hòa Thị Bích lại có thêm nhã danh Ngọc Thể Kim Giác.
Khấu Trọng cười hì hì nói :
- Câu chuyện này nhất định là giả rồi, ném mạnh như vậy Hòa Thị Bích chẳng lẽ không vỡ vụn thành bao nhiêu mảnh rồi.
Tống Lỗ động dung nói :
- Khấu tiểu huynh đệ quả là cơ trí tinh minh, nhưng chuyện này đích thực là chính xác vô cùng, bởi vì ngọc này chẳng phải ngọc thường. Năm xưa người Sở là Biện Hòa đi chặt củi trong rừng, thấy một con phượng hoàng vô cùng xinh đẹp đậu trên một tảng đá xanh, nghĩ đến câu nói: “Phượng Hoàng bất lạc vô bảo địa” [1], đoán định bên trong tảng đá nhất định có bảo vật, liền đem về hiến tặng cho Sở Lịch Vương, chẳng ngờ bọn thợ ngọc trong cung đều bảo tảng đá Biện Hòa hiến tặng chỉ là một tảng đá thường, Sở Vương tức giận liền chặt đi chân trái của y rồi đuổi đi. Biện Hòa không hề ôm hận, đợi cho Vũ Vương đoạn vị, lại đem hiến bảo lần nữa, kết quả là bị chặt nốt chân phải. Đến khi con trai của Vũ Vương là Văn Vương lên ngôi, biết được chuyện này mới cho người mang tảng đá đó vào cung, ra lệnh cho công tượng cẩn thận mài dũa, cuối cùng từ bên trong tảng đá lấy ra được một viên kỳ thế bảo ngọc long lanh tinh khiết, để tưởng niệm Biện Hòa nên đã đặt tên là Hòa Thị Bích.
Tống Sư Đạo tiếp lời :
- Nếu là bảo thạch bình thường, bọn công tượng trong cung của Sở Vương không thể không hiểu được, đâu đến nỗi hiểu lầm là một tảng đá bình thường. Nội một việc phải mài vỡ lớp vỏ đá mới lộ ra bảo thạch cũng biết Hòa Thị Bích không giống với những bảo thạch bình thường khác rồi, đập mạnh xuống đất như vậy mà chỉ sứt một góc nhỏ, đủ thấy chỗ không tầm thường của Hòa Thị Bích rồi.
Lần này thì đến Phó Quân Sước cũng cảm thấy hứng thú :
- Vậy rốt cuộc Hòa Thị Bích là thứ đồ gì vậy?
Tống Sư Đạo lần đầu tiên được giai nhân hỏi đến, trong lòng thầm vui sướng, hưng phấn nói tiếp :
- Theo cổ thư của Tống gia thì ngọc này là kỳ thạch của tiên giới, bên trong ẩn tàng một bí mật kinh thiên động địa, còn chuyện đó là bí mật gì thì không ai biết được.
Từ Tử Lăng hiếu kỳ hỏi :
- Sau khi Vương Mãng chết, Hòa Thị Bích lại rơi vào tay ai nữa?
Liễu Thanh cười cười nói :
- Truyền đến đời Hán Thiếu Đế, Hòa Thị Bích lại thất tung lần nữa. Đến thời Tam Quốc, Trường Hà thái thú Tôn Kiên khi tấn công vào Lạc Dương chợt thấy một miệng giếng hào quang tứ phía liền sai người xuống xem. Kết quả tìm được một thi thể cung tần, tay ôm chặt một cái hộp đỏ. Tôn Kiên liền thử mở ra xem, thì ra bên trong chính là Hòa Thị Bích. Về sau Tôn Kiên chết trận, Hòa Thị Bích lại rơi vào tay Tào Tháo, truyền đến đời sau. Đến khi nhà Tùy diệt Nam Trần, Dương Kiên cho người tìm khắp hoàng cung nhà Trần nhưng cũng không tìm được nơi Trần chủ giấu Hòa Thị Bích, đây chính là chuyện mà bình sinh Dương Kiên cảm thấy đáng tiếc nhất.
Phó Quân Sước không cầm được liền hỏi :
- Tại sao đột nhiên chư vị lại nhắc đến chuyện Hòa Thị Bích này?
Tống Sư Đạo biến sắc :
- Xem ra cô nương thân tại giang hồ mà không biết giang hồ đang phát sinh chuyện lớn.
Tống Lỗ vuốt râu cười nói :
- Hòa Thị Ngọc Bích, Dương Công Bảo Khố, chỉ cần có một có thể an định thiên hạ. Giờ đây chiến hỏa liên miên, thiên hạ đại loạn, những ai có khả năng đều muốn làm Hoàng đế. Vì vậy hai thứ này trở thành thứ mà cả thiên hạ đều muốn tranh giành. Gần đây nghe giang hồ truyền ngôn, Hòa Thị Bích đã xuất hiện ở Lạc Dương, những kẻ tự cho mình có chút bản lĩnh đều đến Lạc Dương để tìm chút vận khí, chuyến này chúng ta đưa hàng đến Tứ Xuyên xong cũng đến Lạc Dương một chuyến, xem xem khí số Tống gia thế nào?
Tống Lỗ quả thực phong độ bất phàm, không hổ là xuất thân sĩ tộc, bất luận là khẩu khí lớn thế nào nhưng cũng làm người nghe cảm thấy thoải mái.
Khấu Trọng hai mắt sáng lên nói :
- Nếu có được Hòa Thị Bích thì có thể đoạt được thiên hạ, hà, tôi và Tiểu Lăng nhất định phải đi thử một phen mới được.
Phó Quân Sước lạnh lùng nhìn gã nói :
- Dựa vào bản lĩnh của tên tiểu quỷ ngươi liệu có xứng không? Ta tuyệt không để cho các ngươi đi Lạc Dương, nếu còn nghĩ lung tung nữa, sau này ta quyết không... không để ý đến ngươi nữa.
Nàng vốn định nói không truyền pháp quyết, song lời ra đến miệng lại chữa lại, uy lực tự nhiên giảm đi rất nhiều.
Bọn Tống Lỗ ba người tuy vẫn không rõ ràng quan hệ của ba người thế nào, nhưng cũng có thể cảm nhận được Phó Quân Sước bề ngoài lạnh lùng, lời nói khắc bạc nhưng kỳ thực lại vô cùng quan tâm đến hai tên tiểu tử đáng yêu này.
Tống Sư đạo ôn hòa nói :
- Phó cô nương nói rất đúng, loại nhiệt náo này tốt nhất không nên tham gia thì hơn, đặc biệt là Hòa Thị Bích lại liên can đến một môn phái thần bí nhất trong võ lâm. Môn phái này cứ cách một thời gian lại phái người nhập thế tu hành, võ công cao thâm khó dò.
Phó Quân Sước tò mò hỏi :
- Đó là môn phái gì vậy?
Tống Lỗ nói :
- Phó cô nương hỏi đúng người rồi, nếu như là người khác, có thể ngay cả tên môn phái ấy cũng chưa từng nghe qua nữa.
Hai gã Khấu, Từ cũng vô cùng hiếu kỳ, lưu tâm lắng nghe.
Tống Sư Đạo nói :
- Môn phái này tên là Từ Hàng tĩnh trai, hơn trăm năm nay đã chiếm vị trí tối cao vô thượng ở trong huyền môn, nhưng những người biết về Tĩnh trai đều không chịu tiết lộ bất cứ chuyện gì liên quan đến môn phái này. Vì vậy chúng tôi đã phái đi rất nhiều người để điều tra về Hòa Thị Bích và Từ Hàng tĩnh trai nhưng cũng hiểu biết không nhiều, chỉ biết là trong trai toàn những nữ tử tu luyện thiên đạo. Nghe đồn đạo gia đệ nhất cao thủ Tán chân nhân Ninh Đạo Kỳ đã từng đến Tĩnh trai, tìm trụ trì luận võ, chẳng ngờ Trai chủ lại cho ông ta xem trấn trai chi bảo là Từ Hàng Kiếm Điển, Ninh Đạo Kỳ còn chưa xem hết đã hộc máu thọ thương, biết khó mà lui, những người biết chuyện này cũng không nhiều, vì vậy mà không hề lưu truyền trên giang hồ.
Khấu Trọng vỗ vai Từ Tử Lăng, thở dài nói :
- Đây mới đúng là bí kíp chân chính.
Trong chúng nhân, đương nhiên chỉ có hai người mới hiểu được ý tứ của gã.
Tống Lỗ thở dài than :
- Nhân ngoại hữu nhân, thiên ngoại hữu thiên, càng hiểu biết nhiều càng thấy mình nhỏ bé, không dám tự kiêu nữa.
Từ Tử Lăng khâm phục nói :
- Tống đại gia mới là nhân vật chân chính.
Gã ở Dương Châu quen gọi người khác là đại gia, nên tự nhiên cũng gọi Tống Lỗ như vậy.
Tống Lỗ cười cười nói :
- Hai vị huynh đệ gân cốt cực tốt, nếu Tống mỗ gặp hai người sớm vài năm, e rằng quyết chẳng thể bỏ qua.
Hai gã Khấu, Từ cùng lúc biến sắc, lòng như chùn hẳn xuống.
Mẹ đã nói như vậy, Tống Lỗ cũng nói như vậy, xem ra cả đời này hai gã cũng đừng hòng trở thành cao thủ được.
Phó Quân Sước cũng cảm thấy khó chịu, lòng thầm hạ quyết tâm: “Thế nào cũng phải thử bồi dưỡng hai gã”.
Trong lòng đã quyết, liền nói :
- Muộn rồi, tiểu nữ muốn đi ngủ sớm một chút.
Tống Sư Đạo tuy rằng không muốn, song vẫn đành phải theo lời nàng, kết thúc buổi yến tiệc.
Khấu Trọng vốn muốn tìm hiểu xem Hòa Thị Bích và Từ Hàng tịnh trai rốt cuộc có quan hệ gì, nhưng lại sợ làm Phó Quân Sước không vui, lại muốn học Cửu Huyền đại pháp nên cố nén lại không hỏi, cùng Từ Tử Lăng theo Phó Quân Sước về phòng.
Trong phòng của Phó Quân Sước, ba người ngồi xếp bằng tròn ở ba góc, ánh trăng xuyên qua cửa sổ vừa hay chiếu đúng vào người của Phó Quân Sước, khiến nàng càng giống như Quan Âm Đại Sĩ hạ phàm.
Phó Quân Sước thần tình nghiêm túc, nhẹ giọng hỏi :
- Các ngươi có biết tại sao ta đi rồi lại quay lại cứu các ngươi khỏi tay tên huyện lệnh béo đó không? Sau đó ở bến thuyền tại sao lại không nỡ để các ngươi rời khỏi không?
Khấu Trọng thấy thần tình nàng nghiêm túc như vậy, không dám đùa cợt, nghiêm giọng trả lời :
- Có phải là vì mẹ yêu quý chúng con không?
Phó Quân Sước thở dài nói :
- Cũng có thể nói như vậy, trong số tuỳ tùng của Vũ Văn Hóa Cập có một người là do Cao Lệ Vương phái đến, vì vậy sau khi đưa các ngươi đến Bắc Pha huyện, ta liền dùng ám hiệu đặc biệt liên lạc với y, thăm dò thương thế của Vũ Văn Hóa Cập.
Từ Tử Lăng cả mừng nói :
- Thì ra Vũ Văn Hóa Cập cũng bị thương?
Phó Quân Sước đắc ý nói :
- Đương nhiên rồi. Cửu Huyền đại pháp của ta đâu phải tầm thường, không trả giá thì làm sao đả thương nổi ta, có điều hắn cũng không phải hạng vừa, chỉ ngồi hai canh giờ đã hồi phục hoàn toàn, chỉ nội một điểm này cũng có thể thấy hắn cao hơn ta một bậc. Đồng thời ta cũng biết được hắn vì Trường Sinh quyết mà bất chấp tất cả truy bắt hai ngươi, vì thế nên ta mới quay lại cứu hai tên tiểu quỷ các ngươi, ta làm sao để tên bạo quân vạn ác đó diên niên ích thọ được chứ?
Khấu Trọng khó khăn nói :
- Mẹ hoàn toàn có thể đoạt Trường Sinh quyết của chúng con, tùy tiện tìm một chỗ nào đó chôn xuống là có thể sạch sẽ tay chân, đỡ phải vướng víu hai tên tiểu tử như chúng con nữa rồi.
Phó Quân Sước ngắt lời gã nói :
- Ta không thích làm những chuyện vô nghĩa như thế.
Từ Tử Lăng kích động hỏi :
- Vậy tại sao mẹ lại bỏ chúng con lại ở Đan Dương?
Phó Quân Sước thở dài nói :
- Cuối cùng không phải là ta cũng không bỏ các ngươi được sao? Ta cũng không biết tại sao lại đối tốt với hai tên tiểu quỷ các ngươi như vậy. Vốn ta chỉ muốn đưa các ngươi đến Đan Dương sau đó để các ngươi có chân tự đi, tự sinh tự diệt là xong, nhưng nghĩ lại thấy Vũ Văn Hóa Cập có thể động dụng quan phủ toàn thiên hạ, các ngươi có mọc cánh cũng khó thoát khỏi ma trảo của hắn nên mới không cầm lòng được mà quay lại tìm hai ngươi. Ngươi tưởng rằng ta đã nhìn trúng Tống Sư Đạo rồi à? Đương nhiên không phải vậy, ta sớm đã quyết chết vì đất nước, làm sao còn để ý nam nữ tư tình nữa, chỉ là muốn mượn thuyền của y đưa hai người các ngươi đi xa hiểm cảnh một chút mà thôi. Khi thuyền đậu lại lần nữa, hai ngươi phải lập tức lên bờ, chạy đến phạm vi thế lực của nghĩa quân, như vậy Vũ Văn Hóa Cập mới không có cách bắt các ngươi được nữa.
Khấu Trọng ngắt lời nàng :
- Chúng con tính đem Trường Sinh quyết hủy đi, như vậy thì dù Vũ Văn Hóa Cốt kia có đuổi kịp cũng không lấy được bảo thư nữa.
Phó Quân Sước và Từ Tử Lăng cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, không ngờ tên tiểu tử luôn tham tài tham lợi này lại chịu hy sinh như vậy.
Phó Quân Sước gật đầu nói :
- Nghe tiểu Trọng nói vậy, ta thật sự rất vui, nhưng tạm thời vẫn chưa đến bước đó. Bây giờ ta sẽ truyền cho các ngươi công phu đả tọa. Chỉ là hai ngươi phải lập thệ, nếu chưa đạt được đệ nhất trùng cảnh giới khí cơ triêu động thì không được ra giang hồ, chỉ có thể tìm một tiểu trấn yên tĩnh, tránh đi chiến hỏa, sống một cách an an lạc lạc.
Từ Tử Lăng hai mắt đỏ lựng :
- Mẹ! Mẹ đối với chúng con thật là tốt.
Khấu Trọng cũng cảm động nói :
- Dù là mẹ ruột của chúng con còn sống cũng quyết chẳng thể tốt hơn mẹ được!
Hai gã liền lập tức lập thệ.
Phó Quân Sước dạy hai người hợp chưởng trước ngực, nghiêm mặt nói :
- Trước khi luyện công phải luyện tính đã, đầu tiên phải tiêu trừ tất cả tạp niệm, sau đó ngồi xếp bằng tròn tĩnh tọa, chân trái hướng ra ngoài, trân phải hướng vào trong, lấy dương bao âm, ngón cái bàn tay trái niết ngón giữa, ngón cái bàn tay phải ấn vào lòng bàn tay trái bắt quyết, tay phải bên ngoài, lấy âm bao dương. Đây gọi là Liên Hoàn quyết trong Cửu Huyền đại pháp, còn gọi là Thủ cước hòa hợp khấu liên hoàn, tứ môn khẩn bế thủ chính trung.
Từ Tử Lăng không hiểu hỏi :
- Mẹ không phải đã nói Cửu Huyền đại pháp trọng thần khinh hình hay sao?
Tại sao giờ lại để ý đến hình thức như vậy?
Phó Quân Sước trầm mặc giây lát, thở dài than :
- Nếu như các ngươi thật sự luyện thành thần công, tất sẽ là nhân vật tuyệt thế có thể khai tông lập phái, tạo dựng thế cục. Ta trước giờ chưa từng suy nghĩ đến điểm này, có điều ta chỉ có thể y pháp mà dạy cho các ngươi, các ngươi nếu có thể nghĩ ra phương pháp khác thì cứ tùy tiện mà thử, nhưng tâm pháp nhất quyết phải tôn trọng pháp quyết, bằng không sẽ dễn đến họa hoạn bất ngờ.
Khấu Trọng tán thưởng nói :
- Mẹ thật là sáng suốt, các sư phó ở trong võ trường dạy đồ đệ chẳng bao giờ nói như vậy.
Tiếp đó Phó Quân Sước lại giảng giải cặn kẽ về kỳ kinh bát mạch và vị trí các yếu huyệt cho hai gã, đến lúc hai gã nhớ hết được thì đã quá canh ba rồi.
Lúc này thuyền lớn đột nhiên chậm lại, bên bờ truyền lại tiếng bước chân dồn dập.
Ba người cùng lúc biến sắc.

[/align] 

[/align]--------------------------------------------

[/align][1] Phượng hoàng không đậu xuống những nơi không có bảo vật.
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi này o_w_l sửa lỗi chính tả thôi![sm=15.gif]
link: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n1n1ntn31n343tq83a3q3m3237n2nvn

Hồi 41
Cá Chậu Chim Lồng
Đồ Thúc Phương quả nhiên là người có ảnh hưởng lớn nhất sau Trác Kiều trong phủ đại long đầu.
Ngày hôm đó hai gã được miễn không phải làm các công việc tạp dịch trong nhà bếp, chỗ ở cũng được chuyển tới khi dành riêng cho các gia tướng, mỗi gã còn được hẳn một căn ngọa thất rộng rãi.  Hai gã nhiều năm nay đã ngủ chung với nhau không rời nửa bước, nhất thời cũng cảm thấy không quen, nhưng cũng cảm thấy rất mới lạ.
Khi rảnh rỗi Tố Tố cũng thường đến thăm hai gã, còn may áo mới cho hai gã, tình cảm tỷ đệ càng thêm nồng hậu và ấm áp.
Đồ Thúc Phương cũng rất có cảm tình với hai gã, đem cả pho Cầm Nã Tiệt Mạch Thủ mà y tinh thiện nhất truyền cho hai gã, ngoài ra còn chỉ điểm thêm các loại võ công khác nữa.  Y có thể làm tổng quản của phủ đại long đầu, tự nhiên khong không phải vì may mắn.  Trên giang hồ y cũng được coi là nhân vật phong vân, ở trong quân Ngoã Cương, luận về võ công y chỉ kém sút so với Trác Nhượng, Lý Mật và Vương Bá, hai gã được cao thủ như vậy chỉ điểm, tự nhiên là tiến bộ thần tốc, đột phi mãnh tiến.
Khi dạy thuật điểm huyệt cho hai gã, Đồ Thúc Phương đã nói: "Mạch khí của mỗi người cũng giống như các đường vân trên ngón tay, không ai giống ai, lại chuyển lưu biến đổi theo thời tiết khí hậu, vì vậy cần phải biết chớp thời cơ, linh hoạt biến hoá, bằng không khó mà đạt được hiệu quả như mong muốn."
Khấu Trọng vui vẻ nói: "Chuyện này thì dễ, chỉ cần đẩy vào một đạo chân khí, sau đó để nó tùy ý lưu chuyển, vậy thì có thể biết được thực hư rồi."
Đồ Thúc Phương giật mình chấn động nói: "Tùy ý lưu chuyển?  Có phải Khấu huynh đệ muốn nói sau khi đẩy chân khí vào nội thể người khác, vẫn có thể cảm ứng được tình trạng của luồng chân khí đó sao?"
Từ Tử Lăng gật gật đầu: "Chính là như vậy, chúng tôi thường hay làm vậy mà!  vui lắm!"
Đồ Thúc Phương lộ vẻ không dám tin vào điều mình vừa nghe được: "Cảnh giới này e rằng ngay cả đại long đầu cũng không làm được.  Lẽ nào Trường Sinh Quyết lại lợi hại như vậy?"
Nhiều ngày sớm tối bên nhau, kẻ dạy người học, hai gã Khấu, Từ đã đem hết mọi chuyện cũ kể cho Đồ Thúc Phương nghe, vì vậy y mới biết rõ nguồn gốc võ công của hai gã.  Khấu Trọng nhảy lên nói: "Chẳng trách mà Vũ Văn Vô Địch cũng bị chúng ta đánh cho ôm đầu chạy như chuột nhắt, thì ra nội công của chúng ta đặc biệt như vậy."
Đồ Thúc Phương thất thanh thốt: "Tiểu huynh đệ nói có phải Vũ Văn Vô Địch của Vũ Văn phiệt hay không?"
Chuyện này hai gã còn chưa nói với Đồ Thúc Phương, thấy y ngạc nhiên như vậy liền ngồi xuống kể lại.  Đồ Thúc Phương lắc đầu nói: "Thêm một thời gian nữa, e rằng ngoại trừ Ninh Đạo Kỳ ra phải thêm hai vị tiểu huynh đệ vào nữa mất.  Trước đây khi ta học Cầm Nã Tiệt Mạch Thủ với ân sư, luyện cả ba năm trời mới đạt được chút tiểu thành.  Hai người chỉ học ba ngày đã thông thạo tự nhiên, chỉ là thiếu chút hỏa hầu, nói ra thật không biết có người tin hay không nữa."
Khấu Trọng đang định lên tiếng thì có người chạy tới báo cáo, Trầm Lạc Nhạn đã đến.  Đồ Thúc Phương sớm đã biết chuyện giữa hai gã và Trầm Lạc Nhạn, bèn nói: "Cho ả ta ăn gan hùm cũng không dám ngông cuồng vọng động ở nơi đây.  Để ta đi cùng hai tiểu huynh đệ xem ả định làm trò hoa dạng gì?"
Khấu Trọng và Từ Tử Lăng nhìn nhau cười khổ, bởi hai gã vẫn giấu Đồ Thúc Phương chuyện liên quan đến Dương Công Bảo Khố, đương nhiên sợ Trầm Lạc Nhạn sẽ vạch trần ra trước mặt y.  Khấu Trọng mỉm cười từ chối: "Chúng tôi phải sợ ả ta sao? Để chúng tôi tự đi ứng phó được rồi."
Đồ Thúc Phương còn tưởng gã đang khoe tài, cũng không kiên quyết đòi theo nữa.  Hai gã ra đến đại đường, thấy Trầm Lạc Nhạn đang đứng ngắm một chậu hoa cảnh.  Đây là lần đầu tien hai gã đặt chân vào Nghị Chính Điện của quân Ngõa Cương, tòa đại sảnh này rộng rãi vô cùng, toạ bắc triều nam, kiến trúc nguy nga kỳ vĩ, phong cách cổ kính phi thường.
Trong sảnh toàn là các đồ gỗ đỏ, bốn vách treo đầy danh họa, mỗi thanh xà nhà lại treo sáu chiếc đèn bát giác, tạo nên một không khí vừa u nhã vừa cao quý.  Điều làm người ta cảm thấy đặc biệt nhất chính là những ô cửa sổ hoa văn ở bốn phía, bên ngoài là những cây cổ thụ trăm năm và những rặng trúc  mềm mại, ánh mặt trời êm dịu của mùa thu chiếu qua kẽ lá vào phòng, khiến cho cả căn phòng như được giao hòa với thiên nhiên.
Trong khung cảnh đẹp tuyệt trần ấy, lại có mỹ nữ đang đội một chiếc mũ kiểu Thiển Ẩn đang thịnh hành thời bấy giờ đứng ngắm hoa.  Từ góc độ của hai gã, chỉ thấy chiếc giải mũ rủ xuống tận eo lưng, thi thoảng lại tung lên, làm cho các đường nét phía sau lưng nàng càng thêm nổi bật, khiến cho hai gã ngây người ra ngắm mãi không biết chán.  Trầm Lạc Nhạn chậm rãi quay người lại, nhoẻn miệng cười tươi nói: "Người ta đến đây để giảng hòa với hai người đây."
Hai gã nghe vậy thì ngạc nhiên nhìn nhau, nếu như nữ nhân này chịu giảng hòa, e rằng mặt trời phải mọc ở đằng tây mất.  Khấu Trọng mỉm cười hỏi lại: "Có điều kiện hay không có điều kiện vậy?"
Trầm Lạc Nhạn khẽ nhấc chân ngọc, yểu điệu bước tới trước mặt hai gã, giờ hai gã mới phát hiện hôm nay nàng ăn mặc rất hở hang, bên ngoài khoác hờ một tấm điệp bào, để lộ cả phần ngực trắng muốt như tuyết.  Thấy hai gã cứ ngơ ngẩn nhìn chằm chằm vào đôi trái đào tiên của mình, Trầm Lạc Nhạn ra vẻ tức giận nói: "Sao lại vô lễ như vậy, cứ nhìn chỗ ấy của người ta không à!"
Khấu Trọng nuốt nước miếng đánh ực, thở hắt ra nói: "Rõ ràng là cô nương bày ra để câu dẫn chúng ta mà.  Coi như chúng ta đầu hàng là được, hay là cứ vậy mà làm nhất dạ phu thê đi?"
Trầm Lạc Nhạn lườm gã một cái nói: "Một nữ sao thể có hai chồng, ta biết gả cho người nào đây?"
Từ Tử Lăng tỉnh táo hơn Khấu Trọng một chút, cảnh giác nói: "Cô nương muốn ly gián tình cảm huynh đệ chúng ta sao?"
Trầm Lạc Nhạn cười khẩy nói: "Tình cảm huynh đệ các người mỏng manh như vậy thôi à?  Thôi, ta không nói lung tung với các ngươi nữa, trở về chuyện chính.  Không biết hai người có cần hai viên thuốc giải này hay không vậy?"
Nói đoạn liền xoè ngọc thủ ra, để lộ hai viên dược hoàn nhỏ màu xanh lục.  Khấu Trọng nhớ lại những lần bị nàng ám toán, thầm cảnh giác, mỉm cười nói: "Làm sao biết đây không phải là độc dược đoạn trường chứ, chúng ta uống vào xuống hoàng tuyền rồi không phải sẽ bị lũ quỷ sai cười vào mũi hay sao?"
Trầm Lạc Nhạn cất dược hoàn vào trong túi như không hề có chuyện gì xảy ra, nhạt giọng nói: "Không cần thì thôi, nhưng đừng trách Trầm Lạc Nhạn ta không nhắc nhở các ngươi.  Kẻ nào uống tán công dược trong mười ngày mà không uống thuốc giải, sẽ vĩnh viễn biến thành phế nhân, không thể luyện công được nữa.  Lúc đó thì đừng có hối hận nhé!"
Từ Tử Lăng thấy nàng cười tươi như hoa, thần thái kiều mị, nhưng miệng lại nói toàn lời độc ác vô tỉ, trong lòng tức giận nói: "Dù cho chúng ta chết cũng không cần lòng thương hại đó của cô nương."
Trầm Lạc Nhạn cố ý ra vẻ kinh ngạc nói: "Tại sao lại giống như có thù mười kiếp với người ta vậy?  Những chuyện Lạc Nhạn làm điều vì quân Ngõa Cương cả, nếu như các người thành tâm muốn đầu nhập dưới trướng đại long đầu vậy thì mọi người đều là người nhà cả, tự nhiên phải giải hòa thôi."
Khấu Trọng cười cười nói: "Cô nương chỉ vì Bồ Sơn Bật cái gì công của mình mà thôi!  Hà!  Còn muốn chúng ta có hảo cảm với cô nương nữa sao?  Nghĩ lại khi đó chúng ta chẳng những đã giúp cô giải được trùng vây của Tần Thúc Bảo, còn khiến cô phản bại thành thắng, ân đức lớn lao như vậy mà chỉ đổi lại là những lần cô nương gia hại chúng ta.  Hừ, bây giờ ta đã nghĩ kỹ rồi, dù bà nương thối ngươi có muốn bồi tiếp một đêm ta cũng không thèm nữa."
Trầm Lạc Nhạn không hề tức giận, chỉ ra vẻ hơi khó chịu nói: "Để các ngươi xuất khẩu vũ nhục mà ta còn chưa lấy đầu hai tên tiểu quỷ các ngươi xuống, đó không phải là niệm tình rồi hay sao?  Được rồi!  xem chiêu!"
Hai gã cả kinh thất sắc, quên hết cả tâm pháp thủy trung chi nguyệt, vội vàng hoảng hồn thoái lui.  Trầm Lạc Nhạn căn bản không có ý định động thủ với hai gã, chỉ đứng cười khanh khách nói: "Thì ra đã có người giải độc cho hai tên tiểu quỷ các ngươi, chẳng trách các ngươi lại cứng đầu như vậy.  Chỉ tiếc là kinh nghiệm khuyết thiếu, chỉ một câu đã bị người ta thử ra rồi!"
Hai gã cảm thấy mất mặt vô cùng, nhưng cũng chỉ biết tự mắng bản thân vô dụng, đồng thời cũng hiểu ra nếu không phải bị nhan sắc diễm lệ tuyệt trần của nàng ta làm phân tâm, hai gã tuyệt đối có thể nhìn ra đó chỉ là hư chiêu.  Từ đó, suy ra, cao thủ chân chính tuyệt đối không bị mỹ sắc làm mê hoặc được.
Trầm Lạc Nhạn quay người ngồi xuống một chiếc hồng mộc ỷ ở góc phòng, đặt nhẹ tay lên bàn, dịu dàng nói: "Ngồi xuống đi hai tiểu đệ đệ đáng yêu!  Chúng ta bắt đầu bàn điều kiện nào!"
Từ Tử Lăng không vui nói: "Cô nương dựa vào cái gì để nói điều kiện với chúng ta chứ?"
Trầm Lạc Nhạn chậm rãi nói: "Dựa vào bốn chữ "bảo khố gì đó", đã đủ phân lượng hay chưa?"
Hai gã cùng lúc biến sắc.  Chỉ một câu nói này đã biết Trầm Lạc Nhạn nhất định đã bố trí thủ hạ bên trong phủ đại long đầu, hơn nữa thân phận người này tuyệt đối không thấp, vì thế mới biết được hai gã vẫn còn giấu diếm chuyện liên quan tới Dương Công Bảo Khố.  Nếu như chuyện này bị vạch trần sẽ bất lợi với hai gã vô cùng, hơn nữa còn không biết Trác Nhượng sẽ giở thủ đoạn gì với hai gã nữa.  Bất đắc dĩ, hai gã đành phải ngồi xuống đối mặt với nàng.
Đôi mắt đẹp của Trầm Lạc Nhạn đảo tròn, nhìn hai gã một hồi, đoạn mỉm cười nói: "Nếu như cho ta chọn, ta sẽ chọn tiểu Lăng làm phu quân, tiểu Trọng làm tình lang, như vậy thì hai tên tiểu quỷ các người có thể cùng hưởng thụ rồi!"
Khấu Trọng chán nản nói: "Mỹ nhân có gì cần chúng ta có thể nói trực tiếp hơn một chút được không?"
Thực ra chính bản thân Trầm Lạc Nhạn cũng không hiểu tại sao nàng lại thích trêu chọc hai gã tiểu tử này đến vậy.  Từ trước tới nay, nàng luôn luôn tâm cao khí ngạo, làm vẻ lạnh lùng với nam nhân, nhưng không hiểu sao khi gặp hai gã tiểu tử này, tự nhiên lại lấy chuyện quan hệ nam nữ ra để trêu đùa với bọn gã.
Trầm Lạc Nhạn thở dài một tiếng nói: "Các ngươi có biết hoàn cảnh bây giờ của mình như thế nào không?  Đầu tiên là người trong phủ đại long đầu không cho các ngươi ra ngoài nửa bước, kế đó là ta toàn lực ngăn cản các ngươi đào thoát khỏi Huỳnh Dương, vì thế các ngươi xem ra có vẻ tự do tự tại, nhưng thực ra chỉ là cá chậu chim lồng mà thôi, tuyệt đối không có năng lực tự chủ."
Từ Tử Lăng lạnh lùng nói: "Chuyện này không cần cô nương quan tâm."
Trầm Lạc Nhạn chợt hạ thấp giọng nói: "Hiện giờ trong quân Ngoã Cương chỉ có mình ta biết các người có bí mật Dương Công Bảo Khố, nhưng nếu chuyện này bị vạch trần, ngay cả nô gia đây cũng không biết diễn biến sẽ thế nào nữa.  Tiện đây ta cũng nhắc nhở các ngươi luôn, trong quân Ngoã Cương có cao thủ hình đường chuyên bức cung phạm nhân, y thì không khách khí như ta bây giờ đâu."
Khấu Trọng ngạc nhiên nói: "Nếu đã như vậy, cô nương còn lải nhải lắm lời làm gì?"
Trầm Lạc Nhạn nói: "Bởi vì ta hảo cảm với hai ngươi mà!  Ta không muốn thấy các ngươi bị người ta hủy hoại thành phế nhân, hơn nữa còn liên lụy đến Tố Tố tỷ của các ngươi nữa.  nàng ta tuy có thể coi là nữ nhân của Vương Bá, song tình hình như vậy, e rằng cả Vương Bá cũng không dám đứng ra bảo vệ đâu."
Hai gã chấn động tâm thần, một mặt là vì bị nàng nói trúng chỗ yếu hại, một mặt là vì đã biết được tên họ của gã tặc tử đã dâm nhục Tố Tố.  Nhìn thần sắc của hai gã, Trầm Lạc Nhạn hài lòng nói: "Vì vậy tốt nhất chúng ta nên làm một cuộc giao dịch công bằng, hai vị tiểu đệ của ta thấy thế nào?"
Khấu Trọng cảm thấy mình đã rơi vào thế hạ phong tuyệt đối, bị mỹ nữ tiếu lý tàng đao này tùy ý dắt mũi, cười khổ nói: "Nếu chúng ta biết bảo tàng ở đâu thì sớm đã đi đào lên hưởng dụng rồi, đâu cần phải lưu lạc thiên nhai thế này?"
Trầm Lạc Nhạn nhún vai nhạt giọng nói: "Được rồi!  Vậy để ta lập tức đi gặp tiểu thư xem nàng ta sẽ xử lý hai tên tiểu quỷ các ngươi thế nào?"
Khấu Trọng vội cười cầu hòa nói: "Vạn sự đều có thể thương lượng mà.  Nếu như cô nương muốn biết chỗ giấu bảo tàng, chúng ta có thể tùy tiện nói ra một nơi để thỏa mãn tình hiếu kỳ cho cô nương."
Trầm Lạc Nhạn giận dữ nói: "Các ngươi xem ra chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ!  Được rồi!  Cứ coi như các ngươi không biết địa điểm bảo tàng ở đâu đi!  Vậy mau nói cho ta biết tại sao tiểu thư lại chịu bảo hộ các ngươi?  Đừng nói là vì các ngươi đã cứu tỳ nữ của nàng ta đấy nhé!"
Hai gã lập tức cảm thấy ngần ngại, không ai dám khẳng định Trầm Lạc Nhạn không phải đồng đảng của Tổ Quân Ngạn.  Trầm Lạc Nhạn ngồi thẳng người lên, song mục hàn quang lấp lánh: "Từ khi các ngươi đến đây, tiểu thư đã điều từ thành ngoại về một sư đoàn đích hệ của đại long đầu, nhân số lên tới trên năm trăm người, đây rốt cuộc là chuyện gì vậy?"
Hai gã lúc này không còn để ý đến vẻ tức giận của nàng nữa, vò đầu suy nghĩ.  Khấu Trọng đảo tròn mắt, đang định bịa chuyện thì Trầm Lạc Nhạn đã cười khẩy nói: "Lại muốn hồ ngôn loạn ngữ nữa phải không?"
Đúng lúc này thì một thủ hạ của Trầm Lạc Nhạn chạy vào báo cáo: "Quân ta đã chiếm được Hưng Lạc Thương, Mật Công có lệnh lập tức phái người đến tăng viện, xin tiểu thư định đoạt."
Trầm Lạc Nhạn cả mừng đứng dậy, lừ mắt nhìn hai người nói: "Ta không có thời gian lằng nhằng với các ngươi nữa.  Dù sao thì các ngươi cũng không thể chạy thoát, để hôm khác mới tính sổ với hai tên tiểu tử các ngươi vậy."
Nói đoạn vội vàng bỏ đi.  Hai gã nghĩ đến chuyện đại long đầu Trác Nhượng sắp trở về, trong lòng không khỏi thấp thỏm không yên.  Tổ Quân Ngạn là tâm phúc của Lý Mật, như thế không biết có gây nên xung đột giữa hai người bọn họ hay không?"
Hoàng hôn hôm ấy, Trầm Lạc Nhạn dẫn binh rởi thành.  Cùng thời gian đó, Trác Kiều cũng rời khỏi thành Huỳnh Dương.  Đồ Thúc Phương thì không chịu tiết lộ nàng muốn đi đâu, tất cả đều hết sức thần bí.  Không có Trác Kiều, cả tòa đại long đầu phủ như sống dậy, người người đều trở nên thư thái thoải mái.
Từ Tử Lăng, Khấu Trọng và Tố Tố ngồi ăn tối với nhau, không lâu sao đó thì Đồ Thúc Phương cũng đến ngồi chung với ba người, hỏi chuyện của Trầm Lạc Nhạn.  Khấu Trọng chỉ nói đến đoạn nàng đưa thuốc giải, còn những chuyện liên quan đến bảo tàng thì không hề nhắc tới, chân chân giả giả khiến cho Đồ Thúc Phương không thể nghi ngờ hai gã.  Nhưng họ Đồ cũng rất kinh ngạc trước nội công có thể bức tán công độc ra ngoài của hai gã.
Nói đến chuyện chiếm được Hưng Lạc Thương, Đồ Thúc Phương lại tỏ vẻ ưu tư, thở dài nói: "Chuyến này có thể vây hãm Hưng Lạc Thương, tất cả đều nhờ vào tài điều binh khiển tướng của Mật Công.  Hiện giờ trên danh nghĩa là lão gia vẫn là đại long đầu, nhưng thực ra thì Mật Công đã nắm hết thực quyền trong tay rồi."
Ba người chợt nhớ tới lời phân tích của Lý Tịnh khi trước, hiểu ra nguyên nhân tại sao y lo lắng như vậy.
Đồ Thúc Phương nói: "Lạc Khẩu bị mất, ắt hẳn triều đình sẽ chấn động, hiện giờ Dương Quảng đang muốn toàn lực đoạt lại Lạc Khẩu để lấy lại ưu thế.  Ra lệnh cho Lưu Trường Cung và Bùi Nhân Cơ hai người từ Lạc Dương, Hổ Lao dẫn đại quân tấn công quân ta ở Lạc Khẩu, nếu như thắng được trận này thì mới có thể coi là đoạt được Hưng Lạc Thương, bằng không e rằng chúng ta phải mất cả vốn lẫn lời."
Sau khi Đồ Thúc Phương đi khỏi, Khấu Trọng phấn chấn nói: "Trầm bà nương đi đánh trận, tiểu thư của Tố tỷ lại không biết đi đâu, lúc này không chạy thì còn đợi đến bao giờ nữa?"
Tố Tố buồn bã nói: "Các đệ đi một mình có được không?"
Từ Tử Lăng ngạc nhiên hỏi: "Loại chủ nhân tùy tiện tặng tỷ cho kẻ khác làm lễ vật như vậy mà tỷ còn lưu luyến làm gì nữa?"
Tố Tố nước mắt ràn rụa nói: "Đừng nói nữa.  Ta chỉ vì tiểu thư thôi, trong tình cảnh này, ta làm sao bỏ nàng mà đi được chứ?"
Hai gã vội cuống quít lấy ống tay áo lau lệ cho nàng.  Khấu Trọng nhún nhường nói: "Hảo tỷ tỷ của đệ đừng  khóc nữa, vậy bọn đệ ở lại là được rồi.  Ôi!  nhưng mà lưu lại cũng có tác dụng gì đâu chứ?"
Tố Tố nói: "Đợi lão gia trở về, tỷ tỷ sẽ đi theo các đệ!"
Hai gã không biết nói gì, đành phải gật đầu đáp ứng với nàng.
Sáng sớm hôm sau, hai gã vừa tỉnh dậy đã ra hậu hoa viên luyện võ, nhưng không thấy Đồ Thúc Phương xuất hiện.  Do Đồ Thúc Phương đã có dặn dò từ trước, nên hai gã có thể tùy ý lấy các loại binh khí trong kho ra luyện tập.  Lúc này càng đánh càng hăng, bèn lấy hết các loại đao thương kiếm kích, trường tiễn đoản thương ra thử dùng, thống khoái vô cùng.  Tố Tố thì đứng bên cạnh hò hét trợ uy.
Lúc này mấy nữ tì khác chợt từ xa chạy tới.  Hai gã không muốn khoa trương, lại có chút hơi sợ ánh mắt đa tình của đám tỳ nữ này nên vội vàng thu binh.  Sau khi tắm rửa liền mặc y phục do Tố Tố mới tặng, nhất thời hưng phấn liền nghĩ ra chuyện ra phố dạo chơi.
Ba người lén lút từ cửa sau đi ra phố, chỉ thấy lá rụng đầy đường, cảnh tàn thu thê lương khôn tả.  Nghĩ lại từ lúc gặp nhau lần đầu tới giờ, thấm thoắt mà đã gần hai năm, bây giờ Lý Tịnh ở đâu cũng không biết, trong lòng không khỏi bồi hồi cảm xúc.  Ba người nắm tay nhau sánh vai đi men theo phố dài trong cơn gió thu hiu hắt.  Thành Huỳnh Dương hưng vượng phi thường, theo Tố Tố nói thì đây là do Lý Mật rất biết thu phục nhân tâm, vì thế mà người ở các huyện thành phụ cận đều chạy cả đến đây để được nương nhờ thế lực quân Ngõa Cương.  Đi được nửa con đường, Khấu Trọng và Từ Tử Lăng chợt phát giác có người đang bám đuôi.  Người duy nhất mà bọn gã úy kỵ chỉ có Trầm Lạc Nhạn, huống hồ còn tự phụ nếu không rời thành sẽ không có ai đối phó bọn gã, vì thế mà không để ý trong lòng, chỉ cười nói vui vẻ với Tố Tố.  Người phương bắc bị ảnh hưởng rất nhiều của người Hồ nên nam nữ hết sức thoải mái, mặc dù bọn gã với Tố Tố nắm tay đi lại trên đường hết sức thân thiết, nhưng người qua lại không hề để ý.
Ba người tìm một hàng bán bánh treo, ngồi xuống gọi đồ ăn uống.  Khấu Trọng cười cười nói: "Đợi lát nữa tìm hàng bán phấn son để Tố Tố tỷ mua đồ trang điểm."  Từ Tử Lăng cũng hưng phấn tiếp lời: "Sau đó đến tiệm tơ lụa, để tỷ tỷ mua vải may cho mình một bộ y phục mới mặc tết."
Tố Tố khẽ gật đầu, nhưng thần sắc lại buồn bã nặng nề.  Khấu Trọng nghiến răng nói: "Tố Tố tỷ cứ yên tâm, ngày sau nhất định bọn đệ sẽ giết chết tên dâm đồ Vương Bá đó, rửa sạch mối hận này cho tỷ."
Tố Tố hoa dung thất sắc nói: "Các đệ làm sao biết y?  Chuyện này tuyệt đối không được.  Trong quân Ngoã Cương, ngoại trừ lão gia và Mật Công ra thì y là người có võ công cao nhất đó."  Sau đó lại buồn bã nói: "Đây là số mạng của nô tì, tỷ tỷ chỉ biết nhận mệnh mà thôi.  Từ nay, các đệ không được nhắc tới chuyện này nữa."
Hai gã cúi đầu không nói tiếng nào.  Đúng vào lúc này, hai gã đột nhiên cảm thấy có người bước tới từ phía sau.  Hai gã quay lại nhìn, cùng lúc lộ vẻ ngạc nhiên.  Thì ra đó là người mà hai gã đã cho rằng rất có nghĩa khí, thiếu chủ nhân của Thúy Bích Lâu ở Bành Thành, Hương Ngọc Sơn.
Mùa thu lưng chừng tới
Chiếc lá lưng chừng rơi
Lưng chừng anh và em
Tình yêu hay tình bạn?
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»