📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Chữ Nôm

8 trả lời, 6.678 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-05 06:45:23gương soi>
.
 
Chữ Nôm
 
 
Định nghĩa tổng quát
theo tự điển bách khoa
 
 
Chữ Nôm là cách viết biểu ý ngày xưa của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán.

Lịch sử
 
Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm được đặt ra để ghi lại tiếng Việt bằng chữ tượng hình. Chữ Nôm được hoàn chỉnh dần dần và chỉ đến thế kỷ 13-15 mới được dùng nhiều trong văn chương.
Hơn 1.000 năm sau đó —từ thế kỷ 10 cho đến thế kỷ 20 —một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo, và hành chính được viết bằng chữ Nôm. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, toàn bộ các văn kiện hành chính được viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802. Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ duy nhất hoàn toàn Việt Nam ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ.

 Sự kết thúc của chữ Nôm và Hán
 
Chữ Nôm được dùng song song với chữ Hán cho đến thế kỷ 16, khi các nhà truyền đạo phương Tây vào Việt Nam, họ đã dùng kí tự La Tinh để phiên âm tiếng Việt, và chữ Quốc ngữ bắt đầu ra đời. Chữ Quốc ngữ bằng kí tự La Tinh ra đời dần dần thay thế chữ Hán Nôm do sự đơn giản dễ nhớ dễ học, và đặc biệt chữ Quốc ngữ có thể phiên âm được các âm thanh có trong tiếng Việt. Chữ Nôm còn được dùng cho tới cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nhưng ngày càng suy yếu trước sự bành trướng của chữ Quốc ngữ .

Di sản này hiện nay có nguy cơ tiêu vong. Sau khi chữ Quốc ngữ (dùng mẫu tự la tinh) phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. Ngày nay, trên thế giới chưa có đến 100 người đọc được chữ Nôm. Một phần to tát của lịch sử Việt Nam như thế nằm ngoài tầm tay của 80 triệu người nói tiếng Việt.

Chữ Quốc ngữ ra đời tuy đơn giản, dễ nhớ dễ học nhưng lại có nhược điểm là chữ biểu âm khó diễn đạt hết các từ cùng âm khác nghĩa vốn rất nhiều trong tiếng Hán và tiếng Việt. Và vì lý do này, có nhiều từ Việt bị dùng sai, nhưng do dùng lâu quen và do đó từ sai trở thành từ đúng (ví dụ: khốn nạn). Và cũng chính vì việc từ khi sử dụng chữ Quốc ngữ không tiếp tục giảng dạy và học chữ Hán Nôm đã làm cho những thế hệ người Việt ngày nay không còn biết đến chữ Hán Nôm nữa, và không thể đọc được những tư liệu sách vở trong kho di sản Hán Nôm ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Chính vì điều đó mà ít có thế hệ người Việt sau này có thể hiểu rõ và dùng đúng tiếng Việt như nghĩa thật sự của nó (vì hơn 70% tiếng Việt được hình thành từ tiếng Hán-Việt).

 Nguyên tắc tạo chữ Nôm
 
Có thể tóm tắt chữ Nôm được tạo ra từ chữ Hán theo một số nguyên tắc sau:
  • Dùng chữ Hán có âm và nghĩa giống tiếng Việt. Ví dụ: chữ Chè dùng chữ Hán "Tra" , chữ viết từ chữ Hán "La" v.v...
  • Ghép 2 hay 3 chữ Hán với nhau, một chữ Hán biểu thị nghĩa, chữ Hán thứ hai biểu thị âm (nhiều khi chỉ là gần đúng). Ví dụ: tháng = nguyệt 月 + thượng 尚; mắt = mục 目 + mạt 末, trời= thượng 上 + thiên 天; năm (con số) = ngũ + nam; năm (năm tháng) = niên + nam; v.v...
  • Dùng một chữ Hán có âm giống như âm tiếng Việt, loại này người viết chữ chỉ chú trọng về âm, không chú trọng về nghĩa. Ví dụ, chữ 我 có âm đọc là "ngã", nghĩa là "tôi", đối chiếu với tiếng Việt thì có chữ "ngã" trong từ "ngã nhào" là thích hợp. Do đó chữ trong tiếng Nôm được đọc là "ngã".
  • Ngoài ra chữ Nôm còn được hình thành bằng một số hình thức khác. Về cơ bản cách tạo thành chữ Nôm cũng giống như cách hình thành chữ Hán

    •  Nhược điểm
       
      Như vậy nhìn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán (do phải ghép 2 chữ Hán lại) nên khó nhớ hơn cả chữ Hán, vốn cũng đã khó nhớ. Cách đọc cũng có khi không thống nhất hoặc một chữ có thể có nhiều cách đọc, nên có người nói rằng "chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán". Ngoài ra, việc "tam sao thất bản" là khó tránh khỏi, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao (chữ bị nhòe, mất nét,...).

       Trên máy tính
       
      Có nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự Chữ nôm bằng cách gõ chữ Quốc ngữ.
    • HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm.
    • Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X.
    • WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ chữ Nôm.

      • Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. VietUnicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm. Nó là một dự án trên SourceForge [1]. Phông TrueType có thể tải về từ [2].
        Một số từ điển chữ Nôm trên mạng InternetTừ điển ở Viện Việt học (tiếng Việt) Nom character index (Tiếng Anh).

         Liên kết bên ngoài
         


        [/align]Phiên bản Wikipedia thử bằng chữ Nôm tại Wikimedia Incubator
        [/align][/align]
      • Hội Bảo tồn Di sản Nôm
      • Tiểu Tự điển chữ Nôm

        • Nguồn:
           
          Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm cung cấp nguyên bản chính, và cho phép xuất bản nguyên bản này theo Giấy Phép Sử Dụng Văn Bản Tự Do GNU (GFDL).
           
          Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_N%C3%B4m
          [/align]
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-03 17:39:20Ngọc Lý>
          .
           
          Các bạn có thể học chữ Nôm online tại đây:
           
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-04 18:02:47Ngọc Lý>
           
           
          Tiểu Tự Điển chữ Nôm:
          http://sager-pc.cs.nyu.edu/~huesoft/tracuu/vietnom.php
           
          VNPF Dictionary Search:
          http://128.122.140.98/vnpf/giupdoc/giupdoc.php
           
          Nôm Foundation Look Up Tool based on Unicode:
          http://nomfoundation.org/nomdb/lookup.php

          Tự điển của 4000 chữ Nôm:
          http://www.glossika.com/en/dict/viet.php
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-13 04:32:34Ngọc Lý>
          .

           
          Ðào Hoa Thi
           
          Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi có 254 bài thơ chữ Nôm.
          Sau Ðây là sáu bài thơ hoa đào (227-232) theo lối ‘thủ vỹ liên hoàn cách ’
          (lấy ý trong câu cuối bài trước làm ý câu đầu bài kế). Chữ Nôm ghi theo bản gốc Phúc Khê, mùa Thu năm Tự Đức Mậu Thìn.


           
          http://www.viethoc.org/eholdings/DaoHoaThi.pdf
           
          ___________
           
          Đọc thêm các bài thơ khác trong Quốc Âm Thi Tập (Ngọc Lý sẽ mang từ từ vào phần thơ sưu tầm trong diễn đàn, hy vọng các Mod mang vào Thư Viện giúp)
           
          http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/archive/index.php/t-7741.html

          Đăng nhập để trả lời
          0
          Ngọc Lý có thể đăng lại các bài đó vào đây không, vì nếu mai mốt đường link không còn hoạt động thì sẽ không đọc được.
          Thêm một ý nữa là không biết các bài thơ của Nguyễn Trãi nên post vào mục Thơ hay Học Đường. vvn nghĩ nếu chỉ là bài thơ không có bình giảng văn học, giải nghĩa từ ngữ thì nên đăng bên box Thơ. Còn nếu có phần bình giảng văn học, giải nghĩa từ ngữ cho mỗi bài tho, nhất là có phụ chú về tiểu sử và sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi thì nên đăng ở box Học Đường.

          Thiển ý.
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-13 04:33:19Ngọc Lý>
          Ngọc Lý có thể đăng lại các bài đó vào đây không, vì nếu mai mốt đường link không còn hoạt động thì sẽ không đọc được.


          Thưa vvn,

          Đây là bản pdf, Ngọc Lý không copy các bài thơ nguyên dạng chữ Nôm vào được, nên đành chỉ đưa link cho các bạn nào thích học chữ Nôm theo lối học thơ thì vào xem thôi.

          Nếu vvn có thể copy các bài thơ Nôm này vào đây thì hay quá. Ý tưởng chính của Ngọc Lý là mang vào để học chữ Nôm cho vui mà thôi.

          Dạng quốc ngữ thì Ngọc Lý có tìm thấy bài "Đào Hoa" do Diên Vỹ mang vào thư viện từ năm ngoái (cảm ơn Diên Vỹ), tại đây:

          http://vnthuquan.net/tho/tho.aspx?id=7745&thisi=Nguy?n%20Trãi


          Thân ái,

          [:)]

          Ngọc Lý
           
          ___________

          Đọc thêm các bài thơ khác trong Quốc Âm Thi Tập (Ngọc Lý sẽ mang từ từ vào phần thơ sưu tầm trong diễn đàn, hy vọng các Mod mang vào Thư Viện giúp)

          http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/archive/index.php/t-7741.html

          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-13 04:33:54Ngọc Lý>
          .
           
          Tìm hiểu một số từ Nôm cổ
          trong Quốc âm thi tập
          của Nguyễn Trãi
          Thế Anh
          Hà Nội
          Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm
          Ngày 12-13 tháng 11 năm 2004

          Thư viện Quốc gia Việt Nam – Hà Nội
           
           

          Trong các tác phẩm viết bằng chữ Nôm còn lại đến hôm nay như Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Truyền kỳ mạn lục giải âm, Thiên Nam ngữ lục… thì Quôc âm thi tập (QÂTT) của Nguyễn Trãi giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và vô cùng quý giá, bởi đây là một tập thơ gần như trọn vẹn ghi lại lời ăn tiếng nói của ông cha ta cách đây ngót năm thế kỷ.

          Việc nghiên cứu và giải mã cuốn sách sẽ giúp chúng ta hiểu được ảnh hưởng của thơ văn chữ Hán và ngữ pháp tiếng Hán đối với tiếng Việt cổ, cũng như lối trực dịch của người xưa rất xa lạ đối với lớp người đương đại góp phần tìm hiểu sự hình thành ngôn ngữ văn học, tiếng Việt và chữ Việt trong quá khứ, làm cho nền văn học và ngôn ngữ dân tộc ngày thêm phong phú và đa dạng.

          Chính vì lẽ nên gần nửa thế kỷ nay lớp lớp những nhà nghiên cứu có trình độ Hán học uyên thâm và có nhiều tâm huyết với nền văn học nước nhà như Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh… đã dày công nghiên cứu, phiên âm và chú giải thơ Nguyễn Trãi. Tiếp tục công việc của những người đi trước, trung tâm nghiên cứu quốc học đã cho ra mắt bộ Nguyễn Trãi toàn tập tân biên  [1.]Đây là một bộ sách biên soạn công phu và nghiêm túc. Riêng về phần Quốc âm thi tập (tập 3) gần 800 trang có kèm theo nguyên bản (Phúc Khê tàng bản 1868) giúp cho người đọc dễ dàng đối chiếu và tìm hiểu tác phẩm.

          Những người biên soạn đã đứng trên quan điểm ngôn ngữ lịch đại để nghiên cứu và giải quyết được nhiều vấn đề về phiên âm, chú giải mà những người đi trước chưa thực hiện được. Ví dụ chữ “cướp” và “ốc” trong bài 195… hoặc những trường hợp chữ Nôm được ghi bằng hai mã chữ. Có những trường hợp trước đây còn tồn nghi hoặc chỉ phỏng đoán theo văn cảnh thì lần này cũng đã tìm được lời giải đáp đáng tin cậy. Đó là những đóng góp mới của nhóm biên soạn cần được ghi nhận.

          Để góp phần tìm hiểu thơ Nôm Nguyễn Trãi chúng tôi xin có một vài ý kiến nhỏ về vấn đề chữ nghĩa trong một số trường hợp cụ thể theo thiển ý của mình.

          * Đó là chữ “xuýt ải” (綴 隘) trong câu:
          Đòi thuở khó khăn chăng xuýt ải,
          Thấy nơi xao sác đã mày nề (bài 79).

          Nhóm biên soạn đã dẫn chứng lời giải của Đào Duy Anh và Paul Schneider là “xuýt xoa, phàn nàn” và không nhận xét gì thêm. Bùi Văn Nguyên thì phiên âm là “chút oải” và giải thích là “mệt mỏi”, còn Trần Văn Giáp thì lại phiên âm là “chút ngại”. Theo chúng tôi thì phiên âm xuýt ải là chính xác (âm Hán Việt của “xuýt” là “xuyết”). Trong Truyền kỳ mạn lục giải âm NguyễnThế Nghi đã dùng từ xuýt hai lần với nghĩa trên để dịch câu Khứ bần tựu phú thiếp diệc hề từ (去 贫 就 富 妾 亦 奚 辭. Bỏ chốn khó tới chốn giàu thiếp lại xuýt chi. Theo ngôn ngữ hiện đại thì có thể dịch. “… bỏ nghèo theo giàu thiếp lẽ đâu từ chối”. Khoái Châu nghĩa phụ truyện) và câu Lao từ vật hứa dã (牢 辭 勿 許也. Dầu bền xuýt chớ cho vậy. Câu này có thể diễn đạt “… dù từ chối cũng đừng nghe”. Đông Triều phế tự lục). Còn chữ ải trong tập hợp từ này theo chúng tôi cùng có chung một nét nghĩa với xuýt. Trong Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự có câu:
          Dở bề chối ải, dở bề mách mao.

          Từ những dẫn chứng trên, chữ xuýt ải với nghĩa là từ chối rất phù hợp với ý nghĩa của câu thơ.

          * Trường hợp chữ 伴 trong câu:
          Hoa nhẫn rằng đeo danh ẩn dật.
          Thức còn thông 伴 khách văn chưng (bài 216)

          Nhóm biên soạn phiên âm chữ 伴 là bợn và lập luận rằng nếu phiên âm là bạn thì không đối được với động từ đeo ở vế trên. Theo chúng tôi phiên âm là bạn hợp lý hơn, vừa đúng mặt chữ vừa thông nghĩa cả bài thơ, ở đây ta có thể hiểu một cách linh hoạt bạn làm bạn (động từ).

          Còn nếu là bợn thì phải viết 낇 (bài 12) hoặc đọc là bịn trong cụm từ bịn rịn (낇 練) ở bài 55, và nghĩa của hai câu thơ trên đây là “Dù hoa tự xưng là hoa ẩn dật, nhưng màu sắc vẫn còn đủ để làm bạn với khách văn chương”. Chữ thông trong câu thơ trên có nghĩa là đủ.

          * Chữ địch (迪) trong ba trường hợp sau đây chúng tôi có ba sắc thái ngữ nghĩa khác nhau:

          1. Đột xung biếng tới áng can qua,
          Địch lều ta dưỡng tính ta (bài 18)
          Địch ở đây là đến đúng như cách giải thích của nhóm biên soạn.

          2. Say minh nguyệt chè ba chén,
          Địch thanh phong lều một căn (bài 27).
          Địch trong tiếng Hán còn có nghĩa là lấy, dùng, và ta có thể hiểu câu này là: Uống ba chén chè và say sưa ngắm vừng trăng sáng, Sống trong căn lều đơn sơ và thưởng thức làn gió mát.

          3. An lạc một lều dầu địch,
          Thái bình mười chước ngại dâng (bài 161)
          Địch trong câu này có thể hiểu là hạnh phúc, vận may (theo Tối tân thực dụng hán Anh tân từ điển do Lương Thực Thu chủ biên. Đài Bắc 1972).

          * Chữ năng nổ (휡 某) trong câu Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm (Ngôn chí IV) nhóm biên soạn giải thích là “có thể gặp được vị sơn tăng nào (làm bạn ngâm thơ)”. Theo chúng tôi chữ năng ở đây không phải là có thể, chữ mỗ không phải là nào đấy. Chữ năng dùng để chỉ hành động thường xuyên, lặp đi lặp lại. Trong tục ngữ ca dao Việt Nam có những câu:

          Năng đến thì thân.
          Năng ăn hay đói, năng nói hay nhầm.

          Hoặc

          Năng mưa thì giếng năng đầy,
          Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương

          * Chữ mỗ ở đây là mỗi một.

          Đại ý câu thơ trên đây có nghĩa là Chỉ có một nhà sư trên núi thường xuyên lui tới làm bạn ngâm thơ vịnh với tác giả.

          Trong QÂTT Nguyễn Trãi đã dùng chữ mỗ đến hàng chục lần với ý nghĩa là một:

          Xênh xang làm mỗ đứa quan nhân (Mạn thuật XI)
          (tức là làm một đứa nhà quê)
          Người sinh ra ở thế mỗ nhàn thay (Trần tình IX)
          (Người sinh ở đời chỉ có một chữ nhàn là quý)

          Chữ nhàn trong câu này nhóm biên soạn phiên âm là hèn. Do không giải thích được chữ mỗ nên câu Thoi nhật nguyệt đưa qua mỗ phút (Tự thán XV) nhóm biên soạn đã phiên âm chữ mỗ thành chữ mấy.

          * Chữ để (底) Đã mấy thu nay để lệ nhà (Ngôn chí VII) nhóm biên soạn không giải thích.

          Để ở đây có nghĩa là bỏ. Trước cách mạng tháng 8 từ này được dùng phổ biến ở vùng Nghệ Tĩnh (để vợ - tức ly dị vợ, bỏ vợ). Câu này có nghĩa là Mấy năm nay lề thói của gia đình đã bị bỏ.

          Trong thơ Quốc âm Nguyễn Trãi có rất nhiều câu 6 chữ, thậm chí 5 chữ xen kẽ (bài 182) với nhau, nhưng đối với những câu thực (câu 3-4) và câu luận (câu 5-6) thì số chữ trong câu không được so le vì phải bảo đảm vấn đề đối xứng. Do đó hai câu luận trong bài 36 hoặc thừa, hoặc thiếu một chữ.

          Con mắt họa (theo phiên âm của nhóm biên soạn) xanh đầu dễ bạc,
          Lưng khôn uốn lộc nên từ.

          Câu trên 7 chữ và câu dưới 6 chữ không thể đối với nhau được. Nếu bỏ bớt chữ con ở câu trên thì hai vế đối nhau rất chỉnh:

          Mắt hòa xanh dầu dễ bạc,
          Lưng khôn uốn lộc nên từ.

          Chữ 和theo chúng tôi, nên phiên âm là hòa có nghĩa là đổi ra (theo Trung Hoa cổ Hán ngữ từ điển) và ý của hai câu thơ trên là:

          Nếu con mắt tinh đời (đổi ra màu xanh) thì đầu mầu bạc,
          Đã không biết khom lưng nịnh bợ thì bổng lộc cũng nên từ.

          Đọc thơ Nôm của Nguyễn Trãi chúng ta gặp không ít khó khăn, đó là vấn đề tam sao thất bổn, từ ngữ quá cổ rất xa lạ với thời đại chúng ta, nhiều câu văn tối nghĩa mỗi người hiểu một cách, giải thích một kiểu. Cụ thể như từ song viết đã có đến gần chục lần lặp đi lặp lại trong QÂTT và trong vòng mấy trục năm nay đã có nhiều học giả, giáo sư, nhà nghiên cứu… đưa ra nhiều kiến giải và lập luận, nhưng đến nay vẫn còn là một ẩn số.

          Trên đây là một vài ý kiến và nhận thức của chúng tôi đối với một số trường hợp cụ thể trong khi tìm hiểu thơ quốc âm Nguyễn Trãi, chắc hẳn còn có chỗ chủ quan và bất cập, rất mong được các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này trao đổi thêm.

          ___________________



          [/align] 

          1 Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn học, 2000.


          Thế Anh
          Phòng 101/A1 Tập thể ĐH Ngoại thương Hà Nội
          Láng Thượng – Đống Đa
          Điện thoại: (04) 835 6943


          Copyright © 2004 by the Institute of Hán-Nôm Studies
          and the Vietnamese Nôm Preservation Foundation.



          http://sager-pc.cs.nyu.edu/vnpf/Conf2004/Papers/Nguyen_The_Anh_-_Tu_Nom_co_trong_QATT.pdf
           
          ___________

          Đọc thêm các bài thơ khác trong Quốc Âm Thi Tập (Ngọc Lý sẽ mang từ từ vào phần thơ sưu tầm trong diễn đàn, hy vọng các Mod mang vào Thư Viện giúp)

          http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/archive/index.php/t-7741.html

          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-14 02:46:37Ngọc Lý>
          Copyright © 2004 by the Institute of Hán Nôm Studies
          and the Vietnamese Nôm Preservation Foundation.

           
           

          Văn thơ Nôm giáng bút
          với việc kêu gọi lòng yêu nước
          và chấn hưng văn hoá dân tộc
          cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

          Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện
          Viện Nghiên cứu Hán Nôm
          Hôi nghị Quốc tế về chữ Nôm
          Ngày 12-13 tháng 11 năm 2004
          Thư viện Quốc gia Việt Nam – Hà Nội
           
           

          TÓM TẮT
           

           
          1. Giáng bút là hiện tượng shaman trong văn hoá Việt Nam, thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm). Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 tài liệu là thơ văn giáng bút (226 bản in, 28 bản viết tay). Trong đó cuốn có niên đại sớm nhất – năm 1825 – là bản Ac.408, được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870–1898 và 1906–1911. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768–1839), một danh sĩ, nhà khảo cứu xuất sắc thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong bản gia phả Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ Tham nghị Anh Đoán có thuật bói tiên, cụ thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật của Phạm Đình Hổ rõ ràng cho biết ông ngoại của ông là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta vẫn có thể tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

          Các cơ sở ấn loát văn thơ giáng bút chính là các Thiện đàn (theo thống kê của chúng tôi là có tới 99 địa điểm) nằm trong các chùa chiền, đền miếu trong khắp các tỉnh ở châu thổ Bắc bộ.

          Việc in ấn các thơ văn giáng bút Kết quả là thơ văn giáng bút đã được nhân dân đón nhận và tạo thành một phong trào rộng khắp.

          2. Với nội dung kêu gọi yêu nước và chấn hưng văn hóa dân tộc, hướng đến đông đảo quần chúng lao động, văn thơ giáng bút đã chọn hình thức chữ Nôm và các thể thơ ca dân gian (lục bát, song thất lục bát, phong dao, xẩm, ngụ ngôn,…) để thuận lợi cho việc lưu hành. Những nhà chí sĩ, trí thức yêu nước như Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền, Tiến sĩ Đặng Kim Toán, Kỳ Đồng,… đã là tác giả của thơ văn giáng bút, mượn lời các vị anh hùng liệt nữ, các vị thần tiên, các vị tiên nho của Việt Nam để khuyến thiện, kêu gọi lòng yêu nước, đề cao dân trí, bài bác hủ tục, đề cao phụ nữ.

          3. Các vấn đề thuộc về diễn đạt như: việc sử dụng chữ Nôm, sử dụng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, các điển tích, huyền tích kỳ thú trong tín ngưỡng dân gian Việt tạo cho các tác phẩm giáng bút (còn gọi là kinh giáng bút) được dễ dàng phổ cập và trở thành sinh hoạt tín ngưỡng / vận động yêu nước rất phổ biến và mạnh mẽ trên khắp các tỉnh thuộc châu thổ Bắc bộ.

          4. Ảnh hưởng của thơ văn giáng bút và các hoạt động của các Hội Hướng thiện trở nên rất sâu rộng, được đông đảo các trí thức, các nhà chí sĩ, các nhà khoa bảng tham gia và góp phần tích cực. Một số nhà khoa bảng danh tiếng như Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Tông Phan đã tích cực cổ vũ cho phong trào yêu nước, thậm chí Vũ Tông Phan còn nhận làm Hội trưởng Hội Hướng Thiện và có công lao biến Đền Ngọc Sơn thành một trung tâm in ấn, phát hành, tuyên truyền của Hà Nội và nhiều tỉnh lân cận. Kết quả là Đền Ngọc Sơn đã in ấn được hàng 241 cuốn / bộ sách Hán Nôm có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: tôn giáo, tín ngưỡng.

          5. Tóm lại: Thơ văn giáng bút viết bằng chữ Nôm là một khu vực văn học và văn hóa còn ít được chú ý nghiên cứu vì nhiều lý do khác nhau. Trữ lượng của mảng tài liệu này khá lớn, và đặc biệt có giá trị khi nghiên cứu văn hoá tâm linh, nghiên cứu về các phong trào yêu nước hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Ở bài viết lần này chúng tôi đi thêm một bước trong việc nghiên cứu mảng tài liệu Nôm quan trọng so với các nghiên cứu đã công bố trước đây trong Hội nghị Thông
          báo Hán Nôm học năm 2000.

          Trong khi nghiên cứu các nghi lễ của người Việt ở châu thổ Bắc bộ thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút – một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam nói riêng và là một hiện tượng shaman có tính phổ quát trên thế giới. Song vì nhiều lý do, giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng để hiểu hơn về hiện tượng này, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, in năm 1944) và Đào Duy Anh (25 trang về giáng bút in trong Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, in năm 1989). Mãi tới gần đây, mới có một số nhà nghiên cứu đề cập đến chuyện này, nhưng nhìn chung là chưa có hệ thống và chưa vượt qua được bài nghiên cứu của Đào Duy Anh (Xem các bài viết về giáng bút trong Danh mục tài liệu tham khảo chính ở cuối bài viết này).

          Giáng bút là hiện tượng shaman trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm). Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 tài liệu là thơ văn giáng bút (trong đó có 226 bản in và 28 bản viết tay). Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thống kê, gửi kèm với tham luận này. Tài liệu có niên đại sớm nhất – năm 1825 – là bản Ac.408, được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870–1898 và 1906–1911.

          Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768–1839), một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong bản gia phả Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ Tham nghị Anh Đoán có thuật bói tiên, cụ thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật của Tùng Niên Phạm Đình Hổ rõ ràng cho biết ông ngoại của ông là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

          Nhằm góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu, tham luận này sẽ cung cấp những danh mục tài liệu giáng bút hiện đang lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng những nhận xét, nghiên cứu ban đầu của chúng tôi về thiện đàn và giáng bút.

          1. Bối cảnh chính trị văn hoá xã hội Việt Nam thời Nguyễn

          Học giả Việt Nam đầu tiên quan tâm đến giáng bút có lẽ là Lê Quý Đôn. Trong khi đi sứ nhà Thanh (Trung Quốc) ông đã quan tâm tìm hiểu, sưu tầm được sách Âm chất văn chú. Năm 1839 Âm chất văn chú được khắc in theo bản cũ do Lê Quý Đôn mang về từ Trung Quốc. Sách dày chừng 350 trang in. Nhưng bản Âm chất văn chú in năm 1839 không phải là bản in giáng bút sớm nhất mà ta thấy được trong kho sách Hán Nôm.

          Ngay từ năm 1825, tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương (Hà Nội) đã tổ chức khắc in bộ sách Quan Phu tử kinh huấn hợp khắc (AC.408), 150 trang in. Sách này chép lời giáng bút của Quan Thánh đế quân (Quan Phu tử, Quan Vân Trường).

          Suốt nửa cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều Thiện đàn được mở ra ở hầu khắp các tỉnh ở Bắc bộ: Hà Nội, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Thái Nguyên, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Phúc Yên,…

          Tìm hiểu văn giáng bút, chúng ta thấy một thực tế rằng: nội dung và hình thức thơ ca giáng bút càng về sau càng khác lúc ban đầu. Thời gian đầu là giáng bút của các vị thần của Đạo giáo Trung Quốc như Văn Xương Đế quân, Quan Thánh Đế quân… Các bài thơ văn giáng bút này được in trong một quyển sách và chúng không phải là văn bản có được sau một cuộc giáng bút cầu văn tại Việt Nam. Hay nói khác đi, nó chỉ như một cuốn danh ngôn mà những người tu đạo tâm niệm. Nội dung, do vậy mang tính chung chung. Văn giáng bút ở đây đều bằng chữ Hán, được diễn đạt bằng thơ luật. Về sau, do yêu cầu mới của đời sống xã hội, thơ giáng bút đã thay đổi. Các vị thần linh giáng bút không chỉ là có nguồn gốc Trung Quốc nữa, mà còn có các tiên nho liệt thánh Việt Nam, như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trưng Vương, Liễu Hạnh, v.v.

          Thơ do yêu cầu phải đến với quảng đại quần chúng nên đã có nhiều thơ lục bát, song thất lục bát.

          Văn giáng bút cũng phần nhiều không dùng chữ Hán mà dùng chữ Nôm. Các bản sách văn giáng bút cũng được sưu tập ngay từ đàn giáng bút và đưa đi khắc in ngay.

          Có tình hình ấy là do bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ví dụ như khi các sĩ phu Hà thành lập ra hội Hướng Thiện, do Tiến sĩ Vũ Tông Phan làm Hội trưởng thì mục tiêu đặt ra khá khiêm tốn: Hướng mọi người vào làm việc thiện, xây dựng một lối sống tốt đẹp, theo chuẩn mực của truyền thống. Về sau, hội Hướng Thiện mở mang thêm các hoạt động văn hoá như: tu sửa tôn tạo di tích đền Ngọc Sơn...

          Thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam từ khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp tuy đang trong giai đoạn xây dựng kiến thiết nhưng đã dần được củng cố. Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và phát triển có đường hướng. Triều đình Tự Đức sau nhiều “khự nự” đã hoàn toàn bất lực trước sự lấn lướt của Thực dân Pháp và sự “đe dọa” của văn minh phương Tây. Trong triều đình ấy, nội bộ cũng đã có sự phân hóa, chia ra làm hai phái rõ rệt: Chủ chiến và chủ hòa. Vua Tự Đức thì ở phái chủ hòa. Một quan chức trong triều là Dương Khuê dâng sớ đề nghị đánh Pháp. Vua đã phê vào sớ: “Bất thức thời vụ”, và đày ông đi sơn phòng, trông nom việc khai khẩn ở miền sơn cước.

          Chỉ sau khi Tự Đức băng, thì phái chủ chiến trong đám quần thần mới dần trở nên chiếm ưu thế, bởi được vua Hàm Nghi và một trọng thần quyền thế là Trương Đăng Quế làm hậu thuẫn.

          Năm 1885 phong trào Cần Vương được phát động chính thức và phát triển sâu rộng khắp Trung kỳ, Bắc kỳ.

          Phong trào Cần Vương đi vào suy thoái bằng sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn do nhà sĩ phu khoa bảng Phan Đình Phùng làm thủ lĩnh.

          Từ năm 1897, là năm thất bại của khởi nghĩa Hương Sơn, nhiều nơi trong đất nước đã từng có những cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy lẻ tẻ. Đòi hỏi của lịch sử về cứu nước, giành lại giang sơn tổ quốc trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

          Thơ văn yêu nước thời kỳ này nhằm đến một quần chúng nhân dân đông đảo. Và để phù hợp với việc kêu gọi lòng yêu nước và tự hào dân tộc, các hình thức diễn đạt quen thuộc với đông đảo bình dân được lựa chọn. Thơ lục bát và song thất lục bát được ưa dùng. Những lối nói ẩn dụ về nòi giống, tổ quốc, giang sơn ... giàu sức biểu cảm được dùng phổ biến trong các lời văn giáng bút. Các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ trong dân gian có lồng ghép thêm những nội dung mới, nhằm thức tỉnh lòng yêu nước.

          Trong các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian, thì kê đàn giáng bút là một hoạt động tín ngưỡng đặc biệt. Ở đó con người giao tiếp với thế giới của Thánh - Thần - Tiên - Phật qua một người có biệt năng. Người này sẽ chuyển các thông điệp bằng văn thơ có nội dung khuyên bảo, răn dạy, kêu gọi của Thánh, Thần cho con người trên cõi trần gian. Hơn nữa giáng bút lại là một hoạt động tín ngưỡng ngưng kết nhiều thành tố đặc sắc của văn hoá dân gian như: thơ ca dân gian, múa dân gian, nghi thức tín ngưỡng...Tham gia vào giáng bút là tham gia vào tín ngưỡng, tham gia vào sáng tạo văn hoá văn nghệ dân gian nhằm tiếp xúc với một tiên giới trong tâm tưởng.

          Cũng chính vì hoạt động giáng bút là một hoạt động mang tính tổng hợp như vậy nên đã thoả mãn được nhiều giai tầng công chúng cho dù là các nhà khoa bảng, học hành đỗ đạt cao, nhà nho ở nông thôn, cho đến tầng lớp tiểu thương nơi phố thị, nông dân chốn quê mùa. Sức sống của giáng bút cũng ở đấy. Và sức sống của việc tuyên truyền yêu nước cũng ở đấy. Nó nương vào tôn giáo, tín ngưỡng, nương vào công xã nông thôn để hoạt động và thúc giục quần chúng.

          Thực dân Pháp thực sự hoang mang và bối rối khi phải xử trí với tình hình nở rộ của các Thiện đàn và các hoạt đông giáng bút ở khắp nơi. Không tìm được chứng cớ khả dĩ kết tội, đàn áp, thực dân Pháp đã mất ăn mất ngủ với các hoạt động nửa tôn giáo, nửa cách mạng đang lan tràn và phát huy tác dụng và thanh thế ở khắp nơi.

          Tại Văn Hiến đường, xã Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng, Hà Tây), năm 1930 tay sai đã về tịch thu các ván in và bộ sách Cổ kim truyền lục đã được in ấn và đang được lưu hành ở đây.

          Gs Đào Duy Anh, trong bài Tìm hiểu phong trào Thiện đàn đối với cuộc vận động ái quốc - Kinh Đạo Nam dài 25 trang in trong tập hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm (Nxb Trẻ, 1989) có cho biết:

          “Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh kể lại rằng trong thời gian giáng bút và ấn hành bản kinh này thì Lý trưởng và Phó lý xã Hạc Châu sợ liên luỵ nên đã báo cáo cho quan lại sở tạị. Chính quyền thực dân giao cho Bùi Bằng Đoàn bấy giờ làm Tri phủ Xuân Trường điều tra. Bùi Bằng Đoàn cho vợ có sai nha đi theo đến đàn để thử, viết một tờ sớ bỏ vào phong bì kín. Hàng ngày khách thập phương qua lại để lễ và xin kinh rất đông, nhiều người sang trọng, cho nên chẳng ai để ý đến đó là bà phủ Xuân Trường. Theo lệ thì người đến lễ đặt phong bì kín lên bàn thờ, Thánh phải giáng bút chỉ tên người ấy, có đúng thì người ta mới tin. Thánh bèn giáng bút cho ngay một câu thơ rằng:

          Côn được thiên trùng thương hải ngoại;
          Bằng Đoàn vạn lý tử tiêu gian.

          Thế là chỉ rõ tên Bùi Bằng Đoàn ra bằng một câu thơ, mà các nhà Nho học giỏi đều nhận là rất hay, bình thường khó có người tức tịch làm ra được, huống chi người cầm kê đây là người sức học cũng tầm thường.

          Bùi Bằng Đoàn do đó tin là có tiên thánh giáng bút thực, báo cáo lên tỉnh
          rằng đó là việc tôn giáo thực chứ không phải là hoạt động chính trị như hương lý báo. Sau đó án sát Nam Định là Mai Toàn Xuân cũng cho vợ đến lễ để đặt phong bì kín và thử như thế. Bùi Bằng Đoàn là người Nho học có tiếng cho nên được giáng bút một câu thơ chữ. Mai Toàn Xuân xuất thân là bồi Tây nên ít học, chỉ được giáng bút một câu thơ Nôm, nhưng cũng vạch rõ cả ba chữ họ tên như vẽ ra:

          Đầu cành Mai mới điểm hoa;
          Non sông bốn bể đâu mà chẳng Xuân?

          Sau đó tỉnh báo cáo lên Thống sứ rằng đây chỉ là một hoạt động tôn giáo,
          không nên ngăn cấm. Vì thế mà bản kinh in xong vào mùa Đông năm 1923 được phát hành ở Bắc kỳ, rồi sau đó được phát hành bằng quốc ngữ ở Nam kỳ. Các mùa Hè năm 1924, 1925, 1926 ông Nguyễn Ngọc Tỉnh đều được Đồng Lạc Khuyến Thiện đàn ở Nam Định nời đến giảng kinh Đạo Namcho tín đồ của đàn ấy nghe. Nhưng đến năm 1929, trong cuộc đàn áp dối với các đảng bí mật tiến hành ở khắp bắc kỳ, chính quyền mới soát nhà mà tịch thu tất cả bản kinh còn lại và các tấm ván in để huỷ đi và bắt đàn chủ là ông Nguyễn Đức Kinh và chủ bút là ông Nguyễn Ngọc Tỉnh làm án giám.” (Sđd tr.200-224)

          Như vậy là, các Thiện đàn trong suốt quá trình hoạt động của mình luôn gặp phải sự dò xét của thực dân Pháp và quan lại phong kiến Nam triều. Có một thực tế là chính nhờ vào hình thức giáng bút, như một hoạt động mê tín dị đoan, các bài hát bài thơ yêu nước thương nòi và nặng lòng với văn hoá dân tộc đã được lưu truyền. Các thành viên của các phong trào yêu nước đấu tranh cách mạng cũng nhờ đó mà thoát khỏi sự rình rập và đàn áp của kẻ thù.

          2. Thiện đàn

          2.1 Những thiện đàn có in ấn và lưu truyền thơ văn giáng bút

          Dựa và các tài liệu như: Hồi ký của Gs Đào Duy Anh, các bản sách thơ văn giáng bút hiện còn tại thư viện Hán Nôm và một số tài liệu ghi chép điền dã, chúng tôi cung cấp một danh sách các thiện đàn có in ấn và lưu truyền thơ văn giáng bút. Thiện đàn là nơi giảng thiện, tuyên truyền yêu nước, một cơ sở tôn giáo tâm linh, nhưng cũng chính là cơ sở ấn loát thơ văn giáng bút. Xem Phụ lục 2.

          2.2 Thiện đàn với cuộc vận động ái quốc

          Vận động ái quốc, trước hết các nhà yêu nước kêu gọi lòng thương yêu của những người cùng nòi giống, mà ở đây cụ thể là giống da vàng con Lạc cháu Hồng cùng chung một bọc. Các thiện đàn thường tổ chức các buổi giảng kinh, các bản kinh này thường là có được sau khi xin được của mộth vị thần thánh nào đó. Thời gian đầu các vị thánh giáng bút thường là các danh thần võ tướng các thần linh của thần điện Trung Quốc, song càng về sau các vị thần giáng đàn lại là các vị danh thần võ tướng các thần linh trong thần điện Việt Nam như Tản Viên Sơn Thánh, Liễu Hạnh Công chúa, Phùng Khắc Khoan, Tô Hiến Thành, Bà Triệu, Hai Bà Trưng, các Thánh Mẫu,…

          Những năm đầu thế kỷ này, trước tình hình bị giặc Pháp đàn áp nặng nề, một số cơ sở vận động yêu nước tại Hà Nội và các đô thị phải chuyển về vùng nông thôn phụ cận. Một trong những cơ sở có hoạt động mạnh là Văn Hiến đường ở làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng (Hà Tây). Văn Hiến đường hoàn thành vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1909), là nơi thờ Thái uý Tô Hiến Thành và các vị tiên hiền của làng. Thực ra thì trước đó, vào năm 1907, Thiện đàn ở đây đã cho khắc in bộ sách Cổ kim truyền lục đề tuyên truyền vận động yêu nước. Bộ sách gồm 4 tập Nguyên - Hanh - Lợi - Trinh với gần 400 bài thơ văn, bao gồm nhiều thể loại, viết bằng chữ Hán, do tập thể tác giả đều là người địa phương sáng tác. Văn Hiến đường hiện có đôi câu đối về việc giáng bút và khắc in kinh:

          Kinh điển bản tàng Tiên hiền giáng bút thuỳ kinh điển
          Cổ kim truyền lục Vãng thánh di thư diệu cổ kim
          (Kinh điển bản khắc Tiên hiền giáng bút còn lưu truyền kinh điển
          Cổ kim truyền lục Thánh hiền di cảo sáng cổ kim)

          Tại Hạ Mỗ, không chỉ Văn Hiến đường là nơi có giáng bút mà giáng bút còn được tổ chức trong chùa Hải Giác nữa. Và Cổ kim truyền lục chính là tập thơ văn được tập hợp sau gần 4 tháng giáng bút. Về cách phát hành thì phát cho mọi nhà, biếu tặng các nơi với mục đích: Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ (sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn. Văn Hiến đường cũng còn là nơi bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tháng 4 năm 1996, khi về Hạ Mỗ để lấy tài liệu viết bài cho Hội thảo về danh nhân Tô Hiến Thành, chúng tôi còn thống kê được 14 tên sách / bộ sách Hán Nôm tại Văn Hiến đường: như: Thiên ất chân kinh (in, Bảo Đại 8), Văn Xương đế quân cứu kiếp bảo sinh kinh (in, 1911), Ngọc Hoàng chân kinh (viết tay), Ngọc Hoàng phổ độ tôn kinh (2 bản in, Bảo Đại 8), Liệt thánh bảo cáo (in), Ngũ phúc kinh. Tập Ninh (in), Tâm pháp thiết yếu chân kinh (2 bản in, Bảo Đại Mậu Thìn), Bảo huấn hợp thiên (in, Tự Đức Bính Tý), Lã Tổ trung hiếu cáo (in, Thành Thái ất Tỵ), Dược sư kinh,...

          Thơ văn giáng bút đã được lưu truyền khá rộng rãi trong nhân dân vùng xứ Đoài. Hình thức lưu truyền quảng bá thơ văn yêu nước trong khuôn khổ của một hình thức của tôn giáo, và nhất lại là trong bối cảnh xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám đã gây ảnh hưởng lớn và có hiệu quả rõ rệt.

          2.3 Thiện đàn với công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc

          Đóng góp của các thiện đàn trong công cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc là một đóng góp quan trọng của các thiện đàn. Đóng góp này thể hiện trên hai khía cạnh : Xây dựng, giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống và Tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá, in ấn các kinh sách.

          Xây dựng và giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống là một yêu cầu của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trước hết là sinh hoạt của thị dân ở đô thị.

          Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã đặt xong nền đô hộ lên Bắc Kỳ, Trung Kỳ.

          Sự phân hóa giai cấp diễn ra nhanh chóng trong toàn bộ xã hội. Luân lý cổ truyền cùng các giá trị đạo đức truyền thống rạn nứt trước sự xâm thực của văn minh phương Tây. Nhiều tỉnh lỵ, huyện lỵ được mọc lên bên cạnh những trục đường giao thông lớn nhỏ, kéo theo quá trình “âu hóa” rất mãnh liệt.

          Ở nông thôn bộ máy lý dịch đã trở nên tha hóa. Bức tranh nông thôn Việt Nam trong suốt thời gian hàng thế kỷ là một khoảng tối tăm với một đời sống khổ cực và những áp bức nặng nề của bộ máy cường hào, lý dịch.
          Trong tình hình xã hội như vậy việc gióng lên tiếng trống thức tỉnh cách mạng, kêu gọi chấn chỉnh nếp sống theo mẫu mực truyền thống là một công việc có ý nghĩa.

          Các thiện đàn đã mọc lên ở khắp mọi nơi và hoạt động khá sôi nổi trong cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc. Các buổi giảng thiện được thực hiện đúng theo lịch đã định sẵn, có đông đảo nhân dân tham dự. Việc tu bổ và tôn tạo các di tích được nhiều người hưởng ứng, và rất nhiều văn bia hiện đặt trong các di tích đã ghi lại việc sửa chữa, tôn tạo này.

          2.4 Đền Ngọc Sơn - trụ sở Hội Hướng Thiện, cơ sở in ấn tàng bản và công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc

          Trong số các thiện đàn đã biết thì đền Ngọc Sơn là một cơ sở tiêu biểu nhất. Đền Ngọc Sơn không những là một cơ sở được thành lập sớm nhất, có đóng góp toàn diện nhất, là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất, mà còn có vai trò như là một trung tâm có sức lan toả rất lớn, trong phạm vi khắp cả đông bằng châu thổ bắc bộ, nếu không muốn nói là trong cả miền bắc.

          Theo bài văn bia Ngọc Sơn đế quân từ ký do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1843 thì đền Ngọc Sơn do hội Hướng Thiện tạo dựng năm 1842. Ngoài mục đích thờ thần thánh, đây còn là nơi cho “sĩ phu kết bạn với nhau yêu cảnh này, vì mến tên hồ này việc tu dưỡng, du ngoạn, nghỉ ngơi đều có nơi có chốn”.

          Từ sự thống nhất trong hội Hướng Thiện, chủ trương chấn hưng văn hoá của Hội được các nhà khoa bảng có uy tín trong hội và khắp Hà thành tán dương và coi là mục đích cao nhất của hội. Việc đầu tiên mà các nhà Nho hướng đến là hướng dẫn cho mội người tu dưỡng chính bản thân mình, trước hết là ngay là sự chính tâm (ngay thẳng) và ngăn chặn những dục vọng xấu nảy sinh trong ngay chính lòng mình.

          Đền Ngọc Sơn đã được biến thành một giảng đàn là nơi mà đều đặn vào các ngày 2 và 16 âm lịch hàng tháng hội tổ chức giảng thiện. Cũng tại đây đã tiến hành các buổi giáng bút để xin những lời dạy của Thánh nhân qua một người trung gian. Các bản kinh in ở đền Ngọc Sơn đại bộ phận đều là các kinh giáng bút bằng chữ Hán, ghi lời giáng bút của các vị thần thánh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Quan Thánh Đế Quân, Văn Xương Đế Quân. Tuy nhiên, nội dung lời văn của các bản kinh này lại rất phù hợp với tôn chỉ mục đích của Hội như: Tự giác ngăn ngừa các thói tham lam, độc ác, dâm loạn, gian dối..., khuyên hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng người trên, thương kẻ khốn cùng, chuyên cần học tập, chăm chỉ làm ăn...Mượn lời dạy của thần tiên nhưng các bản kinh được in tại đền Ngọc Sơn không hề đưa lại một tinh thần xuất thế, lảng tránh cuộc đời thực mà ngược lại lại rất tích cực. Và có lẽ cũng chính vì thế, các kinh văn giáng bút được in ra ở đây được lưu truyền rất rộng khắp trên nhiều địa phương cho tới tận Cách mạng Tháng Tám 1945.

          Một khía cạnh khác trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc của hội Hướng Thiện ở đền Ngọc Sơn là tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá. Tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, hội Hướng Thiện đã tôn tạo Trấn Ba đình, trùng tu đền Ngọc Sơn, xây Tháp Bút và Đài Nghiên...

          Khu vực Hồ Gươm có được khuôn mặt như ngày nay là do những lần tu bổ tôn tạo này. Không những thế, với tình cảm yêu mến Thăng Long, các nhà nho trong hội Hướng Thiện còn sáng tác biết bao áng văn thơ đề vịnh trên những di tích danh thắng Hà Nội.

          Nói đến đền Ngọc Sơn, là nhắc đến là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất trong suốt khoảng 100 năm (1845–1945). Vậy trong khoảng 100 năm ấy tại đền Ngọc Sơn đã có bao nhiêu bộ sách ra đời và đi vào đời sống xã hội? Mới đây, trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (2000) có bài của Vương Thị Hường đề cập đến vấn đề này. Dựa vào hai cuốn sách Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục (A.1116), Cao Vương kinh chú giải (AC.438) tác giả bài viết cho chúng ta biết danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn gồm 246 tên sách (mỗi tên sách có thể là một bộ với nhiều cuốn) thuộc nhiều môn loại khác nhau như tôn giáo, văn học, sử học,…

          Có một điều đáng chú ý là khi chúng tôi khảo sát các sách in kinh giáng bút thì thấy có hiện tượng một số nơi (các thiện đàn) đã mượn ván in kinh giáng bút của đền Ngọc Sơn về in và phát hành.

          Như vậy là trong suốt một trăm năm đền Ngọc Sơn đã là một cơ sở in ấn tàng bản lớn của cả vùng châu thổ Bắc bộ, nơi đặt trụ sở của hội Hướng Thiện với các hoạt động thiết thực trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc. Cũng chính vì lẽ đó mà cuối năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã đến thăm hội Hướng Thiện, trò chuyện với các hội viên của hội và căn dặn: “Các cụ đã cao tuổi mà vẫn còn giảng Thiện cho bà con theo, thế là rất quý. Tôi xin phép gợi thêm vài ý. Tôi nghĩ điều Thiện lớn nhất là yêu nước, yêu dân chủ, điều ác lớn nhất là xâm lược, áp bức. Tôi đề nghị các cụ khi giảng Thiện nên chú ý khuyên đồng bào bảo vệ độc lập, tự do và tăng gia sản xuất, xây dựng dân chủ” (Theo báo Nhân dân, 22-8-1990).

          3. Giáng bút

          3.1 Thống kê tác phẩm: Xem Phụ lục 1

          3.2 Nội dung thơ văn giáng bút

          Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đâù thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc.

          3.2.1. Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi

          Đây là một chủ đề lớn của thơ văn giáng bút nói riêng và thơ văn yêu nước cách mạng nói chung.Trong thơ văn giáng bút, điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:

          􀂃 Giáng bút lời của các vị anh hùng liệt nữ của dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Hai Bà Trưng, Bà Triệu,…

          􀂃 Giáng bút lời của các vị thần tiên trong thần điện Việt Nam như: Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh Công chúa, Từ Đạo Hạnh,…

          􀂃 Giáng bút lời các tiên nho, các nhà văn hoá của Việt Nam như: Tô Hiến Thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan,…

          Ngoài ra thơ văn giáng bút còn nhắc nhớ thúc giục lòng yêu nước, thương yêu giống nòi, thấy được nỗi nhục của dân mất nước.

          3.2.2. Chấn hưng văn hoá dân tộc, xây dựng nếp sống mới

          Về nội dung này, thường được biểu hiện như sau:

          􀂃 Đề cao việc nâng cao dân trí
          􀂃 Bài bác hủ tục
          􀂃 Đề cao phụ nữ (giáng bút lời Thánh mẫu cho phụ nữ)
          􀂃 Khuyên sống lương thiện, thương yêu đùm bọc nhau
          􀂃 In ấn kinh sách về tôn giáo, lịch sử, văn học, ngôn ngữ

          3.3. Hình thức và Nghệ thuật thơ ca giáng bút

          3.3.1. Hình thức

          * Về mặt văn tự

          Thơ ca giáng bút chủ yếu viết bằng chữ Nôm – một sáng tạo của người Việt Nam, dùng ký tự Hán để ghi âm Việt nên không gặp trở ngại về mặt văn tự đối với người bình dân nhất là trong việc truyền miệng. Ta biết rằng, trong khi triều đình nhà Nguyễn tổ chức Nhà nước và các thiết chế văn hoá theo Nho giáo rập khuôn nhà Thanh Trung Quốc, thì trong dân gian, tư tưởng và văn chương bình dân lại dường như cũng có một sức sống riêng. Ví dụ rõ nhất là khắp các nơi trong nước hàng loạt các hiệu, đàn, trai, đường, lâu,… đã ra đời làm nở rộ nghề in. Tại các nhà in này, mảng truyện Nôm đặc biệt phát triển so với trước đó. Thời kỳ này ngoài việc tái bản nững cuốn cũ còn có thêm nhiều đầu sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần người dân.

          Riêng cuốn Phạm Công – Cúc Hoa, từ năm 1907 đến năm 1936, được in cả thảy 15 lần (trong phạm vi cả nước). Đặc biệt là Truyện Kiều được in cả thảy là 32 lần. Trong số 25 lần in có ghi rõ thời gian và nhà tàng bản thì có tới 16 lần được in tại Hà Nội.

          Về việc sử dụng chữ Nôm và chữ Hán trong một tài liệu giáng bút, chúng ta ghi nhận một số điều sau: Có cuốn toàn Nôm, có cuốn là Hán xen Nôm. Văn giáng bút chữ Hán thường là giáng bút của các vị thần linh Trung Quốc, hoặc các vị Nho học, hoặc hướng đến đối tượng là người có chữ nghĩa. Văn giáng bút chữ Nôm, ngược lại, thường là giáng bút của các vị thần linh Việt Nam, hoặc là các thánh mẫu, hoặc dành cho đối tượng là đông đảo tầng lớp bình dân. Một vấn đề khác, văn giáng bút chữ Nôm bao giờ cũng có độ dài dài hơn các bài giáng bút bằng chữ Hán. Còn về thể loại, văn giáng bút Nôm thường chọn các thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát, hoặc các thể thơ có khả năng diễn đạt phong phú nhiều nội dung.

          Thơ văn giáng bút, để đạt được mục tiêu phát hành và tuyên truyền như trong lời nói đầu bộ Cổ kim truyền lục là: “Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ” (Sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn) thì nhất định phải dùng chữ Nôm.

          * Về mặt thể loại

          Thơ văn giáng bút nhằm đến nhiều đối tượng khác nhau, với mỗi loại đối tượng đã dùng các thể thơ khác nhau.

          Các tài liệu giáng bút thường ghi rất rõ về thời điểm giáng bút (giờ, ngày, tháng, năm) và thậm chí có tài liệu còn ghi rõ bài thơ văn giáng bút này là dành cho ai quê quán ở đâu. Ví dụ trong cuốn Bản thiện kinh (AB.355) có ghi tường tận như vậy.

          Phù hợp với từng đối tượng, từng nội dung tuyên truyền, về mặt hình thức, đã có các thể thơ sau được dùng: Phú, Thơ luật, Lục bát, Song thất lục bát, Phong dao, Hát Xẩm, Từ khúc, Hát nói (Ca trù), Gửi thư (Ca trù), Ngụ ngôn, Tiểu thuyết,…

          * Về việc minh họa

          Tài liệu giáng bút hiện có trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ yếu là sách in mộc bản (226 bản in và 254 bản sách, trong đó có một số bản in kèm hình tranh vẽ).

          Đồ hoạ đã có mặt trong ván in sách Đạo giáo muộn nhất cũng là từ thế kỷ XV.
           
          Trở lại với các văn bản thơ văn giáng bút hiện có tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy có nhiều cuốn có các đồ họa. Thiết nghĩ, rồi đây những đồ họa này sẽ trở thành những tài liệu quý báu cho một công trình chuyên khảo về Đồ họa Đạo giáo nói riêng và Nghệ thuật Đạo giáo nói
          chung.

          Kết luận

          1. Với 98 Thiện đàn hiện biết tại các địa phương trong hầu khắp các tỉnh miền Bắc là nơi có lưu truyền/sáng tác/ in ấn/ tàng bản kinh văn giáng bút cho thấy sự hoạt động sôi nổi của các Hội Hướng Thiện, Thiện đàn trong khoảng một trăm năm từ 1845 đến 1945.

          2. Các Thiện đàn và Hội Hướng Thiện, trong đó tiêu biểu nhất là Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đã có những đóng góp lớn trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc.

          3. Tư liệu về thơ văn giáng bút hiện còn, chỉ tính riêng Thư viện Viện Nghiên cứu
          Hán Nôm đã có 165 tên sách, và nếu tính theo đơn vị ký hiệu (mỗi ký hiệu là một bản) thì có 254 đơn vị. Trong số 254 bản sách, chỉ có 28 bản là sách viết tay, số còn lại, gồm 226 đơn vị là bản in. Thống kê theo niên đại cho biết kinh giáng bút được in nhiều vào các khoảng thời gian: từ 1870–1898 và 1906–1911.

          4. Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các Thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc.

          5. Văn thơ giáng bút càng về sau càng sử dụng nhiều chữ Nôm và các thể thơ ca dân gian để thể hiện các lời dạy dỗ của các thần linh đất Việt. Điều này càng khẳng định chữ Nôm vẫn giữ vai trò nhất định trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, trong khuôn khổ các phong trào yêu nước. Trong hoạt động của mình các thiện đàn đã sử dụng thành công chữ Nôm trong việc kêu gọi lòng yêu nước và chấn hưng văn hoá dân tộc.

          Nguyễn Xuân Diện

          Danh mục tài liệu tham khảo chính
          1. Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu. 3 tập. Gs Trần Nghĩa và Gs Francois Gros đồng chủ biên. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1993.
          2. Nguyễn Văn Huyên: Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam. In tại Nhà in Viễn Đông, Hà Nội, 1944. In lại trong sách Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Tập II. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996. Tr. 135 - 250.
          3. Đào Duy Anh: Nhớ nghĩ chiều hôm. Hồi ký. Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1989. 282 tr.
          4. Nguyễn Thị Nguyệt: Văn giáng bút của Trạng Trình ở đền thờ các vua Trần tại xã Tức Mặc. In trong Thông báo Hán Nôm học năm 1996. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 297-304.
          5. Nguyễn Xuân Diện: Tìm hiểu về Tô Hiến Thành và Văn Hiến đường qua các nguồn thư tịch xưa (tr.148-162). In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Danh nhân Tô Hiến Thành cuộc đời và sự nghiệp. Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây xuất bản, 1999, 216 tr.
          6. Phan Ngọc: Bản sắc văn hoá Việt Nam. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1998, 580 tr.
          7. Phạm Đức Duật: Thơ ca giáng bút và Hồi Thuần chân kinh hạ tập. In trong Thông báo Hán Nôm học năm 1997. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 85-90.
          8. Tảo Trang: Hội Hướng Thiện và đền Ngọc Sơn. Tạp chí Hán Nôm số 4(33) - 1997, tr. 55- 65.
          9. Tân Phong: Thấy gì ở Hạ Mỗ qua bộ Cổ kim truyền lục. Tạp chí Tản Viên Sơn (Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tây) số 8 + 9 năm 1995, tr. 60-61.
          10. Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (cái nhìn hệ thống - loại hình). Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, 670 tr.
          11. Tuấn Nghi - Tảo Trang: Câu đối, hoành phi và đề tự bằng chữ Hán ở đền Ngọc Sơn. Tạp chí Hán Nôm số 1(10) - 1991, tr. 69-79.
          12. Vũ Băng Tú: Về tác phẩm Tô Khê tuỳ bút tập của Tiến sĩ Vũ Tông Phan. Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ văn. Hà Nội, 1998, 197 tr.
          13. Vũ Đình Ngạn - Triệu Triệu: Mượn việc "giáng bút" để lưu hành thơ văn yêu nước. Tạp chí Hán Nôm số 2 (19) - 1994, tr. 65-66.
          14. Vũ Thế Khôi: Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn với sự nghiệp chấn hưng văn hoá Thăng Long. Tạp chí Xưa và Nay số 30, tháng 8 - 1996, tr. 28-29.
          15. Vương Thị Hường: Danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn - Hà Nội. Tạp chí Hán Nôm số 1(42) - 2000, tr. 89-96.
          16. Nguyễn Xuân Diện: Về các tác phẩm thơ văn giáng bút hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. In trong tập Thông báo Hán Nôm học năm 2000. Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản. Hà Nội, 2001. Trang 96-104.
          17. Mai Hồng: Đôi nét về văn thiện đàn (kinh giáng bút). In trong tập Thông báo Hán Nôm học năm 2002. Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản. Hà Nội 2003. Trang 210-218.
          􀂙


          http://sager-pc.cs.nyu.edu/vnpf/Conf2004/Papers/Nguyen_Xuan_Dien_-_Van_tho_Nom_giang_but.pdf
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-03 04:02:50Ngọc Lý>
          .
           
          Chữ Nôm và Tinh thần dân tộc
          Nguyễn Hữu Vinh
           
           
          Tóm lược
           
          Trong lịch sử, việc dùng chữ Hán chính thức trong tầng lớp cai trị đất nước là điều dễ hiểu, nhưng chữ Hán là thứ chữ ngoại lai, nên sự hình thành, phát triển và sử dụng chữ Nôm như là một loại chữ viết thích hợp hơn cho dân tộc là một điều không thể thiếu và bức thiết. Chữ Nôm hình thành từ lúc nào còn đang là đề tài nghiên cứu, nhưng không ai phủ nhận được rằng chữ Nôm đã đơm hoa kết trái bắt đầu từ thời đại nhà Trần huy hoàng trong lịch sử ở thế kỷ thứ 13.
           
          Chữ Nôm và sự phát triển các tác phẩm Nôm biểu hiện rõ rệt sự lớn mạnh về ý thức tinh thần quốc gia dân tộc. Ý thức này không tùy thuộc vào sự biến đổi của vương triều vua chúa. Dù triều đại đổi thay nhưng nền văn học chữ Nôm vẫn lớn mạnh theo ý thức tinh thần quốc gia dân tộc. Qua một thời gian rất dài trong lịch sử chữ Nôm, dù chính là phương tiện cần thiết của các tầng lớp nhân dân trong xã hội ta, chữ Nôm chỉ lưu hành rộng rãi trong dân gian, nhưng chưa được điển chế để trở thành chữ viết chính thức của quốc gia. Rõ ràng sau mỗi lần đương đầu với ngoại xâm thì chữ Nôm lại phát triển mạnh. Sau khi đánh đuổi được quân Minh thì nền văn học Nôm cũng lớn mạnh thêm lên, điển hình là Nguyễn Trãi với Quốc Âm Thi Tập. Sau khi nhà Thanh bị đánh bại, thì chữ Nôm lại được trọng dụng vào thời Tây Sơn. Trong thời gian dài không có ngoại xâm thì chữ Nôm là phương tiện truyền đạt tình cảm, và sinh hoạt làng xã. Với ý thức hệ "phép vua thua lệ làng" thì dù tầng lớp vua chúa có ép buộc chăng nữa, như chúa Trịnh đã có lần cấm đoán, chữ Nôm vẫn có môi trường bành trướng mạnh mẽ.
           
          Ý thức quốc gia cũng thấy rõ rệt trong việc cải tiến chữ Nôm qua suốt thời kỳ từ Trần cho đến thời Nguyễn. Vào thời Trần và các thời đại về sau như Lê sơ, Mạc thì chữ Nôm vẫn còn dùng rất nhiều chữ giả tá, nghĩa là chữ Nôm mượn hình dáng chữ Hán có sẵn để ghi âm Nôm, nhưng đến thời sau này thì số lượng chữ Nôm giả tá giảm nhiều trong lúc loại chữ Nôm hình thanh, là loại chữ có một không hai của Việt Nam thì cứ tăng dần rõ rệt. Nhìn từ phía cấu trúc chữ Nôm, những phép cấu tạo chữ của chữ Nôm đã vượt qua khỏi phép Lục thư của chữ Hán, đã nói lên sự cố gắng tạo chữ đặc thù khác với phương pháp dùng cho chữ Hán, mang một tinh thần dân tộc riêng chứ không nhất nhất đều phải rập theo khuôn khổ chữ Hán.
           
          Với bối cảnh lịch sử mới vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm lùi bước nhường cho chữ Quốc ngữ. Vì tính cách dễ học, dễ nhớ, so với chữ Nôm khó học, khó nhớ nên dễ dàng được chấp nhận. Trong quan niệm thông thường, đó không phải là hai loại chữ Pháp và chữ Hán ngoại lai, lại là phương tiện nhanh chóng để nâng cao dân trí, cho nên sự việc chữ Nôm tàn lụi cũng phù hợp với tinh thần dân tộc.

          Qua đầu thế kỷ 21, với kỹ thuật máy tính mới, chữ Quốc ngữ và chữ Nôm đều được dần dà đưa lên xử lý và hiển thị được trên máy tính. Việc bảo tồn và phát huy tinh thần dân tộc tiềm tàng trong di sản Nôm sẽ có cơ hội phát triển nhanh chóng. Ðây là môi trường thích hợp và là cơ hội tốt cho những ai có lòng hoài bão đến di sản quý báu và đang dần dà bị vùi lấp này.
           

           
          Chữ Hán, chữ Nôm
           

          Từ thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên và cho đến khoảng thế kỷ thứ 10, chữ Hán thâm nhập vào hoạt động văn hóa, tinh thần của người Việt nhờ vào một hoàn cảnh đặc biệt đó là sự truyền bá đạo Phật. Có thể nói, vì do việc hấp thụ giáo lý đạo Phật nên việc học tập chữ Hán trong giai đoạn này là điều cần thiết. Ðến thế kỷ thứ 10 về sau, khi Nho giáo truyền vào Việt Nam, nếu như trong giai đoạn trước việc học tập chữ Hán chủ yếu dùng để hiểu biết giáo lý, tra cứu kinh điển của đạo Phật thì sau này việc học tập chữ Hán trở thành một nhu cầu chính thống và rộng rãi, không những chỉ dùng để ghi chép các công việc quản lý hành chính mà nó còn có vai trò quan trọng trong hệ thống thi cử nho học xưa kia. Sự kiện quan trọng trong quá trình du nhập của Nho giáo đó là việc được ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư "Năm Canh Tuất, niên hiệu Thuần Vũ thứ hai năm 1070 đời Lý Thánh Tông, mùa thu tháng tám cho xây Văn Miếu, dựng tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng 72 người hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây". Việc cho xây dựng Văn Miếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và sử dụng chữ Hán. Từ đó, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính thức trong gần 1000 năm, kể từ năm 1075 sau khi vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Nho học đầu tiên, cho đến năm 1919 là năm mở khoa thi cuối cùng ở Huế.
           
          Việc dùng chữ Hán chính thức trong tầng lớp cai trị đất nước là điều dễ hiểu, nhưng chữ Hán là 1 loại chữ ngoại lai, không thích hợp với đại đa số dân chúng dùng để biểu đạt ý tưởng trong cuộc sống thường ngày. Ngay cả trong cung đình, nơi tập trung các quan lại văn hay chữ tốt, chữ Hán là công cụ chính thức để truyền đạt tư tuởng, nhưng cũng không phải là không gặp trở ngại. Sự việc vua Trần Nhân Tông dùng quan Hành Khiển để dịch những lời truyền dụ của vua quan cho dân chúng thì rõ. Sau khi đại thắng quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông tuyên cáo cho dân chúng biết, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi rằng … Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho quan Hành Khiển để giảng tập trước. Đến khi tuyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu… 
           
          Sau này, Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) trong "Tế cấp bát điều ", có nêu rõ sự bất tiện của chữ Hán và đề nghị dùng chữ Nôm như chữ chính thức. Gần hơn nữa, Tuy Lý Vương, một nhà Hán học, văn hay chữ tốt, nhưng cũng ý thức được sự tiện lợi trong việc truyền đạt tư tưởng bằng chữ Nôm cho quần chúng nên đã viết "Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ" bằng chữ Nôm. Cũng như Hường Nhung, con của Tuy Lý Vương đã viết "Việt Sử Tứ Tự Ca", tóm tắt sử Việt bằng chữ Nôm với lời văn đơn giản để cho con cháu hiểu biết được một cách dễ dàng và nhanh chóng.
           
          Chính vì chữ Hán là thứ chữ ngoại lai, nên sự hình thành, phát triển và sử
          dụng một loại chữ viết thích hợp hơn cho dân tộc là một điều không thể thiếu và bức thiết. Do vậy chữ Nôm xuất hiện song song với sự phát triển việc dùng chữ Hán. 

            
           
          Tinh Thần dân tộc thúc đẩy chữ Nôm ra đời


          [size=2]Chữ Nôm là một sáng tạo rất có ý nghĩa của tổ tiên cha ông ta. Sự xuất hiện của chữ Nôm là một sự kiện lớn đánh dấu sự tiến triển của nền văn hóa của dân tộc trong gần 2000 năm qua. Sự hình thành của chữ Nôm có thể do sự bức bách cần thiết trong việc giáo hóa dân chúng ở vào thời đại xa xưa, Văn Ða cư sĩ (1) cho rằng Nhâm Diên đã dùng chữ Nôm trong công việc giáo hóa quần chúng. Càng về sau, mỗi lần đất nước bị kẻ thù phương Bắc xâm lược thì trong những thời kỳ đó, chữ Nôm lại đóng vai trò tích cực hơn trong việc chống trả ngoại xâm và xây dựng đất nước. Có người căn cứ trên hai chữ Bố Cái cho rằng chữ Nôm có từ thời Bố Cái Ðại Vương Phùng Hưng. Có người căn cứ trên ba chữ Ðại Cồ Việt để cho rằng Nôm có từ thời Ðinh Tiên Hoàng. Ðào Duy Anh cho rằng chữ Nôm có thể hình thành ngay vào lúc họ Khúc dấy nghiệp (8), rồi dần dà phát triển mạnh ở các thời đại về sau. Cho đến hôm nay, nguồn gốc và diễn biến của chữ Nôm vẫn là chuyện tồn nghi.

          Keng Hui Ling (17) cho rằng từ đời Tần cho tới thời trước khi loạn 12 sứ quân thì xã hội Việt Nam thời đó nằm trong khuôn khổ chính trị, tập quán, văn hóa của Trung Quốc. Những khởi nghĩa chống lại Trung quốc cũng chỉ lẻ tẻ. Các phần tử trung kiên của xã hội vẫn một lòng chấp nhận văn hóa, tập quán, phong tục của Trung Quốc, nhưng đến thời Ngũ Ðại với loạn 12 sứ quân thì sự việc đã bắt đầu đổi khác. Sự khống chế từ phương Bắc yếu dần thì các thế lực địa phương bắt đầu lớn mạnh. Tuy nhiên, sự phân ly giữa các thế lực này đối với phương Bắc cũng chỉ nằm trong vòng tranh dành quyền thế ở địa phương chứ chưa chính thức có ý thức tinh thần dân tộc và ý thức quốc gia rõ rệt. Ðợi khi tới đời Ðinh, Lý thì mới thực sự hình thành khái niệm ý thức quốc gia. Việc định đặt quan chế, xây dựng kinh đô vào thời nhà Lý đã tăng mạnh thêm ý thức quốc gia. Ðạo Phật lớn mạnh vào thời Lý làm cho ý thức này lan rộng vào cả toàn dân. Cuối cùng, đời Trần thừa hưởng di sản đó, ý thức quốc gia bắt đầu vững mạnh thêm. Ðây chính là lúc đất nước xây dựng tất cả mọi mặt. Song song với sự tiến triển của xã hội Việt Nam do sự tiếp thu và sử dụng chữ Hán trong tầng lớp quan lại thì chữ Nôm đóng vai trò truyền đạt văn hóa trong dân gian một cách hữu hiệu và xác thực hơn.
           
          Cheng Chin Ho (6) cho rằng chữ Nôm chỉ có thể được hình thành vào khoảng thời gian khi đất nước thoát khỏi ách thống trị của phương Bắc.
           
          Năm 1975, Ðào Duy Anh phát hiện ra chứng cứ xưa nhất về chữ Nôm được sử dụng đó là việc tìm thấy vết tích của tấm bia của vua Lý Cao Tông (8). Ðây là một chứng cứ xác đáng nhất chứng minh việc chữ Nôm ảnh hưởng rõ rệt vào đời sống trong dân gian. Rồi sau đó phát triển khá vững vàng vào thế kỷ 13, điển hình là có các bài phú chữ Nôm của Trần Nhân Tông còn để lại như là Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca", "Cư Trần Lạc Ðạo Phú" và "Vịnh Vân Yên Tự Phú" trong bản in "Thiền Tông Bản Hạnh".
           
          Năm 1932, Văn Hựu (5), nhà nghiên cứu chữ Nôm nổi tiếng ở Trung quốc cho rằng chữ Nôm chỉ có thế phát triển một cách hoàn hảo sau khi hệ thống loại chữ Khải của chữ Hán ra đời, chính là vào khoảng thời gian trong triều đại Lý, Trần của Việt Nam.
           
          Nguyễn Tài Cẩn (10) dưới mắt ngữ âm học lịch sử nhìn sự liên quan giữa vần và thanh điệu của âm Hán Việt với âm Nôm kết luận rằng "Loại chữ Nôm hiện có là là một loại chữ không thể nào hình thành đồng thời hay sớm hơn thời Sĩ Nhiếp. Chỉ từ thế kỷ 8, 9 trở đi, nghĩa là sau khi hệ thống phát âm Ðường, Tống ghi trong Thiết Vận, Quảng vận đã các lập được ở Việt Nam (hệ thống này về sau sẽ diễn biến dần và chuyển thành cách đọc Hán Việt hiện nay) thì loại Nôm mà chúng ta hiện thấy mới thực sự có đầy đủ tiền đề cần thiết để xuất hiện".
           
          Bửu Cầm 1960 (7) cho rằng chữ Nôm có thể hình thành trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 10, thời kỳ mà xã hội Việt nam đang manh nha tư tưởng và hành động đấu tranh dành độc lập. Bửu Cầm nhấn mạnh rằng "chữ Nôm xuất hiện sau thời Sĩ Nhiếp và phát triển mạnh mẽ vào thời Trần". Dù vấn đề chữ Nôm hình thành từ lúc nào còn đang là đề tài nghiên cứu, nhưng không ai phủ nhận được rằng chữ Nôm đã đơm hoa kết trái bắt đầu từ thời đại nhà Trần ở thế kỷ thứ 13. 
          [/size] 


          Tinh Thần dân tộc
           nhìn từ phía cấu trúc của chữ Nôm
           

          Từ khi vấn đề chữ Nôm được Cheon đưa ra nghiên cứu vào năm 1905 (5) cho đến đầu thập niên 70, những nhà nghiên cứu nổi tiếng như Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Vương Lực, Chen Ching Ho, Văn Hựu, Trần Văn Giáp, Ðào Duy Anh, Bửu Cầm, Vũ Văn kính v.v đều cho rằng chữ Nôm đã sử dụng 3 phương pháp tạo chữ trong 6 phương pháp (Lục Thư) tạo chữ của chữ Hán, đó là ba phép Giả tá, Hình thanh và Hội ý. Chen Chin Ho năm 1949 (6) cũng đã phân loại cấu trúc chữ Nôm theo ba loại là Giả tá, Hình thanh và Hội ý. Trong đó Chen cho rằng có ba loại Giả tá, hai loại Hình thanh và đưa ra năm chữ Hội ý. Trước đó, Dương Quảng Hàm (3) năm 1942 cho rằng có năm loại Giả tá, hai loại Hình thanh và đưa ra một chữ Hội ý. Sau này, Ðào Duy Anh (8) năm 1975 giải thích chi tiết hơn năm loại Giả tá, hai loại Hình thanh và chỉ đưa ra sáu chữ Hội ý. Các cách phân chia trên có thể nói là đã bao gồm hầu hết các loại chữ Nôm. Tuy nhiên trên thực tế, còn có nhiều loại chữ Nôm có cách cấu trúc đặc biệt thì cả ba phép tạo chữ này đòi hỏi linh động hơn khi giải thích sự cấu tạo của chữ. Ví dụ như loại chữ Nôm mà các thành tố của chữ đều mang tính cách biểu âm như Sãi , Ba , v.v Ngoài ra, còn có rất nhiều loại chữ Nôm đặc biệt như loại mang âm Việt cổ, hoặc chữ bị viết giản nét hoặc dùng một chữ Nôm khác làm thành tố biểu âm thì ba phương pháp này hơi gặp lúng túng trong sự giải thích sự cấu tạo chữ. Chữ Nôm trong thời kỳ mới phôi thai, phép giả tá được sử dụng rất nhiều, phép hình thanh thì càng về sau này càng được sử dụng rộng rãi. Theo Chen Ching Ho (6) thì tỷ lệ chữ Hội ý chỉ chiếm khoảng 2% mà thôi. có nhiều loại chữ Nôm có cách cấu trúc đặc biệt thì cả ba phép tạo chữ này đòi hỏi linh động hơn khi giải thích sự cấu tạo của chữ. Ví dụ như loại chữ Nôm mà các thành tố của chữ đều mang tính cách biểu âm như Sãi , Ba 
           
          Sau thập niên 70, các nhà nghiên cứu Nôm nhận thấy những mô hình cấu tạo chữ Nôm thời trước đã nêu vẫn chưa được hoàn hảo để giải thích nhiều trường hợp đặc biệt, nên đã đi sâu hơn như là tìm hiểu sự liên quan giữa âm Nôm của toàn chữ với âm Hán Việt của thành tố biểu thị âm đọc, hay là dựa trên những phương pháp ngữ âm học lịch sử, hoặc là chia chữ Nôm ra thành loại "có âm đọc" và "không có âm đọc". Trước hết, Nguyễn Tài Cẩn (10) năm 1976, đưa ra mô hình cấu trúc chia chữ Nôm ra bảy loại dựa trên căn bản chữ "mượn Hán" (A, B, C) gồm chữ Hán Việt, gốc Hán Việt, viết tắt, giả tá và loại chữ "Sáng tạo" (D, E, F, G) trong đó gồm chữ hình thanh, hội ý, viết tắt, dấu nháy và âm Việt cổ. Công trình nghiên cứu và mô hình của Nguyễn Tài Cẩn dẫn đến các công trình nghiên cứu khác sau này với những lối nhìn khác hơn và chi tiết hơn. Lê văn Quán (2) năm 1981 đưa ra mô hình giải thích mới trong đó chữ Nôm được chia ra thành 14 loại, 6 loại đầu (A, B, C, D, E, F) thuộc nhóm chữ dựa trên chữ Hán hiện có, còn 8 loại sau (G, H, I, K, L, M, N) thuộc nhóm chữ "Sáng tạo" gồm chữ hình thanh, hội ý, viết tắt, dấu nháy và âm Việt cổ. Sau này Nguyễn Ngọc San (2) năm 1988 dựa vào âm đọc chia chữ Nôm ra 14 loại trong đó chỉ có 4 loại là trực tiếp mượn âm Hán Việt. Với ba mô hình giải thích cấu tạo chữ Nôm của ba học giả nói trên cho thấy sự đa dạng của cấu trúc chữ Nôm không những chỉ đơn thuần gồm ba loại Giả tá, Hình thanh và Hội ý căn bản thường thấy mà còn nhiều loại chữ có cấu trúc đặc biệt, nói lên sự đa dạng và phong phú của âm Nôm hơn âm tiếng Hán. Ðể nói lên tính cách đặc biệt khác hẵn với phương cách tạo chữ của chữ Hán, chúng ta thử xem những loại chữ đặc biệt sau đây. 
            
          1. Chữ Nôm có dấu nháy 
           

          Là loại chữ Nôm sử dụng những ký hiệu đặc biệt như là nháy cá , dấu &lt; v.v. Những ký hiệu này lưu ý người đọc phải đọc âm Nôm hơi khác với âm của chữ Hán. Ví dụ:
           
          Chữ Tóc.
          - 嶤事変饒平、茹兀官清冷女畑。Thời nghèo sự biến nhiều bằng tóc, Nhà ngặt quan thanh lạnh nữa đèn (Quốc Âm Thi Tập, PKNB, 1868, b. 46, c. 5-6). 
           
          2. Chữ Nôm âm Việt cổ 
           

          Là loại chữ Nôm sử dụng những chữ Hán như 巴, , , , , 司 v.v đểghi âm tiếng Việt cổ. Ví dụ:
           
          Chữ Trăng
          - 羨簾台箒括、掑矯畑拞。 Gió tạm rèm thay chổi quét, Trăng kề cửa kẻo đèn khêu (Quốc Âm Thi Tập, 1868, b. 67, c. 3-4).
           
          Chữ Trước
          - 𢽼㗂𧍝月淶厔、行蕉𣳪外軒。 Và tiếng dế nguyệt rơi trước chái, Một hàng tiêu gió rải ngoài hiên (Chinh Phụ, CTĐ, 1815, c. 221-222).
           
          Chữ Lời
          -
          裊空實如𠅜時些仕啀昌眉𠫾朱當。 Nếu không có thật như lời thì ta sẽ nhai xương mày đi cho đáng. (Chuyện Đời Xưa, ADM, 1888, t.16).

          3. Chữ giả tá Nôm 


          Là loại chữ Nôm được cấu tạo bởi một chữ Nôm khác cùng âm hay tương tự, song ý nghĩa của nó khác hẳn với ý nghĩa với chữ Nôm mượn làm chữ biểu âm. Loại này tương tự loại chữ giả tá Dương quảng Hàm hay Trần Văn Giáp nêu ra, chỉ khác là loại đó dùng chữ Hán để biểu thị âm đọc, còn loại này thì sử dụng chữ Nôm làm chữ biểu thị âm đọc. Ví dụ chữ Non thường dùng để chỉ Núi non, song ở đây lại được dùng để chỉ Non nớt. Cùng một loại như Non, còn có khá nhiều ví dụ khác như "Ðền (mã Unicode= U+212b0) đài" với "Ðền bù", "Sang (U+22028) giàu" với "Sang sông", "đông Ðúc" (U+28bf9) với "Ðúc nồi", "Chín (U+200e9) mười" với "sống Chín" v.v. Ví dụ:
           
          Chữ Non. (Trong thí dụ2, Non là giả tá Nôm)  
          - 基图渚及芒、𡽫秦滝越𢺺塘合散。 Cơ đồ chưa kịp mở mang, Non Tần sông Việt chia đàng hợp tan (Cai Vàng, 1919, c. 189-190). 
          - 茹英固𠄼篙、沒坡於𡧲朱連、悶連辰破坡𠫾、𥡗𡽫穊之連。Nhà anh có ruộng năm sào, Một bờ ở giữa làm sao cho liền, Muốn liền thì phá bờ đi, Mạ non cấy xuống làm chi chẳng liền (Thanh Hóa Quan Phong, Liễu Văn Đường, 1903, t. 21a).
           
          Chữ Sang (Trong thí dụ2, Sang là giả tá Nôm)
          - 隊頭巾誇𠇮、坦浽𨕭𡹡𢀨重冲𧯄。 Vượn đội đầu khăn khoe mình, Đất nổi trên ghềnh sang trọng trong hang (Thiên Nam NgữLục, xxx, XIX, c. 7945-7946). 
          - 悶𢀨辰求橋、悶𡥵辰腰𥙩。 Muốn sang thì bắt cầu kiều, Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy (Nam Phong Giải Trào, Liễu Văn Ðường, 1910, t. 22b).

          4. Chữ Nôm từ chữ Hán viết giản nét

          Thí dụ điển hình nhất là chữ Làm mà phần nhiều các nhà Nôm học cho rằng nó là cách viết giản nét chữ Vi 爲, chữ Phút 丿là giản nét chữ Phân 分.

          5. Chữ Nôm dạng hình thanh với phần chỉ nghĩa là một bộ thủ chữ Hán.

          Chữ hình thanh là một phát minh độc đáo của dân Việt để cấu tạo ra chữ Nôm. Loại chữ này thông thường gồm hai chữ Hán kết hợp với nhau để biểu thị một chữ Nôm, ví dụ. Chữ Ngồi được viết bằng 𡎢, 坐 dùng biểu thịý nghĩa và 外 dùng để chỉ âm đọc. Một trong những cách nới rộng phạm vi tạo chữcủa phép hình thanh là tạo chữ bằng cách kết hợp một chữHán với một phần chữ Hán hoặc là với một bộ thủ chữ Hán. Ví dụ: Chữ Nhớ 𢘾. 
           
          6. Chữ Nôm do chữ hình thanh viết giản nét

          Có thể vì phép hình thanh dạng chính thức làm chữ viết có quá nhiều nét nên khó nhớ, khó viết nên trong quá trình hình thành chữ viết một phần của chữ đã bị cố ý giản lược đi. Ví dụ:

          a) Chữ Nhiều 𡗉, là chữ hình thanh gồm hai chữ饒 (nhiêu) và 多 (đa), nhưng chữ饒 (nhiêu) đã bịl ược bỏ phần bộ食.

          b) Chữ Theo 蹺l à tập hợp của bộ足(Túc) với chữ 燒 (Thiêu) bị lược bỏ phần  bộ Hỏa 火.
          c) Chữ Nổi 浽là tập hợp bộ氵(Thủy) với chữ餒 (nỗi) bịl ược bỏ phần bộThực 食. 
           
          7. Chữ Nôm do ảnh hưởng của chữ cùng đi đôi

          Loại này thông thường mang bộ thủ giống bộ thủ của chữ thường hay đi đôi với chữ. Ví dụ: Chữ Gần thường hay đi đôi với Xa, như Xa Gần nên Gần có bộ thủ là Bối, giống như bộ thủ của Xa, trong khi bộ thủ Bối trong chữ Gần không giúp thêm ý nghĩa gì cho Gần cả. Có thể lượt kê một số chữ có cấu trúc tưong tự như Gần trong Xa Gần (bộ Bối), ví dụ:


          Vội (bộ Kim) vàng
          - 李通𠵌呐欺、鐄𢜠呂阻𧗱悔軍。 Lý Thông nghe nói một khi, Vội vàng mừng rỡ trở về hối quân (Thạch Sanh 853).


          Lăn Lóc (bộ Nhân)
          -
          團無祀洛類夭沃、鬼空頭僯𠆾知誅。 Đoàn vô tự lạc loài eo óc, Quỷ không đầu lăn lóc tri tru (Cô Hồn Văn, 1895, c. 41).


          Gây (bộ Lập) Dựng
          -
          𠀧𡱩𥩯基图、嵬福祿仍哯㗅造化。 Ba thước gươm mong gây dựng cơ đồ, Ngôi phước lộc những hẹn hò tạo hóa (Cai Vàng 215 văn tế).

          Những loại chữ đặc biệt nêu trên, mặc dầu không đi ra ngoài nguyên tắc giả tá, hình thanh và hội ý, song chúng đều mang một tính chất sáng tạo mới  [size=2]mẻ, nói lên sự cố gắng cải tiến chữ Nôm cho thích hợp với hoàn cảnh hơn, góp phần tạo dựng chữ Nôm là 1 loại chữ riêng cho dân Việt.

          Một đặc điểm khác của chữ Nôm chúng ta cần để ý tới là vị trí của bộ thủ hay là phần biểu nghĩa đối với phần biểu âm của chữ. Dù chữ Nôm hoặc là mượn chữ Hán hoặc là chữ Nôm sáng tạo cùng một dạng với chữ Hán thì vị trí của các thành phần nói trên không nhất thiết phải đúng y như là chữ Hán mà hoàn toàn tự do tùy theo ý của người viết, cho thấy sự cấu tạo chữ Nôm tự do hơn chữ Hán. Xem một vài trường hợp dưới đây chứng minh điều đó, ví dụ:

          Chữ Chém có phần biểu nghĩa nằm bên phải thành phần biểu âm.
          -
          𠀧鎮守畱、𣈗更店最存官、椥我椇𨕭𡶨、㕵咹甘苦樊共埃。 Ba năm trấn thủ lưu đồn, Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan, Chém tre ngã gỗ trên ngàn, Uống ăn cam khổ phàn nàn cùng ai (Thanh Hóa Quan Phong, Liễu Văn Đường, 1903, tờ. 24a).


          Chữ Chém có phần biểu nghĩa nằm bên trái thành phần biểu âm.
          - 卞𥙩頭仁宝拁𨖲 Bèn chém lấy đầu Nhân Bảo giơ lên (Thiên Nam Ngữ Lục, câu 4266).


          Chữ Chém có phần biểu nghĩa nằm bên dưới thành phần biểu âm 𠛤 .

          Chữ Chém có bộ thủ vị trí và hình dáng giống y như của chữ Hán.
          -
          怍柴細吶筅命囉𤤰㓠𠫾朱年底網吏𥚄柴。 Sợ thầy tới nói tên mình ra vua chém đi, cho nên để võng xuống lại lạy thầy (Chuyện Đời Xưa, ADM, 1888, t. 44).

          Tóm lại, những phép cấu tạo chữ của chữ Nôm đã vượt qua khỏi phép Lục thư của chữ Hán đã nói lên sự cố gắng tạo chữ đặc thù khác với phương pháp dùng cho chữ Hán, mang một tinh thần dân tộc riêng chứ không nhất nhất đều phải rập theo khuôn khổ chữ Hán.



          Tinh Thần dân tộc
          nhìn từ phía phát triển và sử dụng chữ Nôm
           


          Trần Văn Giáp (13) sau khi phân tích nhiều khía cạnh của chữ Nôm đã đi đến kết luận rằng "chữ Nôm đã lưu hành rộng rãi trên đất nước ta cả ngàn năm nay, từ biên giới Trung Hoa cho đến Hà Tiên đã nêu rõ quá trình lịch sử của chữ Nôm. Nó đã phản ánh được sự phát triển thống nhất của ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc, chứng minh rõ ràng Việt Nam từ Nam chí Bắc, dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất. Chữ Nôm đã đóng vai trò quan trọng trong công việc truyền đạt tư tưởng và văn hóa". Thử xem vua Quang Trung làm thế nào để kích động lòng yêu nước và vai trò của chữ Nôm trong công việc tác động tình cảm của quân dân khi đối đầu với hàng vạn quân Thanh xâm lược. Năm 1788 sau khi được tin quân Thanh tiến sang chiếm cứ thành Thăng Long, Nguyễn Huệ liền lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi tức tốc kéo quân ra Bắc. Trước thế mạnh của quân địch vua Quang Trung đã dùng chữ Nôm làm bài hịch kích động lòng yêu nước của tướng sĩ. Lời văn hùng hồn, truyền cảm gợi lên lòng chiến đấu bất khuất, dấy lên lòng căm thù, chí yêu nước, bảo vệ tổ quốc. Lời hịch như một tuyên ngôn độc lập của đất nước, ngài dụ tướng sĩ và dân chúng rằng: "Ðánh, cho để dài tóc! Ðánh, cho để đen răng! Ðánh, cho nó chiếc luân bất phản! Ðánh, cho nó phiến giáp bất hoàn! Ðánh, cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" (13). Lời văn ngắn gọn, dễ hiểu, nhưng hùng hồn hàm chứa biết bao ý nghĩa, tác động lên tinh thần dân tộc rộng rãi vào lòng quân dân. 
           
          Riêng về văn học, có thể chia ra các thời kỳ phát triển chữ Nôm và nêu lên một vài tác phẩm tiêu biểu ra như sau:

          1) Thời trước đời Ngô, Ðinh là lúc manh nha, rất ít chứng cứ chữ Nôm còn để lại.

          2) Thời Lý, Trần là lúc chữ Nôm bắt đầu trưởng thành, đã được sử dụng trong văn học và đời sống. Chứng cứ xác đáng nhất chứng minh việc chữ Nôm ảnh hưởng rõ rệt vào đời sống là vết tích của tấm bia của vua Lý Cao Tông và ba bài phú chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông "Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca", "Cư trần lạc đạo phú" và "Vịnh Vân Yên Tự phú".

          3) Thời Hồ, Lê sơ.
          Việc sử dụng chữ Nôm trong thời đại này được chú trọng nhiều hơn, đáng tiếc đời Hồ quá ngắn ngủi. Qua đời Lê sơ, chữ Nôm đã thừa hưởng những nỗ lực của người đi trước, nên đã bắt đấu phát triển mạnh, điển hình là Nguyễn Trãi với Quốc Âm Thi Tập. Sau đó vua Lê Thánh Tông với hội Tao Ðàn, cũng đóng góp nhiều vào nền văn học Nôm. Sau nữa, còn có Nguyễn Bỉnh Khiêm với "Bạch Vân Thi tập" v.v

          4) Thời Lê Trung Hưng.
          Ðây là thời kỳ đen tối trong lịch sử Việt Nam, kéo dài sau khi đất nước bị chia đôi ngang sông Gianh vào năm 1672. Ðàng ngoài do chúa Trịnh cai trị, đàng trong thì của chúa Nguyễn. Mặc dù đất nước bị chia đôi dưới hai thể chế chính trị khác nhau, nhưng chữ Nôm vẫn cứ phát triển và lưu hành trong dân gian của cả hai miền. Dù nhà Trịnh có khuynh hướng đè ép không cho chữ Nôm phát triển (6), nhưng trái lại tác phẩm văn học Nôm lại nhiều hơn trong miền đàng trong với chúa Nguyễn. Ðàng trong chỉ có một vài tác phẩm tiêu biểu như Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh, Tư Dung Vãn của Ðào Duy Từ, Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào v.v Trong khi dưới thời các chúa Trịnh, dù chữ Nôm bị phần nào bị cấm đoán, song tiêu biểu có nhiều tác phẩm nổi tiếng như [size=2]Chinh Phụ Ngâm do Ðoàn Thị Ðiểm dịch, Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự.

          5) Thời Tây Sơn và nhà Nguyễn
          Sau khi Tây Sơn phá tan quân Thanh, Vua Quang Trung bắt đầu xây dựng đất nước thì cho dùng ngay chữ Nôm làm thứ chữ chính thức thay cho chữ Hán, nhưng đáng tiếc thay thời đại này quá ngắn ngủi. Về văn học, một số tác phẩm thường thấy như Hoài Nam Ký của Hoàng Quang, Dụ Am văn tập của Phan Huy ích v.v. Ngoài ra còn thấy, chữ Nôm trong thời kỳ còn được dùng để viết gia phả, hương ước, địa bạ làng xã v.v Những loại này vẫn còn được lưu giữ cẩn mật ở các vùng vua Quang Trung trú quân ở Huế, gần chùa Linh Mụ trước khi ra Bắc đánh quân Thanh. Tới thời Nguyễn sau đời Tự Ðức văn học Nôm được các nhà nghiên cứu xem như là thời đại hoàng kim của các tác phẩm văn học Nôm Việt Nam. Rất nhiều tác phẩm Nôm nổi tiếng thường thấy đều xuất hiện trong thời gian này như Kiều, Xuân Hương Thi Tập, Mai Ðình Mộng Ký, Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Thánh chế Tự học Giải Nghĩa Ca, Chuyện Ðời Xưa, Thanh Hóa Quan Phong, Nam Phong Giải Trào, Tây Hồ Cảnh Tụng Phú, Việt Sử Tứ Tự Ca, Thiên Nam Ngữ Lục, Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Nữ Phạm Diễn Nghĩa Từ, Quan Âm Thị Kính, Thoại Khanh Châu Tuấn, Cai Vàng, Phan Trần, Lưu Bình Phú, Thạch Sanh Lý Thông v.v

          Chữ Nôm và sự phát triển các tác phẩm Nôm biểu hiện rõ rệt sự lớn mạnh về ý thức tinh thần quốc gia dân tộc. Ý thức này không tùy thuộc vào sự biến đổi của vương triều vua chúa. Dù triều đại đổi thay nhưng nền văn học chữ Nôm vẫn lớn mạnh theo ý thức tinh thần quốc gia dân tộc. Từ Lê Trung Hưng cho đến thời Nguyễn, xã hội lâm vào tình trạng loạn ly triền miên, dân chúng sinh sống khổ cực, nhưng cũng chính trong thời gian này, hoàn cảnh loạn ly chính là môi trường thúc đẩy chữ Nôm phát triển mạnh mẽ. Chữ Nôm bước vào thời đại Tây Sơn và Nguyễn đã chính thức trở thành phương tiện truyển đạt ý tưởng và tình cảm của dân chúng. Tuy nhiên, hoặc là vì áp lực ngoại xâm từ phương Bắc, hoặc là do tầng lớp vua chúa thống trị với tinh thần Nho giáo hẹp hòi mà chữ Nôm phải trải qua nhiều lúc thăng trầm. Từ các giai đoạn phôi thai, hình thành và phát triển, chữ Nôm phải qua một thời gian rất dài trong lịch sử, đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thời đại nhà Trần, gặp nhiều khó khăn mới bước vào thời đại hoàng kim ở thế kỷ 19. Trong khoảng thời gian này chữ Nôm chính là phương tiện cần thiết của các tầng lớp nhân dân trong xã hội ta. Dù sao chữ Nôm vẫn chỉ là một thứ chữ được lưu hành rộng rãi trong dân gian, chứ vẫn chưa được điển chế để trở thành chữ viết chính thức của quốc gia, ngoại trừ nỗ lực của vua Quang Trung, Hồ Quý Ly và vua Tự Ðức. Chỉ tiếc rằng hai thời đại Hồ Quý Ly và Tây Sơn đều quá ngắn ngủi. Còn triều Nguyễn, từ sau đời Tự Ðức thì phải đương đầu với ngoại xâm Pháp, nên việc xây dựng để sử dụng chữ Nôm trong các thời đại này không được thành công. Nhưng rõ ràng mỗi lần đương đầu với ngoại xâm thì sau đó chữ Nôm lại phát triển mạnh. Sau khi đánh đuổi được quân Minh thì nền văn học Nôm cũng lớn mạnh thêm lên, điển hình là Nguyễn Trãi với Quốc Âm Thi Tập. Sau khi nhà Thanh bị đánh bại, thì chữ Nôm lại được trọng dụng vào thời Tây Sơn. Trong thời gian dài không có ngoại xâm thì chữ Nôm là phương tiện truyền đạt tình cảm, và sinh hoạt làng xã. Với ý thức hệ "phép vua thua lệ làng" thì dù tầng lớp vua chúa có ép buộc chăng nữa, như chúa Trịnh đã có lần cấm đoán, thì chữ Nôm vẫn có môi trường bành trướng mạnh mẽ. Ðiều này cho thấy các cố đạo phương Tây dùng chữ Nôm lúc khởi thủy để truyền đạo cũng là điều dễ hiểu, do vậy việc GS Hoàng Xuân Hãn phát hiện nhiều thư tịch chữ Nôm của cha đạo J. Maiorica trong thư viện quốc gia Pháp cũng không lấy gì làm lạ cả (1).
           
          Ý thức quốc gia cũng thấy rõ rệt trong việc cải tiến chữ Nôm qua suốt thời kỳ từ Trần cho đến thời Nguyễn. Vào thời Trần và các thời đại về sau như Lê sơ, Mạc thì chữ Nôm vẫn còn dùng rất nhiều chữ giả tá, nghĩa là chữ Nôm mượn hình dáng chữ Hán có sẵn để ghi âm Nôm, nhưng đến thời sau này thì số lượng chữ giả tá giảm nhiều trong lúc loại chữ hình thanh, là loại chữ có một không hai của Việt Nam thì cứ tăng dần rõ rệt. Nguyễn Tá Nhí (11) đưa ra những thí dụ thống kê, Ðào Duy Anh (8) cũng có những thống kê tương tự, chứng minh chữ Nôm phát triển theo chiều hướng đó. 
           
           

          Tinh Thần dân tộc với việc chữ Nôm bị tàn lụi


          Từ đầu thế kỷ thứ 20 cho đến 1945 là khoảng thời gian có tất cả 4 loại chữ được sử dụng ở Việt nam: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp và chữ Việt La tinh (14).
           
          Thời kỳ               Ðịa Vị            Tiếng Nói      Chữ Viết
           
          111BC-939AD   Lệ thuộc Tàu      Tiếng Việt       Chữ Hán
           
          939-1651         Lệ thuộc Tàu       Tiếng Việt      Chữ Hán, chữ Nôm
           
          1651-1861       Lệ thuộc Tàu        Tiếng Việt     Chữ Hán, chữ Nôm,
                                                                           chữ Việt Latinh
                                                                               của giáo sĩ
                                                                               Thiên chúa giáo.
          1861-1945       Lệ thuộc Pháp      Tiếng Việt,     Chữ Hán, chữ Nôm,
                                                         Tiếng Pháp    chữ Việt Latinh
                                                                                của giáo sĩ
                                                                                Thiên chúa giáo,
                                                                              chữ Pháp
           
          1945-                Ðộc lập              Tiếng Việt      Quốc Ngữ (Việt Latinh)


          Sau khi Pháp đặt nền cai trị lên toàn lãnh thổ Việt Nam, họ đã diệt bỏ việc dùng chữ Hán và thay vào đó sử dụng chữ Pháp trong guồng máy chính quyền, bắt đầu tại Nam Kỳ. Dầu vậy, trong khoảng thời gian chữ Pháp đang còn phôi thai, trong dân gian có rất nhiều tác phẩm chữ Nôm được in ấn và phát hành, nhất là nhóm Duy Minh Thị, nhiều nhà xuất bản cũng xuất hiện như Liễu Văn Ðường, Quảng Văn Ðường, Bửu Hoa Các, Thiên Bảo Lâu, Tự Lâm Cục, Kim Ngọc Lâu… Tuy nhiên, sau 1945 , khi chữ quốc ngữ trở thành chữ chính thức của nước Việt Nam thì chữ Nôm tàn lụi hẳn. Từ cuối thế kỷ 17 cho đến 1945, chữ Việt Latinh, tuy lúc đầu là phương tiện truyền đạo Thiên chúa của các cố đạo song vì tính cách dễ học, dễ nhớ so với chữ Nôm khó học, khó nhớ nên dễ dàng được chấp nhận. Hơn nữa, trong quan niệm thông thường, đó không phải là chữ Pháp cũng không phải là chữ Hán, lại là phương tiện nhanh chóng để nâng cao dân trí, cho nên cũng phù hợp với tinh thần dân tộc.

          Từ Nôm qua Quốc ngữ đã gây nên ngăn cách sự liên tục việc truyền đạt văn học Việt Nam. Chữ Quốc ngữ mới được truyền bá sau này, các tác phẩm văn học thuần tuý Việt nam đều được sáng tác và phổ biến bằng chữ Nôm. Do đó việc phiên dịch tác phẩm từ Nôm ra quốc ngữ là một việc làm quan trọng và cấp bách. Dương Quảng Hàm (3) nói rằng "Văn học sử Việt Nam chỉ được gọi là chân thực khi tất cả tài liệu Nôm được tìm ra manh mối và phiên dịch". May rằng qua đầu thế kỷ 21, với kỹ thuật máy tính mới, chữ Nôm và chữ quốc ngữ đều dần dà được đưa lên và hiển thị trên máy điện toán (15). Ngày nay đã có hơn 10,000 chữ Nôm đã được tổ chức Unicode Consortium (16) cho mã chữ. Một bước tiến đột phá trong việc xử lý chữ Nôm trên máy điện toán cũng như trên mạng Internet là việc ra đời của hai bộ true type fonts Hán Nôm A và Hán Nôm B để hiển thị chữ Nôm mã Unicode dùng với WIN-2000, WIN-XP và Office XP hoặc Office 2003 do Chân Nguyên Ðỗ Quốc Bảo (Germany), Tô Minh Tâm (USA) và Ni sinh Thiền Viện Viên Chiếu (Việt Nam) thực hiện. Kết hợp với hai bộ fonts này, một bàn gõ chữ Hán/Nôm có thể gõ nhập 23,000 âm/chữ Hán Việt và hơn 20,000 âm/chữ Nôm vào thẳng Microsoft Word, do Trần Uyên Thi (USA) và Alexandre Lê (France) thực hiện. Ðồng thời, cuốn "Tự điển Chữ Nôm Trích Dẫn" online đầu tiên xuất hiện, thu thập hơn 5500 âm đọc chữ Nôm, có nhiều chi tiết cần thiết cho mỗi chữ và hơn 25,000 câu trích dẫn có xuất xứ đầy đủ, rõ ràng và chính xác, do Ban Biên Tập gồm nhiều người cư ngụ tại nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện. Ba công cụ trên đã làm cho việc sử dụng chữ Nôm trong máy điện toán và Internet đã trở thành thực tế, dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng (18). Với những công cụ tương tự, việc phiên dịch tác phẩm và bảo tồn nền văn hóa Nôm sẽ có cơ hội phát triển nhanh chóng trong tương lai. Ðây là môi trường thích hợp và là cơ hội cho những ai có lòng quan tâm đến nền văn hóa nước nhà đang dần dà bị vùi lấp. Hàng ngàn tác phẩm chữ Nôm đủ các loại Truyện, Ngâm Khúc, Diễn Ca, Diễn Truyện, Thần Tích, Ngọc Phả, Thần Sắc, Ðiều Ước, Tục Lệ, Ðịa Bạ, Gia Phả…nằm trong các thư viện trên khắp thế giới, cũng như được cất giữ trong dân gian, đang chờ đợi người có tâm huyết làm công việc phát huy và bảo tồn nền văn học cổ chữ Nôm này của chúng ta.
           
           
           
          Nguyễn Hữu Vinh
           
          Tham Khảo:
           

          1. Chữ Nôm or the former Vietnamese script and its past contributions to Vietnamese literature, Nguyen Khac Kham, Area and Culture Series, volumn 24, Tokyo university, Japan.
          2. Graphemic borrowings from Chinese-The case of chu Nom-Vietnam’s demotic script, Nguyễn Ðình-Hoà, Bulletin of the Institute of History and Philosophy, Volume 61, Part 2 (june 1990), Date Published: March, 1992.
          3. Chữ Nôm và công việc khảo cứu cổ văn Việt Nam, Dương Quảng Hàm, Lê Văn Ðặng dịch từ "Le Chu Nom ou écriture démotique, son importance dans l’étude de l’ancienne Annamite", Bulletin général de l’Instruction publique, No. 7.
          4. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Ngô Ðức Thọ dịch và Chú Thích, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998.
          5. The formation of Chu Nom and Its Relation to Chinese Characters, 論字喃(chu Nom) 之組織及其與漢字之關係. 聞宥 , 燕京學報, 第十四期. Yen Ching journal of Chinese Studies 14 (December).
          6. Hình Thái và Niên Ðại Sáng ChếChữNôm 喃字之形態與產生之年代, 陳荊和, 人文科學論叢. Taipei, Taiwan, 1949.
          7. Ưu điểm và Khuyết điểm của chữNôm, Bửu Cầm, Khảo CổTập San 1, Sài Gòn, 1960.
          8. ChữNôm: Nguồn Gốc, cấu tạo và Diễn Biến, Ðào Duy Anh, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1975.
          9. Những Ðịa Tầng Ngôn Ngữtrong lịch Sửtiếng Việt, Nguyễn Ngọc Bích.
          10. Một Số Vấn Ðề Chữ Nôm, Nguyễn Tài Cẩn, Nhà Xuất Bản Ðại Học, Hà Nội, 1985.
          11. Các Phương Thức Biểu Âm trong cấu trúc ChữNôm Việt, Nguyễn Tá Nhí, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998.
          12. Nguồn Gốc và Quá Trình Hình Thành Cách Ðọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 1979.
          13. Lược Khảo Vấn Ðề Chữ Nôm, Trần Văn Giáp, Lê Văn Ðặng thực hiện văn bản, Ngày Nay Publishing, USA, 2003.
          14. Colonialism and Language Policy in Viet Nam, De Francis, J. 1977.
          15. http://www.unicode.org/
          16. ChữNôm trên đường hội nhập với khu vực và thế giới, Nguyễn Quang Hồng, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Hà Nội, 2002.
          17. The independence Spirit of Vietnam in the 7th to 14th centuries七至十四世紀越南國家意識的形成, 耿慧玲 Keng Hui Ling, Bulletin of Chinese studies, Chao Yang University, Taiwan, 2003.
          18. http://www.viethoc.org/index.php
          14 Nguyễn Hữu Vinh
           
           
           
          * Đây là bản copy từ bản pdf của Viện Việt Học, với ý tưởng cho các bạn trên diễn đàn Việt Nam Thư Quán dễ tham khảo và chúng ta có một bản sao trong trường hợp bản pdf không còn được giữ trên net. Bản sao chép này có thể thiếu một số chữ Nôm không hiển thị và vì lý do kỹ thuật nên các bảng biểu không đúng hình thức của nguyên bản, tuy nội dung vẫn giữ nguyên. Xin các bạn tham khảo bản pdf. Mong Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Vinh và các thầy Viện Việt Học tha thứ. Ngọc Lý
          [/size][/size]
          Đăng nhập để trả lời
          0