Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tây Sơn Bi Hùng Truyện - Lê Đình Danh 🔒

123 trả lời, 20.958 lượt xem — Trang 2 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-05 00:10:18huytran>
Trích đoạn: Phi Thiên

Bộ này đến đâu rồi huytran, tại hạ nhận mấy hồi cuối cùng được không? Sao huytran không vào NMQ mà tải, làm pdf làm gì cho mệt, hay huytran cho một cái email tại hạ gửi trọn bộ vào cho.


Tốt lắm, nếu vậy thì xin huynh đệ đứng ra coi sóc công trình đánh máy này giùm.

Tôi sẽ hiệu đính tất cả các chương đã đánh máy và post lên phần "Hiệu đính". Phi Thiên vào đó coi rồi phân công cho các bạn khác tiếp tục.

Nếu bạn đồng ý nhận việc thì xin cho biết nhé, để tôi thông báo cho mọi người.
 
Chương 1-26, trừ các chương 17,18,19,20, Hoangtien bị hư máy, không làm tiếp được. Và chương 13,14, supertuni nhận, vẫn chưa thấy hồi âm.

Cảm ơn nhiều.
0
Tại hạ không thích làm lãnh đạo đâu, chỉ muốn nhận mấy hồi đả tự chơi thôi.
Thế này nhé: Đây là link: http://nhanmonquan.com/?page=story&id=631
Các vị tranh thủ tải luôn đi, vì dạo này mạng bên ấy không ổn định lắm. Nếu có trục trặc gì thì cho một cái email để tại hạ gửi cho.
Các vị nên làm một cái danh sách tên hồi cập nhật liên tục để mọi người vào nhận cho đỡ trùng nhau.
Tại hạ nhận trước 20 hồi cuối từ 51 đến 7o, làm xong lại xin nhận tiếp, tại hạ sẽ kêu gọi các bằng hữu ở Việt Kiếm giúp đỡ.
0
Có lẽ các vị cứ làm từ đầu trở đi, còn bọn tại hạ xin làm ngược từ cuối giở lại cho đỡ trùng nhau.
0
Vào thử cái link đó mấy lần đều nói là đang back up.
 
Bây giờ thế này: một tay giao người, một tay giao hàng.
 
Phi Thiên bằng hữu sẵn đã download hết hàng xuống, vậy tôi sẽ nhờ bằng hữu gửi đến từng người phần việc họ đã nhận, chắc không phiền bạn chứ?
0
Được rồi. Tại hạ đã gửi chương 13-14 cho người cần nhận và huytran một bản 13-14 để hiệu đính.
Còn ai nhận nữa huytran cứ thông báo.
C.t.ly muốn hồi nào thì cứ cho biết, chứ gửi cả mấy chục hồi thì mệt lắm.  
0
CHƯƠNG MƯỜI BA
Luỹ Trường Dục, Nguyễn Hữu Chỉnh lập công
Thành Thăng Long, Trương Phúc Loan đền tội
 
Nói về thuỷ quân Trịnh do Hoàng Đình Bảo thống lĩnh vào đóng ở cửa biển Nhật Lệ. Quân bộ do Hoàng Ngũ Phúc thống lĩnh, thấy thuỷ quân mình vào cửa Nhật Lệ và quân Nguyễn lui về luỹ Trường Dục cố thủ, Ngũ Phúc Loan liền cho quân vượt sông Linh Giang lập doanh trại ở Nam Châu bố Chánh.
Hoàng Ngũ Phúc dẫn các tướng ra các doanh trại chỉ vào luỹ Trường Dục mà nói:
- Thành Trường Dục luỹ cao hào sâu, quân Nguyễn lại đặt súng đại bác cung tên rất nhiều trên mặt thành. Theo các ngươi ta phải đánh thế nào mới hạ được thành?
Hoàng Đình Thể nói:
- Thưa thượng tướng, theo tôi ta nên tập trung súng đại bác bắn cho thành tan vỡ, rồi cho quân tràn vào thì chắc rằng sẽ chiếm được luỹ Trường Dục.
Tiền đình hầu Hoàng Đình Thể vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng nói lớn:
- Nếu đánh thế không thể nào thắng được!
Mọi người nhìn lại thấy một người vừa mới nói tuổi trạc 30, dáng dấp ung dung, mặt mày đĩnh ngộ. Hoàng Ngũ Phúc hỏi:
- Ngươi là ai?
Huy đình hầu Hoàng Đình Bảo, bước ra nói:
- Thưa tướng công người này ở Châu Lộc Nghệ An, tên Nguyễn Hữu Chỉnh văn võ song toàn, năm mười sáu tuổi đã thi đỗ hương cống, lúc trước vẫn thường theo tôi đi đánh giặc bể, rất giỏi thuỷ chiến, hiện đang ở dưới trướng của tôi.
Hoàng Ngũ Phúc hỏi Chỉnh:
- Vì sao ngươi lại nói rằng đánh như thế thì không thắng được?
Chỉnh thi lễ rồi đáp:
- Luỹ Trường Dục này là do Đào Duy Từ xây dưới thời chúa Sài Nguyễn Phúc Nguyên chống nhau với quân ta đến nay đã hơn một trăm năm. Thành này kiên cố vô cùng, vả lại súng đại bác của địch đặt trên mặt thành, đại bác của ta chưa bắn đến thành thì đã bị súng địch bắn ta rồi vậy.
Ngũ Phúc trầm tư nói:
- Thành Trường Dục này kiên cố thế ư? - Đội nhiên Phúc hỏi Chỉnh - Đào Duy Từ là người thế nào?
Chỉnh đáp:
- Đào Duy Từ lúc còn nhỏ chăn trâu thường ví mình như Gia Cát Lượng. Đến lúc chúa Sài rước về phong làm Nội tán tước Khê lộc hầu. Chúa Sài có làm bài thơ tặng Đào Duy Từ rằng:
Vó ngựa sườn non tuyết lạnh lùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công
Đem câu tá Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng
Bờ cõi đón chia ba thế đất
Biên thuỳ ngăn cách một dòng sông
Nếu như không có lời Nguyên Trực
Thì biết đâu mà đón Ngọa Long
Xem thế đủ biết Chúa Sài cũng ví Đào Duy Từ như Gia Cát Lượng đời Hán vậy.
Nguyễn Hữu Chỉnh nói thao thao. Ngũ Phúc nghe xong cười rằng: Việc hơn một trăm năm trước mà ngươi vẫn thuộc làu làu, thật là thông kim bác cổ. Còn việc ngày nay theo ngươi thì phải đánh lũy Trường Dục như thế nào?
Chỉnh đáp:
- Quan trấn thủ thành Trường Dục tên Nguyễn Duy cũng là người quê ở Nghệ An vốn cùng tôi là huynh đệ đồng môn. Nay tôi xin vào thành đem ba tấc lưỡi thuyết Nguyễn Duy về hàng thì quân ta đã vào được cửa ngõ Thuận Hoá mà không tốn công sức vậy.
Hoàng Ngũ Phúc mừng rỡ khen:
- Ngươi quả nhiên là đa mưu túc trí. Nếu đại sự mà thành thì ngươi là kẻ có công đầu trong cuộc Nam chinh đó!
Nói rồi cùng vào doanh trại truyền quân bày tiệc rượu khao Nguyễn Hữu Chỉnh đợi ngày mai vào thành Trường Dục.
Ngày hôm sau tướng Nguyễn giữ thành Trường Dục là Nguyễn Duy nghe quân vào báo:
- Có một người từ quân Trịnh sang xưng tên là Nguyễn Hữu Chỉnh xin ra mắt tướng quân.
Nguyễn Duy liền cho võ sĩ cầm gươm trần đứng giăng hàng hai bên rồi cho mời Hữu Chỉnh vào. Chỉnh vào đến trông thấy hàng võ sĩ mặt đằng đằng sát khí liền cười lớn:
- Cách nhau đã mười năm giờ mới hội ngộ, sư huynh lại giằng mặt nhau đến thế. Xin hỏi nếu sư huynh bệnh nặng, tôi mang thuốc đến sư huynh lại đối đãi tệ bạc đến thế ư?
Nguyễn Duy liền đuổi võ sĩ ra ngoài, mời Chỉnh ngồi rồi nói:
- Tôi cùng sư đệ vốn rất hiểu lòng nhau. Nhưng tôi vẫn mạnh khoẻ như xưa, sao Nguyễn đệ lại nói tôi bệnh nặng là ý làm sao?
Nguyễn Hữu Chỉnh lại cười nói:
- Hiện quân ở thành Trường Dục này của sư huynh chỉ có năm ngàn, còn quân Trịnh tôi hùng binh bốn vạn. Vả lại quân ở kinh thành Phú Xuân đã đưa cả vào Quảng Nam chống giặc Tây Sơn. Sư huynh ở cái luỹ cỏn con này không binh cứu viện, ấy chẳng phải là chứng bệnh nan y đó sao?
Nguyễn Duy cũng cười lớn nói:
- Đành rằng là như vậy nhưng luỹ này của Khê Lộc hầu Đào Duy Từ đắp, đạn bắn không vỡ. Năm xưa Trương Phúc Phấn chỉ có mấy ngàn quân đánh nhau với đại binh của Trịnh Tráng vẫn giữ vững thành trì. Nay ta cứ canh phòng nghiêm ngặt không ra đánh thì quân Trịnh làm gì được ta?
Nguyễn Hữu Chỉnh nghe Duy nói xong càng cười to hơn nữa, cười đến chảy nước mắt. Nguyễn Duy ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao huynh lại cười mãi thế?
Chỉnh nghiêm nét mặt nói:
- Sư huynh nên xét lại. Thế cuộc mỗi ngày một khác nhau. Năm xưa quân Nguyễn trên dưới đồng lòng, từ quân đến tướng muôn người như một. Vả lại mấy ngàn quân của Trương Phúc Phấn liều mình chống giữ luỹ Trường Dục vì tin rằng sớm chiều tất có viện binh. Quả nhiên viện binh của chúa Nguyễn kéo ra liền đánh lui quân Trịnh khỏi sông Linh Giang. Còn nay, trong triều thì Phúc Loan lộng quyền làm lắm điều xằng bậy khiến lòng người ly tán. Vậy nên ở đất Quy Nhơn giặc Tây Sơn mới nổi dậy đánh phá, chúa Nguyễn phải sai tướng đem toàn quân ở kinh thành cứu viện Quảng Nam. Thành Trường Dục tuy rằng kiên cố, nhưng ba quân đả chán, chúa nản lòng thì làm gì đem hết sức mà đánh giặc. Xem lại việc lúc thuỷ quân của chúa Trịnh tôi vào cửa bể Nhật Lệ thì thuỷ quân của sư huynh liền vào chạy vào thành cố thủ, ấy là minh chứng rõ ràng. Cái lẽ được thua ở thành Trường Dục này xem ra đã rõ. Vả lại cơ đồ của nhà Nguyễn đã đến hồi mạc vận, trong thì mục nát, ngoài thì hai đầu thọ địch, dẫu rằng Tôn Ngô sống lại cũng phải bó tay. Sư huynh là người thông minh hơn người lại chẳng thấy điều đó hay sao?
Nguyễn Duy buồn bã đáp:
- Chẳng phải là tôi không biết việc ấy. Những muốn theo về chúa Trịnh, nhưng còn phân vân người ta đối đãi với bại tướng ra sao...
Duy nói đến đây bỏ lửng. Hữu Chỉnh tươi cười bảo:
- Việc này sư huynh chớ lo, tôi xin tiến cử sư huynh lên thượng tướng công Hoàng Ngũ Phúc, thì danh lợi nào kém gì làm quan cho chúa Nguyễn.
Nguyễn Duy cả mừng nắm tay Chỉnh nói:
- Ơn của sư đệ chẳng bao giờ dám quên. Phiền sư đệ về thưa cùng Hoàng tướng công ngày mai tôi xin mở cửa ra hàng.
Hôm sau, tháng mười hai năm Giáp Ngọ (1774) niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba lăm, Hoàng Ngũ Phúc lấy được thành Trường Dục không tốn một mũi tên hòn đạn. Phúc khen thưởng Hữu Chỉnh rất hậu và vẫn để Nguyễn Duy ở lại giữ thành, còn mình đem đại binh tiến lên đóng ở làng Hố Xá (Quảng Trị ngày nay).
Ngày ấy Hoàng Ngũ Phúc họp các tướng nói:
- Chúa Nguyễn vừa mới đưa thư cho ta hẹn trong mười hai ngày sẽ nộp Phúc Loan, và yêu cầu quân ta sau khi bắt được Phúc Loan thì hãy lui quân trả đất cho họ Nguyễn. Các ngươi thấy thế nào?
Hoàng Đình Bảo khoát tay nói:
- Mục đích của ta là chiếm đất nhà Nguyễn, diệt trừ Phúc Loan chỉ là cái cớ. Nay vô lẽ bắt được Phúc Loan lại lui quân trả đất, thì thật là tốn công vô ích!
Hoàng Đình Thể và Hoàng Phùng Cơ cùng nói:
- Lời Huy đình hầu nói rất phải. Nếu bắt được Phúc Loan rồi ta cứ tiến binh thì đã làm sao?
Ngũ Phúc lắc đầu bảo:
- Các ngươi nói sai rồi. Đại trượng phu phải lấy chữ tín làm đầu huống chi ta vâng lệnh Chúa thượng truyền hịch khắp nơi là chỉ diệt trừ Phúc Loan chứ không xâm phạm đất đai của nhà Nguyễn. Nay nuốt lời tiến quân e rằng chúa ta mang tiếng thất tín với thiên hạ. Ngộ nhỡ chúa bắt tội thì ta biết ăn nói ra sao? Chi bằng ta án binh bất động rồi giải Phúc Loan về kinh đồng thời xin lệnh chúa thế nào!
Nguyễn Hữu Chỉnh đứng dậy thưa:
- Việc quân thành bại cốt ở thời cơ, nay thành Phú Xuân trống rỗng, ta mang đại binh vào đánh một trận ắt thu phục được kinh thành nhà Nguyễn. Nếu chờ họ giao nộp Phúc Loan rồi về kinh, lại chờ chiếu lệnh vào, mất ít thì cũng hơn một tháng. Lỡ họ lùi được quân Tây Sơn rồi điều binh ra ngoài cứu viện thì thật khó khăn cho ta. Theo ý tôi sau khi bắt được Phúc Loan, tướng công hãy truyền hịch và thư cho chúa Nguyễn rằng: Tuy bắt được Phúc Loan nhưng miền trong hãy còn giặc Tây Sơn, ta xin đem quân vào Phú Xuân hợp sức dẹp giặc. Nếu chúa Nguyễn không bằng lòng thì ta đã có cớ để tiến binh. Tôi chắc rằng Chúa thượng hay được chẳng những không bắt tội mà còn trọng thưởng cho tướng công nữa.
Ngũ Phúc mừng rỡ khen:
- Hữu Chỉnh quả là cao kiến! Miễn làm sao có cớ để tiến quân, trên không mắc tội với chúa, dưới không ngượng miệng với dân. Dù ai đàm tiếu mặc lòng.
Nói xong truyền quân bày yến tiệc, lệnh cho tướng sĩ án binh bất động, chờ ngày quân Nguyễn giao nộp Phúc Loan.
Khi ấy ở thành Phú Xuân, chúa Nguyễn Định Vương sai quân bắt Phúc Loan bỏ vào tù xa mang ra nộp cho Hoàng Ngũ Phúc. Lúc ra khỏi hoàng cung dân chúng trong kinh thành đổ xô đến xem, người đông nghìn nghịt. Có kẻ mắng:
- Chính do mày mà dân tình thống khổ, đất nước ngửa nghiêng. Nay mày dù chết đi cũng chưa đền hết tội.
Kẻ khác lại nhạo:
- Ngày nào thì lên xe xuống ngựa, uy quyền tột đỉnh, muốn chém giết ai mặc lòng. Nay bị người khác giết lại ấy cũng là quả báo mà thôi!
Trương Phúc Loan nghĩ thầm:
- Năm xưa ta có thề với Tiên vương rằng: Nếu mà gian dối thì sẽ bị trăm quan bắt nộp cho địch quân xử tội bêu đầu. Nay lời thề xưa đã ứng. Thật là có quả báo không sai!
Hoàng Ngũ Phúc đã được Trương Phúc Loan rồi, sai quân giải về Thăng Long cho Trịnh Sâm xét xử. Trịnh Sâm truyền đem ra chém.
Giao nộp Phúc Loan xong chúa tôi nhà Nguyễn chờ tin quân Trịnh lui binh. Bỗng một hôm nhận được thư Hoàng Ngũ Phúc, chúa Nguyễn Định Vương đọc xong quăng thư xuống đất nghiến răng trợn mắt quát:
- Thằng Hoàng Ngũ Phúc thật là quân bội tín. Ta giao nộp Quốc phó cho chúng những tưởng chúng sẽ lui quân, ngờ đâu nay chúng viết thư bảo: Trong Quảng Nam hãy còn giặc Tây Sơn, chúng sẽ đem quân vào Phú Xuân hợp sức cùng quân ta dẹp giặc. Thật là phường điêu ngoa dối trá. Nếu biết vậy cần gì phải hy sinh Quốc phó.
Thấy chúa nóng giận, Nguyễn Đăng Trường can:
- Xin Chúa thượng bớt giận, ta giao nộp quan Quốc phó ấy là kế hoãn binh chờ Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính điều binh ở Quảng Nam ra cứu viện, thì không phải là Quốc phó hy sinh vô ích. Nay có lẽ Tiệp và Chính cũng sắp về đến.
Trường vừa dứt lời có quân vào báo:
- Kính Chúa thượng, tướng quân Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính dẫn quân về đang đợi lệnh ở cổng Nam kinh thành.
Chúa Định Vương liền bảo:
- Hãy mau truyền hai tướng vào ngay!
Tiệp và Chính vào đến, chúa vội vàng nói:
- Hai tướng về thật là đúng lúc. Nay Nguyễn Duy đã mở cổng thành Trường Dục đầu hàng quân Trịnh. Quân địch chỉ cách kinh thành chừng vài trăm dặm, hai tướng hãy kíp đem quân ra Bắc đánh giặc.
Tôn Thất Tiệp thất kinh nói:
- Thôi chết! Lâu nay ta chống nhau với quân Trịnh cốt nhờ vào thành Trường Dục, nay thành đã mất e rằng khó giữ được kinh thành.
Nguyễn Đăng Trường trấn an hai tướng:
- Nhị vị tướng quân chớ nên lo sợ. Tuy thành Trường Dục đã mất, nhưng giặc chưa đến sông Bái Đáp Giang xin Tôn tướng quân mau dẫn bộ binh và Nguyễn tướng quân mau đem thuỷ binh cùng đến sông Bái Đáp Giang (Bến Hải ngày nay) gắng sức chống giặc. Chờ lão tướng Tống Phước Hiệp dẹp xong giặc Tây Sơn rồi hợp quân đánh Trịnh ắt là khôi phục được cơ đồ.
Tiệp và Chính cùng khóc lạy chúa, Chính nói:
- Người xưa có nói: Nuôi quân ba năm dụng một giờ. Nhà chúng tôi đã mấy đời công hầu thọ ơn sâu của chúa. Giặc đến, phận làm tướng phải liều mình vì xã tắc, dù không thắng được giặc chúng tôi xin chết giữa sa trường để đền nợ quân vương.
Chúa cũng cầm tay hai tướng khóc:
- Nước loạn mới biết trung thần, nay xã tắc ngửa nghiêng, ta chỉ còn trông cậy vào hai tướng mà thôi. Hai khanh nên gắng sức, mau báo tiệp khải hoàn cho an lòng quả nhân.
Tiệp và Chính lại khóc lạy, trước lúc ra đi còn bịn rịn không rồi. Tôn Thất Tiệp dẫn bộ binh một vạn đến đóng đồn bố trận ở bờ Nam sông Bái Đáp Giang, còn Nguyễn Văn Chính dẫn thuỷ binh một vạn đến đóng thuỷ trại ở ngoài cửa bể Bái Đáp Giang.
0
CHƯƠNG MƯỜI BỐN
Bái Đáp Giang, Hoàng Ngũ Phúc điều binh,
Phú Xuân thành, Tĩnh Điệp Hầu cứu chúa.
 
Nói về tướng Nguyễn là Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính đem quân thuỷ bộ đến đóng ở Bái Đáp Giang. Quân Trịnh về phi báo cùng Hoàng Ngũ Phúc, Phúc hội các tướng nói:
- Nay quân Nguyễn đem thuỷ bộ binh hai vạn đến chặn đường tiến quân của ta ở sông Bái Đáp Giang. Chứng tỏ chúa Nguyễn biết mẹo hợp quân Phú Xuân để đánh giặc Tây Sơn của ta là giả. Vậy nay chỉ còn một cách là tranh thắng bại giữa trận tiền mà thôi. Các tướng sẵn sàng nghe lệnh. Hoàng Phùng Cơ lãnh ấn tiên phong đem năm ngàn quân khi nào thấy lửa cháy phía sau lưng địch thì vượt sông đánh thẳng vào đồn địch, ta sẽ đem đại binh đáp ứng. Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh lãnh thuỷ binh đánh thẳng vào thuỷ trại địch ở Bái Đáp Giang. Quân Nguyễn miễn cưỡng ra trận, trong lòng chỉ nghĩ thua mà không nghĩ thắng. Quân ta chỉ có tiến chứ chẳng có lùi. Nếu ai không thắng thì đừng về đây gặp mặt ta. Hãy mau sửa soạn xuất quân.
Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh vâng lệnh ra đi. Hoàng Đình Thể không nghe gọi đến tên mình liền bước ra thưa:
- Năm xưa cháu đã từng theo chú xông pha trận mạc dẹp giặc khắp bốn phương Nam Sơn, Kinh Bắc, Hải Dương, Thanh Hoá, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Lê Duy Mật nghe đến tên thảy đều khiếp sợ. Nay Bình Nam đánh Nguyễn các tướng đều được lãnh binh dẹp giặc, sao chú chê cháu là kẻ bất tài không cho ra trận?
Hoàng Ngũ Phúc nghe nói cả cười:
- Tài của cháu từ xưa ta đã biết thì lý đâu chê cháu bất tài.
Hoàng Đình Thể vẫn ấm ức hỏi:
- Thế thì vì lẽ gì không cho cháu ra trận lập công?
Phúc vờ lo lắng nói:
- Phùng Cơ và Đình Bảo cũng đều là cháu của ta, nhưng chỉ có cháu là dũng lược hơn cả. Nay ta muốn giao cho cháu một trọng trách, không biết cháu có làm nổi chăng?
Đình Thể nói:
- Dù việc khó đến mấy cháu cũng xin hoàn thành. Nếu không, xin thượng công cứ xử theo tướng lệnh.
Ngũ Phúc truyền lệnh:
- Nay quân Nguyễn đắp đồn đặt súng ở bên kia sông. Nếu quân ta tấn công trực diện nhất định là tổn thất lớn. Ớ phía Tây doanh trại của ta có một hòn núi, sau lưng hòn núi có con đường nhỏ, cháu hãy lãnh năm ngàn tinh binh đi theo đường này, bí mật vượt sông đánh sau lưng quân địch, chúng không phòng bị ắt trở tay không kịp tất phải đại bại. Khi ấy ta thừa thắng tiến thẳng vào Phú Xuân.
Hoàng Đình Thể vâng lệnh đi ngay.
Nói về tướng Nguyễn là Tôn Thất Tiệp và đô đốc thuỷ binh Nguyễn Văn Chính đóng quân tại Bái Đáp Giang ngày đêm canh phòng cẩn mật. Một sớm tinh mơ bỗng thấy quân Trịnh dùng thuyền nhỏ định vượt sông. Tôn Thất Tiệp chờ quân Trịnh ra đến giữa sông mới lệnh cho quân bắn súng và tên ra như mưa. Thuyền quân Trịnh đắm vỡ rất nhiều, vội vã lui quân.
Tôn Thất Tiệp mừng quá cười nói với tả hữu rằng:
- Quân Trịnh đã lui quân. Ta cứ canh phòng cẩn mật thế này ắt chúng không thể nào vượt sông được. Chỉ lo cho thuỷ binh của Nguyễn Văn Chính mà thôi!
Vừa nói xong quân do thám về báo:
- Thưa tướng quân, lính trên thuyền quân Trịnh toàn là hình nộm cả.
Tiệp thất kinh chưa biết quân Trịnh dùng kế gì, chợt thấy hậu quân mình hỗn loạn, tiếng hò reo vang dậy, lửa cháy rực trời. Có tên quân hớt hải chạy về báo:
- Thưa tướng quân, quân Trịnh từ trong núi đổ ra đánh vào sau đồn của ta. Quân ta bị bất ngờ đánh không lại, xin tướng quân định liệu.
Tôn Thất Tiệp phi ngựa về phía hậu quân rút gươm hô:
- Ba quân bình tĩnh theo ta đánh giặc, ai sợ giặc mà lui, chém!
Vừa nói xong tướng Trịnh là Hoàng Đình Thể đã lướt ngựa đến quát:
- Quân của ta hai mặt giáp công, tướng Nguyễn sao chưa xuống ngựa đầu hàng.
Tôn Thất Tiệp quay nhìn phía trước đồn, thấy quân Trịnh đã vượt sông tràn vào như thác lũ, quân mình hoảng sợ vứt giáo chạy dài, Tiệp liền quay sang đánh cùng Hoàng Đình Thể định mở đường máu chạy thoát về kinh. Được vài hiệp Tôn Thất Tiệp bị Hoàng Đình Thể chém chết. Quân Trịnh thừa thắng giết quân Nguyễn chết không biết bao nhiêu mà kể, số còn sống tan hàng chạy trốn vào đồng hoang rừng rậm. Một số theo bờ sông chạy ra cửa bể đến với thuỷ quân Nguyễn Văn Chính. Ngờ đâu thuỷ trại quân Nguyễn bị thuỷ quân Trịnh do hai tướng là Hoàng Đình Bảo và Nguyễn Hữu Chỉnh đánh giết tơi bời. Nguyễn Văn Chính cố sức chống giữ nhưng lòng quân tan rã không còn bụng dạ nào đánh nhau với giặc. Nguyễn Văn Chính chống không nổi trúng tên chết. Quân Nguyễn thấy chủ chết liền xuôi thuyền chạy về Nam. Thuỷ bộ quân Nguyễn thảy đều đại bại, mười phần còn một chạy về kinh thành Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc xua quân đuổi theo, thừa thắng tiến đánh Phú Xuân.
Nói về chúa Nguyễn Định Vương ngày đêm bồn chồn lo lắng. Chợt bại binh chạy về báo:
- Chúa thượng ơi nguy rồi! Thuỷ bộ quân của ta bị tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đánh tan cả. Tôn tướng quân và Nguyễn đô đốc đều tử trận. Hiện quân Trịnh đang tiến vào cách kinh thành năm mươi dặm.
Chúa Nguyễn nghe xong như sét đánh ngang mày, bàng hoàng khóc lớn rằng:
- Điều mà ta lo lắng nay đã thành sự thật. Tĩnh Điệp Hầu ơi! Giờ phải liệu làm sao?
Nguyễn Đăng Trường luôn túc trực bên chúa liền tâu:
- Xin Chúa thượng hãy bình tĩnh, lệnh cho Chử Đức đem năm ngàn quân cấm vệ bảo vệ Chúa thượng cùng hoàng thân quốc thích đi đường bộ vào Quảng Nam hợp cùng quân Đông cung Nguyễn Phúc Dương tìm kế chống giữ. Một mình thần xin ở lại kinh thành chặn giặc.
Chữ Đức hỏi:
- Năm ngàn quân cấm vệ tôi đều mang theo để bảo vệ Chúa thượng. Trong thành không có một tên quân, Tĩnh Điệp Hầu làm sao ngăn được bốn vạn quân Trịnh.
Trường đáp:
- Việc gấp lắm rồi ông hãy mau hộ giá đi ngay. Tôi chỉ nhất thời ngăn giặc không cho chúng đuổi kịp Chúa thượng mà thôi, chứ không thể giữ được thành trì. Khi chúa vào đến Quảng Nam ông hãy lãnh ba ngàn quân ở lại trấn giữ ải Hải Vân. Ải này một bên núi cao hiểm trở, một bên vực sâu muôn trượng, đóng quân ở trên cao một có thể đánh trăm. Nếu ba quân đồng lòng gắng sức, quân Trịnh không thể nào vượt khỏi Hải Vân quan.
Rồi Trường ôm chân chúa khóc nói:
- Xin Chúa thượng lên đường bảo trọng. Nếu thần chết thì làm ma nhà Nguyễn, nếu còn sống thì ngàn dặm quan san cách trở, cũng tìm đường theo chúa mà thôi.
Chúa đỡ Nguyễn Đăng Trường dậy, khóc rằng:
- Thế mới biết lòng trung dũng của quan văn có thua gì võ tướng. Nếu lúc trước ta đừng nghe lời Phúc Loan xây cung điện Phấn Dương tăng cao sưu thuế thì có đâu đến nỗi. Nay thì cả cơ đồ cũng đổ nát, kể gì đến cung điện Phấn Dương.
Nói rồi cùng Chữ Đức vội vã ra đi. Chờ chúa và hoàng thân quốc thích ra cổng thành Nam xong, Nguyễn Đăng Trường bèn sai người hạ hết cờ hiệu trên mặt thành, mở toang cổng thành phía Bắc, rồi cầm bút nghiên tự tay viết trước cổng thành mấy chữ rằng: "Mở cổng thành giết Hoàng Ngũ Phúc". Viết xong về nhà đỡ mẹ lên ngựa, Đăng Trường giả dạng thường dân, hai mẹ con lên lưng một con ngựa ra cổng thành Nam bôn ba theo chúa!
Vừa lúc ấy Hoàng Ngũ Phúc dẫn đại binh đến cổng Bắc thành. Thấy trên mặt thành im lặng như tờ, không quân tướng, không cờ quạt, cửa thành lại mở toang, cầu treo hạ xuống sẵn sàng. Ngũ Phúc e ngại truyền quân dừng lại hỏi:
- Ở trước cổng thành có viết hàng chữ gì vậy?
Tiên phong Hoàng Phùng Cơ và Hoàng Đình Thể đến gần xem, về giận dữ nói:
- Thưa thượng công, quân Nguyễn thật là vô lễ. Xin thượng công cho anh em tôi dẫn quân vào thành đánh một trận xem hư thực thế nào?
Ngũ Phúc nghiêm mặt hỏi:
- Ta hỏi ngươi hàng chữ ấy là chữ gì?
Hoàng Đình Thể đáp:
- Chúng viết rằng: Mở cổng thành giết Hoàng Ngũ Phúc. Thưa chú theo cháu thì chúa tôi nhà Nguyễn đã bỏ thành trốn, mới viết hàng chữ này cho ta sinh nghi để khỏi đuổi theo chúng mà thôi. Xin chú...
Ngũ Phúc ngắt lời hỏi:
- Nét chữ viết như thế nào?
- Chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa. Cháu chưa từng thấy ai viết chữ đẹp thế bao giờ. Theo cháu đây là nét chữ của quan văn chứ không phải là võ tướng, chứng tỏ chúa Nguyễn hết tướng bỏ thành mà chạy, cho quan văn ra viết chữ để làm kế nghi binh.
Ngũ Phúc hạ lệnh:
- Truyền các tướng không được mạo muội vào thành. Sai quân đắp đất bên ngoài rồi tập trung đại bác mà bắn vào thành khi nào thành vỡ mới được tiến quân.
Hoàng Phùng Cơ nóng ruột hỏi:
- Dám hỏi chú tại sao vì một hàng chữ ấy mà chú lại e ngại, không cho anh em cháu dẫn quân vào thành bỏ trống.
Phúc đáp:
- Các ngươi chỉ giỏi sức vóc đánh nhau mà chưa rành binh pháp, chưa nhìn sự việc mà biết được lòng người. Để ta giải cho các ngươi nghe. Nếu quan võ bỏ thành mà chạy thì quan văn còn bụng dạ nào mà cầm bút viết nên dòng chữ rồng bay phượng múa thế kia. Chẳng qua chúng tưởng ta là đứa hữu dũng vô mưu nên dùng hàng chữ này khích ta để trúng kế không thành của chúng mà thôi. Các ngươi không được nhiều lời, cứ y lệnh mà làm.
Hoàng Phùng Cơ và Hoàng Đình Thể bán tín bán nghi nhưng không dám nói, liền sai quân đắp đất thành ụ, kéo đại bác đặt trên ụ đất bắn vào thành. Đại bác quân Trịnh ầm ầm bắn vào thành cũng không thấy quân Nguyễn bắn trả. Đến lúc một đoạn thành bị vỡ, quân Trịnh tràn vào mới biết là thành bỏ trống, chúa tôi họ Nguyễn đã rút chạy tự bao giờ.
Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào thành khen rằng:
- Tấm lòng trung dũng của người viết hàng chữ này thật đáng để ta khâm phục biết bao!
Hoàng Ngũ Phúc cùng Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ và Nguyễn Hữu Chỉnh đem thuỷ binh vào tới. Hoàng Ngũ Phúc sai người mang thư báo tiệp đã thu phục được thành Phú Xuân cho chúa Trịnh Sâm biết, rồi truyền mở tiệc khao quân.
Trong lúc quân Trịnh, Nguyễn đang đánh nhau ở thành Trường Dục thì trong doanh trại quân Tây Sơn ở bờ Nam sông Trà Khúc, quân do thám về báo cùng Nguyễn Nhạc:
- Tâu Chúa công, chúa Nguyễn phong Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung Thế tử. Hiện Đông cung đã vào trấn đất Quảng Nam. Đông cung Nguyễn Phúc Dương liền sai hai tướng là Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính điều hai vạn quân ra Bắc đánh Trịnh. Hiện ở bờ Bắc sông Trà Khúc chỉ còn một vạn quân cả thuỷ lẫn bộ do Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Nghi thống lĩnh.
Nguyễn Nhạc mừng rỡ khen:
- Lúc trước quân sư dự đoán Nguyễn Văn Hoàng không dám vượt sông Trà Khúc quả nhiên là như thế. Nay quân Trịnh lại đánh vào mặt Bắc, chúa Nguyễn phải điều hai vạn binh ra Bắc đánh Trịnh cũng không ngoài dự đoán của quân sư. Quân sư thật là thần cơ diệu toán. Đã đến lúc ta đem quân đánh chiếm Quảng Nam.
Các tướng Võ Đình Tú, Vũ Văn Nhận, Lý Tài, Tập Đình, Vũ Văn Dũng hăng hái đứng dậy nói:
- Xin Chúa công xuống lệnh xuất quân, chúng tôi xin liều mình vì dân tử chiến.
Quân sư Trương Văn Hiến vội vã khoát tay can rằng:
- Xin Chúa công chớ nên động binh!
Nguyễn Nhạc ngạc nhiên hỏi:
- Lúc trước quân sư bảo: chờ khi quân Nguyễn điều binh ra Bắc đánh Trịnh, ta sẽ chiếm đất Quảng Nam chẳng khó khăn gì. Nay thời đã đến, sao quân sư lại nói chớ động binh?
Trương Văn Hiến trầm ngâm đáp:
- Chúa công dựng cờ khởi nghĩa ở đất Tây Sơn vốn lấy danh nghĩa tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan. Người nghèo khổ theo ta để có cơm no áo ấm, còn kẻ sĩ nặng óc trung quân thì theo ta để giành lấy ngai vàng nhà Nguyễn về cho Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương là dòng chính thống. Vậy nên quân ta đi đến đâu mọi tầng lớp nhân dân đều nhất tề hưởng ứng. Nay Nguyễn Phúc Dương được phong làm Đông cung Thế tử, là người nối nghiệp chúa sau này lại vào trấn đất Quảng Nam, nếu ta động binh đánh Quảng Nam tức là đánh Hoàng tôn Dương. Mà đánh Hoàng tôn Dương  tức là đi ngược danh nghĩa của quân Tây Sơn ta dùng để thu phục lòng người. Nếu ta động binh tôi e rằng dù chiếm được đất Quảng Nam nhưng mất lòng trăm họ thì lợi ít hại nhiều. Xin Chúa công nghĩ lại.
Nghe Hiến nói xong, Nhạc như tỉnh ngộ gật đầu nói:
- Ấy chính là lý do chúa Nguyễn lại phong Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung Thế tử, lại cho vào trấn đất Quảng Nam với ý đồ dùng Nguyễn Phúc Dương làm bình phong chặn đường tiến quân của ta. Theo ý quân sư nay ta phải làm thế nào?
Hiến đáp:
- Theo tôi, ta phải làm sao rước được Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương về với quân ta để làm chiêu bài điều khiển thiên hạ Đàng trong. Đó là thượng sách.
Nhạc nôn nóng hỏi:
- Nhưng làm cách nào để rước được Nguyễn Phúc Dương về với ta?
Hiến vuốt râu đáp:
- Ta dùng ly gián kế - Rồi kề tai Nhạc nói nhỏ - Chúa công cứ làm như vầy... như vầy... nhất định Hoàng tôn Dương sẽ theo về với ta.
Nguyễn Nhạc nghe xong sáng mắt khen:
- Thật là diệu kế! Phiền quân sư lập tức thảo thư.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-12 15:20:11Lucern>
    Phi Thien gửi cho mình hồi 27 đến 30 vào email [email=nndung802000@yahoo.com]nndung802000@yahoo.com[/email] nhé. Mình cảm ơn bạn trước.

Ah, mà thekop, MẫnMẫn, Abendstern đều muốn đánh giúp truyện này, vậy bạn có thể gửi cho họ mỗi người vài chương được. Email của mọi người bạn tìm trong trang 4.

0
sao chuyện này dài vậy. Thật ra minh cũng rất muốn đánh nhưng ko biết các bước đăng lên
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-16 08:59:19Hoa Tong>
CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT
Quấy Gia Định, Nguyễn Huệ dựng mưu sâu
Hiềm Lý Tài, Đỗ Thành Nhân làm phản
 
Lại nói về Nguyễn Lữ không nghe lời can gián của Đặng Văn Long kéo quân về thành Qui Nhơn báo cáo tình hình Gia Định cho Nguyễn Nhạc. Nghe Lữ nói xong, mưu sĩ Nguyễn Thung bước ra thưa:
-Nay Chúa Nguyễn Định Vương ngày đêm xây dựng lực lượng mưu toan việc khôi phục cơ đồ. Nếu ta không đập đổ nhà Nguyễn ở phương Nam, đợi khi binh của chúng mạnh lên ắt Tây Sơn ta lại lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch của hai nhà Trịnh – Nguyễn như hồi năm trước thì nguy. Xin Chú công hãy gấp lệnh cho Nguyễn Huệ đem đại binh vào Gia Định lần nữa. Lần này phải chiếm hết toàn cõi đất Nam Hà, bắt cho được Định Vương Nguyễn Phúc Thuần để trừ hậu hoạ. Ấy là việc nên làm.
Nguyễn Nhạc thấy các tướng sĩ đều mến phục Nguyễn Huệ, trong lòng không muốn, còn đang lưỡng lự thì Nguyễn Huệ bước ra nói:
-Theo tôi việc ấy không nên làm!
Thung ngạc nhiên hỏi:
-Vì lý do gì tướng quân lại bảo việc đánh Nguyễn ở Nam Hà là không nên làm?
Huệ đáp:
-Vừa rồi Hoàng Ngũ Phúc mất, Chúa Trịnh sai Bùi Thế Đạt vào làm trấn thủ đất Thuận Hoá, lại sai quan văn là Lê Quí Đôn cùng vào lo việc trị dân. Bùi Thế Đạt là một lão tướng ở Đàng Ngoài. Năm Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi, chính Bùi Thế Đạt đã đem quân dập tắt cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, Nghệ An. Còn Lê Quí Đôn đã từng khuyên Trịnh Sâm đem đại binh đánh ta, lúc ta xin hoà với Trịnh để đánh tướng Nguyễn là Tống Phước Hiệp ở Phú Yên. Nay họ Trịnh sai hai người này vào trấn thủ Thuận Hoá, Phú Xuân là có ý dòm ngó Tây Sơn ta. Vả lại quân Trịnh ở Phú Xuân còn những mấy vạn, ta không nên sơ xuất mà đem đại binh vào đánh Nguyễn ở phương Nam, để đề phòng quân Trịnh xâm phạm mặt Bắc.
Thung lại hỏi:
-Thế sao tháng trước tướng quân lại xin cho Nguyễn Lữ đem đại quân vào Nam Hà đánh Nguyễn?
Huệ cười nói:
-Thế của Tây Sơn ta là lưỡng đầu thọ địch, cho nên việc hành binh của ta phải tốc chiến tốc thắng mới có thời gian đối phó kịp thời với địch ở hai mặt Bắc Nam. Lúc Nguyễn Lữ kéo đại binh đi, quân Trịnh vừa rút khỏi Quảng Nam, binh lính bệnh hoạn mệt mỏi, chúng lo rằng ta thừa cơ tiến đánh còn nói gì đến việc đánh người khác. Nhưng lúc này tình hình quân Trịnh đã đổi khác ta không thể không đề phòng.
Thung lo âu hỏi:
-Nếu không đánh Nguyễn lúc này sớm muộn gì chúng chẳng đánh ta?
Huệ đáp:
-Tôi có một kế không cần phải động binh có thể làm hao mòn lựu lượng của quân Nguyễn và làm rối loạn đất Gia Định khiến chúng không thể nào dòm ngó đất Phú Yên của ta được!
Nguyễn Nhạc liền hỏi:
-Kế thế nào Huệ nói mau xem?
Huệ ung dung đáp:
-Kế của tôi là thả hổ về rừng!
Đặng Văn Long xen vào nói:
-Ngày xưa thời Tam Quốc, Lưu Bị mượn câu: “Thả hổ dễ, bắt hổ khó” để xui Tào Tháo giết Lã Bố. Trong binh pháp chỉ nghe kế “Điệu hổ ly sơn” là dụ hổ rời núi chứ chưa từng nghe nói kế thả hổ về rừng là gì. Đại sư huynh hãy nói rõ hơn xem.
Huệ giảng giải rằng:
-Từ ngày Tập Đình thua quân Trịnh ở Hải Vân quan, phạm vào cam đoan trạng bỏ trốn về Tàu, Lý Tài biết mình không được đại huynh tin dùng. Lý Tài ở với quân ta khác nào cọp ở trong lồng. Nay ta thả Lý Tài ra, ắt Lý Tài theo về cùng chúa Nguyễn Định Vương. Ấy chính là kế thả hổ về rừng đó.
Nguyễn Nhạc thắc mắc hỏi:
-Thả Lý Tài cho Nguyễn là thêm vây cánh cho địch, sao ta lại dùng kế ấy?
Huệ chậm rãi thưa:
-Hiện Lý Tài còn hai ngàn quân bản bộ toàn là người Tàu thiện chiến, lại thêm Lý Tài tánh kiêu ngạo tham quyền. Đỗ Thành Nhân vừa mới lập công, được chúa Nguyễn phong làm Tổng trấn Sài Côn kiêm phụ chính, nay lại thấy kẻ khác tranh quyền với mình nhịn sao cho nổi. Nay ta thả Lý Tài vào Gia Định chắc chắn Lý Tài và Đỗ Thành Nhân sẽ sinh ra bất hoà mà chém giết lẫn nhau. Ấy là kế thả hổ về rừng cho hai hổ tranh nhau vậy.
Nguyễn Thung nói:
-Nếu đúng như vậy thì thật là độc kế. Nhưng ngộ nhỡ Lý Tài hạ mình theo về với giặc hợp sức đánh ta thì sao?
Huệ lắc đầu đáp:
-Lý Tài bất đắc dĩ hết lương thực mới theo về cùng ta. Con người của Lý Tài luôn nuôi trong đầu mộng bá vương, nay trong tay có hai ngàn quân dưới trướng đời nào chịu ở dưới quyền kẻ khác. Nếu Lý Tài và Đỗ Thành Nhân không chém giết lẫn nhau tôi xin dâng đầu mình trước án. Xin đại huynh chớ ngại.
Nguyễn Nhạc gật đầu nói:
-Lâu nay ta nuôi Lý Tài khác nào nuôi ong tay áo, Lý Tài không có tội gì giết đi thì sợ mang tiếng với thiên hạ. Nhưng phải thả Lý Tài bằng cách nào?
Huệ hiến kế:
-Đại huynh cho gọi Lý Tài đến nói như vầy... ắt Lý Tài tin ngay. Thế là ta đã thả được Lý Tài rồi đó!
Nguyễn Nhạc liền cho quân mời Lý Tài đến, Nhạc nói:
-Ta vừa nghe tin quân Nguyễn sắp đem quân theo hai đường thuỷ bộ tiến đánh Phú Yên. Bộ binh của ta đã có Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân chỉ huy, nhưng ở Phú Yên chưa có thuỷ binh. Vậy phiền tướng quân đem quân bản bộ đi đường thuỷ vào trấn giữ mặt bể. Chẳng hay tướng quân có vui lòng chăng?
Lý Tài nghe qua mừng thầm trong bụng nhưng không dám lộ ra mặt giả vờ nói:
-Nuôi quân ba năm dụng một giờ. Lâu nay tôi chịu ơn sâu của Chúa công, có gì cần Chúa công cứ sai bảo, tôi dù nhảy vào kửa cũng chẳng dám từ nan.
Nói xong Lý Tài lãnh lệnh đi ngay. Giong buồm ra ngoài cửa bể, Lý Tài ngửa mặt lên trời cười lớn mấy hồi. Tả hữu hỏi:
-Tướng quân cười gì mãi thế?
Lý Tài phấn khích đáp:
-Ta nghe nói Nguyễn Huệ nhìn thấu được lòng người, nay mới biết là hữu danh vô thực. Nếu Huệ hiểu lòng người ắt can Nguyễn Nhạc không cho ta vào trấn Phú Yên. Thật là Nhạc, Huệ phen này đã thả hổ về rừng.
Nói rồi Lý Tài truyền quân không cho thuyền ghé Phú Yên mà chạy thẳng vào Gia Định, Sài Côn. Lý Tài đóng thuỷ binh tại cửa Cần Giờ rồi sai người tâm phúc đến thành Sài Côn yết kiến Định Vương. Sứ giả vào thành gặp Định Vương nói:
-Thần là sứ giả của tướng quân Lý Tài. Chủ tướng thần muốn theo phò chúa thượng đánh giặc Tây Sơn. Mong được chúa thượng dung nạp!
Định Vương dò hỏi:
-Lúc Tây Sơn làm loạn, Lý Tài ở dưới trướng Nguyễn Nhạc nay vì sao lại phản Nguyễn Nhạc theo về với ta?
Sứ giả đáp:
-Lúc ấy do Trương Phúc Loan chuyên quyền làm lắm đều tàn bạo, Nguyễn Nhạc giả tiếng tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan. Lý tướng quân tưởng thật mới đem quân theo giúp Nguyễn Nhạc. Nay Nguyễn Nhạc rước được Đông cung Dương về, lại giam lỏng ở thành Qui Nhơn, không nói gì đến việc tôn phò, nên Lý tướng quân mới bỏ Nguyễn Nhạc đem hai ngàn quân bản bộ vào theo về cùng Chúa thượng mong khôi phục lại cơ đồ nhà Nguyễn.
Đỗ Thành Nhân nạt:
-Nếu Lý Tài vâng mệnh Nguyễn Nhạc giả hàng rồi ở trong thành làm nội ứng thì sao?
Sứ giả ung dung đáp:
-Tướng quân nói thế chứng tỏ là không hiểu được thực lực của quân Tây Sơn. Qyân Tây Sơn hiện nay hùng binh ba vạn, hàng trăm viên đại tướng đều trí dũng song toàn. Chiến thuyền lớn hàng ngàn chiếc, súng đại bác hơn vạn khẩu, voi chiến trăm con. Nếu Nguyễn Nhạc đem quân vào Gia Định thì tôi e không có thành trì nào có thể đứng vững dưới làn mưa đạn đại bác của quân Tây Sơn. Quân của chúng thiện chiến một có thể địch được hai, ba. Nếu đại bác chúng bắn vỡ thành rồi thì khi giáp chiến liệu binh ta có phải là địch thủ của quân Tây Sơn chăng? Thực lực đôi bên đã rõ ràng như thế thì cần gì phải sai người mạo hiểm làm nội ứng làm chi? Xin tướng quân xét lại kẻo oan cho tướng quân tôi!
Đỗ Thành Nhân ngạo mạn cười lớn bảo:
-Ngươi khéo già mồm! Quân Tây Sơn tài giỏi thế nào mà một người có thể địch được hai, ba?
Nguyễn Đăng Trường xen vào nói:
-Đỗ tướng quân chưa biết đấy thôi! Năm trước quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy có năm ngàn quân mà đánh tan ba vạn quân ta ở sông Lại Dương thuộc phủ Qui Nhơn, khiến ba cha con Tôn Thất Hương tử trận. Năm sau Nguyễn Huệ lại đem năm ngàn quân vào Phú Yên đánh tan hai vạn quân ta, khiến Tống lão tướng quân uất ức mà chết. Người này không có ý dối ta đâu!
Đỗ Thành Nhân lại gạt đi bảo:
-Nhưng việc hệ trọng không thể tin bừa. Xin hỏi sứ giả ý tốt của tướng quân có chi làm bằng?
Sứ giả lấy ở trong người ra một phong thư trao cho Định Vương nói:
-Trước khi bỏ Nguyễn Nhạc mà đi, Lý tướng quân vẫn thường trao đổi với Đông cung. Đây là thư của Đông cung dặn Lý tướng quân trao cho Chúa thượng.
Định Vương đọc xong mừng rỡ bảo:
-Theo trong thư cua Đông cung thì việc Lý Tài theo về với ta là thực. Vậy phiền sứ giả về nói với Lý Tài rằng ta thuận ý, bảo ông ấy mau dẫn quân về Sài Côn cùng hợp sức đánh giặc Tây Sơn.
Sứ giả vâng mệnh ra về thuật lại việc với Lý Tài. Lý Tài bèn đem chiến thuyền đến đậu ở sông Thị Nghè. Chúa Định Vương nghe quân báo Lý Tài có thuyền to súng lớn liền đích thân dẫn Nguyễn Đăng Trường, Nguyễn Nghi, Đỗ Thành Nhân đến xem. Lý Tài lên bờ lạy chào Chúa Định Vương. Vương mừng rỡ nói:
-Tướng quân là người của Đông cung tức là tôi của nhà Nguyễn ta rồi – Đoạn Vương chỉ chiến thuyền của Lý Tài nói tiếp – Thật xưa nay chưa thấy chiến thuyền nào to, súng nào lớn như thế này cả. Tướng quân lấy ở đâu ra thế?
Lý Tài đáp:
-Nhờ hồng phúc của Chúa thượng nên Lý Tài tôi cướp được của quân Tây Sơn vượt bể về theo Chúa thượng.
-Tướng quân có biết quân Tây Sơn học ở đâu cách đúc súng, đóng thuyền lớn thế này không?
Lý Tài nhanh trí vờ than rằng:
-Thuyền to súng lớn này là ở bên Trung Quốc thần lánh nạn giặc Thanh qua đất Qui Nhơn mới bày vẽ cho Nguyễn Nhạc làm ra. Giờ biết bụng Nguyễn Nhạc, ăn năn thì đã muộn!
Định Vương xua tay bảo:
-Tướng quân chớ có phiền muộn. Giờ về với ta, tướng quân hãy bày vẽ cho quân ta đóng thuyền, đúc súng lớn như thế là lập công chuộc tội rồi. Tướng quân cho quân lính bắn thử một phát súng đại bác xem sao!
Lý Tài vâng lệnh sai quân nhồi thuốc nạp đạn, nhắm cây cổ thụ trên bờ mà bắn. Súng nổ mật tiếng long trời, đạn bay trúng một cành cây cổ thụ, cây liền gãy lìa làm đôi. Định Vương cùng các quan đều giật mình kinh hãi. Vương nói:
-Súng đại bác này thật lợi hại. Thảo nào quân Tây Sơn đánh đâu thắng đó. Phiền tướng quân hãy đóng tạm ở sông Thị Nghè, ta về thành Sài Côn sẽ theo nghi lễ mà tiếp đón. Nhất định ta sẽ phong khanh làm ĐạI tướng quân điều binh khiển tướng đánh giặc Tây Sơn.
Nói rồi liền về thành. Về phần Đỗ Thành Nhân, đến tư dinh, Nhân tức giận nói với thủ hạ là Võ Nhân, Võ Tánh, Đỗ Nhàn Trập rằng:
-Công lao quân Đông Sơn ta vào sinh ra tử đuổi quân Tây Sơn đi lấy được Sài Côn rước Chúa thượng về đây. Nay Lý Tài chân ướt chân ráo mới đến hàng, Chúa thượng định phong cho hắn làm Đại tướng quân điều binh khiển tướng, không thèm đếm xỉa gì đến ta cả. Thật tức chết đi được.
Đỗ Nhàn Trập bàn:
-Nay trong thành Sài Côn do quân Đông Sơn ta kiểm soát, chủ tướng truyền quân đóng cửa thành không cho Lý Tài vào thành xem hắn làm gì được ta.
Thành Nhân tán thành nói:
-Được! Các ngươi mau truyền lệnh cho ba quân, bao giờ có lệnh ta mới được mở cổng thành, ngoài ra không nghe lệnh của bất cứ ai, kể cả Chúa thượng!
Võ Tánh can:
-Nếu làm thế e rằng ta can tội khi quân. Xin chủ tướng xét lại.
Thành Nhân hậm hực bảo:
-Can tội khi quân thì Chúa làm gì được ta nào?
Võ Tánh cúi đầu thận trọng thưa:
-Chúa không làm gì được ta. Nhưng ở Trường Đồn thì có Lê Văn Quân trấn thủ, Trấn Biên, Bình Thuận thì có Hồ Văn Lân, Nguyễn Văn Hoằng. Gần đây là đồn Thị Nghè thì có trấn đồn Nguyễn Nghi lại thêm Lý Tài mới về hàng trợ giúp. Nếu ba bên đánh tới thì Đông Sơn ta ở thành Sài Côn nguy mất.
Thành Nhân cười rằng:
-Chúa thượng ở trong tay ta thì quân các trấn dám động binh sao? Các ngươi không phải nói nữa, cứ y lệnh mà làm!
Võ Tánh, Võ Nhân, Đỗ Nhàn Trập vâng lệnh lui ra. Sáng hôm sau, Chúa Định Vương cùng Nguyễn Đăng Trường ngồi cùng một cỗ xe, lại sắp sẵn một cỗ xe trống đi sau. Cỗ xe này chúa Định Vương dùng để rước Lý Tài cho đúng lễ cầu hiền. Chúa tôi ra cổng thánh Đông, quân giữ cổng ngăn lại. Định Vương quát hỏi:
-Chúng bay chẳng thấy ta sao, còn chưa mở cổng thành!
Quân canh bình thản đáp:
-Xin Chúa thượng bớt giận, chúng thần được lệnh của quan Trấn thủ phụ chính không được mở cổng thành cho bất cứ ai.
Định Vương giận quát lớn:
-Chúng bay muốn làm phản hay sao?
Nói xong toan rút gươm, Nguyễn Đăng Trường ngăn lại can:
-Xin Chúa thượng bớt giận. Bọn chúng là quân sĩ chỉ nghe lệnh chủ tướng, lỗi này là ở Đỗ Thành Nhân. Chi bằng ta hãy về cung gọi Đỗ Thành Nhân hỏi cho ra lẽ.
Định Vương bấm bụng quay về cung gọi Đỗ Thành Nhân đến hỏi:
-Vì sao ngươi lệnh cho quân sĩ đóng cổng thành không cho ta đi?
Nhân đáp:
-Lý Tài giả hàng làm nội ứng cho giặc Tây Sơn, nên hạ thần đóng cổng không cho Lý Tài đem quân vào thành.
Vương nén giận hỏi:
-Nhưng Lý Tài đã có thư tiến cử của Đông cung?
Nhân đáp:
-Lòng người khó đoán, dù có moi tim cũng dễ hồ biết thật hay giả, sá gì một tờ giấy lộn mà Chúa thượng cả tin. Thần làm thế là để bảo toàn cơ nghiệp cho Chúa thượng mà thôi!
Nói rồi quay ra truyền quân canh phòng cẩn mật không cho Định Vương cùng hoàng tộc ra ngoài cung cấm.
Định Vương hỏi Nguyễn Đăng Trường:
-Vì sao Thành Nhân lại phản ta?
Trường ngao ngán đáp:
-Chúa thượng định phong Lý Tài làm Đại tướng quân, Đỗ Thành Nhân sợ Lý Tài tranh mất quyền mình nên làm phản.
Vương lại hỏi:
-Bây giờ phải làm thế nào?
Trường buồn rầu nói:
-Bây giờ ngoại bất nhập, nội bất xuất không thể liên lạc với quân các trấn bên ngoài đành khoanh tay ngồi chờ vậy.
Sách với ta là bạn, là thầy
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-16 09:00:23Hoa Tong>
CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI
Thả Đông cung, Vũ Văn Nhậm được vợ
Bỏ Tây Sơn, Nguyễn Phúc Dương đoạt ngôi.
 
Nói về Nguyễn Nhạc ở thành Qui Nhơn đêm đêm nằm mộng thấy mình mặc áo hoàng bào ngồi trên ngai vàng có kẻ hầu người hạ như một bậc đế vương. Mộng xong thường ngồi dậy quát gọi quân hầu. Quân hầu chạy đến thưa:
-Mấy đêm liền Chúa công thấy chiêm bao, nửa đêm giật mình ngồi dậy. Tiểu nhân xin đi mời quan thái y đến thăm bệnh Chúa công.
Nguyễn Nhạc gạt đi bảo:
-Không cần! Ngươi hãy đi mời mưu sĩ Nguyễn Thung đến dây cho ta.
Nguyễn Thung vội vàng khăn áo chỉnh tề đến, thi lễ xong hỏi Nhạc:
-Có việc quan trọng đến thế nào mà nửa đêm Chúa công cho gọi Nguyễn Thung này?
Nhạc đáp:
-Mấy đêm liền ta nằm mộng thấy mình làm vua không đêm nào ngủ được, nên cho mời tiên sinh đến hỏi xem có cao kiến gì để ta lên ngôi vua được chăng?
Nguyễn Thung suy nghĩ giây lâu rồi can:
-Quân dân ở phủ Qui Nhơn vẫn thường gọi Chúa công là vua trời. Dù Chúa công chưa lên ngôi nhưng trong lòng dân Chúa công đã là vua rồi vậy. Vả lại quân Tây Sơn ta lấy nghĩa tôn phò để dấy binh. Nay Đông cung Nguyễn Phúc Dương vẫn ở trong quân ta mà Chúa công xưng vương e rằng mất nghĩa tôn phò thì không thu phục được lòng dân. Đợi khi bình Nam dẹp Bắc xong, Chúa công lên ngôi Hoàng đế nào có muộn gì!
Nhạc buồn rầu hỏi:
-Không có cách nào làm vua sớm hơn được sao?
Nguyễn Thung đành nói hoãn:
-Hiện thời chưa có kế gì. Tôi xin về suy nghĩ lại rồi sẽ bẩm Chúa công sau.
Nói rồi Thung cáo biệt ra về. Nguyễn Thung không về nhà mà tìm đến tư dinh Nguyễn Huệ, quân canh vào báo với Huệ:
-Thưa tướng quân, có mưu sĩ Nguyễn Thung đến xin gặp tướng quân.
Nguyễn Huệ còn bận đồ ngủ vội ra ngoài nghênh tiếp. Mời Thung vào nhà, Huệ hỏi:
-Chẳng hay có việc chi hệ trọng mà nửa đêm tiên sinh đến gặp tôi?
Nguyễn Thung kể lại việc nằm mộng của Nguyễn Nhạc cho Huệ nghe. Nghe xong Huệ cười nói:
-Việc này nào có khó gì, xin tiên sinh về dinh an nghỉ. Ngày mai tôi cùng tiên sinh đến gặp đại huynh thì đâu vào đấy cả.
***
Sáng hôm sau, Nguyễn Thung, Nguyễn Huệ đến gặp Nguyễn Nhạc. Huệ cầm tay Nhạc nói:
-Hiện nay đại huynh chưa thể lên ngôi Hoàng đế . Nhưng đại huynh có thể xưng Vương được!
Nguyễn Thung ngạc nhiên hỏi:
-Quân ta lấy nghĩa tôn phò Đông cung. Chúa nhà Nguyễn chỉ mới có tước Vương. Nay Chúa công xưng Vương còn đâu nghĩa tôn phò?
Huệ quay lại trả lời Thung rằng:
-Lúc mới khởi binh thế lực còn yếu nên ta mới mượn cớ tôn phò Đông cung Nguyễn Phúc Dương để thu phục lòng người. Nay ta binh hùng tướng mạnh chính là lúc cần nói rõ chính nghĩa của Tây Sơn là đập đổ hai nhà Trịnh – Nguyễn, đem giang sơn qui về một mối, mang thái bình lại chi trăm họ. Con cờ Đông cung ta không dùng đến nữa. Thả Lý Tài vào Gia Định quả như tôi dự đoán, Lý Tài và Đỗ Thành Nhân tranh giành quyền nhau. Hiện Đỗ Thành Nhân quản thúc Định Vương trong thành Sài Côn không cho Lý Tài đầu hàng. Lý Tài bơ vơ tiến thoái lưỡng nan. Nay ta thả Đông cung Nguyễn Phúc Dương, Dương tất theo về với Lý Tài, Lý Tài tất có chính nghĩa để đem quân đánh Đỗ Thành Nhân. Khi ấy thành ra Chúa Định Vương và Đông cung tranh quyền đánh giết lẫn nhau, lòng người sẽ sinh ra chán ngán mà hướng về đại huynh. Khi ấy, đại huynh chính thức xưng Vương thì không phải là hợp lẽ hay sao?
Nguyễn Nhạc lắc đầu nói:
-Lâu nay Nguyễn Phúc Dương không màng chính sự, đam mê tửu sắc lấy trò săn bắn làm vui, chỉ trông cậy vào ta đánh Nam dẹp Bắc để đưa hắn lên ngôi chúa. Thì cớ gì Nguyễn Phúc Dương lại bỏ Tây Sơn ta mà chạy vào Gia Định?
Huệ cười đáp:
-Đại huynh chưa tường bụng dạ của Đông cung. Số là từ khi đại huynh nhận sắc phong của quân Trịnh đánh tan hai vạn quân của Tống Phước Hiệp ở Phú Yên, thì hắn biết rằng đại huynh không thực bụng tôn phò, nên giả vờ ngây thơ như thế để đại huynh không chú ý rồi thừa dịp trốn đi đấy thôi! Nay ta thả lỏng hắn mà hắn không trốn đi, Nguyễn Huệ tôi xin dâng đầu dưới trướng. Xin đại huynh chớ khá nghi ngờ!
Nguyễn Thung vỗ tay khen:
-Thật là biết người biết ta diệu kế thập toàn, Nguyễn Thung tôi xin cúi đầu bái phục.
Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:
-Nhờ mưu của em, ta đã được xưng Vương rồi. Nhưng ta phải thả Đông cung như thế nào cho hắn nghĩ rằng tự hắn trốn khỏi Tây Sơn ta như Lý Tài vậy?
Huệ hiến kế:
-Đại huynh hãy cho sửa sang lại thành Qui Nhơn, nguyên là thành Đồ Bàn của vua cũ Chiêm Thành. Ta viện cớ sửa thành đem Đông cung ra ở chùa Thập Tháp. Chùa Thập Tháp ở phía Bắc thành, lại gần sông. Nguyễn Phúc Dương chắc chắn sẽ xuống thuyền ra cửa biển Cách Thử mà trốn vào Gia Định.
Nguyễn Nhạc y lời sai quân gọi Nguyễn Phúc Dương đến nói:
-Nay quân ta chưa đủ mạnh để đánh Trịnh chiếm lại kinh thành Phú Xuân. Tôi định cho người sửa sang lại thành Đồ Bàn thành đất đế kinh. Vậy phiền Thế tử tạm ra ở chùa Thập Tháp, đợi khi nào sửa xong thành sẽ rước Thế tử về chính thức xưng Vương, không phải dùng vương hiệu của Định Vương Nguyễn Phúc Thuần nữa. Chẳng hay ý Thế tử thế nào?
Nguyễn Phúc Dương mừng thầm trong bụng nói:
-Tướng quân vì tôi phải lao tâm khổ trí. Tướng quân sắp xếp thế nào tôi nhất nhất tuân theo.
Nói xong liền về tư dinh sửa soạn hành lý. Nguyễn Nhạc sai Vũ Văn Nhậm làm hộ vệ cho Nguyễn Phúc Dương. Trước khi đi, Nhạc dặn Nhậm:
-Ngươi hãy mang một trăm quân theo hộ vệ Nguyễn Phúc Dương ra ở chùa Thập Tháp, rồi làm như sơ hở để Dương thừa cơ trốn đi. Đến chùa Thập Tháp, Nguyễn Phúc Dương bàn với người hầu già là Nguyễn Gia Hầu:
-Nguyễn Nhạc nghĩ rằng ta tin hắn thật sự tôn phò, nên không nghi ngờ mới cho ta ra ở nơi này. Ta nhân dịp này trốn vào Gia Định với Lý Tài thì có cơ khôi phục cơ đồ.
Nguyễn Gia Hầu nói:
-Tôi thấy việc Nguyễn Nhạc cho Đông cung ra ở chùa Thập Tháp là có ẩn ý gì đây!
Dương giật mình hỏi:
-Ngươi nói thế là thế nào?
Gia Hầu đáp:
-Vũ Văn Nhậm là một đại tướng của Tây Sơn rất giỏi võ nghệ, theo lệnh Nguyễn Nhạc theo hộ vệ nhưng kỳ thực là quản thúc Đông cung. Nếu Nguyễn Nhạc không nghi ngờ ta sao còn làm như thế?
Dương lại hỏi:
Vậy ta phải làm sao mới thoát được Nguyễn Nhạc?
Gia Hầu đáp:
-Tôi có một kế khiến Vũ Văn Nhậm bó tay đứng nhìn ta thoát vào Gia Định.
Dương hối thúc:
-Kế thế nào nói mau xem!
Gia Hầu từ tốn thưa:
-Nguyên từ ngày Nguyễn Nhạc hứa sau này sẽ gả con gái mình là Thọ Hương cho Thế tử. Tôi nhận thấy Thọ Hương phải lòng Thế tử và thường tơ tưởng chuyện nhân duyên. Nay ta cứ làm thế này... thế này... thì không những thế tử thoát được vào Gia Định, còn khiến cho Nguyễn Nhạc phải tức uất mà chết!
Nguyễn Phúc Dương mừng rỡ khen:
-Ngươi thật là đa mưu túc trí. Nếu sau này ta tự chủ dựng nghiệp thì ngươi sẽ là quân sư của ta đó!
Nói xong liền bảo Gia Hầu lập tức quay về thành Qui Nhơn. Nguyễn Gia Hầu đến gặp tiểu thư Thọ Hương, nói:
-Thế tử ra ở chùa Thập Tháp mới có mấy ngày không được trông thấy tiểu thư mà lâm bệnh. Nếu tiểu thư không đến thăm e rằng Thế tử chết mất.
Thọ Hương đau xót nói:
-Tuy rằng cha tôi hứa gả tôi cho Thế tử, nhưng chưa phải là nên nghĩa phu thê. Nếu tôi đến thăm Thế tử e rằng phạm vào chữ hạnh trong tứ đức của người phụ nữ thì sao?
Nói xong lau nước mắt. Gia Hầu biết Thọ Hương đã xiêu lòng, liền quì mọp cầu khẩn:
-Thế tử chưa được lệnh của Tây Sơn chủ tướng nên không dám quay về. Nếu tiểu thư không đến Thế tử ắt tương tư mà chết.
Tiểu thư Thọ Hương bằng lòng nói:
-Thôi được ông hãy vế trước! Ta sẽ trốn cha ta đến gặp Thế tử một phen!
Thọ Hương đi rồi, quản gia vào báo cùng Nguyễn Nhạc. Nhạc thất kinh nói:
-Thôi chết, con ta đã bị Nguyễn Phúc Dương lừa mất rồi!
Nói xong liền lên ngựa đem theo vài tên hộ vệ lập tức đuổi theo. Lúc ấy Vũ Văn Nhậm đang ngủ trong tự quán nghe quân vào báo:
-Thưa tướng quân có Chúa công thân hành đến chùa.
Vũ Văn Nhậm thất kinh ra đón. Nhạc hỏi:
-Thọ Hương con gái ta đâu?
Văn Nhậm sợ hãi đáp:
-Chúa công dặn phải để Phúc Dương trốn thoát, nên tôi chẳng chủ tâm theo dõi, không biết tiểu thư ra đến nơi này.
Tên quân canh bước ra nói:
-Tôi vừa trông thấy Thế tử cùng tiểu thư cưỡi ngựa ra bến sông.
Nguyễn Nhạc cùng Vũ Văn Nhậm liền đuổi theo đến bờ sông. Đến nơi thấy Phúc Dương và Thọ Hương đã ở trên thuyền, Nguyễn Nhạc cho quân trương cung lắp tên. Nhạc gọi lớn:
-Thế tử muốn đi hãy đi một mình, hãy để con gái ta ở lại.
Phúc Dương liền rút gươm kề cổ Thọ Hương nói trả:
-Nếu ngươi xạ tiễn ta sẽ giết chết Thọ Hương!
Đoạn Dương bảo Gia Hầu hối quân chèo gấp. Nguyễn Nhạc chưa biết làm thế nào, Vũ Văn Nhậm liền giương cung lắp tên bắn một phát ttrúng vào cổ tay cầm gươm của Nguyễn Phúc Dương. Dương đau quá buông gươm ôm lấy tay. Tiểu thư Thọ Hương trên mạn thuyền mất đà té nhào xuống sông. Vũ Văn Nhậm liền nhảy xuống nước bơi ra dìu Thọ Hương vào bờ. Ba quân trông thấy tài thiện xạ của Vũ Văn Nhậm nói với nhau rằng:
-Vũ tướng quân bắn cung thật tài tình, chẳng khác Dưỡng Do Cơ ngày xưa vậy!
Từ ấy trong quân thường gọi Vũ Văn Nhậm là tiểu Dưỡng Do Cơ. Về thành Qui Nhơn, Nguyễn Nhạc hội các tướng đến nói:
-Nguyễn Phúc Dương không biết rằng ta cố tình thả hắn nên lập mưu bắt con gái ta làm con tin để chạy vào Gia Định. May nhờ có Vũ Văn Nhậm trổ tài thiện xạ cứu được con ta. Vả lại ta thiết nghĩ nam nữ thọ thọ bất thân, mà Nhậm đã ôm con gái ta dìu vào bờ khác nào tình chồng vợ. Vậy nay ta định tác hợp Nhậm và Thọ Hương nên nghĩa phu thê. Chẳng hay ý Nhậm thế nào?
Vũ Văn Nhậm quì lạy tạ ơn. Nguyễn Nhạc liền định ngày làm lễ thành hôn cho Vũ Văn Nhậm và Thọ Hương.
***
Nói về Đông cung Thế tử Nguyễn Phúc Dương dong thuyền chạy vào Gia Định. Đến sông Thị Nghè gặp Lý Tài, Dương hỏi:
-Lý tướng quân đã yết kiến Chúa thượng hay chưa? Sao còn đóng thuỷ trại nơi này?
Lý Tài đáp:
-Thưa Thế tử, tôi đã đưa thư tiến cử của Thế tử đến Chúa thượng. Chúa thượng hẹn sẽ đón vào thành dung nạp. Đến nay đã gần hết một tuần trăng sao chẳng thấy động tĩnh gì?
Dương hỏi:
-Tướng giữ đồn Thị Nghè là ai?
Lý Tài đáp:
-Là Nguyễn Nghi!
Nguyễn Phúc Dương bèn cùng Lý Tài đi thuyền đến gần đồn. Dương gọi Nguyễn Nghi ra hỏi:
-Nguyễn tướng quân có nhận ra ta chăng?
Nguyễn Nghi trông thấy Dương liền vội vàng nghênh đón vào trong đồn, quì lạy hỏi:
-Nghe tin Thế tử bị quân Tây Sơn bắt sao thoát được về đây?
Dương đáp:
-Ta cùng Lý Tài hẹn nhau trốn khỏi Qui Nhơn vào đất Gia Định mưu khôi phục cơ đồ. Sao Chúa thượng không dung nạp Lý Tài?
Nghi đáp:
-Chúa thượng có ý phong Lý Tài làm đại tướng quân điều binh khiển tướng. Chẳng ngờ vào trong thành không thấy nói gì đến việc Lý Tài cả. Tôi đã sai người về thành Sài Côn hỏi ý, nào ngờ quân trong thành không cho vào, chẳng hiểu là ý gì?
Phúc Dương, Lý Tài liền cùng Nguyễn Nghi đem theo một trăm quân cưỡi ngựa đến thành Sài Côn gọi Đỗ Thành Nhân. Nghi gọi lớn:
-Đỗ tướng quân mau mở cổng thành, có Đông cung Thế tử xin vào yết kiến Chúa thượng.
Đỗ Thành Nhân trên mặt thành nói vọng xuống:
-Tôi là người Gia Định đem quân Đông Sơn đuổi Tây Sơn giúp chúa, không biết mặt Đông cung Thế tử. Vậy có chi làm bằng người ấy là Đông cung Thế tử?
Nghi nói:
-Vậy phiền tướng quân cho mời Chúa thượng lên mặt thành nhận diện.
Nhân đáp:
-Chúa thượng long thể bất an không thể rời khỏi long sàng.
Nguyễn Phúc Dương bảo Đỗ Thành Nhân:
-Trong hoàng tộc có một người cháu của Định Vương tên là Nguyễn Phúc Ánh. Tướng quân hãy cho gọi người này lên thành nhận diện, không phải phiền đến Chúa thượng.
Đỗ Thành Nhân đích thân đi gọi Nguyễn Phúc Ánh. Nhân thấy Ánh vừa mới mười lăm tuổi, làn da trắng trẻo, mặt nhỏ, mắt tròn, vóc người lanh lẹ, liền bào Ánh:
-Lý Tài giả hàng làm nội ứng cho Tây Sơn, tôi can gián mãi Chúa thượng không nghe, bất đắc dĩ mới không cho Chúa thượng đón Lý Tài vào thành. Nay Lý Tài dẫn một người đến dưới thành xưng là Đông cung Thế tử Nguyễn Phúc Dương, mời hoàng điệt lên thành nhận diện để vào yết kiến Chúa thượng, xin cho Lý Tài đem quân vào thành. Nếu Lý Tài vào thành rồi làm nội ứng cho giặc Tây Sơn thì chúa ta nguy mất, vậy khi lên mặt thành, hoàng điệt chớ nhìn Đông cung Thế tử, đuổi chúng đi cho rồi. Nếu không như thế thì tôi không bảo toàn tính mạng cho Chúa thượng và hoàng tộc được đâu.
Phúc Ánh giận dữ nói:
-Tôi xin vào trong lấy cây cung tôi thường sử dụng, bắn bọn chúng cho hả dạ!
Nói rồi liền quay vào lấy cung tên theo Đỗ Thành Nhân lên mặt thành. Nguyễn Phúc Dương trông thấy Ánh liền gọi lớn:
-Ta là Đông cung Thế tử Nguyễn Phúc Dương đây! Phúc Ánh hoàng đệ có nhận ra ta chăng?
Nguyễn Phúc Ánh quát lớn:
-Ngươi là kẻ vô danh nơi nào dám nhận là Đông cung Thế tử! Hãy xem thần tiễn của ta đây!
Nói rồi dương cung lắp tên bắn một phát nhằm ngay chóp nón Nguyễn Phúc Dương. Dương giật mình kinh hãi nhổ tên ra, thấy có bức thư dán cẩn thận quanh thân tên. Nhìn lên mặt thành lại thấy Phúc Ánh nháy mắt làm hiệu, Dương hiểu ý liền dẫn quân về đồn Thị Nghè. Đỗ Thành Nhân khen Nguyễn Phúc Ánh:
-Hoàng điệt tuổi còn niên thiếu mà sáng suốt hơn người, lại giỏi nghề cung kiếm. Thật trí dũng song toàn, đáng khen thay!
Phúc Ánh cười thầm chẳng nói gì.
Nguyễn Phúc Dương về đồn Thị Nghè giở thư Phúc Ánh ra đọc. Thư rằng:
Đỗ Thành Nhân làm phản quản thúc Chúa thượng. Thế tử hãy họp quân các trấn đánh thành Sài Côn cứu Chúa thượng cùng hoàng thân quốc thích.
Dương đọc xong nói:
-Nguyễn Phúc Ánh mới mười lăm tuổi mà trí dũng song toàn thật đáng khen. Nếu không nhờ Phúc Ánh đưa tin, thì ta không rõ tại sao Chúa thượng ở trong thành Sài Côn lại nội bất xuất, ngoại bất nhập như thế. Lý Tài và Nguyễn Nghi cùng hợp quân tiến đánh Sài Côn. Ta sẽ sai người gọi Nguyễn Văn Hoằng, Hồ Văn Lân ở Trấn Biên, Bình Thuận kíp đem quân tiếp viện.
Nguyễn Nghi can:
-Đỗ Thành Nhân dùng Chúa thượng làm con tin để khống chế các trấn. Nay nếu ta đem quân đánh Sài Côn, e rằng Đỗ Thành Nhân bức tử Chúa thượng cùng hoàng tộc thì sao?
Phúc Dương ngẫm nghĩ rồi nói:
-Đỗ Thành Nhân dùng Chúa thượng để khống chế chúng ta. Nay ta cứ giả vờ như không nghe lệnh Chúa thượng, Đỗ Thành Nhân thấy con tin không còn giá trị ắt chẳng bức Chúa thượng cùng hoàng tộc làm chi.
Nói rồi truyền Lý Tài và Nguyễn Nghi đem toàn quân tổng cộng được năm ngàn, tiến về vây thành Sài Côn. Phúc Dương nói riêng với Lý Tài:
-Nếu Đỗ Thành Nhân bức tử Chúa thượng thì ta đường đường nối nghiệp tổ tiên khôi phục cơ đồ.
Đến thành Sài Côn, Lý Tài cho quân đem đại bác bắn phá khắp thành. Quân Đông Sơn chống không nổi, từng tảng đá trên mặt thành bị đạn đại bác bắn đổ rào rào. Đỗ Thành Nhân liệu bề đánh không lại liền đem Định Vương Nguyễn Phúc Thuần lên mặt thành. Phúc Dương trông thấy liền bảo Lý Tài lệnh quân ngừng bắn. Đỗ Thành Nhân lên mặt thành nói lớn:
-Có Chúa thượng ở đây, các người định làm phản hay sao?
Nguyễn Phúc Dương cười lớn nói:
-Ngươi ngu muội tưởng có Định Vương là khiển được chúng ta hay sao? Ta đây là Đông cung Thế tử mới là dòng chính thống. Định Vương năm xưa chẳng qua do Trương Phúc Loan chuyên quyền làm điều soán nghịch mà thôi. Quân ta bắn phá được thành sẽ bắt ngươi cho tứ mã phanh thây.
Nguyễn Phúc Thuần thất kinh khóc lớn:
-Năm xưa Trương Phúc Loan phế truất cháu, thì ta chẳng qua là con cờ của Phúc Loan mà thôi. Bởi vậy ta mới phục chức cháu là Đông cung Thế tử. Nay cháu và các tướng không phục ta thì cũng nghĩ đến tình cốt nhục mà lui binh. Nếu không Đỗ Thành Nhân sẽ giết chết hoàng thân trong thành thì cháu cũng mang tiếng là người bất nhân vậy!
Đỗ Thành Nhân nghe Phúc Thuần nói xong liền tiếp lời:
-Nếu ngươi lui binh về đồn Thị Nghè, ta sẽ thả Chúa thượng cùng hoàng tộc, bằng nếu lòng quyết đánh, ta giết hết không tha!
Nguyễn Nghi nói với Phúc Dương:
-Nay Đỗ Thành Nhân cùng đường e nổi giận làm càn. Chi bằng ta lui quân về đồn Thị Nghè, cho hắn thả hoàng tộc rồi sẽ đánh lấy Sài Côn sau.
Phúc Dương nghe lời liền thu quân về. Lý Tài nhăn mặt hỏi riêng Phúc Dương:
-Nếu ta tiếp tục đánh Sài Côn, Đỗ Thành Nhân nổi giận bức tử Định Vương thì Thế tử lên ngôi tôn nắm quyền nhiếp chính, ta lại trừ được phản tặc Đỗ Thành Nhân, lấy thành Sài Côn. Một công lợi đôi ba việc, sao Thế tử không làm?
Dương trầm ngâm đáp:
-Nếu ta làm thế e rằng mang tiếng bất nhân, sợ các tướng không phục mà sinh nội biến, ấy là một lẽ. Chúa thượng là người nhu nhược, ta bảo ông ấy thoái vị nhường ngôi ông ấy ắt phải nghe, thì ta vẫn nắm quyền nhiếp chính, ấy là hai lẽ. Sau khi thả hoàng tộc xong, Đỗ Thành Nhân tất phải bỏ Sài Côn mà chạy, thì ta vẫn lấy được thành mà không phải hao binh tồn tướng, ấy là ba lẽ. Vì ba điều lợi ấy nên ta mới thu binh về đồn Thị Nghè.
Lý Tài mừng rỡ khen:
-Thế tử liệu việc thật sâu sắc, không còn ngây thơ như truớc nữa rồi. Vậy tôi xin đem quân bản bộ xuống phía Nam thành Sài Côn mai phục ở cánh rừng cạnh làng Hoà Hưng, đợi Đỗ Thành Nhân đến đó đánh một trận mà diệt trừ hậu họa.
Nguyễn Phúc Dương y lời, Lý Tài dẫn quân đi ngay.
Lúc ấy Đỗ Thành Nhân ở trong thành Sài Côn nói với thủ hạ:
-Ta tưởng có Định Vương trong tay là sai khiến được tướng sĩ, nào ngờ Đông cung Thế tử lại thoát khỏi tay quân Tây Sơn quay về Gia Định làm đảo lộn toàn bộ kế sách của ta. Các tướng có kế gì xoay chuyển tình thế được chăng?
Võ Tánh bàn:
-Nay Nguyễn Phúc Dương lui quân về đồn Thị Nghè, ta hãy mau bỏ thành Sài Côn rút về căn cứ Đông Sơn ta ở đất Tam Phụ. Nếu chậm trễ chúng điều binh của Lê Văn Quân ở Long Hồ, Hồ Văn Lân ở Trấn Biên, ba mặt cùng giáp công thì ta không còn đường thoát.
Đỗ Thành Nhân nghiến răng nói:
-Đang được phong làm phụ chính dưới quyền chúa, bỗng chốc phải bỏ trốn vào rừng. Cơ sự cũng do thằng giặc Tàu Lý Tài mà ra. Thù này có ngày ta phải trả.
Nói rồi mở cửa Nam thành Sài Côn đem năm ngàn quân Đông Sơn rút về vùng rừng Tam Phụ.
Quân Đông Sơn mới đi đến cánh đồng trống ở đầu ấp Hoà Hưng, bỗng nghe pháo lệnh nổ vang, súng đại bác từ hai cánh rừng ầm ầm bắn ra, tiếp theo là trận mưa tên đổ xuống. Quân Đông Sơn trúng tên đạn chết rất nhiều.
Đỗ Thành Nhân thất kinh than:
-Ta đã bị Lý Tài mai phục mất rồi!
Nói rồi dẫn quân chạy một mạch không dám ngoái đầu lại. Về đến rừng Tam Phụ, Thành Nhân kiểm điểm binh mã thấy hao hết một ngàn quân, số còn lại áo quần rách rưới, thương tích đầy mình. Thành Nhân nghiến răng trợn mắt hét vang:
-Bớ Lý Tài! Thù này ta quyết chẳng đội trơi chung!
Quân Đông Sơn đi rồi, Nguyễn Phúc Dương vào thành Sài Côn ngự nơi chính điện, cho mời Nguyễn Phúc Thuần đến. Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Đăng Trường đến thấy Dương ngự trên ngai chúa, dưới thì võ sĩ hai hàng mặt đằng đằng sát khí. Thuần thấy vậy ngao ngán nói:
-Ta bất tài kém đức nên lòng người không phục. Chính vì Quốc phó Trương Phúc Loan đưa ta lên ngôi chúa nên Tây Sơn mới thừa cơ dấy loạn, xã tắc ngả ngiêng. Vậy nay ta thoái vị nhường ngôi cho cháu nắm quyền nhiếp chính đánh giặc Tây Sơn khôi phục cơ đồ nhà Nguyễn ta.
Năm Bính Thân (1776), niên hiệu Cảnh Hưng thứ Ba mươi bảy, Nguyễn Phúc Dương tôn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần làm Thái Thượng Vương, còn mình tự xưng làm Tân Chính Vương cùng lo việc khôi phục cơ nghiệp nhà Nguyễn. Từ ấy họ Nguyễn ở Gia Định có một lúc hai chúa, nhưng quyền hành đều ở trong tay Tân Chính Vương cả. Thiên hạ thấy trong lúc đất nước như ngàn cân treo sợi tóc mà các chúa tranh quyền với nhau, đều lắc đầu chán ngán.
Sách với ta là bạn, là thầy
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-16 09:01:58Hoa Tong>
II
ĐẬP TAN NHÀ NGUYỄN
 
CHƯƠNG HAI MƯƠI BA
Lo nước xa, Lê Quý Đôn trổ tài
Sợ ma gần, Phạm Ngô Cầu bày kế.
 
Trong lúc chúa tôi họ Nguyễn ở Gia Định đang đánh giết lẫn nhau, quân do thám Tây Sơn về Qui Nhơn báo cùng Nguyễn Nhạc. Nhạc liền cho mời các tướng đến thương nghị. Nhạc nói:
-Quả nhiên không ngoài dự đoán của Nguyễn Huệ, ta thả Lý Tài và Thế tử Nguyễn Phúc Dương vào Gia Định, làm cho Lý Tài và Đỗ Thành Nhân đánh giết lẫn nhau, Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cùng tranh ngôi chúa. Hiện nay Thuần và Dương đều xưng Vương hiệu cả khiến tướng sĩ nản chí, lòng dân tan rã. Nay lòng người ở Đàng Trong đều mong ngóng vào chính nghĩa của Tây Sơn ta. Vậy đây là lúc ta phải xưng Vương hiệu cho an lòng mong mỏi của bá tánh.
Nguyễn Huệ can rằng:
-Xin đại huynh chớ vội. Hễ bứt dây thì phải động rừng!
Nhạc phật ý hỏi:
-Lúc trước Huệ bảo ta thả Hoàng tôn Dương cho Dương và Phúc Thuần tranh quyền lực đánh giết lẫn nhau khiến lòng người chán ngán thì ta xưng Vương là hợp lẽ. Nay thời thế đúng như vậy, ta định xưng Vương thì Huệ lại nói bứt dây động rừng là nghĩa làm sao?
Nguyễn Huệ quỳ đáp:
-Thưa đại huynh, hợp lẽ là hợp lẽ ở Đàng Trong, còn đối với họ Trịnh ở Đàng Ngoài thì đại huynh đang thụ phong chức Tây Sơn hiệu trưởng, tiền phong tướng quân. Nay đại huynh xưng Vương, họ Trịnh sẽ vin vào cớ ấy mà xuất binh đánh ta. Hiện thời ta chưa diệt được họ Nguyễn ở Gia Định mà phải dấy động can qua với họ Trịnh ở mặt Bắc thì thật là thất sách. Xin đại huynh xét lại.
Nhạc miễn cưỡng hỏi:
-Vậy ta phải làm thế nào?
Huệ vẫn quỳ dưới đất tâu:
-Từ khi Hoàng Ngũ Phúc bị bệnh tả lỵ bỏ đất Quảng Nam mà rút về Phú Xuân Thuận Hoá, thì quân ta ở Qui Nhơn do Vũ Văn Dũng và Võ Đình Tú chỉ huy đã tiến ra đánh chiếm lại Quảng Nam. Nay đại huynh hãy sai người khéo nói đi sứ sang Trịnh xin phong làm Quảng Nam trấn thủ để dò xét xem ý tứ của họ thế nào rồi ta sẽ liệu bề tiến thủ.
Bất đắc dĩ, Nhạc bảo:
-Việc này không phải Nguyễn Thung tiên sinh thì còn ai làm nổi!
Nguyễn Thung bước ra thưa:
-Tôi xin vì Chúa công đi sứ sang Trịnh lần nữa!
Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Thung:
-Lần trước tiên sinh đi sứ sang Trịnh gặp Hoàng Ngũ Phúc, đại huynh tôi liền được phong làm Tây Sơn hiệu trưởng, tiền phong tướng quân. Lần này tiên sinh sang gặp Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn ắt phải bị đuổi về, nhưng nếu tiên sinh đi thẳng ra Thăng Long yết kiến Trịnh Sâm, thì buộc lòng Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn phải để cho tiên sinh đi.
Nguyễn Thung lấy làm lạ hỏi:
-Huệ nói thế nghĩa là thế nào? Thật tình tôi không hiểu?
Huệ nói nhỏ với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Thung:
-Đại huynh cứ bảo Nguyễn Thung tiên sinh làm như vầy... như vầy... thì sẽ ra được Thăng Long mà dò ý Trịnh Sâm.
Nhạc và Thung đồng thanh khen:
-Thật là diệu kế!
Nguyễn Thung đến Phú Xuân gặp Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn nói:
-Thưa quan trấn thủ, Tây Sơn hiệu trưởng sai tôi sang dâng sớ xin phong, phiền quan trấn thủ mở cổng thành cho đi qua!
Bùi Thế Đạt nói:
-Trời đã tối, sứ giả hãy về nghỉ nơi công quán. Ngày mai ta sẽ mở cổng thành cho đi.
Nguyễn Thung lui ra, Bùi Thế Đạt liền vời quan tham thị Lê Quý Đôn đến hỏi:
-Nay Nguyễn Nhạc sai sứ ra Thăng Long gặp Chúa thượng dâng sớ xin phong. Theo ông là ý thế nào?
Lê Quý Đôn suy nghĩ giây lâu rồi đáp:
-Năm xưa Chúa thượng vì lợi dụng quân Tây Sơn đánh họ Nguyễn ở phương Nam, trong lúc quân ta bị dịch tả lỵ ở Quảng Nam nên mới phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu trưởng, tiền phong tướng quân. Nay quân Tây Sơn đã tiếp quản đất Quảng Nam bỏ trống, lại muốn đem đại binh vào tiêu diệt họ Nguyễn, nhưng sợ ta thừa cơ xâm phạm mặt Bắc, nên Nguyễn Nhạc mới sai sứ xin phong để dò ý Chúa ta như thế nào mà tuỳ cơ ứng biến đó thôi. Ta nhân dịp này khuyên Chúa ta đánh giặc Tây Sơn. Vậy ngài hãy đuổi sứ giả Nguyễn Nhạc về, đừng cho họ ra Thăng Long gặp Chúa xin phong.
Hôm sau Bùi Thế Đạt mời Nguyễn Thung đến hỏi:
-Trước khi đem ra Thăng Long cho Chúa thượng, xin sứ giả cho xem sớ xin phong.
Nguyễn Thung lấy tờ sớ trong tay áo trao cho Bùi Thế Đạt. Đạt đọc xong cười lớn nói:
-Nguyễn Nhạc đã được phong làm Tây Sơn hiệu trưởng, tiền phong tướng quân, đem binh đi đánh họ Nguyễn ở phương Nam. Nay Chúa Nguyễn đang hùng cứ đất Gia Định, sao Nguyễn Nhạc không đem binh thảo phạt, lại thừa cơ lúc quân ta bị dịch tả lỵ rút khỏi Quảng Nam, mà đem quân chiếm đất Quảng Nam bỏ trống, ấy là ra mặt đối nghịch với Chúa ta. Thế mà dám dâng sớ xin phong làm Quảng Nam trấn thủ là ý thế nào? Ngài hãy về thưa lại cùng Nguyễn Nhạc, ta thừa lệnh của Chúa tự quyết mọi việc ở đất Quảng Nam Thuận hoá, đừng hoài công đến Thăng Long làm gì?
Nguyễn Thung ung dung đáp:
 -Khi tướng quân HoàngNgũ Phúc sợ dịch tả lỵ mà lui khỏi đất Quảng Nam, Tây Sơn hiệu trưởng ra giữ đất này cứu dân khỏi bệnh, vỗ an bá tánh, phân phát lương thực cho dân nghèo để tỏ rõ đức độ trị quốc an dân của Chúa Tĩnh Đô Vương, thì sao lại bảo là ra mặt đối nghịch cùng Chúa thượng? Vả lại nay tôi vận lệnh Tây Sơn hiệu trưởng đem sổ bộ dân của các tình Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên ra kinh thành Thăng Long dâng cho Chúa thượng. Mỗi phủ bao nhiêu huyện, mỗi huyện gồm bao nhiêu ấp, mỗi ấp được bao nhiêu gia đình đều ghi rõ trong sổ bộ dân này. Tây Sơn hiệu trưởng chiếu theo sổ bộ ấy thu thuế của dân sai tôi đem ra kinh thành nộp cho Chúa thượng. Nay ngài đuổi tôi về, ngộ nhỡ Chúa bắt tội Tây Sơn hiệu trưởng không nộp thuế như hồi họ Nguyễn làm khi xưa, lúc ấy ngài có đứng ra chịu trách nhiệm cho hiệu trưởng được chăng?
Bùi Thế Đạt bảo:
-Nếu Tây Sơn hiệu trưởng nộp sổ bộ và thuế, tôi sẽ sai quân áp tải ra kinh. Ngài cứ quay về không ngại gì cả!
Nguyễn Thung cười nói:
-Ngài nói thế sai rồi! Phàm xưa nay qyan các trấn thủ mỗi khi nộp thuế đều tự áp tải về kinh. Chưa từng nghe nói đến việc phải giao cho trấn khác áp tải bao giờ. Nếu ngài cản trở không cho đi tôi xin quay về báo cùng Tây Sơn hiệu trưởng vậy!
Nói rồi vòng tay bái tạ toan lui ra. Lê Quý Đôn bước ra ngăn lại:
-Xin tiên sinh hãy khoan đi, vui lòng cho tôi coi qua sổ bộ xem thử có điều gì gian dối chăng?
Nguyễn Thung liền gọi quân mang sổ bộ vào, Lê Quý Đôn xem qua một lượt, trả lại cho Nguyễn Thung rồi bảo:
-Xin tiên sinh tạm về công quán nghỉ ngơi. Nguyên lúc Hoàng tướng quân chiếm được thành Phú Xuân có tịch biên được sổ bộ dân lưu trữ của các phủ Đàng Trong. Đợi tôi sai ngườI tìm lại rồi ngày mai ngài đem sổ bộ của ngài ra đối chiếu. Nếu quả đúng như vậy sẽ để ngài áp tải số thuế ra kinh.
Nguyễn Thung đi rồi Lê Quý Đôn nói với Bùi Thế Đạt:
-Nay Nguyễn Thung áp tải số thuế của các phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên ra kinh. Nếu ta ngăn trở, Chúa thượng hay được sẽ bắt tội khi quân, nên không thể không cho hắn đi. Nếu Nguyễn Thung đến đuợc Thăng Long gặp Chúa ta, ắt chúa ta thấy cái lợi trước mắt mà phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ. Câu sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” đã ứng rồi vậy. Tôi e sau này nước ta nguy mất!
Bùi Thế Đạt nói:
-Nói vậy nghĩa là không có cách nào ngăn họ đi sứ ra kinh. Nhưng theo tôi được biết lúc  lúc Chúa Nguyễn bỏ thành Phú Xuân đã mang theo sổ bộ dân của các phủ Đàng Trong chạy vào Gia Định, làm gì có việc Hoàng Ngũ Phúc tịch biên được sổ bộ dân. Vậy sao ông bảo Nguyễn  Thung ngày mai đem sổ bộ dân ra đối chiếu là ý thế nào?
Đôn buồn bã đáp:
-Sau khi phong Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ rồi, chúa ta sẽ không đề phòng quân Tây Sơn. Chủ ý của tôi là muốn cho Nguyễn Nhạc biết rằng đất Bắc hà ta không hiếm người tài. Để sau này khi diệt xong nhà Nguyễn, Nhạc dù muốn dòm ngó nước ta cũng dè dặt mà không dám dấy động can qua.
Đôn nói rồi gọi quân đem bút nghiên đến viết một mạch từ đầu đến cuối bốn quyển sổ bộ dân của bốn phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên. Viết xong, Đôn nói:
-Ngày mai ta cứ nói dối rằng đây là sổ bộ dân lưu trữ ở thành Phú Xuân mà Hoàng tướng quân tịch biên được năm xưa. Xin cam đoan không sai sót một chữ nào.
Bùi Thế Đạt thất kinh nói:
-Từ nhỏ đã nghe danh ông là thần đồng nhớ giỏi. Nay tận mắt thấy trí nhớ của ông, thật là quỉ khốc thần sầu!
Ngày sau Nguyễn Thung đem sổ bộ dân ra đối chiếu quả nhiên không sai một chữ nào. Nguyễn Thung tháo mồ hôi hột, vòng tay bái Lê Quý Đôn:
-Nét mực vừa mới ráo, chứng tỏ ngài vừa viết xong. Mới đọc qua sổ bộ một lần mà chép lại không sai một chữ. Tài của ngài thật đáng sợ thay!
Đôn cười bảo:
-Ấy là việc vặt nào có tài cán gì. Đất Bắc Hà còn lắm người tài năng gấp bội. Tôi vì bất tài nên không được ở chốn kinh thành mới vào trấn nhậm Phú Xuân. Ông chớ khen quá lời tôi lấy làm xấu hổ lắm!
Nguyễn Thung vòng tay cáo biệt cùng đoàn tuỳ tùng lên đường ra Thăng Long. Trên đường đi, Thung nói với tả hữu:
-Nếu không nhờ Nguyễn Huệ bày mưu nộp thuế, thì làm gì ta được đi sứ Thăng Long.
***
Ngày ấy ở kinh thành Thăng Long, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm có việc ra ngoài phủ. Sâm bèn bảo quân sắp sẵn xe tứ mã, dùng nghi lễ như một vị vua. Sâm vừa bước lên xe bỗng nhiên trời đất tối sầm, gió thổi ào ào, mây đen vần vũ. Từ trong đám gió bụi kia xảy một người bước ra chặn trước đầu xe. Người ấy mặt mũi khôi ngô, mình mặc áo hoàng bào, đầu vấn khăn vàng, chân đi hài tía. Sân tức giận quát hỏi:
-Ngươi là ai sao dám chặn đường ta?
Người ấy quát lớn:
-Thằng nghịch tặc, ta là Thái tử Lê Duy Vĩ đến đòi mạng ngươi đây!
Nói xong vung gươm chém Trịnh Sâm. Sâm hoảng sợ nhảy tránh, té xuống xe. Quân hậu vệ vội vàng chạy đỡ Sâm dìu vào tướng phủ. Phạm Ngô Cầu lúc nào cũng theo hầu bên cạnh Sâm. Sâm hỏi Phạm Ngô Cầu:
-Khi cơn gió lạ nổi lên ngươi có thấy Thái tử Lê Duy Vĩ hiện ra chăng?
Ngô Cầu ngạc nhiên đáp:
-Cơn gió lạ này rất giống cơn gió lạ lúc hạ thần vào ngục ép Thái tử Lê Duy Vĩ uống thuốc độc mà chết. Nhưng cơn gió lúc nãy hạ thần không trông thấy Thái tử.
Sâm buồn rầu than:
-Ngày trước tuổi trẻ ngông cuồng ta giết chết Thái tử. Nay Thái tử chết oan về tìm ta đòi mạng. Thật là gieo nhân nào gặt quả ấy vậy!
Nói rồi bảo Phạm Ngô Cầu dẹp bỏ nghi lễ thiên tử mình đang dùng. Ngô Cầu rùng mình sởn gai ốc liền vội vã đi ngay. Trịnh Sâm lại sai người tìm tìm những nơi phong cảnh tốt tươi khắp trong thành, ngoài nội xây dựng chùa chiền, lệnh quan sở tại ngày đêm thay nhau cầu đảo luôn luôn cho hồn Thái tử được siêu thoát.
Sách với ta là bạn, là thầy
0
Phải thán phục tài đánh máy của Hoa Tong. Trong có 1 ngày mà đã xong 3 chương. Cho đến giờ, chỉ mới nhận được kết quả của một mình bạn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-15 07:50:15Hoa Tong>
Truyện hay nên gõ cũng có hứng. Ráng gõ hết 5 chương này làm quà tết, kẻo mấy ngày tết phải "du xuân" nên ko gõ được. huytran cứ gửi tiếp cho mình 5 chương nữa. Mùa này đang rảnh. [email=hoadiec@gmail.com]hoadiec@gmail.com[/email]
Hoa Tong
Sách với ta là bạn, là thầy
0
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
 
Chương 15
 
Rước Đông cung, Trương Văn Hiến dùng kế
Phá quân Bắc, Võ Đình Tú ra oai
 
Nói về Nguyễn Phúc Dương được chúa Nguyễn phong làm Đông cung Thế tử vào đến thành Quảng Nam, trong lòng rất lấy làm sung sướng nói với tả hữu rằng:
 
-         Lúc ta lên chín tuổi thì Tiên chúa đã mất, Phúc Loan chuyên quyền giam lỏng ta trong cung điện suốt mười mấy năm nay, dù cao lương mĩ vị, rượu ngon gái đẹp chẳng thiếu chi nhưng thật là tù túng. Nay ta làm đại trấn thủ đất Quảng Nam, uy quyền một cõi lại làm Đông cung Thế tử thì nối nghiệp nhà Nguyễn sau này không phải ta thì còn ai vào đây nữa!
 
Lúc bấy giờ một người hầu thân tín bước ra nói:
 
-         Tôi trước từng hầu hạ cho Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu là thân phụ của Thế tử. Tôi có đôi lời muốn nói, nếu không hài lòng mong thế tử bỏ qua cho.
 
Đang lúc đông vui, Nguyễn Phúc Dương liền bảo:
 
-         Ngươi theo hầu ta từ lúc ta mới ra đời, lòng tận tụy của ngươi ta đã rõ. Có điều gì ngươi cứ nói đừng rào đón làm chi!
 
Nguyễn gia Hầu liền thưa:
 
-         Thưa Thế tử, quân Tây Sơn nổi lên làm loạn ở đất Qui Nhơn. Đánh chiếm từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi. Chúa ta phải sai Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi đem toàn quân ở kinh thành vào chống giặc. Quân Trịnh nhân cơ hội áy mới động binh xâm phạn đất Bắc. Chúa không còn cánh nào khác phải điều hai vạn quân ra Bắc đánh Trịnh, thì Nguyễn Văn Hoằng ở Quảng Nam chỉ còn một vạn quân không phải là đối thủ của Tây Sơn. Quân Tây Sơn vốn lấy danh nghĩa đánh đổ Quốc phó tôn phò Thế tử để dấy binh, nên vạn bất đắc dĩ chúa phải phong Thế tử làm Đông cung sai vào trấn đất Quảng Nam, để chúa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc vì vướng nghĩa tôn phò mà không thể đem quân đánh tới. Chứ thật ra chúa nào yêu mến gì Thế tử. Nếu một mai quân Gia Định do Tống Phước Hiệp kéo ra dẹp được giặc Tây Sơn, tôi e rằng Thế tử phải lâm nguy!
 
Nguyễn Phúc Dương giật mình nói:
 
-         Tuổi ta còn nhỏ chưa biết việc đời, nếu không nhờ ngươi nhắc nhở, một mai kia nước tới chân mới nhảy ắt là không kịp nữa. Theo ngươi giờ phải làm sao?
 
Gia Hầu chưa kịp trả lời, có quân vào dâng thư nói:
 
-         Thưa thế tử, chúa ở kinh thành sai người mang mật thư vào cho tướng quân Nguyễn Văn Hoằng.
 
Phúc Dương đọc thư xong, giận dữ quăng thư xuống đất nói:
 
 -         Quả đúng như lời ngươi nói. Chúa Định Vương mật báo cho Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Nghi phải ngầm theo dõi hành tung của ta. Hắn sợ ta theo về với quân Tây Sơn phản lại triều đình. Đã thế này sao ta không nhờ Tây Sơn Nguyễn Nhạc kéo binh đến thẳng Kinh thành lấy lại ngai vàng nhà Nguyễn cho ta. Theo ý ngươi thì ta nên làm thế nào?
 
Gia Hầu thưa:
 
-         Tuy Thế tử mang tiếng là trấn thủ đất Quảng Nam nhưng trong thành vỏn vẹn có năm trăm thủ hạ dưới quyền, binh quyền đều ở trong tay Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn  Nghi ở chốn biên thùy. Nếu Tay Sơn còn thì Thế tử còn là Đông cung. Nếu Tây Sơn diệt e rằng Thế tử không còn đất để dung thân. Xem ra Thế tử không còn cách nào khác đành phải nhắm mắt đưa chân về với Nguyễn Nhạc. Nếu người ta thật lòng tôn phò, mình còn hy vọng lấy lại cơ đồ.
 
Phúc Dương hỏi:
-         Nguyễn Nhạc là người như thế nào?
 
Gia Hầu đáp:
 
-         Bụng dạ của Nguyễn Nhạc thì tôi không biết được, còn việc làm của Nhạc thì toàn cõi Đàng trong ai ai cũng rõ.
 
Dương lại hỏi:
 
-         Đó là những việc gì?
 
Gia Hầu đáp:
 
-         Nguyễn Nhạc khởi binh đi đến đâu cũng hô khẩu hiệu “Tôn phò hoàng tôn, đánh đổ Quốc phó”. Quân Nguyễn Nhạc lấy được đất nào đều mang lương thức phát cho dân nghèo vùng ấy, nên từ sĩ đến nông theo phục rất đông. Quân đi đến đâu liền đánh trống dồn dập, la ó vang trời, quan quân triều đình thất kinh hồn vía. Bởi lẽ ấy trong nhân dân thuường có câu vè rằng: “Bình triều, bình Quốc phó. Binh ó, binh Hoàng Tôn” là vậy đó.
 
Phúc Dương nghe xong bảo:
 
-         Theo việc làm mà xét thì Nguyễn Nhạc là người tài đức vẹn toàn, trên trung với vua, dưới hiếu với dân. Người này chắc thực bụng tôn phò. Ngươi hãy vì ta sang doanh trại Tây Sơn dò ý một chuyến.
 
Nguyễn gia Hầu lãnh mệnh đi ngay.
 
Ngày ấy trong doanh trại, Nguyễn Nhạc đang cùng Trương Văn Hiến đàm đạo, quân canh vào báo:
 
-   Tâu chúa công, có người tự xưng là sứ giả của Đông cung Thế tử Nguyễn Phúc Dương xin ra mắt chúa công.
 
Nhạc bảo:
 
-   Mau mau mời vào!
 
Quân canh lui ra, Nhạc hỏi Hiến:
 
-   Không biết Nguyễn Phúc Dương sai sứ giả đến đây có dụng ý gì?
 
Hiến cười bảo:
 
-   Theo tôi có lẽ Phúc Dương đã nhận thư của ta giả danh Định Vương gửi cho Nguyễn Văn Hoằng nên sai người đến đây dò ý chúa công đó!
 
Nhạc gật đầu tán đồng.
 
Gia Hầu vào đến nơi chưa kịp thi lễ thì đã bị Nhạc quát hỏi:
 
-   Ngươi là ai to gan lớn mật dám giả danh sứ giả của Đông cung? Quân bay lôi ra chém!
 
Gia Hầu mất vía luôn miêng kêu rằng:
 
-   Oan cho tôi quá, mong tướng quân rộng xét, tôi chính là thân tín của Đông cung.
 
Nhạc vờ chưa tin, gạn hỏi
 
-   Ngươi quả thật già mồm, sứ giả của Đông cung thì phải có y phục chỉnh tề, có kẻ theo hầu, còn ngươi một thân một mình, quần áo rách rưới, mặt mũi nhơ nhớp thế kia mà dám bảo là sứ giả của Đông cung.
 
Gia Hầu liền đáp:
 
-   Xin tướng quân cho tôi được bày tỏ đôi lời, Nguyễn Hoàng tôn vừa được phong làm Đông cung Thế tử, chúa Nguyễn Định Vương sai vào trấn thủ Quảng Nam. Nhưng chúa lại đem dạ nghi ngờ viết mật thư cho tướng Nguyễn Văn Hoằng phải quản thúc Đông cung. Nguyễn Văn Hoằng lại đóng binh ở biên cương đánh nhau với tướng quân. Nên tôi phải giả dạng thường dân, băng rừng vượt suối mới toàn mạng ra mắt tướng quân. Mong tướng quân rộng xét.
 
Nhạc lại vờ hỏi:
 
-   Ngươi có bằng chứng gì của Đông cung chăng?
 
Gia Hầu đáp:
 
-   Thưa có! Đây là huyết thư mang dấu ấn của Đông cung!
 
Nhạc tiếp thư xem xong vọi vã bước xuống, đỡ gia Hầu dậy mời ngồi. Sai quân bày yến tiệc, lại lấy nước trầm hương rửa mặt, lấy y phục thay cho.
 
Nhận tiệc, gia Hầu hỏi Nhạc:
 
-   Dám hỏi tướng quân, tại sao lại đối đãi với tôi tử tế như thế?
 
Nhạc vờ thật thà đáp:
 
-   Tiên sinh sao hỏi lạ thế? Nhạc tôi dấy binh mong đánh tới kinh thành bắt Trương Phúc Loan và chúa Định Vương trị tội đã làm nhiều điều thoán đoạt, rồi phò Hoàng tôn lên ngôi chúa cho rõ nghĩa cương thường trong thiên hạ. Nhạc này dù chưa gặp mặt nhưng đã tự nhận là tôi ủa  Hoàng tôn, còn tiên sinh là kẻ thân tín của Hoàng tôn ấy là người một nhà cả, sao lại không tử tế với nhau? Nhưng không hiểu sao Định vương lại phong cho Hoàng tôn làm Đông cung Thế tử, cho trấn giữ Quảng Nam mà còn đem dạ nghi ngờ là sao?
 
Gia Hầu nghe Nhạc nói trong bụng rất mừng, bèn vui vẻ đáp:
 
-   Tướng quân không rõ thật sao? Số là tướng quân dấy binh để phò Hoàng tôn, nên Định Vương mới phong Hoàng tôn làm Đông cung vào trấn đất Quảng Nam để chặn đường tiến binh của tướng quân vào kinh thành. Nhưng Định vương lại sợ nếu Hoàng tôn về với tướng quân, rồi lại sai tướng quân đem quân Bắc tiến thì ngai vàng của hắn sẽ lâm nguy. Vì lẽ ấy Định Vương mới mật thư cho Nguyễn Hoằng Văn quản thúc Hoàng tôn.
 
Nhạc vờ mắng rằng:
 
-   Định Vương thật là xảo quyệt. Nay Hoàng tôn sai tiên sinh đến đây đã tính toán thế nào chưa?
 
Gia Hầu vội trình bày:
 
-   Hoàng tôn bảo tôi nhờ tướng quân tiến đánh Nguyễn Hoằng Văn và Nguyễn Nghi, rồi vào thành Quảng Nam, Hoàng tôn sẽ truyền hịnh bốn phương, danh chánh ngôn thuận cùng tướng quân kéo binh vào kinh thành.
 
Nguyễn Nhạc quay sang Hiến hỏi:
 
-   Ý Hoàng tôn như thế, quân sư định liệu thế nào?
 
Trương Văn Hiến đáp liền:
 
-   Tiên sinh hãy về bảo với  Hoàng tôn rằng khi Nguyễn Văn Hoằng thua sẽ chạy về thành Quảng Nam cố thủ, Hoàng tôn chờ quân Chúa công tôi đến rồi sai người tâm phúc đốt lửa hiệu mở cổng thành. Chiếm được thành Quảng Nam xong chúa công tôn Hoàng tôn lên ngôi chúa, cùng nhau thẳng tiến thu phục kinh đô.
 
Gia Hầu cả mừng nói:
 
-   Ấy thật là hồng phúc của nhà Nguyễn nên trời mới sai tướng quân giúp cho Hoàng tôn đó. Tôi xin lập tức quay về.
 
Nói xong rồi từ biệt ra đi. Nguyễn Nhạc liền sai quân mời các tướng đến nhận lệnh. Các tướng đông đủ. Nhạc nói:
 
-   Nay quân Trịnh xâm phạm thành Trường Dục ở châu Bố Chánh, chúa Nguyễn phải điều hai vạn quân của Nguyễn Hoằng ra Bắc, hiện quân Nguyễn Hoằng chỉ còn một vạn, đây là thời cơ để ta đánh chiếm Quảng Nam. Vậy ai lãnh ấn tiên phong?
 
Võ Đình Tú hăng hái bước ra nói:
 
-   Tôi từ lúc theo Chúa công đến nay chưa lập được công trạng gì. Xin Chúa công cho tôi làm tiên phong đánh Nguyễn lập công!
 
Tập Đình cũng hùng hổ bước ra tranh với Võ Đình Tú rằng:
 
-   Từ lúc đánh đèo Thạch Tân anh em ta đều lãnh ấn tiên phong. Ngươi tài cán gì mà tranh với ta?
 
Các tướng thấy Tập ĐÌnh hống hách trong lòng không ưa. Đình Tú trọn mắt vung côn quát:
 
-   Nếu ngươi thắng được côn đồng của ta thì hãy lãnh ấn tiên phong!
 
Nguyễn Nhạc liền can:
 
-   Có tranh thắng bại thì tranh giữa trận tiền với địch, người trong một nhà hơn thua mà chi? Nhưng trận này vô cùng quan trọng, nếu không thắng thì không rước được Hoàng tôn vậy ai dám kí cam đoan trảm quân, chém tướng thì lãnh ấn tiên phong.
 
Tập Đình hăm hở bào Lý Tài:
 
-  Lý huynh mau kí quân lệnh trạng, anh em ta lãnh ấn tiên phong.
 
Lý Tài thoái thác:
 
-   Mẫy hôm nay sức khỏe ta bất an, không thể nào ra trận được. Việc này tùy nơi nghĩa đệ.
 
Nghe Lý Tài nói vậy Tập Đình còn đang lưỡng lự thì Đình Tú đã bước tới tiếp nhận tờ quân lệnh trạng trên tay Nguyễn Nhạc, vừa kí vừa nói:
 
-   Người xưa có câu “Trường đồ chi mã lực – sự cửu thức nhân tâm” thật chẳng sai tí nào!
 
Nói xong Tú quay lưng cười lớn, Tập Đình của giận vừa thẹn đành xấu hổ lui ra. Ra ngoài doanh trại, Lý Tài ngửa cổ lên trời than rằng: Người xưa nói “ Không ở lâu với người hiếu động – không bàn việc với kẻ đa ngôn”. Tập Đình là người vừa đa ngôn vừa hiếu động vậy
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-16 08:56:30Hoa Tong>
CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN
Dạ con nít, Đỗ Thành Nhân treo xác Lý Tài
Bụng đàn bà, Bùi Thị Xuân tha mạng Phúc Ánh.
 
Nói về Nguyễn Huệ vâng lệnh Nguyễn Nhạc đem hai vạn thuỷ binh vào Gia Định đánh chúa Nguyễn. Đến cửa bể Cần Giờ, Nguyễn Huệ cho dừng quân, mời các tướng lên soái thuyền nhận lệnh. Huệ giở bản đồ ra rồi hạ lệnh:
-Nguyễn Lữ làm chánh tướng, Đặng Văn Long phó tướng cùng Đặng Xuân Phong, Đặng Xuân Bảo và Phạm Ngạn dẫn một vạn quân theo sông Đồng Nai, tiến đánh chiếm thành Trấn Biên rồi Lữ và Long chia binh làm ba cánh. Một là cho Đặng Xuân Bảo lãnh một ngàn quân đi đường tắt đến con đường sang nước Cao Miên ở phía Tây thành Sài Côn đốt lửa làm kế nghi binh, không cho Lý Tài ở thành Sài Côn chạy trốn sang Cao Miên. Cánh thứ hai là Nguyễn Lữ và Phạm Ngạn lãnh ba ngàn quân ở lại giữ Trấn Biên đề phòng tiếp ứng cho Đặng Xuân Bảo. Cánh thứ ba là Đặng Văn Long và Đặng Xuân Phong đem sáu ngàn binh mã tiến ra đánh chiếm Bình Thuận, Diên Khánh và ải Vân Phong.
Nguyễn Lữ nghe xong lãnh lấy lệnh bài. Nguyễn Huệ lại truyền:
-Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Uy lãnh bốn ngàn quân vào cửa biển Hàm Luông theo sông Tiền Giang tiến lên đánh lấy thành Trường Đồn (nay là Mỹ Tho). Chiếm được thành rồi, ba tướng phải canh phòng cẩn mật không cho quân của Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên đem binh tiếp viện, đồng thời chẹn đường rút binh của chúa Nguyễn từ thành Sài Côn về Hà Tiên, làm cho chúng hai đầu không cứu ứng với nhau được. Các tướng nên nhớ trận này vô cùng quan trọng, phải tốc chiến tốc thắng tiêu diệt bằng được họ Nguyễn ở Gia Định rồi lập tức rút binh về Qui Nhơn đề phòng họ Trịnh đánh ta nơi mặt Bắc.
Các tướng đều hăng hái nhận lệnh đi ngay. Bỗng Trần Quang Diệu bước ra nói:
-Các tướng đều đã dẫn quân ra trận. Còn thành Sài Côn do Lý Tài trấn giữ, vợ chồng tôi xin lãnh binh tiên phong chiếm thành.
Nguyễn Huệ cười rằng:
-Thành Sài Côn không cần phải đánh, ta chỉ đem chiến thuyền và hai ngàn quân tiến theo sông Thị Nghè làm kế nghi binh. Đợi khi Nguyễn Lữ và Đặng Văn Long chiếm xong thành Trấn Biên, Lý Tài ắt phải bỏ thành Sài Côn mà chạy vào Trường Đồn. Nơi này có vùng rừng Tam Phụ do quân Đông Sơn Đỗ Thành Nhân hùng cứ.
Thành Nhân mà nghe Lý Tài chạy đến đây ắt sẽ đem quân đón đánh báo thù năm trước Lý Tài đuổi Đỗ Thành Nhân khỏi thành Sài Côn, lấy mất binh quyền. Ấy là ta không đánh mà địch quân phải hao binh tổn tướng gấp hai lần vậy. Đợi hai con hổ này đánh nhau sức cùng lực kiệt xong, dù chúng có tài dời non lấp biển, cũng không thể nào thoát khỏi vòng vây của ta!
Trần Quang Diệu nghe xong nói:
-Tướng quân dùng binh như thần. Nhưng kể từ ngày đến Tây Sơn tụ nghĩa, vợ chồng tôi chịu ơn tướng quân sâu nặng, mà chưa lập được công trạng gì để trả nợ nước. Nay vào đến đất Gia Định này cũng không được cầm quân ra trận thật đáng buồn thay!
Huệ vỗ vai Quang Diệu thân mật nói:
-Quang Diệu chớ buồn, đánh trận này chính vợ chồng Diệu – Xuân là lập nên đại công vậy!
Bùi Thị Xuân hỏi lẫy rằng:
-Không cầm quân ra trận dám hỏi dượng rể sao lại lập nên đại công?
Huệ chỉ vào bản đồ nói:
-Khi chúa tôi nhà Nguyễn chạy vào Trường Đồn thì Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Văn Tuyết tất đã chiếm được thành Trường Đồn triệt đường về Hà Tiên của địch. Lúc ấy chúa Nguyễn chỉ còn một con đường là xuống thuyền theo sông Tiền Giang ra các cửa bể Cung Hầu và cửa bể Hàm Luông hòng chạy trốn ra ngoài hải đảo mà thôi. Vậy Diệu – Xuân hãy lãnh bốn ngàn binh chia quân mai phục ở các cửa bể này chờ hai chúa Nguyễn chạy ra đón bắt, thì không phải là lập được đại công đó sao.
Diệu và Xuân mừng rỡ tạ ơn rồi lãnh lệnh đi ngay. Ngày hôm sau, Nguyễn Huệ mới gọi Lê Chu và hai ngàn quân dưới quyền mình theo sông Thị Nghè từ từ tiến về Sài Côn.
Lúc ấy trong thành Sài Côn quân thám mã hớt hải chạy về phi báo cùng Nguyễn Phúc Dương. Dương cuống cuồng lo sợ gọi Lý Tài đến hỏi:
-Hai vạn quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy hiện đang đóng ở cửa biển Cần Giờ, sớm chiều sẽ tiến đánh Sài Côn. Tướng quân đã có kế sách đánh giặc hay chưa?
Lý Tài nói cứng:
-Thần đã có cách tiến thủ, xin Tân vương chớ lo!
Dương lại hỏi:
-Cách tiến thủ thế nào mau nói ta nghe thử?
Tài đáp:
-Thần đã cho người hoả tốc đến Trường Đồn gọi Lê Văn Quân, Trấn Biên gọi Hồ Văn Lân, Bình Thuận gọi Nguyễn Văn Hoằng mang quân về cứu viện. Hiện thần đã cho quân đặt đại bác trên mặt thành thì không dễ gì Nguyễn Huệ lấy thành được. Chờ ít lâu viện binh về đến, Nguyễn Huệ tất lui binh, lúc ấy ta đem quân đuổi đánh ắt là toàn thắng.
Phúc Dương hoàn hồn nói:
-Ấy thật là kế sách vẹn toàn, nhưng Nguyễn Huệ mưu mẹo vô cùng, dùng binh rất lạ. Nhớ năm xưa hắn chỉ dùng có năm ngàn quân mà đánh tan ba vạn quân của Tôn Thất Hương ở núi Bích Kê sông Lại Dương, Qui Nhơn phủ. Năm sau hắn đem năm ngàn quân lại đánh tan hai vạn quân của Tống Phước Hiệp ở Phú Yên. Nay Nguyễn Huệ vào Gia Định đem hùng binh tới hai vạn nên ta lấy làm lo lắng lắm.
Lý Tài trấn an Dương:
-Xin Tân vương bình tâm. Năm xưa Tôn Thất Hương bất tài, Tống Phước Hiệp khinh địch nên mới lầm mưu sâu mà bại dưới tay Nguyễn Huệ. Sao đem Lý Tài này so sánh với hai người ấy được. Nay đồn Thị Nghè là yết hầu của thành Sài Côn đã có tướng Nguyễn Nghi trấn đóng, thần xin đem toàn quân ra hợp với Nguyễn Nghi giữ Thị Nghè thì Tân vương ở trong thành Sài Côn như ngồi trên bàn thạch vậy.
Nói rồi liền dẫn quân đi. Lý Tài đi rồi, quân thám mã về báo với Dương: Thưa Tân vương, quân Tây Sơn đã đánh chiếm thành Trấn Biên, quan trấn thủ Hồ Văn Lân bỏ thành chạy trốn.
Nguyễn Phúc Dương hoảng hốt định sang dinh phủ Nguyễn Phúc Thuần, vừa lúc thấy Phúc Thuần và Nguyễn Đăng Trường đến. Dương không kịp mời ngồi hỏi ngay:
-Quân Tây Sơn chiếm lấy Trấn Biên, Thái Thượng vương đã biết chưa?
Nguyễn Đăng Trường đỡ lời nói:
-Thượng vương đã biết nên mới sang đây bàn bạc với Tân vương.
Dương hỏi:
-Vậy ta phải làm thế nào?
Trường đáp:
-Nay quân Tây Sơn đã lấy mất Trấn Biên thì Nguyễn Văn Hoằng không thể đem quân về cứu viện. Nguyễn Huệ lại từ cửa Cần Giờ đánh tới Thị Nghè, thành Sài Côn không thể nào giữ nổi. Hai Chúa hãy mau bỏ thành Sài Côn mà lui về Trường Đồn. Nếu Tây Sơn đánh tới Trường Đồn ta còn đường chạy về hà Tiên nương nhờ Mạc Thân Tứ, chứ ngồi ở thành Sài Côn này, ngộ nhỡ Nguyễn Huệ lại cho một cánh quân đánh lấy Trường Đồn, thì quân ta bốn bề thọ địch, khác nào cá nằm trong rọ vậy.
Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Đăng Trường liền đem gia quyến bỏ thành Sài Côn nhằm hướng Nam mà chạy.
Trong đêm ấy Nguyễn Huệ thừa lúc nước lớn cho chiến thuyền tiến sát đồn Thị Nghè đánh trống tưng bừng. Lý Tài và Nguyễn Nghi lệnh quân bắn đại bác xuống thuyền Tây Sơn, Nguyễn Huệ liền cho thuyền lui ra khỏi tầm súng. Một đêm mấy lần như thế, quân Lý Tài bằn hết đạn đại bác thì trời vừa hừng sáng. Bỗng quân từ thành Sài Côn chạy về phi báo: Quân Tây Sơn đã chiếm Trấn Biên. Hai chúa Tân vương và Thượng vương đã bỏ thành Sài Côn chạy về Trường Đồn.
Lý Tài thất sắc nói:
-Quân Tây Sơn sao chiếm được Trấn Biên nhanh thế. Tân vương chạy về Trường Đồn sao không bảo ta một tiếng!
Nói rồi truyền quân bỏ đồn Thị Nghè chạy theo hai chúa.
Lúc ấy sào huyệt quân Đông Sơn Đỗ Thành Nhân ở rừng Tam Phụ cạnh thành Trường Đồn. Đỗ Thành Nhân nghe quân vào báo:
-Thưa tướng quân , chúa Thái Thượng vương và Tân Chính vương bỏ thành Sài Côn vừa chạy ngang qua nơi này. Hiện Lý Tài cũng sắp sửa đến nơi.
Đỗ Thành Nhân mừng rỡ nói:
-Đây là dịp để ta báo thù năm trước, truyền lệnh xuất quân.
Lý Tài dẫn quân chạy đến rừng Tam Phụ bỗng nghe một phát pháo lệnh nổ vang, quân Đông Sơn từ hai bên rừng bắn tên ra như mưa. Quân Lý Tài dùng khiên mà đỡ. Đỗ Thành Nhân thấy quân Lý Tài chẳng chết bao nhiêu liền hô quân giáp chiến. Võ Nhân, Võ Tánh từ bên phải xông ra, Đỗ Thành Nhân, Đỗ Nhàn Trập từ bên trái đánh tới. Lý Tài cùng đường bèn quay lại bảo quân sĩ:
-Các ngươi hãy cùng ta quyết đánh một trận. Thắng quân Đông Sơn là chúng ta thoát nạn. Nếu quay lại gặp quân Tây Sơn thì chỉ còn con đường chết mà thôi.
Nói xong rồi vung đao xông tới. Hai bên giáp chiến, quân Lý Tài thất thế chống không nổi bị giết thây nằm chật đất. Lý Tài ngửa mặt than:
-Không ngờ Lý Tài ta cùng đường chết thảm nơi này!
Than xong đâm cổ tự vẫn. Đỗ Thành Nhân toàn thắng, tàn sát quân Lý Tài không còn một người nào cả. Nhân kiểm điểm binh mã thấy tổn thất cả ngàn quân, tức giận bảo quân lấy xác Lý Tài treo lên cây ven rừng, đoạn Nhân chỉ vào thây Lý Tài đang treo lủng lẳng trên cây mắng:
-Nếu không có mày đến đây thì giờ này ta đang làm phụ chính trong thành Sài Côn thống lãnh binh quyền phò tá chúa. Chính mày làm chúa tôi ta mỗi người đi một ngả, nghi kỵ lẫn nhau, làm rối loạn đất Gia Định này. Tội mày chết vẫn chưa trả được.
Nói xong liền chia nhau đi tìm chúa Nguyễn.
***
Lúc ấy hai chúa đem gia quyến chạy khỏi rừng Tam Phụ cách thành Trường Đồn hai mươi dặm. Bỗng thấy một đám tàn quân từ thành Trường Đồn chạy đến. Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương đón quân ấy lại hỏi:
-Các ngươi là lính của trấn nào?
Quân ấy đáp:
-Kính Chúa thượng, chúng thần là quân ở thành Trường Đồn, thành Trường Đồn bị quân Tây Sơn đánh chiếm, tướng quân Lê Văn Quân không rõ trốn tránh nơi nào. Chúng thần định chạy về Sài Côn báo cho chúa biết chẳng ngờ gặp chúa nơi bày.
Tân vương thất kinh hỏi Nguyễn Đăng Trường:
-Tây Sơn chiếm thành Trường Đồn là ta không còn đường chạy về Hà Tiên. Nay bốn bên địch vây phủ vậy phải làm sao?
Trường vẫn cần mẫn đáp:
-Ta chỉ còn một con đường là theo đường sông ra cửa bể Hàm Luông chạy ra ngoài hải đảo mà thôi!
Nói đoạn chúa tôi đưa gia quyến xuống thuyền xuôi dòng sông hòng ra cửa bể. Trong đoàn thuyền lánh nạn ấy có chiếc thuyền chở người cháu nội Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, con Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân bị Phúc Loan giết chết trong ngục ở Phú Xuân cùng Ý đức hầu Thái uý Trương Văn Hạnh năm xưa. Người này tên gọi Nguyễn Phúc Ánh cùng mẹ và em gái là tiểu thư Ngọc Du đang ở trong thuyền, bỗng thuyền bị gãy cột buồm nên đi chậm lại một đoạn khá xa. Phúc Ánh giật mình đứng trên mũi thuyền nói thầm rằng:
-Ta nghe nói tướng ra trận gãy cờ là điềm gở. Thuyền đang đi gãy buồm chắc là việc chẳng lành!
Vừa nói xong bỗng thấy phía trước đoàn thuyền chúa Nguyễn xuất hiện một đoàn thuyền chiến Tây Sơn từ trong ngả rẽ ào ào xông ra. Tướng Tây Sơn đứng trên mũi thuyền là Trần Quang Diệu quát:
-Hai chúa đừng chạy nữa, tôi chờ hai chúa ở cửa sông này đã lâu!
Nói xong Diệu liền hô quân vây bắt hai chúa Nguyễn. Tân vương ngoảnh lại thấy mình chỉ còn vỏn vẹn mười chiếc thuyền nhỏ và một trăm tên quân, biết không thoát được đành bó tay chịu trói. Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần liền chạy ra sau lái thuyền gào to lên rằng:
-Phúc Ánh cháu ơi mau chạy đi!
Gào xong nhảy xuống sông tự vẫn. Nguyễn Đăng Trường hét lên một tiếng đâm đầu theo Phúc Thuần. Trần Quang Diệu sai quân lặc xuống nước vớt Thuần và Trường lên thuyền. Về phần Nguyễn Phúc Ánh ở nơi xa thấy hai chúa bị Tây Sơn bắt liền quay thuyền hối quân chèo gấp. Vợ Trần Quang Diệu là Bùi Thị Xuân lướt thuyền theo đuổi bắt. Chạy được một đoạn Phúc Ánh liệu bề ở dưới sông không chạy kịp liền bảo quân quay thuyền vào bờ dìu mẹ và em gái lên đất liền chạy trốn. Bùi Thị Xuân cũng tấp thuyền vào cùng mươi nữ hộ vệ đuổi theo Phúc Ánh. Vì vướng mẹ và em nhỏ chạy chẳng thoát, ngoảnh lại thấy quân đuổi theo toàn là nhi nữ, Ánh bèn quay lại vung gươm rượt đánh. Được vài hiệp, Thị Xuân chờ giáo Phúc Ánh đâm tới, liền đưa tay chụp lấy mũi giáo kẹp vào trong nách mình. Phúc Ánh dùng hết sức rút giáo về nhưng cánh tay Bùi Thị Xuân như sắt không sao rút được. Thị Xuân kề gươm vào cổ Ánh hô nữ binh trói lại. Lúc ấy mẹ Ánh và em gái Ánh là tiểu thư Ngọc Du cũng vừa bị giải đến. Mẹ Ánh quỳ lạy Thị Xuân và khóc rằng:
-Nay dòng họ Nguyễn của tiên vương chỉ còn một mình nó là trai. Xin bà hãy bắt mẹ con tôi về làm tội, hãy tha thứ cho Phúc Ánh để nó lo việc tế tự tổ tiên về sau.
Nói xong khóc lóc thảm thiết. Tiểu thư Ngọc Du lúc ấy vừa tròn mười bốn tuổi cũng quỳ cạnh mẹ mà lạy Thị Xuân. Thị Xuân ngoảnh mặt gạt đi:
-Không van xin gì cả! Quân bay giải về hết cho ta!
Lúc ấy Nguyễn Phúc Ánh mới quỳ lạy Thị Xuân ba lạy nói:
-Tôi tuy còn nhỏ nhưng là nam nhi, vì nước loạn mà chết chẳng ân hận gì. Bất đắc dĩ phải lạy nữ tướng quân ba lạy, xin nữ tướng hãy thả cho mẹ và em tôi được sống. Mẹ tôi đã già, em tôi là nữ nhi thường tình không thể làm hại cho xã tắc được, xin nữ tướng quân mở lượng hiếu sinh.
Thị Xuân quay lại bảo:
-Được! Ta tha cho mẹ và em ngươi. Quân bay giải Phúc Ánh đi!
Mẹ Ánh ôm chân phải Thị Xuân khóc rống lên rằng:
-Cả dòng họ chỉ còn mình nó là trai. Nó chết đi mẹ con tôi còn sống làm gì nữa.
Tiểu thư Ngọc Du ôm chân trái Thị Xuân khóc nức nở cầu xin:
-Bà cũng là phụ nữ, cũng làm mẹ cũng có con, ắt hiểu được tấm lòng của mẹ con tôi. Vậy xin bà hãy tha cho anh tôi được sống.
Hai mươi nữ binh của Thị Xuân trông thấy cảnh này đều rơi nước mắt. Thị Xuân động lòng nói với em mình là Bùi Thị Cúc:
-Nếu ta tha Phúc Ánh, ngộ nhỡ Chúa công bắt tội biết ăn nói làm sao?
Thị Cúc đáp:
-Việc này chỉ có chị em ta cùng hai mươi vệ quân thân tín, ta giấu đi sao Chúa công biết được. Chỉ e rằng Phúc Ánh là dòng hoàng tộc nếu sau này khởi binh báo thù thì nguy cho xã tắc mà thôi!
Thị Xuân cười bảo:
-Cả một cơ đồ còn phải sụp đổ thay, huống gì thằng con nít này trong tay chẳng một tên quân thì làm gì ta được.
Nói rồi liền ra lệnh tha cho ba mẹ con Phúc Ánh. Phúc Ánh cùng mẹ và em rối rít lạy tạ ơn, rồi vội vàng dìu nhau đi về làng dân gần đó. Ngọc Du hỏi Ánh:
-Anh ơi! Nay không cửa không nhà, không người thân thích biết phải về đâu?
Ánh vỗ về Ngọc Du:
-Trời đất này là của nhà Nguyễn ta, nay ta lại không có chỗ dung thân sao? Ta sẽ về với Đỗ Thành Nhân.
Nguyễn mẫu hỏi:
-Ngày trước Thành Nhân quản thúc Thượng vương và hoàng tộc trong thành Sài Côn. Nay theo về với hắn để làm tù nhân ư. Thà mẹ sống làm một người dân hạ tiện còn hơn về với Đỗ Thành Nhân!
Ánh trấn an mẹ và em rằng:
-Mẹ cứ an tâm! Lần trước quản thúc họ nhà ta trong thành Sài Côn hắn tưởng rằng con khờ dại nên mới bảo con lên mặt thành vờ không nhận Đông cung Thế tử Dương. Nhờ vậy con bắn tên đưa thư cho Thế tử Dương thông báo việc Thành Nhân làm phản. Đến nay Thành Nhân vẫn nghĩ rằng con tin hắn một dạ trung thành ắt vui vẻ mà đón tiếp mẹ con ta. Vả lại Thành Nhân dấy binh lấy tên Đông Sơn là có ý cho rằng binh hắn đối dịch với Tây Sơn. Nay có mẹ con ta hắn ắt mừng vì có nghĩa tôn phò, không hậu tiếp con sao được? Mẹ chớ lo!
Nói rồi liền dìu mẹ và em ngày đi đêm nghỉ bước thấp bước cao cực khổ trăm bề, tìm đến rừng Tam Phụ nương náu Đỗ Thành Nhân.
***
Nói về tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ vào thành Sài Côn rồi. Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân dẫn Thượng vương Phúc Thuần, Tân vương Phúc Dương, Tĩnh điệp hầu Nguyễn Đăng Trường về nộp dưới trướng. Nguyễn Huệ cười hỏi Phúc Dương:
-Đại huynh tôi sửa thành Đồ Bàn, tạm mời Đông cung Thế tử ra chùa Thập Tháp, chờ sửa xong thành sẽ rước Thế tử về xưng vương. Sao Thế tử lại chạy vào Gia Định để nhà Nguyễn ta có một lần hai chúa vậy?
Phúc Dương đáp:
-Ta thoát được về Gia Định mưu khôi phục cơ đồ. Nay việc không thành là do lòng trời vậy. Muốn chém giết mặc lòng, chớ hỏi lôi thôi.
Nguyễn Huệ truyền quân đem tạm giam Dương và Thuần, rồi tự tay mở trói cho Nguyễn Đăng Trường hỏi:
-Ngày trước chia tay ở Qui Nhơn, tiên sinh ra đi định xoay chuyển lại đất trời. Nay tiên sinh bị tôi bắt lần nữa, cỗ xe cầu hiền tôi vẫn dành cho tiên sinh đó. Chẳng hay ý tiên sinh thế nào?
Trường lạnh lùng đáp:
-Ngày nay chỉ có chết mà thôi!
Huệ cười bảo:
-Nếu thả tiên sinh lần nữa, chỉ e rằng lần sau quân lính của Huệ lại tốn thêm một sợi dây trói chứ lợi ích gì?
Nói rồi Huệ truyền quân lôi Thượng vương Phúc Thuần, Tân vương Phúc Dương và Nguyễn Đăng Trường ra chém. Chém xong Huệ lại sai quân tống táng theo nghi lễ vương hầu.
***
Nói về Nguyễn Lữ lấy xong thành Trấn Biên rồi, bèn sai Đặng Văn Long đem sáu ngàn binh mã tiến đánh Bình Thuận. Quân Tây Sơn trước đặt đại bác bắn vỡ thành rồi xung phong giáp chiến. Quân Nguyễn nghe súng nổ, trống đánh vang trời đã kinh hồn bạt vía bèn bỏ thành chạy trốn vào rừng. Nguyễn Văn Hoằng lúc ấy đã ngoài năm mươi tuổi, lên ngựa mặc giáp cùng vài trăm quân tín cẩn đến cửa thành cản địch, bị Đặng Xuân Phong chém một đao rơi đầu. Đặng Văn Long thừa thắng kéo quân ra thẳng thành Diên Khánh. Đồn trại quân Nguyễn dọc đường bị quân Tây Sơn tung hoả hổ mà đốt, khắp nơi kửa cháy ngút trời. Bại binh quân Nguyễn đổ xô chạy về thành Diên Khánh, tên nào tên nấy áo rách tả tơi, kẻ phồng mình, người gãy tay, sứt trán kêu khóc xin mở cửa thành. Quan trấn thủ Diên Khánh là Tống Phước Khuông kinh hãi đốc thúc quân canh phòng cẩn mật. Bỗng nghe trống trận Tây Sơn dồn dập từ xa, quân của Khuông run lên bần bật. Khương nổi giận vung gươm chém một tên quân vì sợ hãi mà rơi mất giáo. Khuông quát:
-Giặc tới phải liều chết mà đánh, nếu ai sợ ta giết chết không tha.
Vừa dứt lời quân Tây Sơn ở dưới thành đặt đại bác bắn vào. Súng nổ ầm ầm, đạn bay vèo vèo lên mặt thành, trúng vào đâu gạch đá vỡ tan. Quân Khuông hò nhau bỏ chạy. Khuông ngăn không được bèn hoà trong đám loạn quân bỏ thành mà trốn. Chiếm được thành Diên Khánh, Đặng Văn Long nói với Đặng Xuân Phong:
-Nay từ Qui Nhơn vào Gia Định chỉ còn quân Nguyễn đóng trên ải Vân Phong. Chiếm được ải này là từ Quảng Nam đến Sài Côn đã thuộc về Tây Sơn ta vậy!
Nói rồi truyền quân tiến đánh ải Vân Phong. Quân Tây Sơn đến chân đèo, thấy trên đèo tĩnh mịch như tờ, không một bóng người. Long liền cho vài tên quân lên dò thám, đến nơi mới hay tướng giữ Vân Phong là Tống Phước Lương và toàn quân đã bỏ trốn mà trốn tự bao giờ!
Quân Tây Sơn khắp nơi toàn thắng. Nguyễn Huệ liền để Lê Chu giữ thành Sài Côn, Nguyễn Uy giữ thành Trường Đồn, Phạm Ngạn giữ Trấn Biên, Đặng Xuân Phong giữ Bình Thuận, Diên Khánh rồi hợp binh các đạo tại cửa Cần Giờ định ngày rút về Qui Nhơn. Văn Long hỏi Huệ:
-Nay ta mới bình chứ chưa yên được đất Gia Định. Lê Chu, Nguyễn Uy, Phạm Ngạn đều là người hữu dũng vô mưu không biết phép trị dân, nay ở lại trấn Gia Định e lòng người không phục.
Huệ đáp:
-Ta cũng biết thế, nhưng lúc xuất binh ở Qui Nhơn đại huynh dặn dò ta khi chiếm được Gia Định phải để ba người này trấn thủ ba dinh, rồi rút đại binh về Qui Nhơn để phòng quân Trịnh xâm phạm mặt Bắc. ta để Lê Chu, Phạm Ngạn, Nguyễn Uy trấn thủ ba dinh là làm theo lệnh đại huynh mà thôi.
Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu nói:
-Nguyễn Uy, Lê Chu, Phạm Ngạn là do Chúa công lập trường đấu võ tuyển dụng ra. Chúa công đố tài tướng quân nên để ba người này trấn Gia Định để làm vây cánh ở cõi ngoài mà thôi.
Huệ ôn tồn bảo Văn Tuyết:
-Tuyết nói sai rồi! Chẳng qua đại huynh ta thấy các ông đều là hào kiệt nên muốn cùng ta về Qui Nhơn đề phòng quân Trịnh. Tuyết chớ nói càn mà mang tội khi quân.
Văn Tuyết quỳ tâu:
-Tướng quân là người trung hậu, tình nhà nghĩa nước vẹn đôi bề. Đối với Chúa công hết dạ trung thành, chúng tôi rất lấy làm kính phục. Bản thân Tuyết tôi chịu ơn cứu mạng của Chúa công, nguyện đem thân này ra đáp trả. Nhưng Tuyết tôi nghĩ sao thì nói vậy, Chúa công là người nhân hậu, vì thương người nghèo mà dấy nghĩa cứu dân, nhưng Chúa công tánh hay đố kỵ người tài trí hơn mình, e bất lợi cho đại sự, tướng quân nên tính trước. Tuyết tôi nói thế là vì quốc dân mà thôi. Xin tướng quân tha tội.
Nguyễn Huệ trợn mắt quát:
-Văn Tuyết to gan! Nếu không nghĩ ngươi là một công thần theo đại huynh ta từ lúc Tây Sơn dấy nghĩa, ta giết chết không tha.
Nói rồi đuổi Văn Tuyết ra ngoài, truyền quân xuất phát đem đại binh về Qui Nhơn.
Sách với ta là bạn, là thầy
0
CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM
Đánh Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc lên ngôi
Nương Thành Nhân, Phúc Ánh làm chúa
 
Ngày kia thiết triều, Nguyễn Nhạc trang trọng nói:
-Nguyễn Huệ đem đại binh vào Nam Hà đánh một trận giết được hai chúa nhà Nguyễn, toàn bộ đất đai từ Quảng Nam vào Gia Định đều thuộc nhà Tây Sơn ta cả. Thành Đồ bàn vừa mới sửa xong, ý ta muôn lên gôi Hoàng đế các khanh nghĩ thế nào?
Nguyễn Huệ vội bước ra can:
-Xin đại huynh chớ lên ngôi Hoàng đế!
Nguyễn Nhạc phật ý nói:
-Nay ta đã tiêu diệt xong nhà Nguyễn, thống nhất toàn cõi Đàng Trong, sao lại không lên ngôi Hoàng đế được?
Huệ quỳ xuống nói:
-Thưa đại huynh, dân nước Nam ta vẫn còn nhớ ơn vua Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh, nên trong lòng trăm họ chỉ có họ Lê làm vua mà thôi. Đến như họ Trịnh nắm quyền ở Đàng Ngoài, quyền nghiêng thiên hạ còn không dám truất bỏ nhà Lê. Họ Nguyễn ở Đàng Trong tự chủ hơn một trăm năm cùng họ Trịnh bảy lần giao chiến, cũng chỉ dám xưng Vương mà thôi. Nay nhà Tây Sơn ta mới dấy binh, ân đức cùng bá tánh chưa rộng khắp, nếu đại huynh lên ngôi Thiên tử e lòng người nhớ ơn nhà Lê mà oán Tây Sơn ta, ấy là một lẽ. Đại huynh đang nhận sắc phong của họ Trịnh làm Quảng Nam trấn thủ, nếu đại huynh lên ngôi Hoàng đế, Trịnh Sâm ắt mượn tiếng vua Lê cử đại binh vào đánh ta, ấy là hai lẽ. Hiện thời dù ta đã tiêu diệt được họ Nguyễn nhưng thủ hạ của chúng không phải không còn. Như Đỗ Thành Nhân rút vào căn cứ ở rừng Tam Phụ, các tướng Nguyễn là Lê Văn Quân, Hồ Văn Lân, Nguyễn Nghi, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương vẫn đang lẩn trốn trong rừng thừa cơ nổi dậy. Nếu nghe đại huynh lên ngôi vua dù dòng họ Nguyễn không còn ai nhưng chúng sẽ mượn tiếng phò Lê như ngày trước ta mượn tiếng tôn phò Hoàng tôn Dương vậy, ấy là ba lẽ. Vì ba điều bất lợi ấy nên em dập đầu xin đại huynh chớ lên ngôi Hoàng đế.
Nguyễn Nhạc giận lắm nạt:
-Ngày trước ta có ý xưng Vương, ngươi ba lần bảy lượt can ngăn. Nay binh ta hùng, tướng ta mạnh, ta định lên ngôi Hoàng đế ngươi lại viện đủ lý do quyết lòng cản trở là ý làm sao?
Nguyễn Huệ sợ hãi dập đầu dưới trướng thưa:
-Xin đại huynh bớt giận, em chỉ vì đại cuộc mới nói lời ngay thật mà thôi! Chờ ít năm nữa ta yên được lòng dân Gia Định, cho không còn mầm mống phản loạn bên trong, rồi ta mượn tiếng phò Lê đem quân diệt Trịnh thống nhất sơn hà, xoá bỏ ranh giới Linh Giang, cho dân một nước không còn cảnh binh đao khói lửa, anh em dòng giống không còn chém giết lẫn nhau, thì ân đức của đại huynh sẽ ngàn sau lưu truyền cùng sử sách. Nếu bây giờ đại huynh lên ngôi Hoàng đế, e rằng trong nước sẽ sinh ra biến loạn, quân Tây Sơn ta phải thọ địch khắp nơi. Xin đại huynh xét lại!
Nguyễn Nhạc nổi giận quát lớn:
-Nguyễn Huệ to gan dám bảo ta lên ngôi thì trong nước sẽ sinh ra biến loạn sao? Quân bây đâu lôi ra ngoài cho đánh ba mươi trượng cho chừa thói xàm ngôn phạm thượng.
Quân vệ sĩ vốn sợ uy Nguyễn Huệ đang còn chần chừ, Nguyễn Lữ bước ra quỳ bên cạnh Nguyễn Huệ khóc rằng:
-Xin đại huynh bớt giận, anh Huệ chỉ vì quốc dân mà nói lỡ lời. Xin đại huynh hãy nghĩ đến công lao hãn mã của anh Huệ mà tha cho anh ấy một phen. Từ ngày thân phụ mất đi, đại huynh nuôi dạy hai anh em, công lao ấy tạc dạ ghi lòng. Nếu anh Huệ có lỗi xin đại huynh dùng đạo nhà mà trị, chứ nếu lấy phép nước mà đánh anh Huệ ba mươi trượng thì còn gì xương thịt mà phụ mẫu tạo ra!
Nghe Lữ nói xong, Huệ ôm em mà khóc. Các tướng trông thấy đều quỳ xuống xin tha cho Nguyễn Huệ . Nguyễn Nhạc trông thấy hai anh em ôm nhau quỳ khóc dưới trướng động lòng ứa nước mắt nói:
-Nể lời các tướng ta tha cho lần này. Nhưng đạo nhà không thể không trị!
Dứt lời Nhạc truyền quân đem roi mây đến, bắt Huệ nằm giữa điện tự tay cầm roi đánh vào mông ba mươi roi. Đánh xong bước lên ngai, Nhạc bảo:
-Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn. Chém!
Năm Mậu Tuất (1778) Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Thái Đức, đổi tên thành Qui Nhơn thành Hoàng Đế Thành, phong con là Nguyễn Bảo làm Thái tử, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Vũ Văn Nhậm, Trương Văn Đa làm Phò mã, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân đều phong làm đô đốc.
Việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc vừa xong, các tướng Nguyễn Văn Tuyết, Văn Lộc, Văn Long rủ nhau đến tư dinh thăm Nguyễn Huệ. Huệ tươi cười mời vào nhà hỏi:
-Nay có việc chi mà các ông đến nhà Huệ đông thế?
Nguyễn Văn Lộc đáp:
-Hôm ấy Hoàng thượng giận đánh tướng quân ba mươi roi mây vào mông. Nghe nói tướng quân bị đau không ngồi được nên chúng tôi đến thăm tướng quân chớ không có việc gì cả!
Huệ cười nói:
-Hôm ấy Hoàng huynh tôi giận đòi đánh tôi ba mươi trượng. Nhưng Hoàng huynh rất thương yêu tôi đời nào lại đánh tôi như thế. Còn việc dùng roi mây giáo huấn, Nguyễn Huệ tôi từ nhỏ nhờ đại huynh răn dạy nay mới được nên người thì có chi là đau đớn. Các ông xem tôi vẫn ngồi được như thường đấy thôi!
Thấy Văn Tuyết nhìn quanh quất, Huệ hỏi:
-Văn Tuyết tìm ai thế?
Tuyết lại hỏi Huệ:
-Tiết chế Nguyễn Lữ đâu chẳng thấy?
Huệ đáp:
-Hoàng huynh cùng Lữ đệ thăm tôi vừa mới ra về.
Khi ấy Văn Tuyết mới nói:
-Hôm ấy nếu không nhờ Tiết chế đem tình cốt nhục ra can gián và anh em chúng tôi không đồng lòng xin hộ thì Hoàng thượng làm sao rút lời. Thế có phải là Long Nhương tướng quân bị ba mươi trượng xương tan thịt nát rồi không?
Huệ cười to đáp:
-Văn Tuyết nói sai rồi! Hoàng huynh ta thừa biết rằng ta bị tội các tướng tất phải xin cho. Hoàng huynh vì giận mà nói thế chứ nào cố làm tội ta.
Văn Long xen vào nói:
-Hoàng thượng là người nhân đức, thấy việc nghĩa dám quên mình, xem tướng sĩ như huynh đệ, phụ tử khiến người dưới quyền đều mến phục. Đến nỗi Hoàng thượng nới lên ngôi tôi đã nghe quân đồn trấn ải Cù Mông đặt câu ca rằng:
Ơn vua Thái Đức chí tình
Cù Mông vắng vẻ nhưng mình vẫn vui Xem thế đủ biết ân đức của Hoàng thượng đã rộng khắp phủ Qui Nhơn. Nhưng Hoàng thượng có hai tật nhỏ làm lu mờ đức lớn, thật đáng tiếc thay!
Văn Lộc hỏi:
-Hai tật nhỏ của Hoàng thượng là tật gì mà đến nỗi làm lu mờ đức lớn như thế?
Long đáp:
-Thứ nhứt là mộng làm vua khiến kẻ sĩ trong thiên hạ nghĩ rằng Hoàng thượng mưu định bá đồ vương mà giả nhân, giả nghĩa. Thứ hai là tánh đố tài không dám mạnh dạn cho Long Nhương tướng quân điều binh khiển tướng, làm chậm đi bước tiến của quân Tây Sơn ta trên con đường thống nhất giang san. Nếu Hoàng thượng cứ chuyên tâm trau dồi đức độ, giao binh quyền cho Long Nhương như ngày xưa Lư Bị giao quyền cho Gia Cát vũ hầu thì việc thống nhất giang san chỉ trong một sớm một chiều mà thôi.
Nghe Long nói xong Nguyễn Huệ nạt:
-Văn Long không được nhiều lời. Đại huynh ta giờ là vua một cõi Đàng Trong há để cho các ngươi đem ra bình phẩm hay sao? Nếu Hoàng huynh ta nghe được liệu cái đầu của ngươi có còn nằm yên trên cổ không?
Long sợ hãi vòng tay nói:
-Chẳng qua là đệ lấy làm tiếc cho sự nghiệp của nhà Tây Sơn ta mà thôi. Xin đại huynh bớt giận.
Nguyễn Huệ nét giận hầm hầm nói:
-Ngày trước Hoàng huynh ta tôn thầy làm sư phụ. Nhưng bây giờ dù thầy ta còn sống cũng không dám buông lời bình phẩm như ngươi vừa nói. Ta nể tình huynh đệ đồng sư môn mà tha cho ngươi một lần đó. Từ giờ trở đi nếu có kẻ nào còn đàm tiếu đại huynh thì đừng có trách ta là huynh đệ vô tình. Nói xong liền đuổi Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết đi về. Ba tướng sợ hãi bái tạ lui ra.
Trên đường về, Đặng Văn Long nói với Văn Tuyết và Lộc:
-Long Nhương tướng quân bị Hoàng thượng đố tài kiềm chế mà không oán, bị anh đánh oan giữa chỗ đông người mà không giận vẫn một lòng hiếu đễ, thật đáng phục thay!
***
Nói về Nguyễn Phúc Ánh băng rừng lội suối về rừng Tam Phụ nương náu Đỗ Thành Nhân. Nghe tin Nguyễn Huệ rút đại binh về Qui Nhơn, Ánh bảo Đỗ Thành Nhân:
-Nguyễn Huệ tưởng rằng đã giết hết nhà Nguyễn ta, nên rút đại binh về Qui Nhơn đề phòng quân Trịnh xâm phạm mặt Bắc, hắn để Nguyễn Uy ở lại giữ Trường Đồn, Lê Chu giữ Sài Côn, Phạm Ngạn giữ Trấn Biên. Vậy tướng quân hãy sai người đi khắp các nơi liên lạc với các tướng hiện đang lẩn trốn, bảo họ đem quân về họp tại căn cứ Tam Phụ của ta rồi chỉnh đốn binh mã lấy lại đất Gia Định, đừng nên bỏ lỡ thời cơ.
Đỗ Thành Nhân suy tư nói:
-Ngày trước lúc tôi làm phụ chính ở thành Sài Côn vì sợ Lý Tài giả hàng làm nội ứng cho giặc, nên mới giữ không cho chúa Định vương ra thành đón Lý Tài. Vì việc ấy mà các tướng bảo tôi làm phản quản thúc Chúa thượng. Nay tôi triệu tập các tướng làm gì họ chịu đến đây?
Ánh cười bảo:
-Việc này tướng quân chớ lo. Tôi sẽ viết mật thư cho người đi gọi. Các tướng biết tôi còn sống ắt sẽ đến ngay.
Thành Nhân cả mừng nói:
-Vậy phiền Hoàng điệt viết thư nói rõ tấm lòng trung quân của tôi để các tướng dẹp bỏ thành kiến, cùng quyết tâm khôi phục cơ đồ là Hoàng điệt giải oan cho tôi rồi vậy.
Nguyễn Phúc Ánh liền viết mật thư trao cho quân đi triệu tập các tướng. Ít lâu sau Lê Văn Quân, Hồ Văn Lân, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương, Nguyễn Nghi đem tàn quân về hội ở rừng Tam Phụ. Phúc Ánh ôm các tướng khóc rằng:
-Chú tôi là Thái Thượng vương, anh họ tôi là Tân Chính vương, cùng hoàng thân quốc thích và Tĩnh điệp hầu Nguyễn Đăng Trường đều bị quân Tây Sơn bắt giết hết cả rồi. Chỉ còn mình tôi tả xung hữu đột đưa mẹ và em vượt khỏi trùng vây chạy thoát mới viết mật thư triệu tập các tướng đến đây cùng nhau khôi phục cơ đồ mà tiên vương đã tốn bao công sức mới dựng nên.
Các tướng cùng khóc nói:
-Họ hàng vợ con chúng tôi đều bị quân Tây Sơn giết cả. Thù này không trả được còn sống trên đời làm gì nữa!
Đỗ Thành Nhân khuyên giải:
-Xin Hoàng điệt và các vị hãy bình tâm, dẹp bỏ ưu phiền để cùng nhau mưu bàn đại sự. Nay tuy hai chúa đã bị hại nhưng hoàng tộc hãy còn có Hoàng điệt Phúc Ánh. Vậy ta hãy tôn Hoàng điệt làm nhiếp chính quốc, Bình Tây đại Nguyên Soái cho an lòng tướng sĩ rồi sẽ khởi binh chiếm lại đất Gia Định tính kế lâu dài.
Ánh thoái thác:
-Tôi tuy là Hoàng điệt nhưng mới mười bảy tuổi, tài cán gì mà dám nhận chức ấy. Xin các vị hãy cử người khác cho.
Lê Văn Quân nói:
-Người xưa có câu: “Tài không đợi tuổi”, Hoàng điệt không có tài sao một mình có thể thoát khỏi trùng vây của giặc Tây Sơn được. Nếu Hoàng điệt không nhận chức ấy, thì sao gom được lòng dân về một mối mà chống giặc Tây Sơn?
Đỗ Thành Nhân thêm vào:
-Lời Lê tướng quân rất phải! Xin Hoàng điệt hãy thuận cho. Nếu ngại cề việc điều binh khiển tướng đã có tôi đây bàn mưu định kế. Xin Hoàng điệt chớ lo!
Nói rồi liền ra hiệu cho các tướng quỳ xuống tung hô:
-Chúng tôi ra mắt Bình Tây đại Nguyên Soái!
Lúc ấy Ánh mới nói:
-Thôi các tướng đừng thi lễ nữa. Ta đâu dám phụ lòng các tướng. Vậy các vị hãy đứng lên cùng bàn việc khởi binh.
Nguyễn Ánh và các tướng cùng ngồi vào bàn.
Thành Nhân hỏi:
-Tuy Nguyễn Huệ đã rút đại binh về Qui Nhơn, nhưng quân Tây Sơn rất là thiện chiến. Muốn chiếm lại ba thành Trường Đồn, Sài Côn, Trấn Biên, ta nên dùng mưu chớ nên dùng sức, các vị có kế gì chăng?
Bàn qua tính lại mãi vẫn chưa có kế gì đánh quân Tây Sơn, bỗng nghe ngoài bản doanh có tiếng quân cười nói xôn xao. Nhân gọi quân vào hỏi:
-Ngoài kia có việc chi mà ồn ào thế?
Tên quân đáp:
-Thưa tướng quân! Trong quân của ta có một tên lính dung mạo giống tướng quân như tạc. Lúc đầu mọi người cứ ngỡ là tướng quân. Sau vỡ lẽ lấy làm lạ bèn xúm nhau mà coi nên bàn tán xôn xao thế!
Thành Nhân nhíu mày hỏi:
-Ngươi bảo dung mạo giống ta như tạc ư?
Tên quân đáp:
Thưa phải!
Nhân truyền:
-Đem hắn vào đây cho ta!
Võ sĩ dẫn tên quân vào. Quả nhiên người này vóc dáng nhỏ hơn, nhưng dung mạo giống Thành Nhân như tạc.
Thành Nhân trợn mắt bảo:
-Trên đời sao có sự lạ thế! Truyền quân đem chém!
Tên quân hoảng sợ van xin:
-Xin tướng quân tha mạng! Tôi chẳng may trời sinh giống tướng quân. Chứ từ trước đến nay chưa phạm tội gì. Xin tướng quân thương tình tha mạng!
Thành Nhân đáp:
-Trùng tên vua chúa là phạm huý, phải đổi tên khác. Mặt giống vua chúa là phạm mạo, phải đổi mặt khác. Không chém đầu ngươi sao tra đầu khác vào được?
Nói xong mặc tên lính khóc lạy van xin, Thành Nhân hô quân lôi ra chém! Bỗng một người bước ra nói:
-Tôi có một kế chiếm lại đất Gia Định như trở bàn tay!
Phúc Ánh hỏi Nhân:
-Người này là ai thế?
Thành Nhân đáp:
Người này trí dũng song toàn, là thuộc tướng của tôi tên là Võ Tánh.
Ánh thấy Võ Tánh tướng mạo đường đường, mặt mày cương trực khôi ngô trong lòng rất thích hỏi:
-Kế thế nào tướng quân hãy nói xem?
Tánh đáp:
-Tiểu tướng xin đem hai trăm quân vào thành Trường Đồn trá hàng. Nguyên Soái và các tướng phục sẵn bên ngoài khi nào thấy lửa hiệu và cổng thành mở thì đem quân tràn vào mà đánh. Phải lưu ý chớ cho quân chạy thoát thành về Sài Côn báo với Lê Chu. Chiến xong Trường Đồn ta dùng y phục quân Tây Sơn về Sài Côn lừa Lê Chu mở cổng thành. Nếu dùng kế này có thể chiếm được Trường Đồn, Sài Côn dễ dàng.
Thành Nhân cười bảo:
-Ta e rằng ngươi vào Trường Đồn xin hàng, Nguyễn Uy sợ trá hàng mà giết ngươi trước thì sao?
Võ Tánh đáp:
-Ta làm khổ nhực kế, Nguyễn Uy tất sẽ tin mà cho tôi quy hàng.
Ánh hỏi:
-Khổ nhục kế thế nào?
Tánh quỳ lạy Đỗ Thành Nhân nói:
-Tướng quân tha tội tiểu tướng mới dám thưa!
Nhân bảo:
-Vì đại cuộc sao bảo là tội! Ngươi cứ nói thử xem?
Tánh đáp:
-Khổ nhục kế chính là cái đầu của tên quân vừa bị chém đó. Ta cứ làm như vầy... như vầy... Nguyễn Uy ắt phải lầm mưu.
Thành Nhân khen:
-Thật là diệu kế. Nhưng ngươi nên cẩn thận, quân Tây Sơn rất thiện chiến. Nhớ năm trước thằng vô lại Văn Tuyết và thằng chăn trâu Văn Lộc mắc kế điệu hổ ly sơn, bị ta vây ở ấp Hoà Hưng mà vẫn vũ dũng dùng hai ngàn quân đánh lui năm ngàn quân của ta. Võ Tánh chớ nên khinh địch, hãy theo kế ấy lập tức thi hành.
Võ Tánh lãnh lệnh đi ngay.
***
Ngày ấy trong thành Trường Đồn, tướng Tây Sơn Nguyễn Uy nghe quân vào báo:
-Thưa tướng quân có một viên tướng dẫn hai trăm quân xưng là thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân đứng dưới thành xin hàng.
Nguyễn Uy bảo tả hữu:
-Lúc Long Nhương tướng quân rút đại binh về Qui Nhơn có căn dặn ta rằng: “Đất Gia Định dễ đánh mà khó giữ, nên dùng ân đức để thu phục lòng dân”. Nay có tướng địch ra hàng nên ta dung nạp để tỏ rõ lòng khoan dung của Tây Sơn ta vậy!
Trong quân hầu cận có người nói:
-Đành rằng như thế nhưng làm thế nào để phân biệt thật giả? Ngộ nhỡ giặc trá hàng vào thành làm nội ứng thì sao?
Uy bảo:
-Ta cứ lên mặt thành xem hư thực thế nào rồi sẽ liệu sau!
Nói rồi nai nịt lên mặt thành quan sát. Thấy viên tiểu tướng dẫn hai trăm quân đứng dưới thành, Uy hỏi lớn:
-Nếu ngươi muốn về với Tây Sơn ta, thì có chi làm bằng không phải là gian kế chăng?
Viên tiểu tướng đáp:
-Tôi tên là Võ Tánh, là thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân. Vừa rồi tôi khuyên Đỗ Thành Nhân ra hàng, Thành Nhân không nghe lại toan giết tôi, tôi bèn chém chết Đỗ Thành Nhân rồi cắt thủ cấp đem đến xin hàng.
Đoạn Võ Tánh giơ thủ cấp lên nói:
-Đây là thủ cấp của Đỗ Thành Nhân xin tướng quân xem lại.
Nguyễn Uy cả mừng bảo tả hữu:
-Ngươi mau đi gọi mấy tên quân trước ở trong quân của Đỗ Thành Nhân đến đây cho ta!
Vài tên quân đến, Uy hỏi:
-Các ngươi hãy nhìn xem thủ cấp kia có phải của Đỗ Thành Nhân chăng?
Tên quân đáp:
-Người cầm thủ cấp chính là Võ Tánh thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân. Còn thủ cấp kia do người chết không giống người sống, nên ở xa chúng tôi không dám quyết.
Nguyễn Uy liền xuống thành, dàn quân làm hai hàng, tự mình cưỡi ngựa cầm đao đứng giữa rồi cho mở cổng thành. Võ Tánh vào thành rồi quỳ mọp dưới ngựa Nguyễn Uy dâng thủ cấp. Nguyễn Uy hỏi quân:
-Chúng bay xem cho kỹ có phải là thủ cấp của Đỗ Thành Nhân chăng?
Mấy tên quân nhìn tới nhìn lui một hồi rồi nói:
-Thưa tướng quân! Đây đúng là dung mạo của Đỗ Thành Nhân.
Nguyễn Uy lại hỏi:
-Không thể lầm lẫn chứ?
Quân đáp:
-Chúng tôi thường ở trong quân Đỗ Thành Nhân mấy năm trời không thể lầm lẫn được!
Lúc ấy Nguyễn Uy nhảy xuống ngựa đỡ Võ Tánh dậy nói:
-Ngươi chớ lo sợ, ta làm thế chẳng qua là sợ gian kế mà thôi. Nay biết ngươi thật bụng, ta lại chẳng thật lòng hậu đãi hay sao?
Võ Tánh lạy tạ ơn. Uy lại hỏi:
-Thường ngày ngươi có tài gì?
Tánh cung kính đáp:
-Tôi theo đòi võ nghệ cũng thạo nghề cung kiếm.
Uy đang vui vẻ liền bảo:
-Bình sanh ta rất thích võ nghệ. Vậy ngươi hãy biểu diễn vài đường cho ba quân biết vũ dũng của ngươi đi.
Tánh vâng lời liền cầm thương bỏ bộ mà múa. Đường thương linh hoạt lui tới nhịp nhàng trông rất là ngoạn mục. Ba quân thấy thế vỗ tay reo hò cổ vũ.
Uy hứng chí nhảy ra nói:
-Đánh võ một người sao hứng thú. Ta với ngươi thử sức cho vui.
Nói rồi cầm đao đánh với Võ Tánh. Kẻ đánh người đỡ, kẻ tiến người lui. Qua năm mươi hiệp bất phân thắng bại. Nguyễn Uy vờ núng thế bỏ bộ quay lưng tháo lui. Võ Tánh mừng rỡ nghĩ bụng: “Ta nhân dịp này giết chết Nguyễn Uy ắt là hàng được quân sĩ vậy”. Nghĩ xong nhảy theo đâm một thương trí mạng, chẳng ngờ Nguyễn Uy quay lại, một tay chụp lấy mũi thương, một tay vung đại đao chém hậu. Đao vừa đến cổ Võ Tánh, Nguyễn Uy liền dừng lại. Võ Tánh tháo mồ hôi hột phân trần rằng:
-Trong lúc đấu võ phải trổ hết tài nghệ. Nếu tướng quân không đánh thế võ này, thì đường thương của Tánh tôi vừa đến áo giáp của tướng quân liền dừng lại. Xin tướng quân chớ khá hiểu lầm.
Nguyễn Uy thu đao về cười lớn:
-Điều này ta há chẳng biết sao? Cũng như đường đao của ta vừa đến cổ ngươi liền dừng lại. Ngươi dùng thương pháp ắt phải có thế Hồi mã thương. Thế đà đao của người Qui Nhơn ta thường gọi là phản bối đao vậy!
Võ Tánh bái lạy:
-Tướng quân võ nghệ siêu quần, Tánh tôi rất lấy làm khâm phục.
Nguyễn Uy cả cười nắm tay Võ Tánh vào trong tướng phủ.
Đêm ấy nhân lúc Nguyễn Uy ngủ say, Võ Tánh lén chia quân mở bốn cửa thành, phóng hoả ở nhà chứa cỏ cho ngựa rồi chạy ra cửa Bắc thành đón quân mình.
Quân Nguyễn Phúc Ánh thấy lửa cháy trong thành Trường Đồn, lại thấy cửa thành mở toang liền ồ ạt xông vào thành. Nguyễn Uy đang ngủ nghe tiếng quân hò reo inh ỏi, giật mình thức dậy, lại thấy lửa cháy ngút trời. Uy thất kinh vội vàng mặc giáp cầm đao lên ngựa đem theo vài mươi tên quân tín cẩn nhắm cửa Bắc thành mà chạy. Gần đến cổng thành, Uy nghe Võ Tánh nói với quân Tây Sơn đang chiến đấu rằng:
-Quân ta đã chiếm được thành, các ngươi còn ngoan cố hay sao? Các ngươi đều là người Gia Định cả. Ơn chúa Nguyễn chưa đền sao theo giặc Tây Sơn? Còn không mau bỏ giáp quy hàng, ta hứa bảo toàn tính mạng cho các ngươi.
Nghe Võ Tánh nói quân Tây Sơn đều đầu hàng cả. Nguyễn Uy thấy vậy hơi giận ngút trời, chẳng nói chẳng rằng vung đao xông tới chém Tánh. Tánh đưa thương lên đỡ. Nguyễn Uy trong cơn giận sức mạnh vô cùng, Võ Tánh đánh không lại bị Uy chém một nhát trúng tay liền quay ngựa bỏ chạy.
Uy đuổi theo hét vang:
-Thằng súc sinh lừa đảo kia chạy đâu cho thoát!
Bỗng từ bên phải có tiếng rằng:
-Tướng giặc chớ hung hăng, có ta là Đỗ Thành Nhân đến đây.
Nguyễn Uy giật mình quay lại thấy một người cưỡi ngựa dung mạo giống hệt thủ cấp Võ Tánh dâng lúc ban ngày. Uy thất kinh nghĩ bụng, thằng này đã chết rồi sao lại còn đây. Võ Tánh nhân lúc Uy phân tâm liền quay lại đâm một thương vào giữa bụng Nguyễn Uy. Đâm xong Tánh bảo:
-Đây là thế Hồi mã thương của ta đấy!
Nguyễn Uy dùng hết hơi tàn gắng gượng nói:
-Nếu biết bụng ngươi quyết giết ta lúc thử võ, ta dùng phản bối đao chém chết cho rồi!
Nói xong nhào xuống ngựa mà chết. Quân Nguyễn chiếm được thành Trường Đồn, quân Tây Sơn thấy chủ tướng chết đều đầu hàng cả. Thấy Võ Tánh bị thương, Đỗ Thành Nhân để Đỗ Nhàn Trập ở lại giữ Trường Đồn cùng Võ Tánh, còn mình đem đại quân cùng Nguyễn Phúc Ánh tiến ra Sài Côn. Trước khi đi, Võ Tánh nói riêng với Đỗ Thành Nhân rằng:
-Nguyên Soái là người khôn ngoan sắc sảo, không phải thật thà nhu nhược như chúa Định vương ngày trước. Dù binh quyền ở trong tay chủ tướng, cũng xin chủ tướng hãy thật lòng phò tá, chớ để cho Nguyên Soái nghi ngờ.
Nhân cười đáp:
-Tánh thật là lo xa quá đấy. Lúc quản thúc Định vương trong thành Sài Côn, ta đã biết Nguyên Soái là người như thế nào rồi. Vả lại đường đường nắm giữ binh quyền không phải là ta thì còn ai vào đây nữa, việc gì ta lại không thực bụng tôn phò. - Nói rồi không chút nghi ngại dẫn quân đi.
***
Một đêm kia quân Tây Sơn ở cổng Nam thành Sài Côn nghe tiếng gọi: Mau mau mở cổng thành!
Quân canh nhìn xuống thấy một đạo binh đều vận quân phục của Tây Sơn cả. Liền hỏi:
-Binh nào! Ở đâu đang đêm gọi cổng thành!
Quân dưới thành đáp:
-Ta là Nguyễn Uy giữ Trường Đồn đây! Quân Nguyễn đánh Trường Đồn dân trong thành theo giặc nổi dậy, ta phải bỏ thành chạy về đây. Các ngươi hãy gọi tướng Lê Chu mau mở cổng thành.
Lê Chu lên mặt thành trông thấy toàn quân mình liền bảo quân mở cổng. Đỗ Thành Nhân, Võ Nhân dẫn binh vào thành đánh giết quân Tây Sơn. Nguyễn Phúc Ánh, Hồ Văn Lân, Lê Văn Quân, Nguyễn Nghi, Tống Phước Khuông, Tống Phước Lương nấp ở cánh rừng ngoài thành liền hò quân xông lên tiếp ứng. Quân Nguyễn tiến vào thành như thác, tiếng hò reo vang dậy đất trời. Quân Tây Sơn bất ngờ trở tay không kịp bị giết rất nhiều. Tướng Tây Sơn là Lê Chu mắc lừa quân Nguyễn phải bỏ thành thoát thân chạy về Trấn Biên. Nguyễn Ánh vào thành Sài Côn đến nhà Thái miếu, thấy linh vị Tiên vương đều bị quân Tây Sơn đập phá, nhang tàn khói lạnh. Ánh thề rằng:
-Thù này không trả được thề chẳng làm người, cùng anh em thằng buôn trâu Nhạc – Huệ quyết chẳng đội trời chung.
Thế rồi sai người sửa sang thái miếu đặt lại linh vị thờ cúng tiên vương.
Lúc bấy giờ Lê Chu chạy về Trấn Biên nói với quan trấn thủ là Phạm Ngạn:
-Tôi với ông và tướng quân Nguyễn Uy, ba chúng ta đều do Hoàng thượng chọn trong trường thi võ mà cho vào trấn đất Gia Định. Nay Nguyễn Uy tử trận ở Trường Đồn, tôi lại để mất Sài Côn. Tội của tôi đã đành, nhưng ngộ nhỡ Hoàng thượng hỏi vì sao ông không đem binh cứu viện thì ông trả lời thế nào?
Phạm Ngạn hỏi lại Lê Chu:
-Giờ ta phải làm sao?
Chu đáp:
-Ông hãy ở lại giữ thành Trấn Biên. Hiện tôi còn được hai ngàn quân. Ông vui lòng cho tôi mượn thêm một ngàn quân mã và năm mươi khẩu đại bác. Tôi sẽ đem binh chiếm lại Sài Côn. Khi ấy Hoàng thượng có hỏi là hỏi tội tôi chứ ông không có tội gì cả!
Phạm Ngạn nghe xong lấy làm phải cho Lê Chu mượn quân, Lê Chu liền dẫn binh đi ngay. Nào ngờ có một tên quân dưới trướng Phạm Ngạn vốn người Gia Định nghe lén được cuộc nói chuyện giữa Lê Chu và Phạm Ngạn, mới lẻn trốn về Sài Côn báo cho Phúc Ánh hay. Ánh liền cho quân mai phục. Lê Chu dẫn quân đi được nửa đường đến một đoạn đường vắng bỗng nghe tiếng hò reo vang dậy, quân Nguyễn từ bốn mặt xông ra.
Lê Chu thất kinh than:
-Thôi ta đã lọt vào trận mai phục của giặc rồi!
Than rồi quay lại liều chết phá vây. Lê Chu tả xung hữu đột giết quân Nguyễn máu đỏ chiến bào, nhưng vòng vây dày quá, Lê Chu đánh một hồi thấm mệt mà chưa ra khỏi trận. Lê Chu liệu bề không thoát được, lấy gươm đâm cổ tự vẫn. Nguyễn Phúc Ánh thừa thắng sai Lê Văn Quân đem quân tiến đánh Trấn Biên. Tướng Tây Sơn giữ Trấn Biên là Phạm Ngạn thấy thanh thế quân Nguyễn lớn quá phải bỏ thành Trấn Biên chạy về Bình Thuận. Từ ấy đất Nam Hà, Gia Định lại thuộc về quân Nguyễn cả.
***
Ngày ấy Nguyễn Phúc Ánh ở trong thành Sài Côn họp các tướng bàn việc quốc gia.
Đỗ Thành Nhân quỳ tâu:
-Nay quân ta đã thu phục được đất Gia Định. Vậy Nguyên Soái hãy mau mau xưng Vương hiệu, kế tục nối nghiệp Tiên vương cho an lòng tướng sĩ. Rồi danh chánh ngôn thuận kéo quân ra trị tội Nguyễn Nhạc dám ngông cuồng lên ngôi Hoàng đế.
Nguyễn Phúc Ánh hỏi:
-Đối với các tướng ta có đáng được xưng Vương chăng?
Tống Phước Khuông nói:
-Nguyên Soái mới khởi binh mà đã khiến cho lòng người qui thuận. Đi đến đâu anh hùng hào kiệt đều xin theo dưới cờ, đánh một trận đã chiếm xong ba thành ở Gia Định. Tài thế ấy, đức thế ấy, chính nghĩa thế ấy sao không đáng để xưng Vương?
Rồi quay sang các tướng bảo:
-Chúng ta cùng tôn Nguyên Soái lên ngôi Vương.
Khuông nói xong mọi người đều quỳ cả. Riêng Thành Nhân vừa quỳ vừa nói:
-Nguyên Soái lên ngôi Vương là thuận lý. Vì chỉ có một mình Nguyên Soái là con cháu nhà chúa mà thôi.
Nguyễn Ánh lên ngôi Vương, phong Đỗ Thành Nhân làm Ngoại hữu – phụ chính – Thượng tướng công và thăng thưởng cho các tướng.
Từ ấy về sau nhân dân gọi nhà Nguyễn của vua Thái Đức là nhà Nguyễn Tây Sơn. Vì vua Thái Đức phát tích ở ấp Tây Sơn, phủ Qui Nhơn. Gọi nhà Nguyễn của Nguyễn Vương là nhà Nguyễn Gia Miêu. Vì họ nhà chúa Nguyễn phát tích ở ấp Gia Miêu, phủ Thanh Hoá. Và gọi giai đoạn lịch sử ấy là thời: Nhị Nguyễn tranh hùng!
Sách với ta là bạn, là thầy
0
Vậy là mình gõ xong 5 chương cho huytran rồi đó. Chúc các huynh đệ muội năm mới vui vẻ, hạnh phúc.
Ra tết, mình có thể nhận thêm 5 chương nữa. Nếu thấy mình gõ được, cứ gửi nhé
Hoa Tong [email=hoadiec@gmail.com]hoadiec@gmail.com[/email]
Sách với ta là bạn, là thầy
0
Tây Sơn bi hùng truyện
 
Chương 15 (tiếp)
 
 
Mấy ngày sau Nguyễn Nhạc hạ lệnh tiến quân. Võ Đình Tú dẫn hai ngàn quân tiên phong vượt sông giáp chiến. Nguyễn Nhạc cùng các tướng đem đại binh theo sau trợ chiến. Nguyễn Văn Hoằng mặc giáp cầm đao, lên ngựa xông ra gặp Võ Đình Tú, hai bên hỗn chiến. Được ba mươi hiệp, Nguyễn Văn Hoằng mồ hôi ướt đẫm chiến bào, lại thấy quân mình càng đánh càng nao núng, xem bề không chống đỡ nổi bèn quất ngựa chạy dài. Võ Đình Tú càng đánh càng hăng hô quân rượt đuổi. Quân Nguyễn tan vỡ tháo chạy. Nguyễn Nghi nghe tin bộ binh của Nguyễn Văn Hoằng thất thủ bèn đem thủy binh lui về dóng ở Sơn Trà. Nguyễn Văn Hoằng chạy về tới thành Quảng Nam, thấy chúa Định vương đang ở trong thành, thất kinh sụp lạy:
- Kính chúa thượng, quân Tay Sơn dũng mãnh tôi chống không nổi. Mong chúa thượng trị tội. Dám hỏi vì sao chúa thượng lại ở nơi này?
Chúa Định Vương khóc đáp:
- Nguyễn Duy đầu hàng, dâng thành Trường Dục cho quân Trịnh. Hai tướng Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính tử trận ở Bái Đáp Giang. Ta cùng Chữ Đức phải bỏ kinh thành, đem gia quyến vào đây ấn náu. Hiện Chữ Đức còn mẫy ngàn quân đóng ở Hải Vân. Hoàng Ngũ Phúc có lẽ đã chiếm lấy kinh thành, Tĩnh Điệp Hầu không biết sống chết thế nào? Nay quân ta tan tác lưỡng đầu thọ địch, giờ phải làm sao?
Nói xong lại ôm mặt khóc lớn, Nguyễn Văn Hoằng đứng dậy trấn an:
- Xin chúa công hãy dằn cơn bi lụy. Nguyễn Nghi đã lui thủy binh đóng ở Sơn Trà. Chúng ta nên tạm thời bỏ Quảng Nam đem toàn quân xuống Sơn Trà hợp cùng Nguyễn Nghi, xuôi thuyền vào Sài Côn để quân Tây Sơn với quân Trịnh đánh nhau rồi ta chiêu binh mãi mã chờ quân Trịnh diệt xong quân Tây Sơn thì có cơ hội phục lại kinh thành.
Hoằng vừa nói xong quân thám mã qua báo:
- Kính chúa thượng, quân Tây Sơn tiến cách phía Nam thành hai mươi dặm. Thanh thế rất lớn hiện đang ồ ạt kéo đến.
Định Vương cuống quít nói:
- Hãy đem toàn quân ra phía Đông thành, kéo xuống Sơn Trà.
Đông cung Nguyễn Phúc Dương bước ra nói:
- Nếu bỏ trống thành, giặc vào rồi đuổi theo thì sao? Vậy mấy ngàn quân của Chữ Đức ở Hải Vân chắc chắn không còn lối thoát. Vậy tôi xin ở lại, lên mặt thành phủ dụ Tây Sơn, rồi phi báo cùng Chữ Đức kéo quân về sẽ chạy sau. Quân Tây Sơn vốn lấy danh nghĩa tôn phò tôi, nay thấy tôi trấn thủ thành này chắc chắn tạm thời không dám tấn công.
Chúa Định Vương cùng các tướng lúc ấy không còn bụng dạ nào hiểu được ẩn ý của Phúc Dương. Định Vương liền sai người tâm phúc ra Hải Vân triệu hồi Chữ Đức để Nguyễn Phúc Dương ở lại trông thành. Rồi cùng Nguyễn Văn Hoằng, Nguyễn Phúc Nghiêm đưa gia quyến ra Đông thành, kéo quân xuống Sơn Trà, xuống thuyền vào Sài Côn.
Chúa Nguyễn Định Vương đi rồi, Nguyễn Phúc Dương liền sai Nguyễn Gia Hầu mở cửa thành cho quân Tây Sơn. Nhạc vào rồi để Nguyễn Phúc Dương ngồi trên cao, mình và các tướng tung hô vạn tuế. Nguyễn Phúc Dương vội bước xuống đỡ Nhạc dậy, mừng rỡ nói:
- Ấy chính là hồng phúc của tiên vương nên trời mới sai tướng quân dấy nghĩa tôn phò, nay Định Vương đã chạy trốn vào Nam. Chỉ còn Chữ Đức và mấy ngàn quân đóng tại ải Hải Vân. Ngày xưa chính Chữ Đức đã nghe lệnh Phúc Loan bắt giam hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và thái úy Trương Văn Hạnh, rồi đem quân bắt giết cả nhà thái úy cùng đô thống Ngô Mãnh. Chắc Chữ Đức cũng đang trên đường rút về Quảng Nam. Tướng quân hãy sai quân đón bắt về trị tội phản chúa cho rõ nghĩa cương thường.
Trương Văn Hiến liền nói:
- Xin chúa công lệnh cho Võ Đình Tú cùng Võ Văn Dũng lập tức bắt Chữ Đức rồi sai quân đóng cũi giải về, còn Tú và Dũng hãy mau mau tiến ra chiếm lấy ải Hải Vân quan. Nếu quân Trịnh lấy mất thì binh ta thất thế.
Nguyễn Nhạc liền sai Tú và Dũng lập tức xuất quân. Giữa đường gặp Chữ Đức, Văn Dũng lướt ngựa lên quát to:
-Thành  Quảng Nam đã bị Tây Sơn ta chiếm. Thằng nhãi Định Vương bỏ chạy vào Phiên Trấn, Hoàng tôn cùng quân ta sắp tiến ra chiếm giữ kinh thành, ba quân sao còn chưa bỏ giáp qui hàng?
Quân Nguyễn liền quỳ mọp xuống, đồng thanh nói:
- Chúng tôi xin quy hàng! Chúng tôi xin quy hàng!
Chữ Đức hồn phách phi tán, quất ngựa chạy trốn vào một đường nhỏ. Võ Đình Tú trông thấy, tức tốc đuổi theo, hai ngựa cách nhau chừng vài trượng, Võ Đình Tú nhún mình nhảy qua lưng ngựa Chữ Đức, từ phía sau nắm lấy thắt lưng Chữ Đức, giơ hông lên rồi quăng xuống đất. Quân Tây Sơn bắt giải về kinh thành Quảng Nam.
Vừa lúc ấy có quân do thám chạy về báo cùng Tú và Dũng:
- Thưa tướng quân, có một vạn quân Trịnh do tiên phong Hoàng Đình chỉ huy để chiếm lấy ải Hải Vân, hiện đang thẳng tiến về phía quân ta.
Nghe xong, Đình Tú nói với Văn Dũng:
- Ở phía trước chừng mười dặm có một đường đèo nhỏ, đệ sẽ đem năm trăm kị binh lên chiếm trước, rồi hiền huynh dẫn bộ binh đến sau. Ta chiếm lĩnh núi này chặn đường tiến của quân Trịnh rồi phi báo về cho chúa công đem đại binh đến giúp.
Văn Dũng nói:
- Hiền đệ hãy đi ngay.
Khi ấy Hoàng Đình Thể đã đem quân chiếm lĩnh núi trước rồi, nghe quân về báo:
- Thưa tướng quân, giặc Tây Sơn đang kéo đến.
Hoàng Đình Thể nói:
- Quân Tây Sơn đã chiếm được thành Quảng Nam. Từ lâu ta chỉ đánh với quân Nguyễn, nay đánh với quân Tây Sơn thử một chuyến xem sao.
Nói rồi liền sai con là Hoàng Đình Định đem hai ngàn quân phục ở tả núi, Hoàng Đình  Vị đem hai ngàn quân phục ở hữu núi rồi chờ quân Tấy Sơn đến.
Võ Đình Tú đãn năm trăm kị binh đến sát chân đèo, bỗng nghe một phát súng nổ vang. Quân Trịnh từ trong hốc núi kéo ra chặn đường. Hoàng Đình Thể đứng trên đỉnh đèo cười lớn:
- Các ngươi đã lọt vào trận mai phục của ta, mau khai tên họ rồi xếp giáp quy hàng!
Võ Đình Tú thất kinh nói:
- Bọn chúng đã đi trước ta một bước, truyền quân chỉnh tề hàng ngũ mà lui.
Hoàng Đình Thể phất cờ hiệu lên. Hoàng Đình Định và Hoàng Đình  Vị từ hai bên tả hữu xông ra chặn đường về.
Võ Đình Tú bình tĩnh bảo ba quân:
- Các ngươi đã bị vây bốn mặt, các ngươi hãy cùng ta tử chiến một phen.
Nói xong rồi vung côn xông vào quân Trịnh. Nguyên năm trăm kị binh của Võ Đình Tú đều là quân thiện chiến, dũng mãnh hơn người, đánh quân Trịnh chết liền mấy lớp. Nhưng quân Trịnh đông quá, cứ ồ ạt xông lên, Võ Đình Tú tả xung hữu đột, năm trăm quân hao gần một nửa, chiến bào Đình Tú ướt đẫm máu quân Trịnh mà vẫn chưa thoát khỏi vòng vây. Hoàng Đình Thể đứng trên đèo nói với tả hữu rằng:
- Quân Tây Sơn thật là dũng mãnh, thảo nào nhà Nguyễn phải bỏ Quảng Nam chạy vào Sài Côn.
Nói rồi lại hô lên:
- Quân bay tiếp tục thúc trống tiến quân!
Vừa nói xong bỗng thấy một đạo binh do tướng Tây Sơn dẫn đầu đánh vào sau lưng quân Hoàng Đình Định và Hoàng Đình Vị, quân Định và Vị rối loạn hàng ngũ. Đình Thể liền hối quân:
- Mau mmau đánh trống thu quân.Quân Trịnh nghe trống liền vội vã lui quân. Vũ Văn Dũng nóng lòng muốn cứu Đình Tú, dẫn đàu ba quân chém giết tướng Trịnh tơi bời. Gặp Tú, Dũng liền hỏi:
- Hiền đệ có làm sao không? Thôi ta hãy lui về đóng đồn ngăn quân Trịnh, chờ chúa công đến rồi sẽ hay.
Đình Tú nói:
- Giặc đều chiếm giữ các nơi hiểm yếu, ta đóng quân trơ trọi giữa đồng, giặc đông ta ít, giặc ba bên đánh tới thì sao? Chi bằng đang lúc thắng thế, ta đuổi theo giặc, tiến đánh mấy đèo kia làm nơi cố thủ mới vẹn toàn.
Nói rồi dẫn ba trăm kị binh còn lại, người nào người nấy chiến bào đẫm máu tiếp tục xông lên, Vũ Văn Dũng thấy Đình Tú quyết ý, liền vung đao nói với ba quân:
- Nếu hôm nay không chiếm được núi này, không về gặp mặt chúa công!
Quân Tây Sơn hét vang nhất tề xông lên. Quân trịnh thấy quân Tây Sơn can đảm phi thường, không dám kháng cự, chạy về đồn trên đỉnh đèo. Hoàng Đình Thể thấy quân Tây Sơn đuổi theo đến nửa đèo, liền bảo ba quân:
- Hãy lăn gỗ đá xuống!
Quân thưa:
- Hai tướng Hoàng Đình Định và Hoàng Đình Vị dẫn quân chạy trước, quân Tây Sơn theo sau chém giết thì lăn gỗ đá thế nào được.
Hoàng Đình Thể đấm ngực than rằng:
- Ta cứ tưởng đánh trống thu binh thì chúng thoát chết không dám đuổi theo. Nào ngờ chúng lại còn thừa thắng xông lên. Quân cướp này thật là liều lĩnh. Truyền quân lui về trấn giữ Hải Vân quan.
Văn Dũng và Đình Tú chiếm được núi, sửa sang đồn lũy, chặt cây gom đá đề phòng quân Trịnh đánh tới, rồi sai người về Quảng Nam phi báo cùng Nguyễn Nhạc.
 
 
 
Hôm ấy Hoàng tôn Dương cùng Nguyễn Nhạc và Trương Văn Hiến đang đàm đạo trong trướng. Quân canh vào báo:
- Hai tướng Đình Tú và Văn Dũng đã bắt được Chữ Đức sai quân giải về đang ở ngoại thành chờ lệnh.
Nhạc truyền:
- Mau dẫn vào!
Quân lôi Chữ Đức đến, Đức hai tay bị trói chặt nhưng vẫn đứng trơ trơ. Nguyễn Nhạc quát:
- Không được vô lễ, trước mặt Hoàng tôn sao dám không quỳ?
Võ sĩ đè Chữ Đức xuống, Hoàng tôn Dương hỏi:
- Chữ Đức, ngươi đã biết tội của mình chưa?
Đức hỏi:
- Tôi có tội gì?
Phúc Dương gằn giọng:
- Ngươi còn hỏi có tội gì ư? Ta hỏi ngươi mười năm trước ai đã nghe lệnh Phúc Loan hạ gục Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và thái úy Trương Văn Hạnh rồi bắt uông thuốc độc cho chết? Ai đã giết cả nhà Trương Văn Hạnh và Đô thống Ngô Mãnh? Ai đã giam lỏng ta suốt mười năm trời? Rồi mới đây ai đã bắt Phúc Loan, giao nộp cho quân Trịnh? Bao nhiêu việc ấy, ngươi chẳng phải là phường bán chúa cầu vinh sao?
Chữ Đức bình tĩnh đáp:
- Mười năm trước tôi nghe lệnh Phúc Loan vì Phúc Loan có gươm lệnh và chiếu chỉ của Tiên vương. Còn mới đây tôi bắt Phúc Loan là theo ý chúa Định Vương. Xét các việc tôi làm là theo lệnh chúa, làm sao là phường bán chúa cầu vinh!
Phúc Dương ấp úng không biết trả lời Chữ  Đức ra làm sao, Trương Văn Hiến xen vào hỏi Chữ Đức:
- Năm xưa ngươi không biết chiếu chỉ của Phúc Loan là giả sao?
Chữ Đức đáp:
- Không biết!
Hiến lại hỏi:
- Nhưng gia quyến của Trương Văn Hạnh tội gì mà ngươi tàn sát từ già đến trẻ?
Chữ Đức đáp:
- Đấy cũng là theo lệnh Phúc Loan.
- Ngươi tàn sát cả nhà Hạnh, có ai thoát chết không?
- Có một người tùy tướng của Trương Văn Hạnh là Trương Văn Hiến võ nghệ siêu quần, chạy thoát khỏi trùng vây.
- Ngươi có biết Trương Văn Hiến nay ở đâu không?
- Không biết!
Hiến vả vào mặt Chữ Đức một tát như trời giáng, nghiến răngnói:
- Ta chính là tùy tướng của quan Thái úy Ý Đức Hầu Trương Văn Hạnh!
 Phúc Dương mừng rỡ nói:
- Thì ra quân sư chính là Trương Văn Hiến, thảo nào các khanh dấy nghĩa tôn phò. Nay ta xử Chữ Đức thế nào?
Văn Hiến nói với Chữ Đức:
- Theo ý ngươi, những việc ngươi làm là trung quân phải theo lệnh chúa, nay đến lúc chết mà không run sợ cũng đáng khen. Nhưng ngươi thờ chúa bằng trí óc ngu si và lương tâm độc ác của loài cầm thú. Loài cầm thú như ngươi còn để sống làm gì?
Nói rồi truyền võ sĩ lôi ra chém. Võ sĩ lôi Chữ Đức ra ngoài, bỗng quân vào báo:
- Thưa chúa công, lúc Chữ Đức dẫn quân chạy về thành Quảng Nam, tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đã tiến chiếm Hải Vân quan đang bỏ trống, rồi sai Hoàng Đình Thể làm tiên phong tiến vào chiếm lấy hòn núi nhỏ cách Hải Vân quan hai mươi dặm. Tướng quân Võ Đình Tú và Vũ Văn Dũng đánh lui quân Hoàng Đình Thể, chiếm lại núi này. Hiện quân trịnh đã lui về đóng ở Hải Vân quan. Hai tướng Tú và  Dũng xin tướng quân đem đại binh tiếp viện.
Nguyễn Nhạc truyền lệnh:
- Hãy cho mời các tướng đến thương nghị!
Vũ Văn Nhậm, Lý Tài, Tập Đình đến, nhạc nói:
- Nay tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đem quân bốn vạn vào chiếm Hải Vân quan. Lý Tài vừa nhuốm bệnh nay ở lại cùng Hoàng tôn giữ thành Quảng Nam. Ta, quân sư, Tập Đình và Vũ Văn Nhậm đem toàn quân ra trợ chiến vơi Văn Dũng và Đình Tú. Các tướng chỉnh đốn binh mã, ngày mai lập tức xuất binh!
 
Hết Chương 15
 
0
Ta ngồi trên cần cẩu
Cầm súng bắn diều hâu
Bỗng nhiên cần cẩu gãy
Thân ta bay về đâu?
(trích chữ ký Hoàng Tiến)

Chúc mừng sinh nhật bạn Hoàng Tiến

Đừng ngồi trên cần cẩu
Đừng nhắm bắn diều hâu
Diều hâu đâu chẳng thấy
Chỉ thấy Tiến u đầu
Sách với ta là bạn, là thầy
0
còn chương nào chưa đánh ko zậy? cho mình júp 1 chân nhé[:D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-16 08:57:23Hoa Tong>
Chương 23 tiếp theo

***
Ngày ấy ở kinh thành Thăng Long, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm có việc ra ngoài phủ. Sâm bèn bảo quân sắp sẵn xe tứ mã, dùng nghi lễ như một vị vua. Sâm vừa bước lên xe bỗng nhiên trời đất tối sầm, gió thổi ào ào, mây đen vần vũ. Từ trong đám gió bụi kia xảy một người bước ra chặn trước đầu xe. Người ấy mặt mũi khôi ngô, mình mặc áo hoàng bào, đầu vấn khăn vàng, chân đi hài tía. Sân tức giận quát hỏi:
-Ngươi là ai sao dám chặn đường ta?
Người ấy quát lớn:
-Thằng nghịch tặc, ta là Thái tử Lê Duy Vĩ đến đòi mạng ngươi đây!
Nói xong vung gươm chém Trịnh Sâm. Sâm hoảng sợ nhảy tránh, té xuống xe. Quân hậu vệ vội vàng chạy đỡ Sâm dìu vào tướng phủ. Phạm Ngô Cầu lúc nào cũng theo hầu bên cạnh Sâm. Sâm hỏi Phạm Ngô Cầu:
-Khi cơn gió lạ nổi lên ngươi có thấy Thái tử Lê Duy Vĩ hiện ra chăng?
Ngô Cầu ngạc nhiên đáp:
-Cơn gió lạ này rất giống cơn gió lạ lúc hạ thần vào ngục ép Thái tử Lê Duy Vĩ uống thuốc độc mà chết. Nhưng cơn gió lúc nãy hạ thần không trông thấy Thái tử.
Sâm buồn rầu than:
-Ngày trước tuổi trẻ ngông cuồng ta giết chết Thái tử. Nay Thái tử chết oan về tìm ta đòi mạng. Thật là gieo nhân nào gặt quả ấy vậy!
Nói rồi bảo Phạm Ngô Cầu dẹp bỏ nghi lễ thiên tử mình đang dùng. Ngô Cầu rùng mình sởn gai ốc liền vội vã đi ngay. Trịnh Sâm lại sai người tìm tìm những nơi phong cảnh tốt tươi khắp trong thành, ngoài nội xây dựng chùa chiền, lệnh quan sở tại ngày đêm thay nhau cầu đảo luôn luôn cho hồn Thái tử được siêu thoát.
***
Nói về Nguyễn Thung cùng đoàn tuỳ tùng áp tảI xe vàng bạc lúa thóc ra Thăng Long nộp thuế, thấy khắp nơi đều tấp nập chặt cây, chẻ đá xây dựng chùa chiền, Thung lấy làm lạ hỏI dân:
-Vì sao trong thành ngoài nộI lạI xây cất chùa chiền nhiều như thế?
Dân đáp:
-Năm xưa chúa Trịnh giết chết Thái tử Lê Duy Vĩ, nay Thái tử về đòi mạng chúa, nên chúa lệnh các nơi xây cất chùa chiền cầu đảo cho hồn Thái tử được siêu thoát. Việc này khắp kinh thành ai mà không biết!
Nguyễn Thung quay về nói vớI tả hữu:
-Ấy chẳng qua là làm điều tàn bạo, lương tâm bất ổn, nên tưởng tượng sinh ra mộng mị, chứ làm gì có việc ngườI chét đi lạI về đòi mạng.
Nói xdong vào phủ chúa xin yết kiến Trịnh Sâm. Thung dâng sổ bộ dân và sổ bộ thuế bốn phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên. Sâm xong trong lòng rất vui, cườI nói hỉ hả.
Thừa lúc chúa đang vui, Nguyễn Thung dâng sớ của Nguyễn Nhạc xin phong. Sâm xem xong còn chưa quyết, chợt Phạm Ngô Cầu vào báo:
-KhảI Chúa! Có một lão già bày dân hát lờI nhạo báng Chúa thượng, tộI đáng bêu đầu. Hạ thần đã bắt về đây cho Chúa thượng trị tội.
Sâm nhướng mắt hỏI:
-Hát lờI nhạo báng ta như thế nào?
Cầu khúm núm:
-Thưa! Hạ thần không dám nói. Xin giảI hắn vào cho Chúa thượng tra xét.
Nói xong liền lôi tộI nhân vào. TộI nhân là một lão già tuổI quá tám mươi, râu tóc bạc phơ. Sâm quát hỏI:
-Lão già kia! Ngươi bày vẽ dân chúng hát lờI nhạo báng ta là lờI gì?
Lão già thản nhiên đáp:
-Già thấydân chặt cây đục đá làm chùa chiền buột miện ca rằng: “Dầu xây chín bực phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một ngườI”. MọI ngườI nghe xong liền bắt chước ca theo. Thật tình già không dám nhạo báng Chúa thượng.
Sâm dịu giọng hỏI:
-Ngươi ca hai câu ấy nghĩa là gì?
Lão già đáp:
-Xin chúa tha tộI, ý già nói rằng trước đây nếu chúa không giết chết Thái tử thì ngày nay cần gì phảI xây dựng chùa chiền khắp nơi như thế.
Sâm hỏI:
-Ngươi không sợ chết sao?
 
***
Nói về Nguyễn Thung cùng đoàn tuỳ tùng áp tải xe vàng bạc lúa thóc ra Thăng Long nộp thuế, thấy khắp nơi đều tấp nập chặt cây, chẻ đá xây dựng chùa chiền, Thung lấy làm lạ hỏi dân:
-Vì sao trong thành ngoài nội lại xây cất chùa chiền nhiều như thế?
Dân đáp:
-Năm xưa chúa Trịnh giết chết Thái tử Lê Duy Vĩ, nay Thái tử về đòi mạng chúa, nên chúa lệnh các nơi xây cất chùa chiền cầu đảo cho hồn Thái tử được siêu thoát. Việc này khắp kinh thành ai mà không biết!
Nguyễn Thung quay về nói với tả hữu:
-Ấy chẳng qua là làm điều tàn bạo, lương tâm bất ổn, nên tưởng tượng sinh ra mộng mị, chứ làm gì có việc người chết đi lại về đòi mạng.
Nói xong vào phủ chúa xin yết kiến Trịnh Sâm. Thung dâng sổ bộ dân và sổ bộ thuế bốn phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên. Sâm xong trong lòng rất vui, cười nói hỉ hả.
Thừa lúc chúa đang vui, Nguyễn Thung dâng sớ của Nguyễn Nhạc xin phong. Sâm xem xong còn chưa quyết, chợt Phạm Ngô Cầu vào báo:
-Khải Chúa! Có một lão già bày dân hát lời nhạo báng Chúa thượng, tội đáng bêu đầu. Hạ thần đã bắt về đây cho Chúa thượng trị tội.
Sâm nhướng mắt hỏi:
-Hát lời nhạo báng ta như thế nào?
Cầu khúm núm:
-Thưa! Hạ thần không dám nói. Xin giải hắn vào cho Chúa thượng tra xét.
Nói xong liền lôi tội nhân vào. Tội nhân là một lão già tuổi quá tám mươi, râu tóc bạc phơ. Sâm quát hỏi:
-Lão già kia! Ngươi bày vẽ dân chúng hát lời nhạo báng ta là lời gì?
Lão già thản nhiên đáp:
-Già thấy dân chặt cây đục đá làm chùa chiền buột miệng ca rằng: “Dầu xây chín bực phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người”. Mọi người nghe xong liền bắt chước ca theo. Thật tình già không dám nhạo báng Chúa thượng.
Sâm dịu giọng hỏi:
-Ngươi ca hai câu ấy nghĩa là gì?
Lão già đáp:
-Xin chúa tha tội, ý già nói rằng trước đây nếu chúa không giết chết Thái tử thì ngày nay cần gì phải xây dựng chùa chiền khắp nơi như thế.
Sâm hỏi:
-Ngươi không sợ chết sao?
Lão già không chút sợ hãi đáp:
-Năm ấy Thái tử mới ngoài ba mươi tuổi còn không sợ chết thay, lão nay đã ngoài tám mươi còn sợ chết nỗi gì!
Phạm Ngô Cầu nổi giận toan lôi ra chém. Sâm khoát tay bảo:
-Hãy tha cho lão được sống. Việc này là do lỗi ở ta – Nói xong nét mặt dàu dàu tâm thần bất định. Sâm bảo Nguyễn Thung:
-Ngươi hãy ra nghỉ ngơi ngoài công quán. Việc Nguyễn Nhạc xin phong ngày khác sẽ bàn đến – Nói xong truyền bãi triều.
Phạm Ngô Cầu về tư dinh nghĩ đến việc hồn Thái tử báo oán, trong lòng lo lắng bèn nói với vợ:
-Năm ấy Tĩnh Đô Vương giết chết Thái tử, nhưng chính ta là người mang thuốc độc vào ngục ép Thái tử uống. Nay Thái tử về đòi mạng chúa ắt sớm muộn gì cũng đến lượt ta.
Vợ Ngô Cầu bàn:
-Thiếp nghe nói hồn ma chỉ quanh quẩn gần nơi bị chết không thể đi xa được. Vậy phu quân hãy xin chúa đi trấn nhậm phương xa thì hồn Thái tử không thể nào theo được.
Cầu than thở:
-Nhưng chúa rất tin cậy ta, Năm ấy giết Thái tử chúa chỉ sai ta. Rồi khi gợi ý các quan về việc sang Tàu xin phong làm vua, chúa cũng bảo ta khởi xướng. E rằng chúa chẳng cho ta đi trấn nơi xa đâu!
Vợ Ngô Cầu hiến kế rằng:
-Nay chúa đang lo lắng vì hồn Thái tử theo báo oán. Phu quân hãy nhờ người nói với chúa rằng hồn Thái tử theo báo oán phu quân nên làm kinh động đến ngọc thể. Vậy chúa hãy cho phu quân đi trấn nhậm phương xa. Hồn Thái tử sẽ theo phu quân mà không ở gần Chúa thượng, thì lo gì mà chúa chẳng cho đi.
Cầu khen:
-Không ngờ nàng lại đa mưu túc trí, nhưng việc này phải nhờ ai?
-Vợ Cầu đáp:
-Phu quân đã bao năm được phong tước Tạo quận công, trong các bạn đồng liêu lại không tin cậy được ai sao?
Bỗng Phạm Ngô Cầu reo lên rằng:
-Đã có một người! Đã có một người!
Nói xong liền đến công quán gặp Nguyễn Thung. Phân ngôi chủ khách xong, Cầu hỏi Thung:
-Việc Tây Sơn hiệu trưởng xin phong làm Quảng Nam trấn thủ, Chúa thượng đã thuận lòng chưa? Sao ông còn ở mãi không về?
Nguyễn Thung đáp:
-Từ hôm ấy đến nay đã mấy ngày rồi tôi xin vào yết kiến nhưng Chúa thượng chẳng tiếp ai. Tôi rất nóng lòng nhưg chẳng biết phải làm sao?
Cầu nói:
-Tôi có một kế khiến Chúa thượng lập tức thuận phong cho Tây Sơn hiệu trưởng.
Thung vội hỏi:
-Kế thế nào xin ông làm ơn chỉ vẽ. Hiệu trưởng ngày sau sẽ hậu tạ quận công!
Cầu kế tai Nguyễn Thung nói nhỏ:
-Ông cứ làm như vầy... như vầy..., ắt chúa sẽ vui mừng thuận cho Tây Sơn hiệu trưởng làm trấn thủ Quảng Nam.
Nguyễn Thung cả mừng nói:
-Xin cảm ơn quận công bày kế, ơn này thật chẳng dám quên.
Ngày sau Nguyễn Thung đến phủ chúa xin vào ra mắt Trịnh Sâm. Quan nội thị bảo:
-Chúa đang bệnh không tiếp ai cả.
Thung nói:
-Nhờ ngài vào bẩm báo cùng Chúa thượng, có sứ giả của Tây Sơn hiệu trưởng xin vào thăm bệnh Chúa thượng.
Quan nội thị vào trong một hồi rồi quay ra mời Nguyễn Thung vào nội phủ. Sâm miễn lễ cho Nguyễn Thung rồi hỏi:
-Có phải tiên sinh nói vào đây thăm bệnh cho ta?
-Thung đáp:
-Chúa thượng thần sắc nhợt nhạt, nhãn quan không định ấy là do tâm thần bất ổn, bởi yêu ma quấy phá. Bệnh này dùng thuốc không thể khỏi!
Sâm lo lắng hỏi:
-Vậy phải làm thế nào?
Thung đáp:
-Việc này không thể nói cho người khác nghe được!
Sâm liền đuổi hết tả hữu ra ngoài. Thung đưa mắt nhìn Phạm Ngô Cầu không nói. Sâm hiểu ý đuổi cả Phạm Ngô Cầu. Bấy giờ Thung mới nói:
-Thần nghe nói năm xưa chính Ngô Cầu đã ép Thái tử uống thuốc độc mà chết. Nay hồn Thái tử về báo oán Phạm Ngô Cầu làm kinh động đến Chúa thượng. Vả lại sách xưa có nói rằng: “Hễ người tướng quí thì kỵ yêu ma”. Tôi xét thấy có quan trấn thủ Bùi Thế Đạt là dũng lược hơn người, oai phong lẫm liệt, lại thêm quan thị lang Lê Quý Đôn là quan thanh liêm, tâm hồn cao thượng. Vậy Chúa thượng hãy vời hai người này về hầu hạ bên cạnh sẽ trấn được yêu ma. Đồng thời Chúa thượng cho Ngô Cầu vào làm trấn thủ Phú Xuân Thuận Hoá, thì hồn Thái tử sẽ theo Ngô Cầu vào Phú Xuân đòi mạng. Chúa thượng tất bình an vô sự.
Trịnh Sâm mừng rỡ khen:
-Cảm ơn tiên sinh bày cho diệu kế trừ yêu ma. Vậy tiên sinh muốn vật chi ta sẵn sàng ban thưởng.
Thung đáp:
-Thần vì vận mệnh quốc gia chứ không có lòng tham vàng ngọc. Xin hỏi Chúa thượng xét việc Tây Sơn hiệu trưởng xin phong như thế nào, để thần sớm được quay về quê quán?
Sâm liền lấy bút nghiên viết chiếu phong Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Tuyên uý đại sứ, Cung quận công rồi trao ấn chiếu cho Nguyễn Thung. Thung lạy tạ lui ra. Sâm lại gọi Phạm Ngô Cầu phong làm trấn thủ đất Thuận Hoá, Nguyễn Lệnh Tân làm tham thị vào thay Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn. Bùi Thế Đạt và Lê Quý Đôn được triệu hồi về Thăng Long.
Về đến công quán, Nguyễn Thung vui mừng nói với tả hữu:
-Phạm Ngô Cầu là người tàn ác tham lam và nhu nhược. Nếu Ngô Cầu vào trấn thủ Phú Xuân, Thuận Hoá, là trời đã bày ra chuyện yêu ma mà giúp cho Chúa công ta vậy.
Nguyễn Thung đem chiếu và ấn về Qui Nhơn dâng lên Nguyễn Nhạc. Nguyễn Huệ nói:
-Trịnh Sâm không được làm vua nên chẳng màng đến việc mở mang bờ cõi về phía Nam. Phạm Ngô Cầu bất tài nhu nhược thì ta không lo bị tấn công ở mặt Bắc. Vậy là đại huynh xưng Vương và phát đại binh vào Gia Định tiêu diệt Chúa Nguyễn được rồi đó!
Năm Đinh Dậu (1777), niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi tám, Nguyễn Nhạc xưng làm Tây Sơn Vương.
Các tướng sĩ đều theo công trạng mà thăng thưởng. Luận công tướng sĩ xong, Nguyễn Thung nói:
-Nay Chúa công vừa mới xưng Vương nên sai tướng đem đại binh vào Gia Định dẹp yên họ Nguyễn, thống nhất toàn cõi Đàng Trong để tỏ rõ chí hướng của Chúa công cho thiên hạ biết vậy.
Nguyễn Nhạc gật đầu nói:
-Tiên sinh nói rất phải, phen này phải đập tan họ Nguyễn ở đất Gia Định, bắt cho được hai chúa Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương. Vậy ai dám lãnh trọng trách này?
Các tướng đồng thanh nói:
-Ngoài tướng quân Nguyễn Huệ  không ai làm nổi!
Nhạc hỏi Huệ:
-Em có dám lãnh trọng trách này chăng?
Huệ bước ra đáp:
-Nếu không bình định được đất Gia Định, thống nhất cõi Đàng Trong, bắt chúa nhà Nguyễn, Huệ tôi thề quyết không về.
Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ lãnh thuỷ binh hai vạn, đem theo các tướng Nguyễn Lữ, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong, Đặng văn Long, Bùi Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Phạm Ngạn, Nguyễn Uy và Lê Chu vượt biển tiến vào Gia Định đánh chúa Nguyễn.
 
Sách với ta là bạn, là thầy
0
Mãi đến hôm nay mới rảnh tay vào thăm topic này.
 
Trong phạm vi nhỏ hẹp của topic, xin gửi lời chúc mừng năm mới đến với các hiệp sĩ đang đánh TSBHT.
 
Nhờ có Hoa Tong cho biết, xin ké lời chúc mừng sinh nhật Hoàng Tiến. Ba chúng ta cùng là chữ HT, nên tương trợ nhau chặt chẽ trên con đường mai hậu.
 
  thienharonglon303 viết:
còn chương nào chưa đánh ko zậy? cho mình júp 1 chân nhé[:D]

 
Còn tới 40 chương bạn ạ. Bạn cho biết khả năng nhắm đánh được bao nhiêu chương.
0
[&amp;:] Tin tức lan nhanh quá [:D]! Cám ơn các bạn đã chúc mừng sinh nhật, bây giờ mình đang tiến hành làm chương 16, sắp xong rồi. Có lẽ giữa tháng 3 là xong tất cả.
Ta ngồi trên cần cẩu
Cầm súng bắn diều hâu
Bỗng nhiên cần cẩu gãy
Thân ta bay về đâu?
0
Xin chào! Có thể để tôi giúp một tay được không? Đọc truyện trong này nhiều quá rồi mà chưa góp sức được tí nào. Có điều tôi vẫn chưa biết khả năng của mình đến đâu! Trước mắt bạn có thể gửi cho tôi 2 chương để gõ thử được không? Mail của tôi là asmodis4ever@yahoo.co.uk!
Mong nhận được hồi âm!

0
Tây Sơn bi hùng truyện
 
Chương 16
Bỏ đất Quảng Nam, Nguyễn Nhạc nghe lời Trương Văn Hiến
Lấy lòng hiền sĩ, Nguyễn Huệ tha mạng Nguyễn Đăng Trường
 
Nói về Nguyễn Nhạc kéo quân đến núi nhỏ của Vũ Văn Dũng và Võ Đình Tú để trấn thủ. Nhạc đứng trên núi ấy nhìn ra Hải Vân quan trên mây dưới bể, trên thì núi non trùng điệp, đá dựng chênh vênh, nhiều hòn cao ngất đụng đến trời mây, dưới biển rộng mênh mông sóng vỗ vào chân đá dựng. Quân Trịnh đóng quân án giữ đường đèo, lều trại san sát, thủy binh đậu ngoài biển, ghe thuyền lố nhố. Nhạc chỉ tay ra nói với các tướng:
- Hải Vân quan quả nhiên hiểm trở kì vĩ lạ thường. Nay quân Trịnh thủy bộ hai mặt án giữ đường ra kinh thành, quân sư và các tướng có kế gì phá địch chăng?
Võ Đình Tú bước ra nói:
- Thưa chúa công, binh cốt giỏi chứ không cốt nhiều, tôi xin đem ba ngàn quân làm tiên phong đánh giặc. Nếu không thắng xin trị tội theo quân lệnh.
Nguyễn Nhạc vỗ vai Đình Tú, cười bảo:
- Qua trận vừa rồi ta mới biết Đình Tú là người dũng lược. Nhưng trên vai còn mang vết thương thế kia, ngộ nhỡ ra trận có điều gì sơ sẩy e hối không kịp.
Đình Tú cứng cỏi đáp:
- Thưa chúa công, hôm trước tướng Trịnh là Hoàng Đình Thể đem một vạn quân tiến chiếm núi này. Tôi chỉ có năm trăm kị binh đi trước, hiền huynh Vũ Văn Dũng dẫn một ngàn năm trăm bộ binh theo sau mà đánh lui một vạn quân của Hoàng Đình Thể khiến chúng chạy về Hải Vân quan. Đại trượng phu một lời đã nói bốn ngựa khó theo, tôi đâu phải là hạng chỉ khua môi múa mép mà không dám kí vào quân lệnh trạng!
Nghe Đình Tú nói, Tập Đình tức khí bước ra thưa:
-Lần trước tôi không kí quân lệnh trạng là e rằng tranh quyền tiên phong với tướng quân Đình Tú. Nay tôi xin đem quân bản bộ cướp trại địch. Nếu không thắng, xin chúa công xử theo quân lệnh.
Đình Tú cầm tay Tập Đình nói:
- Tôi một lòng vì chúa, vô tình xúc phạm tướng quân. Xin tướng quân vì sự đoàn kết trong quân đừng để bụng làm gì.Lúc đánh đèo Thạch Tân đã biết oai võ của tướng quân, nay thấy tướng quân khí khái hơn người, Tú tôi rất lấy làm cảm phục.
Nghe Đình Tú khen mình, Tập Đình ngạo mạn nói với Nguyễn Nhạc:
- Tôi dù thất thể theo về với tướng quân nhưng cũng là đại tướng của Thiên triều thì sá gì lũ quân Trịnh tôm tép kia. Xin kí vào quân lệnh trạng thua binh chém tướng.
Nguyễn Nhạc cả mừng nói:
- Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy. Có mọi người đều nghe lời tướng quân làm minh chứng, không phải kí tá làm gì. Tướng quân mau ra oai võ của Thiên triều.
Tập Đình lãnh lệnh hùng hổ đi ngay.
Tập Đình đem một ngàn binh bản bộ đến trước doanh trại quân địch dưới chân Hải Vân quan. Quân do thám vào báo cùng Hoàng Ngũ Phúc:
- Thưa đại tướng quân, có một đạo quân toàn là người Tàu đang tiến gần đến doanh trại của chúng ta.
Ngũ Phúc hỏi:
- Bọn chúng là quân nào thế? Khoàng bao nhiêu người, Dùng vũ khí gì?
Thưa, bọn chúng có khoảng một ngàn quân, đều cởi trần, đầu vấn khăn vàng, tay cầm khiên, tay cầm đao, bộ tướng trông rất dữ dằn.
Ngũ Phúc lấy làm lạ hỏi Hoàng Đình Thể:
- Hôm trước ngươi đánh nhau với quân Tây Sơn có thấy quân này không?
Đình Thể đáp:
- Hôm trước quân Tây Sơn toàn là người đàng trong, quân thì mặc áo đỏ, tướng thì đội mũ lông, không thấy có lũ quân này!
Ngũ Hoàng Phúc hỏi các tướng:
- Ai xung phong ra trận hỏi xem chúng là cướp phương nào? Nếu dung nạp được thì cho làm tiền quân đi đánh Tây Sơn.
Có một viên tiểu tướng bước ra thưa:
- Bọn cướp đường này thì phiền gì các tướng quân phải ra trận cho nhọc sức. Tôi tuy tài hèn mọn, xin ra trận chặn bọn chúng hỏi cho rõ sự tình.
Ngũ Phúc hỏi:
- Người này là ai?
Hoàng Thể đáp:
- Đây là tùy tướng của tôi, tên Vũ Tá Kiên.
Ngũ Phúc mừng rỡ đáp:
- Được! Ta cho ngươi hai ngàn tinh binh ra trận. Chưa rõ lai lịch của chúng thì chớ giết bừa.
Vũ Tá Kiên vâng lệnh đi ngay. Hai bên giáp mặt, thấy đạo quân của người Tàu giàn đội hình chiến đấu, Vũ Tá Kiên thúc ngựa hỏi lớn:
- Các ngươi là giặc cướp phương nào? Có phải quân Tây Sơn chăng?
Nghe địch hỏi, Tập Đình biết địch không biết mình là quân Tây Sơn, giả vờ nói:
- Ở phía Nam thành Quảng Nam có khu phố Hội An là phố của người Tàu chúng tôi sinh sống. Chẳng may quân Tây Sơn đem quân đánh chiếm Quảng Nam sát hại chúng tôi. Gặp chú Nguyễn cũng bảo chúng tôi theo Tây Sơn nên đánh đuổi. Chúng tôi không còn đất dung thân nên mới chạy đến đây, mong tướng quân dung nạp.
Vũ Tá Kiên cả tiin nói:
- Ngươi hãy tạm đóng binh ở nơi này để ta thu quân về bẩm cùng đại tướng quân sẽ thu nạp ngươi.
Nói xong liền lui quân. Chờ quân Trịnh mơi quay lưng không đề phòng, Tập Đình hô quân xông tới hét lớn:
- Ta là tiên phong của Tây Sơn đây!
Vũ Tá kiên thất kinh hô quân quay lại đánh.
Quân Trịnh bất ngờ trở tay không kịp bị quân Tây Sơn giết rất nhiều . Vũ Tá Kiên mới ra trận lần đầu, cố sức mà đánh, Tập Đình cố hứa cùng Nguyễn Nhạc quyết thắng không lui. Hai đàng đánh nhau bất phân thắng bại. Quân Tập Đình đánh hăng quá, quân trịnh càng đánh càng tử vong. Nao núng muốn lui. Hoàng Ngũ Phúc liền sai Hoàng Đình Thể đem kị binh trợ chiến. Hoàng Đình Thể cùng hai người con đem năm trăm kị binh xung trận. Hoàng Phùng Cơ đem kị binh tiếp chiến. Tập Đình không chống nổi bèn cùng đám quân quay ngựa trốn vào rừng. Đạo binh người Tàu tan vỡ chạy về núi nhỏ cùng quân Tây Sơn, Tập Đình ngửa mặt lên trời than rằng:
- Chỉ tại ta kiêu căng háo thắng, trước mặt Nguyễn Nhạc đòi kí quân lệnh trạng. Lý huynh từng nhắc nhở ta mà ta vẫn không chừa thói ngạo mạn, nên mới ngu muội đưa các ngươi vào chỗ chết. Nay ăn năn đã muộn, muốn quay về cũng không được biết làm sao đây!
Nói  rồi ôm mặt khóc, có tên quân quỳ thưa:
- Việc đã đến nước này, tướng quân sầu thảm cũng chẳng có ích gì. Chi bằng chúng ta hãy tìm lối băng rừng đi về quê quán ở Quảng Đông an phận cuốc cày, không màng thế sự chẳng thanh thản hơn ư?
Tập Đình gạt nước mắt nói:
- Giờ chỉ còn đường sống ấy mà thôi.
Rồi cùng các quân tín cẩn tìm đường về Quảng Đông. Đến nơi bị quân quan nhà Thanh bắt được đem chém.
 
Ta ngồi trên cần cẩu
Cầm súng bắn diều hâu
Bỗng nhiên cần cẩu gãy
Thân ta bay về đâu?
0
mọi người ơi còn chuyện ko
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-23 10:12:52Lucern>
    Chào Huytran, bạn gửi cho mình 2 chương nhé. nndung802000@yahoo.com
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-24 01:09:12huytran>
Asmodis viết:
Xin chào! Có thể để tôi giúp một tay được không? Đọc truyện trong này nhiều quá rồi mà chưa góp sức được tí nào. Có điều tôi vẫn chưa biết khả năng của mình đến đâu! Trước mắt bạn có thể gửi cho tôi 2 chương để gõ thử được không? Mail của tôi là [email=asmodis4ever@yahoo.co.uk]asmodis4ever@yahoo.co.uk[/email]!
Mong nhận được hồi âm!

Lucern viết:
Chào Huytran, bạn gửi cho mình 2 chương nhé. [email=nndung802000@yahoo.com]nndung802000@yahoo.com[/email]
 
Hoa Tong viết:
Vậy là mình gõ xong 5 chương cho huytran rồi đó. Chúc các huynh đệ muội năm mới vui vẻ, hạnh phúc.
Ra tết, mình có thể nhận thêm 5 chương nữa. Nếu thấy mình gõ được, cứ gửi nhé
Hoa Tong [email=hoadiec@gmail.com]hoadiec@gmail.com[/email]
 
 
Xin lỗi tất cả các bạn, những người bạn tốt của thư quán và của cá nhân tôi. Để các bạn đợi mấy ngày nay là vì tôi cần thu xếp lại công việc.
Tình hình là ly_thanh_lam không đọc được pdf do tôi gửi. Do đó, 2 chương của Lam sẽ nhờ Asmodis đánh dùm. Đây thực là 1 điều đáng tiếc vì Lam là 1 con ngườii rất nhiệt tình trong việc đánh máy cho thư viện, tiếc rằng ở đây, pdf vẫn là cách duy nhất để chuyển bản scan cho các bạn.
Tạm thời chưa có tin tức gì từ Ruby Vo, supertuni và thekop. Chúng ta cứ cho rằng các bạn ấy sẽ hòan thành công việc trong tương lai. Do đó, chúng ta sẽ tiếp tục với các chương sau và đợi các bạn ấy vậy.
Tôi sẽ gửi các file pdf đi ngày mai. Xin chào tất cả và xin chúc mừng năm mới.
 
@maybe_luuly: Không có quy định trình bày gì cả đâu. Mọi người ai cũng mở một "Trả Lời" rồi paste thẳng vào khung, thế thôi. Nếu có lỗi đánh máy thì sẽ có người hiệu đính.
Bạn cho tôi biết nếu còn muốn tham gia nhóm anh em đánh máy này không nhé! 
0
Đánh máy: Ruby Vo
 
CHƯƠNG BA
Thành Phú Xuân hoàng tộc tranh quyền
Đất Quy Nhơn anh hùng hội tụ
 
Nói về chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi xa giá hồi kinh, phần tâm thần kinh động vì việc bị thích khách, phần vừa giận vừa tiếc vì bị mất ngựa quý nên bệnh trở nặng thêm. Chúa cho mời quan Quốc phó Trương Phúc Loan đến bảo:
-        Đời người ai cũng phải chết, nay số ta đã hết, có mấy điều căn dặn, khanh hãy vì ta mà hứa hết lòng.
Phúc Loan nước mắt dầm dề tâu:
-        Xin Chúa thượng hãy an tâm, xin thề có trời cao chứng giám, nếu thần phụ lòng Chúa thượng thì sẽ bị trăm quan bắt giao cho kẻ địch xử tội bêu đầu.
Chúa thều thào nói;
-        Khi trước Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu mất, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương mới chín tuổi hãy còn nhỏ dại. Nay ta đã viết di chiếu truyền ngôi cho con thứ hai của ta là Nguyễn Phúc Luân lên kế vị…Đây là gươm lệnh, khanh chớ sai lời.
Nói xong chúa mất!
Sau khi mai táng chúa Võ nương Nguyễn Phúc Khoát, Trương Phúc Loan cho gọi bá quan văn võ thiết triều. Loan nói:
-        Chúa chẳng may lâm bệnh qua đời. Trước khi nhắm mắt Tiên vương phó thác cho ta lập Thế từ Nguyễn Phúc Thuần lên kế vị. Đây là tờ di chiếu và ngọc ấn Tiên vương giao cho ta. Hãy đọc cho các quan cùng nghe.
Di chiếu truyền rằng:
Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát truyền chỉ.
Nay ta sắp theo về cùng các Tiên vương. Đúng lệ là Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương là con Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu lên kế vị. Nhưng quả nhận xét thấy Hoàng tôn mới chín tuổi hãy còn nhỏ dại không thế đảm đương được quốc gia đại sự. Vậy may truyền chỉ phong Nguyễn Phúc Thuần làm Thế tử. Sau khi quả nhân qua đời Thế tử Nguyễn Phúc Thuần sẽ lên thay quyền kế vị trị quốc an dân.
                                                                              Nay chiếu.
Chiếu đọc xong, Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân bước ra nói:
-        Ngày trước Thế tử mất, Phụ vương thường nói ngày sau sẽ cho ta kế vị, sao trước lúc lâm chung lại có sự nhầm lẫm như thế? Vả lại, nói rằng Hoàng tôn mới chín tuổi còn nhỏ nên không lập, mà lại lập Nguyễn Phúc Thuần cũng mới mười hai tuổi, ấy chẳng phải là điều vô lý hay sao?
Trương Phúc Loan giơ gươm lệnh lên nói:
-        Đây là gươm lệnh cuả Tiên vương. Thấy gươm như thấy chúa. Xin Hoàng tử đừng khi quân phạm thượng.
Nguyễn Phúc Luân đùng đùng nổi giận:
-        Ngươi có gươm lệnh thì làm gì được ta nào. Có mặt trăm quan ở đây há để cho ngươi làm điều thoán đoạt hay sao. Bá quan nghĩ thế nào? Đây là tờ di chiếu giả.
Luân nói chưa dứt lời liền bị Loan thét võ sĩ lôi ra chém. Thái úy Trương Văn Hạnh bước ra nói:
-        Xin Quốc phó bớt giận, Hoàng tử dù buông lời nói càn, nhưng tiên chúa mới qua đời nếu làm thế e thiên hạ dị nghị rằng. Mồ cha chưa xanh cỏ, con đã tranh giành nhau của cải. Xin Quốc phó tha cho- Loan ngẫm nghĩ rồi nói:
-        Nể lời quan Thái uý không biết nhưng hãy giam vào ngục chờ chọn ngày lành tháng tốt lập Thế tử Nguyễn Phúc Thuần lên kế vị, rồi xử trị thế nào do Tân vương định đoạt.
Bỗng hộ giá quan Ngô Mãnh bước ra nói:
-        Tôi thường ngày hộ giá Tiên vương, thường được xem văn thư của chúa. Vậy xin cho xem di bút của tờ di thiếu.
Phúc Loan thấy Mãnh đeo gươm bên hông bèn trỏ mặt Mãnh quát rằng:
-        Ngô Mãnh! Khi thiết triều trong cung điện không ai được mang vũ khí, sao ngươi dám đeo gươm bên mình là có ý gì?
Ngô Mãnh đáp:
-        Lúc Tiên vương còn tại thế tôi làm Đô thống chỉ huy cấm vệ quân. Tiên vương cho phép tôi theo hầu ở bất cứ đâu, kể cả cung cấm của Tiên vương. Xin Quốc phó xét cho.
Loan cầm gươm lệnh giơ lên quát:
-        Ngày trước ngươi làm chưởng cấm vệ quân chứ há phải ngày nay. Gươm của ngươi lại bằng gươm lệnh của chúa hay sao? Võ sĩ đâu lôi ra chém!
Võ sĩ xông ra bắt Ngô Mãnh trói lại. Thái úy Trương Vân Hạnh can:
-        Thưa Quốc phó, Ngô Mãnh đeo gươm chẳng qua là sự vô tình. Nay Quốc phó đem ra giết đi, chẳng phài là cố chấp hay sao? Vả chăng Ngô Mãnh muốn xem di bút của Tiên chúa, Quốc phó chẳng cho xem lại mượn sự đeo gươm mà giết đi e thiên hạ dị nghị rằng có điều mờ ám.
Văn Hạnh nói chưa dứt câu, Phúc Loan lại vỗ đùi quát:
-        Việc mờ ám chính là ngươi đó!
Vân Hạnh hỏi:
-        Tôi làm việc gì mà gọi là mờ ám?
Loan đáp:
-        Ngày trước chúa xa giá vào Nam, Ngô Mãnh tiến cử cháu ngươi là Trương Văn Hiến theo hộ giá để âm mưu hại chúa. Việc không thành Ngô Mãnh lại để mất ngựa qúy nên chúa buồn giận mà mất. Nay lại phạm luât đeo gươm vào triều, hai tội ấy không đáng chết lắm sao? Nay ngươi còn đứng ra ngăn trờ chẳng phải là đồng đảng đồng mưu ư?
Nói xong truyền quân giam Trương Văn Hạnh vào ngục và đem Ngô Mãnh ra chém.
Võ sĩ lôi Ngô Mãnh ra ngoài cung điện, có người tùy tướng của Ngô Mãnh là Phan Văn Long xông đến đâm chết mấy tên võ sĩ rồi cắt dây trói cho Ngô Mãnh. Long hối:
-        Tướng mau chạy đi, để tôi ở lại chặn binh triều.
Mãnh than:
-        Đã đến nước này đằng nào cũng mang tiếng bất trung. Ta trốn đi đã đành nhưng còn ngươi thì sao?
-        Thần đội ơn tri ngộ của tướng quân, nay dù có xương tan thịt nát là dịp để báo đền. Binh triều kéo đến kìa, tướng quân mau về đem gia quyến trốn đi. Xin tướng quân mau về đem gia quyến trốn đi. Xin tướng quân bảo bọc con thần là Phan Văn Lân thì thần yên lòng nhắm mắt. Một lạy này xin vĩng biệt tướng quân.
Nói xong Long vung thương xông đến phía binh triều. Ngô Mãnh chạy thoát về nhà. Phan Văn Long chặn binh triều giết chết trăm tên quân rồi trúng tên chết. Loan sai Chữ Đức bằm thây trăm mảnh. Ngô Mãnh chỉ kịp dắt theo con Phan Văn Long là Phan Văn Lân, và cháu nội mình là Ngô Văn Sở. Toàn gia quyến bị Loan bắt giết sạch. Nguyên Sở và Lân là con nhà võ tướng nên mới mười ba tuổi đã thạo nghề cưỡi ngựa. Ba ông cháu ra cổng Nam thành Phú Xuân nhắm hướng Nam mà chạy.
Ngô Mãnh dắt hai cháu lội suối trèo đèo, đêm ngày không nghỉ, lần hồi đến Quy Nhơn thì Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ngã bệnh, Mãnh đành phải ra giữa chợ hành khất để kiếm tiền chữa bệnh cho cháu. Bỗng có một phú nông họ Bùi đi ngang qua thấy lão ăn mày quắc thước và hai thiếu niên khôi ngô tuấn tú đem lòng thương, xuống ngựa hỏi Ngô Mãnh:
-        Tôi xem cụ và hai cháu đâu phải kẻ hèn, cớ sao đến nông nỗi này?
Ngô Mãnh gạt lệ đáp:
-        Tôi quê ở Phú Xuân, rủi gặp may phải dắt cháu ăn xin độ nhật. Xin ông thương tình bố thí để chữa bện cháu thơ.
Bùi ông nói:
-        Tôi có thể giúp cụ, nhưng cháu bớt bệnh rồi thì tá túc vào đâu? Chỉ bằng cụ về tại ấp Tây Sơn ở tạm, thuốc men đã có thầy nhà.
Nói rồi bèn đem ông cháu Ngô Mãnh về nhà mình đối đãi tử tế, lo thuốc men cho Sở và Lân đến khi hồi phục.
Một đêm kia Ngô Mãnh đang ngon giấc bỗng nghe la,”cướp, cướp” liền tung cửa chạy ra. Thì ra bọn cướp độ chừng vài chục tên hành hung người nhà Bùi ông, toan giở trò đạo tặc. Ngô Mãnh nghĩ bụng, đây là lúc để ta đáp nghĩa ân nhân. Mãnh quát lên như sấm:
-        Lũ cướp dừng tay!
Mãnh tay không xông vào bọn cướp đến đâu chúng ngã lăn ra đến đấy, đứa vỡ đầu lọi cẳng gãy tay, lạy lục xin tha. Ngô Mãnh khuỳnh tay quát:
-        Ta lấy đức hiếu sinh tha cho chúng bay một lần. Hãy cải tà quy chánh, chớ đem lòng đạo tặc mà có ngày chuốc vạ vào thân.
Tha bọn cướp xong, Bùi ông mời lão Ngô vào nhà hỏi.
-        Cụ tài đức vẹn toàn mà phải tha phương cầu thực ắt là có ẩn khúc chi đây? Nếu không nghi ngại có thể bày tỏ cho vơi nỗi lòng được chăng.
Ngô Mãnh đáp:
-        Giờ này chẳng dám giấu ân nhân. Tôi tên Ngô Mãnh làm Đô thống ở thành Phú Xuân bị Quốc phó Trương Phúc Loan làm hại nên trốn vào đây, gặp ân nhân ra tay chế độ lòng rất áy náy bấy lâu không biết lấy chi đền đáp.
Nói xong qùy lạy Bùi ông. Bùi ông đỡ dậy nói:
-        Làm việc nghĩa ai lại nghĩ  đến chuyện trả ơn. Nhưng nếu cụ muốn trả ơn cũng chẳng khó gì. Tôi có một con gái tên là Bùi Thị Xuân, tính ưa theo đòi cung kiếm, phiền cụ chỉ dạy cho cháu phòng khi hữu sự.
Nói xong gọi con ra hái Ngô Mãnh làm thấy, Ngô Mãnh thấy Bùi Thị Xuân mày tằm mắt phượng , môi nhỏ má hồng, dáng vẻ thanh tao mà thần sắc oai phong trong bụng rất mừng.
Từ ấy ông ngày đêm ra sức dạy võ nghệ binh thư cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Bùi Thị Xuân. Ngày qua tháng lại thấm thoát năm năm Xuân cùng Lân, Sở ba người đều võ nghệ siêu quần, tài trí hơn người, tiếng lành đồn khắp gần xa.
Trong khi Ngô Mãnh thoát chết trốn vào phủ Quy Nhơn tá túc nhà Bùi ông ở ấp Tây Sơn thì Trương Văn Hạnh bị giam vào ngục, Phúc Loan laic ho quân xây nha Văn Hạnh bắt hết gia quyến, người tùy tướng là Trương Văn Hiến đơn phương độc mã đột phá trùng vậy chạy thoát khỏi thành Phú Xuân nhắm hướng Nam mà chạy.
Lần rồi đến Quy Nhơn phủ thấy núi non hung vĩ cỏ cây sầm uất, Hiến nghĩ thầm:
-        Nơi đây là thành Đồ Bàn cũ của vua Chiêm, sau lưng dựa vào núi non hiểm trở, trước mặt trông ra biển lớn, trong ngoài đều có đèo cao án ngữ, thật là đất dụng võ. Thảo nào ngày xưa vua Chiêm là Chế Bồng Nga lập kinh đô ở đất này đã làm nên võ công hiển hách. Địa linh ắt sinh nhân kiệt. Thôi thì ta tạm tìm nơi ẩn náu rồi sẽ liệu sau.
Nghĩ xong bỗng nghe tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng. Ngoảnh nhìn lại thấy một thanh niên vừa đánh vừa lui, một mình chống đỡ hơn người tên mặt mày hung tợn. Xem người này yếu thế, đã thấm mệt, Hiến bèn xông ra nói lớn:
-        Các người sao lại ỷ đông hiếp yếu thì đây phải là người hào kiệt.
Tên đầu đảng quát:
-        Bọn ta là cướp, cần bạc vàng chứ đâu cần làm hào kiệt. Giết!
Chúng vung đao chém bừa. Hiến chỉ múa vài đường roi bọn chúng văng vũ khí liền hò nhau bỏ chạy. Người thanh niên qùy lạy tạ ơn. Hiến đỡ dậy hỏi:
-        Đây là nơi hoang vắng, sao anh lại mạo hiểm đi một mình để gặp cướp thế này?
Người ấy đáp:
-        Tôi tên Hồ Nhạc nhà ở ấp Kiên Thành thường đi buôn trầu ở Tây Sơn Thượng đem xuống thành Quy Nhơn bán, rồi lấy vàng bạc xuống chợ Giả ở cửa Bể mua muối chở lên bán cho người Thượng ở Tây Sơn Thượng. Nay giữa đường gặp cướp nếu không gặp ân nhân mạng ắt chẳng còn. Nghe tiếng nói ân nhân không phải là người địa phương, dám hỏi ân nhân quê quán ở đâu, vì sao phải đến chốn này?
Hiến ngậm ngùi đáp:
-        Tôi tên Trương Văn Hiến quê ở thành Phú Xuân, thời loạn ly gặp đại nạn phải bỏ nhà trốn tránh nơi đây.
Nhạc hỏi:
-        Giờ ân nhân định đi về đâu?
Hiến đáp:
-        Giờ đây là kẻ không nhà chưa biết phải về đâu?
Nói xong khật khưỡng vừa đi vừa ca rằng:
Không nhà chẳng biết đói no
Khá khen tạo hóa bày trò trêu ngươi
Sự đời chỉ một trận cười
Ta theo trăng gió dạo chơi ngũ hồ
Nhạc chạy theo qùy trước mặt Hiến thưa:
-        Xin ân nhân dừng bước. Tôi hiện còn một căn nhà trống ba gian, xin ân nhân hãy về ở tạm. Tài văn võ của tiên sinh nếu mở trường dạy học thì chẳng những đã có kế sinh nhai lại còn được người đời trọng vọng. Xin tiên sinh chớ chối từ.
Hiến xúc động nói:
-        Cảm ơn tấm thịnh tình của anh. Nhưng ta từ phương xa đến đây, ai biết ta thế nào mà cho con em theo học?
Nhạc đáp:
-        Việc ấy xin tiên sinh chớ ngại. Tôi tuy tài hèn nhưng người quanh vùng đều mến phục. Nay họ thấy tôi tôn tiên sinh làm thầy lo gì họ chẳng cho con em theo học.
Hiến bèn theo Nhạc về nhà. Hôm sau Nhạc đến gặp Hiến nói:
-        Anh khách sáo làm gì, hãy cho trẻ vào ra mắt.
Nhạc gọi hai em vào lạy chào. Nhạc trỏ hai em nói:
-        Đây là Hồ Huệ, tên tục là Thơm tuổi mới mười ba, còn kia la Hồ Lữ tuổi mới mười hai.
Hiến ngắm Lữ thấy tay chân vạm vỡ mặt mày hiền lương chân chất lòng rất cảm thương, lại thấy Huệ tuy còn niên thiếu mà lưng hùm vai gấu, mặt vuông tai lờn, mắt sắc như gươm, ánh nhìn như chớp thì lấy làm lạ bèn hỏi:
-        Vì sao Huệ lại có tên tục là Thơm?
Nhạc bảo Huệ:
-        Em hãy bẩm với thầy xem.
Huệ kính cẩn thưa:
-        Bẩm thầy, con nghe thân mẫu kể rằng lúc lâm bồn sanh con, hoa huệ trong vườn bỗng nở thơm ngát nên thân phụ mới đặt tên chữ là Huệ, tên tục là Thơm.
Hiến nghe tiếng nói của Huệ sang sảng như chuông, thất kinh nghĩ thầm, thằng bé này về sau nhất định là bậc anh hung quán thế, tài trùm thiên hạ chứ chẳng phải là kẻ tầm thường.
Từ ấy Trương Văn Hiến giữ Huệ và Lữ ở lại nhà truyền văn thụ võ.
Một hôm Trương Văn Hiến có việc đi ngang qua núi Hoành Sơn. Khi đến chân núi, Hiến gặp một cậu bé trạc mười hai, mười ba tuổi đang ngồi hí hoáy vẽ. Thỉnh thoảng cậu bé đứng dậy đăm đăm nhìn lên núi rồi lại ngồi xuống chăm chú vẽ. Hiến lấy làm lạ đến gắn hỏi:
-        Cháu bé kia! Cháu vẽ gì thế?
Cậu bé đáp:
-        Cháu vẽ núi!
Hiến nhìn vào bản vẽ cười to bảo:
-        Vẽ núi thì phải có vỏ, có cây, có mây, có nước mới nên phong cảnh đẹp. Hình vẽ của cháu chỉ có hình mấy dây núi và quả núi, lại có mấy đường ngoằn ngoèo dẫn l6n núi thì cần gì mà quan sát kỹ lưỡng thế?
Cậu bé cũng cười to đáp :
-        Cỏ cây mây nước của ông thì ai cũng nhìn thấy được, còn những đường ngoằn ngoèo của cháu mắt phàm không thể trông thấy, nên cháu phải quan sát kỵ lưỡng là do thế.
Hiến ngạc nhiên hỏi:
-        Những đường ấy là đường gì mà mắt phàm không thể nhìn thấy được?
Cậu bé hỏi lại Hiến:
-        Thế ông nhìn lên núi có thấy những đường ngoằn ngoèo như trong bản vẽ của cháu chăng?
Hiến đáp:
-        Ta chỉ thấy cỏ cây chứ làm gì có những đường ấy!
Cậu bé cười ngặt nghẽo nói:
-        Ấy mắt ông cũng là mắt phàm vậy.
Hiến tò mò hỏi:
-        Cháu hãy nói xem những đường ấy là đường gì? Nếu nói hay ta sẽ thưởng.
Bấy giờ cậu bé chỉ tay lên núi hỏi Hiến:
-        Núi non cỏ cây sầm uất đều xanh thẫm một màu, vậy còn vùng núi màu xanh lợt kia là gì ông có biết không?
Hiến cười đáp:
-        Ấy là trảng cỏ tranh bị cháy rồi nảy mầm non nên có màu xanh lợi. Việc ấy có gì mà không biết.
Cậu bé nói:
-        Nai, mang, mền trong rừng thường đến vùng cỏ mới cháy để ăn mầm non, nên cháu vẽ đường lên trăng cỏ tranh ấy cho phường săn của ông Đặng Đồng Phụng đến bắt nai, mang.
Hiến hỏi:
-        Cháu đã lấy đấy chưa mà biết được đường?
Cậu bé lại cười to đáp:
-        Nếu đã biết đường thì cần gì phải nhìn núi mà vẽ!
Hiến lấy là lạ hỏi:
-        Không biết đường sao vẽ được đường?
Cậu bé lại cười đáp:
-        Cháu nhìn núi xem dốc đổ phía nào mà biết được dòng suối chảy vào mùa mưa. Nước chảy tất phải trôi mặt đất, mà không còn đất chỉ còn đá, tất cây không mọc được. Tự nhiên nơi ấy sẽ thành đường đi trong rừng. Đó là cái mà ngoài cháu ra kẻ mắt phàm không nhìn thấy được.
Hiến mừng rõ reo lên:
-        Đây thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Quả nhiên đất Quy Nhơn địa linh sinh nhân kiệt.
Đoạn Hiến hỏi cậu bé:
-        Cháu tên gì? Nhà ở đâu?
-        Cháu tên Võ Văn Dũng! Nhà ở Tây Sơn Hạ!
-        Cháu có muốn làm học trò của ta chăng?
Văn Dũng hỏi lại Hiến:
-        Ông có tài gì mà đòi làm thầy của cháu?
Hiến chưa biết trả lời thế nào bỗng nghe sau lưng có tiếng quát lớn:
-        Ta định nhận Văn Dũng làm học trò, ngươi là ai mà dám giành học trò của ta?
Hiến và Dũng giật mình quay lại thấy một ông già tuổi trạc lục tuần, tóc râu đã bạc nhưng thân thể hãy còn tráng kiện lắm. Võ Văn Dũng nói:
-        Ấy là lão Đặng Đồng Phụng đầu phường săn.
Hiến hỏi lão Phụng:
-        Vì sao tiền bối định nhận cháu Dũng làm học trò?
Lão Phụng đáp:
-        Ta dạy võ nghệ cho nó mai sau lớn lên đi săn bắt thú rừng đem về thành bán cho quan quân. Như vậy cũng được phú quý.
Hiến hỏi Võ Văn Dũng:
-        Còn ta sẽ dạy cho con văn võ binh thư, mai sau khôn lớn vẽ bản đồ sông núi Nam để dùng quân đánh đổ binh triều cứu nguy trăm họ. Vậy con muốn theo ai?
Võ Văn Dũng đáp:
-        Con xin nhận thầy làm sư phụ.
Lão Phụng thấy vậy giận lắm quát lên:
-        Nếu ngươi đánh thắng ta thì ta sẽ không giành học trò với ngươi nữa.
Quát xong xông vào đánh liền, Trương Văn Hiến đưa tay đỡ đòn. Hai tay chạm nhau, Hiến nghe tay mình đau buốt liền nhảy khỏi vòng chiến, Lão Phụng cả cười nói:
-        Đặng Đồng Phụng ta được chân truyền về môn cường công. Ta tập luyện hai cánh tay như sắt, côn gỗ đánh vào còn không hề hấn gì thì tay ngươi sao chịu nổi. Vậy đã chịu thua chưa?
Hiến hỏi lại Lão Phụng:
-        Nếu tôi đánh lai được tiền bối thì thế nào?
Lão Phụng cười to đáp:
-        Ta sẽ nhường học trò cho ngươi, không giành nữa.
Văn Hiến mừng rỡ nói:
-        Xin tiền bối chớ quên lời, vậy tiền bối hãy rat ay trước.
Đặng Đồng Phụng vung tay đánh Hiến. Hiến co ngón tay giữa nhô lên thành Độc giác chỉ điểm mạnh vào huyệt Hợp cốc ở hổ khẩu và huyệt Khúc trì ở khuỷu tay lão Phụng. Lão Phụng hai tay tê hại không cử động được, lão liền vung chân đá Hiến. Hiến lại co ngón tay giữa, điểm mạnh vào huyệt Ủy trung ở nhượng chân và huyệt Thừa sơn ở giữa bắp chân của lão Phụng. Lão Phụng cà nhắc một chân cúi đầu nói:
-        Ông võ nghệ cao cường tôi xin bái phục. Xin hỏi vừa rồi ông sử dụng môn võ gì?
Hiến đáp:
-        Môn cương công của tiền bối đã luyện tay chân cứng như sắt thật là vô địch thiên hạ. Muốn thắng được tiền bối tôi phải dùng nhu công điểm vào các yếu huyệt làm cho tay chân tê dại mà thôi!
Lão Phụng bảo Võ Văn Dũng:
-        Ta mừng cho cháu gặp được thầy hay- rồi quay sang Trương Văn Hiến, Lão Phụng nói- Tôi có một đứa cháu nội tuổi trạc như Võ Văn Dũng tên là Đặng Văn Long. Cha nó chẳng may mất sớm, mẹ con nó được tôi nuôi dưỡng, nay xin gửi thầy theo học nghề văn võ mai sau giúp ích cho đời. Xin thầy vui lòng nhận cho.
Hiến vui vẻ chấp thuận.
Từ ấy hai cậu bé Võ Văn Dũng và Đặng Văn Long theo làm học trò Trương Văn Hiến.
Võ Văn Dũng và Đặng Văn Long gọi Hồ Huệ là đại sư huynh, gọi Lữ là nhị sư huynh. Huệ và Lữ gọi Văn Dũng là tam sư đệ và Đặng Văn Long là tứ sư đệ.
Trương Văn Hiến đem hết sở học truyền cho bốn học trò. Ngày qua tháng lại thấm thoát đã năm năm. Huệ, Lữ, Dũng, Long đã trở thành những trang thiếu niên anh kiệt. Tiếng lành đồn khắp gần xa.
 
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»