Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tây Sơn Bi Hùng Truyện - Lê Đình Danh 🔒

123 trả lời, 20.959 lượt xem — Trang 5 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-16 13:49:52Ct.Ly>
 

Chương 69
 

Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù.
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn.
 

Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quỳ mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu Xuân:

- Ta nghe thiên hạ xưa nay bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nay đến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu, Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
- Đặng Xuân Bảo to gan. Trước mặt ta sao dám không quỳ!
Báo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ!
Vua Gia Long cười gằn nói:
- Được! Ta tạm giam tụi bây vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây rồi sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:

- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
- Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây!

Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắc mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:

- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:

- Quân bây bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:

- Thằng tiểu nhân đê tiện kia, ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản được ta chăng?

Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc.
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ, Lữ về cho ta trị tội.
Đặng Đức Siêu bước ra can:
- Tâu Bệ hạ. Việc ấy không nên.
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nhạc, Huệ có tội lớn với tiên vương, nhưng Nhạc, Huệ chết đã mười năm, vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu Bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?

Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!

Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra. Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng lại, Gia Long bảo:

- Khanh văn chương như nước chảy, hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc, Huệ, Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các Chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội. Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế. Siêu quỳ trước bài vị Ngô, Võ đọc rằng:

Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.

Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.

Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.

Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tuỳ gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.

Nay gặp tiết thu,
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh.
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.

Siêu đọc xong, các quan đều rưng rưng ngấn lệ. Vua Gia Long ứa nước mắt nói:

- Ngô, Võ hai khanh!. Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây!

Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?

Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp:

- Ấy là hài cốt các Tiên đế của ta.

Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay, đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ, Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.

Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:

- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các Tiên đế!

Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:

- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Bùi Thị Xuân đành cắn răng ngậm miệng. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?

Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:

- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin Bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền, lương thực cho quân ta về. Xin Bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
- Mang đi chém ngang lưng!

Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.

Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bậc cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn! Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:

- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các Tiên đế ta, dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi, ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:

- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, Tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức ta và Nguyễn Huệ thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:

- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức Tiên đế ta như đêm trăng rằm còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:

- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp Tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhất không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:

- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.

Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận Chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:

- Ngày trước Bùi Thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:

- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ, vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn dập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Võ sĩ vâng lệnh, lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
- Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng rơi xuống voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn hoắt xuyên qua người, nàng quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên. Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều lè lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt!
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc. Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng, voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy. Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy hết cả.

Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đám. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế?

Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng: - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của dịch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?

Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mình, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất kinh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.

Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:

- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy.
Cơm dọn lên, võ sĩ cởi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết, việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!

Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm: Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta!
Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
***
Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi, và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc. Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ nữa.
Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ, xin giải về cho Bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?

Quân đáp:

- Tâu Bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:

- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:

- Thưa tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê, vợ Quang Trung Hoàng đế!

Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận Ngọc Hân công chúa.
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiêu diệt Bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng hà tôi mới tin điều Phu tử nói là đúng, nên mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích, tuỳ Bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết, nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục, đối xử tử tế chờ xét sau.

Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi:
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:

- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước thiếu gì cung phi mỹ nữ, cần gì phải lấy vợ thừa của giặc!
Vua Gia Long gạt đi bảo:

- Nước của nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?

Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:

- Ta là công chúa nhà Lê, lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao!
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:

- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.

Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:

Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.

Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế. Thật xấu hố thay!
Thương thay Thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn mang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:

- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho Bệ hạ trị tội và xin lệnh Bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền: - Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi ngươi hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao Gia Long lại tha tội chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên vua mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó.

Nói xong họ lại ca rằng:
Gái đâu có gái lạ lùng.
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:

- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì.
0
 
 

Chương 70
 

Ngô Thì Nhậm chết đòn vì đôi câu đối.

Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ.

 
Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:

- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê theo Nhạc, Huệ đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.

Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thì Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?

Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường đáp:

- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa Chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho Đặng huynh thì đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi, sao lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:

- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa, vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buột miệng nói:

- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế “Phạt thảo kinh xà" của Chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:

- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: "Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta". Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.

Thường ung dung đọc:

- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Nhậm nóng mắt đáp ngay:

- Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thì phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thì Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào, nếu Ngô Thì Nhậm chế thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thì Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường, hãy nhớ lấy lời ta. Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết.
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:

- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta, phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của Bệ hạ nên mới đem lòng oán Bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:

- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội, lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu đáp:

- Ta bố cáo với dân chúng Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà Bệ hạ phải ngại?
Vua Gia Long lại nói:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:

- Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn.
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:

- Ngô Thì Nhậm thật đáng là bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ.
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi, dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thì Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trẫm nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.
                              ***
Hai năm sau, tả hữu tâu với Vua Gia Long rằng:

- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghênh đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
   Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quỳ tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
   Vua Gia Long bảo Nguyễn Văn Thành ngồi rồi bảo:
- Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên ta lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?

   Thành lạy đáp:

- Thần xin muôn đội hoàng ân!
   Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?

  Thuyên đáp:

- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hoá, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hoá sẽ gửi thơ mời hai người ấy đến chơi.

  Nghe Thuyên nói xong, Thành hỏi:
- Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa.

  Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha?
   Thành kể lại sự việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.

   Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời gièm xiểm? Về sau còn tái phạm ta quyết trị không tha.
   Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:

- Ngươi hãy mang bức thư này đến Thanh Hoá trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí, hãy kíp đi ngay.

   Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:

- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy bắt lấy Hiệu, hỏi:

- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.

Quan quân hỏi:
- Thư này của ai. Nói mau, phải chém.
Hiệu liền đáp:

- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:

Ái Châu nghe nói lắm người hay.
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có.
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm.
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.
Sơn tể phen này dù gặp gỡ.
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
 
   Xem xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời nói của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến quỳ dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu Bệ hạ thần có tội gì?
   Vua cười gằn bảo:
- Ngươi toan mưu làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
   Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin Bệ hạ chớ nghe lời sàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
   Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ơi, con đã hại cha rồi!
   Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi, xin Bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
- Tội hay không phải giao cho viện pháp ty xét xử.
Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội Bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
- Vua giao cho bọn ta xét, tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
   Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.

   Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải chết. Thương thay Lê Văn Quân. Thương thay Lê Văn Quân!

   Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay.
   Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy.
    Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội, ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
   Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
 
Loạn thế anh hùng sản xuất đa.

Bắc Nam dược mã dự huy qua.
Thập niên huyết chiến thành hà sự.
Không thính ngư tiều tuý tửu ca!.
 
Tạm dịch:
Loạn đời sinh lắm anh hùng.
Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam.Mười năm(?) máu đổ (như) mây tuôn.

Người câu, hái củi ca buồn giọng say!.
 

Quy Nhơn, ngày 1-1-2003
0
Truyện lịch sử " Tây Sơn bi hùng truyện " của tác giả Lê Đình Danh đã hoàn tất và đã được mang vào thư viện trọn bộ.
 
Ct.Ly xin thành thật cảm ơn bạn HuyTran, Phi Thiên, Nguyễn Học và các hiệp sĩ đã cùng nhau gõ xong cuốn truyện này hoàn tất nhanh chóng.
 
Chúc các bạn luôn vui
 
Tình thân [sm=40.gif]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-11 11:22:05Ct.Ly>



 
Chương 47
 

Võ Tánh bày điệu hổ ly sơn.
Nguyễn Văn Trương dùng lý gián kế.
 

Nhắc lại Nguyễn Vương Phúc Ánh ở Tiêm La quốc chờ Bá Đa Lộc cầu viện nước Pháp Lang Sa đem binh thuyền đến giúp. Chờ mãi không thấy tăm hơi đâu cả, Ánh liền sai sứ tìm đường sang Pháp quốc dò la tin tức Bá Đa Lộc. Một ngày kia sứ giả về báo rằng:
- Tâu Thượng vương, nước Pháp Lang Sa có loạn nên vua Pháp không bằng lòng đem quân sang giúp. Bá Đa Lộc nói sẽ tự mình bỏ tiền mua súng đóng thuyền tuyển mộ binh lính rồi sẽ đến giúp Thượng vương.

Nguyễn Phúc Ánh buồn rầu nói:
- Ta không thể nào chờ Bá Đa Lộc được nữa, phải tự mình lo lấy mà thôi. Nhưng bây giờ trong tay chỉ có một ngàn quân sao về nước đánh Tây Sơn được. Các tướng ai có kế gì chăng?

Nguyễn Huỳnh Đức bước ra nói:

- Hiện nay Nguyễn Huệ cai trị từ ải Hải Vân trở ra Bắc. Ánh em Nhạc - Huệ bất hoà đánh giết lẫn nhau. Gia Định do Nguyễn Lữ trấn thủ. Nguyễn Lữ thật thà, bất tài, nhu nhược, Đặng Văn Long lại bỏ Nguyễn Lữ ra Phú Xuân theo Nguyễn Huệ. Ấy thật là trời giúp Thượng vương nên mới dành đất Gia Định cho Thượng vương đó. Đánh lấy Gia Định đất rộng dân đông là nương theo thiên thời mà giành địa lợi.

Nguyễn vương chặn Đức lại hỏi:

- Nhưng quân ta chỉ có một ngàn, sao chiếm nổi Gia Định?

Đức đáp:
- Muốn giành địa lợi thì phải được nhân hoà.
Nguyễn vương hỏi:
- Thế nào là nhân hoà?
Đức đáp:
- Nay ở Gia Định có một người nắm trong ta hàng vạn quân lập căn cứ trong rừng đang đánh nhau với quân Tây Sơn. Thượng vương thuyết người này ra giúp, lo gì không lấy được Gia Định.

Nguyễn vương hỏi:
- Người ấy là ai. Lập căn cứ tại đâu?

Nguyễn Huỳnh Đức đáp:

- Người này nổi danh là đệ nhất hùng trong Gia Định tam hùng. Đang lập căn cứ tại rừng Tam Phụ.

Nguyễn vương lắc đầu nói:

- Ta trước giết Võ Nhân là anh ruột Võ Tánh, nên năm xưa ta sai Ngô Tùng Châu đến thuyết mà Võ Tánh không theo. Nay nói cách gì cho Võ Tánh giúp ta được?

Ngô Tùng Châu xen vào thưa:
- Võ Tánh là người tướng quân ái quốc, nhưng Thượng vương ngờ Võ Tánh còn nhớ thù nhà nên chưa đến giúp Thượng vương được đó thôi.

Nguyễn vương hỏi:
- Ta thì ngại Võ Tánh con nhớ thù anh. Võ Tánh thì sợ ta vì điều ấy mà không tin Tánh thực lòng thế giúp. Vậy phải làm sao hoá giải được nỗi hiềm nghi này.
Ngô Tùng Châu cười đáp:

- Trước Thượng vương cắt đứt ruột thịt người ta nay Thượng vương nên đem rượu thịt của mình mà thưởng cho họ, ắt Võ Tánh sẽ hết nghi ngờ.
Nguyễn vương ngạc nhiên hỏi:
- Ngô tham mưu nói vậy là ý thế nào. Ta vẫn chưa hiểu?
Ngô Tùng Châu kề tai Phúc Ánh nói nhỏ một hồi. Nghe xong Nguyễn vương mừng rỡ khen:
- Ngô tiên sinh thật là cao kiến. Vậy phiền tiên sinh tìm về cố quốc đến rừng Tam Phụ gặp Võ Tánh lần nữa.
Ngô Tùng Châu vâng lệnh đi ngay. Gặp nhau, Tánh hỏi Châu:

- Năm xưa tôi hẹn với Ngô huynh chờ mãn hạn tang anh sẽ đem quân theo giúp chúa. Không ngờ Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định đuổi chúa cha sang Tiêm La quốc. Nay tôi muốn theo Chúa vậy phải tìm ở đâu?

Ngô Tùng Châu mừng rỡ đáp:

- Chẳng giấu gì Võ đệ, tôi vâng lệnh chúa đến trao cho Võ đệ một vật để chứng tỏ rằng Chúa không hề nghi ngờ gì Võ đệ cả.

Võ Tánh hỏi:
- Ấy là vật gì?
Ngô Tùng Châu liền đưa cho Võ Tánh xem một tranh vẽ hình một người con gái dung nhan diễm lệ. Xem xong Tánh ngạc nhiên hỏi:
- Bức chân dung này của ai. Cho tôi xem có dụng ý gì?
Ngô Tùng Châu cười đáp:

- Đây là chân dung của quận chúa Ngọc Du là em ruột của chúa. Nay Chúa muốn gả quận chúa Ngọc Du cho Võ đệ, ấy là muốn lấy tình thật mà đãi ngộ Võ đệ đó!
Võ Tánh xua tay nói:
- Tôi nay ra giúp chúa vì đã mãn hạn tang anh không còn sợ mang tiếng là người bất hiếu. Nếu chờ Chúa gả em gái mới ra giúp sao bảo là trung được.

-. Ngô huynh hãy về tâu với Chúa rằng khi nào Chúa về nước, Tánh tôi sẽ thân hành đem quân đến đón. Con việc gả Quận chúa, Tánh tôi là kẻ vũ phu thật tình không dám nhận.
Tùng Châu hỏi:
- Chúa ta trong tay chỉ có năm ngàn quân sa đám đường đột về nước. Theo tôi Võ đệ hay ra quá đánh lấy Trường Đồn, Hà Tiên. Chúa sẽ theo đường bể về Hà Tiên. Như vậy mới tiện.
Võ Tánh cười đáp:

- Một ngàn quân cũng đã chiếm được Hà Tiên. Nguyễn Lữ nghe Chúa ta ít quân tất đem quân tiến xuống Trường Đồn đánh Hà Tiên. Khi ấy tôi ở rừng Tam Phụ sẽ bất ngờ đánh chiếm Sài Côn, Nguyễn Lữ ở Trường Đồn sẽ lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Ấy là kế điệu hổ ly sơn đó.

Ngô Tùng Châu mừng rỡ khen:
- Ấy thật là diệu kế. Phen này phải bắt sống Nguyễn Lữ.
Nói xong Châu liền từ biệt Võ Tánh sang Tiêm La quốc thuật lại kế Võ Tánh cho Nguyễn vương nghe.
Nguyễn vương cảm khái nói:
- Võ Tánh thật là người trung hiếu vẹn toàn xứ này hiếm thấy. Nghĩa thật là đáng kính, tài thật là đáng phục.

Đoạn Nguyễn vương liền đem quân theo đường bể tiến đánh Hà Tiên.
Bây giờ Đông Định Vương Nguyễn Lữ ngày ấy ở trong thành Sài Côn nghe quân thám mã về báo rằng:
- Thưa Đông Định Vương, Nguyễn Phúc Ánh từ Tiêm La quốc đem quân về đánh chiếm Hà Tiên. Xin Đông Định Vương định liệu.

Nguyễn Lữ giật mình nói:
- Hai anh ta bất hoà khiến lòng người ly tán. Đất Gia Định chỉ một lòng về với Phúc Ánh. Vả lại Phúc Ánh ở Tiêm La về chiếm Hà Tiên chắc là có quân Tiêm La theo giúp. Chi bằng ta bỏ Gia Định về Quy Nhơn với Hoàng huynh là hơn.
Nguyễn Lữ vừa dứt lời bỗng nghe tiếng nói lớn:
- Xin Đông Định Vương chớ bỏ Gia Định.

Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra người vừa nói là quan Thái bảo Phạm Văn Tham. Nguyễn Lữ hỏi:

- Văn Tham cho rằng ta có thể địch nổi với quân Tiêm La hay sao mà bảo đừng bỏ đất Gia Định.

Phạm Văn Tham đáp:

- Năm trước quân Tiêm La bị tiêu diệt ở Rạch Gầm, Trường Đồn, năm vạn quân còn lại mấy trăm ôm đầu chạy về nước. Từ ấy đến nay chúng nghe tiếng Tây Sơn ta đã kinh tâm tán đởm làm gì mà dám sang lần nữa. Xin Đông Định Vương chớ vội bỏ đất Gia Định.

Nguyễn Lữ chau mày nói:
- Dù quân Tiêm không sang thật, nhưng lòng đất Gia Định chỉ theo về Phúc Ánh, thành Sài Côn là chẳng có núi non che chở e không chống nổi với giặc. Ý ta đã quyết, Văn Tham đừng nói nữa.

Tham quỳ dưới án một mực cầu xin:
- Bệ hạ giao cho bọn ta trấn thủ Gia Định, giặc đến chưa đánh đã chạy sao đáng mặt làm tướng. Nếu Đông Định Vương muốn lui xin hãy tạm về đóng ở Trấn Biên cho an lòng quân sĩ. Tôi xin ở lại Sài Côn đánh Phúc Ánh. Nếu chẳng may Văn Tham tôi bỏ mạng thì Đông Định Vương từ Trấn Biên chạy về Quy Nhơn cũng chẳng muộn gì.
Nguyễn Lữ nghe vậy an tâm liền đem năm ngàn quân lui về giờ Trấn Biên.
Lúc bây giờ ở trong quân Tây Sơn có một viên tiểu tướng tên là Nguyễn Văn Trương hay việc ấy bên bảo bọn thủ hạ rằng:
- Đông Định Vương Nguyễn Lữ là người bất tài sớm muộn gì đất Gia Định cũng mất về tay Chúa Nguyễn. Bọn ta đều là người Gia Định sao không thể về với Chúa Nguyễn lập công danh với đời.
Nói xong Trường đem ba trăm thủ hạ về Hà Tiên quy hàng Nguyễn vương. Nguyễn vương hỏi:
- Ngươi bỏ Tây Sơn theo ta lấy gì tin là thực.
Nguyễn Văn Trương đáp:

- Hạ thần xin hiến một kế khiến Nguyễn Lữ phải bỏ Trấn Biên mà chạy về Quy Nhơn. Phạm Văn Tham tất bị cô lập ở Sài Côn. Khi ấy Thượng vương lấy đất Gia Định như trở bàn tay, rồi tin thực hay không tuỳ Thượng vương phán quyết.
Nguyễn vương hỏi:
- Kế thế nào?
Trường đáp:

- Thượng vương cử làm như vậy... như vậy. Ấy là ly gián kế.
Nguyễn vương nghi ngờ hỏi:
- Kế mọn này có thể lừa được Nguyễn Lữ sao?

Trường đáp:

- Phạm Văn Tham biết Nguyễn Lữ là người bất nhất, tất cả hai sẽ trúng kế. Thần xin đem đầu ra bảo đảm, xin Thượng vương chớ lo.

Nguyễn vương nghe Văn Trường cả quyết thế liền theo kế thi hành.
***
Nhắc lại Phạm Văn Tham trấn thủ Sài Côn nghe quân vào báo:
- Thưa tướng quân, vua Thái Đức sai người đi đường biển vào trao thư cho Đông Vương.

Phạm Văn Tham nói:

- Đông Vương không có ở đây, vậy ta phải mở thư ra xem vua dặn dò đánh giặc thế nào?
Tham mở thư ra đọc. Thư rằng:

"Em quyết lòng rút binh mà Phạm Văn Tham nhất định xin ở lại trấn Sài Côn là cố ý ở biên cương để dễ hàng giặc. Đã biết ý của Tham như thế sao không giết đi còn tâu bẩm làm gì!"

Phạm Văn Tham xem thư xong thất kinh than:

- Ta một lòng vì nước sao Đông Vương nỡ ngờ ta như thế. Ta phải về Trấn Biên minh oan cùng Đông Vương mới được.

Nói rồi Phạm Văn Tham chỉ đem vài trăm quân ra cửa Bắc thành Sài Côn, nhằm Trấn Biên trực chỉ. Nguyễn Lữ ở trong thành Trấn Biên nghe quân vào báo:
- Thưa Đông Vương, dân ở thành Trấn Biên xầm xì bàn tán rằng: Phạm Văn Tham đã dâng thành Sài Côn, đầu hàng Nguyễn Phúc Ánh.
Nguyễn Lữ gạt đi bảo:

- Phạm Văn Tham là người trung nghĩa làm gì có việc phản ta.
Vừa dứt lời quân tin cẩn vào báo:
- Khắp trong thành người nói đều đồn rằng Phạm Văn Tham sắp dẫn quân Nguyễn Phúc Ánh đến đánh ta.

Nguyễn Lữ liền đứng lên đi đi lại lại nghĩ thầm:

- Lẽ đâu Phạm Văn Tham muốn hàng nên mới một mực xin ta cho ở lại trấn thủ Sài Côn.
Lữ con đang hoài nghi bỗng quân do thám hớt hải chạy vào báo rằng:
- Thưa Đông Vương, Phạm Văn Tham đang dẫn quân tiến về thành Trấn Biên. Chẳng hiểu là cố ý gì?
Nguyễn Lữ giật mình kinh hãi nói:
- Phạm Văn Tham đã phản ta rồi dẫn quân Nguyễn Phúc Ánh đến đánh ta đó. Mau rút binh về Quy Nhơn.

Than rồi Lữ liền dẫn quân ra cửa Bắc thành mà chạy. Hay tin ấy Phạm Văn Tham than:

- Nếu vậy ta chỉ còn một cách là đánh thẳng Phúc Ánh mới minh oán với vua Thái Đức và Đông Vương Nguyễn Lữ được mà thôi.
Đoạn Phạm Văn Tham lại dẫn quân quay về thành Sài Côn. Đến nơi Tham gọi tên thuộc tướng là Phạm Hổ tới bảo:
- Ta đã viết sẵn một phòng thư, ngươi hãy gấp ra Phú Xuân báo cáo tình hình cùng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Chỉ Bắc Bình Vương mới cứu ta được mà thôi.
Phạm Hổ vâng lời liền lên thuyền đi đường biển ra Phú Xuân. Họ đi rồi, Tham bảo quân:

- Mau truyền lệnh ta đem toàn quân vào Trường Đồn đánh Nguyễn Phúc Ánh.

Nguyễn vương hay tin ấy bảo các tướng:
- Nguyễn Lữ và Phạm Văn Tham trúng kế ly gián của Nguyễn Văn Trương. Phạm Văn Tham kéo quân đến Trường Đồn ắt Sài Côn bỏ trống đúng như Võ Tánh dự đoán. Vậy ta phải mất sai Võ Tánh từ rừng Tam Phụ đánh chiếm Sài Côn. Khi ấy Phạm Văn Tham không còn đường rút tất phải đầu hàng.
Phạm Văn Tham ở Trường Đồn nghe quân vào báo:
- Võ Tánh ở rừng Tam Phụ đã đem quân đánh chiếm Sài Côn.
Tham thất kinh nói:
- Ta đã lầm mưu Nguyễn Phúc Ánh. Thành Sài Côn mất, ta ở Trường Đồn ba mặt đều thọ địch, nếu không sớm theo sông Tiền Giang ra cửa Hàm Luông theo đường biển rút quân về Bắc, ngộ nhỡ địch để thuỷ binh chặn mặt đường ấy thì làm thế nào?
Tham vừa dứt lời quân thám mã lại vào báo:
- Thưa tướng quân, thuỷ binh quân Nguyễn đã đông thuỷ trại kín cả một đại Tiền Giang.

Phạm Văn Tham buồn rầu hạ lệnh:

- Ba quân canh phòng cẩn mật liều chết thủ thành cho Bắc Bình Vương đem quân đến cứu.

Phạm Văn Tham lo lắng lên mặt thành Trường Đồn nhìn xuống sông Tiền Giang, chiến thuyền của quân Nguyễn giăng lớp lớp. Lại trông về phương Bắc tin quân cầu viện của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ còn trong làn sương khói xa mờ. Phạm Văn Tham thở dài than:
- Vài trời cho Phạm Hổ đến được Phú Xuân cầu cứu Bắc Bình Vương.
 
 


Chương 48

Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm Gia Định

Lê Chiêu Thống cầu cứu Mãn Thanh

Nói về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ở Phú Xuân ngày ấy nghe quân vào báo:
- Sứ giả của Thái Đức Hoàng đế đem thư từ Quy Nhơn đến!

Nguyễn Huệ liền sai quân lập hương án rồi quỳ tiếp chỉ. Đọc thư xong Nguyễn Huệ khóc lớn kêu lên rằng:
- Nguyễn Lữ em ơi!
Đặng Văn Long và Vũ Văn Dũng giật mình đồng thanh hỏi:
- Nhị sư huynh thế nào mà Đại sư huynh đau đớn vậy?

Huệ gạt nước mắt đáp:

- Nguyễn Lữ thọ bệnh đau hai mắt đã mất tại Quy Nhơn!
Văn Long ngạc nhiên hỏi:
- Nhì sự huynh đang trấn thủ Gia Định cớ sao có mặt tại Quy Nhơn?

Huệ đáp:

- Trong thư Hoàng huynh bảo Nguyễn Phúc Ánh từ Tiêm La đem quân về đánh, Phạm Văn Tham dâng thành Sài Côn hàng giặc. Nguyễn Lữ phải ở chạy về Quy Nhơn lâm bệnh mà chết.
Huệ vừa dứt lời, quân lại vào báo:
- Thưa Chúa công, có sứ giả của tướng quân Phạm Văn Tham từ Gia Định xin vào ra mắt.
Huệ liền bảo:
- Mau cho vào.
Phạm Hổ vào đến quỳ khóc thưa:

- Tướng quân Phạm Văn Tham bị vua Thái Đức và Đông Định Vương nghi oan hàng Nguyễn Phúc Ánh nên không cho quân vào cứu Gia Định. Phạm tướng quân sai tôi vượt ngàn dặm biển đến đây cầu xin Bắc Bình Vương đem quân vào cứu. Nếu không Gia Định phải lâm nguy.
Nguyễn Huệ giật mình than:
- Nói vậy Nguyễn Lữ và Phạm Văn Tham đã bị là gian kế của Nguyễn Phúc Ánh rồi. Hiện Phạm Văn Tham đang đóng quân tại đâu?

Phạm Hổ đáp:

- Hiện Phạm tướng quân đã kéo quân đến Trường Đồn chống nhau với quân Nguyễn Phúc Ánh ở Hà Tiên.
Nguyễn Huệ lại thở dài rằng:
- Thường thay Phạm Văn Tham. Kéo toán quân đông đi Trường Đồn thì Phạm Văn Tham nguy mất. Nếu quân Võ Tánh từ rừng Tam Phụ đánh chiếm Sài Côn thì Trường Đồn bốn mặt đều thọ địch phải làm sao? Ôi. Thương thay Phạm Văn Tham!

Phạm Hổ đập đầu khóc:

- Xin Bắc Bình Vương mau cho quân vào cứu.
Nguyễn Huệ còn chau mày suy nghĩ, Vũ Văn Dũng lớn tiếng:

- Đại sư huynh hãy cho thần và sư đệ Văn Long vào Gia Định đánh Phúc Ánh cứu Phạm Văn Tham và báo thù cho Nhị sư huynh. Cứu binh như cứu hoả Đại sư huynh còn ngẫm nghĩ nơi gì.
Huệ trầm ngâm nói:
- Ngô Văn Sở ở Bắc Hà bảo rằng vua Lê Chiêu Thống đã sang Tàu cầu viện vua Càn Long nhà Thành. Đã một năm nay ta dồn hết nhân tài vật lực trong nước chuẩn bị đánh giặc ngoại xâm phương Bắc. Nay chúng sắp sang nên ta không thể cho hai em đem quân vào Nam được.

Vũ Văn Dũng lại lớn tiếng rằng:

- Nhị sư huynh vì thua Phúc Ánh mà chết, Đại sư huynh lại chẳng muốn báo thù sao?
Huệ điềm tĩnh đáp:

- Nguyễn Lữ là em ruột của ta, ta không đau đớn sao được. Nhưng thù nhà là việc phụ, nước dân là việc chính. Giặc Thanh rất đông, rất mạnh. Nước ta nhỏ phải địch nước lớn gặp mười lần, quân ta ít phải cự với giặc nhiều. Quân đã ít không đủ để chống giặc còn cứu được ai!

Phạm Hổ thất kinh hỏi:
- Nếu Bắc Bình Vương không cứu, Phạm tướng quân tôi phải tính thế nào?
Nguyễn Huệ chậm chạp nói:
- Nếu Nguyễn Phúc Ánh chưa lấy Sài Côn thì ngươi mau bảo Phạm Văn Tham bỏ thành Trường Đồn về giữ Sài Côn. Ta sẽ viết thư sai người vào Bình Thuận bảo Đặng Xuân Phong kéo quân vào Trấn Biên làm thế môi răng với Phạm Văn Tham ở Sài Côn thì không phải lo gì nữa.
Phạm Hổ hỏi:
- Nếu Sài Côn đã mất thì làm thế nào?
Huệ đau xót đáp:

- Nếu thế Văn Tham ở Trường Đồn bốn bề thọ địch, khi ấy ta e nước xa không cứu được lửa gần. Người hãy bảo Phạm Văn Tham tạm quy hàng Phúc Ánh, chờ ta phá xong quân Thanh ở Bắc sẽ lập tức đem quân vào Nam đánh giặc Ánh. Khi ấy Phạm Văn Tham làm nội ứng là lập nên công lớn vậy.
Phạm Hổ không biết làm sao đánh gạt nước mắt từ biệt Nguyễn Huệ đi ngay. Hổ đi rồi Nguyễn Huệ than:

- Hoàng huynh ta càng già càng lo hưởng thụ cầu an, thật là đáng tiếc! Ôi! Thương thay Phạm Văn Tham!
Phạm Hổ đến Gia Định nghe tin Phạm Văn Tham bị vây ở Trường Đồn, trong hết lưng tháo, ngoài không quân cầu viện nên đã mở cửa thành ra hàng Phúc Ánh. Phạm Hổ cải trang tìm gặp Phạm Văn Tham thuật lại lời Nguyễn Huệ cho Tham nghe. Phạm Văn Tham than:

- Giờ chỉ còn cách ấy mà thôi. Ông trời sao bầy cảnh éo le.
Phạm Hổ hỏi:
- Sao tướng quân lại nói thế.
Tham đáp:

- Nếu vua Thái Đức tài cao chí lớn như Bắc Bình Vương thì ta đâu lâm vào cảnh éo le như thế này!
Tham vừa dứt lời bỗng võ sĩ đập cửa xông vào bắt Phạm Văn Tham và Phạm Hổ trói lại. Nguyễn Phúc Ánh từ ngoài bước vào nói:
- Ta biết người bắt đắc dĩ mới ra hàng ắt có ngày tạo phản nên ngầm cho người theo dõi, quả nhiên là thực. Quân bay lôi ra chém!
Lúc đao phủ khai đao, Phạm Văn Tham ngửa mặt lên trời than rằng:
- Nếu Bắc Bình Vương là anh vua Thái Đức thì Phạm Văn Tham ta đâu chết thảm thế này!
Than xong đầu liền lìa khỏi cổ.
                                             ***
Lại nói về Đặng Xuân Phong đang thủ thành Bình Thuận được thư Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Phong liền đem quân vào giữ Trấn Biên. Đến nơi nghe tin Phạm Văn Tham đã hàng Phúc Ánh, thành Sài Côn đã mất, Phong bèn sai người về Quy Nhơn tâu vua Thái Đức xin đem quân vào đánh. Thái giám Vũ Tâm Can hầu cận bên vua, thừa lúc vua say rượu đang vui cùng mỹ nữ, Tâm Can nói gièm:
- Đặng Xuân Phong đang trấn thủ Bình Thuận không có lệnh của Bệ hạ bỗng kéo quân vào Trấn Biên, chẳng khác nào Phạm Văn Tham cố xin Đông Định Vương trấn Sài Côn để dễ hàng giặc. Xin Bệ hạ lo liệu.
Vua Thái Đức lúc ấy đã quá say, ôm mỹ nữ trong lòng khẽ khàng hỏi:
- Vậy phải làm sao?
Vũ Tâm Can đáp:

- Nên giết đi để trừ hậu hoạ.

Thái Đức phán:

- Ngươi hãy thay trẫm làm việc đó.

Đặng Xuân Phong ở Trấn Biên nghe quân vào báo có tướng quân Lê Trung đem lệnh vua đến. Đặng Xuân Phong hỏi:
- Kế sách đánh Phúc Ánh nhà vua liệu thế nào. Sao chỉ có mình ông đến đây và sao lại triệu tôi về kinh?
Lê Trung đáp:

- Hoàng thượng triệu ông về và sai tôi vào thay. Tôi với ông là chỗ thâm tình đã từng vào sinh ra tử nên tối mới nói với ông điều này, tuy ông định liệu. Tôi e rằng nịnh thần trong triều che mắt Hoàng thượng toan hại ông chăng?

Đặng Xuân Phong nghĩ thầm rằng:
- Anh ta là Đặng Văn Long đã bỏ vua Thái Đức theo Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Ngộ nhỡ vua vì việc ấy mà hại ta thì sao.
Nghĩ rồi Đặng Xuân Phong bảo Lê Trung:
- Bắc Bình Vương trấn ngoài mặt Bắc, Hoàng thượng không chịu nhìn xa, Nguyễn Phúc Ánh thức thời đem quân về lấy đất Gia Định. Ông là đại tướng hãy một lòng đánh giặc giúp vua. Tôi vì thế buộc nên phải ra đi, nếu về kinh thế nào cũng chết.
Lê Trung hỏi:
- Ông định đi đâu.

Phong đáp:

- Nếu không ra Phú Xuân cùng Bắc Bình Vương còn biết đi đâu nữa.

Nói xong Đang Xuân Phong xuống thuyền vượt bể ra Phú Xuân. Nguyễn Huệ ở Phú Xuân nghe Đặng Văn Phong kể đầu đuôi sự việc, Huệ thở dài nói:
- Hoàng huynh ta ngày càng bỏ bê chính sự, e rằng không địch nổi Nguyễn Phúc Ánh. Con ta phải chờ phá giặc Thanh xong mới kéo quân vào Nam được. Không diệt Phúc Ánh khi đang xây dựng lực lượng, đợi hắn lớn mạnh càng khó khăn thêm.
***
Nói về vua Lê Chiêu Thống bỏ thành Thăng Long chạy về Kinh Bắc rồi trốn lên vùng rừng núi Lạng Sơn. Vua Chiêu Thống sai bọn thị thần Lê Quýnh và Trần Danh Án sáng cầu viện vua Càn Long nhà Thanh.
Lê Quýnh và Trần Danh Án ra mắt Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị. Lê Quýnh tâu:
- Nhà Lê của hạ thần làm vua ở nước An Nam đã ba trăm năm này. Vua nào lên trị vì cũng đều sai sứ sang thiên quốc xin phong. Nay vua của hạ thần bị giặc Tây Sơn đánh đuổi phải trốn lên chốn rừng sâu nước độc, nếm mặt nằm gai. Vừa sai bọn hạ thần lội suối bằng rừng tìm đến thiên quốc đập đầu dưới trướng cầu xin thiên quốc đem binh sang giúp đuổi giặc Tây Sơn đứa vua hạ thần về nước thì ơn ấy tạc dạ ghi lòng, ngàn năm giữ phạn con dân, trọn đời triều cống. Xin đại quân đoái thương tâu lên cùng Thiên tử.
Nói xong Quỳnh và Án cũng đập đầu gào khóc. Tôn Sĩ Nghị mân mê tóc đuôi sam bảo với sứ vua Lê:
- Hai người hãy ra nghỉ ngơi công quán, ta sẽ cố sức tâu xin, thế nào Hoàng thượng cũng chuẩn y.
Lê Quýnh và Trần Công Án cả mừng lậy tạ lui ra, còn lại một mình, Tôn Sĩ Nghị hất mạnh đuôi tóc ra sau lưng nói lớn:
- Ta mượn cớ giúp vua Lê tâu xin Hoàng thượng đem quân chiếm nước An Nam là lập nên đại công vậy.

Đoạn Tôn Sĩ Nghị viết biểu sai người về kinh dâng lên vua Càn Long. Vua Thanh bèn phong Tôn Sĩ Nghị làm Tiết chế điều binh bọn tính Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây tổng cộng được ba mươi vạn quân sang đánh nước An Nam.
Tôn Sĩ Nghị hớn hở bảo các tướng :
- Nay ta tuân lệnh vua đem đại binh ba mươi vạn sang đánh An Nam. Các ngươi hãy cùng ta cố sức lập cổng lớn trả ơn vua, lưu danh hậu thế.
Các tướng đồng thanh thưa:

- Xin Tiết chế xuống lệnh, chúng tôi thề cố sức lập công.
Tôn Sĩ Nghị truyền:
- Ô Đại Kinh đem sáu vạn quân theo đường Tuyên Quang tiến xuống, Sầm Nghi Đống đem sáu vạn quân theo đường Cao Bằng tiến sang, ta sẽ đem mười tám vạn quân đi đường Lạng Sơn. Cả ba đạo cùng tiến sang làm cỏ nước Nam, hẹn gặp tại Thăng Long kinh đô của chúng.

Ô Đại Kinh và Sầm Nghi Đống bước ra lãnh lệnh. Tôn Sĩ Nghị lại truyền:
- Nay ta phong Trương Triều Long làm tiên phong đem năm vạn quân đi trước mở đường. Ta cùng tả dực phó tướng Thượng Duy Thăng cùng đại binh đi sau tiếp ứng. Truyền lệnh ta, quân các đạo lập tức xuất binh.

Tháng 10 năm Mậu Thân (1788) quân Thanh chia làm ba mũi, tiến vào An Nam.




0
«« « 1 2 3 4 5 » »»