📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tây Sơn Bi Hùng Truyện-Lê Đình Danh

6 trả lời, 2.045 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-18 18:54:46Ct.Ly>
     I
DỰNG CỜ KHỞI NGHĨA
CHƯƠNG MỘT
Tại Đàng Ngoài, Tĩnh Đô Vương lộng hành giết chết Thái tử
Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan lập mưu đoạt quyền Đô Thống
 


Nước Nam, người Lạc Việt, từ khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, mười năm kháng chiến đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Lê Lợi lên ngôi vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ lập nên nhà Hậu Lê đặt tên nước là Đại Việt (năm Mậu Thân - 1428).
Vua Thái Tổ truyền đến đời con cháu là Thái Tông, Thánh Tông đều là những bậc anh quân vì dân vì nước. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình, muôn dân no ấm. Lúc bấy giờ người dân trong nước truyền tụng câu ca rằng:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa thóc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn
Nhà Hậu Lê truyền ngôi được trăm năm, đến đời vua Chiêu Tông thì Mạc Đăng Dung soán ngôi vua lập nên nhà Mạc vào năm Đinh Hợi (1527). Lúc bấy giờ có quan hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thạch Hầu Nguyễn Kim cùng rể là Trịnh Kiểm tìm dõng dõi vua Lê Thái Tổ lập lên làm vua rồi đem quân chiếm đất Nghệ An đánh nhau với nhà Mạc.
Sau Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm. Kiểm sợ con Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh quyền với mình, bèn giết chết Nguyễn Uông. Trịnh Kiểm lại có ý xưng làm vua, nhưng thấy lòng người còn thương mến nhà Lê nên sai sứ vào Hải Dương hỏi ý Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng trình bảo:
- Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt nên tìm giống cũ mà gieo mạ.
Rồi Trạng sai đầy tớ quét dọn chùa rồi đốt hương khấn rằng: Giữ chùa thờ phật thì ăn oản
Kiểm hiểu ý vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình nắm hết quyền hành.
Nguyễn Hoàng thấy Trịnh Kiểm giết anh mình là Nguyễn Uông sợ vạ lây đến thân, bèn lén vào hỏi ý Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng chỉ tay vào Nam nói:
- Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân (một dãy Hoành Sơn dung thân ngàn đời).
Hoàng lấy tình thâm ruột thịt nói với chị mình là vợ Trịnh Kiểm tên là Ngọc Bảo, xin với Kiểm cho Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá (Bình Trị Thiên ngày nay). Ấy là vào năm Mậu Ngọ (1558).
Sau Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng lên thay quyền. Tùng đem quân đánh dứt được nhà Mạc. Tùng vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình tự xưng là chúa Trịnh.
Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá thấy Trịnh Tùng xưng chúa ở Thăng Long, bèn tự xưng là chúa Nguyễn. Về sau Hoàng chết, con là Nguyễn Phúc Nguyên sai Đào Duy Từ đắp luỹ Trường Dực ở Châu Bố Chánh (Quảng Bình ngày nay) chống nhau với quân Trịnh.
Hai bên bắt đầu đánh nhau vào năm Đinh Mão 1627. Từ ấy về sau đất nước chia hai, lấy sông Linh Giang làm ranh giới. Từ sông Linh Giang trở ra tục gọi là Đàng Ngoài. Từ sông Linh Giang trở vào trong gọi là Đàng Trong.
Hai Đàng đánh nhau ngót một trăm năm, tạo ra cảnh binh đao khói lửa, huynh đệ tương tàn, nhân dân ta thán!
Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tùng mượn tiếng tôn phò vua Lê nắm hết quyền hành. Thủa ấy trong nhân gian thường truyền miệng câu sấm rằng:
Chẳng Đế chẳng Bá, quyền nghiêng thiên hạ
Đến đời thứ tám, trong nhà dấy vạ
Họ Trịnh cha truyền con nối làm chúa ở Đàng Ngoài đến đời thứ tám là Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm. Lúc ấy vua nhà Lê là Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng có một người con lớn là Thái tử Lê Duy Vỹ. Duy Vỹ tư chất thông minh, diện mạo khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn. Thường ngày Duy Vỹ đi ngao du sơn thuỷ kết giao với hào kiệt khắp vùng, ai ai cũng thương tài mến đức.
Một ngày kia, trong cung điện, vua Hiển Tông đánh cờ uống rượu cùng các quan thái giám, Duy Vỹ vào trông thấy quỳ tâu:
- Thưa Phụ hoàng, từ ngày nhà Lê ta trung hưng đến nay trải mười đời vua. Họ Trịnh tiếng là tôn phò nhưng thực chất là áp chế nhà Lê ta. Họ Trịnh muốn cho ai làm vua thì cho, muốn giết ai thì giết. Như hai trăm năm trước Trịnh Tùng giết chết Anh Tông hoàng đế. Rồi ba mươi năm sau Trịnh Tùng lại giết chết Hoàng đế. Mới bảy mươi năm trước đây Dụ Tông Hoàng đế bị Trịnh Cương bắt phải thoái vị nhường ngôi cho Thái tử Duy Phương. Thái tử Duy Phương làm vua được ba năm lại bị Trịnh Giang vu là thông dâm với vợ Trịnh Cương mà đem giết đi. Rồi đến lúc Phụ hoàng lên ngôi là do chính Trịnh Doanh đã buộc vua Ý Tông thoái vị nhường ngôi cho Phụ hoàng đó. Xét trong lịch sử từ trước đến nay chưa có quyền thần nào lại lộng hành tàn ác, khi quân phạm thượng như họ nhà chúa Trịnh. Vả lại xưa nay chỉ có nhà vua mới được quyền cha truyền con nối, chưa nghe nói đại thần mất thì con được lên chức bao giờ. Nay họ Trịnh xưng vương, cha mất thì con lên kế vị, ấy chẳng qua là không dám phế bỏ nhà Lê ta để làm vua mà thôi. Nay Phụ hoàng lên ngôi đã ba mươi hai năm mà mọi việc trong triều ngoài cõi Trịnh Doanh rồi đến Trịnh Sâm có cần bẩm báo gì với Phụ hoàng chăng? Sao Phụ hoàng cứ mải vui say với cầm kỳ thi hoạ mà không nghĩ đến việc lấy lại quyền hành của nhà Lê ta. Con vì giận họ Trịnh mà có đôi lời mạo phạm đến Phụ hoàng, xin Phụ hoàng thứ tội.
Duy Vỹ trong lòng uất hận họ Trịnh nói luôn một hơi. Vua Hiển Tông nghe Vỹ nói xong liền quăng cờ, đuổi các thái giám ra ngoài rồi hốt hoảng nói:
- Bọn nội thị này tiếng là hầu hạ cho ta, nhưng đều là tay chân của Trịnh Sâm cả. Sao con lại buông lời càn rỡ? Nếu đến tai Trịnh Sâm mạng ắt chẳng còn!
Duy Vỹ nghe cha nói thế lại càng giận lắm, đứng dậy nói lớn:
- Sao Phụ hoàng lại sợ thằng nghịch tặc ấy đến thế. Nếu Phụ hoàng giữ mình để mưu việc lớn thì con thật là khâm phục. Còn Phụ hoàng vì sợ như bề tôi sợ vua mà im hơi lặng tiếng thì con thật lấy làm đau long lắm!
Hiển Tông ứa nước mắt hỏi:
- Con ơi! Cha con ta khác nào thân cá chậu chim lồng. Chính con vừa nói rằng họ Trịnh muốn giết ai thì giết, muốn lập ai thì lập đó sao? Con có biết vì sao cha làm vua ba mươi hai năm nay mà chẳng có một tai hoạ nhỏ nào không?
- Con không được biết, xin Phụ hoàng phân giải!
- Làm vua thì phải lo cho dân cho nước, họ Trịnh đoạt quyền ta thì phải lo lấy cái lo của ta, để ta ngồi không mà hưởng lộc. Ấy là phước sao gọi là hoạ? Chính nhờ cha an phận như thế nên cha làm vua hơn ba mươi năm mà không bị một tai hoạ nhỏ nào!
Duy Vỹ nghe Hiển Tông nói thế biết cha mình nhu nhược, có phân giải thế nào cũng vô ích đành ngồi ôm mặt khóc. Vua Hiển Tông nói tiếp:
- Nay các quan trong triều tiếng là tôi nhà Lê nhưng kỳ thực đều là tay chân nhà chúa cả. Con muốn làm điều lấp biển vá trời kia cha e rằng hoạ hổ bất thành mà chuốc vạ vào than.
Nói rồi cha con ôm nhau khóc. Khóc một hồi Duy Vỹ nói:
- Con xin vâng lời cha dạy.
Nói rồi lạy mà cáo từ về dinh phủ.
Lúc ấy trong cung điện vua Hiển Tông có tên quan nội thị tên là Phạm Ngô Cầu. Ngô Cầu vốn là người xu nịnh ham quyền, hắn nghe mấy lời của thái tử Duy Vỹ rồi bị vua Hiển Tông đuổi ra, Cầu bèn chạy sang phủ chúa mách với Trịnh Sâm. Sâm nổi giận nói:
- Duy Vỹ thật to gan, dám toan trở mặt làm phản, ta quyết giết chết không tha. Ta nhớ lúc còn là Thế tử có lần ta và Phụ vương sang phủ vua. Ta thấy Phụ vương ta ngồi ngang hàng với vua Hiển Tông, cũng bèn ngồi vào bàn với Duy Vỹ, lúc ấy Duy Vỹ hãy còn bé buộc miệng nói rằng: Làm tôi sao lại dám ngồi cùng với vua, nói xong đứng lên bỏ đi. Từ ấy đến nay ta vẫn muốn giết chết Duy Vỹ mới hả giận mà không có cớ gì. Nay là tự tìm lấy cái chết mà thôi!
Nói xong Sâm hỏi Ngô Cầu:
- Nếu ta bắt tội Duy Vỹ, ngươi có dám đối chất chăng?
Cầu đáp:
- Hạ thần chịu ơn Chúa thượng không lấy chi trả được, Chúa thượng bảo nhảy vào lửa nào dám không vâng!
Sâm mừng rỡ nói:
- Xong việc này ta nhất định thăng thưởng cho ngươi.
Ngô Cầu hớn hở bái tạ ra về. Ra ngoài phủ chúa, Cầu gặp quan thị lang là Vũ Trần Thiệu. Thiệu vốn biết Cầu là kẻ tham lam, vô đạo, bất trung, bạo ngược. Nay thấy mặt Cầu nửa vui lại nửa lo, Thiệu sinh nghi thầm nghĩ rằng: Phạm Ngô Cầu đang làm nội thị trong cung vua, nay bỗng dưng lại sang phủ chúa, ắt là ton hót việc gì hại vua đây, ta phải hỏi cho ra lẽ mới được! Nghĩ rồi gọi Ngô Cầu hỏi:
- Xin chào quan nội thị. Chẳng hay ngài có mạnh khoẻ chăng? Đi đâu mà vội vàng thế?
Cầu lên giọng đáp:
- Hoàng thượng sai ta sang phủ chúa có việc. Xong việc ta lại về điện vua. Còn ngài đi đâu đó?
Thiệu biết Cầu rất ham mê bói toán liền nói gạt:
- Tôi nghe có một vị đạo sĩ gieo quẻ rất hay, định mời về tệ xá xem cho đường hoạn lộ ấy mà!
Cầu liền nói:
- Xin ngài cho tôi xem với.
Thiệu bảo:
- Vậy ngài hãy về nhà tôi trước. Tôi đi rước đạo sĩ về chúng ta cùng xem.
Cầu tưởng thật vội vã đi ngay về nhà Thiệu, lát sau Thiệu về đến than rằng:
- Thật không may đạo sĩ đi vắng không có nhà. Thôi nhân dịp này mời ngài vài chén vậy.
Nói xong gọi gia đình mang rượu thịt lên. Rượu ngà ngà Cầu nói khoác rằng:
- Tôi muốn xem để thử tài đạo sĩ ấy mà thôi. Chứ tôi đây xem thiên văn có thể đoán biết điều nhân sự thì cần gì phải nhờ ai xem cho.
Thiệu giả vờ say hỏi:
- Vậy ngài xem thiên văn biết sắp tới đây trong nước sẽ xảy ra việc gì?
Cầu đáp:
- Tôi đêm đêm xem thiên văn thấy chính tinh thì mờ mà phụ tinh lại sang. Nay mai thế nào Thái tử cũng gặp nạn mà thôi!
Nghe Cầu nói xong Thiệu thất kinh hồn vía, giả say ngã lăn ra mà ngủ, Cầu đứng dậy ra về. Cầu về rồi Thiệu mới vùng dậy dặn dò người tín cẩn lập tức sang mật báo cùng Thái tử. Duy Vỹ nghe nói xong giật mình than:
- Lời cha ta nói quả không sai. Ta vì một lúc uất hận mà chuốc hoạ vào thân!
Than rồi liền lánh mình vào điện vua Hiển Tông. Duy Vỹ vừa đi khỏi đã thấy quan binh đến vây nhà. Quân về báo cùng Trịnh Sâm:
- Thái tử trốn sang điện vua. Chúng thần không dám vây phủ vua, xin Chúa thượng định liệu.
Sâm liền sai quân đi gọi Phạm Ngô Cầu. Cầu đến, Sâm bảo:
- Ta giao gươm lệnh cho ngươi, hãy dẫn quân sang phủ vua bắt Duy Vỹ về đây cho ta.
Ngô Cầu vâng lệnh đi ngay. Đến chánh điện vua Hiển Tông bước ra hỏi:
- Việc gì các ngươi đem quân mang vũ khí đến đây? Muốn làm phản giết vua chăng?
Ngô Cầu quỳ dưới thềm đáp:
- Hạ thần vâng lệnh chúa đến bắt Thái tử trốn trong điện Bệ hạ. Xin Bệ hạ giao Thái tử ra đây, chúng thần lập tức về ngay.
Hiển Tông hỏi:
- Ngươi hãy về thưa với Tĩnh Đô Vương đến đây nói cho ta biết Thái tử có tội gì?
Cầu đáp:
- Chưa mời được Thái tử, hạ thần không dám về. Xin Bệ hạ giao Thái tử cho!
Hiển Tông không đáp quày quả trở vào. Cầu quỳ mãi dưới thềm, đến trưa Cầu đứng dậy nói lớn:
- Chúa bảo đến trưa mà Thái tử không ra, chúng thần được lệnh vào điện vua mà bắt. Xin Bệ hạ lượng thứ.
Nói xong toan xông vào. Bỗng Duy Vỹ bước ra quát:
- Ta đã ra đây, không cần các ngươi vào điện vua làm kinh động long thể mà mang tiếng là loài phản nghịch.
Nói xong toan theo Cầu đi, vua Hiển Tông chạy theo níu áo Thái tử gọi: “Con ơi”. Hai cha con ôm nhau mà khóc. Vua Hiển Tông than rằng:
- Vì sự nhu nhược của cha đã giết con rồi vậy!
Thái tử nói:
- Sanh tử do trời. Xin Phụ hoàng đừng quá ưu phiền.
Nói xong lạy vua Hiển Tông ba lạy rồi theo Phạm Ngô Cầu về phủ chúa. Đến nơi Trịnh Sâm ngồi trên cao hỏi:
- Ngày hôm qua Thái tử nói nhà chúa thế nào?
Duy Vỹ đáp:
- Nhà chúa của ngươi ăn ở thế nào ai mà không biết, cần gì phải nói!
Sâm bảo Phạm Ngô Cầu:
- Hôm qua ngươi nghe Thái tử nói những gì, hãy thuật lại cho các quan cùng nghe.
Cầu chưa kịp mở lời, Duy Vỹ gạt đi bảo:
- Không có cớ này ngươi cũng tìm ra cớ khác, muốn giết ta thì giết cần phải đối chất làm chi!
Trịnh Sâm nổi giận truyền giam Thái tử vào ngục, Sâm nói với bá quan:
- Hơn một trăm năm nay nhà chúa ta một lòng phò tá vua Lê, gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong triều, ngoài cõi. Ơn ấy không nhớ thời thôi, nay Thái tử Duy Vỹ lại lấy oán trả ơn, tội thật đáng chết. Nhưng ta thiết nghĩ Duy Vỹ là Thái tử con vua nên không thể đem ra pháp trường hành quyết như dân thường được. Vậy ai thay ta vào ngục ban ân cho Thái tử được tự xử?
Bá quan văn võ đều cúi đầu làm thinh, không ai dám lên tiếng lãnh mạng. Phạm Ngô Cầu bước ra nói:
- Khải Chúa, trăm quan ai cũng đồng lòng rằng Thái tử đáng tội chết nhưng không ai dám lãnh việc này vì sợ mang tiếng giết vua. Phạm Ngô Cầu tôi xin lãnh mạng vào ngục ban ân cho Thái tử được tự xử.
Trịnh Sâm mừng lắm nói:
- Xử Thái tử không thể người tước thường mà làm được. Nay ta phong cho ngươi tước Công vào ban ân của ta cho Thái tử.
Nói xong liền phong cho Phạm Ngô Cầu tước Tạo quận Công. Cầu vào ngục nói với Duy Vỹ:
- Chúa thượng vì nể Thái tử là con vua nên sai thần vào đây, xin Thái tử hãy tự chọn lấy.
Nói xong dâng cho Duy Vỹ một chiếc khay đồng, trên khay ấy đựng một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thái tử nhìn mâm đồng nói:
- Ta biết sớm muộn gì cũng có ngày này nên từ lâu đã lo trừ Trịnh Sâm. Việc sinh tử là do số mệnh. Nhưng trước lúc chết ta muốn hỏi ngươi, tại sao ngươi làm nội thị hầu hạ vua, ăn lộc vua còn dính kẽ răng sao nỡ phản vua như thế?
- Thần ăn lộc nhà chúa không ăn lộc nhà vua. Vả lại phản vua là chúa phản, không phải thần phản.
- Lời ngươi cũng phải. Hãy về nói với chúa ngươi rằng ta dù chết xuống âm phủ cũng làm ma mà theo Trịnh Sâm đòi mạng.
Nói rồi ứa nước mắt bưng thuốc độc mà uống, Duy Vỹ vừa uống vào khỏi miệng liền thổ huyết chết ngay. Vừa lúc ấy trời đang nắng to bỗng mây đen vần vũ, sấm chớp ầm ầm, gió bụi nổi lên, rồi một trận mưa lớn chưa từng thấy đổ xuống thành Thăng Long, trời đất tối mịt mù. Duy Vỹ chết rồi mắt vẫn mở trừng trừng, ai vuốt sao cũng không chịu nhắm. Trịnh Sâm không biết làm sao đành để vậy mà tống tang. Dân chúng trong thành ngoài nội nghe Thái tử bị Trịnh Sâm giết, nhà nhà đều đóng cửa cha ôm con, chồng ôm vợ, an hem ôm nhau mà khóc.
Từ ấy, trong Hoàng tộc nhà Lê, không còn ai dám nghĩ đến việc tranh giành quyền hành với nhà chúa cả.
 
 
 
Họ Nguyễn làm chúa ở Đàng Trong cha truyền con nối đến đời thứ tám là Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương đóng đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay) phong Trương Thúc Loan làm Thái phó. Phúc Loan là cậu ruột của Võ vương nên người đời thường gọi là quan Quốc phó.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát ngày ngày ở mãi trong tam cung, bỏ bê việc triều chính, do sắc dục quá độ mà mắc bệnh ngày càng nặng. Loan thấy Võ vương bệnh tình trầm trọng không thể sống được bèn toan lập vây cánh để sau khi chúa chết mình đoạt lấy quyền hành. Loan cho gọi tay chân của mình là thái giám Chữ Đức đến bảo:
- Ta định tâu Chúa thượng phong ngươi làm Đô thống chỉ huy quân túc vệ. Ngặt chức này Ngô Mãnh đang nắm giữ không có cớ gì mà thay thế được.
Chữ Đức nói:
- Quốc phó hãy lấy lòng Ngô Mãnh để mua chuộc hắn thì không cần phải thay tôi vào chức ấy.
Loan bảo:
- Ngô Mãnh võ nghệ siêu quần, sức khoẻ muôn người khôn địch, tính tình lại thẳng thắn cương trực không dễ gì mua chuộc được.
Lúc ấy có người thầy thuốc ở trong nhà Phúc Loan tên là Vương Đức Qúy. Quý mang thuốc lên cho Loan, nghe được bèn quỳ tâu:
- Tôi có một kế khiến cho quan thái giám Chữ Đức có thể thay thế chức của Ngô Mãnh.
Phúc Loan liền hỏi:
- Kế thế nào ngươi nói thử xem?
Đức Quý đáp:
- Quốc phó tiến cử tôi vào thăm bệnh cho chúa, tôi sẽ có cách khuyên chúa đi tuần du vào Nam, lúc ấy Quốc phó lại tiến cử Ngô Mãnh theo hộ giá, tất chức Đô thống chỉ huy cấm vệ quân cần được thay thế. Chữ Đức có làm được chức quan ấy chăng là do Quốc phó vậy.
Phúc Loan cả mừng nói:
- Nếu được như thế ta nhất định thăng thưởng cho ngươi!
Nói xong liền sửa sang áo mão vào chầu chúa Vũ vương.
Ngày sau chúa gọi Đức Quý đến hỏi:
- Ta mắc bệnh cứ đi khoảng vài trăm bước là hoa mắt, chân run, toàn thân giá lạnh. Các danh y đã điều trị nửa năm mà không hề thuyên giảm là cớ làm sao vậy?
Đức Quý xem mạch cho Vũ vương xong, quỳ tâu:
- Xin Chúa thượng tha tội kẻ hạ thần mới dám tâu trình.
Chúa bảo:
- Vì sức khoẻ của ta, ngươi cứ thật sự tỏ bày. Có gì ta cũng không bắt tội.
Đức Quý thưa:
- Mạch của chúa thượng ở bộ xích quá trầm mà lại quá vi ấy là thận tuyệt. Mạch sáu bộ đều quá nhược, quá hư ấy là dương khí đại suy. Trong sách y có nói: Thận là khí tiên thiên, là nguồn gốc của sự sống con người. Thận sinh tinh, tinh sinh ra tuỷ, tuỷ nuôi dưỡng xương, tuỷ thông lên óc não. Bởi vậy nên tinh khô thì thận tuyệt, không đủ tinh để nuôi dưỡng xương, tuỷ, óc não nên hoa mắt chân run là do thế. Vả lại trong thận có thận âm và thận dương. Tinh là khí của thận âm, hễ âm suy thì dương thoát. Dương chủ quản phần ngoài cơ thể để hấp thụ thanh khí và bài trừ trọc khí của vũ trụ. Dương đại suy nên toàn thân giá lạnh là do thế.
Chúa lo lắng hỏi:
- Chẳng lẽ bệnh của ta không có thuốc chữa khỏi hay sao?
- Nếu chỉ dùng thuốc thôi thì không thể khỏi.
Chúa vội vàng hỏi:
- Nói vậy là còn cách gì khác hay chăng?
- Bệnh của Chúa thượng trong dùng thuốc Nhân sâm Huỳnh kỳ, phụ tử bổ dương khí, dùng hoài sơn thục địa bổ thận đã đành. Kẻ hạ thần trộm nghĩ nay là tháng hai đương tiết xuân, khí dương đang thịnh. Hướng Nam cũng là hướng thuộc dương. Nay chúa thượng nên tuần du một chuyến về phương nam cho thân thể hấp thụ thanh khí dương của trời đất để bồi bổ bệnh dương suy. Trong Chúa thượng lại có thể xa lánh tam cung thì khỏi hao tinh làm tổn thương nguyên khí, thì sẽ tráng dương bổ thận. Trong sách y có câu: Tích tinh, dưỡng khí, tồn thần là ba đạo lớn trong thuật dưỡng sinh. Xin Chúa thượng minh xét.
Chúa gật đầu nói:
- Lời ngươi thật hữu lý, ta cũng nên du xuân vào nam một chuyến để xa lánh phi tần mỹ nữ. Vả lại tháng trước vua Cao Miên có tặng ta một con ngựa Xích kỳ, toàn thân đỏ như lửa. Nó là con tuấn mã ngày chạy ngàn dặm không biết mệt. Ta dắt theo để khi hết bệnh, sẽ cưỡi xem nó chạy hay dở thế nào.
Hôm sau chúa liền thiết triều hội bá quan văn võ, gọi quan Quốc phó Trương Thúc Loan bảo:
- Nay ta vào Nam tuần du xa lánh tam cung để dưỡng bệnh. Vậy khanh hãy thay ta trông coi việc triều chính. Từ việc lớn đến việc nhỏ cho khanh trọn quyền quyết định.
Loan lạy tạ tâu:
- Nay Chúa thượng đem thân vàng ngọc ra khỏi kinh thành e có điều bất trắc, vậy thần xin tiến cử một người theo hộ giá.
- Người nào vậy?
- Ấy là quan Đô thống Ngô Mãnh chỉ huy cấm vệ quân.
Chúa khen:
- Lời khanh rất hợp ý ta. Đô thống Ngô Mãnh võ nghệ tuyệt luân, từ lâu đã nổi danh vô địch, nay theo hộ giá thì ta còn gì lo nữa.
Bỗng Ngô Mãnh bước ra quỳ tâu:
- Kính Chúa thượng, thần đã trên lục tuần, tuổi già sức yếu không còn xứng với danh hiệu vô địch nữa. Nay có một người tài khiêm văn võ, thượng thông thiên văn hạ đạt địa lý. Chúa thượng nên sai người ấy theo hộ giá mới được tròn vẹn.
- Người ấy là ai?
- Người ấy tuổi trạc tứ tuần tên Trương Văn Hiến, là gia tướng của lão đại thần Ý Đức hầu Thái uý Trương Văn Hạnh.
Chúa hỏi Hạnh:
- Khanh có người gia tướng có tài sao lâu nay không tiến cử để giúp việc quốc gia?
Văn Hạnh tâu:
- Kính Chúa thượng, Hiến là cháu của lão thần, cũng có ít tài văn võ. Nếu muốn giúp việc quốc gia thì đã có trường thi để tiến than trên đường quan lộ, nhưng tánh nó ưa ngao du sơn thuỷ, chẳng thiết công danh nên không chịu thi cử gì cả. Bởi vậy nay đã bốn mươi tuổi mà vẫn giúp việc gia đình. Vả lại, nếu lão thần tiến cử thì e mang tiếng là thiên vị thân nhân. Mong Chúa thượng lượng cả xét soi.
Phúc Loan xen vào nói:
- Kính Chúa thượng, tài Văn Hiến hư thực chưa rõ ra sao. Vả chăng việc hộ giá mình rồng không thể đường đột mà giao cho kẻ chưa từng bụng dạ. Xin…
Chúa ngắt lời Loan:
- Lời hai khanh đều hữu lý, người không muốn lập công danh thì chẳng nên ép làm gì. Truyền quân phi báo vào các phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn chuẩn bị đón tiếp. Đô Thống Ngô Mãnh đem năm trăm quân cấm vệ ngày mai hộ giá vào Nam.
Phúc Loan tâu:
- Ngô Mãnh theo hộ giá chúa thượng tuần du, vậy thần xin tiến cử thái giám Chữ Đức làm Đô thống chỉ huy quân túc vệ. Chẳng hay ý chúa thượng thế nào?
Chúa đáp:
- Nay ta phong cho Vương Đức Quý làm ngự y, Ngô Mãnh làm đại hộ giá, Chữ Đức làm Đô thống chỉ huy quân túc vệ. Sauk hi xa giá vào nam mọi việc trong triều giao cho Quốc phó được thay quyền nhiếp chính.
Nói xong truyền bãi chầu. Ra ngoài Ngô Mãnh nói riêng với Trương Văn Hạnh:
- Phúc Loan tâu chúa cho tôi theo hộ giá, hòng để tay chân là Chữ Đức thay vào chức chưởng cấm vệ quân, làm vây cánh cho mình. Tôi đã biết ý ấy của Loan nên tiến cử Văn Hiến đi thay, không ngờ chúa chẳng chịu. Nay tôi theo hộ giá ra ngoài, quan Thái uý hãy đề phòng bụng dạ của Loan.
Văn Hạnh nói:
- Quan Quốc phó xưa nay thường tị hiềm với tôi là kẻ đại thần được nhiều người mến phục. Nhưng ngặt nỗi quan Quốc phó nắm quyền nhiếp chính, lại là cậu của chúa thượng, ông ấy nói gì chúa lại chẳng nghe. Xét cho cùng Phúc Loan là kẻ tham danh hám lợi nên lập vây cánh để làm lợi riêng mình chứ dám đâu làm việc của Mạc Đăng Dung ngày trước. Ông hãy hộ giá chúa hết lòng, còn tôi sẽ liệu bề tính kế. Nhưng ông chớ để lộ ra ngoài kẻo không bảo toàn tính mạng được đâu!
Nói xong hai người chia tay nhau.
Đăng nhập để trả lời
0
     CHƯƠNG HAI
Thương lương dân, Hồ Nhạc buôn trầu
Ghét bạo chúa, Văn Tuyết thích khách
 
 
Lúc bấy giờ ở ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn có một người nông dân tên là Hồ Nhạc tuổi vừa quá đôi mươi, mặt mày phúc hậu, tay dài quá gối, tướng mạo phi phàm.
Ngày kia Nhạc vào rừng săn bắn, bỗng gặp một người bị cọp đuổi. Nhạc bèn giương cung lắp tên bắn một phát nhằm giữa trán cọp, cọp giãy nảy, chết ngay.
Thấy người bị nạn kết tóc đuôi sam, vận y phục người Tàu, Nhạc hỏi:
- Tôi xem ông không phải người ở xứ này, sao một mình vào chốn rừng sâu để đến nỗi suýt bị cọp dữ hại tánh mạng như thế?
Người ấy lạy tạ ơn đáp:
- Chẳng dám dấu ân nhân, tôi tên Quách Đại vốn là thầy địa lý ở Quảng Đông sang đây để tìm long điểm huyệt, nên một mình vào chốn núi non hiểm trở. Chẳng ngờ gặp hổ dữ, nếu không có ân nhân ra tay cứu mạng ắt thân này đã vào miệng cọp.
Nhạc cả cười nói đùa rằng:
- Tôi thật xưa nay không tin việc ấy. Nhưng nếu ông muốn đi tìm long huyệt, tôi tình nguyện làm hướng đạo và bảo vệ cho ông. Nếu sau này ông có làm vua xin thưởng cho tôi thật nhiều vàng bạc để cứu giúp dân tôi thoát cảnh nghèo khổ là đủ rồi.
Quách Đại vui mừng chấp thuận. Từ ấy Nhạc đưa Quách Đại đi khắp chốn núi non phủ Quy Nhơn để tìm long huyệt.
Ngày ấy Nhạc đưa Quách Đại đến đèo Mang (đèo An Khê ngày nay), khi leo lên đến núi Hoành Sơn đứng nhìn ra bốn hướng, Quách Đại cả mừng hỏi Nhạc:
- Hòn núi này tên gọi là núi gì?
- Núi này gọi là núi Hoành Sơn, tục gọi là núi Ngang. Phía bên tả là núi Trung Hưng thường gọi là núi Bút, phía bên hữu là núi Hợi Sơn thường gọi là núi Nghiên.
- Vì sao gọi là núi Bút và núi Nghiên?
- Vì hòn núi Trung Hưng ở bên tả cao hơn và nhọn như một ngòi bút viết lên trời nên dân gian thường gọi là núi Bút. Còn hòn Hợi Sơn ở bên hữu gọi là núi Nghiên vì trên đỉnh có một hồ nước vừa rộng vừa sâu quanh năm trong vắt không bao giờ cạn như là một nghiên mực vậy.
Quách Đại lại chỉ xuống ba hòn núi nhỏ dưới chân Hoành Sơn hỏi:
- Có ba hòn núi kia tên gọi là gì?
- Ba hòn núi nhỏ ấy, một hòn giống hình quả chuông nên gọi là Chung sơn, một hòn giống hình quả ấn nên gọi là Ấn sơn, một hòn thấp và dài kia giống hình thanh gươm nên gọi là núi Kiếm sơn.
Quách Đại mừng quá vỗ tay nói lớn:
- Long huyệt chính là nằm trong núi Hoành Sơn này đó!
Hồ Nhạc nghi ngờ hỏi:
- Sao thầy dám quả quyết long huyệt nằm trong núi Hoành sơn?
- Ân nhân không thấy sao? Núi Hoành sơn này bên tả thì có bút mà bên hữu thì có nghiên để cho vua viết chiếu chỉ, trước mặt thì có chuông để đánh gọi văn võ bá quan đến chầu, lại có ấn kiếm định vị ngôi vua. Vậy núi Hoành sơn này không phải là Bệ rồng thì là gì nữa?
Nói xong quày quả ra về. Đến nhà Hồ Nhạc, Quách Đại cáo từ nói:
- Nay tôi phải về bên Quảng Đông, ít lâu nữa lại sang. Từ xưa ở xứ này hẳn có người biết đây là long địa nên mới đặt các hòn núi này tên là Nghiên, Bút, Ấn, Kiếm, Chuông. Biết long địa là việc dễ, biết long huyệt mới là việc khó. Chỉ mình tôi là biết Long huyệt mà thôi.
Nói rồi bái biệt ra đi.
Ít lâu sau Quách Đại quay lại nhà Hồ Nhạc mang theo một chiếc tráp ngoài bọc lụa điều lúc nào cũng kè kè bên mình. Nhạc biết ấy là hài cốt của song thân Quách Đại hỏi rằng:
- Thầy đến đây đã ba ngày sao không đem hài cốt ấy mà táng vào long huyệt?
Đại cười đáp:
- Vũ trụ biến hoá đều nằm trong vòng của Âm, Dương, Ngũ hành cả. Khi can và chi giáp lại là sáu mươi năm long huyệt mới mở một lần. Mỗi lần mở chỉ trong một canh giờ là đóng. Biết long huyệt đã khó mà biết ngày giờ của long huyệt mở lại càng khó hơn gấp bội. Đợi ít hôm nữa long huyệt mở tôi sẽ táng hài cốt phụ thân tôi vào nơi ấy.
Đêm ấy Hồ Nhạc trằn trọc không ngủ được, ngồi dậy nghĩ thầm rằng: Trên đời lại có việc lạ thế sao? Cái lộc của sông núi nước Nam ta tội gì để người Tàu sang hưởng. Nếu là Đại long huyệt để người tàu đoạt đi khi ấy họ cường thịnh lại sang xâm lấn nước ta, hiếp đáp dân ta, ấy là ta có tội với dân nước vậy.
Nghĩ rồi liền cầm gươm vác cuốc đứng dậy đi ngay ra khỏi nhà. Ít hôm sau Quách Đại một mình ôm tráp lẻn lên núi Hoàng Sơn. Vừa đến chân núi bỗng một con hổ vằn to tướng từ trong bụi rậm xông ra. Đại kinh hồn bạt vía quăng tráp vắt chân lên cổ mà chạy không dám ngoái đầu lại. Hồ Nhạc từ trong lốt hổ chui ra lấy tráp mở ra đánh tráo bộ hài cốt trong tráp, xong việc liền mang lốt hổ vào trong rừng mà nấp. Quách Đại chạy một hồi không thấy hổ đuổi theo liền mon men quay lại chỗ hổ vồ. Đến nơi thấy hổ đã bỏ đi, tráp vẫn còn nguyên vẹn. Đại mừng lắm bèn đem cái tráp ấy lên núi Hoành Sơn.
Nhạc nấp trong bụi rậm thấy thế cười thầm nghĩ:
- Ta phải theo Quách Đại rình xem long huyệt nằm ở đâu trên núi Hoành Sơn. Để sau này còn biết được mà xây mộ cho phụ thân.
Nghĩ rồi liền theo rình Quách Đại lên núi. Đến một hòn đá to, một nửa nằm dưới đất một nửa lộ thiên. Quách Đại cả mừng một mình nói lớn:
- Núi Hoàng sơn là một con rồng, đây chính là hàm rồng vậy.
Nhạc nghe Đại nói thế chăm chú nhìn, thấy hòn đá ấy hình dạng trông giống như cái đầu rồng thật, hồi hộp chờ xem. Chờ đến đúng giờ Ngọ bỗng thấy hòn đá miệng rồng nơi giáp đất nứt ra, phía trong có lỗ trống, Quách Đại liền đặt tráp vào trong lỗ ấy. Một giờ sau hàm rồng bằng đá ngậm miệng lại vẫn liền nguyên như cũ.
Quách Đại mừng qúa chạy xuống núi vừa hét lên rằng:
- Ta về nước đợi ngày lên ngôi Thiên tử. Giờ có gặp cọp, cọp cũng phải phục xuống lạy ta.
Nói xong liền bỏ về Quảng Đông. Hồ Nhạc thấy cảnh tượng như vậy rùng mình sởn ốc nói thầm:
- Trên đời này lại có việc lạ thế thật sao?
Từ ấy Hồ Nhạc đêm ngày ôm ấp mộng làm vua!
Nhạc thường ngày đi đây đi đó, thấy cảnh dân nghèo khắp chốn không tiền nộp thuế bị quan binh dùng roi vọt mà đánh đập, bắt tù đầy, nơi phố phường người ăn xin đầy rẫy, chỗ nông thôn cũng lắm người chết đói, Nhạc thương xót lấy làm đau lòng lắm. Lúc bấy giờ ở trên đỉnh đèo Mang gọi là Tây Sơn Thượng là một vùng rừng hoang rộng hàng vạn dặm, quyền hạn binh triều không lên đến nơi này. Nhạc bèn lập kế giả dạng người đi buôn trầu, lên Tây Sơn thượng (An Khê ngày nay) mua trầu của người thượng rồi đánh xe ngựa về thành Quy Nhơn bán (thị trấn Đập Đá ngày nay). Được bạc Nhạc lại xuống chợ Giả (thành phố Quy Nhơn ngày nay) mua muối, đánh xe ngược lên Tây Sơn Thượng đổi cho người Thượng lấy trầu nguồn. Gặp những người dân cùng đường đói rách, Nhạc lén đem họ lên Tây Sơn Thượng chu cấp gạo muối cho khai khẩn đất hoang. Chẳng bao lâu số người Nhạc đem lên Tây Sơn Thượng lên đến mấy trăm thủ hạ. Mỗi khi chờ Nhạc đem gạo muối tới, lâu không thấy, bọn thủ hạ thường đến đỉnh đèo Mang ngồi ngóng, đặt câu hát rằng:
Ơn ông Hồ Nhạc chí tình
Tây Sơn quạnh quẽ nhưng mình vẫn vui
Tiếng ca vang dội núi rừng Tây Sơn Thượng.
 
 
Lúc bấy giờ xa giá của chúa Võ vương đến nghỉ đêm tại phủ Quy Nhơn. Ngô Mãnh chia quân cấm vệ canh phòng cẩn mật, tự mình lúc nào cũng đeo gươm canh ngay cửa dinh của chúa.
Canh ba đêm ấy bỗng nghe lính gác la rần:
- Thích khách! Có Thích khách.
Ngô Mãnh lập tức tuốt gươm khỏi vỏ, quát quân lính vây bắt. Tên thích khách vung song đao loang loáng giết chết vài chục quân lính. Song quân canh đông quá vây lớp trong lớp ngoài dồn thích khách vào cạnh chuồng ngựa. Bỗng ngựa cất tiếng hí vang. Thích khách nghĩ thầm: Tiếng hí thật vô cùng hùng dũng, ắt phải là tuấn mã hiếm có trên đời, ta cướp lấy chạy mau mới mong thoát chết.
Chúa đang ngon giấc nghe tin thích khách, giật mình run lập cập, không cho Ngô Mãnh rời khỏi phòng mình. Bỗng nghe tiếng ngựa hí, Chúa liền hỏi Ngô Mãnh:
- Ngô tướng quân, ngựa Xích kỳ của ta làm sao thế?
Đang đứng ngoài trướng thị chiến, Mãnh quay vào đáp:
- Kính chúa, tên thích khách đã cưỡi ngựa Xích kỳ hòng chạy thoát thân nhưng quân ta đang vây chặt, đao kiếm loạn xạ thế kia e quăng chuột bể đồ.
Chúa hổn hển bảo:
- Lập tức truyền lệnh của ta đánh bắt tên thích khách thế nào thì tuỳ nhưng không được hại đến ngựa quý. Nếu kẻ nào sai lệnh chém đầu.
Lệnh được truyền ra, tên thích khách nghe thấy, liền múa song đao vùn vụt giết thêm vài chục tên lính nữa mà giáo gươm của binh cấm vệ chẳng phạm được vào người. Quân lính không dám chém chân ngựa, nhờ vậy mà thích khách vượt khỏi trùng vây chạy thoát.
Chúa lập tức cho mời quan trấn thủ phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên đến bảo:
- Ngươi lập tức phát lệnh cho toàn quân trong phủ huyện thấy kẻ nào cưỡi ngựa cao lớn toàn thân đỏ như lửa hãy giết chết, mang ngựa về đây cho ta. Hạn cho mười ngày nếu không có ngựa thì mang đầu ngươi về kinh thay thế.
Rồi chúa quay sang Ngô Mãnh:
- Ngươi hãy sửa soạn xe ngựa ngày mai xa giá hồi kinh.
Nói đến đây chúa vừa sợ vừa uất ngã ra bất tỉnh.
Nói về tên thích khách chạy đến đâu cũng bị quan quân truy đuổi. Bèn nhằm hướng núi rừng An Khê Tây Sơn Thượng mà chạy. Ngựa Xích kỳ dù tuấn mã nhưng chạy suốt đêm ngày không ăn uống nên đã đuối sức mà phía sau quan quân đuổi theo rất gấp. Trong cơn nguy khốn bỗng thấy một người từ đèo Mang đi xuống. Người này tuổi trạc hai lăm, mặt mày cương nghị, dáng dấp oai phong, đi trước một cỗ xe chở toàn lá trầu có mười người theo sau áp tải. Người ấy thấy quan quân vài mươi người đuổi bắt một tên mặt vuông râu rậm. Biết tên này đã đuối sức, người ấy cùng đồng bọn đón bắt trói lại quăng lên xe trầu chờ quan quân đến nói:
- Chúng tôi là kẻ lái buôn, xin bắt cướp giúp quan.
Quan quân đến gần liền bị người ấy cùng đồng đảng rút gươm giết sạch. Thích khách hỏi:
- Bắt ta cho bọn chúng, rồi lại giết chúng là cớ làm sao?
Người ấy cười lớn đáp:
- Anh chưa biết đấy thôi, ta đây là Hồ Nhạc quê ở ấp Kiên Thành, chuyên đi buôn trầu, người quanh vùng gọi là anh Hai trầu. Ta vốn rất ghét lũ quan quân triều đình tham lam tàn độc. Ta bắt anh dụ chúng đến gần cho dễ ra tay mà thôi. Còn anh vì sao bị chúng rượt đuổi đến đây?
Thích khách đáp.
- Tôi tên Nguyễn Văn Tuyết là kẻ không nhà ở huyện Tuy Viễn. Nghe chúa Nguyễn xa giá đến Quy Nhơn thì định làm Kinh Kha thủa ấy, nhưng việc bại lộ mới chạy đến đây may gặp được ân nhân. Xin nhận lạy này tạ ơn cứu mạng.
Hồ Nhạc đỡ Tuyết dậy nói:
- Kiến nghĩa bất vi vô dòng giả, kể ơn nghĩa làm gì. Vừa rồi anh nói tên Nguyễn Văn Tuyết, có  phải song đao Nguyễn Văn Tuyết lừng danh Tuy Viễn đó chăng?
Tuyết đáp:
- Người quanh vùng thường gọi tôi tên ấy.
- Giờ Văn Tuyết định đi về đâu?
- Tuyết tôi bị truy đuổi là do quân triều nhận dạng con ngựa Xích kỳ, nguyên là tuấn mã của chúa, tôi cướp được đêm rồi. Nếu bỏ ngựa thì có ai biết Tuyết là ai, nhưng bỏ ngựa hay thì uổng quá thành ra cũng chưa biết tính làm sao.
Hồ Nhạc cầm tay Nguyễn Văn Tuyết nói:
- Tôi vốn đang chiêu tập quân mã vài trăm người lập doanh trại ở Tây Sơn Thượng. Ấy là chốn núi rừng hiểm trở, quyền hành binh triều không với tới. Nay không chỗ nương thân, anh có thể cùng tôi lên ấy điều binh giúp người khốn khổ bị bức bách cùng đường được chăng?
Tuyết vái lạy thưa:
- Thú thật từ lâu tôi đã nghe danh chủ tướng là người tài đức vẹn toàn. Hôm nay gặp mặt đã thoả lòng mong ước. Nếu chủ tướng thương dung, tôi nguyện đem chút tài mọn đáp đền ơn tri ngộ.
Nhạc cả mừng bảo quân áp tải xe trầu đi trước, rồi cùng Nguyễn Văn Tuyết hai ngựa song song ngược đường đèo Mang lên Tây Sơn Thượng.

Đăng nhập để trả lời
0
     Chương chín
 
Bỏ tiểu tiết, Vũ Văn Dũng ra tài
Tham đại công, Chu Văn Tiếp ôm hận
 
Nói về Nguyễn Khắc Tuyên chỉ kịp dắt theo vài chục tên lính cận vệ ra cổng Bắc thành Quy Nhơn mà chạy. Ngặt nỗi Khắc Tuyên thân hình mập béo, ngựa nặng quá không chạy mau được, một giờ đi được ba mươi dặm. Lại thêm trời nắng chang chang, đi đến trưa người ngựa đều mệt, đến chân núi Bô Chinh Sơn, thấy cây cao bóng mát Khắc Tuyên hối quân xuống ngựa ngồi nghỉ. Bỗng thấy trong núi một đoàn người ngựa kéo ra, đi đầu là năm viên dũng tướng. Khắc Tuyên hoảng sợ than:
- Sau lưng giặc đuổi, trước mặt cướp chặn đường về, bởi trước giờ ta giết người vô tội, hà hiếp lương dân nên nay phải đền mạng ở nơi này. Ngựa đã đuối sức làm sao chạy kịp nữa.
Bỗng nghe một trong năm viên tướng ấy hỏi:
- Người ngồi ấy có phải là Tuần vũ phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên chăng?
Khắc Tuyên thất sắc chối:
- Không phải! Tôi là dân trong thành Quy Nhơn. Thành bị quân cướp Tây Sơn Nguyễn Nhạc cướp nên chúng tôi mới bỏ nhà chạy loạn đến đây.
Người kia ôn tồn nói:
- Tôi có nghe bá tánh bảo rằng Quan tuần vũ phủ Quy Nhơn hình dạng to lớn khác thường. Nay thấy người lại thấy cốt cách sang trọng hơn kẻ bình thường thì chẳng phải là đại quan đó sao?
Khắc Tuyên ấp úng chưa biết nói thế nào thì người ấy nói tiếp:
- Xin đại quan chớ ngại. Tôi là Chu Đoan Chữ, các em của tôi là Chu Đoan Tiếp, Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn và Phạm Văn Sĩ quê ở huyện Phù Ly tập hợp được năm trăm binh mã ở núi Bô Chinh Sơn định ngày đầu quân đánh thằng buôn trầu Nguyễn Nhạc. Nay nghe chúng cướp thành Quy Nhơn mới đem quân đến cứu mà thôi.
Khắc Tuyên lúc bấy giờ mới hoàn hồn, mừng quá liền hỏi:
- Ta chính là Tuần vũ Nguyễn Khắc Tuyên. Thành Quy Nhơn bị chúng lấy mất, lũ giặc sắp sửa đuổi đến đây vậy phải làm sao?
Chu Văn Tiếp bước lên nói:
- Đại quan nên sai vài tên quân chạy về phi báo cho hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn, rồi bảo quan huyện Bồng Sơn kíp báo về cho quan tổng trấn dinh Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nghiêm được biết mà đem đại binh vào đánh dẹp. Còn đại quan nặng quá ngựa không chở nổi đi đường bộ không tiện, tôi sẽ cho Phạm Văn Sĩ theo phò đại quan về phía Đông Bô Chinh Sơn rồi dung thuyền ra cửa Cách Thử mà xuôi gió Đông nam về Bắc.
Chu Văn Tiếp nói đến đây bỗng nghe tiếng quân hò reo, tiếng trống dồn dập, liền hối:
- Phạm Văn Sĩ theo phò tá đại quan còn bốn anh em ta ở đây chặn giặc.
Khắc Tuyên vội vàng lên ngựa chạy theo Phạm Văn Sĩ. Chu Đoan Chữ hỏi:
- Giặc đông ta ít phải liệu thế nào?
Tiếp đáp:
- Quân cốt giỏi chẳng cốt nhiều. Ta chia quân làm hai cánh phục ở hai bên bìa rừng chờ chúng đến rồi đổ ra đánh ắt là phải thắng.
Khi ấy tướng Tây Sơn là Vũ Văn Dũng và Vũ Văn Nhậm kéo quân đến phía nam núi Bô Chinh Sơn, thấy rừng rậm hoang vu, cỏ cây chằng chịt, Nhậm có ý lo ngại hỏi Dũng.
- Nơi này địa thế hiểm trở nếu địch cho mai phục rồi chờ quân ta đến giáp công hai mặt thì làm thế nào?
Văn Dũng cười đáp:
- Lúc đi ông nói với tướng quân Nguyễn Huệ rằng lấy sông Phù Ly và Bồng Sơn thì quân Nguyễn triều ở đèo Thạch Tân bỏ đồn mà chạy, nay mới đến núi Bô Chinh Sơn là địa đầu của huyện Phù Ly mà lại e ngại thế.
Văn Nhậm đáp:
- Không phải là tôi sợ, nhưng muốn thắng địch thì phải hiểu rõ tình hình địch. Nay cho quân tạm nghỉ rồi phái người dò xét tình hình, sau sẽ tuỳ cơ ứng biến.
Văn Dũng nói:
- Theo tôi không cần phải dò xét làm chi.
Nhậm hỏi:
- Binh pháp có câu: “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Nay chưa dò biết địch tình cứ nhắm mắt mà tiến quân ngộ nhỡ có mai phục ắt là ta đem binh vào chỗ chết hay sao?
Dũng đáp:
- Trong binh gia phải biết nắm thời cơ. Nay quân ta khí thế đang hăng đi đến đâu dân ùn ùn theo đến đấy, binh triều chỉ nghe tiếng là đã bắt giò lên cổ mà chạy, ta cứ thừa quân thế như chẻ tre mà tiến ấy là việc lớn. Còn nếu chúng có mai phục nhưng lòng quân đã rã, cầm giáo tay run, trong lòng chực chạy. Binh như thế thì dù mưu mẹo thế nào cũng dễ hồ thắng được ta sao? Ấy là ta biết lấy cái lớn mà bỏ điều nhỏ vậy. Tôi xin dẫn năm trăm quân đi trước mở đường nếu có mai phục tôi sẽ cố sức mà đánh. Tướng quân đem toàn quân hai mặt giáp công lại binh mai phục của địch ấy là dùng kế của địch mà thắng địch vậy.
Văn Nhậm nói:
- Thôi được cứ theo kế ấy mà làm.
Văn Dũng quay lại nói với ba quân:
- Các ngươi theo ta đi tiên phong đánh quan quân chúa Nguyễn. Lúc còn ở Tây Sơn Thượng tướng quân Nguyễn Huệ huấn luyện cho các ngươi một đánh được hai, ba, vào chỗ giáo gươm không hề nao núng. Nay ở cánh rừng phía trước có quân mai phục, nếu chúng bắn tên thì dùng khiên mà đỡ, nếu chúng đến gần thì liều chết mà đánh. Chỉ có tiến chứ chẳng có lùi. Các ngươi có đồng lòng gắng sức cùng ta chăng?
Ba quân đồng thanh nói:
- Chúng tôi xin cùng sống chết với tướng quân.
Nhậm hỏi Dũng:
- Tướng quân quả quyết trong ấy có mai phục hay sao mà bảo quân chuẩn bị kỹ lưỡng thế?
Dũng đáp:
- Binh pháp có câu: “Đừng cậy là địch không đến, hãy cậy là địch đến ta đã có kế sách để đợi chúng rồi vậy”. Tôi dặn quân như thế là đề phòng trường hợp nguy nhất mà thôi.
Nói rồi cầm đại đao lăm lăm đi trước, năm trăm quân hùng dũng theo sau.
Chu Đoan Chữ, Chu Đoan Tiếp, Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn, chờ quân Tây Sơn lọt vào ổ mai phục liền hô quân tiến lên. Văn Dũng lập tức chia quân làm hai cánh sẵn sàng nghênh địch, nhưng khi thấy đạo quân đối địch mặc toàn y phục dân thường Dũng bèn gò ngựa lại hỏi lớn:
- Các ngươi là ai? Có đánh lầm nhau chăng?
Chu Đoan Chữ chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa xông tới chém. Văn Dũng. Văn Dũng cúi mình tránh khỏi, thuận tay hoành đao chém một nhát, Đoan Chữ đầu rơi xuống đất. Chu Văn Tiếp thấy anh chết thảm, uất khí xông lên hét vang một tiếng cùng hai em vây Văn Dũng vào giữa mà đánh. Vũ Văn Dũng một mình chống đỡ ba anh em họ Chu không hề nao núng. Quân Tây Sơn vốn đã chuẩn bị khí thế rất hăng lại thêm võ nghệ tinh nhuệ đánh quân họ Chu mỗi lúc một lùi. Khi ấy Vũ Văn Nhậm nghe tiếng trống trận của quân mình liền thúc quân tiến lên. Chu Văn Tiếp thấy quân mình thua, lại thấy Tây Sơn có binh tiếp ứng liền hô lui quân, chạy vào sào huyệt ở trong núi Bô Chinh Sơn.
Đến nơi Tiếp nghiến răng khóc rằng:
- Giặc Tây Sơn giết chết anh ta thật là thê thảm. Thù này ta quyết chẳng đội trời chung.
Nói xong uất hận, ngã ra kêu gào thảm thiết. Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn, hết lời khuyên giải Tiếp vẫn chưa nguôi. Lúc ấy Phạm Văn Sĩ vừa về đến lựa lời khuyên nhủ:
- Nay việc đã lỡ, nhị ca dẫu có khóc than đại ca cũng không thể sống dậy được. Xin nhị ca tạm gác ưu phiền để cùng bàn kế sách về sau.
Chu Văn Tiếp gạt lệ hỏi:
- Quân ta còn được bao nhiêu?
Chu Đoan Chân đáp:
- Còn bốn trăm quân hao mất một trăm quân.
Văn Tiếp nói:
-Hãy cho người ra liên lạc với quan Trấn thủ dinh Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiêm đem quân vào đánh. Còn ta tuyển thêm quân, nếu giặc lấy Phù Ly và Bồng Sơn thì ta sẽ chặn đường về của chúng. Ấy chẳng phải là lập được đại công sao?
Phạm Văn Sĩ bàn:
- Nếu giặc lấy xong hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn thì quân ta nguy mất.
Văn Tiếp hỏi:
- Sào huyệt của ta trong núi Bô Chinh Sơn địa thế hiểm trở, giặc Tây Sơn không thể vào được, lương thảo của ta đủ dùng trong một năm. Nay nghe mất Quy Nhơn triều đình ắt lập tức đem binh thảo phạt, khi ấy ta xuất quân đánh giặc lập công thì nguy là nguy làm sao?
Văn Sĩ đáp:
- Nếu giặc lấy xong hai huyện tất đem quân đóng ở các cửa biển đề phòng binh triều đánh thủy binh. Nay đang là mùa khô núi chúng dùng hoả công đốt núi khi ấy quân ta bốn mặt đều thọ địch thì chẳng phải là nguy ư!
Chu Văn Tiếp giật mình hỏi:
- Vậy giờ ta nên làm thế nào?
Văn Sĩ đáp:
- Nhân khi chúng chưa chiếm giữ cửa biển ta đem toàn quân xuống cửa Cách Thử mà chạy ra Quảng Nam đầu quân.
Văn Tiếp xua tay nói:
- Ta nhân lúc loạn tụ chúng thời thời mà lập nên công lớn lưu danh hậu thế. Nếu ra Quảng Nam đầu quân chẳng qua chỉ làm một chức cai cờ là cùng. Ấy không phải là chí hướng của bậc đại trượng phu.
Phạm Văn Sĩ hiến kế:
- Ở phủ Phú Yên có một dãy núi tên là núi Trà Lang nằm về phía nam đèo Mù Công. Thế núi rất là hiểm trở lại nằm án ngữ con đường độc đạo vào Nam. Nếu nhị ca không muốn đầu quân thì ta đi thuyền vào Phú Yên chiếm cứ núi này chiêu binh mãi mã truyền hịch phò chúa Nguyễn diệt Tây Sơn. Chặn đường Nam tiến của giặc Tây Sơn; ấy cũng là lập nên đại công đó.
Văn Tiếp khen:
- Diệu kế! Lời ấy rất hợp ý ta. Truyền quân mở đường theo chân núi ra cửa biển Cách Thử rồi xuống thuyền vào Phú Yên.
 
 
Ngày ấy Nguyễn Nhạc và Trương Văn Hiến mở kho thóc phân phát cho dân trong thành Quy Nhơn vừa về dinh phủ, quân thám mã mặt Nam về báo rằng:
- Bẩm trại chủ, tướng quân Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đã chiếm đèo Cù Mông.
Lại có quân thám mã mặt đông về báo:
- Bẩm trại chủ, tướng quân Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc toàn thắng ở cửa Giã lấy được hàng trăm chiếc thuyền của binh triều.
Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:
- Hay lắm! Việc tranh lấy địa lợi còn chờ cánh quân mặt Bắc của Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng lấy đèo Thạch Tân nữa là xong. Không biết cánh quân mặt bắc đã tiến triển đến đâu rồi?
Vừa nói xong quân thám mã về báo:
- Bẩm trại chủ, tướng quân Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng đã chiếm được hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn.
Nhạc vội hỏi:
- Sao không thừa thắng đánh lấy đèo Thạch Tân?
Tên quân đáp:
- Đèo Thạch Tân binh triều canh phòng cẩn mật quân ta không tiến được. Tướng quân Vũ Văn Nhậm có thư trình trại chủ.
Nguyễn Nhạc giở thư ra, xem xong nói:
- Văn Nhậm gửi thư nói đèo Thạch Tân là con đường độc đạo, địch ở trên cao lăn gỗ đá bắn cung tên xuống như mưa, quân ta không làm sao tiến được. Lại có tin Tổng binh dinh Quảng Nam là Tôn Thất Hương đem ba vạn tinh binh đóng ở phía bắc đèo Thạch Tân thuộc phủ Quảng Ngãi nay mai sẽ vượt đèo vào đánh quân ta. Nhậm và Dũng xin viện binh. Ý quân sư thế nào?
Trương Văn Hiến đáp:
- Nay quân ta trong thành được năm ngàn quân đem ra tiếp viện cho Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng cả thảy chỉ có tám ngàn quân cũng chưa phải là đối thủ của ba vạn tinh binh triều. Quân của Sở và Lân, của Tuyết và Lộc cũng không thể điều ra mặt bắc mà bỏ các nơi hiểm yếu ở mặt đông và mặt nam thành Quy Nhơn được.
Nguyễn Nhạc thở dài nói:
- Nếu lấy được đèo Thạch Tân thì quân ta có sợ gì ba vạn quân của chúng. Nhạc chợt nhớ điều gì liền hỏi- Nguyễn Huệ liệu việc không sai. Sao Huệ biết rằng đèo Thạch Tân là khó đánh?
Hiến đáp:
- Đèo Thạch Tân địa thế hiểm trở, dễ giữ khó đánh. Ai lấy được đèo này phải từ trên đánh xuống, địch quân chỉ có một con đường độc đạo từ dưới đi lên, chẳng khác đèo Cù Mông ở phía Nam. Nhưng khi ta đánh thành Quy Nhơn thì Khắc Tuyên mở cổng bắc thành mà chạy nên binh triều ở đèo Thạch Tân hay được đã kíp đề phòng.
Nguyễn Nhạc nói:
- Theo ý tôi, ở địa giới huyện Phù Ly và Bồng Sơn có một đường đèo nằm giữa hai ngọn núi Lại Khánh ở phía Tây và núi Bích Kê ở phía Đông. Ta đem năm ngàn quân đến phục ở hai sườn núi này, rồi truyền cho Nhậm và Dũng chờ quân Tôn Thất Hương đến thì ra đánh rồi giả thua mà chạy, nhử cho chúng lọt vào đèo này phục binh ta đổ ra đánh nhất định phải thắng. Quân sư thấy thế nào?
Văn Hiến đáp:
- Lúc tôi còn ở kinh thành có nghe anh em Tôn Thất Hương, Tôn Thất Tiệp là tướng trí dũng và trung nghĩa. Kế này chưa hẳn đã dụ được Tôn Thất Hương. Nhưng nếu Tôn Thất Hương không dám tiến binh thì ta dựa vào thế hiểm yếu của núi Lại Khánh và Bích Kê mà bảo toàn lực lượng, giữ vững từ huyện Phù Ly trở vào. Ấy cũng là thượng sách vậy. Trại chủ nên theo kế ấy mà làm.
Nguyễn Nhạc bèn để Nguyễn Lữ, Nguyễn Thung ở lại giữ thành Quy Nhơn rồi hạ lệnh xuất quân.
Đăng nhập để trả lời
0
     Chương mười
 
Nên nghĩa vợ chồng, Diệu-Xuân hết lòng vì chúa
Bày trận thủy hoả, Nguyễn Huệ diệu kế dụng binh
 
Nói về Tôn Thất Hương sai con là Tôn Thất Chính đem năm ngàn quân đi tiên phong vượt đèo Thạch Tân đánh quân Tây Sơn, tự mình dẫn đại quân đi sau tiếp ứng. Đạo quân tiên phong Tôn Thất Chính đi đến đâu quân Tây Sơn lui đến đấy. Tiến một mạch đến chân núi Bích Kê thấy núi non trùng điệp cây cỏ um tùm. Chính sợ phục binh bèn đóng đồn cách núi Bích Kê hai mươi dặm chờ đại binh trợ chiến. Tôn Thất Hương dẫn đại binh đến nói:
- Giặc không đánh trận nào mà chỉ lui quân. Chúng muốn bảo toàn lực lượng dụ ta vào eo núi này mà đánh. Kể ra cũng lắm mưu nhiều kế, nhưng lừa ta sao được.
Vừa nói dứt lời bỗng nghe tiếng trống dập dồn, tiếng quân hò reo vang trời dậy đất, quân Tây Sơn từ trong núi xông ra. Đi đầu là hai viên tướng đầu đội mũ lông thú, mình mặc giáp trụ uy nghi, toàn quân đều mặc áo đỏ, ào ào xông đến. Tôn Thất Hương sai quân dàn trận sẵn sàng đợi địch. Hai bên giáp chiến, chém giết rất hăng. Tôn Thất Hương thấy quân Tây Sơn dũng mãnh tiền quân núng thế liền sai con là Tôn Thất Đính chia hậu quân làm hai cánh tiến lên đánh vào hai sườn địch. Vũ Văn Nhậm trông thấy liền đánh trống thu quân. Quân Tây Sơn làm như hỗn loạn theo đường đèo mà chạy. Tôn Thất Chính xua tiền quân đuổi tràn theo. Bỗng nghe chuông thu quân liền quay ngựa lại hỏi:
- Thưa cha! Sao không nhân lúc thắng trận đuổi theo giặc đánh giết một trận rồi chiếm lại thành Quy Nhơn cho rồi?
Tôn Thất Hương nói:
- Con còn nhỏ chưa từng xông pha trận mạc nên không biết đấy thôi. Hãy nhìn xem hai bên sườn núi có phục binh.
Tôn Thất Đính ngơ ngác hỏi:
- Thưa cha, con có thấy phục binh nào đâu?
Tôn Thất Hương cười bảo:
- Nếu phục binh mà cho ta thấy thì sao gọi là phục được. Hãy quan sát thiên nhiên để biết điều nhân sự. Ở cánh rừng hai bên sườn núi rộng chừng vài dặm chim chóc tự nhiên bay lên hàng đàn thì trong ấy chẳng phải có phục binh đó ư?
Đính và Chính cùng nói:
- Cha liệu việc như thần. Giờ ta phải tính kế nào qua khỏi đèo này?
Hương đáp:
- Việc này ta đã có kế!
Nói xong bèn viết một phong thư sai sứ giả đem trao cho Tây Sơn Nguyễn Nhạc, rồi kéo đại binh lui về đóng đồn ở phía nam sông Lại Dương.
 
Nguyễn Nhạc nhận thư Tôn Thất Hương bèn hội các tướng bàn việc quân. Nhạc nói:
- Tôn Thất Hương biết kế mai phục của ta nên không đuổi theo tiền quân Nhậm và Dũng. Nay lại cho người đưa thư nói rằng: Quân ta khởi binh tôn phò Hoàng tôn Dương là thuận lòng trời hợp lòng người, hắn bất đắc dĩ nghe lệnh tổng trấn Quảng Nam dinh là Nguyễn Phúc Nghiêm nên phải đem quân chinh chiến chứ lòng chẳng muốn. Nguyễn Phúc Nghiêm rất thích ăn thú rừng, trong dinh lúc nào cũng nuôi vài mươi con để dùng dần. Nay nếu quân ta nộp cho hắn nai hươu, lợn rừng, mang mển, dê rừng, mỗi thứ hai mươi con, cả thảy một trăm con còn sống, hắn sẽ đem dâng cho trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiêm, rồi lựa lời ngon ngọt để Nghiêm đừng hối thúc việc quân, ấy là kế hoãn binh. Sau đó hắn sẽ sai người tâm phúc ra kinh thành mật báo với Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương bỏ kinh thành vào với quân ta để đánh đổ Trương Phúc Loan. Không biết những lời ấy là thật hay có ẩn ý gì?
Nhạc nói xong có quân thám mã về báo:
- Địch lui về một trăm dặm đóng quân ở phía Nam sông Lại Dương.
Quân sư Trương Văn Hiến cười rằng:
- Tôn Thất Hương quả nhiên trí dũng hơn người, lại rất rành binh pháp. Nay đang là mùa hè nóng nực gió nam thổi mạnh khí hậu khô rốc, nên hắn lui về đóng quân gần sông Lại Dương để nhờ hơi nước ẩm mát giữ gìn sức khoẻ tướng sĩ và tránh xa núi này để dễ đề phòng quân ta tập kích, đồng thời cho ta tin rằng hắn có thiện ý như đã viết trong thư, người như thế thật đáng là danh tướng.
Nguyễn Nhạc nghi ngờ hỏi:
- Quân sư nói vậy có nghĩa là hắn có mẹo gì ư?
Hiến trầm ngâm đáp:
- Núi rừng mùa khô rất dễ bị địch dùng hoả công mà đốt. Nhưng quân triều đóng ở phía bắc mà gió nam đang thổi ngược ra, nên Tôn Thất Hương không thể dùng hoả công đốt núi. Nay nếu ta nộp đủ trăm con thú, hắn sẽ cho đại quân tiến sát rừng rồi bất ngờ thả thú có mang lửa và chất dẫn hoả trên mình. Thú rừng tất sẽ chạy vào rừng. Ấy là không thuận gió mà vẫn có thể dùng hoả công, khi ấy ắt là phục binh của ta sẽ làm mồi cho lửa.
Nguyễn Nhạc giật mình hỏi:
- Tôn Thất Hương quả nhiên lợi hại. Nếu ta không nộp thú cho hắn thì hắn làm thế nào?
Hiến đáp:
- Hắn tiên liệu rằng nếu ta không nộp thú ắt phải hẹn ngày để dùng kế hoãn binh. Ấy là hắn dùng kế hoãn binh của ta để làm kế hoãn binh của hắn. Rồi nhân lúc ta không đề phòng, hắn chia quân dùng thuyền nhỏ ra cửa biển An Giũ vượt qua núi Bích Kê vào cửa biển đầm Đạm Thuỷ rồi đổ bộ đánh vào sau lưng ta. Khi ấy hắn phóng hoả đốt núi thì quân ta nguy mất.
Hiến vừa dứt lời viên tiểu tướng vào báo:
- Bẩm trại chủ, có hai viên tướng người Tàu tên là Lý Tài và Tập Đình đem quân vào cửa biển Đạm Thuỷ xin nương nhờ quân ta và xin lương thực. Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết không dám quyết nên sai tôi đến xin lệnh trại chủ.
Nguyễn Nhạc hỏi:
- Hai viên tướng ấy hiện ở đâu?
- Một người theo tôi đến đây đang chờ ngoài doanh trại.
Nhạc liền cho mời vào hỏi:
- Chẳng hay tướng quân là người ở phương nào, vì sao phải đến đây nương nhờ Tây Sơn ta?
Người ấy đáp:
- Tôi tên Lý Tài và người anh em kết nghĩa tên Tập Đình quê ở Quảng Đông nguyên là thuộc tướng của nhà Minh. Chúng tôi dấy binh phản Thanh phục Minh, nên bị quân Thanh đánh đuổi, không còn đất dung thân phải theo đường bể chạy về đây. Hiện nay quân lương hết sạch xin Chúa công thương tình cho mảnh đất dung thân, cấp lương thảo qua cơn hoạn nạn. Nếu có gì sai bảo anh em tôi xin đem thân khuyển mã báo đền.
Nói xong khóc lạy. Nhạc động lòng nói:
- Việc ấy đối với ta chẳng khó gì. Nhưng từ Quảng Đông đến đây đường xa vạn dặm, sao tướng quân không vào Bắc Hà xin nương nhờ chúa Trịnh mà phải vượt sóng gió đến nơi này?
Lý Tài gạt nước mắt đáp:
- Ở Bắc Hà vua Lê chúa Trịnh đang chịu thụ phong và nộp cống cho nhà Thanh. Nếu tôi vào đất ấy thì có khác gì làm mồi cho kẻ muốn tâng công. Trên đường đi có ghé vào Phú Xuân thì bị quân chúa Nguyễn đánh đuổi bảo tôi là cướp bể. Rồi cứ thế đi lần vào phương nam. Hôm tháng trước tình cờ gặp một toán quan quân đi thuyền ra Phú Xuân, hỏi ra mới biết đó là quan Trấn thủ thành Quy Nhơn bị Chúa công đánh đuổi. Tôi trộm nghĩ chúa công vì dân nghèo dấy nghĩa ắt thương kẻ đường cùng, vả lại không lệ thuộc vào người nào ắt là nương nhờ được. Nên mới mạo muội đến đây xin chúa công mở lượng hải hà.
Nói xong lại khóc lạy. Nguyễn Nhạc cảm động đỡ Lý Tài dậy hỏi:
- Tướng quân hiện có bao nhiêu quân, đang đồn trú ở đâu?
Lý Tài đáp:
- Tôi hiện còn một ngàn quân và năm mươi chiếc thuyền, hết lương nên cho thuyền vào cửa bể Đạm Thuỷ. Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết đem quân ra đánh. Tôi treo cờ trắng và bỏ khí giới, Tuyết tướng quân cho đóng tạm trong đầm Đạm Thuỷ.
Nhạc quay sang hỏi Trương Văn Hiến:
- Ý quân sư thế nào?
Văn Hiến đáp:
- Thấy người cùng đường không cứu thì đâu phải là chính nghĩa. Xin trại chủ cấp cho họ một ngàn hộc thóc. Khi có việc cần nhờ họ giúp một tay, ấy là cả hai cùng có lợi vậy.
Nhạc nghe lời nói với Lý Tài:
- Tướng quân hãy quay về tạm neo thuyền trong đầm Đạm Thuỷ, ta sẽ cho người vận tải lương thực, và lệnh cho Tuyết tướng quân trả khí giới cho binh sĩ của tướng quân. Hiện nay quân ta đang chống nhau với binh triều Nguyễn. Tướng quân cứ nghỉ cho khoẻ, khi cần có thể vì ta mà giúp một tay chăng?
Lý Tài mừng rỡ lạy tạ ơn:
- Ơn sâu của chúa công nguyện kết cỏ ngậm vành. Dù nhảy vào dầu sôi lửa bỏng tôi quyết chẳng từ nan.
Nói rồi lạy tạ ra đi. Võ Đình Tú đứng lên nói:
- Thưa trại chủ, tôi thấy người này mắt lươn môi mỏng, mũi thời nhọn, mà nhân trung thời ngắn ắt không phải người ngay. Xin trại chủ chớ khá tin dùng.
Văn Hiến cười khen Đình Tú:
- Đình Tú tuổi còn nhỏ mà biết xem tướng nhìn người, quả có mắt tinh đời. Ta cũng biết thế nhưng cứ đem ân đức mà cảm hoá ấy chẳng phải là con đường nhân đạo hay sao? Nếu về sau ăn ở hai lòng ta sẽ liệu sau, Đình Tú đừng ngại. Bây giờ trại chủ hãy đưa thư hẹn Tôn Thất Hương trong nửa tháng nộp đủ số thú rồi kíp sai người triệu Nguyễn Huệ đem quân hợp sức định ngày phá địch.
 
Nói về Nguyễn Huệ sau khi lấy thành Quy Nhơn vâng lệnh anh về Tây Sơn Thượng cùng nữ tướng Bùi Thị Xuân dời trại luyện binh xuống miền Tây Sơn Hạ. Trần Quang Diệu đem năm trăm quân đến gia nhập nghĩa quân. Diệu nói:
- Tôi vâng lệnh tướng quân đem quân bản bộ mở đường Thượng đạo. Tôi theo lối mòn của người Thượng thông thương với nhau, nên đường núi này trong có thể vào đến Bình Thuận, ngoài có thể ra tới Nghệ An. Nay việc đã xong đem quân về phục mệnh.
Nguyễn Huệ mừng rỡ vỗ vai Diệu khen:
- Tướng quân thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Mở được con đường này coi như ta đã hoàn thành một nửa sứ mệnh đập đổ hai nhà Trịnh Nguyễn, xoá bỏ ranh giới Linh Giang, đem giang sơn về một mối, mang lại thái bình cho trăm họ rồi vậy. Nay quân ta chiếm thành Quy Nhơn, đang tiến ra thu phục hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn. Tôi vâng lệnh đại huynh dời doanh trại xuống miền Tây Sơn Hạ để huấn luyện tân binh. Tôi và cô Xuân phải gấp đi ngay, phiền tướng quân tạm ở lại đây chờ người Thương mang voi đến nộp, rồi xuống hội quân ở Tây Sơn Hạ. Chẳng hay tướng quân có vui lòng chăng?
Trần Quang Diệu khẳng khái đáp:
- Đã là việc quân thì phải gạt bỏ tình riêng sao tướng quân lại hỏi vui hay không vui?
Nguyễn Huệ vờ hỏi:
- Sao tướng quân lại nói là gạt bỏ tình riêng? Có phải tướng quân còn phu nhân ở quê quán hay chăng?
Diệu thành thật đáp:
- Tôi chưa gặp được ý trung nhân nên chưa thành gia thất.
Huệ lại quay sang Bùi Thị Xuân hỏi:
- Còn cô Xuân quê nhà ở Tây Sơn Hạ, lâu nay vì việc quân mà phải xa nơi chôn nhau cắt rốn. Nay được về nơi ấy nên vui mới phải, sao nét mặt lại ưu phiền thế?
Bùi Thị Xuân ngập ngừng đáp:
- Tôi lâu nay huấn luyện tượng quân ở nơi này có đôi phần quen người quen cảnh, nay ra đi cũng ít nhiều lưu luyến vài kỷ niệm mà thôi.
Huệ bật cười ha hả hỏi:
- Có phải kỷ niệm xạ tiễn giết hổ cứu người không?
Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng thẹn thùng cúi mặt. Nguyễn Huệ cầm tay Diệu và Xuân nói:
- Nỗi lòng của hai người ta đã rõ. Nếu ta không làm cầu ô thước thì biết bao giờ Ngưu Lang, Chức Nữ mới gặp nhau đây? Thôi tướng quân hãy cùng theo về Tây Sơn Hạ, ta sẽ xin phép Bùi ông tác hợp cho hai người.
Quang Diệu ái ngại hỏi:
- Vậy còn việc nhận voi của người Thượng phải tính thế nào?
Huệ cười đáp:
- Lão làng tự khắc sai người mang về Tây Sơn Hạ. Lúc nãy ta nói thế là lập mưu cho rõ lòng hai vị mà thôi.
Diệu và Xuân đồng thanh nói:
- Đa tạ tướng quân thương tình tác hợp.
Về đến Tây Sơn Hạ, Huệ đứng ra chủ hôn cử hành hôn lễ cho Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân. Việc vừa xong có quân đến đưa thư của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Huệ mời Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đến giở bản đồ ra nói:
- Tổng binh Quảng Nam dinh là Tôn Thất Hương đem ba vạn quân vào đóng ở phía nam sông Lại Dương. Đại huynh cùng quân sư đem toàn quân trong thành Quy Nhơn hợp với quân Nhậm và Dũng đóng tại núi Lại Khánh và núi Bích Kê chặn địch. Đại huynh bảo ta kíp đem quân hợp sức phá giặc. Nay hai người mới nên duyên gia ngẫu, vì việc quân khẩn cấp ta có việc muốn nhờ Diệu, trong lòng ái ngại lắm thay.
Diệu vòng tay nói:
- Tôi đã thưa với tướng quân, vì việc quân phải gạt bỏ tình riêng. Xin tướng quân xuống lệnh tôi dù phải phơi gan trải mật chẳng dám chối từ.
Huệ chỉ vào bản đồ nói:
- Phiền tướng quân đem năm trăm quân bản bộ ngược theo đường thượng đạo ra huyện Bồng Sơn đến thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chặn nước rồi đốn cây thả ở trên đập, chờ khi nào thấy lửa cháy, nghe tiếng súng nổ ở hạ lưu Lại Dương Giang thì sai quân phá đập. Ta muốn mượn dòng nước này chặn đường lui quân của binh Nguyễn triều. Còn cô Xuân ở lại giữ doanh trại, huấn luyện tượng binh. Ta kíp đem quân hợp sức với đại huynh phá địch.
 
Nguyễn Huệ dẫn quân đến phía nam núi Bích Kê và núi Lại Khánh, quân Tây Sơn trông thấy hô vang:
- Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan.
Nguyễn Nhạc ở trong doanh trại nghe tiếng ồn ào liền hỏi:
- Ngoài kia có việc gì mà binh sĩ náo động thế?
Quân canh đáp:
- Thưa trại chủ, tướng quân Nguyễn Huệ dẫn quân về, tướng sĩ trông thấy mừng rỡ hô vang rằng: Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan đấy ạ!
Nguyễn Nhạc liền cho triệu Nguyễn Huệ cùng các tướng họp bàn việc quân. Huệ quỳ tâu:
- Em vâng lệnh đại huynh đến phục mệnh. Nghe nói Tôn Thất Hương đem đại binh đóng ở phía nam sông Lại Dương. Thưa đại huynh việc ấy có không?
Nguyễn Nhạc chưa kịp trả lời. Vũ Văn Dũng bước ra nói:
- Đúng là như vậy. Lúc tôi cùng Vũ Văn Nhậm chiếm xong huyện Bồng Sơn, thì binh triều đem ba vạn quân vượt đèo Thạch Tân đánh xuống. Trại chủ lệnh cho tôi cùng Nhậm không được đánh mà cứ giả vờ sợ hãi chạy một mạch đến đây. Nay có sư huynh đến xin trại chủ cho chúng tôi cùng sư huynh ra huyết chiến một phen.
Nguyễn Huệ trấn an Văn Dũng:
- Sư đệ đừng nên nóng nảy. Đại huynh và quân sư ắt có kế rồi đây.
Rồi quay sang Hiến, Huệ hỏi:
- Nay kế phá giặc đại huynh và quân sư định liệu thế nào xin xuống lệnh, chúng tôi lập tức ra trận lập công.
Trương Văn Hiến trầm ngâm đáp:
- Tôn Thất Hương dùng kế hoãn binh bắt ta nộp cho hắn một trăm con thú, hắn sẽ lui binh. Ta sẽ tương kế tựu kế hẹn nửa tháng sẽ giao nộp đủ, rồi lệnh cho Nguyễn Văn Tuyết cùng Lý Tài phục thuỷ binh ở cửa biển đầm Đạm Thuỷ, nhất định hắn sẽ chia quân đi đường thuỷ vào cửa bể này đánh sau lưng doanh trại của ta. Đợi khi Tuyết phá địch ở đầm Đạm Thuỷ xong, đại binh của ta sẽ đánh vào đại bản doanh của chúng bên bờ sông Lại Dương, thì việc đuổi chúng ra khỏi đèo Thạch Tân nào có khó gì.
Nghe xong Nguyễn Huệ tâu:
- Đại huynh đưa thư hẹn với hắn cứ một ngày nộp mười con, trong mười ngày sẽ nộp đủ số thú rừng, để hắn khinh thường là ta đã trúng kế của hắn. Sau ba ngày tôi xin đem năm ngàn quân làm tiên phong đánh giặc. Nếu không phá được binh triều xin về đây chịu chém đầu theo tướng lệnh.
Nguyễn Nhạc nổi giận vỗ án quát:
- Ngươi là đứa con nít cứ cậy khoẻ nói càn, quân ta một vạn chưa dám ra giữa chiến trường đánh nhau với ba vạn quân địch. Cái đầu ngươi nào có sá gì, nhưng còn tính mạng năm ngàn quân của ta thì sao?
Văn Hiến đứng dậy can rằng:
- Xin trại chủ bớt giận. Huệ nói vậy ắt là có kế sách - Rồi quay sang hỏi Huệ - Con định đánh thế nào mà năm ngàn quân có thể phá được ba vạn quân của địch?
Huệ quỳ tâu:
- Thưa thầy, con sẽ cho quân đối mặt giáp chiến với binh triều.
Nói chưa dứt lời, Trương Văn Hiến lắc đầu, các tướng Nhậm, Dũng, Tú đều ngơ ngác nhìn nhau. Nguyễn Nhạc thấy thế lại vỗ án hét lớn:
- Sức ngươi đã bạt Sơn Cử, đánh như Hạng Võ ngày xưa chưa mà cậy khoẻ ngông cuồng?
Nguyễn Huệ sợ hãi quỳ lạy:
- Em chưa hết lời xin đại huynh bớt giận. Nguyên là nhờ hồng phúc của đại huynh, em vừa chế được một thứ binh khí, một quân ta có thể đánh được mười quân địch.
Nguyễn Nhạc nghi ngờ hỏi:
- Thứ vũ khí nào mà lợi hại thế? Nếu còn nói càn ta quyết trị tội không tha!
Nguyễn Huệ vội gọi quân mang vào một cây sắt vừa vặn tay cầm, dài chừng hai thước. Huệ cầm lên nói:
- Đây là cái ống bằng đồng, rỗng ở bên trong, có hai khoen dùng để gắn một cây đuốc ở ngay miệng ống. Trong ống đựng đầy một thứ nhựa cây, khi ra trận chỉ cần cầm ống này vung về phía địch, nhựa trong ống văng ra, gặp lửa ở miệng ống lập tức bốc cháy. Giặc bị phỏng tất phải văng gươm mà chạy. Thứ nhựa cây này văng đâu dính đó, phủi không rời, dập không tắt, sức nóng vô cùng, anh em ba quân gọi là hoả hổ, xin đại huynh xem xét.
Văn Hiến lấy làm lạ hỏi:
- Thứ hoả hổ này cổ kim chưa từng nghe nói. Huệ lấy đâu ra nhựa cây ấy?
Nguyễn Nhạc cầm ống hoả hổ săm soi nói:
- Thứ nhựa cây của người Thượng lấy ở trên rừng, ban đêm cần ánh sáng thì thay dầu mà đốt. Ta từng sống với người Thượng bao nhiêu năm mà chẳng nghĩ ra. Nguyễn Huệ quả nhiên là thần cơ diệu toán.
Truyền quân chuẩn bị xuất quân. Phong Nguyễn Huệ là tiên phong, Văn Dũng làm phó tướng đem năm ngàn quân đánh vào trại địch. Ta sẽ đem đại binh tiếp ứng.
Nguyễn Huệ nói:
- Em đã cho bộ tướng là Trần Quang Diệu đem năm trăm quân chặng đường về của địch. Ba vạn quân triều không thể nào chạy khỏi Lại Dương Giang. Đại huynh kíp ra chiếu lệnh truyền Lý Tài và Tập Đình dẫn một ngàn binh bản bộ đem chiến thuyền vào cửa biển An Giũ rồi án binh bất động, khi nào thấy lửa cháy ở bờ phía Nam sông Lại Dương thì đem quân theo bờ Bắc bất ngờ đánh lấy đèo Thạch Tân ắt là toàn thắng.
Trương Văn Hiến xua tay nói:
- Tôn Thất Hương là đại tướng của chúa Nguyễn rất giỏi dụng binh, dù quân thua vẫn trật tự mà lui. Trần Quang Diệu đem năm trăm quân sao chặn được đường về của ba vạn quân địch.
Các tướng đều nói:
- Lời quân sư hữu lý.
Nguyễn Huệ giãi bày rằng:
- Tôi sai Trần Quang Diệu đem năm trăm quân lên thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chặn nước rồi đốn cây thả ở đầu dòng, hẹn thấy lửa cháy ở hạ lưu sông Lại thì phá đập. Nước và gỗ sẽ đổ xuống như thác, quân triều dù mọc cánh cũng không qua khỏi Lại Dương Giang.
Văn Hiến cười ngặt nghẽo nói rằng:
- Huệ ơi con đã tính nhầm rồi. Nay đang là mùa nắng hạn, sông Côn còn phải cạn trơ gò huống hồ là sông Lại Dương, thì nước đâu mà con đắp đập ngăn sông?
Nguyễn Huệ đáp:
- Thưa thầy, thông thường mùa này các sông đều khô cạn, nhưng đặc biệt con sông Lại Dương mùa mưa thì không bị lụt lớn, mùa nắng hạn nước vẫn tràn đầy. Bởi thế nhân dân trong vùng thường có câu hát rằng “Nước Lại Dương mênh mang mùa nắng, dòng sông Côn lai láng mùa mưa”. Xin thầy cùng đại huynh an tâm, đánh trận này nếu có một tên quân Nguyễn triều qua được bờ bắc Lại Dương Giang, Huệ tôi xin về chịu tội.
Trương Văn Hiến ngạc nhiên nói:
- Trong cõi trời đất này lại có con sông lạ lùng thế sao? Nếu quả vậy là trời giúp ta rồi đó. Nguyễn Huệ biết dùng cỏ cây, nước lửa thay cho quân lính thật là tài năng hiếm có trên đời. Ta trước dạy binh thư võ nghệ cho Huệ, nhưng tuỳ cơ mà ứng dụng binh pháp cũng không bằng Huệ vậy. Tâu trại chủ cứ theo kế ấy mà làm, trận này nhất định bắt sống cha con Tôn Thất Hương.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-10 20:59:56Ct.Ly>
                 “TÂY SƠN BI HÙNG TRUYỆN”
          CUỐN TIỂU THUYẾT HẤP DẪN VÀ BỔ ÍCH
 
Phàm là một người người ham mê lịch sử và văn chương, cầm cuốn sách này khó có thể dứt ra được. Rất giống cảm giác thuở học trò đọc
Tam quốc diễn nghĩa hay Thủy hử, bạn sẽ bị cuốn sách lôi cuốn ngay cả khi đang ăn hay trước lúc đi ngủ. Sẽ rất nhiều người mải theo cách dẫn dắt của tác giả mà quên khuấy cả giấc ngủ trưa, thậm chí cho qua cả một đêm trắng.

Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh mô phỏng cách viết chương hồi của La Quán Trung, Thi Nại Am và những tiểu thuyết gia Trung Quốc xưa, một cách kể chuyện như lùa người đọc vào hết mê hồn trận này đến những bí sử kia, mang đến cho người đọc cái không gian, thời gian, những sự kiện lịch sử, những chân dung tiêu biểu… làm nên gương mặt xã hội Việt Nam đầy biến động và bi thương, hiển hách và bi tráng suốt nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Khác với tiểu thuyết  Sông Côn mùa lũ, tác phẩm của nhà văn Việt Kiều Nguyễn Mộng Giác, tái hiện khá thành công người anh hùng áo vải Tây Sơn và cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, từng in ở Mỹ và mới in lại ở Việt Nam, Lê Đình Danh viết về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ với một bối cảnh rộng lớn hơn, đặt các nhân vật của Tây Sơn trong mối quan hệ trực diện, đối nghịch, một mất một còn với chúa Nguyễn Đàng Trong, chúa Trịnh Đàng Ngoài và Vương quốc Đại Thanh thời vua Càn Long hùng mạnh.

Không phải ngẫu nhiên mà thoạt đầu tác giả đặt cho bộ tiểu thuyết hai tập hơn nghìn trang in với 5 phần 70 chương của mình cái tựa đề  Nhị Nguyễn tranh hùng mà hai nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm là Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh. Có thể nói đó là hai nhân vật lịch sử, có vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự thành bại của hai dòng Nguyễn Tây Sơn và dòng Nguyễn thế gia vọng tộc Đàng Trong, quyết định khuynh hướng và bước ngoặt phát triển của dân tộc Việt từ đầu thế kỷ XIX. Đặt nhân vật Nguyễn Huệ vào trong bối cảnh chế độ phong kiến do các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã kiến lập hơn hai trăm năm, kể từ khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Hoàng nhận ra dã tâm của Trịnh Kiểm, đã mang thân quyến và bộ hạ vào lánh nạn ở Thuận Quảng năm 1558, cho đến khi lộng thần Trương Phúc Loan lợi dụng sự mọt ruỗng của triều Nguyễn Đàng Trong định tiếm quyền, gây cho muôn dân lầm than cơ cực… mới thấy tài năng và sự xuất chúng tột bậc của người anh hùng áo vải trẻ tuổi. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1773) do Nguyễn Nhạc khởi xướng, nếu không có Nguyễn Huệ, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt từ trong trứng. Bởi khi ấy, mặc dù trong Nam, rường cột Chúa Nguyễn đã mục nát, nhưng lòng dân vẫn chưa hết ngưỡng vọng về một vương triều với 11 đời chúa kể từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng hơn hai trăm năm đã khai mở và củng cố đất Đại Việt suốt từ hận giới sông Gianh cho đến Sài Côn (Sài Gòn – Gia Định), Hà Tiên, Phú Quốc…, còn ở ngoài Bắc, mặc dù các chúa Trịnh tiếm quyền nhà Lê, dân tình cơ cực, nhưng hầu hết các sĩ phu Bắc Hà vốn ngu tín, ngu trung và muôn dân vẫn hướng về nhà Lê mà ánh hào quang Lê Lợi - Nguyễn Trãi suốt từ cuộc kháng chiến chống giặc Minh đầu thế kỷ XV vẫn còn tỏa sáng. Thu phục lòng dân đã khó, nhưng chiến thắng được hai thế lực phong kiến Nguyễn - Trịnh còn ngàn lần khó hơn. Vậy mà “Bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn; Ba lần ra Bắc diệt vương tông” với những trận đánh thần kỳ; rồi trận Rạch Gầm lừng danh phá năm vạn quân Xiêm, trận thắng Pháp đầu tiên trong lịch sử - đốt tàu chiến Pháp do Bá Đa Lộc trợ giúp cho Nguyễn Phúc Ánh, và kỳ diệu nhất là trận đại phá 20 vạn quân Thanh, đánh bại ý đồ xâm lược của ngoại bang phương Bắc… thì quả là một thiên tài quân sự tầm cỡ thế giới. Với tài năng và đức độ của Nguyễn Huệ, ông đã tập hợp quanh mình hàng loạt nhân vật kiệt hiệt nhất thời ấy, về văn có Trương Văn Hiến, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Nguyễn Thung, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp…, về võ hàng loạt các đại tướng kiệt hiệt mà tên tuổi mãi lưu truyền sử sách như vợ chồng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Phong, Đặng Xuân Bảo, Nguyễn Văn Tuyết, Phan Văn Lân, Ngô Văn Sở, Võ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú… (Nhân đây xin lưu ý các nhà lịch sử và các cấp chính quyền thành phố Hà Nội nên đổi lại tên phố Đặng Tiến Đông (ở bên gò Đống Đa) thành phố Đặng Văn Long, vì trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh không hề nhắc đến Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long).

Với Nguyễn Phúc Ánh (hay Nguyễn Ánh) dưới ngòi bút của Lê Đình Danh, cũng hiện lên như một anh hùng kiệt hiệt, 12 tuổi đã theo Võ vương Nguyễn Phúc Khoát “chống giặc Tây Sơn”, 16 tuổi khi quân Tây Sơn truy đuổi chúa Nguyễn ra cửa Hàm Luông, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị chết, chỉ còn duy nhất tiểu võ tướng Nguyễn Phúc Ánh một mình một thuyền đưa mẹ và em gái chạy trốn khỏi sự truy sát của Bùi Thị Xuân mà Nguyễn Phúc Ánh được bảo toàn mạng sống, trở thành chủ soái gánh vác cả cơ đồ nhà Nguyễn đang tưởng chừng tan thành mây khói dưới sự truy đuổi quyết liệt của Nguyễn Huệ. Ở nhân vật này có dáng dấp của một tiểu Tào Tháo, đa mưu, túc kế, gian hùng. Từ một tiểu võ tướng, trở thành Nguyễn Vương, có lúc trong tay chỉ có vài trăm quân, phải lẩn trốn sang Xiêm quốc, rồi các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Đảo, Nguyễn Phúc Ánh đã dần dần củng cố lại thế lực nhà Nguyễn, thu phục dưới trướng mình nhiều tướng tài như Nguyễn Huỳnh Đức, Tống Việt Phước, Tống Viết Khuông, Châu Văn Tiếp, Lê Chất, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Đặng Đức Siêu…

Nhưng phải đến khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ bị gian thần Bùi Đắc Tuyên hãm hại, thì Nguyễn Phúc Ánh mới xoay chuyển được thế cờ. Cuộc trả thủ hèn hạ của Gia Long Nguyễn Ánh đối với hài cốt của Nguyễn Huệ và các bộ tướng Tây Sơn mãi mãi là vết nhơ trong lịch sử.
Tây Sơn bi hùng truyện thu hút người đọc không chỉ ở tư liệu lịch sử phong phú, kiến văn dồi dào, mà còn ở bút pháp dựng truyện, xây dựng nhân vật khá thành công. Ngoài hai nhân vật Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc Ánh, hàng loạt các nhân vật thuộc các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn và cả các tướng Mãn Thanh đều được tác giả phác họa khi thì bằng một vài chi tiết đặc sắc, khi kỳ công dẫn dắt qua hàng loạt các sự kiện, mối quan hệ đan xen phức tạp, ví như các nhân vật Ngô Thì Nhậm, Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm, Võ Tánh, Bùi Đắc Tuyên, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Vũ Tâm Can v.v…

Đọc sách, mà như được xem một cuốn phim lịch sử đầy bi thương hùng tráng, được xúc động, yêu thương với người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ. Giá như, với công nghệ điện ảnh hiện thời, Tây Sơn bi hùng truyện được đưa lên màn bạc, tin rằng con em chúng ta sẽ thêm một lần được học những bài học lịch sử sống động, và mỗi chúng ta sẽ càng thêm yêu thương đất nước, cội nguồn.

                                     Hà Nội, 28-8-2005
                          Nhà văn Hoàng Minh Tường     
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-11 15:15:27Ct.Ly>
Chương bảy mươi

Ngô Thì Nhậm chết đòn vì đôi câu đối
Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ.
 
Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:
- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê theo Nhạc, Huệ đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.
Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thì Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?
Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường đáp:
- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa Chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho Đặng huynh thì đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi, sao lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:
- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa, vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buột miệng nói:
- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế “Phạt thảo kinh xà” của Chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:
- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: “Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta”. Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.
Thường ung dung đọc:
- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Nhậm nóng mắt đáp ngay:
- Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thì phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thì Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào, nếu Ngô Thì Nhậm chế thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thì Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường, hãy nhớ lấy lời ta. Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết.
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:
- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta, phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của Bệ hạ nên mới đem lòng oán Bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:
- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội, lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu đáp:
- Ta bố cáo với dân chúng Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà Bệ hạ phải ngại?
Vua Gia Long lại nói:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:
- Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn.
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:
- Ngô Thì Nhậm thật đáng là bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ.
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi, dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thì Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trấm nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.
                                 *
                            *       *   
Hai năm sau, tả hữu tâu với Vua Gia Long rằng:
- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghênh đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quỳ tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
Vua Gia Long bảo Nguyễn Văn Thành ngồi rồi bảo:
- Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên ta lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?
Thành lạy đáp:
- Thần xin muôn đội hoàng ân!
Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?
Thuyên đáp:
- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hóa, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hóa sẽ gửi thơ mời hai người ấy đến chơi.
Nghe Thuyên nói xong, Thành hỏi:
- Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa.
Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha?
Thành kể lại sự việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.
Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời dèm xiểu? Về sau còn tái phạm ta quyết trị không tha.
Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:
- Ngươi hãy mang bức thư này đến Thanh Hóa trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí, hãy kíp đi ngay.
Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:
- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy bắt lấy Hiệu, hỏi:
- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.
Quan quân hỏi:
- Thư này của ai. Nói mau, phải chém.
Hiệu liền đáp:
- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:
 Ái Châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn có
Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.
Xem xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời nói của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến quỳ dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu Bệ hạ thần có tội gì?
Vua cười gằn bảo:
- Ngươi toan mưu làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin Bệ hạ chớ nghe lời sàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ơi, con đã hại cha rồi!
Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi, xin Bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
- Tội hay không phải giap cho viện pháp ty xét xử.
Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội Bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
- Vua giao cho bọn ta xét, tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.
Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải chết. Thương thay Lê Văn Quân. Thương thay Lê Văn Quân!
Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay.
Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy.
Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội, ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
Loạn thế anh hùng sản xuất đa
Bắc Nam dược mã dự huy qua
Thập niên huyết chiến thành hà sự
Không thính ngư tiều túy tửu ca!
Tạm dịch:
     Loạn đời sinh lắm anh hùng
     Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam
      Mười năm(?) máu đổ (như) mây tuôn
                Người câu, hái củi ca buồn giọng say!

        Quy Nhơn, ngày 1-1-2003  
 
                        
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG SÁU M Ư ƠI CHÍN
Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn
 
Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quỳ mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu Xuân:
- Ta nghe thiên hạ xưa nay bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nay đến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu, Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
- Đặng Xuân Bảo to gan. Trước mặt ta sao dám không quỳ!
Báo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ!
Vua Gia Long cười gằn nói:
 - Được! Ta tạm giam tụi bay vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây rồi sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:
- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
- Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây!
Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắc mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:
- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:
- Quân bay bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:
 - Thằng tiểu nhân đê tiện kia, ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản được ta chăng?
Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc.
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ, Lữ về cho ta trị tội.
Đặng Đức Siêu bước ra can :
- Tâu Bệ hạ. Việc ấy không nên.
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nhạc, Huệ có tội lớn với tiên vương, nhưng Nhạc, Huệ chết đã mười năm, vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu Bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?
 Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!
Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra. Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng lại, Gia Long bảo:
- Khanh văn chương như nước chảy, hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc, Huệ, Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các Chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội. Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế. Siêu quỳ trước bài vị Ngô, Võ đọc rằng:
Than ôi!
Đạo thần tử hết lòng thờ Chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
 Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lược ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng ủy ký.
 Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.
 Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khóa chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sửa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
 Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tùy gang tất cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu,
Bày đàn úy tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thỏa chốn u minh.
 Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mớ nền bình trị.
Siêu đọc xong, các quan đều rưng rưng ngấn lệ. Vua Gia Long ứa nước mắt nói:
- Ngô, Võ hai khanh!. Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây!
Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?
Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp :
- Ấy là hài cốt các Tiên đế của ta.
Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay, đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ, Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.
Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:
- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các Tiên đế!
Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:
- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Bùi Thị Xuân đành cắn răng ngậm miệng. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?
Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:
- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin Bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền, lương thực cho quân ta về. Xin Bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
 - Mang đi chém ngang lưng!
Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bậc cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn! Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại hủy hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các Tiên đế ta, dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi, ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:
- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, Tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức ta và Nguyễn Huệ thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:
- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức Tiên đế ta như đêm trăng rằm còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:
- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp Tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhất không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.
Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó .
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra là Quận Chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh, sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận Chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:
- Ngày trước Bùi Thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
 Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:
- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ, vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn dập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình!
Võ sĩ vâng lệnh, lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
- Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
 Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng rơi xuống voi đưa cặp ngà ra hứng, ngà voi nhọn hoắt xuyên qua người, nàng quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên. Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều lè lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt!
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc. Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng, voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy. Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy hết cả.
Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đám. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế ?
Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng: - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của dịch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?
Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây!
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mình, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất kinh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.
Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:
- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy.
Cơm dọn lên, võ sĩ cởi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết, việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!
Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm: Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta!
 Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
                                *
                           *        *
Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi, và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc. Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc, Huệ nữa.
 Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ, xin giải về cho Bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?
Quân đáp:
- Tâu Bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:
- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:
- Thưa tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê, vợ Quang Trung Hoàng đế!
Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận Ngọc Hân công chúa.
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiêu diệt Bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng hà tôi mới tin điều Phu tử nói là đúng, nên mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích, tùy Bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết, nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục, đối xử tử tế chờ xét sau.
Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi :
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:
- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước thiếu gì cung phi mỹ nữ, cần gì phải lấy vợ thừa của giặc!
Vua Gia Long gạt đi bảo:
- Nước của nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?
Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:
- Ta là công chúa nhà Lê, lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao!
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:
- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.
Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:
                    Gái đâu có gái lạ lùng
         Con vua mà lấy hai chồng làm vua
Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế. Thật xấu hố thay!
Thương thay Thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn Thang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:
- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho Bệ hạ trị tội và xin lệnh Bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
 Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền: - Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi ngươi hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao Gia Long lại tha tội chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên vua mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó.
Nói xong họ lại ca rằng:
                    Gái đâu có gái lạ lùng
         Con vua mà lấy hai chồng làm vua
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:
- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì.
 
Đăng nhập để trả lời
0