📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Hà Thúc Sinh - Các tác phẩm

14 trả lời, 2.312 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-11 16:09:05sóng trăng>
.
CƯ SĨ 


 
 
 
Cụ Ðạo là người hạnh phúc, hiểu theo nghĩa có một cuộc đời êm ả hanh thông, con cái đỗ đạt. Trẻ từng tu chùa, lớn không thoải mái cụ hồi tục, lập gia đình. Lương thiện là bước đầu phải có của một người tốt, cụ tin thế, mọi thứ khác theo sau. Tuổi hưu cụ vẫn hồng hào, đọc sách báo không cần kính, đi không cần gậy. Nhà thương xứ Mỹ chưa lấy được của cụ đồng bạc nào cho đáng như ở các cụ bạn. Lại nữa từ nước nhà ra nước người cụ được làm một nghề duy nhất cụ thích, nghề quản thủ thư viện. Chỉ một bệnh cụ có từ trẻ là chứng tê tay. Có khi rờ ấm trà thật nóng cụ không cảm thấy gì. Cụ không quan tâm chữa trị.

Từ hưu đời sống cụ đâm thay đổi. Nhà con cháu vắng dần. Xứ này vậy. Cơm áo nghề ngỗng lôi mỗi đứa một nẻo. Nhưng ngạc nhiên thay, hai vợ chồng già xem ra lại tất bật hơn, ấy là do khách khứa.

Cụ bà là người nhân từ, thuận thảo từ trẻ. Cụ như cái bóng đen lặng lẽ và trung thành của cụ ông, như cánh bèo nương theo con nước, đúng đạo xướng tuỳ. Mà khách nào phải hạng rượu chè cờ bạc gì, toàn những vị thức giả, đến để đàm đạo với cụ ông những vấn đề nhìn chiều nào cũng thấy nghĩa lý. Từ những vấn đề siêu hình như con người từ đâu tới rồi đi về đâu, khổ đau rời khỏi mặt đất phải vì đã không được chọn lựa khi đến mặt đất, tiếng khóc có thực là phản diện của tiếng cười; hoặc thực tiễn như nhai miếng cơm phải nhiều lần ra sao, điều tiết hơi thở quan trọng thế nào... Không thiếu lúc ngồi nhà sau thiu thiu ngủ, cụ bà chợt tỉnh mỉm nụ cười đến từ một hồi tưởng. Nhưng nói chung cụ vui. Có người đàn bà nào kém vui khi chồng được đời tin tưởng? Lượng khách ở đây là thước đo sự uyên bác của chủ nhà.

Cụ Ðạo biến thành một nhà thuyết giảng thật rồi.

Nhưng những hành động vong thân của một chủ thể phải chăng thường thoát thai từ hấp lực của khách thể, của thế giới ngoại tại? Nhưng người vong thân hiếm khi tự nhận ra mình là nạn nhân một sự lệ thuộc. Có thể cụ Ðạo không thoát khỏi lối mòn này. Dù sao bản chất khiêm tốn, có bao giờ cụ dám nghĩ đời tối; nhưng đời như áng mây nhàn nhã trôi qua, phiền hà gì ánh trăng không toả sáng cho mây thấy rõ hơn vũ trụ còn trùng điệp tinh tú? Nhưng mây thì dài quá, nhiều quá, mà trăng lại hữu hạn từ quang năng đến thời lượng hiện diện. Chỉ đôi ba năm cụ Ðạo đuối nhanh chóng về sức khoẻ và cạn cũng nhanh về kho kiến thức. Cụ âm thầm tự chống lại sự sa sút nhưng xem ra không hiệu quả. Cứ như một sa mạc phát tiết cạn nhiệt dần, một ngày cụ nhận chân một điều: Hạnh phúc chính là mình sống suy niệm với chính mình chứ không hẳn đem sự suy niệm ấy rao giảng ầm ỹ cho ai. Các triết gia sẽ là triết nhân nếu họ im lặng. Rao giảng biết đâu không là một hình thái bộc lộ bế tắc? Xưa nay có phải cụ không biết bên kia cánh đồng hoa đẹp rực rỡ của đời là một bãi lầy bế tắc đâu. Hãy sống nhàn hạ đời hữu hạn với cánh đồng hoa, hà tất bước chi bước lớn để sa vào bãi đầm lầy mà ở đó, từ cổ kim, đám triết gia bất hạnh đã om sòm đùn đẩy nhau tới chia đều mỗi người một khoảnh.

Cụ Ðạo đã nhận ra mình chọn nhầm lối rẽ ở một ngã ba. Cụ không tiết lộ với vợ. Và vì thế, cứ chiều đến là: "Hôm nay ông đãi khách trà gì để tôi liệu pha?"

Một tối đeo kính, chống gậy thả bộ một vòng quanh khu vực nhà, về tới trước cửa cụ ngẩn người. Khóm dạ lan vợ trồng hồi nào mà giờ sao thơm lạ lùng. Cụ đứng lại, dưới trăng, nhìn những cụm hoa trắng li ti ẩn hiện như bầu trời tinh tú thứ hai mơ hồ, huyền bí. Cụ bước lên thềm, chìm trong nghĩ ngợi. Ðúng lúc đó, từ sâu trong tâm khảm, cụ thấy có gì máy động, rồi bung lơi, như tơ; nó khiến cụ ngất ngây, run rẩy, không thể giải thích, không thể chống cự, và cụ ngã xuống. Ít phút sau cụ thấy mình ngồi trong ghế bành. Về đêm nhà vắng ngắt như bao giờ. Bất giác cụ hiểu ra những sợi tơ lan dần ban nãy là hơi lạnh bốc lên từ một khối cô đơn. Cụ nhìn quanh. Mừng quá. Ðó là lần đầu cụ đột ngột ngộ được sự hiện diện của một con người có thực là bà vợ già lặng lẽ.

"Cơ khổ!" cụ bà nói. "Ông đi lang thang làm gì cho ngã sấp ngã ngửa. Ông dùng chút trà gừng nóng cho khoẻ rồi đi nằm."

Cụ đỡ lấy tách trà từ tay vợ. Cụ lại sửng sờ. Ðó cũng là lần đầu cùng lúc cụ cảm được hai luồng ấm lạnh thấm vào tay, dẫn vào tim, thật tách bạch, thật trong sáng, là hơi nóng từ tách trà và hơi mát từ bàn tay người bạn đời. Cụ Ðạo cứ cầm tách trà như thế trong tay lúc lâu, và cầm cả bàn tay nhăn nheo của vợ nữa. Cụ buột miệng nói thầm vào vẻ mặt nửa dò hỏi nửa bối rối của vợ:

"Mình nhỉ, đời ngắn sao người ta cứ sống mãi với những thứ giả!"

Cụ bà nhẹ rút tay ra, nhớ mang máng gần năm mươi năm trước dường như đã một lần cụ ông nói câu ấy, duy chỉ khác giọng, và không nhớ rõ trong dịp nào.

Alhambra 8-95
http://www.geocities.com/suthatcsvn/hts/cusi.html

____________

Hà Thúc Sinh – Tiểu sử theo Văn học Việt Nam Hải Ngoại

Các tác phẩm khác của Hà Thúc Sinh:

Hà Thúc Sinh - Đại Học Máu

Hà Thúc Sinh - Quyền của Lửa

Hà Thúc Sinh – Vài truyện ngắn

Thơ Hà Thúc Sinh

Nhạc Hà Thúc Sinh

Hà Thúc Sinh – Vài truyện ngắn trong thư viện Việt Nam Thư Quán
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 06:25:57sóng trăng>
[size=+3].[/size]
[size=+3][/size] 
[size=+3]CỐ HƯƠNG[/size]


Cụ Hồng Ân đã bước vào tuổi cổ lai hy, cho nên cụ cư xử với chúng bạn - kể cả những người bạn thật trẻ - một cách điềm đạm cởi mở. Bữa nào gặp chuyện găng, lại có tí rượu, xảy tranh luận, và cụ có lỡ lộ ra phần nào cái khối óc quảng bác của cụ, đến nỗi tạo ra chút khói lửa la đà, là y như rằng cụ cất ngay tiếng cười hê hê đến ngộ, và nói một câu ngắn gần như thông lệ, cốt như ngăn sao cho kịp để bạn hữu dừng lại đúng lúc trước bờ vực nóng giận. Nếu câu chuyện ấy mà do cụ đề xướng, thì cụ bảo: "Hê hê... láo cho vui cả ấy mà!" Và nếu đề tài do người khác đưa ra, cụ lỡ đặt cho đương sự vài câu hỏi hóc hiểm khiến ông ta sửa soạn phùng mang trợn mắt, thuốc chữa của cụ vẫn là: "Hê hê... láo cho vui cả ấy mà!" Mãi rồi cái thành ngữ "láo cho vui cả ấy mà!" của cụ biến thành một thứ minh triết. Bọn trẻ tuy không nói ra nhưng quả có thầm ưng trong bụng. Chuyện đời ngoài kia đã bát nháo lắm. Gần như mọi mặt. Có thêm hương thêm sắc chẳng vì thế mà hoa cứt lợn biến thành hoa hồng cho được. Bàn là bàn cho vui đấy thôi. Ai dại gì lại để cho cái mùi xú uế đọng lâu trong khu vườn hoa của cụ, làm giảm đi hương vị những tách trà Bắc Thái xanh thơm, giảm đi những câu chuyện mà theo cụ: Văn hoá là cái chi chi, nếu chẳng là tiếng nói, là cái ăn, cái mặc? Cho nên bọn trẻ năng đến với cụ, kéo nhau vào lắm chuyện cổ kim những ngày cuối tuần, rồi khi sửa soạn cáo lui, gần như họ mặc nhiên đồng ý với thành ngữ nay đã được giản lược là "láo cả!" của cụ làm dấu chấm hết. Nhưng trên đường về, mấy cái "láo cả" ấy có khi vương trong lòng lắm điều nghĩ ngợi.

Thẩm đến với cụ Hồng Ân như một người đồng hương trẻ tuổi. Thường khi anh đến cụ hay đem những loại trà quý pha uống với nhau. Cụ vốn biết anh cũng mê trà lắm lắm. Gì chứ lắm trường hợp cái thứ cao trà coi vậy nó cũng có sức dính hết sức lạ lùng. Nhưng trên hết, Thẩm đến với cụ để học những điều mà anh cho là nếu thiếu, chuyện dạy con trong nhà hãy yêu lấy quê hương xem ra là điều khó thông. Ðến trúng bữa cơm, thế nào cụ cũng vồn vã kêu vợ con lấy thêm bát đũa, rồi với tiếng cười bất hủ, cụ kéo ghế bảo: "Hê hê... tiện thể ấy mà." Thẩm ít khi cãi ý cụ. Anh ngồi xuống mâm và hai người lại bắt đầu nhắc nhau nghe - đúng hơn là cụ nhắc khéo cho anh nhớ - những món ngon quê nhà, không phải Sài Gòn, mà mãi tận xứ Thanh xa như giấc mộng.

Trúng bữa phở là cụ lung khởi:
"Này ông, ông còn nhớ quê mình có câu ‘chó con so bò con dạ’ đấy chứ nhỉ?"

"Vâng, em cũng... mang máng."

"Nghĩa sao nhỉ?"

"Dạ..."

"Ðúng rồi. Bò con dạ." Cụ quay sang các cô cậu đang vừa ăn vừa lắng tai nghe, nói như giải thích chung: "Chó nó đẻ lứa đầu con sẽ to, nhưng bò thì ngược lại, phải từ lứa thứ hai trở đi con mới to mới tốt."

Rồi cụ yên lặng, cẩn thận chọn một lá húng thật tươi, đưa lên miệng cắn, chỉ một tí thôi, sợ như nếu nhai cả cái lá húng ấy sẽ là quá độ, vị giác sẽ thơm quá độ, có nguy cơ làm cho miếng nạm tiếp theo không còn nguyên hương vị của nó mà đến biến thành một miếng bạc nhạc xoàng xĩnh. Ðợi cho miếng ăn đã yên ổn trong bụng, cụ mới ngước nhìn Thẩm, cứ như không hề thấy sự lúng túng của người bạn trẻ, lại hồn nhiên tiếp: "Mà chắc ông còn nhớ cái bát phở Bái Thượng đấy chứ?"

"Dạ... lờ mờ lắm!"

"Xa quê mấy mươi năm thế mà đố tôi quên cho được. Gớm, đâu mà lại có thứ gầu nó giòn đến thế, nhai cứ canh cách như nhai miếng cùi dừa ấy thôi, vừa béo lại vừa thơm."

"Nhưng sao đặc biệt thế thưa bác?"

Ông cụ ngưng đũa, nhìn Thẩm với ánh mắt vui vẻ:
"Ðấy, chuyện cũ rốt cuộc rồi cũng chỉ lũ già này phải nhớ đấy thôi. Ông biết vùng Bái Thượng mà. Cỏ lăng Lam Sơn tốt vô cùng, lại là vùng núi đồi, có thể vì thế bò nó khoẻ ăn khoẻ chạy, thành ra miếng thịt miếng thà nó thơm lạ thơm lùng. Nói không sợ thậm ngôn, đi cách quán phở nửa cây số miệng mũi mình nó đã nở cả ra."

Thẩm lặng lẽ húp từng thìa phở bà chị mà lòng trôi dạt ngàn dặm về chốn cố hương. Lại có lần khác đến cụ ngồi nhâm nhi lon bia với mấy con nghêu, anh buột miệng nhắc:
"Bác còn nhớ cái món bún phi không bác nhỉ?"

Cụ Hồng Ân trợn mắt:
"Trên ba trăm ngàn cây số vuông tổ quốc chỉ có mỗi quê Thanh mình có cái món tiến vua ấy mà ông lại cho là tôi quên được à?"

"Ngày ấy ở thị xã cứ sáng sáng đầu ngõ nghe tiếng rao ‘ai phi...i...í... mua!’ là mợ em thế nào cũng gọi vào."

"Ai mà chả gọi vào! Gớm, cái nước phi đựng trong nồi đất sao mà nó ngọt, nó thơm đến là như vậy, ông nhỉ? Dễ hơn bốn mươi năm qua mà nhắc lại, chậc chậc, tôi vẫn như còn thấy tô bún với cái màu nước nhờ nhờ, những con phi trắng nuột trắng nà nó thơm nó bùi trên lưỡi ấy thôi. Mà ông còn nhớ rõ hình dạng con phi đấy chứ?"

"Vâng."

"Giông giống con trai ông nhỉ, to chỉ bằng hai ngón tay."

"Em nghe nói ở biển Sầm Sơn có hai luồng nước ấm lạnh..."

"Chết, ông có nhớ nhầm không? Ông biết sông Mã mà."

"Em chỉ nhớ tí chút cái đoạn Hàm Rồng thôi!"

"Ðấy đấy, Hàm Rồng đi lại chỗ cầu Tào không bao xa. Sông Mã đến đoạn này sẽ chảy tiếp ra cửa Lạch Triều, còn một nhánh tách thành sông Tuần ở ngã ba Tuần chảy qua làng Hà Thượng. Mà làng Hà Thượng đất xấu lắm, sông Tuần đoạn này nước thường chảy ngầm dưới cát. Mãi đến mùa lụt thường vào tháng sáu bảy tám âm lịch mới gọi là có nước, nhưng vì ngoài biển nước tràn vào, thành ra nước ở đây lợ. Con phi phát xuất khoảng này và trong điều kiện này đấy ông ạ."

"Nhưng sao nó lại thơm ngon đến thế hả bác?"

"Tôi không chắc tôi đúng lắm đâu. Nhưng có lẽ đoạn sông này cát, không lắm phù sa, vì thế phi nó không béo quá để đến nỗi tanh. Vả nói không sợ thậm ngôn, đi nhiều mới thấy tôm cá xứ Thanh mình nó ngon nhất nước ông ạ. Tôm cá ngoài bắc thì gầy, còn trong nam lại quá béo; ở Thanh từ con cá thu đến con cá nục, từ con cá chim đến con cá hồng, cá trích, cá khoai hay đến cá thờn bơn đi nữa, cá nào cũng thơm ngon đặc biệt. Nó không quá gầy để xác, mà cũng không quá béo để tanh. Hay là cái ưu điểm địa dư nó chiều bụng những ông đồ khó ăn ông nhỉ? Chắc vì thế mà dân gian mới có cái câu ‘xứ Thanh gạo trắng nước trong’ chăng? Nhưng nhớ thì tôi nhớ nhất cái món gỏi cá quê mình."

"Cá chép bác nhỉ!"

"Còn phải nói. Nhưng phải là cá chép vào mùa có trứng cơ. Trứng với lòng cá băm làm cái nước giẻo, còn gọi là nước bỗng, phải quánh lại như mật thì ăn mới ngon. Nhưng đến chết tôi cũng chẳng quên được cái món gỏi cá lanh ông ạ. Các cụ mình đã có câu ‘cá lanh đầu nhỏ mình dài; tớ cũng tranh thầy ăn gỏi trừ cơm.’"

"Em cũng mê gỏi cá lắm thưa bác. Nói ăn trừ cơm được quả không ngoa bác nhỉ?"

Cụ Hồng Ân tủm tỉm:
"Nhưng mà này, ông có biết vì sao mà gỏi cá nó ngon, ăn mãi không chán không?"

"...?"

"Chà, để ăn gỏi ông biết rồi, hàng vài chục loại rau chứ ít gì. Lấy lá sung vấn cái phễu, rồi chất dần lên nào lá đinh lăng, lá vọng cách, lá ổi non rồi cá, rồi nước bỗng. Ăn một miếng với từng đó lá đã đủ đầy miệng. Có miếng có rau này mà không có rau kia, có rau kia lại không có rau nọ. Ăn mười miếng đủ mười vị khác nhau. Thế thì chán làm sao cho được phải không ông?"


Lũ trẻ ăn xong mở nhạc inh ỏi. Cụ quý bầy cháu nhỏ không bắt tắt, chỉ bảo chúng vặn nhỏ lại thôi, rồi như có hứng cụ đủn luôn Thẩm xuống dòng sông Mã đã chẳng những lắm huyền thoại, lắm cá tôm mà còn lắm cả âm nhạc nữa.

Cụ bảo:
"Mà lạ, cứ nhắc đến sông Mã, đến tôm đến cá là tai tôi như lại cộm lên những điệu hò."

"Cậu em cũng thường hay nhắc đến phong cảnh lồng lộng lắm thác nhiều ghềnh của con sông, nhắc đến những chuyến đò dọc với đủ quy củ, hiệu lệnh đã thành nếp từ lâu đời. Cụ bảo mỗi con đò dọc là một tổ chức độc lập gồm năm người."

"Cụ nói đúng đấy. Hò Sông Mã có câu ‘Kể từ trên bến ra khơi; anh tài đạp lái, bốn anh em tôi cầm chèo.’ Nhưng có bao giờ ông tò mò tự hỏi vì đâu tổ tiên ta có những bài Hò Sông Mã như thế không nhỉ?"

"Người Thanh nhiều văn nghệ tính?"

"Cũng có thể. Nhưng tôi thì tôi nghĩ có lẽ là tổ tiên mình đã sớm biết ứng dụng văn nghệ vào thực tế đấu tranh. Ðã bao lần tôi đứng bên bờ sông Mã rét mướt, mưa mù, nhìn những chuyến đò dọc vượt nhiều đoạn thác ghềnh rất dễ sơ, nhất là cái đám kết gỗ bè thả dọc từ miền rú xuống. Kinh lắm. Mà cũng hùng vĩ lắm. Con người dám thách đố với thiên nhiên như vậy mà thiếu tổ chức, thiếu quy củ là chết như chơi. Có lẽ vì thế mà Hò Sông Mã biến thành một liên khúc ăn khớp với nhau chăng? Nào là Hò Rời Bến, Hò Ðò Ngược, Hò Ðò Xuôi, Hò Mắc Cạn, Hò Cặp Bến; hò như đã biến thành sức động viên toàn tâm toàn lực cho cả thuyền vượt thử thách mà về đến bến bình an."

Cụ Hồng Ân nói một hơi, rồi như câu chuyện có sức mạnh lôi ngược cụ về nửa thế kỷ dĩ vãng, nơi ấy có chàng thanh niên đứng nhìn xuống dòng nước từng in bóng bao đổi dời lịch sử; nơi bà Triệu không chịu thua bà Trưng; nơi vua Lê mà qua truyền thuyết tính khí chắc là nóng nảy, bộc tuệch lắm, đã phất cờ dựng nghiệp; nơi hai họ Trịnh Nguyễn khởi một cuộc phân tranh, nhúng dân tộc vào vũng tang thương cả trăm năm dài, nhưng trong cái rủi có cái may, đất nước nhờ đó mà có được bờ cõi như bây giờ.

Thoắt như chìm trong cơn mơ màng, cụ Hồng Ân lại tiếp:
"Ông nhớ ngã ba Trịnh đấy chứ? Chỗ sông Chu sông Mã gặp nhau. Thế đất giống như cái ngai vậy. Cha ông mình nói nơi đây là cái đuôi rồng, chỗ phát nghiệp nhà Lê. Lạ lắm ông, nước sông Mã đang hùng hổ đổ xuống, đến đây thì hai bên bờ như hẹp lại, hãm hết sức nước lại. Câu hò vang vang trên những con đò dọc nhỏ nhoi mà kiêu hãnh:


Cầu lim, ván táu, song sào.
Rửa chân cho sạch, bước vào trong khoang
...
Sông Tuần một dải nông sờ
Hàm Rồng một dãy lờ mờ núi cao
Vui thay núi thẳm, sông sâu
Thuyền đi hai dãy như sao hôm rằm
...
Thâm trời còn nhớ trăng trong
Tuy thuyền ngái bến, nhưng lòng vẫn ngưn...

Cái giọng vừa mạnh vừa nặng, giọng không dấu ngã, như cái âm hơi nhiều cường lực bốc lên từ lồng ngực những con người mang tính khí thẳng mực Tàu, gần như là cực đoan trong tư duy, gần như là quyết liệt trong chiến đấu - người Thanh - của cụ Hồng Ân đã ngưng lúc lâu, thế mà Thẩm vẫn ngẩn ra. Anh thấy trong đôi mắt già thường ngày tươi vui vừa thoáng một vầng thâm trời - bầu trời u ám.

Cụ nói khẽ, gần với sự thầm thì:
"Tiếng Thanh mình ngưn là gần ngái là xa. Ngái quá rồi ông nhỉ, mà lòng mình có giây phút nào không nguôi cố hương!"

Một buổi sáng mùa Hè Thẩm đến chơi giữa lúc cụ đang đánh trần sơn cái giàn hoa trước nhà. Thẩm la lên:
"Chết, sao bác leo trèo thế kia."
Từ ghế cao ngó xuống, cụ cười:
"Hề hề... Ðời tôi đã làm lắm nghề. Sáng nay mới làm thêm nghề đi chợ đấy ông. Vớ được mấy con cá tươi lắm."

"Vâng, đây gần Newport Beach, thỉnh thoảng người ta có bán cá biển tươi."

"Không, cá sông ông ạ, striped bass. Có đứa cháu trên San Francisco hay xuống chơi, bảo trên đó có con sông nước lợ, có giống cá tôi vừa nói đấy, là quý ngư trên đời. Sáng nay đi hớt cái tóc, ghé qua tiệm hải sản không ngờ lại gặp quý ngư, tươi rói, cổ còn gắn cả nhãn kẽm đề chữ striped bass cẩn thận, tôi hớt mấy con về ăn thử xem sao." Cụ tụt xuống, đặt hộp sơn trên đất: "Ðám trẻ chúng đi làm cả, sơn dở sơn dang nom ngứa mắt quá, tôi làm thử luôn nghề sơn xem đã chết ai. Hề hề... đợi tôi chùi tay tí nhá!"

Lát sau hai anh em ngồi bên mâm trà, Thẩm mới thấy chẳng vì thế mà cái thùng sơn, cái chổi quét đã được cụ bỏ hẳn ngoài sân.

Cụ nói:
"Phải nói xứ này nó văn minh thật. Nghề nào cũng có, và trong cái rừng vật liệu biết chút nguyên tắc tìm cái gì cũng ra. Quê mình xưa coi thì lạc hậu, nhưng thực thì lại thể hiện một lối sống văn minh cách khác. Ông có biết xứ Thanh mình xưa có bao nhiêu nghề không ông?"

"...?"

"Dĩ nhiên là tương đối, là trong một giai đoạn nào đó thôi."

"...!"

"Quê mình sự hiểu biết đó họ gom hết vào ca vè ông ạ. Ca vè Ðường Bộ, ca vè Ðường Biển, ca vè Quả, ca vè Chim, ca vè Cá. Tôi nhớ không lầm xưa xứ Thanh có đâu độ mười tám nghề thôi. Ca vè Các Thợ cho biết vậy mà. Ðoạn nói về thợ sơn sao nhỉ? À...

Thợ sơn người thế trên đời
Sơn từ gác phượng, những nơi tường đào
Sơn lọng chóp bạc, sơn ngựa long châu
Gì nữa nhỉ? À...
Mùi sơn lạt, mùi sơn tươi..."

Cụ lại khựng, gãi trán. Thẩm nói vào cho đỡ trống:
"Ồ, nhiều năm lắm em lại mới nghe lại cái chữ mùi. Mùi là màu bác nhỉ?"

"Thì vậy. Nhưng biết bao giờ mới sơn lấp đi được cái mùi đỏ ấy!"

Hình như cụ còn muốn đọc thêm gì nữa, nhưng khi biết trí nhớ không chiều mình, cụ chắt lưỡi: "Cũng vì nhiều năm như ông nói mà tôi quên hết cả! Mà lạ, ông để ý xem, óc mình nó kỳ lắm, tên biển thủ thứ dữ đó. Gửi gì cho nó mà lâu lâu không thanh tra sổ sách là có ngày mất sạch. Giờ tôi quên nhiều quá. Uống đi ông, cái trà Bắc Thái mà kỳ trước ông bảo tôi uống nó rồi uống thứ khác không được nữa đấy!"

"Em mới lùng được ở phố Tàu một loại kỳ chủng thật hay. Ðể hôm nào..."

Cụ gật gù:
"Hề hề... nghĩ cũng lạ, sang cái xứ này cái gì cũng hảo hạng hết á. Trà có tuyển nó mới đem sang đây. Thế mà sao tôi vẫn nhớ nhung một bát chè lá Phú Ðiền ông ơi. Uống vừa thơm vừa bùi. Ngon không thể tưởng được!"

"Vâng, chả thế các cụ nhà mình đã không bảo ‘khoai ao Lang Xá chè lá Phú Ðiền!’"

"Ông còn nhớ!"

"Nào em có nhớ cái nước chè ấy cho cam, chỉ nhớ địa danh vì thủa bé cậu em hay cho sang chơi nhà ông chú bên Hậu Lộc."

"Ừ, đúng đấy, Lang Xá Phú Ðiền đều thuộc huyện Hậu Lộc, gần đền bà Triệu ấy mà."
 
Thốt nhiên cụ nhìn lung ra cái màu nắng sáng trên cây cỏ, dễ lặng đến lúc lâu, rồi mới thầm thì: "Biết bao giờ nữa, ông nhỉ?"

Thẩm góp tí lạc quan:
"Em tin thế nào cũng có một ngày về bác ạ. Hai anh em mình sẽ đi với nhau. Bác sẽ chỉ lại cho em những lối đi cũ, những con đê, những bờ sông, những đỉnh núi, những di tích lịch sử, và cả những miếng ngon nữa. Em tin bác còn nhớ cả!"

Cụ Hồng Ân nhìn Thẩm, giọng bâng khuâng:
"Ðường xá thì còn nhớ như in, chỉ có cái từng đó tháng ngày đày đọa sợ núi kia cũng đến mòn, sông kia cũng đến cạn, nói chi những miếng ngon. Nói ngay từ lúc còn ở Sài Gòn tôi đã lo lo như vậy ông ạ."

Rồi như muốn giấu một tình cảm, cụ thốt cười: "Mà thôi ông còn trẻ, chớ sa vào cơn mộng, vào cái mối lo kiểu lo bò trắng răng như đám già này làm gì, nguy đấy!"

Thẩm cười nhẹ. Anh không muốn nói với cụ điều suy nghĩ của anh. Ði là một hứa hẹn đem sự phong phú trở về. Non hai mươi năm qua người mình dấn thân vào thế giới ồ ạt như lũ người đi tìm vàng, anh tự biết mình có mặt trong đám người ấy, nhưng không thiếu lúc lòng nổi lắm hồ nghi. Anh cố tự hãm mình lại trước sự lạc quan quá đáng. Anh gom chuyện cũ như thằng bé tí hon gom những hạt đậu nhét túi và rải dọc đường. Anh muốn những lúc mệt mỏi ngoái nhìn ít lắm anh có được chút yên tâm. Mai kia mốt nọ tới lúc quay về anh sẽ không lạc, và bầy con anh hy vọng cũng nhờ đó mà không lạc. Giờ đường còn dài, chim trời sóc núi lại nhiều, anh đến với ông cụ là để xin thêm những hạt đậu bỏ túi đấy thôi!

Nhìn nét nghĩ ngợi trên mặt Thẩm có lẽ cụ Hồng Ân đoán được bụng anh, nhưng lái đi:
"Hôm nay ông đến chơi chắc phải có chuyện gì đặc biệt, ngày thường mấy ai mà rảnh thế này!"

Thẩm nhớ ra mục đích của mình, anh lôi trong túi ra một bao thư:
"Dạ vâng, hôm rồi em nhận được lá thư một người hàng xóm cũ mới sang định cư bên này. Ông ấy bảo bên nhà có gửi theo cho em đôi lá thư và tí quà. Thấy thư có chung khu bưu chính với bác. Họ còn cẩn thận dặn gần nhà có một khu chợ búa lớn chi đó."

"Ðây thì đâu mà chả có chợ búa. Ðâu đưa tôi xem nào."

Cụ cầm lấy bao thư xem qua, mắt hơi nhíu lại:
"Ở đây mười mấy năm rồi sao cái tên đường này nó lạ thế nhỉ!"

Cụ nhìn ra đường. Mười một giờ nhưng nắng vùng biển chưa lấy gì làm gay gắt. Gió ngai ngái. Những luống hoa muôn màu muôn vẻ như ngầm chứa sức lôi cuốn một cuộc dạo chơi cho những đôi chân nhàn hạ.

Cụ Hồng Ân chợt hỏi:
"Trưa nay ông rảnh chứ?"

"Vâng, hôm nay em cũng chẳng có gì bận."

"Thế thì tôi giữ ông lại dùng cơm trưa với tôi. Ðể bảo bà nhà tôi ra vườn nhặt mớ thì là nấu tí giấm cá ăn cho mát ruột. Trong khi chờ đợi mình thả bộ tí chơi, nhân tiện tìm xem cái nhà nó ở đâu."

Một già một trẻ vui chân thả dọc hết đường này sang đường khác. Ði như đi dạo nên chẳng ai quan tâm tới việc phải lục xem bản đồ. Cả hai vừa đi vừa xem hoa, xem nhà, vừa ơ hờ nhìn tên đường, nhìn thành phố vắng lặng.

Cụ Hồng Ân hỏi:
"Ông thấy nước Mỹ nó vĩ đại ở điểm nào nhất?"

"Em ấy ạ? Em thì em nghĩ cái vĩ đại nhất của nó là nó tiến được tới sự bình đẳng tiêu dùng cho mọi người."

"Cũng hay..."

"Thế bác nghĩ sao?"

"Tôi lại nghĩ láo rằng cái vĩ đại nhất của nó là nó xoá mờ được mọi ranh giới. Người ta phải tỉnh táo lắm mới biết được mình đang đứng đâu trước lằn ranh xưa với nay, sướng với khổ, chủ với nô trong cái đời sống mà như ông vừa nói đó, có sự bình đẳng tiêu dùng."

Mặt trời đứng bóng nhưng cuộc đi dạo vẫn chưa đạt kết quả sau cùng. Cụ Hồng Ân ra dáng sốt ruột.

Cụ bảo:
"Xưa cha ông mình hay mắng con cháu ‘Ðường ở đâu ấy à? Ðường ở mồm mày đấy!’ Sang đây trật lất cả. Hỏi đường phải hỏi bản đồ."

Trên trán cụ Hồng Ân nắng soi óng những giọt mồ hôi như hạt tấm.

Thẩm áy náy:
"Chắc bác mệt rồi, hay mình về đi, chút nữa em xem bản đồ tìm lấy vậy."

Cụ Hồng Ân đồng ý. Hai người lại quay về các lối cũ. Khi còn cách nhà độ mươi ‘lốc’ phố, cụ bỗng dừng chân, la khẽ:
"Ô, nó đây này!" Rồi cụ dáo dác nhìn ngược xuôi: "Tưởng đâu, hoá ra lại là con đường chạy vòng phía sau khu thương xá vùng tôi. Chết, chết thật!"

Thẩm dừng chân nhìn lên tấm biển tên đường. Bầu trời xanh ngắt. Nắng trời chang chang. Vài cánh chim bay qua buông mấy tiếng kêu thanh thản. Bất giác anh nhận ra trên khuôn mặt hồng hào của cụ Hồng Ân như thoáng một nét nhăn nhó, gần với đớn đau. Hay vì mải nhìn tấm biển cụ vừa va vào cây cọ to lớn sần sùi kia?

Anh lo lắng hỏi:
"Bác sao thế bác?"

Cụ lắc đầu, nhẹ thở dài:
"Khi không tôi lại chóng mặt ông ạ."

"Thế thì mình phải về thôi. Bác dùng cơm rồi nghỉ."

Cụ chỉ nhẹ gật đầu. Về tới cửa cụ dẫm chân trên tấm lót, quay nhìn quang cảnh quen thuộc trước nhà với một nét mỏng tư lự; nhưng rồi thật nhanh, bộ mặt hồng hào tươi vui cố hữu đã trở lại với cụ, và cụ chép miệng bảo:
"Hê hê... Thế ra mình đã sống láo cả! Quên phéng mất cái câu ‘Ở đây ăn bát rau chành, còn hơn chốn khác mâm gành cỗ gơ (*)’." Rồi cụ chỉ tay nhường lối: "Thôi mời ông. Trưa nay ta ăn món giấm cá và có lẽ cả hai phải cùng chú ý xem loại striped bass ở đây nó thơm thịt như thế nào."

Non hai tiếng sau Thẩm mới ra về được. Cụ Hồng Ân tiễn anh ra tận xe. Cụ xoa hai tay, cười đấy nhưng có vẻ bồn chồn, mãi khi anh sửa soạn đeo dây an toàn cụ mới đắn đo hỏi:


"Thật thì ông thấy thế nào?"

"Thưa chuyện gì ạ?"

"Thì cái giống striped bass?"

Thẩm cười:
"Dạ... Em thấy cũng vậy vậy."

Một luồng hạnh phúc như từ đâu sa vào đôi mắt cụ Hồng Ân, cụ đột ngột reo lên:

"Biết ngay mà! Nó chỉ beo béo vậy thôi phải không ông, bảo là quý ngư trên đời là láo, láo quá, so với cá Mè sông Mực chấm nước mắm Do Xuyên quê mình."

___
(*) Rau chành: Rau vặt vãnh; mâm gành cỗ gơ: mâm gỗ, cỗ được xếp thành nhiều tầng.
Alhambra 5-93

http://www.geocities.com/suthatcsvn/hts/cohuong.html
 
___________________
 

Hà Thúc Sinh – Tiểu sử theo Văn học Việt Nam Hải Ngoại

Các tác phẩm khác của Hà Thúc Sinh:

Hà Thúc Sinh - Đại Học Máu

Hà Thúc Sinh - Quyền của Lửa

Hà Thúc Sinh – Vài truyện ngắn

Thơ Hà Thúc Sinh

Nhạc Hà Thúc Sinh

Hà Thúc Sinh – Vài truyện ngắn trong thư viện Việt Nam Thư Quán


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 06:27:08sóng trăng>
[size=+2].[/size]
[size=+2][/size] 
[size=+2]ÐỜI THƠM NHƯ NGỌN ÐỒI ẤM[/size]
 






N hưng bao giờ chàng đi? Mà trời ơi làm sao chàng đi được lúc này, giữa khi trong họ ngoài làng đang chạy đua với thời gian để kịp ra báo xuân. Chàng làm báo ngày, điều ấy có nghĩa còn bận quá nuôi con mọn. Bài vở cho số xuân hạn chót là 15 tháng 12, hôm nay đã 11 mà bài về chưa đủ để sắp đầy hai phần ba cái mục lục, đã thế bạn bè đâu đâu cũng réo gọi. "Mười lăm này mà chưa có bài moa thẻo toa đấy!" một tên bạn đùa dai gọi doạ dẫm. "Trời ơi, anh hứa cho em cái truyện vào đầu tháng, nay 11 rồi." "Bận quá cậu ơi, tha cho tôi sống với!" "Í đâu được anh (xuống giọng), em hứa với thằng cha chủ nhiệm rồi, chắc như bắp, trời ơi không có là anh hại đời em!" Một ông bạn ỷ mình ở nước khác, hét qua điện thoại, "Bài nằm hết rồi, bộ ấp dzợ tối ngày sao mà không gửi tiếp qua, cha nội?" "Mệt quá ông ơi, cho tôi ốm ít kỳ đi!" "Í thiệt chơi đó cha? Ðừng thoọc léc anh em nghe, hổng cười đâu nghe!" "Bố ơi!" "Gì?" "Long distance kỳ này nó cảnh cáo đó bố?" "Sao?" "Nó bảo còn hai trăm nợ không trả 22 nó cắt, bố nhớ ký trả." "Ừ, sẽ trả." Lại một đứa khác. "Bố ơi!" "Hả?" "Bác Kiên gọi bảo cái gì thì cuối tuần này bố cũng rán sắp xếp đi họp, chuyện lập quỹ cứu trợ quan trọng lắm." "Bận chết cha chết mẹ đây, họp gì!" Và vợ chàng, "Anh à, tháng này gửi quà về bên nhà, deficit nặng, giờ làm sao có tiền mua sắm biếu xén Giáng Sinh đây." "Trời ơi thì em lo lấy, sao cái gì cũng anh vậy." "Í trời, bộ em vẽ ra tiền được hả?" "Thế chứ bộ anh đánh cướp nhà băng được hả?"


Cuối năm chàng điên người. Nhớ ban chiều ngồi ngoài quán cà phê, chàng đã nói ước sao đầu thập niên này mình sẽ thoải mái hơn, hiểu theo cái nghĩa tương đối, so với thập niên trước. Bạn chàng đã la lên, "Ơ hay sao lại tương đối, chứ bộ cuối thập niên trước ông không đang ngồi gỡ lịch trong tù cộng sản đấy ư?" Chàng thấy mình bị kê một cái tủ đứng ngay miệng, nhưng hữu lý quá, đành cười. Chàng lại nhớ cách đây hai đêm, nhân ăn cưới con gái một người bạn, chàng ngẫu hứng nói mấy câu với bạn, "Ðừng quên mười lăm năm nữa ông sẽ bảy mươi, sẽ vào hạng cổ lai hy." Câu nói dè đâu làm cả bàn rượu lặng đi trong giây lâu, giống cái chày đánh quá bạo vào chiếc chuông lớn gây một âm thanh không tao nhã, khiến lắm người bấy lâu tưởng là đã an cư lạc nghiệp, bỗng thấy mình chưa về tới nhà, còn lang thang trên đường mà trời lại sắp tối. Chàng về nhớ lại câu mình nói cả đêm mất ngủ. Xưa nay có bao giờ chàng lưu tâm đến chuyện tuổi tác, đâu mà phụ nữ đến thế, nhưng sao cái tiếng chuông vô tình đánh lên một lần trong bữa tiệc cứ vang vọng mãi. Chàng kém bạn dăm tuổi, và như thế, trời ơi, chàng tưởng tượng chỉ thêm một thời gian ngót nghét khoảng từ bảy mươi lăm đến nay, một thời gian bóng câu qua cửa, chàng sẽ là một kỵ mã ngã ngựa, sẽ không còn sức gượng đứng lên, sẽ phải than lại cái câu của Thành Cát Tư Hãn "Ta già rồi sao!" Ấy nhưng dường như vấn đề chính không nằm chỗ đó, mà nằm ở một chỗ nào đến hôm nay chàng vẫn chưa tìm ra. Chàng mang máng một cảm giác bất ổn, xót xa và đôi lúc có màu tuyệt vọng. Nhưng nghề báo vào khoảng thời gian này không cho cái tâm hồn đa cảm của chàng sống lâu, sống mạnh. Cơn buồn như cơn bão, ghé đánh te tua một trận rồi bỏ đi, kệ, mày muốn ra sao mặc mày. Nó mặc chàng, và chàng lồm cồm bò dậy, chạy mải miết với máy typesetting, với bàn lay-out, với những cú điện thoại, với thời sự, và với mối lo ngay ngáy về mọi vấn đề.

Nhưng thế nào năm nay chàng cũng phải đi xa một chuyến, đi bất cứ đâu. Chàng phải đi, đi như một cuộc du xuân, một lột bỏ. Ít nhất mùa xuân này chàng phải xa nhà, xa những cái hoá đơn, xa máy đánh chữ, xa tiếng điện thoại, xa hội họp, xa cộng đồng, xa cái tiếng chuông vô tình mà thô bạo và xa cả tiếng thở dài của ông Thành Cát Tư Hãn. Thế nào cũng một phen chàng bỏ tất cả lại, quăng hết sang bên, thoải mái như cậu bé bỏ báo ném cả một thế giới nóng bỏng vào một góc hè, rồi đạp xe đi, rồi thổi sáo miệng. Người võ sĩ giỏi không đánh một trận để chết, anh còn phải đánh nhiều trận; và như thế, thấy nguy đến nơi anh có quyền quăng khăn. Cuộc đời thuộc về kẻ còn sống. Chàng muốn sống và chàng phải đi xa, không thể nấn ná thêm nơi thành phố có cái sinh hoạt đáng ngại này. Thế là trong khối óc đa đoan của chàng càng tiến dần cuối năm càng như muốn thu hẹp lại nhiều vấn đề. Muốn nghỉ ngơi đúng hơn. Chàng muốn được đi xa một chuyến, nhưng không hẳn giống mấy năm đầu mới qua Mỹ, còn ăn trợ cấp xã hội, còn được những phương xa nồng nhiệt đón đến, nói, hát, hàn huyên những chuyện thương tâm ở quê nhà; chàng muốn được đến một nơi nào đó mà không phải ở nhà ai nhưng ở lữ điếm, ngày ngày lội bộ đi xem những lăng tẩm, những cỏ cây, những sông nước và núi non. Chàng sẽ tí toáy làm một bài thơ tình đầu tiên trong đời gửi về cho vợ.

Hay là mình trở lại Úc? Không, không được. Ở đấy gái mình đa tình quá, mà chàng thì tự biết mình đã đến lúc phải làm gương tốt cho đám con sắp tới tuổi ra đời. Mệt rồi, chàng không muốn giống vài anh bạn văn kia, nhiều chuyện quá chỉ cấy thêm tóc bạc trên đầu.

Hay mình sang Nhật, sang Nam Hàn hoặc Thái Lan? Không, sang mấy nước này dễ bị mang tiếng lắm. Tuần trước một bà bạn đến chơi đã đưa cho vợ chàng xem một bài báo nói về Thái Lan, có chạy ảnh một lô các chị đàn bà giơ cao những biểu ngữ "Thailand, not Thigh-land!" Bà ta nói, "Nè bà, lóng rày mấy chả rủ nhau đi du lịch các nước Á châu dữ đa. Coi cái tin này. Ðờn bà ở bển biểu tình chống tệ đoan xã hội dữ lắm, nói là chánh quyền đưa gái ra dụ du khách. Năm nay ổng có tính đi chơi đâu hôn?"

Hay là mình sang Trung cộng? Ðọc báo một anh bạn bên Tây, thấy anh ta tường thuật chi li chuyến đi Trung cộng mà bắt mê, dù một anh bạn khác xem tấm ảnh chụp anh chủ báo nằm ngả nghến trên bức trường thành, khó chịu đưa ra lời phê phán, "Khinh độc giả đến thế là cùng," dù chàng vẫn thấy ở cái khoe khoang của anh ta vẫn có cái gì thi vị. Cứ tưởng tượng được leo lên bức trường thành, trải tờ báo nằm vắt chân chữ ngũ, chi li nhớ đến thời hoàng kim của họ Tần, rồi lắng nghe dưới chân tường tiếng reo hò vang dậy của rợ Hung Nô, tiếng vó ngựa, tiếng gươm giáo, tiếng của tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi thì đã là thú vị lắm. Ôi một cuốn sử ly kỳ trải dưới lưng ta! Ồ nhưng mà không được, chàng chợt nhớ. Anh bạn kia dường như sang đó vào mùa hè, bây giờ cho dẫu tiết xuân nhưng hẳn thời khí miền đó chẳng tốt tí nào cho căn bệnh yếu phổi của chàng. Ðã thế, lão luật sư B. đã không một lần kể chàng nghe sự trục trặc của con trai lão đấy sao. Lão nói, "Bỗng dưng một sáng nó kêu thằng nhỏ nhà mình lên văn phòng giám đốc, bảo ngày mai mày phải rời khỏi khu này, xuống khu dưới. Thằng con moa sáu năm kỹ sư, rất chạy việc, tự dưng vô cớ bị hạ tầng công tác cáu quá bèn khiếu nại. Câu giải đáp sau đó là, ‘Chuẩn mức an ninh của anh không còn bảo đảm.’ ‘Sao, tại sao?’ ‘À, bố anh thường đi Trung cộng chơi. Không ai bảo ông ấy là gián điệp, nhưng...’ Thế là quýt làm cam chịu. Toa thấy cái cơ quan nó có láo không cơ chứ!" Chàng chẳng màng chuyện cơ quan NASA có láo hay không, nhưng câu chuyện của lão luật sư càng giúp chàng thêm lý do không bao giờ bỏ tiền đi du lịch các nước cộng sản. Chi vậy? Bộ thế giới hết cảnh đẹp rồi sao? Bộ máu người nơi Thiên An Môn chưa đủ tanh sao? Chàng không muốn trong đời có một cuộc đi chơi thiệt thòi từ cảm giác thiệt thòi đi như thế.

Hay là chàng làm một chuyến Âu du? Tiết Xuân bên đó cũng lạnh, nhưng nền văn minh đẫy đà của Âu châu không thiếu máy sưởi. Chàng sẽ xuống vùng Orlean đi thăm mọi ngõ ngách của cái thành phố có tiếng là thành phố của lâu đài này. Rất có thể chàng lại trở ngược lên Paris, chẳng phải để chui gầm cầu làm một anh clochard rởm như giấc mơ dở dang của vài anh thi sĩ Mít lai Tây, cũng chẳng để lang thang trên đại lộ Champ-Élisée nhiều phân chó, mà sẽ ghé đến phần mộ của người Victor Hugo để thầm thì với cụ rằng, "Cụ mà còn sống, cụ sang chơi nước tôi một chuyến thì phải biết, cứ mà viết được pho sách bằng năm bằng mười Les Misérables."

Chàng sẽ không nấn ná ở Pháp lâu. Biến cố đông Âu há không đủ là một hấp lực ghê gớm đối với chàng sao? Chàng sẽ đến Bá Linh, có thể bằng máy bay mà cũng có thể bằng xe lửa, và nhất định sẽ thăm bức tường đã mở ngỏ vào một sớm xuân. Chàng sẽ đón một cô gái đầu tiên từ phía đông Ðức thoải mái, tươi vui bước sang phần đất tây Ðức -- thành quả của một ý chí đấ?u tranh lâu dài chẳng của riêng ai, mà là của cả cộng đồng Âu châu muốn phá đi bức tường như phá sự sai lầm của một Yalta lịch sử, đã dìm cả đông Âu vào vực sâu cộng sản mà đông Bá Linh mới như một bàn tay vừa ngoi lên được vùng ánh sáng -- Chàng sẽ ôm lấy cô gái và hân hoan nói, "Claudia, mừng cho em!"

Nước Ðức có thần chiến tranh, có âm nhạc, có triết học và có nền văn minh cơ khí nhưng thực phẩm xuất sắc dường như chỉ có bia và xúc xích. Làm sao chàng có thể ở lâu một nơi chỉ có bia và xúc xích, vả bên Mỹ thiếu giống gì bia và xúc xích Ðức nhập cảng. Chàng muốn đến Ý. Chàng muốn thăm cái nền kiến trúc của gạch và ngói đỏ, muốn nhìn lần đầu và lần cuối ngọn tháp Pisa ngoài 700 tuổi trước khi nó đổ xuống, hoàn toàn trở về với cát bụi có thể trước khi chấm dứt thế kỷ này. Chắc là chàng cũng chẳng ghé cái colosseum nơi thành Rome làm gì. Còn đâu thứ hùng khí thiêng liêng của những chàng giác đấu, khi mà đến cỡ Lý Tiểu Long cũng từng nhảy vào đó múa võ Tàu đóng phim độ nhật. Nhưng chắc chắn là chàng sẽ ghé thăm thánh đường Sistine của điện Vatican. Ở đó người ta mới mất chín năm để trùng tu những danh tác của Michelangelo. Chàng tin mình có thể nghe ra được tiếng cười đắc thắng của nhà danh hoạ kiêm điêu khắc gia có cá tính sung túc như tóc trên đầu này. Sẽ có tiếng nói của ông ta vang vọng trên những vòm trần cao, "Cuối cùng, vẻ đẹp trần thế của ta vẫn hiển lộ!"

Mà chàng thì vốn yêu mọi vẻ đẹp trần thế, nhất là vào cái khoảng thời gian sắp Tết ta ở San Diego. Lúc ấy trời đã giảm lạnh đến mát như miếng thạch -- một cái mát còn đủ lý do cho các cô gái Mỹ phóng túng nhất vẫn giữ được vẻ kín đáo cần thiết so với ba tháng sau đó. Hoa vào thời gian này mới là đằm thắm. Nó làm đẹp lòng những kẻ như chàng: Yêu cái đẹp! Thật đấy, vào thời gian này hoa người hay hoa lá đều còn tươi trong những vỏ bọc muôn màu, chứ đã vào hè thì chúng nở toét như nhau, và vì thế, đôi khi chúng có làm hư hao đi sự tưởng tượng ý nhị trong tâm hồn vốn nhạy cảm của chàng. Trời ơi, cứ nghĩ đến vẻ đẹp của hoa giữa mùa xuân chàng lại rợn cả người. Trên đời này ai khước từ được cái đẹp của hoa? Chàng thì cứ tin rằng kẻ nào không ưa nhìn ngắm hoa, hoa nào cũng thế, đều là kẻ đã chạm vào lòng tự ái ghê gớm của Thượng Ðế. Chàng tự biết không bao giờ mình là kẻ dám nhân danh bất cứ điều răn nào để phạm vào lỗi lầm này, và như thế, chàng yêu tất cả cái đẹp, cho dù đó là một bầu trời xanh ngắt không mây, một tấm tranh ế ẩm bên đường, một đoá huệ đồng hay một cô gái có khuyết tật trên thân thể mà chính tự thân cô suốt đời mặc cảm.

Nhưng nếu không nên ăn mãi một món ngon để món ấy còn ngon, thì làm sao chàng có thể chiêm ngắm mãi những cảnh đẹp nơi đây mà cảnh ấy vẫn tiếp tục còn đẹp? Ðã ngót nghét mười xuân chàng sống chốn này. Năm nay chàng dự trù một chuyến đi xa để cứu chàng đang có triệu chứng lún sâu vào cái cảnh, cái người, cái vật đã nhuốm màu ủ ê. Chàng muốn ở một nơi xa nào đó, nghe thấy lời chúc Tết đẹp đẽ của vợ con qua ống điện thoại.
 



Khi phát hành xong mấy ngàn số báo xuân chàng te tua như Duran bị Sugar Ray đập đòn thù. Nhưng mãi đến lúc ấy chàng mới rõ không phải một võ sĩ cầm bằng mình thua mà đã có thể thoải mái quăng khăn. Chàng về nhà uống một lon bia, ngồi coi một đoạn phim "Tom and Jerry." Mấy đứa lớn cận Tết mẹ cho nghỉ học. Ðứa lau chân nến, đứa chùi phím dương cầm, đứa quét bụi và mạng nhện.


Thốt nhiên chàng nhớ đến Janice, đến dáng mát mẻ và dễ thương của cô ta. Cô là một nhà giáo, lại có chân trong hội thơ "California Poets in the Schools." Mấy hôm trước Janice ghé chơi tặng chàng một tuyển tập thơ do cô thực hiện. Tuyển tập mang cái tên hay hay: "World Winds" -- "Gió Bốn Phương." Các tác giả đóng góp thơ là những học sinh đang theo học tại các trường trung học đệ nhất và đệ nhị cấp tại San Diego. Janice dặn chàng xem kỹ để cho ý kiến, và chàng đã giật mình, đã suy nghĩ thật nhiều về bài thơ của một học sinh Mễ di dân tên là Juan Mendez.

Bài thơ có tựa "The Skin of a Woman" như sau:

Beige is the skin of a beautiful woman
It feels like the life of a rose
It looks like open land
and smells like wet hills.

Bài thơ ngắn mà nói được nhiều. Chàng đã ngẩn ngơ tự hỏi sao một thiếu niên mười lăm mười sáu lại làm được những lời thơ đẹp, lãng mạn và sống như thế. Bên cạnh bài thơ phơi phới của cậu bé Mễ di dân, đi từ một vùng đất có tự do có cơm áo đến một vùng đất khác nhiều tự do và cơm áo hơn, là bài thơ của một thiếu niên tị nạn Việt Nam. Cậu này viết gì? Ðây là một đoạn trong bài thơ "My House Was in the Countryside" của em Trần Ðạo:

... Under my pillow was a new shirt
that I had once worn during New Year’s Festival
I looked at my room again
The tears were falling on my cheek
I laid down and wondered
"What does my future hold?"...

Ðó có phải là thơ của những đứa trẻ không có tuổi thơ? Thế giới trước mắt em cũng u ám y như thế giới của chàng. Cũng chỉ có một căn nhà trong dĩ vãng, những bức tranh nhện bám, có căn bếp nồng mùi cá khô và bồ hóng, có cái rương của bố mẹ chứa những điều ẩn mật. Thơ như là chứng từ buồn thảm của kẻ nhận lãnh một gia tài không như ý. Thơ chỉ đầy những chán chường, những dấu hỏi what does my future hold? Thơ không có sự sống ngon ơ, không có cái nhìn tới tương lai đằm thắm như it looks like open land; and smells like wet hills.

Bất giác chàng thấy trần gian sẽ không còn nơi chạy trốn. Chàng nghĩ đã tới lúc phải làm cho mùa xuân đẹp lên trong trong tâm hồn lũ con chàng, tâm hồn những Trần Ðạo.

Một đứa lớn bật hỏi:

"Bố không sửa soạn đi xa năm nay sao bố?"

"Không."

"Sao thế bố?"

"Sẽ đi chơi cả nhà. San Diego thiếu gì cảnh đẹp."

"Thật hả bố?"

"Chứ sao. Bố sẽ đem cả nhà đi xem những cảnh đẹp nhất nơi vùng đất mình đã sống những năm qua. Bố sẽ giải đáp những thắc mắc của các con bằng sự hiểu biết chân thành của bố. Bố sẽ nói về quê hương, về làng nước, về những miếng ngon, nói tất cả trong mùa xuân này. Dư tiền, bố sẽ mua cho các con một giàn máy điện toán."

Những đứa lớn lặng lẽ lắng nghe và làm tiếp công việc của chúng, nhưng thằng út thì nhảy cà tưng sung sướng. Chàng ôm con vào lòng mà nước mắt bỗng dâng lên. Chàng hôn vào cổ nó, nói thầm với nó như nói với chính mình, "Bé ơi bố mới bạc nửa đầu, nhưng chẳng biết bố có còn dịp chữa lại được những thất bại dĩ vãng của thế hệ bố không. Nhưng trên hết đất nước luôn cần những tương lai đẹp của các con, mà tương lai không đến với những tâm hồn đầy bồ hóng ngày qua, chỉ đến với những tâm hồn biết nhìn hiện tại thơm như những ngọn đồi ẩm."

Gió xuân thổi mát sau hè. Khi không mà chàng ngây ngây. Rồi chàng thiu thiu ngủ khi lũ nhỏ đã kéo nhau ra chơi ngoài vườn  cỏ. Sau giấc ngủ ngắn chàng thấy như sức lực hồi phục trong từng gân máu. Bất giác chàng vui vui. Chàng nhớ trong cơn thiếp ngủ hình như có lúc chàng đã mơ thấy mình viết được một tác phẩm đẹp.



San Diego 12-90
 
 
 
___________________
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 06:19:56sóng trăng>
[size=+3].[/size]
 
[size=+3]QUYỀN CỦA LỬA[/size]

Kịch một cảnh ba màn


Nhân Vật:
(Theo thứ tự xuất hiện)
Kiệt: 42 tuổi, hành khất "cách mạng"
Tuấn: 45 tuổi, hành khất "ngụy"
Ba Thừa: 73 tuổi, tướng hưu
Nam Kha: 25 tuổi, cháu nội Ba Thừa
Hồng: 24 tuổi, con gái tổ trưởng tổ dân phố
Phấn: 22 tuổi, chủ quán nước bên đường
Kỳ: 30 tuổi, công an khu vực, con trai tổ trưởng dân phố
Nhiễu: 16 tuổi, con trai Cơ
: 51 tuổi, giám thị cải huấn, em tổ trưởng tổ dân phố
Nhân: 50 tuổi, đạp xích lô
Sách: 58 tuổi, giáo sư bỏ dạy, buôn vặt
Tư Diện: 42 tuổi, ký giả chuyển nghề phụ diễn gánh hát
Bích: 55 tuổi, tổ trưởng tổ dân phố, chủ hiệu phở
Vài nhân vật không tên
Hai công an quận
-------
 
 

Thời gian: Một ngày chủ nhật.
Không gian: Cảnh một đoạn đường Cách Mạng Tháng Tám.
Cánh phải sân khấu là hiệu phở nằm ngay đầu con ngõ. Tiếng nhạc. Khách thưa thớt vào ra.
Phía trong con ngõ nhà cửa chen chúc, nổi vượt lên là tháp một thánh đường nhỏ, hậu quả những vụ nhà cửa bao vây xâm lấn vô trật tự kéo dài hai mươi năm.
Giữa sân khấu là quán nước lề đường nằm dưới gốc điệp. Một phụ nữ khuân vài bàn ghế sơ sài tới bỏ đó, rồi tất bật bước đi.
Cánh trái sân khấu là đuôi một đống rác dài bò tới gần Ban Chữa Lửa Phường, cửa đóng im ỉm; phía trước, dưới mấy gốc trứng cá đặt một phuy sơn đỏ trầy tróc đựng cát, vài chiếc sô móp méo, dăm câu liêm dựng vạ vật.



Màn Một


(Giữa trưa. Nắng chói chang. Ô nhiễm. Dưới gốc điệp một anh phu xích lô đạp mặt phủ tờ báo ngủ ngay trên xe, kế bên có ông già câm điếc vá lốp ngồi chờ khách. Vài đứa trẻ vác súng cao su lùng chim sẻ đi qua, chửi tục như máy.
Hai gã ăn mày cụt chân - nhân dáng y phục tươm đúng tiêu chuẩn ăn mày "ta"- ngồi sát tường hiệu phở vừa tránh nắng vừa ơ hờ chờ đợi. Nhìn bàng quan người ta có thể gọi họ là "lão", văn vẻ hơn "trưởng lão cái bang". Thực họ chưa già đến thế, tuổi mới đủ chín để có thể đặt những phản cung về các lời khai, nếu có, của những công dân hạnh phúc mới trong một xã hội đã thấm bài kinh tế thị trường nửa mùa.
Một người tên Tuấn, người kia Kiệt.
Có con chó bông béo phị chạy tới ghếch chân. Ướt lưng, Kiệt vùng lên, la hoảng, tay quơ gậy. Con chó chạy tấp vào mấy thùng rác sau hiệu phở.)
Kiệt: (than lớn) Chó đái lưng người, thật hết nước nói!
Tuấn: Thêm vài giọt vào một đống phân, đáng gì mà toắng lên!
Kiệt: Tiên sư nó, điên tiết thế nào cũng có ngày tớ bã nó, tớ riềng mẻ nó.
Tuấn: (xoa đầu gối cụt nhẵn) Cha tổ trưởng tổ dân phố kiêm tư bản nhà tư bản phở, con trai công an khu vực, con gái cành vàng lá ngọc một bước thành bà lớn như chơi, nổi nóng đánh chó nhà quyền quý có nguy cơ cậu ăn riềng mẻ trước.
Kiệt: Thế ra tớ không được nóng cả với chó?
Tuấn: Còn phải hỏi.
Kiệt: Cậu cứ nói thẳng đi.
Tuấn: Lạ, cậu có thói ăn luôn thiếu hỏi luôn thừa.
Kiệt: Hừ, ra thế, mình không còn cả quyền nổi nóng với chó!
Tuấn: Cậu quên tiệt rồi. Cậu không hay bảo thang giá trị xã hội ta chỉ dành chỗ bám cho hạng sinh vật còn sản xuất? Nhắc để cậu nhớ mình đang ở nấc nào trước khi nổi nóng.
Kiệt: Nhưng bản tính tớ nóng, nóng là nóng, cần chó gì tự hỏi với không tự hỏi.
Tuấn: Lại còn cái bản tính nóng ấy nữa!
Kiệt: Lạ lắm?
Tuấn: Không, nhưng...
Kiệt: Sao?
Tuấn: Từ lâu tớ vẫn đinh ninh ăn cái tát thứ hai nổ đom đóm mắt của đời thằng chó nào cũng tắt ngấm cái nóng ấy từ khuya. Tớ không tin cái nóng sống dai trong bản tính. Tớ ngờ nó tồn tại do ý thức quyền lực.
Kiệt: Chết không chừa tật lý sự cùn!
Tuấn: Lý sự với cậu ăn cái giải rút gì, là kinh qua thực tế thấy thế, nói thế. Nổi nóng là phương tiện trưng diện tích cực phải có của kẻ vốn sở hữu thế ưu thắng nào đó trong các mặt đời sống, thường luân lưu theo chiều dọc, trên xuống.
Kiệt: Nói nghe chướng tai!
Tuấn: Hôn quân gõ vương quyền trên đầu tham quan, tham quan gõ quan quyền trên đầu sai nha, sai nha quật cái ruột tượng trên đầu dân đen, dân đen về vét túi vợ, vợ dân đen tức bụng gõ guốc trên đầu con chó lục niêu, con chó ức ra đái trên lưng thằng ăn mày.
Kiệt: Thế thằng ăn mày?
Tuấn: Quật bị rách bị.
Kiệt: Nhục!
Tuấn: Còn tính mặc áo gấm hoa nữa đấy! (chuông nhà thờ, Tuấn nhìn vào ngõ, rủ bạn) Ði thôi, lễ hai tan rồi. Hy vọng.
Kiệt: (lết theo bạn) Bảo lên bến tàu không lên, đến ăn chực chuột nhà thờ thì bõ bèn gì! (đùa lớn tiếng với ông già câm) Ðồng chí vá lốp ơi, giữ hộ tuyến này nhá, chớ để con chuột nào thoát thân, dù con chuột nghèo nhất!
(Tuấn và Kiệt khuất trong ngõ. Ba Thừa mặc bộ bà ba nâu khá mới, đi dép nhật, bàn tay phải đeo găng trắng đã ngả cháo lòng, râu dài, mặt vuông, khá hồng hào, chỉ mắt trái không nháy. Nam Kha mặc quần tây xanh, áo sơ mi trắng, đeo kính cận nặng, đi giầy da đánh bóng. Ba Thừa dẫn xe đạp, Nam Kha đi kế bên. Người vá lốp nhanh chóng lúi húi làm việc. Ba Thừa vào ngồi chỗ bàn ghế kê sẵn, nhìn lung ra đường. Nam Kha đến trước hiệu phở, dáo dác như tìm một người. Quay lại ngồi bên cạnh Ba Thừa.)
Ba Thừa: Hình như cháu muốn tìm ai?
Nam Kha: Từ hôm ông vào cháu bận quá, chưa kịp giới thiệu ông một người quen.
Ba Thừa: Chắc phải là một cô bạn gái xinh xắn?
Nam Kha: Dạ... là con ông chủ hiệu phở. Ông cũng là tổ trưởng tổ dân phố ta. Cháu tính vận động nhờ cô giúp nhanh cho ông cái hộ khẩu.
Ba Thừa: Cũng chưa gấp gì. Cháu cứ từ từ. (nhìn chiếc xe) Chắc phải thay cái lốp mới. Nom chiếc xe còn tốt.
Nam Kha: Cháu mới thay đâu ba bốn tháng nay chứ mấy. Chưa gì đã tã. (nhìn ra đường ổ gà, ngẫm nghĩ) Thế này thì vấn đề là phải thay con đường chứ không phải cái lốp nữa, ông ạ.
Ba Thừa: (sực nhớ) Mấy giờ cháu mới họp?
Nam Kha: Dạ ba giờ. Có anh bạn sẽ ghé qua đón. Ðỡ xăng.
Ba Thừa: Họp gì mà nhóm muộn thế?
Nam Kha: Các ông thành uỷ còn nhiều vấn đề quan trọng.
Ba Thừa: Hơn cả văn hoá?
Nam Kha: Ông biết! (chắt lưỡi) Nhưng không sao. Ngày nay kẻ bị coi rẻ là kẻ thoải mái.
Ba Thừa: Thoải mái? Cháu bảo thế nào là thoải mái?
Nam Kha: Dạ thì bụng bịu chân tay tương đối được thả lỏng. Hạng cơ quan nghiên cứu các vấn đề văn hóa dân tộc như chúng cháu giờ người ta chỉ còn quan tâm kiểm soát từ cổ trở lên thôi.
Ba Thừa: (nhăn mặt) Còn trẻ, chua chát làm gì! (tay trái mân mê bàn tay phải đeo găng, nói xa xôi) Thời trẻ còn đủ hai tay, lạ, ông từng ước mình có ba tay, bốn tay. Ðể làm gì? Hoá ra đó chỉ là tiếng đòi hỏi tham lam của lý tưởng. Giờ thế này, tuổi lại xế chiều, ông chỉ ước sao mình đừng mất gì thêm nữa. Một nửa người bình thường vẫn hơn không còn là người.
Nam Kha: (cười cay đắng) Thế không đầu có đáng gọi một nửa người bình thường không ông? Anh thiết kế cái này, anh cải tạo cái kia, chị chấn chỉnh chuyện nọ, chị bỏ đi làm lại chuyện đó. Ðấy là mệnh lệnh, những mệnh lệnh ban ra từ một cái đầu to tướng nhưng không hề biết cái này, cái kia, chuyện nọ, chuyện đó là cái chi chi. Biết bao đồng sự của cháu đã lặng lẽ đổi từ nổi giận sang thoải mái. Họ hoàn tất nhiệm vụ như bầy quái vật không đầu vì thừa biết những mệnh lệnh như thế không sớm ắt chầy sẽ được lập lại. Họ lôi những chồng biên bản khỏi ngăn kéo, xào nấu lại những tim óc, phương án, đề nghị, cho dẫu là cấp quốc sách để có được một biên bản mới cho một ngăn kéo mới.
Ba Thừa: (thở dài) Ông hiểu, ông hiểu thế nào là tuổi trẻ và cơn sốt nhiệt huyết. Nhìn đời có một mắt ông đã thừa khổ tâm.
Nam Kha: (ngẫm nghĩ, an ủi) Ông đã hoàn tất nhiệm vụ. Ông có quyền hưu dưỡng.
Ba Thừa: Làm sao gọi là hưu dưỡng khi lòng vẫn ray rứt, vẫn thấy đời mình như chưa dứt điểm một việc gì?
Nam Kha: (thăm dò) Nếu cháu không đoán sai, ông cũng có tâm sự gì... chua chát lắm?
Ba Thừa: À không, không hẳn vậy. Không đến nỗi gọi là chua chát. Nhưng cháu hỏi thế nghĩa là sao?
Nam Kha: Một đời cách mạng chưa hoàn tất, hoặc đã... hỏng sự?
Ba Thừa: (cười khỏa lấp) Nhảm. Ông không có ý ấy. Triết lý của ông thế nào? Chuyện qua rồi dẫu không ưng bụng ta đừng coi hỏng sự. Ông hay tìm cái điểm mạnh ắt có ở nó để mà, để mà...
Nam Kha: Tự an ủi? (lặng) Ông ạ, cháu muốn ông nói thật điều này, ông nói thật nhá!
Ba Thừa: (cười khẽ) Ðẻ ra bố mày lại đi nói dối mày à?
Nam Kha: Cháu biết ông xứng đáng hưu, nhưng có bao giờ ông còn mơ ước được làm lại?
Ba Thừa: Làm gì?
Nam Kha: Thì giá như không tìm ra điểm mạnh nào như ông nói, tình hình lại đòi phải có một cuộc cách mạng khác, rốt ráo và toàn diện...
Ba Thừa: (nhìn quanh, nhăn trán) Im! Nhảm!
(Người vá lốp ra dấu tay gọi Nam Kha. Nam Kha bước đến. Ông ta chỉ ruột xe giơ năm ngón tay. Nam Kha ngẫm nghĩ, gật đầu, quay lại chỗ ngồi.)
Nam Kha: (cười) Cái ruột nhảm hơn ông ạ. Thủng gì mà thủng... Mà sao ông từ chối trả lời cháu? (nhìn quanh) Nóng quá! Sao hôm nay cô Phấn mở quán muộn thế này, chưa có gì cho ông tôi uống. Hay mình vào hiệu phở?
Ba Thừa: Thôi, tốn tiền. (nhìn cháu) Tội nghiệp, mới đó cháu mồ côi cha đã hai mươi năm. Khốn khổ là cái xứ Miên. Mẹ cháu nữa, giờ không biết làm dâu nhà nào. Cháu hỏi tự dưng làm ông nhớ đến bố cháu quá. Hừ, nó cũng hay có lối hỏi chết người như thế. Rức đầu!
Nam Kha: Ông không trả lời, cháu cam đoan ông còn rức đầu nhiều nữa!
Ba Thừa: (mắng yêu) Bố mày, thằng bất mãn. Sinh sự sự sinh chỉ khổ vào thân con ạ. Mà ông giấu cháu làm gì. Ðấy cháu thấy, đảng, kháng chiến, giải phóng, rồi... (ngập ngừng) xét loại.
Nam Kha: Xét loại! Hừ, có phải là... là thanh trừng, là đồng chí đánh đuổi đồng chí, là cục muối cắn tư cục đường nuốt cả phải không ông?
Ba Thừa: Mày... Thì thế đấy, mà đời người hỏi được bao lăm, trải từng nấy thứ chưa chết cũng tóe phở ra, còn hơi sức nào mà tơ tưởng chuyện làm lại với không làm lại.
(Lặng lâu)
Nam Kha: Cháu hiểu. Chẳng ai vươn dài hơn tầm tay mình!
Ba Thừa: (cười cảm kích) Nhưng ông vẫn hy vọng.
Nam Kha: Hy vọng? Ông hy vọng gì?
Ba Thừa: Hy vọng ở các cháu.
Nam Kha: Một thế hệ có cái đầu niêm phong? Một thế hệ chỉ được phép trố mắt nhìn?
(Sân khấu ầm lên. Một toán công an sắc phục đuổi một toán thanh niên chạy băng qua. Có tiếng hò hét "Bắt nó!", "Bắn nó!". Súng nổ lốp bốp.)
Ba Thừa: Ăn cắp à?
Nam Kha: Có cả ăn cướp ông ạ. Ăn cướp đuổi giết ăn cắp. Chuyện thường tình thường ngày.
(Ba Thừa khẽ lắc đầu. Lặng lâu.)
Nam Kha: (đột ngột) Cháu lại hỏi thật ông điều này nữa nhá!
Ba Thừa: Sao cậu lắm chuyện thế?
Nam Kha: Không, cháu không hỏi để chơi, cháu hỏi để có thêm xương thịt cho bài tham luận của cháu.
Ba Thừa: Ừ, thì nói ông nghe.
Nam Kha: Làm sao để có niềm tin?
Ba Thừa: (ngẫm nghĩ) Hãy đọc sử.
Nam Kha: Cháu vẫn đọc sử.
Ba Thừa: Cháu đọc thế nào?
Nam Kha: Với niềm kiêu hãnh... vâng, cháu cố đọc theo chiều hướng ấy.
Ba Thừa: Vậy đủ chưa? Phải cả với nước mắt nữa, cháu ạ.
Nam Kha: (đứng lên nhìn ra đường phố, bất ngờ quay lại hỏi) Ông, có thật ông là... một người cộng sản?
Ba Thừa: (cắn môi, nghĩ lâu) Bố cháu đã hỏi ông câu ấy. Chính ông cũng tự hỏi ông câu ấy. Và ông đoán thế nào cũng có ngày cháu hỏi ông câu ấy.
Nam Kha: (quỳ xuống, hai tay đặt trên đùi Ba Thừa) Chắc hôm nay cháu có câu trả lời?
(Ba Thừa ngước nhìn tàn cây có tiếng sẻ non lạc loài. Thốt nhiên một bầy quạ bay qua, kêu inh ỏi. Ba Thừa vỗ nhẹ trên vai Nam Kha.)
Ba Thừa: Trước khi trả lời, ông cũng muốn hỏi cháu một câu.
Nam Kha: Vâng.
Ba Thừa: Giá như để cứu bầy sẻ phải giết hết bầy quạ, cháu nghĩ sao?
Nam Kha: Hoá ra ở bầy quạ không có điểm mạnh nào?
Ba Thừa: (nhăn trán) Cứ đáp đi, cháu nghĩ sao?
Nam Kha: Cháu không nghĩ sao cả, vì vấn đề là cháu không thích dính máu, và cháu không bao giờ muốn tay cháu dính máu!
Ba Thừa: (nắm hai tay Nam Kha, cùng đứng lên, giọng nghiêm hẳn) Thế máu dính tay cháu thì sao? Nhớ, cách nào đó, chưa kiên định thái độ thì khoan nghĩ cách mạng, ngược lại không là kẻ mộng du cũng là kẻ tự tử. (nhìn người sửa xe cắm cúi làm việc, giọng vẫn nghiêm) Còn đây là câu trả lời của ông. (chắt lưỡi) Tiếc bác vá lốp điếc tai để không cùng nghe với cháu. Ừ, đã bao đêm ông tự hỏi phải chăng đất nước mình thừa hạnh phúc, trời phải đẻ ra một thế hệ như thế hệ ông để nó được nếm mùi tai hoạ?
(Một người đàn ông trạc ngũ tuần lặc liễng vác dao đuổi theo một người đàn bà tứ tuần và một thanh niên ngoài đôi mươi. Người đàn bà và thanh niên tay ôm quần áo, gần như trần truồng, băng ngang sân khấu nhanh như đoạn phim câm ngắn.)
Ba Thừa: (ngơ ngác) Chuyện gì nữa thế?
Nam Kha: (ngán ngẩm) Chị ấy cháu biết. Mới bỏ dạy trên Nguyễn thị Minh Khai mấy tháng nay. Ông vác dao là chồng. Thương binh. Con một đàn.
Ba Thừa: Nhưng sao lại có cái cảnh tượng kinh thế?
Nam Kha: (thở dài) Miếng cơm và đạo lý, không biết rồi ai thắng ai!
Ba Thừa: Ðuổi giết nhau mà lặng như tờ, thật đời ông chưa từng thấy!
Nam Kha: (nói xa xôi) Chắc vì họ còn biết thế nào là nhục ông ạ.
Ba Thừa: Thế này thì khác gì ngoài thủ đô!
Nam Kha: Vâng, mặt này thì đất nước ta đã thống nhất từ lâu!
Ba Thừa: Cháu phải chạy báo công an.
Nam Kha: Cháu có cần chạy theo báo với gã thanh niên? Hắn là công an đấy.
Ba Thừa: Sợ có án mạng mất!
Nam Kha: (đứng dậy, bâng khuâng nhìn lên tấm biển Ban Chữa Lửa Phường) Ông ơi, chính đó là điều đã nung nấu cháu từ ngày tốt nghiệp nhận việc: Làm sao dập tắt đám cháy phát từ ngay giữa lòng sở Cứu Hỏa!?
(Một người cỡi xe gắn máy ghé đến. Nam Kha nhận ra bạn, vội bước tới dúi tiền vào tay người sửa xe, nói nhanh với Ba Thừa.)
Nam Kha: Cháu phải đi. Nắng quá ông đừng đạp xe. Ông về nhà nghỉ, mát trời hẵng hay. Chiều nay có họp khu phố, cháu cố về sớm.
Ba Thừa: Ðừng vội, ông đi thế cho. Nhân tiện làm quen bà con. Thế bài tham luận cháu đâu?
Nam Kha: (nhẹ vỗ bụng) Cháu nhốt cả trong đây rồi. Chiều nay nhất quyết cháu sẽ nói lớn tiếng nói của con người.
Ba Thừa: (ngẫm nghĩ, dặn dò) Dù sao họp hành nên tạo không khí điều đình thuyết phục.
Nam Kha: (cười) Kẻ thua mới điều đình thuyết phục, cháu chưa thua! (leo ngồi trên xe gắn máy sau lưng bạn, xe chậm lăn bánh.)
Ba Thừa: (đứng nhìn trời đất tư lự lúc lâu, tự nói) Nó không biết nó là ta nửa thế kỷ trước! (thở dài) Cháu ơi cháu quyết chống lại bản năng con người, nhưng cháu có biết hay không bạo lực guồng máy vẫn là tên vệ binh ác hiểm ngoan cường của nó!?
(Người sửa xe ra dấu hoàn tất. Ba Thừa vừa thong thả dẫn bộ vào cánh gà, vừa cảm khái ngâm thơ. Loa phóng lớn rồi nhỏ dần hai đoạn thơ của Thái Dịch.)
...
Lòng sống chết buồn vui bừng nổi dậy
Thoắt lăm le như giục người chọn lấy
Năm nghìn năm làn máu bén dạt dào
Sóng lớp lớp rượu ba tuần thủa ấy
Tiếng vang vang như thần kêu quỷ hét
Trời ngập ngập như quân khiêu tướng thét
Gọi quá khứ vị lai những u hồn
Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết
Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết
...
(Tuấn và Kiệt từ trong ngõ lết ra.)
Kiệt: (nhìn về hướng Ba Thừa) Lạ, ai nom giống thủ trưởng Ba Thừa. Giống cả cái giọng ngâm.
Tuấn: Ba Thừa là ai?
Kiệt: (lẩm bẩm) Mà bệ rạc quá... chắc không phải... (quay lại với Tuấn) À...à... là chính ủy sư tớ thời giải phóng Sài Gòn. Lạ, có đứa bảo đã nảy sao, có đứa lại bảo từ dạo Campuchea về đi tướt sớm. Cậu thấy có phải ông ấy không?
Tuấn: Ơ, quên lý lịch tớ thật đấy chứ?
Kiệt: Ừ quên, cậu ngụy; (bần thần một lát) mà này, cậu với tớ đồng tồn tại trong hoà bình từ bao giờ nhỉ?
Tuấn: Từ buổi chúng mình lần lượt bị huỷ.
Kiệt: (bâng khuâng) Tuấn, có bao giờ cậu tự hỏi vì sao chúng mình bị huỷ tàn nhẫn?
Tuấn: Không, tớ không tự hỏi bao giờ, kể từ ngày ấy.
Kiệt: Ngày nào?
Tuấn: Ngày tớ hiểu ra người lính chỉ là một sản phẩm. Người ta tạo được sản phẩm thì huỷ được sản phẩm.
Kiệt: (lặng) Ngày ấy chúng mình còn chí chóe giết nhau. Mới đó hai mươi năm.
Tuấn: Vì lẽ phải, vạn nhất.
Kiệt: Chắc tớ khác đấy!
Tuấn: Cậu tự hiểu.
Kiệt: Hừ!
Tuấn: (ngẫm nghĩ) Này!
Kiệt: Gì?
Tuấn: Có thật cậu tin tự ái làm tăng thể giá con người?
Kiệt: Ý gì đây?
Tuấn: Các cậu mặc cảm chuyện trao gươm nhầm tướng cướp! Ðừng nếu đã. Giá có Bao Công ông ta sẽ phán đó không phải cái tội, chỉ là cái lỗi, dù cái lỗi chết người.
Kiệt: Ðây đếch mặc cảm tội lỗi gì sất!
Tuấn: Chớ nói với chính cậu câu đó, hóc đấy! Nhìn lại cậu đi, thân tàn ma dại đến thế chưa đủ minh thị xác nhận hậu quả một cái lỗi chết người? (thở dài) Mà xét cho cùng chính tớ cũng bị lừa. Lẽ phải không biện minh nổi cho thảm kịch. (đổi giọng khuyến khích) Mà thôi, cậu bò theo coi đúng cố nhân không, đúng, trình diện xem có được gia ân tí chi chăng?
Kiệt: (giọng khinh bạc) Nhục!
(Lặng lâu)
Tuấn: (nhìn sâu vào mắt bạn) Cậu sợ?
Kiệt: Cái gì?
Tuấn: Tớ có cảm tưởng cậu sợ.
Kiệt: Sợ cái gì?
Tuấn: Có, cậu sợ, sợ rõ ràng. Một cái sợ sâu thẳm. Cậu biểu lộ nhưng với chó cậu sẽ không dám ra tay, và với người cậu sẽ ngại đối mặt. Ðại khái thế.
Kiệt: (khó chịu) Ðã bảo tớ còn cái đếch gì mà sợ!
Tuấn: Ðêm thâu, biển động, tàu chìm, không tín hiệu cấp cứu, thấy thuyền trưởng còn sống người thuỷ thủ vẫn đỡ run.
Kiệt: Dễ cậu khác?
Tuấn: Khác, hai mươi năm chớp bể mưa nguồn, một ghe một chèo, đến khái niệm tì tựa tinh thần cũng không còn.
Kiệt: Thôi đừng lý sự nữa, ngứa tai lắm!
Tuấn: Riêng cậu trong tâm tưởng vẫn bị ám ảnh còn một thuyền trưởng đâu đó, như ông kia chẳng hạn, dù có thể ông ấy đã xóng xoài như một thây ma.
Kiệt: (cáu) À, thế ra cậu muốn tớ đê tiện hơn. Rồi, tớ sẽ đê tiện hơn. Tớ sẽ đến bấu vào cái thây ông thuyền trưởng của tớ (vơ chiếc mũ rách dợm bò tới.)
Tuấn: (giữ lấy bạn) Ðùa đấy. Nhưng đừng sợ nếu lỡ sợ. Dẹp được sợ hãi mới mong hiển thánh.
Kiệt: Nghe mà kinh. Cứ làm như tử đạo gì đó đến nơi.
Tuấn: Biết đâu! Chân lý lắm khi cũng nghèo túng, cũng cần đến sự tử đạo thậm chí của tên ăn mày! (đốt thuốc, rít một hơi, trao cho Kiệt) Thôi hút đi, giữ cho tớ hơi sau cùng.
(Lặng lâu)
Kiệt: (nhả khói, giọng vui trở lại) Mà này, hỏi thật có khi nào cậu để ý tướng nước ta?
Tuấn: Tướng nước ta là tướng nào, tướng Ðinh Lê Lý Trần hay tướng nay, tướng cậu hay tướng tớ?
Kiệt: Tướng xưa không thông, tướng cậu không thấy, nói thế quái nào được, nói là nói tướng tớ kìa.
Tuấn: Ờ thì tướng cậu, sao?
Kiệt: Sống dai thần tình!
Tuấn: Cũng chết khối.
Kiệt: Là nói đa số, chứ tranh xương cắn chết nhau nói làm đếch gì.
Tuấn: Chắc không có khiếu dùng chữ nhục vớ vẩn của cậu; mà thế, chà, lấy cớ gì cho cái nhân trung nó teo tóp lại? Dù sao họ có ích cho họ tuy không có ích cho ai.
Kiệt: Nếu là ông ấy, nom thế kia chắc đã vô ích cho chính bản thân. Thiếu thể thống quá!
Tuấn: (cười) Thể thống à? Phải ý cậu là chuyện tiền hô hậu ủng, chuyện chiếc ghế bành, bộ đại cán gắn đỏ huân chương, hiếu hỉ đến nói tiếng tây tíu tít ở nhà quốc khách? Hoặc dán dép râu vào chân, dán nón cối vào đầu, tay giơ cao thẻ đảng hô hoán khẩu hiệu trên một khán đài danh dự? Khác hết rồi cậu ơi! Thời nay thể thống gọn lắm. Nó có thể rúc trong nịt vú những chị em ta, chui trong bụng béo những bà mệnh phụ, ngủ im ỉm trong tủ sắt những nhà lãnh đạo... Ðó, nó đó, có nó sẽ tha hồ nghe những lời tán tụng chân thành: Ôi, thể thống!
Kiệt: (khoa tay) Thôi thôi, đứa nào thể thống hay không thể thống mặc xác nó. Rức đầu quá!
Tuấn: Tưởng tớ thối đến vẽ chuyện đi bênh cái ông thuyền trưởng mất thể thống của cậu? Chẳng qua chủ quan tớ thấy nhân cách và thể thống không hề có tính nhân quả. Và mình sẽ biết ngay một kẻ thế nào khi họ thò tay chọn một trong hai thứ đó!
Kiệt: (chịu đựng) Nếu ở hoàn cảnh tớ cậu tính sao?
Tuấn: Hoàn cảnh gì?
Kiệt: Thì gặp lại một thủ trưởng cũ, (chỉ tay) đại loại thế kia.
Tuấn: Cậu nói chuyện kiếp sau?
Kiệt: Thì cứ giả dụ thế đi!
Tuấn: Chắc phải hơi dài dòng.
Kiệt: Hừ, bệnh mãn tính của cậu. Ðã quen, không sao!
Tuấn: Tốt. Trong đủ thứ sính, tớ thấy cách mạng các cậu có một thứ sính phổ thông hơn cả là sính dùng cụm từ "có tình có lý". Tình và lý được hô hoán nơi nơi như một nguyên tắc chỉ đạo căn bản trong việc ứng xử.
Kiệt: Ðiều ấy sai?
Tuấn: Lý là sản phẩm của bộ óc, có tính quy ước, tính cục bộ, tính khả quyết và không thiếu lúc, hà... hà... tính khả ố nữa. Tống cổ cậu ra đường là một cái lý. Tớ ngoại cuộc nhưng cứ nhìn hiện tượng tớ có thể cho là cách mạng rất trọng lý. Dầu sao chuyện cậu xù cách mạng hay cách mạng xù cậu, cho nghiêm chỉnh trường hợp này cần một cuộc đối chất.
Kiệt: (nóng nảy) Trời cao nhìn xuống đất dày ngó lên, nó xù tớ!
Tuấn: Cậu đã tự xác định chỗ ngồi trong hàng ghế nạn nhân, tốt, thế dễ cho tớ khẳng định hơn.
Kiệt: Cậu khẳng định sao?
Tuấn: Tổ tiên ta phản động!
Kiệt: Lại có chuyện đó nữa?
Tuấn: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình! Di ngôn như vậy chạy tội vào đâu? (lặng) Trở lại câu hỏi ở vào hoàn cảnh cậu, à, tớ sẽ đáp rằng... thiếp không để xấu chàng!
(Người sửa xe câm điếc lặng lẽ thu dọn đồ nghề, đứng lên nhìn trời, vươn vai. Cầm thùng dợm bước, nghĩ sao dừng chân, buột miệng.)
Người sửa xe: Ðược. Thế mới là có trước có sau!
Kiệt: (giật mình) Trời đất, ông không câm à?
Tuấn: Và ông không điếc à?
Người sửa xe: (đủng đỉnh bước đi, đáp dửng dưng) Còn tuỳ!
Kiệt: (ngó lom lom theo người sửa xe khuất sau cánh gà) Ðếch hiểu nổi cuộc đời. Ðếch hiểu nổi con người. Nó y cái bụng mình!
Tuấn: Lại đói?
Kiệt: Thì thế, sáng đã làm một ổ bánh mì tướng mà giờ chạy đâu cả. Tôi tối mát trời có mớ xẩu gặm cậu hả, con tì con vị nó lên nước trời.
Hồng: (mặc đồ bộ màu xanh lá cây, từ ngõ bước ra, nhìn quanh như tìm một người, chợt thấy hai gã ăn mày, khẽ gắt) Này hai ông nỡm! Chủ nhật sao cứ ám quẻ ngay hiệu người ta, chỗ khác hộ đi!
Tuấn: Vâng, xin đi ngay, cô chủ.
Hồng: (nhác thấy con chó bông, bế lên xoa đầu, nựng) Chị đã bảo đừng chạy rông mà cứ cãi chị. Bị bắt cóc rồi làm thế nào. Ối giời ơi xem mồm mép này, đã một bát thịt còn đi gặm xương mút xẩu cho bẩn!
Kiệt: (cay đắng) Ðúng tác phong bà lớn tương lai!
Tuấn: Ca bài con cá đi!
Kiệt: Nhục!
Hồng: (quay lại, gắt) Nhẹ không muốn muốn nặng phải không, mắng ai nhục đấy?
Tuấn: (lúng túng) Dạ... bất đồng tí chuyện mắng nhau đấy thôi. Chúng tôi đâu dám hỗn với cô chủ.
Hồng: Anh đấy, anh lẻo mép lắm, thôi đi đi, ban ngày ban mặt hàng quán thế này, bố tôi thấy các anh, ngứa mắt lại sinh chuyện. Xin xỏ gì để khuya. (chợt dịu giọng) Mà nãy giờ hai anh có thấy một người trẻ trẻ, đeo kính cận dày ghé qua đây không?
Kiệt: Dạ không. Nhưng nếu sẽ thấy chúng tôi làm sao phi báo cho cô?
Hồng: (nhìn người ăn mày bật cười khẽ, nghĩ sao móc túi dúi cho Kiệt mấy tờ tiền lẻ) Chân cẳng thế kia còn phi với lại chả phi. Giỏi làm ơn phi ngay sang phía bên kia ngồi hộ tôi.
Tuấn và Kiệt: (đồng thanh đùa) Xin chấp hành lệnh thủ trưởng!
(Có tiếng gọi trong ngõ vẳng ra. Hồng bế con chó quay vào. Hai gã ăn mày lết sang Ban Chữa Lửa Phường, ngồi nấp sau cái phuy có tàn trứng cá tránh nắng. Cặp loa treo trên cột điện đầu ngõ thốt trổ một bài quân hành ầm ĩ, rồi những thành quả với nhiều con số đạt chỉ tiêu trích từ nhật báo được một giọng nữ hăm hở xướng lên, sau cùng là bản thông cáo họp dân phố với giờ giấc và nơi họp được quy định.)
Kiệt: (nhặt mấy quả trứng cá rơi dập, chùi bỏ miệng) Lạ, sao lâu nay cái nghiệp vụ bới rác biến mất!
Tuấn: Thì thời mở cửa có lắm thứ bới thơm hơn!
Kiệt: (khoa tay xua ruồi) Cứ thế này thành núi. Hôi quá! Và ruồi, một biển! (ngước nhìn cặp loa, thốt gầm to) Cả chúng mày, đít đĩ thối, bao giờ chúng mày mới thôi lạc quan, thôi hồ hởi phấn khởi cho tao nhờ?
Tuấn: Cậu nhiêu khê nhỉ! Quên rác quên ruồi quên loa đi. Rán ngủ tí đi. Tớ cần tí mơ và có ngủ mới mơ được.
Kiệt: Lại còn mộng với mơ!
Tuấn: Bị hủy nhưng mình đã chết đâu! Mơ mới là quyền không ai cướp được.
Kiệt: Tớ không có quyền nổi nóng với chó nhưng cậu thì có quyền mơ. Tiêu cực khác mẹ gì nhau?
Tuấn: Khác, vì chỉ trong giấc mơ cậu mới tha hồ được vung gậy đập chết mọi loài chó ô nhục, và phục hồi được niềm tin cậu là kẻ tàn tật xứng đáng.
Kiệt: (chép miệng) Khát quá, thèm ly trà đá chanh đường quá!
Tuấn: (giơ ra cóng nước lạnh) Uống tạm đi, mà này.
Kiệt: Gì?
Tuấn: Có bao giờ cậu mơ vợ chưa?
Kiệt: Vừa phải thôi!
Tuấn: Thật đấy... nếu cậu không quá câu nệ chuyện môn đăng hộ đối, chuyện anh hùng tên lửa giai nhân bán chè, để cô Phấn đến tớ sẽ liều hỏi cưới cho cậu. Suôn sẻ ăn hút có mà tha hồ.
Kiệt: (nằm xuống, cố một tiếng cười khẽ, mệt mỏi) Hừ... hừ... Lại đùa đểu!
(Kiệt xoay mình sang bên. Tuấn chợt thấy ngay cạnh một con sẻ gẫy cánh, nhặt nhanh, cân nhắc, bỏ bị. Gã xoay nhìn bạn, rồi nhìn lên tàn cây, mỉm cười trước khi lặng lẽ nằm xuống. Thật mau hai gã ăn mày cùng thiu thiu ngủ. Màn.)


Màn Hai


(Giữa sân khấu. Năm giờ chiều cùng ngày. Ngớt nắng, bớt xe, bầu khí vẫn ngột ngạt.
Phấn bán quán có nét tự tin của kẻ hoặc có chút trình độ văn hóa, hoặc đang được sở hữu một sức mạnh ngầm. Cô đang dọn hàng ra. Kỳ đeo kính dâm, quần áo nhầu như mới chui ra từ một sòng bạc, bụng lận súng, cung cách lạnh lùng, tiện tay giúp Phấn sắp lại mấy chiếc ghế. Phấn liếc nhìn anh phu xích lô và hai gã ăn mày. Họ vẫn ngủ. Cô thấy yên tâm cách vô cớ. Kỳ tự rót tách nước, ra ngồi nơi bàn đốt điếu thuốc ba số 5.)
Kỳ: Hôm nay mở muộn?
Phấn: (nhanh tay dồn mấy gói thuốc lẻ vào nhau) Nhà máy nước đá khi không bảo hỏng, thiên hạ than trời.
Kỳ: Hỏng gì! Có tin đồn quốc doanh trở lại, bọn tư doanh nó muốn dở chứng đấy! (ngẫm nghĩ) Mà sao em không bảo? Hiệu phở anh tậu máy chế nước đá đã cả tháng.
Phấn: Ngại lắm!
Kỳ: Ngại gì, đây đó mấy bước.
Phấn: Ðôi khi chỉ một bước mà khó vượt đó anh!
Kỳ: Em câu nệ quá sau khó hoà thuận.
Phấn: (đỏng đảnh) Sau là sau thế nào, cứ như...
Kỳ: Còn cứ như gì nữa, hay định xét lại?
Phấn: Hứ, xét lại thiệt ai, có điều...
Kỳ: Sao?
Phấn: Gì thì cũng còn một biên giới, chưa tới lúc... (nói lảng) Chắc tâm tư tình cảm có gì biến chuyển, cô Hồng lúc này nom đẹp dội lên.
Kỳ: Ðang tính hỏi tội nó đấy. Thời buổi này đi vớ cái thằng nhai chữ.
Phấn: (ngạc nhiên) Ơ cái anh này!
Kỳ: Vấn đề là bố anh không ưng. Và hơn thế anh không thuận.
Phấn: Thế giá như bác trai không ưng em?
Kỳ: Tính anh quen nói tiếng nói sau cùng!
Phấn: Chuyện mình đã non năm, bao giờ em được nghe tiếng nói sau cùng ấy?
Kỳ: (lảng chuyện khác) Có gì lạ không?
Phấn: Lạ gì ạ?
Kỳ: À thì dân tình.
Phấn: (sực nhớ) Anh vừa bảo vụ quốc doanh. Nhớ hôm qua ông Ba Thành với đám bạn có ghé uống nước, than nếu lại bị quốc doanh ông ấy sẽ gỡ sạch máy móc bán đồng nát cho bõ ghét.
Kỳ: Thằng ấy muốn còng đầu. Hắn nói với những ai?
Phấn: (giãy nảy) Thôi ông ơi là ông ơi, toàn khách quen của tôi. Ông đập chuột kiểu đó vỡ nồi nhà tôi mất.
Kỳ: (cười) Mâu thuẫn nhỉ! Nhưng có thế mới sớm có cơ hội vào ăn nồi nhà anh. Mà chuyện mấy thằng ruồi lằng ấy thôi để bữa khác. Ðang rối đây.
Phấn: Gì mà rối?
Kỳ: (đắn đo) Bà anh lại trở bệnh nặng, sân nhà không họp được, chả nhẽ kéo nhau ra hiệu phở mà họp. Chú Cơ đã hứa chiều ngưng sòng cho mượn chỗ, sẽ bù đắp tử tế, loa đã loan inh ỏi mà giờ nhà ông ấy đang hoá thành cái hoả ngục.
Phấn: Chuyện gì vậy?
Kỳ: Lão trưởng ban sang mách thằng Nhiễu vào Ban Chữa Lửa Phường đột mấy thùng dầu hoả.
Phấn: Trời đất! Ban Chữa Lửa đi chứa dầu hỏa?
Kỳ: Em lạ gì. Thời nay lòng tham thằng nào không to ngang tính bất lương của nó.
Phấn: (phân vân) Lạ, gần đây Nhiễu nó lớn vượt, ra dáng thanh niên lắm, gặp đâu chào đấy, thấy thêm chững chạc.
Kỳ: Không, thêm quỷ quái. Nó giả thị giả lệnh đấy. Mà nói cho cùng lỗi ở bố nó. Mở sòng bạc đâu không mở mở ngay trong nhà. Giáo viên văn hoá gì mà vụng tính.
Phấn: Nghe người ta xì xầm anh đứng phía sau?
Kỳ: (nhăn nhó)Baø nội anh con yêu con ghét. Hở tí là kể lể "chú nó nhà giáo chân chỉ hạt bột, hai thằng lớn đã theo chân ông hy sinh cho cách mạng, anh em cháu chắt quyền cao chức trọng, giàu sang phú quý chỉ biết cái thân". Thử hỏi em anh lờ mà yên với cụ? Rốt cuộc phải rán đưa lưng chịu trận cho ông ấy yên với đám phường quận.
Phấn: (nói mát) Tội không, thế ra chàng của tôi phải đưa lưng hứng cái việc một người làm quan... (nhìn một vòng) Chiều đến nơi rồi, giờ anh tính sao?
Kỳ: Thế em?
Phấn: Sao lại em?
Kỳ: Giá dụ nhờ quán em làm chỗ họp có bất tiện không?
Phấn: (nhíu mày)Chỉ ngại người ta thị phi tổ dân phố đi họp đầu đường xó chợ, chứ họp ngay quán em chỉ lợi cho em, thiệt gì.
Kỳ: (đứng lên xoa tay) Tốt, vậy để anh về bảo cái Hồng lên máy. Phải thông báo địa điểm họp mới ngay kẻo không kịp.
(Kỳ vừa quàng bước đi thì Nhiễu từ trong ngõ chạy ra, dáng tức giận, mặc quần bò áo thun, chân đi giầy lười, tóc khá dài, mặt mũi không đến nỗi. Phấn chận lại.)
Phấn: Gì mà như chạy giặc vậy Nhiễu?
Nhiễu: (hậm hực) Ông già em muốn tuyệt tự đó chị, bằng không chắc muốn ở tù!
Phấn: Nhảm. Mà làm sao?
Nhiễu: Sợ thằng già chữa lửa đi tố sòng bạc, ông ấy tìm giết em.
Phấn: (kéo Nhiễu ngồi xuống chiếc ghế khuất sau tủ thuốc) Có chị, để chị nói cho. Chị đã biết sơ vấn đề. Mà em có... có lỡ dại làm chuyện ấy không?
Nhiễu: (nhìn nhanh vào mắt Phấn, cắn môi) Ăn cướp còn được tiếng bản lĩnh. Ai thèm ăn cắp. Mà đây cũng không hẳn ăn cắp nữa.
Phấn: (cười thông cảm) Chỉ mượn đỡ?
Nhiễu: Có gì cho em uống không? Bị đuổi chạy ngất ngư.
Phấn: Có lỗi thì nhận, sao phải chạy.
Nhiễu: Chịu hết nổi cái thói gia trưởng độc tài! Giời ơi cứ làm như em ngu lắm. Em đi guốc mộc vào bụng.
Phấn: Hỗn! Cha nghiêm con nên người.
Nhiễu: Chị tin thế? Em cũng từng tin thế. Nhưng giờ em hiểu. (cười khẩy) Nghiêm kiểu bố em chỉ là cách ghì lấy một sức mạnh không còn!
Phấn: Thôi ăn bát chè đi, (đặt bát chè đậu đen trên bàn) rồi về xin lỗi bố; cần, chị đi theo.
Nhiễu: Xin lỗi một kẻ cầm dao đuổi giết mình? (nhìn bát chè, gãi trán) Em không sẵn tiền.
Phấn: Vẽ, chị mời. (vừa dọn hàng vừa hỏi tiếp) Thế em lấy mấy thùng dầu làm gì?
Nhiễu: (húp bát chè một hơi, đặt xuống) Mới đầu, thật đấy, em chỉ tính lấy... cho mấy nhà nghèo.
Phấn: Chị tin em được không?
Nhiễu: Hỏi thế chị đã không tin. Cũng chả sao. Thời nay ai tin ai. Bố con em còn chẳng nữa là. (đứng lên, đột ngột đổi giọng quyết liệt) Giờ em đã đổi phương án!
Phấn: Phương án gì?
Nhiễu: (nghiến răng)Em sẽ đốt nhà thằng Ba Bạnh chữa lửa tham ô nhũng lạm, đốt luôn sòng bạc của bố em. Em tởm lắm rồi chị biết không. Ra vào suốt ngày toàn một bọn... một bọn...
Phấn: Hiểu!
Nhiễu: Chị hiểu gì?
Phấn: Thì bọn cờ bạc.
Nhiễu: Ðầy quyền và đầy tiền nữa. Cái bọn người ta gọi là chuyên gia đục khoét ấy. Chỉ bố em và anh Kỳ đi phục vụ họ. Ðốt, có dịp là em đốt, đốt tuốt, nhất định rồi.
Phấn: (hoảng hốt)Ối trời đất em nói thật hay nói chơi? Mà em cất mấy thùng dầu ở đâu?
Nhiễu: Thôi, chị chớ dây vào!
Phấn: (nghiêm giọng) Nhiễu!
Nhiễu: Thương chị nên em van chị đừng có dây vào.
Phấn: Nhưng chị chỉ muốn biết chỗ em giấu mấy thùng dầu.
Nhiễu: (ngẫm nghĩ, chỉ đống rác) Lật ngược đống rác thì thấy!
Phấn: (rên lên) Thà mày bảo tao sang bên hồ tắm lặn tìm cái kim.
(Thấy thấp thoáng bóng người xuất hiện, Nhiễu lẩn nhanh. Phấn nhận ra Ba Thừa. Ba Thừa bước đến kéo ghế ngồi.)
Ba Thừa: Trưa tôi có ghé qua, quán cô chưa mở.
Phấn: Dạ hôm nay có vài chuyện phức tạp. Mà nắng nôi sao cụ không ở nhà cho khoẻ?
Ba Thừa: Buồn lắm, ở nhà buồn lắm!
Phấn: Cháu lại ao ước được thế, ở nhà đọc sách chẳng hạn.
Ba Thừa: Khi còn trẻ tôi ao ước tới đâu ấy chứ, nhưng giờ tôi lại không thích gì hơn lao động, không mê gì hơn sinh hoạt cô ạ.
Phấn: (dọn thêm hàng ra) Cháu hiểu.
Ba Thừa: (nhíu mày) Cô hiểu? Không, tôi không tin cô hiểu lắm đám già như tôi. Cô biết không, khi một kẻ đời quyết phủ nhận, không đếm xỉa tới nữa, làm sao đây để chứng minh mình còn sống? Chỉ nghĩ đến cái việc loay hoay chứng minh mình còn sống đã chết trong lòng. (sực nhớ hiện cảnh) Mà sao thằng bé thấy tôi, nó vụt chạy, có chuyện gì thế?
Phấn: (nghĩ ngợi) Dạ không.
Ba Thừa: Báo đăng dạo này cướp giật như rươi, cô cẩn thận.
Phấn: Cám ơn cụ. Cụ uống gì không để cháu...
Ba Thừa: (lấy khăn tay lau mồ hôi trán) Hượm hượm đã, nóng quá!
Phấn: Vâng, nhưng chắc còn thua xa ngoài Bắc?
Ba Thừa: Ngoài ấy thì nói làm gì. Rét chết trâu chết bò, nóng chết cò chết quạ.
(Lặng lâu)
Phấn: (ngưng tay soạn hàng, buột miệng) Cháu hỏi điều này cụ giải giúp cháu nhá?
Ba Thừa: Miễn đừng ngoài sức tôi là được.
Phấn: Dạ không, không có gì trầm trọng. Thắc mắc của cháu chỉ là... là xưa nay thật cụ đã thấy... cẩu phụ sinh hổ tử chưa?
Ba Thừa: Nhiều!
Phấn: Tất nhiên là phúc?
Ba Thừa: Tuỳ...
Phấn: Còn... hổ phụ sinh cẩu tử?
Ba Thừa: Nhiều hơn!
Phấn: Tất nhiên là họa?
Ba Thừa: Cũng tuỳ...
Phấn: Thế... cẩu phụ sinh cẩu tử?
Ba Thừa: (nhìn Phấn) Mà sao cô hỏi như ra câu thai câu đố vậy?
Phấn: (biện bác) Dạ tối qua đọc sách, cháu thấy người xưa luận có mỗi việc hổ phụ sinh hổ tử.
Ba Thừa: (nhìn ra đường phố, thốt nói mông lung) Thời nay trên dưới thấy chả ra làm sao!
(Cơ quần áo xộc xệch đột ngột xuất hiện, tay cầm gậy, mắt dáo dác, lớn giọng hỏi Phấn.)
Cơ: Cô thấy thằng Nhiễu nhà tôi chạy qua không?
Phấn: (bối rối)Dạ không, chuyện gì thế chú?
Cơ: Không con tội chết có con tội sống. Thằng phá gia chi tử.
Phấn: Chuyện đâu còn đó chú ơi. Chú nóng quá làm em nó sợ.
Cơ: Ối giời ơi cô lại đi lo nó sợ. (gằn giọng) Sợ! Sợ! Sợ! Cái xó nước này đừng có những thằng già cái gì cũng sợ, rồi những thằng quỷ con chẳng còn thấy cái gì để sợ đã không ra thế này!
Ba Thừa: (nhăn mặt can khẽ) Ông không nên nói thế!
Cơ: (nhìn dò xét người lạ) Cụ bảo sao?
Ba Thừa: (lắc đầu) À không, không...
Cơ: (phân trần với Phấn) Ðúng là trời bắt tôi nuôi báo cô nó đây! Ăn thì như thần trùng, phá thì như quỷ sứ phá nhà chay. Thiên địa ơi lần này Ba Bạnh nó tố lên mặt báo có mà thánh gỡ. (gào) Nhiễu... mày còn ở cái xó nước này có trốn lên trời xuống bể tao cũng lôi mày ra!
Nhiễu: (từ xa nói vọng tới) Ðông lắm rồi bố ơi. Hơn bảy mươi triệu. Ðầu đít y nhau bố không tìm nổi đâu!
Cơ: A, thằng này giỏi. Muốn sống về ngay.
Nhiễu: Nhà đâu mà về?
Cơ: Thế chỗ nào mày chui ra, chỗ nào mày hốc mày ngủ, chỗ nào...
Nhiễu: Phương tiện ấy cháy rồi bố ơi!
Cơ: (hét) Thằng khốn kiếp, mày dám gọi gia đình cha mày là một phương tiện?
Nhiễu: (giọng xa dần) Từ bao giờ cả nước đã coi nhau là một phương tiện, bố không biết sao?
Ba Thừa: (nhỏ nhẹ) Trị con như trị lính, giơ cao đánh sẽ nó mới gờm ông ạ.
Cơ: Thời nay kiểucụ nó phá cho sập ván thiên nghiêng ván địa. Bọn đầu trâu mặt ngựa trong trại Cải Huấn ấy à, tôi tiu cho còn nhũn như con chi chi.
Ba Thừa: Thế ra ông là quản giáo!
Cơ: Thì thua nó thế nào được hả cụ. Nó làm xằng làm bậy mẹ nó phải đi năn nỉ ỉ ôi, bồi thường, tưởng đã êm, ngờ đâu còn dám hăm he người ta, người ta đòi lôi cả họ nhà tôi lên mặt báo. Thằng này phải quan trị quan nhậm...
Hồng: (từ cửa hiệu phở gọi giật) Chú, chú Cơ!
Cơ: Cái gì?
Hồng: (bước tới liếc Phấn và Ba Tùy, vẻ vừa ngượng vừa bực) Chú lạ nhỉ, chuyện trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông là thế nào? Bà mệt đấy, bố cháu bảo gọi chú.
Cơ: (quăng cây gậy về phía Ban Chữa Lửa Phường, có tiếng la "ấy ấy" của hai gã ăn mày; trước khi theo chân Hồng chạy vào ngõ, dậm chân than lớn) Vợ dại, con hư, mẹ đau liệt. Trời đất ơi nước này đến đốt cha nó hết cho nhẹ thân!
Ba Thừa: (nhìn vào con ngõ, lẩm bẩm) Thời nay cha con thấy chả ra làm sao!
(Sách và Tư Diện bước đến. Sách ăn mặc xuềnh xoàng, trước bụng ôm một thùng giấy nhơ nhỡ. Tư Diện ngậm ống vố, mặc quần bò, sơ-mi ca rô, trời nóng vẫn thắt chiếc nơ trắng như sửa soạn lên sân khấu, bàn tay lâu lâu xoè ra như có cố tật. Họ lần lượt ngồi gọi nước. Chưa yên chỗã đã vang tiếng loa. Chẳng ai tỏ ra ngạc nhiên với nội dung thông cáo mới.
Nhân dậy từ lâu nhưng chỉ gỡ tờ báo khỏi mặt, bước khỏi xe, gia nhập đám đông khi nghe thấy một gã ăn mày năn nỉ xin Phấn que diêm.)
Nhân: (ngáp, bước tới gần gã ăn mày) A! Lật cánh từ Trường Sơn đông sang Trường Sơn tây rồi đấy! Thế phải hơn. Ðóng chốt đó mãi làm mang tiếng nước ta ra ngõ gặp anh hùng. Nào, thèm thuốc gì tôi mời mỗi ông một điếu.
(Ðến đưa gã ăn mày hai điếu thuốc và mấy que diêm; gã ăn mày cám ơn, lết về chỗ cũ với bạn. Nhân quay lại bàn ngồi cạnh Ba Thừa.)
Ba Thừa: Hình như ông ngủ lề đường cả buổi?
Nhân: Tôi thấy bác với cậu cháu ghé vá lốp khi trưa. Mà sao bác lại đổi kiểu chuyển xích lô sang xe đạp?
Ba Thừa: Máu hơi cao tôi cần tí thể thao.
Nhân: (chắt lưỡi) Thế là cầm bằng cả đời tôi không biết mùi máu cao!
Ba Thừa: Sinh hoạt đây lạ. Từ hôm ngoài Bắc vào thấy ai cũng như nửa sống nửa chơi. Ông nữa, sao chiều ăn mày như chiều vong thế?
Nhân: Ối, người xưa mời cả ăn mày uống trà đấy bác.
Phấn: (cười, chen vào) Chú nợ mấy ông nội đó từ kiếp nào vậy chú?
Nhân: Kiếp này. Mà cách riêng ai chả nợ họ, cô, ông giáo, ông văng nghệ ngồi kia, và cả bác thiếu tướng nữa.
Ba Thừa: (ngạc nhiên)Ơ, sao tôi phải đi nợ đứa ăn mày?
Nhân: Dễ sao trên trời rơi đậu trên cổ một ông tướng? Ðội ngũ cơ bản vẫn là bộ đội của bác, thư thả bác kiểm tra xem.
Ba Thừa: (lờ nhìn sang phía đống rác, nói trỏng) Lỗi nào phải do tôi. Ðời đấy, đời làm lem luốc cả!
Nhân: Sao không bảo mình làm lem luốc đời? Ðạp xe ngày ngày tôi tiếp cận lắm hạng vĩ nhân. Thật thời nay hiếm người can đảm!
Ba Thừa: (nhấp chén nước) Hai tuần nay chạm mặt ông mấy lần, trừ lần sơ ngộ, còn lần nào chè uống cũng chát đắng!
Phấn: (nói chận) Cụ với các bác các chú đã nghe thông báo. Quán cháu hôm nay hân hạnh được làm địa điểm họp tổ dân phố. Gớm, trời oi quá. Cháu có nấu nồi chè đậu đen đây. Trong khi chờ đông đủ, cháu mời quý vị mỗi người dùng một bát cho mát ruột.
Tư Diện: Cô cho tôi một bát, nhiều đá vào!
Sách: Tôi cũng thế, nhưng khá đường vào!
Ba Thừa: Tôi cần nhiều cả đường lẫn đá. Tiện thể với hộ tôi cái điếu. Anh cháu tôi hôm nay họp trên cơ quan, về muộn, tôi đi thay. (rít một hơi thuốc lào, ngửa cổ nhả khói) Nhưng họp gì chứ họp vụ rác tôi hết sức hoan nghênh. Ngồi ngoài lề đường càng dễ thở. (nhìn đồng hồ tay) Sáu giờ họp, còn hơn nửa tiếng. (nhìn quanh, giọng đề nghị) Các vị có thấy mình nên tranh thủ bàn trước một vài phương án, tí nữa vào họp mình cứ việc đề ra, rồi chung quyết cho đỡ tốn thì giờ chăng?
Sách: Rác thế kia khó gọi là đống, phải là núi. Ít ra cũng mươi mười lăm hộ trong tổ dân phố mình bị một Ngũ Hành Sơn trấn trước cửa. Nhưng chuyện dọn nó đi, ấy cụ thiếu tướng mới về không rõ đó thôi, chứ nhây nhưa đã lâu. Mà âu cũng là dịp tốt. Chiều nay nhất định nhờ cụ đứng mũi cho, dù sao một tiếng nói lớn...
Ba Thừa: Vâng để tôi liệu xem! Lát nữa tùy tình hình tôi sẽ tìm cách nâng quan điểm sự cố này. Ăn ở như thế quả không tốt. Tùy tiện, vô phép vô tắc và mất vệ sinh quá. Nhưng... (giọng thăm dò) thế theo giáo sư để xử lý cái núi rác ta có cách nào hay nhất? Nhà nhà trường kỳ góp tay thi công dời nó đi chỗ khác, hoặc xin các hộ ăn nên làm ra ủng hộ tiền bạc thuê lực lượng đồng bào đang thiếu việc làm gánh vác giúp cho, hoặc đốt?
Sách: (ngẫm nghĩ) Ba giải pháp cụ vừa đề cập thực đã được đưa ra thảo luận từ năm nảo năm nao. Bế tắc hoàn bế tắc. Vả bảo dời thì dời đi đâu một quả núi hôi thối thế kia? Một núi rác mục rã chẳng là quặng mỏ để đánh đổi được. Giá nó mọc ở Hoa Kỳ, ở Ðức, ở Canada, nó có hy vọng được cải tạo thành đôi chút của cải vật chất. Hoặc nó mọc ở Ấn Ðộ, ở Hồi Quốc, lỡ cửa quan gõ mãi chẳng ai đoái hoài, vạn nhất người dân phải đến đập cửa cái gọi là Bureau of Karma, có thể hiểu là Phòng Giải Nghiệp Nhà Nước, cũng còn cơ may được phòng này ân cần giúp nó hoá kiếp bằng nhiều cách thần kỳ không cần tranh luận. (lặng) Còn thi công? Xin thưa thật với cụ thiếu tướng hào khí ấy nay vơi vạt nhiều lắm. Hay đến gõ cửa các hộ như cụ vừa nói ăn nên làm ra, xin ủng hộ tiền bạc? Nhưng dính chân trong hàng ngũ nhân dân như mình, ai là người đáng gọi ăn nên làm ra trong thời buổi này? Anh Nhân? Cô Phấn? Anh Tư? Như tôi đây vì miếng cơm manh áo đành bỏ nghề dạy ba cọc ba đồng, tập tễnh bán buôn, mà lại bị liệt vào hạng ăn nên làm ra sợ oan Thị Kính không bằng. Giá thậm ngôn mong quý vị bỏ qua, chứ cái nước kinh tế thị trường kiểu tôi sao cứ thấy mình như phù dung ấy, sớm nở tối tàn!
Ba Thừa: (bóp trán nghĩ ngợi) Thế chả nhẽ bó tay? Hay đốt?
(Vừa lúc có mùi khét toả ra nơi hai gã ăn mày ngồi. Chỉ Phấn lưu ý.)
Phấn: (la lên) Này hai ông mãnh kia, đốt gì mà khét thế?
Tư Diện: (ngơ ngác) Lạ, sao tôi chẳng ngửi thấy gì kìa?
Sách: Cô thính mũi thật. Như anh Tư, khứu giác tôi dám cũng hỏng. Giá bây giờ có ai phanh ngưu tể dương mà nướng ngay cạnh mũi cũng đến nồng một mùi rác là rác. (quay sang Ba Thừa) Thưa cụ vừa dạy sao? Cụ muốn chọn giải pháp sau cùng? Nếu giản đơn như thế làm gì còn có chuyện chiều nay chúng ta ngồi đây. Vâng, với một núi rác hai mươi tuổi, ai trong chúng ta đoán nổi bên trong sự rệu rã của nó chứa những hoá chất gì, đã phản ứng qua lại ra sao và sinh ra những độc chất chi; lại nữa đang mùa nóng bức, tạo ra cả một khối lửa ô nhiễm khổng lồ, nhà cụ, nhà tôi, nhà những vị quanh đây nữa, sợ rồi lại lâm cảnh cháy thành vạ lây. (lưỡng lự giây lát, cúi khuân một thùng giấy để trên bàn, mở ra) Nhân đây... vâng, nói gần nói xa chẳng qua nói thật, tôi mới mua lại được ít chai thuốc xịt khử mùi chính hiệu Mỹ quốc, hoa lan, hoa huệ, hoa hồng đủ cả, giá lại rẻ hơn các sạp lề đường, tạm thời quý vị có thể...
Một giọng ở xa: (báng bổ) Muốn phá động đĩ lại cứ ngồi vẽ ra đủ thứ nguy cơ lây bệnh lậu là thế nào?
(Sách tẽn tò khép thùng đặt xuống đùi. Mọi người cùng nhìn về phía trái sân khấu, không thấy ai ngoài hai gã ăn mày đang giấm giúi làm việc gì đó.)
Ba Thừa: (vờ không nghe thấy lời bất nhã, nhìn đồng hồ tay, ngó quanh) Ðồng bào ở đây kể là lề mề. Ðã quá giờ mà chẳng được mấy người. Tổ trưởng dân phố nữa, sao cũng không thấy?
Nhân: Bánh đúc mãi phải ngán! Tôi thấy chỉ hai ông cháu bác có lý do chính đáng để hăng.
Ba Thừa: (ngạc nhiên) Sao ông biết tôi hăng?
Nhân: Tôi đoán mò thôi, sai tôi xin rút lại; nhưng của đáng tội tuần trước có Việt kiều ở nhà bác ra gọi tôi chở về khách sạn, bà ấy hở miệng quá, vì thế tôi mới biết anh cháu bác mất cơ hội bán cái nhà với giá trăm năm mươi cây. Không bị cái núi rác quái quỷ nó ám, nhà đúc ba tầng như thế, mua theo chính sách hoá giá nhà rẻ mạt như thế, bác có đồng ý với tôi bán vứt cũng trên hai trăm cây không?
Ba Thừa: (ngẩn ra) Ơ cái nhà ông này lạ nhỉ!
Tư Diện: (gật gù) Ðó gọi là tai mắt nhân dân!
Nhân: (phân trần chung) Thú thật ý tôi chỉ muốn ông bác đây thông cảm cho những người vắng mặt. (nói với Phấn) Cô cho tôi bát chè cô Phấn ơi. Giống bác thiếu tướng nhiều đường nhiều đá. (quay sang Ba Thừa vừa đứng lên đi tới lui) Ðấy, tính tôi thẳng ruột ngựa nên hay mang tiếng thiếu đoàn kết! Vâng, quả bác chưa rõ nhân tình vùng này. Họ đã chán ngấy mấy cái chuyện rác rưởi. Ðây rồi tôi sợ những buổi họp đại loại sẽ không còn ai tham gia. Tưởng tượng mà xem, chỉ từ câu lạc bộ bơi lội Tân Bình lên tới Thái Hoà này mà đã phải vượt một dãy Trường Sơn, phát sốt phát rét lên ấy chứ! (lặng) Thôi bây giờ tôi xin đề nghị.
Ba Thừa: (ngồi trở lại ghế) Ông đề nghị gì?
Nhân: Ông giáo sư đã nêu ý kiến, tại sao ta lại không nghe thêm ý kiến cô Phấn nhỉ? Dù gì cô cũng mở quán kiếm sống kế ngay núi rác.
(Nhiều tiếng "đồng ý!")
Phấn: (bối rối) Cháu biết gì!
Nhân: (cười) Ít nhất cô cũng biết nói.
Phấn: Dạ... nhưng khó... vì cứ nhìn cái núi rác cháu lại ghét đời cháu.
Nhân: Sao thế?
Phấn: Dạ đầy những mâu thuẫn!
Ba Thừa: Ðầy những mâu thuẫn?
Phấn: Dạ vâng. Lý do là cháu sợ nó, kế nhớ nó và sau cùng lại thấy cần nó.
Nhân và Ba Thừa: (đồng thanh) Cần cái núi rác?
Tư Diện: (gật gù) Bước phát triển tốt của một quá trình tư duy nghiêm túc!
Phấn: (nhìn Nhân và Ba Thừa) Vậy cháu mới bảo mâu thuẫn! Hơn hai mươi năm trước thật thì chưa có cái núi rác kia, vâng, quả thế, chưa có. Ðó mới chỉ là những đống nhỏ tàn tích Mỹ ngụy bỏ lại được người ta vun vào.
Ba Thừa: Là cô chỉ nghe kể?
Phấn: Dạ lẽ tất nhiên. Và những tàn tích ấy cũng không phải rác. Nó là trang phục, là vật dụng, lắm thứ chỉ ít lâu sau biến thành của cải vật chất cho nhiều người. Mẹ cháu đẻ rơi cháu lúc chạy loạn qua đó.
Ba Thừa: Thời chiến việc ấy cũng thường!
Phấn: Giữa khi vẫn kiên trì làm công tác giao liên! Khi cháu lên mười chỗ đó mới thực biến thành một núi rác. Khốn khổ là miếng cơm chúng cháu vẫn phải từ đó mà ra. Một ngày mẹ cháu bới trúng một đầu đạn M.79, cháu mồ côi mẹ.
Ba Thừa: Chính sách thực dân mới tai hại lâu dài là thế!
Phấn: Ba năm sau cháu mồ côi cha.
Ba Thừa: Lại cũng bới rác?
Phấn: Dạ không thưa cụ. Khá hơn. Nhờ tí vốn mẹ cháu để lại cha cháu quy tụ ăn mày biến thành chợ buôn đồng nát.
Ba Thừa: (ngao ngán) Sao không tìm một nghề nào khác?
Phấn: Khổ cái cha cháu gốc đặc công nội thành, thời bình còn ai cần đến cái nghề dễ sợ ấy! Bất thình lình cha cháu thổ huyết mà mất, mở đường cho ông Bạch làm tương, ông Hanh lái lợn, chị Ba đậu nành, anh Tám vé số, ông Trường thợ mộc, cả bà mẹ nuôi cháu mới mất năm qua, toàn những người lao động tốt, đùng cái lăn ra chết người vì phổi, người vì ung thư, người vì gan, người vì lị. Riêng cha mẹ cháu cách mạng đem thiêu, không biết tro cốt gieo rắc nơi nào!
Ba Thừa: (thở dài) Số cô truân chuyên.
Phấn: Dạ chưa, vì còn may. Cháu có bà dì họ xa, cô quả, trôi dạt từ kinh tế mới về. Bà đến với cháu. Nói theo kiểu xã hội ta đôi bên đều có lợi. Nhưng dì là người phúc đức, buôn thúng bán mẹt nuôi cháu học đến đại học.
Ba Thừa: (ngạc nhiên) Cô có trình độ đại học?
Phấn: Dạ mới năm thứ hai đại học Nông Nghiệp thì dì cháu mất. Cháu phải bỏ học kiếm sống. Từ đây mới tạm xứng với chữ cụ gọi truân chuyên. Chỉ nội một năm cháu làm mấy việc. Ðầu tiên là công ty Súc Sản. Ba tháng cháu rút lui vì ông giám đốc còn quá súc sinh. Nhưng còn vận may. Nhờ cô bạn và hai cây vàng di sản của dì cháu, cháu trở thành cô công nhân hãng giày Nike.
Tư Diện: Con cháu tôi ba cây chưa đâu vào đâu!
Phấn: (lớn giọng hơn) Thế cháu mới gọi vận may! Nhưng tránh lỗ hà ra lỗ hổng, chỉ ba tháng sau cháu bênh mấy chị em, bị đốc công Nam Triều Tiên nó đánh, rồi đuổi.
Ba Thừa: Kiện tụng thế nào cô chẳng vớ mẻ to. Cả thế giới người ta lên án vụ này.
Nhân: (chen vào) Ối giời, đạp xe tôi gặp thiếu giống gì trường hợp tương tự. Nhà nước ta đang giữa thời buổi bịt mồm con vui lòng khách. Có mà kiện củ khoai!
Phấn: (nhìn Nhân cảm động) Chú nói đúng. Coi như cháu mất toi hai cây vàng. Thế là cáo chết ba năm quay đầu về... cái núi rác này.
Ba Thừa: Và cô cho như thế là... nhớ?
Phấn: Dạ không hẳn nhớ theo nghĩa thông thường. Ðúng ra từ lâu núi rác với cháu đã có hơn một ý nghĩa. Một mặt nó như nguyên nhân đáng ngờ của mọi tang ma trong vùng. Mà cụ với các bác các chú cũng thông cảm. Cha cháu hay bảo thà biết chắc một con hổ đang giương vuốt đỡ sợ hơn là ngờ một con chó dại đang giấu nanh (húng hắng ho). Mặt khác thỉnh thoảng có việc đi xa, lạ lắm, cháu lại thấy nhơ nhớ nó như nhớ mồ nhớ mả ba người thân yêu!
Sách: Kể cái tâm lý ấy cũng lạ phải không quý vị? (nhìn Phấn) Cô Phấn, cô có đủ lý do để sợ, nhưng con người có nhất thiết phải cần một nấm mồ bá vơ như thế để nhớ?
Ba Thừa: Tôi nhất tríù với ông giáo sư. Trường hợp này không nên và không thể gọi là nhớ.
Phấn: (giọng chợt cứng rắn) Xin quý vị cho cháu được hết lời. Hy vọng cháu sai, nhưng... cháu tin cháu đúng! Dù sao đó chỉ là tâm tư tình cảm ngày trước, thế nào thì nay đã khác. Giờ cháu sống nghề bán buôn, tự nhiên, vâng, tự nhiên lại thấy núi rác kia là một đối tượng cần phải duy trì.
Nhân và Ba Thừa: (đồng thanh) Cần duy trì cái núi rác?
Tư Diện: (nhả một hơi thuốc, gật gù) Bảo rằng nốt ruồi duyên nên giữ thì nốt ruồi duyên, bảo rằng vết ruồi ỉa phải phá thì vết ruồi ỉa. Tại tâm cả!
Phấn: (nhìn Tư Diện) Thưa không, dựa trên tình hình thực tiễn nước ta đấy ạ. (nói với mọi người) Anh Kỳ công an cũng đồng quan điểm với cháu. Ðể dòng chảy kinh tế chảy mạnh hơn trình độ chèo chống của người dân là một cách tự sát tập thể không cần giải thích. Cháu đưa ví dụ. Nếu ngay ngày mai, chỗ núi rác được thay bằng một khách sạn năm sao, nườm nượp khách ngoại ra vào, đừng nói cái quán lề đường của cháu, ngay hiệu phở của ông tổ trưởng tổ dân phố, hiệu may áo dài của bà phó chủ tịch xã, hiệu sửa xe đạp của anh phường đội trưởng, hiệu bi-da của ông phó ban bí thư quận, quán thịt chó của ông phó ban công an xã vân vân sẽ tuần tự sập tiệm hết. Môi trường mới đòi hỏi con người mới, điều kiện sinh hoạt mới, vốn liếng làm ăn mới, cung cách bán buôn mới, và, cháu xin nói thẳng, cả đường dây liên hệ móc ngoặc mới. Còn nhiều lắm. Nếp bán buôn như phố ta đây cạnh tranh sao nổi với tư bản người Hoa, người Thái, người Mã, người Nam Triều Tiên, người Tân Gia Ba, người Nam Dương, người Úc, thậm chí cả đám Việt kiều? (nhìn quanh, khẳng định) Trước mắt cháu mất quý vị đây này. Giờ cháu trắng tay, tìm đỏ mắt không ra việc, may nhờ anh Kỳ nâng đỡ, mở được cái quán lề đường không đến nỗi phải là quán chạy, thử tưởng tượng một ngày quán biến hết khách, vâng, chả hiểu rồi mấy ông mãnh kia (chỉ hai gã hành khất) có chấp nhận cho cháu gia nhập đội ngũ hay không. Cháu cho anh Kỳ cháu đúng khi bảo ăn cây nào rào cây nấy mà chắc!
Sách: (thở dài) Riêng tôi biết chạy đàng nào khác nữa để cô phải mất! (mân mê cái thùng) Mà cô Phấn à, cô ưa mua ưa dùng loại nước hoa nào thế nhỉ?
(Ngoài đường ầm ĩ tiếng xe gắn máy chạy đua, tiếng la thét của bọn thanh niên. Tất cả nhìn về một phía cho đến khi tiếng động xa dần.)
Ba Thừa: (lắc đầu) Trở lại một thứ tóc đã lâu, nhưng phải nói tôi chưa thấy ai có cái mâu thuẫn đáng sợ đến thế!
Phấn: (cầm dao bước tới thùng nước đá, cười khẩy, chặt mạnh một tảng) Thế cháu mới bảo cháu ghét đời cháu!
(Một phụ nữ bán trứng vịt lộn rao lanh lảnh, ghé quán mời. Tư Diện cao hứng gọi mấy trứng, gọi thêm chai bia ngồi nhâm nhi một mình.)
Nhân: (nói lớn) Coi như thêm một người không muốn phá núi vì ngại tiếng nổ! Cá nhân tôi xin thua lý luận thực tiễn của cô Phấn (nhìn Tư Diện đập đập cái tẩu vào tay, sửa soạn bóc trứng) Chết, quên anh Tư Diện là một lỗi to tát. (mọi người cùng nhìn Tư Diện) Anh Tư, tới cữ rồi hả?
Tư Diện: Cữ gì. Lai rai đỡ buồn.
Nhân: Cánh chúng tôi gọi đó là đúng phương hướng. Mỗi chiều làm bậy một ly, là ta quên hết cu li cuộc đời. Nhưng này anh Tư, dù gì anh đã nghe hết. Ðấy, nhân dân ta hiện kẹt thế đấy. Anh trổ tài hoá giải giúp những khó khăn được không?
Tư Diện: (chối phắt)Ơ hay, cái thằng tôi thì làm được gì!
Nhân: (vui vẻ) Vùng này ai chả biết tiếng anh, nhưng thiết tưởng tôi nên nói qua về anh một chút, biết đâu bác thiếu tướng có thể vận dụng anh vào một phương án mới. Vâng, anh Tư Diện vốn là một ký giả sắc bén, tác giả nhiều bài báo nhiệt liệt ca ngợi thành quả các mặt cách mạng đạt được sau giải phóng. Vì nhu cầu phục vụ nhân dân đòi hỏi, anh phải chuyển công tác, hiện là một nghệ sĩ ưu tú, một nhà ảo thuật tài ba. Tôi thấy anh nhiều lần biểu diễn trên sân khấu cũng như ở các lề đường. Chỉ nắm lại bàn tay, hỏi khán giả thích mùi hoa gì, đáp hoa hồng, anh mở bàn tay là ngửi thấy mùi hoa hồng, đáp ngọc lan là ngửi thấy mùi ngọc lan; thậm chí chính tôi đây, mới tháng trước còn ngờ, nay ngoan cố đến mấy cũng phải bái phục. Hôm biểu diễn ở đình Ông Tạ, tôi yêu cầu, anh mở tay và tôi đã ngửi thấy mùi chả chó. Vâng, chả chó, đúng là chả chó! Vì vậy...
Ba Thừa: (sốt ruột nhìn Tư Diện, hỏi chận) Như thế là tài thánh chứ sao gọi ảo thuật?
Tư Diện: (hai bàn tay nắm xoè liên tục) Dạ chính ảo thuật.
Ba Thừa: Ảo thuật mà ly kỳ đến thế, anh có nghĩ anh số một trong lĩnh vực này không?
Tư Diện: (đứng lên, hơi ưỡn ngực đi tới lui, đột ngột dừng chân chỉnh lại chiếc nơ cổ, kiêu hãnh nhìn Ba Thừa) Cụ đã hỏi thì xin thành thật mà đáp tôi chưa được hân hạnh quen người số hai!
(Có tiếng vỗ tay trộn với tiếng điếu cày rúc ròn rã. Sách nhanh tay lục thùng lôi ra mấy chiếc nơ xanh đỏ, nửa kín nửa hở quảng cáo với Tư Diện. Chưa kịp nói gì Sách lại phải lặng lẽ bỏ vào thùng. Tiếng vỗ tay lớn bất thường của Ba Thừa đã thu hút hết ánh mắt mọi người. )
Ba Thừa: Hay, hay quá, tôi vừa nghĩ ra một phương án mới. Ông giáo sư là một trí thức, một nhà khoa học, đã cảnh giác chúng ta phương án đốt còn đòi hỏi nhiều nghiên cứu; cô Phấn thuộc giới thương buôn thì quan ngại chuyện giải phóng núi rác ngay có thể gây ảnh hưởng không thuận lợi đến đời sống kinh tế người dân; ấy là chưa kể còn nhiều ý kiến trái ngược sẽ đến từ nhiều thành phần xã hội khác, mà lợi bất cập hại do công tác tiến hành không được đồng tình lẫn đồng bộ là điều rất có thể xảy ra. Vậy thì, anh Tư Diện, anh đại diện cho giới văn nghệ sĩ, giá như tôi đề bạt anh trước cuộc họp, anh có cách nào dùng quyền lực ảo thuật, cấp thời giúp giải quyết vấn đề chung một cách hợp tình hợp lý không?
Tư Diện: (trở về chỗ, nốc một hơi bia) Xin cho biết cụ thể.
Ba Thừa: Chẳng hạn anh biến mùi rác thối thành một mùi gì ít ra dễ ngửi hơn, hoa hồng thì tốt, hoa lan tốt hơn, mà chả chó lại càng tốt hơn nữa. Ðược không?
Tư Diện: (tay lại nắm xoè, dáng tư lự) Ngày nay các nhà ảo thuật kỳ tài trên thế giới trong chớp mắt biến gái tơ thành cọp già, xoẹt một cái phủi mất khỏi bãi đậu cả một tàu hoả hay bãi đáp cả một thuyền không gian. Ðây chỉ là tí việc cỏn con, sá gì. Có điều...
Ba Thừa: Anh cần một số điều kiện vật chất? Hay một ngân khoản chi dụng cần thiết? Hay một thù lao tương xứng? Tất cả đều hợp lý nếu anh nhận lời. Tôi cam đoan.
Tư Diện: Tất nhiên là thế, nhưng điều tôi băn khoăn là... là nhà tôi cũng ở cạnh núi rác, đã nhiều năm như toàn thể khán giả của tôi trong vùng, nhưng... thú thật với cụ và quý vị, (giơ cao hai tay) tôi có thấy nó hôi thối chút nào đâu!
Một giọng ở xa: (nói như gầm) Quen thói bán mồm nuôi trôn làm sao còn biết hôi thối!
(Mọi người lại dồn ánh mắt về cánh trái sân khấu, vẫn chỉ thấy núi rác và bóng hai gã ăn mày ngồi thu mình.
Từ trong ngõ nhiều người hộc tốc chạy ra. Vài khách ngoài quán đứng lên, cả khách trong hiệu phở vừa bước ra cũng dừng chân đứng nhìn.
Bích, quần đùi áo thun, mừng rỡ chỉ vào Nhân.)
Bích: May quá, chú Nhân kia rồi. Chú vào chở cụ tôi lên viện ngay, nhanh lên!
Nhân: (quay nói với mọi người) Lại suyễn, lại giường Thống Nhất hạng sang, và tôi lại sẽ là tài xế túc trực lương bao ít ra tuần lễ. Cũng tốt thôi!
(Nhân nhảy tót lên xe đạp thẳng vào ngõ. Mấy người đàn bà chạy theo. Bích và Kỳ đứng lại.)
Phấn: (mau mắn) Thưa bác bệnh bà lại tái phát?
Bích: (lạnh lùng)Thì vẫn bệnh cũ đó cô.
Phấn: Cháu không biết để vào thăm bà. Cháu xin lỗi.
Bích: Thời buổi bận rộn, rỗi đâu mà trách với cứ.
Kỳ: (bảo đám đông) Thôi yêu cầu ai về nhà nấy. Trên thông báo hôm nay hoãn họp.
Ba Thừa: (đứng lên, giọng hơi bực) Sao lại có thể tùy tiện như thế được!
Bích: (hỏi Kỳ) Ai?
Phấn: (nhanh miệng, nói đỡ) Thưa bác đây cụ Thừa, mới từ Bắc vào nhập cư vùng ta.
Bích: (giọng ngọt nhạt) Dạ không dám chào cụ. Cụ mới về vùng này? Chưa thấy cụ cho biết cụ đã cần đơn xin chuyển hộ khẩu chưa. (quay lưng đi thẳng vào ngõ, vừa lúc xe xích lô chở bệnh nhân có Hồng ngồi cạnh chạy ra, Bích dừng chân nói lớn với con gái) Tí nữa mẹ hoặc thím Cơ lên thay, về con nhớ lên máy đọc lại ngay toàn bản chính sách hộ khẩu cho bố!
Sách: (nhẹ níu bàn tay không đeo găng của Ba Thừa đang run lên, can khéo) Tôi nghe người ta bảo đời lính leo tới tướng tài chịu nhục lớn ngang khí phách, phục cụ lắm!
Ba Thừa: (sau cơn ức ngồi phịch xuống, mắt phải nháy như phải khói) Họ hỗn với tôi như hỗn với cụ thân sinh ra họ. Nhưng quá nữa tôi sẽ cho họ biết lành biết dữ.
Phấn: (can góp) Bác tổ trưởng đang lúc gia đình bối rối, có gì quá lời cụ bỏ qua cho.
Kỳ: (quát) Việc chó gì cô phải đi năn nỉ đứa nào? Ðây bảo họp là họp, bảo hoãn là hoãn, đứa nào chống đối tôi còng đầu.
Phấn: (nhẹ dậm chân) Ông ơi là ông ơi, toàn khách quen của tôi!
Ba Thừa: (nén giận) Này cậu công an nhân dân.
Kỳ: Cái gì, anh là ai?
Ba Thừa: Cậu hỏi thế kể là đúng lúc.
Kỳ: (lùi mấy bước, giơ hai bàn tay chận lời Ba Thừa, nhìn từ đầu xuống chân, nói át) Tôi chưa hỏi hết anh chưa được phép trả lời. Con mắt anh làm sao thế kia?
Ba Thừa: (nhẫn nhịn) Mắt nào?
Kỳ: Mắt trái!
Ba Thừa: À, mắt giả.
Kỳ: Còn tay anh, tay phải, sao đeo găng?
Ba Thừa: À, cũng tay giả. Mà sao...
Kỳ: (cười khinh mạn) Người ta bảo giàu hai con mắt khó hai bàn tay, cái gì ở anh cũng giả thì bố ai đoán nổi anh thành phần nào!
(Nhiều tiếng xì xầm. Kỳ quay lại nạt chung: "Im!")
Ba Thừa: (bừng bừng cơn giận) Này đồng chí công an, trước mắt tôi yêu cầu đồng chí chấm dứt gọi tôi một cách xếch mé. Tôi là ai? Là người tuổi ngang ông nội đồng chí. Ðồng bào đây không ai có thể nói điều ấy là giả. Tôi thành phần nào? Là tướng. Thiếu tướng. Cấp trên của đồng chí sẽ không thể nói điều ấy là giả. Rồi, giờ đồng chí xử lý sao đây?
Kỳ: (hơi chùn bước) Thế ông là... là tướng? Xin... xin cho biết thiếu tướng công tác ở đâu?
Ba Thừa: (lấy lại giọng ôn tồn) Tôi hưu đã lâu lắm, mới từ Bắc vào sống với gia đình cháu tôi vùng này.
Kỳ: (hồi nhanh sắc mặt) Ồ... thế ra thủ trưởng là... tướng hưu!
Ba Thừa: Thì đã sao? Hay đồng chí cho rằng cọp già hoá mèo? Tôi chỉ thay cháu đến tham gia một phiên họp khu phố, mong góp một lời nói phải.
Kỳ: (đanh giọng) Vâng, kính chào thiếu tướng. Tôi sẽ xin nghe. Nhưng xin giới thiệu trước với thiếu tướng đây là chiến trường của tôi, và tôi là một chiến sĩ còn sống!
(Giữa những tiếng xì xầm gia tăng, Ba Thừa giận đến ngơ ngác, gã ăn mày tên Kiệt từ cánh trái lết ra, quát lớn.)
Kiệt: (chỉ mặt Kỳ) Láo! Láo! Láo! Thằng Kỳ họ nhà tôm kia!
Kỳ: (quay phắt nhìn, kinh ngạc chen giận dữ, rút súng ngay) A...a... thằng ăn mày! Chán sống quá rồi phải không. Ðược, hôm nay tao gia ân cho mày, tao bắn vỡ sọ mày, bắn vỡ sọ bất luận thằng phản động nào!
Kiệt: (Khoanh hai tay chéo tới vai, thách thức) Cách mạng gọt một anh hùng tên lửa là tao tròn như viên bi. Con vện thành phố, bắn thử cho tao xem tài trúng trật của mày!
Phấn: (chồm tới ghì tay súng đang run lên của Kỳ, van xin) Em lạy anh, em lạy sống anh.
Sách: (đột ngột can thiệp) Anh Kỳ, no mất ngon giận mất khôn, anh nên bình tĩnh.
Kỳ: (cười gằn) Mấy năm trước tôi có nợ ông ít chữ, để đó, thư thả tôi hoàn!
Ba Thừa: (ngửa mặt than lớn) Thời nay thầy trò cũng chả ra làm sao nữa! (nhìn quanh) Thôi kệ cậu ấy, đồng bào cứ để yên xem va dở trò gì.
Tư Diện: Ông giáo khuyên phải đấy đồng chí. Lời nói không mất tiền mua. Xã hội ta vốn đã nhuần nhuyễn nền văn hóa liệu lời...
Kỳ: (vẩy loạn mũi súng về phía Sách và Tư Diện, chận ngang) Mày nữa, thằng phường tuồng lưỡi dài, mày lên lớp ai đấy? Muốn cấu kết với bọn phản động chống đối?
Sách và Tư Diện: (giơ tay đỡ ngực, đồng thanh) Không không, coi chừng cướp cò, xưa nay chúng tôi rất dị ứng chuyện cấu kết!
(Sách quăng chiếc thùng vung vãi nhiều món, Tư Diện ném cả ống vố; họ đồng thanh khi la nhưng không đồng hướng khi chạy. Những người còn lại không hẹn cùng dồn sang một phía đối diện với Kỳ. Nam Kha đột ngột chạy vào, đứng giữa, nhìn Kỳ nghiêm giọng.)
Nam Kha: Anh Kỳ, anh bỏ súng xuống!
Kỳ: A, thêm thằng văn hoá văn biến kia nữa. Ðâu, mũi nhọn mày đâu, lấy tao coi.
Nam Kha: Mũi nhọn gì?
Kỳ: Thì bút ấy, bút của mày ấy!
Nam Kha: Hừ, ra thế, nhưng nó không dùng giết người.
Kỳ: Chỉ để biên thư chim em gái tao? Tội mày tày đình tao còn để đó, thằng mèo mả gà đồng!
Nam Kha: (mất bình tĩnh) Tôi cấm anh không được xúc phạm danh dự chúng tôi.
Kỳ: (chĩa súng vào Nam Kha) Mày vừa phạm thêm một tội tày đình thứ hai (cười ngạo mạn) Ối nhà nước ơi, nó dám ngang nhiên giật cả chữ cấm của tôi!
Hồng: (hớt hải chạy vào, đứng cạnh Nam Kha, la lớn) Trời ơi anh Kỳ! Anh làm gì thế?
Kỳ: Mày cũng nhảy vào phe chúng nó?
Phấn: (bước ra phân trần) Anh đừng nói vậy. Có ai về phe ai đâu.
Kỳ: (tiếp tục nói với Hồng) Mày về ngay!
Hồng: Anh bỏ súng thì em về.
Kỳ: (quát) Tao bỏ súng thì còn gì để khẳng định tao?
(Nam Kha thừa lúc Kỳ chểnh mảng, xốc tới giật khẩu súng. Mấy phát nổ. Ba Thừa và Phấn lạc đạn ngã xuống. Nam Kha vớ con dao chặt nước đá chém Kỳ một nhát trúng tay, rơi súng, máu văng tung toé. Cảnh tượng náo loạn. Sân khấu vương vãi bàn ghế gãy đổ, quang gánh, ly tách, lọ dầu xịt, nước hoa, cà vạt, nơ mang nhãn hiệu nước ngoài.)
Hồng: (đỡ đầu Phấn lên, ngước nhìn Kỳ, ai oán) Oan gia rồi anh ơi!
Nam Kha: (rờ mạch cổ Ba Thừa) Ông ơi, ông ơi...
Ba Thừa: (mở mắt nhìn trân Nam Kha, thều thào) Sao mặt cháu như... như đầy máu... thế kia?
Nam Kha: (vuốt mặt, nhìn tay, ngước nhìn Kỳ) Máu mày đấy, thằng khốn kiếp! (mắt Ba Thừa dại đi, ngoẹo đầu, Nam Kha lại rờ mạch cổ, thốt vơ lại con dao, chồm lên nói với Kỳ) Mày đòi xem mũi nhọn của tao phải không, nó đây!
Hồng: (ôm lấy Nam Kha, van xin) Ít nhất từ đây anh Kỳ em đã trở thành tù nhân của chính anh ấy. Cớ gì anh đi chia cái cùm một cách vô lý?
Nam Kha: (một tay đặt trên xác Ba Thừa, một tay vẫn giữ chặt con dao, khóc lớn) Ối ông ơi, ông là tướng mà sao trên không nhận dưới không nhìn? Thân thể ông hy sinh cho cách mạng cha giờ cách mạng con khinh ông là giả. Ông đã sống thật hay sống giả mà giờ ông phải chết lề đường ông ơi!
Kiệt: (lết đến gần xác chết, gỡ mũ, thở dài. Kịp thấy khẩu súng lục của Kỳ rơi ngay cạnh, nhặt lên, nét mặt đầy phẫn thán, chĩa súng lên trời, nói lớn) Phát súng này để truy niệm thiếu tướng Ba Thừa, người anh hùng quân đội Nhân Dân, đã tử trận... từ lâu! (bóp cò liền sáu phát, súng không nổ, quăng súng, giơ tay chào xác chết, giọng nghiêm chỉnh) Thủ trưởng tha lỗi. Nó không để dư phát nào cho tôi thành kính truy niệm! (bò nhanh vào cánh gà bên trái.)
Kỳ: (sau lúc đứng chết lặng, thấy Bích xuất hiện nơi đầu ngõ, quên vết thương của mình, quỳ xuống bên Hồng, nâng đầu Phấn lên, rờ rẫm, hét lớn) Bố ơi cho con một tay, (bảo Hồng) Chạy tìm xích lô, chạy tìm lão Nhân, nhanh lên! (Hồng quàng bước đi, Kỳ lẩm bẩm) May quá, chỉ trầy vai, ngất thôi, không chết.
Bích: (đứng nhìn, nghiến răng) Nhưng mày chết! Ðã bao lần tao nhắc mày mọi hành xử cách mạng đều phải tiến hành trong đêm tối? Anh hùng giữa chợ kiểu mày chỉ là túi khôn đứa tự tử. (thở dài) Sự cố này có bán đứt cơ ngơi, phúc lắm tao đủ mua tấm vé một chiều cho mày vào trại cải tạo!
(Người từ hướng núi rác và trong ngõ cùng ùa trở lại sân khấu, kẻ bịt miệng, người bịt mắt, la hoảng. Màn.)



Màn Ba

(Màn lên nhanh, bày ra quang cảnh tương tự cuối màn hai. Trời đã chạng vạng. Có ánh đèn đường. Có tiếng chuông thánh đường và tiếng kẻng báo lửa vang dội. Ông cháu Ba Thừa và cha con Bích đã biến mất. Hai gã ăn mày cũng biến mất. Phấn được băng bó tạm một bên vai, ngồi một mình trước hiệu phở. Suốt chiều ngang hậu trường lửa cháy bập bùng, khói mù mịt. Người người tay xách nách mang, bế con cõng cháu, tiếng la hét "cháy! cháy! cháy!", tiếng con trẻ gào khóc.)
Giọng thứ nhất: Trời ơi sao đống rác cháy lan lẹ vậy nè!
Giọng thứ hai: Cháy sâu trong ngõ nữa kìa. Ối má ơi gió lớn!
Giọng thứ ba: Vụ này dám đốt.
Giọng thứ nhất: Quỷ thần đốt chớ ai đốt! Cháy chi cũng có kiểu cháy đồng khởi vậy trời!
Giọng thứ hai: Sao không nghe còi nhà rồng? Bộ còn trả giá tới lui chi nữa đây? Mà Ban Chữa Lửa Phường nữa, chạy đâu ráo trọi rồi?
Giọng thứ ba: Lan tới đây rồi bà con ơi! Chạy, chạy trước thôi!
(Hai công an sắc phục hộc tốc chạy đến trước hiệu phở, hỏi Phấn.)
Công an thứ nhất: Cô là Phấn?
Phấn: Vâng.
Công an thứ nhất: (hỏi tiếp) Vết thương cô nặng không? Không ai lo cho cô à?
Phấn: Tôi bị nhẹ thôi, ở vai đây. Ðã có người đi gọi xe cứu thương.
Công an thứ hai: Chúng tôi trên quận đã có báo cáo sơ bộ, chỉ đến hiện trường điều tra bổ túc. Tưởng nổ súng chết người thôi, ai ngờ cháy tợn quá. Thế... hung thủ và người chết đâu?
Phấn: Tôi đâu biết.
Công an thứ hai: (nói tiếp) Ừ, cô bị thương. Với lại rối ren thế này. Rồi sẽ làm việc chi tiết với trên. Nhân tiện hỏi cô vài câu, thành khẩn trả lời đấy nhé!
Phấn: Nếu tôi biết.
Công an thứ nhất: Cần, cô có thể nhận diện kẻ xấu bắn cô không?
Phấn: (ngẫm nghĩ) Tôi đang bận khách, nghe xô xát nhưng súng vừa nổ tôi không biết gì nữa.
Công an thứ hai: Có một tướng tử thương, cô biết?
Phấn: Dạ... không.
Công an thứ nhất: (nói với đồng sự) Thôi chuyện này kiểm tra sau. Rồi sẽ đâu ra đó. (quay sang Phấn) Nhân thể cô biết gì vụ cháy không?
Phấn: Không.
Công an thứ hai: Cô có cho là bị đốt không?
Phấn: Làm sao tôi biết!
Công an thứ nhất: Lúc tôi dựng xe đàng kia, có người đến báo cáo, bảo là khách của cô, biết khi chiều cô có phát hiện hai tên ăn mày thui đốt gì đó trước Ban Chữa Lửa Phường, gần đống rác, đúng?
Phấn: Có, nhưng họ thui một con chim sẻ ngoài đường mà đám cháy nghe đâu bùng lên từ sâu trong ngõ.
Công an thứ hai: Thế à? Lại cũng có người nói đám cháy phát từ bãi rác. Dù sao đó cũng là chi tiết rất cần ghi nhận.
Phấn: Tuỳ các ông.
Công an thứ hai: (hỏi tiếp) Thế hai tên ăn mày chạy đâu, cô biết không?
Phấn: Họ cụt cả hai chân!
Công an thứ nhất: Thì cũng phải bò đi chứ, dễ ngồi yên chịu chết cháy?
Phấn: Nếu họ chưa chết cháy ắt các ông sẽ tìm ra họ.
Công an thứ nhất: (ngẫm nghĩ) Nhớ xem, cô còn gì để khai báo thêm về vụ cháy không?
Phấn: Không, tôi không nhớ gì hết!
Công an thứ hai: (truy) Cô bán quán tất nhiên dễ tiếp thu tin tức, nhất định cô có thể nghe và đoán được một ý đồ thù hận xấu xa, thậm chí một âm mưu đốt nhà cụ thể nào đó.
Phấn: (giọng mệt nhưng sẵng) Trời ơi lòng người làm sao tôi rõ, còn cháy thì các ông hỏi lửa ấy!
Công an thứ hai: (hơi bực, đột ngột) Cô quen thằng Kỳ thế nào?
Phấn: Quen vậy vậy thôi.
Công an thứ hai: (cười hiểm, tiếp) Tưởng thân đây báo cho một tin.
Phấn: (bối rối) Dạ tôi thân... rất thân với cô em anh ấy.
Công an thứ nhất: (lạnh lùng) Nó cháy rồi!
Phấn: Ối trời ơi chết cháy rồi?
Công an thứ hai: Không hẳn, mà bảo thế chắc cũng không sai. Sòng bạc là tội tập thể, gỡ được; chứ giết tướng, ồ, tội cá nhân!
(Có nhiều tiếng nổ phát ra từ phía sau Ban Chữa Lửa Phường. Ðám cháy càng bùng nhanh, lan rộng. Hồng mồ hôi mồ kê hớt hải chạy vào, nhìn quanh, rồi chạy đến bên Phấn. Thấy có người lo cho Phấn, hai viên công an lỉnh nhanh.)
Hồng: Chú Nhân chưa về tới hả chị? Trời ơi sao tự nhiên cháy khắp cùng thế này? Mọi người đâu cả rồi? Anh Kha đem ông cụ chạy đâu rồi? Bố tôi, anh Kỳ nữa?
Phấn: Có mấy người dìu tôi đến ngồi tạm đây, bảo đi gọi xe cứu thương.
Hồng: Sao lại nỡ dối trá như thế! Cháy thế này xe chữa lửa còn chưa thấy đâu, làm sao có xe cứu thương!
Phấn: Chắc cuống đấy, chứ ai mà nỡ dối.
Hồng: (vuốt mồ hôi) Chị rán đợi tôi một chút, tôi chạy vào trong xem sao (chạy nhanh vào ngõ, một lát chạy ra, mếu máo) Tiêu hết rồi chị Phấn ơi. Nhà tôi, cả mấy căn cho thuê. Mẹ tôi cũng không rõ chạy đâu nữa. (nhìn ngọn lửa bên trái sân khấu) Trời ơi điệu này tới lượt hiệu phở mất. (nhìn Phấn ái ngại) Giờ chị tính sao?
Phấn: Là sao ạ?
Hồng: Tôi dìu chị đi, chị đi nổi không?
Phấn: Trời ơi hơi nóng đã rát cả mặt. Phải nổi chứ.
(Hồng dìu Phấn đứng lên. Cả hai dợm bước theo đám đông.)
Hồng: Chịu khó tí, tôi dẫn chị đến nhà người bạn chỗ đường sắt, rồi liệu tìm y tá. Khu chị cầm bằng cũng đã ra tro. Chị mệt lắm không?
Phấn: Dạ không.
Hồng: Trời ơi là trời ơi. (khóc) Ai ngờ anh tôi nhẫn tâm đến thế! May chị không mất máu nhiều.
Phấn: (đắn đo) Anh ấy thế nào?
Hồng: (nhẹ ghì Phấn đứng lại, khóc oà) Tôi nào có biết! Mà còn thế nào nữa hả chị? Một tay anh ấy đã huỷ sạch sành sanh. (quẹt nước mắt) Cả một hy vọng, cả một giấc mơ, (chỉ lửa) giờ đến cơ ngơi!
(Lặng lâu)
Phấn: (nắm tay Hồng) Thôi, mình đi chị. Mình tìm chỗ nghỉ. Qua đêm biết đâu rồi mình sẽ khác.
Hồng: Khác là khác thế nào, hả chị?
Phấn: Là có thể từ mai mình sẽ thấy nhẹ nhõm. (nói xa xôi) Mình sẽ thoát được một cảm giác ghê sợ, một cảm giác mọi sự dối lòng đều không thể khoả lấp, một cảm giác sống như chỉ để chờ một tai nạn, không, một biến cố để thanh tẩy mới phải, một biến cố ắt xảy ra và vô phương tránh né!
Hồng: (ngơ ngác) Chị nói gì thế? Tôi... tôi không hiểu.
Phấn: Mong có lúc chị sẽ hiểu (giục) Mà nóng quá rồi, mình phải đi thôi.
Hồng: (ngoái nhìn ngọn lửa) Nhưng...
Phấn: Nhưng sao ạ?
Hồng: Chị biết gì về ngọn lửa kia không?
Phấn: (không nhìn lại, nói khẽ) Có chăng chỉ biết nó không lưỡng lự.
Hồng: Sao nó lây lan nhanh thế?
Phấn: Ðiều ấy thì tôi không biết. (nghĩ lâu) Thật đấy. Mà có ai đoán được, biết được quyền của lửa bao giờ!
(Hai cô gái cùng dìu nhau đi giữa dòng người chạy ngược xuôi. Lộn trong tiếng kêu la, họng loa từ khu phố khác vẳng đến một hành khúc có nội dung mâu thuẫn với hiện cảnh. Nhiều đèn cực sáng cùng rọi vào sân khấu màu đỏ hồng, đỏ hồng được điều chỉnh từ từ biến thành màu đỏ lửa, hoàn toàn. Thình lình một tiếng nổ cực lớn. Mọi âm thanh khác câm. Sân khấu tối như mực. Màn hạ .)
 
Ðại Tây Dương, Thu 97
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 06:39:04sóng trăng>
[size=+3].[/size]
[size=+3][/size] 
[size=+3]NGƯỜI TÙ[/size]


 
 
Xe về tới Sài Gòn vào một chiều cuối năm, đến ngã ba rẽ vào Khám Lớn thì kẹt. Người tù bấn loạn vì mót tiểu tiện. Biết xin xỏ lúc này vô ích, anh cắn răng chịu cho đến lúc ướt hết đũng quần. Cái hỉnh mũi khó chịu làm giảm nét vô cảm trên khuôn mặt người công an trẻ áp giải. Nhưng chắc đã quen với phía trái "thiên đường," anh ta yên lặng.

Người tù nhìn ra dòng đời ngoài ô cửa lưới. Nắng chiều óng cơn mưa nhỏ, khói đè thấp mái quán, bước chân người như dính lối đi. Xa quá, tách biệt quá, cảnh đời không hàm chứa một khơi dậy nào cho anh, dẫu là sự tò mò gần với bản năng, thậm chí chút buồn. Anh quay vào như tránh nhìn một tấm gương vừa soi rõ thân anh như hòn sỏi, quen đến lỳ sự trầm tích dưới sức nặng thời gian. Hai mươi mốt năm hết nhà tù này sang nhà tù nọ, anh tự hỏi sao lòng dửng dưng, đến nỗi buồn cũng trắng? May, có thế chứ! Anh vừa nghe đâu sâu trong tâm khảm máy động chút luyến tiếc những năm đầu tù tội. Ôi tuổi trẻ đâu cũng là tuổi trẻ, dù tuổi trẻ trong tù. Thân xác màu mỡ ngày ấy gánh nặng đời chưa đè nổi hạt mầm hy vọng. Ðó là khoảng thời gian anh còn chia xẻ được với các bạn bóng lồng lộng một người nữ không có thực, còn ăn ngon lành món ăn tưởng tượng sợ chưa từng hưởng trong đời, còn mơ được loài chim cánh rộng phủ mát bầu trời ngoài khung cửa hẹp, một đốm lửa đầu thuốc nghĩ ra cả một đám cháy lớn, nghe ra tiếng chấn động càn khôn của chú dế đêm tưởng là nhỏ bé lạc loài.

Lao tù tiêu hoang đời anh nhưng anh không chận tay nó được. Hết rồi, mơ mộng ấy sẽ không bao giờ còn nữa?
"Ỉa đấy à?"
"Dạ không."
"Thối quá!"
Anh tính nói lâu rồi anh đã xa lạ mùi thơm nhưng yên lặng. Người công an áp giải đốt thuốc hút một mình, một lát lại ngứa miệng hỏi, kiểu mông lung:
"Cuối năm sao chuyển trại mỗi mình ha?"
"Dạ đâu biết."
"Phản động tội to như cột đình, va sưng trán thế kia mà cứ không biết. Trước nghề gì?"
"Tôi dạy học."
"À, trí thức..."
Người công an bỏ lửng nhưng anh hiểu. Nén lắm anh mới không bật cười. Từ bình minh nhân loại trai săn bắn gái hái lượm, lời ca ngợi bộ óc chế ra lưỡi dao, mũi tên, cái thúng, cái rổ lớn mãi theo quá trình thăng tiến, dè đâu có lúc bị chận đứng ở cuối thế kỷ 20. Bộ óc hoá thành đối tượng cần thủ tiêu của chế độ. Cũng tốt thôi! Nhưng không nên nói điều đúng hơn vào tai kẻ vốn đã tin lời y là đúng nhất, anh dặn lòng, rồi anh tự xoa dịu bằng ý nghĩ y coi mình là tội phạm nguy hiểm nhưng cấm sao được mình coi y là một nạn nhân đáng thương.


Xe lại chuyển bánh. Thấp thoáng xa xa cánh cổng dẫn vào Khám Lớn. Những hàng gòn, trứng cá xanh quanh năm bên đàng không giúp anh nhớ rõ anh đã trở lại chốn cũ bao lần. Nhưng khác gì nhau dù chỗ này chỗ nọ, khi mà chỗ nào cũng chỉ phản ảnh mặt tiêu cực nhất của sự căm thù vô lối? Ðó là chỗ cũng con người cho ăn mới được ăn, cho ngủ mới được ngủ, cho sống được sống, bắt chết phải chết; chỗ con người trở lại sự trần truồng không ngượng ngập buổi đầu đời, và sự sống hoàn toàn tuỳ thuộc như trẻ sơ sinh, có hiện tại mong manh và tương lai là điều bất khả ý thức.
 
Xe đậu. Người công an áp giải chà tay trên báng súng, đột ngột lên tiếng, "Thế nào chả gặp lại đồng cảnh cũ, vui nhá!" Anh tính nói "tôi có hàng triệu đồng cảnh, đâu chả gặp," nhưng thôi. Người công an nhìn ra ngoài sân nhốn nháo những đồng nghiệp, nhớ cả ngày đường tên tù không làm phiền điều gì, anh ta buột miệng gia ân cho tí tin vui:
"Lúc này thả nhiều đấy, nếu được thả tính làm gì nào?"
"Sẽ dạy đốt."
"Hả?"
"Cái di sản u tối kiên cố kia."
Người công an trẻ biến sắc. Anh ta mở cửa, nói nhỏ với mấy đồng nghiệp, kế hất mũi súng ra lệnh cho anh bước xuống. "Ð.m. mày tính thiêu sống các ông đấy!" Anh lầm lũi bước theo một cai tù già có bộ mặt hằn học vừa chửi xéo anh. Ðầu anh nảy ý nghĩ vui vui: Hoá ra lão ta chưa vô cảm.
Rời phòng giám thị lão khua xâu chìa khoá dẫn anh về khu giam, giữa đường nghĩ sao, bảo:
"Dám sắp được về đấy, giữ lấy mồm mép."
"..."
"Mà này, nếu được đi nước ngoài, đi không?"
Anh đáp, lời như đã hờm sẵn từ lâu:
"Không."
"Ðiên à?"
Giọng anh hơi đanh:
"Ði hết ai dạy trẻ?"
"Dạy gì?"
"Thì dạy đốt."
"Nữa!"
"Thế đấy, đốt sạch lao tù đã giam cầm hết tuổi trẻ chúng ta."
Cánh cửa sắt khép lại. Trí nhớ anh khi không hồi phục, ít ra đủ để anh nhớ những lần trước nó sập cách thô bạo, lạnh lùng; lần này nhẹ, hơi lưỡng lự nữa. Anh nhủ lòng biết đâu có người cai tù vừa hiểu ra ngọn lửa không tàn ác của một người tù.

Rồi anh nằm xuống gối tay trong bóng tối, thoáng chốc mơ lại giấc mơ vẫn thơm cuộc đời dẫu đã trộn mùi nước mắt, có tiếng cười tuổi trẻ bất chấp ran ran, có loài chim tung khung cửa hẹp phủ cánh mát trời, có lửa cháy và nhất là có hạt hy vọng nảy mầm vào một bình minh mới. Tiếng dế lại vang vang, chấn động. Anh xoay nghiêng, mở mắt cười vào góc tối, nói khẽ, "Mày, vẫn y nguyên, không suy suyển chút nào!

Alhambra 10-95
 
 
_________________
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-11 16:07:29sóng trăng>
.
 
Ðại Học Máu

 
 
 
[size=+2]THAY LỜI TỰA[/size]
 
 
 

Tháng 6 năm 1975 -- một tháng sau ngày bộ đội cộng sản tràn ngập miền Nam tự do -- những công nhân công chức của Việt Nam Cộng Hoà nghe đài phát thanh lần lượt loan báo các lệnh gọi trình diện "học tập cải tạo." Ðó là các thông cáo ngày 10-6, ngày 11-6 và ngày 20-6, ký tên Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn - Gia Ðịnh.
 
Ngoài sự chỉ định rõ ràng những địa điểm và ngày giờ trình diện còn có lời yêu cầu những người đi học tập cải tạo phải "đem theo đầy đủ giấy, bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày, kể từ ngày tập trung trình diện" (thông cáo ngày 20-6). Riêng đối với các sĩ quan cao cấp trong quân đội và cảnh sát, các dân biểu và thượng nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái "phản động" tại miền Nam, thì được lệnh "đem theo đầy đủ giấy, bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong một tháng kể từ ngày học tập đầu tiên" (thông cáo ngày 11-6).
 
Bản tường trình tháng 4 năm 1983 của Ginetta Sagan và Stephen Denney (Aurora Foundation), căn cứ trên những kết quả điều tra và phỏng vấn, đã cho biết: "Rất ít, nếu có, người đi học tập cải tạo được thả về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. . . . Trong số hơn một triệu người đã đi vào các trại học tập cải tạo (trên 150 trại rải rác khắp nước Việt Nam) thì có khoảng 500.000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200.000 người đã ở trong trại từ hai năm đến bốn năm; 240.000 người đã phải chịu đựng ít nhất năm năm trong cảnh tù đày; và cho đến nay (4-1983) vẫn còn ít nhất là 60.000 người đang bị giam giữ."
 
Chúng ta thông cảm cho sự ngập ngừng, dè dặt của Sagan và Denny khi đưa ra những con số thống kê về tù cải tạo. Những con số ấy chỉ gợi lên một ý niệm chứ không thể có được giá trị dữ kiện. Làm sao đòi hỏi con số thống kê chính xác về những nạn nhân của một chế độ mà sự dối trá vốn được coi là nguyên tắc chỉ đạo căn bản?
 
Phần tường trình về "học tập cải tạo" chiếm 26 trang trong bản tường trình của Aurora Foundation nhằm minh chứng một trong những hiện tượng vi phạm nhân quyền trầm trọng đang xảy ra tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 30-4-1975 đến 30-4-1983. Thật ra, trước đó, miền Bắc suốt hai mươi mốt năm sống dưới chế độ cộng sản đãkhông được biết đến nhân quyền là gì. Nếu nói về văn kiện chính thức, thì chế độ "học tập cải tạo" đã được ban hành do Nghị quyết số 49 (ngày 20-6-1961) và Thông cáo số 121 (ngày 8-9-1961). Sự ban hành ấy có nghĩa là: Mọi thành phần bị coi như đối nghịch, phản động, đã từng (hoặc đang) ở trong các nhà tù thì nay đều bị đảng vànhà nước "gom" lại trong một loại nhà tù mới, tổ chức quy mô hơn, theo đúng khuôn mẫu của các nước cộng sản đàn anh. Loại nhà tù này đặc sắc hơn những nhà tù bình thường khác ở chỗ nó có thể thoả mãn cùng một lúc nhiều mục tiêu. Thí dụ mục tiêu an ninh (giam giữ vô hạn định những thành phần nguy hiểm mà khỏi phải mất công thực hiện các thủ tục pháp lý, đồng thời luôn luôn giữ được sự chủ động kiểm soát khối lượng tù nhân theo tình hình an ninh nội chính); mục tiêu chính trị (có điều kiện thuận lợi để thực hiện chương trình tẩy não và nhồi sọ tư tưởng cộng sản, mặt khác tạo không khí thường xuyên khủng bố tinh thần nhân dân bằng hình thức đe dọa gián tiếp, nhờ đó dễ dàng tiến hành các kế hoạch chính trị); mục tiêu kinh tế (sử dụng không công một khối nhân lực đáng kể trong những công tác kiến thiết, sản xuất, và phục vụ bộ máy lãnh đạo; đồng thời tránh được trách nhiệm phối trí khối nhân lực này vào một guồng máy kinh tế vốn đang lâm vào cảnh khiếm dụng) v.v. . .
 
Chế độ "học tập cải tạo" được mở rộng ngay sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, dĩ nhiên vẫn với sự áp dụng những phương pháp quản lý cũ và vẫn nhắm vào những mục tiêu cũ, nhưng đặc biệt có phần khắc nghiệt hơn trong cung cách quản lý. Nguyên nhân có thể là vì lòng căm thù (pha lẫn mặc cảm) đối với thành phần tù nhân mới; nguyên nhân cũng có thể là vì sự suy đồi trầm trọng trong tình hình chính trị và kinh tế sau khi hoàn thành cuộc cưỡng chiếm đã khiến cho điều kiện ăn ở của tù nhân trong các "trại học tập" trở thành tồi tệ vượt ngoài sức tưởng tượng, thí dụ khẩu phần thường lệ của tù nhân cùng với những thực phẩm do thân nhân tiếp tế đã bị cắt xén hoặc tước đoạt nhằm cung ứng bù đắp cho chính những cán bộ quản giáo. Tính chất phi nhân của chế độ "học tập cải tạo," thể hiện qua những sự thật khủng khiếp, chỉ từ sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ mới bắt đầu được phanh phui trước dư luận thế giới và được phanh phui bởi nguồn tài liệu đắt giá: tiếng nói của những người đã sống sót và đã vượt thoát sau khi trở về từ các "trại học tập."
 
Ðại Học Máu là một trong những tiếng nói đó. Không phải là tiếng nói đầu tiên, và chắc chắn nó cũng không phải là tiếng nói sau cùng. Tám trăm hai mươi hai trang sách, chia thành bảy mươi chương, chỉ là lời tường trình của một chứng nhân về những điều mắt thấy tai nghe trong bốn "trại học tập": Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu và Hàm Tân. Ðó là những nơi mà Hà Thúc Sinh, một sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng Hoà, đã sống từ ngày 26-6-1975 đến ngày 9-2-1980, nghĩa là trong 4 năm 7 tháng 14 ngày.
 
Tháng 11-1980, Hà Thúc Sinh bắt đầu viết Ðại Học Máu tại đảo Pulau Bidong, mảnh đất tự do đầu tiên mà anh đặt chân tới sau khi vượt thoát khỏi Việt Nam. Bản thảo được hoàn tất vào tháng 12-1984 tại San Diego (California), mảnh đất tự do thứ hai của anh. Viết Ðại Học Máu, Hà Thúc Sinh chẳng qua chỉ làm tiếp công việc đã từng được làm bởi nhiều người khác (và hẳn còn đang được tiếp tục làm bởi nhiều người khác nữa). Ðó là nói lên tiếng nói của sự thật, cái sự thật bi thảm và kinh tởm về chế độ "học tập cải tạo" của cộng sản, cái sự thật mà cho đến giờ phút này vẫn còn hoặc chưa được biết tới đầy đủ, hoặc bị cố tình tảng lờ, cố tình phủ nhận bởi những con người may mắn của một thế giới tự do nhất định không chịu tỉnh ngủ.
 
Nghĩ cho cùng, tiếng nói của sự thật vốn không phải là thứ tiếng nói êm tai, dễ nghe. Và người ta có lẽ thích nhìn văn chương như cánh cửa mở ra một thế giới bình an, hạnh phúc, hơn là một thế giới đày đoạ, khốn cùng. Tiếc thay, trên mặt địa cầu hiện nay có những bức màn sắt được dựng lên để chặn bít tất cả mọi cửa ngõ dẫn đến bình an và hạnh phúc. Ngày nào những bức màn sắt đó chưa sụp đổ, ngày đó văn chương còn phải tiếp tục đóng vai trò của những viên đạn xuyên phá, của những hồi chuông cảnh tỉnh và báo động.
 
Trong một bản "nhạc tù" viết tại trại Hàm Tân năm 1980, Hà Thúc Sinh đã tự nhủ rằng, nếu còn sống mà trở về, anh sẽ chỉ xin được làm "một đời thằng mõ không công." Anh đã sống sót, đã trở về, và anh đang làm đúng cái công việc mà khi ở trong tù anh ước nguyện: Làm thay cho những người bạn đã không được may mắn sống sót trở trở về cùng anh; làm thay cho những người bạn mà anh chỉ biết cầu nguyện rằng đến giờ này vẫn còn sống sót để sẽ có ngày trở về; đồng thời, cũng làm thay luôn cho những người tuy đã may mắn sống sót trở về, nhưng khi may mắn thêm lần nữa làthoát thân được đến vùng tự do thì lại đổi tính đổi nết, trở thành nhân từ và đãng trí.
 
Hơn tám trăm trang Ðại Học Máu được kết thúc bằng một hoạt cảnh xảy ra bên một con suối trong trại Hàm Tân, khi tác giả cùng mấy anh em bạn tù vừa được "lệnh tạm tha," hí hửng đi tắm rửa, bị một tên an ninh vòng đai trông thấy, quát hỏi:
 
"Mấy thằng tù kia, đội nào nhà nào mà giờ này còn tắm ở đây?"
 
"Báo cáo cán bộ, tụi tôi được thả rồi, được tự do rồi."
 
Tên công an thứ hai nghe vậy vội chen vào:
 
"Này, ăn nói với cán bộ mà vô phép thế đấy phỏng? Mày tưởng thế là mày tự do đấy phỏng?"
 
Hà Thúc Sinh kết thúc bản tường trình ở đấy. Câu hỏi chót đã không được trả lời, mà đã được ghi lại nguyên văn để gửi đến chúng ta.
 
Thỉnh thoảng người cộng sản lại buột miệng hỏi một câu mà ít ai chịu để ý nghe. Nếu để ý nghe, thế giới tự do hẳn đã đỡ tốn rất nhiều thì giờ, bút giấy và máu xương.
 
 

 
[size=+1]Nhà xuất bản Nhân Văn[/size]
[size=+1]San Jose 3-1985[/size]

 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-25 05:26:21sóng trăng>
 
Ðại Học Máu
.

 
QUYỂN  SÁCH  NÀY
 

Quyển sách này không thể là một tác phẩm tiểu thuyết văn chương, cũng không thể nằm trong hình thức một hồi ký chính trị hoặc một bút ký lao tù. Quyển sách này, thực tế, chỉ có thể được coi như một đống quặng mỏ, được khai quật và còn giữ nguyên hình thái chân thực của nó; hoặc có thể nói một cách khác, bảy mươi chương sách này có thể xem như bảy mươi tấm ảnh, được chụp liên tục và được rửa ra bởi một phó nháy may mắn và có tính tiếc của, nháy được bảy mươi hoàn cảnh buồn nhưng có ý nghĩa trong đời tù cải tạo dưới chế độ cộng sản; hoặc có thể nói một cách khác hơn nữa, quyển sách này là bản phúc trình của một người lính Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ rơi, bị ở tù cộng sản, rồi thoát được ra ngoài, ngồi viết lại để gửi tới những ai còn thương yêu và còn quan tâm đến nước Việt Nam và con người Việt Nam còn ở lại.
 
Quặng mỏ, những bức ảnh chụp vội và chụp tham, hay bản phúc trình được thảo bởi một người lính, bản chất của nó thực khó tránh khỏi hai yếu tố chính thô và thực. Ðồng lúc, mục đích của nó cũng không có gì khác hơn là ước ao sẽ được sử dụng như một thứ nguyên liệu cho một công trình biến hoá có ích lợi
 
Tác giả có nhiều hoài vọng, phải nói thật như thế, nhưng hoài vọng lớn nhất vẫn là mong sao mớ quặng này sẽ giúp cho một guồng máy chống cộng nào đó chạy thêm một vòng xích, một sử gia nào đó có thêm một chứng từ về cơn đau ốm quê hương, hoặc một người Việt Nam lưu lạc nào đó tìm được một quyết định: Phải cứu lấy người ở nhà.



Hà Thúc Sinh
Hoa Kỳ 12-1984
 
 
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-25 23:47:23sóng trăng>
.
 
Ðại Học Máu


VÀO TRUYỆN

 
 
Một trăm hai mươi "học viên" được dồn vào một "lớp học" gỗ mà trước kia người Mỹ dưng lên như một đơn vị phòng ngủ dành cho tám người. Người Việt Nam dù có nhỏ con hơn người Mỹ đi nữa, nhưng với một diện tích 15m x 5m cho 120 con người thì quả là tự điển Việt Nam không thể có một tĩnh từ nào mô tả cho chỉnh tình trạng này.

"Tao lạy mày cho tao nhấc cái chân lên, tao đã tê đến bìu rồi!" Một giọng nói khe khẽ cất lên trong đêm tối. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng thì thầm nói chuyện của một vài người. Giọng nói lại vang lên, nửa đau thương nửa hài hước, "Tao lạy mày Hoá ơi, tao lạy mày cho tao nhấc cái chân lên một tí." Tiếng van nài vẫn chưa được đáp ứng. Giọng nói bỗng đổi tông, vừa lớn vừa quau, "Tiên sư nhà mày thế này mà ngủ được à. Ông tê lên đến rốn rồi. Cu dế không còn biết nó nằm ở đâu nữa này trời ơi!"

Tiếng trời ơi sau cùng đã lôi cả phòng thức dậy. Có tiếng cười rần rần tiếp theo là tiếng xô đẩy. Âm thanh giống một đợt sóng từ xa đưa tới: Nhỏ, lớn dần, rồi vỡ oà ra khi va vào chân núi. Sự lộn xộn khiến cái khối 120 người như nở lớn hơn ra.

"Trời ơi, bỏ cái cùi chỏ ra chỗ khác giùm đi ông cố nội."
"Mày chân thật hay chân giả hả thằng quỷ? Sao cái đầu gối mày cứng gớm ghiếc vậy?"
"Ối mẹ ơi, nó chọc thủng mắt tôi rồi!"
"Chọc cái con củ c. . . Từ chiều đến giờ bộ vai tao là đùi vợ mày à? Ðã tựa, đã ngủ, đã ngáy lại còn đổ dãi vào cổ ông nữa."
Cái khối nở lớn ấy hình như teo lại tức khắc khi có tiếng lên đạn và tiếng quát tháo từ ngoài hắt vào.
"Này, chúng mày nàm cái rì thế, muốn bạo hành chống đối phỏng. Ổn định ngay không ông bắn bỏ mẹ bây giờ!"
Giọng thằng bộ đội gác đêm vừa quê mùa vừa hỗn xược không đủ làm bọn tù bực bội. Họ yên lặng vì một ý thức bất chợt nào đó hơn là vì sợ hãi. Phải năm bảy phút sau khi tên bộ đội bỏ đi không khí mới hoàn toàn im vắng trở lại.
Một giọng thầm thì:
"Mày nghĩ tụi nó dám bắn mình không?"
Một giọng khác:
"Thằng bộ đội oắt con ấy à?"
"Không, là nói chính sách của chúng nó ấy chứ."
"Bắn thế đếch nào được, " giọng thứ hai ra vẻ ta đây rành chuyện bàn cờ quốc tế. "Này nhé, một cái thây ma thằng Mỹ mà còn cò kè thêm một bớt hai năm này năm khác, cái thây sống này không đáng mười ngàn đô à? Mười mấy thằng trong bộ chính trị chúng giàu thật đấy, nhưng liệu chúng có điên đến độ lâu lâu lại lôi ra một xấp đô-la đốt chơi không?" Không có tiếng trả lời. Giọng thứ hai lại tiếp tục, trầm và có vẻ dạy đời, "Thương mại trước tất cả mọi sự, ông bạn ơi!"
"Thằng lính Mẽo và thằng lính Mít khác nhau chứ?"
Giọng một lên tiếng yếu ớt, tuồng như hắn nêu ý kiến với lòng cầu mong ý kiến mình được sai.
"Ðồng ý, nhưng mà. . ."
"Nhưng mà cái đếch!" một giọng thứ ba bỗng nổi lên với vẻ bực dọc. "Ông cứ ngồi đó mà đợi thằng Mỹ nó chuộc."
"Chứ sao," giọng thứ hai vẫn sôi nổi. "Cờ hai bên đều kẹt thì bắt tay xoá đi làm lại, bộ xoá luôn à?"
"Ông như thế nào mà nhận định kiểu đó?"
"Ðại uý, ba mươi năm quân vụ, được không?"
"Thảo nào. . . thôi tôi thua." Giọng thứ ba nói một cách cay đắng rồi im. Nhưng dường như tuổi trẻ không cho hắn im lâu. Hắn cựa quậy trong chỗ ngồi như để buồng phổi được hít không khí nhiều hơn một chút, rồi chững chạc, hắn nói, "Thưa ông đại uý, em chỉ là thiếu uý, em xin góp ý với ông đại uý thế này, ông và em, đm. chỉ là những con chốt, những con chốt đã qua sông cả rồi, những con chốt không còn xe còn pháo còn mã nào yểm trợ nữa cả, và bọn đánh cờ chắc chắn giờ đây chúng đã mua bộ cờ mới, đánh ván cờ mới ở một chỗ mới mất rồi ông đại uý ơi." Ngưng một chút như để lấy hơi, hắn thở dài, "Chỉ còn hai con đường duy nhất nếu muốn sống thoi thóp cho quãng ngày tàn là: sẽ vượt ngục, hoặc im mẹ cái mồm cho xong!"

"Nói khẽ chứ, họ nghe được thì khổ cả đám bây giờ." Một giọng thứ tư nổi lên. Giọng nói có vẻ thân mật ôn hoà của một người mà cái tuổi năm mươi đã có thể cho phép ông ta thủ thế trong bất cứ vấn đề gì. Ông ta tiếp, "Thế này nhé, tôi đề nghị các anh nên nghỉ cho khoẻ. Mai mốt cách mạng còn dạy mình học tập lao động. Ðể phù hợp với đời sống mới mệt lắm chứ không chơi đâu. Rồi sẽ có lúc mình thèm ngủ mà sự bận rộn học hành sẽ chẳng còn được bao nhiêu thì giờ mà ngủ. Thức khuya tán nhảm chẳng lợi lộc gì." Ngưng một chút ông ta tiếp, "Dù sao cũng mới có hai ngày."
 
http://www.geocities.com/suthatcsvn/hts/dhm/daihocmau.html

________________
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-06 09:24:57Ngọc Lý>
.

Ðại Học Máu



CHƯƠNG MỘT


Căn cứ Trảng Lớn nằm về phía tây nam thành phố Tây Ninh. Khởi thuỷ nó là một căn cứ yểm trợ hoả lực, có phi trường riêng với đầy đủ đặc tính của một doanh trại quân đội Mỹ. Khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam do một điều khoản được ấn định trong cái hiệp định hài hước Ba Lê, căn cứ Trảng Lớn đổi chủ và do Bộ tư lệnh Sư đoàn 25 trấn đóng và sử dụng.
Với những đức tính chuyên cần góp nhặt về nhà cho mẹ đĩ của một số tướng tá quân lực Việt Nam Cộng Hoà, căn cứ Trảng Lớn dần dần bị lột da là tôn, gỗ; móc ruột là bàn, ghế, tủ, máy móc. Do vậy, chỉ một thời gian ngắn sau đó, một trong những căn cứ Mỹ lớn nhất miền Nam chỉ còn trơ bộ xương sườn là kèo và cột.
Tuy nhiên, khi căn cứ đổi chủ lần thứ ba, dù chỉ còn trơ kèo và cột, nhưng với "đỉnh cao trí tuệ của loài người," đảng ta vẫn thừa điều kiện để biến căn cứ này thành một nhà tù vững chắc mà mây cũng ngập ngừng khi muốn bay vào và chim cũng cùng đường không thể bay ra.
Nửa đêm ngày 28-6-1975, nhiều đoàn Molotova từ các địa điểm tập trung ở Sài Gòn đồng loạt khởi hành đưa các sĩ quan cấp uý đã liều nhắm mắt đưa chân ra nộp mình cho cách mạng vào những ngày 24, 25, 26 về căn cứ Trảng Lớn.
Sáng ngày 29, một sáng chủ nhật không còn nhà thờ nhà thánh cho những con chiên ngoan đạo; không còn những con đường đầy lá me xanh cho những người thi sĩ lính; không ai còn dịp chửi thề "mẹ nó, tuần nào cũng trăm phần trăm"; một sáng chủ nhật buồn như thế, thê lương như thế, các đoàn xe như những con sâu róm nối dài bất tận cùng quy về và đổ các tên "tội phạm chiến tranh" của chế độ Sài Gòn xuống vòng đầu địa ngục của họ.
Tha hồ xầm xì, tha hồ quan sát, tha hồ lo âu, tha hồ dự đoán; gì gì chăng nữa thì trước mặt mọi người vẫn là căn cứ Trảng Lớn. Dây thép gai mới được thả ra vây quanh từng khu riêng biệt. Mỗi khu có chừng hai mươi dãy nhà 15m x 5m. Trên những dãy nhà ấy, rõ ràng tôn và gỗ mới đã được đóng thêm lên những kèo cột cũ để bọn tù nhân của tân chế độ có nơi kê đầu. Với lối điều động có súng dí sau lưng, Việt cộng đã áp giải một cách thứ tự lớp lang để tù vào ngồi đúng vị trí mới của mình mà không ai bị sây sát chút nào.
Hai ngày đầu bó giò dằn mặt đã qua, ngày thứ ba bọn tù được thả ra khỏi phòng cho giãn gân cốt và để thực sự bắt đầu đi vào nếp sống với muôn ngàn thống hận về sau.
Sáu giờ sáng tên quản giáo của mỗi phòng xuống mở cửa. Hắn đứng giữa phòng dõng dạc phán, "Hôm nay cho ra làm công tác vệ sinh cá nhân. Bảy giờ tập họp trong nhà bầu trưởng khối." Lời lẽ cách mạng chỉ hà tiện thế thôi. Và tên quản giáo lạnh lùng bỏ đi.
Lũ tù từ bên trong ùa ra sân. Kẻ nhốn nháo đi tìm bạn bè, kẻ chạy ra những vũng nước mưa đọng dọc dãy hàng rào kẽm gai rậm cỏ lau, dùng lon guigoz gạn từng miếng để đánh răng súc miệng.
"Ðm. mày chỗ người ta lấy nước sao lại đứng đái?"
"Ðồ cà chớn!"
Những tiếng hét thất thanh cùng nổi lên khi có một anh chàng đứng phanh quần chơi luôn vào vũng nước mưa một bãi. Mặc những tiếng la hét, anh ta chỉ có mỗi một "chân lý duy nhất," nói theo chữ bác đảng, là đái cho thoả thích sự nín đái hai ngày qua.
"Ðồ lì lợm!"
"Mất nước cũng vì mấy thằng có máu lì như vậy!"
Trước con mắt ngạc nhiên của đám đông về cái đức tính lì của mình, anh bạn tù vừa gài cúc quần vừa chậm rãi quay mình lại. Anh nhếch mép cười như một tên hề. "Thưa các quan đồng viện," anh nói. "Ðến ngày hôm nay hỏi còn chỗ nào trên đất nước này mà không đáng đái lên?" Nói khơi khơi như thế rồi anh bỏ đi, kệ những lời bình phẩm văng vẳng theo sau lưng.
Vừa nghe những âm thanh hỗn độn phát ra từ đám đông, Vĩnh vừa thong thả đứng đánh răng dưới gốc cây. Anh thoáng thấy một người quen mặt đi qua nhưng không buồn gọi.
Trời tháng sáu Trảng Lớn đã bắt đầu có những cơn mưa về đêm. Buổi sáng giá lạnh nhưng buổi trưa sẽ lửa đốt. Nhớ lại hai ngày qua nằm bó giò trong căn phòng bé tí với 119 người khác mà Vĩnh rùng mình. Nếu tình trạng này kéo dài, nội bệnh truyền nhiễm cũng đủ rụng như sung, ấy là chưa nói vô phúc gặp những dịch như sốt sưng màng óc, kiệt lỵ. Vĩnh nhớ có một năm nào quân trường Quang Trung bị dịch sốt sưng màng óc. Với một hệ thống y viện có đầy đủ phương tiện thuốc men như trước đây mà số tân binh quân dịch tử vong còn lên đến độ báo động đỏ. Trong tình trạng thế này mà bị sốt sưng màng óc hoành hành có mà thánh chữa.
Vĩnh đánh răng xong nhét bàn chải vào túi. Anh lấy tấm khăn lông trên cổ, nhúng một góc xuống nước và bắt đầu lau đầu cổ chân tay. Thốt nhiên Vĩnh thấy có người khẽ đập vào lưng.
"Tìm mày suốt lúc đến giờ."
Người đang nói với Vĩnh là Nguyễn Tất Ứng, trưởng ban Báo Chí Bộ tư lệnh Hải quân. Ứng còn là bố đỡ đầu đứa con thứ hai của Vĩnh. Hai người đã gặp lại nhau nơi địa điểm tập trung trường Lê Quang Ðịnh trên đường Lê văn Duyệt, Gia Ðịnh.
Vĩnh hỏi lại:
"Mày nhốt phòng nào?"
"Tao cũng chưa định được vị trí phòng tao nằm đâu trong trại này nữa, chỉ biết đàng sau phòng là một núi vỏ đạn 105 ly. Mày cứ đi vòng xuống phía dưới kia, gặp đống vỏ đạn là thấy phòng tao ngay."
"Không hiểu chúng nó còn tiếp tục giam cứng tụi mình trong phòng nữa không."
"Nghe nói được thoải mái rồi."
"Thoải mái là sao?"
"Là ra vô tự do nhưng trong vòng khu hàng rào này thôi. Tao muốn nói là cửa phòng từ hôm nay được mở rộng hăm bốn trên hăm bốn."
"Có nghe gì thêm không?"
Ứng có vẻ đắn đo:
"Toàn tin đồn thôi."
"Ðồn sao?"
"Thì nghe đồn sớm nhất mười ngày về, muộn nhất là ba tháng."
"Mày tin không?"
"Thấy hơi vô lý nhưng cũng mong như vậy." Một mối lo chợt thoáng qua nét mặt Ứng. Hắn hỏi lại, "Vậy mày nghĩ sao?"
"Tao sợ mọt gông quá Ứng à," Vĩnh vừa nói vừa cố nở một nụ cười và xoay sang vấn đề khác. "Có gì ăn không?"
"Tao có đem theo ít nếp. Khi nãy vừa ra khỏi phòng nấu ngay một lon guigoz. Ði, đi với tao xuống đó."
Khoác tấm khăn lông lên vai Vĩnh lẽo đẽo theo bạn len qua những đám đông. Họ cũng đang tụ năm tụ ba bàn tán. Quang cảnh của một hoả ngục đang thành hình mang đầy đủ vẻ hỗn độn và bê bết của nó. Trên những lối đi lầy lội vì cơn mưa đêm hôm trước, dưới những gốc cây, dưới những hiên nhà, tù từng đám tụ tập bên những cái bếp kê vội bằng dăm ba viên gạch đang khom lưng thổi lửa nấu nhanh một miếng nước sôi để pha cà phê hoặc đổ mì gói.
Ði loanh quanh một lát hai người về đến phòng Ứng. Căn phòng bừa bộn và dơ bẩn như tất cả các phòng khác. Nếu không có mùi cà phê thơm ngát chung quanh, người ta không thể tránh khỏi ý nghĩ đây là hang ổ của bọn ăn mày thường tìm thấy trong những tác phẩm của Charles Dickens.
Vĩnh theo Ứng bước vào phòng, tháo dép cầm tay, bò qua đống chăn chiếu của anh em để về chỗ Ứng nằm. Anh ngồi tựa vách nhìn quanh. Anh nhận ra Vương Ðắc Vọng, tay vô địch đẩy cây và nhu đạo của Việt Nam Cộng Hoà. Anh chàng sĩ quan pháo binh kiêm thể tháo gia nặng tám mươi ký cũng vừa nhận ra Vĩnh.
"Chào ông bạn," hắn lên tiếng trước. "Ông bạn đã nói sai rồi."
"Có thể, nhà vô địch ạ."
"Mong rằng câu chuyện sẽ không xảy ra đúng như ông bạn nói."
"Nhưng. . ."
Vĩnh tính nói tiếp nghĩ sao lại thôi. Và nhà vô địch coi bộ cũng không muốn tiếp tục mẩu đối thoại nên chỉ mỉm cười quay lại với ly cà phê của hắn. Vĩnh cũng cầm lấy miếng cơm nếp của Ứng đưa lên miệng.
"Quen hả?" Ứng hỏi. "Lúc ngồi trên xe tao khổ vì hắn. Người đâu mà vô ưu. Xe vừa lăn bánh, ai cũng lo ngay ngáy không biết nó sẽ đưa mình đi đâu thì hắn đã ngáy như pháo gầm."
"Thì hắn dân pháo binh mà lại."
"Quen hồi nào?"
"Hôm ở Lê Quang Ðịnh. Hắn cùng trong tổ ăn mười người với tao. Tao đùa nắm bắp đùi hắn, nói, ‘Chắc chắn tụi nó sẽ đem mình ra biển. Chúng ta lại sẽ được đi tàu há mồm. Nhưng không phải Việt cộng cho chúng ta đi di cư mà là đem đi nuôi cá mập. Cái đùi như ông thì phải biết."
"Mày hay đùa thái quá," Ứng cự nự. "Thời buổi này cũng nên giữ mồm giữ mép. Con ếch nó chết vì cái mồm."
"Ðồng ý. Còn mục gì nữa không để tao về?"
"Ngồi tí nữa. Thằng nằm cạnh tao sắp đem cà phê vào. Nhấp chút rồi đi."
Chẳng hiểu sao bỗng dưng Vĩnh muốn đứng lên ngay. Anh từ chối:
"Thôi, no bụng là tốt rồi. Mình thua tụi nó chỉ vì mình có quá nhiều nhu cầu."
Vĩnh rời chỗ ngủ của bạn và bước ra khỏi phòng. Anh lần đường tìm về phòng mình. Ngồi xếp lại chăn chiếu và lần đầu tiên trong hai ngày qua, anh quan sát thật kỹ một trong những góc cạnh của thiên đường cộng sản mà từ đây, dù muốn dù không, anh cùng các chiến hữu phải chấp nhận; chấp nhận một cách miễn cưỡng nhưng không biết đến bao giờ. Tuy đã lâm vào tình cảnh thế phải thế, Vĩnh vẫn nhủ lòng sẽ cố sống trong một tinh thần mai phục; đúng hơn, tinh thần một phóng viên chiến trường. Anh sẽ cố gắng chụp cho hết những hình ảnh hậu chiến tuyệt vời này. Mai đây nếu chuyện biển máu không xảy ra, biết đâu, một ngày nào.
Lúc này ai nấy đã trở về phòng. Ai nấy đều lo sắp xếp lại mớ hành trang của mình. Họ xầm xì bàn tán. Họ tranh luận về một tương lai mà hầu như chưa ai biết rõ nó sẽ như thế nào. Họ than thở về những lầm lỡ ngày qua, "Thật là khôi hài cho cái sợ ấm ớ của mình," một giọng có vẻ lạc quan lên tiếng. "Khi đi tao ngại đến độ không dám đem theo cả áo len. Tất cả cái gì có màu nhà binh tao đều bỏ lại. Vợ tao năm lần bảy lượt lận vào sắc tao một hợp bơ, mấy hộp sữa, tao nhất định bỏ ra. Anh đem theo ăn uống cho khoẻ. Tao nổi cáu. Bộ em tưởng đi picnic à? Ðem mấy thứ này vào mà trêu ngươi chúng hả? Cuối cùng bố tao biết chuyện nạt um lên, kết quả bây giờ tao. . . cái gì cũng ăn ké tụi mày."
Những câu chuyện đại loại như thế chấm dứt khi tên quản giáo bước vào. Hắn trừng mắt lấy uy và tự động hô lấy một mình: "Nghiêm!" Như phản ứng tự nhiên, tù đứng phắt cả dậy. Tên quản giáo nhìn quanh và bắt đầu lên lớp, "Tôi không ngờ các anh nại vô nễ như thế. Quân trường nguỵ ló có dạy các anh cách chào kính cấp trên không? Nần sau, thấy quản ráo vào, trưởng phòng phải hô nên thật lớn, ‘nghiêm!’ Nghe rõ không?"
"Rõ." Một vài tiếng lác đác trả lời.
Tên quản giáo như chưa hết bực, hắn lên lớp tiếp:
"Rù rì các anh cũng từng nà sĩ quan. Sĩ quan mà ba nô ba niếc nuộm thuộm như thế kia à?"
"Ba nô ba niếc nuộm thuộm vì nâu nắm thiếu cái n. . ."
Một câu trả lời vu vơ, khe khẽ từ một góc nào đó cất lên nhưng đủ làm cho tên quản giáo điên máu.
"Anh nào ăn lói với cách mạng mà mất rạy thiếu ráo rục như thế?" Vừa hỏi hắn vừa trừng đôi mắt đỏ gay vào một góc phòng. Không ai trả lời. Một lần nữa hắn hỏi như hét, "Thằng lào, thằng lào anh hùng nhận thử coi."
Chắc chắn là chẳng có ai lại anh hùng trong trường hợp này, và sự thiếu anh hùng tính trong đám tù mở đầu một cuộc trù ếm chửi rủa dài dài cho cả phòng từ đó về sau. Như để bõ tức và củng cố uy tín của mình trong cương vị quản giáo ngay từ những giây phút đầu, hắn tiếp tục mạt sát và giảng đạo, "Lói các anh rõ, kể từ đây các anh phải ý thức cho đúng vị trí mới của mình. Học tập cải tạo phải nghiêm túc, ăn lói phải khiêm tốn nễ độ. Nịch sử đã sang trang. Kẻ chống đối như kẻ vừa lói linh tinh khi lãy chắc chắn không sớm thì muộn sẽ bị bánh xe nịch sử nghiền nát. Các anh phải nhớ ngày hôm nay các anh chỉ còn có quyền sống để học tập cải tạo, còn tất cả các quyền khác đã hoàn toàn chấm dứt, kể cả quyền. . . lói tục. Vả nại, trong chế độ đặt mọi sự trên cơ sở đạo đức cách mạng như chế độ ta không chấp nhận lói tục. Các anh chỉ có hai con đường, một, học tập cải tạo tiến bộ để được trở về nàm người công rân nương thiện của xã hội xã hội chủ nghĩa; hai, các anh sẽ tự xử nấy mình nếu thấy rằng xã hội lày không thích hợp với các anh. Xã hội lày sẽ không có con được con c. . ., có nghĩa nà con đường nưng chừng, ở rữa."
Câu ví von đầy "đạo đức cách mạng" của tên quản giáo làm đám tù buột miệng cười hô hố. Cái cười ấy chạm nọc hắn cách nặng nề. Mắt trợn trắng miệng sùi bọt mép, cơn giận của hắn vỡ tung ra như một căn bệnh ung thư tưởng không còn thuốc chữa. Hắn xốc tới chộp lấy cổ áo một người đứng gần nhất. "Cười cái rì," hắn hỏi. "Mày. . ." Tuy nhiên chưa nói hết câu hắn đã phải buông cổ áo người đối diện ra. Một tên quản giáo khác bước vào.
"Chuyện gì thế, đồng chí Cư?" Tên mới vào ôn tồn hỏi.
"Thưa đồng chí, tôi. . ."
Cái nóng của tên quản giáo Cư nguội tức khắc như một cục than hồng bị ném vào cái thùng đựng nước tiểu.
"Cho anh em bầu bán gì chưa?"
"Dạ. . . đang tiến hành."
"Các khối khác người ta bắt đầu cả rồi."
"Dạ. . ."
Tên quản giáo mới đến mặc dù cũng không đeo quân hàm, nhưng căn cứ theo sự khúm núm của tên quản giáo Cư, người ta đoán biết y phải có một chức vụ gì cao trong tiểu đoàn. Sau khi lườm người đồng chí của mình một cái thật kín, y quay sang đám tù. Bằng một giọng mật ngọt chết ruồi, y nhập đề ngay, "Thế này nhé, thẳng thắn với các đồng chí, à quên, với các anh, đồng chí Cư làm như ban nãy là có hơi lệch đường lối. Nhân danh cán bộ đảng, tôi. . . dàn hoà." Y tằng hắng, vén cao tay áo, tiến lên một bước và tiếp tục, "Khối này hơi đặc biệt, phải không? Vậy thì tôi sẽ đích thân làm việc với các đồng chí, à quên, với các anh, nhé. À mà hôm nay các anh đã thấy thoải mái chưa?" Câu hỏi vu vơ lấy lòng của tên cán bộ đảng không được ai trả lời. Và hình như chính y cũng chẳng cần ai trả lời. Y ào ào nói tiếp, "Theo chương trình của ban chỉ huy trại, kể từ hôm nay các anh sẽ được trên chiếu cố hơn để bắt đầu bước vào học tập. Cái kiến con ong còn biết tổ chức thượng tầng kiến trúc, hạ tầng cơ sở để tạo điều kiện tốt cho sinh hoạt tập thể, chả lẽ ta lại không? Thế cho nên cách mạng yêu cầu các anh phải có ý thức cao về tổ chức hệ thống điều hành và có tinh thần cao chấp hành mệnh lệnh của hệ thống tổ chức ấy, mà tới đây, tôi và đồng chí Cư sẽ giúp đỡ các anh phương pháp bầu bán sao cho tốt, cho đạt yêu cầu của cách mạng. Các anh có nghe rõ không, mấy anh ở góc dưới kia kìa?"
Vài tiếng lác đác trả lời. Như chưa vừa ý, y hỏi lại:
"Các anh có nghe tôi hỏi không, các anh ngồi dưới góc nhà kia có nghe tôi rõ không?"
"Rõ!"
"Thế thì tốt." Nói đoạn tên cán bộ đảng quay qua nói nhỏ với tên quản giáo Cư điều gì đó. Sau khi Cư bỏ đi y quay trở lại với đám tù, tiếp, "Ðề nghị với các anh giờ chúng ta cùng ngồi xuống làm việc cho thoải mái hơn."
Mọi người chỉ chờ có thế. Tên cán bộ đảng cũng ngừng nói và bước ra đứng gần cửa, thỉnh thoảng ngó lung ra ngoài như chờ đợi ai. Bây giờ Vĩnh mới chú tâm quan sát kỹ tên cán bộ đảng. Ðầu tiên là khuôn mặt của y, một khuôn mặt xương xẩu, lạnh tanh và tái như đã mất ba phần tư máu trong thân thể. Ðôi mắt một to một nhỏ nằm láo liên dưới cặp lông mày thưa thớt như gái vô mao. Chiếc mũi khoằm lúc nào cũng như đề phòng sự quật khởi của hàm răng vẩu đầy bựa cơm nằm trơ thổ địa bên dưới.
Tên Cư đã quay trở lại. Hắn chìa cho tên cán bộ đảng một tờ giấy. Y cầm lấy, xem qua, rồi quay lại với đám tù.
Y nói:
"Thôi bây giờ thì ta triển khai công tác bầu bán nhá. Mình quân sự cả, cơ cấu tổ chức chỉ cần nói sơ các anh cũng nắm vững rồi. Giờ theo đúng thể thức dân chủ, tôi hướng dẫn các anh bầu ra một trưởng khối, hai phó khối một phụ trách hậu cần một phụ trách điều hành các công tác lao động trong ngày. Khối ta từ nay gọi là khối 10, sẽ chia làm mười hai tổ mỗi tổ mười người gồm một tổ trưởng và một tổ phó." Y ngừng, mắt hấp háy nhìn lũ tù. "Thế nào," y hỏi. "Các anh có ý kiến gì không?"
". . . ! ?"
"Nhất trí cả đấy chứ? Thế thì tốt thôi. Thế thì là thế này, nhé, để tranh thủ thời gian cho các anh nghỉ ngơi, chúng tôi đề nghị một số các anh học viên cải tạo ra tranh cử. Các anh có nhất trí không nào. Nhất trí cả phải không. Thế thì tốt thôi. Giờ tôi đọc tên ai người ấy đứng lên, nhé."
Nói xong, theo đúng thể thức dân chủ kiểu cộng sản, y nâng tờ giấy lên tận mắt ê a đọc một lô tên tuổi. Những nhân vật được chọn từ trước lục tục đứng lên. Có kẻ hăng hái, có người ngỡ ngàng. Kết quả cuộc bầu bán được thành công mỹ mãn, mà nói theo kiểu Việt cộng thì "đây là một thắng lợi to lớn trong bước đầu học tập của ta." Kết quả là: Trương Thành Trai, trung uý phi công F.5, khối trưởng; Nguyễn Ngọc Ðỉnh, trung uý y sĩ, khối phó hậu cần; Quách Tứ, trung uý phi công trực thăng, khối phó điều hành kiêm tổ trưởng tổ A.3.
Vân vân và vân vân.
Sau cùng, cũng theo một thể thức hết sức dân chủ, một danh sách phân bổ người cho các tổ được đọc lên. Vĩnh thuộc tổ A.3 của Quách Tứ, sĩ quan Không quân và cũng là cháu gọi tác giả câu thơ "sóng mài nghiên biển ngòi non chấm, gió trải tờ mây chữ nhạn đề" bằng chú.


http://www.geocities.com/suthatcsvn/hts/dhm/mot.html
Đăng nhập để trả lời
0
[size=+3]Ðại Học Máu[/size]




CHƯƠNG HAI
 
Những ngày kế tiếp thoải mái hiểu theo kiểu tên cán bộ đảng nói, là mọi người đều được tham dự vào những công tác tạp dịch, sửa sang lại nơi ăn chốn ở, đào hầm cầu, đào giếng, đắp bếp, nói chung là công tác lao động chưa có gì đáng gọi cực nhọc. Chỉ riêng khối 10 hơi kém vui vì tên Cư hầu như suốt ngày chạy lồng lộn duới khối, nhất định không để cho ai được đứng yên một phút.
Với tinh thần giật gấu vá vai, chẳng mấy chốc bằng những miếng ván thông tháo từ các thùng đạn pháo 105 ly, bằng những thùng phuy đập dẹp, bằng những chiếc đinh chế bằng kẽm gai, những dây thừng bện bằng sợi bao cát, bằng những dụng cụ kềm kéo búa cưa toàn tự chế, bọn tù đã tạm lo xong nơi ăn chốn ở. Có gay go chăng chỉ riêng vấn đề nước. Những cơn mưa bất chợt của tháng Sáu chỉ có thể giải quyết được nước ăn uống cho nhà bếp, còn nước tắm rửa quả là một vấn đề.
Thủa ban đầu cứ chừng ba ngày một, tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 dưới bí số L4T1 được một chuyến tiếp tế nước bằng xe lôi bồn. Thật là khủng khiếp cho cảnh giành giật. Chiếc xe vừa đậu ngoài hàng rào là tù từ bên trong, kể cả các người đẹp của biệt đội Thiên Nga lẫn các nữ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà bên khối 14, đã mỗi người một thùng đại liên phóng ra. Trong chớp mắt chiếc xe bị phủ kín, y một con bọ hung sa cơ thất thế bị một bầy kiến đói làm thịt không thương xót.
Phần Vĩnh, sau những giờ lao động và lo miếng ăn miếng uống xong, anh chạy khắp nơi tìm gặp bạn bè và với hy vọng mong manh được gặp lại các anh em ruột của anh, những người mà anh biết chắc giờ này đã đều nằm trong các trại cải tạo. Nhưng ngoài Hiến, sĩ quan phụ tá cũ của anh và Ứng, Kim, bạn đồng quân chủng, Vĩnh chưa gặp thêm một ai. Cũng may, ít ngày kế Vĩnh quen thêm một lô bạn mới chẳng hạn Nguyễn Ngọc Trụ (nghe nói là cháu nhà báo Dzoãn Bình), Ðặng Thế Tiến, Nguyễn văn Hoá, Nguyễn Thành Ðính, Ngô văn Tuyên v.v. . . Thường những lúc nghỉ ngơi hay khi chiều xuống, cả bọn tụm lại đánh cờ hoặc nấu nướng linh tinh những thứ đem theo ăn uống với nhau.
Những tay thuộc quân chủng Hải quân như Vĩnh, Ứng hay Kim thường bị anh em cật vấn nhiều hơn cả bằng câu hỏi: "Tại sao các ông không chạy?" Họ cứ nghĩ rằng tất cả các sĩ quan Hải quân đều là những người lúc nào cũng có phương tiện tàu bè để đào ngũ sớm hơn ai hết.
Mỗi lần bị hỏi, Kim thường cười nhạt:
"Chứ bộ chỉ có Dù hay Thuỷ quân Lục chiến mới có những đơn vị tử thủ hay sao?"
"Giờ thứ 25 rồi còn thủ cái gì!"
Vĩnh hiểu các bạn hỏi để mà hỏi. Họ thừa biết không thiếu những đơn vị tiền đồn mà cấp chỉ huy đã mất liên lạc với thượng cấp ngay từ những ngày 27, 28. Họ loay hoay không biết xử trí ra sao với đơn vị và thuộc cấp. Mọi tin tức ở Sài Gòn họ mù tịt. Thậm chí có nhiều cấp chỉ huy đóng sâu trong sông lạch không biết đến cả tin tổng thống Hương đã bàn giao quyền lực cho đại tướng Minh từ chiều 28-4; và hình ảnh dân Sài Gòn, trong có nhiều tướng lãnh, đã nháo nhào lên tìm mọi cách bỏ của chạy lấy người.
Tuy nhiên, việc chạy thoát của họ đối với người ở lại hầu như không mấy ai đặt thành vấn đề, ngoại trừ đối với một số người thật sự có trách nhiệm trước quân đội. Làm sao mà trách được một anh thợ mộc làm cho hãng RMK, khi mà anh thấy thiên hạ ùn ùn bỏ chạy, trong lúc anh có thừa giấy tờ đi làm cho Mỹ để trình toà đại sứ Hoa Kỳ xin cho cả vợ con di tản? Làm sao trách được chị đàn bà làm cho căn cứ Long Bình, khi mà chị nghe thấy đủ thứ tin đồn, rằng nếu chị ở lại, chị sẽ là một trong những đối tượng chính cho cộng sản ra tay nhúng chị vào biển máu? Cũng chẳng thể trách được một thằng ma cạo hèn nhát trốn lính, bỗng một sớm trở thành một phóng viên "nổi tiếng" nhờ những bài phóng sự bới móc đời tư nhằm tống tiền và lường gạt thiên hạ; kể cả những nhà văn chân chính chống cộng đầy mình, nhưng lúc cần bảo vệ đất nước, ông ta tự biết mình chẳng còn một mũi nhọn nào khác ngoài cây bút -- một thứ đã hoàn toàn biến thành vô dụng khi giặc đã mấp mé ngoại thành. Có rất nhiều thành phần không nên trách mà còn mừng cho họ đã chạy thoát, kể cả những thứ gọi là ông tướng này ông tá kia, thứ tướng tá đã về vườn nhưng vẫn giữ nguyên cố tật phách lối huênh hoang, tuyên bố phét lác, đại khái rằng thì là đồng bào cứ yên tâm, nếu có phải di tản thì nhất định tôi sẽ là người di tản sau cùng, nhưng thực tế vừa nói xong ông ta đã cút mất. Những thứ ấy trách mà làm gì. Người ở lại luôn thương họ như thương lũ ca nhi. Thế nhưng lịch sử và những người ở lại khó mà không thống trách những kẻ còn đủ trí nhớ để nhớ ra rằng mình từng có một đơn vị dưới tay, và mình đã bỏ nó mà chạy không một lời từ giã, dù lúc mình đến với nó, nó đã lên kèn lên trống đón mình như một người cha, người anh.
Lắm lúc Vĩnh tự hỏi không hiểu những người đã ra đi có bao giờ nghĩ tới những người còn ở lại? Và giá như họ biết rằng những người ở lại đã khóc khi buông súng trước lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, họ sẽ nghĩ sao về những giọt nước mắt ấy? Chắc họ sẽ nghĩ đó là giọt nước mắt thường tình của những kẻ mấp mé bờ tử sinh. Không, không phải vậy đâu. Phải là người ở lại mới biết được cường độ của lòng yêu Tự Do như thế nào, và sự tủi nhục thấm thía ra sao khi thấy quân thù lê gót trước mắt ngay giữa thủ đô của mình. Lúc ấy người ta mới thấy nước mắt người đàn ông không hiếm như đã tưởng. Nó đã giàn giụa chảy trước những hình ảnh thân quen vô cùng. Ði ngang nghĩa trang quân đội Biên Hoà, nhìn bức tượng Tiếc Thương bị kéo sập xuống, họ khóc mùi như một đứa trẻ. Ði ngang dinh Ðộc Lập nhìn những vết xích sắt T.54 cày trên cỏ họ rơi lệ như mưa. Nhìn bầy trẻ nhỏ vô tư đùa chơi trong nắng họ khóc như người bị cháy nhà; không, hơn như thế, phải là cháy cả thành phố, cháy cả đất nước thân yêu và tuồng như chỉ còn mỗi mình họ sống sót. Những trẻ nhỏ kia, trong đó có con em họ, rồi sẽ đi về đâu? Chao ôi ai mà biết được. Nỗi đau đớn của người ở lại là nỗi đau đớn của một chứng nhân, đã nhìn thấy trong một khoảng khắc sự sụp đổ của tất cả dĩ vãng, hiện tại và tương lai mà họ không còn tìm đâu ra một lý do để hiến thân xây dựng nó trở lại.
Nhưng người ở lại nào chỉ có riêng giới cầm súng chiến đấu. Còn bao nhiêu thành phần khác nữa. Không thể nói càn rằng những thành phần buôn thúng bán bưng, những bác phu xe, những anh thợ sắp chữ, những em bé bán báo. . . là những người không biết tới hiểm hoạ cộng sản. Họ biết và họ đau đớn không kém ai khi đất nước rơi hoàn toàn vào tay cộng sản. Nhiều khi họ còn đau đớn hơn nữa vì họ không biết cách bày tỏ, không thể nói ra. Vĩnh không bao giờ quên được hình ảnh người đàn bà bán chè đậu hũ nơi phố anh ở. Ngày nào cũng thế, cứ đúng một giờ trưa là bà đi qua nhà anh, trên vai nặng trĩu quang gánh, một bên là thùng đậu hũ, bên kia thùng nước đường gừng với bát với thìa và trên tay còn sóng sánh một sô nước có thả vài miếng lá chuối. Bà đã bán chè đậu hũ như thế từ ngày Vĩnh mới di cư vào Nam, tuổi lên mười, cho đến khi cộng sản tràn vào Sài Gòn. Khi Vĩnh đỗ tiểu học, bà đã mừng anh một bát đậu hũ lớn không tính tiền. Khi anh học đại học bà cứ đùa đòi làm mối. Khi anh đi lính, rồi lấy vợ, rồi đẻ con, bà nhiều lúc nghỉ mát dưới hiên nhà anh, nói đùa dăm ba câu, rồi cao hứng cho thằng con lớn của anh ăn miễn phí như từng cho bố nó hai mươi năm về trước. Khi cộng sản tràn vào, đơn vị tan rã, Vĩnh trở về nhà vào một buổi trưa tháng năm. Người đầu tiên anh nhìn thấy ngồi trước hiên nhà anh vẫn là bà bán chè đậu hũ với quang với gánh với thùng với sô.
Thấy bà, Vĩnh ngậm ngùi hỏi đùa:
"Bác không chạy à?"
"Chạy đi đâu hả cậu?"
Vĩnh vào nhà lấy mời bà một ly nước đá lạnh. Anh dọ dẫm:
"Giải phóng vào chắc bác sẽ đỡ cực nhiều."
Ngoài dự tưởng của Vĩnh, phản ứng của bà bán chè đậu hũ đã làm anh sượng sùng.
"Cậu Vĩnh à," bà nói. "Thú thật tôi ít học, sống đầu tắt mặt tối thật đấy, nhưng khi cùng di cư vào đây, tôi nghĩ tôi hiểu cộng sản trước cậu nhiều đấy chứ."
Nói rồi bà ta có vẻ giận, Vĩnh phải giả lả xin lỗi:
"Tôi đùa đấy bác ạ," Vĩnh chắt lưỡi. "Khổ quá, không biết rồi ra sao nữa đây!"
Bà bán chè bỗng gay gắt:
"Ðến giờ này mà cậu còn chưa biết rồi sẽ ra sao nữa à? Quan quyền như cậu thì tôi chưa biết ra sao thật đấy, chứ còn ngay cái hạng như tôi, chúng nó cũng sẽ ghép tội buôn bán linh tinh, chai lười sản xuất, đường ra nông trường cũng chẳng bao xa."
Câu nói của bà bán chè đậu hũ đeo theo Vĩnh mãi đến sau này. Anh cứ thắc mắc những người như bà ta không biết đau khổ tới đâu khi mà ở xã hội cũ suốt đời khổ cực buôn thúng bán bưng; và khi cộng sản vào, không với đường lối cắt tí ngón dài bù cho ngón ngắn để có được một bàn tay gồm những ngón bằng nhau, mà chắc chắn chúng sẽ đi gọn một đường dao, và xã hội sẽ có dạng của một bàn tay cụt đồng đều, thì những người như bà sẽ ra thế nào?
Những ngày đầu lao tù Vĩnh như người mất hồn. Ðủ thứ chuyện đời luôn đặt ra cho anh những vấn đề và nỗi xúc động của trái tim buộc anh phải tìm lời giải đáp; thế nhưng, chưa bao giờ anh giải đáp cho được trọn vẹn một vấn đề. Tuổi anh chưa đủ già để có thể mỉm cười trước mọi biến cố, cho nên nỗi đau ngất người vẫn ngày đêm dằn vặt anh trước sự biến thiên của lịch sử -- một sự biến thiên mà lắm lúc anh thấy mình quá mỏng để chịu đựng, quá nhỏ để cưu mang. Và hiện nay, điều khó khăn nhất của Vĩnh là đang cố gắng hết sức để hoà mình vào cuộc sống mới, cuộc sống lao tù cộng sản. Ðiều khó khăn hơn nữa là làm sao Vĩnh phải tìm cho được sự khát sống trở lại. Ðây là một yếu tố vô cùng cần thiết để thực hiện được dự tính của anh: Anh sẽ là một phóng viên của một chiến trường mới, chiến trường hậu chiến.
Trong giai đoạn của tuần lễ đầu, một phần bọn cai tù đang kín đáo học tập gấp rút chính sách đối xử với tù cải tạo và phải lo toan nhiều trong việc tổ chức và điều hành trại, một phần anh em đa số vẫn tin việc học tập cải tạo không thể là một việc lâu dài, do đó sự sinh hoạt chỉ mang tính cách ăn xổi ở thì, miễn sao có miếng cơm ăn, có một chỗ nằm, và có dăm ba tên bạn cùng tần số để tán dóc cho qua những giờ phút tạp dịch trong trại.
Mỗi chiều trưởng khối nhận lệnh lên tiểu đoàn "giao ban," một động từ cộng sản dùng để chỉ việc lên gặp cán bộ trực nhận lệnh, và lệnh đó chỉ quanh quẩn vài việc:
1- Nhắc nhở các cải tạo viên yên tâm học tập, tuyệt đối tin tưởng vào chính sách cải tạo trước sau như một của cách mạng; đừng nôn nóng ngày về và đừng bàn tán những điều không có lợi cho bản thân và gia đình.
2. Phải tích cực cải thiện nơi ăn chốn ở vì sau đợt này sẽ còn nhiều đợt khác gồm đủ các thành phần xã hội được cách mạng cho về đây học tập. Người đi trước phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cơ sở vật chất cho người đi sau.
3. Phân phối các tổ cho những công tác tạp dịch vào ngày kế tiếp.
Một buổi chiều sau giờ họp khối, sau khi thông báo lại những nhận xét của cán bộ quản giáo về những ưu khuyết điểm trong thái độ, ăn ở, lao động v.v. . . khối trưởng Trai cho biết ngày mai sẽ tập họp toàn trại để nghe trên đọc một bản thông cáo quan trọng. Ngay đêm đó, đề tài về cái gọi là "bản thông cáo quan trọng" được các bình luận gia triệt để khai thác. Cũng tương tự các nhóm khác, nhóm của Vĩnh gồm dăm người xầm xì bàn tán tới nửa khuya.
"Về, nhất định về," anh chàng Hải quân trung uý kiêm hoạ sĩ ‘nghiệp dư’ Phạm Kim hý hửng khẳng định. "Không có lý do gì nó lại dám giam mình lâu hơn mười ngày."
Ứng dè dặt đồng tình:
"Tao cũng nghĩ thế."
"Các ông ấm ớ bỏ mẹ đi. Về là về, nghĩ với ngợi gì nữa." Ngô văn Tuyên, anh chàng trung uý bác sĩ trông phốp pháp điển trai mới ở tù chưa được tuần lễ đã nhanh chóng bỏ nghề bác sĩ theo học nghề phóng viên, suốt ngày chạy quẩn săn tin như một anh nhà báo chuyên nghiệp. Tuyên vừa kéo lại tấm bao cát lớn dùng lót chỗ nằm, vừa tiếp, "Cứ lấy lẽ thường mà suy thì điều nó phải thả mình là điều hợp lý nhất. Cá nằm trốc thớt còn chạy đường nào. Ðất nước đã nằm trong tay chúng nó, chả lẽ chúng nó đem giam cả triệu thằng để nuôi báo cô? Các ông nên nhớ một điều, rốt cuộc chúng nó cũng phải tái thiết đất nước. Nhưng tiền tái thiết đào đâu? Ðào ở Mỹ chứ ở đâu bây giờ. Giam mình lại trả thù? Xin lỗi, xia Mỹ nó cũng không cho. Mặt khác miền Nam đã được điện tử và cơ giới hoá ở hầu hết các mặt. ‘Mỹ cút nguỵ nhào’ đã để lại một núi máy móc điện tử cơ khí. Thử hỏi một lũ cán bộ i tờ từ Bắc vào sẽ làm nên cơm cháo gì không? Rốt cuộc lại cũng chúng mình thôi. Ít nhất năm năm tới, chủ nhân ông trên mọi khía cạnh thực tế ở miền Nam này vẫn là ta!"
"Chứ bộ nó giam ông lại, dí súng vào lưng ông, bắt ông lái máy cày, sửa máy điện tử, chế máy ủi đất thì Tây kiện nó à? Ấy là chưa kể nó có thể bỏ đói ông, ông lạy nó mà xin được phục vụ."
Một giọng nói khác tự dưng chen vào cắt ngang sự lạc quan của bác sĩ Tuyên. Anh ta là Ðặng Thế Tiến, một bạn mới của Vĩnh. Tiến người loắt choắt như một con khỉ. Anh tốt nghiệp chính trị kinh doanh và là một guitarist có hạng. Tiến mang cấp bậc thiếu uý và trước khi ngồi tù cộng sản anh xách cặp cho ông đại tá trưởng phái đoàn quân sự hai ba bốn bên gì đó ở Vĩnh Long.
"Tây không kiện nhưng Nga nó cười."
Lại một giọng nói khác. Ðây là giọng nói của Nguyễn Thành Ðính. Anh là một trung uý của cục Truyền Tin. Ðính gốc người Bùi Chu và từng là cựu chủng sinh của Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công Thủ Ðức. Ðính có nhiều tài vặt và được anh em sớm đặt cho tước hiệu Vua Thuốc Lào vì anh hút thuốc lào, có nghề trồng thuốc lào và làm nõ điếu cày thật kêu. Ðính cũng là một trong những người bảo vệ lý luận "địch phải thả ta nếu như địch không muốn khiêu chiến với mấy chục triệu dân miền Nam là ông bà cha mẹ vợ con em út cháu chắt của ta."
Tiến chẳng chịu thua. Anh khều bao thuốc lá ra khỏi bụng, lấy một điếu, rồi quăng cả gói xuống trước mặt mọi người.
"Các ông có biết Marx rút được mấy kinh nghiệm trong thất bại của Công xã Ba lê không nhỉ?" Tiến chiếu tướng vào Vĩnh và Tuyên. "Vĩnh, mày có biết không?"
Vĩnh cười:
"Tao sẽ nói với mày được dễ dàng hơn nếu mày hỏi tao làm cách nào bấm được sáu nốt mi trên mặt đàn guitar."
Tiến ngửa mặt nhả khỏi, cất tiếng cười thật vui:
"Khà. . . khà. . . ông Tuyên dĩ nhiên chỉ biết làm cách nào lụi cái sơ-ranh to tướng của ông vài đít phụ nữ để chỉ những không đau mà lắm em còn sướng phát rên lên. Người thứ hai ở đây là me-xừ Vĩnh mà cũng không biết nữa thì tôi đành phải thưa thốt để các ông nắm cho vững vấn đề. . . mọt gông!" Vài tiếng xì xầm. Tiến cự, "Ðừng phản đối khi tôi chưa phát biểu xong. Thưa các quan đồng viện, thằng cố nội của bác Hồ vĩ đại ta đã nói gì? Nó nói rằng Công xã Ba lê đã thất bại vì hai nguyên do chính. Một là, cách mạng ngu bỏ mẹ, tràn vào Ba lê mà chỉ lo chiếm giữ các xí nghiệp trong khi quên phéng đi ngân khố và các ngân hàng, Marx định nghĩa hành động này là ôm lấy một cái xác chẳng còn giọt máu nào; hai là, cách mạng đã đùa dai, thả sĩ quan viên chức và các hàng giáo phẩm trở về Ba lê, hành động này là. . . là. . ."
"Buông súng nửa giờ trước khi toàn thắng!" Vĩnh nổi hứng nói chen vào.
"Ðúng, đúng," Tiến có vẻ khoái trá vì có người tiếp hơi cho câu chuyện của mình. "Thế cho nên, với đỉnh cao trí tuệ loài người của đảng ta, thưa các quan đồng viện, há đảng ta lại tái phạm vào lỗi lầm này nữa chăng?"
Câu phát biểu đầy chất bi quan của Tiến bắt mọi người phải suy nghĩ.
"Thôi dẹp đi mấy cha, khuya lắm rồi," một giọng xa lạ bỗng cất lên đầy vẻ cự nự trong đám người nằm ru giấc ngủ ngổn ngang trên nền xi măng. "Mình là quân nhân, bàn chuyện chính trị làm đếch gì."
Trước khi dợm đứng lên, Tiến lẩm bẩm chửi thề:
"Mẹ kiếp thằng này cho đi theo Cao văn Vện được. Không hiểu nó định nghĩa chữ chính trị như thế nào."
Ðám bạn bè Vĩnh cũng như bao nhiêu người khác đêm ấy tụ tập bàn tán lung tung. Mặc cho khối trưởng nhiều lần yêu cầu giải tán anh em vẫn ngồi lì. Tuy không nói ra, nhưng sau cùng ai cũng phải băn khoăn với câu nói của một anh chàng nào đó cất khẽ trong đám người đang ru giấc ngủ:
"Cứ cãi nhau đi rồi mai này sẽ rõ. Nhưng đừng quên nợ tình tha được, nợ tiền tha được, nợ tí máu cũng tha được, chỉ sợ nợ chính trị e khó có thể tha được." 

 http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0
[size=+3]Ðại Học Máu[/size]
 

 
CHƯƠNG BA
 
Như chương trình đã được thông báo chiều hôm trước, sáng hôm sau, ngay khi hồi kẻng 5 giờ điểm, các khối trưởng đã tích cực lôi mọi người dậy. Khối trưởng Trai hơi cuống khi thấy cảnh anh em khối 10 nằm nướng. Anh cự, "Tôi lạy các ông dậy giùm cho. Sao cứ phải để người ta chửi lên đầu mới chịu?" Nhưng Trai không cự nự được nhiều, và mọi người cũng không ai ngủ nướng được nữa. Quản giáo Cư đã thình lình xuất hiện ngay giữa cửa phòng.
"Nghiêm!"
Một tiếng hô vội vã từ chỗ nào đó xướng lên. Trai giật mình quay lại. Ngược với dự đoán của mọi người là sẽ phải banh tai nghe những lời chửi rủa hôi hám không thua gì cái mồm cả đời không biết đánh răng của hắn ta, quản giáo Cư chỉ đùng đùng nổi giận với riêng Trai.
Hắn hét:
"Anh Trai, anh gọi ai là người ta?"
". . .?"
"Cách mạng tin anh, đặt anh vào chức năng khối trưởng để giúp cách mạng giáo dục thắng lợi với tất cả những kẻ có tội với đảng, với tổ quốc, với nhân dân là đồng bọn các anh. Trong những lần giao ban, cách mạng đã giáo dục riêng anh bao nhiêu lần về cách xưng hô?
". . .!"
Bộ mặt lạnh tanh của khối trưởng Trai như làm cóng lạnh tên quản giáo. Hắn run lên.
"Tại sao anh không trả lời tôi, tại sao?"
"Thưa. . . tôi quên."
Như nhớ ra điều gì, tên quản giáo hạ cơn nóng thật nhanh và mỉm cười cách nham hiểm:
"Thôi được, lần này tôi chấp nhận cho anh quên," hắn nhìn vào đám đông. "Nhân đây, tôi nhắc nhở chung cho toàn khối, nghe rồi phải nhớ trong óc và chấp hành cho tốt, không phải tôi nói như nước đổ đầu vịt, nghe lỗ tai này để nó chạy ra lỗ tai kia. Tôi nhắc lại lần nữa, các anh phải nhớ các anh là kẻ có tội. Các anh vào đây là để học tập cải tạo, để phấn đấu trở thành người công dân lương thiện; không phải cách mạng đem các anh vào đây nuôi cơm để các anh ăn không ngồi rồi, để đàn đúm thêu dệt những chuyện phản động, để tuỳ tiện muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Yêu cầu đầu tiên cách mạng đòi hỏi các anh không nằm ngoài tính dân tộc của cha ông để lại: tiên học lễ hậu học văn." Tới đây bất chợt hắn quay sang khối trưởng Trai, hỏi, "Tiên học lễ hậu học văn là gì, anh Trai?"
Nỗi căm hờn như rần rần chạy trong từng gân máu của anh chàng phi công to con, từng được bầu làm chiến sĩ xuất sắc và có ảnh đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hoà. Lấy hết bình tĩnh, Trai trả lời:
"Thưa anh tôi dốt chữ."
Cái ngu của chính tên quản giáo làm cho hắn mỉm cười. Bỗng dưng hắn hạ giọng từ bi vô lượng:
"Ðấy, các anh thấy không, mấy đời nhà các anh chỉ đi làm tay sai, hết Tây sang Nhật hết Nhật sang Mỹ. Các anh nói tiếng Tây, tiếng Nhật, tiếng Mỹ như gió còn tiếng của cha ông để lại thì cứ mù mờ như người nước ngoài. Yêu cầu của cách mạng đòi hỏi các anh phải tập trung học tập cải tạo là triệt để đúng đắn, triệt để ‘lô rích móc xích,’" hắn tằng hắng. "Ðã tự biết mình dốt ấy cũng là điều đáng quý. Nhưng dốt thì phải học tập. Tôi là người thay mặt cách mạng giáo dục các anh thì tôi là gì của các anh? Là gì hả anh kia?"
Người bị hỏi đứng gần ngay khối trưởng Trai. Anh chàng có vẻ vừa bực vừa lúng túng, nhưng chỉ một tích tắc anh trả lời được ngay:
"Dạ là. . . cách mạng."
Tên quản giáo Cư nhăn mặt:
"Thì hẳn nhiên là cách mạng rồi, nhưng là gì cơ chứ?"
"Dạ là. . . giải phóng."
Quản giáo Cư có vẻ hơi cáu vì cái đần của thằng tù "nguỵ," hắn giơ cao quả đấm nói một cách cương quyết.
"Là thầy, nghe rõ chưa; tôi thay mặt cách mạng giáo dục các anh tức là thầy các anh, nhớ cả chưa?"
". . . !"
"Mà đã là thầy thì bản thân tôi sẽ phấn đấu hoàn thành tốt công tác làm thầy. Các anh phải xa cha mẹ vợ con thì tôi cũng xa cha mẹ vợ con; các anh đi học tập dầm mưa dãi nắng thì tôi cũng dãi nắng dầm mưa với các anh; các anh ra nông trường thì tôi cũng có mặt ở nông trường; các anh đến lâm trường thì tôi cũng phải đến lâm trường; các anh ăn năm lạng thì tôi cũng bảy lạng là cùng. . ."
Bọn tù bỗng im như tờ lắng nghe tên quản giáo lên lớp. Chẳng phải họ chú tâm chi đến những lời lẽ huênh hoang của tên quản giáo ngu dốt ấy, mà vì trong những câu hắn nói đã vô tình tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng mà mấy ngày qua hầu như ai cũng muốn biết. Tại sao hắn lại nói các anh ra nông trường tôi cũng phải ra nông trường, các anh đến lâm trường tôi cũng phải đến lâm trường? Thôi thế này thì bỏ mẹ cả lũ rồi!
Riêng tên quản giáo lấy làm hài lòng về sự ngoan ngoãn lắng nghe của bọn tù. Hắn mê man lên lớp tiếp, "Còn về phần các anh, các anh phải có nghĩa vụ gì trong học tập, nhất là thái độ đối với người thầy dạy mình? Các anh phải ý thức cho đúng đắn vị trí mới của mình, ấy là vị trí một học viên cải tạo, nói nôm na là vị trí của một anh học sinh. Mà đã là học sinh thì phải có nhiệm vụ tôn kính thầy. Qua quan sát chẳng riêng khối này mà là tất cả các khối, khung nhận xét thấy các anh còn rất lơ là trong tác phong, thái độ học tập rất thiếu nghiêm túc, ăn nói rất thiếu khiêm tốn và lễ phép. Nói chung chung sự tác động qua lại trong tình người giữa các anh và các cán bộ quản giáo cũng như các chiến sĩ cách mạng chưa đạt được tiêu chuẩn tốt. Ðiển hình là anh Trai ban nãy. Tại sao anh lại dùng chữ ‘người ta’ để chỉ những người làm cách mạng? Mổ xẻ cho sát, phân tích cho sâu, thì ta có thể khẳng định đây là kết quả của một quá trình đấu tranh tư tưởng chưa tốt. Vì đấu tranh tư tưởng chưa tốt nên anh Trai đã chưa củng cố được lập trường đứng hẳn về phía cách mạng. Anh vẫn còn lơ vơ lờ vờ như người say thuốc lào. Bạn thù rất là chưa phân minh. Anh vẫn đặt những người cách mạng sang hẳn một phía đối nghịch, do đó mới dùng những chữ lập lờ đánh lận con đen là chữ ‘người ta.’ Công khai còn nói như thế, sau lưng chắc thế nào mà chả gọi những người cách mạng là thằng nọ thằng kia."
Nói tới đây hắn bỗng giơ cao tay, vén tay áo một cách rất chậm rãi, tuồng như để ngầm khoe với mọi người hiện hắn đã được làm chủ cả một cái đồng hồ. Hắn xem giờ hơi lâu. Sau cùng hắn bỏ tay xuống và vòng cả hai tay ra sau đít. "Sáng nay," hắn tiếp. "Tôi tranh thủ lên lớp với các anh vài điều cần thiết như vậy thôi, có dịp sẽ lên lớp tiếp. Cách mạng chỉ yêu cầu các anh từ nay về sau rút kinh nghiệm nơi khuyết điểm của anh Trai trong lời ăn tiếng nói. Lời nói không mất tiền mua, phải vậy không, vậy thì các anh nói sao cho đúng vị trí của mình. Phải nhớ rằng đối với cách mạng, tất cả mọi hành động, mọi lời ăn tiếng nói đều được đánh giá là kết quả của một quá trình ý thức; do đó, đừng để vì những lời ăn tiếng nói mà gây ra hậu quả phải học tập cải tạo lâu dài."
Sau khi kết thúc câu nhát ma sau cùng, hắn quay lại nói nhỏ với Trai. Khối trưởng Trai gật đầu lia lịa. Lúc tên Cư đã khuất khỏi cửa, Trai quay lại nhìn anh em một cách rất đau khổ, tưởng như cái mũ mà tên Cư đã âu yếm đội lên đầu anh vừa quá nặng lẫn quá chật, và anh chịu không thấu.
Anh buồn rầu nói, "Chúng ta đều vừa học được một bài học quý giá mà tôi là một điển hình. Yêu cầu anh em rút kinh nghiệm. Giờ tập họp cũng sắp tới, tôi đề nghị anh em tranh thủ làm công tác vệ sinh cá nhân thật nhanh. Cũng nhân đây, tôi nhắc lại lời quản giáo vừa nói với tôi khi nãy. Từ nay trên tuyệt đối cấm nhúm lửa nấu nướng lẻ tẻ. Yêu cầu tổ trực cho dọn sạch các viên gạch bếp chung quanh nhà. Ai vi phạm, bị bắt rán chịu." Trai tính nói thêm nhưng hình như chẳng còn gì để nói, do đó anh làm một thủ hiệu tan hàng. Mọi người đứng đã mỏi chân, được lệnh ai nấy gấp rút cuốn chăn màn rồi phóng ra ngoài tìm nước đánh răng súc miệng.
Ðúng 7 rưỡi những tiếng kẻng thi nhau rền vang qua tất cả các trại thuộc L4. Riêng tại L4T1 người ta ùa ra sân như kiến vỡ ổ và quy hết về khoảng đất rộng trước khối 10 và khối 14 chạy dọc theo con đường nhựa dẫn tới phi trường căn cứ. Ðã một thời gian căn cứ bị bỏ hoang, cỏ lau giờ mọc thành những cánh đồng bát ngát. Thỉnh thoảng đó đây có vài vũng nước mưa trong vắt thật lớn còn hằn vết bánh xe Molotova. Những conex nằm rải rác bên đường lỗ chỗ vết đạn, nhất là súng ống, lựu đạn, giấy tờ, quân phục đủ loại đã dãi dầu nắng mưa đều là những chứng tích của cuộc tháo chạy ê chề vừa qua.
Hơn một ngàn tù của L4T1 được bố trí thành từng khối đứng dọc con đường nhựa. Vĩnh thấy sau mỗi ụ đất, mỗi conex đều có bố trí vệ binh. Chúng được trang bị AK.47 với nét mặt đầy cảnh giác hướng về bọn tù. Chắc đã được lệnh từ trước, các khối trưởng tự động so hàng điểm danh khối mình. Mươi phút sau, khi hàng ngũ đã đâu vào đó, bọn cán bộ tiểu đoàn và quản giáo mới từ những dãy nhà phía bên kia đường tràn sang.
Quả thực nếu như chúng không có những khẩu K.54 kè kè bên hông và những chiếc túi dết bằng da bò đeo trên vai thì không ai có thể tin được rằng đó là những sĩ quan cán bộ của tân chế độ. Thằng nào thằng nấy ngơ ngơ ngáo ngáo, áo quần xốc xếch dơ bẩn, lon lá không đeo, trông không có tí tác phong nào của người quân nhân chứ đừng nói chi tác phong những sĩ quan hay hạ sĩ quan cán bộ. Chúng tràn sang bên này đường và tiến tới trước hàng quân của những kẻ bại binh. Quản giáo khối nào tiến về khối đó. Riêng tên thủ trưởng, thủ phó, và chính trị viên tiểu đoàn dừng chân ngay trên mặt lộ. Trông chúng thật đúng là ba cái bia bắn trong quân trường.
Như mọi khối, tù khối 10 đã đứng vào vị trí của mình.
"Hôm nay ngày khai trường, này ông nhà văn nhà thơ, ông có thể mô tả quang cảnh này bằng một câu nào cho thật khéo không?"
Một cái vỗ vai tiếp theo là một câu nói cất lên sau lưng. Vĩnh giật mình quay lại. Anh nhận ra Nguyễn văn Ý, trung uý đại đội trưởng Biệt Ðộng Quân, thuộc tổ 5 và nằm cách Vĩnh hai người. Tự dưng Vĩnh đâm lo khi thấy có người biết được cái nghề tay trái trước đây của anh.
Trong trại cải tạo cộng sản cái tóc là cái tội, kinh nghiệm này ai cũng có thể tìm thấy qua hàng đống sách vở nói về thế giới lao tù cộng sản xuất bản trước kia; mà đã biết như vậy, ai cũng muốn chứng minh mình. . . trọc đầu khi đã bước vào đây. Là một sĩ quan "nguỵ," nói ít tóc đã là điều khó tin, lại còn đần độn chơi thêm tí nước hoa lên cái đầu rậm tóc của mình thì thật có ngày chết . . . ăn năn tội không kịp.
Vịnh cười nhạt:
"Văn với thơ cái khỉ gì ông."
Ý vẫn đùa:
"Làm gì như Phê-Rô chối Chúa vậy? Ðồng bọn cả mà." Kế như đoán được sự e dè của Vĩnh, Ý nói tiếp như để trấn an, "Ức lắm ông ơi. Không biết ông sao chứ tôi bảy năm cầm quân săn chúng trong rừng trong rú chúng lẩn như ma, giờ chúng rờ rờ trước mặt mà mình đếch làm gì được."
"Không lấy làm buồn," một giọng lạc quan chen vào. "Cháy nhà ra mặt chuột. Cứ để cho tông ti họ hàng nhà chúng nó ló mặt ra hết đi, một ngày nào đẹp trời ta sẽ làm cỏ tận gốc."
"Lúc ấy sướng nhỉ," một tay khác mơ mộng. "Ai xử sao mặc, chứ riêng tao. . ."
Sự mơ mộng của anh bạn thứ ba đứng sau Vĩnh chưa kịp thành hình thì phải đứt đoạn vì tiếng hô:
"Nghiêm!"
Tiếng hô của khối trưởng Trai to quá. Mọi người trong khối 10 rầm rập tuân lệnh.
"Thao diễn. . . nghỉ!"
"Làm cái trò gì đó?"
Một tiếng thét nổi lên cắt ngang tiếng hô của khối trưởng Trai. Trai hoảng hốt quay lại. Trước mắt anh quang cảnh đang diễn ra không êm ả tí nào. Tên quản giáo Cư không còn đứng ở vị trí của hắn nữa mà đã chạy ngược lên mặt lộ, hợp với ba bộ mặt hớt hải của ba thằng chóp bu trại đang đứng trên mặt đường. Nhiều khẩu K.54 rút khỏi bao da, cùng lúc sau các conex, sau các gốc cây, bọn vệ binh súng đã lăm lăm trong tư thế sẵn sàng.
Tên chính trị viên có súng trong tay chậm bước đến gần Trai.
"Này thằng kia, mày hô hoán cái gì thế?" hắn vừa hỏi vừa run nhưng chẳng rõ hắn run vì giận hay vì sợ. "Mày hô hoán mật lệnh đồng khởi hay gì đấy?"
Khối trưởng Trai thừa thông minh để hiểu ra căn nguyên của vấn đề. Anh có vẻ mất bình tĩnh khi thấy họng súng cứ ve vẩy về phía mình cách rất nguy hiểm.
"Dạ thưa. . ."
Có lẽ sau khi hoàn hồn, tên thủ phó tiểu đoàn đã nhận ra cái hố của cả bọn nên hắn vội tiến lên, ra dấu cho tên chính trị viên ngưng nói, và cất giọng thật lớn như muốn át đi phần nào cái ngượng của chính bản thân.
Hắn bảo Trai:
"Anh kia, lần này tha, lần sau cách mạng sẽ có biện pháp xử lý." Nhìn xuống đám đông, hắn tiếp, "Ðây là lần đầu và cũng là lần cuối tôi nhắc nhở chung, khi tập họp điểm danh báo cáo nhân số các anh phải có thái độ nghiêm túc và tác phong khiêm tốn. Các anh được phép hô nghiêm nhưng tuyệt đối cấm cái tác phong nguỵ như ban nãy. Muốn dàn trận hay sao mà hô ‘thao diễn?’"
Thế rồi cả tiểu đoàn lại mất thêm mươi phút để lắng nghe bài học về sự tập họp điểm danh của tên thủ phó lúc hắn đã cầm lên cái loa tay chạy pin để trên chiếc bàn kê ngay mặt lộ. Thôi thì đủ thứ chuyện hầm bà lằng. Rốt cuộc, khi tập họp chỉ được dùng khẩu lệnh nghiêm và nghỉ một cách có. . . tác phong khiêm tốn theo đúng vị trí cải tạo viên, mọi thứ khẩu lệnh khác của "Mỹ nguỵ" phải dẹp bỏ vào đống rác dĩ vãng. Ðể kết thúc bài học tập họp điểm danh, tên thủ phó không quên nhát ma thêm một điều nữa, "Bất cứ ai lợi dụng chức năng đại diện tập thể để phát ngôn những lời lẽ gây phấn chấn tinh thần chống đối học tập cải tạo sẽ bị xử bắn!"
Sau bài học, Trai quay lại với anh em. Bây giờ thì anh đâm lúng túng như một tân khoá sinh lần đầu phải làm tuần sự đại đội trong trường sĩ quan năm xưa. Anh không biết hô hoán thế nào để không bị ngộ nhận và có thể bị lôi ra bắn bỏ. Sau cùng, nối đuôi theo những tiếng hô "nghỉ" của các khối khác, Trai cũng buông một tiếng "nghỉ" rồi đứng buồn như một anh Nhật vừa bị anh Tàu giải giới.
Sau khi tất cả các khối đã tập họp điểm danh và báo cáo nhân số, "trên" bắt đầu làm việc. Tên chính trị viên, cái loa chính thức của bất cứ tiểu đoàn cộng sản nào, bước tới cầm lấy loa từ tay tên thủ phó. Sau khi hội ý vài điều với tên thủ trưởng, hắn quay lại đám đông, bắt đầu đi vào bài học chính thức của ngày khai trường. Gõ vài cái vào loa, hắn tằng hắng lấy giọng. "Hôm nay," hắn nói, "vì hội trường chưa có, ban chỉ huy trại phải tập trung các anh ngoài trời để tranh thủ lên lớp với các anh những nội quy cơ bản cho sinh hoạt ăn ở và học tập lao động tập thể ở trại này. Yêu cầu trước mắt của cách mạng là các anh phải chú ý nghe cho tốt, sau đó về đào sâu suy nghĩ, thảo luận hăng say và chấp hành cho đúng những nội quy quy định trong học tập cải tạo." Hắn nhìn nhanh đồng hồ tay, tiếp, "Ðáng lý ta phải lên lớp sớm hơn nhưng vì đa số các anh tác phong tập họp chưa đúng đắn, còn rất luộm thuộm gây mất thì giờ. Mùa này nóng nực, phải vậy không, vậy bây giờ đã tám rưỡi, ta sẽ tranh thủ lên lớp nhanh, giải phóng lớp sớm để các anh còn kịp về cơm nước và sửa soạn bước vào thảo luận chiều nay."
Chiếc loa tay bỗng câm. Người đứng xa chỉ thấy đôi môi của tên chính trị viên mấp máy như hắn đang ăn vụng một cái gì. Mãi đến khi tên thủ trưởng đập vào vai hắn mới hạ cái loa xuống khỏi miệng. Một tên khác nhảy lên mò mò mẫm mẫm trên cái loa. Một lát sau loa người lẫn loa máy bắt đầu làm việc trở lại.
Tên chính trị viên tiếp tục, "Ðấy, các anh thấy không, sự phồn vinh giả tạo của bọn đế quốc tư bản là như thế đấy. Cái loa này do bọn quân phiệt Nhật bổn chế tạo, trông thì đẹp mã lắm, mà dùng thì không tốt chút nào, toàn những lỗi lầm cố kỹ thuật." Sau khi đả đế quốc tư bản một hơi về câu chuyện máy móc hắn mới quay về chủ đề chính, "Trở lại lần lên lớp hôm nay, trước hết ban chỉ huy trại trả lời những thắc mắc tâm tư nguyện vọng của hầu hết các anh, dù chưa được chính thức đề bạt lên, mà chỉ mới ngấm ngầm từ ngày nhập trại đến nay, ấy là vấn đề bao giờ thì về. Nhân danh cách mạng, tôi xác quyết với các anh có đi thì phải có về; tuy nhiên, đi thì một lượt nhưng về thì dứt khoát không thể cùng một lượt. Lý do các anh cũng tự hiểu. Chủ nghĩa cộng sản không có nhà tù. Ðó là điều ta phải khẳng định một cách dứt khoát. Chủ nghĩa cộng sản chỉ có những trại tập trung cải tạo. Nó nhằm giúp đỡ những kẻ lầm lạc, mất phương hướng, có điều kiện tự rèn luyện để nhận biết được tội lỗi của mình, để phấn đấu lìa bỏ dĩ vãng xấu xa, trở về với đảng, với tổ quốc, với nhân dân. Trên thực tế, trại cải tạo ở xã hội ta phải nói là lý tưởng nhất so với các trại cải tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Có thể ví trại cải tạo ở đất nước ta có giá trị cao như những trường đại học tổng hợp. Mà đã vào trường đại học tổng hợp thì không phải vào để mà chơi. Ta vào để ta học. Nhưng học thì phải có thi, có thu hoạch kết quả. Có thi, có thu hoạch kết quả thì phải có người đỗ người trượt; đỗ thì vinh quy bái tổ, mà trượt thì dứt khoát phải tự nguyện đăng ký xin học lại cho bằng đỗ, dù có thêm năm năm, mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa."
Bên dưới đám tù có nhiều tiếng xầm xì. Tên chính trị viên vẫn phớt tỉnh và tiếp tục, "Các anh phải biết rằng cách mạng chưa bao giờ gọi các anh là tù; cách mạng đã trang trọng gọi các anh là những học viên cải tạo. Giờ có thể tuyệt đại đa số các anh chưa hiểu thấu lòng trân quý của cách mạng dành cho các anh, nhưng nếu các anh được dịp đi tham quan các nông trường tập thể của các cựu tù binh Pháp sau trận Ðiện Biên Phủ thần thánh, các anh mới thấy họ đang được sống như thế nào. Thật là rõ ràng họ đang được sống một kiếp mới hoàn toàn ấm no và hạnh phúc. Nói ra các anh không tin, chứ thực tế, sau một thời gian cải tạo tốt, có nhiều tù binh được đảng cho trở về Pháp đoàn tụ gia đình nhưng đã nhất quyết xin được ở lại sống đời tập thể mới, và thỉnh cầu đảng, chính phủ ta cho được nhập tịch làm người công dân mới của nước Việt Nam mới. Ðối với tù binh thực dân đảng còn xử cao thượng như vậy, nói gì đối với các anh, những đứa con Việt Nam máu đỏ da vàng đi lạc đường một thủa. Tôi khẳng định với các anh cách mạng sẽ thương yêu các anh nhiều hơn thương yêu những tù binh thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ sau này. Ngay từ ban đầu, cách mạng đã giấy trắng mực đen giáo dục các cán bộ chúng tôi phải giáo dục các anh như các học viên cải tạo. Thế thì, trong tư thế học viên cải tạo, các anh chẳng việc gì phải lo lắng và nôn nóng. Ðúng nhất, các anh phải tự thấy mình có nghĩa vụ đền đáp cái ơn tri ngộ của đảng, bằng cách đặt niềm tin tuyệt đối vào chính sách cải tạo của đảng, của cách mạng luôn luôn trước sau như một. Cách mạng nói mười ngày là mười ngày, nói một tháng là một tháng, nhưng mười ngày hay một tháng với những người đỗ kìa, còn trượt thì làm sao có chuyện mười ngày hay một tháng được. Thế thì về sớm hay về muộn chủ yếu vẫn là ở chính các anh. Các anh học tập tiến bộ? Tốt, các anh cấp uý sẽ trở về đoàn tụ gia đình sau mười ngày và các anh cấp tá cấp tướng sẽ về sau ba mươi ngày. Nhưng nếu các anh ngoan cố không chịu phấn đấu học tập cải tạo, không muốn từ bỏ con đường chống lại đảng, chống lại tổ quốc, chống lại cách mạng, chống lại nhân dân mà các anh đã một lần lầm lẫn đi qua, thì dứt khoát kẻ đó sẽ không bao giờ có ngày về. Ðó là một vấn đề rất lô-rích móc xích."
Tên chính trị viên ngừng một lát như để ôn bài và cũng để cho lũ "tù nguỵ" ngấm những lời lẽ của hắn vào tận xương tuỷ, kế hắn tiếp, "Tôi nói thật với các anh, qua quá trình gần sáu mươi năm ra đời và trưởng thành của chủ nghĩa cộng sản, chưa một đảng cộng sản anh em nào lại có đường lối cực kỳ khoan hồng nhân đạo như của đảng ta. Ðừng nói đâu xa, các anh cứ mở to mắt mà ngó đảng cộng sản Kampuchea anh em của ta thì rõ. Sau ngày giải phóng Nam Vang, mọi sinh vật, kể cả chó mèo, nếu đã từng nếm mùi bơ thừa sữa cặn của bọn đế quốc tư bản phản động đều bị giết, giết hết, giết sạch. Nếu đảng ta cũng ra tay theo đúng đường lối ấy thì liệu giờ này các anh còn được đứng nơi đây không? Tôi bảo thật, nếu cứ lấy châm ngôn mắt trả mắt răng trả răng ra mà xử với các anh, thì tội của các anh không chỉ xử bắn bằng một viên đạn, mà mỗi người phải chịu xử bắn bằng mười thùng đạn. Nhớ chưa, mười thùng đạn đại liên."
Lúc này nắng đã hơi gắt. Tên thủ trưởng bước tới nói nhỏ với tên chính trị viên. Tên chính trị viên gật đầu nói tiếp với tù, "Ðể tranh thủ thời gian vì nắng đã lên cao, tôi tạm gác những chuyện khác cho những kỳ lên lớp kế tiếp, giờ nhân danh chính trị viên tiểu đoàn, đại diện ban chỉ huy trại, tôi thông báo các anh những điểm chính của buổi lên lớp. Kể từ hôm nay, mọi sinh hoạt ăn ở, học tập, và lao động sẽ bắt đầu đi vào nền nếp tập thể. Cá nhân chủ nghĩa dưới mọi hình thức phải bị thủ tiêu. Sau buổi lên lớp này, các trưởng khối phó khối về lập danh sách thu tiền ăn mười ngày đúng theo tinh thần thông cáo của chính phủ lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đã đăng tải trên các mặt báo. Ai đem theo gạo cá nhân đều phải nộp về kho hậu cần tiểu đoàn để phân phối cho tập thể sử dụng. Mọi thứ nồi niêu lon cóng để nấu nướng linh tinh phải huỷ bỏ. Dứt khoát từ đây không có chế độ bếp mẹ bếp con. Cũng kể từ nay, ngoài chế độ ăn uống được nhà nước cung cấp theo đúng tiêu chuẩn dành cho các cải tạo viên, cách mạng còn quan tâm cung cấp thêm cho các anh tiếp phẩm theo tiêu chuẩn sau đây: Một là, mỗi tháng một kem răng; hai là, mỗi ba tháng một bàn chải răng; ba là, mỗi tháng một gói thuốc lá và nửa lạng thuốc rê hoặc thuốc lào; bốn là, mỗi tháng một lạng đường hoặc bánh kẹo nếu không có đường; năm là, mỗi năm hai bộ quần áo..."
Tên chính trị viên vừa dứt câu thì cả một rừng người đã nhao nhao lên. "Yêu cầu các anh tuyệt đối giữ yên lặng và trật tự," tên chính trị viên hét trên loa. "Ai muốn chống đối bước ra khỏi hàng."
Cùng với lời răn đe là những tiếng đạn lên nòng của nhiều khẩu AK.47. Tiếng ồn lắng xuống. Tên chính trị viên nói tiếp, "Ðã nói với các anh rồi, về sớm hay muộn là tuỳ ở nơi các anh. Riêng về phía chúng tôi, chúng tôi không hề muốn các anh ai cũng phải học tập lâu dài để mỗi năm lĩnh hai bộ quần áo của nhà nước. Riêng ở điểm này các anh lại càng phải lưu ý hơn về lượng khoan hồng và lòng thương yêu cách mạng dành cho các anh. Các anh cứ thử nghĩ xem, nếu cách mạng không có tấm lòng bể rộng sông dài thì việc gì phải tốn kém lo mãi cho những kẻ chậm tiến, không chịu phấn đấu tốt trong học tập cải tạo? Ðàng này cách mạng vẫn kiên trì tạo điều kiện vật chất cho những kẻ chưa tốt, ngoài cơm ăn còn có áo mặc, để mà tiếp tục phấn đấu trở thành người công dân lương thiện phục vụ xã hội, phục vụ đất nước sau này. Ðó chính là nét ưu việt nổi bật của đảng ta, của chế độ ta. Các anh phải suy nghĩ cho kỹ trước khi kết luận."
Bọn "rau răm ở lại" đã hiểu rõ thân phận mình nên hoàn toàn trở lại im lặng. Tên chính trị viên có vẻ hài lòng trước thái độ... biết điều ấy. Hắn tiếp, "Vậy thì... sáu là, mỗi ba tháng các anh sẽ được viết thư về thăm gia đình, và ngược lại chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện để gia đình các anh hồi âm. Cách viết thư như thế nào, động viên lẫn nhau ra sao vân vân và vân vân sẽ được học tập sau. Bảy là, từ nay, bằng mọi giá ta sẽ biến trại này thành một xã hội xã hội chủ nghĩa nho nhỏ; ta sẽ cùng nhau chứng minh câu thơ của đồng chí Tố Hữu là đúng triệt để: Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm." Hắn ngưng nói, cầm lên ly nước có màu xá xị nhấp một chút, rồi tuồng như không muốn để lỗ tai bọn "nguỵ" được kịp thở, hắn đặt ly nước xuống rồi trở lại ngay với vấn đề. Hắn tiếp, "Mai đây qua các khẩu hiệu, các anh sẽ có những tiêu chuẩn chắc chắn để phấn đấu trong học tập cải tạo, đạt chỉ tiêu các mặt theo đúng nguyện vọng của đảng, của nhà nước, của nhân dân, của gia đình và của cả bản thân," hắn liếc nhìn đồng hồ tay. "Giờ đã gần 11 giờ, để tranh thủ thời gian cho các anh về sinh hoạt cơm nước, tôi xin nhường lời lại cho đồng chí thủ trưởng lên lớp tiếp với các anh."
Tên thủ trưởng hăm hở tiến lên nhận lấy máy. Qua giọng nói, người nghe đoán được hắn gốc Quảng Nam nhưng đã sống giữa tập thể người miền Bắc lâu ngày. Dù hàm răng không vẩu nhưng chân dung hắn cũng không khác cái bia bắn là bao. Vừa cầm lấy loa hắn lên giọng nói ngay, "Ðồng chí chính trị viên vừa lên lớp với các anh vài khâu then chốt trong bước đầu học tập cải tạo. Chắc chắn trong các anh còn rất nhiều tâm tư nguyện vọng mà chưa có dịp bày tỏ. Tuy nhiên, rồi đây ban chỉ huy trại sẽ tạo nhiều điều kiện cho các anh bày tỏ nó ra. Hiện tại nói thế đã đủ. Nhân danh thủ trưởng, tôi cũng có vài lời nhắn nhủ với các anh em học viên cải tạo như thế này. Các anh đừng bao giờ quên các anh là những kẻ có tội; có tội với đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Ðồng lúc, các anh cũng đừng quên đảng là người sống có tình có lý; có tình vì luôn luôn khoan hồng cho những kẻ có tội nhưng biết thành tâm ăn năn hối cải; có lý vì họng súng cách mạng cũng luôn luôn sẵn sàng bốc khói trước những kẻ ngoan cố không chịu học tập cải tạo, tiếp tục con đường chống phá cách mạng chống phá nhân dân. Hôm nay cách mạng quy các anh về đây để cùng sống dưới một ‘mái trường,’ tạo điều kiện tốt để các anh học tập lao động hầu trở nên người hữu ích, lương thiện, góp phần phục vụ đảng, phục vụ nhân dân, xây dựng một xã hội mới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh cho muôn đời con cháu mai sau. Trong tương lai gần đây, tuần tự từng bước các anh sẽ được hướng dẫn đi vào nhiều khâu khác nhau của một quá trình học tập cải tạo. Hôm nay là ngày mở đầu cho bước đường dài phấn đấu đó. Nhiệm vụ và yêu cầu trước mắt là các anh phải chấp hành cho tốt nội quy trại đề ra. Các anh cũng cần phải nhớ rằng tất cả những kết quả tốt nhất định sẽ giúp các anh sớm được về đoàn tụ gia đình; ngược lại, kẻ gây kết quả xấu không những cá nhân thiệt thòi mà gia đình kẻ đó cũng phải chia sẻ nhiều trách nhiệm trước chính quyền địa phương. Bây giờ mặt trời đã đứng bóng, ban chỉ huy trại cho các anh về nghỉ để sửa soạn cơm trưa. Chiều nay các anh khối trưởng sẽ cho khối tập họp tại phòng lúc 2 giờ. Các cán bộ quản giáo sẽ xuống hướng dẫn các anh sinh hoạt thảo luận những huấn thị mà tôi và đồng chí chính trị viên đã truyền đạt sáng nay."
Ðứng mấy tiếng đồng hồ bọn tù vừa khát vừa mệt. Rồi sau khi trải qua vài câu hô hoán, mọi người được lần lượt quay trở lại phòng. Trong bữa trưa hôm ấy, câu được anh em sử dụng nhiều nhất là: Cầu chúc bạn được hưởng ơn mưa móc năm bộ quần áo của nhà nước!
 
http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-09 05:29:57Ngọc Lý>
[size=+3].[/size]
[size=+3]Ðại Học Máu[/size]

 
 
 
CHƯƠNG BỐN

Ðính được bầu làm trưởng ban Trang Trí khối 10. Hắn được dành cho một chỗ nằm tương đối đặc biệt ngoài mái hiên. Ðính khuân những thùng gỗ đựng đạn pháo vây lên thành vách, bên trong căng tấm poncho làm mái. Quả người ta không thể gọi nơi ngủ và làm việc của Ðính là hầm hay là hang. Ngày ngày Ðính chui trong đó để kẻ những khẩu hiệu cho khối do quản giáo đưa xuống.
Non một tuần lễ đã qua, một trong những rầu rĩ chung là lượng thuốc lá dự trữ đã thực sự cạn. Riêng Vĩnh đã hết sạch từ hai hôm nay. Ngoài những giờ lao động tạp dịch, buổi trưa Vĩnh hay mò vào giang sơn của Ðính, phần vì hắn dễ thương, phần vì hắn có thuốc lào. Có thể nói Vĩnh là một người trẻ nhập tịch làng thuốc lào trong tù nhanh và dễ nhất trong non một triệu tù nhân ngày nay. Thật là khổ khi cơm xong, nhất là thứ cơm hẩm Việt cộng mà không có tí khói cho đỡ tanh miệng. Lần đầu tập tễnh thuốc lào Vĩnh say đến mửa ra nguyên một phần cơm rau. Dần dần quen đi, anh đã biết ếm khói, biết làm thế nào để được lên thiên đàng sau khi hạ cái điếu cày xuống. Chơi với Nguyễn Thành Ðính, chẳng bao lâu Vĩnh còn được học hàm thụ cách trồng thuốc lào, cách sử dụng phân diêm phân lợn ra sao để thuốc lào say êm, không khói ngang mà tăng khói dọc. Nói chung chỉ ở tù non tuần lễ, nhiều quan chế độ cũ đã sớm phải gia nhập làng thuốc lào. Ðến giờ chỉ cần liếc qua màu thuốc, nhìn qua sợi thuốc Vĩnh đã có thể biết ngay đó là loại rin hay rởm (*).
Trưa nay, sau khi kéo một hơi thuốc lào, Vĩnh đặt điếu vào chỗ cũ và mơ màng nhìn Ðính. Hắn ngồi trước một dải băng dài làm bằng những bao cát khâu vào nhau. Hắn đang pha sơn.
Vĩnh hỏi:
"Kẻ chữ màu đỏ hả?"
"Họ đưa sơn gì mình kẻ sơn đó."
"Liệu sơn có ăn trên bao cát không?"
"Ăn chứ."
Vĩnh cầm lên mảnh giấy ghi các khẩu hiệu. Anh đọc qua một lượt, thấy câu nào cũng muốn phát ói. "Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng." "Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta." "Ðảng Lao Ðộng Việt Nam quang vinh muôn năm." "Ðảng Lao Ðộng Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước." "Học tập lao động là thước đo lòng yêu nước của mỗi người."
Vĩnh bỏ tờ giấy xuống, hỏi:
"Năm khẩu hiệu này ông tính kẻ trong bao lâu?"
"Khẩu hiệu mẹ gì mà dài quá, nhanh lắm cũng phải hai ngày."
Vĩnh la lên:
"Ông Ðính ơi ông làm không công mà ông cũng không biết nữa sao, hả trời!"
Ðính giật mình:
"Cái gì mà giữa trưa la lớn vậy, tụi nó đang ngủ."
"Kệ cha tụi nó. Ông tính làm hai ngày thật đấy hả?"
"Chứ sao bây giờ."
Vĩnh tính nói me-xừ Kim bên khối 12 hay 13 gì đó cũng từng ấy khẩu hiệu anh ta dự trù tới nửa tháng, nhưng nghĩ sao Vĩnh không nói. Anh đứng lên khom người chui ra ngoài sân, vừa lúc khối trưởng Trai từ ngoài chui vào. Vĩnh ngồi luôn xuống đống gạch rợp bóng dâm của một cây trứng cá cạnh hiên nhà. Anh lắng nghe những lời đối thoại vẳng ra từ chỗ Ðính.
"Ông Ðính ơi!"
"Gì nữa đây?"
"Thêm mấy cái nữa này."
"Sao lắm thế?"
"Tôi làm sao được. Trên họ đưa xuống các khối bắt thực hiện gấp."
Giọng Ðính càu nhàu:
"Ðúng là chế độ khẩu hiệu."
Giọng Trai hoảng hốt:
"Ông nói sao nghe ghê quá ông ơi. Bớt bớt lại giùm không kẹt cả đám."
Vĩnh không nghe thấy Ðính nói gì thêm. Một thoáng Trai chui ra. Ngồi nhìn nắng một lát Vĩnh lại chui vào với Ðính.
Anh hỏi:
"Thêm nữa hả?"
Ðính ngao ngán:
"Thêm ba cái đại ý dạy dỗ mình phải yêu thương nhau."
"Buồn cười nhỉ."
Ðính ngồi xuống góc hầm cầm cái điếu lên. Hắn nói:
"Chẳng buồn cười đâu. Tính tôi hay suy diễn. Ðể tôi suy diễn cái khẩu hiệu mới đưa xuống cho ông nghe thử. Nó nói rằng: ‘Các cải tạo viên phải thương yêu nhau, tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập cải tạo.’ Rõ là lũ chó đểu!"
Quả Vĩnh chưa kịp hiểu câu khẩu hiệu ấy chó đểu ở chỗ nào, anh chỉ ngạc nhiên thấy Ðính nổi nóng hơi khác ngày thường. Vĩnh biết tính Ðính rất điềm đạm.
Anh hỏi:
"Ðểu chỗ nào?"
"Câu này phải chia ra hai vế," Ðính nói. "Vế thứ nhất là câu ‘Các cải tạo viên phải thương yêu nhau.’ A, đừng tưởng nó thương gì mình đấy nhé. Nó chỉ muốn nói xa xôi cho mình biết mình sẽ ở đây mịt mù, sẽ đếm lịch dài dài."
"Sao vậy?"
"Ô hay, chứ bộ ông không biết câu ‘thú vật ở với nhau lâu ngày thì quyến luyến nhau, còn con người ở với nhau lâu ngày nhất định sẽ cắn xé nhau’ hay sao? Ðấy, vế này tiềm ẩn cái ý nghĩa ấy đấy."
Vĩnh tính hỏi còn vế sau ra sao thì Ðính đã tiếp ngay. Hắn nói, "Vế thứ hai mới độc. Nó bảo ‘tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập’ ông có hiểu ra sao không?"
". . . ?"
"Là phải theo dõi nhau; phải tích cực đấu tranh sai trái; một cái rắm lớn rắm nhỏ của nhau cũng không được phép bỏ qua; phải đem nhau lên bàn mổ; phải tố giác nhau tận tình để được. . . về sớm." Ðính làm một hồi với vẻ bực tức. Hắn kéo một hơi thuốc lào và trước khi chui ra khỏi căn hầm, hắn nói, "Chúng mình sẽ phải đi một đoạn đường thương khó dài hơn của Chúa, vác nặng hơn Chúa và thê thảm hơn nữa ở chỗ không được vác tà tà, không có người nâng hộ, mà vừa vác vừa phải chạy đua với nhau, bon chen kèn cựa cho đến lúc chết."
Rồi cả hai chui ra khỏi căn hầm. Buổi trưa nắng gắt. Trong các phòng người ta ngủ mê mệt. Vĩnh không biết đi đâu, không biết làm gì trong khoảng thời gian trống vắng này. Anh mò ra ngồi dưới bóng mát một cây điệp lớn. Nơi đây, mỗi chiều lao động về, một số đông tụ lại và biến gốc điệp thành trung tâm họp báo. Mọi tin đồn, mọi bình luận suy diễn đều xuất phát từ gốc cây điệp này. Nhưng giờ đây gốc điệp vắng tanh vì mọi người đang ngủ. Họ ngủ lấy sức cho những giờ lao động chiều.
Vĩnh ngó lên tàn cây rợp bóng mát. Một con rắn lục bụng to như có chửa quằn quại bò trên một nhánh cây. Lẫn trong tiếng chíu chít của bầy chim sẻ có con chim lạ vừa cất lên một tiếng gáy cô đơn. Sự hồi tưởng bất chợt trở về làm lòng Vĩnh tái tê. Chao ôi, đây là mộng hay thực? Ta đang ở đâu đây? Vì đâu nên nông nỗi này? Cuộc đời trước mắt Vĩnh thốt biến thành một mớ bòng bong và anh thấy mình sa vào vô phương thoát khỏi. Vĩnh bỗng thương nhớ lũ con anh vô cùng. Anh chợt hiểu một trong những đau đớn quằn quại nhất của anh khởi từ điểm này. Cứ tưởng tượng ngày nào bầy con anh lớn lên, chẳng cần chúng phải căm thù, chỉ cần chúng nhìn anh bằng ánh mắt hờ hững tuồng như nhìn một kẻ đã một lần "đi lạc" ra ngoài con đường lịch sử, đã phạm những tội ác mà chúng cho là không thể tượng tượng nổi -- kết quả của một đường lối tuyên truyền nhồi sọ, dựng đứng, và ác độc của cộng sản -- thì anh không rõ tâm hồn anh lúc ấy sẽ ra sao. Vĩnh đập mạnh vào trán đôi ba lần. Ôi thôi ta mắc kẹt thật rồi. Ý nghĩ tự sát lần nữa lởn vởn qua óc Vĩnh. Chưa bao giờ anh thấy mình bị xâu xé như lúc này. Ý chí thì muốn biến anh thành một chứng nhân của lịch sử; trong lúc trái tim lại thúc giục anh ra đi, thúc giục anh rời bỏ cõi này càng sớm càng tốt để chữ Tự Do mãi mãi còn được đậm màu. Một cái đinh hay một cái lưỡi lam. Vĩnh lại lắc đầu thật mạnh. Thốt nhiên anh nổi giận đùng đùng; nổi giận mà không biết vì sao mình nổi giận. Anh chộp một hòn đá ném mạnh lên cành cây có bầy chim đậu.
"Thằng kia, mày ném ai thế?"
Một tiếng quát. Vĩnh giật mình nhớ ra thực tế, nhớ ra bên ngoài hàng rào có một vọng gác. Hòn đá anh ném đã rơi trúng vọng gác đó. Vĩnh giả vờ như không nghe thấy. Anh chậm rãi đứng lên khỏi gốc điệp, rảo bước về phía các dãy trại.
"Thằng kia, đứng lại!"
Tiếng quát lần này lớn hơn và có kèm theo tiếng đạn lên nòng. Chẳng dại gì ngoái mặt lại để bị nhận diện, Vĩnh nhủ lòng. Anh vùng chạy thật nhanh về phía bếp khối 12, đâm sang bếp khối 11, đi vòng khối 11 và bọc về cửa sau khối 10. Vĩnh về chỗ nằm, cởi chiếc áo xanh nhét vào sắc, lôi chiếc áo nâu ra mặc. Anh tính trở ra ngoài nhưng hai thằng vệ binh có súng trên tay đã xuất hiện ngoài sân. Dáng dấp chúng cho thấy chúng đang lùng bắt một người.
Nằm yên tại chỗ, Vĩnh dặn lòng tự hậu phải kiểm soát thật kỹ mọi hành động của mình. Ðã lỡ lọt tay kẻ thù không nên để thiệt mạng vì những lý do lãng nhách; nhất là kẻ thù của anh, một thứ kẻ thù mà giáo chủ của chúng, Lênin, từng dạy rằng, "Chỉ cần một ý nghĩ thương xót bọn phản động thôi, thì người vô sản coi như đã phạm một trọng tội khó tha thứ!"
Vĩnh ngó quanh phòng. Hoá ra đâu phải tất cả đều ngủ. Nằm chen chúc đây đó vẫn có nhiều người vắt tay trên trán, mắt như gắn chặt vào một điểm trên trần đầy mạng nhện. Bên trái Vĩnh là anh chàng bác sĩ Ngô văn Tuyên, bên phải là trung uý Biệt động khoá 25 Võ bị Ðặng Xuân Bính. Nằm sát nhau trong khu vực tổ A.3 với Vĩnh còn có trung uý Hải quân Lê văn Trợ, trung uý Hải quân Nguyễn Văn, trung uý phi công Lê văn Sanh, trung uý phi công Quách Tứ, thiếu uý phân chi khu trưởng Nguyễn văn Hải, trung uý ban trận liệt/P.2/TTM Nguyễn văn Lộc, trung uý Quân nhu Lê văn Khoa, trung uý giảng viên Anh ngữ trường sinh ngữ quân đội/TTM Trần văn Nguyên. Xa xa chút nữa về phía trái thuộc tổ A.4 có ông già Chuân thiếu uý trợ y, người có bệnh nghiến răng đáng sợ; xa hơn tí nữa là ông Thiệu, tài xế biệt phái cục Tình báo Trung ương, một Moritz kiểu mới giờ thứ 25 Việt Nam. . .
Thốt nhiên Vĩnh nghĩ những khuôn mặt này rồi sẽ gắn chặt với anh trong bao lâu nữa? Và cho dù có cùng hoàn cảnh nhưng liệu họ có cùng một nỗi ray rứt đớn đau? Ông Chuân sau những giờ lao động về lôi ra mấy bánh thuốc lào đem theo, viên từng bi bán cho anh em bằng cái giá cắt cổ mười đồng năm bi và mỗi bi nhét chưa đầy nõ điếu; ông Thiệu, dù là tài xế biệt phái của Trung ương Tình báo, lại là người mù chữ, chỉ biết đọc mà không biết viết; thế thì cái đau mất nước của ông Chuân liệu có thống buốt bằng cái đau của cựu đại đội trưởng Biệt động Ðặng Xuân Bính? Và của ông Thiệu có giống của Ngô văn Tuyên -- kẻ hẳn đã quá rõ thân phận một Zivago sẽ phải như thế nào trong xã hội cộng sản?
Tiếng kẻng làm suy nghĩ của Vĩnh bị gián đoạn. Trong phòng sự im vắng bị phá vỡ tức thì. Người ta vội vã trổi dậy, kẻ lấy mũ, người lấy bình nước rồi nối đuôi nhau ra sân nắng tập họp.
Nắng Tây Ninh chang chang. Các khối đứng tập họp điểm danh ngay ngoài sân khối. Khối trưởng Trai sau khi báo cáo nhân số lao động cho quản giáo Cư xong, anh rút ra từ túi quần sau một quyển vở, mở ra và đọc, "Theo lệnh anh quản giáo, các anh sau đây ở lại nhà nhận công tác đột xuất: Nguyễn văn Năm, Trần văn Ích, Lê Thanh Nhàn, Bùi Lành, Trịnh. . ."
"Sao anh phức tạp thế," quản giao Cư chen vào với giọng bực dọc. "Sao không cắt nguyên một tổ cho nó dứt điểm mau?"
"Dạ anh đã chỉ thị chỉ lấy sáu người có sức khoẻ."
"Phức tạp. Hôm qua tổ nào trực?"
"Dạ A.5."
"Vậy hôm nay lấy tổ A.6." Hắn đảo đôi mắt cú vọ vào đám tù, hỏi khơi khơi, "Nhân số còn bao nhiều đi lao động?"
"Thưa anh Ðính ở nhà vẽ khẩu hiệu; anh Thuần anh Hiệp tiếp tục đào giếng; anh Cang, anh Tâm, và anh Ba Tô đắp bếp."
"Ba Tô là cái gì?"
"Dạ thưa tên anh ấy là Tô, anh em quen gọi Ba Tô."
"Ba tô với bốn bát! Tên tuổi phải gọi cho đúng. Mai đây các anh đều có số cá nhân, không thể tuỳ tiện thêm đầu thêm đuôi như thế được, nhớ chưa?"
"Dạ."
"Còn những ai ở nhà nữa?"
"Bác Chuân ở nhà đóng thùng thuốc tập thể cho khối."
Tên quản giáo bỗng trợn trừng mắt ngó khối trưởng Trai.
"Ðây là lần đầu và cũng là lần cuối," hắn nói, "tôi quán triệt để các anh rõ và nắm cho vững cách xưng hô trong trại cải tạo. Nơi đây, cấm chỉ gọi nhau bằng chú chú bác bác. Các anh đều có tội như nhau, đều vào đây học tập cải tạo như nhau, do đó bình đẳng, không ai là chú là bác của ai cả. Tất cả gọi nhau bằng anh, xưng tôi. Nghe rõ?"
Không ai trả lời ngoài khối trưởng Trai nuốt hận dạ khẽ một tiếng. Tên quản giáo lườm nhanh mọi người một cái, mỉa mai, "Vẫn chưa giải phóng được cái tác phong nguỵ. Chú chú với bác bác. Công tác phục vụ hỗ tương cũng cám ơn cám iếc" (**). Thốt hắn hỏi lớn, "Còn ai ở nhà nữa không?"
"Dạ kể cả tổ trực tổng cộng mười bảy người."
Tên quản giáo khẽ lắc đầu.
"Khối có 120 người, mười bảy ở nhà thế là suýt soát mất đi 14 phần trăm công trực tiếp lao động. Hơi nhiều."
Bọn tù đều giật mình như nhau. Một thằng cán binh cộng sản rõ ràng i-tờ-rít mà sao khi tính công lao động nó lại tính nhẩm nhanh đến thế. Thảo nào dân miền Bắc hai mươi năm xưa hát câu "áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá," hai mươi năm sau vẫn phải hát câu "quần tôi có hai miếng vá áo anh rách vai.
Tên quản giáo lẩm bẩm gì đó trong miệng. Và trước khi ra lệnh cho khối trưởng Trai dẫn tù lên lao động ở phi trường Trảng Lớn, hắn hỏi lớn.
"Anh Ðính đâu?"
"Có tôi."
"Lát nữa anh lên tiểu đoàn gặp chính trị viên!"
___
(*) rin: thứ gốc, không pha chế; rởm: thứ giả.
(**) trong việc giúp đỡ nhau hàng ngày người cộng sản không chấp nhận sự cám ơn. Họ quan niệm những công ích ta làm cho người khác, hay ngược lại, đều là nghĩa vụ của từng người trong sinh hoạt xã hội; mà đã là nghĩa vụ thì không ai phải cám ơn ai.
 

http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0
[size=+3]Ðại Học Máu[/size]

 
 
CHƯƠNG NĂM
 
Khối trưởng Trai dẫn khối 10 đi theo bốn hàng dọc rời cổng trại 1. Ðoàn người lúc này tương đối còn khoẻ, trông chưa đến nỗi bệ rạc cho lắm. Theo lệnh, khối 10 phải lên phi trường gỡ xí phần một số vỉ sắt lót phi đạo đem về trữ phòng có việc dùng về sau. Vĩnh nghe phong thanh khu phi trường đầy đất đá nén ấy rồi đây sẽ được biến thành ruộng bí ngô.
Những tấm vỉ sắt do Mỹ ráp bằng máy để làm sân bay, giờ lũ tù phải dùng tay không tháo gỡ. Làm sao tháo đây? Trong lúc tù vã mô hôi với những tấm vỉ sắt nặng nề thì tên quản giáo vẫn luôn miệng đay nghiến, "Các anh ráp được các anh phải tháo được. Thiết lập phi đạo cho máy bay bắn phá nhân dân thì tài lắm, đến khi phải tháo nó ra thì viện dẫn đủ thứ khó khăn. Liệu nó có khó hơn việc cách mạng đánh tan thực dân Pháp, đánh tan quân phiệt Nhật, đánh tan đế quốc Mỹ và nguỵ quân nguỵ quyền hay không?"
Tên quản giáo đang miên man đay nghiến bỗng ngừng lại. Hắn quát:
"Thằng kia, mày làm cái gì vậy?"
"Dạ tôi đái."
"Mày đứng đái giữa trời giữa đất thế à?"
"Thưa tôi mót quá. . . ở đây đâu thấy cây cối gì."
Mặc dù cũng biết giữa phi trường bát ngát toàn vỉ sắt với vỉ sắt thì tìm đâu ra một bụi rậm, nhưng việc đái không đúng lúc của một thằng tù khiến tên quản giáo vẫn thấy mình bị xúc phạm.
Hắn hằn học hỏi:
"Mày tên gì?"
"Phạm Ðiểu."
Tên quản giáo như nổi điên lên vì lối trả lời cộc lốc của một tên "nguỵ."
"Phạm Ðiểu hay Phạm Ðểu?" hắn hét. "Mày có biết lễ phép quân cách là gì không?"
Ngoại dự đoán của mọi người kể cả tên quản giáo, trung uý Phạm Ðiểu, anh chàng người Quảng Nam cao không quá thước rưỡi, kẻ từng ngang ngạnh nói câu "Ðến bây giờ còn chỗ nào trên đất nước này mà không đáng đái lên," đã nói thêm một câu đáng ghi vào quân sử:
"Tôi là quân nhân của quân đội Sài Gòn, làm sao tôi biết được quân cách của quân đội nhân dân anh hùng!"
Câu trả lời ấy đã biến Phạm Ðiểu thành người nằm conex đầu tiên của trại L4T1.
Người bị đánh đập và trói dẫn đi thì mặc người, bánh xe lịch sử vẫn lăn và khối 10 vẫn phải tháo, gỡ, lay, xeo, bưng, khuân những tấm vỉ sắt nặng nề bằng hai tay không rướm máu để dọn đường cho bánh xe lịch sử ấy lăn tới, và không biết đến ngày nào nó mới lăn tòm xuống sông.
Tổ A.3 nhân số mười người như tất cả các tổ khác bỗng nhiên được lệnh ngừng tay.
Tổ trưởng Quách Tứ với giọng Bình Ðịnh khẽ than:
"Chuyện gì nữa đây?"
Ðặng Xuân Bính thở dài:
"Tăng cường đào giếng tiểu đoàn cho các quan quản giáo có nước tắm chắc!"
""Ðm. nó, làm chuyện gì làm luôn một chuyện. Kéo tới kéo lui mệt quá trời."
Lê văn Trợ, với cái tính bộc trực của người miền Nam, cáu quá bật tiếng chửi thề. Vì anh chửi thề nhiều quá, nên thoạt đầu anh em gọi anh là Ba Trợ, dần dần đổi thành Ba Trợn.
Nguyễn Văn, người từng khoe với cả tổ rằng mình là một cây bút của báo. . . Tuổi Ngọc, chen vào.
"Ông Ba Trợn, ông giữ mồm giữ mép chút đi."
Nghe Văn nhắc nhở Trợ nổi doá.
"Ðm. mày ỷ con cách mạng hả, đi báo cáo đi!"
Việc chỉ có thế mà hai nguời đâm to tiếng. Anh em phải can ra. Vừa lúc ấy tên quản giáo trờ tới.
Hắn hỏi:
"Này, tổ A.3 hả?"
"Dạ."
"Tổ trưởng đâu?"
"Có tôi."
"Ðủ mười người không?"
"Dạ đủ."
Hắn lấy giấy bút ghi gì đó rồi nhét vào túi, ngoắc một tên vệ binh đứng gần lại, bảo, "Ðồng chí dẫn mười anh này về ban chỉ huy, bàn giao hậu cần trách nhiệm và sử dụng, đúng 5 giờ trả về trại. Tên vệ binh lườm bọn tù một cái rồi hách dịch hất hàm, "Ði!" Ra lệnh xong hắn trí mũi súng vào tổ A.3, hất hất mũi súng về phía trước có ý bảo mọi người đi tới, và lầm lũi theo sau.
Tổ A.3 trở lại đường cái trong căn cứ. Hai bên đường đâu cũng có tù lao động. Chỗ thì cuốc đất, chỗ thì phát quang, chỗ thì lượm lặt và gom lại những súng đạn sét gỉ vứt khắp cùng, chỗ thì dùng sức người phá các nền nhà Mỹ.
"Vĩnh, Vĩnh, V. . ."
Có tiếng gọi tên anh thật lớn cất lên trong đám tù đang khuân đạn từ một căn nhà đổ nát ra chất lề đường. Tiếng gọi tắt ngang khi có tiếng đạn lên nòng và tiếng chửi thề độc địa của một tên vệ binh. Vĩnh vừa bước vừa ngoái nhìn. Anh nhận ra trong đám người bên đường có một người hao hao giống người anh họ của vợ anh. Anh Giong. Có lẽ anh ta thấy Vĩnh, mừng quá đã cất tiếng gọi. Tổ A.3 quẹo phải ở một ngã tư. Vĩnh vừa đi vừa lo. Không biết tiếp theo tiếng chửi thề của thằng vệ binh anh Giong có mềm xương vì vi phạm nội quy hay không.
Tổ được dẫn về ban chỉ huy tiểu đoàn 1. Sau khi tổ trưởng tập họp điểm danh, tên vệ binh bàn giao lại cho một tên khác. Ðây là lần đầu tiên A.3 được bước vào phạm vi ban chỉ huy tiểu đoàn. Nó gồm năm dãy nhà lợp lá nền đất nằm song song nhau. Dĩ nhiên những dãy nhà này cũng mới được bọn tù đổ công sức dựng lên theo đúng mode thời đại Hồ Chí Minh. Dãy nằm trong cùng là hậu cần trại, phía sau có bếp tập thể, sau bếp có cái giếng. Hiện tổ A.3 đang đứng trước dãy hậu cần. Tên cán bộ hậu cần ra tiếp nhận có vóc dáng mập mạp khác thường. Chắc giàu nhà kho no nhà bếp là vậy. Hắn mặc áo trận màu cứt ngựa và mang quân hàm chuẩn uý tử tế, nhưng bên dưới lại chơi một cái quần đùi may bằng cờ quốc gia.
Ðặng Xuân Bính rít qua kẽ răng:
"Tao mà có dịp vồ lại được mày thì tao sẽ đổ chì vào lỗ đít mày."
"Cứ kiên nhẫn," Lê văn Sanh, con cóc của tổ chợt nghiến răng. "Còn hưởng nhiều trò nhục hơn nữa, ông ơi!"
Tiếng xầm xì trong hàng phải chấm dứt vì tên hậu cần bỗng đột ngột hô "nghiêm!" nhưng chưa ai kịp nghiêm hắn đã vội buông một tiếng "nghỉ!"
"Thế lày nhá," giọng ngọng tíu ngọng tít hắn bắt đầu nói. "Chiều nay thì nà trên cắt công tác các đồng chí đến phục vụ hậu cần tiểu đoàn, tôi đại diện hậu cần trại lồng nhiệt chào mừng các đồng chí. Trước nạ sau quen, phải không. Bác đã rậy công tác nào cũng vinh quang như nhau, vậy thì nà chiều nay các đồng chí công tác với tôi, tôi sẽ chỉ đạo các đồng chí những khu vực cần phải rải phóng."
Ðây rõ ràng là một trong những tên cán binh chưa thuộc bài về cách xưng hô với tù "nguỵ," vì thế hắn cứ hân hoan một đồng chí hai đồng rận cách rất tự nhiên như người. . . Hà Lội (*).
Hắn quay sang hỏi Quách Tứ:
"Ðồng chí nà tổ trưởng? Mừng đồng chí được đảng tín nhiệm rao công tác tổ trưởng. À mà tên đồng chí là gì nhỉ?"
"Tôi là Tứ."
Thế là tên hậu cần diễn giảng luôn một lèo về những vinh quang và quyền lợi của chức vụ tổ trưởng:
"À đồng chí Tứ," hắn nói. "Ðồng chí phải biết rằng đồng chí rõ nà may mắn nắm đấy. Tôi í à? Tôi phục vụ đảng tính đến nay nà mười năm năm, noanh quanh đi gần hết các D của F (**) cấm mà được cái chức tổ trưởng. Mười năm năm tự thủ nấy hai vai trò vừa thầy vừa thợ, chỉ huy toàn những tạ muối, tạ ngô, tạ khoai, tạ gạo; bạn bè với nũ nợn, nũ gà. Ðồng chí mới bước vào học tập đã nắm ngay tổ trưởng, may nắm. Ðồng chí cố mà nàm cho tốt công tác trên rao phó. Ðừng nàm rì sai trái. Mất không bao giờ nấy nại được." Thoáng thấy mấy cái áo bộ đội sau cánh cửa nhà hậu cần, hắn hơi nghĩ ngợi, rồi tiếp, "Lói thế đủ rồi, các đồng chí bộ đội đang chờ ta, giờ tôi triển khai công tác nhá. Vậy thì nà ta có mười người phải không? À, mà đồng chí tổ phó đâu?"
"Có tôi."
Khoa nhanh nhẩu lên tiếng. Trong tổ do tính quá kỹ, Khoa không được lòng anh em, do thế vừa lên tiếng hắn đã bị ông Ba Trợn kê nhẹ một câu "Thích nhé, sửa soạn được chào mừng đấy." Nghe thấy nhưng Khoa lờ đi. Tên hậu cần kêu Khoa bước khỏi hàng.
Hắn nói:
"Có tổ trưởng nại có cả tổ phó, vậy ta chia tổ nàm hai bán tổ, các anh nhất trí không? Một bán tổ sẽ do tổ trưởng đảm trách, bán tổ còn nại sẽ do tổ phó kiểm tra." Hắn quay vào trong gọi lớn, "Ðồng chí Toản, đồng chí Toản đâu?"
Sau tiếng gọi từ trong nhà bước ra một tên bộ đội vai đeo AK.47. Nó mặc áo thun và bên dưới cùng mặc một chiếc quần đùi may bằng cờ quốc gia. Trông thấy nó rồi không ai có thể gọi nó là một tên lính được. Bộ mặt non choẹt nhất định chỉ vừa thoát khỏi cái tuổi thò lò mũi xanh đôi ba năm. Trên đầu nó đội lệch một chiếc mũ lưỡi trai bẩn và nhầu như tấm giẻ lau xe. Dù cũng dòng họ Vẩu nhưng nhờ bộ mặt còn non sữa nên trông nó đỡ quỷ quái. Bù lại, nó có đôi mắt nhìn tù thật ác; đôi mắt như kết tụ sự thành công của một đường lối tuyên truyền nhồi sọ ác độc của cộng sản về một đối phương "uống máu nhân dân không biết tanh."
Nó bước ra sân, lên tiếng cách mất dạy không ngờ:
"Giao thằng nào thì giao nẹ nẹ nên. Dẫn mấy thằng tù đi hốt cứt chứ đi đâu mà nên nớp rông rài quá."
Tên cán bộ hậu cần vẫn nhẩn nha nói với tù:
"Ðồng chí Toản sẽ phụ trách chỉ đạo bán tổ A do anh Tứ nàm bán tổ trưởng. Anh tổ phó dẫn bốn người còn nại theo tôi."
Vĩnh lẽo đẽo đi theo bán tổ A. Tên bộ đội vừa dẫn đường vừa chửi trời chửi đất, sau cùng nó dẫn năm người đến dãy cầu tiêu phía sau tiểu đoàn, lên lớp một lát rồi kết luận, "Chúng mày nhớ dọn cho sạch không ông ăn bắt chúng mày ăn!" Nói đoạn nó vác súng đi kiếm bóng mát ngồi.
Vì trách nhiệm, Quách Tứ nhanh chóng cất tiếng thúc giục anh em; còn anh em thì đứa nào đứa nấy đều đứng nghệt ra, không biết làm sao với hai tay không múc cho hết hai cái hầm phân đầy dòi và giấy lộn.
"Ông hỏi nó xem có xẻng có thùng gì không." Ba Trợn thúc Quách Tứ.
Quách Tứ cũng đang tính vậy, nhưng thấy bộ mặt thằng nhóc hắc ám quá anh còn ngần ngại. Sau cùng anh đánh bạo đi thẳng tới tên bộ đội.
Tứ nói:
"Báo cáo anh, xin anh cho chúng tôi mượn đồ nghề."
Tên bộ đội đã thủ thế từ lúc thấy Tứ bước đến. Nghe nói, nó đổ quạu:
"Ðồ nghề nà cái rì?"
"Dạ xẻng hay cái thùng gì cũng được."
Tên bộ đội vùng vằng đứng lên.
"Ðm. xẻng thùng thì nói xẻng thủng, nói đồ nghề, cứ như nà đồ nghề súng đạn cho chúng mày đi bắn phá nhân rân không bằng!"
Quách Tứ đứng nuốt hận. Mọi người đều nuốt hận.
Vĩnh bỗng bắt giọng đọc khẽ:
Chim quyên uống nước vũng trâu,
Phượng hoàng gà đá diều hâu sẻ đùa.
Ðặng Xuân Bính nói khẽ bên tai Vĩnh:
"Ông ghi câu đó cho tôi nhá."
"Ghi cho ai chứ cho ông thì không dám."
"Sao thế?"
"Chỉ nghe tên ông tôi đã rét rồi."
"Sao lại rét, à, hay sợ tôi bà con với Ðặng Xuân Khu?"
"Còn phải hỏi!"
Bính ngó trời ngó đất rồi cười:
"Nghi cũng có lý. Chẳng giấu gì ông, ông nội của Ðặng Xuân Khu ngày xưa là tá điền trung thành của ông cố nội tôi. Lão họ gì đó tôi cũng không nhớ nữa, chỉ nghe kể rằng ông cố nội tôi thương ông nội của Ðặng Xuân Khu lắm lắm, thương đến độ cho cải họ nhập vào họ tôi ở làng Hành Thiện, và ông cố nội tôi đặt cho ông nội Ðặng Xuân Khu cái tên mới là Ðặng Xuân Ðít. . ."
Vĩnh không nhịn được cười trước khuôn mặt giễu lạnh tanh của bạn.
Quách Tứ đã kéo từ trong kho hậu cần ra một cái thùng đạn đại liên và hai cái xẻng. Anh nói lớn, "Có đồ nghề rồi đây mấy cha. Các cha thay phiên múc đổ ra ao rau ngoài xa kia. Tôi, anh Bính và anh Vĩnh múc. Anh Hải anh Trợ lượm giấy bỏ riêng ra một đống rồi tìm cách đốt đi."
Thế là màn múc cứt chuyển cứt ra ao khởi sự. Ðây là màn mở tay nên ai cũng vụng. Nhưng cái gì vụng không sao, chứ hốt cứt mà vụng thì chỉ mười lăm phút sau mấy thằng tù đã biến thành mấy đống cứt biết đi; thêm mười lăm phút kế thì không ai còn thấy thằng bộ đội ngồi trong bóng mát đâu nữa. Không rõ nó không chịu nổi cái mùi vinh quang đích thực của xã hội chủ nghĩa, hay đã rút vào nhà kho kiếm chác vài hạt lạc sống hoặc ít miếng khoai khô?
Lịch sử là một chuỗi những biến cố không ngừng, ai cũng biết điều đó; và người ta biết rõ hơn là lịch sử không bao giờ dành riêng cho ai cái khả năng tiên đoán chuẩn xác. Cách đây vài tháng thôi, ai đoán nổi hàng triệu người miền Nam bị cộng sản dí súng vào lưng bắt đi hốt cứt cho chúng thế này! Có thể có một số người đoán biết được miền Nam sẽ hoàn toàn sụp đổ, nhưng chắc không ai đoán ra được hiện trạng này. Có thể họ đoán ra cái hậu quả của sự sụp đổ là, cộng sản phải khôn ngoan hơn, ứng dụng khéo léo cái chính sách hoà hợp hoà giải chúng thường rêu rao để từng bước xích hoá êm thắm cả một miền Nam thù hận. Cũng có thể bi quan hơn, họ đoán rằng miền Nam hẳn sẽ trở thành một biển máu. Không ai đoán đúng được cái chiêu thức của cộng sản, rằng chúng chẳng có hoà hợp hoà giải, cũng chẳng cần có biển máu, nhưng để triệt hạ những thành phần chống lại chúng, chúng có biện pháp siêu quần hơn: Gom tất cả lại, dùng khổ sai trên thể xác, tủi nhục trong tâm hồn để giết dần đối tượng. Sự tiên đoán chuẩn xác, do đó, rõ ràng đã không có cho những người của thế giới tự do, kể cả những máy điện toán tinh vi nhất của Hoa Kỳ.
"Ðm. lại rơi cái đầu bác nó xuống mất rồi!"
Tiếng chửi của Bính lúc hắn làm rơi cái thùng xuống hầm cầu khiến Vĩnh giật mình.
Tổ trưởng Tứ khẽ cự:
"Thì tìm cách lấy nó lên. Ông chửi tôi nghe ghê quá."
Vĩnh cảm thấy mệt mỏi. Cuộc chiến tới đây rất cần những người như Bính, nhưng nếu cứ cái tính khí ấy, hắn sẽ tiêu trước khi có dịp cầm súng trở lại. Lúc Tứ đi tìm cọng kẽm làm móc, Vĩnh nhỏ nhẹ với bạn:
"Bình à, dù thế nào mày cũng không nên quá tin những người chung quanh. Chửi hoảng kiểu đó có ngày mày mang đại hoạ."
Bính như hồi tâm dù vẫn nhún vai. Hắn nói:
"Tao cũng ngại bọn chức sắc này kia kia nọ lắm, nhưng có lẽ chỉ khi chết tao mới bỏ được cái máu húc Biệt Ðộng của tao."
Vĩnh lặng thinh trước câu nói của Bính. Anh nhìn người bạn khoá 25 Võ Bị rồi ngó lên mây nói vu vơ:
"Sống nhục khổ hơn chết. Nhưng khốn thay, lịch sử chỉ thuộc về những kẻ còn sống, không thuộc về những người đã chết!"
___
(*) sau 30-4-75, đồng bào Nam Bắc một số được gặp lại nhau. Phần lớn là người ngoài Bắc vào thăm người trong Nam, từ đó xảy ra cảnh người trong Nam thì nhận họ còn người ngoài Bắc thì nhận. . . hàng. Vì hoàn cảnh đói khổ thiếu thốn mấy chục năm, không phải tất cả, nhưng rất nhiều người ngoài Bắc vào gặp gì cũng muốn, hoặc lấy trước xin sau. Do vậy, văn chương dân gian miền Nam mới nảy ra câu "tự nhiên cứ như người Hà nội" để diễn tả tình huống này.
(**) quân đội CSVN dùng mẫu tự từ A đến F để gọi các cấp từ tiểu đội lên tới sư đoàn.
 
 
http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-10 07:19:49Ngọc Lý>
[size=+3]Ðại Học Máu[/size] 
 

CHƯƠNG SÁU

"Mày từ chối cách nào?"
"Thì tao cứ thẳng ruột ngựa thôi. Tao nói thưa anh tôi bị tai nạn ở đầu, đang chờ giải ngũ thì cách mạng vào giải phóng. Trí nhớ tôi từ đó rất kém. Nhiều chuyện vừa xảy ra chừng dăm ba phút tôi đã quên ngay. Xin anh cho tôi được học tập lao động như mọi người, và cái chức năng anh tin tưởng chọn tôi để giao xin giao lại người khác có trí nhớ tốt hơn."
"Rồi nó xử trí ra sao?"
"Nó nói xa xôi rằng xã hội bên ngoài cũng cần những công dân có trí nhớ tốt. Trí nhớ tồi như của tao chắc còn phải phấn đấu lâu dài."
"Nó có ép mày, dí súng vào lưng mày bắt mày nhận chức năng ấy không?"
Nghe hỏi, Ðính vung hai tay.
"Ấy, tao vốn ăn ngay nói thật. Gì chứ cái này tao thề không nói dối. Tao cả quyết nó không hề dí súng vào lưng tao, hoặc đánh đập tao bắt tao nhận cái chức năng ấy. Nó chỉ xỏ xiên gọi tao là nòi nhà lừa, nhẹ không muốn muốn nặng. Nó nói từ mai tao đi lao động trở lại, bảo thằng Trai kiếm đứa khác kẻ khẩu hiệu."
"Tốt, thế giờ mày thấy thế nào?"
"Thế nào là thế nào?"
"Thất tình lục dục nổi lên mặt nào rõ nhất?"
"Mừng quá đi chứ. Ði lao động với chúng mày coi vậy mà nhẹ nhõm lương tâm hơn."
Trong suốt buổi chiều Vĩnh và các bạn trầm mình trong mấy hố phân thì Nguyễn Thành Ðính được cách mạng ưu ái gọi lên văn phòng trại. Cách mạng rót mật vào tai hắn, tính âu yếm đè hắn ra, gắn trên lưng hắn cái cần ăng-ten thật nhạy, nơi tai hắn cái máy nghe thật tinh xảo để hắn bước vào nghề chỉ điểm báo cáo anh em. Thấy hắn là người chăm làm, cách mạng tưởng hắn ngoan ngoãn ai dè hắn chối quách. Dù sao cách mạng không nỡ chụp mũ hắn phản động, vì hắn vẫn xin được làm đúng như lời bác dạy: Yêu lao động chân tay và coi lao động chân tay là vinh quang.
Ðính bỗng nói như báo động:
"À, lúc tao bước ra khỏi văn phòng tiểu đoàn, tao thấy thằng Ba Tô ngồi với một thằng quản giáo ở phòng khác."
"Kệ cha nó."
"Ðúng, nhưng mình cần thủ. Tao gớm cái thằng trọ trẹ ấy quá. Nội giọng nói của nó thôi đã thấy sợ rồi. Không ai đoán nổi nó là người miền Bắc, miền Trung hay miền Nam."
Câu chuyện phải tạm cắt ngang nơi gốc điệp vì tiếng kẻng tập họp chiều. Hai người kéo nhau về khối. Khối trưởng Trai đã đứng chờ trước vuông sân. Anh đứng ngó trời ngó mây trông buồn vời vợi. Thấy cảnh ấy Vĩnh thốt nghĩ ngợi. Làm sao chúng lại đẻ ra được động từ cải tạo nhỉ. Ngoài cái chết, ai có thể xoá nổi trong đầu Trương Thành Trai sự hồi tưởng đầy luyến thương một dĩ vãng hào hùng, ở đó có những chiếc F.5 phóng như tên bay vào một chiến trường rực lửa nào đó, lúc anh ngước nhìn trời mây? Và ai có thể xoá được tất cả những uất hờn trong tâm hồn hàng triệu người trai trẻ như thế này?
Khối tập họp thật nhanh. Như mọi chiều, Trai thông báo lại cho các tổ những nhận xét của quản giao về lao động, tác phong, về kỷ luật cũng như kỹ thuật lao động trong ngày; và các công tác ngay mai, chẳng hạn: Riêng tổ A.10 phải sửa soạn tinh thần để mai đây, khi có lệnh, sẽ là mười công tố viên trước phiên toà khối để xử tên phản động Phạm Ðiểu. Tổ A.5 ngày mai ở nhà sửa sang lại nhà cửa. Anh Tâm thay anh Ðính kẻ cho dứt điểm các khẩu hiệu. Tổ A.5 phối hợp với anh Tâm treo các khẩu hiệu trong nhà tại những nơi dễ nhìn thấy nhất, sao cho có mỹ thuật và sáng sủa. Tổ A.7 phụ trách sửa sang lại mặt tiền nhà. Trên chỉ định khẩu hiệu chính trang trí mặt tiền khối 10 là "Ðời đời nhớ ơn Hồ chủ tịch vĩ đại." Khẩu hiệu này anh Ðính đã kẻ xong, nhưng trên nói bỏ dấu như thế là không rõ ràng, không đạt yêu cầu. Dấu sắc phải ra dấu sắc, dấu huyền phải ra dấu huyền.
Vĩnh quay sang Ðính hỏi nhỏ:
"Mày kẻ sao mà chúng nó chê vậy?"
"Người ta chơi chữ. Ở đây chơi chữ nằm conex. Vậy thì tao chơi dấu. Dấu huyền dấu sắc tao sọc thẳng xuống hết. Ðời đời thánh đói đói. Mày hiểu..."
Khối trưởng Trai vẫn tiếp tục, "Chiều nay giao ban về, tôi cũng nhận được những chỉ thị đặc biệt xin thông báo anh em. Hôm nay đã bước sang tuần lễ thứ hai, ban quản giáo nhận xét chúng ta còn rất luộm thuộm trong các mặt ăn ở, lao động, nhất là mặt liên hệ linh tinh. Kể từ ngày mai, trên bắt chúng ta phải chấp hành tuyệt đối nghiêm chỉnh những điều như sau: Một là, người khối này không được sang khối khác nếu như không được phép vì những lý do cần thiết. Bố con ở khác khối, muốn gặp nhau phải có phép quản giáo. Hai là, khối 14 là khối nữ, cấm nam cải tạo viên bén mảng sang đó. Trong khối ta có một hai anh hay mò sang đó lắm. . ." Ở dưới có tiếng xì xầm cắt ngang lời Trai. Như sực nhớ điều gì, Trai nói tránh, "Cán bộ quản giáo nói vậy nhưng thực tế tôi không thấy anh em nào ở khối mình sang đó cả. Tôi chỉ yêu cầu anh em cảnh giác và chấp hành lệnh cho nghiêm chỉnh. Bị vồ hậu quả khó lường. . . Ba là, khối sẽ bầu ra một người cầm càn."
Có tiếng hỏi lớn:
"Cầm càn là gì, khối trưởng?"
"Trước đây ta gọi quản trò, quản hát," Trai đáp, "tức người chịu trách nhiệm về hát hò trong sinh hoạt tập thể. Ngày nay cách mạng gọi là người cầm càn. Chúng ta sẽ xúc tiến bầu ra một anh cầm càn. Anh sẽ trách nhiệm dạy những bài hát cách mạng cho cả khối."
"Có ai làm cách mạng ở đây đâu mà thuộc bài cách mạng."
Một anh khác bạo mồm lên tiếng hỏi. Khối trưởng Trai ngó ngang ngó dọc, rồi thấp giọng:
"Yêu cầu anh Tuấn lần sau có đặt câu hỏi nên đặt cách khác. Hỏi kiểu đó dễ bị ngộ nhận và không có lợi cho anh."
"Tôi có ý gì đâu. Thực tế là thế."
Khối trưởng Trai không muốn kéo dài vấn đề này nữa vì anh vừa thoáng thấy mấy cái áo bộ đội từ cổng trại tiến vào. Anh lại lớn giọng:
"Các anh yên tâm. Người cầm càn ngày mai sẽ nghỉ lao động, hợp với cầm càn các khối khác lên tiểu đoàn. Một văn công của trung đoàn sẽ xuống chỉ họ các bài ca. Sau đây tôi phổ biến thêm hai lệnh đặc biệt quan trọng. Yêu cầu khi tan họp chấp hành ngay. Một là, các tổ trưởng lập danh sách thu tiền ăn mười ngày 3.475 đồng như cách mạng đã quy định. Hai là, dù đã có lệnh gạo cá nhân đem theo phải nộp về kho hậu cần tiểu đoàn, nhưng một số anh em vẫn giấu để nấu ăn cá thể. Kể từ ngày mai, quản giáo bắt gặp ai nấu nướng linh tinh, ngoài những hình phạt thông thường còn bị ghi vào hồ sơ cá nhân, kéo dài thời gian học tập cải tạo."
Hai cái lệnh sau cùng đã đẻ ra đủ thứ bàn tán. Ðối với lệnh nộp tiền ăn cũng gây lắm chuyện sau đó. Những anh nghèo không tiền thì than thở:
"Sổ sách chưa sòng phẳng, mai mốt có lệnh thả chắc chắn mình mắc kẹt!"
"Ðây mới khổ. Tháng lương cuối tao đâu được lãnh. Thằng sĩ quan tài chánh đơn vị ôm luôn mấy triệu bạc cút mất. Khi tao đi trình diện, ở nhà vợ năm con không còn nổi trăm bạc. Vợ tao ngó quanh chỉ còn cái cassette là đáng 300 bạc. Rao bán khắp xóm không ai mua. Ra chợ trời mấy ngày cũng không ai nhòm tới."
Vụ bàn tán tiền bạc qua đi, nhường cho vụ nộp gạo. Nhiều anh còn đầy máu "phản động" thì rỉ tai:
"Chúng mày thấy không, đây là cuộc mở màn của một sự bóc lột."
"Gạo tao gạo nanh chồn. Tao mang đủ ăn nửa tháng. Nộp cho chúng nó để mỗi bữa nhận về hai bát cơm gạo mục chôn trong mật khu à. Ðâu có được!"
Một giọng mỉa mai:
"Mày lầm to rồi mày ơi. Gạo nanh chồn vợ mày mua ý để đem vào biếu các anh quản giáo lấy lòng đó. Mày không nộp, ở địa phương bả khai ra có mà cải tạo mịt mù con ạ."
Lại một tiếng rên khác:
"Trời ơi tôi đau bao tử trầm kha. Tôi đem được ít nếp vào đây sống cầm hơi. Nộp cho hậu cần lấy gì tôi sống?"
"Rồi sống được hết. Bộ cách mạng không có người đau bao tử à, sao họ ăn khoai ăn sắn quanh năm được?"
Anh chàng đau bao tử đổ quạu đâm phát biểu linh tinh:
"Tao người, tao đâu phải súc vật!"
"Ừ, thì mày cứ đợi xem rồi đây người và súc vật có còn khác nhau không."
Phiên họp khối tan hàng. Vĩnh lang thang ngoài sân tìm các bạn. Ai cũng đoán biết mạng lưới ăng ten đã được thiết lập ở mỗi khối nhưng thủa ban đầu chưa mấy ai sợ. Trong các phiên họp tổ, họp khối nhiều nhân vật đã tỏ ra tiến bộ trông thấy. Ðã có đủ thứ thảo luận, phê bình, kiểm thảo, đấu tranh sai trái và tố giác nhau trước tập thể. Hơn nhau một nhát cuốc trong ngày, kém nhau một hạt cơm trong bữa cũng biến thành những mũi nhọn công kích nhau cho những anh chàng tiến bộ vội vã ấy. Nhưng khi mổ nhau xong rồi, những kẻ có cùng tần số vẫn bám riết lấy nhau, bàn tán đủ chuyện trên trời dưới đất qua đủ thứ bộ môn chính trị, quân sự, văn hoá, văn học, nghệ thuật, cho đến chuyện người sống người chết, chuyện hiện tại dĩ vãng tương lai, chuyện nhà chuyện nước, chuyện nhớ vợ nhớ con. . . Mục đích chẳng qua là con cà con kê cho đêm chóng hết. Bao nhiêu niềm vui nỗi khổ, đủ thứ chuyện khóc chuyện cười, nói chung tình cảm và ý nghĩ giữa những người có cùng tần số vào giai đoạn này đã được bộc lộ với nhau hoàn toàn thẳng thắn và thoải mái. Một phần mạng lưới ăng ten có đào tơ non trẻ chưa có gì đáng ngại, một phần bọn khung chưa tích cực ra tay xiết, thành thử việc tụ tập hàng đêm tương đối dễ dàng. Ngoài những chuyện bàn tán đã nói bên trên, họ cũng có thể học hỏi lẫn nhau vài khía cạnh mà xưa kia họ khiếm khuyết, hoặc phác hoạ với nhau một chút tương lai đáng phấn khởi dù trong đáy lòng họ tin là nó khó có thể có được.
Dù sao đa số các cuộc dạ đàm có tính vui nhộn kiểu đốt thời gian, và khi vệ binh vác súng vào sân trại quãng 10 giờ đêm thì những cuộc dạ đàm như thế xẹp xuống như những gánh xiếc về khuya. Người ta lại rút nhanh về phòng, chui trong chỗ nằm để trăn trở đánh vật với cơn mơ, để sáng ra lại quần quật lao động hơn trâu, ăn thua chó dưới họng súng của quân thù.
Nhóm của Vĩnh cũng như hầu hết các nhóm khác, sau khi đoán già đoán non về chuyện bản tự khai lại bàn qua chuyện biên chế đổi trại.
"Tụi nó đồn tuần tới mới làm bản tự khai. Làm xong, tự đọc trước tập thể để được sửa sai và thông qua."
"Cấp khối hay cấp tiểu đoàn?"
"Tao nghĩ chắc là cấp khối. Cấp tiểu đoàn phải kéo dài bao nhiêu ngày mới đọc hết cả ngàn người?"
"Tao lại nghe nói đổi trại. Một số sẽ bị lôi đi."
"Lôi đi đâu?"
"Thánh biết. Chúng nó làm việc như âm binh, cái gì cũng về đêm."
Có giọng Tiến:
"Cá một khẩu phần cơm rau. Một hai ngày tới thế nào cũng có chuyển trại. Tụi mình chắc chắn sẽ không có dịp ngồi nghe tiểu sử của nhau đâu."
Ðính hỏi:
"Lấy gì làm chắc mà mạnh miệng vậy?"
"Trưa nay theo đội trực lên tiểu đoàn nhận thực phẩm, tao nghe bọn hậu cần kháo nhau hai ngày tới ngưng mọi xuất nhập, đợi chuyển trại xong, điều chỉnh kế toán mới cho xuất tiếp. Lần lãnh trưa nay theo tao biết là lần cuối. Lúc tao đi ngang phòng hội tiểu đoàn, trên bảng đen tụi mày biết nó viết gì không?"
". . . ?"
"Tao đọc được một đoạn như sau: Xưa kẻ thù đối diện ta đã là nguy hiểm, nay kẻ thù nằm ngay dưới nách ta lại càng nguy hiểm hơn nữa. Nhiệm vụ ta là phải luôn luôn cảnh giác đề phòng những con quỷ không tim. Cán bộ ta, chiến sĩ ta, phải hơn bao giờ phân biệt cho rõ bản chất và hiện tượng. Dù ta đang nhận nhiệm vụ quang vinh đảng giao phó là cải tạo kẻ thù, nhưng ta lại không có quyền thương xót chúng để có thể lâm nguy trước chiến thuật xanh vỏ đỏ lòng mà tuyệt đại đa số kẻ thù đang đưa ra một cách chậm chắc, mục đích để trường kỳ chống lại chính sách cải tạo giai cấp tư sản phản động của giai cấp chuyên chính vô sản. . . Tụi mày nghĩ sao?"
Ứng nói:
"Nghĩ cái quái gì. Lẽ dĩ nhiên chúng phải giáo dục cán binh của chúng chứ."
Giọng bác sĩ Tuyên buồn buồn:
"Sao bây giờ còn xài chữ kẻ thù nhỉ, nặng quá."
Vĩnh cười:
"Ông yên tâm. Chúng xài danh từ ấy với bọn bóp cò này thôi, với các đấng tu bíp chắc không đến nỗi nào đâu."
Giọng Tuyên vẫn buồn:
"Nói mười ngày đến nay sắp hết rồi mà vẫn chưa thấy dấu hiệu gì đặc biệt để mình có thể tin rằng họ sẽ thả mình nay mai. Lại còn tìn đồn chuyển trại nữa. Chuyển đi đâu? Thật điên cha nó cả người."
"Ông có vợ chưa mà mót về quá vậy?"
"Có, moa có vợ rồi," Kim từ đâu lết tới nói chen vào với cái giọng nhừa nhựa. "Vợ mới cưới. Chẳng biết bao giờ nó mới thả mình nhỉ."
Tiến nhìn Kim, một anh bạn to con, chậm chạp và lù đù như một con gấu. Trông hắn lúc nào cũng xộc xệch, tay chân dính nhọ nồi chứng tỏ một cải tạo viên rất kém vì hay nấu nướng linh tinh.
"Yếu lòng tin cách mạng trước sau như một rồi à, u Kim?"
"Ai tin bao giờ. Có điều không biết chúng nó dám nhốt mình quá mười ngày hay không. À, moa có thắc mắc này tính hỏi các toa chơi."
"Thắc mắc gì?"
"Moa có nghề vẽ, mai mốt về liệu nó có cho moa hành nghề kiếm tí cháo nuôi vợ con không?"
"Mày vẽ gì?"
"Vẽ người."
"Trường phái?"
"Lập thể."
"Vậy thì lộng kiếng là vừa. Hiện thực con ạ."
"Vẽ hiện thực ấy à?" Kim hỏi vu vu như chẳng hỏi ai.
"Ừ, như chụp ảnh ấy."
"Bố láo!"
Kim phản đối. Tiến cười:
"Thế mày không nhớ cái hôm khai giảng, thằng chính trị viên nó đã chẳng lên lớp về cái gọi là phục vụ văn hóa xã hội chủ nghĩa hay sao? Tớ nhắc lại cho các cậu nghe nhé." Tiến bắt chước giọng tên chính trị viên lúc hắn lên lớp về văn học nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa. "Công nhân vẽ của xã hội ta ấy à, là phải có ý thức cao độ về nghệ thuật hiện thực xã hội, chống chủ nghĩa tuỳ tiện, chống chủ nghĩa co dãn. Vẽ con người phải ra con người. Vẽ con cáo phải ra con cáo. Cái bọn rì nhỉ, cái bọn mà các anh gọi nà. . . gọi nà. . . Pi cát thồ, nà. . . nà. . . Ma tít xờ gì đấy. Vẽ gì mà đầu voi đuôi chuột, trên điền ông dưới nại nà điền bà. Tranh như thế xã hội ta chỉ lấy mà vây ổ chó. Tôi nói các công nhân vẽ của ta ấy à, bốn mươi năm tuổi nghề đôi khi còn bị kiểm thảo cơ đấy. Nhiều anh vẽ chân dung bác mấy mươi năm rồi, ấy thế mà vẫn có nần vẽ thiếu một sợi râu của bác. Tôi nói thế để các anh coi nại vấn đề tỉ như sau này các anh muốn nàm nghề vẽ, một đỉnh cao nghệ thuật của phe xã hội chủ nghĩa. Nó không rản rị tí nào đâu các anh ạ."
Anh em rúc rích cười khi nghe Tiến nhái giọng thằng chính trị viên. Riêng Tiến nói xong cúi thổi lon than đốt đóm. Hắn kéo một hơi thuốc dài, ngửa mặt nhả khói lên trời rồi mới quay lại với câu chuyện. Tiến tiếp, "Trở lại vấn đề thằng Kim muốn hành nghề vẽ, đồng ý, nhưng nó phải nghiên cứu nhiều để triển khai cái định nghĩa mang tính chân lý về vẽ của phe xã hội chủ nghĩa. Chỉ tao kẹt thôi. Sau này vô phúc tao phải hành nghề đàn hát dạo dưới bắc Mỹ Thuận độ nhật, cái đó mới là gay go."
"Tụi nó cũng chơi đàn vậy."
"Ðàn bà ấy à? Tao muốn nói tao kẹt ở chỗ tao chơi guitar, nhưng làm sao đánh guitar mà ra được tiếng đàn ta-lư đây?"
Tuyên chen vào:
"Ông nhiêu khê quá."
"Không nhiêu khê đâu ông tu bíp ạ. Xã hội này cái gì cũng cần phải có tính dân tộc. Trong điếu thuốc bác hút phải nồng đượm tính dân tộc dù là dân tộc Mỹ. Bác nghiện thuốc Phillip Morris. Trong thơ Tố Hữu phải có tính dân tộc dù là dân tộc Nga. Tố Hữu làm thơ thế này."
Tiến tằng hắng lấy giọng đọc,

"Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói,
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!
gì nữa Vĩnh?" Ðọc được ba câu Tiến vội quay sang Vĩnh hỏi. Anh chưa kịp trả lời hắn đã nhớ ra và đọc tiếp luôn,

"Hôm qua loa gọi ngoài đồng,
Tiếng loa xe ruột xé lòng biết bao.
Làng trên xóm dưới xôn xao,
Làm sao, ông đã. . . làm sao mất rồi.
Ông Stalin ơi! ông Stalin ơi!
Hỡi ông ông mất đất trời có không!
Thương cha thương mẹ thương chồng,
Thương mình thương một thương ông thương mười."
"Ôi chao, tao nhiều khi cũng nghe người này người nọ nói đến Tố Hữu, nhưng thành thật tao chưa nghe thơ Tố Hữu bao giờ. Té ra thơ Tố Hữu là như thế đấy!"
Ðính cất giọng thành thật bày tỏ trước các bạn. Vĩnh cười:
"Ừ, thơ của đại thi sĩ xã hội chủ nghĩa annamite đấy, mày thấy thế nào?"
Ðính ngao ngán.
"Thật là khủng khiếp, thật là vô tiền khoáng hậu. Tìm được một thằng Nga chính tông bà lang Trọc mà nó làm được những câu thơ trung hiếu đến thế e không thể có."
"Thế cho nên đảng ta mới dám tự nhận mình là ‘đỉnh cao trí tuệ của loài người,’ ‘cái nôi thứ năm của nhân loại.’"
Ðính cắt ngang lời Tiến:
"Tao không hề nuôi mộng trở thành thi sĩ, âu cũng là cái may cho tao trong xã hội này. Tao đã dự trù sau này về chỉ sống bằng nghề đổ thùng thôi. Vậy đổ thùng theo kiểu xã hội chủ nghĩa phải như thế nào, Tiến?"
Tiến làm mặt nghiêm trang:
"Yêu cầu đồng chí Ðính không được triển khai công tác khác trong khi tôi đang tiến hành công tác ngâm thơ đồng chí Tố Hữu. Nần này tha, nần sau sẽ có biện pháp xử ní. Xét trên cơ sở đồng chí Ðính đã nổi lên mặt yêu nao động chân tay đúng như lời bác rậy, nghĩ tình tạm giải quyết thắc mắc tâm tư nguyện vọng của đồng chí như sau: Ðổ thùng tiếng Bắc có nghĩa là đổ cứt. Hành nghề đổ cứt trong xã hội xã hội chủ nghĩa là một nghệ thuật và vinh quang không thua hành nghề lãnh đạo. Áp dụng nghệ thuật hiện thực xã hội vào nghề đổ cứt là:

Cứt ròng
Không lộn rác
Ðổ chính xác
Theo yêu cầu
Không càu nhàu
Không bịt mũi.
Cả đám phá lên cười vì câu vè. Ðây là một câu vè Vĩnh từng cao hứng đặt ra và có đọc cho Tiến nghe một lần. Anh không ngờ hắn còn nhớ đến hôm nay.
Tán dóc riết mỏi miệng cả bọn lại quay ra hút thuốc lào, một trò chơi thứ hai sau tán dóc để phá thành sầu của bọn sa cơ thất thế. Rồi cứ thế đêm tàn, nhưng những chiếc điếu cày vẫn rú lên như những tràng cười quái quỷ không bao giờ tắt.

http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-10 17:35:35Ngọc Lý>
[size=+3]Ðại Học Máu[/size]
 

CHƯƠNG BẢY

Ðúng 12 giờ trưa ngày thứ mười kể từ khi chui vào rọ, tại L4T1 vang lên một tiếng nổ. Cả trại tù hơn ngàn người náo loạn cả lên. Bọn vệ binh từ khung (*) vác súng chạy vào vị trí chiến đấu, nhưng tuyệt nhiên không đứa nào dám mò vào bên trong trại tù.
Trời tháng sáu Tây Ninh nắng thật rùng rợn. Da người như bốc khói. Một tiếng nổ bất chợt làm những trái tim mệt mỏi đập mạnh trở lại. Thời khí trút lửa, tim nhá lửa đã biến đám tù thành những động cơ cuồng chạy. Họ phát ngôn rất là linh tinh nói theo kiểu cộng sản.
"Ở đâu ở đâu?"
"Anh em ta về hả?"
"Có cánh nào bắt tay được chưa?"
"Biệt động hay nhảy dù?"
"Trung đội? Ðại đội? Tiểu đoàn? Quân số bao nhiêu biết không?"
"Hướng nào hướng nào?"
"Hướng nhà tắm kia kìa mấy bố. Có thằng tự tử bằng lưu đạn chứ không có đếch gì đâu."
Một giọng nói uể oải cất lên khiến đám đông tiu nghỉu như mèo bị cắt tai.
"Thế mà ông lại cứ tưởng. . ."
Một tay lên tiếng nửa vu vơ nửa thất vọng rồi rảo bước về phía khu nhà tắm.
Lúc ấy Vĩnh đang ngồi ăn cơm với tổ bên cánh trái khối 10, ngay chỗ nằm của tổ trưởng Quách Tứ và gần với cái hầm của vua thuốc lào Nguyễn Thành Ðính. Vĩnh buông bát chạy bổ về phía có tiếng nổ trước khối 11.
Từ bên trong gian nhà tắm mới được dựng lên bằng thùng gỗ thông chất đè lên nhau, khói và mùi khét ngùn ngụt bốc ra. Khu nhà tắm hiện đã đầy người. Ai cũng biết bên trong có người tự tử, nhưng chưa ai dám chui vào cấp cứu. Mùi khói và các đốm lửa lập loè cho người ta biết đó là lựu đạn lân tinh. Bỗng có người cầm khúc cây nhảy vào nhưng tích tắc đã nhảy ra, đập cây phành phạch vào gấu quần. Vĩnh nhận ra người đó là Bùi Công Kiện, hải quân trung uý. Kiện ở khối 11, tính nhảy vào cứu người tự tử nhưng lân tinh đốt cháy gấu quần lại phải nhảy ra.
"Sao?" một người lên tiếng hỏi Kiện. "Ông thấy sao?"
"Nó còn dẫy nhưng lân tinh cháy lung tung. Không cách gì đụng vào người nó được. Với lại khói kinh quá."
"Nhưng cũng phải tìm cách cứu chứ, để mặc sao được."
Sau cùng người tự tử cũng được đưa ra ngoài. Bọn cán binh tiểu đoàn đã lấy lại được máu mặt bủa vào như bầy kiến.
Có tiếng thầm thì của một vài anh bạn tù khối 11.
"Nó có để lại tuyệt mệnh thư."
"Ðâu rồi?"
"Mấy thằng cùng tổ giấu mất rồi."
". . . ?"
"Nhỡ nó chửi bậy bạ mang hoạ cho cả tổ."
Người tự tử là một thiếu uý còn rất trẻ. Ðánh trận cuối ở một mặt trận miền đông, khi đơn vị giải thể theo lệnh Dương văn Minh, anh trở về Sài Gòn để biết rằng cả gia đình từ cha mẹ đến các em không còn ai sống trên cõi đời này. Nước mất nhà tan, cộng nỗi ân hận đem thân trao cho giặc, từng đó lý do đủ để không còn ai cầm chân được anh phải sống mà hưởng cái thiên đàng cộng sản này nữa.
Ðây là cuộc tự tử mở màn, do đó, nó được hưởng đầy đủ nhất sự phê phán ở cả hai phía bạn và thù. Kẻ thù thì khỏi phải nói. Với cái tài thứ hai là nâng quan điểm (**) sau cái tài thứ nhất là nói phét, người tự tử dù đã chết hay bại liệt hoàn toàn vẫn lần lượt bị đem đi dí tận mũi hàng ngàn ông công tố bất đắc dĩ -- những tù cải tạo khác -- với tội danh sau cùng được nhất trí luôn luôn là: Chống đối đảng, chống đối cách mạng, chống đối nhà nước, chống đối nhân dân một cách tiêu cực. Và bản án cho những người đã hoặc sẽ chết này cũng luôn luôn là: Chôn không hòm, thông báo địa phương để tiếp tục giáo dục gia đình kẻ phản động.
Dù sao người tự tử tiên phong của L4T1 chưa chết, điều ấy có nghĩa anh ta còn khốn khổ trăm bề hơn là chôn không hòm. Anh được đem ra đặt nằm trên một nền xi măng lởm chởm trước khối 10. Hai ông bác sĩ Ðỉnh và Tuyên lúng túng chưa biết làm cách nào cứu nạn nhân, vì lân tinh vẫn còn âm ỉ bốc khói trên tấm thân co quắp và đen như than của anh ta.
"Các anh còn kem đánh răng xin đem hết ra đây."
Ðỉnh quay nói với đám đông. Một số người chạy trở về phòng. Tuyên đề nghị với mấy người còn tò mò đứng lại:
"Anh nào làm ơn lấy tấm poncho căng che nắng hộ."
Lát sau, một số lo căng bạt, số khác tiếp tay hai ông bác sĩ bóp kem thoa trét khắp mình mẩy nạn nhân.
Ðôi mắt nạn nhân đã bị cháy. Mái tóc giờ trông tựa những sợi cao su quăn queo đang tìm cách rút sâu vào lớp xương sọ nám đen. Hiện thân nạn nhân co quắp bầm dập, giống thân phận một con sâu đã bị nướng giờ còn bị một đám trẻ nghịch ngợm vầy vọc.
"Chỉ làm được thế này thôi. Phải báo cáo xin cho đi viện ngay chứ không còn cách nào khác."
Bác sĩ Ðỉnh người ngợm đầy mồ hôi, nói xong đứng xuôi hai tay nhìn cái tác phẩm bi thương mà anh vừa được nhiều người tiếp tay cấu thành bằng kem răng trên một xác người. Anh ngao ngán xoè bàn tay như muốn phân trần với đám đông nhiều hơn nữa nhưng không rõ mình phải phân trần cái gì.
Ngay lúc đó tên quân y tiểu đoàn ghé đến. Bộ mặt lúc nó đứng nhìn người tự tử trông còn dữ dằn hơn cả thằng mật thám. Thốt nhiên nó quay nhìn đám đông, trợn mắt quát, "Ði sốt cả. Ai về khối nấy."
Tù hiếu kỳ tản ra.
Tên quân y nói tiếp, giong vu vơ:
"Ai đã chữa người này đây?"
Tuyên đáp:
"Tôi."
"Anh là gì?"
"Dạ cải tạo."
"Ai chả biết là cải tạo. Tôi muốn hỏi anh là gì mà dám chữa người ta."
Bác sĩ Tuyên ú ớ không biết trả lời ra sao. Nói mình là bác sĩ? Lấy gì làm bằng. Mà nếu không nhận là bác sĩ lỡ nạn nhân tịch có khi mang hoạ. May vừa lúc ấy quản giáo Cư bước tới. Hắn xác nhạân, "Gì đấy đồng chí Hoạch. Anh Tuyên là bác sĩ nguỵ quân người khối tôi đấy."
Nhờ quản giáo xác nhận Tuyên chỉ còn phải nhận một cái nhìn ác cảm của tên quân y chứ không bị hạch sách gì thêm.
Quan sát người tự tử một lát, nó quay hỏi Tuyên:
"Anh chữa thuốc gì vậy?"
Tuyên trả lời:
"Bị lân tinh cháy mà ở đây không có phương tiện cấp cứu, chúng tôi buộc phải lấy kem đánh răng bôi lên nạn nhân để cách ly với không khí."
"Lân tinh với không khí liên hệ gì với nhau?"
"Dạ lân tinh gặp không khí thì cháy."
"Lạ nhỉ, mà nguỵ các anh chữa cũng phức tạp nhỉ. Các chiến sĩ cách mạng chẳng may bị lựu đạn lân tinh của Mỹ nguỵ cứ lấy bùn non trét lên là dứt điểm ngay."
Quan sát người tự tử thêm một lát, tên quân y quay sang quản giáo Cư xin cho Tuyên đi theo lên tiểu đoàn. Phải mười lăm phút sau Tuyên mới trở về với cái võng. Khối 11 cử ba người cùng với Tuyên cáng người tự tử lên bệnh xá trung đoàn.
Lệnh cho nghỉ lao động chiều. Tù tập trung về phòng chờ lệnh. Không bảo nhau nhưng hồ như ai cũng tự sửa soạn lỗ tai để nghe quản giao phun châu nhả ngọc, mà theo dự đoán, đề tài nhất định phải là kẻ chán đời.
Vĩnh về phòng ngồi đợi như mọi người. Tiếng kẻng 2 giờ trưa khua vang. Vĩnh ngồi nhìn ra sân nắng. Thốt nhiên có người la lên, "Ô thằng Ðiểu được thả về kìa!" Ðiểu đang khập khễnh từ cổng đi về khối. Dáng dấp gầy còm nhỏ bé, Ðiểu bước qua cửa với nụ cười khinh bạc cố hữu trên môi.
"Sao mày," một người hỏi. "Có mềm xương không?"
"Ðâu có đánh."
". . . ?"
"Nó chỉ đá vào háng tôi thôi. Nhưng ăn thua gì. Ớn là ớn muỗi kìa. Muỗi trong conex khủng khiếp lắm."
"Giờ sao?"
"Có sao đâu. Chỉ đổi đi khối khác."
"Khối nào?"
"Chưa biết, tôi chỉ được lệnh thu đồ lên tiểu đoàn ngồi đợi."
Nghe Ðiểu nói ai cũng lo giùm nhưng thái độ nó vẫn lạnh lùng như không có gì xảy ra. Ðiểu lặng lẽ thu đồ vào bao, xong đứng lên chào chung bạn bè một tiếng và ra đi.
Vừa lúc ấy quản giáo Cư bước vào phòng. Chiếc nón cối sùm sụp trên đầu. Và luôn luôn như thế. Hắn nhìn quanh một vòng. "Thôi được," hắn ra lệnh. "Các anh ngồi xuống đi."
Cư lại nhìn vào những đống chăn chiếu đã được cuốn ngay ngắn trên đầu chỗ nằm của từng người. Trong mắt hắn người ta đọc được sự không vừa ý. Nhưng chủ đề hôm nay không phải vấn đề vệ sinh ăn ở, mà là, "Chiều nay trên cho các anh nghỉ lao động," hắn nói. "Các anh sẽ ở nhà làm bản tự khai lý lịch."
Nghe Cư nói ai nấy mừng trong bụng. Phải thế chứ! Ðã mười ngày qua ai cũng mong ngóng chuyện này. Sự mong ngóng cũng hợp lý, vì nếu không khai báo lý lịch làm sao có sổ sách, có tên tuổi, có đủ dữ kiện cá nhân cho việc thiết lập hồ sơ hành chánh, làm căn bản cho sự huấn luyện trước khi được. . . thả về! Ðúng thế, với mọi người, việc làm bản kê khai lý lịch hôm nay chính là một trong những chìa khoá cần thiết để mở được ổ khoá cánh cổng trại cải tạo đã khép kín mười ngày qua.
Vĩnh nhớ lại mấy tin đồn và thấy phấn khởi. Quả tin đồn nhiều khi không phải không đúng. Vĩnh còn nghe đồn rằng trước hết làm bản tự khai lý lịch kèm tí tự thú những tội ác đã phạm với cách mạng, sau đó học tập ít bài chính trị cần thiết về xã hội mới, cuối cùng sẽ trải qua một đêm "phản tỉnh" để đấm ngực ăn năn thống hối. Ai cũng phải làm một tờ cam kết sau đó, đại khái kiểu cách mạng đặt đâu con xin ngồi đó. Một buổi sáng đẹp trời, mở mắt ra, các quan quản giáo sẽ xuất hiện trước các khối với những bộ mặt tươi cười cởi mở chứ không như ngày thường. Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? A, mọi người sẽ hớn hở nhận lấy bằng tốt nghiệp "đại học tổng hợp" và tự do trở về nhà. Mẹ sẽ có con, con sẽ có cha, vợ sẽ có chồng. . . Khổng tử tiến vi quan thoái vi sư, mình tiến vi quan thoái vi dân âu cũng là may mắn lắm rồi.
Tên Cư nói tiếp, "Chiều hôm nay tôi sẽ hướng dẫn các anh cách khai cho đúng, cho đạt yêu cầu. Tuyệt đối cấm mọi tẩy xoá. Trên mẫu khai chút nữa đây sẽ phát cho các anh, giá như anh nào lịch sử quá dài, nô lệ từ thời Tây Nhật, thì phải viết thêm ra những tờ phụ trong vở học sinh các anh đem theo. Các anh có đem theo bút đủ cả không? Chút nữa đây anh Trai sẽ dẫn tổ trực lên khung. Hậu cần sẽ phát đủ mẫu giấy khai. Nhớ là mỗi khối còn được phát thêm hai lọ mực và mười ngòi bút nữa đấy. Ðừng quên không thiệt thòi quyền lợi của tập thể khối."
"Gớm, câu nói mới là nhân nghĩa!" Ý ngồi cạnh, thầm thì. "Ông nghĩ sao vụ này?"
Vĩnh có nhiều ý kiến nhưng không tiện nói. Anh chỉ khẽ thở dài:
"Khôn sống mống chết."
Ý hiểu. Hắn thầm thì tiếp:
"Nó trao dây thừng để mình tự xiết cổ."
Vĩnh biết điều đó, biết rất rõ. Sự biết của anh không do khôn ngoan mà do thừa hưởng những lời dặn từ trước của cha, anh. Những ngày qua, Vĩnh đã sửa soạn và học thuộc lòng một tiểu sử được lược bỏ rất nhiều râu ria. Tuy rằng anh có người bạn thân làm ở Trung tâm An bài Ðiện tử đã cho biết về tình trạng bất khiển dụng của hệ thống điện toán sau khi "thầy Mẫu" đuổi Mỹ khỏi miền Nam, nhưng anh vẫn hồi hộp về việc cố tình khai man của mình.
Thông qua xong vài điểm quan trọng, quản giáo Cư cho khối trưởng Trai dẫn tổ trực lên tiểu đoàn. Trong lúc ngồi chờ, Cư cho phép tù hút thuốc thoải mái và sửa soạn giấy bút.
Tổ trực trở về với những sấp giấy. Trừ Ðiểu đã rời khối và bác sĩ Tuyên trên bệnh xá trung đoàn chưa về, 118 tờ đôi mẫu khai lý lịch được phân phối cho 118 người còn lại. Quản giáo Cư ra ngồi hóng gió ngoài hiên. Trong nhà tù bò lê trên nền xi măng làm bản tự khai.
Với lối hành văn và in ấn kiểu Việt cộng, nhiều câu hỏi đâm khó hiểu, gây cho bọn tù những thắc mắc như nhau, và trả lời sai như nhau. Chẳng hạn ở phần giữa của bản tự khai có cái tiểu tựa đề "Liên Hệ Ban Thân." Ban là gì? Ai cũng đoán có lẽ mẫu in thiếu dấu nặng. Và câu ấy phải là "Liên Hệ Bạn Thân." Chà, mình chơi mình chịu, ai lại khai thêm bạn bè vào đây làm gì cho khổ lây cả đám. Ðồng ý nghĩ đó, mọi người đều mạnh dạn hạ một chữ "Không." Không đây có nghĩa là không bạn bè thân thiết với ai cả.
Nửa giờ sau tên quản giáo quay vào. Hắn cầm lên bản tự khai của khối trưởng đọc thử. Ðọc một lát hắn nhăn mặt. Hắn đi một vòng, cầm lên xem thêm dăm bản nữa, và vẫn nhăn mặt. Sau cùng, như đã tìm ra mục tiêu, hắn bắt cả phòng ngừng tay để khởi sự bắn phá. Tất cả ngồi lại ngay ngắn, giấy bút trên đùi. Hắn bắt đầu, "Tôi đã xem qua một số bản. Nhận xét chung tất cả các anh đều ngoan cố khai man. Tôi nhấn mạnh với các anh về sớm hay muộn đều hoàn toàn tuỳ thuộc vào bản tự khai này. Các anh phải nhớ cách mạng đã biết hết. Các trung tâm lưu trữ hồ sơ cá nhân các anh cách mạng đã nắm hết. Có bắt khai là để đo bụng các anh thôi. Ai thành khẩn khai báo, ai ngoan cố khai man nó sẽ lòi ra liền. Ðừng tưởng xanh vỏ đỏ lòng mà được với cách mạng. Ðây này," hắn cầm lên bản tự khai của Trai, nói lớn, "đây này, nội cái phần Liên Hệ Bản Thân, có nghĩa là tự xét mình xem trong quá trình hoạt động chống phá cách mạng, chống phá nhân dân, mình đã giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng, đã hãm hiếp bao nhiêu đàn bà con gái, đã đốt phá bao nhiêu làng mạc của nhân dân. Anh nào anh nấy chỉ phê mỗi chữ không."
Hắn ngừng lại và đôi mắt tự dưng đỏ rực lên. Hắn quăng tờ giấy xuống đất. "Các anh tính đùa với cách mạng đấy phỏng?" hắn nói, rồi nghĩ sao lại cúi nhặt tờ giấy lên. "Còn đây nữa. Ở cái tiết mục ông bà cha mẹ, các anh chỉ hạ mỗi chữ chết. Mục kế hỏi chết thế nào, trong tình trạng ra sao, chết ở đâu, các anh chỉ ỡm ờ phê một chữ không biết. Tôi bảo thật với các anh, bản tự khai sẽ không được coi là đạt yêu cầu trừ khi các anh bốc mả ông bà cha mẹ các anh lên để hỏi cho rõ đã chết như thế nào, chết vì bơ thừa sữa cặn, chết vì ăn chơi truỵ lạc, hay chết vì bị nhân dân đòi nợ máu, vì bị bạo lực cách mạng trừng trị."
Bọn tù lạnh toát người vì câu nói thú vật không ngờ của thằng Việt cộng.
Tên quản giáo ngó đồng hồ tay rồi ngó ra ngoài cửa. Nắng chiều đang nhạt dần bên ngoài. Gần nửa ngày ngồi ngó bọn tù khai lý lịch mà không đứa nào đạt yêu cầu khiến hắn vừa bực vừa chán. Dù thế nào hắn vẫn phải nhận lãnh trách nhiệm với cấp trên. Vinh quang chưa thấy đâu, chỉ thấy nhất cử nhất động của bọn tù đều có thể ảnh hưởng đến tiền đồ của hắn. Nội cái thằng tự tử trưa nay đã là một phiền toái không nhỏ cho cả khung. Bản thân hắn và các đồng chí tối nay chưa biết sẽ phải ngồi thảo luận tới mấy giờ sáng. Hắn quay lại nhìn bọn tù nói giọng mệt mỏi, "Ðã gần 5 giờ. Tôi cho các anh nghỉ sửa soạn cơm chiều. Tối nay các tổ phải đốt đèn thảo luận về bản tự khai, phải tìm cho ra các điểm yếu và vạch phương hướng hạ quyết tâm khắc phục các điểm yếu ấy trong buổi tự khai sáng mai. Các anh phải nhớ rằng đây là đợt đầu khai lý lịch. . ." Ðang nói, không hiểu nghĩ sao hắn im bặt. Một lát hắn tiếp, "Có thể ngày kia các khối sẽ họp để thông qua các bản tự khai. Chính các anh phải đọc nó trước tập thể. Và nhiệm vụ từng cá nhân là phải đóng góp phần ý kiến để bổ sung và hoàn chỉnh bản tự khai cho mọi người. Tôi cũng cần nhấn mạnh ở điểm này. Trước đây thế nào cũng có những anh quen biết nhau, có thể từng là bạn học chung quân trường, từng ở chung đơn vị. . . Ðã biết nhau từ trước lại càng phải có nhiệm vụ giúp đỡ nhau học tập cải tạo tiến bộ. Mà giúp đỡ cụ thể trước mắt là phải công khai sửa cho nhau những sai lầm thiếu sót trong bản tự khai của nhau. Một điểm chót, các anh đừng quên rằng cách mạng đã biết hết. Sự thành khẩn khai báo chính là ưu điểm nổi bật trong bước đầu học tập. Nó sẽ là tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng để cách mạng cứu xét cho các anh về đoàn tụ gia đình."
Sau khi địch vận một hồi, hắn ngoắc khối trưởng Trai lại bảo cho anh em nghỉ, rồi lớn giọng hỏi:
"Anh Tô đâu?"
"Có tôi."
Từ cuối phòng Nguyễn văn Tô đứng bật dậy với vẻ hớn hở cách thô bỉ ra mặt.
Cư dặn:
"Chốc nữa anh lên tiểu đoàn làm việc."
"Dạ."
Tiếng dạ ngoan của Ba Tô cũng là lời tiễn tên quản giáo ra khỏi cửa.
___

(*) khung: bộ chỉ huy của một đơn vị cộng sản.
(**) nâng quan điểm: từ ngữ CSVN dùng trong đấu tranh phê bình kiểm thảo. Tóm gọn, nó là lối chụp mũ người bị cáo buộc cách tối đa để đương sự phải tởn đến già. Thí dụ một đồng chí bị bắt quả tang ăn vụng một quả trứng, anh hay chị ta sẽ được đem ra kiểm thảo. Sau một quá trình mổ xẻ, phân tích theo cái kiểu cấp số nhân của "cô Bê-Rét," đồng chí ăn vụng sẽ được nâng quan điểm, theo đó anh phải nhất trí với tập thể rằng anh đã can tội phá hoại sản xuất, có nghĩa anh đã nuốt trửng của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhiều triệu con bò béo tốt, tính theo mức lợi một quả trứng có thể sinh sôi ở một tương lai trăm năm sau.
 
http://www.geocities.com/suthatcsvn/index.html
Đăng nhập để trả lời
0