📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Trẻ em đường phô - (Lorenzo Carcaterra) 🔒

39 trả lời, 4.144 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-21 14:49:29Ct.Ly>
Trẻ em đường phố
Street boys
Lorenzo Carcaterra
Nhà xuất bản phụ nữ
Người dịch: Thảo Trân
 


Mở đầu
Chiếc xe tăng của Đức dừng lại ngay trước một căn nhà nhỏ xây bằng đá. Nó nghiền nát khu vườn trồng rau xanh tươi thành bình địa. Viên sĩ quan người Đức trông còn trẻ, và hung hăng, đầy hiếu chiến đứng bên xe tăng, tay cầm một cây đèn pin, tay kia kẹp một điếu thuốc đang cháy đỏ. Hắn đưa loa lên miệng, cặp mắt xanh như mắt mèo nhìn những khuôn mặt xung quanh đầy lo âu của cả già lẫn trẻ. Hắn ra lệnh:
-         Các người phải dời đi ngay, không được mang theo áo quần hoặc thực phẩm. Nơi này không còn là lãnh địa của các người nữa. Thành phố các người đã bị chiếm đóng. Đây là cái giá phải trả cho sự phản bội của chính các người đấy.
Hắn liếc xéo một bà già đang đứng cuối hàng.
Bà vội vã chạy ngược lại căn nhà, tay bà ôm một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh cao khoảng một thước. Bà già mặc đồ đen, chiếc khăn quàng màu đen do chính tay bà đan ôm lấy đôi vai bà, mái tóc bạc trắng bồng bềnh sáng lấp lánh. Chiến tranh đã lấy đi hết những gì trước đây là của bà: một người chồng mà bà yêu thương, những đứa con trai và những đứa con gái chỉ biết tôn thờ mẹ. Những đứa cháu nội, cháu ngoại bà thường ẵm trên tay. Tất cả những gì bà còn chỉ là một bức tượng, một vật gia bảo đã truyền trong dòng họ của bà hơn ba thế hệ nay. Bà Gianna Mazella, năm nay bảy mươi tám tuổi, thà chết còn hơn để bức tượng về tay kẻ khác. Thế là bà ôm bức tượng, đầu chúi về phía trước, đôi môi gắn chặt vào bức tượng bằng đá hoa cương, bà thầm cầu nguyện.
Viên sĩ quan Đức quay sang tên lính bộ binh đứng ngay cạnh hắn. Tay sĩ quan này gật đầu và người lính kia quỳ xuống nâng khẩu súng trường lên ngang vai, một mắt nheo lại. Hắn nhìn qua ống ngắm tìm kiếm cụ già kia. Viên sĩ quan hỏi:
-         Có ngắm thấy bà ta không?
Tên lính trả lời mà không động đậy:
-         Thưa ngài, có ạ. Tôi có thể bắn sượt qua cánh tay hoặc bắp chân của bà ấy. Thế cũng đủ để bà ấy dừng lại.
Viên sĩ quan gắt gỏng:
-         Chúng ta đến đây không phải để lãng phí súng đạn hoặc không phải để ngăn chận tù nhân vượt ngục đâu. Người Đức chúng ta có mặt trên đất này là để giết hết bọn chúng.
 
 
Người lính nhắm nghiền mắt trong giây lát, hắn nói nhỏ vẻ sợ hãi:
-         Thưa ngài, vậy tôi sẽ bắn trúng đầu.
Viên sĩ quan bảo hắn:
-         Vậy còn chờ gì nữa?
Tên lính bóp cò súng, vai hắn giật nhẹ. Lúc này hai mắt hắn mở to nhìn bà cụ kia ngã sóng soài, mặt úp xuống đất. Bức tượng Đức Mẹ cách cánh tay với của bà chừng vài chục centimet.
Viên sĩ quan nói:
-         Bắn giỏi lắm. Có lẽ bây giờ bọn người Ý kia đã hiểu rằng chúng sẽ như thế nào nếu chúng dám không tuân lệnh của người Đức chúng ta.
 
*
Vào cuối hè 1943, Naples đã là thành phố trong vùng địch tạm chiếm.
Đã có thời nước Ý tham gia vào phe Trục. Tuy nhiên quốc gia này là quốc gia yếu thế nhất trong bộ ba Ý, Đức và Nhật. Đức và Nhật vô cùng mạnh, mỗi quốc gia này đang tìm cách xâm chiếm những xứ sở rộng lớn. Vào thời kỳ này, vị lãnh đạo đã một thời được cả nước Ý yêu mến là Benito Mussolini đã bị hất cẳng. Ông ta tuyệt vọng và quay sang cầu cứu những bạn của mình là Adolf Hitler. Hành động này đã khiến toàn bộ dân tộc Ý sa vào tình trạng hoang mang. Chính động thái của Mussolini đã tước hết hy vọng của họ vào một nền hoà bình thật sự.
Mười năm đầu tiên của đế chế II Duce, từ năm 1922 – 1937, Ý là một quốc gia thịnh vượng. Đường phố được mở mang, các nhà máy chạy hết tốc lực sản xuất ra của cải phục vụ cho xã hội. Đã có thời tội phạm hoành hành ở quốc gia này, tới thời điểm đó hầu như không còn nữa. Người Ý suốt nhiều thập kỷ bị coi là dân tộc kém năng động của Châu Âu. Nhưng trong mười lăm năm ấy họ đã tìm lại sức mạnh hoàn toàn tươi mới. Những người dân Ý đã từng tự hào kể trong những bức thư dài gởi cho họ hàng của họ đang sinh sống và làm ăn ở Mỹ như sau: “Chúng ta bây giờ là một nước Mỹ của Châu Âu rồi. Chúng ta không còn phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình ra đi tìm sự giàu sang nữa”.
Dân Ý, đặc biệt là những người sống trong những tỉnh thuộc miền Nam của Ý, những nơi phải chịu cảnh nghèo khổ hơn những miền khác, họ biết ơn Mussolini, tin tưởng ông ta tuyệt đối.
Ông ta đã từng nói: “Thà sống một ngày mà dũng mãnh như một con sư tử còn hơn sống ngàn năm mà hèn nhát như một chú cừu non”. Ngay cả một đứa trẻ lên mới cắp sách đến trường cũng có thể nhắc lại câu nói ấy của Mussolini. Ông hứa với dân chúng của mình là sẽ mang đến cho họ sự giàu có và vinh quang, những thứ mà kể từ khi đế quốc La Mã cổ đại sụp đổ cho tới nay người dân Ý chưa từng được hưởng. Và thế là cả dân tộc Ý ủng hộ ông ta, đáp lời kêu gọi của ông ta đi xâm chiếm bất cứ quốc gia nào.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, đặt một dấu chấm hết cho những giấc mơ quyền lực. Thế chiến thế giới lần thứ hai bắt buộc dân tộc Ý phải tỉnh giấc mộng lành để chứng kiến một cơn ác mộng đang xảy ra trên quê hương mình.
Cả một hệ thống hạ tầng mới xây dựng đã biến thành tro bụi dưới những trận không kích của quân Đồng minh. Một trăm mười ngàn lính Ý dã bị vùi thây nơi tầng đất đã bị đóng băng vĩnh cửu thuộc chiến trường Liên xô. Họ đã chết trong những cuộc chiến phi nghĩa theo lệnh của Mussolini giúp đỡ Hitler khi tay độc tài này điên cuồng dấn sâu vào cuộc chiến tranh khủng khiếp. Một con số tương đương những xác người Ý cũng đã phải nằm rải rác đâu đó khắp miền quê nước Ý và tại miền Bắc Phi. Tất cả bọn họ đều là nạn nhân của cơn đói khát quyền lực của vị thống lĩnh đang muốn nhăm nhe giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống Đức quốc, với mưu đồ cai trị thế giới.
Vào mùa xuân năm 1943, nước Ý bị tấn công từ hai phía. Quân đội Anh và Mỹ chiếm giữ những vùng đất đai thuộc miền Nam nước Ý. Sicily, Salerno và Paestum liên tiếp thất thủ, dễ dàng và nhanh chóng. Cũng thời gian đó mối quan hệ hữu hảo với người Đức không còn được như xưa. Những mối bất hoà giữa hai quốc gia Đức và Ý đã khiến cho Đức quốc xã nổi cơn thịnh nộ. Hoàn toàn bất ngờ, không lực và những lữ đoàn xe tăng của Hitler ào ạt tấn công vào miền duyên hải nước Ý. Chưa bao giờ thành phố Naples phải hứng chịu những đòn sấm sét như vậy.
Bộ tư lệnh tối cao của Đức quốc xã thấy rằng Naples nằm ở vị trí chiến lược. Nó là thành trì của quân đồng minh trên nước Ý. Chúng biết chuyện người Mỹ và Anh chiếm cứ pháo đài ấy và thế là một kế hoạch của Đức quốc xã được thực hiện. Để đảm bảo rằng nhà cửa tại nơi đây phải bị đốt sạch, hệ thống đường giây điện thoại của thành phố phải bị giật đổ. Những đường phố của Naples phải bị đánh bom cày xới và phá huỷ hoàn toàn…Bước một, họ sẽ dồn dân ra khỏi thành phố, biến nơi đây thành vườn không nhà trống. Bước hai, Đức quốc xã sẽ tổ chức những đợt không kích phá huỷ tất cả để kẻ thù không còn tận dụng được gì tại thành phố này. Bước cuối cùng là biến bến cảng của thành phố xinh đẹp và trù phú một thời này thành bình địa. tất cả sẽ chỉ còn là cát bụi. Một tổng tư lệnh người Đức đã tức tối gầm lên: “Nếu như Hitler không làm chủ được thành phố này thì cũng không để nó rơi vào tay bất cứ ai”.
Bất cứ người dân Naples nào kháng cự lại lệnh tản cư đều sẽ phải tan thây, theo lệnh của viên sĩ quan chỉ huy được giao nhiệm vụ quản lý tại khu vực đó. Một vài thành viên của quân kháng chiến Ý tạm lánh vào khu vực đồi núi bao quanh thành phố Naples chờ lệnh mới. Những người dân của Naples không biết rồi đây tương lai của họ sẽ ra sao. Nhưng cũng không ai ngu ngốc đến độ tin vào kế hoạch của bọn Đức. Chúng hứa sẽ đưa họ ra khỏi Naples đến một khu vực an toàn. Họ biết thừa bọn Đức sẽ đưa họ đến các trại tập trung, đó là những nơi giết người hàng loạt. Đó là lý do tại sao người dân tìm mọi cách che giấu không cho con cái họ xuất hiện trước cặp mắt cú vọ của lính Đức quốc xã. Đám con trai chiếm đa số con em những người dân còn cầm cự trong thành phố. Điều đó chứng tỏ rằng người dân Ý tin tưởng vào đám con trai họ sẽ tự xoay sở được, có thể tự tìm kiếm thức ăn nơi miền kháng chiến thuộc miền Nam nước Ý. Thật là một suy nghĩ sai lầm, không hề tính đến những khó khăn và ác liệt xảy ra hàng ngày hàng giờ trong một thành phố tạm chiếm.
0
Chương 1
Vincenzo Scolardi chạy dọc theo một con đường hẹp rồi sa vào một mê cung toàn những con hẻm nhỏ. Nó chạy ngoằn ngoèo trên vỉa hè. Sương buổi sớm lơ lửng trên không trung như một tấm màn khổng lồ phủ chụp lấy thành phố. Tay nó kẹp chặt một ổ bánh mì nóng dòn, bên kia là một chuỗi tràng hạt màu hồng cuốn lấy những ngón tay trên bàn tay trái. Ở tuổi mười sáu, thằng bé trông cao hơn những đứa trẻ khác, mái tóc màu nâu của nó rất dày và dợn sóng. Vincenzo có cặp mắt màu ô liu. Thời kỳ trước chiến tranh, nó là một học trò giỏi giang của trường và là một cầu thủ bóng đá siêu hạng của đội bóng thiếu niên. Nhưng ngay lúc này đây, cả những môn học nó đã từng say mê nhất, cả những bàn thắng làm no mê mẩn nhất không còn gợi cảm hứng với Vincenzo nữa rồi. Giờ nó sống như một người lính sẵn sàng tiếp nối truyền thống của gia đình. Ông cố nội của nó là Giovanni đã từng dương cao ngọn cờ đấu tranh vì một nước Ý độc lập. Ông đã từng chiến đấu bên Giuseppe Garibaldi huyền thoại, và đã từng theo đoàn quân chiến thắng diễu hành trong thành phố ngày 7/9/1860. Vincenzo đã từng đọc mê mải những quyển sách kể về lịch sử quân đội, về những chiến lược chiến thuật trong chiến tranh, những nghệ thuật chiến đấu và mong mỏi có một ngày nó sẽ đứng đầu đoàn quân xông ra chiến trường.
Suốt đêm qua nó đã ngủ dưới gầm một cái giường cũ trong một căn hộ bỏ hoang ở ngoại ô vùng Via Toledo để chờ cho cuộc không kích mở màn vào Naples. Đêm nào cũng thế, bom đạn rơi liên miên. Ngày hôm kia, mẹ nó bảo nó đi tìm mua bánh mì ngoài chợ đen. Những xe bánh mì nối đuôi nhau thành hàng dài chỉ đến vào buổi đêm. Và những người lái xe lặng lẽ đứng bán những chiếc bánh mì quý giá trong bóng tối nơi những góc hẻm nhỏ, yên tĩnh. Nhưng đoàn xe ấy đã tới trễ. Thông thường đoàn xe ấy khoảng chín giờ đã tới rồi, nhưng lần này xee tới trễ bởi những trạm gác của lính Đức kiểm tra ngày càng gắt gao hợn Họ đã đợi đến gần nửa đêm để mua một ổ bánh mì tròn. Ổ bánh mì đó sẽ là toàn bộ số thực phẩm để dùng trong ba bữa ăn của mẹ nó và hai đứa em gái. Còi báo động vang lên chỉ vài giây sau khi thằng bé sờ tay vào được ổ bánh mì nóng dòn. Nó đặt đồng lire vào tay của người bán bánh mì chợ đen và gật đầu định quay đi. Người bán bánh thì thầm:
-         Vincenzo, đừng có về nhà.
-         Nhưng suốt cả ngày hôm nay em cháu chưa được ăn gì cả.
-         Cứ để chúng nhịn tới sáng hẵng ăn cũng được. Cứ đi tìm một nơi ấm áp để chờ cho hết đêm đã.
Đợt bom đầu tiên nổ tung trên quảng trường gần chỗ căn hẻm thằng bé đang mua bánh. Cả khu vực rộng lớn sáng bừng lên dưới những lưỡi lửa khủng khiếp. Chiếc xe tải của người buôn chợ đen nổ máy chuẩn bị rời đi nơi khác. Ông ta nói trước khi lên đường:
-         Hãy tìm cách để tự cứu lấy mình trước đã. Và nhớ hãy sống sót để đem bánh mì về cho mẹ và em đấy.
Vincenzo chờ cho đến tận bình minh lúc đó nó mới liều lĩnh chạy về nhà. Khi nó tới góc hẻm cuối cùng nó đứng sững lại. Nó đang đứng đối diện với một nơi trước đây đã từng là nhà của nó. Và sững sờ nhìn đống gạch vữa sơn màu hồng trộn lẫn với những mảnh gỗ trước đây từng là cửa và dầm nhà.
Thằng bé buông rơi ổ bánh mì và quỳ sụp xuống, nó bắt đầu khóc, người rung lên từng đợt vì đau đớn. nó ngồi thụp xuống, gục đầu vào gối, nó không cần phải sục sạo vào đống gạch vỡ để tìm cho ra một sự thật mà nó đã biết ngay từ khi cảnh ấy đập vào mắt nó. Người thân của nó đã chết hết rồi. Mẹ nó và hai em gái nó đã không còn nữa.
Vincenzo ngẩng đầu, khuôn mặt đầy nét sầu não và đẫm nước mắt. nó nhìn lên trời, qua màn sương mỏng, nó cố tìm những khuôn mặt thân thương rồi nó gào lên đau đớn, bàn tay nắm chặt đấm thùm thụp xuống đất. Không ai nghe tiếng nó. Không ai nhìn thấy nó. Không ai đến với nó. Giờ nó chỉ có một mình trơ trụi không biết đi về đâu. Không có nhà cũng không có người thân. Nó là nạn nhân của chiến tranh và giờ đây nó đã hoà nhập với rất nhiều người Ý đã bị chiến tranh cướp đi những người thân yêu nhất của họ. Khủng khiếp thay nó vẫn còn là một đứa trẻ. Nhưng Vincenzo biết nó bắt buộc phải làm quen với ý nghĩ nó đã trở thành một người trưởng thành. Vào thời khắc đó thằng bé không muốn gì hơn là chết đi cho rồi. Nhưng Vincenzo còn cả một công việc khó nhọc và đau đớn đang chờ đợi nó, đó là chôn cất những người thân yêu.
 
*
-         Mày có muốn đánh dấu những ngôi mộ không?
Bạn nó, Franco hỏi. Franco mười bốn tuổi, thân hình nở nang, mắt nó màu đen, tóc nó rậm rì rối bù tung bay trong làn gió nhẹ.
Vincenzo lắc đầu:
-         Tao là người duy nhất cần biết địa điểm khu mộ chí.
Franco bảo:
-         Tao rất lấy làm tiếc. Họ đâu có tội tình gì mà phải chết đau đớn như vậy.
Vincenzo nhìn những ngôi mộ rồi gật đầu:
-         Phải, người nhà tao đã chết oan.
-         Thôi, dẫu sao thì họ cũng được mồ yên mả đẹp như bao nhiêu người khác.
Franco an ủi, nó đứng bên cạnh Vincenzo, bàn chân trái của nó dẫm lên đống gạch nát vụn mà đã có thời là bức tường của nhà Vincenzo.
-         Giờ này đáng lẽ mẹ mày còn đứng bên ngưỡng cửa chờ mày về mới phải.
Vincenzo nói:
-         Mẹ tao bảo nếu như gia đình tao có chết thì cũng còn được chết ngay trên mảnh đất quê hương.
Franco nói:
-         Mày có nghe bọn lính gọi loa chưa? Mày có thấy truyền đơn chúng rải chưa? Bọn chúng sắp quay trở lại đấy. Lần này chúng mang theo nhiều lính hơn, nhiều xe tăng hơn. Chúng không chịu dừng bước trước khi chúng phá huỷ hoàn toàn thành phố Naples.
-         Tao nghe rồi và tao tin chúng nó sẽ làm như thế.
-         Tao biết mày buồn nhưng tao phải nói thật, những ngôi mộ chúng mình vừa đắp sẽ không tồn tại lâu đâu. Bom đạn sẽ không tha cả thi thể của những người đã chết.
Vincenzo đưa mắt nhìn quang cảnh của thành phố Naples đổ nát. Nó nói với bạn:
-         Nhưng chí ít bom đạn cũng không còn làm họ đau đớn nữa.
0
Chương 2
Ngày 25/9/1943 thành phố Salerno, Ý
Đại uý Edward Anders thuộc lữ đoàn Thần Sấm số 45 đứng dựa lưng vào gốc cây vả, một điếu thuốc lập loè sáng trên môi anh. Anh nhìn đăm đăm xuống đầu cầu phía dưới. Đội quân của anh là đợt đầu tiên có nhiệm vụ mở màn tấn công vào một thành phố xa lạ. Trước chiến tranh, anh chưa hề nghe thấy nhắc đến tên của thành phố này. Phải mất chín ngày, quân đội Mỹ và Anh mới tiến qua bãi biển và lấn dần đến sườn núi thoai thoải nơi anh đang đứng. Đằng sau anh, một căn lều chỉ huy được dựng lên tạm bợ, xung quanh là những căn lều màu nâu vây kín. Anders nhìn đăm đăm dãy núi trùng điệp trước mặt. Dãy núi trải dài từ thành phố Naples về tới tận Cassino. Với địa hình địa thế như vậy, anh biết những cuộc chiến ác liệt vẫn còn kéo dài.
Một giọng nói vang lên từ sau lưng anh:
-         Xin chào Đại uý. Tôi nghe nói ngài cần gặp tôi.
Đại uý Anders đáp:
-         Tôi hoàn toàn được quyền ra lệnh cho anh, nhưng chúng ta hãy nói chuyện thân mật trước đã.
Đại uý Anders quay lại nhìn hạ sĩ Steve Connors. Connors vẫn đứng nghiêm giơ tay chào. Sau lưng anh vịnh Salerno trải rộng đến tận chân trời. Anders phẩy ta ra hiệu không cần câu nệ.
-         Theo tôi được biết cậu cũng chán ba cái trò lễ nghi không kém gì tôi. Điều đó có nghĩa là cả hai ta chẳng ai leo cao trong quân đội được đâu.
Connors đáp:
-         Thưa đại uý, tôi chẳng mong gì hơn là được về nhà.
Anders hỏi:
-         Trước khi được trở về nhà cậu có thích vào Naples chơi một chuyến không?
-         Naples là gì?
-         Có lẽ chẳng là gì cả, theo những báo cáo mà tôi đã đọc thì thành phố này không hơn gì một thành phố chết.
-         Thế nhưng ngài vẫn muốn tôi vào đó?
Connors vừa nói vừa gỡ mũ sắt ra và lau những giọt mồ hôi chảy thành dòng trên trán.
Steve Connors 25 tuổi, mới học xong chương trình đại học đại cương và đang học năm thứ hai tại trường luật ở Covington, Kentucky. Anh hơi ngượng ngập về chiều cao quá cỡ gần hai mét của mình. Bù lại cơ thể anh khoẻ mạnh, vạm vỡ và nặng gần tám chục ký lô. Tóc anh như một mớ tơ ngắn màu đen, mắt nâu và nụ cười rạng rỡ làm cho người ta quên đi cái cằm vuông hơi nghiêm nghị. Anh đã chiến đấu dưới cờ lệnh của Anders suốt mười bốn tháng ròng. Chiến đấu suốt bao trận ác liệt để giữ lấy các cứ điểm quan trọng. Anh luôn luôn đi đầu, luôn là người nổ phát súng đầu tiên. Theo như những gì Edward Anders biết thì Connors là một người lính luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Anders nói:
-         Naples có thể là thành phố chết nhưng vẫn còn hai người của chúng ta kẹt trong đó. Có một vài lính Mỹ tới Naples để giúp quân kháng chiến Ý. Chẳng biết bây giờ họ có còn được coi là một đội quân nữa hay không? Hầu hết lính Mỹ đã rút đi trước khi có lệnh tản cư lớn trong thành phố. Nhưng hai người ấy lại không đi. Có thể họ đã chết, có thể họ đang lẩn trốn đâu đó, nhưng chúng ta phải tìm cho ra họ.
Connors hỏi:
-         Tôi đi một mình sao?
Anders hỏi lại:
-         Chẳng lẽ cậu lại thích đi tới đó một mình?
-         Rất thích, thưa ngài.
-         Nhưng sẽ không bao giờ có chuyện đó đâu. Cậu là một thành viên trong một đội gồm có ba người. Nếu những lính Mỹ chúng ta vẫn còn trong thành phố ấy, rất có thể họ đã bị thương. Thế nên đi cùng với cậu sẽ là một bác sĩ quân y. Người được chỉ định là Willis. Người thứ hai là một tay súng cừ sẽ yểm trợ cho cậu. Đó là Scott Taylor.
Connors nhăn mặt khi nghe tên của Taylor. Anders bảo:
-         Tôi biết hai người chẳng thuận gì cho lắm nhưng đây không phải là một cuộc khiêu vũ của sinh viên trường đại học. Đây là chiến tranh. Nếu như mọi chuyện trở nên khó khăn hơn thì Taylor sẽ giúp cậu đắc lực đấy.
Connors bảo:
-         Vâng, tuân lệnh thưa chỉ huy. Chỉ huy còn có chỉ thị gì nữa không ạ?
-         Không đâu. Nhớ thông báo tin tức qua máy bộ đàm những gì các cậu nhìn thấy. Đó là nghĩa vụ chính của các cậu. Phần còn lại cứ để cho tụi tôi lo.
-         Thưa Đại uý, nếu như chúng tôi không tìm thấy những người lính kia thì sao ạ?
-         Thì chúc các cậu ở lại Naples vui vẻ.
0
Chương 3
Ở một vị trí cách thành Rome mười lăm dặm, tám mươi chiếc xe tăng lớn của lữ đoàn thiết giáp mười sáu lặng lẽ xếp thành hàng dài. Những tên lính Đức tản ra, tìm kiếm những nơi có bóng mát để chợp mắt trong giây lát. Đại tá Rudolph Von Klaus đứng ngay nơi cửa xe tăng mở nhìn mẩu giấy trong tay hắn. Những dòng chữ đó do chính tay Adolf Hitler viết, truyền đạt mệnh lệnh cho Von Klaus. Những dòng chữ đó cũng đơn giản như biết bao mệnh lệnh hắn đã được nhận trong suốt 25 năm trong quân ngũ của hắn. Dòng chữ chỉ vỏn vẹn những từ sau đây “Không để cho một viên gạch đá nào của thành Naples được nguyên vẹn”.
Đối với một sĩ quan ngạo mạn và khó tính như Von Klaus thì mệnh lệnh trên quả là thừa. Lữ đoàn thiết giáp của hắn đã phải chiến đấu vô cùng gian khổ trong một thời gian khá dài chỉ để đến càn quét ở một nơi chốn hầu như không có người ở. Có phí cả thời gian không chứ. Thời gian lúc này ít ỏi, quý giá biết bao, bởi cuộc chiến tranh này sắp sửa đến hồi kết thúc. Một cuộc chiến tranh gian khổ với số thương vong và thiệt hại không sao đếm xuể. Thành phố Naples này còn gì nữa đâu. Mọi đường phố trống trải. Những cuộc không kích đã phá huỷ các toà nhà lớn, không cho chúng rơi vào tay của kẻ thù.
Von Klaus cất mảnh giấy nhỏ có mệnh lệnh của quốc trưởng Hitler vào trong túi áo. Hắn nhìn quân sĩ, bao quát đội hình quân thiết giáp và cảm thấy hài lòng. Bởi vì nếu đúng theo mệnh lệnh kia hắn có thể chắc chắn lính của hắn sẽ không phải bỏ xác nơi chiến trường hoặc lãnh nhận thêm thương vong nữa. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ ở Naples, Von Klaus được lệnh trở về nhà vui vẻ với vợ con sau hai năm trời xa cách. Gặp lại đứa con gái năm nay lên tám tuổi và đứa con trai còn quá nhỏ đến độ không thể nhớ được lần cuối cùng được cha nó bế ẵm là khi na1o. Von Klaus mới có bốn mươi sáu tuổi nhưng hắn tưởng mình đã sống số tuổi đời gấp đôi tuổi hắn. Hắn tin rằng không gì khiến người ta già đi nhanh hơn là phải đối mặt với một thực tế về một thất bại không thể nào tránh khỏi.
-         Các xe tăng đã được phục hồi trong tình trạng tốt nhất. Nhiên liệu cũng đã được tiếp đầy đủ, thưa ngài.
Viên sĩ quan trẻ báo cáo với Von Klaus, hắn ta đang đứng trong bóng râm của một cây cổ thụ lớn.
-         Tốt.
-         Thưa ngài, xin ngài cho phép tôi được hỏi, lời tôi nói cũng là nguyện vọng của đông đảo anh em trong sư đoàn. Họ muốn biết khi nào thì chúngta lại lên đường.
-         Kunnalt này, ở quê nhà cậu đã để ý tới cô gái nào chưa?
Kunnalt ngạc nhiên khi nghe chỉ huy của mình hỏi như vậy.
-         Thưa ngài, có. Chúng tôi sẽ dự định đám cưới ngay sau khi chiến tranh kết thúc.
-         Vậy thì cậu hãy đi tìm hòn đá lớn, bằng phẳng, ngồi xuống viết cho cô ấy một bức thư. Chẳng có gì khiến chúng ta phải vội vã cả. Chỉ có những toà nhà trống rỗng vô hồn của thành Naples đang chờ làn xích xe tăng của chúng ta mà thôi.
0
Chương 4
Khuya hôm đó, bên một đài phun nước của thành Naples, hai trăm đứa trẻ cả trai lẫn gái ngồi vây quanh một đống lửa lớn. Những ngọn lửa lem lém cháy sáng từ những cây gỗ dày chắc. Tia lửa cùng làn khói đen bay lên cao rồi từ từ tan biến trước khi đến được bầu trời đầy sao. Quần áo chúng dơ bẩn, rách rưới. Giày của chúng được vá víu từ những sợi dây thô và những mảnh bìa cứng. Ký ức của chúng đầy ắp những kỷ niệm đau đớn của một cuộc chiến tranh kinh hoàng. Những thành viên trẻ nhất của đội chỉ chừng từ bốn đến năm tuổi đứng quay lưng lại với các anh chị lớn hơn. Chúng đang thi nhau ném những hòn sỏi nhỏ vào một dòng nước đục ngầu đầy váng dầu mỡ của vịnh Naples. Những người còn lại thì đang vây quanh Vincenzo và Franco.
Vincenzo bước gần hơn tới đám lửa, nó quay xuống mỉm cười với hai thằng bé nhỏ con hơn là Giancarlo và Antonio, hai đứa này đang chơi đùa nơi mép nước dưới cầu tàu. Vincenzo không chớp mắt nhìn một bé gái đang đi về phía nó. Con bé cao khoảng mười lăm tuổi, mái tóc nâu, dày rậm, được cuốn gọn trong  chiếc mũ lưỡi trai rộng gấp đôi cái đầu của nó. Con bé đứng giữa Vincenzo và hai đứa bé kia. Hai tay áo sát hai bên sườn. Một nét giận dữ ánh lên trong cặp mắt dịu dàng của nó. Con bé hỏi:   
-         Bỏ nơi này rồi, chúng ta sẽ đi đâu đây?
Vincenzo nhún vai trả lời:
-         Lên mấy ngọn đồi kia.
-         Rồi sau đó thì sao?
Vincenzo hỏi:
-         Tên em là gì?
Con bé đáp:
-         Angela. Em sống ở Forcella với gia đình em. Giờ em chỉ còn lại một mình.
Forcella là một khu phố kiên cường nhất ở Naples. Vincenzo nói với Angela:
-         Em ở Forcella sao? Không một tên lính quốc xã nào dám liều lĩnh đặt chân lên những đường phố ở Forcella đâu.
-         Không – cô cười khúc khích – Nhất là vào buổi tối.
Angela nhìn xuống một lát rồi nói:
-         Thế mà bọn chúng đã đến.
Vincenzo hỏi:
-         Thế em làm gì? Theo em, chúng ta nên đi đâu? Em hãy nhìn quanh xem, chúng ta chẳng còn gì cả.
Giọng con bé đầy vẻ mỉa mai:
-         Không còn gì và quay đầu chạy trốn cũng như bao nhiêu kẻ khác chứ gì?
Vincenzo bước đến gần cô bé hơn, mặt nó đỏ tía lên  vì giận dữ:
-         Không còn làm gì được nữa đâu.
Angela nhìn Vincenzo một lúc lâu rồi nó cúi đầu quay trở lại với đám bạn đang tụ tập ở đằng xa. Vincenzo lặng lẽ bước đi, nó đi vòng quanh đống lửa lớn. Cùng với tiếng lửa nổ lép bép, nó nghe tiếng thì thầm của đám thiếu niên đứng quanh đống lửa. Nó dừng lại cạnh Franco, nói:
-         Thành phố Naples luôn bị những kẻ ngoại bang dòm ngó và xâm chiếm. Nhưng không bao giờ người dân thành phố này lại chịu đầu hàng mà không chống trả. Trong cuộc chiến tranh này chúng ta cũng sẽ làm như thế. Chúng ta cũng sẽ tìm cách ngăn kẻ thù lại.
Franco hỏi, nhìn thẳng vào mặt bạn mình:
-         Cậu có biết chúng ta sắp sửa phải đối mặt với loại kẻ thù nào không?
Vincenzo trầm ngâm một lát, nhìn những ngọn lửa nhảy múa trước mắt một lát rồi nó quay lưng bỏ đi mất hút trong màn đêm buông phủ tại trung tâm thành phố Naples.
0
Chương 5
Ngày 26/9, ngoại ô Salerno
Trên xa lộ cách ngoại ô Salerno hai mươi lăm dặm, Steve Connors nhấn ga gài số cho chiếc xe jeep vòng qua một cái hố lớn nằm ngay trên đường. Xe anh nghiến lên lớp cỏ cháy xém. Anh tắt máy, cầm tờ báo, khoác hành lý bước ra khỏi xe. Anh châm thuốc, vừa đi vừa giở tờ báo phát hành cách đây đã bốn tuần ra xem, đó là tờ báo Người Điều Tra của vùng Cincinnati. Anh đã tìm thấy những thông tin thể thao và đôi mắt nhìn thật nhanh những mẩu tin vắn về môn bóng chày.
-         Sao lại dừng ở đây.
Scott hỏi, anh ngồi ngay phía trên đầu của chiếc xe Jeep. Taylor hai mươi tuổi, kém Connors một tuổi, anh cao và thân hình rắn chắc, tóc bạch kim cắt ngắn. Quê hương anh ở Pittsburgh và khi còn học trung học anh từng là một ngôi sao bóng đá trong đội bóng nhà trường. Taylors và Connors biết nhau khi họ cùng tham gia đợt huấn luyện tân binh. Cả hai đều kính nể nhau về những trò đấm đá và cả hai đều căm ghét nhau về tất cả những gì còn lại.
Connors đi xuống triền dốc thoai thoải và ngồi xuống dưới bóng một cây sung già, ngửa đầu dựa vào thân cây xù xì:
-         Bọn Đức rải mìn khắp nơi, nhất là trên con đường dẫn đến thành phố Naples thì bọn chúng không thể bỏ qua. Đó chính là lý do tại sao chúng ta phải chạy xe trên bãi cỏ và đó cũng là lý do trước khi bắt đầu vào thành phố chết, tôi phải nghỉ ngơi cái đã.
-         Thôi, đừng giải thích dài dòng.
Willis, bác sĩ quân y lên tiếng, anh nhảy ra khỏi hàng ghế sau của chiếc xe, bước về phía Connors đang ngồi dưới bóng cây. Willis chưa qua tuổi hai mươi, thế nên cậu cố cư xử như một người lớn. Cậu là con một. Mẹ cậu đã phải một thân một mình nuôi cậu khôn lớn. Bà là một cô giáo tại một trường tiểu học tại Davenport bang Iowa. Willis dáng thư sinh, mái tóc màu nâu lơ thơ vài sợi trên đầu. Anh cố tập cho mình dáng đi chắc nịch như một nông dân. Cậu là một y tá giỏi và không bao giờ ngần ngại xông ra nơi bom đạn cứu sống đồng đội của mình.
Taylor châm thuốc, nói:
-         Vậy tôi chờ ở đây.
Connors bảo:
-         Tốt đấy, Taylor. Bởi tớ sẽ phát điên nếu thấy một gã chăn cừu nào đó nhảy lên xe jeep của chúngta và biến đi mất dạng.
Connors gỡ mũ sắt chụp lên mặt, nhắm mắt hồi tưởng lại những buổi chiều trốn học và trốn vé ngang đi qua dòng sông ở Covington để tới Crosley Field xem bóng chày. Với sự bồng bột và hăng hái, Connors chứng kiến những trận đấu đó mà không cần biết mình phải ủng hộ đội nào. Giờ đây những ngày tháng đó đã trở thành quá xa xôi.
Connors gỡ mũ sắt nhìn phong cảnh miền quê trải dài trước mắt. Dù khu vực xung quanh đã bị cày xới đến tan hoang nhưng mảnh đất này vẫn giữ được một vài nét đẹp khó phai mờ. Đất đai vùng này không dễ gì bị khuất phục và người dân cũng thế. Anh liếc nhìn Willis đang nằm dài dưới gốc cây gần chỗ anh và Taylor cứ gàn dở ngồi nhăn nhó trên mũi xe Jeep.
Đột nhiên anh nghe thấy tiếng một con chó đang gầm gừ.
Connors quay người thấy một con chó to lớn tai cụp, lông màu trắng đứng cách anh vài bước chân. Cái miệng rộng của nó đang há ra đầy giận dữ. Chân sau phía bên trái của con chó bị thương, vết máu loang khá to. Anh tròn mắt nhìn con chó trong giây lát quyết định xem nó muốn gì. Phải chăng nó muốn một cuộc vật lộn giữa người và chó hoặc giả nó chỉ chạy trốn khỏi nhà rong chơi trong giây lát. Anh với lấy hộp lương khô, lôi ra một gói bánh bích quy, con chó phát hiện ra cử chỉ đó và bước lên hai bước. Connors lấy bánh ném về phía con chó. Con chó khổng lồ ngửi hít những cái bánh bích quy một hồi rồi nó lấy mõm hất bánh ra. Connors cười lớn:
-         Rõ ràng là một con chó đói cũng không thèm ăn thứ bánh này.
Willis ngoái đầu nhìn con chó nói:
-         Ở quê tôi, xe hơi còn nhỏ hơn con chó này nữa.
Connors bảo:
-         Nguy cơ gây thảm hoạ của nó tỉ lệ thuận với thân hình của nó đấy. Thế nên nếu cậu định cử động thì nên chậm rãi thôi.
Anh nghe tiếng súng lên đạn, quay lại và thấy Taylor đang ngồi phía trước mũi xe jeep, nòng súng của anh chĩa thẳng về phía con chó. Connors bảo:
-         Taylor, một khi con chó này chịu đứng yên thì tôi xin cậu làm ơn ngồi yên cho.
Taylor bảo:
-         Chúng ta đến thành phố này để tìm hai đồng đội của mình. Tôi đâu có nghe nói gì đến chuyện chó má ở đây đâu.
-         Cứ thử bóp cò xem, cậu sẽ mệt với tôi đấy.
Connors đứng lên, vừa bước lên vài bước vừa vẫy tay với con chó khổng lồ. Con chó ngồi xuống, cái miệng đầy nanh vuốt của nó tạm ngậm lại. Connors nói dịu dàng:
-         Để tao xem vết thương cho mày, để xem mày bị thương nặng đến thế nào nhé.
Con chó ngửi những ngón tay của anh.
-         Tao chỉ yêu cầu có mỗi một điều, mày đừng có cắn sứt mông tao ra thôi.
Con chó liếm bàn tay Connors, rồi nó đưa cái mũi to tướng hít ngửi dọc ống chân của anh. Connors nhẹ nhàng vỗ vào cái cổ to tướng của con chó để tìm vòng da đeo cổ. Anh bảo:
-         Có vẻ mày không phải là chó ở vùng này. Tụi tao cũng vậy, không phải là dân ở đây.
Connors ngồi xổm nhìn vết thương đang há miệng, rỉ máu. Anh nói với Willis:
-         Có lẽ phải khâu vết thương lại thôi. Cậu làm được không?
Willis bò bằng hai tay và hai chân đến gần con chó, anh dừng lại nhìn kỹ vết thương:
-         Để tôi vá víu cho nó. Yên tâm đi, tôi chữa chạy cho mấy người cẩn thận như thế nào thì tôi cũng cẩn thận như thế ấy đôi với con chó này.
Connors nói với con chó:
-         Mày chỉ cần tin tưởng vào tụi tao thì tụi tao cũng sẽ tin cậy mày.
Anh quay sang Willis hỏi:
-         Sao? Cần tớ giúp đỡ gì không?
Willis bảo:
-         Anh ra suối lấy về ít nước sạch.
Connors bước đến bên dòng suối nhỏ, dùng mũ sắt vục vào dòng nước mát mẻ mang lại phía con chó.
Anh nói với Willis:
-         Rồi đây, giờ thì cần gì nữa?
-         Anh lấy giùm cái túi, anh đổ nước từ từ xuống vết thương còn em thì lau rửa chung quanh.
-         Cậu đã bao giờ nuôi chó chưa, Willis?
Connors hỏi, mắt không rời con chó, nó co người lại khi nước từ từ chảy trên vết thương của nó.
Willis mở túi cứu thương.
-         Sinh ra và lớn lên trong một nông trại thì chẳng có thứ súc vật nào mà em chưa từng nuôi. Còn anh thì sao?
-         Lúc nào mình cũng ước ao được nuôi chó mà chẳng bao giờ được.
Connors rửa sạch những vết máu cho Willis nhìn kỹ vết thương. Y tá nói:
-         Nó bị một mảnh đạn sượt qua chân không nặng lắm đâu, để em băng vết thương lại. Nếu như nó đừng có nóng ruột rượt theo lũ thỏ rừng thì em chắc chắn chỉ vài ngày nữa nó sẽ lại khoẻ mạnh như chưa bao giờ bị thương.
Connors đứng trước mặt con chó, nhìn Willis khéo léo băng vết thương cho nó. Lát sau anh quay lại vẫn thấy Taylor chĩa súng về phía con chó lớn. Anh hỏi Taylor:
-         Cậu tính sao đây hả? Định bắn tôi rồi bắn con chó này hay sao?
Taylor đáp:
-         Trừ khi tôi bắt buộc phải làm thế. Và tin tôi đi, nếu cậu và con chó kia làm tôi mất ngủ thì tôi không ngần ngại ra tay đâu.
-         Anh ấy nói thật sao?
Willis hỏi Connors mà mắt vẫn nhìn Taylor.
Connors bảo:
-         Chúng ta đang đi vào một vùng nguy hiểm, và đáng mừng thay lại có anh bạn đồng hành ấy. Gã này suốt ngày khó chịu, sưng sỉa như bị đau răng vậy.
Connors xem xét kỹ xem Willis băng vết thương cho con chó có cẩn thận hay không. Công việc đó kéo dài trong suốt một giờ đồng hồ. Willis cố gắng không làm cho chó bị đau. Anh rửa rồi lau vết thương thật nhẹ nhàng, không làm quá mạnh tay cũng không băng quá chặt.
Lại nói về con chó, nó chẳng sủa cũng chẳng gầm gừ, vẻ mặt nó vô cùng thoả mãn để cho anh chàng lạ mặt muốn làm gì thì làm với vết thương của nó.
Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, ánh nắng chói chang mang theo cái nóng trùm xuống vạn vật. Khi Willis hoàn tất công việc, anh dừng lại lấy tay lau mồ hôi trán, uống cạn nước trong bi đông. Connors quay trở lại gốc cây, cất mẩu báo đang đọc dở và ba lô, mang súng và đồ đạc quay lại chiếc xe jeep. Tới nơi anh quay đầu nhìn lại con chó lớn. Willis đứng đối diện, đồ đạc đã sẵn sàng. Đằng sau họ là Taylor, khẩu súng trường đã hạ xuống. Anh ngồi dựa lưng vào hàng ghế trước của xe jeep. Connors nói với con chó:
-         Mày sẽ không sao. Nếu thấy bất cứ tên lính Đức nào thì hãy xé xác nó ra nghe chưa!
Connors và Willis bước về phía xe. Con chó chậm rãi đi theo họ. Connors nói với Willis:
-         Cám ơn cậu về những gì cậu đã làm.
-         Kể từ khi phải ra mặt trận đến bây giờ thì nó là bệnh nhân đầu tiên để cho tôi băng bó mà không rên rỉ hoặc cáu kỉnh than phiền về khả năng nghề nghiệp của tôi.
Willis hóm hỉnh trả lời. Taylor hỏi:
-         Mấy người đi được chưa hay còn muốn vào rừng sục sạo xem có con chim nào gãy cánh mang về đây chữa trị nữa hay không?
Connors quăng đồ đạc vào xe, nhảy vào sau tay lái và khởi động xe. Con chó sủa ầm ĩ chạy theo chiếc xe jeep. Connors nắm chặt vô lăng mắt nhìn thẳng con đường trống trải dẫn tới Naples. Chạy được một quãng, anh cho xe dừng lại nhìn con chó thì thấy nó đang ngồi bên vệ đường, cặp mắt như hai cái chén mở to nhìn Connors. Người và chó nhìn nhau mất một lúc. Trên đỉnh đầu ông mặt trời như muốn khạc lửa xuống vùng đất hoang vu.
Connors và nhoài người ra sau, vỗ vào nệm ghế:
-         Lên đi. Tao chỉ đưa mày tới Naples được thôi. Sau đó mày phải tự tìm đường về nhà.
Taylor hoảng lên:
-         Cậu điên đấy à? Chúng ta sao mang con chó này đi được? như thế là chống lại lệnh chỉ huy đấy.
Connors nói với Willis:
-         Cậu chừa cho nó cái chỗ rộng một chút, nước dãi của nó ớn lắm đấy.
 
 
Connors nhìn con chó lớn đang nhảy lên hàng ghế sau. Cái thân hình nặng bảy chục ký lô của nó chiếm một chỗ đáng kể trong xe, ép sát Willis vào thành xe. Connors nói:
-         Chó vùng này lớn thật đấy.
Anh đánh vòng vô lăng về bên trái cài số rồi cho xe chạy thẳng con đường rợp bóng cây.
-         Tớ hy vọng đàn bà ở đây không đến nỗi quá bự như vậy.
0
CHƯƠNG 6
Hai thằng bé quỳ xuống trong thánh đường của một ngôi nhà thờ cổ. Chúng cúi thấp đầu cầu nguyện. Trong nhà thờ mọi thứ đều tối mờ, không gian mát mẻ và im ắng. Tiếng cầu nguyện của hai thằng bé vọng vang đến các bức tường đá và thoát ra ngoài khung cửa sổ có những ô kính bể vỡ nham nhở.
-         Tao như vẫn còn ngửi thấy mùi súp đậu thơm lừng mà má tao vẫn thường nấu.
Giancarlo nói với bạn mình. Thằng bé kia mười hai tuổi, lớn hơn Giancarlo hai tuổi. Cả hai đứa đứng lên, ngồi vào hàng ghế trước đối diện với bàn thờ.
Antonio hỏi:
-         Chú Mario có đi cùng với anh em mình không?
Thằng bé run rẩy nép mình bên anh nó. Giancarlo mỉm cười nhìn em. Nó đứng dậy nhìn bao quát thánh đường đầy bụi, không một bóng người.
-         Chú Mario khi nào cũng ở bên anh em mình. Chúng ta phải đi chung với những người khác thôi. Cẩn thận kẻo không bị tụt lại phía sau mọi người thì nguy đấy.
Antonio nói:
-         Để em cầu xin thêm một điều nữa thôi. Em cầu xin Chúa phù hộ cho mẹ của chúng ta.
Giancarlo gật đầu nhìn em nó bước lên ba bước đến gần bàn thờ hơn. Thằng bé thì thầm:
-         Thầy tu cũng không cầu nguyện nhiều như em đâu.
Antonio với tay chạm vào thánh giá, hai bàn tay nhỏ bé của nó níu lấy cây thập tự lớn và vững chắc. Nó hôn lên bức tượng Chúa Jesus gắn lên trên cây thập tự. Cho đến lúc đó nó mới nhìn thấy đám dây nhợ lùng bùng gắn cây thập tự với nền đất cứng. nhưng không kịp nữa rồi, nó nghe thấy tiếng lách tách nhỏ, tiếng kíp mìn đánh lên tia lửa điện. Antonio lùi lại. Nó quay đầu nhìn Giancarlo lần cuối, mắt mở to kinh hoàng như muốn báo cho anh nó biết cái điều mà cả hai đã nhận ra.
Tiếng nổ lớn làm rung chuyển nhà nguyện. Những mảnh đá cẩm thạch khổng lồ cùng những mảnh gỗ lớn bay vèo trong không trung, bay thẳng lên trên trần nhà, đụng rầm rầm vào bức hoạ nữ thánh Catherine với vòng tay dang rộng. Phía dưới kia, thi thể của Giancarlo và Antonio Bardini nằm úp sấp bất động, vùi sâu dưới đống gạch vữa của nhà thờ bị bom mìn của Đức quốc xã phá huỷ.
Đối với hai đứa trẻ đáng thương ấy, chiến tranh đã thật sự kết thúc.
 
*
Ngoài nhà thờ, Vincenzo Scolardi và bạn nó là Franco tình cờ đi ngang qua đó. Hai đứa trẻ dẫn đầu hơn hai trăm đứa con nít, trai có gái có, đi qua con đường vắng vẻ. Chúng bước đi, đầu cúi thấp, tất cả đồ đạc của chúng được gói ghém trong những tay nải là những chiếc áo sơ mi cũ thắt nút thành hình ống đeo lủng lẳng trên vai.
Franco lau mồ hôi trán và hỏi:
-         Theo mày thì bao giờ chúng ta có thể trở về?
Vincenzo đáp:
-         Có lẽ sẽ chẳng bao giờ.
Hai cánh cửa nhà thờ đột ngột bật tung, những mảnh đá gỗ và kính vỡ vang ra ngoài đường, Vincenzo và Franco lao xuống nằm sấp trên mặt đất. Đàng xa bọn trẻ con chạy tán loạn tìm chỗ ẩn núp.
Vincenzo đứng lên, vượt qua làn khói bụi đến cửa chính của nhà thờ. Nó đứng đó một lát, trong làn khói mù mịt, lửa cháy gần chân nó. Vincenzo bước vào bên trong, nó bước qua đống gạch đá, dừng lại trước bàn thờ chính. Tấm đá dày của bàn thờ bị chẻ làm đôi. Một chuỗi hạt màu hồng bị vùi trong lớp bụi đất. Nó nhặt chuỗi hạt lên, phủi bụi rồi áp chuỗi hạt  vào ngực. Lát sau nó quay người bước ra khỏi nhà thờ.
Nó bước qua mặt Franco và Angela không thèm để ý tới những đứa trẻ khác đang thắc mắc nhìn nó. Chúng đang tụ tập thành một đám đông ngay trước cửa nhà thờ. Thằng bé một mình rảo bước theo hướng ngược lại, đi về trung tâm thành phố.
Franco hỏi:
-         Mày đi đâu thế?
Vincenzo đáp:
-         Tao ở lại.
-         Ở lại làm gì?
Vincenzo dừng bước, nhìn những khuôn mặt của đám trẻ đang vây quanh nó. Nó hít một hơi thật sâu.
-         Để tao có thể giết được càng nhiều lính Đức càng tốt.
Franco bảo:
-         Nếu mày làm thế có nghĩa là mày đang đi thẳng tới lỗ huyệt đào sẵn cho mày đấy.
-         Nếu tao phải chết thì tao sẽ chết ở đây, ngay trên quê hương tao, trên con đường tao đã từng đi.
Nó một mình lủi thủi trên con đường vắng vẻ hướng về trung tâm thành phố.
Franco và Angela nhìn Vincenzo bỏ đi rồi cả hai nhìn nhau rồi gật đầu cùng theo bước Vincenzo quay trở lại. Đám trẻ sợ hãi thì thầm, trao đổi ánh mắt cho nhau, rồi ba đứa con trai rời đám đông theo gót Franco và Angela. Chẳng bao lâu sau năm đứa nữa đi theo bọn chúng. Rồi thêm năm đứa nữa.
Chưa đầy mười lăm phút sau, toàn bộ đám trẻ kia, cả con trai lẫn con gái,  quay bước về điểm xuất phát ban đầu. Cho tới lúc đó chúng vẫn không biết cái gì sẽ chờ đợi chúng phía trước
0
CHƯƠNG 7
Carlo Maldini đứng bên cạnh ô cửa kính đã bể nát nhìn xuống con đường phía dưới, ông dốc ngược chai rượu tu một ngụm lớn. Nhìn ngọn lửa lem lém cháy giật đổ những bức tường của một toà nhà trước đây từng là nhà thờ ông hay đến cầu nguyện. Trong lòng ông không một chút xáo động. Ông đã quá quen với những cảnh tàn bạo xảy ra như cơm bữa ở nơi đây. Ông Maldini đã năm mươi sáu tuổi, tóc ông màu đen, hai bên thái dương đã lốm đốm vài sợi bạc. Ông không cao lớn nhưng thân hình rắn chắc tráng kiện. Quần áo của ông đều đã cũ và rách nát cả rồi. Ngày này sang ngày khác ông thả mình trong những cơn say đến độ không còn nhận ra quần áo của mình đã rách bươm.
Những tổn thất của chiến tranh làm cho ông ngày càng tàn tạ, ban cho ông một khuôn mặt ủ dột. Những giấc mơ của Benito Mussolini về một đế quốc Ý hùng mạnh đã cướp đi của ông Maldini một người vợ và hai đứa con trai, đã lấp đầy tâm trí ông cơn thịnh nộ khủng khiếp. Đã khiến ông có lúc gần như mất trí. Ông Maldini tu ừng ực thứ nước cay nồng xuống cổ họng. Biết bao nhiêu ngày Chủ nhật ông đã đến nhà thờ kia, kề cận bên những người thân, cúi đầu trong lời cầu nguyện thành kính.
Ông nhìn chăm chăm xuống đường thấy một đám đông trẻ con đang đi dọc theo con đường chính. Ông quay đầu nhìn sang cô gái đứng bên cạnh. Cô khoanh tay trước ngực quan sát đường phố bên dưới. Trong ánh nắng buổi sớm trông cô thật xinh đẹp. Nắng đang xuyên vào những lỗ hổng lớn trên trần nhà, toả sáng cái nơi trước đây từng là tổ ấm của hai bố con. Từ nơi ông đứng, Maldini nhìn cô con gái qua cặp mắt đỏ ngầu vì rượu. Con bé giống hệt mẹ nó, mái tóc màu đen nhẹ nhàng thả xuống bờ vai. Khuôn mặt tròn trịa đầy sức sống và đầy xúc cảm của tuổi trẻ. Cặp mắt to tròn có thể làm đứng tim bất cứ chàng trai trẻ nào. Con bé tên là Nunzia, nó là con gái ông. Năm nay nó hai mươi tuổi. Nó là đứa con duy nhất mà chiến tranh chưa cướp mất của ông. Khi bọn Đức ra lệnh dân chúng phải tản cư khỏi thành phố, ông Maldini không thể rời thành phố được. Lúc đó cơ thể ông mềm nhũn vì rượu, tâm trí đầy ắp hận thù. Ông trốn trong tầng hầm toà nhà ông đang ở cùng với Nunzia không rời ông nửa bước.
Cô gái nói với cha:
-         Chúng ta phải đi thôi. Chúng ta sẽ trốn trên núi sau đó tìm đường đến với quân Đồng minh Hoa kỳ.
Ông Maldini lẩm bẩm những câu không đầu không đuôi về một gia đình đã không còn tồn tại, về những ngày vui đã kết thúc từ lâu. Ông cố thuyết phục con gái ra đi một mình, nhưng Nunzia bảo:
-         Nhưng con không thể bỏ cha ở đây một mình được.
-         Thiên thần nhỏ bé của cha, cha chẳng còn gì nữa. Bây giờ cha chỉ còn ký ức và rượu mà thôi. Đối với một lão già như cha, như thế là quá đủ.  
Nunzia nói:
-         Cha à, con sẽ luôn ở bên cha.
Ông Maldini mắng:
-         Mẹ con cũng  bướng bỉnh lắm cơ. Bà ấy cũng không chịu tản cư, giờ thì bà ấy chết rồi. Mọi người đều chết hết. Những người còn chưa chết chẳng mấy chốc cũng về nơi suối vàng mà thôi.
Nunzia nói:
-         Nếu vậy cha à, cha con ta sẽ chết ở đây, ở Naples này, nơi chôn nhau cắt rốn của chúng ta. Chúng ta sẽ gắn bó mãi với nơi này.
Ông Maldini bảo:
-         Con không thể gắn bó với một đệ tử của lưu linh.
Nunzia bình thản trả lời:
-         Con không thể rời xa cha của con được.
Ông Maldini tu rượu ừng ực và nhìn con gái. Cô nhìn lại cha. Nunzia hỏi:
-         Mấy đứa trẻ kia định làm gì thế?
-         Lại còn phải hỏi. Tính giở trò ngu xuẩn chứ gì.
-         Ngày hôm qua ở quảng trường con có nghe một tin đồn, bà Matturano có nói với con, bà ấy bảo bọn Đức sẽ quay trở lại.
Maldini nhún vai:
-         Cứ để bọn chúng đến. Còn gì nữa đâu mà cướp bóc cơ chứ.
Ông nhìn qua cửa sổ, thấy đám trẻ sắp sửa đi khuất khỏi tầm nhìn, Nunzia thông báo:
-         Bà ấy bảo bọn chúng cho máy bay rải truyền đơn khắp nơi. Franco, cháu bà ấy, cho bà ấy xem một tờ truyền đơn, nó là một trong những đứa trẻ đang đi dưới kia. Để con đưa cha xuống gặp bọn chúng.
Ông Maldini rời cửa sổ, tròn mắt nhìn con gái. Ông hỏi:
-         Tại sao cha lại phải làm cái việc cực kỳ điên rồ đó?
-         Cha phải giúp chúng, cha ạ. Rất có thể bọn Đức sẽ quay lại.
Ông Maldini gào lên:
-         Giúp đẩy chúng vào chỗ chết sao? Chẳng lẽ cảnh đầu rơi máu chảy quanh đây còn chưa đủ sao?
-         Nếu như bọn trẻ cứ bám lấy thành phố trong lúc bọn Đức quay trở lại đây thì bắt buộc bọn chúng phải chiến đấu với quân thù. Và dù cha có giúp chúng hay không, chúng cũng sẽ vẫn làm như thế. Và nếu chuyện đó xảy ra e rằng lũ trẻ sẽ chết hết.
Ông Maldini nói:
-         Thì chúng đã quyết chí như vậy mà? Cha thì có thể làm gì được chứ, Nunzia, nhìn kỹ cha đi. Mở to mắt mà nhìn xem cha con là một lão già khùng điên cỡ nào và nói cho cha nghe coi cái thân xác tàn tạ như thế này thì còn giúp đỡ ai gì được chứ.
-         Cha, cha vẫn có thể dạy bảo lũ trẻ những thứ chúng chưa được biết. Cha biết cách sử dụng súng ống và đạn dược kia mà.
 
*
Vincenzo đứng giữa quảng trường Plebiscito, quảng trường lớn nhất của thành phố Naples. Xung quanh quảng trường là những toà nhà lớn nổi tiếng như Royal Palace và nhà thờ San Francesco di Paola. Đám trẻ con đứng rải rác trên quảng trường chờ xem ai đó bảo chúng phải làm gì. Franco và Angela bước ngang qua đám đông, đến đứng đối diện với Vincenzo. Franco bảo:
-         Tớ đếm được hai mươi ba con dao với bốn khẩu súng ngắn.
Vincenzo nói:
-         Nếu có được tấm bản đồ của thành phố thì hay biết mấy.
Angela thêm vào:
-         Phải thêm mấy khẩu súng nữa mới đủ.
Vincenzo giảng giải:
-         Chúng ta phải đưa những đứa trẻ nhỏ đi trốn. Chúng ta không biết chuyện gì sẽ xảy đến và xảy đến vào lúc nào. Nhưng chúng ta phải giữ cho bọn trẻ được an toàn. Bọn chúng phải đến dãy đồi xa kia ẩn náu trong một thời gian. Bất cứ khi nào cần bọn trẻ đều có thể làm liên lạc cho chúng ta được. Tuy nhiên ngoài việc đó ra chúng chẳng làm được gì khác cả.
Vincenzo đi một vòng quanh quảng trường, nó nhìn những tảng đá lát trên quảng trường rồi nói tiếp:
-         Không phải trái bom nào bọn Đức thả xuống đây cũng đều phát nổ. Chỉ riêng quảng trường này thôi cũng đã có cả chục trái chưa nổ đấy.
Franco bảo:
-         Nếu như mình tìm được một chiếc xe đẩy, mình sẽ gom đống bom đó lại.
Angela hoi:
-         Tại sao các cậu biết đống bom đó có ích lợi cho chúng ta? Mấy trái bom đó rơi từ trên máy bay trên trời xuống còn không nổ nữa kia mà. Vậy thì chúng ta phải làm gì đây? Không lẽ ôm bom lao thẳng vào bọn Đức?
Vincenzo mệt mỏi nhăn nhó nói:
-         Tớ không biết. Tớ chỉ biết một điều là đã là bom thì sẽ nhất định phải nổ.
Angela quay gót, ngồi xuống dưới bóng bức tượng bằng đồng trên quảng trường. Đó là bức tượng của hoàng đế Ferdinand đệ nhất. Cô bé dựa lưng vào chân tượng bằng đá cẩm thạch mát rượi. Angela nhìn đám trẻ đang tụm năm tụm ba trên quảng trường và hỏi:
-         Làm thế nào để cứu sống chúng đây?
Vincenzo im lặng một vài phút trước khi trả lời:
- Đường phố chính là những thứ vũ khí lợi hại nhất của chúng ta. Những con hẻm tối, những ống cống ngầm là điêu lợi thế. Chúng ta sẽ di chuyển bằng những lối đi bí mật xuyên qua các viện bảo tàng và nhà thờ, bên ngoài các nhà ga xe lửa còn có những đường hầm. Chúng ta có thể sử dụng mọi cách, Nhờ thế chúng ta chiến đấu mà không bị phát hiện. Chúng ta sẽ là một đội quân tàng hình. Chỉ có thế chúng ta mới đánh lại được bọn Đức mà thôi.
 
0
CHƯƠNG 8
Cách thành phố Naples năm mươi dặm, đại tá Rudolph Von Klaus ngửa đầu nhìn mặt trời nóng bỏng. Mũ sắt của hắn để lại trong xe tăng, cặp ống nhòm treo lủng lẳng trước ngực. Trên con đường trước mặt, hắn nhìn thấy được đường viền bờ biển trải dài, đây đó có những trang trại và vườn nho nằm dọc theo miền duyên hải.  Đó là một cảnh thanh bình hiếm thấy. Tựa như một lời chào mừng nồng nhiệt lạ lẫm cất lên trong không khí nóng bỏng. Von Klaus hiểu, không ai thấm thía cảnh mất mát vì chiến tranh hơn một người lính. Hắn nhẹ nhõm khi thấy chiến sự sắp đến hồi kết thúc. Hắn bắt gặp một chuyển động nhỏ trong một bụi cây lớn phía xa xa.
Von Klaus đặt tay vào nút chiếc xe tăng và tay kia rút khẩu súng ngắn ra. Khẩu súng máy trên xe tăng di chuyển phía dưới. Nó chầm chậm quay sang bên phải và nhắm thẳng vào bụi cây. Von Klaus lạnh lùng bảo:
-         Nhổ bụi cây lên.
Sáu khẩu súng máy cùng cày xới mảnh đất phía sau bụi cây. Vài giây sau hai cánh tay gầy gò giơ lên cao. Phải nhìn kỹ mới nhận ra đó là hai cánh tay người chứ không phải là hai cành cây khô của bụi cây nọ. Von Klaus ra lệnh ngừng bắn.
Hắn nhìn một thằng bé đi chân đất, mặc quần ngắn và chiếc áo thun màu trắng lem luốc bước ra khỏi bụi cây đi về phía chiếc xe tăng, hai tay vẫn đưa cao lên trời. Thằng bé ngừng lại, khuôn mặt tròn nhìn thẳng vào viên đại tá Von Klaus đang đứng phía trên cao nhìn xuống. Hắn hỏi băng tiếng Ý khá lưu loát:
-         Mày bao nhiêu tuổi?
Thằng bé đáp:
-         Bảy tuổi.
-         Mày làm gì ngoài đó thế?
-         Lẩn trốn.
-         Mày trốn giỏi lắm nhỉ?
Thằng bé gật đầu. Von Klaus hỏi tiếp:
-         Mày là một thằng lính trong quân đội Ý sao?
-         Không thưa ông, tôi còn quá bé nên không thể là chiến binh.
-         Chính vì mày còn quá bé nên tao không thể bắt mày làm tù binh được. Mày hãy giơ tay lên cao để tao lục soát.
Thằng bé làm như lời hắn bảo, mắt nó lấm lét nhìn những tên lính Đức đứng gần nó, súng ống sẵn sàng bên hông. Thằng bé nhìn Von Klaus và nói:
-         Anh trai tôi, Marco, là một người lính. Anh ấy tham chiến ở Châu Phi đánh lại quân đội Anh, anh ấy đã hy sinh ở đó.
-         Thế ai nuôi mày?
Thăng bé ngần ngừ:
-         Tôi đâu cần ai nuôi.
Von Klaus dịu giọng:
-         Tổng thống nước mày nên tự hào về mày mới phải, nếu như ông ta giờ vẫn đang cầm quyền. Mày đã nghe tin gì về Mussolini chưa?
Thằng bé hỏi:
-         Ông ta chết rồi sao?
-         Chưa chết nhưng gã đó chẳng có quyền hành gì nữa và mày cũng không cần phải chiến đấu nữa đâu.
Thằng bé hỏi:
-         Ông định giết tôi à?
Von Klaus hỏi ngược lại:
-         Mày tên gì?
-         Massimo.
-         Tại sao mày lại hỏi tao câu đó hả Massimo?
-         Bởi ông là người Đức. Người Đức đã giết cha mẹ tôi.
Von Klaus lắc đầu:
-         Không, tao sẽ không giết mày, nhưng tao sẽ ra lệnh cho mày và tao muốn mày phải thi hành lệnh của tao.
-          Lệnh gì vậy?
-         Tao muốn mày trèo lên dãy đồi kia, tìm một bụi cây nào lớn hơn bụi cây vừa nãy mày trốn. Và lần này mày nhớ nằm dán xuống đất để những người đứng ở dưới đường này không nhìn thấy mày. Liệu tao có tin tưởng rằng mày sẽ tuân theo lệnh của tao không?
-         Tuân lệnh.
-         Tốt. Mày trả lời như một người lính thực thụ vậy.
Viên đại tá gật đầu. Hắn và Massimo nhìn nhau lần cuối rồi thằng bé quay lưng chạy lên sườn đồi thoai thoải dốc.
0
CHƯƠNG 9
Một trăm đứa bé ngồi trên quảng trường dưới cái nắng như thiêu như đốt của buổi sáng sớm. Carlo Maldini đứng bên chúng, Nunzia đứng bên trái ông, cô nhìn kỹ ba khuôn mặt của Vincenzo, Angela và Franco.
Ông Maldini hỏi Vincenzo:
-         Cháu là chỉ huy hả?
-         Cháu chẳng chỉ huy ai hết, tại bọn chúng đi theo cháu.
-         Thế có nghĩa là bọn chúng đang chờ cháu ra lệnh đấy.
Ông Maldini đi ngang qua mặt Nunzia và đứng thẳng trước mặt Vincenzo:
-         Tại sao các bạn lại đi theo cháu?
-         Tại vì bọn chúng tuân phục cháu, nhưng lợi thế của cháu chỉ đến thế ấy mà thôi. Nhưng bây giờ bọn trẻ ấy muốn cháu suy nghĩ giùm cho bọn chúng nữa kia.
Angela thông báo:
-         Chúng cháu đã có kế hoạch đối phó với bọn Đức nếu chúng trở lại đây.
Ông Maldini hỏi:
-         Kế hoạch đó có bàn đến chuyện súng ống không? Hay là thấy bọn Đức đến bọn bay sẽ dàn hàng ngang đứng ngó chúng chằm chằm chờ chúng bỏ đi?
-         Chúng cháu có sao và vài khẩu súng ngắn.
Vincenzo đáp lời. Ông Maldini thôi không nhìn Vincenzo nữa, mắt ông đăm đăm hướng ra bờ vịnh với làn nước trong xanh lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ông bảo:
-         Hãy nghĩ lại đi. Nghĩ lại những ngày đầu khi bọn Đức đến thành phố Naples này. Điều đầu tiên bọn chúng làm là gì nào?
Franco đáp;
-         Chúng cướp súng của cha ông chúng cháu.
-         Đúng như thế.
Ông Maldini xác nhận. Ông nhìn qua vai Franco, khoảng hai mươi đứa trẻ đứng vây quanh họ.
-         Và bọn Đức ấy mang súng đi đâu?
Vincenzo nhìn mặt nước long lanh dưới chân cầu tàu mà không rời mắt. Ông Maldini thì thầm:
-         Cháu đúng rồi đấy. Bọn Đức ném súng xuống vịnh này.
Vincenzo hỏi:
-         Vịnh này sâu bao nhiêu?
-         Trung bình khoảng 160 mét, chỗ sâu nhất khoảng hơn 200 mét.
-         Liệu súng còn sử dụng được không?
-         Một khi các cháu lau khô, chùi sạch, tra dầu mỡ, súng sẽ sử dụng tốt như mới. Có thể hơi rỉ sét một chút nhưng không đến nỗi quá tệ đâu.
-         Làm thế nào tụi cháy lấy súng lên được chứ? Lấy được một khẩu súng lên thì người rảnh rỗi nhất cũng mất cả ngày trời, sau đó là một ngày nữa lau súng, tra dầu mỡ. Trong khi đó bọn Đức đã có thể quay trở lại trung tâm thành phố trước khi ta kịp nổ phát súng đầu tiên.
Ông Maldini nghiến răng lại nói:
-         Không chịu suy nghĩ gì cả. Vậy mà con gái ta bảo chúng bay rất thích học lịch sử đấy. Đáng lẽ các cháu phải học lại lịch sử của vùng này trước đã.
Vincenzo nhìn thẳng vào mắt ông rồi nhìn vào dãy thuyền đánh cá đang xếp hàng dài thả neo bên cầu cảng. Những mái chèo rải đầy trên nền cát trắng, phơi mình dưới ánh nắng chói chang. Nó thốt lên:
-         Dùng thuyền!
Ông Maldini mỉm cười nói:
-         Đúng rồi, dùng thuyền. Sử dụng nghề truyền thống của cha ông chúng ta. Nhưng thay vì vớt cá lên thì chúng ta sẽ vớt súng lên.
Franco hỏi:
-         Ông sẽ ở đây giúp chúng cháu chứ ạ?
-         Ta không còn hứng thú gì với chuyện đánh đấm nữa.
-         Chị sẽ giúp các em – Nunzia nói, cặp mắt nghiêm nghị - Và cha chị cũng thế.
Uống rượu ngoài này, bên bờ biển lộng gió, đối với ông còn thú vị hơn chui nhủi trong toà nhà kia. Ông Maldini trợn tròn mắt nhìn con gái một lúc lâu rồi ông quay sang nhìn Vincenzo và nói:
-         Đánh đấm với bọn Đức còn dễ hơn là làm trái ý đàn bà ở xứ Naples này.
0
 
CHƯƠNG 10
Steve Connors nằm sấp trên bãi cỏ ấm áp trên đỉnh ngọn đồi Camaldoni, anh nhìn xuống thành phố Naples phía dưới. Connors đặt ống nhòm sang một bên, anh quay lại nhìn ngang qua vịnh, ánh mắt nhìn tới những hòn đảo Ischia và Capri phía xa xa. Một lần nữa anh quay lại ngắm cái nơi trước đây đã từng là một thành phố sầm uất. Con chó ngao khổng lồ nằm ngay bên cạnh anh ngủ thật ngon giấc. Willis và Taylor nằm đàng sau anh, cả hai đều vừa uống nước vừa nhấm nháp mấy cái bánh bích quy khô cứng.
Connors đến Naples để chứng kiến cảnh hoang tàn nhưng anh không thể tưởng tượng nổi thành phố ấy đổ nát đến mức nào. Anh rùng mình nhìn cảnh hoang tàn trải dài mút mắt anh. Anh nằm đó nhìn đống gạch vữa khổng lồ trước đây từng là một thành phố nên thơ suốt một giờ đồng hồ liền. Sau đó anh lùi khỏi đồi dốc đứng, cất chiếc ống nhòm nhỏ vào sau ba lô. Anh nói với Willis và Taylor:
-         Chưa bao giờ tớ thấy những nhà thờ to như thế này. Chắc có thể nhốt một nửa dân số của Covington vào trong một nhà thờ kiểu đó. Đâu đâu cũng thấy nhà thờ. Người dân sống ở dưới những con phố kia chắc một ngày phải cầu nguyện ít nhất là một tiếng đồng hồ.
Rồi anh quay người nhìn lại đám khói đang bốc lên từ những toà nhà cao tầng cháy nham nhở:
-         Willis à, cầu nguyện nhiều như vậy chẳng giúp được gì nhiều cho họ phải không nào.
Willis nói thành thật:
-         Trước đây em chẳng bao giờ cầu nguyện, nhưng từ khi bắt đầu đưa tay đón nhận khẩu phần ăn của lính, em phải cầu nguyện thôi. Còn bây giờ trước mỗi bữa ăn em không thể bỏ qua nghi thức đó.
-         Từ từ chúng ta cũng kịp nếm những món ăn nổi tiếng của Ý như thế sao?
Taylor hỏi, tay giơ cao bi đông rượu.
Phát súng đầu tiên sượt qua tảng đá bên cạnh, cách chân của Connors khoảng hai centimét, phát đạn thứ hai găm vào thân cây chỗ lúc nãy Willis và Taylor vừa ngồi ăn uống khiến cả hai phải chạy nhào đi tìm chỗ ẩn nấp.
-         Cậu thấy gì không?
Taylor gào lớn ,tay lăm lăm khẩu súng trường. Anh nấp vào sau một tảng đá lớn. Connors nhìn con chó đầu đang quay sang phía bên phải, mắt nhìn trừng trừng về hướng đó. Anh bảo:
-         Súng nổ từ mấy bụi rậm đàng kia.
-         Làm sao cậu biết?
Willis hỏi, anh nằm dán xuống đất, cái cây là vật che chắn duy nhất của anh.
Connors nhảy xuống vách đá, lao mình úp xuống đất, núp sau dải đá thấp. Thêm hai phát đạn nổ dòn, mỗi phát rạch một đường trên vách đá.
-         Cho tới lúc này tớ chỉ nhìn thấy có mỗi một tên thôi nhưng chắc chắn còn có nhiều tên nữa.
Taylor nâng súng nã đạn vào những bụi cây cao hơn so với những bụi cây xung quanh. Connors gào lên:
-         Phải tiết kiệm đạn chứ. Có nhìn thấy gì thì hẵng bắn, chứ đừng bắn hú hoạ.
Taylor kiểm tra băng đạn:
-         Nếu có gã bắn lén ở dưới đó tôi sẽ bắt gã phải chui ra, tới lúc đó cậu hãy tới đó mà bắt hắn.
Connors gật đầu, anh hỏi Willis:
-         Cậu bắn súng có khá không vậy?
Willis cắm đầu xuống đất:
-         Em băng bó vết thương giỏi hơn bắn súng.
Taylor hỏi, quỳ gối xuống đất chuẩn bị chạy ra khỏi chỗ nấp:
-         Cậu thấy lính Đức hay là du kích Ý vậy?
Connots đáp:
-         Người Ý không lý gì lại bắn chúng ta. Tôi đoán là quân biệt kích của Đức đấy.
Tiếng chó sủa khiến Connors quay sang bên trái và anh bắn ngay hai loạt đạn khi phát hiện thấy nòng súng lấp lánh của một khẩu súng nữa. Phát đạn thứ hai của anh đã trúng đích. Anh thấy một tên lính Đức ngã sóng soài sau phát đạn. Taylor ngoái đầu nhìn lại rồi vẫy tay với Connors.
-         Willis yểm trợ cho tớ, còn cậu bắn tiếp để cho tên kia ló mặt ra.
Connors bảo:
-         Mặt trời ngay sau lưng hắn, cậu sẽ bị chói mắt cho mà xem. Hắn nhìn cậu rõ hơn là cậu nhìn thấy hắn.
Taylor nói:
-         Nhưng chúng ta không thể đợi. Rất có thể bọn chúng đông hơn hai đứa và đồng đội chúng đang kéo tới. Tớ chạy đây, bắn yểm trợ cho tớ.
Connors hít một hơi thật sâu, gật đầu:
-         Thế thì chạy đi.
Willis và Connors nã đạn về phía dãy đá phía dưới trong lúc Taylor chạy lên đỉnh dốc. Anh núp mình vào những thân cây trên đường chạy, mắt vẫn tìm kiếm tên lính Đức đang giấu mặt. Con chó lớn đứng bên cạnh Connors, một tảng đá lớn che chắn trước mặt. Willis bảo:
-         Ngồi đây em chẳng thấy gì để mà ngắm bắn cả. Em sẽ chạy tới cái cây phía bên tay phải kia.
Connors bảo:
-         Hãy ngồi yên tại chỗ, chờ cho Taylor chạy lên đến đỉnh đồi kia đã rồi hai chúng mình đi sau.
Willis nói:
-         Ở nhà có mẹ em suốt ngày cằn nhằn. Tới đây lại gặp anh mặt mũi lúc nào cũng lo lắng, suốt ngày chẳng thấy nụ cười. Gặp anh ở ngoài xe sau nhé.
Willis đứng thẳng, chạy thật nhanh tới cái cây lớn gần đó, xung quanh gốc cây có những bụi cây nhỏ xum xuê. Connors hét lên:
-         Willis!
Tay y tá quân đội giẫm chân lên con đường phủ đầy cỏ xanh. Phần đất dưới chân của Willis cây cối rậm rạp nên cậu không nhìn thấy đã chôn sẵn ở đó. Tiếng nổ hất Willis lùi trở lại. Cả khuôn ngực của cậu rách toạc.
Connors thở không ra hơi, anh gào lên:
-         Thôi, chết rồi!
Quay lại chỗ Taylor đang đứng, anh thấy Taylor đứng đối mặt với vị trí của tên lính trinh sát Đức. Taylor núp thật kỹ dưới thân cây, anh đang cẩn thận ngắm qua ống ngắm của khẩu súng. Anh đang cân nhắc xem nên nổ vào đâu cho trúng. Một tràng đạn nổ dòn, khói bốc lên từ chỗ Taylor đang đứng.
Connors thấy tên lính Đức ra khỏi chỗ nấp của hắn. Anh giương súng lên và thấy đầu tên lính nằm trọn trong ống ngắm và nhận ra Taylor cũng đang tiến về tên lính kia. Súng của Taylor đang nhả đạn. Connors ngắm cho tới lúc anh chắc chắn phát đạn của mình sẽ đi trúng đích. Và rồi cả anh lẫn tên lính Đức kia cùng bóp cò súng một lúc. Cả hai đều bắn trúng mục tiêu.
Phải đến chiều muộn ngày hôm đó, Scott Taylor mới trút hơi thở cuối cùng.
Connors ngồi đó ôm chặt lấy Taylor, anh chẳng còn biết phải làm gì hơn. Anh không thể dùng máy bộ đàm gọi về sở chỉ huy xin quân cứu viện. Chiếc máy bộ đàm đã bị bắn nát cùng với Willis. Nhưng nếu máy đó còn nguyên vẹn, anh cũng không thể tiết lộ chỗ ẩn nấp của mình cùng với những tên lính Đức đang còn ẩn nấp ở đâu đó. Thế nên Connors chỉ còn biết ngồi ở đó và lắng nghe những lời trăn trối cuối cùng của đồng đội. Taylor kể cho anh nghe rất nhiều về những kỷ niệm của anh trong những giờ phút ngắn ngủi của cuối đời. Connors húa khi về Mỹ sẽ tìm đến nhà của Taylor, kể cho người thân của Taylor nghe rằng anh đã chiến đấu dũng cảm như thế nào.
Taylor bảo:
-         Cám ơn cậu đã ở lại với tớ.
-         Nếu cậu là tớ, cậu cũng sẽ làm giống như tớ thôi.
-         Cậu nhớ đừng liều vì tớ nữa nhé.
Taylor nói, mắt anh nhắm nghiền trước khi hồn lìa khỏi xác.
0
CHƯƠNG 11
Mười hai chiếc thuyền nhỏ, xếp thành hàng hai, mỗi thuyền chở bốn người chậm chạp rời xa bờ biển trên cảng Santa Lucia.
Ông Maldini và Vincenzo ngồi trong chiếc thuyền dẫn đầu. Ông Maldini sử dụng thành thạo hai mái chèo, đưa bọn trẻ lướt đi trên mặt nước phẳng lặng. Những chiếc xuồng chở nặng, những tấm lưới đánh cá lớn được cuộn tròn giữa xuồng. Mặt trời nóng bỏng, thuyền của họ ra khơi đúng lúc nóng bức nhất trong ngày.
Maldini rút mái chèo lên khỏi mặt nước, đặt ngay ngắn trong xuồng. Ông nói:
-         Tới nơi rồi. Món súng ống kia hiện đang nằm dưới nước, phía dưới xuồng của chúng ta.
Vincenzo hỏi:
-         Chúng cháu buông lưới được chưa ạ?
Thằng bé dạng hai chân đứng vững trong lòng thuyền. Ông Maldini nói:
-         Đó là điều ta sắp làm đây. Nhưng kể từ lúc này ta không còn là chỉ huy nữa.
Vincenzo khoanh tay, cố đứng vững khi con thuyền chòng chành bởi những làn sóng nhỏ.
-         Thả lưới xuống đi. Nâng mép lưới lên qúa đầu và đứng cho thật vững.
Nó gào lên với đám trẻ trong các thuyền khác.
Bon trẻ nhăn mặt và càu nhàu khi phải thực hiện công việc đòi hỏi sức lực của những người trưởng thành. Vincenzo hỏi:
-         Lưới sẽ xuống dưới làn nước bao sâu?
-         Cứ thả sâu xuống khoảng ba mươi mét, nó còn có độ co dãn mà.
-         Nhưng lưới không đủ bền chắc để kéo súng lên.
Ông Maldini nhìn sững Vincenzo, nét mặt ông lộ vẻ phân vân rồi ông quay lại đám trẻ đang ra sức vật lộn với những tấm lưới.
-         Luồn dây thừng vào miệng lưới, nối các tấm lưới của các thuyền lại với nhau. Ta và thuyền của Franco sẽ là hai mắt xích cuối cùng.
Vincenzo xé chiếc áo nó đang mặc nối thành một sợi dây bền chắc, cột lại ở mé xuồng rồi nó theo dây lặn xuống biển. Ông Maldini cũng đã xuống nước. Ông bơi lại cái xuồng cuối cùng rồi ông dừng lại, quay lưng về phía Vincenzo. Ông la lớn:
-         Hãy bảo một thằng  bé nhỏ tuổi nhất bơi vào bờ. Chúng ta cần thêm vài chàng trai nữa, lặn xuống biển tìm được càng nhiều súng càng tốt. Chúng ta cũng cần nhiều người lặn xuống biển để nâng đáy của tấm lưới lên.
Chẳng bao lâu sau các con thuyền đã đậu san sát. Những con thuyền ấy nhất loạt bồng bền trên sóng và hơn bảy mươi lăm cậu bé đã có mặt cả trên thuyền lẫn dưới nước.
Ông Maldini đứng trên mui ngay giữa chiếc thuyền đầu tiên, một tay nắm phần trên tấm lưới, Vincenzo, Franco và Angela đứng bên cạnh nắm lấy mép lưới, chờ ông ra lệnh.
-         Chúng ta quăng lưới càng cao thì nó sẽ đi càng xa. Lưới phải được căng ra trước khi quăng ra ngoài thuyền. Thân lưới phải bồng lên như lá cờ bay trong gió vậy. Angela, con la lên thật to để mọi người cùng phối hợp nhé.
Angela đứng thật vững, tay nắm chặt lấy mép lưới.
-         Nước Ý muôn năm!
Cô bé la lên rồi dùng hết sức mạnh cùng với ba người bạn khác ngả người ra phía sau, quăng mạnh tấm lưới ra phía trước. Mọi người ngồi torng thuyền nhìn tấm lưới bay lên không trung rồi nhẹ nhàng buông rộng phủ một khoảng nước mênh mông.
Franco hỏi:
-         Chúng ta làm thế đã đạt chưa? Lưới quăng vậy đã đủ xa chưa?
Ông Maldini xoa đầu thằng bé, nhìn tấm lưới chậm rãi chìm xuống đáy vịnh. Ông nói:
-         Cháu làm tốt lắm Franco.
Ông quay đầu sang những đứa trẻ khác:
-         Các cháu giỏi lắm nhưng chúng ta còn phải quăng bốn tấm lưới nữa và sau đó mới là công việc khó nhất, đó là kéo lưới lên.
-         Chúng cháu chỉ có ba tấm lưới kéo súng lên thôi ạ.
Angela nói khi đưa mắt một vòng kiểm tra các lòng thuyền. Ông Maldini bảo:
-         Đúng rồi, nhưng bác vừa bảo hai cậu bé nữa mang thêm xuồng và một tấm lưới nữa ra khơi. Bảo chúng tránh xa nơi này và cố đánh cho được nhiều cá, đủ cho cả một đạo quân của chúng ta ở cuối khu vịnh này. Chúng ta có cả một đội quân đang chờ lương thực đấy.
0
CHƯƠNG 12
Con chó ngao to lớn đi xuống dốc thoai thoải rồi thủng thỉnh đi dọc theo con đường mòn hẹp. Connors đi theo nó. Một tay giữ dây quai của khẩu súng trường đang khoác trên vai, bộ quân phục của anh đầy vết bẩn và vết máu. Anh vừa chôn Willis và Taylor trên đỉnh dốc, hai ngôi mộ nhìn ra vịnh Naples. Anh dùng mũ sắt  và súng trường của họ làm vật đánh dấu vị trí của hai ngôi mộ. Chiếc xe Jeep đậu dưới một gốc cây thông già. Trời gần như đứng gió, nhưng cái nóng đã dịu xuống khi bóng tối kéo đến. Con chó ngao thấy mấy thằng bé trước cả Connors, nó chạy về phía chúng sủa ầm ĩ. Connors tháo khẩu súng trường trên vai xuống, nhanh chân chạy lại chiếc xe jeep. Đến giữa đường anh phải ngừng lại, bốn thằng bé đang ngồi trên chiếc xe của anh. Một trong bốn đứa đã đặt được tay vào chùm chìa khóa xe. Bốn thằng con trai gầy gò, quần áo bẩn thỉu, tóc tai rối bời, không đứa nào trông quá mười bốn tủôi. Connors nhìn từng đứa và nhận được những cái nhìn hoảng hốt đáp trả. Con chó ngao đã gác mõm lên thành xe gầm gừ. Nó sẵn sàng phóng vọt lên xe khi nhìn thấy bất cứ cử động nào. Connors hỏi:
-         Có đứa nào nói được tiếng Anh không?
Thằng bé lớn nhất trong bọn lắp bắp:
-         Có ạ, cả bốn đứa cháu đều nói được tiếng Anh. Đầu tiên chúng cháu học tiếng Naples trước, rồi tiếng Ý và sau đó là tiếng Anh.
Thằng bé ngồi ở hàng ghế đầu hỏi:
-         Tại sao chú lại có mặt ở nơi đây?
Connors đáp:
-         Ta cũng định hỏi một câu tương tự với các cháu. Và bởi vì ta có vũ khí trong tay nên các cháu phải trả lời câu hỏi của ta trước.
Thằng bé kia lại đáp:
- Chúng cháu đi tìm bọn Đức xem thật sự chúng có quay trở lại Naples hay không. Sau đó chúng cháu sẽ báo cáo lên trên.
Connors hỏi:
-         Báo cáo cho ai?
Cả bốn đúa đưa mắt nhìn nhau rồi sợ hãi đưa mắt nhìn chàng lính Mỹ cùng con chó ngao.
-         Cho những người khác trong nhóm của tụi cháu.
Thằng bé cầm chùm chìa khoá trong tay trả lời. Connors bảo:
-         Hãy về nói với những người của các cháu rằng bọn Đức đang quay trở lại rồi đấy. không biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra.
Anh đến gần chiếc xe jeep hơn, đã khóac súng lên vai.
-         Nếu cháu không lầm thì tụi cháu sẽ chống trả.
Thằng bé đứng gần nhất nói, mắt nó đen láy, khuôn mặt tròn trịa dễ thương  và ngây thơ. Tóc của nó được cắt ngắn gọn gàng. Connors tròn mắt nhìn thằng bé:
-         Chống trả bọn Đức sao?
Thằng bé nói:
-         Chú cũng làm thế mà, tại sao bọn cháu lại không thể làm giống như chú?
-         Bọn Đức có thói quen hay quay lưng lại bắn người đàng sau, đó là lý do khiến ai cũng phải cân nhắc.
Mấy thằng bé im lặng một lát rồi chúng nhìn lên dãy đồi thấp nơi vừa diễn ra trận đấu súng giữa những chàng lính Mỹ và quân trinh sát của Đức. Thằng bé ngồi ở phía sau hỏi:
-         Con chó của chú hiểu tiếng Ý không?
Connors nói:
-         Nó chỉ hiểu mỗi ngôn ngữ đó mà thôi.
Thằng bé ngồi ở phía sau mỉm cười búng ngón tay:
-         Lùi ra!
Rồi nó cố lấy giọng cứng rắn:
-         Ngồi xuống!
Con chó ngao hạ cằm, bước lùi ra khỏi chiếc xe jeep và ngồi xuống, lưỡi thè lè ra ngoài, nước dãi nhiễu xuống đất.
-         Thì ra nó cũng biết nghe lời, chú sẽ nói tên của nó cho các cháu nếu như chú biết. Nhưng thôi, để chú nói tên của chú trước, chú là Connors.
Thằng bé ngồi ở ghế sau nói:
-         Cháu là Dante, người bạn ngồi cạnh cháu đây là Claudio và hai người ngồi ở hàng ghế trước là Gaspare và Pepe.
-         Thế toàn bộ nhóm của cháu có khoảng bao nhiêu người?
-         Khoảng hai trăm.
Dante vừa nói vừa bước xuống xe:
-         Cũng có thể khoảng hai trăm rưỡi.
-         Toàn là con trai à?    
-         Cũng có mấy đứa con gáii, chỉ toàn là những đứa không có gia đình ở đây thôi ạ.
-         Ở chỗ các cháu có thấy người lính Mỹ nào không?
Connors hỏi, dựa lưng vào chiêc xe jeep, cởi mũ sắt bỏ lên nắp xe.
-         Chú là người đầu tiên cháu được gặp đấy.
Dante nói.
-         Thế còn quân kháng chiến Ý thì sao? Có ai ở chỗ các cháu không?
-         Không, họ rút ra khỏi thành phố trước khi có lệnh tản cư.
-         Thế chúng cháu là tù binh của chú à?
Claudio hỏi, lần đầu tiên nó lên tiếng. Nó là đứa bé nhất, thằng bé có mái tóc vàng như râu bắp, trông nó sợ hãi và hoảng hốt, người cứ dán chặt vào thành xe. Connors nói:
-         Sao chúng ta không cùng có chung một quan điểm nhỉ? Thế này nhé, từ bây giờ trở đi, chúng ta hợp tác bên nhau, chí ít là cho tới khi chúng ta chứng kiến những sự kiện sắp xảy cho thành phố Naples. Đội của chúng ta sẽ chỉ có chú, con chó và bốn người các cháu.
Dante hỏi:
-         Vậy chú muốn chúng cháu làm gì đây?
-         Nếu không có chuyện gì rắc rối thì hễ chú ở đâu thì các cháu ở liền bên cạnh. Hiểu chưa nào?
-          Hiểu rồi ạ.
Dante trả lời và ba đứa kia gật đầu đồng tình.
-         Tốt.
Connors nói và quăng ba lô lên ghế sau của chiếc xe jeep, anh đặt ba lô giữa Dante và Claudio rồi vỗ nhẹ vào đầu gối của cậu bé nhỏ tuổi nhất.
-         Trong khi xe đang chạy, cháu hãy ngồi vào trong lòng của bạn cháu đi. Chúng ta cần thêm một chỗ nữa cho con chó. Như thế hai cháu ngồi ở hàng ghế phía sau đều phải dồn lên ghế phía trước.
Chờ bọn trẻ đổi chỗ xong, Connors búng tay ra hiệu cho con chó leo lên xe ngồi ở hàng ghế sau.
-         Chú gọi con chó là gì vậy?
Claudio hỏi, nó đặt một tay lên đầu con chó ngao.
-         Chú chỉ biết mỗi một cái tên Ý trước khi gặp các cháu, Benito, thế nên ta hãy gọi con chó là Benito.
-         Chú lấy tên của vị thống chế Ý đặt tên cho con chó này sao? Nếu ở Naples chú có thể bị mất mạng vì dại dột như thế rồi đấy.
Connors đáp:
-         Chúng ta đâu có ở Naples? Ờ mà chưa đến đó thì đúng hơn.
Pepe thắc mắc:
-         Chú vẫn chưa nói cho chúng cháu biết chúng cháu phải làm gì.
Connors giao nhiệm vụ:
-         Con Benito hiểu ngôn ngữ của các cháu nhiều hơn những lời chú nói. Tốt hơn hết các cháu bảo nó đừng có tè bậy ra xe của chú.
 
0
CHƯƠNG 13
Ngày 26/9 cảng Santa Lucia
Mặt trời màu cam lơ lửng trên mặt nước phía xa, các cậu bé đứng thành hàng dọc theo dãy đá lởm chởm bên bờ biển. Ở giữa biển, bốn chiếc xuồng gỗ đang nghiêng sang bên phải vì trong lòng thuyền chất đầy những tấm lưới nặng. Xung quanh thuyền, đám trẻ trai và gái bơi như những tay cứu hộ. Đứa nào cũng nắm lấy mép lưới. Vincenzo đứng giữa một chiếc thuyền, nhìn xuống mặt nước, chăm chú theo dõi những tấm lưới đang được lôi lên trên mạn thuyền. Tấm nào cũng đầy súng trường  và súng ngắn. Bọn trẻ đứng quanh nó và cả những đứa đang đứng trên bờ và những đứa đang bơi dưới nước đều nhìn chằm chằm một cách đầy lạ lẫm vào những khẩu súng vừa được vớt lên.
Vincenzo hỏi ông Maldini:
-         Tất cả số vũ khí ở đây hết sao?
Ông Maldini đáp:
-         Bấy nhiêu là đủ cho các cháu rồi đấy.
-         Cám ơn ông.
Ông Maldini ngẩng đầu nhìn mấy thằng bé đang bơi dưới nước. Ông bảo:
-         Nhìn chúng kìa, chúng mừng quá đấy. Thấy những khẩu súng, giờ chúng tin tưởng có thể chống trả lại với bọn Đức. Nhưng mà rồi đa số các thành viên trong đám trẻ kia sẽ mất mạng, lúc đó cháu sẽ nguyền rủa ông chứ không phải cảm ơn ông nữa đâu.
Ông nhìn Vincenzo một lát, thấu hiểu ánh mắt đầy lo âu của nó chiếu vào ông và ông có cảm giác mình đang mang một gánh nặng khó bề gánh vác nổi. Ông nhìn quanh, thấy những khuôn mặt rạng rỡ trên mặt nước. Ông Maldini học được một điều trong thời chiến. Có những lúc sức sống bùng lên thật mãnh liệt và những khoảnh khắc ấy ghi lại dấu ấn sâu đậm trong trí nhớ của mọi người. Còn lại trí nhớ của con người ta chỉ là đầy ắp những nỗi kinh hoàng. Thật là hiếm khi sống trong chiến tranh người ta có thể cười được và cảm giác được mình đang sống, đang tồn tại với một niềm hy vọng chứa chan. Ông Maldini biết cái giây phút ông nhìn xuống mặt những đứa trẻ thơ ngây cầm khẩu súng vừa vớt dưới đáy vịnh lên, khuôn mặt rạng rỡ nụ cười là ông hiểu mình sẽ không bao giờ quên được khoảnh khắc này. Ông nói với Vincenzo:
-         Phước bất trùng lai, hoạ đơn vô chí. Tuy nhiên mỗi ngày còn được sống là mỗi ngày đáng để được cho chúng ta ăn mừng.   
Franco nhìn ra ngoài bờ biển, một chiếc xuồng đang chậm rãi tiến dần về phía họ. Bốn thằng bé đang gò lưng đẩy mái chèo đưa chiếc thuyền chở đầy cá tôm vào bờ. Franco bảo:
-         Hãy đốt lửa nướng cá tươi mở màn cho bữa tiệc mừng thắng lợi đi nào.
0
CHƯƠNG 14
Connors cho xe chạy chậm rồi dừng lại bên con đường Via Toledo. Nhìn qua tấm kính chắn gió, anh thấy hai thằng nhãi đang chặn trước mũi xe anh. Một đứa gác chân lên một trái bóng tròn bơm thật căng. Cả hai trông chỉ khoảng tám tuổi, quần áo chúng mặc đã sờn rách. Đứa nhỏ hơn mỉm cười nhìn Connors, bàn chân trần lăn trái bóng bằng những ngón chân một cách thành thạo. Nó có mái tóc vàng óng ả và nước da rám nắng màu bánh mật.
Dante ngồi từ hàng ghế sau lên tiếng:
-         Tránh đường ra đi, chú ấy là người Mỹ. Chú ấy đến đây giúp chúng ta.
-         Đó là hai người trong đội của các cháu ư?
Connors hỏi, mắt không rời cậu bé đang tươi cười. Gaspare đáp:
-         Dạ phải, đứa lớn tên là Roberto, nó chẳng tin ai cả đâu, ngay cả tụi cháu là bạn thân nhất của nó, nó cũng chẳng tin nữa là.
Dante nói:
-         Đứa kia là Fabrizio, nó yêu mến tất cả mọi người, nó thích bóng đá. Nó đá banh giỏi lắm. Có thể một ngày nào đó nó sẽ chơi trong đội tuyển của Naples.
Connors xuống xe chìa tay ra:
-         Vậy mà chú không biết là ở Ý người ta cũng choi bóng đá cơ đấy.
Fabrizio trả lời:
-         Ở đây ai cũng chơi bóng đá cả, đó là môn thể thao phổ biến trên toàn quốc. Mỗi thành phố đều có đội tuyển riêng, và từ các đội tuyển thành phố người Ý chọn ra một đội đại diện cho nước Ý đi thi đấu với các quốc gia khác.
Connors hỏi:
-         Có bao giờ đội bóng của Ý đấu với đội bóng của Mỹ chưa?
Pepe nói;
-         Chưa bao giờ chúng cháu nhìn thấy đội bóng của Mỹ, nhưng nếu như quả thật Mỹ có một đội tuyển thì đội tuyển Ý sẽ chiến thắng thôi. Có thể các chú chiến đấu giỏi nhưng không ai qua nổi dân tộc Ý với bóng đá đâu.
-         Cái cậu bé kia là cầu thủ giỏi nhất trong đội bóng đá của các cháu đấy ư?
Connors hỏi, chỉ vào Fabrizio khi anh đến gần cậu bé. Claude nói với vẻ tự hào:
-         Không ai chơi giỏi hơn nó đâu. Nó làm chủ được trái banh và làm chủ được sân banh. Nó chạy nhanh như chim bay, không sao đoạt banh từ chân nó được.
Connors dừng lại trước mặt Fabrizio:
-         Nghe mọi người nói thì cháu là một cầu thủ bóng đá đầy tài năng rồi. Thế cháu có giỏi như bạn cháu nói không?
Fabrizio gật đầu, hết nhìn chàng lính Mỹ lại tới nhìn con chó ngao. Thằng bé nói:
-         Có thể có dịp hai chú cháu mình cùng chơi bóng.
Connors đáp:
-         Thế thì vui lắm. Ai cũng cần có chút thời gian để chơi đùa. Nhưng chú chưa thật sự tin lắm nếu chưa nhìn thấy tận mắt.
Fabrizio vần xoay trái banh với đầu gối, cánh tay, vai, ngực và đầu. Connors lùi một bước nói với đám trẻ đứng sau lưng anh.
-         Cậu bé này khá đây, nhưng đây là kiểu chơi bóng ngoài bãi biển.
-         Chú nói thế là sao, chú lính Mỹ?
Dante hỏi, nó nhảy ra khỏi xe chụp lấy trái banh và ném về phía Connors.
-         Đây không phải là bóng chơi ngoài bãi biển đâu, trái banh đá thật sự đấy.
Connors lắc đầu nói:
-         Không giống với kiểu chơi bóng đá chú thường thấy và có lẽ kiểu bóng mà người Ý các cháu hâm mộ và chơi rất giỏi hoàn toàn khác với kiểu chơi bóng của đồng bào chú.
-         Thế các chú chơi bóng ra làm sao ạ? – Fabrizio hỏi.
Connors gác một chân mang giày cao cổ lên cửa xe jeep.
-         Đó là loại thể thao người Mỹ thường chơi vào mùa thu. Khi thời tiết trở nên lạnh hơn, gió thổi mạnh hơn từ vùng cao nguyên xuống đồng bằng là lúc mở đầu mùa chơi bóng. Chú thích ngửi mùi không khí đó. Chú thích chạy trên nền đất cứng ôm trái banh trong tay, các cầu thủ đối phương sẽ cản đường chú, không cho chú đến được gôn. Bản thân môn bóng đá Mỹ mà chú thích, chú thích thời tiết khi mà mùa chơi bóng đến.
Dante nói:
-         Ở Ý ngày nào cũng có thể chơi đá banh, không cần phải tính đến tháng nào, không cần để ý đến thời tiết. Nhưng đối với bọn cháu ở đây, ngày tuyệt vời nhất để chơi đá banh là ngày Chủ nhật. Đặc biệt là sau khi đi lễ nhà thờ về va trước khi dự buổi liên hoan gia đình vào trưa ngày Chủ nhật.
Gaspare nói thêm:
-         Trên tất cả các quảng trường trong thành phố và trong tất cả các công viên, người ta kéo đến rất đông để xem bọn trẻ chơi bóng đá.
Claudio thêm vào:
-         Cả thành phố thật sôi động, thật vui vẻ. Thường thì cả cha cháu và mẹ cháu đều đến cổ vũ cho trận đấu và cháu luôn luôn sung sướng  được nhìn thấy nụ cười nở trên môi người thân. Đó là ngày hạnh phúc nhất của tất cả mọi người.
Pepe buồn rầu kết luận:
-         Giờ thì Chủ nhật cũng như những ngày khác thôi.
Dante hỏi Connors:
-         Chú lính Mỹ ơi, có bao giờ chú mất một người thân nào chưa? Một người mà chú yêu mến nhất ấy?
Connors lắc đầu:
-         Có. Nhưng không giống như các cháu, chiến tranh không cướp đi tính mạng những người họ hàng máu mủ ruột thịt của chú. Nhưng khi người ta xông pha ngoài trận mạc, như chú và các bạn của chú, thì người ta thấy gần gũi nhau hơn. Chỉ sau vài trận đánh, chú và các đồng đội đã xem nhau như anh em ruột thịt. Nhưng một ngày, đạn vãi khắp nơi, hay một trái bom phát nổ, những người bạn thân ấy thiệt mạng và các người lính như chú phải mất một quãng thời gian thật dài mói tìm lại cho mình được những người bạn mới.
Fabrizio bước lên cạnh anh, túm lấy gấu áo anh mà giật:
-         Cháu sẽ là bạn của chú và là bạn của con chó kia nữa.
Connors mỉm cười cúi xuống trước mặt Fabrizio, anh nhặt trái banh lên, giữ nó trong tay.
-         Nó không phải là con chó của chú đâu. Nó và chú chỉ mới làm quen với nhau và đi  cùng nhau một đoạn thôi. Nhưng chú nghĩ nó cũng mừng không kém chú khi có được một người bạn như cháu.
Fabrizio lấy trái banh lại.
-         Vậy cháu sẽ dậy chú chơi bóng đá, cháu sẽ huấn luyện chú trở thành một cầu thủ Mỹ giỏi nhất ở Naples.
-         Suy cho cùng, cuộc chiến này cũng mang lại một điều gì đó tốt đẹp đấy chứ.
Anh nói và xoa đầu Fabrizio. Anh nhìn Roberto, thằng bé cứ nhìn xuống đất mãi. Connors đến trước mặt nó mà nó vẫn không nói lời nào. Connors hỏi:
-         Thế còn cháu thì sao? Cháu có muốn huấn luyện chú thành một cầu thủ bóng đá giỏi không?
Dante đỡ lời:
-         Bạn ấy chẳng nói đâu. Bạn ấy chỉ nghe mà không nói gì cả.
Connors hỏi:
-         Sao lại thế?
Pepe trả lời:
-         Gia đình của bạn ấy mang tư tưởng chống đối Mussolini, khi quân Đức tới, những người ủng hộ bọn chúng đã chỉ điểm những người trong gia đình bạn ấy cho bọn Đức biết.
Dante nói thêm:
-         Và ngay đêm hôm sau quân Đức đến nhà họ, đánh thức họ dậy, giết sạch mọi người trừ Roberto. Chúng để bạn ấy ở lại một mình. Kể từ ngày đó đến nay, bạn ấy không nói đến nửa lời.
Fabrizio bảo:
-         Chúng cháu chăm sóc Roberto, nó là bạn của chúng cháu cũng như chú vậy.
Connors đầy thông cảm vỗ lên vai Roberto, rồi anh leo vào ngồi sau tay lái:
-         Lên xe đi các cháu. Đã tới lúc chú phải đi gặp những người khác trong đội của các cháu rồi đấy.
0
CHƯƠNG 15
Củi cháy rực, đống lửa lớn chiếu sáng cả một vùng. Họ đang ngồi trên những bậc cấp bằng đá của viện bảo tàng đã được xây dựng từ nhiều thế kỷ nay. Lưng họ quay ra phía biển. Ba thằng bé đang cùng đồng ca hát một bài dân ca ngộ nghĩnh. Trên con đường nhỏ, dẫn vào toà nhà, xếp đầy những khẩu súng trường và súng ngắn. Súng đang khô dần dưới cái nóng của những đống lửa đốt rải rác và trong bầu không khí ấm áp của ban đêm.
Hơn một trăm đứa trẻ ngồi rải ra trên một mặt bằng rộng lớn, chúng đốt bốn đống lửa to, ngọn lửa bốc cao. Đêm kéo dài thật lâu, với món cá tươi được nướng trên ngọn lửa. Hơn nữa, món cá được dùng chung với rượu vang hảo hạng được lấy lên từ tầng hầm của toà nhà.
-         Thấy bọn trẻ cười tươi, tôi lại thấy vui làm sao.
Nunzia nói. Cô ngồi trước đống lửa lớn nhất được đốt lên giữa con đường dẫn vô toà lâu đài. Một chiếc lon bằng sắt đựng đầy rượu để bên cạnh chân cô.
-         Ít nhất thì ta cũng còn có một đêm vui như vậy – Franco nói – Thú vị biết bao, nụ cười nở trên môi, tay trong tay trong tình thân ái và trong tâm trạng phấn chấn với cái bụng no nê.
-         Phải, lâu lắm rồi chúng cháu mới được vui như thế này. Phải mất bao lâu nữa mới chuẩn bị xong súng ống?
Vincenzo hỏi, thằng bé nằm dài trên nền đá, hai tay lót dưới đầu làm gối. Ông Maldini trả lời:
-         Khi trời sáng súng sẽ khô hết. Sau đó còn phải lau súng, nếu ta tìm được chút dầu bôi trơn cho súng thì còn tốt hơn nữa.
Nunzia nhìn sang quảng trường bên kia, cô thấy chiếc xe jeep bật đèn pha sáng quắc đang chạy vào quảng trường và dừng lại trước một bức tượng lớn bằng đồng. Cô nhìn thấy một người lính bước ra khỏi xe và di vào giữa quảng trường. Một con chó lớn đi sát theo gót anh. Anh quay đầu nhìn cô và mắt họ thoáng gặp nhau trong một phút. Nunzia nói giọng bình tĩnh:
-         Cuối cùng thì quân đồng minh Mỹ cũng đã đến. Ít nhất thì ta cũng gặp được một người trong số họ.
 
*
Connors và con chó ngao chậm rãi đi qua đám trẻ đứng ngồi rải rác. Khi anh bước gần đến đống lửa, anh thấy một ông già tiến về phía anh, tay cầm một ly rượu nhỏ. Connors hỏi:
-         Bác là chỉ huy ở đây à?
Ông già nhún vai:
-         Bọn chúng còn không dám giao cho tôi nhiệm vụ pha cà phê nữa là.
-         Vậy ai là chỉ huy?
Ông già uống nốt chỗ rượu còn lại trong ly.
-         Đó, đó là thằng bé mặc áo dài tay đứng đàng kia.
Connors nhìn qua đống lửa bên góc tối cạnh đài phun nước. Anh hỏi:
-         Thằng bé đang đứng với một cô gái kia ư?
-         Phải.
Ông Maldini đáp. Connors hỏi lại:
-         Bác đùa phải không ạ? Nó còn nhỏ xíu mà. Thế những người khác đâu cả rồi?
-         Người khác nào?
Ông Maldini hỏi và dẫn Connors về phía Vincenzo và Nunzia.
-         Ai cũng được, miễn là người lớn ạ.
Anh nhìn xuống đám trẻ đang bận rộn dùng giẻ lau khô những khẩu súng ngắn và súng trường.
-         Ý cháu muốn nói là quân du kích đấy bác ạ. Hoặc là những người lính Mỹ đến giúp họ ấy. Chẳng lẽ chỉ có mình bác là người lớn ở đây?
-         Để con gái tôi giải thích với cậu, cái thứ người lớn như tôi thì làm được trò trống gì. Nhưng phải, ở đây chỉ có mình tôi đủ tuổi gia nhập quân ngũ.
-         Chuyện gì xảy ra ở đây thế này?
Connors vừa hỏi vừa chỉ những đứa trẻ đang lau súng.
-         Mấy khẩu súng kia dùng để làm gì vậy?
Ông Maldini đáp:
-         Bọn chúng đang ráo riết chuẩn bị đấy. Chúng nghĩ rằng bọn Đức đang trở lại Naples.
Connors nói:
-         Rất có thể. Nếu thế bọn trẻ này sẽ làm gì hả bác?
-         Bọn chúng sẽ chống lại quân đội Đức quốc xã.
Connors dừng bước, anh trợn tròn mắt nhìn ông Maldini. Anh cứ nhìn như thế mãi, mất một lúc rồi mới nói:
-         Thế khi bác vớt những khẩu súng từ dưới biển lên bác có thấy cái máy bộ đàm nào không ạ? Máy bộ đàm của cháu bị bắn bể rồi.
-         Không.
Ông Maldini đáp. Qua vai Connors ông nhìn Vincenzo, Angela, Franco và Nunzia đang tiến lại về phía họ.
-         Ở Naples không có máy bộ đàm nào cả.
Connors nói:
-         Cháu phải thông báo với chỉ huy của cháu để xem ông ấy có thể phái đến đây vài chiếc xe tải để đưa bọn trẻ ra khỏi thành phố được không.
Connors rút bao thuốc lá trong túi ra mời ông già một điếu nhưng ông lắc đầu. Anh lại hỏi tiếp:
-         Sao bác lại đồng tình với việc làm này? Chẳng lẽ bác cũng hăng hái tham chiến rồi nhận lãnh cái chết đau thương như bao người khác sao?
-         Đừng vội thế, chúng ta mới gặp nhau mà. Trước kia tôi đã từng là lính Ý y hệt như cậu bây giờ vậy. Chỉ có điều tôi không được mặc quân phục và không có được những ngôi sao bạc lấp lánh trên ve áo như cậu thôi.
Connors hỏi:
-         Thế bác đã nói với bọn trẻ nên tránh xa chuyện này chưa?
-         Ta không còn như trước, hăng hái dạy bảo người ta phải làm gì, tin cái gì như xưa được nữa rồi.
Vincenzo cất tiếng nói khi nó đứng đàng sau Connors.
-         Tụi cháu đã quyết định trước khi chú đến đây và quyết định đó sẽ không thay đôỉ đâu. Kể cả khi chú rời đi, mọi chuyện vẫn diễn ra như hoạch định.
Connors liếc nhìn Nunzia sau đó nhìn Vincenzo, thằng bé đang say sưa ngắm nhìn phù hiệu của binh đoàn Thần Sấm gắn trên tay áo anh. Connors nói:
-         Chúng ta cần nói chuyện, chỉ mình chú với cháu thôi.
Vincenzo nói:
-         Chúng ta cú nói chuyện ở ngay đây.
Connors nói:
-         Tất nhiên, nói ở đây cũng được nhưng chúng ta sẽ không làm như thế.
Anh cầm lấy tay thằng bé, dẫn nó ra khỏi đống lửa tới chỗ bóng tối phía sau toà nhà.
 
*
Hai chú cháu đi dọc theo con đường nhỏ. Connors đi đi lại lại không yên còn Vincenzo đứng dựa lưng vào bức tường đá lạnh giá. Connors nói:
-         Đây là việc cần phải làm ngay. Ngay khi bình minh ló dạng, việc cháu làm là tụ tập các bạn của cháu lại, bảo họ theo chú đi ra khỏi thành phố này. Nếu chuyện đó không xảy ra thì chú sẽ không để yên cho cháu đâu.
Vincenzo hỏi:
-         Thế chú sẽ định làm gì? Bắn cháu nếu cháu không làm theo điều chú yêu cầu sao?
-         Có thể đấy.
Vincenzo nói:
-         Cuộc chiến này là của chúng cháu, không phải của các chú.
Connors hỏi:
-         Làm sao cháu dám chắc là sẽ có một cuộc chiến cân sức xảy ra ở đây khi bọn Đức quay trở lại thành phố này?
-         Đêm nào máy bay của chúng cũng thả truyền đơn và ném bom huỷ diệt thành phố này. Bọn chúng nói rõ cho người dân Naples biết rằng sau những trận không kích là những đoàn xe tăng kéo vào phá huỷ nốt những gì còn lại của Naples.
-         Nếu đó là sự thật thì ta lại càng phải đưa các cháu ra khỏi nơi này ngay lập tức.
Vincenzo nói dõng dạc:
-         Tất cả những người bạn đồng minh mà người Ý tin tưởng đều quay lại phản bội dân tộc Ý. Tất cả bạn bè của nước Ý mà người Ý đặt hết niềm tin vào đều là những kẻ dối trá. Những lời chú nói đều chẳng có ý nghĩa gì. Người Mỹ đến nước Ý này chẳng khác nào một đội quân súng ống chỉnh tề, mặc quân phục nghiêm trang, chỉ là diễu hành qua Tổ quốc của cháu mà thôi.
-         Cháu đang có một cơ hội cứu sống các bạn mình, nhưng nếu cháu không nỡ làm thế mà để mặc bạn mình trong thành phố này khi bọn Đức xuất hiện, cháu sẽ phải nhìn bạn cháu ngã xuống. Chú không thể để bạn cháu hoặc cháu ở lại đây rồi bị thiệt mạng. Cháu phải hiểu điều đó chứ.
-         Chú lính Mỹ ơi, chú không có quyền lựa chọn đâu. Chú không hiểu điều cháu vừa nói hay sao?
0
CHƯƠNG 16
Carlo Petroni ở trong căn phòng khiêu vũ trang trí cầu kỳ của biệt thự Pignatelli. Toà biệt thự này là một trong những nơi có những khu vườn xum xuê nhất trên bờ biển nước Ý. Giờ thì cây cối đã bị cháy xém sau những trận không kích của quân Đức. Petroni quay lại nhìn những khuôn mặt đầy tò mò đang vây quanh hắn. Mười tám tuổi hắn đã là một kẻ tội đồ, bị toà án Ý kết án hai năm ngồi tù và giam hắn vào nhà ngục ở Saint Enfermo. Hắn bị bắt giam vì đã cầm đầu một nhóm ăn cắp vặt khi trà trộn vào dòng người mua bán nhu yếu phẩm ngoài chợ đen.
Petroni cao lớn và cường tráng, một vết sẹo nhỏ nằm ngay dưới môi của hắn. Cuộc chiến của hắn không nhằm chống lại quân Đức hay là những người ủng hộ Đức, mà đó là những cuộc ẩu đả giành nhau những món nhu yếu phẩm ít ỏi bên trong những bức tường cao ngất và khắc nghiệt của một nhà tù không còn duy trì được luật lệ. Khi lệnh  tản cư do Đức ban hành và đòi phải thực hiện, bọn Đức đã mở cửa các nhà tù trả các kẻ tội đồ trở lại đường phố. Hầu hết các phạm nhân nghe theo lời bọn Đức rút ra khỏi Naples. Riêng Petroni bảo nhóm ăn cắp vặt của hắn hãy án binh bất động và chờ đợi. Hắn thấy rằng đi di tản chẳng có lợi lộc gì, kể cả mấy trò chống đối cũng thế. Hắn hiểu quá rõ điều đó. Nbưng rồi Petroni nhìn thấy được một cơ hội đầy tiềm năng mở ra trước mắt hắn. Trong những ngày sắp tới, nếu theo đúng như hắn tiên đoán, thì người Mỹ và người Đức sẽ đối mặt nhau trên đất nước này. Và dân Ý cũng như muôn thưở, sẽ bị kẹt cứng giữa hai đội quân hùng mạnh. Đây là cơ hội ngàn vàng của hắn. Cơ hội kiếm tiền để bắt đầu cuộc sống sau chiến tranh sung sướng  với cả núi tiền mặt trong tay. Mọi việc hắn cần phải làm là làm sao cho bên này lao vào bên kia đánh nhau chí tử, còn mình hắn thì sống sót.
-         Chúng ta phải chờ bao nhiêu lâu nữa?
Tên ăn trộm nhỏ tuổi nhất trong bọn là Piero hỏi.
Petroni đáp:
-         Cho tới khi chúng ta nhìn thấy những bộ đồng phục của Đức và sau khi chúng ta xác minh những thông tin chúng ta biết là sự thật đang có một đám nhóc tì khùng điên đang nỗ lực tìm cách ngăn chân quân đội Đức khi cuộc chiến nổ ra. Cũng là lúc chúng ta xuất đầu lộ diện.
Marco, một tên trộm khác trong nhóm lên tiếng:
-         Anh nói như thế nghĩa là làm sao? Xuất đầu lộ diện để làm gì?
Petroni bảo:
-         Để hốt tiền vào túi chứ để làm gì nữa. Chúng ta sẽ theo dõi cả quân Đức lẫn bọn trẻ kia. Chúng ta sẽ đứng về cả hai phe, sẽ nói cho chúng nghe những gì chúng cần biết. Nói cho bọn Đức chỗ bọn trẻ kia đang trốn. Nói cho bọn trẻ nghe bọn Đức đang giăng bẫy ở những chỗ nào.
-         Và sau đó?
-         Núp vào một chỗ mà xem chúng giết nhau.
Piero bảo:
-         Cho tới bây giờ tôi chưa thấy có tiền dính dáng vào chuyện này.
Petroni quăng điếu thuốc xuống chân, dí thật mạnh rồi đáp:
-         Người Đức sẽ trả tiền cho thông tin chúng ta tiết lộ cho họ.
Marco nói:
-         Bọn Đức thì còn có tiền chứ mấy đứa trẻ rách rưới kia thì có gì kia chứ? Tại sao ta phải quan tâm đến chúng cho mệt người vậy?
Petroni giải thích:
-         Ai cũng phải  có cái gì đó để phòng thân. Nếu như bọn trẻ đường phố kia không cho chúng ta tiền hoặc thức ăn, chúng ta sẽ lấy vũ khí của bọn chúng.
-         Thế lỡ chúng ta bị phát giác thì sao? Nếu như một vài kẻ trong bọn chúng nghi ngờ chúng ta có quan hệ với bọn Đức thì sao nào? Tới lúc đó anh định thế nào đây?
-         Nếu lúc đó kế hoạch của chúng ta bị phát giác, thậm chí có kẻ nào đó chỉ nghi ngờ chúng ta về chuyện chúng ta định làm thì kẻ đó sẽ phải chết. Dù cho kẻ đó có là một tên lính Đức hay là một thiếu niên người Ý đi chăng nữa.
0
CHƯƠNG 17
Lữ đoàn thiết giáp 16 đang ở cách Naples bốn mươi dặm. Đại tá Von Klaus tính số đường rày xe lửa hỏi:
-         Đây là trục đường rày chính hay sao?
-         Vâng, thưa chỉ huy.
Kunnalt đáp. Ernst Kunnalt là một tên lính Đức cao, mái tóc màu đỏ rậm dày, vén gọn dưới mũ sắt. Hắn là trợ lý của Von Klaus.
-         Quân ta còn tìm thêm một nhánh nữa cách đây nửa dặm tiến về phía trung tâm thành phố.
Von Klaus đáp:
-         Phá hết cả hai đi.
-         Vậy ngài muốn đặt mìn ở đâu ạ? Chúng ta đã chôn 50 quả mìn dọc theo đường rày này rồi.
-         Ta muốn có mìn ở khắp mọi nơi, bất cứ chỗ nào có thể đặt mìn được. Bên lề đường, đường đất, đường nhựa, đường xa lộ. Ta không muốn bất cứ ai theo chân chúng ta. Ở lối vào và ngã ra của thành phố Naples, một khi mọi việc đã được chuẩn bị xong xuôi, ta sẽ đổ bộ vào thành phố.
-         Ngài có tính trước một chuyện, có thể quân ta vấp phải sự kháng cự của quân Ý không ạ?
-         Còn ai trong đó mà kháng cự? Đám quân trinh sát đi trước báo cáo lại, trong thành phố rất ít những họat động sống diễn ra, cả thành phố chỉ còn người già và trẻ con.  Chỉ với khoảng thời gian không quá hai hoặc ba ngày, chúng ta sẽ hoàn tất nhiệm vụ được giao.
Kunnalt ngước mắt nhìn bầu trời, thốt lên:
-         Chưa bao giờ tôi được giao nhiệm vụ đi phá huỷ một thành phố. Tôi nghĩ đó cũng là điều ngài không muốn làm khi ngài lên đường tham gia cuộc chiến này.
Von Klaus đáp:
-         Kẻ thất bại bị nghiền nát. Kẻ chiến thắng có quyền chinh phục. tất nhiên kẻ thất bại sẽ chẳng dễ dàng hạ súng đầu hàng. Quân đồng minh có thể thắng nhưng chúng sẽ phải trả giá đắt cho những chiến thắng đó. Kunnalt à, tôi nhận lãnh một trách nhiệm do một kẻ thất trận giao phó, nhưng ta dám chắc với anh, ta sẽ hoàn thành trách nhiệm đó một cách xuất sắc.
0
CHƯƠNG 18
Angela cắt một lát pho mát nhỏ để dành cả tuần nay rồi đưa mũi dao nhọn có dính mẩu pho mát mỏng dính cho đứa em họ là Tino. Hai chị em đang đứng trong một nghĩa trang nhỏ, thằng bé chộp lấy miếng pho mát bằng những ngón tay cáu bẩn nhét vào miệng và nhai ngấu nghiến. Con bé cảnh cáo:
-         Nhai từ từ thôi, đây là chút lương thực còn lại của chúng ta đấy.
-         Chị kiếm thêm chút nữa được không?
Tino hỏi, thằng bé là người thân duy nhất của Angela còn sống sót. Thằng bé gầy giơ xương và mắc bệnh suyễn nặng và vì thỉnh thoảng mới có thuốc uống cho nên Angela có cảm giác thằng bé sẽ theo thần chết ra đi vào bất cứ lúc nào.
-         Chị e là không.
Angela trả lời. Tino nói:
-         Cám ơn chị đã đưa em tới đây để em có thể gặp lại được người thân trong chốc lát. Em lo lắm, cứ ngỡ bom đạn đã cày xới hết những ngôi mộ này rồi.
-         Chị đã nói với em là cha mẹ em chẳng bỏ em mà đi đâu.
Angela nhìn xuống những nấm mồ đắp vội vàng, dưới mồ là cha mẹ của Tino, họ chết trong một cuộc không kích thình lình nổ ra vào một buổi sáng trong thành phố Naples.
-         Phải, em nhớ rồi.
Angela nói:
-         Chị sẽ để em một mình ở đây với bố mẹ em, chị sẽ đợi em ở dưới những gốc cây ô liu kia.
Tino gật đầu:
-         Em sẽ kể cho bố mẹ em nghe rằng em đã tự mình bắt được một con cá, và em đã giứp rửa cá và nướng cá nữa.
Angela hôn trán thằng bé:
-         Đừng quên kể với bố mẹ em rằng con cá của em là con cá to nhất trong lưới ngày hôm đó và em là cậu bé nhỏ nhất có mặt trên thuyền đánh cá nhé em.
Thằng bé trìu mến nói tiếp:
-         Em cũng nói với bố mẹ em rằng chị chăm sóc em rất chu đáo nên bố mẹ đừng quá lo lắng vì em.
 
*
Angela đứng dựa lưng vào cây ô liu khẳng khiu. Trước đây cô thích nhất thời gian này trong ngày. Mùi thức ăn bay trong không trung trộn lẫn với mùi của củi lửa cháy lách tách trong lò sưởi bằng đá, báo hiệu bữa cơm chiều sắp sửa hoàn tất. Những đứa trẻ chân không mang giày chạy toả ra khắp các ngõ, trở về nhà đầm ấm bên các người thân trong các căn hộ đông đúc, tiếng cười của chúng lanh lảnh vang vọng. Suốt dọc những bức tường nhà, các bà già mặc đồ đen ngồi trên ghế mây đang nhặt rau hoặc gọt khoai tây.
Angela Rummerta sinh ra ở Forcella, khu vực lộn xộn nhất của thành phố, nó sinh ra và lớn lên ở đó, nó biết rõ những người trong thành phố nghĩ gì khi biết dân Forcella lảng vảng trên đường phố, những người láng giềng của nó hoặc là những tên lưu manh hoặc là những tên trộm cắp. Nó cũng đủ lớn để nếm trải những cay đắng, vì sự thật ấy nó cũng biết, rằng năm dãy nhà rách rưới của khu Forcella là khu vực nghèo nàn nhất và là nơi ít được chú ý nhất của thành phố Naples.
Nhưng riêng Angela lại không bao giờ nghĩ rằng khu Forcella là nơi hỗn độn. Đó là nơi thân thiết nhất đối với nó. Giờ đây nó dựa lưng vào cây ô liu cháy nham nhở, nhìn thằng bé gục đầu khóc trên mộ của bố mẹ mình, nó thèm khát mùi thơm của đồ ăn thức uống, những dấu hiệu sinh động của khu phố nơi nó sinh ra và lớn lên như thể nó thèm được gặp những người thân đã bị chôn vùi trong đống gạch vụn sau trận không kích của quân Đức. Hít một hơi dài, nó ngả đầu nghỉ dưới gốc cây.
Chợt tiếng cành khô gãy vang tới tai nó nhưng nó không cử động. Con bé chờ động tĩnh kế tiếp. Nó lập tức quay đầu lại khi nghe tưởng một hòn đá lăn tới bên cái cây rồi nảy sát bên bàn tay phải của nó.
Nó đứng lên, tay áp sát hai bên sườn, đôi giày màu đen bấu chặt nền đất sét, mắt nhìn trừng trừng vào đuôi khẩu súng trường của một tên lính Đức vừa xuất hiện, tên lính còn trẻ, cao, nét mặt dữ tợn. Hắn dùng báng súng ra hiệu cho con bé giơ hai tay lên, và lùi xuống tựa vào gốc cây phía sau. Angela thận trọng lùi lại, tên lính bước lên phía trước, cười nham nhở phô hàm răng vàng khè cáu bẩn, hắn nói câu gì đó bằng tiếng Đức rồi hạ khẩu súng trường xuống, áp sát vào chiếc váy Angela đang mặc.
Vẫn cười như thế, hắn dùng báng súng trường rà trên người Angela để tìm vũ khí. Khẩu súng chậm chạp lướt xuống eo con bé, rồi tới hông rồi dừng lại ở mắt cá chân của Angela. Angela khó nhọc nuốt khan nhưng vẫn nhìn thẳng vào mắt hắn không hề run sợ. Khi hắn rê cái báng súng trường lên đùi nó và tiếp tục chậm rãi lên cao hơn, con bé mỉm cười và gật đầu với tên lính Đức. Tên lính Đức sấn tới gần hơn, một tay vẫn giữ nguyên khẩu súng, tay kia đưa lên vuốt má Angela. Con bé liếm đôi môi khô rát và đưa bàn tay lên môi tên Đức. Tên lính Đức thì thầm một câu tiếng Ý duy nhất mà nó học được:
-         Em gái.
Rồi hắn ghé sát vào mặt Angela, khẩu súng trường dựa vào chân hắn. Hắn dí sát miệng mình vào miệng Angela, đẩy đầu cô  bé ngửa ra phía sau sát vào thân cây. Lúc này tên lính buông khẩu súng đổ trên mặt đất. Hai tay hắn giơ lên ôm chặt lấy chiến lợi phẩm Italia của hắn.
Angela đặt một tay lên vai hắn, tay còn lại tự do lần tìm con dao găm nhỏ và dài, vỏ dao dính vào sợi dây da đeo trên cổ. Nó nhẹ nhàng rút con dao ra khỏi vỏ, miệng vẫn giữ nguyên nụ hôn với tên lính Đức. Nó có cảm giác hắn đang cởi nút áo sơ mi trên cùng của nó. Angela hất chiếc mũ sắt trên đầu của tên lính, ôm đầu hắn thật chặt, ép sát môi mình mạnh hơn nữa lên môi tên lính Đức. Việc còn lại nó phải làm là để mặc cho con dao găm theo đà xộc tới đâm lút cán vào ngực quân thù.
Lưỡi dao mỏng như lá lúa đâm  trên ngực của tên lính Đức . Angela rút dao ra nhìn tên lính gục xuống dưới chân nó, mặt úp xuống đất, chết không kịp kêu lên một tiếng.
Angela quay đầu, thấy Tino đứng đó, mắt trợn tròn nhìn nó. Thằng bé bước về phía Angela, dang hai tay ôm lấy Angela thật chặt. Angela cũng ôm chặt lấy em, nước mắt nó giàn dụa trên má. Angela bảo:
-         Chị em mình đi thôi.
Tino gật đầu đi bên cạnh nó, một tay vẫn ôm lấy Angela, những ngón tay của nó nắm chặt lấy vạt áo đầy máu của cô bé. Hai chị em bước xuống chân đồi, đi càng lúc càng xa khỏi cây ô liu cháy nham nhở.
0
CHƯƠNG 19
Còn cách Naples mười lăm dặm, đại tá Von Klaus ngồi trên chiếc ghế mềm có thể gấp lại được, mắt hắn nhắm nghiền, chân duỗi dài, gót giày cao cổ của hắn gác lên trên một két rượu đầy những chai rỗng. Hắn mở bừng mắt khi nghe tiếng chân bước lại gần.
Hắn trừng mắt nhìn thằng bé đầu tóc rối bời đứng trước mặt hắn. Kunnalt đứng bên cạnh thằng bé. Von Klaus hỏi:
-         Bạn mới của cậu là ai thế?
-         Một cựu phạm nhân của nhà tù dành cho trẻ vị thành niên của Naples. Khi có lệnh tản cư, nó được thả ra. Lúc nãy nó vào trại của chúng ta, nó nói nó có thông tin có lợi cho chúng ta trước khi chúng ta đưa xe tắng tiến vào Naples.
Von Klaus nhìn thằng bé mặt còn búng ra sữa.
-         Tại sao mày giúp chúng tao?
-         Tôi muốn chiến tranh sớm kết thúc. Giúp các ông, chiến tranh sẽ kết thúc nhanh hơn.
-         Tên mày là gì?
Von Klaus hỏi. hắn thả chân xuống, ngồi thẳng trên ghế.
-         Carlo Petroni, trước chiến tranh tôi sống với gia đình tại quảng trường Mercato.
-         Tại sao mày phải ngồi tù?
Carlo nhún vai trả lời:
-         Vì đói cho nên tôi phạm tội và tôi phải vào tù. Tôi không có tiền thế thân cho nên tôi lấy những thứ tôi cần từ tay những kẻ có tiền mà thôi.
Von Klaus nói;
-         Tao không thích những thằng trộm vặt, bọn chúng không chỉ trộm cắp mà còn nói dối nữa. Bất cứ lời nói nào của mày, tao đều đáng ngờ cả.
-         Ông có thể giết tôi nếu tôi nói dối, vả lại cái chết không phải là một phần trong kế hoạch của tôi, tôi tự nguyện thông báo cho ông. Tôi chọn ông chứ không chọn người Mỹ hay quân kháng chiến.
-         Tại sao mày lại chọn chúng tao?
-         Bởi vì tôi biết sẽ có cơ hội kiếm lời nếu tôi hợp tác với ông.
-         Tại sao mày lại nghĩ tao hào phóng tiền bạc đối với mày như vậy?
-         Bởi vì những lời tôi tiết lộ sẽ có giá trị cho ông hơn là cho những người khác.  Ông và đồng đội của ông sẽ gặp nguy hiểm. Nếu ông còn quan tâm đến họ, ông sẽ trả tiền để cứu mạng sống của họ.
Von Klaus gật đầu:
-         Tao sẽ trả tiền để có được thông tin của mày. Và mày cũng trả giá nếu thông tin của mày không được chính xác. Và mày biết cái giá của tao đưa ra bao giờ cũng cao hơn cái giá của mày. Chúng ta hiểu nhau rồi chứ?
Carlo bảo:
-         Chỉ có thằng khờ mới từ chối lời ông đề nghị.
-         Hãy nói cho chúng tao nghe cái điều mà mày cho rằng rất quan trọng với chúng tao.
-         Những đường phố ở Naples không phải bị bỏ hoang như ông nghĩ. Rất có thể ông đưa xe tăng của mình vào các khu vực rắc rối.
Von Klaus hỏi:
-         Đứa nào còn ở đó mà gây rắc rối cho tụi tao được? Những đội quân trinh sát của chúng tao vào thành phố chỉ gặp toàn ông già và trẻ con mà thôi.
-         Một trong những thằng nhãi đó lẩn khuất để chống trả. Bọn chúng có thể được trang bị vũ khí. Chúng có thể kháng cự lại các ông trên những con đường mà chúng thuộc như lòng bàn tay. Chúng có thể tìm được chỗ ẩn nấp ở những nơi mà ngay người lính tinh tường nhất của ông cũng sẽ phải lạc đường khi đi tìm kiếm chúng.
-         Có bao nhiêu đứa như thế và chúng được trang bị súng ống ra sao?
-         Tin tôi mới được nghe thì có khoảng hai trăm đứa. Vào lúc mà xe tăng  các ông tiến vào thành phố Naples thì con số đó sẽ vượt xa con số hiện nay.
-         Thế vũ khí của chúng ra sao?
-         Hầu hết là súng săn.
Carlo nói, cảm thấy tên đại tá người Đức kia hết sức chú ý đến thông tin của hắn.
-         Bọn chúng có đủ đạn dược để cầm cự trong mấy ngày?
-         Tại sao mày không ở lại với bọn chúng, sẵn sàng chống trả lại chúng tao?
Carlo nói, giọng cách biệt lạnh lùng:
-         Chưa bao giờ tôi đứng về phía chúng, tôi chỉ cố giữ lấy mạng mình, giành quyền lợi về cho mình, tìm những món tiền kha khá cho mình.
-         Thế mày ra giá bao nhiêu cho sự phản bội nòi giống của mày?
-         Năm ngàn lire. Bấy nhiêu đủ giúp cho tôi và các bạn của tôi có thể thoát thân yên ấm ra khỏi Naples. Thêm nữa, tôi muốn có ba khẩu súng trường và ba băng đạn để kháng cự bất cứ kẻ nào muốn cầm chân chúng tôi.
-         Thế người định ngăn mày mặc quân phục thì sao nào? Mày cũng giết họ luôn chứ?
Carlo mỉm cười lắc đầu:
-         Cần gì phải giết họ, tôi chỉ cần nói với họ, tôi ông là bạn, thế là xong.
Von Klaus bảo:
-         Đó là lời nói dối trắng trợn.
-         Nhưng những lời nói dối đó giúp tôi sống sót.
-         Trong thời kỳ chiến tranh, những kẻ như mày chỉ mong có thế thôi phải không? Sẵn sàng làm tất cả để bảo toàn mạng sống.
-         Thời nào thì đó cũng là việc quan trọng, dù là thời chiến hay thời bình, đấu tranh sinh tồn luôn là mục tiêu cuối cùng của bất kỳ ai.
Von Klaus bảo Carlo:
-         Vậy thì mày đạt được mục tiêu cuối cùng rồi đấy, ít nhất là trong ngày hôm nay. Trợ lý của tao sẽ trả tiền cho mày, một số tiền lớn đủ để mày mua súng đạn từ những kẻ không phải là tao và người của tao. Mày cũng ra khỏi doanh trại của tao bằng con đường mày đã đến và chấm dứt! Tao không cần bất cứ thông tin gì của mày nữa!
0
CHƯƠNG 20
Steve Connors lặng lẽ đi trong toà nhà Catacombs, một toà nhà đã tồn tại nhiều thế kỷ, vốn là nhà mộ của một vị thánh phù hộ cho thành phô” Naples. Anh trầm trồ nhìn những tấm bích hoạ cao hai tầng, nơi đây cũng là nơi cư ngụ của không biết bao nhiêu đời Đức Hồng Y giáo chủ. Anh nhìn những bức tranh vẽ và tranh ghép trên tường, những thiết kế cầu kỳ và vẻ đẹp của các bức tranh ấy để lại ấn tượng mạnh mẽ trong anh. Anh đặt ba lô và súng trường vào sát tường, rờ tay lên lớp đá lạnh lẽo rồi ngồi xuống bậc thềm nơi góc nhà, dựa lưng vào phiến đá có khắc chạm hình các thiên thần và các thánh.
Anh đi dạo trong này đã lâu, nhìn ngắm nơi này, tìm những giây phút tĩnh tâm và đặt kế hoạch cho những ngày sắp tới. Anh đang giải quyết một nhiệm vụ khác không do chỉ huy Anders giao phó và anh cần có thời gian để ngồi suy nghĩ nhiệm vụ tìm kiếm đồng đội, vậy là không thể hoàn thành. Bất cứ người Mỹ nào ở Naples đều đã chết hoặc rút về nơi an toàn cùng với quân đội Đồng minh rồi.
Thế mà bây giờ anh bị kẹt vào một nhiệm vụ mà dường như còn lớn hơn, mấy đứa trẻ kia cần phải học cách suy nghĩ khôn ngoan một chút. Nhưng Connors biết, dù cho ý chí của chúng có anh dũng đến đâu, thì giấc mơ vô vọng ấy cũng kết thúc với những xác người chết thối rữa nằm phơi mình trên những con đường vắng vẻ. Connors không có bằng chứng là bọn Đức quay trở lại Naples. Những điều in trên truyền đơn được rải hàng đêm biết đâu chỉ là một thủ đoạn rẻ tiền nhằm đe doạ hoặc đánh lạc hướng. Bản năng tiềm ẩn trong con người anh thôi thúc anh quay trở lại Salerno, tìm vài chiếc xe tải, dẫn đầu đoàn xe trở lại Naples, bắt buộc bọn trẻ lên xe, đưa ra khỏi thành phố. Nhưng biết đâu anh sẽ vấp phải sự chậm trễ của chỉ huy tại nơi đóng quân hoặc tệ hại hơn nữa anh không được giao thẩm quyền cứu bọn trẻ. Anh nhìn quanh những bức tượng đang đứng trong bóng tối và đang cúi xuống nhìn anh. Và anh biết làm như thế là ngu ngốc.
-         Hầu hết những gì người ta ghi trên các tấm bảng ở đây đều không đúng sự thật.
Đó là giọng nói của cô gái trẻ anh đã gặp bên đài phun nước hôm rồi. Cô đứng khuất về phía bên trái của anh, giấu mình trong bóng tối.
-         Cái gì không đúng cơ?
Connors đứng lên khỏi những bậc thềm mát lạnh.
-         Thi thể của San Gennero không được chôn ở đây như những gì tấm bảng kia ghi lại.
Cô nói bằng thứ tiếng Anh nhát gừng, ngắt quãng nhưng dễ hiểu.
-         Nơi đây chỉ lưu giữ đầu của ông ấy thôi, cái đầu ấy được bảo quản ở nhà nguyện phía sau trên tầng trên, ngay bức tường phía sau trong cùng.
-         Thế còn chuyện người ta bảo cái đầu ấy chảy máu thì sao? Cũng không đúng sự thật ư?
-         Tuỳ thuộc vào người kể chuyện, với bà ngọai tôi thì chuyện đó là có thật, ngay cả khi bà nhắm mắt lìa đời cũng thế. Nhưng đối với cha tôi thì ông lại nhạo báng chuyện đó và nói, đó chẳng qua là người ta sùng đạo quá nên mới truyền bá chuyện đó mà thôi.
-         Vậy cô đứng về phe nào?
-         Khi tôi còn bé, gia đình tôi thường theo bà ngoại tôi vào nhà thờ trong ba ngày trong một năm khi người ta nói cái đầu của San Gennero lại rỉ máu. Nhưng tôi chẳng thấy rỉ gì hết. Còn những người già thì làm như chính mắt họ nhìn thấy máu chảy ròng ròng từ cái đầu người chết cách đây đã vài thế kỷ rồi vậy. Và họ thấy vui vì ý nghĩ ấy. Theo tôi đó mới là điều quan trọng hơn cả.
-         Tôi còn nghe người ta nói ông ta là vị thần che chở cho thành phố của cô, nhưng tôi biết đó không phải là sự thật.
Cô gái đáp:
-         Ông ta là vị thánh chứ không phải là vị cứu tinh.
Connors hỏi:
-         Thế còn cô thì sao? Ngoài chuyện lên lớp những bài học lịch sử cô còn định làm gì?
Cô gái bước ra khỏi vùng tối, cô bước gần hơn về phía Connors, cô cao, mảnh khảnh và đẹp hơn tất cả những người phụ nữ mà anh từng gặp. Cô mặc một chiếc áo đầm màu xanh nhạt, mái tóc của cô buông xuống bờ vai. Cặp môi của cô đầy đặn và đỏ hồng, ánh mắt cô gái như hớp hồn Connors, cặp mắt sáng lung linh như hai ngọn nến ngoài bến cảng khi trời tối. Cô gái nói:
-         Tôi có thể giúp anh.
-         Tên cô là gì?
-         Nunzia.
Cô gái mỉm cười chìa tay về phía anh, anh nắm lấy và giữ mãi cho tới khi Nunzia chầm chậm rút tay về. Cô nói;
-         Cha tôi lấy tên bà nội tôi đặt cho tôi, bà là một trong những người phụ nữ đầu tiên ở Naples tự xây dựng cơ đồ của mình. Bà xây dựng một xưởng bánh lớn ngoài thành phố. Bà đứng ra cai quản xưởng bánh khi ông nội tôi chết và giữ cho công việc phát triển không ngừng cho tới khi chiến tranh nổ ra.
-         Ở quê nhà của tôi, bà nội tôi cũng tay trắng lập nên sản nghiệp. Những người thân của tôi chẳng bao giờ muốn kể nhiều về chuyện của bà.
-         Vậy bà đã làm gì?
-         Bà nội tôi là Helen, là một tay bán rượu lậu. Bà nấu rượu lậu trên những ngọn đồi ở Kentucky, và bán nó cho các công nhân nông dân làm việc ở xưởng máy trong  vùng. Bà lấy tiền đó nuôi các con trai của bà, cha tôi là một người trong số họ được ăn học tử tế.
Nunzia bảo:
-         Bà nội tôi nổi tiếng ở Naples. Ở đây đàn ông đưa ra mệnh lệnh nhưng phụ nữ mới là người thực thi những mệnh lệnh ấy.
-         Rồi số phận của những đứa trẻ kia sẽ đi về đâu?
Nunzia hỏi:
-         Anh còn muốn chúng phải làm sao nữa? Nhiều đứa đã theo cha mẹ tản cư hoặc lẩn trốn. Vả lại hầu hết chúng sẽ chống trả nếu có ai đó cũng đứng lên kháng cự.
Connors nói giọng nghiêm khắc:
-         Tôi sẽ không để cho điều đó xảy ra.
-         Tôi không biết tên anh.
Cô gái nói, giọng cô dịu dàng ấm áp vang lên trong căn phòng tối và tĩnh lặng.
-         Tôi là Steve Connors.
-         Steve Connors, tại sao anh lại quan tâm nhiều đến chúng tôi như vậy? Chúng tôi đâu là gì đối với anh. Chúng tôi chỉ là người dân trong một thành phố xa lạ, quốc gia xa lạ. Có gì đáng kể đối với những người Mỹ như anh đâu. Chẳng qua các anh mang xe tăng cờ hiệu đến đất nước chúng tôi chỉ để diễu binh phô trương lực lượng cho chính các anh mà thôi.
Connors đáp:
-         Những đứa trẻ kia chúng quá nhỏ và ngây thơ, chúng không phải là những chiến binh. Nếu bọn Đức kéo tới đây, chúng sẽ chết.
-         Đã từ lâu chúng cận kề với cái chết. Nếu như xảy ra một cuộc hỗn chiến tất nhiên cuộc chiến ấy sẽ mang cái chết đến gần hơn, nhưng cũng có thể mang đến cho chúng cơ hội sống sót.
Connors sững sờ nhìn Nunzia, anh lắc đầu đưa tay lên xoa gáy và nói:
-         Thế ông thánh bảo hộ thành phố này nghĩ sao về quyết định của bọn trẻ?
-         Nếu anh đã tin vào thánh San Gennaro tức là anh đã tin vào phép lạ của sự thánh thiện.
0
CHƯƠNG 21
Sở thú và hồ cá lớn vẫn được gọi chung là thuỷ cung, trước đây từng có một thời đẹp và nổi tiếng nhất Châu Âu, giờ trở nên hoang tàn. Những bức bích hoạ và cả thế giới dưới nước được xây dựng để phục vụ du khách tham quan gjờ chỉ còn là một đống gạch vụn, sỏi, đá, xi măng và bụi bặm sau nhiều đợt bị dội bom. Những con sông nhỏ chở đầy những dòng nước bẩn của những đường ống thoát nước bị bể vỡ chạy dọc theo các bức tường đổ vào hồ cá lớn nhất của sở thú. Trước chiến tranh nơi đây là nơi viếng thăm ưa thích nhất của các học sinh đến từ các trường học thành phố Naples.
Bốn tên lính Đức ngồi trên nền đất xi măng giá lạnh dưới chân một cây cầu thang tối. Bọn chúng đã vào Naples sáng hôm nay. Chúng là thành viên của một trong nhiều nhóm trinh sát trang bị tới tận chân răng được đại tá Von Klaus cử đi do thám xem liệu có khó khăn nào đang đợi chúng trên những con đường vắng lặng của Naples hay không. Những toán quân này tự tìm cho mình những địa điểm tuỳ thích để giúp chúng gây ra tổn thất lớn nhất trong một thời gian ngắn nhất. Mỗi tên lính Đức được trang bị ba thùng thuốc nổ, 60 quả lựu đạn cực mạnh. Chưa hết, chúng còn tha thêm những khẩu súng trường có ống ngắm hẳn hoi và cả súng phun lửa nữa.
Hans Zimmler là một trong những tên lính trinh sát như thế. Hắn nói với đồng bọn:
-         Phải tìm một nơi nào khác khô ráo hơn mà trốn thôi.
Hắn liếc nhìn hồ nước sau lưng hắn, cái hồ bằng cả một toà nhà to lớn giờ đây lẫn trong nước là rác rưởi, và đã trở thành hang ổ của những con chuột cống to tướng đang bơi trong làn nước bẩn thỉu.
Zimmler giống như những tên lính khác chiến đấu dưới sự chỉ huy của Von Klaus. Còn trẻ nhưng đã là một chiến binh được huấn luyện kỹ càng và nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Hắn nói tiếp:
-         Nhìn xem kìa, mực nước trong hồ đang dâng lên vì nước bẩn bên ngoài tràn vào. Rất có thể sẽ bất lợi cho chúng ta.
Eric Tippler, tên lính thứ hai trong đội, khoảng hai mươi lăm tuổi, đáp:
-         Vậy mới tốt chứ vì chẳng ai vào đây để phát hiện ra chúng ta đâu. Từ cầu thang này chúng ta có thể kiểm soát được lối vào lẫn lối ra. Hơn nữa từ trong căn phòng phía trên cao này ta còn nhìn rõ những con đường bên dưới nữa. Anh em trong đội mình nhắm bắn trúng bất kỳ ai đang đi lại dưới kia trong phạm vi hơn ba trăm bộ, tính từ vị trí này.
Hai tên lính khác cũng trẻ như Eric Tippler và Hans Zimmler. Chúng cũng sử dụng thành thạo vũ khí khủng khiếp, lúc này im lặng. Chúng dựa lưng vào bức tường đá. Những chiếc nón sắt sụp xuống che ngang mặt chúng.
Zimmler nghĩ ngợi một lát rồi đồng tình. Tippler vỗ vai Zimmer, mỉm cười khi thấy hai thằng bạn kia bắt đầu cất tiếng ngáy. Hắn bảo:
-         Tao với mày lên mái nhà đi, để cho hai thằng lười này tha hồ ngủ cho đẫy giấc và làm bạn với lũ chuột cống. Chúng ta sẽ tìm những vị trí ngắm bắn thuận lợi nhất và tìm chỗ cất giấu súng ở gần đó để lúc nào cũng có thể lấy súng một cách dễ dàng.
 
*
Hai thằng bé đứng trong bóng tối nhìn hai tên lính bước qua trước mặt chúng, chỉ cách chúng hai bước chân. Hai thằng bé trèo ra ngoài cái bể kính trống rỗng mà trước đây là nơi dùng để trưng bày những con cá quý hiếm. Hai đứa đã có lúc phải sống trong cái hồ khô cạn ấy suốt ba tuần lễ liền. Chúng biết đây là nơi an toàn để tránh các cuộc dội bom vào ban đêm. Giovanni Malatesta, mười lăm tuổi, và Frederico Lo Manto, mười bốn tuổi, đã phải sống cảnh lê la đầu đường xó chợ ở Naples này vào đầu mùa xuân năm nay.
Giovanni đã thấy hai tên lính ngủ, chân duỗi dài bên những thùng lựu đạn đã mở nắp. Ngay dưới chân chúng, tầng chính của toà nhà thuỷ cung im lìm trong bóng tối. Giọng nói của hai tên lính vọng trên mái nhà xuống căn phòng trống trải.
Giovanni thì thầm với Frederico:
-         Bọn này ngủ say như chết, chúng ta lấy trộm mấy trái lựu đạn này được đấy. Khi tỉnh lại, bọn chúng thậm chí còn không biết chúng mình đã có mặt ở đây.
Frederico bảo:
-         Anh em mình cần thức ăn chư’ không cần lựu đạn.
Giovanni đặt một tay lên bờ vai gầy gò của bạn mình, thằng bé nói:
-         Những thứ này còn đáng giá hơn cả đồ ăn. Bây giờ thì im lặng nhé. Lấy được càng nhiều lựu đạn càng tốt. Sau đó thì quay lại bể cá đàng kia.
Frederico hỏi:
-         Có nên lấy luôn mấy khẩu súng của chúng không?
-         Chỉ lấy lựu đạn thôi, cố làm sao đừng để cho chúng phát hiện sớm.
0
CHƯƠNG 22
Ngày 27/9 thành phố Naples
Khi thành phố Naples đón chào một ngày mới thì vầng thái dương màu cam nhạt chứng kiến những cột khói bốc lên trong thành phố. Đó là những bằng chứng còn lại của một cuộc dội bom xảy ra trước lúc bình minh. Những người dân sống sót còn ngái ngủ từ những đường hầm sâu như những hang động ở nhà ga trung tâm, bắt đầu lục tục xuất hiện chia nhau túa ra các ngả đường của Naples. Đứa bé nhất trong đám trẻ đi đầu, nó chạy dọc theo những đường ray trống trải, chân đùa nghịch với trái banh.
Nó đi về phía sân ga. Xà phòng và nước sạch giờ trở thành những thứ quý giá nhất. Những đài phun nước giờ chỉ còn chảy nhỏ giọt của nhà ga trung tâm là nơi đầu tiên những cư dân sống trong đường hầm này tụ tập để bắt đầu một ngày mới. Bấy lâu nay, bữa điểm tâm buổi sáng bị người ta lãng quên. May mắn lắm thì ai đó còn kiếm được một lon cà phê nhạt hoặc một cái bánh mốc meo. Giờ đây bọn trẻ phải cái đói như một phần hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của bọn chúng.
Connors đậu chiếc xe nhà binh cách đường hầm một quãng ngắn. Anh nằm co ro trong băng ghế sau và ngủ thiếp đi. Chiếc nón sắt úp lây mặt, khẩu súng trường luôn để trong tầm tay với. Con chó ngao nằm dài trên nền đất cạnh chiếc xe jeep, nó vùi mặt vào hai cái chân trước khổng lồ và ngủ say sưa. Tiếng những bước chân nhỏ bé gầy gò chạy trên nền đất cứng đánh thức đôi bạn đồng hành. Connors hé chiếc nón sắt và bắt gặp ông Maldini đang nhìn mình. Connors ngồi lên hỏi:
-         Có chuyện gì thế?
Ông già đáp:
-         Có một con tàu. Đứng trên nóc hầm ở đây hoặc ở ngoài cảng có thể thấy nó. Nó đang đi thẳng đến cầu cảng.
-         Tàu của ta hay của địch?
Connors xuống xe tìm ống nhòm rồi theo ông Maldini đi lên trên đồi.
-         Tàu còn ở quá xa nên bác không nhìn thấy cờ cắm trên tàu là cờ gì.
Connors leo lên đỉnh đồi. Anh tìm được một chỗ an toàn bên cạnh bức tường đá đổ nát. Anh nằm sấp, chống tay lên nền đất đen, giương ống nhòm nhìn về phía chân trời.
Connors thông báo:
-         Đó là tàu chở dầu của Đức. Tàu chạy khá chậm, có nghĩa nó chở đầy hàng. Cháu đoán nó còn cách chúng ta khoảng một ngày đường nữa. Có khi hơn một ngày sau nó mới đến đây.
-         Tàu chở gì thế?
-         Hầu hết số hàng trên tàu là những thùng dầu lớn. Những tờ truyền đơn mà bọn trẻ lượm về đã đưa thông tin chính xác. Bọn Đức đang quay trở lại Naples. Chúng mang nhiên liệu đến đây để tiếp tế cho xe tăng.
-         Sao cậu đoán chắc thế?
Ông Maldini hỏi, Connors đứng lên và đáp:
-         Những chiếc xe tăng chẳng phải thứ đồ chơi lên giây cót. Ngay cả quân Anh và quân Mỹ cũng phải có những tiểu đoàn thiết giáp rải rác trên khắp nước Ý. Bọn Đức cũng thế. Xe tăng của bọn chúng cũng cần phải được tiếp nhiên liệu để có thể quay trở lại phía bắc về phía thành Rome.
-         Những tờ truyền đơn kia còn cho biết bọn Đức sẽ cho phá huỷ những gì còn sót lại. Liệu chuyện đó có thể xảy ra không?
Connors không trả lời, anh đứng lên buồn bã, lê bước, anh đi ngang qua ông Maldini, xuống chân đồi trở về chiếc xe jeep của mình.
 
*
Vincenzo, Franco, Fabrizio và Gaspare là một nhóm. Pepe, Dante, Claudio và Angela lập thành một nhóm thứ hai. Bọn chúng đang nô đùa ở quảng trường Garibaldi, một quảng trường lát đá rộng lớn đối diện với nhà ga. Mặt trời buổi sáng đang lên sau lưng chúng, mang đến niềm vui cho bọn trẻ chơi trò chơi mà người dân nước Ý rất ưa thích.
Connors cho xe chạy chậm trong quảng trường. Anh tiến thật chậm vào chỗ bọn trẻ đang chơi đá banh. Ông Maldini nói:
-         Hãy nhìn xem thế giới này thật giản dị biết bao trong ánh mắt của bọn trẻ. Chỉ cần một trái banh, vài đứa bạn và một ngày đầy nắng, chúng không mong gì hơn thế.
Connors ngồi trong xe jeep theo dõi cuộc chơi trong vài phút, tâm trí anh vẫn còn thắc mắc về chiếc tàu chở dầu. Nếu tàu đến gần như vậy thì những chiếc xe tăng của Đức cũng đã ở gần lắm rồi. Điều đó có ý nghĩa rằng tất cả những ngả đường ra lối vào của thành phố Naples giờ trở nên quá nguy hiểm. Hiện nay an toàn nhất là cứ giữ bọn trẻ trong thành phố, lẩn quất trong các toà nhà của Naples còn hơn là tụ tập chúng lại thành đám đông di chuyển ra khỏi thành phố này. Nhưng như thế cũng có nghĩa là họ phải đối đầu với rất nhiều nguy hiểm, ngay cả một chuyện đơn giản nhất cũng khó có thể hoàn thành. Đó là không thể nào che dấu hơn hai trăm đứa trẻ thóat khỏi cặp mắt cú vọ của bọn Đức. Connors rời mắt khỏi trận đấu bóng vì anh thấy Nunzia đang bước về phía chiếc xe jeep, tay cầm cái gì đó. Cô gái nói:
-         Con nghĩ bố và anh đây nên dùng chút cà phê cho buổi sáng. Anh Connors, tôi hy vọng anh thích uống cà phê không đường bởi vì chúng tôi chẳng còn chút xíu đường nào cả.
-         Cảm ơn cô, thế này cũng tốt lắm rồi.
Connors đáp, anh đưa ly cà phê đầu tiên cho ông Maldini. Ông già mỉm cười:
-         Tôi thấy anh đã làm quen với con gái tôi.
Connors nhấp một ngụm cà phê và gật đầu:
-         Chúng cháu đã có dịp nói chuyện với nhau về tôn giáo.
Connors bước ra khỏi xe, đến chỗ bọn trẻ đang chơi đá banh. Ông Maldini và Nunzia đi theo anh. Connors đi theo trái banh đang nảy trên nền đá, chân bọn trẻ giẫm thình thịch quanh khu đất đang bị cày xới vì bom đạn. Connors quăng ly cà phê xuống đất và chạy theo bọn trẻ, anh hét lên:
-         Dừng lại ngay! Các cháu đứng yên tại chỗ, đừng có cử động!
Vincenzo đá trái banh cho Franco, quay lại nhìn Connors rồi nói với đám bạn của nó:
-         Cứ chơi đi, đừng để ý tới những gì chú ấy nói.
Connors chạy gần tới chỗ đám trẻ đang đứng, anh rút khẩu súng lục ra khỏi vỏ, miệng gào lên:
-         Trời đất quỷ thần ơi, chú đã bảo đứng im tại chỗ kia mà?
-         Chú người Mỹ này, tụi cháu làm gì và không làm gì đâu phải là việc của chú? Để yên cho chúng cháu chơi.
Connors rút súng chĩa lên trời bắn liền hai phát, tiếng súng khiến tất cả phải dừng chân chờ đợi. Angela và mấy cậu con trai quay lại nhìn anh. Fabrizio chống chân lên trái banh đứng im như tượng đá.
Connors nói:
-         Các cháu đang chơi đá banh trên một bãi mìn.
Anh quỳ xuống rờ tay là là trên một ụ đất nhỏ, rồi anh ném từ từ từng viên sỏi nhỏ lên phần sân bọn trẻ đang chơi, mắt nhìn thật kỹ nơi viên sỏi dừng lại. Vincenzo hỏi:
-         Chú đang làm cái gì thế?
Connors nói, giọng bình tĩnh, mắt vẫn dõi theo hướng viên sỏi lăn đi:
-         Mìn thường được cấy xuống đất theo một trật tự nhất định. Thường người ta gài theo một hình tròn, to nhỏ khác nhau. Một khi cháu đã phát hiện ra bọn địch gài mìn theo kiểu nào thì cháu có thể đoán được những nơi nào có mìn. Đó là cách dễ nhất.
Connors ném thêm bốn viên sỏi lên quảng trường trước khi anh nghe tiếng kêu lanh canh dội lại. Đó là thứ âm thanh anh đang chờ. Tiếng lanh canh đó phát ra ngay gần bàn chân trái của Dante. Connors bảo:
-         Ở đó có một trái mìn.
Anh cúi thấp xuống và ném thêm năm, sáu viên sỏi nữa, anh đứng bật dậy ngay khi viên sỏi của anh tìm được trái mìn thứ hai. Lần này ngay gần chỗ Angela đang đứng. Anh vừa rón rén bước đi vừa nói với lũ trẻ:
-         Chú sẽ đào trái mìn này lên, sau đó chú sẽ tiếp tục đào nốt những trái mìn còn lại để các cháu có thể bước ra khỏi đây an toàn.
Một đám đông trẻ con đã tụ tập trên quảng trường. Connors nói với Nunzia, ánh mắt anh chợt bắt gặp ánh mắt cô, chỉ trong một thóang:
-         Em hãy giữ mọi người tránh xa nơi đây, ngộ nhỡ có chuyện gì xảy ra thì rất phiền.
Connors ghé sát mặt trên nền đá, tìm những trái mìn đã được chôn ở đó, Vincenzo bò bên cạnh anh, tay nó cầm một con dao nhỏ. Connors nhìn thằng bé cau mày:
-         Giờ thì chú mới biết các cháu chẳng đứa nào biết tiếng Anh cả.
Vincenzo bảo:
-         Thể nào chú cũng cần cháu  giúp đỡ mà.
Connors nhìn con dao trong tay nó, anh hướng dẫn:
-         Chú sẽ nâng khẽ hòn đá lên, còn cháu đào đất chung quanh nó, nhưng tránh xa phía trên và phía đáy dưới của quả mìn đấy và phải thật nhẹ nhàng mới được. Chỉ cần mạnh tay một chút là quả mìn sẽ phát nổ ngay thôi.
Vincenzo tiến đến gần hơn và bắt đầu gạt đất chung quanh quả mìn. Nó nhìn Connors đặt cục đá để qua một bên. Anh nói:
-         Chúng ta cần phải tìm một nơi cố định giấu những trái mìn này để làm sao bọn Đức không thể thấy chúng và mấy đứa trẻ khác cũng không phát hiện ra.
-         Tôi biết một chỗ.
Ông Maldini đã đứng cạnh Connors từ lúc nào bây giờ mới lên tiếng. Connors nhìn lên và lắc đầu:
-         Bọn trẻ sẽ kéo rần rần theo bác mất thôi.
Vincenzo hỏi:
-         Ở đâu cơ ạ?
-         Ở Parco Virgiliano, ở đó có hàng trăm hốc cây thông, giấu mìn ở đó là tốt nhất.
-         Bác và mọi người đã từng vận chuyển mìn chưa ạ?
Connors hỏi. Vincenzo đáp:
-         Trước đây chúng cháu đâu cần phải biết mìn là gì. Bây giờ biết cũng đâu có quá muộn.
Ông Maldini hỏi:
-         Vận chuyển mìn bằng cách nào đây?
-         Bằng xe đẩy.
Vincenzo nhìn bàn tay trái của Connors, lúc này đã luồn được xuống dưới đáy của trái mìn, nó thấy tay anh run lên, mạch máu ở cổ tay giật giật.
-         Gỡ mìn căng thẳng thế cơ à?
Connors cười gượng nói:
-         Không, nhưng nhưng quả mìn này cũng chẳng phải là một ổ bánh lớn. Nó khủng khiếp lắm. Nếu chú phạm phải một sai lầm nhỏ, tất cả chúng ta sẽ chết hết.
Vincenzo hít một hơi thật sâu và làm dấu thánh. Nó nhìn Connors luồn cả hai bàn tay xuống dưới trái mìn, bàn tay anh nhẹ nhàng và vô cùng thận trọng tìm xem có sợi dây hoặc ổ điện nào không. Anh nói:
-         Có vẻ như không có dây nhợ gì nối ra bên ngoài. Dây dẫn cháy được nối ngay dưới quả mìn này.
Vincenzo hỏi:
-         Giờ phải làm gì đây?
-         Chẳng làm gì cả, chỉ cần kéo trái mìn lên là xong.
Anh nắm chặt trái mìn, mắt nhắm nghiền lôi mạnh trái mìn lên khỏi mặt đất, anh chẳng nghe gì ngoài sự im lặng sững sờ. Connors gục đầu trên mặt đất, thở không ra hơi. Anh nghe tiếng Vincenzo thì thầm:
-         Ôi lạy Chúa!
Ông Maldini và Vincenzo đỡ anh đứng lên, anh ôm quả mìn trong tay. Connors hỏi:
-         Theo cháu, ở đây có khoảng bao nhiêu trái mìn?
Vincenzo đáp:
-         Có lẽ ba bốn trăm trái, chúng chôn mìn ở khắp mọi nơi.
Connors đáp:
-         Ta cũng có thể làm như chúng.
Vincenzo hỏi:
-         Ta chôn mìn xuống và giăng bẫy bọn Đức ư?
Connors đáp:
-         Nếu cháu thật sự muốn chống trả lại bọn Đức, cháu hãy sử dụng tất cả những thứ cháu lấy được của bọn Đức, dùng làm vũ khí chống lại chính chúng.
 
*
Connors cho xe chạy qua con đường Via dei Mille, đi về hướng thành phố nằm trên đỉnh đồi cao, hy vọng tìm thêm được thông tin của đoàn xe tăng Đức. Anh dừng lại nơi tượng đài của những người tử vì đạo, chân tượng đài là bốn bức tượng bằng đá hình bốn con sư tử to lớn. Ánh nắng buổi sáng dát vàng lên khu vực tượng đài, anh liếc nhìn lên xe, Nunzia đang ngồi thoải mái bên cạnh anh. Anh nói:
-         Trước đây anh chưa hề nhìn thấy một thành phố nào tuyệt vời như thế này. Thậm chí cả những toà nhà bị phá huỷ vẫn là những nơi tươi đẹp.
Nunzia lấy tay che mắt liếc nhìn anh:
-         Naples là thành phố kiên cường, người dân thành phố cũng vậy.
-         Em định ở lại đây cho đến khi chiến tranh kết thúc sao?
Nunzia chầm chậm lắc đầu:
-         Cha em đi đâu em sẽ theo đó. Ta khó có thể biết được những gì đến với ta trong vài giờ tới chứ đừng nói gì đến kế hoạch cho tương lai.
-         Thế em muốn làm gì nào? Nếu em phải chọn cho mình một việc làm, em sẽ làm gì nào?  
Nunzia nhún vai:
-         Em thích bọn trẻ con. Em thích ở quanh bọn chúng, nghe bọn chúng cười, cãi cọ, khóc lóc mỗi khi chúng không được chiều chuộng vừa ý. Ngày làm việc của em sẽ tuyệt vời hơn nếu em được nghe những âm thanh ấy. Được sống như thế em sẽ quên đi những âm thanh khủng khiếp mà em phải nghe trong những năm vừa qua.
Connors mỉm cười nồng hậu, anh nói với cô gái:
-         Em là cô giáo giữ trẻ cừ khôi. Bất cứ khi nào em cũng có thể chơi đuà thoả thuê với bọn trẻ của anh.
Cô gái hỏi giọng ngạc nhiên:
-         Anh có con rồi sao?
-         Anh quên đấy, đáng lẽ anh phải nói là nếu anh có con.
Connors lắc đầu:
-         Chưa, anh chưa có con và chưa có bất cứ ai đủ thân thiết để sau này trở thành vợ của anh.
-         Vậy khi trở lại quê hương anh, anh sẽ làm gì?
-         Trước khi cuộc chiến tranh khủng khiếp này bùng nổ, anh dự định sẽ trở thành luật sư, giờ thì anh không chắc mình muốn làm gì nữa.
Cô gái lắc đầu nói đùa với anh:
-         Trông anh không giống luật sư cho lắm. Ít nhất là giống những luật sư em từng gặp.
-         Em nghĩ sao mà nói vậy?
-         Trông anh hiền quá.
Nunzia nói và nhìn anh bằng ánh mắt khiến anh đỏ bừng cả mặt:
-         Bây giờ những luật sư làm việc dưới đế chế của Mussolini không tử tế như vậy đâu.
0
CHƯƠNG 23
Đại tá Von Klaus đi tản bộ một mình, đầu cúi thấp, vai xệ xuống, hắn bước đi trên con đường nhỏ, cỏ cây hai bên đường bị cháy sém, cách Naples mười lăm dặm về phía Bắc. Hắn thấy mình hơi lo lắng khi chuẩn bị kế hoạch quay trở lại Naples lần này.
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa hắn với Carlo Petroni chẳng mang lại điều gì bổ ích, chỉ làm tăng thêm nỗi lo lắng của hắn. Hắn đã báo cáo cuộc gặp gỡ ấy với viên tổng tư lệnh. Báo động rằng rất có thể sẽ có một cuộc đụng đầu xảy ra. Von Klaus chưa bao giờ nghi ngờ tài thao lược của hắn. Hắn chỉ lo lắng cái viễn cảnh hắn phải đụng độ với một lực lượng rõ ràng là ít ỏi, trang bị nghèo nàn, và lẩn trốn đâu đó trong thành phố. Giọng Kunnalt ồm ồm vang lên sau lưng hắn:
-         Ngài có điện, thưa chỉ huy. Một bức điện từ bộ tổng tư lệnh.
-         Đọc lên cho ta nghe, để ta xem họ khuyên ta điều gì khôn ngoan đây.
Von Klaus châm điếu thuốc trong lúc chờ Kunnalt liếc qua bức công điện. Một lúc sau Von Klaus hỏi:
-         Thế nào?
Quay lại, Von Klaus thấy mặt Kunnalt biến sắc.
-         Đây là điện phúc đáp lại thông báo của chúng ta về một cuộc chiến có thể nổ ra tại Naples, nhờ kháng cự của đám con nít không chịu đi tản cư, họ đã lên kế hoạch rồi. Sẽ thêm một đêm ném bom trải thảm trước khi chúng ta vào thành phố. Họ cũng sẽ cử một máy bay khác bay trên bầu trời Naples.
-         Để làm gì?
-         Máy bay đó sẽ thả hàng trăm ngàn viên kẹo trên đường phố của Naples. Những viên kẹo này được tẩm thuốc độc và được gói cẩn thận.
Von Klaus giật lấy tờ giấy trong bàn tay run rẩy của Kunnalt. Hắn thì thầm với tên cận vệ;
-         Đừng tiết lộ tin này với đám lính đấy. Ta không muốn những người lính dưới quyền ta phải xấu hổ khi họ chiến đấu bảo vệ cho nước Đại Đức.
Von Klaus dí đầu thuốc lá đang cháy đỏ vào mẩu giấy mỏng. Tờ giấy bùng cháy chỉ còn vài sợi tơ mỏng bay lơ lửng trong không trung.
Kunnalt run rẩy hỏi:
-         Khi nào ngài muốn chúng tôi hạ trại, thưa chỉ huy?  
-         Một giờ trước lúc bình minh.
Von Klaus đáp.
-         Ngài có muốn truyền đạt điều gì tới binh sĩ không?
Von Klaus cười buồn:
-         Có. Bảo chúng chớ có ăn kẹo do người lạ mang tới cho.
0
CHƯƠNG 24
Vincenzo đi theo chiếc xe gỗ qua cánh cổng vào Parco Vigiliano. Nó nhẹ nhàng níu dây cương trên mình con lừa. Franco ngồi trên lưng lừa, thùng xe đàng sau chất đầy những trái mìn vừa mới được đào lên. Bọn trẻ đã cẩn thận lấy giẻ cuốn từng trái lại trước khi mang đến đây.
Vincenzo hỏi Franco:
-         Đây là xe cuối cùng à?
Franco nhảy xuống đất đứng trước mặt Vincenzo nói:
-         Tớ đếm được ba mươi quả tất cả. Nhưng tớ dám cá trên những con đường trong thành phố đã có hàng trăm quả mìn được gài sẵn để làm hại chúng ta.
Vincenzo nói:
-         Có thể nói đến giờ này chúng ta gặp may mắn nhưng cứ để những trái mìn kia ở ngoài đó không cần phải lôi chúng lên, bấy nhiêu cũng đủ rồi.
Connors và Nunzia đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống con đường chính dẫn vào Naples. Trước mặt họ, ở khoảng cách độ hai dặm là cả một đội hình của lữ đoàn thiếp giáp số 16 của quân đội Đức. Tám mươi chiếc xe tăng Mark IV dọn đường cho năm trăm tên lính thiện nghệ được trang bị đến tận răng tiến tới, đàng sau chúng, những chiếc xe jeep kéo theo những khẩu súng pháo phòng không, và thêm khoảng hai chục con lừa chạy nước kiệu kéo theo những quả bom lớn và những khẩu súng phun lửa đen xì. Connors thôi không nhìn đám lính Đức nữa mà quay lại nhìn Nunzia.
-         Chúng đang dẫn nhau vào cửa ngõ chính dẫn tới trung tâm thành phố, cứ theo con đường đó chúng sẽ thẳng tiến đến cầu cảng trong thời gian ngắn nhất.
-         Có khi nào chúng lấy dầu xong rồi sẽ để cho chúng ta yên không?
Cô nói nhỏ nhưng vừa đủ nghe:
-         Chúng đã có tất cả nhưng vẫn chưa thoả mãn. Em nghĩ chỉ khi nào giết hết chúng ta chúng mới hài lòng.
Connors nhìn đăm đăm cô gái rồi nói:
-         Chúng ta nên trở về để giúp đỡ đám trẻ sẵn sàng chiến đấu.
Nunzia nhìn xuống đội binh Đức rồi hỏi:
-         Anh có ghét chúng không?
-         Ghét ai cơ?
-         Bọn Đức ấy.
-         Chẳng bao giờ anh ưa chúng. Tuy nhiên có rất nhiều tên lính chẳng ghét anh và đồng đội của anh là mấy. Chúng cùng độ tuổi như anh, về tuổi tác là giống nhau hết. Những tên ấy cũng xuất thân từ những gia đình giống như bọn anh mà thôi. Em hãy tưởng tượng, một đêm anh ngồi trong doanh trại uống cà phê cùng với anh lính đồng hương, cả hai cười nói vui vẻ về một câu chuyện vô thưởng vô phạt. Và rồi một viên đạn lạc găm đúng vào đầu của người đồng đội. Anh ta chết, mặt úp xuống đất ngay trước mắt anh. Lúc nào cũng phải chứng kiến cảnh ấy. Không bao giờ ta còn nghĩ được đối phương của ta là kẻ có nhân tính. Tất cả những mong muốn của anh là làm sao giết cho bằng được chúng.
-         Anh giết người nhiều lắm sao?
-         Phải. Nhưng cho dù anh có hạ được bao nhiêu kẻ thù đi chăng nữa, thì cũng không thể xoá đi được hình ảnh một người đồng đội của mình, mặc quân phục giống mình, giãy giụa trong vũng máu, chết trên cánh tay mình hoặc giả đau đớn nằm chờ chết. Nhìn cảnh đó con người ta biến thành một kẻ khác hẳn. hoặc cũng có thể một người phải trao đổi rất nhiều mới đứng vững ngoài mặt trận được.
Nunzia trìu mến nói:
-         Connors, anh là một người tốt nhưng bị bắt ép tham gia vào một cuộc chiến tranh kinh hoàng.
Connors đáp:
-         Anh là một chiến binh tốt. Một chiến binh tốt không có nghĩa là một người tốt.
 
*
Đêm khuya hôm đó Connors đứng trong căn phòng lớn của toà lâu đài Dell’s Ovo quan sát tấm bản đồ vẽ phác mô tả những vị trí trọng điểm của thành phố Naples.
-         Các cháu không đủ bút sáp để vẽ cho xong tấm bản đồ này hay sao?
Anh hỏi khi cố đọc tên những đường phố ghi trên bản đồ.
-         Chúng cháu đã tận dụng hết những gì mình có.
Vincenzo nói. Connors nhìn lên:
-         Chú muốn nhìn tận mắt và nghe cháu kể về những gì cháu biết một cách tường tận nhất. Chúng ta không có nhiều thời gian.
Ông Maldini đỡ lời:
-         Bọn Đức thông thạo đường đi lối lại của thành phố này. Trước đây chúng đã từng ở đây trong một thời gian dài.
Connors nói:
-         Nhưng chúng không biết quân số chúng ta là bao nhiêu người, hãy sử dụng điều đó như là một lợi thế. Còn một việc nữa chúng ta phải làm là…
Vincenzo hỏi:
-         Còn việc gì nữa kia ạ?
-         Chúng ta phải hô biến mấy thùng  dầu kia. Chúng ta cho nổ tung con tàu chở dầu ấy.
Connors nhìn thẳng vào mắt những người đang tụ tập thành một đám đông trong phòng.
Fraco hỏi:
-         Tàu lớn như thế thì cần bao nhiêu thuốc nổ?
-         Vấn đề không phải là thuốc nổ nhiều hay ít mà cần gây ra vụ nổ thật gần con tàu kia. Đám nhiên liệu trên con tàu ấy sẽ giúp  chúng ta hoàn tất phần còn lại.
-         Vậy khi nào sẽ ra tay?
-         Chúng ta phải châm ngòi đống thuốc nổ của mình trước khi con tàu kia đến gần và không kịp quay trở ra.
-         Vậy từ bây giờ cho đến khi con tàu kia tiến vào cầu cảng thì chúng ta phải làm gì?
Angela hỏi.
-         Chuẩn bị cho cuộc chiến – Connors đáp.
 
*
Họ hối hả làm việc trong đêm.
Trên các con đường dẫn vào các quảng trường chính của trung tâm thành phố, một tiểu đội các bé trai xếp các chướng ngại vật lên cao trên tầm ngực và đặt những khẩu súng trường không có đạn rải rác trên đó. Ông Maldini đưa những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất luồn lách qua đường cống thoát nước của Naples. Ông trao cho chúng cọc đóng những vị trí lợi thế dưới lòng đất để từ đó có thể quan sát con đường phía trên hoặc có thể đặt mìn dưới bánh xích của những chiếc xe tăng mà không sợ bị phát hiện. Khoảng chục thằng bé được giao các vị trí trên nóc các toà nhà cao tầng còn sót lại và các tháp chuông nhà thờ. Chúng được giao cho những khẩu súng trường còn tốt nhất, giao cho nhiều đạn dược nhất để từ đây chúng sẽ quan sát bọn Đức đi qua con đường phía dưới và nhắm bắn được dễ dàng. Angela và cậu bé Tino đi gom dầu hoả từ các căn nhà bỏ trống về, đổ đầy các chai lọ rỗng, cuốn giẻ lại, nút lấy miệng chai. Chúng đặt những cái chai dọc theo lối vào các toà nhà và nhà thờ. Bên cạnh đống chai là những cây nến lớn được xếp gọn ghẽ, sẵn sàng.
Những đứa trẻ khoẻ mạnh nhất được cử đi kiếm những cái nồi lớn nhất kéo lên những toà nhà cao nhất. Sau đó chúng đổ đầy nước biển vào, đặt lên đống củi khô đã chất sẵn. khi bọn Đức đến, chúng sẽ đốt cho lửa cháy, đun sôi nước và hất những nồi nước sôi vào đầu bọn lính Đức đi hành quân bên dưới.
-         Làm thế nào cháu nghĩ ra kế này vậy?
Connors hỏi Vincenzo, hai chú cháu bước dọc theo những con đường dẫn đến trung tâm thành phố đang diễn ra các hoạt động chuẩn bị cho cuộc chiến.
Vincenzo đáp:
-         Trong truyện “Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà” ấy. Chỉ khác cái nồi của hắn ta lớn hơn rất nhiều, và thay vì dùng nước biển, hắn ta dùng dầu hoả.
0
CHƯƠNG 25
Ở Salerno, chỉ huy trưởng Anders vừa nhai kẹo chocolate vừa nghiên cứu tấm bản đồ trải trên mặt bàn gỗ. trước mặt ông, đối diện là viên sĩ quan trẻ. Ông gật đầu ra hiệu. Viên sĩ quan bắt đầu nói. Anh chỉ tay vào một chấm nhỏ đánh dấu khu vực ngọai ô của thành phố Naples.
-         Bọn Đức đang ở đây và khi mặt trời lên, chúng đã ở trong thành phố rồi. Xác hai đồng đội chúng ta tìm thấy ở ngay chỗ này, bên cạnh họ là thi thể của hai tên lính Đức. Chung quanh họ không thấy xe cũng không thấy bất cứ máy móc nào. Thưa chỉ huy, tôi nói thế đã đầy đủ chưa ạ?
-         Còn hạ sĩ quan Connors, từ khi anh ta lên đường nhận nhiệm vụ đến nay, chúng ta chẳng được tin tức gì.
-         Ông nói đúng, chúng ta chẳng nhận được gì dù chỉ là một tin tức nhỏ.
-         Thế anh nhận định ra sao về chuyện này?
Carlson nói một cách quả quyết:
-         Tôi linh cảm anh ấy hoặc chết hoặc đã bị bắt, thưa chỉ huy. Nếu không , giờ ta đã nhận được báo cáo của anh ấy rồi chứ?
Anders nhìn kỹ hơn viên sĩ quan trẻ vừa được cử đến lữ đoàn của ông.
-         Nếu như những tay lính khác thì tôi đồng ý với anh. Còn Connors thì không. Tôi đã từng quan sát anh ta làm nhiệm vụ. Anh ta không phải là người dễ dàng để cho quân địch bắt giam và phải nói giết được anh ta cũng khó. Dám cá với anh là anh đã nhận định lầm rồi.
-         Vậy thì anh ấy đang ở đâu ạ?
-         Vẫn ở trong thành phố và nếu dân thành phố đó rục rịch ra tay làm chuyện gì đó thể nào hắn cũng góp mặt.
-         Không cần biết anh ấy đang ở với ai nhưng cũng cần phải báo cáo qua điện đàm về cho chúng ta. Tại sao anh ấy không chịu liên lạc?
-         Rất  có thể điện tín cậu ấy gởi về cho bộ chỉ huy đã bị bọn Đức phát hiện và tịch thu mất rồi.
-         Nếu anh ấy thật sự còn sống thì phải cử người đi cứu anh ấy về.
Anders khoanh tay trước ngực.
-         Chưa phải bây giờ. Cho Connors được tự do thêm một chút nữa. Cho anh ta có thì giờ làm nên chuyện rồi tự anh ta sẽ thoát thân.
0
 
CHƯƠNG 26
Connors đứng trên bức tường thành của toà lâu đài Saint Elmo quay ra  phía biển ngắm nhìn dãy núi lặng câm phía xa xa. Toà lâu đài được xây dựng vào năm 1329, những bức tường dày bao quanh toà lâu đài được thiết kế nhằm ngăn ngừa bất cứ cuộc tấn công nào vào thành phố. Connors cho rằng đây là nơi thuận tiện cho vài cậu bé quan sát chiếc tàu chở dầu di chuyển ra sao. Sau lưng anh thành phố trải dài, đứng từ đây có thể quan sát  được mọi động thái đang diễn ra dưới đó. Anh nghe tiếng bước chân của Vincenzo đến gần. Thằng bé nói với Connors:
-         Khi mặt trời lên và bầu trời trong xanh sẽ giúp ta quan sát dễ dàng những hòn đảo nhỏ chung quanh vịnh Naples. Nhưng lúc này trong thành phố luôn có lửa đốt tạo thành những đụn khói trắng khiến cho khó nhìn xuống thành phố bên dưới.
Connors bảo:
-         Quan sát thì dễ rồi. Nhưng làm thế nào những cậu bé đứng trên này có thể thông báo cho chúng ta chuyện gì xảy ra ở dưới. Không thể thông báo bằng cách hét ầm ĩ, còn báo hiệu bằng cách khác thì chú chưa nghĩ ra được cách nào là tốt nhất.
-         Cháu biết một cách, tuy nhiên cháu không biết cách này sẽ hữu dụng đến đâu.
Vincenzo nói, mắt nhìn chằm chằm vào phù hiệu con chim Thần Sấm trên tay áo Connors. Anh bảo:
-         Tốt hơn cháu hãy nói ngay cho chú nghe đi.
-         Ta hãy dùng chim đưa thư, tiếng Anh nói như thế nào hả chú? Nghĩa là chúng ta sẽ sử dụng những con chim bay từ chỗ này đến chỗ khác mang theo những thông tin của chúng ta.
-         Phải rồi, chim bồ câu. Cháu có chim bồ câu đưa thư ư?
-         Franco có. Nó nuôi chim và thỉnh thoảng thả chim bay để xem con nào bay cao hơn, Đã một hai lần gì đó nó đã sai con chim mang thư của mẹ nó cho một bà bác già ốm sống ở đầu bên kia của thành phố, cả hai lần bà ấy đều nhận được thư.
-         Ta hãy cử bốn cậu bé lên đây, bảo chúng nấp dưới bức tường này.
Connors nói, anh bước vào giữa sân thượng của toà lâu đài.
-         Các bạn cháu sẽ quan sát thấy xe tăng trước khi chúng ta nhìn thấy chúng.
-         Để cháu chọn những đứa tinh mắt nhé, Franco sẽ biết trong bọn cháu trước chiến tranh ai đã từng nuôi chim bồ câu, để cháu bảo bọn nó lên đây.
-         Cháu vẫn muốn giữ nguyên ý định chống trả lại quân Đức đấy chứ? Lúc này đưa mọi người ra khỏi thành phố vẫn còn kịp.
Vincenzo đáp:
-         Chúng cháu ở lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tất cả, không trừ một ai. Đã đến lúc dân Ý phải đứng lên chống lại ngoại xâm rồi.
Connors tiến đến gần Vincenzo, nghiêm nghị nhìn thằng bé:
-         Đây không phải là cuộc chiến của riêng người Ý mà là của tất cả mọi người. Đã có quá nhiều đồng đội của chú đã nằm lại trên bãi biển của nước Ý, nên chú không thể suy nghĩ khác được.
-         Tại sao chú lại chọn con đường này? Tại sao chú lại chấp nhận ở Ý và chiến đấu hết mình như vậy?
Connors vuốt ve tấm phù hiệu trên tay áo:
-         Đây là biểu tượng của lữ đoàn chú, đây là con chim huyền thoại mà người da đỏ ở Mỹ tin rằng con chim này sẽ mang mưa và sấm sét dội xuống đầu kẻ thù.
-         Chú cũng tin như thế à?
-         Chú chỉ tin khi có cả một lữ đoàn hùng hậu ủng hộ cho chú.
Có tiếng máy bay ầm ì vọng từ xa tới, Connors nhìn lên nhưng chẳng thấy gì ngoài những đám mây dày đặc trên bầu trời.
Anh cởi nón, phất lên rồi nói:
-         Âm thanh này nghe lạ lắm. Tốt nhất là ta nên xuống đường hầm đi. Cháu nhớ gọi mọi người xuống theo nhé.
Vincenzo bước qua một ụ đất đá, chỉ xuống con đường phía dưới, nơi một đám đông trẻ con đang chạy tán loạn tìm chỗ nấp. Nó nói:
-         Tụi cháu đã quen với tiếng máy bay kiểu này rồi, ai cũng tìm cho mình một chỗ đặc biệt để trú ẩn qua đêm.
-          Chỗ của cháu ở đâu?
-         Hầu như đêm nào cháu cũng ngủ ở dưới đường hầm gần nhà ga.
-         Thế tối nay thì sao?
-         Chắc cháu ở lại đây, đây là đêm cuối cùng, cháu sẽ chẳng có cơ hội nhìn thấy những gì bọn Đức ra tay với Naples.
Connors hỏi:
-         Cháu muốn ở lại đây một mình ư? Có muốn ai đó ở lại làm bạn với cháu không?
Vincenzo nhìn Connors mỉm cười:
-         Toà lâu đài rộng như thế này cơ mà, đủ chỗ cho cả hai đấy chú ạ.
Hai chú cháu ngồi xuống , nấp sau những bức tường dày của lâu đài, chờ cho thời khắc bắt đầu một đêm huỷ diệt.
 
*
Những chiếc túi rơi lộp bộp như mưa đá, một chiếc máy bay Đức bay thấp trên bầu trời thành phố. Nó mở ngăn thường chứa những quả bom, thả ra hàng ngàn, hàng vạn những viên kẹo socôla ngọt lịm xuống những con đường vắng vẻ phía dưới. Vincenzo nhìn lên bầu trời, trăng sáng vằng vặc, kẹo rơi quanh nó như tuyết rơi trong cơn bão mùa đông, nó dang hai tay ra, nó không thốt nên lời bởi một linh cảm ghê rợn vừa ập đến. Connors không nhúc nhích, anh nhìn không chớp mắt vào những viên kẹo rơi sát vào giày  của anh, anh hỏi Vincenzo:
-         Phải mất bao lâu cháu mới thông báo được một tin xuống cho những người đứng dưới đường kia?
-         Khỏi cần thông báo đâu, chú lính Mỹ ạ. Ai mà chẳng thấy kẹo đang rơi xuống như mưa chứ.
-         Bạn cháu có thể nhìn thấy kẹo, nhưng bạn cháu không biết rằng không nên ăn kẹo này.
-         Theo chú bọn Đức bỏ thuốc độc vào trong đó sao?
Connors đáp:
-         Cháu thừa thông minh hiểu kẻ thù hơn chú mà.
Vincenzo nhìn xuống những viên kẹo rải đầy trên sân thượng của toà lâu đài.
-         Chú có chắc không?
Connors nhặt một viên lên:
-         Cháu muốn chứng minh là chú nói sai sao?
Vincenzo chạy ra cửa xuống cầu thang dẫn tới cửa thoát ra khỏi lâu đài, hét lớn:
-         Cháu cần chú giúp. Chúng ta cần thông báo cho những người đang trốn trong đường hầm biết trước đã.
Connors chạy theo, anh băng ngang qua mặt Vincenzo trên chiếc cầu thang hẹp:
-         Chú sẽ chở cháu đi, chỉ cần cháu chỉ đường là được.
Vincenzo đoán phải mất cả nửa tiếng đồng hồ mới có thể thông báo đến cho tất cả mọi người, mà cũng có thể không đến nửa tiếng, bởi vì thả kẹo xong bọn Đức sẽ không ném bom. Connors nhảy xuống hai bậc thang một lúc.
-         Những gì chúng thả xuống thành phố lúc này còn ghê gớm hơn cả những trái bom. Cháu hãy nhớ kỹ rằng kẻ thù thâm độc như thế nào, nhất là khi chiến sự đang ngày càng ác liệt. Nếu cháu chỉ thông minh bằng một nửa những gì cháu đang thể hiện ra bên ngoài thì cháu sẽ không bao giờ quên những gì xảy ra ngày hôm nay. Đừng bao giờ quên mức độ tàn bạo của kẻ thù, có như thế cháu mới sống sót.
 
*
Connors và Vincenzo đứng giữa quảng trường Bovio, trước mặt họ là một đám trẻ con, tay chúng nắm chặt những viên kẹo từ trên trời rơi xuống như một phép lạ. Connors và Vincenzo chạy như điên cuồng, trên những con đường vắng trong thành phố, thông báo cho những người đang ẩn nấp rằng chớ ăn những viên kẹo kia. Thay vì ăn kẹo, bọn trẻ được yêu cầu gom tất cả kẹo và mang về quảng trường Bovio chất đống trong cái đài phun nước đã khô cạn. Nhiều đứa van nài hãy cho chúng nếm thử một miếng thôi, những cái bụng rỗng không của bọn chúng sôi lên khi thấy những viên kẹo ấy mà cứ phải tuân theo mệnh lệnh. Một giọng nói ngây thơ van vỉ:
-         Làm sao chú biết được cơ chứ. Chú chỉ đóan là kẹo có thuốc độc thôi, thực sự chú có thấy bằng chứng nào đâu.
Vincenzo run rẩy vì những sự kiện xảy ra trong đêm, nó giải thích cho bọn trẻ:
-         Bọn Đức làm ra vẻ nhân từ lắm, chúng biết chúng ta đang đói khát và hoảng loạn. Chúng muốn chúng ta nghĩ bọn chúng là bạn, nhưng hãy nhìn xem, nhìn những gì chúng đã gây ra cho thành phố chúng ta, nhìn chúng đã tàn phá đời chúng ta như thế nào, nhìn chúng đã giết hại những người thân của chúng ta ra sao, đó đâu là cách hành xử của những người bạn, chỉ những kẻ thù không đội trời chung mới gây nên những tội ác tày trời như thế.
Một thằng bé cao gầy, mặc chiếc áo bằng vải bông rộng thùng thình bước lên phía trước, tay nó nắm chặt trong túi quần:
-         Anh nói sai rồi – nó nói thật to để giọng nói của nó vang khắp quảng trường rộng lớn – Anh và người lính Mỹ kia sợ bọn Đức, tôi thấy mấy cái kẹo này có gì khác lạ đâu, ăn chúng thì làm sao nào?
Thằng bé đến gần núi kẹo để trong bể lớn dưới chân đài phun nước đã khô cạn, đài phun nước này được xây dựng nhằm tôn vinh thần Nepture. Connors giương súng lên chĩa vào thằng bé, nó nhìn anh thách thức:
-         Chú định làm gì hả chú người Mỹ? Định bắn cháu bởi vì cháu ăn kẹo sao? Nếu thế thì cũng đủ cho mọi người thấy ai là kẻ thù ở đây.
Connors nghiêm giọng:
-         Đây không phải là lúc giả bộ ngớ ngẩn, nghĩ kỹ một chút đi, nếu cháu lẳng lặng quay đi tự nhủ rằng phải bỏ mạng chỉ vì ăn một viên kẹo thì quả thật đáng tiếc làm sao. Nếu cháu nghĩ được như thế thì chẳng cần chú ngăn cản cháu đâu.
Connors bỏ súng xuống trước, thằng bé vẫn bước tới, đi ngang qua mặt Connors, mắt dán chặt vào đống kẹo. Nó đến bên vòi phun nước, nhặt một cái kẹo to tướng, mỉm cười bóc lớp vỏ bóng kính bao viên kẹo.
-         Chớ có ăn!
Connors và Vincenzo quay phắt lại phía đám đông khi nghe tiếng nói của ông Maldini.
-         Hãy nhìn xem viên kẹo của Roberto có tác dụng nhanh như thế nào, nó không thể nuốt trôi được viên kẹo còn ngậm trong miệng.
Thằng bé buông rơi viên kẹo cầm trong tay quay lại nhìn đám đông đang dạt sang một bên để ông Maldini đến gần vòi phun nước. Ông đang bế theo thi thể một thằng bé tóc đen cởi trần, đầu thằng bé gục vào vai ông già, tay nó vẫn còn nắm chặt mảnh giấy gói kẹo. Sắc mặt ông Maldini đỏ tía lên vì giận dữ, ông đến trước mặt cậu bé cao gầy, nhìn sâu vào mắt nó, giọng ông dịu lại:
-         Quên mấy cục kẹo đó đi, hãy theo bác đi chôn cất cho bạn cháu.
San Domenico Maggiore là một nhà thờ mà thánh Thomas Aquinas từng đến cầu nguyện. Thành trì vây quanh nhà thờ được xây chắc chắn, chung quanh thành trì ấy người ta xây năm nhà nguyện nhỏ với kiến trúc cầu kỳ tuyệt đẹp. Trong những nhà nguyện ấy, người ta treo những bức tranh quý giá nhất của nền hội hoạ Ý. Nhưng đêm nay nhà thờ đông chặt trẻ con, những mái đầu của chúng cúi xuống thấp khi chúng cầu nguyện.
Ông Maldini quỳ trên hàng ghế đầu. Thi thể của thằng bé đã lạnh ngắt được đặt trên bệ cao nhất của điện thờ chính. Nunzia quỳ xuống bên cạnh ông Maldini. Một thằng bé gầy gò đứng cạnh thi thể người đã chết, nó có khuôn mặt tròn trịa, giọng trong trẻo của nó vút lên:
-         Ave Maria…
Connors và Vincenzo quỳ gần đó, Fabrizio nắm lấy tay áo Connors, mắt nó dán chặt vào thi hài người bạn bằng tuổi nó. Bên cạnh Fabrizio là con chó ngao đang nằm dài, thân hình to lớn của nó chiếm một chỗ thật rộng khiến bọn trẻ phải nép sát vào nhau.
Họ ở trong nhà thờ thật lâu, mọi người đều quỳ, cầu nguyện và hát những bài thánh ca cho đến khi mặt trời lên đem một ngày mới đến cho một thành phố đang bị tàn phá bởi chiến tranh.
0
CHƯƠNG 27
Ngày 28/9 – ngày chiến đấu đầu tiên
 Phát đạn đầu tiên từ chiếc xe tăng đi đầu làm nổ tung những bức tường rêu phong của toà nhà đứng trên đường Via Toledo suốt từ thế kỷ XVI cho đến nay. Loạt đạn thứ hai khiến cho gạch vỡ, kính vỡ, mảnh đạn bay tung lên bầu trời sáng sớm. Hai tên lính Đức ném lựu đạn vào những khung cửa sổ bể vỡ và những cửa tiệm bỏ trống. một tên lính Đức còn trẻ, mặt non choẹt, nâng nắp xe tăng lén lút nhìn xuống con đường trống trải và ra hiệu cho ba chiếc xe tăng khác lừ lừ tiến vào pháo đài thép hiệu Mark IV của hắn.
Những chiếc xe tăng kia chuyển động và dừng lại ở làn đường bên phải của một đại lộ rộng lớn, có sáu tên lính vũ trang tận răng đi theo chiếc xe tăng này, hai tên lăm lăm súng phun lửa trong tay. Bầu không khí tĩnh lặng tắm đẫm ánh mặt trời rung lên từng đợt khi chúng bắn những viên đạn huỷ diệt vào mặt tiền của một toà dinh thự còn tồn tại sau những trận ném bom khốc liệt. Hai tên lính trang bị súng phun lửa bước vào trong ngôi nhà đang cháy âm ỉ, chúng cầm đèn pin sục sạo các căn phòng. Tên sĩ quan trẻ gào lên át tiếng xe tăng gầm rú nhức óc:
-         Đừng để bất cứ thứ gì còn sót lại, nếu đứng từ phía đường bên kia nhìn rõ phía bên này thì mấy người có thể tiến lên được rồi đấy.
Vào lúc tám giờ của một buổi sáng thứ ba đầy nắng ấm, cuộc phá huỷ cuối cùng biến thành phố Naples thành tro bụi bắt đầu.
 
*
Connors và Vincenzo trốn trong cánh cửa ra vào của một căn hộ, một tấm màn mỏng ngăn cách họ với con đường ngoài kia. Connors dùng súng hé tấm rèm nhìn ra ngoài, anh thấy nòng đại bác của các xe tăng khạc lửa liên tục vào mặt tiền những ngôi nhà trên đường Via Toledo. Anh nói:
-         Có vẻ như chúng chia đội hình ra, bốn xe tăng cho mỗi đường phố thì phải.
-         Có bao nhiêu lính hả chú?
Vincenzo hỏi, bên cạnh nó là một khẩu súng săn cũ và hai chai dầu hoả được đậy kín bằng bùi nhùi.
Connors ghé đầu nhìn cho rõ hơn:
-         Ba mươi lăm, cũng có thể là bốn mươi. Đó chỉ là những tên lính ở hai bên phía sườn xe thôi.
Vincenzo hỏi:
-         Ta có đủ thời gian để sẵn sàng cho kế hoạch không ạ?
-         Điều đó phụ thuộc vào ông Maldini và Franco nếu họ đến đó đúng lúc, chúng ta sẽ còn cơ hội.
-         Đừng lo, hai người đó sẽ đến kịp thời mà. Sáng nay họ đâu phải làm việc gì khác đâu.
Những chiếc xe tăng đang ngắm vào dãy nhà nằm cách con đường rộng khoảng vài trăm bộ. Connors chụp lấy một cái chai thuỷ tinh bảo Vincenzo:
-         Cháu đợi ở đây. Chú sẽ cố đến gần hơn. Đừng cử động gì hết cho đến khi thấy chú ra hiệu.
Vincenzo gật đầu nhìn Connors lần ra đường Via Toledo. Anh chúi đầu chạy, Vincenzo ngồi thụp xuống tựa đầu vào mảnh tường lỗ chỗ những vết đạn. Nó nhìn những toà nhà ở gần đó và không thấy dấu hiệu của  ông Maldini và Franco gì cả. Nó nhìn xuống con đường lớn, cố quan sát qua bức màn khói mù mịt. Connors giờ đã núp dưới bóng một bức tường. Nó nghe tiếng chuông nhà thờ ngân nga, đó là dấu hiệu của ông Maldini và Franco cùng những người khác đã sẵn sàng ở vị trí của mình.
Vincenzo bước ra đường. Ông Maldini một tay cầm chai dầu, một tay cầm mồi lửa chạy từ toà nhà phía sau lưng nó ra. Ông Maldini ném cái chai vào hai tên lính đang tiến lên rồi ông nhào đến bên cạnh Vincenzo, túm ngang thắt lưng nó lôi vào con hẻm nhỏ thông ra đường Via Toledo, hai người chạy tới góc tường và núp sau một bức tường đá cháy nham nhở.
Trên sân thượng của các toà nhà dọc theo con đường, hơn hai chục thằng bé tạo nên một cơn bão lửa với những cái chai dầu hoả để tung hoặc nổ trên những chiếc xe tăng hoặc bọn lính phía dưới. Connors tiến lên bắn hai tràng đạn vào tên lính đang cầm súng phun lửa. Tên lính này ngả lưng ra, lật úp trên mặt đất. Connors nhặt khẩu súng phun lửa chạy về phía chiếc xe tăng đi đàng sau yểm hộ cho cuộc tấn công của quân Đức. Anh nhảy lên sườn xe, lấy thăng bằng rồi mở nắp chiếc xe tăng. Anh chĩa khẩu súng phun lửa vào đó và bóp cò. Khói cùng tiếng la hét vút lên trên bầu trời xanh thẳm. Connors nhảy xuống nhìn chiếc xe tăng, đánh giá mức độ thiệt hại. Anh nhìn lên nóc toà nhà và nhận ra Nunzia đang đứng trên đó. Anh đưa bàn tay lên, ngón trỏ và ngón cái làm thành một vòng tròn, đó là ám hiệu bảo mọi người rút lui nhanh chóng. Nhìn thấy cô làm ám hiệu đáp trả, anh mới quay lui nhìn những gì đang diễn ra trên đường phố. Vài tên lính Đức đã gục ngã. Trên hai chiếc xe tăng hư hỏng, hàng chục tên lính khác bước chậm dọc theo con đường tìm những mục tiêu tấn công mới. Connors quay lưng chậm rãi nhặt thật nhiều vũ khí, đủ sức anh mang vác được.
Trận chiến đầu tiên vào rạng sáng ngày hôm đó đã kết thúc.
 
*
Ông Maldini túm vai Vincenzo lôi nó ra khỏi bức tường. Hai người chạy trốn trong lúc những tên lính Đức đuổi theo sát nút. Ông bảo nó:
-         Cháu không thể ở đây được. Chúng ta sẽ chạy lên mái nhà, sau đó sẽ tìm đường đến địa điểm tập kết ở bên đài phun nước. Cách đó là an toàn nhất.
Cả hai người lẩn vào trong hành lang tối om trong lúc những tên lính Đức vẫn đuổi gấp phía sau. Ông Maldini chỉ lên chiếc cầu thang phía tay phải và cả hai chạy lên cầu thang hẹp. Ông già chạy trước, ông bảo:
-         Hãy cầm lấy hai chai xăng đi.
Ông hất hàm chỉ dãy chai xăng để ngay ngắn bên cửa.
-         Cầm cả cây nến nữa, khi nào không dừng được mới sử dụng nhé.
Cả hai lên tầng thứ hai của toà nhà, họ nghe tiếng chân bọn lính dưới tầng trệt. Vincenzo bảo:
-         Bác cứ lên đi, cháu sẽ gặp bác sau, ở đài phun nước.
Ông Maldini bước xuống cầu thang, túm tay Vincenzo:
-         Cháu chắc sẽ thoát được chứ?
-          Chắc chắn.
Vincenzo nhìn thẳng vào mắt ông Maldini.
Ông Maldini hít một hơi thật sâu rồi nói:
-         Hãy chờ bọn chúng đi lên cầu thang, châm mồi lửa, giữ trong tay, ném ra đàng sau rồi cứ mặc trúng đâu thì trúng, cứ chạy theo những bậc cầu thang này thật nhanh. Nhớ phải thoát thân trước đã.
Ông Maldini biến mất nơi khúc quanh của cầu thang. Nó nghe tiếng tim của mình đập thình thịch khi tiếng bước chân của bọn Đức vọng lên từ những bậc cầu thang phía dưới, nó dí mảnh giẻ vào ngọn nến đang cháy, rồi nó quăng cây nến đi. Giờ nó đang đứng trên cầu thang cách ba tên lính Đức vài bậc. Nó nhìn chúng một thoáng, cả ba tên dừng lại nâng súng lên, nó kịp vung cái chai xăng vào bọn chúng đúng lúc hai viên đạn bay sượt trên đầu nó, thằng bé gào lên:
-         Naples muôn năm!
Tiếng nổ lớn vang vọng trong những bức tường của ngôi nhà, làm gẫy lan can của cầu thang. Ba tên lính chết gục.
0
CHƯƠNG 28
Von Klaus nhìn Kunnalt vội vã chạy đến bên hắn. Tên cận vệ đứng nghiêm chào, hắn luôn hài lòng về thái độ nịnh bợ của tên cận vệ trẻ. Tuy nhiên, nhìn vẻ mặt hơi bối rối của Kunnalt, hắn biết tin tức của tên này mang đến chẳng có gì hay ho.
-         Lại gặp rắc rối rồi chứ gì?
Hắn hỏi Kunnalt. Hai thầy trò hắn đang đứng trong Royal Palace, tạm gọi là trụ sở của lữ đoàn thiết giáp số 16.
Kunnalt báo cáo:
-         Trên đường Via Toledo, 9 binh lính của ta đã bị thiệt mạng, 3 bị thương, 3 bị thương rất nặng, 3 chiếc xe tăng bị hư hỏng nặng.
Von Klaus sửng sốt nhìn Kunnalt:
-         Ai gây ra  chuyện đó?
Hắn hỏi, hàm răng nghiến lại giận dữ.
Kunnalt trả lời:
-         Hầu hết là do bọn trẻ con, bọn chúng xếp hàng trên sân thượng các toà nhà. Chúng được trang bị bởi các khẩu súng săn và các quả bom tự chế.
-         Bọn trẻ chỉ định chơi khăm chứ không thể tổ chức cả một cuộc chiến đấu chống lại bọn ta như thế. Phải có ai đó cầm đầu bọn chúng, đó là ai vậy?
-         Chúng tôi không chắc, thưa chỉ huy. Nhưng những người lính của chúng ta báo cáo lại rằng có một vụ đụng độ trên đường phố, quân ta phải đọ súng với một tay lính Mỹ. Hắn xuất hiện ngay bên sườn của đoàn xe và có vẻ như hắn cầm  đầu bọn trẻ tổ chức kháng cự.
-         Quân Mỹ đang chết dí ở Salerno. Động thái cuối cùng cho thấy những cánh quân ấy di chuyển là xảy ra cách đây một tuần. có thể họ đã cử một toán quân xuống thành phố nhưng chắc chắn không thể cử ai đi một mình như vậy. Tôi đoán còn những tay lính Mỹ khác rải rác trong thành phố này. Ta phải tìm ra chúng và thật nhanh, ta không muốn nhắc lại những chuyện xảy ra trong buổi sáng nay nữa, chẳng lẽ ta phải đích thân thực hiện nhiệm vụ này, lái xe tăng húc đổ các toà nhà kia hay sao? 9 người thiệt mạng, 3 xe tăng bị hư hỏng nặng, thật điên rồ hết sức.
Kunnalt đáp:
-         Quân đội của chúng ta không nghĩ sẽ có sự kháng cự ở đây.
Von Klaus bẻ lại:
-         Họ đều là những chiến binh, giờ thì cư xử đàng hoàng như lính tráng được luyện tập và trang bị hẳn hoi xem nào.
-         Thưa chỉ huy, vậy mệnh lệnh đưa ra có gì thay đổi không ạ?
-         Cứ tiếp tục thi hành những mệnh lệnh ấy đi, không nương tay với bất cứ ai. Cả nhà cửa lẫn người ngợm phải tan xác, kể cả bọn trẻ con cũng không tha.
0
CHƯƠNG 29
Steve Connors ngồi trên tảng đá lớn trong tầng hầm tối trong nhà thờ, anh rờ tay kiểm tra những nút nhấn trên máy bộ đàm đã bị vỡ, bên cạnh anh chỉ còn mỗi một ngọn nến chiếu xuống chiếc máy ấy. Anh tức tối đập mạnh vào cái máy bị hư. Trong cơn giận dữ, anh đá nó lăn lông lốc trên mặt đất. Connors ngồi dựa lưng vào bức tường, mắt nhìn chòng chọc vào trong bóng tối.
-         Giận dữ thì có ích gì cơ chứ?
Vincenzo cất tiếng hỏi, thằng bé đứng trong góc phòng. Giọng nhỏ nhẹ của nó vang trong bầu không khí tĩnh lặng của tầng hầm, nó bước đến gần Connors:
-         Chú cần phải liên lạc với đơn vị của chú, phải gọi quân cứu viện đến thôi.
-         Nếu hôm nay có quân đội Mỹ đến, liệu có chiến đấu xuất sắc hơn bọn cháu không?
Connors bảo:
-         Hôm nay ta gặp may đấy, bởi vì bọn Đức không nghĩ chúng ta sẽ kháng cự. Dịp may này sẽ không đến lần thứ hai, có nghĩa là sẽ có thêm nhiều người của chúng ta sẽ bỏ mạng.
-         Đây là trận chiến đầu tiên của cháu và cháu sợ lắm. Mọi chuyện nghiêm trọng hơn cháu tưởng.
Connors nhìn Vincenzo nói:
-         Chú nghe nói cháu đọc rất nhiều sách về lịch sử quân đội, những cuốn sách đó làm cho người ta nghĩ rằng chiến tranh dễ dàng như một bàn cờ vua, họ không chỉ cho cháu cách nhấn cò súng ra sao. Phải giữ bình tĩnh như thế nào khi viên đạn của cháu nã trúng đầu đối phuơng bằng xương bằng thịt, cũng vào độ tuổi như cháu, chỉ có điều mặc bộ quân phục khác mà thôi.
-         Chú lúc nào cũng sợ như vậy sao?
-         Lần đầu tiên là khủng khiếp nhất. Không có cuộc huấn luyện nào chuẩn bị cho cháu đối mặt với cuộc đụng độ đầu tiên. Nếu như cháu chiến đấu nhiều hơn, cháu sẽ chấp nhận được thực tại nhiều hơn, nhưng không bao giờ cháu quên được sự sợ hãi.
Connors đứng lên, bước tới những bậc tam cấp trên lối đi ra khỏi nhà thờ. Anh dừng lại trước bức tượng thánh Jude phủ đầy bụi:
-         Ông ấy là thần hộ mệnh cho những người thua cuộc. Người Ý gọi tên ông khi họ không còn biết trông cậy vào ai đến cứu giúp mình nữa.
-         Cầu nguyện thế có linh nghiệm không?
-         Chú ở đây cũng đã lâu, đủ để biết câu trả lời. Nhưng người Ý không bao giờ đổ lỗi cho các thánh, họ chỉ kết tội mình. Thế nên họ cầu nguyện mỗi ngày và mỗi khi dịp tốt lành đến, họ lại cảm ơn các vị thánh phù hộ cho họ.
Thằng bé rờ tay lên chân của bức tượng rồi cả hai cùng ra khỏi nhà thờ, bỏ lại sau lưng một nơi chốn yên bình tạm bợ trong cuộc chiến.
 
*
Ba chiếc xe tăng của Đức gầm gào tiến vào giữa quảng trường Dante. Trong khoang xe quá nóng cho nên mấy tên sĩ quan đứng ló đầu ra cửa xe đang mở. Khoảng mười tên lính chạy chung quanh xe, mắt chúng theo dõi bất cứ cử động nào phía trên tầng thượng các ngôi nhà. Những chiếc xe tăng dàn đội hình, nòng súng chĩa thẳng vào mục tiêu cần phá huỷ. Sự kiện xảy ra trên đường Via Toledo đã được thông báo bằng máy bộ đàm đến tất cả các cánh quân, thế nên lúc này chúng đã cảnh giác hơn lúc trước nhiều.
Bức tượng nhà thơ Dante nhìn lên tháp đồng hồ lớn đang thong thả buông từng tiếng chuông điểm mười giờ sáng.
Hai chiếc xe kéo bằng gỗ đang náu mình sau bệ tượng, mỗi xe chất đầy mìn và cả thân xe bằng gỗ thấm đẫm dầu hoả. Vincenzo xuống xe, nó lăm lăm súng trong tay, đi lom khom, nép bên thành xe. Franco và Angela cũng làm theo. Franco nói:
-         Mấy cái xe tăng đứng đúng vị trí ta đã đoán trước.
Vincenzo đáp:
-         Chú lính Mỹ cần thêm mấy phút nữa để vào vị trí, tới lúc đó ta có thể di chuyển được rồi.
Angela hỏi:
-         Nếu lỡ lính Đức bao vây phía sau chúng ta thì sao?
-         Ta sẽ hất chiếc xe gỗ này về phía chúng. Đó là dấu hiệu báo cho mọi người đang ở vị trí chiến đấu hãy chạy trốn.
Franco nhận xét:
-         Kế hoạch ấy nguy hiểm quá!
-         Trong cuộc chiến này chẳng có kế hoạch nào là không nguy hiểm cả.
 
*
Chiếc xe tăng đứng giữa trả số và dừng lại trên đường. Hai chiếc xe tăng hai bên cũng nhanh chóng dừng lại. Quảng trường đầy những tên lính cúi lom khom, súng sẵn sàng hướng về phía trước, chĩa vào một ông già và một thằng bé đứng ngay trên con đường đi vào trung tâm quảng trường.
Ông Maldini đối mặt với ba chiếc xe tăng sừng sững và cả chục tên lính trang bị súng ống chỉnh tề. Ông giơ hai tay lên trời, miệng cười tươi. Bên cạnh ông, thằng bé Fabrizio đùa giỡn với trái banh dưới chân.
Tên sĩ quan trong chiếc xe tăng ở giữa ra hiệu cho ông Maldini tiến đến gần hơn. Hắn hỏi:
-         Mấy người làm gì ở đây? Sau lệnh tản cư, mấy người không được phép ở trong thành phố nữa.
Ông Maldini tiến lên, miệng nói:
-         Tôi biết, thưa ngài chỉ huy. Lần đầu tiên các ông đến đây, tôi đã chuẩn bị đồ đạc để đi rồi. Nhưng thằng bé nhà tôi đã chạy đi đâu mất, nó sợ súng ống, kể từ đó tôi cứ đi tìm con suốt ngày suốt đêm. Sáng nay nhờ ơn trời, tôi đã tìm thấy nó, nó trốn trong căn phòng lớn ở toà nhà ngay trước mặt chúng ta.
Chân vẫn không ngừng đùa giỡn với trái banh, Fabrizio ngước mắt nhìn tên sĩ quan Đức. Ánh mắt nó thấy thứ nó đang tìm, một quả mìn gắn trên cái cột xây bằng gạch ngay trên đầu bốn tên lính Đức đeo đầy súng đứng gần khẩu súng máy thò nòng dài phía bên tay phải của chiếc xe tăng.
Tên sĩ quan gầm gừ:
-         Mấy người ở đây không sợ tôi bắn hả?
Maldini nói:
-         Tôi biết mà, thưa sĩ quan. Tôi xin ông hãy cho chúng tôi một ân huệ, giờ chúng tôi sẵn sàng đi bất cứ nơi nào ông muốn.
-         Trong mấy toà nhà kia còn ai trốn trong đó cùng với con trai ông hay không?
-         Tôi không thấy ai cả, thưa ngài.
Fabrizio dùng mu bàn chân hất trái banh lên đầu gối rồi giữ trái banh thăng bằng trên một chân của nó. Ông Maldini xoay lại phía thằng bé, dịu dàng xoa đầu nó:
-         Đến giờ chơi bóng rồi đó con.
Fabrizio gật đầu. Nó để trái banh rớt xuống đất nảy tưng tưng trên nền đá rồi cứ thế nó chạy theo trái banh, đôi chân rê trái banh tiến lên phía trước. Mấy tên lính Đức buông súng nhìn thằng bé thành thạo đưa trái banh tới trước quảng trường. Một vài tên cười lớn khi thấy thằng bé đá trái banh về phía trước và rồi quỳ xuống kịp thời để trái banh rơi xuống trúng ngay đầu nó. Ông Maldini đứng gọn sang một bên đường, mắt ông nhìn trái mìn, tay phải ông giấu phía sau nắm chặt khẩu súng lục nhỏ.
Fabrizio lại đứng lên, trái banh hết nảy từ chân lên ngực đến cánh tay thằng bé. Mấy tên lính thoải mái gật đầu thán phục. Viên sĩ quan chăm chú nhìn Fabrizio, miệng lẩm bẩm nói với ông Maldini:
-         Con ông chơi banh tuyệt vời, nó là cầu thủ giỏi nhất tôi từng được thấy.
Ông Maldini nói:
-         Ông có muốn xem cháu nó sút banh không ạ? Tôi thề rằng cả đời ông chỉ có một lần chứng kiến cú sút banh đẹp như thế.
Tên sĩ quan nhìn quanh, bắt gặp những nét mặt vui vẻ của những tên lính dưới quyền hắn, hắn nhìn ông Maldini và gật đầu đồng ý.
Fabrizio quay đầu nhìn ông Maldini, quả banh bay lên không trung, khuôn mặt bầu bĩnh của nó ướt đầm mồ hôi. Ông Maldini bảo thằng bé:
-         Fabrizio, sút bóng vào gôn đi!
Thằng bé đưa trái banh đến gần chiếc xe tăng và bọn lính Đức, nó nhìn thẳng mục tiêu, nó cách tên lính gần nhất chỉ một tầm tay với. Tới lúc đó, Fabrizio đá trái banh lên trời về phía cây cột bằng gạch ngay cạnh chiếc xe tăng ở giữa đội hình.
Trái banh trúng vào giữa trái mìn, một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả quảng truờng. Những mảnh gạch đá cùng kính vỡ rơi ào ào xuống chiếc xe tăng và những tên lính, một bức màn nóng bỏng dày đặc, một thứ khói màu nâu chụp lấy ông Maldini, che chở cho ông khi ông chạy về phía Fabrizio. Ông nắm lấy tay thằng bé chạy về một phía góc quảng trường, tới bên một cánh cửa mở sẵn cho họ. Đạn bay vèo vèo theo đường ngoằn ngoèo khi hai người, một già, một trẻ, tìm đường thóat thân.
-         Cháu đá giỏi không? – thằng bé hỏi ông khi cả hai chạy về phía Connors đang vẫy tay rối rít giục họ chạy thật nhanh.
Ông Maldini cố nói qua làn hơi thở hổn hển:
-         Cháu đá banh giỏi lắm.
Rồi ông chạy ngang qua mặt Connors, vào nơi an toàn trong một dãy hành lang phía trong toà nhà dùng làm văn phòng. Connors nhìn ngược hướng họ chạy, anh nổ súng yểm trợ và thầm kiểm tra trái mìn nổ kia đã mang đến thiệt hại cho quân đội Đức như thế nào. Chiếc xe tăng đứng giữa bẹp dúm dó. Tên sĩ quan vắt ngang người trên cửa xe tăng còn mở bị thương nặng. Ba tên lính chết ngay tại chỗ. Hai chiếc xe tăng khác tiến thẳng tới trung tâm của quảng trường bắn như vãi đạn vào những toà nhà xung quanh chúng.
Connors nhìn Fabrizio và nháy mắt. Con chó ngao ngay cạnh thằng bé vừa ngửi vừa liếm vào mặt Fabrizio. Connors bảo:
-         Theo chú, cháu thực sự là một cầu thủ bóng đá cừ khôi.
Fabrizio vỗ đầu con chó rồi mỉm cười với Connors:
-         Nhưng giờ cháu chẳng được chơi banh nữa rồi. Đó là trái banh duy nhất của cháu.
Nunzia xuất hiện ngay sau lưng Connors. Cô đặt một tay lên vai anh nói nhỏ nhẹ:
-         Mọi người sẵn sàng rồi đấy.
Đạn súng máy cày trên những bức tường ở tầng hai của toà nhà. Connors lẩm bẩm:
-         Tụi Đức cũng sẵn sàng rồi.
Anh nhìn ra ngoài. Hai chiếc xe tăng đang lừ lừ tiến về phía họ.
 
*
Hai chiếc xe kéo bằng gỗ chầm chậm lăn bánh tới gần cổng chào của quảng trường. Mỗi xe chở bốn quả mìn lớn. Vincenzo khom người chạy dọc theo bức tường, hé mắt nhìn ra ngoài quảng trường. Những trái đạn pháo nổ ầm vang làm rung chuyển nền móng của các toà nhà. Khi xây dựng những toà nhà kia, người ta đã thiết kế để chúng có thể tồn tại vĩnh cửu. Nó lấy ống tay áo lau mồ hôi trán, hít thở thật sâu và nhắm nghiền mắt lại. Bên cạnh nó là sáu thằng bé súng ống sẵn sàng. Ở đầu bên kia của quảng trường, Franco đang chờ với chiếc xe đẩy thú hai. Một đứa bé trong đội hỏi Vincenzo:
-         Làm sao biết lúc nào thì ra khỏi đây?
Vincenzo an ủi nó:
-         Cứ chờ đi mà.
Thằng bé không che giấu được sự sợ hãi.
-         Em chưa bao giờ sử dụng súng trường cả. Em hy vọng không đến nỗi viên đạn bay vòng lại trúng em.
Vincenzo đáp:
-         Chĩa thẳng nòng súng về phía mấy tên lính mặc quân phục, sau đó bóp cò. Bóp cò xong rồi thì người tài giỏi nào cũng phải trông chờ vào may mắn thôi.
Một tiếng nổ lớn khiến bọn trẻ phải nằm úp sấp mặt xuống đất ẩm chờ đợi. Tiếng nổ ấy phát ra từ phía bên kia của quảng trường. Gạch đá cùng bụi vữa bay vào toà nhà nơi Connors và những người khác đang đứng. Mặt tiền của toà nhà bị phá huỷ để lại những bức tường nham nhở. Làn khói đen kịt bốc thẳng lên trời cao. Quả bom nổ khiến bốn tên lính Đức thiệt mạng. Một chiếc xe tăng nữa, chiếc xe thứ hai bị hư hỏng nặng.
Vincenzo đứng lên nói với các bạn mình:
-         Đến lúc rồi. Hãy cho bọn Đức kia thấy Naples không phải là một thành phố chết.
Bọn trẻ tụ tập nhau lại cuối chiếc xe gỗ, đẩy nó ra quảng trường. Chúng hè nhau đẩy thật nhanh chiếc xe về phía chiếc xe tăng duy nhất còn hoạt động được. Ở góc bên kia của quảng trường, Franco và nhóm bạn của nó cũng làm y hệt như vậy. Vincenzo bắt gặp ánh mắt của Franco, nó gật đầu rồi hét lên với các bạn đang chạy phía sau nó:
-         Tản ra và bắn yểm trợ cho tớ, để xe đẩy một mình tớ lo!
Bọn trẻ từ sau chiếc xe gỗ chạy tản ra. Tiếng súng trường nổ đì đùng về phía những tên lính Đức. Vincenzo đẩy chiếc xe gỗ bằng tất cả  sức lực của nó. Những quả mìn trên đó rung lên bần bật, những phát đạn bắn về phía nó từ mọi hướng. Một quả lựu đạn nổ cách nó chỉ khoảng hai mươi bước chân về phía bên tay trái. Nó ráng hết sức đẩy mạnh chiếc xe lần cuối rồi ngã xuống đất lăn nhiều vòng về phía bên trái. Franco cũng buông chiếc xe của nó sau Vincenzo chỉ vài giây.
Hai chiếc xe gỗ cùng nổ một lúc. Vincenzo đứng giữa đám khói mù mịt vẫy tay ra hiệu cho các thằng bé rút khỏi quảng trường, quay trở lại cổng chào và ẩn trú tại những nơi an toàn trên những con phố vắng. Nó chạy theo bọn trẻ và quay đầu nhìn lại xem Franco đâu. Franco đang quỳ trên đất. Một thanh gỗ nhọn đâm trúng phía vai phải của nó. Vincenzo chạy về phía bạn, nâng Franco lên, quàng tay qua lưng nó và hỏi:
-         Cậu chạy được không?
Franco đáp:
-         Nhanh hơn cậu ấy chứ.
Vincenzo ôm chặt lấy bạn. Hai thằng bé chạy thật nhanh ra khỏi quảng trường ngổn ngang, bỏ lại đàng sau ba chiếc xe tăng hư hỏng hoàn toàn. Hàng chục tên lính nằm chết sóng soài và một quảng trường rừng rực lửa cháy.
0
«« « 1 2 » »»