📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thơ Sưu Tầm

Tôi Tập Làm Thơ Haiku

2 trả lời, 2.610 lượt xem — Trang 1 / 1
Tôi Tập Làm Thơ Haiku
Thiên Hương
 
 Hôm trước, một người bạn gửi một bài thơ Hai-ku, thấy hay hay tôi cũng bắt chước làm vài câu… 
Sáng sớm ngày đầu thu
Tiếng chim non đầu nhà lảnh lót
Cho chiếc lá vàng rơi.....
 
Mưa sao lại hắt hiu
Trời sao chợt dâng mây ủ rũ
Buồn ngỡ hết lại đầy
 
Ơ kìa nắng đã lên
Leo lắt chút niềm vui chợt đến
Ðời như lại hồng lên...
(03/04/05) 
Viết xong, gật gù khoái chí, thấy tự hào lắm.  Nhưng khi bạn tôi đọc, cô ấy bảo, chưa đạt được tinh thần Haiku…  Tức quá, vào web searched những bài về Haiku…
 “Về hình thức thì Haiku gồm 3 câu và 17 âm, không phải 17 chữ, chia làm 5,7,5.[1]
 Xem lại mấy câu thơ của mình.  5, 7, 5 … .  5, 7, 5 … rồi lại 5, 7, 5 có gì sai trái đâu, sao lại bảo chưa phải là thơ Haiku nhỉ….
 Lại đọc tiếp:
 “Haiku không phải là một phim bộ dài dòng mà là một tấm ảnh chụp lấy một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy, nên nhiều khi vài chữ cũng đủ.“ 1
 Lại xem lại bài thơ, có chụp lấy một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy đấy.  Thế thì tại sao…. 
"Trên cành khô
Chim quạ đậu
Chiều tàn mùa thu" [2]
 Trong bài thơ của Basho, ba câu, mười chữ, một cảnh mùa thu, một chiếc cành khô, một con quạ đậu, một buổi chiều tàn… Chỉ vỏn vẹn mười chữ, nhưng vẫn là thơ, vẫn đủ gợi lên được hình ảnh lặng lẽ, khô khan và buồn bã của những ngày thu héo hắt sắp bước vào mùa đông buồn thảm…
 Ðọc lại bài thơ của mình, chín câu, ba mươi sáu chữ mà cũng chỉ vẽ lên được một buổi sáng thu với chút nắng hồng lên…  Thừa chữ mà thiếu hồn, hình như vậy, nói đúng hơn, chắc chắn là vậy, vì lạm dụng ngôn từ, vì hình ảnh nghèo nàn, buồn nhỉ…
 Người bạn góp ý sửa lại câu thơ….
 “Sáng đầu thu
Tiếng chim non đầu nhà
Chiếc lá vàng rơi.....”
  Chỉ ngắn gọn thế thôi, thế là đủ cho một buổi sáng thu, có cả tiếng chim ca, cả chiếc lá lìa cành…. 
Người bạn lại bảo…
 “Làm haiku là làm vài câu ngắn ngủi, nguệch ngoạc vài nét không cần chú trọng đến vần điệu, cấu trúc, chủ yếu là ghi lại vision, về sự vật/sự việc một cách hiện thực, đơn giản, "as is", không mô tả cảm xúc (do đó không dùng tĩnh từ và trạng từ),  không mô tả quá khứ và vị lai của sự vật/việc,  nhìn ngay lúc đó nó như thế nào thì mô tả lại nhu thế  “Tả” chứ không “diễn tả”
 Dùng những từ thật đơn giản dễ hiểu, không dùng metaphor (ẩn dụ ?) .   Ðề tài của haiku thường là thiên nhiên và những mùa trong năm, thí dụ tả mùa xuân hạ thu đông, không dùng chữ xuân hạ thu đông trong bài, nhưng được quyền dùng hình ảnh hoa anh đào, ve sầu, lá vàng, tuyết.  Giống như một rock garden vay, những tảng đá lớn nhỏ xếp theo hình thể gì, tạo cho người thưởng ngoạn cảm tưởng nghe một thác nước đổ, ngắm một rừng lá thông phủ kín mặt đất, v.v..” [3] 
Trở lại internet, chính nghĩa của Haiku cũng chỉ là để diễn đạt…
 “Chữ "hai" trong "haiku" là chữ "bài" Hán Việt có nghĩa là trình bày, diễn đạt; "bài ưu" trong tiếng Hán Việt nghĩa là "phường tuồng", và người Nhật đọc là "haiyu" dùng để chỉ các diễn viên kịch nghệ hay điện ảnh. Chữ "ku" là chữ "cú" Hán Việt, nghĩa là "câu nói/viết". "Haiku" như vậy có nghĩa là "câu nói/viết để trình bày, diễn đạt”…
 Fu ru i ke ya - Trong ao xưa
Ka e ru to bi ko mu - Con ếch nhảy vào
Mi zu no o to - Tiếng nước khua” [4]
 Ba câu, mười từ….  một ao nước, một tiếng nước khua do chú cóc tạo nên…
Chỉ cô đọng trong vài chữ, cảnh vật đã được diễn tả đầy đủ. 
Nhưng có phải thơ vẫn là như thế, không cần dông dài mà luôn đủ ý khi diễn tả cảnh vật.
 Thụy Khê cũng nói “Thơ là thể cô đọng nhất của văn chương.  Theo Jakobson: thi ca là một phát ngôn nhắm vào thể cách phát biểu (un énoncé visant l'expression). Do đó, chúng ta có thể coi thơ như một sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ. [5].
 Nhưng nếu chỉ để diễn tả, đâu cần phải mượn đến Haiku, thơ Việt nam mình cũng nhiều bài hay lắm chứ, rất cô đọng mượt mà, vẫn dồi dào xúc tích như những bài Ðường luật của Bà Huyện Thanh Quan….
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
[6]
 Các bài Cảnh Thu của Bà Huyện, ba chùm thơ Thu ẩm, Thu Ðiếu, Thu Vịnh của Nguyễn khuyến; Gió Thu của Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, v.v…  cũng vẽ nên những cảnh thu man mác trong vài câu thơ ngắn gọn.  Xem thơ như đứng trước những bức tranh tuyệt bích vờn chải lại được hết cái hồn thơ man mác của mùa thu…  Những hạt mưa lất phất trên những tàu tiêu, trên cây cổ thụ với biển sóng trắng xoá (BHTQ).  Một chiếc ao con, một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, những chiếc lá vàng bay vèo trong gió (NK) .  Tiếng lá khô xào xạc, con nai vàng ngơ ngác (LTL).   
Về Xuân thì Xuân Ý của Huy Cận cũng nhẹ nhàng mà đủ ý….
Ðêm vừa nhẹ, gió vừa mơn
Cây chen ánh nguyệt trải vờn bóng xanh [7]
 Hay Ông Ðồ Già của Nguyễn Ðình Liên cũng vẽ lên đuợc một ngày xuân với một ông đồ già dưới cơn mưa bụi bay. 
Vậy thì đâu cần phải Haiku, khi cần diễn đạt cảnh sắc, các thơ tự do, thơ thất ngôn, lục bát, v.v của Việt nam … vẫn hoàn thành nhiệm vụ diễn đạt thật tuyệt vời và xuất sắc.  Thơ Haiku gọn quá, ngắn quá nên không gợi nên những rung động sâu thẳm như những lời thơ của Xuân Diệu, hay những lời nhạc của Ðoàn Chuẩn Từ Linh qua Thu Quyến Rũ, Lá Ðổ Muôn Chiều…
 Nhưng như vậy thì tại sao Haiku lại nổi tiếng như thế, và tại sao bây giờ lại nhiều người tìm đến Haiku đến thế…. 
Cô bạn tôi bảo:  “Haiku là một loại thơ thiền, để thực hành thiền dễ dàng nhất. Thiền là một cách giúp tìm sự bình an trong tâm hồn do việc tập nhìn mọi sự việc đơn giản thuần khiết. ”    
Như vậy Haiku nổi tiếng nhờ tính thiền của nó: 
"Nhiều chuyện
làm nhớ lại
Hoa anh đào" [8] 
Theo Hạ Thanh bài thơ này rất thiền vì đã nêu lên vấn đề vô thường và “nói theo ngôn ngữ nhà Phật, hoa anh đào là biểu tượng của sự vô thường trong cuộc đời.” [9]
 Trong những tháng ngày hiện tại, học thiền bỗng trở nên một trào lưu sâu rộng.  Có lẽ cuộc sống quá phức tạp,  quá máy móc, cám dỗ vật chất quá nặng nề, nhu cầu mỗi lúc một nhiều, lại không còn phải lo toan nhiều về miếng cơm manh áo, sự dư thừa về vật chất đưa đến sự thiếu thốn về tâm hồn, và áp lực từ môi trường sống khiến cho con người mệt mỏi hơn, cần xoa dịu về tinh thần nhiều hơn.  Và như thế, nhiều người đã tìm đến thiền như tìm một hướng đi để giải thoát…. Và như thế, Haiku trở nên thịnh hành. 
 Tôi xem lại những câu Haiku của mình…
 Nhánh hoa đào sót lại
Nở nụ hồng rạng rỡ nắng mai
Xuân về ngát thinh không
 Dao trì xanh ngăn ngắt
Dáng sen bình nhiên nở dịu dàng
Hương thiền dâng chất ngất
 Rặng liễu xanh bờ ngõ
Sáo trúc chiều thoảng vút trời cao
Cúc nở vàng bỡ ngỡ
 Ngoài hè cành khô rũ
Lửa trong nhà ấm áp tâm can
Đời chợt là sương khói.....
(15/03/05)
 Vẫn còn thiếu sót một cái gì đó…. Bài thơ vẫn dư chữ và thiếu ý…. Vẫn không đạt được triết lý Sabi của cái nét đẹp mỹ thuật của thơ Haiku.  Nó không có cái “vẻ đẹp tao nhã, u huyền”, cũng không tạo được cái “vẻ đẹp trầm lắng, man mác làm miên man lòng người nhưng không xa cách cuộc đời.”  Có phải vì tôi đã sử dụng quá nhiều tính từ, và trạng từ trong những câu thơ của tôi. 
 Ngồi xuống, thử viết thêm vài câu
 Trong  đêm đen
Ðóa hoa quỳnh đang nở
Sáng long lanh 
Sáng sớm nay
Hàng cây khô trụi lá
Chim vẫn hót
 
Chiều xuống dần
Nắng chợt tắt bên hiên
Sương ướt vai…
(04/04/05)
 Vẫn thấy gượng ép thế nào, đọc lại những dòng thơ của bạn tôi ….
 tich tac
tiếng đồng hồ trên tường
trong đêm đơn
------------
 Căn phòng đêm
ngọn nến lung linh
mùi trầm toả
 --------------------
 tháng ba
tràng hoa giáng sinh
còn trên
khung cửa xám [10]
 Gọn hơn, mà đủ nghĩa hơn.  Những chữ thật giản dị mà sao tôi không viết ra được.  Tại sao thơ của tôi luôn nặng về ngôn từ, có vẻ chải chuốt nhưng lại rỗng hoác buồn tênh…  Tại sao, và tại sao…
 Buổi trưa, tôi rời căn phòng làm việc bước ra đường.  Những hàng cây đã bắt đầu chớm lá vàng, những cơn gió nhẹ đã bắt đầu thổi những chiếc lá vàng nhỏ xíu.  Những chiếc lá xoay xoay, xoay xoay.  Nhớ đến những người bạn ở bên kia quả địa cầu đang hớn hở khoe mùa xuân đến.  Nhìn những chiếc là vàng rơi, nghĩ tới những ngày sắp đến, ngày đã dần ngắn lại ở xứ Úc này.  Tự dưng, lòng thấm thía hai chữ vô thường của tạo hóa.  Và tôi chợt hiểu ra tại sao mình chưa thể làm được những bài thơ Haiku đúng nghĩa…
 Thơ Haiku, bản chất của nó, như bạn tôi nói “chỉ ghi lại sự vật một cách hiện thực, đơn giản, "as is", không mô tả cảm xúc, không mô tả quá khứ và vị lai của sự vật/việc, nhìn ngay lúc đó nó như thế nào thì mô tả lại nhu thế.“
 Thơ của tôi còn dùng quá nhiều tính từ và trạng từ, còn gượng cứng vì tôi đã bỏ cảm xúc của mình vào nhiều quá.  Tâm còn quá vọng động, còn quá mải mê trong BẢN NGÃ (self) của mình nên chưa đạt được tính thiền, chưa cảm nhận được hai chữ VÔ THƯỜNG của đời sống.  VÔ THƯỜNG tự nó không có gì là buồn hay là vui.  Mọi việc đều Tùng duyên khởi.  Xuân đi trăm hoa tàn, xuân đến hoa lại nở. Hoa thích ứng theo sự thay đổi của bốn mùa.  Tàn hay nở cũng không quá hoan hỷ mà cũng không quá ưu sầu. 
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai [11]
 Hiện tượng hoa tàn, hoa nở được mô tả với “một tâm tư bất động, khách quan, không gán ghép, không đánh giá gì sự vật cả, cho nên thiền sư không dùng trạng từ, cũng không dùng tĩnh từ trong các câu của mình …  Chỉ nhìn sự vật biến thiên chứ không bình luận. …
 Bốn câu, hai chục chữ, mà đã có tới sáu động từ và không một tĩnh từ hay trạng từ nào cả. Rõ ràng đó là một cách tả chân rất khách quan hơn cả thứ văn thơ hiện thực hiện đại. Phải là một tâm tư tịch nhiên vắng lặng mới có thể dùng được thứ ngôn ngữ có vẻ như lạnh lùng mà lại nên thơ như vậy.” [12]
 Trong khi đó, tôi lại nhìn cảnh vật dưới cặp kính màu hồng hay đen tùy theo lúc vui hay buồn.  Mô tả cảnh vật luôn như trong mấy câu Kiều của Nguyễn Du
 Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
 Tâm chưa tịnh nên thơ còn vọng động.  Cây đào nở hoa mà mãi run rẩy vì gió đến thì hoa mãi lâu tàn sao được.  Tâm còn chưa yên nên thơ còn khúc khuỷu xuống lên với những trạng từ và tính từ….  Lòng còn xao xuyến nên nhìn vật chưa thấy được bản thể thì làm sao tả chân được sự vật.
 Chưa nhận ra được tính vô thường của sự vật, chưa xác định được cái thật có, hay nói chung chưa hiểu tường tận được hai từ Như Thị thì làm sao an nhiên tự tại. 
 Chỉ một chút gió thu lay lắt hay vài chiếc lá vàng vu vơ, hồn đã chùng xuống theo những tiếng thở dài.  Chỉ vài hạt mưa cũng làm đôi mắt nâu nhòe nhoẹt nước mắt.  Biết đến khi nào vật có hoặc không cũng không làm xao động tâm thức, hoa nở hoặc tàn cũng không làm héo úa thời gian, nước chảy mây trôi cũng không làm tâm hồn dậy sóng…..
 Tâm chưa an, nên những vần thơ viết lên chưa thể là Haiku.  Lại còn quá gượng ép vay mượn ngôn từ tìm tiếng diễn tả, cái tâm chưa thoát, lòng còn vẩn đục thì thơ thế nào êm ả.  Cứ mãi đi tìm bản chất, cứ mãi phân tích hiện tượng nên nẻo thiền càng lúc càng xa diệu vợi. 
Nhứt thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ, diệc như điển
Ung trụ Như Thị quán!!! [13]
 Hãy quẳng hết ưu tư, quẳng hết những âu lo phiền muộn, nhìn hoa để chỉ thấy hoa, nhìn nắng để chỉ thấy nắng.  Nhìn vạn vật với Như thị quán, lòng sẽ an nhiên và như thế liệu tôi có viết nổi vài câu haiku hay không…. 
Nhắm mắt lại, và thử lần nữa nhé, không biết đã được chưa…. 
Mưa đã dứt
Người khách trên đuờng
Bước chân đi
 
Nắng đang lên
Ðường phố nở hoa
Chim sẻ hót
 
Cánh đồng cỏ
Ðàn bò tha thẩn
Bướm lượn bay….
 
và lại nữa…
 
Trên đài sen
Ðức Phật nhìn xuống
Mỉm cười…
 
Trong bình hoa
Ðóa hoa hồng nở
Khói hương bay….
 
 Thiên Hương
Melbourne - 05 / 04 / 05 
 




[1] http://suoinguontamtu.com/bonphuong/baiviet/van/phamdoanh/5_Haiku.htm
[/align]
[2] Thơ Basho - http://www.quangduc.com/tho/92VithientrongcuaBASHO.html
[/align]
[3] Minh Lê
[/align]
[4] http://www.vietnameseinaustralia.com.au/Forum/haiku.asp
[/align]
[5] http://chimviet.free.fr/tacpham1/cautructho/chuong04.html
[/align]
[6] Qua đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan
[/align]
[7] Xuân Ý, Huy Cận
[/align]
[8] Cánh hoa anh đào muôn thuở - Basho
[/align]
[9] Vị Thiền Trong Thơ Basho - Hạ Thanh
[/align]
[10] Minh Lê, 03/04/05
[/align]
[11] – Cáo Tật Thị Chúng - Thiền sư Mãn Giác.  Ngô Tất Tố dịch:  Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười, Trước mặt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi 
[/align]
[12] Về Một Bài Thơ Thiền Mùa Xuân - Vĩnh Hảo
[/align]
[13] Bài kệ trong KINH KIM CANG:
[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-19 23:16:51Ct.Ly>
HAIKU & BASHO
     Mục Đồng


 



Từ "Haiku" được phiên âm từ Tiếng Hán là "bài cú" hay "bài hài", nghĩa là nguyên một bài thơ chỉ có một câu, mang tính chất hài hước vui nhộn. Ban đầu nó có tên gọi là haikai, cách gọi vắn tắc của haikai no renga (bài hài liên ca). Nó kế thừa hình thức phát cú liên ca, là lối xưng hô được phổ biến rộng rãi sau cuộc vận động cách tân thể thơ hài hước của Chánh Cương Tử Quy vào giữa thời Minh Trị Thiên Hoàng. Đặc điểm của loại thơ này có rất ít từ ngữ, và chỉ cô đọng trong 17 âm tiết (tiếng Nhật) theo thể vận 5-7-5.
Từ tên gọi ban đầu haikai, nó từng bước thoát khỏi sự dung tục, vượt qua sự giải trí đơn thuần, để rồi định mệnh của nó rơi vào tay Matsuo Basho. Ông ta đã sáng tạo một cách thơ mới, dung hợp sự trào lộng đời thường của haikai hiện đại với yếu tố cao nhã tâm linh của renga cổ điển trong một khổ thơ ngắn gọi là hokku (phát cú), nguyên là khổ thơ mở đầu cho bài liên ca. Khi hokku trở thành thể thơ độc lập, không phụ thuộc vào liên ca nữa, nó mới có tên là haiku.

Haiku là một sản phẩm đặc biệt của thiên tài Nhật Bản. Tác giả của loại thơ này chủ yếu là các vị Thiền sư, hoặc các thi sĩ có xu hướng yêu chuộng hay tu tập theo pháp môn Zen (Thiền). Về măït hình thức, thơ Haiku rất đơn giản như vậy là vì theo thời gian, nó được thai nghén, chắc lọc rất tự nhiên từ những tâm hồn hết sức tĩnh lặng của các Thiền sư. Như mặt nước hồ thu, bóng nhạn lướt qua không còn dấu vết, tâm thức yên tĩnh ấy diễn tả nên một thực tại sinh động, không hề vướng mắc; đó là thời điểm để một bài thơ Haiku ra đời. Haiku là một đóa hoa đẹp đẽ, thắm đượm màu sắc văn hóa Đông Phương, là một cách sống linh động và chịu ảnh hưởng của phái Zen trong Phật Giáo Nhật Bản.

Thơ Haiku đi với cuộc đời bình thường mà không hề tầm thường, để đạt đến cảnh giới không phân biệt trong một vũ trụ thuần khiết:

Quán bên đường
Các du nữ ngủ
Trăng và đinh hương.

Các du nữ, hoa đinh hương và mặt trăng cùng nằm với nhau trong một vùng trời vô định trước mắt nhà thơ. Với Basho, "tất cả đều có cuộc sống, có Phật tính, có sự bình đẳng trong ánh sáng và trong cát bụi."
Xét về hình thức, bài Haiku thường có 17 âm tiết (có khi cũng không nhất thiết), nhưng cái ngắn đó không khiến chúng ta phải nặng óc suy tư để tìm bên trong cái hình thức ngắn ấy một ý tưởng không ngắn. Bởi haiku là sự cô đọng của một sự tình vắn tắt đã được tìm ra trong hình thức vừa vặn của mình. Sự cô đọng của Haiku là đặc điểm nổi bật, một sự cô đọng đi vào chiều sâu, vào chân không chứ không phải là ý muốn dùng sự ít lời để diễn tả nhiều ý nghĩa khác nhau.
Và do đó, cho dù Haiku nói đến những sự vật nhỏ nhoi nhất, ta thấy nó vẫn mênh mông, hùng vĩ và huyền diệu lạ thường. Haiku thường được Basho nhắc tới qua những cảm giác hằng ngày:
như sabi (linh hồn tịch liêu):

Ôi tiếng ve kêu
Thấu xuyên vào đá
Trong cõi quạnh hiu.

như wabi (những cái đơn sơ nghèo nàn):

Mái lều êm
Một con chim gõ kiến
Gõ ngoài trụ hiên.

và như karumi (niềm khinh thanh dịu nhẹ):

Mưa mù sương
Phù dung một đóa
Làm mùa lên hương.

Nói đến haiku, dĩ nhiên chúng ta phải nói đến và cần tìm hiểu đôi nét về Basho. Matsuo Basho (Tùng Vĩ Ba Tiêu, 1644-1694), nhà Haiku sống vào đầu thời đại Giang Hộ, tên thật là Tông Phòng, hiệu là Haseo, biệt hiệu Đào Thanh, Bạc Thuyền Đường, Điếu Nguyệt Am, Phong La, v.v. người vùng Thượng Dã, Y Hạ. Ông xuất thân từ giai cấp samurai, là người có ý chí muốn học về haiku, nên từng theo hầu hạ Lương Trung và Bắc Thôn Quý Ngâm ở Kyoto. Về sau, Basho từ bỏ lâu đài lãnh chúa, xuống vùng Giang Hộ đi làm du sĩ lang thang, rồi dời về Ba Tiêu Am (Basho-an - am tranh của Basho) ở vùng Thâm Xuyên, Giang Hộ. Cái duyên để có tên người và tên am cũng khá thú vị:

Một đêm mưa, trong căn chòi tranh nhỏ bé, chủ nhân của nó đang đối diện với chính mình. Từng giọt mưa rơi trên tàu lá chuối, tiếng kêu lộp độp nhưng thánh thót vang xa, dung hoà cả những tâm hồn đồng điệu dù đang ở bất cứ phương trời nào. Trước cảm xúc ấy, ông thích được như cây chuối tắm trong thi vũ, liền đặt bút hiệu cho mình là "Basho", và am tranh nhỏ cũng theo đó mang tên là "Basho-an". Chúng ta biết, nhà thơ Lý Bạch thời Đường cũng trong một khung cảnh như thế, đã thốt lên câu thơ rằng:

"Cách song tri dạ vũ
Ba tiêu tiên hữu thanh."

(Qua song cửa sổ biết có mưa đêm, vì cây chuối lên tiếng trước).

Không lập gia đình, đương làm quan với Mạc Phủ Đức Xuyên thì ông từ chức, sống nghèo nàn với bộ nâu sồng rách vá, nhàn du khắp từ Bắc chí Nam đảo Bản Châu để tìm thi tứ, thi cảm cho sự nghiệp sáng tác. Tư cách thanh cao đến độ thiếu thốn thì chịu, chứ nhất định không tìm vào nương nhờ bất cứ một ông lãnh chúa nào, mặc dù ông rất được giai cấp này trọng vọng vì thi tài. Ông lưu chơi nơi am tranh với một vài nhà tu cũng nghèo nàn thì chịu, ở lại với nhà nông dân hẻo lánh một vài bữa thì rất lấy làm vui, nhưng đến đâu cũng cố tình lẫn tránh cửa quyền quý. Đương thời ông được coi là vị địa tiên vì thi tài thì quán thế mà chỉ sống ẩn dật, không muốn phiền lụy một ai. Sáng lập ra phong cách haiku độc đáo của mình, ông để lại rất nhiều danh cú và qua đời tại một lữ quán ở vùng Nanba.
Basho là bực thánh thi vô tiền về thể thơ haiku. Các bình luận gia vẫn sánh ông với Lý Bạch, Đỗ Phủ của Trung Quốc.
Năm 1680, từ khi trú chân tại am Ba Tiêu , ông bắt đầu tu hành Thiền đạo dưới sự hướng dẫn của một Thiền sư gần miền. Một năm sau, ông rời bỏ am tranh và sống như đám mây trôi nổi, để tìm đến cái rốt ráo của thơ ca, mà theo Yuasa gọi là "cái bản ngã vĩnh cửu." Trong thời gian này, bài thơ "Xuân Nhật" của ông đã gây nên một chấn động trong nền văn học:
Phiên âm Latin:

Furuike ya kawazu tobikomu mizu no woto

Nhật Chiêu dịch:

Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.

Chỉ một tiếng vang của nước mà con ếch của Basho đã khuấy động nên một dư âm đã ngân qua bao nhiêu thời đại và xứ sở.
Cuộc đời của Basho cũng như thơ của ông luôn hướng về một lý tưởng là tìm thấy sự nhẹ nhàng thanh thoát ngay giữa cuộc đời ô trọc, một niềm khinh thanh êm đềm bay lượn giữa tro than và cát bụi trần gian.
Trước và sau Basho còn nhiều những thiên tài như thế nữa, nhưng chỉ nêu một mình ông cũng đủ để thấy cái linh hồn cốt tủy của haiku thế nào rồi. Chỉ cần xem người ta xưng tụng và sùng mộ Basho, chúng ta có thể kết luận ông là một hình bóng vĩ đại của văn hóa Nhật Bản, một nhà thơ huyền bí, và ông đã hóa thân vào haiku, vào trong linh hồn của Nhật Bản. R. H. Blyth tán thán ông như sau: "Nước Nhật sinh ra cùng với Basho năm 1644. Ông chính là người đã sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản."

Trong cõi siêu tuyệt của haiku, một nhà thơ với một thiền sư được đánh đồng với nhau, không còn phân biệt. Basho cũng vậy, nhiều bài thơ của ông cũng chính là công án, thoại đầu. Cuộc hội ngộ của bậc thiên tài này với các thiền sư, thi sĩ chẳng khác nào những thiền thoại hay buổi truyền tâm ấn giữa các Tổ sư. Bởi tâm thức luôn an trú trong một cõi dù đó là cõi thơ hay cõi tịnh lự, lời phát ra như gió như mây, thanh trong, thiện xảo, không hề vướng bận ti hào nào sự trau chuốt ngôn từ. Ý tưởng này có thể được tìm thấy qua những giai thoại sau:
Một đêm trăng, trên đường du hóa, Basho gặp một nhóm các nghệ sĩ đang thưởng trăng và hoà thơ (dĩ nhiên là thơ haiku, vì lúc ấy ở Nhật Bổn loại thơ này đang thịnh hành). Ông được mời làm thơ trước, đề tài chắc chắn phải là trăng rồi. Basho liền thốt lên:

Vầng trăng non dại...

Cả nhóm cười ồ lên, (vì có lẽ trong ý họ nghĩ: trăng thế này mà non dại), như như mỉm cười, Basho cứ vậy mà tiếp nhịp:

Theo tôi từ độ ấy
Ai có ngờ hôm nay.

Ồ! Tiếng ngạc nhiên của các thi sĩ cùng nhẹ nhàng thốt lên sau khi lắng nghe một tuyệt tác. Có người hình như ngộ ra liền hỏi:

Có phải là Basho tiên sinh không?
Vâng, đúng là chỉ có Basho.
Ông đã nhiều lần đến tham thiền với Hoà Thượng Phật Đảnh ở chùa Căn Bổn thuộc vùng Lộc Đảo. Nhân một ngày trời tạnh mưa xuân, Hòa Thượng tự mình đích thân đến thăm am Ba Tiêu. Basho mừng quýnh chạy ra nghênh đón. Khi vừa mới giáp mặt nhau, Hòa Thượng muốn biết xem Basho có chuyện gì bèn hỏi ngay:

- Gần đây có gì không?
- Mưa qua rêu xanh mướt. Basho đáp liền.
Nếu như con mắt tâm mà khai mở thì chân như thật tướng hiển hiện ngay. Chính cảm giác mới mẻ như "mưa qua rêu xanh mướt" không gì hơn là con mắt giác ngộ. Tuy nhiên, Hòa Thượng không dễ gì mà tha cho ngay, bèn tấn công tiếp rằng:

- Như thế nào là Phật Pháp trước khi rêu xanh chưa mọc?

Có phải chăng đây cũng là diệu nghĩa của "ngọc Côn Lôn đen thui chạy trong đêm" chăng ?
Song, quả không hổ danh là Basho, người không bị rơi vào "động ma tối om như vậy. Ông trả lời ngay:

- Ếch nhảy, tiếng nước vang.

Thật quả là khoảnh khắc khai nhãn tài tình!
Một loại hình nghệ thuật để nuôi dưỡng tâm hồn, một nghi mẫu thơ ca, những hình dung và thể hiện trong haiku thì hầu như không có gì nhưng lại biến nhiệm tam thiên. Một truyệt tác thiên tài, một tâm hồn khoáng đạt, những dòng thi ca bất tận của Basho đã thắp sáng và thăng hoa haiku lên tột đỉnh không biên cương của nó. Đem cái biết hữu hạn hữu lượng để bàn cái vô lượng vô biên, thỏa đáng chăng! Chỉ hề! Chỉ hề!
Mục Đồng
-----˜ ] ™ -----

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Thích Nguyên Tâm: Mỗi Ngày Một Câu Chuyện Thiền, nxb Tôn Giáo, 2005.
- Thích Nguyên Tâm biên dịch: Phật Giáo Nhật Bổn, tập 1&2, Hội Chấn Hưng Học Thuật Nhật Bổn, bản thảo.
- Châm Vũ Nguyễn Văn Tần dịch: Nhật Bản Tư Tưởng Sử, tập 1&2. Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá xuất bản, 1972-1973.
- Nhật Chiêu: Văn Học Nhật Bản Từ Khởi Thủy Đến 1868, nxb Giáo Dục, 2003.
- Thiên Ân Đoàn Văn An: Trao Đổi Văn Hoá Việt Nam-Nhật Bản, Đông Phương xuất bản, 1963.
- Vương Ngọc: Từ Điển Nhật-Việt Việt-Nhật, nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2004.
Đăng nhập để trả lời
0
phạm doanh
 
Thơ Haiku
Haiku là một thể thơ của Nhật, được truyền sang Trung Hoa rồi vào Vietnam. Hiện nay thể thơ này cũng đã du truyền sang các nước Tây Phương như Mỹ Pháp.
Hàng năm có những cuộc thi Haiku ở Nhật, số bài tham dự đến cả mấy chục ngàn, có khi cả trăm ngàn bàị
  Về hình thức thì Haiku gồm 3 câu và 17 âm, không phải 17 chữ, chia làm 5,7,5.
Tiếng Nhật và hầu hết ngôn ngữ gốc latin-roman của TâY Phương đa âm nên nhiều khi 1 câu chỉ có 1 chữ hay hai . Thí dụ như "Sayonara" tính là 4 âm, "unforgettable" đã có thể là 1 câu rồi .  Đại cương về các thể thơ thường gặp

Riêng tiếng đơn âm như Hán, Việt hay Triều Tiên thì có thể dùng 17 chữ trong 3 câu, vì vậy diễn dạt được nhiều hơn. Nhưng tinh túy của Haiku không phải là để nói nhiều, mà để diễn dạt một thoáng suy tư, một khung cảnh cô đọng, một chút thiền.
Haiku không phải là một phim bộ dài dòng mà là một tấm ảnh chụp lấy một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy, nên nhiều khi vài chữ cũng đủ. Cái hay và khó hay của Haiku là ở chỗ đó. Đọc một bài thơ Haiku hay như nghe một tiếng khánh cô đọng thật ngắn gọn nhưng ngân nga, để lại ấn tượng lâu trong tâm hồn người .
Haiku không có luật về âm điệu và vần. Kết hợp vào thơ Vietnam ta có thể cho câu cuối vần với 1 trong hai câu trên, nhưng không bắt buộc.
Về nội dung, Haiku chính tông đòi hỏi trong bài phải nói về một trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Không có nghĩa là phải nêu tên một mùa ra mà dùng biểu tượng cũng được, như tuyết, hoa đào, nắng ấm v.v.
Dù vậy quy luật này cũng không cần theo vì gò bó vào một khía cạnh quá. Trong văn học sử Nhật có thiền sư Basho là người để lại nhiều bài Haiku bát ngát hương Thiền.
Các bạn muốn đọc nhiều Haiku xin vào trang thơ Pham Doanh
Đăng nhập để trả lời
0