📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện củ Hà Nội

21 trả lời, 7.739 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-21 00:48:27Ct.Ly>
CHUYỆN CŨ HÀ NỘI
Tác giả Tô Hoài
Nguồn Nhà xuất bản thông tin1986
Đánh máy Dreamline


Thay lời giới thiệu
Chuyện cũ Hà nội của Tô Hoài do Nhà xuất bản Hà nội in 1986,phát hành hai vạn cuốn trong phạm vi thành phố ,mà bán hết ngay.Trong số đặc san về Hà nội xưa và nay,phóng viên Tạp chị du lịch đã phỏng vấn tác giả Chuyện cũ Hà nội về một số công việc bếp núc của nhà văn khi sáng tác tác phẩm này.

PV-Anh đã viết Tự truyện (Nhà xuất bản văn học in lần thứ hai 1986)lại viết Chuyện cũ Hà nội. Hai tác phẩm giống nhau khác nhau thế nào?
Tô Hoài- Tự truyện là hồi ký về cuộc đời tôi.Tự truyện mà.Chuyện cũ Hà Nội không phải "tự truyện".Đó là một số truyện,kiểu sinh hoạt,kiểu người,quang cảnh đã xảy ra trên đất Hà nội cách đây trên dưới nửa thế kỷ vừa qua,từ khoảng tôi được trên dưới mười tuổi.Đặc điểm là tôi không viết lại những chuyện nghe kể,mà chỉ miêu tả những chuyện đã trông thấy,đã trải biết.Do vậy,bạn đọc dễ lầm là "tự truyện"

PV-Anh viết Chuyện cũ Hà Nội có mục đích gì?

Tô Hoài-Hà Nội là thủ đô nghìn năm của đất nước.Nơi chung đúc tinh hoa của cả nước.Mọi việc xảy ra ở đây đều mang tính cách tiêu biểu và điển hình văn hóa,chính trị xã hội từng thời kỳ.Những "chuyện cũ" tôi viết lại xảy ra hầu hết hồi đầu thế kỷ,nước ta còn bị thực dân Pháp đô hộ,Hà Nội là một thành phố nhượng địa(đất của Pháp).Tôi cũng viết một số chuyện xảy ra thời kỳ Tổng khởi nghĩa và kháng chiến.Cũng xa xưa rồi.Những việc,những người ,những sinh hoạt đó không bao giờ còn nữa.Tôi muốn phần nào cung cấp tài liệu cho các lớp tuổi trẻ bây giờ có dịp so sánh,đối chiếu cuộc sống hôm nay với Hà Nội lầm than và quyết liệt thủa ấy và các nhà nghiên cứu các ngành tìm hiểu về Hà Nội cũ cũng có thể tham khảo những mắt thấy tai nghe của một người chứng.

PV-Anh có ý kiến thế nào về dư luận bạn đọc đối với Chuyện cũ Hà Nội ?
Tô Hoài-NXB Hà Nội đã in 40 truyện trong Chuyện cũ Hà Nội .Tôi vừa viết thêm được một số truyện nữa.Chắc còn viết được nhiều nhiều.Nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc có nhận xét tôi viết chưa nhiều về Hà Nội trung tâm "36 phố phường".Tôi cũng tự nhận thấy như thế,nhưng khó sửa chữa được.Vì, như tôi kể ở trên,tôi chỉ viết những gì tôi trông thấy hoặc tôi có làm..Bởi vậy, những cái nhớ lại của tôi về vùng ven nội cứ tự nhiên nhiều hơn.

(Tạp chí du lịch,tháng giêng 1988)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-21 00:40:57Ct.Ly>
Ăn cơm mới,nói chuyện cũ
tục ngữ
Tịch mịch u trai lý
Chung tiêu thính vũ thanh
Vắng vẻ trong phòng
Thâu đêm nghe tiếng mưa
Nguyễn Trãi



1.PHỐ MỚI

Đứng đầu phố Hàng Mã,chỗ ngã tư hàng Đường trông sang phố Mới-phố hàng Chiếu bây giờ,hai hàng cây nhội,vòm lá đen sẫm,thân rêu mốc thếch,dây mọc leo cuốn sởn lên.Mặt đường lúc nào cũng thẫm mưa bụi,nhớp nháp.Hoa nhội li ti rụng đỏ ối lẫn với bùn vết chân người đi chen nhau.Phần nhiều là người váy nâu áo đụp ở đầu ô Quan chưởng vào.
Bao nhiêu năm tôi đã thôi ở hàng Mã về Nghĩa Đô rồi,nhưng lúc nào đi qua phố Mới,vẫn thấy tương tự thế.Năm ấy,áp tết,tôi đi với dì Năm ra nhà Vạn Bảo phố Mới.
Nhà Vạn Bảo ngay giữa phố.Đi ra bờ sông,nhà Vạn Bảo ở tay phải.Lúc nào cũng có chú khách gầy móp xương hóc,cởi trần,ngồi cái ghế đẩu canh cửa.Nhà cầm đồ Vạn Bảo,chủ là người Tàu.
Người cầm đồ cho vay lãi,làng tôi vô khối.Chỉ vài đồng bạc cũng thành cái vốn còm để có thể cầm bán quanh quẩn.Chiếc thắt lưng,bộ xà tích,chục cái mẫu,cả bát ăn cũng đem cầm được.Lúc túng,coi như giựt nóng.
Nhà tôi thường túng bấn như nhiều nhà trong xóm.Nhưng chẳng gì cũng có khung cửi đương làm,lại nữa các dì tôi đều chưa chồng cho nên phải giữ mẽ đôi chút.Khi có cái cầm bán,chẩng dám đánh tiếng hỏi han xung quanh.Mà phải đem đi cầm tận ngoài Kẻ Chợ.Mà nào của nả báu ngọc cho cam.Cái áo the,cái quần lĩnh,cái mâm thau...Nhưng cốt là còn lành lặn,"các chú khách" nhà Vạn Bảo mới cho cầm.
Dì Năm tôi đi chuộc cái áo bông.Ngày thường dù rét mướt đến đâu,có thể cứ sống áo cũ vá đụp lên,thế nào xong thôi.Nhưng tết nhất đến nơi rồi,không thể như vậy được.Cái áo bông của dì tôi,xa tanh đen,lót lụa màu cánh chả,áo mồi mà.
Mưa bụi.Có lẽ mưa bụi đã nhiều ngày.Những cây nhội với mái nhà,người qua lại và mặt đường âm u,xám ngắt,nhẽo nhợt ra.Mấy cửa hàng bán củ nâu hai bên cửa ô,từng đống nâu chất cao xám xịt như đống đất.Các nhà bán thừng,bán chiếu,mưa hắt thâm xì.
Thành tên phố Mới rõ ràng chẳng phải vì ở đấy liên quan đến việc bán chiếu,bán củ nâu gần bấn Nứa,của rừng bên kia sông lúc nào cũng đem sang đổ lên đấy.Mấy ai nhớ được phố Mới,ấy là từ thời lão Tây buôn Đồ Phổ Nghiã(Jean Dupuis)đem quân Tàu cờ vàng tận Vân Nam về,lên chiếm đất,lập" phố mới".Tông tích cái phố Mới là như thế.Về sau,Tây lấy cả tên Đồ Phổ Nghĩa đặt cho phố Mới,phố Đồ Phổ Nghĩa!Người ta vẫn gọi là phố Mới và bây giờ ai cũng chỉ biết phố Mới là cái chợ mua người bán người,là nơi có cái hiệu cầm đồ của người Tàu mở to nhất Kẻ Chợ.
Trông vào phố Mới lúc nào cũng thấy ủ ê,hốt hoảng,nét mặt người ngoài đường,người đứng tụ tập,ướt át,bẩn thỉu,cả đến trong cái ngách cửa hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được một nút người sầu thảm như thế.
Ngày trước, Vũ Trọng Phụng đã viết"Cơm thầy cơm cô",thiên phóng sự thấm thía về cái chợ buôn bán người ở phố Mới này.Các nơi,các tỉnh quanh đây đói việc,chẳng ai bảo ai,đều kéo nhau về phố Mới.Đêm hôm rúc ráy ngủ nghê ở đâu,ban ngày bò ra đứng bày hàng từng lũ trên đường,trên hè.Các mụ tú bà làm mối người te tái đi lại,thoáng trông đã đoán biết.Nếu nhầm,chỉ nhầm với mấy con mẹ ngồi đổi tiền đằng cửa chợ có chiếc thúng nhòi để trước mặt.Các mụ ấy thường mặc áo nâu vải rồng đóng khuy,mỏ khăn vấn lộn ngược.Mụ thì gầy đét như cá mắm,mụ thì béo tròn như cái cối xay.Nước da chì xám xỉn,con mắt đảo điên,đứng đây mà nhớn nhác tận ra đằng kia.
Ngón tay vuốt mép ăn trầu cắn chỉ,cứ liến thoắng:
-Tôi kiếm cho cậu cái món được mã nhé.Thổi cơm,giặt giũ,sai bảo,gì củng nhanh tay,nhanh miệng.Lại kháu nữa!Không ỡm ờ đâu.Nói thật.
-Cụ thì cứ kén người tay chân chắc chắn,không tốn công nuôi những của nỡm,lóng ngóng động đâu vỡ đấy.Cụ cho giá xem nào?
-Ờ,sữa tốt nhiều lắm,cứ vọt tứa ra thế kia.Người đồng chiêm mà.Nghèo thì phải bỏ con nuôi lã lần ra tỉnh đi ở vú kiếm miếng thôi.Chứ người khỏe như trâu lăn ấy.Mợ định cho bao nhiêu?
Đủ loại kẻ ăn người ở trong nhà.Con sen,con nhài,con nụ,vú em,u già,cậu nhỏ,anh xe,thằng quýt.Cứ nhong nhóng đứng đám đấy.Các mụ tú bà nháo nhác,táo tác chạy đèn cù tán tỉnh chào hàng,nói thách,ngã giá,đòi tiền lót tay.Khách mua người đã đưa đi rồi đến lúc ngắm lại thấy có điều không ưng,quay lại,tìm mụ,vẫn con mụ ấy,thế mà mụ phủi áo cãi phứa không biết.Thế là một trận xỉa xói nhau lại um lên.
Người các làng ra đều phát khiếp cái phố Mới.Sợ dây vào quân nặc nô.Lo thân mình một ngày kia chẳng may sa vào đấy.Lại còn bọn thầy tướng,bọn bói bài tây,bọn chơi cua cá bạc bịp nhan nhản khắp phố,lan sang cả hàng Đào,hàng Ngang.
Một mụ béo núc tự dưng đi theo dì tôi.Mắt cú vọ nhìn người soi mói như lạ lùng lắm.Rồi bỗng bước lên trước mặt.Một tay mụ vuốt lên tay áo dì tôi:
-May quá,trông cô cũng được nước đấy.Có nhà trên phố Tây đang cần chị hai.Chị hai,cô khâu đầm, cô vú đầm ấy mà.Làm với Tây,tha hồ ăn trắng mặc trơn.Khổ người như cô, mảnh dẻ,nhỏ nhắn,Tây người ta ưa.Chị hỏi khí không phải,cô ra Kẻ Chợ có việc gì thế?
Dì tôi lúng túng:
-Tôi,tôi...
Mụ kia ngoác loe miệng,lại quệt mép trầu,nói:
Ngữ như cô chắc chẳng phải ra đây làm con nhài,con nụ đi ăn đi ở như người ta.
-Vâng ạ.
-Trông biết ngay mà.Ra Vạn Bảo cầm đồ chuộc đồ hả?
-Vâng ạ.
-Đấy cô xem,mắt chị có tinh đời không.Cô em tính kỹ đi nhé.Muốn đi khâu đầm.Hay làm chị hai.Một bước lên quan rồi!
Dì tôi vẫn lúng túng:
-Em chẳng biết thế nào.
Mụ ấy buông một câu:
-Cô em cứ ngẫm cho cẩn thận.Chị chỉ mới cần em đưa chị một đồng bạc,đồng thơm đồng thảo lấy may thôi.Mọi sự sau này hẵng hay.
Rồi mụ không nói gì nữa,ngoảnh sang với một đám đứng hè cạnh đấy,lại bả lả nói cười với đám bên kia.Như để người ta còn nghĩ.Đúng như quân bài tây lật mặt thoăn thoắt,chẳng biết thế nào.Dì cháu tôi càng chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao.
Nhà cầm đồ Vạn Bảo có cái hẻm lối đi con con chỉ vừa một người vào,thì đến một cửa mắt cáo thấy cái lổ tròn.Dì tôi cầm tờ biên lai,kèm với tiền chuộc,tiền lãi đặt trước ô cửa.Chỉ thấy một bàn tay gầy gùa đen như ám khói lặng lẽ thò ra vơ cả vào.Khác nào các thứ đồ cúng dâng ông Trằn tinh trong truyện Thạch Sanh.Nháy mắt,đã trông thấy cái áo bông của dì tôi được gấp nếp cẩn thận,vẫn bàn tay lúc nãy lại thò đưa ra.
Rồi dì cháu tôi đã ra đến giữa phố.Vẫn ngổn ngang,túi bụi những người trên lòng đường,dưới trời bụi mưa trắng xám.
Cái mụ mối lái người lúc nãy lại ở đâu bước tới.Hay mụ vẫn đứng rình đợi ở chỗ nào,ai biết được.
Mụ nói tự nhiên,như vẫn đương dở câu chuyện.Dì tôi bây giờ đã bạo dạn hơn,dì tôi đáp:
-Phúc đức quá,gặp bà có lòng giúp cho em.Mời bà lên chơi nhà.Thế nào em cũng xin chu tất.
Mụ cười bả lả:
-Đành thế rồi.Nhất định phải lên cho biết nhà biết cửa cô em chứ.Còn phải một bữa cơm rượu túy lúy nữa chứ,còn đi lại dài lâu nên tình nên nghĩa chứ.Nhưng lạy thánh mớ bái,phải có một mảy làm của tin,"của tin gọi một chút này làm ghi",có của tin mới có lòng thành,em ạ.
-Mời bà lên chơi nhà...Bà cứ hỏi...cứ hỏi...nhà em ở chỗ chợ Bưởi đi vào...
-Được rồi,trò chuyện xong bây giờ với em,,chị còn phải chạy đi nói lại ngay với người ta,Tây người ta nói chắc như đinh đóng cột ấy.Thế nào chị cũng lên nhà.Nhưng mà phải...
-...Em gửi bà...
-Bao nhiêu?
-...bà...một hào...
-Phỉ phui! Thèm vào! Lót tay cái rơm rác thế à?
Dì tôi nhăn nhó,khẩn khoản:
-Nói thực với bà.Chuộc cái áo này,em hết tiền rồi.Hôm này bà lên nhà,em xin...nhà em ở chỗ chợ Bưởi vào.Bà cứ hỏi,cứ hỏi...
Đồng hào bạc trắng,dì tôi cầm trong lòng bàn tay.Mụ ấy nhổ bẹt một bãi nước bọt xuống đất,để làm hiệu phỉ phui đốt vía rồi chép miệng,cất cái giọng chán khê nằng nặc:"Từ sáng đến giờ!Thôi cũng mở hàng lấy may..."Mụ rón đầu ngón,nhặt đồng hào.Như thể ghê tay,không đáng cầm.
Trên tàu điện,dì Nâm ngồi cạnh tôi,cũng như ban sáng.Nhưng mà sao thấy lạ.Tôi chưa thể hiểu được công việc của người lớn.Cảm thấy như có cái gì khác buổi sáng,khi hai dì cháu ở nhà ra đi..Tôi cũng biết thế là dì Năm tôi sắp được xuống Kẻ Chợ làm chân chị hai,chân khâu đầm cho nhà Tây.Tôi đã trông thấy ở phố thanh vắng,cái nhà Tây có hai cánh cổng sắt mở,ô tô chạy ra chạy vào.Dì Năm sẽ được đi vào cái cửa ấy à?Dì Năm đi làm việc trong ấy à?Rồi dì lấy chồng trong cái nhà Tây sang trọng ấy à?Lấy ông bếp,ông bồi,ông tài xế hay lấy ông Tây cũng nên.Lấy chồng Tây thì sung sướng,nhưng phải cái bị người ta gọi là me tây.Vùng tôi cũng chưa có ai như thế.Tôi không biết t'ưởng tượng hơn bao nhiêu điều "ấy à" lộn xộn những ngạc nhiên.
Đến hôm hẹn,cả nhà tôi cứ lẳng lặng kín đáo mà lại tấp nập khác thường.Dì Năm quét sân,nhát chổi moi móc kỹ lưỡng cả trong góc vách.Thế mà lát sau,ông tôi lại ra quét lại.Tiếng chổi quẹt quẹt lạ lạ,xốn xao thế nào.nhà có khách,nhà sắp có khách ngoài phố về
Khách là cái bà mặt béo xám đã cầm của dì Năm một hào bạc.Làm sao mà tôi ghét cái con mụ!Nhưng rồi tôi lại mong người ta đến,đem dì Năm đi làm khâu đầm,làm chị hai ở nhà Tây.Rồi tôi lại thấy cứ ghê ghê rợn rợn,như là nhà sắp có ma,nửa đêm gà gáy ma hiện ra.
Nhưng mãi tận chập tối,dường như ai cũng nghe nghe,mãi chẳng thấy người bước vào ngõ.Đến quãng giờ xâm xẩm thế này hết tàu điện rồi.Vậy là dì Năm tôi bị lừa mất một hào.
Năm nay dì Năm đã kém một tuổi đầy tám mươi.Dì tôi và các em ở Sơn Tây.Chuyện này, chắc dì quên đã lâu.

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-21 00:42:44Ct.Ly>
2-BẮT RƯỢU LẬU

Năm ấy,tôi về ăn tết quê nội ở Cát Động trong Hà Đông.Chưa đến hăm ba tết ông Công.Đã qua lễ sắp ấn.Cánh đồng Thanh Oai phẳng lặng,xám ngắt phất phơ,khói suốt sang tận làng Mai.Chẳng biết khói đốt gốc rạ sưởi ấm hay khói hun chuột.

Tôi theo u tôi về nhà bác Cả tôi ngoài xóm Đồng.Nhà nhà quanh ao,kề bên ruộng vào xóm. Không phải qua cửa đình đằng trước,mà người ra vào xóm đi tắt ngoài cổng đồng lên. Có lẽ ngày xưa,đây cũng là ruộng,rồi có người ra làm trại ở,mới thành xóm, mà có tên là xóm Đồng.
Đứng đấy,trông thẳng lên đường cái tây.Vẫn còn nghe vòng bánh xe sắt lăn rào rạo trên mặt đường đá và tiếng lá cọ xột xoạt theo nhịp xe chạy của người kéo xe tay bánh sắt đội nón mê,khoác chiếc áo tơi lá như con cò lẻo khoẻo bị hai cái càng tre đóng gông vào ngực.

Bên kia, nước đồng chiêm trắng bong xuống tận Chuôn Che,đồng Vàng giáp vùng trũng Phú Xuyên. Tiếng còi tàu hỏa tận cuối xa nghe như thuốn dài dưới làn nước lạnh tê.

Tới bờ ao đã nghe táo tác,nheo nhéo trong cổng ngăn tiếng học bài.Những cậu học trò vừa học quốc ngữ,vừa học chữ ta,có cái đầu cạo trọc,đầu mới để ăn tết,đuôi tóc hoa roi dài lõng thõng xuống giữa lưng.
Bác Cả tôi ngồi giữa đám trẻ con lau nhau nhấp nhô.Có đứa đương mài son,mài mực.Có đứa nằm chổng mông,viết phóng.Có đứa ê a...a...oá...i...oai...u...i...cờ...lét...uếch...uých...Cái roi mây của bác Cả rứ lên rứ xuống,lặng lẽ ghê rợn.Hai con mắt muốn lòi bật con ngươi của mỗi cậu học trò liếc trộm cái roi.

Giữa lúc ấy,ngoài đồng có tiếng nhốn nháo.Người trong xóm nghển mắt lên trên rào bờ ruối trông ra.Rồi giật thót mình,ngơ ngác.Từ ngoài đường cái giữa đồng,đương lúp cúp chạy vào một đám người.Mũ trắng,quần áo vàng lốp.Lính đoan(1)trên tỉnh về.Gần đến đầu bờ ao,trông rõ ra người Tây đoan đi đầu,cao lênh khênh.Người Tây mặc áo vàng,tay cầm ngang cái thuốn sắt dài.
Đám người trong xóm sững sờ,luống cuống, không biết làm thế nào.Cho đến lúc chẳng biết ai ở bờ rào nào hét to tướng lên:
-Tây đoan về khám rượu!
Bây giờ dường như mới nhớ ra,sợ quá.Tất cả ù té chạy.Trong lúc,Tây và lính đoan đã ập đến nơi.
Đám học trò quanh bác Cả đương thi nhau học gào từng chữ,bỗng im bặt.Nhưng các cậu ấy hãi cái roi của bác tôi,vẫn không dám ngóc đầu trông ra.
Bác Cả đứng phắt dậy.Bác bước lại trước án thư.Bác nghiêng chiếc mâm bồng,lấy ra trong chân mâm một cái chai dài ngoẵng.Trong chai,đựng độ hơn cút,rượu ngấn lên già lưng chai.Bác bỏ chai rượu lậu vào túi trong cái vạt áo năm thân ngay trước bụng.Rồi bác lại ngồi xuống chỗ cũ,chùm lên vai tấm khăn khố tải xùm xòe.Cầm chiếc roi mây-lại như lúc nãy,gõ đẹt đẹt xuống mặt chiếc phản mọt,nói dõng dạc:
-Đứa nào ngồi yên chỗ ấy,học đi!
Bọn lính đoan đã vào giữa sân.Người Tây đoan,tây lai,nói sõi như ta:
-Ông đồ ngồi bảo học à?
-Vâng ạ.
-Phải chắp tay nói:bẩm quan lớn nhà đoan "vâng ạ" mới lễ phép chứ!
-Bẩm quan lớn nhà đoan...
-Nhà ông đồ có nấu rượu lậu không?
-Bẩm quan lớn nhà đoan,không ạ.
-Quan khám thấy rượu thì ông đồ đi tù mười tám tháng nhé.Sắp tết rồi mà phải ra tỉnh ngồi nhà pha,khổ thân vợ con lắm đấy.
Bác tôi chẳng biết nói thế nào,chỉ thinh thoảng buông một câu "vâng ạ" đánh nhịp ngẩn ngơ.
Người Tây đoan cầm chiếc thuốn sắt chọc lên bàn thờ.Cái thuốn nhọn hoắt như ngửi được hơi rượu,tinh thế.nó đẩy nghiêng đế mâm bồng.Nhưng đế rỗng, chẳng có gì cả.
Tôi biết thế rồi,mà tôi vẫn run cầm cập.Có lẽ mặt tôi tái mét.Bởi vì chai rượu lậu vừa ở đế mâm bồng chui vào trong áo bác tôi,ngay cạnh đây thôi.
Tây đoan quay lại,hỏi u tôi:
-Cái nhà chị này đến cất rượu lậu về bán tết à?
Bác tôi nói:
-Không,thím nó là người nhà ở tỉnh về chơi.
Tây đoan quát:
-Người nhà cũng khám!
Rồi Tây đoan nhấc tay nải nâu của u tôi lên.Đầu thuốn gõ vào.Chỉ nghe lịch bịch sống áo vải.Tây đoan buông cái tay nải xuống.Rồi trỏ ngọn thuốn sắt vào bác Cả:
-Thày đồ giả vờ,thày đồ giấu rượu trong chăn.Chúng mày khôn lắm.Ông đã bắt được chúng mày cất rượu trong chăn nhiều lần rồi.Muốn sống thì bỏ cái chăn ra.
Nom bác tôi lúc ấy cứ như con gà mái ấp xòe cánh.Chưa kịp nhấc cái chăn trên vai xuống,đầu thuốn của thằng Tây đã quều xuống.Bây giờ cái thuốn sấp chọc đến chỗ,chỗ chai rượu ở trong bọng áo bác tôi.Tôi cuống queo,nắm quanh váy u tôi.Cái chăn rơi xuống rồi,mà bác tôi vẫn ngồi trơ ra đấy.Tôi càng sợ.
Tây đoan ngắm nghía rồi lại quát:
-Thầy đồ đứng dậy!
Bác cả tôi từ từ đứng dậy.Hai con mắt toét nhoèn vải tây điều của bác tôi vẫn gấp gay nhìn thẳng,chẳng khác lúc nãy.Người Tây đoan im một lát rồi lạnh lùng nói:
-Chỉ làm mất thì giờ các quan!
Rồi Tây đoan xách cái thuốn bước ra.Nhưng còn như nghi ngờ,như tinh nghịch,như quen tay,lại thọc thuốn lên mái một cái nữa.Tàu lá cọ thủng,trông thấy lỗ tròn tròn trên trời.
Tây,lính và người xem ra cả rồi,bác Cả lại ngồi xuống.Nhưng đám học trò ngồi quanh phản đã biến mất từ lúc nào.
Bọn lính đoan đi xục thuốn khắp các vườn và bờ rào quanh xóm.Xem có chỗ nào chôn giấu rượu,bã rượu.Không thấy gì cả,cả bọn đùng đùng kéo vào xóm trong.
Đến tận trưa,đám lính nhà đoan khám rượu mới trở ra đường.Lôi theo được nhiều thứ bắt được ở xóm dưới.
Cái nồi đồng ba mươi với lưng nồi bã.Một thúng gạo nếp đã vo sẵn.Mấy cái bong bóng trâu,có chiếc bẹp rúm,có chiếc đã phồng rượu.Đủ đồ nghề,cái cần trúc xe điếu chuyên nước cất,cái mai rùa gỗ,cái chõ...Nhà ai lắm đồ nghề nấu rượu mà thế nào không tẩu tán kịp!Chúng nó bắt được tuốt.Đứa nào báo Tây đoan mà để hại người ta thế.Tết nhất đến nơi.Bắt được rượu đích xác,chỉ bởi có đứa báo thôi.Định làm mẻ rượu bán tết mà hóa ra sạt nghiệp,Lại còn tù tội nữa.

Bọn lính đoan đi trước,Đằng sau,lũ lượt người cung cúc theo.Không biết người nhà hay tuần phiên khiêng các thứ nhà đoan vừa bắt được.
Có cả chú bếp Mỡ hớt hải từ trong xóm ra chạy lẫn vào đám bắt rượu.
Nhiều người gọi:
-Chú Bếp!
Chú Bếp quay lại,trông thấy tôi,nói to:
-A,thằng cu Bưởi về quê ăn tết à?Chú đi tù rượu đây.Mẹ con cháu ở nhà chơi nhé.
Đi tù rượu!Câu nói cứ ngọt như không.Tôi vẫn nghe kể ngày trước chú bếp Mỡ đã đi lính sang Tây.Khi về,chẳng có lon đội,lon ách gì,chỉ được người ta gọi chức bếp,bếp Mỡ.Sang tận bên Tây về rồi chú lại vẫn đi cày thuê,đào ao,rào vườn cho nhà người ta.Vẫn như ngày trước.Những buổi chăn trâu,chú toàn kể các chuyện bên Tây.Về quê,bao giờ tôi cũng đến nhà chơi nghe chuyện đường xa của chú bếp Mỡ.

Chú ấy nói thế nào?Tù rượu.Chú đi tù rượu.Chú vừa rảo chân vừa xỏ tay khoác cái khố tải,cười hí hí và nói thế.

Thím bếp Mỡ với lũ con đứng đầu xóm nhìn theo.Đến lúc cả bọn với nhà đoan khuất vào gốc những cây muỗm,thím bếp Mỡ trở vào,đi giữa đám người cười hê hê.Qua các ngõ,nghe người ta nói cợt:"Thế là tự dưng trời cho nhà bếp Mỡ cái tết nhé,sướng nhé".Chẳng biết thím bếp Mỡ đùa hay thật,thím cứ chép miệng lẩm nhẩm:"Sướng,sướng quá!".
Thì ra Tây đoan khám rượu,bắt được cái lò nhà ông lý hào(2)ngoài bãi ngô dưới bờ sông.Rõ ràng có đứa xấu bụng đi báo ăn thưởng.Nồi rượu còn đương đun.Không tẩu tán được mảy may.
Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang vật lên tỉnh.Nói một câu thế,chú đã biết lệ.Có gì thì chú bếp cứ đứng ra nhận chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha.Qua tết đã,sang giêng còn phải ngồi tù hay được về,đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ liệu với nhau sau.Ở nhà,vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa chục bạc ăn tết đã.

Bên làng Mai nhiều nhà nấu rượu lậu,có những người đã quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế.Tù mấy ngày mấy tháng, đã có giá cả hẳn hoi.Có người ngồi tù thuê đến mười tám,hai mươi tháng.Chủ rượu ở nhà phải nuôi vợ con lại đóng thuế thân cho người tù thay đến hai năm.Thôi thì đằng nào cũng vậy,người khôn của khó,ở nhà cũng phải mửa mật mới kiếm nổi miếng.
Cánh đồng vẫn im phắc,Không biết tại rét quá,người ta rúm lại hay vì giá buốt đến cóng cá mà tưởng ra như thế.Đám khói gốc rạ vẫn nghi ngút đằng xa,càng vắng ngắt vắng ngơ.
Bỗng một cậu học trò bấy giờ mới thò đầu chui trong gầm phản ra.Bác tôi điềm nhiên bảo anh trưởng tràng:
-Sang riêng,ngoài rằm khai trường nhé.Bảo chúng nó thế.
Rồi bác Cả rút chai rượu lậu trong bụng áo ra,lại cất vào dưới lỗ hổng ở chân mâm bồng,như lúc nãy.
1.Đoan(douane) cơ quan thu thuế,bắt thuế thời thực dân Pháp.
2.Người bỏ tiền ra mua chức lý trưởng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-21 00:44:21Ct.Ly>
3-CÁI XE ĐẠP


Vào những năm ấy,xe đạp còn hiếm không lắm như bây giờ.Không phải nhà nào cũng có xe đạp và ai cũng có xe đâu.Với nhiều người,xe đạp là một thèm muốn cao cao. Mác xe của các hãng khác nhau ở Sanh-Ê chiên bên Pháp ai cũng nhớ vanh vách và phân biệt mọi đặc điểm ngóc nghách,mặc dầu không mấy người có xe đạp.
Chưa bao giờ tôi có xe đạp.Đến khi cách mạng thành công,tôi rời ra ở phố,mới có xe đạp-hồi ấy chưa gọi là mua xe đạp,mà người ta nói trịnh trọng:"tậu xe đạp".Như tậu nhà,tậu ruộng.Cái xe đạp đầu tiên của tôi trơ trụi khung và hai cái bánh,gọi là xe cởi truồng.

Xe đạp,cái xe đạp ước ao.Muốn có,nên lúc nào cũng thèm như có thật.Cả làng tôi cũng chỉ mình ông đội Lộng có xe đạp.Trên đầu chợ,bên vườn Bàng,ông Tây đen ma tà ca ra Sanh cũng có một cái-chẳng biết của sở cho mượn đi,hay của ông.Mỗi khi nghe chuông kính côông,kính côông tận ngoài đầu đường,người trong xóm đã chạy à ra xem xe đạp qua.

Quái thật,bây giờ không thấy ai tập đi xe đạp,rồi đến cả trẻ con cũng cứ tự nhiên biết đi xe đạp.Ngày trước phải tập xe ngã lên ngã xuống mướt mao mồ hôi mồ kê.Ở dốc đường Thành,hàng bác cả Đức cho thuê xe đạp,có những cái xe tã dành riêng cho tập.Gom tiền lại,thuê giờ tập.Thằng giữ xe,thằng trèo lên yên.Cũng phải bao phen choét đầu gối.Có lẽ vì bây giờ nhiều xe đạp,lúc nào cũng thấy người ta đạp,chỉ trông người ta mà rồi trẻ con tự nhiên cũng biết đi.

Nhưng người có một cái xe đạp lúc ấy cũng khá nhiêu khê.Không phải chỉ bởi mua xe nhiều tiền.Không phải vì công phu hầu hạ,sửa sang nó.Mỗi ngày,đi đâu về,lại lau xe,ngày nào cũng lau từ hang hốc cái khung,cái bàn đạp,cái nan hoa.Người ta không chểnh mảng với cái xe như bây giờ.Chỉ những tốn kém rắc rối xung quanh cái xe đạp cũng đã lôi thôi rồi.

Tôi đương đạp xe qua cầu Đơ, thị xã Hà Đông.Có hai người đội xếp đạp theo.Nói cho đúng,tôi đã trông thấy hai người đội xếp đứng ở đầu cầu.Nhưng không ngờ họ lại đương chú ý đến tôi.
Vâng,đi đâu mà chẳng phải nhìn đội xếp,dù là những người ngay ngắn,lương thiện.Bởi vì hầu như bọn đội xếp cứ trông thấy mặt ai là rình bắt,rình khám,rình phạt.Từng quãng trong thành phố,lại thấy một đội xếp Tây đội mũ lưỡi trai,đeo súng lục,đạp xe "Pơgiô" bánh to (lốp 650 bây giờ).Hai đội xếp ta đội mũ cát đít vịt lợp vải vàng đi theo hai bên.Hai người này cũng vắt vai cái dây da,nhưng bao súng lép kẹp, trong nhét cái giẻ lau xe.Những con mắt chăm chắm,rình phạt.Thềm nhà có rác,phạt.Phơi quần áo,tã lót, chiếu trước cửa,phạt.Cống bẩn,phạt.Đánh nhau, phạt cả đôi bên.Ven đường cả Hà Nội không đâu có nhà đái công cộng.Mà đái đường thì phải phạt hẳn sáu hào.Bởi vậy,trẻ con trong làng ra mót đái cứ vừa đi vừa đái ra quần.Các bác cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái vào bẹn.Hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái.Nhưng chẳng có cơn cớ gì cũng rút giấy biên phạt,thu tiền.Người ta nói các bóp đã định trước số tiền phạt thu hàng tháng rồi.đội xếp cứ trông đấy mà liệu đi phạt cho đủ.
Đến giữa cầu,một người đội xếp đạp xe vượt lên trên tôi.
-Này này...-Phanh lại.
Tôi lúng túng tìm cái tay phanh.Tôi bóp phanh bánh trước két két...
-Bánh sau!
Phúc đức,phanh bánh sau ăn ngay.Chiếc xe tôi đứng lại.
Hai người đội xếp châu đầu vào tôi.
-Xe không phanh à?
-Phanh ăn thế mới đứng lại được ạ.
-Chỉ ăn có phanh bánh sau.
Tôi nhăn nhó,rụt rè nói khó,rồi đưa một hào bạc.
Người đội xếp hầm hầm:
-Không rỡn với nhà anh đâu.Xe lại mất cả gác đờ bu .Gặp người ác thì phạt rồi đấy,biết chưa.Đồ nhà quê,thôi cút.
Hú vía,xe đi mượn!Tôi lặng lẽ nghĩ có lẽ hai cái lão đội xếp ấy cũng còn có phần nhân đức.Xe không chắn bùn,xe bánh trước không ăn,mà chỉ phải đút có một hào hai người chia nhau.
Thời ấy,nuôi được cái xe đạp, nhọc lắm.Xe phải gắn một mảnh sắt,mảnh kền khắc tên, số nhà,tên phố nhà ở của chủ xe.Không có,phạt.Đèo nhau,phạt.Trông cái xe mướt quá,ngứa mắt,cũng phạt.Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo gãy hạng vừa,giá trị một đồng bạc lúc ấy không phải nhỏ.Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất một đồng bạc,được lĩnh về một miếng lập lắc bằng đồng đeo vào xe.Đầu năm,chỉ hết tháng giêng,đội xếp đã đứng đường lùng phạt các xe chưa có lập lắc mới.
Chập tối, xe phải có đèn.Không thì một tay cầm nắm hương vung lên.Cái đèn ló dầu tây cắm vào cọc đèn trước ghi đông,khói mù mịt,khét lẹt.
Có việc ra phố chập tối,phải sắp sẵn từ chiều cái phao đầy dầu.Thế nào mà khi về qua đường Quán Thánh,gió hồ thổi lên,tắt ngóm mất.
Người đội xếp lù lù hiện ra như ma hồ Trúc Bạch lên.
-Ê! Xe không đèn,đứng lại.
-Đèn tôi vừa mới tắt.
-Không biết.A lê,về bóp.
Tôi dắt xe đi với người đội xếp về sở cẩm(1) hàng Đậu.Xe không đèn-xe tắt đèn cũng thế,tôi đã biết phải nộp phạt ba hào.Không có tiền thì để cái thẻ thân và xe đạp lại,mai đem tiền đến.Nếu không, phải cất công vào ngồi nhà giam sở cẩm,chịu đói khát hai mươi bốn tiếng,đúng giờ này ngày mai thì được đem xe về.Còn tiện nhất: khấn anh đội xếp một hai hào,chắc được thả cho đi ngay.
Nhưng tôi theo cách "vào ngồi nhà giam".Chẳng phải vì bướng,mà bởi một lẽ dễ hiểu.Không có tiền,mà lúc nào tôi cũng thong thả thừa thì giờ.Thế mà chưa dứt nỗi lo.Ngồi nhà giam,nhưng phải làm sao cho trông thấy cái xe đạp cả đêm.May cũng có nhiều người đi xe không đèn,phải bắt giam,chịu khó ngồi nhà giam, để khỏi nộp phạt.Xe chất trước cửa buồng chồng đống cao hơn đầu người.Nhưng lại nghĩ lo xa nỗi tối mai được thả vào giờ này,xe vẫn không đèn.Dẫu không dám đi,chỉ dắt về tận nhà,ngộ chẳng may gặp đội xếp,nó lại bảo mình đương đi vừa nhảy xuống,cứ phạt,thì rồi không biết sao đây.Lôi thôi quá!
Cái buồng giam ở bóp hàng Đậu khai tịt cả mũi.Suốt đêm,người lúc nhúc ngồi bó gối,chen nhau.Muỗi đói đốt,gáy sần lên,như gai gạo.
Vậy mà nghe kể hôm nọ cũng có người thắt cổ.Ở cái chỗ đêm ngày đông ních người như thế này,không hiểu thắt cổ vào lúc nào mà chết được.

Chú thích:
1.Cẩm,do chữ Pháp: comissariat.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-21 00:46:01Ct.Ly>
4- NHỮNG NHÀ HÀNG XÓM


Bây giờ bốn bên hàng xóm,năm này qua năm khác,dường như bao giờ cũng vẫn thế.Ngưởi lớn già đi và cứ mỗi năm càng lắm trẻ con.Khi nào cũng nghe tiếng trẻ cười nói inh ỏi.Ừ,mà khác khác,cái làng đã được đổi thành thị trấn-thị trấn Nghĩa Đô.Các xóm 1,xóm 2,xóm 3,xóm 4 gọn ghẽ.Không còn chỉ quanh quẩn bên này bên kia bờ ao cũng chia ra làng Tân,làng Nghè.Làng Nghè lại còn những xóm Trong,xóm Giữa,xóm Trẻ,xóm Ngoài,rắc rối đến lắm tên.

Mấy nhà quanh quanh nhà tôi chẳng có gì khác.Bác đôi Lạc bằng tuổi tôi vẫn đi công tác.Bên kia bờ chuôm,ông bà Tám đã nghỉ hưu.Thỉnh thoảng lên chơi cậu con trai làm bác sĩ trên Thái Nguyên.Mấy nhà bà con Việt kiều ở Thái Lan về được đưa đến định cư đây,đã thành người làng.Nhà bác Ba chung sân với nhà tôi cũng vậy.Bác Ba cũng bằng tuổi tôi.Tôi nghe nói cái năm Thân ấy các bà ở cữ đẻ toàn con trai.Chúng tôi già đi.Nhưng con cái,các anh các chị nhà bác Ba lớn lên,mỗi người mỗi công việc.Chỉ ngắm gia cảnh nhà bác ấy cũng đủ thấy ra một nếp nhà quen thuộc,hầu như mọi nhà trong làng đều na ná thế.

Hai bác đã quá tuổi,nghỉ việc dệt của hợp tác từ lâu.Các chị lớn đã đi lấy chồng.Người làm công nhân nhà máy phibrô xi măng.Người bán hàng mậu dịch.Các anh,người đi công nhân,người ở bộ đội,một anh đã hy sinh trong trận Khe Sanh,một anh hy sinh ở Quế Sơn,bác gái đã vào tận nơi thăm mộ.Anh Kỳ lái xe đoàn 559 Trường Sơn,trung đoàn Quang Trung anh hùng.Anh thương binh ấy công tác sở thương binh xã hội thành phố.
Mấy cây dừa vẫn một năm hai vụ trĩu quả.Bác gái,thỉnh thoảng lên Bắc Giang quảy lồng gà về bán ở chợ.Nhà nuôi mấy lứa lợn.Bác trai sắm cái xe ba gác chở than cho hợp tác xã.Ngoài sáu mươi tuổi rồi,bác cầm càng vẫn vững tay.Ngày xưa, chỉ nghĩ đến kéo cái xe bò,người ta đã ngán ngẩm nỗi cu li cu leo.Nhưng đây là xe bò nhà mình.Bác Ba đi xe than,chiều về sang giếng tắm rồi ngồi lên cái ghế xi măng ở bờ ao,trông ra cây đa cổ thụ đầu làng-cây đa già cỗi vắt rễ cây nọ sang cây kia, thành một cây hai gốc,vẫn trơ ra như thế từ bao đời.Bác cười khà khà,bảo tôi:Chú cứ về đây chịu khó đi đẩy xe than với anh rồi chiều chiều anh em làm vài chén rượu thuốc,bệnh huyết áp cũng tiêu tan ngay thôi.Rồi lại cười với nhau.

Nhưng mà ngày trước không như thế đâu.Ở xóm này có cái nhà tây một gian có trần của ông xã Lịch,còn thì nhan nhản tranh tường đất mấp mô như những con rùa bò.
Cái xóm nhà tôi ngày trước ẩn mình trong những bụi tre,mấy cây nhãn và giữa những ao chuôm bờ lau la liệt khoai nướcvà chim cuốc hoàng hôn về kêu khắc khoải.Trông làng xóm san sát bây giờ,người ở lứa tuổi mới lớn ngỡ xưa nay vẫn thế.Không phải.Thủa xưa,người ta mải miết đi kiếm ăn,kiếm gần chẳng ra,phải bò đi xa,đi xa không về nhiều lắm.

Như vậy đấy.Đôi bên hàng xóm không phải như bây giờ.Nhiều nhà không còn nữa.
Nhà chú Cát ngay đằng sau tường.Vợ chồng chú ấy thật khỏe mạnh.Thím ấy núc ních béo tròn.Chú ấy ngày ngày quảy nước thuê,chặp tối lại ra Kẻ Chợ kéo xe.Cái tường đất đầu nhà có bờ rào xương rồng.Trẻ con bảo nhựa cây xương rồng bà, xương rồng ông mà nhỡ quệt vào mắt, nổ mắt.Đứa nào cũng sợ.Mảnh xương rồng nở hoa tím li ti bên những cái gai sắc gớm ghiếc.Đành đứng xa nhìn.Vợ chồng chú Cát đi làm vắng,ngõ chỉ rấp một cành rong.Chẳng có gì đáng của,nhà không biết đến cái khóa bao giờ,mà trẻ con thì sợ cây xương rồng.

Tưởng như cái hoa và cây xương rồng bà dữ tợn với cành rong rấp ngõ,hàng bờ rào dậu lưa thưa ấy cứ đứng đấy mãi,lâu dài đến suốt ruột như trẻ con mong bao giờ thành người lớn.Thế mà cũng biến mất cả.Nhà chú Cát,nhà ông hương Cam bán cho người ta năm nào, tôi không nhớ.Chúng tôi có những hàng xóm mới,bác đội Xị, bác ba Dương...
Xế cửa,nhà ông hương Lãng.Nghe nói không phải nhà ông,ông hương Lãng ở nhờ nhà chú Dự.Nhà ở nhờ có khác,chẳng quét tước, dọn dẹp.Cái sân lạnh lẽo, đầy cứt giun đùn.Lại nghe đồn nhà có ma,cánh cửa lúc nào cũng khép hờ.Cây hoa hồng bên cái phên nứa,nở vô khối mà cứ rữa ra không ai dám vào hái.Tháng hai, hoa bưởi rụng,mùi thơm và màu hoa trắng rờn rợn.

Một năm kia,chú Dự ở ngoài Uông về.Chú ra Uông Bí làm gì ngoài ấy, không biết.Hình như mấy năm chú cũng vạ vật ở Uông chứ cũng chẳng kiếm được công việc ra hồn.Chú trở về làng một mình.Chẳng đem theo được cô vợ thiên hạ.Nhiều người đi làm ăn xa thường có vợ lẽ về theo.Như ông cai Thảnh,ông Bẹp, ông xã Vị...Cái nhà ba gian vẫn âm thầm thế.

Tôi không biết ngoài Uông là đâu,nhưng cứ tưởng người làm ăn tận chốn nào về phải to lớn, khác lạ hơn người làng.Không,chú Dự mặc cái áo xanh đã bạc mốc hai vai.Người bé nhỏ,mà già úa,mặt choắt,xanh xám như cơn mưa.
Rồi tôi cũng mang máng biết ít lâu sau chú Dự xin được chân làm sở tàu điện ngoài Thụy.
Chúng tôi hỏi:
-Chú Dự được đi tàu điện không mất tiền à?
Chú Dự cười tủm tỉm.Chúng tôi lại hỏi:
-Chú Dự biết nhảy tàu chứ?
Chú Dự không nói.Nhưng chắc là chú Dự biết nhảy tàu.Người nhà tàu điện phải biết nhảy tàu chứ.Trong làng chẳng có việc ra Kẻ Chợ,chẳng đi tàu điện mấy khi,thường ngồi bàn tán về tàu điện nhiều hơn.Vốn xưa nay các tay ăn chơi lên xuống tàu điện đều nhảy tàu chứ không đợi tàu đỗ mới bước lên như mọi người ta.Tàu đang chạy nhanh,ra cửa đứng nghiêng người,nhẹ nhàng thả chân xuống.Mà dù đã đợi ở bến,cũng cứ chờ tàu chạy rồi mới hún lên.Có thế mới là tay chơi, tay thạo.
Bỗng lúc chập tối,nghe trong xóm nói chú Dự bị chết chẹt tàu điện rồi.Chỗ cổng Rong ấy,đường xe đường tàu thong dong hai hàng,làm sao lại đâm vào tàu điện được.Nhưng cũng có người thì thào rằng bốn bên cổng Rong,chồng chất những tha ma,mả mới,mả cũ nhiều vô kể.Nhiều lần rồi,mứi chập tối đã có người trông thấy ma ra run rủi đưa người ta vào bánh tàu.Đã mấy đám chết chẹt tàu đúng chỗ ấy.Cũng chẳng hiểu chú Dự nhảy tàu ngã hay chú bị tàu chẹt.Khi tôi đã lớn,biết nghĩ rộng ra hơn,có khi tôi ngờ ngợ hay là chú đâm đầu vào tàu điện.Cũng nhiều người đã tự tử thế.
Ở đầu xóm cạnh ao làng có nhà ông tư Dót đông con.Trong giữa xóm, nhà ông Hốt cũng một lũ lau nhau chạc tuổi chúng tôi.

Thằng Được nhà ông Hốt,anh em thằng Nhỡ nhà ông tư Dót suốt ngày chơi tha thẩn ngoài đầu làng,bên bãi, trên quán.Đánh bi đất,nặn nồi niêu,câu cá,chơi đố lá,thả thuyền,trèo nhãn,ném nụ hoa gạo...

Có điều,bao giờ anh em nhà Được,nhà cu Nhỡ cũng vừa chơi vừa phải làm,và chúng tôi đứa nào cũng làm hộ nhà nó.Chúng tôi nhặt lá đa,hàng thúng lá đa.Để nhà nó lấy cái đun.Lại có khi cả buổi trèo cây bàng đầu xóm Giếng ngắt lá rồi chúng nó đội lên chợ bán cho các bà gói mắm tôm, muối, cua mặn...
Một hôm, chúng tôi thì thào:
-Nhà thằng Được bán rồi.

Chúng tôi chưa hiểu nỗi khổ bán nhà,chỉ lạ là cái nhà thích thế mà bán.Cây nhãn, cây na, cây khế la liệt ra tận bụi tre.Lại có cây bưởi đường tháng hai đẫm mùi hoa thơm,năm nào chúng tôi cũng được trèo hái quả bưởi cho ông Hốt bán chợ tháng tám.
Tôi hỏi Được cho chắc chắn;
-Nhà mày bán rồi à?
Được vênh mặt nói như khoe:
-Nhưng nhà tớ vẫn ở như mọi khi.
-Bán cho người ta rồi cơ mà?
-Nhà tớ ở nhờ.
Hình như nhà đứa nào có nhà bị bán, lúc đầu, cũng nói giống thế.Rồi đến khi dọn biến đi bao giờ không ai biết.Còn cái nhà ông tư Dót có bốn anh em thằng Nhỡ thì bán không biết lúc nào.Nhà ông Hốt,nhà ông tư Dót rồi đi ở đâu, tôi cũng quên và dường như tôi cũng không biết.Từ ngày ấy,chẳng bao giờ gặp lại anh em nhà Được,nhà cu Nhỡ.Chỉ nhớ hai nhà ấy đông anh em nhất các nhà hàng xóm, đứa nào cũng cởi trần quanh năm. Chẳng biết rồi có đứa nào sống được qua nạn đói 1945 không?
Nhà bác khán Lợi cạnh nhà chú Cát,ở sát sau tường nhà tôi.Mẹ thằng Tiếp mất đã lâu.Thằng Tiếp bằng tuổi tôi,cũng chỉ sốt mấy hôm rồi chết.Bác khán lấy kế một người thợ seo dưới Nam lên làm nhà ông Tám.Năm đói,cả nhà ngắc ngoải.Cái Lợi đi lấy chồng rồi về nhà chết đói.Chẳng biết có phải cái Lợi cao lớn, ăn khỏe quá, ròng rã cả tháng không kiếm được cái ăn,nên phải chết trước.

Đến khi kháng chiến,nhà bác khán Lợi tản cư trôi dạt lên mãi Vĩnh Tuy trên Hà Giang. nghe nói, ngày hòa bình 1954, bác khán có về thăm làng vài ngày rồi lại đi.Tôi không được gặp.Cái làng cũ, đối với nhà bác khán, rặt những chuyện buồn,bác chẳng về nữa.Trên Vĩnh Tuy, nghe nói bác làm ruộng và nhà có đồi trồng chè.

Dần dà mới nhận ra làng xóm thời ấy với bây giờ khác nhau nhiều.
Đăng nhập để trả lời
0
5-BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG
Hà Nội xưa kia không có các huyện ngoại thành.Lên đến Bưởi đã là ra ngoại ô.Ra Cầu Giấy,nói đầy đủ là ra ô Cầu Giấy đã hết địa phận thành phố.Người Pháp định đưa huyện Hoàng Long-hầu hết quận Đống Đa bây giờ,làm ngoại thành,gọi là đại lý Hoàng Long.Tri huyện Đặng Vũ Niết vừa nhậm chức quan đại lý thì đảo chính Nhật 9-3-1945,thế là tong.
Tỉnh Hà đông,tỉnh Bắc Ninh bọc quanh,Hà Nội hẹp toen hoẻn ở giữa.Xuống cuối đường Huế đã hết thành phố.Làng Yên phụ bờ hồ Tây thuộc Hà Đông.Đằng Kim Liên,sau lưng bệnh viện Bạch Mai đã ra khỏi phố.Đường lên Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) đã gặp làng Thụy Khuê ngoại ô rồi.Bãi giữa dưới cầu Long Biên giữa sông Hồng thuộc đất huyện Gia Lâm,tỉnh Bắc Ninh.Đầu phố Khâm Thiên đằng này,chỗ cái ba- ri- e chắn đường xe lửa,là hết đất Hà Nội.Xe tay bánh sắt,gọi là xe ngoại,cu li kéo hết phố Khâm Thiên,phải đổi khách sang xe bánh cao su mới được vào thành phố.Vùng Khâm Thiên còn là Hà Đông!
(Bởi vậy, có chuyện kỳ cục trơ tráo: năm 1972,máy bay B52 ném bom rải thảm xuống Khâm Thiên.Cả thế giới lên án đế quốc Mỹ mưu toan hủy diệt Hà Nội.Hãng tin Mỹ UPI cải chính; Máy bay B52 chưa hề ném bom Hà Nội.Có nghĩa là Mỹ đem bản đồ Hà Nội thế kỷ trước ra làm chứng ).
Phố phường thời Tây chia từng khu khác nhau.Không có bảng chỉ dẫn,không tường chắn,không ai ngăn cấm nhưng người đi đường phải tự hiểu như thế mà liệu bước.
Các phố hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Điện Biên, Lê Hồng Phong, Hùng Vương bây giờ là khu vực phố Tây-phần đông chỉ người Pháp hoặc nhà người "An Nam" nhưng giàu có, sang trọng.Nhà nhà vườn, tường hoa, cổng sắt riêng ô-tô ra.Phố Tây vắng,loáng thoáng người qua lại,phần nhiều chỉ là những người đi làm bồi bếp, tài xế,các cô khâu đầm, chị hai giữ trẻ nhà Tây.
Người như tôi lúc ấy,những thanh niên chân xỏ đôi guốc mộc,áo dài thâm,bước thất thểu, qua cửa nhà sang trọng hay dòm ngó.Thế nào cũng có đội xếp dõi mắt xem có phải kẻ gian "chú chích" không.Chẳng ai dại gì mà lai vãng các phố Tây.
Hàng Gai, hàng Bông, hàng Ngang, hàng Đào, chợ Đồng Xuân, người chen chúc đông đúc qua lại bên này hồ Gươm. Khu buôn bán sầm uất,ở đây mới lắm các tay "chích cược" (trộm cắp) và du côn du kề.
Sinh sôi theo đời sống thành phố,Hà Nội còn có hai khu khác,mà ít người nhận ra và phân biệt được.
Các xóm nhỏ yên tĩnh hai bên chợ Hôm và đường Huế.Bây giờ là Trần Xuân Soạn,Ngô Thời Nhiệm, Phùng Khắc Khoan, Hòa Mã và bên này,Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương,Bùi Thị Xuân.Mới năm nào,đi từ dốc cây thị hàng Kèn xuống Vân Hồ, còn bãi hoang,đầm lầy, tre pheo làng xóm lơ thơ.Trơ trọi cái trường hàng Kèn hay Thân Trọng Huề (trường Quang Trung bây giờ), đằng xa cũng nhìn thấy những cây bàng mới trồng xanh rì.Rồi nhà cửa, phố xá mọc dần lên.Người làm vô làm việc, người buôn bán, kẻ giàu người nghèo ở chen nhau. Vùng này, phố của những công chức, các ông ký, ông thông, nhà buôn phố trên để dành tiền, làm nhà, tậu nhà.Thông thường, ngày nay còn thấy dấu vết, nhiều ngôi nhà một hai tầng lợp ngói, nách tường có cửa bên. Tấm gỗ gác lên bậc thềm.Anh xe dắt cái xe cao su nhà ở sân trong ra.Xe đưa cậu đến sở. Xe kéo mợ đi chợ.Bây giờ, nhà cửa các phố này còn phảng phất vẻ phong lưu êm đềm bề ngoài thời ấy.
Một vùng khác dưới bãi dọc đê sông Hồng.Các bãi Cơ Xá, Nghiã Dũng, Phúc Xá-bãi An Dương còn bỏ hoang, xuống tới bến Phà Đen, toàn nhà lá-những túp lều lá. Đến mùa hanh hao (nhà nào theo câu tường thuật của các báo thời ấy, bị "thần hỏa ra oai") thế là cháy luôn cả dãy.Đấy là nhà những người nghèo, cu-li dọn kho,bắt tê cửa ga, kéo xe, phu phen khuân vác, đổi thùng, thợ hồ, người các vùng quê đói rách đổ ra thành phố kiếm sống đều chui rúc xuống ở bãi.Có một hồi, về Hà Nội,Nguyên Hồng cũng ở một gian nhà lá thuê dưới bãi Nghĩa Dũng. Tôi thường xuống chơi.Khi ấy, vợ chồng anh mới có con đầu lòng, cháu Hà.Nhà vách đất tối om, vào cửa phải cúi đầu.Cả gian nhà kê vừa cái giường chõng.Dưới gầm, chiếc hòm gỗ.Tất tật, gạo nước, nồi niêu, quần áo tống cả vào hòm. Bên chân giường dựng bó củi nứa và cái hỏa lò để chị ấy thổi cơm.
Lều lán và người nghèo rúc ráy cả dưới bãi..Đấy cũng lại là vùng tụ tập cờ bạc và tay chơi có hạng.Bọn trùm gá bạc như Ba Sinh, Cả Vê, Hai Cua và bao nhiêu đầu trộm đuôi cướp khác.Sở mật thám biết rõ tông tích mà không làm gì.Những tù sổng làm quân cướp ngày, những chúa du côn được chủ xe hàng thuê đứng bến đánh nhau tranh khách đều sinh sống ở các xóm bãi. Đứng trên đê trông xuống chỉ thấy những mái lá lươm nhươm, nhôm nhếch bên đất cát lẫn lộn với mặt nước đỏ rực. Sáng sớm, người ra ỉa bãi bờ sông đi tha thẩn, con chó lũn cũn theo. Các nhà gánh nước ăn về đánh phèn đôi thùng cũng từ dưới sông lên, bước lẫn giữa mọi thứ củi mục, phân người, rác rưởi. Buổi chiều, gió lạnh ngoài kia quạt lên hun hút.
Vùng công chức ở và vùng bãi càng ngày càng chen chúc,bởi thành phố mỗi lúc một nhiều người hơn. Dần dần, hầu hết các làng gần xung quanh đều làm các nghề phục dịch.
Người ta bảo chỉ có chó chợ Canh mới ngon thịt. Những hàng thịt chó chợ Đồng Xuân, hàng Đồng đều người trong Canh. Làng Mơ có nghề nấu rượu ,gọi là Mơ Rượu, lại còn Mơ Cơm-các hàng cơm đầu ghế trên phố hầu hết người Hoàng Mai.Người Lai Xá hầu hết làm các nghề ảnh.Ước Lễ giò chả, mở hàng cơm tám và hiệu may quần áo tây.Các cửa hàng này hay có chữ Ước,chữ Hương, Tân Ước, Tân Việt, Tân Hương...Người Thanh Trì bán đậu phụ, đậu nướng om nghệ và bánh cuốn.Bánh cuốn Thanh Trì lá bánh mỏng soi lên được, bóc từng cánh, ăn với giò lụa chấm nước mắm cà cuống. Làng ở các cửa cống và lạch nước rãnh, nước thải ở Đại Từ, ở quanh Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, cống Đõ làng Hồ cắm rau muống bè. Nhà sành ăn chỉ chọn rau muống sông Tô Lịch. Luộc mềm,xanh nước, ra ống, ra lá. Làng Thụy bán quà sáng, quà trưa, bún ốc, bún chả, xôi vò chè đường...Kẻ Nhót chuyên buôn thuốc lào bán lẻ các chợ, thành tên thuốc lào Nhót. Đàn ông làng Thanh Nhàn xách hòm đi cắt tóc rong các phố. Trại Thủ Lệ thầu giặt chăn đệm nhà Tây, trại lính, nhà thương. Người Cổ Nhuế Hoàng làm hàng thầu quần áo nhà binh.
Đời sống thành phố cò con, có Tây ăn trên ngồi trốc, ngoài ra, người ta bới bèo tìm bọ, sinh sống trên lưng nhau, nuôi lẫn nhau. Người đi ở, đi phu, đổi thùng, làm mướn, phụ bồi, phụ bếp, kéo xe, kéo quạt, cu-li san, làng nào cũng có. Đến đêm, bốn phía trong cánh đồng trông vào thấy trời thành phố hửng sáng, ban ngày lũ lượt người kéo ra. Người vô công rồi nghề, người thất nghiệp đâu cũng nhan nhản.
Chúng tôi thất thểu đi tìm việc qua đêm qua ngày.
Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả từ bên Tây đem sang.Cái nắp cống gang, ống nước bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc, mảnh sắt sơn xanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, tàu thủy tải sang. Cột đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy. Các hãng Tây buôn càng phát tài bán được nhiều thứ cho thuộc địa. Cả đến hòn gạch, hòn ngói đầu tiên cũng đóng ở Mạc-Xây. Ngói gạch thời ấy thấy đề "Làm tại Mạc -Xây". Mãi sau mới có nhà máy gạch Satic của chủ Tây đường Quán Thánh, rồi mới đến gạch Hưng Ký.Những ngôi nhà được làm từ giữa thế kỷ đổ về trước, xem hòn gạch, hòn ngói, cái ống cống nước có in hiệu, đều rõ tuổi công trình.
Cái nhà, bức tường, vòm cống, bờ hè viền xi măng hay viền đá xanh đều có thể đọc ra cuộc đời và nhìn thấy tang thương Hà Nội. Những bờ hè đầu tiên bọc vỉa đá xanh, thợ đẽo đá khiêng quảy ở núi Trầm, núi Thày về. Còn thấy vỉa đá và đá lát ở đôi chỗ quãng giữa các phố Tràng Tiền, hàng Khay, Ngô Quyền- trung tâm thành phố, nơi người Pháp ở.
Muốn biết tuổi thọ ngôi nhà, cứ trông dáng kiến trúc, hòn ngói, cái cửa sổ, hàng hiên với lan can và ở phố Bà Triệu, Hàng Khay, đôi khi ngước lên còn nhìn thấy trên đầu tường hàng số ghi năm sinh dinh cơ ấy : 1896, 1902, 1930...
Đừng ai nhầm những ngôi nhà mái cong tường giầy, có dáng cổ kính ở đường Nguyễn Du, ở đầu trại hàng Hoa, nhà "cô Bảo Đại" là những tòa ngang dãy dọc xưa cũ nhất thành phố. Các nhà ấy còn quá non tuổi đằng khác. Ấy là khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, hải quân Đức phong tỏa đường biển, phát xít Nhật đã đổ bộ lên Đông Dương, sắt thép bên tây không chở sang được, các nhà thầu nảy ra sáng kiến làm nhà kiểu cổ. Không mấy xi măng, cốt sắt, vôi cát, các mái ngói và bờ tường dàt bục bịch. Lại hợp với phong trào "phục cổ" bấy giờ.
Cách đây ít năm, lúc chập tối, một tầng trong ngõ Trần Nhân Tông cạnh hồ Thiền Cuông bỗng sập xuống nguyên cả trần nhà. Như cái bẫy chuột! Chết vùi mấy người. Ngôi nhà ấy đã xây vào thời "phục cổ" này. Trần nhà, đáng lẽ cốt thép, người ta đã làm bằng xi măng cốt tre.
Chúng tôi lặn lội đi tìm việc kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn nháo. Có lúc bâng khuâng. Có lúc chạy thục mạng. Có lúc đứng lại cả buổi vẩn vơ ngắm tủ kính hàng vải vóc hiệu Tây Quăng cuối hàng Đường và cửa hàng tạp hóa Tây lùn mở số quay có thưởng ở chợ Hàng Da. Có khi lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc các nhà phố hàng Đào, hàng Ngang đánh chuông chen nối nhau đầu phố cuối phố. Hàng đàn chuột chạy hai bên cống. Một lúc, thấy hiện ra những bóng người đứng đập cửa chan chát rồi tiếng gọi :"Đổ thùng, đổ thùng". Thật rõ, đấy là tiếng gọi cửa "đổi thùng, đổi thùng", phu đổi thùng xia của nhà thầu Năm Diệm đã đi làm. Vừa đúng nửa đêm.
Đến lúc trời sắp sáng, rồi trời sáng.
Quanh bờ hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ, những đàn sếu, đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm, cứt lướt thướt trắng xóa xuống. Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò, nhô lên cái mặt đen xì của người lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng trắng. Đã đến giờ đổi tan canh. Năm trước, còn trông thấy cả đôi giầy người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt đường chăng dây điện cắm mảnh chai lởm chởm. Bây giờ không thấy nữa. Bức tường quanh nhà tù Hỏa Lò mới được xây cao thêm, có đến một thước, giờ vẫn còn hằn cái ngấn xi măng.
Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phố phường thật xa lạ.
Đăng nhập để trả lời
0
6-NHỮNG NGÀY ÁP TẾT
Mỗi tháng có sáu phiên chợ Bưởi, ngày bốn và ngày chín.
Tôi vẫn nhớ đến như thế kể từ khi biết đi chợ. Lại rõ thêm chợ Bưởi có ba phiên chợ tết vào cuối tháng chạp: mười chín, hăm bốn, hăm chín. Năm nào hăm chín bắt làm ba mươi, chợ cuối năm càng đông và tất bật. Phiên chợ tết cũng gọi là phiên chợ trâu bò. Bởi vì, cả năm, chỉ đến chợ tết, các làng làm ruộng quanh vùng mới đem bò ra chợ bán.
Rồi lại nghe người ta nói mà biết nhận xét: chợ mười chín là chợ của người có tiền. Ai sẵn tiền thì sắm tết sớm. Phiên hăm bốn, chợ của mọi người ta bình thường. Chợ hai mươi chín là chợ nghèo. Nhà nghèo chạy cái tết bở hai tai, cho đến hôm tất niên mới mò được ra chợ mua miếng thịt lợn, nén hương, gọi là có tết nhất.
Vẫn nhớ những phiên chợ Bưởi như vậy. Và nhớ thế nào tôi cũng có bánh pháo tép dài bằng gang tay. Chốc chốc lại ra thúng hàng cụ Lựu mua miếng khế khô tẩm mật gừng về ngậm. Thế nào u tôi cũng sắm cho tôi đôi guốc mộc mới. Và, cái đầu tôi được cạo trọc lốc, trắng hếu, đầu mới cho ăn tết.
Trẻ con cứ hí hửng cái tết bé bỏng như thế. Nhưng lại cũng lây người lớn, biết lo buồn cái tết thật sự. Bởi vì, những ngày áp tết, nhà tôi thường có người đến đòi nợ. Cũng không có gì đáng ghê sợ lắm. Nhà tôi không đến nỗi có các tay nặc nô khách nợ cửa phủ chuyên nghề đòi nợ thuê. Không có tiền trả, khách nợ bắt đồ đạc, khuân bát hương đi.
Thật tình, tôi cũng chỉ mới nghe nói về các chuyện lôi thôi ấy. Mà chưa tận mắt trông thấy nặc nô đi đòi nợ hay khách nợ ăn vạ ở nhà con nợ.
Người đòi nợ nhà tôi khác. Đấy là ông phán hàng Mã.Ở phố, người ta cứ thấy ông ấy ngày ngày xách ô đi làm đều đặn, thế là gọi tôn lên là ông phán. Chẳng biết có thật ông ấy làm ông tham ông phán không. Tôi cũng đã kể về việc ấy một lần rồi. Và ai cũng biết ông phán từ khi lấy vợ cô đầu, nhà càng ngày càng lục đục khó khăn.
Bà tôi vay tiền ông phán hàng Mã bao nhiêu,tôi không biết.Cứ nghe lỏm những câu ông phán đòi nợ, kể lể và bà tôi khất nợ, tôi mang máng đoán biết là mẹ chú Phúc đứng ra "bàu chủ" cho bà tôi vay tiền.Rồi bà tôi lần khân không trả được, hoặc chỉ trả lãi, đôi khi. Ông phán đi đòi nợ mãi, năm này sang năm khác. Hình như vì lôi thôi thế mà rồi nhà tôi nhạt hẳn, không đi lại với nhà chú Phúc dưới hàng Mã nữa.
Áp tết, năm nào ông phán cũng lên. Cái khăn nhiễu tây, cái ô đen và tấm áo đoạn, khi đi giày tây, khi giày ta, chững chạc. Có điều bao giờ tôi cũng chỉ thấy ông phán mặc độc bộ quần áo mồi ấy, mấy năm đã qua, khăn đã sờn bạc, hai vai và lưng áo mồ hôi muối ăn ra, ngả mầu nước dưa. Và khuôn mặt ông nhợt nhạt chảy phệu xệ xuống đến nỗi mỗi lần gặp lại ông tôi cứ ngờ ngợ đấy có phải ông phán hàng Mã không.
Chỉ có một thói quen của ông phán thì vẫn thế. Mỗi khi ông ho, ông lấy khăn mùi xoa ra, khạc rớt rãi vào đấy, gấp lại, rồi bỏ túi. Về sau, không thấy ông rút ra cái mùi xoa, mà ông lấy mảnh nhật trình, ông ho rồi nhổ đờm vào giấy, rồi gấp lại, bỏ vào túi áo.
Có năm, ông phán lên sớm lắm. Dễ ông đi chuyến tàu điện từ tinh mơ. Chắc ông nghĩ lên sớm thì bà tôi thế nào cũng có nhà.
Tôi biết đấy là ông phán lên đòi nợ. Biết thế, tôi cứ vừa buồn, vừa xấu hổ, vừa sợ. Tôi tránh đi, tôi lang thang lên chợ. Phiên chợ tết đông hơn ngày chợ mọi khi. Đi xem khắp hàng tranh, hàng bưởi bòng, chỗ bán bò, đến trưa mới mò về. Thế mà vẫn thấy ông phán ngồi ở ghế tràng kỷ.
Tôi chẳng nghe tiếng ông phán nói gì. Có lẽ cả buổi, ông đã nói to, ông đã quát tháo, bây giờ ông ngồi im. Nhưng không phải cái tính ông phán hống hách thế. Đôi khi, không vào dịp tết, ông phán chợt lên nhà tôi đòi nợ.Cũng chỉ nghe tiếng ông thủ thỉ, nhỏ nhẹ. Có hôm, tôi trông thấy ông khóc, nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt ủ ê.
Tôi không sợ ông phán nữa. Mà tôi thương ông phán. Còn bà tôi thì cứ ngồi trơ ra. Ông phán hỏi câu nào nói câu ấy. Bà tôi vốn lắm điều, hay nói, bà tôi nói xa xả cả ngày được. Bà tôi xưa nay có tiếng là người đáo để. Im lặng như thế là bà tôi thi gan với người ta. Xem cái người đi đòi nợ ngồi dai được đến bao giờ nào. Không có tiền, chẳng có đồng nào, trong nhà không có gì đáng nửa xu, làm gì nhau nào. Là tôi cứ tưởng tượng ra vậy, chứ bà tôi cũng chẳng nói thế. Bà tôi chỉ ngồi chịu chuyện nhát gừng. Tôi đâm ra ghét bà tôi.
Một lúc sau, ông phán đứng dậy, ông phán nói:
-Cụ hẹn...cụ hẹn cho tôi một câu chắc chắn, sang giêng tôi lại lên vậy.
Bà tôi nói như phân trần:
-Ông trông nhà cửa thì ông biết. Đến hôm nay mà đã hết cửi từ bao giờ rồi. Tiền cọc thợ cửi, tiền hồ chẳng có, không biết sang năm xoay xỏa vào đâu.
Ông phán cũng chẳng nói thêm. Ông phán bước ra.
-Sang giêng...sang giêng...
Hìng như ông lại đương nói dở câu khác.
Bà tôi lúc bấy giờ mới lấy trong thắt lưng ra mấy đồng dúi vào tay ông.
-Tôi gửi ông xuất tàu, ông cầm tạm vậy.
Năm sau, ông phán lại lên nhà tôi vào ngày áp tết.Đến xẩm tối, còn thấy ông phán ở ghế tràng kỷ. Bà tôi vẫn ngồi chịu chuyện. Chủ nợ và con nợ ngồi im chẳng thấy ai nói ra sao với nhau cả. Mà có gì để nói: đi đòi nợ, người ta không có, chẳng có của nả đáng bắt nợ, mà ông phán cũng không phải người có áp lực đi bắt nợ. Còn gì để nói đâu.
Bà tôi vẫn ngồi đấy. Cũng không ra vẻ người trây, người muốn vỗ nợ. Bà tôi chỉ ngồi im, buồn thiu.
Ông phán đứng dậy, bước lừ đừ. Bà tôi đi theo tiễn ông ra tận gốc đa đầu làng.
Ông phán bảo bà tôi:
-Cụ cho tôi một xuất tàu điện.
Rồi ông ho sù sụ. Tay ông lập cập, ông kín đáo nhổ đờm vào mảnh giấy báo, rồi gập lại, bỏ vào túi.
Giữa cảnh chợ chiều cuối năm, tao tác, vội vã, như cướp giật. Trước cửa đồn Bưởi, từng bọn các ông chức dịch làng Yên Thái xách gà rượu, khăn áo xúng xính. Người làm việc các làng lên lễ tết quan đồn, khi vào cổng, đưa đồng hào phong bao giấy đỏ cho chú lính khố xanh gác. Mỗi năm, các làng phải đi tết qua đồn cả tết ta tết tây. Đưa đồ lễ, chiều ba mươi, mùng một chỉ việc nhẹ nhàng đến mừng tuổi "me xừ bà đầm".
Rồi những năm sau, chẳng thấy ông phán hàng Mã lên nhà tôi nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
7-ĐÊM GIAO THỪA
Con đường Thành, bây giờ là Hoàng Hoa Thám, từ chợ Bưởi ra tới đầu trại Hàng Hoa, chỉ khoảng hơn ba cây số. Người các vùng ngoại ô phía Bưởi, Noi, Cáo đi làm ăn trong thành phố thường qua lại đường ấy. Đường xa một chút,nhưng thảnh thơi có cây cối thoáng mát hơn đi đường dưới làng Thụy, dẫu cho đi đường dưới đôi chỗ người đi bộ có thể nhảy trộm ngồi đuôi tàu điện được một quãng.
Nhưng đấy là trò nghịch của đám trẻ con ngoại ô ra học các trường Yên Phụ, trường Yên Thành thích chạy thi, đuổi nhau, bám đuôi toa tàu. Chứ người lớn thì hơi sức đâu mà trèo leo. Suốt ngày làm quần quật. Culi, "bắt tê". Gánh cát dưới bãi, phu hồ. Thợ may, thợ mũ, thợ giày ngồi gù lưng, mài mắt xuống đầu gối. Người vào phố đi làm về lác đác, lử khử, rũ rượi, âm thầm như những con cú đi bay đêm, gà về chuồng.
Nhưng cứ vào chập tối thì chú Cát mới ra Kẻ Chợ, đi làm. Cái đèn xe bốn mặt kính vuông giắt trong vạt áo nâu sau lưng, dưới cạp quần lá tọa. Trông trước, trông sau, không thấy ai, chú đi nhanh xuống bờ sông. Đấy là chú Cát đi kéo xe. Cái việc ra Kẻ Chợ làm cu li kéo xe tay làng nước cho là xấu, nên người ta có ý giấu giếm. Chú Cát không đi đằng đầu chợ. Chú lội qua sông sang bãi trước cửa đình, tắt qua đồng Vân. Có hôm, ngược lên Cống Vị, sang quần ngựa. Len lén, cẩn thận, kín đáo, nhưng cả làng ai cũng chẳng lạ cứ xẩm tối, Chú Cát lại ra phố kéo xe. Đi kéo xe đêm khó nhọc gấp mấy ban ngày. Đôi khi mới được món khách bở ở cửa ga, ở bến ô tô. Nhưng mà kéo xe ban ngày thì ngượng, khổ thế.
Thế mà cái sự đi kéo xe ban đêm, ở xóm tôi không mấy nhà người có sức lực mà lại chẳng đi. Nhất là vào những năm hàng họ ế ẩm. Còn bất cứ năm nào, vào những đêm áp tết, đêm ba mươi, đều có nhiều người ra Kẻ Chợ kéo xe, kiếm cái tết. Đêm ấy, hăm chín bắt làm ba mươi. Mua lại cái xe kéo mấy giờ sắp giao thừa cũng bằng đi đánh bạc. Được thì ăn cả, ngã thì bỏ mẹ, nhưng biết làm sao. Lúc nào người ta chẳng phải đánh bạc với trời.
Ở đầu chợ Bưởi cũng có hàng dãy xe đợi khách ghếch càng lên gốc cây me tây, đầu tường đồn. Nhưng đấy là xe sắt, bánh gỗ, kéo đi kêu lạch xạch. Xe ngoại chỉ được phép kéo khách trên đường đá vào đến đầu ô.
Đêm áp tết, còn ma nào mò mẫm vào đầu ô,dãy xe sắt đỗ chỏng đuôi, bỏ không.
Đường Thành đêm vắng hẳn hơn mọi khi. Người thấp thoáng, chập choạng. Như con dơi ra bắt muỗi, rồi biến mất. Nửa mái lá phên cũng là cái nhà, cái chỗ chui ra chui vào. Phải vội về mà châm nén hương đêm ba mươi. Gốc cây và mặt đường thăm thẳm, như chỉ có một mình chú Cát đi ngược lại. Chú ra phố.
Chú Cát xuống đường Cổ Ngư giữa hồ Tây với hồ Trúc Bạch rồi rẽ trái, theo bờ tường dãy nhà in Ideo. Các phố đã lên cửa kín mít, ánh đèn le lói sau cánh cửa. Chú Cát bước xăm xăm.
Chú Cát đi đến dốc Hàng Than, nơi mua lại giờ xe, vẫn chỗ mọi khi, bãi cỏ góc tường xế ngoài cổng nhà máy điện Yên Phụ.
Trong bóng tối run rẩy, rét mướt đã lù lù mấy người bó gối ngồi. Một cái xe tay đến đỗ chổng vộc. Ánh lửa lom đom, mấy mảnh giấy, cành củi, đống bã mía đốt lên sưởi và để người ta lấy cái nòm hút thuốc lào vặt.
Chỗ này là nơi hẹn của những người mua đi bán lại giờ xe kéo.Ai không đủ tiền thuê nhà chủ một ngày xe thì đến đây đợi mua lại giờ của người khác. Lúc hết giờ, người thuê lại dắt xe về trả, phải rút túi đưa cai xe một hào, lão mới chịu nhận cho. Chẳng có lão dọa điệu ra bóp lu loa "thằng này ăn cướp xe vừa mới bị tóm".
Chú Cát đã thuê lại được một cái xe. Trụt chiếc quần nâu và cái khố tải đụp, khoác vai nhét thùng xe, chú thay bộ quần áo cu li xanh nhợt xong, chui vội vào càng xe, cung cúc kéo chạy ngay.
Năm hết tết đến, phải đuổi từng phút.
Những giờ cuối cùng trong một năm, phố xá vắng ngắt. Chuyến tàu điện chạy vét đã dồn toa về nhà chứa trên Thụy từ lúc chập tối. Bến Nứa, bến Hà. Đông xe hàng xe điện Bờ Hồ, chẳng còn một mống người. Đến ngày thường cũng không có ô tô hàng chạy đêm, nói gì đêm nay. Chỉ ra đến đầu ô hay bên kia cầu Đu Me, nhá nhem tối đã bị chẹt cổ rồi.
Còn chuyến tàu hỏa ở Phòng và chuyến dưới Nam lên. Nhưng chú Cát cũng không dám lảng vảng đến đón khách trước ga Hàng Cỏ, đất làm ăn của bọn xe kéo đã thuộc mặt. Xe nào lạ lớ quớ tới, du côn xông ra đánh gẫy tay xe, chạy hộc máu không kịp. Đi kéo xe ngoài phố phải thuộc các phép tắc nghề nghiệp như thế.
Nhưng cũng lại phải biết khôn lỏi thì mới kiếm được. Chú Cát không vào cửa ga, nhưng lượn lờ đón lõng ở các góc quanh ga.
Từ nãy, chú Cát đã chộp được hai đám khách, làm hai cuốc ngắn. Đêm ba mươi, khách cũng tất tả, lật đật, chẳng còn giá cả ra thế nào. Cu li tha hồ bóp. Chỉ khi thoáng thấy xe khác xộc đến, sợ mất khách, bấy giờ mới chịu hót người ta lên xe đi ngay.
Có thể đã đủ tiền mua lại giờ xe, tiền đút cai, còn dư được sáu hào rồi. Chú Cát thong thả bước một. Lúc chiều,ra đầu ngõ gặp lão Thiện mặt đỏ lựng, dù sao cũng là ra ngõ gặp trai, mới được may thế. Chú Cát dắt xe một tay, lững thững. Từ giờ đến giao thừa, một cuốc, hai cuốc tất niên, còn kiếm nữa, chưa biết chừng.
Chú Cát bước đều đều, cằm tựa càng xe, gà gà mắt.
Qua mấy cái nhà săm. Những nhà săm bảng và đèn vàng hoe bốn chữ "có phòng cho thuê" hay đặt tên đệm chữ "Lợi" đằng sau. Săm Đồng Lợi, cửa ga Hàng Cỏ,săm Đại Lợi, Tiến Lợi, Sinh Lợi, cạnh vườn Bách Thảo. Ở nơi kín đáo, ra vào khuất mắt. Nhưng khi nào ai giờ này còn đi chơi nhà thổ tất niên cho xúi quẩy, mà lại lượn các cửa nhà săm làm gì. Chú Cát chợt nghĩ ra.
Giữa phố hàng Đẫy im vắng. Tai mình lại nghe tiếng chân bước và tiếng bánh cao su rào rạo trên mặt nhựa sạn cát. Mỗi lần qua dưới một cột đèn, cái mũi xe và hai đầu càng lênh nghênh rụt bóng lại rồi lại dài bóng ra.
-Ê!
Chú Cát ngoảnh lại.
Một người đội hay lính chưa rõ, nhưng mũi lõ, ria rậm hẳn hoi, đứng trên bờ hè. Chắc thằng Tây này vừa chơi ở nhà săm đầu phố Sinh Từ ra.
Chú Cát hạ càng xe. Áo thằng Tây có cái lon mờ chắc là cai, là ách chi đó. Lão ách gieo lưng xuống đệm tựa đánh huỵch một cái. Chú Cát lom khom nhấc càng. Lão ách trỏ tay phía vườn hoa Canh Nông. Chắc lão muốn về trong thành. Thằng ách béo ụch ịch nặng đến quá tạ. Chú Cát kéo thong thả. Nhưng lão lại giục tiếng ta lơ lớ:"Mau lên...mau lên...cu li...". Chú Cát cất càng xe, bước nhanh nhanh.
Đã sang đến các phố Tây thanh vắng. Thấp thoáng cửa sổ trong tường hoa lung linh ánh đèn. Những phố sanh trọng, chẳng phải tết nhất, quanh năm vẫn đèn rực rỡ thế.
Sau lưng chú Cát, không rõ tiếng ngáy khò khò hay tiếng thở, lão ách say rượu hay lão ngủ. Trong vườn hoa Canh Nông, cái gò pho tượng "sĩ nông công thương" lù lù như đống rạ, trông rõ chiếc sừng trâu đen xì nghênh ra.
Bẫng tiếng giày sắng đá nện thình thịch xuống sàn xe. Chú Cát hãm tay xe. Lão Tây bước xuống, loạng choạng. Phải biết cách đối phó với bọn Tây say. Nhưng không ngửi thấy mùi rượu. Lão ách này không say, hay lão sâu rượu này say lịm trơ ra thế cũng nên.
Lão ách bỗng đặt bàn tay thô lố lên vai chú Cát. Lão cao lênh khênh, hơn hẳn chú Cát đến một đầu. Nhanh như cắt, chú Cát bị nắm vai đẩy vào gốc cây bóng tối trước mặt. Gót giày lão đạp tụt cái cạp quần chú xuống. Chú Cát đã hiểu thằng Tây rồ này định làm gì.
Hì hục xong rồi, lão ách vểnh râu ria ném cho chú Cát một đồng ván (hai hào). Rồi lại ra ngồi lên xe, như ban nãy.
Chú Cát buộc túm lại cái cạp quần lá tọa, lại bước vào càng, nhấc xe. Chú Cát chạy khập khiễng. Chú cũng chẳng kịp nghĩ chú đương bị đau chân hay đau rát cả đít.
Có thêm hai hào. Chỉ tởm một tý. Thế là được gần đồng bạc. Chú mừng khấp khởi. Cái tết giắc chắc cạp quần rồi.
Qua tháng giêng năm ấy, chú Cát ốm suốt tháng hai. Không ai biết chú bệnh gì. Người cứ trương lên, chỗ nào cũng đau, đít lở loét, tanh hôi, không ai dám đến gần. Chú thảm thiết kêu rống suốt đêm. Đến hôm chú hấp hối, chú nói, xóm giềng mới biết, đêm ba mươi, chú bị Tây đổ bệnh tim la đằng đít. Xưa nay vẫn nghe nói Tây hay đổ tim la cho trâu, bây giờ tận mắt thấy nó hại cả người ta.
Đăng nhập để trả lời
0
8-LÀM MA KHÔ
Tự dưng, một hôm nghe tiếng kèn đám ma tò tí te, tò tí te inh ỏi ở nhà bác đĩ Hiền.
Chẳng mấy lúc, bọn trẻ con trong xóm đã chạy cả đến. Rồi, cũng như ở các đám ma, đám cưới, đám việc hàng giáp trong xóm, trẻ con nhà xa nhà gần tới chầu chực lê la suốt ngày ở nhà có cỗ. Chặp tối, có thui bò. Thích nhất được xem thui bò, xem mổ lợn. Tranh nhau, huých nhau xin cái bong bóng lợn. Thui bò thì cướp cho được cái sừng. Đứa nào nhanh tay, có thể gỡ sừng, khi con bò vừa được thui chín. Thui bò buổi tối vui ghê. Lửa rơm rừng rực, từng nạm than đỏ hồng. Mùa rét đứng xem như sưởi ấm quanh đám lửa cháy to.
Cái gì mà nhà đĩ Hiền lại thui bò làm cỗ to thế? Phải nhà giàu, nhà có việc đám cưới, đám ma, đám khao vọng, mua trương, mua trùm thế nào người ta mới tậu bò về chè chén linh đình. Đám giỗ, cũng chỉ thịt gà, thịt sỏ hay mổ lợn đã là dinh được rồi. Nhà bác đĩ Hiền chẳng phải nhà giàu mà lại dám mổ bò.
Hỏi ra mới biết bác đĩ Hiền làm ma khô rửa mặt cho bố.
Ngày trước (từ bao giở bao giờ ấy) bố bác Hiền đi phu làm đường trên Thái Nguyên. Chẳng may, ốm ngã nước rồi chết. Cũng không biết được bố bác đã chết ngày tháng nào, người ta chôn rấp rúi ở đâu. Mấy lâu nay, nhà bác đĩ Hiền chỉ biết cúng giỗ vào cái ngày ông bố bước chân ra đi.
Chết đường là một nỗi đau, một điều khốn khổ, lại chết mất xác phải tiếng để đời với làng nước, với bao nhiêu âm thầm cực nhục không thể nào nói xiết.
Chỉ riêng việc xưa nay trong họ ngoài làng, nhà nào có cha già mẹ héo mình đã đi phúng viếng, hào bạc hay chai rượu, nén hương, bao nến. Không phải lệ làng, không có khoản khoán hương ước mà đâm trói buộc nặng nề, không có được. Nhà bác đĩ Hiền chạy ăn từng bữa chưa xong. Vẫn phải đi mừng rỡ, phúng viếng những nhà người. Ông bố chết đường, đã thảm hại, mà ở nhà lại mất hết, bởi vì xưa nay tốn kém đến nhiều rồi thế là từ rày không biết tính được đền bù vào đâu.
Chỉ có lo cái ma khô mới rửa được cái tiếng và mới có cớ trả nợ miệng đòi nợ miệng. Bác đĩ Hiền đã tính, đã lo như thế từ lâu rồi. Sắm sửa, vay mượn cầm bán, nhặt nhạnh, mượn mâm bát, dao thớt, nồi chảo nhà ai, đánh dấu vôi cẩn thận.
Đám ma khô cũng khác, nhà có việc hiếu mà sạch sẽ như không. Mùi hương đen hương vòng thơm tràn lan chẳng cảm thấy nặng nề như mùi hương ở nhà đám lù lù chiếc quan tài giữa nhà.
Có đến hai ba ngày linh đình. Gần khắp làng kéo đến ăn cỗ nhà bác đĩ Hiền.
Có người chỉ cầm đến thẻ hương. Rồi đứng ngoài đầu ngõ, đợi người trong nhà đi ra. Nhà có việc đã biết hiệu, một người xách chai rượu ra, thu thu trong vạt áo nhận tiền rồi đưa cho người đến phúng cầm chai rượu và thẻ hương vào.
Ai phúng, phúng bao nhiêu, bác đĩ Hiền đã nhờ người ghi sổ cả. Trên bàn thờ, đèn nến sáng trưng. Tấm màn xô và cái gậy tre vòng rơm đội đầu bên khăn xô của chú hai đi làm ăn xa, tận sở cao su đất đỏ trong Sài Gòn, không về được.
Tuy không có cái quan tài kê ngang gian giữa nhà, cũng ra vẻ đám ma. Bác đĩ Hiền đứng một bên cột, tay chống gậy, tay che lên miệng. Ai vào viếng bác cũng hì hục lễ đáp. Ai khóc, bác đĩ gái và mấy bà trong họ khóc theo, khóc đáp lễ.
Khắp nhà, ăn uống rào rào. Trời nắng hanh khô ráo. Khách đông, những mâm rượu phải bày ra cả ngoài sân, cạnh hàng dóng cỗ.
Chập tối, có họ bên bác gái ở làng dưới lên. Mỗi gian treo một chiếc đèn ba dây. Gian trong đã bày ra đĩa mỗi chiếu một đĩa tổ tôm.
Các ông phường kèn già nam ăn cỗ rã đám ra về lúc chập tối. Đêm qua, phường kèn ỷ eo làm "chim kêu gà gáy" đến khuya, khéo quá. Tiền công, phần biếu, miếng thịt, đấu xôi, chục cau của mỗi ông đánh trống, ông kéo nhị, ông thổi kèn, đâu đấy đều có gói bọc đủ cả.
Đêm thứ hai chỉ còn những chiếu tổ tôm khắp ba gian và ngoài hiên rộng, một đám xóc đĩa. Người nhà lại sắp xếp cỗ vét, dưới bếp đã bắc nồi ba mươi cháo ăn khuya. Ai cũng nói mệt quá, buồn ngủ quá, gào khóc cả mấy hôm rồi khản cả cổ, nhưng chẳng chịu ngồi một chỗ, người nào cũng lăng xăng ra vào, và lúc nào cũng thấy mặt rượu ngà ngà.
Thế là bác đĩ Hiền được rửa mặt. Dưới suối Vàng hay ở Âm Phủ, ông bố chết đường cũng được ngậm cười. Vợ chồng bác đĩ Hiền đánh thư vào Đất Đỏ cho chú Hai biết ở nhà anh chị đã lo được "cái ma khô cho thầy".
Mấy năm sau, thế nào mà vợ chồng bác đĩ Hiền cũng đi phu, cái công việc mà làng xóm sợ nhất, chỉ khốn cùng lắm mới tính đến nước cuối ấy, đi phu cao su. Nhưng không vào cao su Đất Đỏ, mà đi phu mộ sang tận Tân Thế Giới. Cái nhà, bác đã cầm đoạn mại, rồi bán đứt.
Không biết có phải vì làm ma khô cho ông bố chẳng thu lại được vốn, như vợ chồng bác Hiền đã chắc lẩm.
Đăng nhập để trả lời
0
9-XEM PHIM
Sau năm 1954có một dạo anh Nguyễn Công Hoan về ở làng Võng. Anh thành người vùng tôi. Tôi mừng như thấy anh trở về quê - anh chẳng biết vùng tôi bao giờ. Chỉ vì tình cờ, anh mua lại được cái nhà có vườn rộng trong Võng, giáp bên Hồ Tây.
Chúng tôi thường cùng nhau đi la cà các nơi. Anh thuộc nhiều xó xỉnh, chẳng kém tôi. Tôi lấy làm lạ. Bấy giờ anh mới lộ bí mật là ngày trước anh đã thường về chơi đây. Tôi càng lấy làm lạ, tôi hỏi : Anh về nhà ai ? Anh bảo : tôi về nhà cô Lý Liên. Ồ, cô Lý Liên là dì Phương tôi đấy mà. Ông Thông Tước hồi ấy ở Sài Gòn ra và làm cái nhà lá bên kia ao đình. Tôi chịu nhà văn viết cốt truyện lắm cái bất ngờ lại còn ly kỳ cả trong những chuyện giăng tơ. Khi anh lên nhà cô Lý Liên chơi, có lẽ tôi còn ở tuổi chơi bi, đánh đáo đầu đình. Thảo nào, như anh đã quen thuộc vùng này.
Nhưng đến cái việc phim Kim Vân Kiều làm ngoại cảnh chỗ nào ở vùng Bưởi thì anh cũng biết, nhưng không thể biết như tôi. Một hôm, chúng tôi đợi tàu điện ở cửa đình Thọ. Tôi kể với anh lần đầu tiên được xem xi-la-ma phim Kim Vân Kiều, phim câm, ở sân đình Thọ. Anh Nguyễn Công Hoan nói những người đóng phim ấy đều là kép tuồng rạp Quảng Lạc, anh quen cả. Cái vai Thúy Kiều trong phim mặt tròn vành vạnh, làm cho từ bấy đến nay, tôi cứ nghĩ đến cô Kiều "khuôn trăng đầy đặn" thì lại hình dung ra cô Kiều mặt tròn. Ngày ấy còn phim câm và chưa gọi là phim, mà là xem xi-la-ma, xem chớp bóng, chớp ảnh và trên báo viết nghệ thuật điện ảnh, là nghệ thuật màn ảnh, màn bạc, kịch bóng.
Buổi tối, ở sân đình làng Thọ, đi xem phim Kim Vân Kiều không mất tiền. Người đông như nêm. Tôi phải trèo lên đứng trên cái vè rễ cây đại thụ mới nghển cổ nhìn được.
Thấy cứ chốc chốc, xung quanh hét ầm ầm.
-Kia kìa, trong ảnh có tha ma làng Cả
-Ô này, cổng Xanh làng Thọ.
-Chùa Láng nữa kia, chùa Láng...
Người cứ reo lên, tôi bắt đầu nhận ra.
Cái đoạn chị em Thúy Vân, Thúy Kiều đi tảo mộ đến khóc mộ Đạm Tiên rồi gặp Kim Trọng. Vùng trời nước hoang sơ "sè sè nắm đất bên đường" là bãi tha ma các làng Yên Thái, làng Thọ, làng Đông, quang miếu Đồng Cổ bên các vạc nấu dó bờ sông Tô Lịch, của người dưới Đại Từ. Chị em cô Kiều thướt tha bên những ngôi mả mới, đất đắp còn vuông góc, lở tở và hnhững cây dứa tây lá to như lá náng. Chỗ này, khi mùa đông tới, chúng tôi hay đi moi bắt châu chấu tránh rét trong các khe lá. Xa xa, lại mồ mả gồ ghề, nhấp nhô dưới những cây dứa dại...
Cái cổng Xanh làng Thọ ở ngay sau lưng chỗ sân đình đương xem chớp bóng. Cổng tường xây gạch vồ, ba bậc đá xanh bước lên. Có lẽ vì những tảng đá xanh ấy mà thành tên cổng. Bước lên khỏi bậc đá, đã vào đường xóm. Trong phim Kim Vân Kiều, đấy là cửa vào lầu xanh nhà mụ Tú Bà. Tú Bà đứng trên thềm giơ tay xuống dắt Thúy Kiều. Nhưng qua bậc đá cổng Xanh, vào đến trong lầu, đã sang quang cảnh trong nhà Tú Bà. Đèn lồng, trước hương án thờ thần Bạch Mi - thần lông mày trắng chúa nhà thổ, như con hổ trắng ngồi trong bức tranh thờ.
Cảnh doanh trại Từ Hải ở chùa Láng thì tôi nhận ra ngay.Mùng sáu tết năm nào hội chùa, chúng tôi cũng đi nhởn nhơ chơi chùa Láng. Sân chùa, tường hoa thấp bao quanh. Cây muỗm, cây thông cổ thụ dọc đường từ tam quan vào sân chùa. Dinh từ Hải là đấy. Ông Từ Hải giống các ông tướng rạp Quảng Lạc. Ông Từ Hải bước ra, áo giáp, mũ trụ, lưng cắm cờ, chân đi hia, oai vệ ngồi giữa sân, đương nâng chén ăn tiệc, có nàng Kiều chuốc rượu.
Tôi lại được xem phim câm Sự tích bà Đế ở sân đình Thọ và cũng xem thí không mất tiền.
Rồi mấy năm sau chẳng được xem phim, vì không thấy người ta về chiếu nữa. Rạp ngoài phố thì xa, cả năm cũng chẳng ai đi xem. Vả lại, ngồi trong rạp thì mất tiền vé, không phải là xem thí. Người ta chẳng thiết. Lâu lắm, có người mách tối thứ bảy ở bãi Quần Ngựa có phim. Hôm sau chủ nhật thi ngựa, đêm thứ bảy, trong nhà Quần Ngựa có tiệc nhảy đầm và chớp bóng. Màn ảnh là cái phông vải trắng cắm đầu bãi cỏ. Ngoài cổng vào Quần Ngựa đỗ ràn rạt xe ô tô có đội xếp canh gác.
Người các làng xung quanh mót xem chớp bóng quá, kéo đến đông nghịt. Nhưng đội xếp không cho vào, cứ đứng bu cả lại ngoài bờ rào. Sân cỏ Quần Ngựa cách đường cái một hàng rào dây bìm leo cọc sắt và một dãy găng tây. Thế là người ta chui vào giữa bờ rào, ngồi lố nhố dưới gốc găng. Tối om, đội xếp không thể trông thấy. Cái phòng chiếu phim quay ra phía đám tiệc đèn như sao sa trong kia. Ngồi đằng sau thế này nhìn vào lưng tấm vải, vẫn xem được. Chỉ phải cái mọi thứ đều ngược, còn thì tất cả cứ rõ mồn một.
Mà gió mát mẻ hây hẩy ngoài bãi rộng thổi vào, có lẽ chẳng khác quạt điện.
Đăng nhập để trả lời
0
10-CHẾT ĐÓI
Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy. Hình như bỗng một hôm ai vét đi hết sạch gạo. Người ta chạy quanh, nháo nhác rồi chết đói cả một vùng.
Những làng giấy, làng Lĩnh lụa, cả đời nước sông gạo chợ, hàng họ làm sao bán lại với hạt gạo. rồi đến cả gạo giá cắt cổ cũng không thấy mặt hạt gạo đâu nữa, không còn là thóc cao gạo kém, mà là không có gạo, chợ không có gạo hết gạo.
Chỉ tháng trước tháng sau, những lớp học truyền bá chữ quốc ngữ đã vãn hẳn. Học trò "truyền bá" toàn thợ seo, thợ cửi đói gầy rạc rồi bỏ đi đâu hay chết đâu. Lại thêm người đói các nơi ùn tới. Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con. Ở làng tôi, người còn quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng. Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán gà lợn. Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì. Dắt đi lắm khi lại dắt về, khốn khổ.
Đêm đêm, các làng quanh chợ, các anh Liêm, anh Đại ở Yên Thái, bác Bảy Nền làng Tân, nhiều người phải đi rà rà ngăn không cho người chết đói vào địa phận làng mình. Thấy người chết, khiêng quẳng đi nơi khác.
Nói bao nhiêu về cảnh đói 1944 - 1945 cũng vẫn chưa thấm. Chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được. Khủng khiếp quá.
Tôi chỉ ghi lại, về những anh em bà con quanh tôi chết đói năm ấy. Như thắp nén hương.
Thằng Tây vẽ vời ra những cảnh đau lòng thật oái oăm. Bên này đường Thành, vòng hồ Tây, các làng thuộc phủ Hoài Đức ngày trước - bây giờ là huyện Từ Liêm, rộng ra cả tỉnh Hà Đông, và khắp các vùng đồng bằng, người chết đói như rạ. Nhưng mấy làng ven nội bấy giờ thuộc đại lý Hoàng Long (hiện nay phần nhiều ở quận Đống Đa) và trong thành phố chỉ bị khủng khiếp xanh mặt vì nạn đói, nhưng chưa đến nỗi chết. Người Pháp che mắt, giữ tươi tỉnh bộ mặt phố xá, nên trong Hà Nội được đong gạo bông (1). "Tuy được đong gạo có ngữ, cũng chẳng biết cái đói còn triền miên đến bao giờ,cũng không ai dám ăn no. Bữa cơm, bữa cháo, rồi chỉ ăn cháo. Càng phấp phỏng, càng hoảng hốt khi trông thấy lũ lượt người đói các nơi kéo vào. Đội xếp chỉ còn mỗi việc đánh đuổi người đói ra khỏi thành phố. Sau đảo chính mùng chín tháng ba, lính Nhật đi đẩy người đói cũng không xuể. Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè. Suốt ngày suốt đêm xe kéo xác chết lầm lũi qua".
Vùng tôi bị xẻ làm đôi, bên này đường Thành, ba làng Yên Thái với những làng Hồ, làng Thụy được đong gạo bông cầm hơi. Còn từ làng tôi vào Noi, Cáo, Canh, Thìn... Chỉ còn biết bới đất, lật cỏ.
Nhà bác Khán càng khó khăn. Thằng Tiếp đã ốm chết từ năm trước. Vợ kế bác Khán đem hai đứa con lên làng Cả đi seo kiếm bữa. Bác Cả cũng lên đấy, cứ trần lực đủ mọi việc. Đạp bìa, đạp lề, vớt gió, dậm bìa, quảy nước, kéo tàu... Nhưng thời buổi khó khăn cũng chỉ có việc buổi đực, buổi cái. Người cứ phờ phạc, vêu vao.
Cái Lợi đã lấy chồng. Gặp cơn tao đói, vợ chồng còn son rỗi mà không ai cưu mang nổi ai, đành mỗi người kiếm ăn mỗi nơi. Lợi lại trở về nhà bác Khán. Lúc mới về còn có khi lên đứng đón seo đầu làng Đông, làng Thọ. Nhưng rồi đợi cả buổi cũng không ma nào đến giam cho đồng xu hẹn vào tàu hôm ấy. Không có cái ăn, người nhợt nhạt, bủng beo ra. Đôi khi, bác Khán tạt về nhà. Bố con trông thấy nhau,rơi nước mắt.
Rồi Lợi đi chết ở đâu, không biết. Những người đói đến lúc cảm thấy mình sắp chết thường lủi đi, rồi nằm xuống chốn bơ vơ, chẳng muốn ai nhìn thấy.
Anh hai Bủng thợ mũ hoạt động hồi bình dân cũng bị đói rồi đi chết đường. Anh Bủng, con ông hương Đôi ở xóm Trẽ. Anh làm thợ mũ ngoài phố, sớm đi tối về. Vợ anh ngày ngày quảy gánh trầu vỏ lên chợ. Cứ trông gia cảnh nhà anh, khi tết đến, mà trên người anh và thằng con chỉ được cái mũ lợp mới, đủ biết nhà anh thế nào. Trong khi, ở bờ rào dâm bụt trước cửa, bảy ngày tết ồn ào đám quay thò lò ông Thiện. Lúc nào thua đậm, hai vành tai ông Thiện đỏ ửng như cái mặt tráp úp con thò lò. Nhà ngay đấy mà ông cháu ông hương Đôi không có tiền chẳng biết mặt lục, mặt tam con thò lò bao giờ.
Anh Bủng tham gia phong trào ái hữu ngoài phố. Anh về giác ngộ được nhiều anh em trong xóm. Năm trước, anh Tĩnh còn sống, chúng tôi đã định viết lại chuyện phong trào cách mạng vùng tôi, một làng nghề thủ công ngoại thành, đã hoạt động mạnh thời kỳ thành phố Tổng Khởi Nghĩa. Anh Tĩnh đã ghi lại về anh Bủng, làm tài liệu cho tôi:
"Ở trong xóm, nhà tôi gần nhà chú ba Nhậm, cách một cái ao và một nhà nữa thì đến nhà chú Bủng. Chú Bủng là chú họ tôi. Chú có người chị gái lấy chồng ở Hà Nội có cửa hiệu làm mũ. Chú Bủng được ra nhà chị gái học nghề làm mũ. Mấy năm sau, chú lấy vợ và thường về làng. Chủ nhật nào chú cũng về nhà chú ba Nhậm đánh cờ và nói chuyện Hà Nội. nói chuyện thợ thuyền, nói chuyện ái hữu, nói chuyện nghiệp đoàn đấu tranh đòi quyền lợi. Tôi đọc sách báo chú đưa và chú bảo tôi tuyên truyền nhiều người khác nữa. Thế là tôi tuyên truyền Thường đen, Cận, Năm Nghi, Tình, Tuất, Trương Sồ... Chú Bủng lại bảo tôi : thằng Điều, thằng Sen cũng hoạt động lắm, liên lạc với chúng nó nữa. Từ đấy, phong trào phát triển mạnh".
Ngoài thành phố hết việc. Anh Bủng đi làm ngoài ấy, nhưng anh vẫn lấy thẻ thân ở làng, cho nên chẳng may không được đong gạo bông.
Mới hôm nào, anh Bủng khỏe mạnh hẳn hoi mà bây giờ xanh rớt. Người vốn gầy, cao lêu đêu, cứ rạc đi như cái que. Vào nhà tôi, hai bàn chân anh to nề ra, không bước lên nổi hòn đá bậc cửa. Anh em đã cố góp nhau giúp anh, có lần tiền, có lần gạo nhưng cũng chỉ được đôi ba lần. Đói cả năm, cả tháng, làm sao cứu được nhau.
Rồi cả nhà anh Bủng bỏ đi lang thang. Tôi vẫn nhớ cái cổ cò lộ hầu, đôi mắt tinh nhanh khi anh nói và hai con mắt anh lờ đờ những ngày đói. Giữa năm phong trào cứu quốc sôi sục, quyết liệt trong nạn đói, rồi cách mạng thành công, cũng không ai gặp anh đâu. Chắc anh Bủng đã chết rồi.
Thằng Hiền bằng tuổi tôi. Nó là con đầu, nhưng là con nuôi. Một nhà trên làng Cả, đông con, đi xem bói. Thầy bói nói phải cho đận con ấy đi làm đầu con nuôi người ta, nó mới sống được. Hiền được cho làm con nuôi nhà bác kép Niêm hiếm hoi. Nhà bác kép Niêm mới có một gái đầu lòng. Chưa có con trai, Hiền vẫn là anh "chống gậy". Nhưng rồi hai bác ấy sinh được con trai, cu Hiếu. Nhà bác kép Niêm vốn có nết nhà quý hiếm vẫn coi Hiền như con trưởng. Hiền đã biết nghề giấy, đi làm có tiền. Một năm, bố mẹ nuôi lấy vợ cho Hiền.
Xảy nạn đói đến. Ác liệt quá, Hiền phải lê la kiếm miếng trên chợ, trông đã tã lắm, ngụp đến nơi rồi. Hiền ngồi một chỗ, đầu rũ xuống, thở khừ khừ như con mèo ốm. Khó lòng nhận ra đấy là thằng Hiền mọi khi quảy nước chạy huỳnh huỵch. Có người kể : từ hôm Hiền vào chỗ chợ hàng chuối cửa đình cướp nải chuối, người ta phang đòn ống gãy chân, Hiền không dậy được, mới nên nỗi thế.
Vinh là con dì Tài tôi. Năm ấy, khoảng mười ba, mười bốn tuổi. Hai mẹ con ở nhà ông bà ngoại, nhưng ăn riêng. Có gì mà ăn lúc này. Chân tay nó khẳng khiu, xám ngắt. Tôi có thể đoán cái đói bằng nhìn con mắt Vinh. Mắt Vinh cứ xanh dần lên. Có hôm mắt nó xanh lét như mắt mèo. Đói xanh mắt - có thế thật, các cụ ngày trước đã ví chẳng sai.
Nhưng may sao, Vinh vẫn thoi thóp. (Rồi khi cách mạng thành công, tôi đem Vinh ra xin làm thợ chữ nhà in báo cứu quốc).
Mọi người trong nhà tôi cũng đã đói rã ra. Cả mấy năm ấy, Nam Cao ở với tôi. Viết truyện kiếm thêm, năm thoảng ba thì mới được cầm đồng tiền. Nam Cao dạy mấy đứa cháu anh Khôi ở làng trên. Anh Khôi đã ý tứ trả công thầy giáo bằng gạo. Phỏng thử chẳng có những xó gạo ấy, không biết mắt chúng tôi có xanh lè giống thằng Vinh hay giống dì Tư không, hay còn thế nào nữa.
Dì Tư tôi đã luống tuổi. Dì thật hiền. Dì hay cười. Người thạo xem tướng ắt bảo ai lúc nào cũng tươi tỉnh thế, được nhàn và sung sướng. Chẳng thấy dì tôi được nhàn, được sướng ở đâu. Cả dạo đói, dì Tư ăn khô dầu. Khô dầu nuốt vào trương bụng lên, đến vài hôm, bụng vẫn ành ạch. Phân bón khô dầu xưa nay vẫn bán ở các hàng dầu hỏa, hàng thuốc lào. Khô dầu, từng bánh xám xịt, rắn như đá. Khô dầu để bón ruộng, nhưng thấy nói là bánh, bây giờ nhiều người ăn.
Nhưng dì Tư cũng sống được tới ngày khởi nghĩa, lại trông thấy mặt hạt gạo. Rồi dì Tư tản cư lên huyện Cẩm Khê trên Phú Thọ, khi Tây trở lại chiếm Hà Nội. Cả chú dì tôi đều bị sốt rét, mất ở đấy. Tôi vẫn nghĩ cái đói và những bánh khô dầu bón ruộng còn để lại trong người dì Tư đủ thứ bệnh ác, rồi không chống lại được sốt rét mà mất thôi.
Bây giờ, mỗi khi qua chợ Bưởi, cả những ngày phiên đương đông, bổng chớp chớp mắt tôi lại như thấy trong các cầu chợ xuống tận hai bên bờ sông Tô Lịch, lò dò đi ra những bộ xương người lảo đảo, kheo khư, nhấp nhô.
(Nhật ký tháng ba 1945)
Nhiều người con gái năm ngoái trông còn được mắt, từ tết đến giờ, ăn cháo mãi, mặt trắng bệch. Trước cửa đình, nhan nhản hàng quà, nhưng không có thứ gì bằng bột hay bằng gạo cả, đầy chậu toàn củ chuối thái mỏng, trộn vừng, trên rắc rau húng. Một hào một đĩa. Con gái ông khán Là quần áo rách tổ điả mắt lồi, lượn quanh, vớ được cái vỏ đậu nành, nhá sồn sột. Người ta chép miệng : cô này chỉ nửa tháng nữa thì chết.
Mấy ngày sau đảo chính Nhật, gạo xuống hơn 400, giờ lại lên 650.
Nhà bác Quỹ có 7 người, trước thổi hai ca, rồi ca rưỡi, rồi một ca. Nhà này cố níu cái vỏ phong lưu, cố không bán đồ nhưng cũng vác ngầm đi cái lọ lục bình rồi. Chính bác Quỹ năm ngoái còn cho tiền mấy người thiếu đói họ gần, bảo đừng ra cửa đình lấy cháo cứu tế "rồi về sau, yên hàn rồi, ra chốn đình trung thì ăn nói thế nào với làng nước, bảo là dạo ấy đi ăn mày về à?".
Bác khán Lợi dỡ nhà bán dần, đêm ra nằm hiên trường học.
Đêm qua, thằng Quyền đánh người đói tên chợ Bưởi. Mỗi tối, Quyền phải đi tua nhiều vòng quanh chợ để xem có ai lẩn vào ngồi chết trong chợ không. Nếu gặp người chết rồi, Quyền lẳng lặng khiêng vứt lên đầu đường Thành sang địa phận làng khác để khỏi phải thuê chôn. Phó lý làng Yên Thái buôn cót sẵn để bó người chết. Mua ba đồng một chiếc, bán năm đồng. Chẳng phải chỉ có chợ, mà đêm đêm làng nào cũng đi xua người đói không cho đến, sợ phải chôn.
Cũng lại sinh ra một nghề mới : một buổi sáng, chánh hội Nền thấy có mấy người làng, những người đói dở, đến báo rằng ở đường Thành địa phận làng ta có người chết, xin ông cho tiền chôn. Thật ra đấy là người chết đói ở nơi khác, những người này đã khiêng về đấy rồi đi báo làng để lấy tiền đi chôn - có khi lấy tiền rồi không chôn mà vứt sang làng khác.
Ngoài cửa chợ, một thằng bé gầy, đen nhẻm, đầu gối to hơn ống chân, bị một nhát búa bổ toác ra, trắng hếu. Thằng bé này phải trói giật cánh khuỷu với một thằng bé khác. Quyền bảo tôi :
-Nhật đánh nó đấy. Thằng bé này bị Nhật bổ búa vỡ đầu gối, lại xén cụt cả tóc thế kia. Chắc là Nhật nó bắt được ăn cắp cái gì.
Nhưng quanh hai đứa bé, tang vật chỉ thấy một mẩu thừng và một mảnh chai vỡ.
Những con số khủng khiếp trong hàng triệu con số người chết đói được ghi lại. Nạn đói do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra, sau đảo chính Nhật, chính quyền Nhật và bù nhìn đã trí trá dựng nên tổ chức cứu tế, mặc dầu vậy, tổ chức này đi vào sự thực điều tra ở một vài vùng, cũng đã phơi bày một vài sự việc và con số nạn đói cực kỳ thê thảm.
Trên báo hàng ngày "Tin mới" ở Hà Nội suốt tuần lễ đầu tháng 5/1945 đã đăng bản "Điều tra từ 13-4 tới 16-4-1945 của ủy ban liên lạc Tổng hội cứu tế về tình hình các vùng Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên" do đại biểu các thân hào thân sĩ ở Hà Nội đi điều tra là Ngô Tử Hạ, Nguyễn Như Kim, Nguyễn Xuân Nha, Đỗ Ngọc Châu công bố.
Những đoạn in dưới đây đã bị phòng kiểm duyệt báo chí của Nhật bắt đục bỏ. Tổ chức công nhân cứu quốc ở nhà in báo Tin mới đã lén dập in lại những chỗ bị kiểm duyệt, rồi đồng chí Thiệp, thợ chữ, nhà ở phố Quán Thánh, đem giao tôi chuyển đi cho báo Cứu Quốc (bí mật) của Tổng bộ Việt Minh.
Nguyên văn những đoạn con số và tình hình ấy như sau :
" Khô dầu 3 hào 2 xu một bánh, người ta ăn khô dầu. Trẻ con bị vứt đầy dọc đường vì bố mẹ không nỡ thấy chúng nó chết trên tay. Người ta nấu rêu, rang rêu lên để ăn. Người ăn cỏ, ăn khô dầu, thậm chí ăn cả thịt người. Việc này chúng tôi chứng kiến tận mắt, và có chứng cứ hẳn hoi.
" Người chết nhiều đến nỗi không thể chôn kịp, vì người đi chôn cũng đã ốm đói rồi. Khi đi nhặt xác, gặp ai ngắc ngoải, bọn này cũng lôi đi chôn, vì có để lại thì rồi cũng đến chết nốt. Lúc bị vùi xuống hố, những người ấy còn chắp tay van lạy, nhưng bọn người đi chôn cũng cứ lấp đất đi vì nếu không chôn được nhiều người thì không được trả công, bởi cũng đang đói lả đi cả, còn lo hôm sau chẳng còn sức mà đi chôn người kiếm cái ăn.
" Tại Hải Hậu(Nam Định) có làng1.000 đinh thì đã chết đói tới 700. Tại đây đã xảy ra 2 vụ ăn thịt người. Một vụ do bọn đàn bà thủ xướng. Chúng giết những đứa trẻ còn mập mạp, đem bán thịt. Các thủ phạm vụ này đã bị bắt.
" Dân phố phủ Nam Trực (Nam Định) có 16 vạn, mỗi ngày khoảng 400 người chết đói, trong số đó có lý trưởng, phó lý, các chức dịch trong làng.
" Tình hình mấy tỉnh trên đã đến lúc hết sức nguy ngập. Khắp nơi, số dân chết đói rất nhiều. Đau đớn nhất là bọn trai trẻ cường tráng, những phần tử cần thiết cho công việc đồng áng chết đói hầu hết, số còn lại cũng đang ngắc ngoải.
" Người ta van lạy nhà nước bán thóc cho và xin tha cho đừng thu thóc vụ hàng năm sắp tới. Đó là phương kế duy nhất có thể cứu sống được người đói. Bằng như nếu không được thì ở đâu cũng kêu xin nhà nước gia ơn tìm cách giúp cho được chết chóng vánh, để khỏi phải kéo dài chuỗi ngày đau khổ, nhục nhằn thế này.
..." Tỉnh Hà Nam có 400 làng. Một nửa dân bị đói do sự thu thóc của Pháp từ trước kia. Có nhiều người Pháp có đồn điền ở tỉnh này, thế mà không những người Pháp không phải nộp thóc cho nhà nước, mà còn được nhà nước lấy thóc của dân ra trợ cấp cho các đồn điền.
" Các chỗ đói nhất trong tỉnh Ninh Bình là các huyện Yên Khánh, Yên Mỗ, phủ Kim Sơn. Số người chết đói tới 50 phần trăm, hoặc có nơi nhiều hơn.
" Dân số tỉnh Ninh Bình là 96.000, trong số đó có 24.000 đinh. Số người chết đói hai tháng khai là 3325 người. Nhưng thực ra phải gấp ba, nghĩa là độ 1 vạn. Ruộng mùa có 22.000 mẫu, gặt được 6862 mẫu. Mỗi mẫu độ 3 tạ. Số thóc đã thu nộp là 2664 tấn. Ruộng chiêm 22.283 mẫu. Chỉ cấy có 10.093 mẫu. Nhân công không có, vì chết nhiều và số siêu tán đi là 3724 người.
" Dân số phủ Kim Sơn (Ninh Bình) ngót 11 vạn, một vạn đã bỏ đi. Mỗi ngày có 400 người chết. Nếu không được cứu, đến tháng năm, số chết sẽ tới 5 vạn. Ruộng cày được 24.000 mẫu, mỗi người hơn hai sào. Vụ tháng mười sẽ thu mỗi năm nhiều nhất là 2 tạ thóc, cộng là 4.800 tấn. "Công toa" nhà nước thu thóc đã thu 1.586 tấn, chỉ còn 3.214 tấn chia ra thì mỗi đầu người được có 32 cân, ăn trong 6 tháng. Có làng 400 dân, ruộng không có người làm, bán không ai mua, mỗi mẫu đáng 1.000đ bán không nổi 30đ. Phủ này, người ta đương mong được chóng chết. Trẻ con từ 7 , 8 tháng đến 1 ,2 tuổi bị cha mẹ bỏ hoặc cha mẹ đã chết ngồi nheo nhóc khắp nơi, đi đường nào cũng thấy.
"Dân số phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) có 15 vạn người, số chết mỗi ngày khoảng 500. Thóc phải nộp nhà nước là 1.250, nhưng chức dịch chỉ thu được 986 tấn. Dân đói phải ăn củ chuối và ăn cả thịt người. Bắt trẻ con 5 ,6 tuổi rồi đào lỗ chôn xuống, lấp đất, hun lửa trên, xong đem bán lẫn với thịt chó, bán giả thịt chó. Việc này có biên bản rõ của ông phủ sở tại kèm theo".
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-14 21:56:07Dreamline>
11-CÁI TÀU ĐIỆN
Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài
Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh
Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường
La ga thì ở Thụy Chương
Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên
Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm "sơ vơ"
Xưa nay có thế bao giờ
Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba.
(Ca dao vùng Bưởi)
Bọn trẻ con trong làng thường đánh võng kẽo kẹt, nghêu ngao hát ngẩn ngơ như thế. Đứa nào sợ thì hát là "ông Tây". Hay là lại hát câu : Ngày ngày ra đứng cửa chùa. Trông lên Kẻ Chợ mà mua lấy sầu. Nào vè cái tàu điện, cái đèn máy, cái cầu Đu - me, vè về công việc bồi bếp, vè dạo cảnh phố phường, vè kể đi lính sang Tây. Chứ các câu vè "Thất thủ kinh đô", vè "Quan ba Ngạc nhe chết trận", thì chúng tôi không biết. Những người viết sử bây giờ không nên quá thiên, tưởng như ai lúc ấy cũng gọi Tây là thằng mà lắm khi hóa ra sai sự thật.
Trên đường phố bấy giờ lưa thưa, loáng thoáng xe kéo, xe đạp, ô tô, xe bình bịch. Tây đầm mũ áo lòe loẹt ngồi trên cỗ xe song mã - sơn then, người xà ích đội mũ vành cao ngồi cầm cương ở ghế trên. Có khi là một cỗ xe ngựa độc mã, cả nhà Tây đầm và trẻ con ngồi ghế mây quây tròn quanh người đánh xe. Bánh cao su đặc êm êm. Chỉ có cái xe ngựa hòm vuông sơn vàng đưa bánh tây tháng của hãng bánh mỳ Hợp Nhất, bánh sắt lọc cọc, reng rẻng. Bố tôi đã có dạo làm công nhật đưa bánh của sở bánh mỳ này. Nhưng khi ấy tôi mới lên hai, lên ba, nghe kể lại thế.
Xe ngựa, xe bánh sắt, xe cút kít một bánh gỗ rít váng óc giữa oi ả trưa hè, dần dần mất đi, chỉ có cái tàu điện vẫn còn và được nối thêm một toa, hai toa, chạy ầm ầm giữa tiếng chuông ở chân người lái tàu dận xuống, thành tiếng dài dài keng keng, ầm ầm mà người vùng Bưởi gọi là tiếng "keng ầm" tàu điện.
Thân hình cái tàu điện, toa tàu, đầu tàu, đường ray đến bây giờ vẫn tương tự thế. Chỉ khác, ngày trước người "vắt man" lái tàu đứng chong chỏng suốt ngày như chiếc cột mốc, quay chiếc tay lái bằng đồng mở khấc ba thì tàu chạy chậm, mở bảy cho tàu chạy nhanh, còn tay kia nắm chuôi cái hãm quay quay. Ở quê tôi đã thành tiếng địa phương, cái gì "mở bảy" tức là nhanh nhất : chạy mở bảy, làm mở bảy, ăn mở bảy...Bây giờ thì người lái tàu có ghế ngồi. Trong tàu khi đó ở chỗ cửa bước vào, có một khoang nhỏ, đặt ghế bọc đệm vải sơn cánh gián. Khác hai hàng ghế gỗ dài đồng loạt ngoài kia. Bởi vậy, cái bài hát ru em ngô nghê vè tàu điện còn có câu rằng :"Năm xu ngồi ghế đệm bông. Hỏi mình có sướng hay không hả mình".
Đường nối phố Hàng Đậu lên Yên Phụ, quãng xe điện ấy làm sau cùng, khoảng năm 1934. Trước đấy, học trò các trường Yên Phụ, Yên Thành, Hàng Than thường lên bãi ven đê đá bóng, vật nhau, đánh nhau và đúc dế. Từ khi làm đường tàu, mất chỗ chơi. Vì thế mà tôi nhớ lâu.
Nhưng trên đường xe điện này, cũng có những cái bây giờ không còn. Bến tàu đi Hà Đông ngày trước dài đến cuối phố Cầu Gỗ, bên cạnh có một nhà bàn giấy cho các đường tàu. Đường Hà Đông, tám giờ tối hết tàu, tàu không dồn về nhà tàu điện giữa làng Thụy, mà tàu chạy về trạm Cầu Mới. Sáng mai, năm giờ tàu lại ra chuyến thứ nhất. Ở các bến giữa bến cuối mỗi đường có một nhà đợi tàu lợp ngói, ba phía tường kín mít. Cũng chẳng ai chui vào đấy ngồi đợi tàu. Cái nhà thành nơi ỉa đái và ăn mày trú ngụ. Ở bến tàu Bưởi bây giờ hãy còn hình thù căn nhà đợi tàu ngay cửa đình Thọ trông sang, bên một gốc sung cổ thụ. Cái nhà đợi tàu nay được sửa lại, và người ta ở giống như mọi nhà trong phố. Chắc khó lòng ai biết trước đấy lại là nơi đợi tàu và coi như cái nhà hoang.
Trên các quãng tàu tránh, từ đầu ô trở ra, mỗi khi tàu đỗ, tiếng ăn mày kêu xin, tiếng hát xẩm lại thảm thiết, rên rỉ. Ở Vọng, Cổng Rong, chợ Mơ, bến chợ trâu Hà Đông. Này anh khóa ơi...
Rồi tiếng hát cải lương và cái nhị cò cử, cái đàn bầu không phải vỏ quả bàu lọ phơi khô mà bàu đàn bằng chiếc ống bơ. Văng vẳng tiếng chuông chùa...Ai oán vang lên tiếng nức nở triền miên là câu xin ăn : Con cá nó sống vì nước, con sống vì các ông các bà, các ông các bà ơi!.
Đôi bên hàng tàu vẫn ngồi im, chẳng ai ngoái cổ ra. Những người tàn tật, ăn mày các bến, các chỗ tránh tàu điện thì không thể kể xiết. Dẫu ai đi tàu có tò mò để ý cũng không thể nhớ lâu được người nào. Những người ăn mày mòn mỏi chết như ma biến. Người nào cũng chỉ một vài lần...Con cá nó sống...Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại..Nghe giọng khác mọi khi, nhưng người cầm cái rá, cái ống bơ, vẫn chỗ ấy. Không phải người ăn mày mọi khi đâu. Người hôm qua chết rồi, người ăn xin này vẫn lạy van một câu ấy.
Vừa lên tàu, đã có ông sơ vơ đeo cái túi cặp da, đến bán vé. Vé đi đâu, Bạch Mai hay lên Bưởi, hay Cầu Đơ, màu vàng, màu xanh, màu hường khác nhau, chẳng cần trông số chữ, không biết chữ, cứ nhìn vào màu vé cũng biết được số tiền. Lại có vé từng quãng ngắn. Bưởi xuống Quán Thánh, rồi Bờ Hồ, Bạch Mai. Lát sau, đến người công tôn vào soát vé. Người này xem lại vé rồi xé rách nửa giữa. Công tôn ta soát vé từng quãng đều đều.
Nhưng công tôn Tây thì cứ bất chợt nhảy lên tàu. Thằng tây Coóc lùn một mẩu, mặt đỏ lựng. Cái mũi to lùi sùi của tây Coóc còn đỏ gay gắt hơn. Công tôn tây Coóc có tiếng ác, mắt xanh lừ đừ như mắt chó dại. Người lên tàu, xuống tàu, chẳng bận đến nó, mà cứ phải nhớn nhác sợ hãi trông nó trước. Bắt được sơ vơ và công tôn ta để sót vé, tây Coóc điệu đi theo nó ngay về sở. Bị phạt trừ lương là cầm chắc. Gặp người đi tàu đứng cheo leo ở bậc cửa lên xuống, thấy trẻ con trèo thành tàu, tây Coóc đẩy xuống tức thì. Đứa nào ngã ra đường hay lăn vào bánh tàu, chết chẹt mặc kệ.
Tôi đã được thấy một cảnh chạy tây Coóc nhảy tàu truyền toa chết hết sức thảm thương.
Chỗ ấy quãng đường uốn cong xế cửa trường Bưởi. Tây Coóc thình lình lên khám vé. Một thằng bé, quần đùi áo nâu, cắp hộp kẹo vừng kẹo bột trốn vé chạy ra cửa tàu. Nhưng nó vẫn ham bán kẹo - có lẽ thế. Nó không nhảy xuống đường. Nó truyền cuối tàu sang toa. Thế là cả người và cái hộp kẹo lạng vào bánh tàu điện, tàu đương lượn nghiêng, bánh tàu xiết vào đường ray rên lên ken két, tôi thoáng nhìn thằng bé giữa đường sắt dưới ấy mặt xám như đất.
Tây Coóc củng đã bị nhiều vố đau. Có lần tây Coóc vừa nhảy lên cửa tàu. Một gói giấy bọc cứt ném bịch vào lưng áo. Tàu đương chạy, tây Coóc đành chịu chết đứng, áo tung tóe cứt. Tây Coóc bị ném đá, ném cứt luôn - người ta nói thế.
Cái tàu điện dậy sớm ngang với người tập thể dục. Náo động cả phố xá. Các cụ kể ngày mới có tàu điện, một vùng ngoại ô nô nức đi xem, rồi lên tàu ra Kẻ Chợ, mấy tháng liền.
Dẫu sao, đã ngót trăm năm nay rồi, cái tàu điện ấy vẫn "chạy quanh phố phường".
Đăng nhập để trả lời
0
12-BẪY CHIM CHƠI CHIM
Mùa xuân đến có mưa bụi. Mưa bụi như phấn trắng dây trên trời. Trong bụi mưa, từng đàn chim nhỏ ríu rít bay về vườn cây trước sân. Tôi đã nhận ra những tiếng ánh ỏi khác nhau của chim sâu chim khuyên.
Hạt mưa đọng đầu cành, mép chiếc lá nõn, trong lòng hoa đào phai, giọt sương long lanh cánh chim lướt qua. Hạt rơi xuống như sương sa. Không biết đấy là hạt sương hay bụi mưa đọng.
Tôi thích nghe tiếng hót chim vành khuyên. Vành khuyên mình nhỏ thon, vàng thẫm, chen đôi ba nét lông xẫm trai lơ, nhất là đôi mắt óng ánh tình tứ trong vành khuyên trắng ngần.
Chàng vành khuyên nhởn nhơ bay trước. Nàng háo hức đuổi theo. Chàng cất tiếng từng hồi dài, trong suốt.
Nghe chim vành khuyên hót đàn, biết là tết đã qua, sang xuân rồi. Tiếng chim lẫn li ti trong làn sương mưa bụi.
Tôi lẩm nhẩm :
-Đàn vành khuyên này to quá. Xuống rồi, xuống...Sắp vào bẫy nhà thằng Bách rồi.
Tôi ra sau nhà, núp vào bên gốc cây ngái. Tôi nhìn lên cây ổi nhà Bách. Đàn chim lả tả xuống, rồi vụt xuống. Chim nhiều quá, tỏa khắp, sang cả cây đào già trơ trụi bên nhà tôi.
Bờ chuôm có hai cây ổi nhà Bách, cây to, lá rậm rạp. Trên một cành cao, Bách treo cái lồng bẫy. Lồng vuông, hai tầng, bốn cửa giương lên. Tầng dưới nhốt chim mồi và cả những con chim bị bẫy sập đưa xuống đấy. Tầng trên, cầu bẫy đặt một mẩu chuối tiêu.
Mỗi phiên, anh em nhà Bách xách lên chợ bán một lồng chim khuyên. Bán chim được tiền, đứa nào cũng có riêng một ống tiền để dành tết.
Tôi ngây người ra, nhìn lên cây ổi. Cái lồng bẫy nhà Bách trông hay quá. Cạnh mỗi miếng chuối,, chiếc hoa râm bụt đỏ tươi che chỗ then bẫy. Con chim khờ khạo chỉ trông thấy hoa. Cả cái lồng lơ lửng dưới vòm lá. Hoa hồng bụt cài kín nan lồng, như hoa nở tự nhiên. Như cái tổ chim giữa mùa sinh sôi đương ríu rít. Sợi thừng lăn có con lăn bằng lõi cuộn chỉ đưa cả lồng bẫy lên.
Tôi vẫn đứng nhìn lên cái lồng bẫy của thằng Bách. Lâu đến thế nào, tôi mải không biết, ông tôi đến đặt tay lên vai tôi. Ông tôi cầm cái chổi xể. Ông tôi vừa quét ra đến ngoài sân đất, mà tôi cũng không để ý. Ông tôi nhẹ nhàng hỏi :
- Cháu thích cái lồng bẫy kia hả?
Tôi biết trả lời thế nào.Ông tôi lại nói :
- Rồi ông làm cho.
Tôi không thể nghĩ ông tôi lại đi guốc vào bụng tôi đến như thế. Mặc dầu, bấy lâu các thứ phải làm ở giờ đan lát thủ công của lớp, từ lớp bét cũng như khi tôi lên lớp ba, ông tôi vẫn làm hộ tôi. Cái hộp giấy, đôi đũa tre. Nặn đất thó, con hổ, con trâu. Tôi đoán thầy giáo chắc cũng biết không phải tôi khéo tay đến nhường ấy. Nhưng lần nào thầy cũng chấm cho tôi điểm mười đỏ hoe.
Rồi mấy hôm sau, ông tôi làm ngay cái lồng thực sự. Ông tôi vót nan tre. Ông tôi thổi bếp than, dùi những thành lồng.
Chẳng mấy lâu, trước sân đã trông thấy cái lồng con con, trên nóc giương một cái bẫy.
Ông tôi treo lồng vào bếp cho ám khói. Tôi cũng sốt ruột. Tôi nghĩ đến những cái thích sắp đến. Một cửa bẫy to như thế mà lại hay. Cửa to thế này, ba bốn con chen vào một lúc cũng nên. Phải buộc thêm cục gỗ lên. Mấy con vào một lúc cũng không nạy ra được. Tôi lo xa.
Lại nghĩ đến những vui sướng rồi ngày nào cũng bẫy được chim. Mỗi hôm được một, được hai con đã thích rồi. Mà cũng chỉ có thể được thế. Bởi vì, đến chiều tối tôi mới đi học về, mỗi ngày mở bẫy có một lần. Mỗi con vành khuyên, con đực hót tiếng dài, bán những năm xu. Tết bỏ ống, được đến đồng bạc tiền bán chim. Tôi sẽ lấy tiền bán chim đi mua rượu cho ông tôi nhắm với đậu nướng chấm muối. Ối chao !
Đầu mùa hạ, tôi bắt đầu treo lồng bẫy lên cây hồng bì. Những chiếc nan lồng đã bắt bồ hóng đen như cái que bờ rào. Tôi kiếm được chiếc thừng đay cũ néo cửi. Tôi buộc lồng vào thừng rồi kéo lên một cành hồng bì kín đáo dưới một túm lá. Cũng đủ mọi thứ, chẳng kém lồng của thằng Bách ở cây ổi bên kia. Hoa hồng bụt đỏ tươi, cạnh cầu sập đặt mẩu chuối. Ngăn dưới, hai con mồi đực, chốc chốc cất tiếng vui tai. Tưởng như tận ngõ ngoài cũng nghe được tiếng rủ rê.
Trường Yên Phụ tôi học cách nhà sáu, bảy cây số. Cả ngày thấp thỏm. Chiều tan học, chạy một mạch về thật nhanh. Ngẩng lên, thấy cái lồng bẫy trên cây vẫn nguyên như thế. Chiếc lồng bốn cửa của Bách ở cây ổi bên kia, nghe tiếng chim lúc rúc, loạt xoạt, nhiều nhiều. Chắc hôm nay nó phải được mở cửa bẫy đến mấy lượt. Mình bì thế nào được với anh em Bách. Chúng nó không phải đi học, ở nhà dệt cửi, quay tơ cả ngày.
Hôm sau, vẫn thế. Mấy hôm sau nữa, cũng chẳng bẫy được con nào. Hoa hồng bụt, hoa mới. Thay chuối khác. Vẫn chẳng được sập cửa một lần. Có hôm chủ nhật, tôi tha thẩn rình dưới gốc. Đàn chim vành khuyên đương bay giữa trời nắng trong. Chim trông thấy con mồi gọi hay chim trông thấy ánh hoa, cả đàn tỏa xuống khắp các cây trong sân, trong vườn quanh ao. Các cửa bẫy bên lồng của Bách sập tanh tách. Tiếng con mắc bẫy lồng lộn, xát cánh xàn xạt vào nan lồng. Tôi tưởng tượng con chim mắc bẫy, đôi mắt trong vành khuyên trắng vừa lơ láo, nhớn nhác, vừa khiếp sợ.
Có con vành khuyên đậu xuống cây hồng bì. Hồi hộp quá. Nhưng chẳng mống nào truyền sang cành hồng bì treo cái lồng bẫy của tôi. Rồi chim lại bay đi. Mấy con bị mắc bẫy đang kêu chí chóe bên lồng của Bách. Ông tôi gật gù :
-Có nhẽ cái lồng này phải vía.
Không biết "phải vía" là thế nào. Nhưng chắc cũng như những chuyện đen đủi tựa như ra ngõ gặp gái, nghe con cú nửa đêm, con chim lợn chập tối, - những điều xấu ra sao đấy.
Trời mưa to. Trận mưa đầu mùa hạ, nước đổ xuống giữa trưa như trút. Tôi ngồi trong lớp trông ra, sốt ruột quá. Những con chim mồi trong lồng treo trên cây, ướt bết lông đến chết mất. Tôi lại lo, giá có con chim mắc bẫy, phải trận mưa tàn hại thế này, xong rồi lại nắng, chim không chết mưa cũng chết nắng mất.
Tôi chạy vội về.
Tôi bối rối hạ cái lồng bẫy trên cây hồng bì. Con chim mồi đã nằm chỏng gọng, ướt tóp lại bằng hạt mít. Cái cửa bẫy sập. Khng biết chim đã vào rồi chim lại ra hay nước mưa đánh sập cửa xuống. Bởi vì chẳng được con chim nào. Tôi không có tay bẫy chim, câu cá cũng không xát, con rô ron chẳng cắn mồi tôi. Dạo trước, tôi đặt cái bẫy cánh cung ở bờ ao. Chiều nào cũng nghe tiếng chích chòe. Mà chích chòe không dẫm vào chòng lọng của tôi bao giờ.
Tôi thôi bẵy chim. Cái lồng bẫy, rồi ông tôi đem đun bếp. Ngày phiên chợ, có khi tôi xách hộ lồng chim cho thằng Bách. Chợ chim phiên nào cũng đông. Con vẹt rất hỗn, cứ ỉa toèn tọet. Con yểng hỏi : ai đấy, ai đấy?. Người ta xúm lại chọn lồng họa mi, lồng khướu. Trẻ con thích chơi chim ri, sáo mỏ ngà, chim vành khuyên. Tôi mua một đôi ri sừng. Chim ri sừng ri đá chỉ ăn thóc, dễ nuôi.
Những khi trời mưa bụi, nghe ánh ỏi tiếng đàn chim vành khuyên bay qua, vẫn khắc khoải. Tưởng như dễ bẫy, mình sẽ bẫy ngay được.
Đăng nhập để trả lời
0
13-CÚP TÓC
Những người chạc tuổi tôi, từ thuở bé đến giờ, thông thường cũng độ ba bốn lần thay đổi kiểu để tóc.
Khi ấy, cả làng cũng chẳng còn mấy cụ ông nuôi búi tóc. Chỉ có cụ tư Nghênh thấp người làn tóc dài đen nháy. Cụ xã Vị nho nhã, tóc búi củ hành. Nhiều cụ khác đã để đầu húi.
Cũng có cụ dường như là bực mình hay là thích quá, chẳng biết, trước để tóc dài, búi tóc to bằng cái ấm rỏ, bây giờ cạo trọc lốc. Đấy là ông tôi. Và cụ xã Kín, buổi chiều uống rượu, cả cái đầu trọc nhẵn nổi lên mài rượu đỏ bóng. Ông tôi cũng vậy. Không rõ ngày xưa ông tôi để búi tóc thế nào, nhưng đến khi tôi biết, chỉ thấy ông tôi đã cạo trọc đầu. Ông tôi chẳng bao giờ cần đến bác phó cạo. Ông tôi có con dao con. Thỉnh thoảng, đem mài vào thành vại rồi ông tôi ngoái tay đưa lưỡi dao lên, cạo lấy. Lắm khi máu đầu chảy lõa lợi.
Như vậy, tôi đã ở thời đàn ông ai cũng cắt tóc, húi đầu. Nhưng hãy còn đôi chút lơ lửng. ₫ầu tiên, tôi được để cái hoa roi như mọi trẻ con trong làng. Hoa roi, một nhúm tóc giữa đỉnh đầu. Bác thợ cạo xách cái hòm gỗ vuông lững thững vào xóm. Bác đặt hòm xuống. Trong hòm, cái kéo, cái tông đơ, con dao cạo, hòn đá mài, cái xoe tai, một lọ vuông đựng nước lã để rảy tưới tóc, một mảnh gương và một cái lược tròn cào gầu. Xung quanh chỏm nhẵn thín. Chỏm tóc tôi càng để dài, như cái đuôi ngựa, xuống đến chấm vai, xuống ngang lưng.
Bác thợ cắt tóc đứng hý hoáy cạo vần quanh chỏm. Tôi soi gương, trông rõ vành đầu nhẵn thín, trắng hếu. Cái đuôi tóc vồng lên. Bác thợ gắt :"Cứ cựa quạy thì dao bập vào chảy máu đầu bây giờ".
Khi học a b c trên lớp vỡ lòng trường làng Cả, tôi phải bỏ cái đuôi hoa roi. Chỉ vì một lẽ giản dị : những đứa trẻ cắp sách đội mũ đi học không đứa nào còn để tóc hoa roi. Cả trường đều húi đầu, cái hoa roi của mình thành ra trò chơi cho chúng nó kéo rỡn đuôi tóc thì không được. Đến cả tháng tôi cứ vẩn vơ, chốc lại sờ tay lên. Có lúc ứa nước mắt, nhớ hoa roi. Sau này còn những lần cắt tóc kiểu khác, nhưng không lần nào tôi khóc nhớ tóc như lần ấy.
Đầu tôi húi trọc, rồi húi cua, húi ca rê. Húi trọc, trọc lông lốc. Húi cua, tóc lún phún lởm nhởm. Húi ca rê, trên thóp còn một miếng tóc vuông vắn. Cả ba kiểu tóc ấy đều gần như đầu trọc. Để kiểu nào thì để, chung quy tóc cũng ngắn củn, lâu lâu phải cạo. Bà tôi chỉ thích tôi đầu trọc. Bà bảo : cho nó mát cháu ạ. Chỉ cái độ tôi húi tóc ca rê, bà tôi mới ví von mắng đùa :"Trông chẳng khác thằng lính chào mào".
Cạo đầu trọc, tôi có ý khác. Đến kỳ tóc đã lờm xờm, tôi xin tiền u tôi. Nhưng tôi không đi tìm bác phó cạo. Tiền ấy, tôi chén bánh tôm, húp dấm và tôi mua bi đánh đáo, tung tẩy các thứ. Có lần xin tiền đến vào lần, đi học về lại lội xuống ao làng vốc nước nén miết tóc xuống mà tóc vẫn tốt um. Utôi chửi mấy lần, tôi mới chịu lên chợ. Câu chuyện ăn tóc này, về sau tôi đã viết thành một chuyện vui : Nói về cái đầu tôi.
Tôi đến hàng cạo đầu ở cuối chợ. Thợ cạo phải dọn xa một góc, bởi sợ gió bay tóc vào các hàng quà. Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu. Bác thợ cạo bóp tách tách thử tông đơ rồi bác mới miết qua lại tóc tôi vài lượt. Tôi nhăn nhó một tý, đầu đã trụi thùi lụi. Xong, bác lấy ra cái lược cào gầu. Lược tròn như trôn bát, mỗi răng gỗ to thô lố như răng bừa. Bác đặt lược lên cái đầu trọc rồi ấn xuống, xoay nạo gầu quanh đầu. Lược xoe phía nào, mặt tôi, mắt tôi, mồm tôi méo xệch lên phía ấy. Đau quá, bụi gầu trắng bay lở tở, mù mịt.
Năm ấy, tôi lên phố chợ, vào hiệu cắt tóc bác Tiễu, ngoài cửa treo mảnh gỗ viết hai chữ "cắt tóc" hai chữ t liền nhau, thế là tôi đã biết làm đỏm để tóc có điệu rồi. Nhiều kiểu đầu con trai. Kiểu "phì lu dốp", u tóc đằng gáy gồ lên. Nào mai đậm, mai nhạt, vành cao, vành thấp. Mỗi lối kén một cách. Làm như đi đường, cô gái nào cũng chằm chằm liếc vào cái đầu mốt của mình không bằng.
Tôi cắt tóc kiểu thông thường của con trai lúc bấy giờ. Tóc ngắn vừa phải, mai không đậm, không mờ. Chải mượt rồi rẽ cạnh. Thọat đầu còn vuốt nước lã, sau cầu kỳ hơn, bôi tý mỡ thơm "bi ăng tin" rồi nhgiêng bàn tay ấn một cái, làn tóc trên trán vồng lên, chân tóc lượn một làn. Ngày ngày chải thế, ấn thế, lâu dần, tóc thành nếp sóng tự nhiên. Có những ông chạc tuổi tôi bây giờ, tóc đã lơ thơ, tóc đã bạc trắng, nhưng ông già vẫn quen tay ấn, miết ngón tay làm lược vuốt thành một nét tóc hình lượn "chải sừng". Ấy là một thời đã qua.
Đăng nhập để trả lời
0
                                                                                                                           14 . TIẾNG RAO ĐÊM
Nhớ lại, những khi buồn bã mưa dầm gió bấc, không hiểu tại sao tôi chỉ thấy nhớ ban đêm. Tưởng như cả năm, đêm nào thành phố cũng toàn những rét mướt sâu thẳm. Vẫn biết có bốn mùa Hà Nội, mà cứ ngỡ thế. Ô hay vậy.
 Có lẽ vì trong lòng sẵn nông nỗi về những đêm buồn. Cái ông Phạm Đình Hổ ngày xưa viết tập ký Vũ trung tùy bút, nhà ông Hổ ở phố Hàng Buồm. Mỗi khi ông ghi lại những tai nghe mắt thấy và cái nghĩ về đất kinh kỳ, chắc không phải lúc nào ông cũng viết trong mưa. Chỉ bởi trong lòng ông có mưa gió khi cầm bút mà thôi. Cũng là một cái nhìn Hà Nội từ thuở nào.
 Có phải cũng vì những đêm ấy nhiều những tiếng rao của những người tha hương. Những người Tàu bỏ đất nước đi ra ngoài cõi đã rải rác cả nghìn năm nay. Không biết các đời trước ra sao, chỉ cứ những như tôi thấy thì mỗi khi bên tàu có biến động, ở đây lại chật ních người Tàu chạy loạn. Tướng Tàu các tỉnh choảng nhau, người chạy như vỡ chợ sang Hải Phòng, sang Hà Nội. Ông Tôn Dật Tiên cũng đã chạy sang Hà Nội ở số nhà 19 trường trung học Hoa Kiều, phố Hàng Buồm. Hãy còn cái cửa sổ chăng lưới thép ở căn gác hai căn nhà đường Phan Bội Châu bây giờ. Uông Tinh Vệ đã trốn sang trú ở đấy.
 Nững người bỏ quê đến đất này làm ăn đã bao năm, bao đời. Cứ mỗi hôm, hàng quà bánh, hàng xôi ngô sắn lùi, sắn ta, người gánh người đội, các hàng quán ban ngày của người các làng vào bán đã giạt ra ngoại ô vãn cả, thì đem đêm lại ời ợi những tiếng rao hàng nghe thật lạ tai, mà cũng thật quen thuộc.
 Chập tối, gió lạnh phất phơ. Một ông già ngồi lù lù như cái nấm mọc đầu ngõ Sầm Công, cất tiếng rao buồn buồn : phàn sội...phá sa. Lạc nóng ròn và mặn vị. Nhá nhem, ở quanh chân cái tháp chùa Liên còn sót lại ven hồ, những ông già bà già, lúi húi cạnh cái hũ ủ nước bát sặc mùi bảo lèng sè cam thảo. Ông già đầu nhẵn bóng, to thô lố như quả dưa hấu. Chắc lại những ông quan thất thế bên Tàu sang ngồi đấy. Trời càng rét đậm hơn. Không một người dừng lại. Các ông bà bát bảo lèng sè cũng biến lúc nào.Vẫn văng vẳng phàn sội phá sa phía phố Cầu Gỗ.
 Chỗ ngã tư kia rè rè hắt lại tiếng chế mà phù...Độ tám giờ tối, các phố đương chen chúc, ngập ngụa người. Bấy giờ là giờ của hàng quà ngọt. Chế mà phù...Trẻ con cũng đã thuộc hàng chè vừng đen này. Một gánh, bên nồi chè, bên thùng đựng thìa, bát.
 Lục tào sa...lục tào sa...hàng chè đậu xanh, đậu đãi đủng đỉnh ra. Gío đuổi nhau trên các hốc tường, lạt xoạt như chuột chạy. Tiếng rao chế mà phù vẫn lững thững chen vào. Cái nón rộng vành mây đen dày cộp che kín nửa mặt người. Rồi lại quảy chui ra đi hút mãi ngoài ngã tư. Hàng lục tào sa đứng đấy, hóng khách vội vã qua.
 Bỗng gừ lên tiếng con chim gầm ghì kêu lúc hoàng hôn. Suỵt chế...suỵt chế...Chỉ là những khẩu mía hấp đựng trong chiếc chảo đậy vung kín. Những khẩu mía tiện, ướp hoa bưởi, xếp đều từng lượt, nhả mùi thơm lẫn mật mía. Nười Tàu thật khéo làm những cái lạ miệng. Cũng một quả táo, quả ổi, quả khế đem dầm đường, trộn gừng bán được hơn tiền. Khẩu mía hấp lên nóng hôi hổi. Trời rét ngăn ngắt, được khẩu mía nóng hãm điếu thuốc phiện vừa ngọt lại vừa ấm bụng.
 Phố xá đem dài buồn như chấu cắn. Cửa chợ Đồng Xuân khóa sắt đóng im ỉm. Cuộc sống Kẻ Chợ bấy giờ chưa sầm uất đến phải có những chợ đổi vai cho rau rợ ngoại thành đổ vào. Cái chợ Bắc Qua ngày nay tấp nập suốt đêm, lúc ấy còn là khu nhà máy sợi Bắc Qua và cái nền sân bóng rổ Lơpa (Lepage) và chợ Đức Viên là một bãi cỏ, có một xiểng gỗ.
 Tiếng rao tim sắn bao...rờn lên cuối ngõ Gạch. Thế là biết đã quá mười giờ. Gìơ ăn đêm của những rạp hát sắp tan. Hiệp Thành, Sán Nhiến Đài Qủang Lạc...Bánh bao! Bánh bao nóng! Tỉm sắn bao à...Gánh bánh bao quẩy rong ấy vừa đỗ. Tiếng gọi bánh bao đằng hè phối bên trái cùng với cánh cửa lạch cạch, hay là chỉ có tiếng hé cửa. Thạp bánh vừa hở nắp, khói hơi tuôn trắng cuộn cuộn. Rồi im lặng. Tỉm sắn bao...rời rã dần dần vào ngõ Qủang Lạc.
 Đương giữa buổi ăn đêm. Nhưng khách các rạp hát ra đã tan biến vào làn gío cuốn rào rào hai bên ngách tường tan biến đi đâu. Thỉnh thoảng, một cái xe tay lượn qua, hai bên cánh gà gió đánh phành phạch. Chiếc xe kiếm khách, như con cú dòm ngó, rồi lại cập quạng đi
 Lốc bểu...lốc bểu... xóch xách lần bờ hè hàng Gai xuống hàng Bông Đệm, sang Bông Lờ. Bánh cuốn nóng có nhân, còn có khi gọi là bánh cuốn Lạng Sơn, hấp trong thạp. Đến ngã ba dừng lại. Không biết tiếng người hay tiếng gió. Một người ở ngõ Tạm Thương bước tới. Có lẽ một nhà thổ lậu trong săm ra. Người khách ăn đêm ấy cũng không dừng lại. Chuyến tàu Phòng lên từ bên kia cầu sang kéo còi qua bên chợ cửa Nam. Còn phải đi suốt phố hàng Lọng nữa gángh hàng mới có chỗ đỗ đón khách trên tàu xuống. Lốc bểu...lốc bểu...! Tiếng lấp lửng xa xa, cao thấp gập ghềnh. Chẳng hiểu nghĩa thế nào, nghe trong đêm hai tiếng ngẩn ngơ đã muốn nghĩ ra cuộc đời âm u, tha hương.
 Qúa nửa đêm rồei. Khuya trong các ngõ phố ụp xụp quanh quẩnmờ mờ các mái nhà thấp tù mù, nhạt loãng ánh điện, ánh trăng pha với rét buốt sắc gợn. Đêm sâu, tiếng hàng cháo gà thoi thóp. Cay hạp trúc...cay hạp trúc. Tiếng trúc...trúc...đằng cuối như nấc lên đôi chút lanh lảnh trong gió. Nhưng đã quá canh rồi.
 Cái đòn gánh hàng cháo gà trên vai. Ngọn đèn lui hui đầu gánh đằng truớc. Tiếng grao đã bặt từ nãy. Gío may thổi qua mặt phố cứ xột xoạt lùa vào cái áo tơi lá át cả tiếng rao. Người bán cháo với tay rút trong ngăn kéo ra hai thanh tre. Gánh vẫn lùi lũi đi. Thanh tre đập chéo nhau vang lên hai tiếng gọn gàng lanh lảnh. Như chợt tỉnh. Sực tắc...sực tắc...Ai đang giở giấc nghe tinh cũng phân biệt được đấy là hàng cháo gà hay hàng vằn thắn đang qua ngoài cánh cửa. Tiếng "sực tắc" (thực đắc: ăn được) thanh tre thanh gỗ khác nhau của gánh hàng.
 Từ bấy đến tan canh, tiếng gõ sực tắc chốc lại thấp thoángvăng vẳng như tiếng vạc ăn đêm. Không biết vạc đi ăn về lửng lơ thơ thẩn phía nào.
 Bởi vì đã bắt đầu một giọng khàn khàn như người vừa tỉnh ngủ dậy. Lồ mãi phàn...lồ mãi phàn...Xôi lạpơ xường nóng. Cái tiếng xôi lạp xường khàn khàn kèn tàu cất lên ấy là lúc trời đã tò mờ sáng. Tiếng rao cuối cùng đêm khuya ngày rạng, những cái ăn uống rỉ rả trong đêm cũng dần biến đâu mất. Như trời sao thấp thoáng trên đầu hồi đương lặn. Ma biến cả rồi. Còn lại cái chao đèn đường lắc đôi chút ánh sáng điện rớt xuống quanh quẩn trên phố hàng Bạc, hàng Vải thâm, ngõ Huyện.
 Hồi ấy, chưa có mấy hàng phở bán đêm. Người Tàu làm phở, phở của người Tàu không ngon. Cũng tàn như trong đêm vừa qua. Ngưu nhục phần...nhục phần...nhục phần. Tiếng rao khàn khàn xưa cũ chẳng mấy ai còn nhớ. Phải đến tay người ta làm lại cái "ngưu nhục phần" thành phở bò chín, món quà ăn sáng và cả ngày. Những tiếng phơ phơ của bác phở gánh ở Gầm Cầu bước ra, cất cao cao, ấy là trời đã sáng hẳn. Những bóng phố nhỏ, những ngõ phố ướt nhợt nhạt loãng ra.
 Cái hàng phở Trưởng Ca ở đình hàng Bạc mà Nguyễn Tuân đã đưa vào sách, sau này có nhiều người nhắc lại. Coi như một cửa hàng ăn đêm và ăn ngon của Hà Nội chơi bời. Tôi ngại nó cứ sai lạc dần, nên phải ghi thêm vài chữ. Ông Nguuyễn nói đến phở Trưởng Ca vì cái hàng phở này liên quan đến giờ giấc đám chơi đêm. Chứ không phải vì phở ngon Trưởng Ca. Đừng nhầm cái sànmh ăn của ông Nguyễn với cái nước dùng thật đoảng của lão hàng phở kia. Làm cho người đọc tưởng ông Nguyễnmà đã nói vậy, ắt phở Trưởng Ca phải ra cái gì.
 Không phải. Phở Trưởng Ca chẳng ra cái gì cả. Đêm hôm khuya khoắt, cũng có lần, tôi vào phở Trưởng Ca hàng Bạc. Hàng phở ghé một gian cửa đình, chống chếnh, huyếch hoác. Hiệu phở nửa gánh, nửa cửa hàng. Trên cái ghế tràng kỷ tre khách đương ăn, nhà hàng xóc bánh, thái thịt, lại có người khoanh tay lên đầu gối ngủ ngồi cạnh đấy. Dễ đã ba bốn giờ sáng. Người chơi đêm chẳng thể lần đâu ra cái ăn, từ hàng Lọng ngược dọc lên trên này, chỉ còn có mỗi hàng Trưởng Ca phở trâu nhạt thếch. Ông hàng phở chỉ khéo ninh cái nước dùng nóng phồng mồm. Tàn đêm rồi còn được lùa một miếng phở nóng, thôi thế cũng thỏa vong linh.
 Các hàng quán bán cho khách ăn khuya quanh năm thưởng thế giữa các phố khúc khuỷu. Không bảo nhau mà đâu cũng từa tựa. Nhưng ở tít ngoại ô trên vùng tôi, như phở Khuyển cầu Dừa xuống làng, đèn le lói đến nửa đêm. Phở Trương Hàm trên dốc Sài lên hồ Tây. Khoảng ba giờ sáng, vẫn có phở nóng, làm một bát rồi về ngủ. Cũng là một thứ Trưởng Ca cho người chơi đêm ngoại ô. Cái phở thịt trâu, mỡ trắng ợt. Phở nóng hẳn hoi mà miệng nhai miếng thịt cứ lạnh tanh.
 
Đăng nhập để trả lời
0
15.CƠM ĐẦU GHẾ
 Phố lốc cốc No "Lô cốt Bắc" bây giờ là phhố Phó Đức Chính, gần cổng nhà máy điện Yên Phụ, có dãy hàng cơm. Cơm đầu ghế, cửa hàng gian ngoài bày cái chõng tre, đôi khi là tấm cánh cửa được ngả xuống, xếp gạch làm mễ. Cái chõng, cái ghế dài chơ chỏng. Người ăn cơm xúm xít, chen chúc trong nhà, ngoài hè. Gọi là cơm đầu ghế, có lẽ bởi quang cảnh vậy.
 Có đến hàng chục quán cơm ở đây. Thợ nhà in Ideo, thợ nhà máy điện Yên Phụ ra ăn, buổi trưa đông túi bụi. Nhà hàng vào bưng các thứ. Cơm đựng bát đàn úp bát chiết yêu. Canh cà chua nấu mỡ xuông. Dưa muối, đậu om. Không biết có ai làm cút rượu, tôi chưa biết để ý đến rượu chè.
 Toàn khách quen mọi ngày. Chỉ có đôi ba mặt lạ, những người cu li ngồi đợi đổi giờ bán lại giờ thuê xe cho nhau cạnh chân tường gần đấy, bỗng kiến bò bụng.
 Hàng cơm chỉ bán cho khách ăn trưa. Mẹ com bà Hai thuê của chủ gian nhà ngoài có nửa buổi. Cơm nước bán xong lại cất dọn đâu đấy, trở về nhà tận trên Thụy.
 Buổi trưa, nhà in, nhà máy điện tan tầm. Người ra ùn ùn, chen nhau đi ra đứng trước mặt lão Tây đen gác cổng. Tây đen vuốt trên mình xem có con chữ, xấp giấy, cái đinh, phao đầu, có ai xoáy của nhà máy đem ra không. Đàn ông, mà cả đàn bà cũng cứ Từ Hải chết đứng dạng háng giơ tay, cho người Tây đen khoặm mặt, lần các túi và mép áo.
 Hàng nhà bà Hai đương đông , chẳng bỏ đâu hết người. Hai mẹ con tíu tít trong bếp ra, lại chạy vào. Có hôm vội, phải thêm một bà già ngồi vần nồi hai mươi cơm, giữa lửa củi đùng đùng. Những bát cơm úp mở ra bốc hơi nghi ngút thơm khắp nhà. Miếng đậu rùn, bát canh hành cà chua  lõng bõng nước. Không nhớ khi trời nóng, ngần này người chui vào cái túi thế thì sao. Chỉ biết quang năm vẫn thế.
 Khách ngồi ràn rạt kín ra đến bậc cửa. Đủ cách đủ kiểu người ăn cơm hàng. Có người trả tháng trả tuần theo ky lương. Có người buông bát đứng dậy, cầm dọc hai chiếc đũa chùi lên mép rồi móc ví lấy tiền trả rồi tất tả bước đi. Bà chủ hàng cơm sinh nghi, nhìn theo và xỉa tiền đếm lại. Cũng phải cẩn thận thế thật. Lúc đông khách thật khó. Có người ăn, rồi bảo không gọi món ấy. Có người ngồi nghê nga xỉa răng, rồi thoắt cái lỉnh đi lúc nào. Lại có người chén hết hai bát cơm úp xong bảo không có tiền, cứ ơ ra. Cái lúc bối rối đông khách thế, không tĩnh tâm, không khéo mất tiệt.
 Ông thợ chữ nhà in mặt béo bệu đỏ phính, đội chiếc mũ dạ thủng một lỗ. Hôm nào cũng vào treo mũ lên đúng chiếc đinh ấy ở cột trong. Ông chỉ ăn cơm với dưa và chan nước dưa, hôm nào cũng thế. Chẳng lạ, nỗi đồng lương ít ỏi, ai cũng vừa ăn như vừa đếm tiền túi. Cái điều tôi nhớ là mỗi khi ông ấy trêu bà Hai. Chốc chốc lại cất giọng lè nhè. Bà hai ơi...bà...hai...nhà tôi...ởi. Cả gian nhà cười lung lay, vách cũng răng rắc như nổ đố. Bà Hai đỏ lựng mặt, chu chéo : Phải gió cái nhà ông này! Nhưng bà không giãy nảy ra, mà vẫn te tái bưng cơm. Lại nghe the thé cái giọng ông thợ chữ : thêm tý nước dưa, con gái nào! Nhưng bà Hai đã quát con gái đi làm việc khác. Nhà anh kia ! Tính tiền à...Ấy ấy...ba xu rưỡi...à hai xu...Bởi vì nước dưa ông thợ chữ chỉ xin thêm, không tính tiền.
 Mấy đứa chúng tôi ở làng xa ra học ngoài phố, buổi trưa phải ở lại. Khi ăn cơm nắm. Khi ra hàng bà Hai. Mùa hè ăn cơm nắm. Đến mùa đông, u tôi cho tiền ăn cơm hàng, được cơm sốt. Mỗi bữa độ xu rưỡi, hai xu. Nhưng dẫu có hôm u tôi cho hai xu, tôi cũng chỉ chén một xu rưỡi. Ông thợ chữ nhà in ấy ăn khỏe ăn nhiều những hai bát cơm úp, một đĩa dưa và nước dưa, cũng chỉ hết hai xu rưỡi.
 Chúng tôi thường đến sớm, trước khi nhà máy điện còi ủ. Cho bà Hai khỏi vướng chân trẻ con lúc đông hàng. Câu chuyện cơm đầu ghế tưởng chẳng có gì đáng nói nữa, nếu không nhớ lại bát cơm nóng những ngày đông tháng giá và một câu chuyện buồn.
 Mỗi phiên chợ giấy, u tôi lại đưa tiền trả bà Hai một thể. Cũng chẳng bao giờ quá một hào. Bỗng một lần tôi nghĩ ra được một mẹo. Không nhớ tại sao tôi nghĩ được cái mẹo ấy. Tuần này cứ tiêu tiền, tuần sau hãy trả. Như thế cũng chỉ xê xích vài hôm. Mà vẫn là trả bà Hai tiền cơm sòng phẳng, đều đặn.
 Cũng chẳng tiêu pha gì đâu. Ăn quà, chuyện xa lạ, còn lâu! Nhưng mà tôi không thể đừng đọc truyện. Mỗi hôm đi học sớm hay đến giờ ra chơi, thấy đứa nào cầm quyển truyện đọc, tôi xán đến. Có khi đứng bên cạnh, ghé mắt một mảy. Phải thằng đọc háu, lật trang phăng phăng. Đành chịu, nhưng mà đọc như thế cũng được vô khối chuyện.
 Từ hôm nghĩ ra cách trùng trình trả tiền cơm bà Hai, tôi có tiền đi mua sách. Có quyển sách của mình mà đọc, còn gì bằng. Càn Long du Giang Nam, Thất kiếm thập tam hiệp...mỗi số hai xu ba xu mà dài quá, có đến mấy chục số tôi không mua. Tôi mua Bông hoa rừng của Trường Xuân, chỉ hơn chục số trọn bộ. Quyển này tôi thích hơn truyện Mắt thần Lệ Hằng phục thù...
 Nhưng ngoài hiệu nhiều sách hấp dẫn thế, tôi cũng chỉ dám trả chậm vài ngày tiền cơm của bà Hai. Không dám để quá hơn.
 Chẳng may, có một việc, không hiểu sao, tôi biết mà tôi lại không tính đến. Mê truyện đến mụ mẫm mất rồi. Mỗi năm, tôi chỉ được ăn cơm hàng vào mùa đông, còn mùa nắng thì cơm nắm ở nhà mang đi. Ve sầu đã kêu ra rả trên cây me tây dọc đường Cổ Ngư. Lại vào hè rồi. Cái cặp tôi phồng lên, nắm cơm. Mặt cặp về vện thâm từng đám vết nước cà muối, cua mặn.
 Tôi cứ tưởng như thình lình chợt đến cái hôm ăn cơm nắm mà tôi chẳng biết trước. Chẳng biết làm thế nào, tôi quanh quẩn ngoài bãi trên bờ sông. Không lên hàng bà Hai. Cũng không dám lảng vảng thò mặt đến đầu đường xuống Ngũ Xã. May quá, xế trưa trở về Thụy, mẹ con bà Hai về đằng đường Quan Thánh, không đi qua đây. Tôi còn thiếu của bà Hai một hào ba tiền cơm.
 Có đến một tháng đã qua...
 Rồi chẳng biết thằng độc ác nào đã mách nhà tôi cho bà Hai biết. Một hôm chủ nhật, tôi đang ngồi trong xó cột nghiền Tái sinh duyên hay Tục tái sinh duyên chi đó. Đương mê, chợt ngẩng lên thấy bóng bà Hai đội cái nón kinh bước vào qua cổng.
 Tôi đứng lên, ngây mặt ra.
 Bà Hai hỏi tôi :
 - Cậu Sen đấy à? Có ai nhà không?
 U tôi mời bà Hai vào nhà. Bấy giờ u tôi mới biết mặt bà Hai hàng cơm tôi vẫn ăn mọi khi. Bà Hai đon đả cười nói, nhưng chắc là u tôi đương đoán ra thế nào rồi. Tôi định lảng chân ra ngõ. U tôi lừ mắt, trỏ tay xuống bếp. Tôi lủi thủi vào đấy.
 Lát sau, u tôi tiễn bà Hai ra.
 Tôi còn nghe tiếng u tôi :
 - Cháu làm bà mất công lên tận đây, thật không phải.
 - Thôi bà cũng đừng mắng mỏ cậu ấy, trẻ người non dạ mà.
 Bà Hai đi khỏi đã lâu rồi. U tôi lặng lẽ xuống bếp. Tôi tưởng u tôi cầm sẵn cái "que đò", tôi sắp được ăn mấy chục cái quật vào lưng như mọi lần. Nhưng không. U tôi chỉ hỏi khe khẽ :
 - Mày có biết thương u không ?
 Rồi u tôi ứa nước mắt. Bỗng nhiên, tôi không sợ đòn như mọi khi nữa. Tôi vừa mủi lòng, lại vừa cảm thấy tôi đã lớn rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
                                                                                   16. SÁNG NGOẠI Ô
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó kìa sông đãi bìa
Kìa giếng Yên Thái như kia
Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh
Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh
Người đi kẻ lại như tranh họa đồ
Cổng chợ có miếu thờ vua
Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên
Chùa Thiên Nhiên có cây vọng cách
Chùa bà Sách có cây đa lông
Cổng làng Đông có cây khế ngọt
Gái kẻ Cót buôn dăm buôn xề
Trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa
An Phú nấu kẹo mạch nha ngọt lừ
Lànmg Vòng làm cốm để mà tiến vua
Họ Lại làm giấy sắc vua
Làng Láng mở hội kéo cờ hùng ghê
       (Ca dao vùng Bưởi)
 Cái xóm nách đình này rộn rịch từ gà gáy.
 Con lợn bị chọc tiết kêu đinh tai cả một tiếng đồng hồ rồi thở òng ọc. Ai cũng phải thức giấc rồi tỉnh hẳn, cho đến sáng bạch. Cái nhà chú Sồi giết lợn bán chợ ấy đã khua cả xóm dậy.
 Ngoài đường, người quảy đòn ống chạy huỳnh huỵch đổ nước vào tàu seo. Những đôi thùng đại mai ghép, tròn và lùn, sóng sánh nước. Mỗi chiếc tàu seo giấy phải hai người gánh nước từ gà gáy ngoài giếng thơi vào đổ đầy. Cũng bằng lúc còn tối đất, chú Sồi đã dậy chọc tiết lợn. Đám người gánh nước thuê cởi trần, mồ hôi nhễ nhại giữa trời rét căm căm. Cho tới tờ mờ sáng, dãy lều tàu dưới bóng hàng dừa bờ ao đã xâm xấp nước . Các nhà mới ra đổ cối lề, cối gió, mẻ nước mò vào tàu. Lúc ấy, những tay thợ kéo tàu cũng vừa đến.
 Mỗi tàu seo đôi seo ba phải hai người kéo tàu.Gío thổi buốt tê. Vẫn những người cởi trần, tay cầm chiếc đòn xeo, khoắng dài trong lòng tàu. Tiếng đánh nước xì xoẹt, xì xoẹt nhấp nhô, đều đều. Khắp nơi vang động tiếng kéo tàu đánh nước như thế cho đến rạng sáng. Mảng lề mảng dó tơi ra, quỵen đều vào nước gỗ mò láng khắp. Thế là được cái tàu cho chốc nữa các cô thợ vào seo.
 Cả xóm vang tiếng kéo tàu sôi nổi dần lên. Những người thợ giã gió từ các lều cối chày tay ở cuối làng bước ra, co ro mắt nhắm mắt mở trong chiếc áo tơi lá. Tiếng chày buông xịch xì tum...tumtừ gà gáy dến giờ đã được một cối dó. Lử lả, xã cánh, không cố hơn được nữa.
  Nhịp chày Yên Thái, mảnh gương Tây hồ...
 Cũng trông một quang cảnh cực nhọc ấy, nhưng nhà thơ thao thức trong đem trăng hồ Tây nghe phảng phất tiếng giã gió lan trên mặt nước lồng lộng. Mà đây là nhịp chày giã gió làng Hồ. Ở hồ Tây không nghe dược tiếng giã gió tận trong Yên Thái.
 Dãy cối giã dó chày tay tựa vào mép nước hồ, sau lưng nhà cụ Lý Văn Phức ở xóm Đông Lân làng Hồ. Xịch xì tum...những tiếng chày buông tum tum nặng nề, khắc khoải thâu đêm vang ra mặt nước. Nggười làm nghề giấy nhớ đêm giã dó khó nhọc cho tới sáng mới được một mẻ bột rẻo mịn như đất thó đùn lên tròn quanh vành cối, rồi đem quang sọt quảy về đãi bìa. Qũang sông Tô Lịch qua làng Hồ, làng Đông, làng Thọ có những bến nước dậm bìa, đãi bìa nước trông quang đãng. Trời đã sáng hẳn. Bóng cây nhãn lồng cống Đõ lá xanh đen ngã vờn bóng nước. Nước sông buốt thon thót, lô xô người lội ra đãi bìa.
 Bác thợ đãi bìa thả cái rá đại xuống. Con bìa dó nở ra trắng ngà. Chân tay rún đều một dáng khoan thai như múa, người đãi bìa chốc chốc lại vờn tay thục quanh cạp rá, lùa những sợi dó tơi xuống. Bóng người bến nước lung linh, nhẹ nhàng mà rét như cắt ruột.
 Ai ơi đứng lại mà trông
 Kìa vạc nấu dó kìa sông đãi bìa
 Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh...Đến thời Tây không còn điếm cầm canh nữa. Ởđầu chợ, cái đồn lính khố xanh rộng sang đến nửa vườn Bàng. Sở cẩm hàng Trống, hàng Đậu rồi đến bót cút lít(1) Qúan Thánh, lên đến đây đã là ngoại ô hết phố xá, không có đội xếp mà lính khố xanh canh gác. Cái đồn khố xanh bề thế choán hẳn một góc đường. Người lính khố xanh canh cổng hay đứng trên lô cốt, ống chân quấn xà cạp, đi đất, đội nón, như quân tốt hỉn trong cỗ bài tam cúc. Người ta cũng gọi đùa là anh tốt hỉn. Lão giám binh Tây râu xồm, đội mũ đít vịt vải vàng đứng nhau nháu ngoài cổng đồn từ lúc bảnh mắt. Tay lão cầm cái roi cặc bò, trố mắt nhìn người qua lại.
 Đêm đảo chính tháng ba 1945, chỗ ấy có một vũng máu. Người ta đồn là máu lão râu xồm Tây bị Nhật lôi ra cắt tiết ở đấy.
 Trận ngã ba đầu Thành, đầu làng , đầu chợ tấp nập từ tờ mờ đất. Bóng người loáng thoáng trong sương mù. Bên kia bãi tha ma, những ụ vạc nấu dó làng Yên Thái, làng Hồ mỏm vôi trắng lẫn khói trắng trong vạc tuôn ra. Bọn con gái và các bà đi đón buổi seo đã đứng từng đám trước cổng làng Thọ, làng Đông. Mỗi sáng, thợ seo tụ tập đến hóng việc ở đấy, như cái chợ người. Những nhà khá giả, năm ba tàu, mượn thợ đặt cọc seo năm. Nhưng có thợ mướn, có cả chủ mướn. Đấy là các nhà mỏng vốn đi thuê tàu. Cả tháng chỉ được vài ngày việc. Nhiều nhà thế. Sớm sớm, càng nhiều người đi đón neo, đón can, người đứng đợi người thuê làm bìa, bóc uốn.
 Cứ lóng ngóng cả đám đấy, gió rét như vun người thắt lại. Cái áo đổi vai mong manh, gió lùa buốt tái mặt. Người mướn thợ ra đặt cưowjc vào lòng bàn btay  nửa xu, một xu, hẹn chốc nữa vào tàu. Ngoài bờ sông đã im từ lâu tiếng kéo tàu xì xoẹt. Chẳng mấy người ra hỏi thuê  người seo can. Đã nhỡ buổi, vậy là ế. Trời lạnh mà cởi cái áo vắt lên vai ra về. Bụng dạ rối tơ vò. Hãy biết hôm nay đói rồi.
 Ngoài đường ùn ùn người. Các làng trong Noi gánh cẳng ngô ra, đi một dãy. Cái bồi, mỗi hôm có giấy can, nuốt đến vài gánh cẳng ngô, gánh rơm. Các vùng bên Hối, bên Bỏi sang mua tro. Trên Cáo xuống bán rá đãi bìa, liềm seo một seo đôi, cái thép cẳng lá thông để bồi giấy can, phèn giấy. Tiếng rao cất lên ười ượi, vào tận các ngõ.
 Ở đâu nhô ra một cái cáng tre, chiếu đắp kín đầu đuôi. Người ốm phù nề, bại liệt, người đẻ rơi hay người bị chó dại cắn đang lên cơn. Mùa đông hanh hao cũng là mùa chó lú. Cái cáng hai người khiêng đi đâu. Phải ra tận Phủ Doãn mới có nhà thương thí.
 Người đi làm sớm đổ vào trong phố đã ngổn ngang trên bến tàu điện. Thật ra, chỉ có những hôm chợ tơ ngoài hàng Gai, hàng Đào mới đông người đi tàu. Phiên tơ, dãy lụa đeo cao ngang đầu, người ngồi chật hai bên hàng tàu. Những người ngày ngày đi làm thì chẳng mấy ai biết bước chân lên cái tàu điện. Các nhà thợ may trong Noi lũ lượt gánh hàng thầu nhà binh ra cầu Gíây. Người phu hồ, bắt tê, kéo xe, cả đời đi đất cuốc bộ. Đi về đường trên hay đường dưới, người ta rảo cẳng một lúc, chẳng thua cái tàu điện leng keng mấy bước.
 Bến đã vắng tanh. Các cô thợ bên bờ sông đã vào seo. Tiếng nước rỉ róc rách. Cái liềm cất lên, mấy tờ lót uốn thoáng như nước sóng sánh. Hai cườm tay tỳ vào thành tàu gỗ ván thôi. Chưa ngâm mấy, mới sáng ra mà chai tay các cô đã xám như miếng thịt trâu ôi. Các cô gái Bưởi đẹp nõn, nhưng nhìn hai cườm tay thì phải ngoảnh mặt đi.
 Những làng tơ cửi dưới Nghĩa Đô, buổi sáng lặng lẽ hơn làng trên làm giấy. Mặc dầu trong các nhà đều biết ngày phiên, thợ vào khung cửi từ lúc sao mai còn lóng lánh. Sớm hơn cả chú Sồi xóm ao đình dậy mổ lợn. Tiếng thoi đều đều. Làm rốn cuốn cửi nữa rồi mới đổ hàng. Cho đi chợ thêm được vài thước lụa.
 Ông hương Cam bố thằng Bách đeo đãy hàng đứng ngõ. Đường xóm lạnh ngắt. Chỉ có mấy con chó chạy dông. Ông hương Cam bước ra. Nhưng lại thụt ngay vào cổng. Thoáng có gánh trầu chị hai Bủng lên chợ. Ngày phiên ra ngõ gặp gái, không xong. Ông hương lại đứng đợi. Nhưng sốt ruột. Đằng nào cũng áy náy. Bởi nhỡ chuyến tàu điện, chậm mất buổi chợ cũng chẳng nên, nhưng vẫn không dám bước ra.
 Đường xóm lại vắng. Ông hương đeo đãy hàng, liều bước. Đến ngã ba xóm Trẽ, gặp lão năm Nhân lảo đảo tới. Sáng sớm mà đã say rồi. Làng này còn nhiều người say. Cụ xã Kín, rượu vào, cái đầu trọc đỏ hắt, nói như hét. Ông trưởng Bưởi bệnh sa đì, cái bị dái trễ xuống to bằng quả gấc, kéo vó được đồng nào, vào cái cút cả. Mấy ông mãn lính về, ai cũng rượu. Hôm vừa rồi, trong phủ gọi lính bị ban, nhiều người đi bớt rồi đấy. Không có thì cứ buổi chiều, một lũ người say múa chân múa tay ngoài đường. Bây giờ chỉ còn mỗi lão năm Nhân. Lão buồn. Lão có mỗi người con. Anh Tặng đẫ bỏ nhà đi tha phương cầu thực rồi. Lão chỉ còn biết có chén rượu làm khuây. Cái lão phải gió này say sớm thế. Hôm nào cũng thế, đến chạng vạng tối, ông năm Nhân còn bè nhè làm trò vui cho trẻ con trong xóm. Lại giang tay quay quay, mặt đỏ phừng phừng.
 Ông hương Cam chặc lưỡi : lão say, nhưng lão là đàn ông. Khỏi phải đốt vía. Ông hương Cam đeo đãy hàng, rảo bước lên bến tàu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-08 21:19:25Dreamline>


17.KHỔNG VĂN CU

Tục lệ xưa, mỗi làng có một người mõ.
Nhưng làm mõ, người ta nói cũng có lắm cách đi làm mõ. Vì làng ấy, họ ấy có hèm, phải có người đi làm đấy tớ thiên hạ thì làng nước, họ mạc mới mở mày mở mặt được. Ở mấy làng gần chùa Hương, nhiều người đi các nơi làm mõ. Các cụ nói thời trước, nhà bà đĩ Niêm ở Yên Thái, khi các cụ mới bỏ quê chùa Hương ra, cũng là ra làm mõ. Thế mà rồi đến con cháu giàu kếch xù, buôn gió, bán lụa, có cửa hiệu to ở Hà Nội, ở Sài Gòn. Bao người làng phải đi lại, vay mượn, quỵ lụy. Nhiều bà con vùng ấy cũng ra làm ăn ở chốn đất lành chim đậu. Đôi khi, còn người gọi xếch mé là nhà đĩ Niêm hay Bơ mõ, Niêm mõ. Nhưng chỉ dám nói sau lэng vậy thôi.
Vẫn biết thế, nhưng có điều chẳng ai mang của đi làm mõ bao giờ. Chỉ thấy người nghèo làm cái nghề đầy tớ này rồi có người trở nên khá giả.
Tôi chỉ biết có hai đời mõ làng tôi, rồi đến cách mạng. Làng tôi gọi anh mõ là cu Nhớn, hay anh Tư Mít - có lẽ để tránh tiếng mõ xấu xí. Nhà anh Tư Mít ở túp lều cạnh cái cầu để đòn đám ma đầu làng. Ngày xưa, người ta kiêng ở đầu làng. Chỉ có người tha hương đến hầu hạ làng chạ. người ngụ cư lép vế các cụ cho ở đâu ở đấy mới chịu cái nơi ăn chốn ở chơ vơ đầu làng đầu chợ như thế. Túp lều nhà Tư Mít tường đất lợp rạ tối om om. Vợ anh lúc naào cũng bủng beo, xanh rớt, tùm hụp khăn vuông vải thâm như người ngã nước kinh niên. Thỉnh thỏang, sáng sớm, thấy ra bến ao làng giặt cái váy nâu tã. Cứ cầm chiếc dùi gỗ đập đồm độp. Ai trông thấy cũng phải buồn cười bảo phong tục ở dưới Nam, thùng nước cũng đội lên đầu mà giặt giũ thì ngэời ta đập đến rách cả áo. Vùng tôi giặt giũ chỉ vò vỗ bằng tay, khác kiểu thế.
Một ngày kia, có đứa nào thì thào :
- Vợ nhà Tư Mít chết rồi.
Trẻ con ngơ ngác ra xem. Cái thằng đi cùng trỏ trỏ. Tôi bám cánh tay nó, bước bấm chân. Không ngờ lại trông thấy người chết ngay tức khắc. Một cái chiếu bó, buộc dây chuối, đặt ngay dưới đất trong nhà cầu cạnh chân cái long đình gỗ mộc, bộ đồ đòn đám ma của làng. Đầu chị Tư Mít vẫn đội chiếc khăn vuông vải thâm bạc mọi khi. Hai bàn chân người chết phù to, trông rõ mảng gót nhợt nhạt, lỗ chỗ nẻ miếng. Một đứa hỏang quá, chạy. Thế là cả lũ tán lọan. Rồi có đến rất lâu, tôi không dám đi qua chỗ ấy đằng cổng làng.
Được ít lâu, anh Tư Mít bỏ đi đâu. Chẳng nhớ mấy năm sau, làng lại có một anh mõ khác. Anh này còn trẻ, cao lớn, da bánh mật, lực lưỡng ngực nở có bắp. Ngэời lực điền thế mà lại đi làm mõ! Gian nhà vách nứa, lợp lá cẩn thận, bên kia cầu sông Tô Lịch bắc sang bãi. Anh mõ này chưa có vợ. Lúc nào cũng thấy bố anh đứng dưới giọt gianh nhìn ra. Ông lão cởi trần mặc cái quần nhuộm cậy đỏ hây. Rõ ngэời vùng đồng chiêm. Khỏe mạnh, quắc thước. Càng không hiểu sao bố con nhà ấy tươm tất thế mà lại đi làm mõ. Cái bí mật khó hiểu ấy về nhà anh mõ cứ luẩn quẩn. Tôi cứ ngỡ người đi làm mõ phải gầy ốm, sắp chết đói, như cái vợ chồng anh Tư Mít năm trước.
Các ông chức việc trong làng, ông chánh Thả, ông ký Lê, ông quỹ Chắt hay ông lý Sùng gọi anh mõ ấy là thằng Mới. Ngэời làng cũng gọi là anh cu Mới.
Những kỳ sóc vọng trong tháng, anh Mới đội mâm xôi con gà vào đình, ông từ vừa mở cửa. Khi lên quán, sang văn chỉ, vào đền. Tay anh Mới còn xách theo mảnh thớt, con dao, lá chuối và cái cút rượu đem đựng nước mắm. Tiếng chặt thịt gà cốp cốp. Chẳng biết chặt có khéo không, nhưng nghe rõ gọn, rõ ròn.
Đôi lúc, anh bước nhanh nhanh, mặc cái áo nâu vải ta. Chắc có việc các cụ sai.
- Cốc cốc cốc... Chiềng làng chiềng xóm... Sáng mai có quan phủ về hiểu dụ... Các đinh mэời tám tuổi trở lên ra đình nghe quan hiểu dụ... Cốc cốc cốc. Chiềng làng chiềng xóm. Các ông trэхng phiên, khán thủ lấy cho đủ số đinh đi đê đêm nay ra túc trực ngòai điếm... Chiềng làng chiềng xóm... Cốc cốc cốc...
Anh Mới hùynh hụych qua. Thoăn thoắt, rắn rỏi, đương trai thế mà đi gõ mõ rao chiềng làng chiềng chạ, kể cũng thế nào ấy. Có lẽ bởi vậy, chỉ nghe tiếng mõ anh Mới rao vào lúc nhọ mặt người. Người lắm điều, chép miệng : Làm mõ mà lại còn ngượng!
Dẫu sao, anh Mới vẫn gánh đủ phận sự người mõ. Nhà nào động mâm động bát, anh vào làm giúp. Gánh nước, bắt lợn. Chọc tiết con chó. Thui bò. Đánh tiết canh. Nhồi lòng. Nhưng đến bữa, anh giữ ý, không ngồi đóng cỗ cùng mọi người. Anh bưng cái mâm cỗ phần anh, trong đủ mỗi thứ một mảy. Thịt luộc, bát nước súyt nấu cần. Đĩa dưa, liễn cơm. Anh ra ngồi một mình ngòai đầu ngõ. cạn lối người ra vào. Có nhà có việc anh bận gì không vào làm giúp, nhưng đến bữa, anh Mới vẫn cứ đến đứng đầu ngõ. Nhà chủ trông thấy như đã biết lệ, bưng mâm ra. đôi khi có cả xó rượu. Nhà nào cũng thế. Ăn còn bao nhiêu cơm trút vào liễn canh mượn đem về, miếng thịt thì tước mảnh lá chuối ngòai vườn.
Anh Mới cũng đi làm mướn như nhiều người trai trẻ trong làng. Việc mõ chỉ được đôi khi la liếm kiếm miếng ngòai đình, trong nhà thế thôi. Cho nên, anh phải đi làm lấy cái ăn. Anh đã học được kéo tàu, đạp lề, mọi việc đàn ông trong nghề giấy. Anh làm quần quật. Anh quảy nước ăn, nước tàu seo. Mùng một tết. anh gánh cho mỗi nhà trong xóm một gánh nước, vừa bước vào cửa đã nói to :"Mừng nhà ta năm nay tiền của nhэ nước như non, bằng năm bằng mười năm ngóai". Đổ gánh nước vào chum, vào vại rồi ra nhà chủ đưa cho phong bao tiền mở hàng.
Anh Mới vừa vảy lên một cái mái ven đường bên này cầu, cạnh cửa "rừng ông Cụ". Đấy là ngôi hàng nước chè tươi của anh Mới. Bây giờ không còn ai ghê. không muốn gần gựa dây dưa với nhà mõ. Đủ mặt các cụ ngồi hàng nước nhà anh Mới. Hàng nước đầu làng, mọi chuyện gần xa đều ở đấy ra. Đêm trăng sáng mùa hạ, người ngồi tán đến khuya mới rã đám. Có người nợ mấy bát, mấy bát nước. Bố anh Mới phết vạch vôi đánh dấu lên lưng cái cột tre.
Dạo ấy, các hành lang đình, các cửa đền trong vùng đều mở lớp truyền bá quốc ngữ ban đêm. Lớp "truyền bá" làng tôi ở ngay đầu làng. Chỗ có cái cầu ngói để đòn đám ma, trông ra quán nước anh Mới.
Tôi rủ anh Mới đi học. Không biết anh ấy giữ ý tứ với người làng hay anh ngại :
_ Cậu cho cháu kiếu, cậu ạ.
Tôi kém tuổi anh Mới. Nhưng anh thưa gửi với tôi cứ thứ bậc như thế.
Nói thế nào, anh Mới cũng chẳng chuyển. Lớp "truyền bá" ngay trước ngôi hàng nước. Anh Mới cứ dửng dưng xem người ta học mỗi buổi tối.
Một hôm, anh Mới bảo tôi :
- Cậu cho cháu quyển sách i tờ.
- Đã bảo mà, phải đi học chứ !
- Cháu xin học lấy thôi.
Lại một hôm, thấy anh Mới ngồi, tay cầm quyển sách đọc ê a.
Tôi hỏi :
- Học ấy à?
Anh Mới đáp :
- Cháu xem truyện Kiều.
Thì ra, anh Mới chỉ ngồi trông vào lớp, nghe lỏm ngэời khác học. Mà cũng biết chữ!
Khởi nghĩa rồi, ngày nào chỗ nào cũng nhộn nhịp. Cả làng đổ ra xem bắt trói lý Đễ trước sân đình, cạnh đống giấy tờ, sổ sách tịch thu ở các nhà chức việc đem ra đấy đốt cháy đùng đùng. Ủy ban giải phóng của xã ghi tên anh Mới vào sổ công dân của làng.
Tôi hỏi :
- Tên anh là gì?
- Tên cháu là Cu.
- Tên thật khai sinh, ở sổ việc làng dэới quê, đầy đủ cả họ nữa.
- Thế thì tên cháu là Khổng Văn Cu.
- Thật không?
- Thật cháu là Khổng Văn Cu mà.
Cái tên họ lạ hoắc. Và chẳng ra làm sao ! Cùng họ với đức thánh Khổng Tử, lại tên là Cu !
 
Dạo ấy, có người đã xuống chơi làng anh Mới ở vùng chiêm Đồng Quan, Cống Thần trong Hà Đông. Ai về cũng bảo tên anh ấy thật là Cu, thật là Khổng Văn Cu. Biết đích rồi mà cứ ngờ ngợ, như người ta nói đùa.

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-02 19:02:38Dreamline>
18.truyền bá quốc ngữ vào vùng bưởi
                                                                      
Phong trào chống nạn mù chữ mở rộng ra các làng ngọai ô khỏang 1940.
Chúng tôi hưởng ứng nhanh chóng. Cũng không phải là ngẫu nhiên. Từ thời kỳ đầu mặt trận bình dân quãng 1937, hội ái hữu thợ dệt Hà Đông đã mở những lớp học chữ quốc ngữ ngay tại trụ sở ở cái nhầm trọ đó là nhà anh Oánh dưới cửa hàng cho thuê xe đạp bác cả Đúc trên dốc Thành. Tôi dạy các lớp đó cho tới khi ái hữu chuyển đi Tây Mỗ càn theo vào Vạn Phúc.
Vùng tôi khá đông thợ các nghề thủ công. Thợ cửi, thợ tơ dưới làng Nghè, làng Tân, bên Bái. Thợ seo, can trên Đông, Hồ, Yên Thái. Thêm những người làm mướn, quét chợ, quảy nước thuê, chăn bò, chăn dê. Người các làng cũng như người thiên hạ đến, chẳng mấy âi đã biết mặt chữ.
Phong trào Việt Minh cũng đương bồng bột phát triển. Từ các làng Dày, Kẻ, xuống qua Dàn, Cáo, vào trong Vòng, đây là khu vực cuối atk (an tòan khu) của trung ương và thành ủy  Hà Nội, cũng là đường bí mật  ngắn nhất của cách mạng vào thành phố. Từ bến xe điện cửa đình Thọ cho đến bờ hồ Gươm có hơn sáu cây số. Đội công tác bảo vệ atk chủ trương làm cho bề ngòai vùng atk êm ả như xưa nay bình thường thế. Nhưng các làng lân cận, trong Canh Diễn, hay ở Săn, ở Gạch, phiên chợ nào cũng có cán bộ về diễn thuyết kêu gọi theo Việt Minh đánh Pháp đuổi Nhật. Sau đảo chính Nhật, nhiều làng đã theo Việt Minh đi phá kho thóc của Pháp Nhật tích trữ.
Lúc ấy, nạn đói ghê gớm xảy ra.
Truyền bá Quốc ngữ đã họat động trong tình hình ấy.
Những lớp học buổi tối đầu tiên được mở ở trường làng Yên Thái. Hai bên nhà tả vu bên sân đình tối nào cũng đông người nhận sách bút đến ghi tên học. Cả người đứng tuổi và trẻ con, nhưng nhiều nhất là thanh niên. Thọat tiên, đèn dầu tây, đèn cây, đèn hoa kỳ, cái để đầu bàn, cái treo ba dây. Những đêm mùa hè khói tù mù khét lẹt, mồ hôi nhễ nhại, muỗi ở dòng nước sông Tô Lịch đọng thối đen ngòm bay à v à lên mặt cả thầy cả trò. Thế mà những cô thợ seo Cầu sau tối nào cũng chịu khó đến lớp, khi tan học mới vào tàu seo đèn đến quá nửa đêm.
Chúng tôi mở thêm lớp dưới đầu  làng Nghè. Chẳng bao lâu, các lớp học đã lan nhanh qua các cánh đồng vào các làng làm ruộng, trồng rau ở Cổ Nhuế, ở Xuân Tảo. Rồi đến Đức Diễn và Phú Diễn trên đường lên Sơn Tây.
Thư viện truyền bá quốc ngữ đã được lập ở Yên Thái cho những người thóat nạn mù chữ có sách báo đọc. Công việc mở mang thống nhất lại, gọi là miề Tây Hà - phía tây Hà Nội của truyền bá quốc ngữ.
Nhiều lọai họat động sôi nổi được tổ chức tuyên truyền cho truyền bá quốc ngữ ở Tây Hà. Đêm ca nhạc ở sân đình Yên Thái có nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc và ban nhạc dưới phố lên - nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc người còm nhỏm ôm cái đàn vi ô lông xen cao quá đầu. Rạp kịch được dựng giữa chợ diễn vở Tấm lòng vàng của Nguyễn Công Hoan, vở Cái tủ chè của Vũ Trọng Can. Tôi viết thư xin phép nhà văn Nguyễn Công Hoan, còn Vũ Trọng Can là người làng Thọ rồi. Chúng tôi đều lên sân khấu. Các anh Vũ Trọng Can, Lại Phú Cương với thầy giáo Thịnh trường Yên thái cũng đóng kịch. Thầy giáo Thịnh lại sắm vai thầy giáo trong Tấm lòng vàng. Vai nữ bấy giờ còn là chuyện khó và của hiếm. Nhưng cũng không phải đóng giả nữ như hồi mặt trận bình dân năm trước ở Nghĩa Đô kịch đòan, tôi đã phải đóng các vai giả nữ trong các vở Gái không chồng (Đòan Phú Tứ), Tòa án lương tâm (Vũ Đình Long) và Không một tiếng vanh (Vũ Trọng Phụng). Lần này, Vũ Trọng Can đã xuống phố nhờ cô Mỹ Ảnh đào tuồng Qủang Lạc lên giúp vai nữ, nữ thật. Không thể tưởng tượng được năm mươi năm trước, những chuyện ca hát và diễn kịch còn rất mới ở ngay ngọai ô thành phố. Sân khấu kịch nói đóng cọc lắp ván, chưa có micrô mà người xem im phăng phắc. Lạ, người ta rất  thích.
Nhưng vui nhất một ngày hội mừng Truyền bá Quốc ngữ miền Tây Hà tổ chức ở cánh bãi trước tam quan đền Sóc đầu làng Cáo. Cờ đuôi nheo phấp phới trống đánh suốt ngày. Kịch Táo quân diệt dốt, một vở kịch cương đã được ban khánh tiết của Hội đem về diễn, diễn đi diễn lại cả ngày với các trò nhộn. Tôi viết một bài ca dao dài cổ động đi học được in và phát trong ngày hội.
Nhiều người có tinh thần hăng hái ở các làng ra làm "truyền bá!". Vùng nghề thủ công ở Bưởi, các tiỉeu chủ, hoặc nhà buôn, các chức dịch, công chức và học sinh, như các anh Khôi, anh Oánh, anh em Quế Yên, Quế Thái, ở Yên Thế, anh Yến trong Sài, các anh Cương, anh Khóat trong Nghĩa Đô. Khi lớp học được mở vào đến các làng làm ruộng, nhiều người đương sự cũng tham gia, như anh Quyền ở Phú Diễn, anh Nhã ở Đức Diễn, anh Ngọc ở Xuân Tảo, anh Nhượng ở Cổ Nhuế...
Đến tổng khởi nghĩa, tất cả chúng tôi đều đã tham gia Việt Minh. Anh Nhã ra làm chủ tịch huyện Hòai Đức, thời kỳ đầu kháng chiến. Anh Ngọc, chủ tịch xã Xuân Tảo. Anh Khóat, xã Nghĩa Đô. Anh Quyền bị Pháp bắn chết trong một trận giặc càn vào Phú Diễn. Ai cũng đi kháng chiến, tới khi hòa bình lập lại mới trở về. Chỉ có anh Yến vào giải phóng quân rồi xung phong Nam tiến bị mất tin tức từ ngày ấy.
Họat động truyền bá quốc ngữ - chúng tôihiểu như một việc xã hội và nhân đạo mà mình tự nguyện tham gia, chứ không biết đất là một công tác công khai mà Đảng chủ trương. Họat động của các đòan thể cứu quốc trong mặt trận Việt Minh thì bí mật, chỉ đến sau này, khi cách mạng đã thành công, chúng tôi mới có dịp kể lại cho nhau biết việc mỗi người đã tham gia cách mạng theo mỗi đường dây như thế nào.
Các anh Khôi, anh Oánh mua tín phiếu Việt Minh hàng trăm đồng - một lọai công trái phát hành bí mật. Tôi đã tổ chức anh Khôi , anh Oánh, anh Nam Cao thành một tổ văn hóa cứu quốc. Nhiều cuộc họp tổ, tổ mở rộng của văn hóa cứu quốc ở nhà tôi, anh Khôi đã giúp gạo và thức ăn (cá khô). Anh Quế Thái, một giáo viên truyền bá chăm chi, cũng là chiến sỹ Việt Minh tích cực và can đảm. Anh đã dẫn đường và bảo vệ Thôi Hữu - lúc ấy, nhà thơ Thôi Hữu bí danh là Tấn, thành ủy viên phụ trách ngọai thành. Tấn đã bắn chết mật thám Cai Long người làng Yên Thái ở chỗ cổng Rong đường dưới, cạnh dốc Tam Đa bây giờ. Buổi tối, tôi đi dạy truyền bá, các anh Lê Quang Đạo, bí thư thànhh ủy, có khi anh Trần Độ, anh Trần Quốc Hương, cán bộ công tác đội và liên lạc trung ương về ở nhà đợi. Các anh Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Quốc Uy, Trần Huyền Trân, Như Phong ở ngòai thành phố về họp.
Tình hình trong làng và khắp nơi cực kỳ khẩn trương. Máy bay Mỹ ngày đêm đến ném bom Hà Nội. Cao xạ khói trắng của Pháp ở pháo đài Cáo, pháo đài Láng cùng súng Nhật nổ khói đen bắn lên máy bay Đồng Minh. Thực dân Pháp ở Đông Dương đã làm tôi tớ cho phát xít Nhật, mà sau này Pháp ra sức chối cãi, nhưng đấy là sự thực mà người Hà Nội đã cghứng kiến tận mắt. Vùng Bưởi hai lần bị ném bom rải thảm. Hôm ấy chủ nhật Quần Ngựa có đua ngựa, bom Mỹ ném xuống Quần Ngựa và Cống Đõ, vạc làng Hồ, cháy cả xóm, chết nhiều người. Gĩưa cuộc sống quằn quại, nạn đói khủng khiếp ập đến, chết vãn cả người. Các buổi học vãn hẳn. Khi vào lớp, tôi hỏi người vắng mặt thì cái anh vẫn ngồi cạnh thản nhiên nói nó ốm đói rồi. Ngay cả trong chúng tôi, nhiều người cũng bị đứt bữa. Anh Hai Bủng họat động hồi bình dân đã chết đói.
Sau đảo chính Nhật, Tổng hội cứu tế do cụ Ngô Tử Hạ, một chủ nhà in lớn và một số nhà giàu lập ra. Cứu tế cũng chỉ kéo dài cái thoi thóp. Mà cũng chẳng có gì. Mỗi buổi sáng, có người vác đến cửa đền xóm tôi một bó sắn trựa. Sắn để cả vỏ, bỏ vào nồi ba mươi đầy nước. Người đói ngồi la liệt xung quanh đợi phát chẩn cháo sắn. Con nhà dì tôi, thằng Vinh bưng về một bát nước sắn xám ngóet.
Đêm dảo chính Nhật, chúng tôi đang tập kịch, kịch diễn giúp quỹ truyêgn bá miền Tây Hà. Có Nam Cao với các anh Khóat, anh Cương. Nam Cao đương ôn lại bài nói với khán giả trước khi mở màn. Khỏang tám giờ tối, nghe phía thành phố ầm ầm tiếng súng lớn rồi dồn dập nổ ran ra đằng đồng Cáo.
Tôi không nhớ được đến buổi tối nào thì các lớp truyền bá không còn học trò nữa. Vì đói, người ta không đến được, vì tình hình khẩn trương, không ai ngồi yên. Nhưng tôi có cảm tưởng và hình dung ra cả người sống người chết ào ào như thác vượt những khủng khiếp, quyết liệt cuốn vào Tổng khởi nghĩa. Cả vùng tôi đã có mặt trong cuộc tuần hành võ trang ngày 19 tháng tám 1945 trước phủ Bắc Bộ và trại lính Bảo An.
Tôi dạy các lớp truyền bá từ khi mở đầu, cho đến ngày cuối cùng, khi ở trường làng Nghè, khi trên đình Yên Thái. Ngày ấy, tôi viết truyện "Thằng Nhó", kể chuyện một chú bé đi ở chăn bò mà chăm học và một truyện "Dấy binh lấy lau làm cờ" một câu trong bài hát quen thuộc của thầy trò truyền bá, miêu tả quang cảnh một buổi học tối, nhưng thực lại mang ngụ ý khác trong tên truyện "Dấy binh lấy lau làm cờ".
Đăng nhập để trả lời
0
                                            19.thịt chó chui

Ở Sài Gòn bây giờ, chỉ một quãng phố đã gặp quán thịt chó. Với những cái tên khêu gợi "Thịt chó bảy món", "Chả chó Hà Nội", "Cày tơ". Vừa ru rê lại đùa đùa, thì có hàng chữ "Thịt chó nhậu lai rai". Có nơi viết lái chữ tên hiệu :"Qúan hạ cờ tây". Nghĩa là "Qúan hạ cầy tơ", và quán "Mộc tồn". Học đòi vằn vèo lối Trạng Qùynh : mộc là cây, ttồn là còn, cây còn là con cầy. Nhưng chỉ có thể ở Sài Gòn mới có những tên phố nhố nhăng tỉnh bơ thế.
 Phố xá lọan các bảng quán thịt chó của dân nhậu tưng bừng bốn bề. Ngày trước đừng hòng ở Sài Gòn lại được chén thịt chó thỏai mái.
 Ở Hà Nội, khỏi nói, thịt cầy ê hề các chợ. Người ta còn gọi đẹp đẽ là thịt hươu thềm - con hươu nuôi trước thềm nhà. Các hiệu thịt chó hàng Đồng, Tám Mái, chợ Mơ. Cái thang ọp ẹp, chèo dựng đứng lên gác thượng lương, chen chúc ngồi nhấm nháp trong khói um thơm mà thú vị đáo để. Cái lạ là vùng nào cũng khoe chỉ thịt chó nơi mình nhất thiên hạ. Ở Đông Anh, Đông Lỗ các món luộc đều bỏ vào nồi ba mươi hầm cách thủy. Canh, Diễn thì tự hào về thịt chó mộc, lấy miếng thịt luộc ngon làm đầu. Đất Kẻ Chợ hoa hòe hoa sói, chả chó nhuộm nước hòe hoa bóng như sơn dầu, lại phi hành thơm điếc mũi. Khách sành ăn vẫn cho là chẳng đấu được với thịt chó mộc thật hạt trâu vàng. Bởi vậy, xem ra ở Hà Nội, hầu như các quán thịt cầy đều người làng Canh kéo ra. Các làng Canh nổi tiếng : cam Canh, cải Canh, tỳ bà (quả bòng) ở Canh đều nhon và đẹp, chó đen chợ Canh được tiếng ngon thịt.
 Nhưng ở Sài Gòn thời ấy không có quán thịt chó. Không ai ăn thịt chó. Không được ăn thịt chó. Đốc lý Pháp đặt ra luật lệ : ăn thịt chó là phạm vào phong tục riêng của xứ Nam Kỳ thuộc Pháp. Các thầy cút - lít bắt được người thịt chó thì phạt tiền. Còn có thể ngồi nhà pha. Vì đụng vào lễ giáo đất thuộc địa Pháp.
 Bà con ngoài Bắc vào trong ấy làm ăn thèm thịt chó lạ lùng. Trò đời của cấm lại càng thèm là thói đời người ta. Nhất là dân bồi bếp, thợ giầy, thợ may, thợ mũ quê Bắc vốn thích loại thức ăn "quốc túy" này. Ăn chơi thôi, nhưng mê. Cấm kỵ lại như bị kích thích cho ao ước hơn. Oái oăm thế.
 Người ta tìm cách vụng trộm. Kể lại chuyện một đám ăn thịt vụng giữa Sài Gòn năm ấy. Coi như câu chuyện cũ Hà Nội xảy ra ở Sài Gòn. Mấy ông lai rai bây giờ nghe chơi.
 Các cô  Tạ, cô Tây, cô Hòa bạn chúng tôi ở Vinh chuyên buôn lậu. Xe lửa vào Nam ra Bắc như cái nhà lưu động của các cô. Các cô thuê nhà chứa hàng bên Thị Nghè. Có lẽ cao su, kếp, có lẽ thuốc phiện. Cũng không ai muốn nói và tôi không bao giờ dám hỏi. Chỉ tưởng các cô buôn bán kiểu ấy thì kiêng khem nhiều. Nhưng các cô khoái thịt chó tợn. Các cô chỉ tránh ăn thịt chó hôm ra tàu. Kể cả cô Tây đồng bóng, ngày thường cũng chén mạnh. Hôm nào tìm được cái rượu đế chính cống Hóc Môn thì phải biết, thế nào cũng tầm tã kỳ được thịt chó.
 Một hôm, cô Hòa bên Thị Nghè sang sớm. Cô đeo cái đẫy to. Như mọi khi mang hàng đi đâu.
Chúng tôi ngụ trong một ngõ hẻm đường Ga - li - ê - ni (Trần Hưng Đạo bây giờ) sau rạp Nguyễn Văn Hảo. Chúng tôi là ba người. Chủ gian buồng, một anh thợ máy nhà dây thép. Anh ốm một trận dài quá hạn nghỉ, chủ sở đuổi. chưa tìm được việc nơi khác. Một anh làm công nhật cho một chủ xưởng củi của Tây tận bên Bến Cát. Nhưng có việc về dưới này luôn. Còn tôi, lang thang. Ở nhờ đay và nhiều khi ở cái "kho" của mấy cô bên Thị Nghè - tức là tối đâu ngủ đấy.
 Cô Hòa hạ cái đẫy xuống. Cô cởi nút miệng đẫy, nhấc ra mấy chồng bát Biên Hòa. Bát để che mắt, nếu bị khám. Ở dưới, là một con chó vện nhỡ. Con chó đã bị dìm nước chết, lông ướt bê bết ra cả tờ giấy dầu bọc. Có lẽ, các cô mới bắt nó trẫm mình từ lúc sáng sớm. Như thế, không phải đập, không phải cắt tiết. Chó sặc nước không kêu được, không lộ. Mà dìm chết rồi mới làm lông cũng là một cách làm thịt chó. Chó bị hãm tiết, thịt xám, nhưng thịt đậm. Vùng tôi, làm thịt chó cũng hay thít thòng lọng dìm chó xuống ao.
 Chúng tôi hoa tay múa chân, nhảy chồm xuống giường. Nhưng không dám reo tiếng nào. Rồi ra đóng cửa lại. Cứ kể, cũng cẩn thận thôi, chúng tôi đã ngả chó chén ở nhà này nhiều lần. Nếu không có láng giềng thù hằn, rình mò đi báo cò bót, chắc không ai có thể biết. Chúng tôi chẳng va chạm với ai trong ngõ. Thường anh nào cũng đi biền biệt cả ngày. Mà cũng không có hàng xóm. Một phía bãi cỏ, phía tường cao. Trước mặt bên kia có lẽ là cái chuồng xí nhà người ta. Nhà chúng tôi chỉ ở một gian con con. Có thể trước kia đây là kho chứa hàng. Ngoài đầu ngõ, cái trường học gần các rạp ở Thành Xương đã thành trại lính, có bọn lính Ấn Độ đứng canh, tay cầm chiếc côn gỗ. Làm sao chúng có thể đánh hơi thịt chó được ! Chỉ cần giữ gìn một tý khi làm rựa mận. Phải nấu vào buổi sáng hay xế trưa, lúc người ta đi làm cả. Mùi rựa mận thơm nồng nàn quá mà.
 Đã trữ sẵn lọ mẻ, các cô lại đem được riềng ở ngoài Bắc vào.
 Chúng tôi lặng lẽ, xúm xít, lúi húi làm. Cô Hòa thì đeo cái đẫy ra chợ Bến Thành mua bún và mắm tôm chanh, các thứ rau thơm. Đến trưa, bọn cô Tây mới kéo đến.
 Chúng tôi thích ăn, ăn chơi, ăn thô cũng chẳng ai biết pha phách nhiêu khê, cầu kỳ ra sao. Vả chăng, thiếu lá húng quế. Ngày ấy, húng quế chưa thấy mấy ở các hàng rau khác hẳn bây giờ. Mùi chanh trong Nam lạ vị, lại thiếu mắm tôm Bắc. Nhưng mà cứ chén ào ào.
 Bao nhiêu xương và lông chó. rác rưởi quét lại, vơ kỹ vào bọc giấy báo. Đến chiều, cả bọn kéo nhau đi ăn kem nhà hàng Thanh Thế, cạnh chợ Bến Thành. Vùng phố này mới bị máy bay Mỹ ném bom. Vỉa hè, mặt đường còn ụ lên từng đống tường đổ. Nhưng người qua lại vẫn đông nghìn nghịt.
 Cô Hòa lặng lẽ buông gói xương chó xuống chỗ miệng cống khuất người ở ngoài rạp Thành Xương. Bọn lính bù nhìn Ấn Độ, Cao Ly vẫn đứng yên, trân trân nhìn ra. Mấy con chó hoang bên bãi cỏ đổ xô đến, đánh mũi vào.  
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-10 17:38:10Dreamline>
20 – Thẻ thân


Thế đò thuế chợ thuế xia
Bây giờ Tây bắt đóng thì thuế đinh
(Ca dao vùng Hà Nội)
Ở thành phố, mỗi nhà mỗi người phải đóng nhiều thứ thuế và nhiều cái thuế phải trả tiền hàng tháng, hàng buổi. Nhà bà cụ hàng Mã tối ngày kêu ôi ối, ối giời ôi thuế, ối giờ ôi thuế. Thuế nhà đất và tiền điện, nước hàng tháng, thuế đổ thùng xia, thuế môn bài cửa hàng, thuế hàng năm, hàng ngày, hàng chuyến, thuế nuôi chó, thuế xe đạp, xe kéo, xe bò, thuế người.
Người cũng phải đóng thuế như mọi thứ hàng hóa, đồ đạc và đất cát. Thuế một xuất sưu, một cái thẻ thuế thân. Trai mười tám tuổi trở lên, mỗi năm phải đóng thuế thân. Cái thẻ thân hạng bét màu xanh bằng một miếng bìa ngang ba đốt ngón tay, dài một gang, trong ghi tên tuổi, quê quán, năm phát thẻ, những chỗ chỉ dẫn kều in kèm tiếng Tây. Lúc nào cũng phải gấp cái thẻ nhét hầu bao thắt lưng, giắt trong túi áo ngực. Cứ sau mùa thu thuế thân vào quãng tháng ba, tháng tư, đội xếp, sen đầm, khố xanh tuần đinh gác đầu ô, đầu làng, đầu phố quây người lại, hỏi thẻ, khám thẻ ráo riết. Phạt tiền, phạt giam xanh mắt. Bố con, anh em đi đâu cũng dặn nhau không được đi người không, “nhớ phải có cái thẻ giắt đít”.
Năm đầu tiên đến tuổi mười tám, tôi phải đóng suất sưu hai đồng rưỡi, cộng với mọi khoản phụ thu của xã, vị chi gần ba đồng cái thẻ. Những năm ấy, tôi chẳng tìm được việc làm. U tôi phải chạy chọt tiền đóng thuế thân cho tôi. Không dễ dàng. Một suất sưu đong được một tạ gạo gãy Sài Gòn, không phải ít. Mà chớp mắt đã lại một năm, lại đến vụ sưu. Tu hú trên cây gạo kêu ra rả, mùa hè chứa chan nắng, đã bắt đầu mùa sưu thuế khắp thành thị đến thôn quê.
Mùa sưu thuế, phố xá xóm làng oi ả nặng nề, ngột ngạt. Cũng là tiếng trống đình, nhưng không phải tiếng trống việc làng, cũng là trông lá cờ kỳ bay phần phật trước cửa đình, nhưng không phải cờ ông từ sai anh mõ cắm sân đình ngày hội lệ tháng hai. Các ông lý, ông phó lý, ông chánh hội, ông thư ký, các bác trương phiên, khán thủ, tuần đỉnha vào trên đình và dưới nhà hội đồng tấp nập.
Chẳng ngửi thấy hương đèn và mùi xôi gà như những ngày sóc vọng. Mới ủ ê làm sao. Sáng sớm, lúc chập tối, các đầu xóm cuối xóm mõ rao ơi ới. Vụ thuế chỉ sát phạt trong vòng nửa tháng. Càng đến ngày cuối càng rợn gáy, xôn xao. Chốc chốc, một trai tuần dẫn ở xóm dưới lên một người bị trói giật khuỷu, mắt sưng húp. Người ấy rùng rùng bước vào, bị đẩy ngồi thụp xuống chân cột đình. Ngoài sân, ngoài tam quan, vẫn vang tiếng nạt nộ, Có hôm, chánh tổng Dịch Vọng cưỡi ngựa ra đốc thuế. Có hôm, cả quan phủ Hoài Đức ngồi ô tô về. Nhốn nháo lên. Tiếng kêu khóc, tiếng nài nỉ. Có lúc, khắp nơi lại im phăng phắc.
Rồi vụ sưu thuế qua, tất cả cũng qua đi. Mùa vải, nắng cũng lây màu vải chín đỏ chót. Con tu hú vẫn kêu rạc người. Buổi chiều ngồi hóng mát cửa đình, thấy tàn đốt rừng phía Ba Vì bay về từng mảng như lá bàng rơi. Đôi khi, chớp bể mưa nguồn xa xôi tận đâu lại phấp phỏng tưởng mùa thuế lại đến nơi rồi. Cái thuế đánh vào người ghê rợn, lúc nào cũng ám ảnh.
Tôi ngụ ở bên ngoại từ thưở bé. Việc họ, việc làng, góp tiền cỗ hàng giáp, vào sổ đinh đều ở đây. Bây giờ đến tuổi đóng thuế, người ta gọi ra. Nhưng một điều oái oăm, u tôi bảo còn phải giam thuế cho tôi cả trong làng quê nội. Và ở trong làng nội, thầy tôi vẫn phải đóng thuế thân đều đều. Dẫu cho thầy tôi đi Sài Gòn từ năm tôi mới lên ba, nay đã ngoài mười năm. Chẳng có tin tức, chẳng biết còn sống không. Thế mà ở nhà hàng năm vẫn phải đóng thuế cho thầy tôi. Đóng bóng vía, bởi nếu không có thẻ thân, mai kia về, ông lý không cho vào làng. Lại còn làng nước trông vào, chịu mang tiếng bỏ làng à. Chỉ có bán xới đi thì chẳng biết nói thế nào, chứ còn có khi về làng, không ai dám bỏ đóng thuế quê gốc. Cái thẻ thân của người đi vắng thì người ở nhà không được giữ. Mà phải để ở nhà lý trưởng. Bơi thế, có lý trưởng tham và liều đã cho thuê, đã bán thẻ thân, những người cơ nhỡ, người buôn lậu, cả những người bí mật hoạt động cách mạng cũng hay mua thẻ giả thế.
Hai xuất thuế hai mang ở quê u tôi đều phải chạy. U tôi vẫn lặng lẽ, chẳng phàn nàn một câu. Cái số vất vả trời đã định rồi. Đã đành, trong âm thầm mà thật khốn khổ., cũng không dám cho ai biết, sợ mang tiếng. Tết nhất xong, còn tính toán chùng chình, u tôi chưa dám mang sống áo xuống nhà Vạn Bảo. Nấn ná tới áp vụ thuế mới đành bước chân ra phố Mới.
Nhưng rồi đến một khi chẳng lo, chẳng chạy nổi nữa, năm ấy, u tôi không còn đào đâu ra tiền đắp vào cả hai suất sưu đóng hờ ở quê nội. Trong quê, bác Cả vốn tính cẩn thận, năm vào cũng ra Bưởi vào những ngày áp sát vụ thuế. Nhge u tôi kể nỗi khó, bác Cả thở dài :
- Thím ạ, nhờ trời còn có ngày kia chú ấy tai qua nạn khỏi mà về...
U tôi chẳng biết nói thế nào, nhấc dải yếm lau nước mắt. Gía mà còn cào cấu nổi vào đâu, chắc u tôi vẫn cố. Bởi vì cái tai tiếng còn đau đớn hơn người ta chửi bới day dứt không biết đến thế nào. Tết năm ấy, u tôi không đem tôi về quê. Sang giêng , bác tôi ra chơi. Cho đôi bánh tày, chục bánh gai nhà làm. Bác Cả nói :
- Thím phải cho cháu về quê. Cho nó biết nhớ quê quán. Còn xuất sưu của chú ấy thì tôi cũng đạy điệm được rồi.
Bác tôi gan thế, bấy giờ mới nói cho u tôi biết.
Rồi đến khi bác Cả cũng không thể gắng năm nào cũng chạy thuế má cho bố tôi được, Dạo trước, bác ngồi bảo học trong kệ trên châu Lạc Sơn. Học trò đường ngược biếu xén mật ong, mật gấu, còn có của rừng mang về. Bây giờ chỉ bảo trẻ con quanh quẩn trong xóm ở nhà, chẳng thể đắp tiền cho suất sưu đóng hống mãi. Phó lý xách roi mây đến hỏi, bác Cả nói :
- Chú cháu đi làm ăn đất khách quê người, bao nhiêu năm chẳng có tin tức về, không biết thế nào. Ông phó ạ, thôi đành anh em kiến giả nhất phận, năm nay thì tôi chịu.
Rồi cũng không thấy các chức dịch đến làm lôi thôi. Chắc bởi bấy lâu, món tiền sưu làng thu của những người đi xa vẫn chạy cả vào túi các ông chánh lý cũng nhiều. Các ông lấy tiền mà không phải đưa thẻ. Mặc dầu khi thu thuế, ông lý vẫn đằng hắng lên giọng và nói mỹ tự :
- Cái thẻ đinh ất, đinh pháp, đinh mỗ kia làng giữ.
Chẳng ai đòi về giữ làm gì. Người ta chỉ nghĩ lo tròn suất sưu để khỏi tai tiếng, cho mát mặt với xóm làng.
Đến thời kỳ mặt trận bình dân bên Pháp, tại Đông Dương, Tây cũng bày vẽ ra cải cách thu thuế người. Thật sự thì vẫn như mọi khi, thuế mới chẳng trừ ai miễn ai, chỉ có thuế mới chia thành nhiều hạng. Hạng có tài sản (đất cát, nhà cửa thuế buôn) và ruộng nương phải đóng từ hai đồng rưỡi trở lên. Người giàu có cũng thích được nộp nhiều tiền, để tỏ ra ta đây khác bọn khố rách áo ôm. Còn người vô sản thì sót ruột mất một đồng bạc. Đâu đâu cũng bàn tán. Thế này thì nhà nước lợi to. Lại có dư luận đồn thổi không biết từ đâu ra : cầm cái thẻ cùng đinh mỏng dính như tàu lá chuối, chỉ tổ xấu mặt. Bởi thế, bài bổ thuế của làng ông lý trưởng bảo cũng bằng lòng ai là vô sản mà muốn đóng thuế hữu sản, nhà nước cho làm thế. Những lời đồn cứ tung ra.
Nhưng thanh niên làng tôi có phong trào chống thuế. Nói đúng hơn, chống bất công và những trò bịp trong việc đóng thuế thân. Các ông chánh ông lý làm sổ thuế không muốn nhận một đồng bạc thuế vô sản. “Hay hớm gì cái vô sản. Làng này lắm đứa không cửa không nhà thế ? Chẳng biết xấu hổ với thiên hạ “ !
Không phải chúng tôi nghĩ ra cách chống thuế, mà chúng tôi đã đọc báo tin tức. Thằng Điều với tôi đã ra tận cửa Đông hỏi tòa báo Tin Tức. Chúng tôi được các anh tòa báo nói những nơi vô sản chỉ đóng thuế vô sản, có nơi hăng hái còn kéo nhau lên huyện, lên phủ kêu hoãn thuế. Làng Vạn Phúc trong Hà Đông giàu thế mà những nhà có một khung cửi bảo nhau chỉ đóng thuế vô sản. Người ta sùng bụng đến vậy mới giỏi.
Thanh niên chúng tôi không còn xấu hổ phải đóng thuế vô sản như bọn chánh lý sỉ vả thế nữa. Chúng tôi nhất quyết chỉ đóng hạng một đồng bạc. Nhưng thật không phải dễ. Những người chức việc lắm mưu mẹo đã đành, mà những người đóng thuế không phải ai cũng răm rắp một bụng. Có nhà con cái chưa có của nả riêng bố mẹ còn ăn chung cũng rêu rao sẽ ra thuế hữu sản hai đồng rưỡi. Nhất là những nhà có máu mặt. Người ta vẫn băn khoăn muốn nghe lời ông lý và sợ xấu mặt. Tiếng tu hú kêu inh ỏi trong tiếng trống ngũ liên gay gắt. Lúc nào ngớt tiếng trống lại văng vẳng mõ rao : chiềng làng chiềng nước...ai chưa đóng thuế...ra đình đóng thuế... Lại nghe đồn ông lý Sùng đã tâng công với quan trên trình trước lên phủ rằng làng này không có ai ở hạng vô sản. Người không có đất cắm dùi cũng tình nguyện đóng hai đồng rưỡi. Nhưng chúng tôi quả quyết. Cả bọn bốn năm chục người. Nó trình phủ làng này không có vô sản à ? Chúng ông không đóng. Cho nó sạt nghiệp. Chúng ông chỉ có một đồng bạc.
Hơn hai mươi người hăng hái nhất kéo ra đình. Nhiều người trong tay cầm tờ bái Tin Tức có tin thanh niên Nghĩa Đô chống thuế. Tôi đã viết tin ấy đem xuống tòa báo và được đăng ngay.
Ông lý Sùng quay ra quát :
- Các anh kéo lũ ra đây làm gì ?
Tôi nói :
- Chúng tôi vô sản, chúng tôi chỉ đóng thuế vô sản. Báo đăng như thế đây này.
Ông lý khôn ngoan vờ ngọt nhạt :
- Con trai làng ta ai cũng như các anh thì làng này cũng đẹp mặt đấy. Đòi làm vô sản à ? Ừ, đòi có máu mặt mới khó chứ làm thằng đóng khố vô sản thì dễ thôi. Thế thì đóng ngay đi nào.
Cả bọn lúng túng. Nhiều anh chẳng có một xu trong lưng. Chúng tôi ra đình diễu oai thế chứ chưa nghĩ đến phải đóng thuế ngay.
Ở ngoài đình về, tôi thấy u tôi đã đứng đợi ngay đầu ngõ. Vẻ mặt u tôi lo lo . Chao ôi, tôi cùng bè bạn đi cãi vã sát phạt thế, nhưng chạy cho ra suất sưu, dù suất sưu vô sản một đồng, vẫn một tay u tôi kiếm mà thôi. Bơi vậy, trông thấy u, tôi thương u. Bao nhiêu hăng hái lúc nãy hụt đi đâu mất. Tôi len lén đi tới và nói với u tôi :
- Ta chỉ phải đóng một đồng u ạ. Các ông ấy dọa già dọa non thế thôi, u đừng sợ.
U tôi rụt rè nói :
- Đừng có đi đua đả cãi nhau với người ta. Mày pahri gọi ông lý là cậu, ông lý cũng người họ Lê đằng nhà bà. Hay là cứ đóng hai đồng rưỡi như mọi năm. Sức u còn chạy được.
Tôi nói :
- Nhà nước đã định ra luật rõ ràng, báo cũng đã nói thế rồi.
U tôi hỏi lại :
- Sao u vẫn thấy nhiều đứa ở xóm ngoài, xóm trong cũng như mày, vẫn đóng sưu hai đồng rưỡi như mọi năm. Con ơi ! Con cứ bướng thế, ngộ nhỡ bao giờ tìn được việc làm, người ta cứ bắt làm vô sản, không cho đóng hạng sưu hai đồng rưỡi, không được đi làm, thì có phải chết dở không. Con cứ để u chạy.
Những sĩ diện vớt vát theo đuổi đến cả người cùng túng. Như u tôi mà cũng nghĩ ra được cái lo xa ấy.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-19 22:46:44Dreamline>
21 – PHỐ HÀNG ĐÀO


Một tháng sáu phiên, ngày một và ngày sáu, những phiên chợ tơ chợ lụa – ở hàng Đào cũng như trong chợ Đơ. Từ sáng sớm, nhà nhà trong làng đeo đãy lụa đi chợ. Các khung cửi, các vầy tơ chỉ lách cách đến cơm trưa xong, rồi thợ tơ, thợ cửi đủng đỉnh, thong thả nghỉ đến tối.
Ở hàng Đào, ở hàng Gai khác trong chợ Đơ, không có các nhà buôn bày chõng ngồi đo lụa chiếm một gian đầy cả cầu chợ mà có những cửa hàng, các thổ mua lụa trong nhà. Lụa khung cửi đổ ra từng tấm năm bảy chục thước, nhà buôn người ta mua cả tấm, bán mộc vào Sài Gòn. Rồi lại những nhà buôn lụa có tơ bán luôn cho người có khung dệt. Tơ ấy của các làng nuôi tằm ươm tơ đem về bán cho các nhà buôn lụa. Tơ Tứ Tổng, tơ Phùng, tơ Hưng Yên – lớp sau này có cái tơ dứa cuộn trắng bên Hồng Kông nhập vào. Tơ dứa Hồng Kông vào đánh chết tơ con của ta. Các nhà buôn lụa rồi bán tơ. Tay đo lụa xong khấu luôn tiền tơ. Các cửa hàng được tiếng buôn bán lớn, nhưng cũng là thu cửa này phát cửa khác, cứ thế mà phát tài. Chỉ có các làng tơ cửi lo sốt vó. Gía hàng theo tàu Sài Gòn ra vào, lên xuống từng phiên. Một đãy lụa cũng chỉ mua được nén tơ, còn lại ít đồng về trang trải thợ tơ, thợ cửi, thợ hồ, lo liệu cơm nước cho đến phiên chợ sau.
Ở chợ, hàng họ các làng tơ cửi thì liêu xiêu thế, nhưng dần dần, trên hàng Ngang hàng Đào mọc ra những nhà buôn ba bốn tầng giàu có. Hiệu Lê Thuận Khoát đứng buôn lại của các nhà buôn hàng Đào, hàng Gai. Không phải gửi đi Sài Gòn, mà mua góp lại rồi bán ngay đấy. Nhà Vũ Văn An dựng mấy trăm khung dệt ở Tam Đa đầu làng Thụy. Nhà Lợi Quyền, xưởng dệt hàng Ngang, lại còn xưởng trên Bưởi. Nhà Mỹ Bảo đương xây một xưởng dệt tối tân ngay tại cổng làng Đông.
Chẳng biết những nhà buôn to còn ghê gớm đến như thế nào. Chỉ những như các cửa hàng buôn lụa hàng Đào, hàng Gai này cũng đã làm tao loạn được mấy làng tơ cửi rồi.Bởi vì, bao nhiêu con người hong hóng trông vào cái khung cửi. Chỉ một nhà tôi cũng đủ rõ. Anh Năm thợ dệt bên Bái. Cô Thìn làm thợ hồ. Mấy ả thợ tơ Thái Bình. Bà Mùi trong Noi bán gạo. Bà Viết khâu vá. Nửa cút rượu nhữ buổi chiều của ông tôi. Cái váy cái yếm bà tôi. Vành khăn nhiễu hoa bỏ đuôi gà của các dì tôi. Ngày giỗ, ngày tết, việc mừng, việc phúng...Lại rau cỏ, chợ búa. Tất cả chờ đợi ở mấy chục thước lụa ngày phiên đem bán cho hàng mợ Hai hàng Đào.
Tôi cũng được biết cái quang cảnh ngày phiên ở hàng Ngang, hàng Đào thế nào rồi. Nhiều phiên tôi được đi tàu điện xuống phố với bà tôi, dì tôi. Trẻ con phải ngồi vào xó bậc cửa nhà người ta. Tôi ngồi đấy, cứ việc ngắm nghía. Gian ngoài vuông vắn. Phòng giữa là cái sân con tun hút tối mờ mờ thấp xuống, trên mảnh đất lát gạch vuông lộ thiên lắp kính, cái bể cạn giữa có hòn núi non bộ, cây si uốn giả cổ thụ tý hon. Nắng lên hắt vào cửa. Anh xe trong nhà ra, cầm chiếc sào bằng cái lao màn móc tấm màn cửa bằng vải tây vàng sẫm lên, những người bán lụa, tránh nắng chen chúc trong bóng dâm quây lại.
Mợ Hai ngồi xếp bằng giữa cái sập. Mợ chít khăn nhung vàng dây, mặt phấn tròn húp híp. Tai đeo hạt ngọc xanh. Cổ quấn dây chuyền vàng, tay mấy tầng vòng xuyến ngọc thạch lại quấn thêm cái khóa lập lắc vàng lóng lánh. Aso nhiễu trắng, tấm quần lụa trắng tôn người mợ Hai lên thành một ụ lụa, lút vào trong những bó lụa mộc mọi người lấy trong đãy ra từng chồng xếp cao lù lù quanh sập, cả dưới mặt gạch hoa.
Người bán lụa ngồi xổm từ ngoài cửa vào kín lối đi. Người đến sau bước rón rén, nói nịnh vu vơ một câu : nhà lát đá hoa thế này được ngả lưng một cái còn mát hơn nằm cái giường thổ tả nhà tôi, các ông các bà ạ. Rồi cúi đầu xuống, đảo mắt nhìn xung quanh. Có người đứng dậy, vào rút tệp lụa nhà mình để lên trên. Rồi cầm quạt lông, khẽ phẩy một bên tóc mai mợ Hai. Ys muốn nhắc mợ đo cho nhà cháu trước. Lại quạt thái sư thêm mấy cái. Mấy người ngồi gần đấy nguýt dài ngoảnh đi.
Mợ Hai vẫn điềm nhiên giơ thước lần lượt đo từng bó. Mợ soi mặt hàng lên, tìm cái gùi, cái gút. Để còn mặc cả bớt chiết chứ chẳng phải rỡn. Nhà nào sắp đặt khéo, biết giấu lá lụa kém phía trước phía trong. Mợ Hai giở xem mấy thước, chỉ thấy mặt hàng phẳng, mép biên gọn ghẽ. Thế là được. Mợ vứt toạch xấp lụa xuống chân sập. Anh thư ký xướng tên chủ lụa, số thước rồi ghi vào sổ cái. Bà bán được lụa nét mặt tươi hơn hớn. Chỉ còn đợi lấy tiền rồi bà bước ra, te tái lên chợ Đồng Xuân, ù một cái vào chợ xách ra xâu lòng bò rồi đứng đợi tàu điện trước cửa chợ, hôm nay may mắn được về sớm.
Mợ Hai vẫn thong thả đo từng thước. Trên trần, cái quạt máy quay lọc cọc, khật khưỡng như ngái ngủ. Người ngồi lố nhố tận ngoài chen vào nịnh khéo, xuýt xoa kêu mát quá. Bà bên cạnh chép miệng : rõ hươu vượn khen phò mã tốt áo. Cái người vừa nhích lên, ngồi phải chỗ hắt nắng, vẫn nói : hây hẩy thế này mát quá, mát quá. Làm như không để ý đến câu nói mỉa.
Mà cả Hà Nội, có lẽ các vùng phố này chật hẹp nhất, nóng nhất.
Từ hàng Giấy xuống hết hàng Đào, ngang hàng Bồ lên Cổng Dục, hàng Bạc ra hẻm Phất Lộc, các ngõ các phố trơ trụi không một bóng cây – trừ mỗi cây đa cửa miếu trong ngõ Gạch. Hai bên hè, đen nhẻm cột dây điện, tàu điện, nắng chang chang vàng rực đường. Người xách ấm nước vối, nước gạo rao ời ợi. Màn che cửa các nhà bên này đường tỏa xuống lùng nhùng trên đầu người đi. Người qua lại nhốn nháo dưới hiệu Tây đen bán vải, màn cửa sòng sọc đỏ. Hiệu thuốc người Tàu, có gương kính soi lùn người cái màn màu lục. Các nhà buôn ta, sọc xanh, trắng, vàng. Tàu điện Bờ Hồ lên từ từ giật chuông “keng ầm” như con trâu nghé ngọ qua giữa phố đông.
Ai đến phố hàng Đào, hàng Ngang cũng phải quen mặt một anh chàng dở hơi. Người thong thả ngồi cả ngày ngóng ra lại càng nhẵn mặt anh ấy. Ngoài đường lũ lượt ăn mày rong phố. Có người bôi khắp mình lầy nhầy như mụn mọc. Làm cho người ta khiếp phải cho tiền ngay. Có người lòa đi hát. Kìa cái anh điên hiền lành đi tới.
Không biết anh dở hơi ấy ở đâu mà đến sớm, hôm nào cũng thế. Anh đã đến kia. Người ngăm ngăm đen, áo trắng dài khuy cổ đóng cẩn thận, đi đôi guốc mộc. Nếu trông thấy anh một lần, chỉ tưởng là người nghiêm nghị đi đâu có việc, vừa đi vừa nghĩ nghợi, suy tính, như mọi người ngoài đường. Nhưng suốt ngày anh ngược xuôi tha thẩn hai bên phố hàng Đào, hàng Ngang lên hàng Đường rồi quay lại, nét mặt vẫn đăm đăm.
Lạ sao, anh ấy cứ nhà nào có con gái anh đều thuộc và anh chỉ thuộc những nhà có con gái đẹp chưa chồng ngồi hàng. Đến trước cửa, anh dừng lại. Anh đứng rón rén cạnh thạp đường, thạp chè, hay cái tủ kính bày tạp hóa. Sáng sớm, cô gái trong nhà ấy ra dỡ cánh cửa xếp ngang xuống, rồi vào ngồi phản trong ngoảnh mặt ra, trông hàng. Anh ấy liếc cặp mắt trô trố nhìn cô. Anh khẽ nhếch môi cười. Một tay giơ lên xốc khuy áo cổ, sửa lại cho ngay ngắn, đứng đắn. Cái áo trắng mặc rầu rã, cứ chốc chốc lại sờ đến, mép cổ đã thành vệt vàng mờ. Anh lại mỉm cười. Anh cứ cười tủm như thế. Mắt nhìn người ta liếc nheo nheo, như dán mắt vào. Cho đến khi cô gái ngồi trong hàng mỉm cười lại với anh một cái, anh mới hí hửng bước đi.
Anh đi sang cửa nhà khác, có cô gái bán hàng khác. Anh lại xốc cổ áo, đứng lại và cười tủm, nhìn vào.
Tất cả các cô con gái đôi bên hàng phố đều nhẵn mặt cái anh dở hơi mặc áo trắng dài, đi guốc, nhìan mình cười và đợi mình cười trả lời. Thế thôi. Thế thôi. Rồi anh ấy lại nhẹ nhàng, thảnh thơi đi cười với người khác và đòi cái cười của người khác. Anh như con bướm lượn. Nhưng là con bướm ma. Các cô cho anh một cái cười, chẳng mất mát gì. Anh chỉ làm vui cho đôi bên hàng phố. Có hôm tối đã lâu, tàu điện vét đã nối đuôi ầm ầm chạy về qua, mà còn thấy anh dở người vơ vẩn trước các cửa hàng đã lên cánh. Một người đàn bà đứng tuổi, áo dài nâu, cơ chừng vừa ở ngoài đầu ô vào. Người ta bảo bà ấy là mẹ anh. Anh lặng lẽ đi theo bà. Hàng phố đồn anh đang đi học, phải một cơn ốm rồi đâm ra lẩn thẩn vậy. Có người kể anh đã sắp thi tú tài. Bị người bỏ bùa, thế là hóa rồ. Cũng chỉ toàn nghe hơi, chẳng biết thật thế nào. Chỉ biết mỗi buổi sáng thấy anh lượn phố hàng Đào từ bảnh mắt. Cái áo dài trắng và đôi guốc mộc.
Anh điên cười tình chen giữa những du côn, kẻ cắp và bạc bịp đi rủ rê người khờ đánh bắt, đánh xì, xem bói, cứ giơ quân bài tây, con ít xì lên đầu. Đương buổi chợ, càng đông. Không biết đâu kẻ cắp, đâu người ngay. Ai cũng cắp nắp, khư khư, trông trước trông sau, sợ đứa nào giựt mất. Chỉ có anh điên bước lững thững. Đột nhiên trông thấy hàm răng vàng bựa của anh nhe ra. Y như rằng nhìn lại sau lưng, thế nào cũng thấy một cô con gái ngồi trong cửa hàng.
Trong nhà, mợ Hai vẫn mải đo lụa, thông thả, cẩn thận. Khổ lụa mộc chưa chuội, bụi hồ rụng xuống mặt sập, trắng như bột nếp. Ánh nắng đã xiên ra hàng gạch giữa hè. Thế mà người đợi lụa được đo, được mợ Hai tính trả tiền vẫn đông. Tiếng người thư ký xướng số thước và tên người cứ khàn khàn như giọng người đói thuốc phiện.
Bỗng tiếng trẻ reo à à ập vào. Ngoài vỉa hè, chiếc xe nhà sơn then vừa hạ càng. Anh xe đeo kính râm, mặc quần thâm, nón dứa quai nón vải hoa tím buông như cái tua y môn sặc sỡ dưới cằm. Kkhông mấy ai nhận ngay ra được cũng vẫn anh ả này lúc sáng cầm cái lao ra hè mắc màn cửa che nắng. Lũ trẻ trên xe nhảy xuống, chạy vào nhà. Các cậu các cô đi học về, quần tây cộc, dép trắng. Cá cô mặc váy đầm, hoa lốm đốm. Dây cặp đeo trên vai. Anh xe dắt cái xe nhà gọng vàng lữmh thững quay ra phía hàng Dép. Anh cho xe vào cửa sau, lối hàng Quạt.
Mấy đứa oe con này chỉ ngồi lớp đồng ấu, lớp ăng phanh tanh, lớp bét mà thôi. Còn ông, ông đã ngồi lên đến moay ăng oong(1) ông hơn chúng mày bốn năm lớp kia. Thế mà trông thấy chúng nó đi học ngồi xe nhà, cặp đeo cặp cắp hớn hở mình ơ mặt, quên mất cả chữ. Tưởng chúng nó mới là học trò !
Mợ Hai hàng Đào vẫn ngồi bệ vệ đo lụa. Cũng không phải tôi trông thấy mợ Hai hàng ngày, nhưng tôi cứ luẩn quẩn mỗi khi nhớ tới phố hàng Đào, lại hình dung ra mợ Hai. Có lẽ chỉ vì tôi cũng lây cái lo của bao nhiêu người làng tôi chờ bán được lụa. Rồi lại nhớ sang cái anh dở hơi quanh năm đi cười tình với con gái đôi bên hàng phố. Anh ấy cứ đi mãi, đi mãi như cái oan hồn không được giải oan.

 1  Ăng - phanh - tanh (Enfantin), lớp vỡ lòng, và moay - ăng - oong (Moyen 1) tương tự năm lớp 4, bậc học phổ thông cơ sở.
Đăng nhập để trả lời
0