📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Chuyện kể trước cổng phủ Tây hồ

0 trả lời, 878 lượt xem — Trang 1 / 1
Tác giả: Nghiêm Lương Thành



Nguồn: Nhà xuất bản hnv (VN)

Đánh máy: Mạc Vi




TRUYỆN KỂ TRƯỚC CỔNG PHỦ TÂY HỒ




Chuyện thứ nhất
 
NƯỚC NGUỒN

Đang cắm cúi mài mực, chợt nghe tiếng chào nhỏ nhẹ, hơi run run nhưng rành rọt, tôi ngẩng đầu lên.
- A bác! Bác ngồi xuống đi, cháu có ấm trà ngon mới pha.
- Cảm ơn chú. Cụ nhẹ nhàng ngồi xuống, tay vẫn cầm thẻ hương và chiếc nón đã ngả màu nhưng vẫn phẳng phiu, ngay ngắn.
Tôi rót nước mời cụ, hương trà bốc lên thơm ngát. Cụ đưa bàn tay run run đón lấy chén nước, cảm ơn nhưng lại đặt xuống bàn. Đôi mắt sáng - rất hiếm thấy ở lứa tuổi ngoài bảy mươi - buồn buồn và lúc nào cũng như đang nói một điều gì đấy, đang nhìn tôi chăm chú, vẻ như đắn đo ... Vẫn là cái nhìn ấm và dịu, nhưng có cái gì đấy, không giống thường ngày. Chiều hôm trước, cụ ghé vào chỗ tôi đến hai lần. Thường, cụ hay hỏi han về cái chân khập khiễng và bệnh đau ngực của tôi, cũng có khi là hỏi về công việc, thu nhập hay nói vài câu chuyện gì đó hoặc thỉnh thoảng lại đem cho tôi tấm mía, quả cam hay gói bỏng và nói: "Lộc đấy, ăn cho khoẻ con ạ!". Bao giờ tôi cũng nhận quà của cụ trong tâm trạng của một đứa trẻ khi đón mẹ về chợ. Vậy mà hôm nay ... hình như có điều gì đó khác thường. 
- Có chuyện gì hả bác ?
- Ừ, giúp bác với, con !
- Việc ... ?
- Phải ! - ngập ngừng một lát, bà cụ nhìn tôi, đắn đo - nhưng là việc của bác thôi.
- Vâng ... !  Tôi bắt đầu thấy bồn chồn.
- Là ... viết giúp bác lá sớ.
- Ôi ! Cứ tưởng việc gì - Tôi thở phào.
- Để bác nói hết đã ... Nhưng có chắc là giúp bác không ?
- Hôm nay sao bác lạ thế ? cháu vẫn viết cho bác đấy thôi ?!
Như mọi lần, tôi đã biết trước nội dung của lá sớ; đại loại là xin Trời, Phật và các Thánh phù hộ độ trì cho hai người ruột thịt của bà, phù hộ cho ông Nguyễn Văn Linh mạnh khoẻ sống lâu để giúp dân giúp nước và cuối cùng là phù hộ cho lũ trẻ đánh giày được ăn, được chơi, được học hoặc phù hộ cho gia đình ông nảo bà nào đó được tai qua nạn khỏi. Sửa soạn xong giấy bút, tôi quay sang, chờ đợi.
- Thế này nhớ, bác tin con thì con cũng nên giúp bác.
- Vâng ... nhưng hôm nay bác làm sao thế ? Tôi vội đáp, có ý giục cụ nói.
- Phải, con muốn viết thế nào thì viết, ý bác thế này: Xin Trời, Phật ... mới các Thánh phù hộ cho bác được ... chết, càng sớm càng tốt !
            Tôi há hốc mồm. Mình nghe không nhầm đấy chứ ? Chả nhẽ tai mình có vấn đề ?!
- Viết đi con ! - Cụ giục tôi bằng cái giọng đều đều, bình thản của một người đã từ lâu không còn ngạc nhiên với điều gì và biết rất rõ điều mình đang làm.
- Nhưng ...
- Viết đi con !
- Vậy là bác muốn ... ?! - Tôi nhổm lên, muốn nghe lại điều mình vừa nghe được từ miệng bà cụ nhưng không dám nhắc lại cái từ mà chẳng ai muốn nghe ấy.
- Phải, con ạ. Cứ viết đi ... - cụ ngập ngừng - mà chắc gì đã được !
- Trời đất ! - tôi ngồi phịch xuống, lặng đi. Linh cảm bảo tôi: Việc nghiêm túc đây !
Tôi làm nghề này đã được hơn sáu năm, đã từng viết rất nhiều lá sớ cho rất nhiều người, nhưng viết một lá sớ kiểu thế này thì quả là chưa bao giờ ! Thường, đó là những lá sớ cầu tài xin lộc, cầu xin sức khoẻ, cầu cho tai qua nạn khỏi, xin được thăng quan tiến chức, cầu cho kẻ thù hoặc kẻ đang cạnh tranh với mình phải lụn bại ê chề, xin cho các cậu ấm cô chiêu dứt được khỏi vòng phá gia nghiện hút ... Còn một nguyện vọng như thế, thật trái lẽ thường và xem ra chỉ có thể có ở hai loại người: bị bệnh thần kinh hoặc quá chán đời. Mà chán đời thì - theo cách nói của đám thanh niên tân thời - có một tỷ linh một kiểu ! Mặc dù có nhiều kiểu như vậy, trường hợp của bà cụ có thể rơi vào kiểu nào đây ?
Mà làm sao cụ lại đến nông nỗi này ?! 
Trong cái xã hội "Cổng phủ" này, người ta cho rằng bà cụ ngoài bảy mươi ấy có lẽ mắc chứng dở hơi, thứ dở hơi của những người ít học và bị ảnh hưởng nặng nề từ cái lối giáo dục phong kiến xưa cũ. Hàng ngày, ngoài việc gánh hoa quả, bỏng ngô đi bán rong và công việc nhà, cụ dành đến một phần ba thời gian của mình cho việc chăm sóc các ban thờ nội cung, quét tước sạch sẽ các sân, vườn và khu vực cổng phủ ... không công; Săm sắn làm một điều gì đấy cho một kẻ không hề quen biết, thậm chí thoạt trông ai cũng nhận ra đó là hạng chẳng ra gì. Và, đôi khi cụ lại còn tuyên giáo đám thanh niên đi lễ rằng đến đây là để ngưỡng mộ cái đức cả của Phật, của các Thánh để tự mình cố gắng mà noi theo. Chỉ riêng cái lối ăn cơm nhà vác tù và của những người đồng bào, cũng đủ để thiên hạ tiếu luận rồi, nói chi đến những điều chỉ bảo thô sơ, ngô nghê, chỉ đáng nhồi vào tai những kẻ điên gàn bởi thứ đầu óc tầm thường của chúng chỉ có thể dung nạp được những điều thô sơ, ngô nghê, xa rời vật chất kiểu như vậy.
Trần sao, âm vậy; Có đổ xăng thì ôtô mới chạy được, cứ có lễ lạt là sẽ có báo ứng! - Theo ý của cô bán vàng hương ở bên trái lều chỗ tôi ngồi - Chẳng có ai đi làm những việc mà sau đấy mình chả hy vọng được gì ! Chẳng vì tiền thì cũng muốn được danh được vọng, mà danh với vọng thì ... chậc ... nghĩ cho cùng thì cũng vẫn là tiền thôi. Tiền nong mua được cả những cái ... đếch có ! Tôi đố các ông tìm được ai đó đến đây đặt lễ thắp hương mà không cầu cái này, xin cái nọ ... có họa điên ! Thì đấy, thấp kém như loài gia cầm, thử vứt nắm thóc ra sân mà xem, chúng không bâu ngay lại à ? Còn mổ nhau choang choác ấy chứ ! Rồi con nào cũng cố nhặt, cố xúc cho thật nhanh trước khi chẳng còn hạt nào sót lại trên sân, không cần truy cứu nguồn gốc, và sau đó mới khoan thai đứng thẳng, vươn cổ cho số quả thực vừa tranh giành được trôi hẳn xuống diều, rồi lé mắt sang hai bên ước lượng độ căng của những cái bọc diều khác và khoái trá vì cho rằng mình cũng không phải hạng đần độn, cù lần, rồi ... biến ! Nhưng mà - cô nàng thở dài - chỉ tội cho mấy con gà nhép, chả biết có mổ được hạt nào không, cứ kêu chiếp chiếp sốt cả ruột ! ... Còn cái này nữa - chợt nhớ ra điều gì, cô nàng hăm hở nói tiếp như chỉ sợ quên mất - mỗi khi ông về nhà mình, con chó nhà ông nó chạy ra đón, đuôi vẫy rối rít; Còn nếu như tôi đến nhà ông ... ?  Này, nói cho nhanh, không có đoạn đấy đâu nhớ ! Mà không chừng còn bị nó cắn cho ấy chứ ! Thế thì tại sao ? Cái việc này thì lũ chó chúng nó hiểu lắm. Ông: Đã cho nó ăn và nó thấy chưa có lý do gì để điều đó phải "sít tốp"; Còn tôi: Chưa bao giờ cho nó ăn và cũng không có lý do gì để cho nó ăn. Mà nó sủa tôi chẳng phải vì nó thù ghét gì tôi, nó chỉ muốn trình diễn lòng trung thành của một con chó đối với ông chủ của nó là ông; Nói cho nhanh - cô nàng từ từ xoay khuôn mặt đang ở hình thái một chiếc bánh đa nướng chưa gặp nước, hỗ trợ cho đôi mắt lẻ mí nhỏ nhắn và sắc lẹm để có thể dễ dàng duyệt hết một lượt các thính giả của mình, hạ giọng rành rọt - đó là động tác bổ trợ cho tính bền vững của bát cơm chó ! (Nghe nói trước đây cô ta là vận động viên Quốc gia trong lĩnh vực bắn các loại súng; Khi giải nghệ, thi vào Tổng hợp văn; Đỗ, nhưng không nhập học bởi đột nhiên nhận ra rằng trong hoàn cảnh cụ thể của mình, làm nghề bán vàng hương này mới có thể có điều kiện kiếm đủ để duy trì cái tế bào xã hội mà cô đang quản lý và cho cậu con trai ham học của mình bước vào cổng trường đại học một cách đường hoàng. Hy sinh đời mẹ củng cố đời con ... cho đời nó đỡ khổ, vì rốt cục - cô nàng kết luận - rồi xã hội nào cũng vẫn phải cần đến những người có chữ có nghĩa !). Nghe đến đây tôi không thể không phì cười vì cái lối tư duy cập cà cập kênh, gán gán ghép ghép nhưng lại có vẻ khá ngăn nắp ấy, nhưng đồng thời tôi lại cũng có cái cảm giác mơ hồ như bị xúc phạm.
            "Này, cô! - Ông chủ quán cá ở lều đối diện với tôi, từ tốn đưa ra ý kiến - Tôi vốn là người nhà quê, nhà tôi lúc nào cũng nuôi chó, từ bé tôi đã đánh bạn với chó, tôi hiểu chúng lắm. Trong hệ thống Luân Thường, các đồng chí Nho học tiền bối đã đưa ra ba-rem Ngũ thường [1] - Ông quay sang tôi, ý chừng như muốn thông báo: Tôi đang chia xẻ điều này với anh đó - và gọi đó là Đức của người Quân tử để con người ta lấy đó làm mực mà tự sửa lấy bản thân mình. Nhưng đối với tôi, điều thứ hai tôi lại học được từ chính mấy anh bạn này... Chớ nói thế, phải tội đấy ! Không tin, cô thử nuôi chó đi. Rồi đến một ngày nào đó, cô "sì tốp" cho chúng ăn và thử xem xem ... Có lẽ cô sẽ ngước mắt và nhận ra chúng là một loài cao quý chăng ?!". "Vớ vẩn, Nho với chả nhe ! - Cô nàng nguýt dài - phức tạp, bố ai mà biết được !? Chó bao giờ mà chả là chó, nếu không tại sao thiên hạ vẫn gọi chúng là chó !  Mà kìa - cô nàng hốt hoảng chỉ tay vào chảo chả cá đang sôi mỡ - có mùi hơi khét ! Nó mà cháy thì có Luân Thường giời cũng chẳng cứu được !"
Vậy mà mỗi khi có đám tranh chấp, cãi vã ... trong cái xã hội dịch vụ ăn uống, vàng hương, bói toán ... hối hả và nhốn nháo ấy, họ lại kéo bà cụ đến và, chỉ sau mấy câu thô sơ của cụ, mọi việc lại ổn thoả cho dù chủ trì của vụ lộn xộn đó có là một gã hay một ả "đầu gấu" có hạng. Còn chính quyền sở tại thì cho rằng trong việc giữ gìn trật tự an ninh, cụ có tác dụng còn hiệu quả hơn cả chục nhân viên an ninh phường. Dù sao, ở khu vực cổng phủ này, cụ vẫn là người được nể trọng nhất. Bởi xét cho cùng, cụ đến đây không phải để giành để giật miếng cơm manh áo từ cái dòng bất tận, đủ loại những người đi lễ, đi cầu ấy, mà chỉ đem lại cái lợi cho công cộng, chỉ làm những việc và nói những điều dở hơi vô hại mà "những người lành mạnh" chẳng bao giờ để tâm. Nghe mấy cụ cùng thời nói chuyện thì ngày xưa vợ chồng cụ cũng có của ăn của để. Xưởng tiện gỗ của gia đình lúc nào cũng có hơn ba chục người thợ làm việc. Bà cụ là người chăm chỉ và tiếc việc, chính mình cũng ngồi lỳ trên một bàn tiện và tay nghề cũng chẳng kém cạnh gì so với đám thợ giỏi. Sau đó, thời thế thay đổi, cụ hiến toàn bộ gia sản cho nhà nước, chỉ cốt sao cầu được hai chữ bình yên cho chồng con. Trong thời gian chiến tranh, anh con trai đi bộ đội, những người thợ đã từng làm cho gia đình cụ ngày trước vẫn đi lại thăm hỏi, giúp đỡ và quí hoá cụ lắm.
Thế nhưng vì cơn cớ gì mà cụ lại chán sống ?
Do nghèo khó ? Có lẽ cụ nghèo thật, nhưng cụ thuộc loại người làm lụng suốt ngày không hết việc, và hơn nữa, lại thấm nhuần cái tinh thần cam phận vốn đã xưa như Phật - Thứ tinh thần mà những người cách mạng chân chính đã thẳng thắn phê phán và cảnh báo rằng: ... rất tiêu cực ! ... thủ tiêu đấu tranh ! Và chính thứ tinh thần đó đã từng bị lũ thực dân cùng một bộ phận phong kiến lưu manh lợi dụng triệt để như một tiêu chí chiến lược hàng đầu trong cuộc "trâu ngựa hoá" đồng loại của mình, nhằm củng cố và duy trì một nền thống trị đề cao gươm súng và có đủ điều kiện để có thể thoả mãn tối đa ngay cả những khát vọng phát sinh từ những cảm xúc tài chính lãng mạn nhất của một tầng lớp xã hội có thuộc tính là ngại lao động nhất và muốn nhiều nhất ! Vậy đây không phải là lý do. 
Do bị xúc phạm ? Cũng không phải, bởi một người luôn biết rõ mình là ai, đã từ lâu không còn cảm giác ngạc nhiên và có sẵn trong máu cái tố chất cam phận thì không bao giờ nhậy cảm với các sự thuộc về "xúc phạm".
Do buồn phiền vì con cái đối xử tệ bạc ?... 
Vấn đề có thể là ở đây chăng ?!
Tôi chăm chú nhìn cụ, dò xét và chợt hiểu rằng mình không nên và không có quyền chất vấn cụ về việc này. Nhưng nếu muốn kết thúc đời mình, thì sao cụ không tự thực hiện điều đó? Việc này nằm trong khả năng của mình, vậy tại sao cụ phải nhờ đến Trời Phật ?
Mà có thực là có Trời Phật hay không ? Điều đó có lẽ chỉ có Trời Phật biết ! Về phần mình, tôi chỉ lờ mờ cảm thấy dường như vẫn tồn tại một cái gì đấy - quán xuyến, xuyên suốt toàn bộ vũ trụ - siêu phàm, công bằng, nghiêm khắc và chính xác đến rợn người; Mọi ý tưởng, mọi sáng tạo mà con người ta có thể có được, dù được chính con người đánh giá là lớn lao đến đâu, so với nó, cũng chỉ khiêm tốn như một chú đại bàng bé bỏng và đáng thương trước vũ trụ bao la không cùng; Cũng như một cậu bé, đến một ngày nào đó, tự cảm nhận được một cách sâu sắc rằng Bố-Mẹ mình rất thương yêu mình nhưng lại không và không bao giờ biết được đâu là bờ của cái biển yêu thương rất đỗi trần tục, thánh thiện và có kích thước vũ trụ ấy !
Trong cái đám hỗn mang, mông muội của nền văn minh tin học sơ khởi, tôi thuộc tầng lớp gần như  "áp chót". Tuy vậy, dù sao tôi vẫn là một thực thể sống, và do đó, vẫn chứa chất đâu đó trong bản ngã một chút cái thuộc tính hiếu sinh của tự nhiên. Tức là trong tôi luôn thường trực một bản năng về sự tồn tại. Hơn nữa, hồi tôi còn nhỏ, ông nội tôi thường dạy tôi rằng "Điều mình không muốn thì chớ làm với người khác !" [2]. Và cuối cùng cái phần bản năng về sự tồn tại và một chút giáo dục không mới không cũ ấy đã chỉ cho tôi thấy cách giải quyết vấn đề, dù đó chỉ là một giải pháp tình thế.
Vậy là tôi viết cho cụ một lá sớ với tất cả những điều cầu mong tốt đẹp nhất có thể có nhưng đọc lại cho cụ nghe lại theo đúng nội dung mà cụ đã nhờ tôi viết. Tất nhiên là Cụ cảm ơn tôi và hài lòng cầm lá sớ, đi vào ban thờ chính của phủ để làm các "thủ tục" tâm linh mà cụ cho là cần thiết.
 
*
 
Hoá ra, nghề nghiệp nào cũng có những cái hay ho và những vấn đề đau đầu của nó, kể cả cái nghề chẳng ra nghề của tôi; Cái nghề mà buổi đầu, vì sinh kế, tôi đã bất đắc dĩ phải làm.
Hồi đó, khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ còn chưa kết thúc, tôi đã là một thương binh ở chiến trường B. Một mảnh đạn pháo sắc lẹm, vô tư lự đã găm ngoéo vào chân tôi, hồn nhiên hoàn thành cái nhiệm vụ chính trị - tuy không suất sắc lắm - mà nó đã được Richard Nixon cùng các ê-kíp của ngài ở Washington và Sài Gòn giao cho. Sau khi được xử lý tại một trạm phẫu thuật tiền phương, tôi được chuyển về tuyến sau trong trạng thái lơ mơ, thiếp dần đi trên nền một ca khúc đang được chuyển tải bằng những giọng thanh nữ trong trẻo, khoẻ mạnh, hồn nhiên và say sưa, phát ra từ một chiếc máy thu thanh bán dẫn của ai đó ... "Quả pháo ơi sao mà yêu như đứa trẻ ... yêu như đứa trẻ ... đứa trẻ ... trẻ ... "
Do điều kiện hạn chế về vệ sinh và thuốc men ở mặt trận, khi được chuyển ra một quân y viện ở Hà Tĩnh, tôi được các bác sỹ thông báo: "Chân đồng chí bắt đầu bị hoại thư, cần phải tháo khớp háng để tránh sự lan nhiễm nguy hiểm không cần thiết !". Thế là hết - tôi ngán ngẩm ước lượng nhanh cái tương lai không có chút mầu hồng nào của mình. Mà cũng lạ, chỉ ngán ngẩm vầy vậy thôi, tôi không hề bị sốc, bị khủng hoảng như một số người trong cùng hoàn cảnh. Có lẽ do tôi không có cao vọng gì trong tương lai; Tôi thuộc hạng người - vô phép cụ Nam Cao ! - sinh ra để  "hưởng thái bình" chăng ?
Như người ta vẫn nói: Hoạ phúc vô cùng, trong cái rủi có cái may. Và trên thực tế, Đức Di Lặc béo tốt, nhẹ lâng và vô cùng hỷ xả đã mỉm cười rất tươi với tôi. Một cô y sỹ trẻ - tình nguyện vào công tác tại tuyến lửa - có đôi mắt trong veo (cảm ơn trời vì người đã cho tôi được gặp nhiều người có đôi mắt trong veo đến thế !) chẳng hiểu lùng ở đâu ra một cái mật gấu tươi, cố thuyết phục tôi và các bác sỹ điều trị rằng nếu dùng nó tiêm trực tiếp vào vùng vết thương thì có nhiều khả năng tránh được vụ tháo khớp bởi chính ông cụ thân sinh ra cô, cũng là thày thuốc, cũng bị hoại thư sau một lần mổ, đã quyết định tự chữa cho mình theo cách ấy và kết quả đã rất hoàn hảo. Quả nhiên sau đó, mọi việc tiến triển rất tốt. Các bác sỹ thì hài lòng, tác giả của cái mật gấu thì mỉm cười, còn tôi thì không phải chia tay với cái chân tội nghiệp của mình.
Sau bốn tháng điều trị - ngày nào cũng được trông thấy "Đôi mắt trong veo" -  người ta chuyển tôi ra một trại điều dưỡng ở Sơn Tây. Trở thành một gã chân đi tập tễnh, thường bị đau nhức kinh khủng vào những khi trở trời và mất khả năng thực hiện các hành vi lao động đòi hỏi phải tiêu hao năng lượng cơ bắp cao, tôi không thấy có điều gì phải phàn nàn ngoại trừ tình trạng lúc nào cũng như nhìn thấy "Đôi mắt trong veo" ấy và kèm theo đó là một cảm giác chống chếnh; cái chống chếnh của một chú chim lạc đàn, của một con thuyền trên cạn. Lần này thì chẳng phải là "thái bình" nữa rồi - tôi tự nhủ - "thuyền"  phải đi tìm "biển" thôi !
Tôi xin phép trại điều dưỡng mấy ngày về thăm nhà, nhưng lại bay thẳng một mạch vào quân y viện, nơi có "Đôi mắt trong veo". 
Kể ra cũng khó khăn thật, bởi từ bé tôi đã làm cái việc này lần nào đâu, nhưng cuối cùng thì tôi cũng trình bày được điều tôi muốn nói với cô, rằng tôi buồn và rất nhớ "Đôi mắt trong veo" và thế là "Thuyền" đánh liều đi tìm "Biển" ! Còn cô nói cô cũng nhớ "Đôi mắt trẻ thơ" lắm; Nhưng đó là "Ao" đấy, không phải "Biển" đâu !
Nói thì ra dáng lắm, trữ tình lắm, nhưng sau này, khi đã nên vợ nên chồng, Thuyền kia mới bộc lộ hết những yếu kém mà chính bản thân nó trước đó cũng không nhận thức hết được.
Chúng tôi làm lễ cưới vào mùa xuân năm 1974 và năm sau đó bắt đầu cuộc sống đoàn tụ tại một làng ngoại thành Hà Nội. Tôi trở lại trường Đại học sư phạm để học tiếp, còn cô ấy chuyển công tác về một bệnh viện thành phố. Sau khi tốt nghiệp, chúng tôi đã có hai cháu. Kinh tế gia đình cũng tạm ổn. Biển thỉnh thoảng cũng gợn sóng tí ti. Trong cái cuộc sống gia đình lằng nhằng tem phiếu ấy, tôi còn phát hiện ra thêm một điều là cô ấy cũng thuộc loại nghịch ngầm ... có kỹ năng; Hai đứa con tôi cũng không bỏ lỡ cơ hội trong việc thừa hưởng trọn vẹn bộ gien đó của mẹ chúng và, rốt cuộc, tôi thường là nạn nhân của cái liên minh đồng tố và biến hoá khôn lường ấy.
Cho đến năm 1987, cuộc sống đã bắt đầu có chiều hướng khó khăn. Đã bắt đầu xuất hiện những đợt gió mạnh và ngày càng dữ dội từ cuộc sống thị trường hối hả, công bằng và vô tình cùng đời sống viên chức so dụi, chật trội, bon chen và sát phạt. Một số người, như bừng tỉnh sau một giấc mộng dài, chợt mừng rỡ nhận ra rằng "Quê hương" đích thị là "Cây khế ngọt", được ông Trời tạo ra theo cùng công nghệ dùng để chế tạo chiếc niêu Thạch Sanh từ thời cổ tích (!). Người ít lời thì bảo đó là sự ngộ nhận, kẻ riết dóng thì cho đó là một thứ xảo tưởng bởi họ cho rằng không thể đem công nghệ chế tạo ra một vật vô cảm để cho ra đời một thực thể có khả năng cảm nhận toàn bộ những cảm xúc trần tục. Một số chính khách có tâm và đám dân chúng thuộc huyết hệ Âu lạc thì nhìn cây khế xác sơ mà than rằng: Ôi, thảm họa !
Và, trái với cái lẽ thường từ ngàn đời nay, tôi - một gã đàn ông - đã không làm cho vợ con của chính mình được sống no đủ. Vậy mà "Biển" chẳng hề nổi sóng. Tôi thầm biết ơn và kính trọng vợ tôi vì điều đó. Một đêm, khi lũ trẻ nhà tôi đã ngủ tít, vợ chồng tôi cũng đã tắt đèn lên giường, nàng nắm tay tôi thì thầm:
- Cuộc sống ngày càng tồi tệ, liệu có thay đổi được không anh?
- Đúng là như thế, nhưng chúng ta có thể làm gì ? ... mà khối người còn khổ hơn mình ... rồi có lúc cũng phải khá lên chứ ... Nước lên thì thuyền lên, nghĩ làm gì cho mệt !
- Không được đâu anh ơi - nàng nhỏm dậy - các con mình bắt đầu bước vào độ phát triển mạnh cả về thể chất và trí tuệ; chúng cần có đủ chất để không bị thấp lùn như chúng mình; Mà cũng nên tạo một điều kiện vật chất tối thiểu nào đó về giáo dục để tránh cho chúng tình trạng chỉ biết mà không hiểu như mẹ chúng. Đấy anh xem, chúng nó vẫn lớn dần và mọi cái cứ diễn ra tuần tự mà không chờ nước lên đâu ... "Ai chậm rì rì, nó đi chẳng đợi", vì thế  ...
- "Ong vàng ơi, hãy bay đi !" - Tôi bật cười, nối lời nàng bằng câu tiếp theo của một bài hát trẻ thơ mà mấy mẹ con rất thích đó.
Thực ra tôi cũng đã nghĩ nhiều về chuyện này, nhưng bài toán thật nghiệt ngã. Lúc bấy giờ, ngoài một số đi chạy "mánh", "đánh quả", hầu hết mọi người đều làm thêm ngoài giờ hành chính bằng chính cái nghề của mình. Nhưng tôi thì không thể, bởi tôi xấu hổ. Bởi một lần, trong lúc uống bia cùng với mấy người bạn học cũ trong một quán cóc dọc đường cao tốc Thăng long - Nội Bài, tình cờ tôi nghe một cậu sinh viên - cõ lẽ đang học năm cuối - đang la đà cùng mấy cậu bạn, cao hứng đọc mấy câu nhại thơ của cụ Tú Xương: 
"Đạo học ngày nay khác xưa rồi.
 Văn minh, phong hoá cũng vậy thôi "   
Láo toét !
Nhưng đau quá!
Còn vợ tôi, nàng nói nàng cũng không thể, bởi cứ trông thấy bệnh nhân từ các tỉnh về, đau đớn, nghèo túng, cần sự giúp đỡ thì nàng không thể không cố làm cái gì đấy cho họ. Mà cái giống cứ hay đi thương người khác, nếu giàu có được thì cũng còn vất vả lắm !
Sau đó mấy hôm, vào một buổi chiều, trên đường từ trường về nhà, khi tôi đang thong thả đạp xe dưới hàng tán lá xà cừ xanh mướt và đắm mình trong làn nắng chiều vàng nhẹ tràn ngập tiếng chim, bỗng ... réo ... réo ... hai chiếc xe máy, một chiếc bên phải một chiếc bên trái, phóng vượt sát người tôi. "Tốc độ của thế hệ mới !". Chưa kịp mỉm cười vì cái nhận xét theo lối marketing đó thì ... "roẹt" ...  tôi bị bạt ngang sườn và thấy mình bay ra khỏi xe, rồi hình như có một chiếc xe khác nữa trườn qua người ... trong khoảnh khắc đó, tôi mở mắt và chợt nhận ra những tiếng chim vừa rồi đã khiến tôi say mê phơi phới đang tiếp tục phát ra từ một hệ thống những chiếc lồng bóng láng, sạch sẽ, treo ngăn nắp phía bên trên cái ban công inox sáng choang tầng hai của nhà ai đó. Ôi, lại "tiếng chim của thế hệ mới ! ... "
Trong khi vợ chồng đang loay hoay, chưa tìm ra lối thoát về tài chính thì kiếp nạn này lại giáng xuống đầu tôi, lấy mất nốt cái khả năng di chuyển khập khiễng và chuyển đổi tôi thành một gã tàn tật thực sự, bổ sung một cách hoàn hảo cho khúc ca trần ai muôn thuở của cái thế giới mà Nhà Phật cho rằng việc hiện diện của con người ở đó chỉ để hoàn thành giai đoạn sống gửi, tạo ra một bước ngoặt về lượng - và do đó về chất - đưa cuộc đời tôi tiến thẳng đến cổng phủ Tây Hồ, làm chiếc cầu nối giữa những con người thực về mọi nhẽ và một thế giới mù mờ nhưng rất đỗi cao cả và đầy quyền năng bởi chính cái sự mù mờ rất thực của nó !
Tiến thẳng ! Ấy là cách xài chữ như một thứ mỹ phẩm để làm dáng cho câu nói vậy thôi. Trên thực tế, chỉ có ánh sáng và những gì thuộc về nó thì mới đi thẳng. Còn con đường dẫn tôi đến cổng phủ thì lại chỉ liên quan tới phạm trù "Đấu tranh sinh tồn" (theo cách nói của các nhà Thiên nhiên học) hoặc "Sinh kế" (theo cách nói của các nhà Dự án học chuyên thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo) hoặc "Kiếm cơm" (theo cách nói nôm của đám dân gian dông dài, chẳng quan tâm gì về bộ môn lý luận học).
Sao không kiếm một việc gì khác mà làm ... như viết văn, viết sách, vẽ tranh, điêu khắc, làm âm nhạc, hoạt động xã hội ... và, có thể, thể thao ? - chắc hẳn bạn sẽ kín đáo đưa tay lên miệng che cái ngáp, lắc đầu mà hỏi như vậy ! Quả thực, những người tàn tật nổi tiếng đã làm như thế ! Nhưng đấy là họ, mà họ lại dường như là tinh hoa của giới tàn tật và giới có vẻ như không hoặc chưa tàn tật ! Còn tôi, tôi chỉ là tôi và tôi phải trả lời được câu hỏi "Làm gì?" trong phạm vi các dữ kiện rất khiêm tốn về hoàn cảnh và năng lực của bản thân; Phải làm một việc cụ thể để tiếp tục góp sức với đồng chí vợ, thực hiện cái nghĩa tao khang trong giai đoạn mới, duy trì con thuyền gia đình và phát triển thế hệ mới của nó.
Thú thực, buổi đầu tôi cũng thấy ngài ngại, ngường ngượng. Đường đường là một cựu chiến binh, một giáo viên thời đại computer ! ... ấy thế mà lại đi làm cái anh thày nho viết sớ ! Nó cứ thế nào ấy ... , có vẻ không ổn ! ...  Song, dù sao thì cũng đã ở thế trận xoay lưng ra sông rồi. Chỉ có duy nhất một hướng tiến. Vậy là tôi xung phong.
Rồi, như một con người bình thường và theo thói thường, bao giờ cũng cho rằng công việc hắn đang làm là hay ho, là cần thiết, là quan trọng. Và có không ít trường hợp, hắn đã chứng tỏ điều đó với thiên hạ bằng cách bí hiểm hoá thậm chí cả những công việc được phân loại thuộc hệ lao động giản đơn, khiến cho tiếng cười bị tắt ngấm và mọi việc trở nên cực kỳ nghiêm trọng ... , mang hình hài của cuộn len bị một chú mèo đang lớn làm cho sổ tung, không tìm thấy đầu mối và có khả năng khiến cho những người liên quan, kể cả những hạng có bản chất nền nã nhất, được giáo dục nhiều nhất, cũng phải bất giác mà ... văng tục ! Tôi đã thi vị hoá cái việc kiếm cơm thấp tè của mình bằng cách chọn Văn miếu làm điểm hành nghề; Bởi tôi cho rằng đã đến nơi đây thì chỉ có những người hiếu lễ hiếu học, cầu chữ xin nghĩa, khát khao cái đức cái thiện cho mình, cho con cháu mình mà thôi. Và vì vậy, do đó, hoá cho nên: ít nhất tôi cũng được là kẻ trung gian giữa những công dân tao nhã, trong sáng và đức Khổng Tử chí thánh cùng cụ Chu Văn An chí đức, chí thiện !
Quả là tôi đã được gặp những người như tôi mong muốn: Những ông già bà lão, những ông bố bà mẹ có đôi mắt trong veo, luôn mong mỏi cái sự "con hơn cha, trò hơn thày"; Là những nam thanh nữ tú, những khát vọng về tri thức không gì ngăn cản nổi, có nguyện vọng làm chủ cuộc sống bằng trái tim và ánh sáng. Những đoá sen thuần khiết tinh khôi đó được nuôi dưỡng bằng tinh tuý của một lớp bùn hôi tanh và nhẫn nhục, bao dung và ấm áp, luôn bị che khuất bởi một lớp nước trong sõng, nhạt thếch nhưng rất đỗi óng ánh, lung linh; Thứ vật chất mà bao đời nay vẫn là nguồn thi hứng trực tiếp và mạnh mẽ cho dòng các thi sỹ vốn tràn trề tư chất hành chính sự nghiệp.
Nhưng chẳng có cái gì được không bao giờ. Số người đến đây không nhiều và thảng hoặc mới có vài bà mẹ trong số đó nhờ đến cái năng lực viết chữ nho của tôi. Tình trạng này kéo dài có đến nửa năm, cho đến khi một anh bạn cũ lắc đầu ái ngại bảo tôi rằng nên chọn địa điểm hành nghề ở những nơi có nhiều người lui tới, ví như đền Bà chúa kho, phủ Tây Hồ hay chùa Hà ... Tuy có luyến tiếc, nhưng cuối cùng, tôi cũng buộc phải cúi đầu mà thừa nhận rằng cơm gạo và sự lãng mạn - kể cả loại hình lãng mạn tài chính - là hai thứ luôn hình khắc lẫn nhau. Rồi nghe theo lời khuyên đó, tôi không thi vị và nghiêm trọng hoá công việc của mình nữa. Và bây giờ, tôi đang ngồi đây, trước cổng phủ Tây hồ, làm dịch vụ thể hiện các lá sớ với đủ loại nội dung cho đủ loại khách hàng đáng kính và sẽ đáng kính và đang phải đối mặt với câu hỏi hóc búa về bà cụ.
Tuy vậy, cũng chẳng có gì mất không bao giờ. Đổi lại việc không được thường xuyên chiêm ngưỡng những đoá Sen tràn ngập ánh sáng trí thiện, tôi lại có cơ hội hiểu thêm về cái lặng lẽ, khiêm cần và bé nhỏ-lớn lao của các loài hoa lúa, hoa cam ...; Cái tuy hữu sắc vô hương nhưng lại khiến cho người ta vui mắt của các loài đồng tiền, thược dược ...; Cái nghiêm uy, huy hoàng nhưng lại chẳng bao giờ kết nổi được trái nào của các loài hồng, dơn, huệ, cúc ...... Và tuy không muốn, nhưng cũng không phải là thừa khi không thể tránh được việc phải hiểu về cả những loài hoa ác độc nghiệp chướng hoặc những loài hoa tầm gửi vô hại đáng thương, nguyên nhân của không ít những vướng víu, phiền toái không đáng có. Cũng nhờ đó, dần dà, với chút kinh nghiệm nho nhỏ có được trong khi tiếp xúc với khách hàng, tôi được thấy và bắt đầu hiểu ra một phần cái điều mình đã được nghe trước đó có đến hàng trăm lần rằng bản chất con người ta vốn cũng yếu đuối lắm ! Và trong cái bể trầm luân vô thường được tạo thành từ một hỗn hợp tả-pí-lù những yêu thương-căm giận, bao dung-đố kỵ, sung sướng-khổ đau, ham hố-thờ ơ, trung chính-phản trắc, tội ác-điều lành ... ấy, con người luôn cảm thấy thảng thốt, bất ổn .... Sau khi thấy chẳng có điều gì là ngẫu nhiên cả, con người nhận ra rằng khởi nguồn của cái bể trầm luân ấy chính là cái bản năng sinh tồn nội tại của mình mà hai đại diện mũi nhọn là cái bao tử và vật sinh thực khí; Hạnh phúc hay khổ đau, cao thượng hay thấp hèn, điều thiện hay cái ác, nhạc thơ hay gươm súng ... tất thảy cũng đều khởi từ đó. Giê su, Thích ca mầu ni, Mô ha mét, Khổng tử, ... đã tập hợp phần ánh sáng của những bộ đôi đó mà chế ra tôn giáo. Còn những kẻ khôn ngoan thì dùng phần còn lại để tạo nên và không ngừng hoàn thiện các dòng công nghệ "Sống chết mặc bay !" cùng các kỹ năng "Bẩm cụ bây giờ thì thối lắm rồi ạ !". Và sau rốt, nhờ các công nghệ và kỹ năng ấy, con người đã vươn dậy, vững vàng, chững chạc tách hẳn ra khỏi quần thể các loài động vật hoang dã thấp kém trên cái hành tinh xanh đáng yêu này.
 
*
 
Kể từ lần viết cái lá sớ khác thường đó, tôi còn viết thêm cho cụ mấy lá nữa; Tất nhiên, đều là những nội dung tốt đẹp. Nhưng có điều, chẳng thấy ở cụ có gì khá lên, mà thậm chí, về mặt sức khoẻ, cụ còn có vẻ như yếu đi. Có lần, cụ buồn bã bảo tôi: "Bác chỉ xin có thế mà các Ngài không cho!".
Đã mấy ngày cụ không đến Phủ rồi. Thêm nữa, do không thể lý giải được chuyện này, tôi càng cảm thấy áy náy, dấm dứt, bồn chồn không yên. Nhận thấy cô bán vàng hương và ông chủ quán cá cũng rất quý bà cụ, tôi bèn đem chuyện này ra nói với họ. Quả nhiên, họ cũng sững sờ khi nghe câu chuyện.
Sớm hôm sau đó, sau khi dọn hàng tinh tươm, cô hàng hương vẫy ông chủ quán cá sang lều của tôi và nói với chúng tôi bằng cái giọng rất quán xuyến: "Anh bán hàng cho tôi, còn ông lúc nào rỗi thì phụ với anh ấy. Để tôi đi xem bà cụ thế nào !". Nói rồi cô nàng le te dắt chiếc xe đạp cà tàng ra và chỉ loáng sau, đã mất hút giữa dòng đám công chức đang rào rào di chuyển tới các nhiệm sở của họ.
Buổi trưa, cô nàng sầm sập trở về cùng với một trận bão:
- Nói cho các vị biết: các vị chỉ được cái lo bò trắng răng !
- Tìm thấy rồi à ?
- Thấy !
- ở đâu ?
- Trong nhà thương !
- Cái gì ?!
- Trong nhà thương và có công an canh gác !!
- Cái gì ... ??!!
- Trong Nhà thương và sau đó là trong Nhà giam !!!
- Bố láo ! ăn nói cho cẩn thận ! - ông chủ quán cá bắt đầu nổi xung.
- Thì đấy, ông đến mà xem, người ta tìm thấy có Heroin trong chiếc làn của bà ấy đấy ! Gớm ! ... Càng xấu xa thì càng làm ra vẻ đạo đức cao cả; Tin cho lắm vào rồi mà vỡ mộng nhiều ! Chấp nhận đau thương đi ! Còn bây giờ - cô khoát tay, giễu cợt - tất cả về vị trí kiếm ăn !
Nói rồi, cô nàng trở về với gánh công cụ giao cảm trần-linh của mình, mặt và cổ đỏ tía, ngồi dạng chân quạt phành phạch. Ông chủ quán cá cũng phẩy tay, hùi hụi trở về quán, vớ lấy con dao phay, bổ một nhát, làm toác đôi chiếc thớt vốn đã mòn lõm vì bị khai thác quá niên hạn, khiến các dụng cụ chế biến vật liệu giao cảm giữa đức Bao tử và Thiên nhiên tươi đẹp bị xô lệch, nghiêng ngả, lăn vỡ tung toé.
Không thể tin được !
Tôi thuê xe ôm đến ngay bệnh viện. Quả là ở đấy người ta không cho tôi gặp bà cụ vì lý do đương sự đang trong thời gian điều trị chờ điều tra xét hỏi. Khó khăn lắm tôi mới gửi được cho cụ một túi hoa quả nhỏ sau khi phải để lại họ tên và số chứng minh thư của mình.
Không thể tin được !
Tôi lần tìm đến công an phường, nơi quản lý hộ khẩu của gia đình cụ, định bụng hỏi xem có biết được thêm điều gì không thì lại tình cờ nhận ra người tiếp mình chính là Đăng móm, thằng bạn ồn ào cùng trung đội năm xưa; Một lần trong khi xung phong, bị một mảnh đạn bay sượt ngang mồm, gẫy mất hai chiếc răng cửa và sau đó được các bạn ngũ đặt cho cái biệt hiệu Đăng móm. Sau một hồi cuống quýt, tíu tít hỏi han, thông báo tình hình của nhau như hai gã học trò, Đăng hỏi tôi:
-  Mày còn nhớ thằng Bằng không ?
-  Thằng Bằng-quân-tử-gàn-tiên-sinh-mọi-nhẽ chứ gì ? Mày gặp nó à ?
-  Hoá ra quả đất cũng chẳng to lắm đâu; Nó ở ngay trong địa bàn phường bọn tao quản lý đây này: Làm nghề dạy học tư, sống với mẹ và con gái ...
-  Thế còn vợ ...?!
-  Nó không lấy, cái thằng gàn ấy mà, chấp gì !
-  Vậy là nuôi con nuôi ?
-  ừ  ! Con bé thông minh và ngoan ngoãn hiếm thấy.
-  Thế sao nó không lấy vợ ? Hay nhỉ, đúng là Đăng móm, mà "móm" nó vừa vừa thôi bố ơi !
-  Tao không có "móm" ! Việc là như thế này... sau khi mày bị thương và chuyển đi lần ấy, trung đoàn mình được lệnh chuyển quân vào sâu hơn. Trong một lần Bằng được cử đi trinh sát ở khu vực Kon Hà Nừng, không may nó lại nằm đúng toạ độ tuyến rải chất độc hoá học của tụi nó và ... bị dính. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Bằng trở về đơn vị và có bị khật khừ mất chục hôm rồi trở lại bình thường. Chuyện chỉ có vậy và sẽ chẳng có ai nhớ lại nếu sau đó người ta đã không phải quặn lòng chứng kiến những hậu quả thương tâm dai dẳng của thứ hoá chất màu da cam đáng nguyền rủa đó... đấy là lý do khiến nó không dám lấy vợ.
-  Bây giờ nó thế nào ? Tôi sốt ruột ngắt lời.
-  Thì đấy, tao nói hết rồi, có điều nó nghèo lắm và bà mẹ đang gặp chuyện rắc rối: Cụ bị tai nạn xe lửa, tý nữa thì nguy hẳn, hiện thời phải nằm bệnh viện, nhưng ... thật không thể hiểu được ... - Đăng ngừng nói, nhìn tôi chằm chằm, vẻ đau đớn, dúm dó hiện rõ trên khuôn mặt - mà làm sao cụ lại dính vào ba cái vụ này chứ ...?
-  Này, ... có phải bà cụ tên là cụ Thảo, vẫn đi bán quà rong, mắt sáng, nước da ngăm đen, nhân trung sâu, vóc người thấp bé, tóc vấn khăn, tuổi khoảng bảy nhăm bảy sáu, hiền hậu nhưng nói năng rất rành rẽ ... hiện giờ đang nằm ở phòng cấp cứu Khoa nội, bệnh viện Bạch Mai ? - Tôi thận trọng đưa ra câu hỏi.
-  Đúng... chính xác ! Hoá ra mày cũng biết cụ từ trước à ?
-  ừ, thế là đúng rồi ! Ngày nào Cụ chả đến Phủ, cụ hay cho tao lộc lắm, nhưng điều tệ hại nhất là tao không hề biết cụ chính là mẹ thằng Bằng. Thế mày đã có cách gì giúp bà cụ chưa ?
-  Chuyện này nhất định là có uẩn khúc ! Cho đến lúc này, tao chưa dám khẳng định điều gì ... nhưng rõ ràng bà cụ đã nhận mình là chủ chiếc làn nhựa và chi tiết này đã được ghi lại đầy đủ trong biên bản hiện trường. Có lúc, tao nghĩ ... - Đăng dừng lại, thở dài đánh sượt, phẩy tay chán nản và bước lại khuôn cửa sổ. Những tia nắng chiều yếu ớt chiếu xiên vào căn phòng làm việc, tạo nên một vành sáng vàng viền quanh đôi vai vạm vỡ và mái tóc thô cứng của cậu - mà mày còn lạ gì cái thằng hâm ấy ! Đôi khi, thậm chí, tao còn đồ rằng nó mắc chững vĩ cuồng, nó định vô lối trở thành cái bóng của các bậc hiền sư. Nhưng xem ra ... nhiều lúc tao thấy xấu hổ với chính mình, xấu hổ vì cái cách nhìn công chức chật chội của mình. Thấy người âm thầm làm việc nghĩa cử, chấp nhận sự thấp bé nghèo túng thì cho là dở hơi hoặc cao hơn thì cũng chỉ là một thứ cuồng danh; Còn bản thân, ở công sở thì luôn cố tươi cười mềm mỏng với các đồng sự; Đối với cấp trên thì hèn một chút lại cho là tốt và rất cần thiết bởi đấy là cái xương sống trong toàn bộ chiến lược kinh điển tiến bộ cá nhân; Thấy việc không làm, mà uyển chuyển pát-sê cho người khác để tránh các lỗi phát sinh thì lại tự cho mình là khôn ngoan kín kẽ hơn người ...  Cái thằng Bằng này chưa hề tốt nghiệp đại học, nhưng được cái đọc nhiều biết nhiều. Học trò của nó đông lắm, toàn đứa tử tế, thi đâu đỗ đấy. Dân vùng này đều nói về nó với một thái độ kính trọng. Chỉ phải cái nghèo và bệnh tật dai dẳng. Cách đây ba tháng, đám học sinh của nó có làm một cái đơn gửi các cấp, xin mở một trường tư thục ngay trên khu đất của bà cụ; Tất nhiên, chúng nó đề nghị thầy giáo Bằng đứng ra phụ trách; Kinh phí do những học sinh đã tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm và đám dân chúng hâm mộ sự học hành tự nguyện đóng góp. Bọn mình cũng nhận được một bản; toàn đơn vị đều nhất trí ủng hộ và đã trình sang Uỷ ban Quận để giải quyết. Tao biết, Bà cụ vẫn ngấm ngầm xót xa cho bố con nó nhưng lại cho rằng mình chẳng giúp được gì cho con cháu mà chỉ là cái gánh nặng, làm chúng vất vả thêm. Ôi, mẹ bao giờ chả là Mẹ !
Tôi thuật lại chuyện bà cụ nhờ viết lá sớ cho Đăng nghe. Cậu ta thần mặt ra:
-   Lại thế nữa à ?! ... Một bà mẹ như thế, có một người con như thế ... mà lại liên quan đến một chiếc làn ... như thế ?! Chẳng lẽ vì thương con cháu quá, cụ tính chuyện làm liều ?!
-   Thoạt nghe chuyện tai nạn xảy ra ở đường tàu, tao lại nghĩ ngay đến chuyện bà cụ quẫn quá nên cố tình làm chuyện quyên sinh, nhưng sự việc lại ra thế này ... Ôi, đầu tao muốn vỡ !
 
*
 
Đã sang ngày thứ chín kể từ khi bà cụ gặp nạn.
Bà cụ nằm một mình một phòng. Bên trong có một y tá thường trực coi sóc. Bên ngoài, ngồi ngay bên cửa ra vào, là một cảnh sát thường trực bảo vệ, ngăn cản tất cả các cuộc tiếp xúc từ bên ngoài với bà cụ.
Buổi sáng hôm ấy, cha con Bằng, Đăng, tôi, hàng xóm của bà cụ, đám học trò của Bằng và một số người làm ăn ở cổng Phủ ..., kẻ đứng người ngồi trong dãy hành lang sực mùi thuốc sát trùng trước cửa phòng bệnh, chẳng ai nói với nhau lời nào. Khoảng 9 giờ, cánh cửa phòng bệnh kẹt mở, vị bác sỹ già bước ra. Cả đám chực dồn lại hỏi thăm tình hình sức khoẻ của bà cụ bỗng khựng lại bởi người thầy thuốc còn trao đổi điều gì đó với viên cảnh sát. Lát sau, họ tiến lại phía chúng tôi, vẻ ái ngại pha chút cảm thông: "Bà lão yếu lắm rồi ... với sự giám sát của ông đây - ông bác sỹ chìa tay về phía viên cảnh sát - các vị được phép vào thăm, nhưng chớ làm điều gì kinh động".
Chúng tôi bước vào phòng. Bà cụ nằm đó, nước da tái nhợt, hai mắt nhắm nghiền, khuôn mặt dúm lại như vừa trải qua một cơn đau dữ dội. Con bé con nhào đến bên giường, áp hai tay vào má bà, mếu máo: "Bà ơi, bà về nhà với con đi ... rồi bố con con lại bóp chân cho bà ... bà ơi  ... !". 
            Tiếng khóc của đứa cháu gái, như liều thuốc thần diệu, kéo bà lão thoát khỏi trạng thái đắm lịm lạnh lẽo. Cụ từ từ mở mắt. Bằng nắm lấy tay mẹ, đau đớn xót xa. Cụ nhìn chằm chằm vào khuôn mặt người con trai, tay kia cố vòng vào đứa cháu gái, hai giọt nước mắt đặc quánh ứa ra và dừng lại trên đôi gò má nhăn nheo thấm đẫm nỗi đời nhọc nhằn: "Đừng khóc nữa các con - cụ nói, giọng khó nhọc - ai chả phải chết. Chớ làm việc quá sức. Bố con lo chăm sóc cho nhau. Nếu có điều kiện, giúp cho mẹ con cô Dậu ...". Cụ quay sang phía Đăng: "Cháu nói giúp bác với công an ... cái làn ấy đúng là của bác đấy, đừng điều tra nữa ...". Cụ lại nhìn tôi: "Cháu ơi ... Trời Phật đồng ý rồi đấy ...".  Rồi cụ đưa mắt nhìn tất cả một lượt: "Rồi bác sẽ cố ... làm gì đấy cho ... tất cả ... các ... con ! ...".  Sau đó cụ lịm đi, trên môi vẫn còn đọng lại nụ cười.
Đám tang bà cụ đơn sơ nhưng rất đông. Bước chầm chậm trong dòng người, bất giác tôi nghe thấy ai đó nói ngay phía sau:"Thật đáng tiếc, không hiểu vì sao bà cụ lại tham gia vào một việc như thế !" "Có lẽ ... " - người thứ hai toan giải thích, nhưng rồi không hiểu sao lại im bặt. Suýt nữa tôi đã quay phắt lại và bật ra một phản ứng đáng tiếc nào đó, bởi không bao giờ tôi tin vào cái điều mà người ta đang bàn tán. Thật may, tôi đã kịp trấn tĩnh lại.
            Trong đám tang người ta thấy chị Dậu ốm yếu và đữa con gái mười ba tuổi gầy nhẳng nheo của chị cũng đội khăn tang. Trên khuôn mặt họ là tình cảm đau đớn thường chỉ thấy ở những người cùng huyết thống.
Lúc hạ huyệt, tôi nhận ra ông chủ quán cá, cô hàng hương và mấy tay anh chị cổng Phủ đứng bên cạnh, mắt đỏ hoe.
Sau đám tang mấy hôm, Đăng ào đến chỗ tôi như một cơn lốc, mặt mũi hân hoan như cậu bé tìm thấy người mẹ tưởng như không bao giờ còn được gặp lại. Thì ra: chị Dậu - Một hàng xóm của Bằng, vốn là một Thanh niên xung phong thời chống Mỹ, lỡ làng chuyện hôn nhân - ốm lay lắt đã lâu không khỏi. Do quá khó khăn, đứa con gái phải nghỉ học đi giúp việc cho một gia đình khá giả để đỡ tiền thuốc thang cho mẹ. Buổi sớm hôm xảy ra tai nạn, trên đường đi chợ, con bé được một người lạ mặt cho khá nhiều tiền và nhờ nó đưa chiếc làn đó đến trao cho một người đang đợi gần một cửa hiệu thời trang khu Kim liên. Cô bé đã cảm thấy có gì đấy không bình thường nhưng vì thương mẹ và quẫn quá nên đã nhận lời làm liều. Và cũng do biết mình đang làm một việc không bình thường nên nó bước đi trong tâm trạng hốt hoảng, thiếu tỉnh táo và suýt nữa đã bị đoàn tầu hoả đang ầm ầm kéo đến cán phải nếu không có bà cụ tình cờ vừa đi đến đó nhanh tay cứu giúp. Khi kéo giật con bé ra, bà cụ mất đà, va vào tấm chắn của đầu tầu và bị hất ngã ra lề đường, chiếc làn lăn đi mấy vòng làm văng ra những gói nhỏ màu trắng. Hai viên cảnh sát chạy lại. Không hiểu sao lúc ấy, mặc dù bị đau nặng nhưng bà cụ rất tỉnh táo. Sau khi xem xét nhanh hiện trường, một viên cảnh sát hỏi bà:"Chiếc làn đựng thứ ma tuý này là của bà ?". Bà cụ há mồm kinh ngạc, toan cất lời nhưng chợt chững lại ... khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua, nét mặt bà dần giãn ra, bình thản: "Vâng !". Trong khi mọi người hối hả gọi xe cấp cứu, cụ quay sang nhìn con bé vẫn đứng đó, mặt mày xanh xám, run rẩy sợ hãi, nói khẽ: "Con bé kia, có cái gì mà nhìn ? về đi !"
Chị Dậu cùng con gái đã đến đồn cảnh sát kể lại hết với Đăng mọi chuyện, khẩn khoản xin minh oan cho bà cụ và chịu tội trước pháp luật.
 
*
 
Hôm bốn mươi chín ngày của bà cụ, các cụ trong Hội bảo thọ khuyên chúng tôi đưa bà cụ lên chùa cho mát mẻ. Các cụ còn nhắc thân chủ nên để cái bát hương thờ lơn lớn một chút. Chúng tôi cười thầm cho rằng các cụ vẫn còn mê tín quá, chắc các cụ tưởng bát hương lớn thì cái sự phúc đức cho con cháu cũng lớn theo vậy. Một thời gian sau - đúng là "Cá không ăn muối cá ươn ..." - chúng tôi phải thay vào đó một bát hương mới như lời các cụ đã dặn để khắc phục tình trạng có quá nhiều chân hương cắm chồng chất cao lên, che khuất cả tấm ảnh thờ.
Lớp học của Bằng năm ấy có bảy mươi bảy cháu theo học thì đỗ đại học bảy mươi sáu đứa. Con bé nhà Bằng đoạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi môn văn của thành phố. Cuộc sống của chúng tôi đều đỡ khó khăn và ai cũng cảm thấy phấn chấn ra.
Trường học đã xây xong. Hôm khánh thành, tất cả học sinh cũ và đám dân chúng thèm khát sự học tập đều về dự. Một năm học mới bắt đầu. Con bé con nhà chị Dậu được nhận vào học và nhận thêm việc lo nước uống cho học sinh để có thêm tiền đỡ mẹ.
 
*
 
Hôm nay là ngày rằm, tôi vào chùa thắp hương cho cụ. Trên đường về tôi bắt gặp một con cá quả đang quằn quại trên đám cỏ bên bờ một cái ao nhỏ, kiến bâu đầy mình. "Ôi, chim sa cá nhảy !". Tôi dừng lại và đang cảm thấy không vui vì điều đó thì bỗng xoạch một cái, con cá đã vằng xuống ao. Những con kiến bắt đầu nổi lên như váng trên mặt nước và sau đó là lép tép ... lép tép, đàn rồng rồng màu đỏ thẫm nổi lên, đua tranh nhau đớp kiến. Con cá ban nãy ngoi lên mặt nước đớp khí rồi nhẹ nhàng bơi xuống, nấp gọn bên dưới một chùm rễ bèo tây đen sậm, quay đầu sang canh chừng cho lũ con háu ăn, ngốc nghếch của nó. Và đúng khoảnh khắc đó, thời gian như ngưng lại, đầu óc như rỗng không, vạn vật như bừng sáng, tôi chợt ngộ ra: ý nguyện được chết của bà cụ là một nguyện vọng hoàn toàn thực. Cụ cho rằng cụ giúp cho con cháu chẳng được bao nhiêu. Cụ tin là nếu một người suốt đời chẳng làm điều gì ác độc, khi chết đi phần hồn sẽ trở nên linh thiêng bền vững và có khả năng phù hộ được cho con cháu và những người mình yêu quí nhiều điều tốt đẹp, phúc đức. Có phải đó là sự thăng hoa của tình mẫu tử, là đạo lý của những bậc cha-mẹ ?! Mà đã là đạo lý thì không bao giờ là mới hoặc cũ. Chỉ có điều, chúng ta - những kẻ luôn nghĩ và yên tâm rằng mình là người tốt - lại không mấy khi nhận ra !
Giờ đây, mỗi khi nhớ tới cụ, tôi lại thấy nụ cười của cụ lúc lâm chung hiện lên rõ mồn một, dịu dàng toả sáng. Có lẽ, trước khi bước lên thọ nạn trên cây thập ác, chúa Giê-su cũng đã mỉm cười như vậy ./.     
             


Chuyện thứ hai
 
LÃO PHỆ

Thực ra tên thật lão là gì, cho đến bây giờ, tôi cũng chưa biết. Ngay từ những ngày đầu, khi mới hành nghề viết sớ ở cổng Phủ Tây Hồ này, trong tâm tưởng, tôi đã gọi lão bằng cái tên như vậy. Nói cho đúng, tôi nào có biết gì về con người lão, tôi và lão đâu có quen biết nhau, đâu có ân oán giang hồ gì với nhau ! Xét người như thế liệu có quá nhẹ dạ, có quá tư ý không ?
Lão ở trong một ngôi nhà to vật vã, có đầy "hoa leo, lá ngời phản chiếu" [3], toạ lạc ngay bên con đường dẫn vào cổng Phủ, nơi mà ngày nào tôi cũng phải hai lần kẽo kẹt đi về ngang qua trên một chiếc xe cà tàng và, gần như vô thức, cứ phải so sánh nó với những căn nhà tối tăm và bốc mùi trong khu ổ chuột Thanh Nhàn. Khi ở ngoài đường, khuôn mặt trắng hồng, viên mãn với hai con tằm vồng xuống ở phía mi mắt dưới của lão lúc nào cũng nghênh nghênh theo cái lối "hạ mục vô nhân". Lại còn cái thói mặc bộ đồ ngủ, dắt chó đi dạo buổi sáng sớm mới "tiên sinh thư thái", mới xa cách với những người đồng bào lam lũ của mình làm sao ! Có hôm, lão không đi dạo mà tập chạy trên một chiếc "Máy thể dục" đặt ở góc sân. "Dởm đặc !". Nếu muốn xả bớt năng lượng dư thừa để giảm cân thì hà cớ gì không cuốc bộ một đoạn ra vườn đào của nông dân gần đấy mà hỏi: "Còn chỗ nào cần cuốc xới, bác để tôi sài đỡ ?!". Thế có phải vừa khoẻ người, vừa "ra thóc" không ?
Với lại, thử hỏi, thuở bé có ai lại không ham mê chuyện cổ tích - một thứ văn học dân gian, bắt nguồn từ đời sống, được chấp nhận và sống cùng chúng ta đã nhiều ngàn năm nay. Mà cổ tích thì thường bắt đầu bằng: "Ngày xửa ngày xưa, có một lão nhà giàu keo kiệt ... / có một lão địa chủ độc ác ... / có một gã nhà buôn tham lam và biển lận ..." hoặc: "Ngày xửa ngày xưa, có một bác nông dân nghèo nhưng thật thà và hay thương người .../ có một anh thợ nghèo nhưng vui tính và thích giúp đỡ người khác ... ". Và, một cách thô thiển, nếu coi cái đầu của chúng ta là một bộ vi xử lý cực kỳ tinh xảo thì những điều đó hầu như đã được cài đặt vào hệ thống xử lý dữ liệu của nó với tư cách là những thông tin mặc định; Thông tin này, dĩ nhiên, nếu chuyển sang ngôn ngữ học thuật, nó được gọi là chân lý.
Nhớ lại, hồi còn học cấp một, mỗi khi đám trẻ con chúng tôi có điều gì không bằng lòng mà nổi cáu với nhau, nếu có đứa nào đó vì quá tức giận mà xả vào mặt đối thủ của nó câu "Đồ con nhà giàu !" thì điều đó cũng có nghĩa là sự mạt sát đã đạt tới độ hoàn hảo về ý tứ và tinh vi về cách biểu đạt. Và cái sự phát ngôn đó được giới người lớn hiểu biết đánh giá là chỉ có thể được phóng ra từ một tâm hồn trong sáng và hứa hẹn một bản lĩnh văn hoá đông phương đủng đỉnh mà thâm hậu.
Thế thì cái cụm danh từ "Lão Phệ" mà tôi tự đặt cho lão, dù chỉ trong tâm tưởng, thực ra cũng có căn cứ thực tiễn và khoa học lắm chứ !
Thỉnh thoảng lão cũng lững thững vào Phủ, thắp một nén hương (thật không thể chấp nhận được !) và không bao giờ chịu mất một cắc nhỏ cho giới trung gian Trần - Linh chúng tôi. Không thấy ai nói gì về lão, trừ một lần, nhân vừa bán cho lão thẻ hương, cô hàng hương nói với tôi: "Lạ thật, cái nhà ông này, lần nào cũng chỉ có nhõn một thẻ hương, chẳng bao giờ sắm lễ sắm lạt gì cả; mà cái lối hành lễ cũng ngang ngang thế nào ấy, chẳng giống ai: Thản nhiên cắm hương lên điện, rồi lùi lại mấy bước, hai tay tỳ lên đầu chiếc can, mắt nhìn chằm chằm vào ngôi tượng thờ, chẳng động đậy khấn khứa xin cầu gì sất, nét mặt cũng chẳng có gì là cung kính, thành khẩn, cứ như là đi thăm bạn ấy; Nghĩa là ... hình như ông ấy có vẻ chẳng luỵ, chẳng sợ cả Thần tài lẫn Thần quyền. Khối kẻ miệng lưỡi đầy gang đầy thép, hiển hách cả một vùng mà cũng còn chẳng dám thế ! Lắm khi tôi cũng thấy sợ thay cho ông ta !".
Và tôi cũng nhận thấy tất cả những công dân đang tham gia các hoạt động kiếm sống ở khu vực cổng Phủ đều tỏ ra kính trọng, nể vì chào lão mỗi khi giáp mặt. Còn lão chỉ khẽ gật đầu đáp lại và dường như coi đó là sự tất nhiên, là cái trật tự xã hội nó vốn thế, phải thế ! Dù mới hành nghề ở đây được mấy tháng nhưng tôi luôn thấy gai mắt, bức xúc mỗi khi gặp những cảnh huống mà lão đóng vai trò kẻ cả, trịch thượng như vậy. Bây giờ là thời nào rồi ? Chúng ta đang sống trong một nền cộng hoà - một hình thái xã hội tiến bộ cao - chẳng phải đã được những công dân Pháp yêu tự do và tiếng cười cùng hát vang khúc tráng ca Marseillaise lộng gió, trân trọng đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng của nó từ năm 1789 và, sau đó, loài người tiến bộ vẫn không ngừng đấu tranh để hoàn thiện trong cả mấy trăm năm trời nay đó sao ?. Ôi ! "Tiền tài hai chữ " xưa nay vốn luôn được người ta dùng mực "son" mà "khuyên ngược" là thế ư ?!­­­ Kh­­ông nhẽ cái thằng người chúng ta mãi vẫn chỉ là những nhà thời trang học đầy sáng tạo thôi sao ?!
- Này ông bạn, viết cho lá sớ đi !
Câu nói đó của một người bạn bình dân hành nghề lái xe ôm ở cổng Phủ khiến tôi choàng tỉnh, kéo tôi ra khỏi dòng suy tư to tát, không hề ăn nhập gì với hoàn cảnh và địa vị xã hội của một anh thày nho chuyên nghề viết sớ. Tôi đỏ mặt lúng túng hỏi :
- Nguyện ... nguyện vọng ?
           - Thằng con tôi ngày mai thi đại học. Tôi muốn xin các ngài cho nó sự may mắn, thông suốt ... còn viết thế nào thì ... chậc, ... tuỳ ông !
Tôi mỉm cười, nhìn anh và thấy vui vui. Còn anh thì hình như hiểu lầm, nhìn  tôi chằm chằm, thoáng vẻ bất mãn:
-  Thì cũng phải thi một tý chứ, còn cái phúc nhà mình nó đến đâu thì vẫn là phải chịu .... Thì vẫn biết người có lao động làm nghề gì cũng tốt, cũng lương thiện, cũng đàng hoàng ... nhưng đấy chỉ là "ný nuận" ... !  Đấy, từ thượng cổ đến giờ, có thằng chó nào muốn cho con cái làm nghề cuốc đất ... chạy xe ôm, chẳng qua cũng chỉ là ... cực chẳng đã. Mà học tập từ xưa nay là cái quyền chẳng của riêng ai sất; Con nhà vua hay con nhà sãi: mặc kệ, có sức thì cứ việc học !
-  Ông hiểu nhầm tôi rồi. Trái lại, tôi rất vui vì thấy mọi người đều chăm lo cho việc học tập của lớp con cháu.
-  Các cụ đã bảo rồi: "Nhân bất học bất tri lý" mà. Không học thì khó mà biết được các cái phải trái, khó mà nhàn cái thân lắm. Cứ nội bản thân tôi mà ngẫm, học hành chả đâu vào đâu, chữ nghĩa chẳng được bao lăm, có nghĩ được cái gì cho ra cái gì đâu. Mà ông xem, trong các phim chiếu trên ti vi ý ... , từ đời các vua chúa, có triều đình nào cấm con người ta học đâu, có coi cái việc học là quyền dành riêng cho một tầng lớp nào đâu. Có hoạ là bị thần kinh phân liệt !
Nhận thấy tôi chăm chú lắng nghe với một thái độ tôn trọng, cảm thông thực sự, anh hạ giọng, nói tiếp:
-   Nhưng mà nghe ti vi than phiền là cái sự bằng sắc bây giờ cũng đáng ngờ lắm, thật giả nó cứ lộn tùng phèo cả lên. Ngày xưa lạc hậu, dân còn dốt nát, người ta mua tước mua quan đã đành, nhưng bây giờ, bằng cũng mua được đấy !  Nhưng tôi đếch cần ! Nếu con tôi thi đỗ, thì nó cứ học. Học là làm cho cái đầu mình nó sáng ra ấy chứ. Cái tôi khoái là cái đầu của con tôi phải sáng hơn cái đầu tôi, chứ có bằng sắc mà đầu óc vẫn tối mò mò thì cũng ... - môi trề ra, anh lắc lắc cái đầu - chả làm cái con mẹ gì, chỉ tổ làm khổ hàng xóm !
Ôi ông bạn bình dân của tôi ! Anh đúng là một giọt nước của cái đại dương bao la mà cụ Nguyễn Trãi cho rằng nó có thể quyết định số phận của bất cứ con thuyền nào đi lại trên đó. Cảm ơn anh đã giúp tôi xoá tan nỗi hoài nghi về nhận định "Ba anh thợ giày bằng một ông Gia Cát" của người xưa.
Thực ra anh là người đầu tiên tôi quen biết ở khu vực cổng Phủ. Cái thô nhám toát ra từ lời ăn tiếng nói, từ từng cử chỉ nhỏ chính là những yếu tố đầu tiên khiến tôi có cảm tình và gần gũi với anh. ở cái xã hội cổng Phủ này, hầu như mọi người đều quen biết nhau, thân có, sơ có, mà không ưa nhau: cũng có. Xã hội mà ! Nhưng tóm lại, tôi vẫn thấy ưa người bình dân bởi họ ít quanh quéo, à ơi; bởi họ giản đơn ngay cả trong cái bặm trợn thô thiển khó coi nhất; bởi họ không có tham vọng và vì thế không phải có những cố gắng quá tải so với năng lực của mình để rồi sinh ra lắm cái phiền toái, làm rối loạn hệ thống các chuẩn mực tinh thần không thành văn mà nhiều đời nay dân ta vẫn ưa dùng.
 
*
 
Rồi đến một hôm, tôi nhớ đó là một ngày rằm, khi đang hí hoáy viết sớ cho khách, tôi bỗng nghe giọng nói như quát của ai đó:
- Ông ở xới nào đến ?
Thì ra đó là ông bạn xe ôm thân mến của tôi. Anh khoanh hai tay trước ngực, ngồi dựa vào yên xe, hất hàm hỏi một người đang đứng cạnh chiếc xe Honda đời 79 đỗ sát ngay bên. Người đàn ông nhỏ thó đứng cạnh chiếc xe đó - vận bộ quần áo trông cũng thấy ngay là đã cũ nhưng vẫn rất sạch sẽ, đội một chiếc mũ lá rộng vành mới toanh che nắng cho khuôn mặt nhầu nhĩ, ốm o và cớm nắng (có lẽ vốn là công chức)  - nhìn anh bạn tôi, ngơ ngác:
- Anh hỏi tôi ?
- Phải, tôi hỏi ông đấy ! - giọng anh xe ôm trì xuống, không hứa hẹn một điều gì tốt lành.
- Thế "xới" là gì ... tôi không biết ... ? - Người đàn ông nhỏ thó mặt vẫn đớ ra.
- Thần kinh à ?! ... Ông ở khu nào đến đây ?
- À ...  - Người đàn ông nhỏ thó chợt hiểu ra, nở một nụ cười hiền lành, hoà nhã trả lời  - tôi ở khu Đống đa.
- Thế thì, nói cho nhanh, xéo về xới Đống đa mà kiếm ăn. Để cho người ta sống với chứ !
            Hiểu ra điều anh bạn tôi muốn nói, người đàn ông mới đến không giấu được sự ngạc nhiên, mềm mỏng bật lại:
- Cũng như ông thôi, tôi chạy xe ôm ở đây thì có sao ?
- Đồ ngu lâu, tao bảo mày biến, mày có biến không ?! - Mắt vằn ngược và các thớ thịt trên má anh bạn tôi bắt đầu rung lên nhằng nhằng ...
- Ông đùa đấy à ? Ông không có quyền ! Ông có biết ông đang sống trong một chính thể nào không ?!
- A ... ! Mày lại chính trị chính em với bố mày à ?
            Thế là, phắt một cái, anh bạn xe ôm của tôi đã nhào tới, đấm đá túi bụi vào cái hình hài còm cõi, nhầu nhĩ và cớm nắng kia không chút thương xót. Mọi người quanh đấy chỉ biết lắc đầu mà nhìn cái thân hình còm cõi đương quằn quại, yếu ớt chống đỡ cơn mưa bạo lực giang hồ đang xả láng giáng xuống với một cường độ không thể kiểm soát.
- Dừng lại ! Khốn nạn ... dừng lại !
            Lão Phệ xuất hiện. Tiếng quát của lão vang lên như một thứ quyền năng, đầy uy lực, khiến trận mưa đòn ngừng ngay lại .
-  Đồ súc sinh ... sao lại đánh người ta dã man như thế ?! - Lão phệ chỉ thẳng tay vào mặt anh bạn tôi, hổn hển, giận dữ hét lên.
            Tôi bỗng thấy lo sợ thay cho Lão Phệ. Cái đám lửa đang độ phừng phừng cực điểm kia rất có khả năng cháy lan sang lão lắm chứ ! Thế nhưng tình thế có vẻ diễn ra không theo cái logic thông thường đó.
- Tôi làm xe ôm ở đây từ trước, nó đến tranh khách của tôi. Bảo đi chỗ khác, đã không nghe ... còn "ný luận" vớ vẩn ... - Anh bạn tôi hầm hầm, uất ức giải thích.
-  Chỗ này đâu phải của riêng ai - Lão phệ đứng thẳng người, một tay tựa trên chiếc can trúc, tay kia - vẫn chưa hết run vì giận - chìa ra, giảng giải: Nhà anh cần cái ăn cho con, nhà anh kia cũng cần cái ăn nuôi con, chúng đều là những đứa trẻ cần được nuôi dưỡng; Sau này lớn lên, chúng đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội ngang nhau. Đơn giản như thế sao không hiểu ?! Mà cùng dân nghèo với nhau thì càng phải biết thông cảm, biết thương nhau chứ, đánh người ta ngay ở cổng Phủ mà không sợ phải tội sao ?! - rồi ông quay sang người đàn ông đang ôm bụng, vẫn nằm dưới đất, mặt mày tím bầm, rớm máu - Nhà anh kia không có nghề nghiệp gì à ?
- Có ... cơ khí ... - anh thều thào trả lời.
-  Còn đứng đó à ? - Lão quay sang mấy người vẫn bán hàng ở cổng phủ, đứng xúm quanh, lẫn vào đám người đi lễ - Khiêng ngay người ta về nhà tôi !
Thế là thế nào ? - Tôi không thể giải thích được tất cả những gì tôi vừa được chứng kiến. "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã !" là điều từ xưa đã in sâu vào tiềm thức của con người ta rồi, nhưng có phải ai cũng làm được đâu ! Dẹp một đám ẩu đả là việc ai cũng tán thành và ai cũng lường trước được sự nguy hiểm mà người thực hiện có thể phải gánh chịu. Vì vậy ít ai dám làm, trừ cái ông già mà sức vóc có thấm gì so với sức vóc đương độ của anh xe ôm kia. Ông ta vốn là một "cao thủ võ lâm" không "xuất thế hành tẩu" chăng ? Anh lái xe ôm kia sợ hãi cái con người sở hữu một khối tài sản mà anh ta có nằm mơ cũng chả thấy ? Hay ông ta là La Hán giáng thế ?  ...
 
*
 
            Chuyện sẽ chỉ có thế và những câu hỏi không giải đáp được vẫn lơ lửng trong đầu chắc hẳn sẽ theo thời gian nhạt dần trong tâm trí tôi nếu như vào một buổi tối sau đấy vài ba tháng, tôi không nhận ra cái nhà anh còm nhom ấy xuất hiện trên tivi với tư cách khách mời của chương trình "Những con ong mật". Thì ra anh ta đã đề xuất một mặt hàng mới cho một xưởng sản xuất từ thiện tư nhân và chính anh đã nghĩ và chế ra một dụng cụ rất đơn giản để sản xuất ra thứ mặt hàng đó, tạo điều kiện cho ông chủ của mình, là chính cái "Lão Phệ" ngang ngang ngửa ngửa kia, thoả mãn cái sở vọng nhận thêm trẻ em cơ nhỡ vào xưởng làm việc với mức lương tiềm tiệm đủ ăn đủ học.
            Hoá ra, nghịch ngầm đâu phải là cái tính riêng có của giống người phàm chúng ta. Nếu có một cái "Hội của những kẻ khoái nghịch ngầm" thì chủ tịch của nó không phải là ai khác mà chính là cái Ông Xanh vốn đa sự kia vậy ! 
 




Chuyện thứ ba
 
 
ANH THƯỜNG  
                                                       Lời rằng: " Đ ... mẹ nhân tình đã biết rồi ..."
                                                                 Nguyễn Công Trứ
           
- Ê ... Thiền ... !
            Nghe tiếng gọi, tôi quay lại.
            - Ôi ... anh Thường ... !
            Đứng trước lều là vị thủ trưởng cũ của tôi, hiệu trưởng của một trường phổ thông trung học mà trước đây tôi đã từng làm việc. Vẫn dáng vẻ tự tin, không bao giờ vội vàng của một người luôn nghĩ "cứ từ từ, đâu sẽ có đó !", anh đứng đó trong bộ trang phục mùa hè "kinh điển", thoảng chút mùi ẩm mốc: Chiếc quần ka ki ống rộng màu be có gấu lơ vê; Cái áo cộc tay may bằng thứ vải dày màu trắng với hai chiếc túi khổ rộng đến gấp hơn hai lần chiếc bì thư được định vị nơi ngang tầm thắt lưng - thứ áo mà các "lão trí bất hoặc" vẫn ưa dùng; Tờ báo Công an thủ đô gấp gọn ghẽ, nhô lên khỏi miệng cái túi áo nhầu nhĩ; Chiếc mũ vải hẹp vành, may bằng cùng thứ vải với chiếc áo, đội ngay ngắn che khuất khoảng đầu đã từ lâu tóc không còn mọc nữa; Đôi dép da màu nâu quai nhỏ không vương chút bụi bặm; Ngón giữa bàn tay trái ngoắc đung đưa một cái bọc buộc túm bằng bốn góc của một chiếc khăn mùi xoa cũ nhưng vẫn sạch sẽ cộng với chiếc can nơi tay phải, được làm từ thứ hèo già đã lên nước bóng láng làm con người anh toát ra cái vẻ nhàn nhã, nhẹ nhõm của một công chức thạo việc vốn chung thân trong sáng.
            Anh chậm rãi bước vào lều, ngồi xuống giữa chiếc ghế dài tôi vẫn dùng để tiếp khách, để chiếc mũ lên mặt bàn và cẩn thận đặt cái bọc mùi xoa vào lòng chiếc mũ. Chiếc bọc trành xuống, để lộ qua khoảng hở giữa các múi buộc của góc khăn những chiếc nhẫn vàng choé, ngồn ngộn. Nhận thấy sự chú ý của tôi, anh nhấc cái bọc ra và úp chiếc mũ lên chốc, ấp úng giải thích : "Chậc ! Trẻ con nó thích chơi thứ này, mua về cho nó mừng"
- Anh có khoẻ không ?  Sống thế nào ?
- Về hưu được mấy năm rồi. Đã lên chức ông nội gần chục năm. Mọi thứ cũng tàm tạm. Chỉ tiếc, bà lão nhà tớ mất sớm quá. Lắm lúc cũng thấy cô đơn ... chậc ... - anh khẽ hất hàm - cuộc đời nó vốn thế ... !
Anh ngừng lại, nét mặt thoáng chút ưu tư, mệt mỏi, toan nói tiếp nhưng rồi lại thôi. Nhận ra đấy là vấn đề nhạy cảm, sâu kín, người ta chỉ muốn nói khi có nhu cầu thổ lộ và khi tìm thấy ở người nghe một sự chân thành, tin cậy, tôi bèn lảng đi:
- Anh cũng đi lễ à ?
- Trước đây thì không. Giờ thì có. Nhưng không tốt sao ?
- Em đâu dám nghĩ thế. Đấy, anh xem, em cũng đang hành nghề viết sớ cho khách đi lễ đây thôi. Có điều, trước kia em thấy hình như anh chẳng mấy quan tâm đến những gì ... ta không thể định lượng.
- Té ra trong bộ nhớ của chú mày vẫn còn một khoảnh dành cho ta, cũng hơi ác ngôn đấy, nhưng mà ... đúng, xin cám ơn ! Tớ chỉ muốn cống hiến chú một điều: đầu óc chúng ta thực ra cũng chật chội lắm, nhớ nhiều làm chó gì cho nó mệt. Thời buổi này thông tin nhiều mà lắm khi truyền nhanh như một thứ dịch bệnh, đôi khi cũng phải chủ động xoá bớt đi cho khoẻ, cho đỡ lệch lạc. Đúng là trước đây tớ đã từng nghĩ và tin rằng cuộc đời làm đếch gì có sự công bằng, có điều phải khôn khéo tạo ra cái công bằng mà ta phải được hưởng. Còn tình yêu thương ... cái đó thì tốt, nhưng cũng đáng ngờ lắm ! Chẳng qua, thiếu cái gì thì người ta hay nói về cái đó thôi.
- Còn bây giờ ? - Tôi thú vị ngắt lời anh bằng sự háo hức của một kẻ đang khát vừa tìm được đồ uống.
- Bây giờ ý à ?  - anh nhìn tôi qua phía trên cặp kính lão, bặm môi, thận trọng thăm dò và nói tiếp - Bây giờ ý à ? Tớ là một chiếc lá vàng úa, đã rời khỏi cây mẹ, vật vờ, vô định trên mặt nước của một cái ao tù. Rồi đến một ngày nào đó, chiếc lá ấy sẽ chìm xuống, tan rữa và trở về với bùn đất. ở cái thế vật vờ, vô định này, tớ mới bắt đầu mở to mắt quan sát xung quanh. Thì ra hàng đời đời nay cái thằng người vẫn loay hoay ngụp lặn trong cái vũng khao khát - mưu toan, thèm muốn - vật vã, giành giật - thiệt hơn, tinh vi - khờ dại, hy vọng - thất vọng, mãn nguyện - cay cú ... và đến một ngày nào đó lại vật vờ, lại vô định trên mặt nước của một cái ao tù, rồi lại sẽ lặng lẽ chìm xuống, tan ra và tối giản trở về với bùn đất. Cứ thế, cứ thế ... Rồi một hôm, trong đầu tớ bỗng hiện về một câu hỏi mà hơn hai mươi năm trước đây tớ đã được nghe ở đâu đó nhưng không để tâm: Chúng ta là ai ? Từ đâu đến ? Sinh ra để làm gì ? Rồi sẽ đi về đâu ? Về hưu rồi, nhàn rỗi nên cứ hay nghe hay ngóng, hay xem hay đọc, thỉnh thoảng lại đưa tiễn một người quen biết trở về với bùn đất, nghĩ vơ nghĩ vẩn rồi sinh nhảm sinh nhí; lắm khi hoảng sợ, tim đập loạn xạ; lắm khi hoang mang, mồ hôi vã ra như tắm. Mấy cha vũ trụ học bảo đã tính toán được trái đất của chúng ta còn tồn tại được khoảng 15 tỷ năm nữa. Thế thì sau đó sẽ thế nào, các giá trị vật thể đã đành, nhưng còn các giá trị khác ? ... Tất cả được trả lại "Hố đen" để chờ thực hiện một chu trình vũ trụ tiếp theo ? ... Hãi quá ! Thế thì cái gì vẫn điều khiển cái chu trình ấy ? Tự nhiên sao ? Làm chó gì có cái gì tự nhiên xảy ra ? ... - Anh nhìn tôi, chờ đợi một phản ứng. Thấy tôi tròn mắt, không nói gì và có vẻ như cơn khát chưa được thoả mãn, anh nói tiếp - Trời sinh ra thế ! Đó là câu trả lời không biết có từ bao giờ nhưng cho đến bây giờ chưa có câu trả lời nào thay được nó ! Vậy cũng phải có cái gì đó để mà tin chứ.  Vả lại, chú nghĩ mà xem, giống người chỉ khác các giống khác ở cái đầu và quả tim. Mà hai thứ này, chậc ... cũng lung tung lắm, bất kham lắm và cũng phiền toái lắm ! Có lúc chúng cho ta lên thiên đường, có lúc chúng cho ta xuống địa ngục, nhưng thường chúng cho ta sài lẫn lộn cả hai thứ theo những tỷ lệ vô cùng đỏng đảnh. Thành thử thường là ta hay bị lầm lẫn, không biết thế nào mà lần. Đang ở dưới địa ngục tối tăm mà ngỡ mình bay bổng nhẹ tênh trong ánh dương rực rỡ; Đang trên thiên đường sáng láng mà lại thấy mình quằn quại vật vờ trong bóng đen xám xịt. Thử nghĩ xem, chuyện gì xảy ra nếu đáy một con thuyền lại nhẵn trơn như vỏ một quả dưa hấu ?  ... lang thang, vô định, vớ vẩn, vô tích sự và hơn thế nữa: có thể sẽ tan xác vì đá ngầm đá nổi ! Một chiếc bánh lái tốt, gắn vào đúng chỗ sẽ cho con thuyền biết nó phải tránh cái gì, phải đi về đâu để trở thành cái "Hữu tích sự"... Thế thì cũng phải có cái gì đó để mà tin chứ ?! Không nhẽ thiên hạ vẫn chìm đắm trong cái sự "mê tín" cả nhiều ngàn năm nay ? Không ngừng nỗ lực đưa các thiết bị vào thám hiểm vũ trụ và kính Chúa, thờ Phật là hai việc chưa bao giờ độc lập với nhau ! Nhà thờ, chùa chiền và các viện khoa học cùng các khu công nghệ cao đang đưa con người chúng ta tiệm tiến tới cái mà giới học giả vẫn gọi là Chân - Thiện - Mỹ ... Chứ lỵ không à ? ...
- Em xin tóm tắt bài giảng của nhà hiền triết ! - Tôi khoái quá, bèn làm động tác  giơ tay lên, ngắt lời anh.
- Được, ta cho phép ! - Anh làm động tác ưỡn ngực, chỉ tay vào tôi.
-  Vậy là niềm tin cũng như một thứ điện trường, tư duy và hành vi của chúng ta cũng như các loại I-on. Trong cái trường ấy, vận động của các I-on được định hướng và trở nên "Hữu tích sự".
- Mười điểm, về chỗ. Nhưng vấn đề là phải xác lập được cái "trường" ấy. Đừng bao giờ đặt các I-on vào trường số ảo, vô nghĩa bỏ mẹ đi !
Trời đất ! Anh thay đổi nhiều thật. Thay cho vẻ sắc nhọn, thực dụng, pha chút tự tin của một công chức thận trọng mà tôi vẫn thấy ở anh trước đây là nét mặt mệt mỏi, cam chịu, pha chút ấm ức của một con bạc bị cháy túi về sáng. Điều gì đã khiến anh thay đổi như vậy ? Theo những gì tôi biết về anh trong thời gian cùng công tác thì anh là một người luôn tự chủ, có nguyên tắc sống riêng của mình và thậm chí khá cực đoan trong việc duy trì những nguyên tắc đó. Đúng là đã có lần anh nói với tôi: "Làm gì có sự công bằng, chớ có ảo tưởng. Nếu có thì chỉ là nhất thời và chỉ xảy ra lác đác đâu đó trong cuộc sống của chúng ta. Vì thế các chính khách, các học giả xã hội chân chính đã phải dành bao công sức, tâm huyết để cố gắng đưa khái niệm đó trở thành hiện thực. Nhưng, chú thấy đấy, về thời gian thì phải có ngày có đêm, về không gian thì phải có cao có thấp, về giống thì phải có đực có cái ... Nội trong cái đầu bé bỏng của chúng ta cũng chứa đầy những vui - buồn, thiện - ác, yêu - ghét ... Nếu trái đất của chúng ta luôn tràn ngập ánh sáng thì làm đếch gì có khái niệm đêm và một điều chắc chắn là sẽ không ai lại đi rỗi hơi mà tìm cách đặt tên cho cái trạng thái thường tràn ngập ánh sáng đó. Nếu không có thành tố đực thì chẳng có thành tố cái và rốt cuộc, chẳng có tớ cũng chẳng có chú. Tương tự như vậy, khái niệm bất công bằng luôn luôn là cái bóng của khái niệm công bằng; Có điều, tuỳ theo vị trí anh đứng mà cái bóng đó có lúc to hơn, có lúc bằng, có lúc nhỏ hơn cái hình của nó. Bởi thế - anh nheo mắt, khoái chí kết thúc bài diễn thuyết lộn xộn và cũ mèm của mình - Sự thuần công bằng mãi mãi chỉ là niềm mơ ước cao quí của loài người đáng thương chúng ta. Vậy, tớ khuyên chú: Phải biết chấp nhận nó như một thuộc tính của đời sống vậy !"
Cuộc đời kể cũng lạ. Trước đây anh là một con người khác hẳn. Lối tư duy biện chứng kết hợp với tinh thần thực dụng kiểu Mỹ và phép ứng xử kiểu quan trường Trung Hoa trung đại đạt tới trình độ nhuần nhuyễn đã cho phép anh có được hầu hết những điều anh muốn không mấy khó khăn. Khi còn dạy học cùng trường với tôi, anh luôn là giáo viên có số học sinh con các nhà khá giả đến xin học thêm đông nhất (tự nguyện và có đơn xin học hẳn hoi !). Cái ghế hiệu trưởng, khiến cho khối gương mặt mà mức nghiêm trang đã đạt tới độ chí công chỉ nghĩ tới cũng đủ xúc động, cũng phải mời đến ba lần anh mới chịu nhận. Sau này, khi được cất nhắc lên cơ quan Bộ, anh đã có sáng kiến làm phong phú một cách ngoạn mục cho bộ sách tham khảo của các cháu học sinh phổ thông.
             Vậy mà thế đấy !
Té ra, trong sâu thẳm của mỗi người, ngoài các khả năng khác, luôn tiềm ẩn một gã thông thái. Có điều, ở người này thì gã cứ ngủ li bì suốt đời, ở người kia thì đôi khi gã thức dậy rồi lại ngủ tiếp, ở người kia nữa thì gã lại mắc chứng mất ngủ kinh niên. Cũng may, bởi nếu cứ như dạng thứ ba cả thì Phật, Chúa và các đệ tử của các ngài cũng đến mất việc làm !. Thế thì điều gì đã khiến cái gã hiền triết tiềm tàng trong anh bỗng dưng nhỏm dậy ?
 
*
 
            Tôi đến thăm anh vào một ngày chủ nhật.
            Cảnh trí khu tập thể của trường hầu như chẳng thay đổi gì ngoại trừ mùi ẩm mốc phảng phất đâu đó và sự vắng vẻ của một cô am dễ gây cho ta cảm giác mệt mỏi, thiếu sinh khí và chỉ muốn thoát ra khỏi càng sớm càng tốt. Lớp lá bàng rụng lâu ngày lạc xạc dưới chân khi tôi bước qua khoảng sân hẹp, tiến đến căn hộ số 9, nơi ở của gia đình anh trước đây. Cửa khép hờ. Tôi thận trọng gõ cửa. Không thấy trả lời. Lại gõ cửa. Vẫn không thấy trả lời ... Tôi toan quay ra, tìm ai đó để hỏi thì chợt nghe giọng quen quen: " Chú tìm nhà ông Thường à ?". Tôi quay lại: "Chị Hoà !". Một đồng nghiệp vào nghề trước tôi cả chục năm, nổi tiếng một thời với những bài giảng khúc chiết, mạch lạc, tường minh về môn toán, cùng những giáo lý dân gian cũ rích được truyền đạt cho học sinh dưới dạng thức "té tát" và cách ứng xử với tất cả các đồng nghiệp dựa trên nền tảng toán học cùng các giáo lý dân gian cũ kĩ đó. Chỉ có điều, thú thực ... đã có nhiều lúc tôi phải bất giác mà ghen tỵ với chị. Hà cớ gì mà lũ học trò cũ chỉ luôn nhớ tới chị ? Khi gặp khó khăn: chúng tìm đến chị; Khi có niềm vui: chúng tìm đến chị; Khi gặp điều buồn khổ: Chúng tìm đến chị; Khi đạt được một cái gì đấy trong cuộc sống: Chúng tìm đến chị ... Thậm chí, có đứa vừa mới ra tù: cũng tìm đến chị !
            "Chú Thiền à ? Khổ ! cách đây ít lâu, tôi có nghe ông Thường nói chuyện chú. Thế cũng tốt chứ sao ?! Hôm nào đi lễ, chú viết cho chị lá sớ đấy. Thôi vào đi, ông ấy ốm gần tháng nay rồi ..., con với chả cái ... !".  Chị đẩy cửa bước vào đặt bát cháo nghi ngút khói xuống cái bàn con sứt sẹo, làm bằng một thứ gỗ tạp đã bạc phếch lớp véc ni từ thời bao cấp. Trong nhà không có ai. "Chú vào bên trong xem ông ấy làm gì, tôi về nhà lấy thêm cho ông ấy ít nước sôi". Qua một cánh cửa thấp và nhỏ, tôi bước vào phía trong. Trong cái ánh sáng lờ mờ, tôi nhận ra anh đang ngồi gò lưng trên chiếc ghế đẩu, hai tay tỳ lên đầu chiếc can mà tôi đã thấy hôm gặp lại anh. "Chú đến đấy à ...! Đi vệ sinh ra, bủn rủn hết cả chân tay ...". Tôi dìu anh Thường ra giường, kê gối cho anh ngồi. "Anh ăn cháo đi, chị Hoà vừa đưa sang đấy". Anh chậm rãi cầm chiếc thìa, đôi mắt hướng về phía cửa ra vào, xa xăm:
-   Ngày xưa ..., chú còn nhớ không, tôi đã không giúp được điều gì ... mà đôi khi còn làm khó cho chị ấy ... người như thế thường hay thiệt thòi. Nhưng ngẫm mà xem, thằng đếch nào mà chẳng thích tiền, thích được nịnh. Ngay cả đến vua chúa cũng còn không cưỡng lại nổi thứ mật ngọt óng ánh chết tiệt đó, huống hồ ... ?!
- Thôi, nhắc chuyện cũ làm gì ... chị ấy cũng sắp đưa nước sôi sang đấy.
- Thì chú để tôi nói đã nào ... ! - Vẻ bất mãn yếu ớt toát ra từ câu nói - Nhưng mà ngẫm thì thấy ông Trời cũng công bằng lắm: cái mà chị ta có, mình không bao giờ có được, khá lắm cũng chỉ là ôm bọc tiền mà mơ ! Nhưng mà ... - anh lắc đầu buồn bã - cũng khó lắm ... Tỷ như ta không có được cái bọc đó thì liệu ta có mơ đến cái điều chị ta có không ?
- Thế cái mà chị Hoà có là gì vậy ?
- Chú bỡn tôi đấy à ?  ở cái trường này ai chả biết điều đó: Sự kính yêu của đám học trò và cha mẹ chúng!
- Còn cái bọc tiền ? Nói vậy có nghĩa là anh đã có nó trong tay ?! - Tôi hỏi lại, không giấu được vẻ giễu cợt thoáng qua bởi tôi thấy anh đang ở trong một căn hộ tập thể chật chội, ẩm mốc, tối tăm, nền nhà lồi lõm khấp khểnh; Bởi chiếc giường gỗ giẻ quạt ọp ẹp anh đang nằm và chiếc tủ kiểu văn phòng mộng mẹo tong teo, cánh cửa nứt toác, phô ra bộ đồ tôi đã được chiêm ngưỡng hôm trước.
- Chú đừng cười. Tuy cũng chẳng vẻ vang gì ... , nhưng quả thực ... tôi cũng đã từng có được cái bọc đó trong tay  - nhận ra sự ngạc nhiên trong mắt tôi, anh cười ngượng ngịu, nói tiếp - Tôi biết chú đang nghĩ gì rồi. Giấu người ta chứ giấu gì chú: Tôi đã tậu đất và xây cho hai thằng con trai tôi mỗi đứa một cái nhà, cũng đường được, chẳng đến nỗi nào. Có điều ... vợ chồng chúng nó cũng bận lắm - ông kín đáo nén một tiếng thở dài - thời buổi thị trường mà. Tôi ở đây một mình cho nó thoải mái, thỉnh thoảng chúng nó đến thăm là được rồi. Cũng được cái độc lập tự do.        
Tôi ra về, lòng nặng trĩu mà rối mù. "Giận thì giận, mà thương thì thương". Một chút thương hại pha chút thương cảm cho cái tình cảnh của anh Thường. Thương hại là thương hại cho cái sự chân thành của một gã suốt đời láu cá và vô tình đang thập thõm trên con đường thiên lý đi tìm lại cái "tính bản thiện" từ thuở "chi sơ" của mình. Thương cảm là thương cảm cho cái tình cảnh cô độc của một người già trắng tay vì đã tận lực cho con cho cháu. Quả là "Hổ dữ cũng không ăn thịt con". Nghĩ đến đây tôi chợt đỏ mặt, rùng mình, cái đầu lắc lắc như muốn làm bật văng một con gián vừa bay tới bâu vào gò má: Mi tự đề cao hơi quá đấy ! Không phải chính mi cũng đang đi trên con đường đó sao ? Có điều, mi lên đường trước lão, nhưng ai dám chắc là mi tìm lại được cái "tính bản thiện" của mi trước lão ta ?
 
* *
 
Hơn tháng sau, tôi lại đến thăm anh.
Gặp chị Hoà ngay ở cổng khu tập thể, tôi hỏi đùa:
- Hôm nay chị cho ông lão ăn gì đấy ?
- Không cần nữa rồi - Chị cười - Độ này ông ấy cũng được lắm. Mấy đứa con ông ấy chỉ nhất thời chuệch choạc, cuối cùng thì "trăm sông" cũng phải "đổ về biển đông" chứ ?  Thôi, vào mà mừng cho ông ấy đi !
  ừ nhỉ, mặt trước loang mốc của căn hộ tập thể đã được chỉnh trang và phủ bằng một lớp vôi mới màu gụ non có búng thêm chút sắc hồng; thứ màu đã một thời luôn tạo cho tôi cái cảm giác yên ổn và tràn trề hy vọng. Mở cửa cho tôi là một cô bé có đôi mắt đen láy và hai bím tóc dày tết lỏng; thứ tóc thuần mộc và có khả năng tự lấp lánh, chưa hề có liên hệ gì với các sản phẩm ưu tú của nền kỹ nghệ mỹ phẩm đương đại mà đã lâu lắm rồi tôi mới lại được nhìn thấy. Thì ra đó là cô cháu ở quê, ở đấy để vừa chăm sóc ông bác vừa ôn thi đại học. Tôi bước vào: Sàn nhà đã được tráng phẳng bằng một lớp xi măng đánh kỹ. Tường nhà đã được quét lại bằng vôi màu kem sáng. Một bộ sa lông bằng gỗ ghép thanh, đơn giản nhưng đủ lịch sự. Một bình hoa hồng tươi rói đặt phía trên chiếc tủ lạnh "secondhand" còn "long lanh" kê sát góc, phía cạnh khung cửa sổ có rèm đăng ten buông rủ, kết hợp với phiên bản bức tranh "Thiếu nữ và hoa huệ" treo ngay ngắn phía trên chiếc kệ nhỏ để ấm chén và đồ uống tạo nên cái không khí thanh - nghiêm - minh - nhã của một trung gia trí thức thành phố lâu đời. Thấy tôi chăm chú quan sát, anh gãi đầu bối rối:
- Các cháu nó lo cho tôi cả đấy. Khổ, mải làm mải ăn, chúng nó bận tối ngày, sung sướng gì đâu ! ... Chú uống gì ? Trà Lipton hay cà phê ? - Thấy tôi lưỡng lự, anh quay sang cô bé - cà phê sữa đi, buổi sáng uống thứ đó thú hơn.
- Trông anh khoẻ và vui, em cũng thấy vui. Thú thực, sau lần thăm anh vừa rồi, trong suy nghĩ, em cũng có ý trách các cháu nhà anh, nhưng không tiện nói ... Ôi, thật đáng xấu hổ cho cái anh già Thiền này !
   Loáng sau, cô bé trở ra với hai chiếc tách nghi ngút khói. Sau khi bổ sung cho chúng tôi một gói Ngựa trắng lấy từ mặt chiếc tủ con màu gụ bóng loáng kê sát đầu chiếc giường màu sáng kiểu Đức, cô đứng sang bên cạnh thưa:
-  Bác ơi, cháu đi chợ đây, trưa nay bác muốn ăn gì ạ ? - Cô bẽn lẽn quay sang tôi - Các anh cháu lo cho bác cháu lắm, chả biết sau này cháu có làm được như thế cho bố mẹ cháu ở quê không !
- Được chứ  - Tôi mỉm cười với cô bé và không hiểu sao lại tin chắc vào điều mình nói đến thế - Bố mẹ cháu nhất định sẽ hài lòng !
- Tiếng là cùng làm việc với nhau từ lâu, nhưng đã bao giờ anh em mình uống với nhau đâu. Trưa nay chú phải ở lại với tôi ! - không đợi tôi trả lời, anh Thường bảo cô bé: Đơn giản thôi, cháu mua một con vịt quay, một ít xúc xích hun khói, dăm quả dưa chuột và cà chua là được rồi, đỡ phải nấu nướng lích kích.
 
* * *
 
Thấm thoắt mà đã đến tháng bảy. Vào đợt rằm tháng này, số người đi lễ tăng lên nhiều hơn so với các tháng trước. Tháng bảy là tháng "Xá tội vong nhân". Những người yêu cầu tôi viết sớ hầu hết là cầu xin cho phần hồn của những người thân đã quá cố của họ được mát mẻ, siêu thoát và được về an lạc tại chính nơi cư trú của Phật. Và chính những phần hồn của các vong nhân đó cũng luôn nhận được lời cầu xin pha chút nhắc nhở kín đáo là luôn nhớ phù hộ độ trì cho con cháu của mình. Do tôi làm sớ không theo kiểu các "form" lập sẵn bằng thứ chữ được lắp ghép từ các mẫu tự Latin, chỉ việc điền tên tuổi, chỗ ở và lời thỉnh cầu của các thân chủ vào là được mà tôi cứ hành nghề theo kiểu truyền thống, nghĩa là viết từ đầu đến cuối theo ý tứ của người đi cầu, nên khách của tôi cứ ùn lên. Về mặt văn bản, lối viết và sự không được chuẩn hoá đó có thể không thuận tiện cho bộ phận tiếp sớ của Phật lắm nhưng khách hàng của tôi lại hài lòng. Và tôi cũng hài lòng bởi thông qua những thông tin tâm linh và phi tâm linh cất cánh từ đáy các con tim hồng tươi hoặc chưa hồng tươi nhưng đầy mẫn cảm ấy, tôi được thấy những tấm tình chí hiếu, chí nghĩa, sâu nặng thuỷ chung, thấy được cái đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" không hề bị phôi pha theo dòng năm tháng, theo những đợt triều lúc cường lúc nhược của cái đại dương thị trường mù mịt kim tiền do "Trời sinh ra". Và mặc dù lắm hôm mệt đến oãi cả người mà thu nhập vẫn không khá hơn nhưng tôi vẫn cảm thấy yên lòng bởi tôi vẫn nhớ và rất thích một câu anh Thường nói với tôi trong bữa nhậu vịt quay hôm trước: "Cuộc đời vốn lung tung lắm, có phải cái gì cũng làm thành "form" được đâu !". Quả là bất khả luận !
Té ra cái anh già này cũng thú vị ra phết ! Không hiểu từ lúc nào, tôi bắt đầu bị cuốn hút vào cái biến phức vô thường đang lặng lẽ vận động trong tiềm thức sâu thẳm của anh. Bằng chứng là dạo này thỉnh thoảng tôi hay nghĩ đến anh, muốn đến chơi và nói chuyện với anh hoặc cùng anh nhàn luận về một điều gì đó.
"Ai dám chắc là mi tìm lại được cái "tính bản thiện" của mi trước lão ta ?" Dân gian đã từng cho thấy rằng gã ác Lai say mê ăn thịt người vẫn có khả năng được bổ nhiệm lên toà sen chỉ sau có một đêm ! Rằng việc rùa về đích trước thỏ không phải là chuyện hy hữu ! ý nghĩ đó giờ đây không làm tôi đỏ mặt nữa mà nó khiến tôi bật cười cho cái vớ vẩn, cho cái chủ quan đầy tự ái và thiên kiến của mình. Và nhờ vậy hình ảnh một người râu tóc đã bạc phơ mới bắt đầu lọ mọ trong sự muộn mằn trên con đường thiên lý đi tìm lại cái bản ngã mà trời phú cho gã từ thuở lọt lòng không còn gây cho tôi cái cảm giác vừa thương hại, vừa bức xúc, vừa pha chút vô vọng nữa mà trái lại, tôi cảm thấy tâm tĩnh đến lạ lùng.
Tôi mong cho nhanh đến cuối tháng, khi đã vãn khách, tôi sẽ nhất định gọi điện mời anh ra cổng Phủ chơi. Hai gã - một đã già, một bắt đầu già - sẽ chọn một chiếc bàn sát mép nước Hồ Tây, trong một cái quán vắng, cùng thưởng một chầu rượu với món ốc luộc nước gừng nổi tiếng của đất Hà thành (vốn vẫn bị những gã hay nói leo làm cho mang cái tiếng là thuần thanh lịch) và cùng nhau luận về những điều đã thập thõm thu lượm được trên con đường dài dằng dặc đi tìm lại cái bản ngã của mình. Tôi đang lãng đãng mơ màng thì bỗng có tiếng hỏi:
            -  Này bác ! Bác có phải là bác Thiền, người nhà của bà giáo Hoà không ?
-  Tôi đây. Có chuyện gì vậy ? - Tôi nhìn người đàn ông có nước da xạm nắng và mái tóc khô vàng và chợt nhận ra có điều gì đó bất thường - Bà ấy ... ?
-  Không phải bà ấy mà là ông Thường bị cảm lúc chiều, tình hình rất xấu. Bà giáo nhờ tôi đến báo và chở bác vào viện ngay.
Người đàn ông có mái tóc khô vàng rồ ga, đưa tôi đến bệnh viện và dẫn tôi đến thẳng buồng cấp cứu.
           -  Buồng này đây. Ông vào đi. Tôi đi đây ! - Mái tóc khô vàng biến đi cũng đột ngột như lúc xuất hiện.
 Tôi đẩy cửa. Chỉ thấy một chiếc giường trống không và tấm vải ga nhầu nhĩ. Tôi quay ra và gặp người Y tá. Cô ta nhìn tôi như thể áng chừng điều gì đó rồi hỏi:
-  Ông là người nhà ông Thường ?
            -  Vâng ! - Tôi trố mắt nhìn cô, chờ một lời hướng dẫn
            -  Bị nặng quá, ông ấy đi rồi. Chúng tôi đã đưa ông ấy xuống nhà lạnh.
Quên cả cảm ơn, tôi hì hụi đi xuống nơi mà cô y tá chỉ cho.
Trời đã nhá nhem tối. Không khí trở nên ngột ngạt. Nhà lạnh. Một cái xác chết phủ khăn trắng, đặt tạm trên một chiếc bệ xi măng. Chị Hoà và cô cháu gái anh Thường đang loay hoay cắm mấy nén nhang lên một khúc chuối tươi đặt bên người quá cố. Thấy tôi, con bé nấc lên:
            -  Chú ... ơi, khổ cho bác cháu quá !
            -  Có ai ngờ. Nhanh quá cậu ạ. Khốn khổ !
            -  Mấy đứa con ông ấy biết chưa ?
            - Biết rồi ! Khổ thân ! Bố chết mà không kịp gặp lần cuối ! Chúng nó vừa kéo nhau về nhà. Chắc đang bối rối nên chẳng biết phải làm gì. Tôi đã làm thủ tục đưa ông ấy vào buồng lạnh rồi. Chốc nữa có người của bệnh viện xuống bố trí. Bây giờ cậu về lo việc hậu sự và chỉ bảo cho mấy đứa con ông ấy.
          -  Chị và cháu cũng về luôn thôi, muộn rồi !
          - Không được ! - chị nói, giọng bất bình - Tôi phải ở lại đây. Chả nhẽ để ông ấy nằm ở đây một mình đêm nay à ? Lạnh lẽo lắm ! Thôi, cậu đi ngay đi cho được việc !
          - Đúng đấy chú ạ. Cả cháu cũng ... ở lại ! Cô bé rụt rè đề nghị, nước mắt vẫn rân rấn.
Tôi đi thẳng về nhà người quá cố. Sân khu nhà tập thể tối thui. Im ắng đến gai người. Cửa phòng ông khép hờ, để lọt ra sân một vệt sáng dài nhợt nhạt, đủ cho ta nhận thấy những con muỗi mắt đang bay loạn xạ, chấp chới trong cái oi nồng của một buổi tối đầu thu vắng gió.
Im ắng quá. Đúng là lạnh như nhà có tang !
Tôi dừng lại. Gõ cửa. Không có ai trả lời.
Chờ một lát ... Vẫn không thấy gì.
Tôi lấy làm lạ và thận trọng nhìn qua khe cửa đang khép hờ: Thằng anh ngồi trên ghế, mặt thất thần, ngây dại. Thằng em đứng gục mặt vào tường, một tay túm lấy chỏm tóc của mình, tay kia nắm chặt lại, di di lên tường, tuyệt vọng. Còn hai cô con dâu, mỗi cô ngồi một góc giường, nét mặt ngây độn, thiểu não.
Cảnh tượng không có gì mới hơn so với các gia đình có cùng cảnh ngộ cách đây vài ba ngàn năm nhưng sao vẫn thật cảm động và thương tâm. Ai mà quen được với cảnh tang tóc, kể cả một gã lính chiến dạn dày như tôi đã từng nghiến răng xả lửa sang chiến tuyến phía bên kia và đã từng tự tay chôn cất những người đồng đội thân yêu của mình trên ba chục năm về trước.
Thôi, gượm hãy vào - tôi tự nhủ - đừng quấy rầy, hãy để cho họ được yên. Tôi toan quay ra thì bỗng nghe một tiếng "xoèng ..." kéo dài từ trong nhà phát ra, tựa như tiếng một sợi dây xích kim loại dài bị ai đó quăng mạnh xuống đất. Tôi quay đầu lại và lập tức nhận ra dưới nền nhà, ngay sát mũi giày thằng anh, là chiếc khăn mùi xoa mà tôi đã nhìn thấy hôm gặp lại anh ở cổng Phủ và một bãi vàng choé những chiếc nhẫn tròn căng nằm xóng xoài, lấp lánh; mấy chiếc nặng đồng cân hơn thì văng ra xa, đang tiếp tục lăn đến chân tường rồi mới đổ kềnh và khoanh khoanh mấy cái mới chịu nằm yên.
-  Ông già cao thủ thật ! - Cô con dâu trưởng rít lên qua kẽ răng.
            -  Câm ngay ...  ! - Thằng em vằn mắt, gằn giọng.
Trong khoảnh khắc, tôi chợt hiểu ra ... và tự nhiên thấy đất dưới chân chao mạnh, nghiêng ngả ...
 
* * * *
 
Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm đúng ngay trên chiếc giường anh Thường vừa nằm chiều hôm trước. Thoáng rùng mình, tôi nhớ lại cái khoảnh khắc mặt đất chao mạnh, nghiêng ngả ....
Không thấy ai. Tôi nhỏm dậy, lần ra cửa, đầu hơi váng nhưng không sao. Tôi phải về chứ không phải xuống nhà lạnh ! Tôi phải ra khỏi nơi này để lo việc cho anh Thường và phải đi tiếp con đường đó mà không có anh; Người bạn đường "lý luận đầy mình" ấy đã bỏ cuộc từ lâu mà bây giờ tôi mới bẽ bàng nhận ra. Có thể, con đường Thiên lý đó được chia thành bốn chặng chủ yếu: Chưa biết -  biết - hiểu những điều đã biết - thực hành những điều đã hiểu. Đáng tiếc thay, tôi, khi đã tiêu gần hết quỹ tuổi thọ của mình, bất quá cũng chỉ mới loanh quanh đâu đó ở phần cuối chặng thứ hai hoặc cùng lắm mới chớm vào phần đầu của chặng thứ ba. Mặc kệ, tôi vẫn cứ đi, như một kẻ bị chi phối bởi sức nặng của một lời nguyền cổ tích ! Nhanh hay chậm: không quan trọng ! Có đến được đích hay không: không quan trọng ! Cũng bởi, không biết đích xác từ bao giờ, tôi luôn bị ám ảnh và không có cách gì để gỡ ra khỏi đầu lời một gã bạn có đôi mắt sáng-khoẻ và nổi danh là "Hà Tây đệ nhất hâm" từ năm gã mới có 21 tuổi:
"Có cuộc đời nào không đi mà tới đích
 Dù cái đích rất gần cũng vẫn phải ra đi !" ... [4]
Âu cũng là cái duyên tiền định !
Tôi gặp cô y tá hôm trước ở ngay cửa ra vào:
            -  Vừa mới tỉnh mà đã đi sùng sục như thế à? - Cô hốt hoảng, cau có mắng tôi.
            -  Tôi ra ngoài này một chút cho thoáng thôi mà - Tôi láu cá trả lời.
Đợi cô ta đi khuất, tôi vuốt lại mép áo cho đỡ nhăn, dùng tay khoả lại món tóc trước trán cho gọn rồi quả quyết lẻn thật nhanh ra khỏi cổng bệnh viện./.

Chuyện thứ tư
 
 
VỀ  QUÊ  
            Ai mà biết được cây cỏ trên trái đất xanh tự bao giờ. Cũng chẳng ai biết, cũng trên trái đất này, cây đời xanh tự bao giờ. Chúng ta, hiện giờ, so với lớp lớp cha ông, là lớp hậu sinh, nhưng, dần theo dòng thời gian, rồi cũng trở thành lớp tiên nhân của nhiều lớp con cháu sau này và có khối cái mà chúng phải học theo, có khối cái mà chúng phải nhìn nhận, ghi nhớ và rút kinh nghiệm, hệt như hiện giờ chúng ta đang kính cẩn chiêm ngưỡng, học tập, noi theo và phát triển những thành quả của các cụ để lại. Điều đó, trước đây, được coi là một đạo lý, nhưng bây giờ, thực ra, đang có nguy cơ trở thành việc "tính cua trong lỗ" ! Nhiều cánh rừng cách đây vài ba chục năm vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ tươi mát, nay đã trở thành đồi hoang đất trọc, nắng lửa chói chang, khiến thiên nhiên, bao dung là thế, cũng phải giận dữ mà giáng tai ! Tình người đẹp là thế, đẹp đến nỗi có người nào đó đã từng nói rằng nếu quả thật có kiếp sau và con người được quyền lựa chọn hình thức đầu thai cho mình thì ông, chắc chắn, sẽ không chọn phương án làm chúa sơn lâm mà lại đầu thai làm Người.
            Đó là đôi ba cái suy nghĩ của một gã làm nghề viết sớ, có thâm niên bên cửa Phật, cửa Thánh và đầu óc có thể đã phần nào khuynh hướng tín ngưỡng. Nhưng có lẽ cũng không sao, bởi chưa thấy cái "ngưỡng" nào lại xui con người ta làm bậy. Những cái suy nghĩ lộn xộn, ngơ ngác đó nẩy ra sau khi được nghe một khách hàng cả nghĩ, cả hoài đem lòng yêu mến mà kể cho nghe một câu chuyện có liên quan đến đời ông. Vị nào không có thời gian dành cho những thứ giải trí vô bổ thì nên dừng ở đây để bắt đầu hoặc làm tiếp những việc nghiêm túc, quan trọng của mình. Còn vị nào ham vui và không thiếu thời gian (Vàng đấy ! - Chẳng bết có phải không, thấy người ta bảo thế) thì xin xem qua câu chuyện của vị khách đó cho vui. "Tôi" trong câu chuyện là chính người kể chuyện. Công việc của gã viết sớ chỉ đơn giản là chép lại thôi.
*
 
Cha đưa cho tôi một cái túi nhỏ bằng lụa điều. Tôi cẩn thận đỡ lấy và hỏi: " Cha đưa cho con cái gì vậy ?". "Mở ra đi !" - Cha tôi nói. Tôi mở chiếc túi và lấy ra một cái hộp nhỏ sơn mài, phần thân và nắp là hình hai chiếc rổ xảo úp vào nhau, thứ rổ quê tôi vẫn dùng để đựng khoai, giong riềng hoặc rau bèo cho lợn. "Con có thể xem được không ?". "Được !". Tôi mở tiếp nắp hộp: Trong đó chỉ có một vuông gỗ nhỏ thớ mịn sắc hồng. Viền quanh bề mặt của vuông gỗ được khảm một dây lá bằng vàng. Nhìn kỹ, đó là hình dây khoai lang. Rải rác, trên cái dây khoai đó, có lẫn những chùm củ thấp thoáng ẩn hiện. ở chính giữa, và choán phần lớn diện tích vuông gỗ, khảm một chữ Tâm to khoẻ, đầy đặn, cũng bằng vàng. Gắn trên nền chữ Tâm là chữ Phúc bằng thứ xà cừ rực rỡ màu lửa hồng tía, nhỏ chừng bằng một phần ba chữ Tâm.
- Thế nghĩa là gì hở cha ? - Tôi không hiểu gì, hỏi ông.
- Quỹ thời gian của cha chẳng còn được bao nhiêu. Cha muốn về quê lắm, nhưng yếu quá rồi. Đây là tâm nguyện cuối cùng của cha. Nhất định con phải về, tìm bằng được ông ấy, thay cha đưa cho ông chiếc hộp này và nói giúp cha: "Xin ông nhận lấy. Đây là tấm lòng biết ơn của một con người đối với một con Người !". Nếu chẳng may, ông ấy mất rồi thì con hãy xin phép các con ông ấy, đặt chiếc hộp này lên ban thờ mà kính cẩn thắp một nén nhang thay cha !
Ngay sáng hôm sau, tôi chào cha và lên đường. Không cần cha phải giải thích, tôi đã biết người mà tôi cần trao "báu vật" kia là ai. Và, nhờ cái tuổi "tri thiên mệnh" trời cho, tôi cũng hiểu ngay, gần như tất cả, cái nghĩa tình mang hơi ấm của lửa hồng mà cha tôi tha thiết gửi gắm vào chiếc hộp kia. Từ khi anh em tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng ông vẫn nhắc lại chuyện cái rổ khoai lang, chuyện chú em tôi được vớt lên khỏi dòng sông vô tình nước cả thế nào. Và lần nào cha cũng dặn dò chúng tôi không bao giờ được quên cái ân tình đó. Trong mấy anh em, tôi là con trưởng khôn lớn nên được chứng kiến và biết chuyện này hơn cả. Từ khi tôi tốt nghiệp đại học, đã nhiều lần ông giục tôi về quê. Thực bụng, nhớ thì vẫn nhớ đến cháy ruột cháy gan, nhớ đến từng bụi cây, tảng đá ven đường. Thậm chí, thấy một con đò, tôi cũng nhớ đến quê. Chỉ ngửi thấy mùi rạ mục, mùi hăng hăng của phân trâu tươi cũng đủ gợi cho tôi một tâm trạng cảm hoài của những kẻ tha hương viễn xứ. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện về quê là y như rằng chân tôi chùn lại. Những hình ảnh, những kỷ niệm tái tê, buồn tủi thỉnh thoảng vẫn vô thức kéo về, không dễ gì nguôi ngoai. Có lúc tôi đã tự vấn mình, đã tự kết tội mình là hạng cố chấp, nhỏ nhen, nhưng cũng chẳng ăn thua. Người ta bảo tâm hồn trẻ thơ cũng như tờ giấy trắng. Có lẽ thế thật. Những gì được ghi lại trong quãng đầu đời người thường bền vững đến kinh ngạc. Thật may mắn nếu đó là những điều chân thiện, chân mỹ. Thật đáng sợ nếu đó là những điều ác. Và đáng sợ hơn, đó là niềm tin vào những điều tốt đẹp nhưng, theo thời gian khôn lớn, chúng nhận ra rằng thực tế không có gì giống như thế ! Đấy là điều không ai là không biết, nhưng thường cứ phải nếm đủ vị của cuộc đời mới có cơ hiểu được. Tôi nằm trong cái đám "thường" ấy. Để các con tôi tiết kiệm thời gian suy ngẫm và tự vật vã mà thực hiện cái sự điều chỉnh không đáng có ấy, ngay từ khi chúng còn nhỏ, tôi đã luôn cố gắng chỉ cho chúng thấy cuộc đời đúng như nó vẫn tồn tại: Sâu bệnh bao giờ mà chẳng có, nhưng cỏ cây thì vẫn cứ mãi xanh tươi !
Lần này về quê, tôi mang theo thằng con trai 16 tuổi để mong nó hiểu được phần nào cái nơi được gọi là quê hương mà ai cũng có, cái đạo lý mà ông nội nó được tiếp thu từ nhỏ và cho đến tận cái tuổi cổ lai hy này, ông tuyệt đối chưa bao giờ sao nhãng.
 
*
 
Quê tôi không nằm sát quốc lộ và xa nhà ga xe lửa. Xuống tàu, hai bố con tôi hì hụi đỡ chiếc xe máy do người phụ trách toa xe đưa xuống. Sau khi loay hoay chằng chằng buộc buộc những túi những bọc lỉnh kỉnh lên xe, bố con tôi tiếp tục hành trình. Theo con lộ 1A, chả mấy chốc chúng tôi đã tới phố huyện. Khác hẳn với quang cảnh lần ra đi, chỉ lèo tèo vài nóc nhà tranh xác sơ, nằm rải rác trên một đoạn ngắn tũn, phố huyện bây giờ như đã thay da đổi thịt. Ngoại trừ số ít căn nhà vẫn còn tranh tre nứa lá, nhà cửa của dân chúng nói chung là đẹp đẽ khang trang. Các cửa hiệu buôn bán, dịch vụ với đủ thứ biển hiệu, biển quảng cáo san sát kề nhau, kéo dài có dễ đến ngót hai cây số. Thằng con tôi kêu đói. Nó chỉ tay vào một quán ăn lụp xụp, vắng teo, phía trước dựng một cái biển trông khá tạm bợ "Quán Quê hương": "Bố ơi, ta vào quán này đi". Tôi hỏi: "Tại sao không vào cái quán bên cạnh, vừa cao ráo sạch sẽ, vừa đông khách và chắc hẳn là phải ngon hơn rồi !". Nó nhoẻn miệng cười: "Con không biết, nhưng nhà này nghèo hơn, bố con mình vào giúp họ cái khí thế hàng họ ! Với lại, nó là quán Quê hương mà bố !". Nghe nó lý giải, tôi phì cười và thấy vui vui trong lòng. Đúng là phở quê, nhạt nhẽo quá. Tuy vậy nó vẫn làm dịu được cơn đói của hai bố con tôi. "Anh tính tiền giúp" - Tôi nói với anh chủ quán. "Năm mươi ngàn". "bao nhiêu ?!" - tôi ngỡ là mình nghe nhầm và hỏi lại. "Năm mươi ngàn !" - Anh ta nhắc lại, tay cầm con dao chặt thịt bổ bổ trên mặt chiếc thớt khô khốc, nứt nẻ, ngữ điệu rành rọt, chắc nịch và kiên định. Thằng con tôi tròn mắt, mặt đỏ tía tai, toan đứng dậy đòi công lý. Thấy vậy, tôi nhanh tay kéo nó ngồi xuống và đưa mắt ra hiệu hãy kiềm chế. Tôi đưa đủ số tiền gã chủ quán yêu cầu và hai bố con lên xe đi tiếp. Bọn trẻ bây giờ thật nhanh và nhạy cảm. Ngồi đằng sau, nó nói với tôi: "Mình ở xa đến, phải cái người như thế, cũng không còn cách nào, thế cho an toàn, được việc !". Thằng bé nói đúng ! Nhưng sao tôi lại thấy buồn. Cái vùng quê khô cằn, chất phác thân thương của tôi mà cũng có những thứ rác rến như vậy sao ?! Đáng ra tôi phải làm một việc gì đấy, thuận lẽ, thì tôi lại dễ dãi thanh toán, nhẹ nhõm như một nhà tỷ phú. Đáng lẽ thằng con tôi phải tiếp tục phẫn nộ và yêu cầu gã kia không được ngang ngược như thế thì nó lại nhanh chóng hiểu ra vấn đề, tự rút ra cái bài học "Trường đời tân thanh" như một kẻ khôn ngoan thiệp đời như thế. Ôi ! Lỗi tại tôi ? Tại nó ? Hay tại ai đây ?
 Đi quá phố huyện một đoạn, chúng tôi rẽ vào một con đường rải đá răm nhỏ dẫn về làng. Thế mà thấm thoắt đã mấy chục năm trời, kể từ khi cha tôi đứt từng khúc ruột, quyết định dứt áo lìa quê, đưa mẹ con chúng tôi lên định cư trên một vùng núi xa lắc, hẻo lánh ở một tỉnh phía Tây Bắc, lúc bấy giờ vẫn còn bị coi là xứ "ma thiêng, nước độc".
Cũng trên con đường này đây, năm 1953, ngày ngày mẹ con tôi, vai khoác áo tơi (thứ áo làm bằng lá kè vẫn dùng để lợp mái nhà lúc bấy giờ), lẽo đẽo gánh mía ra phố huyện để bán. Mẹ tôi đi trước, một bên gánh là những lóng mía đã tiện ngắn gọn ghẽ và đều tăm tắp, bên gánh còn lại là đứa em trai đi còn chưa vững. Tôi theo sau mẹ, kẽo kẹt trên vai là hai vác mía, được buộc liền với chiếc đòn gánh theo hình chữ A. Công việc hèn mọn vậy thôi, nhưng mẹ đã bền bỉ cóp nhặt từng xu nhỏ, độ nhật cho cả gia đình tôi sống qua những ngày vô cùng khốn khó và dở cười dở khóc đó.
Thời gian trước khi xảy ra biến cố, ông nội tôi đã già yếu. Mẹ tôi thì chuyên tâm lo việc đồng áng. Tôi và đứa em gái tên Tuyết đang đi học, ba em trai là Nhoại, Tấn và Du thì hãy còn quá nhỏ. Cha tôi, theo nghiệp của ông nội, làm nghề thầy lang. Nhà tôi lúc nào cũng đông khách. Đó là những nông dân áo quần vá đụp, nón mê, chân đất, lam lũ và luôn rụt rè, khúm núm. Cái sự rụt rè và khúm núm ấy lắm lúc khiến tôi đến phát bực. Sau này, khi đã khôn lớn, tôi mới hiểu được tại sao, đôi lúc, mình lại có thái độ như thế. Có thể diễn nôm cái lý do đã khiến tôi bực bội như thế này: Mình và những người bà con đó đều là nông dân, đều sinh ra từ mảnh đất khô cằn, thấm đẫm mồ hôi và máu này; Họ là mình, mình là họ. Vậy, cái thái độ rụt rè, thiếu tự tin đó đã vô tình hạ thấp phẩm giá của cái giới tự bao đời đã bền bỉ không ngừng tạo ra lúa gạo và biết bao hiền nhân dưỡng sáng cho đời !
Năm ấy, theo trào lưu của nông thôn mới lúc bấy giờ, gia đình tôi phải dọn đến ở trong căn nhà xiêu vẹo của gia đình ông Chinh. Tôi vẫn nhớ cái buổi chiều ảm đạm đó, thằng cu Tấn mới ba tuổi cứ khóc ời ời, nước mắt, nước mũi toá ra đầy cặp má phính lem luốc và nhất định cứ bám chặt vào cái chõng tre, không chịu ra khỏi nhà: "Nỏ [5] đi mô ! Nỏ đi mô ! ... ờ ... ờ ... tụi bay có nhà thì về nhà bay mà ở ! ...". Tôi phải cố gỡ tay nó khỏi cái gióng tre và lặng lẽ bế đi, lòng đầy buồn tủi, thứ buồn tủi của một đứa trẻ đang ở cuối độ tuổi niên thiếu. Ông nội tôi là người cuối cùng đi ra khỏi ngõ, sau khi để lại một bãi nước đái - trước sự chứng kiến của đội công tác và các tân chủ - chính giữa sân của cái cơ ngơi khiêm tốn, được dựng nên sau bao năm bằng mồ hôi nước mắt và sự chắt bóp bền bỉ đến kinh ngạc của người dân quê khúc ruột miền trung. Trước đó, tôi có nghe mấy người già nói ở đâu đó rằng thời trẻ, ông nội tôi vốn là người ngang tàng và hào sảng. Ngang tàng thì rõ rồi, nhưng hào sảng là gì thì lúc bấy giờ tôi chưa hiểu. Trên đường dọn đến "nhà mới", chúng tôi không gặp một ai. Qua khoảng trống của những rặng râm bụt ven đường làng, nhìn vào những căn nhà quen thuộc, tôi nhận thấy các cánh cửa đều khép lại. Qua các khe cửa khép hờ, tôi nhận ra, lấp ló, mấy khuôn mặt quen thuộc và đâu đó, vọng ra những tiếng thở dài hoặc một giọng lẩm bẩm vút nhẹ lên, hả hê: "Sướng cho lắm vô !". Đổi lại, gia đình ông Chinh và mấy gia đình nữa lại dọn sang ở nhà tôi. Sau đó vài hôm, người ta đến bắt ông nội và đưa ông đi trong tiếng kêu gào của mấy đứa em và nước mắt của mẹ tôi.
Người ốm, người bệnh thì bao giờ chẳng có. Họ vẫn tìm đến cha tôi. Nhưng thuốc thang và đồ làm chúng tôi không được mang đi, biết lấy gì mà chữa bệnh cho họ ! Cha tôi ngồi ở đầu hè, ái ngại cầm tay một bà lão nước da vàng ệch đang lả người thở dốc vì mệt; hai giọt nước mắt ứa ra, lăn xuống gò má xạm đen của cha. Đấy là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cha khóc. Tôi lẳng lặng về nhà cũ, nói với ông Chinh là tôi cần phải đem các khay, lọ thuốc về để cha tôi làm thuốc cho bà lão. Ông Chinh, tròng mắt vằn đỏ vì vừa uống rượu mừng nhà mới, nhe ra hai hàng răng lởm khởm, cười khằng khặc vào mặt tôi. Kệ, tôi cứ xông bừa vào nhà, bê lấy một chồng khay thuốc. Lúc quay ra đã thấy lão cầm chiếc nạng phơi rơm đứng chắn ngang ngay cửa: "Mi muốn đưa đi thì phải đưa tiền cho tau ! Những thứ ni chừ là quả thực của tau rồi !". Tiền thì lấy đâu ra lúc bấy giờ ! Có một cái gì đấy, nóng và nghẹn, ngầm ngập dâng lên ứ cổ. Tôi đặt phắt chồng khay xuống và vớ bừa lấy một chiếc ghế đẩu, vung lên, nhằm vào lão mà giáng xuống. Mặt tái dại, quẳng chiếc nạng xuống đất, lão chạy xon xón ra ngoài, báo với dân quân rằng tôi đang cướp nhà lão. Còn tôi, không hiểu làm sao, cứ đứng đực ra đấy, cho đến khi mấy anh dân quân mặt mũi non choẹt, lăm lăm mấy khẩu Mút-cơ-tông cùng những thứ gậy gộc chắc nịch, kéo đến trói nghiến tôi lại và đưa lên chùa nhốt chung với ông nội tôi. Hơn hai ngày sau, phần vì có nhốt tôi thì cũng không giải quyết được gì, phần do có bác Lề thuyền chài bạn của cha, không tấc đất cắm dùi, quần ống xéo ống cao ống thấp, khuềnh khoàng bước vào chùa, nói với người đội trưởng: "Cả cái tổng ni, ai chả biết hắn là đứa bặt trai [6]. Hắn chỉ về lấy thuốc để cha hắn chữa bệnh cho bây tui [7]. Thui [8]... hắn nhỏ rứa, tội tình chi mô mà nhốt như nhốt bọn Việt gian nứ [9] !", người ta bèn thả tôi ra. Trước lúc tôi ra khỏi chỗ nhốt, ông nội ghé vào tai tôi nói: "Biểu với cha cháu lo thu xếp đưa mấy mẹ con đi một nơi thật xa mà sống !". Ba hôm sau, buổi sớm, khi tôi và mẹ vừa gánh mía ra khỏi cổng, thì Tuyết, vừa đi đưa cơm cho ông nội cách đấy chừng mươi phút, mặt mũi tái xám, thập thõm chạy về, vừa nói vừa mếu máo, câu được câu chăng: "Ông ... nội chết ... rồi !". "Tầm bậy !" - Mẹ tôi mắng, vẻ không tin. "Con ... vô chỗ ... nhốt người, con thấy ông ... nằm, con gọi ông, ông ... nỏ nói ... chi, con đỡ ông ngồi ... dậy ... dựa vô ... tường, con xúc cơm cho ông ... mà ... ông ... nỏ ... há ... miệng... ờ ... ờ ... mẹ đền ông cho con ... ờ ... mẹ đền ...".
Cái chết của người ông kính yêu, đối với tâm hồn đứa trẻ nít mới lớn của tôi, như một nhát dao, chém ngang thân cây tre. Tại sao con người ta lại có thể đối xử với nhau ác độc đến thế ? Vì cái gì chứ ?! ... Lúc đau đớn quá thì oán trách như vậy, chứ thực ra cũng có nhiều người quý trọng ông tôi lắm. Cơm của nhà mang đến cho ông, hồi mới bị nhốt, thức ăn ngoài rau ra mẹ tôi còn cố làm thêm cho riêng ông một chút cá tép hoặc một chút con ruốc kho mặn với khế. Nhưng những ngày sau đó, chỉ mang có cơm và rau thôi, bởi lần nào sau khi ăn xong, ông cũng lén bỏ cá hoặc những loại thức ăn mặn vào liễn để đưa về nhà. Cha nói thì thào với mẹ: "Rứa ra đêm đêm vẫn có người lén đưa thức ăn cho ông, nỏ biết ông có ăn chút mô không, hay lại trút hết về nhà cho con cháu !". "Nước mắt răng chừ chả chảy xuôi !". Mẹ thở dài và lặng lẽ thắp một nén nhang lên chiếc bàn thờ làm tạm rồi cứ lầm rầm khấn vái mãi.
Mẹ tôi lấy ra từ cái ruột tượng cũ cáu bẩn, lúc nào bà cũng vấn quanh người, những đồng tiền lẻ tích cóp được, cũng cáu bẩn nhem nhuốc như vật đựng chúng, vừa đủ mua cho ông tôi một cỗ quan tài mỏng mảnh bằng thứ gỗ không biết có nên gọi là gỗ tạp không. Nhiều năm sau này, khi mẹ đã đi theo ông nội, cha tôi đóng một chiếc tráp nhỏ, để cái ruột tượng ấy vào, đặt lên bàn thờ bà và nói với các con: "Đấy là cái đức của mẹ các con. Các con nên nhìn vào đấy mà gắng chăm chỉ học hành, lao động; tiêu pha đúng mực, thương yêu đùm bọc lấy nhau và ... nếu giúp được người ngoài thì càng tốt !".
Cha mẹ tôi làm ma cho ông nội tôi. Một đám tang không kèn trống, cỗ bàn. Nhìn dòng người lặng lẽ đưa ông nội tôi ra đồng, ngoài những người làng - không hiểu tại sao, thời gian ấy không sang nhà tôi chơi nữa, thậm chí có gặp người nhà tôi ở ngoài đường cũng tìm cách lánh mặt - tôi nhận ra còn có cả người ở xã khác, huyện khác và cả những người đã được ông tôi chữa bệnh ở tít đâu, xa lắm. Cũng từ dòng người đang thực hiện cái nghĩa tận của mình ấy, tôi còn nghe được có ai đó đang thì thào với người đi bên cạnh: "Hồi kháng chiến, nhà ông cố nuôi nhiều bộ đội lắm đó. Người mô mà rộng rãi rứa !". Hơn ba năm sau, sau khi thay nhà cho ông nội, cha gọi anh em chúng tôi lại và bảo: "Các con chuẩn bị gói ghém đồ đạc, chỉ những đồ dùng thật cần thiết, hai ngày nữa nhà mình sẽ dời đi quê mới !". Các em tôi bắt tay vào việc ngay. Thằng Tấn, thằng Du cứ nằng nặc đòi đem đi cả chiếc chõng tre. Mẹ thì không nói gì, chỉ thở dài nhìn chúng tôi, lòng đầy thương cảm. Còn tôi lại nghĩ: Thì ra cha vẫn nhớ lời ông nội ! Tuy vậy, trong lòng, tôi vẫn thấy bứt rứt, nao nao, không thông. Tôi đánh liều hỏi cha: "Mần răng lại phải lìa quê mà đi hở cha ?!". Cha buồn rầu trả lời: "Phải xa quê cha tất tổ, xa mồ mả các cố, cha mẹ cũng đau lòng lắm con ạ, nhưng còn cuộc đời về sau của các con ... Nếu không, đến khi trăm tuổi, cha còn mặt mũi mô mà gặp ông nội các con nữa ?!"  
 
*
 
Chiều muộn, bố con tôi đã đến bến đò. Chỉ còn hơn hai cây số nữa là về đến quê. May quá, đò vừa tới bến. Đợi cho khách lên bờ hết, bố con tôi hỳ hục đưa xe máy xuống đò. Không quen việc nên cứ hỳ hà hỳ hục như đánh vật, tý nữa thì rơi cả xe lẫn người xuống sông.
-  Nầy, mấy chú ! - ông lão lái đò gọi giật mấy thanh niên đang cắm cúi đi ngược lên đê - xuống đây giúp ông ni một tay hề [10], cấy [11] xe nặng quá.
Mấy cậu trai nghe tiếng ông lão gọi, liền vui vẻ quay xuống giúp. Loáng một cái, chiếc xe đã nằm gọn an toàn trong khoang đò.
- Lần sau đi đường phải có ý - ông lão vui vẻ nói với mấy cậu trai - thấy người gặp khó thì giúp người ta. Nhớ hề ?!
- Dạ, chúng con nhớ !
Bọn trẻ vui vẻ đáp lại và chào ông lão. Tôi quay sang thằng con: "Con cũng nhớ chứ ?". "Vâng !" nó cười với ông lão và đáp. Đò đã đủ khách và bắt đầu chậm chạp rời bến. Một cô gái đứng lên, bước lần về phía ông lão: "Cố để con". "ừ !" Ông lão trao tay chèo cho cô gái và tìm một chỗ để ngồi. Ông tháo bầu rượu đeo bên hông, làm một tợp nhẹ, chép miệng một cái, rồi cao hứng cất lên một câu Đò đưa:
"Nước lên lắp xắp bờ biền[12]
Người ta sang cả, em cắm thuyền đợi ai ?"
"Cố vẫn yêu đời hề ?" - Một nông dân trạc tuổi tôi trêu vui ông lão. "Ăn thua chi, hồi xưa bây tui [13] còn "Hát cho đổ quán xiêu đình, cho long lanh nước cho rung rinh trời" nữa ấy chớ ! ... Bây dừ chẳng thấy hát nữa, nghĩ cũng thấy thương tụi trẻ". Ông lão lại làm một tợp rượu nữa rồi cất tiếng cười khà khà. Nhìn mái tóc cụ già bạc như mây, phất phơ trong làn gió nồm nam; khuôn mặt sáng hồng, hiền vui, nhẹ nhõm; hàm răng đều đặn, chắc khoẻ và đôi mắt lanh lợi, hóm hỉnh, tôi bỗng giật mình: Phải chăng đây là tất cả ý nghĩa của cuộc đời mà con người ta cứ vật vã, loay hoay, làm cho nó trở nên rối mù, tẻ nhạt và đôi khi có lẫn cả máu !
Chỉ còn vài chục mét nữa là tới bờ. Tôi nhìn xuống dòng nước, ngay chỗ này đây, vào cái đận tôi đi bán mía với mẹ ... thằng cu Tấn cứ khóc, đòi đi theo bằng được. Hôm ấy hàng bán hết sớm, mẹ còn đi mua gạo, anh em tôi về trước. Lúc ngồi trên thuyền, nó nhoài người ra nghịch nước và bị ngã xuống sông. Đôi tay bé tý của nó đập loạn xạ, tuyệt vọng ... cái đầu của nó bắt đầu giã gạo. Lúc bấy giờ, tôi cuống quá, chân tay mồm miệng cứng đờ. Mấy bà hét lên, kêu cứu mấy người đang đi phía trên đê. Tôi nghe tiếng ai đấy, từ đám người đó vọng xuống: "Con nhà địa chủ, cứu mần chi !". Thế rồi, ơn Phật, cùng lúc ấy, tôi nghe ùm một cái, từ một chiếc thuyền đánh cá đang tiến lại phía chiếc đò ngang, một người đàn ông để nguyên áo sống lao xuống sông. Loáng một cái, tôi đã trông thấy người ấy nổi lên, một tay túm lấy tóc thằng Tấn, tay kia khoát nước, bơi thẳng vào bờ. Người ấy chính là bác Lề thuyền chài, là cha thằng cu Sạch và con Thơm, bạn thuở nhỏ của tôi. Người ấy chính là mục đích chuyến đi này của bố con tôi.
 ò í e ... ò í ... Tiếng chuông điện thoại di động kéo tôi ra khỏi dòng hồi tưởng buồn bã. Ai trong số những người dân quê trên thuyền đang dùng thứ đồ xa xỉ này vậy ?  Ông lão thò tay vào túi, lấy ra cái vật vừa phát ra cái âm thanh xa xỉ ấy. Tôi bật cười vì chợt nhớ rằng, bây giờ, Đức Di lặc còn được người đời mời cả rượu Heinessy nữa là, nhưng có điều chẳng ai chịu mở nắp khi cúng cả. "Cha về chừ, lỡ còn khách thì mần răng ? Thui, tối ni làm muộn một chút cũng được, hề. Việc đó có quan trọng chi mà bay cứ hối [14] !". Đấy là toàn bộ thông tin của ông lão gửi sang đầu máy bên kia.
Đò vào bến. Tôi hỏi tiền đò hết bao nhiêu, ông lão bảo: "Tuỳ ông !" rồi chỉ tay vào cái hộp gỗ nhỏ để ở đầu mũi đò. Tôi quay lại, thấy mọi người bỏ vào cái "hòm phiếu" ông lão vừa chỉ ấy kẻ một ngàn, người năm trăm, cũng có người bỏ hai tờ hai ngàn. Lại có người không bỏ gì mà cứ thế đi thẳng lên đê. Tôi thấy lạ, nhưng cũng bỏ vào mười ngàn (theo giá chung ở mọi nơi) và chào ông lão.
Đường từ bến lên người ta làm chéo vát so với chiều con đê nên cũng thoai thoải, không dốc lắm. Bố dắt, con đẩy cũng nhẹ nhàng. Chợt tôi nhận ra chiếc xe lăn nhanh hẳn lên, khiến tôi phải rảo bước mới kịp.
- Đẩy mạnh thế làm gì cho mệt, con ! - Không quay lại, tôi nhắc thằng bé.
- Chỗ ni dốc lắm, nỏ lên được mô, để tôi giúp thì mới được - Một giọng người già vang lên phía sau lưng tôi.
Tôi quay lại, cũng vừa lúc xe đã lên mặt đê.
- Cảm ơn cố ! - Tôi quay lại cảm ơn con người tốt bụng vừa giúp bố con tôi.
- Ơn huệ chi ... - Người đó đưa tay lên gãi gãi đầu, nở một nụ cười méo xệch, phô ra hàm răng lởm khởm vàng khè - ông cho tui mười ngàn tiền công.
Đưa tay lên gãi gãi đầu, cái cười méo xệch, hàm răng lởm khởm, giọng lè nhè và mùi rượu nồng nặc ... Tất cả những cái đó khiến tôi ngờ ngợ, như đã gặp ở đâu, lâu lắm rồi. Tôi trân trân nhìn ông già gầy guộc, đôi tròng mắt láo liên trong hai hốc mắt trũng sâu, môi dưới ướt dượt, trề ra như chỉ chực chảy xuống như sáp ong gặp lửa. Tôi biết, đây cũng là một kiểu làm tiền đã có ở nhiều nơi, nhưng nhìn ông già khô héo, lưng còng xuống trong bộ áo quần tiều tuỵ, hôi hám, tôi vẫn thấy có cái gì đấy thương cảm và móc ví biếu ông ấy hai chục.
- Này, bác đi đường ơi, cho ông nứ một ngàn thôi -  Cô gái bán nước chè xanh ở một cái quán dưới gốc đa ven đường chạy ra nói với tôi và quay sang ông già - Ông Chinh ! Răng mà ông quá đáng rứa ... bác nứ là khách qua đường. Ông muốn bêu xấu dân cả xã ni à ?!
- Này cô ! - Tôi túm lấy tay cô gái, đưa mắt nhìn ông già đang cầm tờ hai mươi ngàn vừa đi lảng ra xa vừa ngoảnh lại như sợ tôi đổi ý - Có phải đây là ông Chinh có hai người con là anh Khoái và chị Nhàn không ?
- Đúng rồi ! Rứa ... ra bác cũng là người vùng ni ?
- Vâng, gia đình chúng tôi đi Yên Bái khai hoang cũng lâu rồi. Bây giờ về thăm quê, thấy đâu cũng lạ.
- Vậy mời bác đồng hương vô quán nghỉ uống bát nước chè xanh đã, rồi cần biết cái chi, cháu nhủ [15].
- Cô à, hoàn cảnh nhà ông Chinh bây giờ thế nào ? - Tôi hỏi trong khi cô gái đang lúi húi rót nước.
- Cũng chả ra răng ! ... Hồi chưa chia ruộng khoán, còn dựa dẫm vô hợp tác được. Từ chập có khoán mười đến chừ, cả nhà vẫn chứng mô tật nứ, siêng ăn nhác làm, nên không đủ ăn. Chú Khoái nhủ ông Chinh bán nhà, bán ruộng, ra phố huyện mua một vuông đất nhỏ, mở quán ăn, kêu bằng chi hề .... Quán Quê hương. Chậc ... hàng quán kiểu đó làm chi có nhiều khách ! Rứa rồi túng bấn vẫn hoàn túng bấn. Vợ chồng chú Khoái cũng nỏ ngó ngàng chi tới cha, cứ để cho ông rứa đó. Nghĩ cũng thấy tội. Hồi đầu năm, ăn quen bén mùi, cháu nghe nói vợ chồng chú nứ lại bán tiếp một đứa con nhỏ mới hơn một tuổi cho một người Tây, lấy được mô hơn hai chục triệu. Vung vinh được mấy tháng, đánh đề thua hết rồi. Ông Chinh buồn quá, chừ thì thành ra nát rượu, thân tàn ma dại ra rứa đó.
- Thế cô có biết ông cố Lề không. Hồi tôi còn nhỏ, cố làm nghề thuyền chài, không có nhà cửa, sống luôn trên thuyền ?
- Bác có họ với cố nứ à ?
- Không. Nhưng cố là ân nhân của gia đình tôi. Rổ khoai lang cố đưa cho mẹ tôi, ở đúng dưới cái gốc đa này đây, giữa lúc cả nhà tôi đang bị đói, đã cứu gia đình tôi qua được cái đận khốn khó ngày ấy.
- Hồi năm ất Dậu hở bác ?
- Không ...  à ... ừ, phải đấy - Tôi lúng túng trả lời - Cô cho tôi hỏi thăm đường đến nhà cố được không ?
- Cố nứ  ... - cô gái nhìn xuống phía sông và chợt im bặt ... rồi quay lại phía tôi, cười tinh quái - Cháu vẽ đường ra giấy cho bác, dễ tìm lắm. Mà tối nay là lễ mừng thọ cố tám mươi tuổi, bác gặp may rồi đó !
Rồi, như thể người đã lâu không được nói, cô hào hứng kể liền một hơi: Cố Lề ni là tức cười lắm. Các bác con của cố nứ đều khá giả mà lại tốt tính lắm. Các cháu của cố đứa mô cũng ngoan. Có hai đứa đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, đem lại hãnh diện cho cả xã nhà mình đó. Nhà cố có thiếu tiền tiêu mô. Các bác nứ cũng có bắt cố phải làm lụng chi mô. Nhưng tính cố vẫn rứa: Nỏ làm nỏ chịu được. Này bác ơi - cô gái hạ giọng, thì thào đến tức cười - Cố kiếm được rặt có tiền lẻ thôi, rứa mà tích cóp ra răng đủ tiền xây được nhà mẫu giáo cho xã mình đó, sạch và đẹp lắm. Chính quyền xã lấy tên của cố đặt cho cái nhà trẻ, nhưng cố không ưng, đòi vạc mấy chữ tên cố trên nóc đi. Ông chủ tịch xã biểu: Thì cũng phải có một cái tên mà gọi chớ. Cố biểu: Thì cứ gọi là nhà trẻ Kim Ngọc ! Ông chủ tịch nghe vậy thì nhìn cố, tủm tỉm cười. Còn từ độ nứ, chả ai đắp lại mấy cái chữ đã vạc đi đó, nhưng cả xã, chẳng ai biểu ai, cứ kêu cái nhà trẻ đó là nhà trẻ Cố Lề.
 Tôi cất cẩn thận tờ giấy vẽ đường cô gái bán nước đưa cho vào túi ngực. Nhưng ngày hôm ấy sao lại có lắm cái trục trặc thế. Đi được non cây số thì bánh xe xì hơi. May mà chỉ phải dắt bộ có một đoạn. Hiệu chữa xe tư nhân cấp xã có lẽ ít vốn, lượng phụ tùng thay thế dự trữ không nhiều và đến lượt tôi thì không còn xăm mới để thay cho cái xăm cũ vừa bị vò nát vì dắt bộ nữa. Nhờ sự nhiệt tình, khẩn trương của người đồng hương trẻ tuổi mặt mũi lấm lem dầu máy, đến hơn bảy giờ tối, gần một chục vết thủng đã được bịt lại chỉn chu. "Hai ngàn bác ạ" - cậu bảo tôi khi tôi trả tiền. "Sao lại thế ! Gần mười lỗ thủng to nhỏ, nhất định là cậu tính nhầm rồi !". "Bác cũng kể như là người gặp nạn. Lấy rứa cho bác đỡ ngại, chứ tui không lấy tiền của người bị nạn !" - Cậu thanh niên nói rất dứt khoát và xem thái độ thì rõ là không gì có thể lay chuyển nổi. Tôi ngẩn người: "Cậu thật phúc đức quá !". "Phúc chi mô, tui chỉ mần theo cố Lề thui. Mà mần rứa cũng thấy sướng trong người lắm đó. Nỏ tin, khi nào bác cứ mần thử coi, thật đó !". Cậu toét miệng cười, một nụ cười vừa trong vừa mát và có nhiều khuynh hướng hỷ xả.
 
*
 
Trong nhà đèn nến sáng choang. Mọi người, chắc là toàn con cháu, đang ăn uống vui vẻ. Bố con tôi dắt xe vào sân. "Cẩn thận nhỡ có chó !" - Tôi quay lại, nhắc thằng con. "Nỏ có chó mô, lâu rồi nhà không nuôi chó ! Lỡ đường hả ? Vô đây nghỉ uống rượu, mai đi tiếp !" - Tôi ngoảnh lại, một cụ già nhanh nhẹn bước ra - "Ô ! Cố đò ... Nhà cố đây à ? - Tôi chột dạ, đồ là mình đã vào nhầm nhà - Con đang đi tìm nhà cố Lề !". "Há ! Tôi đây, còn ông là ... ?". Tôi quýnh lên, quên phắt, buông tay khỏi cái xe máy chưa dựng chân chống và chạy tới túm lấy tay cố.
- Bác ơi, con là thằng Mẫn, con ông lang Mẫn đây !
- Há ... - Ông nắm lấy hai cánh tay tôi, ngửa mặt ra phía sau nhìn cho rõ, mắt rơm rớm - Mi đó hở Mẫn ? Ông bà cố chừ ở mô, có được mạnh giỏi không ? Có bị cực không ?
Tôi kể tóm tắt tình hình gia đình tôi.
- ừ, rứa thì tốt rồi. Chỉ tiếc cho bà cố mất sớm, đến lúc con cháu phương trưởng, tốt đẹp thì không được trông thấy. Thôi, hắn cũng là cái số con ạ ! - Rồi ông quay sang thằng con tôi ngó trân trân - Con nhà mi đó Mẫn ?
- Con chào cố ạ ! - Thằng bé, không biết học ở đâu, khoanh hai tay trước ngực, cúi đầu chào cố.
- Mặt mũi sáng sủa lắm, gắng rồi thành người hữu dụng con ạ !
Mọi người trong nhà lúc đó mới chạy ồ ra. Bằng thứ trực giác trẻ con vẫn còn xót lại chút ít, tôi nhận ra - không, phải nói là "đánh hơi" - ngay anh cu Sạch và cô Thơm. Trông gương mặt hồ hởi và nụ cười sáng rỡ của họ, tôi nhận ra trong đó có cả cái hồn của cố Lề và biết chắc rằng mọi điều đang ngày càng tốt đẹp. Chúng tôi cười nói ồn ào, kéo nhau vào nhà, tiếp tục cuộc vui.
Khi các bà các cô bắt đầu thu dọn mâm bát, ông Sạch nháy mắt ra hiệu cho tôi cùng với ông đi đến bên Cố:
- Cha ơi, mời cha vô thay áo để con cháu chúc mừng.
- Tau đã biểu là không cần phải lãng phí rứa mà bây không nghe ! - Ông cố phật ý ra mặt. Còn ông Sạch thì kín đáo nhìn tôi cầu viện.
- Bác ơi, hôm nay là ngày vui lớn của con cháu. Bác chiều con cháu đi, bác ! - Tôi nài nỉ.
Chừng như nể tôi đi xa, lâu ngày mới về, Cố cười và miễn cưỡng đi vào buồng. Thoáng một cái, đám thanh niên đã thu dọn và kê bàn ghế xong xuôi. Cố ra khỏi buồng trong bộ lễ phục áo dài khăn sếp may bằng lụa điều, ông Sạch và bà Thơm theo sau. Cố dừng lại ở giữa nhà. Một thằng bé chạy tới túm lấy tay cố, rồi nhảy cẫng lên: "Hoan hô Cố nội bữa ni đẹp quá !". Rồi nó kéo cố về phía chiếc ghế đặt sát bức tường gian giữa, phía sau cái bàn uống nước phủ vải đỏ, kê ngang trước cái ghế: "Con mời cố nội ngồi đây !". Thằng con tôi nhìn cảnh tượng, thấy thích quá, nó ghé vào tai tôi: "Bố ơi, nhà mình cũng làm mừng thọ ông nội đi !". "ừ, phải đấy, chắc chắn nhà mình sẽ đông và vui lắm !"
- Trật tự ! trật tự nào ! - ông Sạch đứng giữa nhà, dang hai tay. Mọi người lúc bấy giờ đã đứng quây phía trước cố, dáng chừng định nói đôi lời.
- Thôi, thôi ... không phải phát biểu chi hết, nhạt lắm - Cả nhà chợt nhất loạt im lặng - Hôm nay thật là vui, cảm ơn ông Trời xui khiến, ông Mẫn, con cố Lang Mẫn bạn ta, cũng về vui với nhà ta.
Nhân dịp cơ hội đang thuận lợi, tôi tiến lên phía cố, hai tay kính cẩn nâng chiếc túi mà cha tôi gửi gắm biết bao tình cảm, ý tứ vào đó:
- Cha cháu gửi biếu bác chút quà, xin bác nhận lấy. Đây là tấm lòng biết ơn của cả gia đình cháu.
Cố tiến lên một bước, cũng lấy hai tay kính cẩn mà đỡ lấy. Trước bao nhiêu cặp mắt tò mò của cả nhà, cố lần mở miệng túi, lấy ra chiếc hộp, ngắm nghía và mở ra. Cố nhìn vào lòng hộp, thoáng giật mình rồi nhìn tôi.
- Ta thực chưa xứng với món quà này ... - cố lặng đi một lúc - nhưng vì cha của con đã yêu mến ta mà khó nhọc công phu tạo ra báu vật này ... - Đến đây, cố xoay người về hướng Bắc, cúi đầu thi lễ - tôi xin lạm nhận tấm tình của cố nhân !
Bồi hồi hồi lâu, cố chậm rãi quay lại phía con cháu: "Ta cũng có vài câu, đã chuẩn bị từ lâu, nay muốn đọc cho các con các cháu cùng nghe và cố gắng đừng bao giờ quên". Nói rồi, cố cất giọng, từ từ đọc:
Giữ đạo cương thường con kính bố
Sáng trong đạo đức cháu chiều ông.
Đất Trời vần vụ đâu dâu bể ?
Làm người cốt trọn một chữ Nhân !
Không khí lắng xuống, không ai nói câu nào cho đến lúc thằng bé ban nãy hồn nhiên phá vỡ sự im lặng:
- Cố ơi, cháu nỏ hiểu chi hết.
- Rồi dần dần cháu sẽ hiểu - Cố cười hiền lành, đưa tay xoa đầu thằng chắt nhỏ trong trẻo như chú chim sâu.
Ông Sạch ra hiệu cho thằng bé quay lại. Vẫy bà vợ và vợ chồng cô Thơm lại đứng bên, rồi cả bốn người vòng tay trước ngực, cúi đầu kính cẩn:
- Chúng con kính chúc cha vui khoẻ, sống lâu với con cháu !
Tiếp theo sau là hàng cháu. Cảnh tượng thật ấm áp và cảm động. Cố Lề ngồi ở chiếc ghế dành riêng cho mình, nhìn đàn con cháu chắt đông đúc mỉm cười hài lòng. Sau khi hàng con và cháu dâng quà mừng là đến lượt các chắt. Sắp trẻ thơ chưa biết phép tắc, cứ thế giành nhau lên trước, đặt vào lòng cố đủ các món quà "lẩm cẩm".
Có tiếng ồn ngoài cổng. Chẳng đợi ai ra mở, hai cánh cổng gỗ đã bật tung ra và theo đó, một đàn con nít cùng bà con hàng xóm ùa vào. Tôi nhận ra, trong đám người đó có cả cô bán nước và cậu thợ sửa xe. Cô bán nước chào tôi, vẫn nụ cười tinh quái ban chiều. A ... - tôi chợt hiểu ra - cảm ơn cô gái nghịch ngợm ! Anh thợ ảnh có vẻ vất vả tợn. Có lẽ anh không muốn bỏ sót những hình ảnh mà không bao giờ còn lặp lại lần thứ hai nữa. Thôi thì đủ các thứ quà: quê có, tỉnh có. Bên cạnh những gói quà của bà con hàng xóm như ta thường thấy, còn có cả những thứ "lẩm cẩm" của bọn nhỏ nhà trẻ, giống y như quà của các chắt của cố: Quả ổi, quả na, mấy chiếc kẹo, mấy quả chuối, cái bánh cu đơ ...
Cố Lề ngồi đó, ngập trong quà biếu đủ loại, đủ cỡ, đủ màu sắc ... và nở một nụ cười, nụ cười làm sáng bừng cả gian giữa, chỉ thấy ở những người hạnh phúc mà may chăng, chỉ có âm nhạc mới có cơ ghi lại được.
Không khí đầm ấm, thân tình. Kẻ cười người nói râm ran. Người lớn kể với nhau những chuyện về cố và luôn nhắc đám thiếu niên phải nhớ lấy như những bài học. Lũ trẻ nhỏ chạy nhảy, tung tăng nô dỡn và thỉnh thoảng có đứa cao hứng hét tướng lên: Cố Lề muôn năm !
 - Răng mà cố cười lâu rứa hề ?! - Một người đàn ông trạc tuổi tôi, mà mọi người giới thiệu với tôi là bác sỹ, níu tay tôi, nhìn cố, lo ngại hỏi, tựa như hỏi chính mình.
Không đợi ai trả lời, ông bước đến chỗ cố ngồi: "Cố ơi !". Không trả lời. "Cố ơi !". Vẫn không trả lời. Ông hốt hoảng cầm tay cố bắt mạch. Lát sau, mặt tái nhợt, ông quay ra, thì thào: "Cố thăng rồi !". Những người đứng bên cố chợt im bặt, bàng hoàng. Những người khác chưa hề biết gì, vẫn cười nói râm ran. Lũ trẻ vẫn mải nô đùa cười hát. Tôi nắm tay cố: Đôi tay vẫn mềm và ấm. Tôi nhìn cố: Cố vẫn cười ... đúng là vẫn cười ! Nụ cười vẫn tiếp tục toả sáng, thứ ánh sáng có màu hồng nhẹ, có lẽ cũng giống như vầng sáng toả ra từ xứ Tây Trúc huyền thoại xa xôi !                   



[1] Ngũ Thường gồm năm điều Nho giáo đòi hỏi ở người Quân tử: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín.
[/align] [2] Trọng Cung, một học trò của Khổng Tử, khi hỏi về điều Nhân, được ngài trả lời: "Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế, kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (Ra cửa phải như tiếp khách lớn. Trị dân phải như làm lễ lớn. Điều gì mình không muốn ai làm cho mình thì chớ làm cho ai"
 
[/align] [3] "Người khổng lồ mắt xanh", Nadim Hitmet
[/align] [4] Thơ Hoàng Xuân Niên (Hoàng Lê Tuyết Minh)
[/align] [5] Không
[/align] [6] Giỏi trai
[/align] [7] Bọn tôi
[/align] [8] Thôi
[/align] [9] ấy
[/align] [10] nhỉ
[/align] [11] cái
[/align] [12] Bãi bên sông
[/align] [13] bọn tôi
[/align] [14] Giục
[/align] [15] Bảo
[/align] [/align]
Đăng nhập để trả lời
0