VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC HỘI
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC CEDAW
Nguyễn Thị Hoài Thu*
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (gọi tắt là Công ước CEDAW) đã có hiệu lực được 1/4 thế kỷ. Công ước CEDAW được Nhà nước Việt Nam ký tham gia vào ngày 29 tháng 7 năm 1980 và được Hội đồng Nhà nước của Quốc hội khoá VII (từ 1981 đến 1987) phê chuẩn ngày 27 tháng 11 năm 1981. Với hành vi pháp lý nói trên, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên tham gia Công ước CEDAW. Đây là một dấu mốc đáng nhớ, vì 25 năm qua, tồn tại trong hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người nhưng Công ước CEDAW, với những giá trị tiến bộ tiềm tàng của nó đã thu hút được sự tham gia của 183 quốc gia thành viên và trở thành điều ước quốc tế có số lượng quốc gia thành viên cao (chỉ đứng sau Công ước quốc tế về quyền trẻ em).
Hai mươi nhăm năm qua, cùng với sức mạnh có được từ quyết tâm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, Quốc hội nước ta đã không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước CEDAW, nhằm làm cho các nguyên tắc cơ bản cũng như các quy định cụ thể của Công ước CEDAW được xác lập và hiện thực hoá trong thực tiễn Việt Nam.
1- Những thành tựu nổi bật trong 25 năm thực hiện Công ước CEDAW
Năm 1991, Chính phủ Việt Nam thông qua ''Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000'' với quan điểm cơ bản là đặt con người vào trung tâm của sự nghiệp phát triển, khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân và cả cộng đồng dân tộc, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển nhanh và tăng GDP năm 2000 gấp đôi so với năm 1990. Đây là chiến lược phát triển vì dân, do dân, lấy ấm no, tự do và hạnh phúc của con người làm mục tiêu phấn đấu cao nhất. Chiến lược này cũng là điều kiện cơ bản để Chính phủ Việt Nam thực hiện những cam kết của mình đối với Công ước CEDAW.
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 đã được công bố với mục tiêu tổng quát là "Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đưa GDP tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000, cải thiện đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI), xóa đói, giảm nhanh hộ nghèo, tăng tuổi thọ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%, tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi. Chất lượng đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện". Chiến lược đã chú trọng việc xây dựng và nâng cao năng lực của con người cũng như phát huy hiệu quả nguồn nhân lực vào công cuộc phát triển đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Thực hiện Chiến lược cũng chính là tạo điều kiện thuận lợi để Chính phủ Việt Nam thực hiện có hiệu quả những cam kết của mình đối với Công ước CEDAW.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được mức khá cao. Cùng với những kết quả về kinh tế, Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ về phát triển xã hội, nổi bật là chỉ số phát triển con người cao hơn chỉ số phát triển kinh tế. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 2003 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc, trong số 175 nước, Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) là 0,688 (xếp thứ 109), trong khi thu nhập bình quân đầu người xếp thứ 128. Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam là 0,687 (xếp thứ 89/144 nước), thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương. Việt Nam hầu như không có chênh lệch giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển giới. Bên cạnh đó, Việt Nam liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xoá đói, giảm nghèo và đạt được những kết quả đáng khích lệ trong các lĩnh vực giải quyết việc làm, giáo dục và đào tạo, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Bình quân mỗi năm, Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm đã giúp 30 vạn hộ dân thoát khỏi đói nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2003 xuống còn 11,8% tổng số hộ dân cả nước. Trong 4 năm qua, số lao động được giải quyết việc làm khoảng 4,3 triệu người, trong đó một nửa là phụ nữ.
Xuất phát từ quan điểm bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực, Hiến pháp 1992 khẳng định ''lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân'' (Điều 55). Nhà nước ban hành chế độ bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước, những người làm công ăn lương và khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác với người lao động (Điều 56). Điều 63 của Hiến pháp 1992 cũng quy định "Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật". Bộ Luật lao động năm 1994 đã tiếp tục khẳng định tại Điều 5: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo". Đặc biệt, Bộ Luật đã dành nguyên Chương 10 gồm 10 điều quy định riêng về lao động nữ. Nội dung chính là Nhà nước bảo đảm quyền làm việc cho phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách và biện pháp giúp lao động nữ phát huy năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà lao động và cuộc sống gia đình. Trên một chục văn bản dưới luật đã được ban hành sau khi có Bộ Luật lao động để hướng dẫn chi tiết việc bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ. Và mới đây nhất, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ chín, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội, khẳng định rõ hơn điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội và lương hưu cho người lao động. Trong khi pháp luật về lao động chưa được sửa theo hướng tuổi nghỉ hưu của lao động nam và nữ ngang nhau thì tại khoản 2, Điều 70 (Điều kiện hưởng lương hưu) Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 05 năm so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm, điều này cũng có thể hiểu để bù đắp phần thiệt thòi của lao động nữ do phải về hưu trước lao động nam 5 năm.
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, quy định mục tiêu tổng quát là "Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội". Chiến lược đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể nhằm xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục; chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành, tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Chiến lược đã xác định việc lồng ghép giới trong chính sách công là một trong các giải pháp thực hiện chủ yếu.
Từ năm 2000 đến nay, phương pháp tiếp cận lồng ghép giới được nghiên cứu và từng bước áp dụng trong các khâu của quá trình xây dựng chính sách. Công tác lồng ghép giới mới được triển khai, đa phần áp dụng ở cấp độ dự án, thiếu các chế định cụ thể, kinh nghiệm, nguồn lực. Trong thời gian tới, để thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, các cơ quan của Chính phủ cần thực hiện lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm của cả nước và của từng bộ ngành, địa phương.
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ, nhưng hiện vẫn còn nhiều trở ngại trong việc thực hiện Công ước CEDAW, tư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn còn trong suy nghĩ và hành động của không ít người; một số bộ, ban, ngành và địa phương chưa thật sự coi trọng và tạo điều kiện cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ; bộ máy vì sự tiến bộ của phụ nữ còn hạn chế về hiệu lực và hoạt động; nhiều phụ nữ còn có tâm lý tự ti, an phận, thì những tệ nạn xã hội, các phong tục tập quán mang định kiến giới cũng tác động trực tiếp gây những thách thức không nhỏ đến sự phát triển chung của xã hội.
2. Vai trò của Quốc hội trong thực hiện Công ước CEDAW
a. Thể chế hoá các nguyên tắc cơ bản của Công ước CEDAW vào hoạt động lập pháp
Với vai trò là cơ quan lập pháp, Quốc hội đã xác định là cơ quan tiên phong trong việc thực hiện Công ước CEDAW và Điều 3 của Công ước khi xác định trách nhiệm của các quốc gia thành viên đó khẳng định: "Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể các biện pháp pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, đảm bảo cho họ có thể thực hiện cũng như thụ hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới". Thực hiện cam kết này, trong suốt 25 năm qua, một trong những biện pháp quan trọng mà Quốc hội Việt Nam đã nỗ lực thực hiện là việc ban hành các văn bản pháp luật và giám sát thực thi những quy định của pháp luật nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới. Có thể nói, việc thực hiện Công ước CEDAW trên khía cạnh hoạt động hoạch định chính sách, ban hành pháp luật đã thể hiện bước tiến ngày càng sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn.
- Việc thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong Hiến pháp và pháp luật
Công ước CEDAW thể hiện rõ các nguyên tắc, các công việc mà xã hội phải hành động để bảo đảm cho phụ nữ có vị trí đúng đắn với hơn một nửa nhân loại có quyền quyết định. Vai trò Quốc hội là phải thể hiện và phải hoàn thiện những nội dung cơ bản của Công ước phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam và thông lệ quốc tế, những điểm chưa được quy định hoặc đã quy định còn thiếu trong Hiến pháp, trong các đạo luật…
Trong 25 năm qua (nhiệm kỳ Quốc hội từ khoá VII đến khoá XI), Quốc hội Việt Nam đã thông qua 188 đạo luật, trong đó có nhiều đạo luật hàm chứa nội dung của Công ước CEDAW như: Bộ Luật hình sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Tố tụng hình sự, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bình đẳng giới...
Cho đến nay, vấn đề bình đẳng nam nữ ở Việt Nam không còn là điều tuyên ngôn, mà đã trở thành một trong những nguyên tắc chủ đạo, có giá trị chi phối toàn bộ hệ thống pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền con người và được đảm bảo thực hiện trên thực tế bằng nhiều biện pháp. Sự bình đẳng nam nữ được xã hội tôn trọng và mọi người có ý thức chấp hành trong đời sống xã hội cũng như trong gia đình.
- Các quy định nhằm loại trừ phân biệt đối xử đối với phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới
Mục tiêu của bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam và nữ, thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Luật bình đẳng giới đã quy định những hành vi bị nghiêm cấm như: cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức và các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, y tế cũng như trong gia đình. Đồng thời, Luật cũng quy định các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
b. Nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ trong hoạt động dân cử
- Lãnh đạo nữ trong cơ quan quản lý nhà nước
Phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý được coi là biểu hiện sinh động cho khả năng làm chủ xã hội của giới nữ và đó cũng là thước đo hiệu quả để làm cơ sở công nhận và đánh giá của xã hội đối với vị trí, vai trò cũng như trình độ và năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Phụ nữ đã và đang tích cực tham gia công tác lãnh đạo và quản lý ở tất cả các lĩnh vực.
Riêng về lĩnh vực chính trị, trong những nhiệm kỳ gần đây, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước cao nhất luôn có Phó Chủ tịch nước là nữ. Ở cấp bộ và cơ quan ngang bộ, nữ Bộ trưởng và tương đương chiếm tỷ lệ 11,29%, nữ Thứ trưởng và tương đương chiếm tỷ lệ 12,85%.
Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo ở Uỷ ban nhân dân các cấp trong nhiệm kỳ 2004-2009 có cao hơn như: UBND cấp tỉnh: nữ Chủ tịch UBND chiếm tỷ lệ là 3,12%; nữ Phó Chủ tịch chiếm 16,08%; UBND cấp huyện: nữ Chủ tịch chiếm 3,62%; nữ Phó Chủ tịch chiếm 14,48%; UBND cấp xã: nữ Chủ tịch chiếm 3,42%, nữ Phó Chủ tịch chiếm 8,84%;
Năm năm qua, chúng ta luôn có tỷ lệ nữ là Đại biểu Quốc hội khá cao. Nữ Đại biểu Quốc hội luôn nâng cao năng lực và trí tuệ, tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn trong các hoạt động lập pháp và giám sát.
Tuy nhiên, những số liệu này cũng gợi lên những điều cần suy nghĩ về vị trí, vai trò của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý và tỷ lệ nữ lãnh đạo trong cơ quan quản lý nhà nước các cấp, đặc biệt là nữ lãnh đạo, quản lý ở vị trí cấp trưởng – nơi mà nữ giới có cơ hội và điều kiện để thể hiện năng lực lãnh đạo, quản lý nhiều hơn so với lĩnh vực hoạt động đại biểu dân cử - còn rất khiêm tốn. Có thể nói, vị thế của phụ nữ trong hoạt động quản lý, lãnh đạo chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực này.
- Với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XI chiếm 27,31%, Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội cao nhất khu vực châu Á, thứ 2 châu Á -Thái Bình Dương (sau New Zealand) . Ở các cơ quan dân cử địa phương, tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp rất khả quan và tăng liên tục trong các nhiệm kỳ gần đây. So sánh tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của nhiệm kỳ 2004 – 2009 với nhiệm kỳ 1999 – 2004 cho thấy mức tăng như sau: Nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh: tăng từ 22,33% lên 23,83% (tăng 0,5%); Nữ đại biểu HĐND cấp huyện: tăng từ 20,12% lên 22,94% (tăng 2,82%); Nữ đại biểu HĐND cấp xã: tăng từ 16,56% lên 20,10% (tăng 3,54%).
Các số liệu về tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ, cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước các cấp trên đây cho thấy, sự tham gia một cách thực chất của lãnh đạo nữ trong đời sống chính trị, đặc biệt là trong hoạt động đại biểu dân cử. Đây chính là lý do quan trọng để Việt Nam được coi là điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới khi kiểm điểm việc thực hiện 8 mục tiêu Thiên niên kỷ tại Liên Hiệp quốc năm 2005.
c. Dự án Luật Bình đẳng giới - thể hiện tập trung, sinh động quyết tâm của Quốc hội Việt Nam đối với việc nội luật hoá Công ước CEDAW
Dự án Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khoá XI đưa vào chương trình xây dựng luật năm 2006, đã thông qua tại kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2007. Đây là sự khẳng định rõ ràng nhất, tập trung nhất, nỗ lực và bước tiến không ngừng của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và đưa ra những biện pháp thiết thực có tính đến những đặc thù về giới tính của phụ nữ để đạt được bình đẳng thực chất giữa phụ nữ và nam giới như mục tiêu mà Công ước CEDAW đề ra. Và như thế, vấn đề quan trọng hàng đầu của Luật Bình đẳng giới là việc thể hiện một cách hợp lý nhất việc nội luật hóa các nguyên tắc cơ bản cũng như các quy định của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.
Quan điểm của Quốc hội Việt Nam là cần phải tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế; bởi lẽ, bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, như Công ước CEDAW, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Với trách nhiệm là thành viên của các Công ước quốc tế về quyền con người, việc xây dựng Luật Bình đẳng giới không chỉ thể hiện quyết tâm cao của Việt Nam trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử nam, nữ mà đây còn là câu trả lời đầy đủ nhất cho các khuyến nghị của Uỷ ban Công ước CEDAW với Việt Nam trong việc thực hiện Công ước này.
Luật Bình đẳng giới gồm 6 chương, 44 điều. Một nổi bật của Luật Bình đẳng giới chính là nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội, nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo cơ quan, tổ chức (Điều 11); nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh (Điều 13); nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng và trong lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo (Điều 14).
Nhà nước Việt Nam có chính sách đúng đắn về giáo dục, đào tạo đối với phụ nữ, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đáng lưu ý, tại Chương III về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Luật đã quy định rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, việc thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới và thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới, cũng như nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới. Tất cả đều là những quy phạm cần thiết để tác động tích cực trong thực hiện bình đẳng giới.
3. Những vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục thực hiện tốt Công ước CEDAW
Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đang đặt ra yêu cầu phải xóa bỏ định kiến giới, tạo điều kiện để phụ nữ giải phóng tiềm năng, khắc phục những khó khăn của giới mình, vươn lên đóng góp có hiệu quả cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Mục tiêu và phương hướng phấn đấu cần đạt tới là phát triển ổn định, bền vững đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trên mọi lĩnh vực, đảm bảo tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng; đáp ứng thực chất yêu cầu về bình đẳng giới trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. Để đạt tới mục tiêu này, cần nhận thức rõ những rào cản, thách thức đã và đang đặt ra đối với việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý, đó là:
- Định kiến giới: Trong công tác tổ chức cán bộ, quan niệm nữ giới chỉ nên giữ vị trí cấp phó vẫn là một quan niệm phổ biến, thể hiện sự tồn tại rõ nét và dai dẳng của định kiến giới. Ở nhiều nơi, cách đánh giá, nhìn nhận thiên kiến, hẹp hòi, thiếu tin tưởng vào năng lực lãnh đạo của nữ giới dường như vẫn được coi là chuyện bình thường, dẫn đến sự lơ là, thiếu trách nhiệm trong việc quy hoạch, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý. Đảng ta rất quan tâm đến việc phát triển, nâng cao tỷ lệ lãnh đạo nữ trong các cấp, các ngành, các lĩnh vực, và Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 đã cụ thể hóa các mục tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng thuộc nhiệm kỳ Đại hội Đảng X từ 15% trở lên, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI là 30% và khoá XII là từ 33% trở lên, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ tới là 30%, cấp huyện là 25%, cấp xã là 20%, nhưng những chỉ tiêu này sẽ không thể đạt được nếu thiếu cơ chế trách nhiệm trong việc chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc.
Nói đến định kiến giới, có một vấn đề cần thực sự quan tâm: đây không chỉ là định kiến của xã hội, của gia đình, của giới nam đối với giới nữ mà còn là định kiến, sự mặc cảm, tự ti của bản thân phụ nữ về năng lực lãnh đạo, quản lý của chính mình hoặc sự thiếu tin tưởng của chính phụ nữ vào năng lực lãnh đạo của lãnh đạo cùng giới. Điều này dẫn đến tâm lý an phận, triệt tiêu ý thức phấn đấu của phụ nữ. Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phụ nữ phải vượt qua những cản ngại từ chính bản thân mình.
- Gánh nặng trách nhiệm với gia đình: Cơ chế thị trường và sự phát triển xã hội đang làm tăng hêm gánh nặng trách nhiệm của người phụ nữ trong thiên chức người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con cái. Quỹ thời gian của người phụ nữ bị phân tán vào công việc nội trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến nhiều phụ nữ ít có điều kiện để tiếp cận với những cơ hội để phát triển bản thân. Gánh nặng gia đình bao giờ cũng dồn lên trách nhiệm của người phụ nữ; bởi vậy, nó tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Đây là một thách thức đặt ra đối với hầu hết phụ nữ và tác động không nhỏ tới cơ hội thăng tiến của phụ nữ.
Trên thực tế đã có sự thay đổi đáng kể về vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình, từ chỗ người chồng chỉ huy và toàn quyền quyết định chuyển dần sang việc cả hai vợ chồng cùng bàn bạc quyết định và chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái. Trẻ em luôn là mối quan tâm và đầu tư lớn nhất của các gia đình Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội được cải thiện đã tạo điều kiện cho các gia đình tổ chức cuộc sống và chăm sóc trẻ em tốt hơn.
Mặc dù xã hội Việt Nam có sự nhận thức rất tiến bộ như trên, nhưng chúng ta vẫn chưa thể khắc phục hoàn toàn các quan niệm lệch lạc về vai trò của phụ nữ và nam giới. Ở ngoài xã hội, đó là biểu hiện định kiến, coi thường phụ nữ, cho rằng phụ nữ không thể đảm nhiệm các trọng trách. Trong gia đình, phụ nữ ít nhiều bị ràng buộc bởi các tập tục truyền thống và gia phong, tốn nhiều thời gian và công sức cho công việc nội trợ, chăm sóc người già và trẻ em, sức khoẻ cũng ít được quan tâm. Thực trạng đó đòi hỏi việc giáo dục nhận thức giới cho mọi thành viên xã hội và gia đình cần phải tiến hành rộng rãi và liên tục hơn nữa.
Mục tiêu đến năm 2020 là cơ bản đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu sắc với hiện thực gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thực hiện Hiệp định thương mại tự do (AFTA)... cũng đang đặt giới nữ lãnh đạo, quản lý nước ta trước đòi hỏi phải nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng lãnh đạo, quản lý để thích ứng với bối cảnh tình hình mới. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, hành chính, tin học và ngoại ngữ bằng các khoá học thích hợp cho cán bộ nữ cần được chú trọng hơn nữa.
Phụ nữ vừa là nguồn lực quan trọng của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, vừa là nguồn gốc của những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Nhưng thực tế cho thấy, công tác cán bộ nữ vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý, những người ra quyết định ở hầu hết các cơ quan bộ, ban, ngành, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến địa phương chiếm tỷ lệ còn thấp.
Từ những thách thức trên, đòi hỏi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần quan tâm hơn nữa trong giám sát việc thể chế hoá Công ước CEDAW vào hoạt động lập pháp và thực hiện Luật Bình đẳng giới, đây là cơ sở pháp lý nhằm góp phần tăng cường thực hiện có hiệu quả pháp luật, bởi lẽ bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=4667
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC CEDAW
Nguyễn Thị Hoài Thu*
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (gọi tắt là Công ước CEDAW) đã có hiệu lực được 1/4 thế kỷ. Công ước CEDAW được Nhà nước Việt Nam ký tham gia vào ngày 29 tháng 7 năm 1980 và được Hội đồng Nhà nước của Quốc hội khoá VII (từ 1981 đến 1987) phê chuẩn ngày 27 tháng 11 năm 1981. Với hành vi pháp lý nói trên, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên tham gia Công ước CEDAW. Đây là một dấu mốc đáng nhớ, vì 25 năm qua, tồn tại trong hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người nhưng Công ước CEDAW, với những giá trị tiến bộ tiềm tàng của nó đã thu hút được sự tham gia của 183 quốc gia thành viên và trở thành điều ước quốc tế có số lượng quốc gia thành viên cao (chỉ đứng sau Công ước quốc tế về quyền trẻ em).
Hai mươi nhăm năm qua, cùng với sức mạnh có được từ quyết tâm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, Quốc hội nước ta đã không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước CEDAW, nhằm làm cho các nguyên tắc cơ bản cũng như các quy định cụ thể của Công ước CEDAW được xác lập và hiện thực hoá trong thực tiễn Việt Nam.
1- Những thành tựu nổi bật trong 25 năm thực hiện Công ước CEDAW
Năm 1991, Chính phủ Việt Nam thông qua ''Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000'' với quan điểm cơ bản là đặt con người vào trung tâm của sự nghiệp phát triển, khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân và cả cộng đồng dân tộc, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển nhanh và tăng GDP năm 2000 gấp đôi so với năm 1990. Đây là chiến lược phát triển vì dân, do dân, lấy ấm no, tự do và hạnh phúc của con người làm mục tiêu phấn đấu cao nhất. Chiến lược này cũng là điều kiện cơ bản để Chính phủ Việt Nam thực hiện những cam kết của mình đối với Công ước CEDAW.
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 đã được công bố với mục tiêu tổng quát là "Đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đưa GDP tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000, cải thiện đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI), xóa đói, giảm nhanh hộ nghèo, tăng tuổi thọ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%, tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi. Chất lượng đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện". Chiến lược đã chú trọng việc xây dựng và nâng cao năng lực của con người cũng như phát huy hiệu quả nguồn nhân lực vào công cuộc phát triển đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Thực hiện Chiến lược cũng chính là tạo điều kiện thuận lợi để Chính phủ Việt Nam thực hiện có hiệu quả những cam kết của mình đối với Công ước CEDAW.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được mức khá cao. Cùng với những kết quả về kinh tế, Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ về phát triển xã hội, nổi bật là chỉ số phát triển con người cao hơn chỉ số phát triển kinh tế. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 2003 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc, trong số 175 nước, Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) là 0,688 (xếp thứ 109), trong khi thu nhập bình quân đầu người xếp thứ 128. Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam là 0,687 (xếp thứ 89/144 nước), thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương. Việt Nam hầu như không có chênh lệch giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển giới. Bên cạnh đó, Việt Nam liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xoá đói, giảm nghèo và đạt được những kết quả đáng khích lệ trong các lĩnh vực giải quyết việc làm, giáo dục và đào tạo, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Bình quân mỗi năm, Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm đã giúp 30 vạn hộ dân thoát khỏi đói nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2003 xuống còn 11,8% tổng số hộ dân cả nước. Trong 4 năm qua, số lao động được giải quyết việc làm khoảng 4,3 triệu người, trong đó một nửa là phụ nữ.
Xuất phát từ quan điểm bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực, Hiến pháp 1992 khẳng định ''lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân'' (Điều 55). Nhà nước ban hành chế độ bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước, những người làm công ăn lương và khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác với người lao động (Điều 56). Điều 63 của Hiến pháp 1992 cũng quy định "Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật". Bộ Luật lao động năm 1994 đã tiếp tục khẳng định tại Điều 5: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo". Đặc biệt, Bộ Luật đã dành nguyên Chương 10 gồm 10 điều quy định riêng về lao động nữ. Nội dung chính là Nhà nước bảo đảm quyền làm việc cho phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách và biện pháp giúp lao động nữ phát huy năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà lao động và cuộc sống gia đình. Trên một chục văn bản dưới luật đã được ban hành sau khi có Bộ Luật lao động để hướng dẫn chi tiết việc bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ. Và mới đây nhất, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ chín, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội, khẳng định rõ hơn điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội và lương hưu cho người lao động. Trong khi pháp luật về lao động chưa được sửa theo hướng tuổi nghỉ hưu của lao động nam và nữ ngang nhau thì tại khoản 2, Điều 70 (Điều kiện hưởng lương hưu) Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 05 năm so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm, điều này cũng có thể hiểu để bù đắp phần thiệt thòi của lao động nữ do phải về hưu trước lao động nam 5 năm.
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, quy định mục tiêu tổng quát là "Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội". Chiến lược đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể nhằm xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục; chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành, tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Chiến lược đã xác định việc lồng ghép giới trong chính sách công là một trong các giải pháp thực hiện chủ yếu.
Từ năm 2000 đến nay, phương pháp tiếp cận lồng ghép giới được nghiên cứu và từng bước áp dụng trong các khâu của quá trình xây dựng chính sách. Công tác lồng ghép giới mới được triển khai, đa phần áp dụng ở cấp độ dự án, thiếu các chế định cụ thể, kinh nghiệm, nguồn lực. Trong thời gian tới, để thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, các cơ quan của Chính phủ cần thực hiện lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 5 năm của cả nước và của từng bộ ngành, địa phương.
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ, nhưng hiện vẫn còn nhiều trở ngại trong việc thực hiện Công ước CEDAW, tư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn còn trong suy nghĩ và hành động của không ít người; một số bộ, ban, ngành và địa phương chưa thật sự coi trọng và tạo điều kiện cho hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ; bộ máy vì sự tiến bộ của phụ nữ còn hạn chế về hiệu lực và hoạt động; nhiều phụ nữ còn có tâm lý tự ti, an phận, thì những tệ nạn xã hội, các phong tục tập quán mang định kiến giới cũng tác động trực tiếp gây những thách thức không nhỏ đến sự phát triển chung của xã hội.
2. Vai trò của Quốc hội trong thực hiện Công ước CEDAW
a. Thể chế hoá các nguyên tắc cơ bản của Công ước CEDAW vào hoạt động lập pháp
Với vai trò là cơ quan lập pháp, Quốc hội đã xác định là cơ quan tiên phong trong việc thực hiện Công ước CEDAW và Điều 3 của Công ước khi xác định trách nhiệm của các quốc gia thành viên đó khẳng định: "Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể các biện pháp pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, đảm bảo cho họ có thể thực hiện cũng như thụ hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới". Thực hiện cam kết này, trong suốt 25 năm qua, một trong những biện pháp quan trọng mà Quốc hội Việt Nam đã nỗ lực thực hiện là việc ban hành các văn bản pháp luật và giám sát thực thi những quy định của pháp luật nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới. Có thể nói, việc thực hiện Công ước CEDAW trên khía cạnh hoạt động hoạch định chính sách, ban hành pháp luật đã thể hiện bước tiến ngày càng sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn.
- Việc thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong Hiến pháp và pháp luật
Công ước CEDAW thể hiện rõ các nguyên tắc, các công việc mà xã hội phải hành động để bảo đảm cho phụ nữ có vị trí đúng đắn với hơn một nửa nhân loại có quyền quyết định. Vai trò Quốc hội là phải thể hiện và phải hoàn thiện những nội dung cơ bản của Công ước phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam và thông lệ quốc tế, những điểm chưa được quy định hoặc đã quy định còn thiếu trong Hiến pháp, trong các đạo luật…
Trong 25 năm qua (nhiệm kỳ Quốc hội từ khoá VII đến khoá XI), Quốc hội Việt Nam đã thông qua 188 đạo luật, trong đó có nhiều đạo luật hàm chứa nội dung của Công ước CEDAW như: Bộ Luật hình sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Tố tụng hình sự, Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bình đẳng giới...
Cho đến nay, vấn đề bình đẳng nam nữ ở Việt Nam không còn là điều tuyên ngôn, mà đã trở thành một trong những nguyên tắc chủ đạo, có giá trị chi phối toàn bộ hệ thống pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền con người và được đảm bảo thực hiện trên thực tế bằng nhiều biện pháp. Sự bình đẳng nam nữ được xã hội tôn trọng và mọi người có ý thức chấp hành trong đời sống xã hội cũng như trong gia đình.
- Các quy định nhằm loại trừ phân biệt đối xử đối với phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới
Mục tiêu của bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam và nữ, thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Luật bình đẳng giới đã quy định những hành vi bị nghiêm cấm như: cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức và các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, y tế cũng như trong gia đình. Đồng thời, Luật cũng quy định các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
b. Nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ trong hoạt động dân cử
- Lãnh đạo nữ trong cơ quan quản lý nhà nước
Phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý được coi là biểu hiện sinh động cho khả năng làm chủ xã hội của giới nữ và đó cũng là thước đo hiệu quả để làm cơ sở công nhận và đánh giá của xã hội đối với vị trí, vai trò cũng như trình độ và năng lực lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Phụ nữ đã và đang tích cực tham gia công tác lãnh đạo và quản lý ở tất cả các lĩnh vực.
Riêng về lĩnh vực chính trị, trong những nhiệm kỳ gần đây, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước cao nhất luôn có Phó Chủ tịch nước là nữ. Ở cấp bộ và cơ quan ngang bộ, nữ Bộ trưởng và tương đương chiếm tỷ lệ 11,29%, nữ Thứ trưởng và tương đương chiếm tỷ lệ 12,85%.
Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo ở Uỷ ban nhân dân các cấp trong nhiệm kỳ 2004-2009 có cao hơn như: UBND cấp tỉnh: nữ Chủ tịch UBND chiếm tỷ lệ là 3,12%; nữ Phó Chủ tịch chiếm 16,08%; UBND cấp huyện: nữ Chủ tịch chiếm 3,62%; nữ Phó Chủ tịch chiếm 14,48%; UBND cấp xã: nữ Chủ tịch chiếm 3,42%, nữ Phó Chủ tịch chiếm 8,84%;
Năm năm qua, chúng ta luôn có tỷ lệ nữ là Đại biểu Quốc hội khá cao. Nữ Đại biểu Quốc hội luôn nâng cao năng lực và trí tuệ, tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn trong các hoạt động lập pháp và giám sát.
Tuy nhiên, những số liệu này cũng gợi lên những điều cần suy nghĩ về vị trí, vai trò của nữ giới trong lãnh đạo, quản lý và tỷ lệ nữ lãnh đạo trong cơ quan quản lý nhà nước các cấp, đặc biệt là nữ lãnh đạo, quản lý ở vị trí cấp trưởng – nơi mà nữ giới có cơ hội và điều kiện để thể hiện năng lực lãnh đạo, quản lý nhiều hơn so với lĩnh vực hoạt động đại biểu dân cử - còn rất khiêm tốn. Có thể nói, vị thế của phụ nữ trong hoạt động quản lý, lãnh đạo chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực này.
- Với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XI chiếm 27,31%, Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội cao nhất khu vực châu Á, thứ 2 châu Á -Thái Bình Dương (sau New Zealand) . Ở các cơ quan dân cử địa phương, tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp rất khả quan và tăng liên tục trong các nhiệm kỳ gần đây. So sánh tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của nhiệm kỳ 2004 – 2009 với nhiệm kỳ 1999 – 2004 cho thấy mức tăng như sau: Nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh: tăng từ 22,33% lên 23,83% (tăng 0,5%); Nữ đại biểu HĐND cấp huyện: tăng từ 20,12% lên 22,94% (tăng 2,82%); Nữ đại biểu HĐND cấp xã: tăng từ 16,56% lên 20,10% (tăng 3,54%).
Các số liệu về tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ, cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước các cấp trên đây cho thấy, sự tham gia một cách thực chất của lãnh đạo nữ trong đời sống chính trị, đặc biệt là trong hoạt động đại biểu dân cử. Đây chính là lý do quan trọng để Việt Nam được coi là điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới khi kiểm điểm việc thực hiện 8 mục tiêu Thiên niên kỷ tại Liên Hiệp quốc năm 2005.
c. Dự án Luật Bình đẳng giới - thể hiện tập trung, sinh động quyết tâm của Quốc hội Việt Nam đối với việc nội luật hoá Công ước CEDAW
Dự án Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khoá XI đưa vào chương trình xây dựng luật năm 2006, đã thông qua tại kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2007. Đây là sự khẳng định rõ ràng nhất, tập trung nhất, nỗ lực và bước tiến không ngừng của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và đưa ra những biện pháp thiết thực có tính đến những đặc thù về giới tính của phụ nữ để đạt được bình đẳng thực chất giữa phụ nữ và nam giới như mục tiêu mà Công ước CEDAW đề ra. Và như thế, vấn đề quan trọng hàng đầu của Luật Bình đẳng giới là việc thể hiện một cách hợp lý nhất việc nội luật hóa các nguyên tắc cơ bản cũng như các quy định của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.
Quan điểm của Quốc hội Việt Nam là cần phải tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế; bởi lẽ, bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, như Công ước CEDAW, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Với trách nhiệm là thành viên của các Công ước quốc tế về quyền con người, việc xây dựng Luật Bình đẳng giới không chỉ thể hiện quyết tâm cao của Việt Nam trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử nam, nữ mà đây còn là câu trả lời đầy đủ nhất cho các khuyến nghị của Uỷ ban Công ước CEDAW với Việt Nam trong việc thực hiện Công ước này.
Luật Bình đẳng giới gồm 6 chương, 44 điều. Một nổi bật của Luật Bình đẳng giới chính là nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội, nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo cơ quan, tổ chức (Điều 11); nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh (Điều 13); nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng và trong lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo (Điều 14).
Nhà nước Việt Nam có chính sách đúng đắn về giáo dục, đào tạo đối với phụ nữ, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đáng lưu ý, tại Chương III về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Luật đã quy định rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, việc thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới và thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới, cũng như nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới. Tất cả đều là những quy phạm cần thiết để tác động tích cực trong thực hiện bình đẳng giới.
3. Những vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục thực hiện tốt Công ước CEDAW
Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đang đặt ra yêu cầu phải xóa bỏ định kiến giới, tạo điều kiện để phụ nữ giải phóng tiềm năng, khắc phục những khó khăn của giới mình, vươn lên đóng góp có hiệu quả cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Mục tiêu và phương hướng phấn đấu cần đạt tới là phát triển ổn định, bền vững đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trên mọi lĩnh vực, đảm bảo tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng; đáp ứng thực chất yêu cầu về bình đẳng giới trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. Để đạt tới mục tiêu này, cần nhận thức rõ những rào cản, thách thức đã và đang đặt ra đối với việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý, đó là:
- Định kiến giới: Trong công tác tổ chức cán bộ, quan niệm nữ giới chỉ nên giữ vị trí cấp phó vẫn là một quan niệm phổ biến, thể hiện sự tồn tại rõ nét và dai dẳng của định kiến giới. Ở nhiều nơi, cách đánh giá, nhìn nhận thiên kiến, hẹp hòi, thiếu tin tưởng vào năng lực lãnh đạo của nữ giới dường như vẫn được coi là chuyện bình thường, dẫn đến sự lơ là, thiếu trách nhiệm trong việc quy hoạch, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý. Đảng ta rất quan tâm đến việc phát triển, nâng cao tỷ lệ lãnh đạo nữ trong các cấp, các ngành, các lĩnh vực, và Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 đã cụ thể hóa các mục tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng thuộc nhiệm kỳ Đại hội Đảng X từ 15% trở lên, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI là 30% và khoá XII là từ 33% trở lên, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ tới là 30%, cấp huyện là 25%, cấp xã là 20%, nhưng những chỉ tiêu này sẽ không thể đạt được nếu thiếu cơ chế trách nhiệm trong việc chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc.
Nói đến định kiến giới, có một vấn đề cần thực sự quan tâm: đây không chỉ là định kiến của xã hội, của gia đình, của giới nam đối với giới nữ mà còn là định kiến, sự mặc cảm, tự ti của bản thân phụ nữ về năng lực lãnh đạo, quản lý của chính mình hoặc sự thiếu tin tưởng của chính phụ nữ vào năng lực lãnh đạo của lãnh đạo cùng giới. Điều này dẫn đến tâm lý an phận, triệt tiêu ý thức phấn đấu của phụ nữ. Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phụ nữ phải vượt qua những cản ngại từ chính bản thân mình.
- Gánh nặng trách nhiệm với gia đình: Cơ chế thị trường và sự phát triển xã hội đang làm tăng hêm gánh nặng trách nhiệm của người phụ nữ trong thiên chức người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con cái. Quỹ thời gian của người phụ nữ bị phân tán vào công việc nội trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến nhiều phụ nữ ít có điều kiện để tiếp cận với những cơ hội để phát triển bản thân. Gánh nặng gia đình bao giờ cũng dồn lên trách nhiệm của người phụ nữ; bởi vậy, nó tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ. Đây là một thách thức đặt ra đối với hầu hết phụ nữ và tác động không nhỏ tới cơ hội thăng tiến của phụ nữ.
Trên thực tế đã có sự thay đổi đáng kể về vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình, từ chỗ người chồng chỉ huy và toàn quyền quyết định chuyển dần sang việc cả hai vợ chồng cùng bàn bạc quyết định và chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái. Trẻ em luôn là mối quan tâm và đầu tư lớn nhất của các gia đình Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội được cải thiện đã tạo điều kiện cho các gia đình tổ chức cuộc sống và chăm sóc trẻ em tốt hơn.
Mặc dù xã hội Việt Nam có sự nhận thức rất tiến bộ như trên, nhưng chúng ta vẫn chưa thể khắc phục hoàn toàn các quan niệm lệch lạc về vai trò của phụ nữ và nam giới. Ở ngoài xã hội, đó là biểu hiện định kiến, coi thường phụ nữ, cho rằng phụ nữ không thể đảm nhiệm các trọng trách. Trong gia đình, phụ nữ ít nhiều bị ràng buộc bởi các tập tục truyền thống và gia phong, tốn nhiều thời gian và công sức cho công việc nội trợ, chăm sóc người già và trẻ em, sức khoẻ cũng ít được quan tâm. Thực trạng đó đòi hỏi việc giáo dục nhận thức giới cho mọi thành viên xã hội và gia đình cần phải tiến hành rộng rãi và liên tục hơn nữa.
Mục tiêu đến năm 2020 là cơ bản đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu sắc với hiện thực gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thực hiện Hiệp định thương mại tự do (AFTA)... cũng đang đặt giới nữ lãnh đạo, quản lý nước ta trước đòi hỏi phải nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng lãnh đạo, quản lý để thích ứng với bối cảnh tình hình mới. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, hành chính, tin học và ngoại ngữ bằng các khoá học thích hợp cho cán bộ nữ cần được chú trọng hơn nữa.
Phụ nữ vừa là nguồn lực quan trọng của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, vừa là nguồn gốc của những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Nhưng thực tế cho thấy, công tác cán bộ nữ vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý, những người ra quyết định ở hầu hết các cơ quan bộ, ban, ngành, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến địa phương chiếm tỷ lệ còn thấp.
Từ những thách thức trên, đòi hỏi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần quan tâm hơn nữa trong giám sát việc thể chế hoá Công ước CEDAW vào hoạt động lập pháp và thực hiện Luật Bình đẳng giới, đây là cơ sở pháp lý nhằm góp phần tăng cường thực hiện có hiệu quả pháp luật, bởi lẽ bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=4667
Ở đời, hãy luôn đứng về chính nghiã
Vì chính nghĩa là chân lý!
Vì chính nghĩa là chân lý!