📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ 🔒

54 trả lời, 5.492 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:19:54ĐạoCấy>
                                                           MỘT  NỬA ĐÀN ÔNG  LÀ  ĐÀN  BÀ
                                                         Tác Giả   TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG
                                                  TIỄU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI TRUNG QUỐC
                                              PHAN VĂN CÁC VÀ TRỊNH TRUNG HIẾU DỊCH


                                         NHÀ XUẤT BẢN TRẺ &  NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
                                                                                   1989
                                

                                                                  ĐỀ TỪ CỦA TÁC GIẢ.

Hiene* nói:
-Thế giới đã nát tan,và để lại vết nứt trên mình thi sĩ”
LỊCH TRÌNH TÌNH CẢM là phần đầu của NHỮNG ĐIỀU GỢI Ý CỦA MỘT NGƯỜI DUY VẬT, ghi lại những vết nứt mà khi tan nát đã để lại trong lòng nhà thơ.Cuốn này bao gồm một truyện ngắn,một truyện vừa,một truyện dài*.
Tách riêng ra,mỗi truyện có thể độc lập,hợp lại có thể thấy cả ba miêu tả một quá trình,qua đó thấy được đường nét và chiều hướng của vết nứt.
Phần thứ hai của NHỮNG ĐIỀU GỢI Ý CỦA MỘT NGƯỜI DUY VẬT là LỊCH TRÌNH NHẬN BIẾT và phần thứ ba là SÁNG THẾ KÝ sẽ đều do &lt; nhà xuất bản Tác gia &gt; xuất bản.

                                                                                                   TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG. 
 
 


      *Heinrich Heine (1797-1856)  nhà thơ lớn của Đức.
      *Trong nguyên tác tiếng Trung truyện ngắn NỤ HÔN ĐẦU và truyện vừa CÂY LỤC HÓA cùng vớI tiểu thuyết MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ được hợp thành một cuốn sách tiêu đề LỊCH TRÌNH TÌNH CẢM đề từ của tác giả viết cho cuốn sách đó (ND)





                                                                       LỜI NHÀ XUẤT BẢN.



Bạn đọc có trong tay cuốn tiểu thuyết  MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ của nhà văn đương đại Trung Quốc nổi tiếng Trương Hiền Lượng. 
Ông thuộc lớp nhà văn trung niên đang độ chín,là lực lượng nòng cốt sáng tác Văn học hiện nay mà phần lớn đã từng là nạn nhân của đường lối tả khuynh từ cuối thập kỷ 50 cho đến 10 năm Cách mạng văn hoá khủng khiếp.
Trương Hiền Lượng quê ở Giang Tô,sinh năm 1936 tại Nam Kinh.Tồt nghiệp trung học năm 1954 ông đến Ngân Xuyên(Ninh Hạ) làm giáo viên trường văn hoá cán bộ.Bắt đầu làm thơ khi còn là học sinh trung học, đến năm 1957 ông đã có hơn 60 bài thơ đăng trên các báo và tạp chí. Năm đó trường ca Khúc Hát Đại Phong của ông bị phê phán bản thân ông bị quy chụp là hữu phái và bị đưa đi cải tạo lao động. Đến năm 1979 ông mới được minh oan và được trả lại tự do. Ông trở lại sáng tác hơn 20 năm treo bút.
Hai truyện ngắn Hồn và Xác và Xéc-Pu-Lăc của ông lần lượt giành được giải thưởng truyện ngắn ưu tú toàn quốc năm 1980 và1983.Cây Lục Hoá đoạt giải truyện vừa ưu tú toàn quốc lần thứ ba.
ThờI thanh niên ông yêu văn học Nga và Pháp.Nhờ ảnh hưởng gia đình, ông bồi đắp cho mình nền tảng vững chắc về văn hoá cổ điển Trung Quốc.Trong 20 năm chịu án oan, ông suy ngẫm về số phận của riêng mình và của đất nước,chuyên tâm nghiên cứu triết học và chính trị kinh tế học Mác-Xít.
Ông có lần tự nói về mình: Bản thân tôi có cảm nghĩ rằng mình có thể là một con người sôi nổi và kiên định.Bất cứ lúc nào tôi cũng có một niềm tin vững như bàn thạch đối với Tổ Quốc tôi, đối với dân tộc vĩ đại của chúng tôi. Niềm tin ấy có được không hoàn toàn nhờ sách vở mà phần lớn nhờ thể hội trong cuộc sống gian nan khốn khổ của mình.
Truyện viết về số phận của Chương Vĩnh Lân một thanh niên trí thức bị quy chụp hữu phái đi từ trại cải tạo này đến trại cải tạo khác trong không khí đàn áp ngột ngạt và khủng bố ghê rợn của đấu tố và cách mạng văn hóa.Con người bị đày đọa tước đoạt hết mọi nhân quyền, kể cả cái quyền làm một sinh vật giống đực,bị tha hóa đến mức khi được làm một công nhân nông trường, được phép lấy vợ cũng không cỏn đủ năng lực của người đàn ông bình thường trong sinh hoạt vợ chồng
Hơn 20 năm trăn trở,suy tư,vật vã và bị cuộc đời, giằn vặt, xô đẩy, nhào nặn.
Một xã hội tràn ngập không khí khủng bố, đảo điên, lừa dối, ngột ngạt hiện lên qua những người tù đàn ông và tù đàn bà. Những người tù và những kẻ coi tù,những người bị tố giác và những kẻ đi tố giác, qua lý tưởng cao đẹp của những trí thức giác ngộ chân chính và sự xa đọa của những kẻ khoác áo cách mạng đi thực hiện cái gọi là chuyên chính đối với những tù nhân bị gán tội kẻ thù giai cấp.
Nhưng tác phẩm không dừng lại ở việc tố cáo cách mạng văn hóa mà đã đặt ra nhiều vấn đề nhân văn rộng lớn, có ý nghĩa nhận thức lại chủ nghĩa xã hội, nhận thức lại chủ nghĩa Mác như chúng ta thường nói.
Bản dịch của chúng tôi cố gắng cung cấp một lượng thông tin khiêm tốn đến bạn đọc, có gì sai sót mong bạn đọc vui lòng chỉ bảo.
                                                                                                                       Tháng 01-1989
                                                                                                                       NXB LAO ĐỘNG







Đã bao lần tôi muốn ghi chép lại quãng đời ấy nhưng không viết ra được, chẳng phải ân hận hổ thẹn vì nó, mà chính vì thấy cần dấu đi những sự việc nhục nhã trong đó. Tự mình thường đối lập ngay vớI chính mình, ánh mặt trờI chiếu qua ô cửa sổ, nắng chiều phủ một mầu vàng kim rực rỡ trên tường đông. Con thiêu thân đậu trên bức tranh sơn thủy bỗng bay lên, lặng lẽ đảo quanh trong phòng. Mặt trời đã sắp đi hết chặng đường của nó, nhưng ngày mai nó sẽ mọc lên, lại theo con đường vĩnh hằng bất biến ấy mà vòng lại từ đầu; nhưng con thiêu thân có lẽ không chờ được đến ngày mai thì đã chết và hóa thành tro bụi.Trên cõi đời này hàng triệu sinh vật sống rồi chết, loài tự giác loài không tự giác, nhưng tất cả đều truy cầu sự trường sinh hoặc lẽ vĩnh hằng đến nực cười.Thực ra sinh vật nào cũng đều đạt tới vĩnh hằng, dẫu rằng cái vĩnh hằng ấy chỉ kéo dài một tích tắc đồng hồ mà thôi, trong một tích tắc ấy đạt tới cái vĩnh hằng! Tôi đâu có muốn truy cầu cái vĩnh hằng hư vô viển vông ấy, cái vĩnh hằng đã tồn tại ngay trong cuộc đời tôi.
Vĩnh hằng là gì? Thật ra đấy chỉ là cảm giác là sự bập bềnh bất định của cuộc đời.
Cảm giác đâu có nắm bắt được, nhãng đi một tí là biến mất, cảm giác đâu có tên gọi hình thể, và cũng chẳng biểu đạt được bằng bất cứ khái niệm nào. Thời gian cứ trôi đi mãi, cuối cùng cảm giác sẽ lắng lại, đọng thành một hạt nhân không tan đi được nữa và vùi sâu chôn chặt trong trái tim con người. Còn con người lại chẳng thể nào giải thích nổi cảm giác, vì con người đâu thể nhận thức được chính mình. Những gì không nhận thức được là có ý nghĩa vĩnh hằng, vĩnh hằng tồn tại trong phút chốc. Tôi biết, trong cảm giác thoáng qua phút chốc ấy của tôi đã dồn nén kinh nghiệm của loài người tự cổ chí kim.
Mặt trời sắp lặn màn đêm sắp buông, có một thứ nữa sắp đến là giấc mơ. Giấc mơ ấy có lẽ là hình dáng bề ngoài của hạt nhân bên trong.
….Lau lách xào xạc bên đường. Rìa đường là con mương thoát nước, nước chảy róc rách trong xanh thấu đáy, rất giống suối khe vùng rừng núi. Từng bầy cá giếc nhỏ, dài hơn đốt ngón tay quẩn quanh dưới đám cỏ nước xanh rờn bên rìa mương, chốc chốc chúng lại nhô lên đám lườn nhỏ đen đen, hoặc phô ra phần bụng trắng bạc lấp loáng như những đốm sáng. Nắng vàng tỏa khắp bốn bề, không gian mênh mông lặng lẽ, trên con đường đất thoai thoải hằn rõ vệt bánh xe in sâu chẳng khác gì hai dải đường ray lõm xuống. Tôi đi trên đường, bước chân nặng trĩu mà nhẹ tênh. Lát sau bụi đất dưới chân tôi bốc lên mù mịt như sương mai, khiến mọi vật trở nên mờ ảo mềm mại. Tôi cứ theo vệt bánh xe bước tiếp, tôi cảm thấy mình có thị lực kỳ lạ qua lớp bụi vàng dầy dặc nhìn rõ những cái mình ý thức được. Tôi tựa hồ nhìn thấy một chú mèo: lông xám có viền trắng, nó đứng gồng cong lưng lên vẻ cảnh giác trước mặt tôi. Cả thân mình chắn ngang đường, hai chân trước sau đặt đúng trên hai vệt bánh xe, ánh mắt sáng quắc chằm chằm nhìn tôi,dường như sẵn sàng bỏ chạy.
Đây là con mèo chúng tôi đánh mất - tôi biết.
Bỗng không thấy con mèo đâu nữa, nó đã biến đi như một cái bóng
Giấc mơ là một thế giớI vô thanh…
Nhưng tôi lại nhìn thấy bốn con vịt đang bơi trong dòng mương. Nhìn cổ và phần đuôi cong lên của chúng, tôi đoán trong đó có hai con vịt cái. Cũng như chú mèo, lũ vịt màu xám cánh có lông trắng lốm đốm. Chúng lặng lẽ bơi ngược dòng mương, dường như cố ý dẫn tôi vào cõi sâu lắng của ký ức cảm giác
Tôi bất giác đi theo phía sau chúng, nhưng tới vũng nước sâu lau lách rậm rạp thì chúng ngoe ngoảy đuôi, lượn một vòng, rồI xuôi theo dòng nước quay trở lại chui vào lùm cỏ.
Tôi vẫn bước tiếp trong lớp bụi vàng như sương mù. Tôi vất vả nhấc đôi chân nặng trĩu, nhưng lại bước đi rất là nhẹ nhàng, như một cánh chim bay ngược gió.
Qua khỏI vũng nước sâu, lũ vịt lại chui ra khỏI đám lau lách. Nhưng không phải bốn con vịt to kia, mà là bốn chú vịt con. Toàn thân chúng một màu lông tơ vàng óng, dường như chúng sẽ hòa tan dần vào đám bụI vàng, sẽ tan biến dần trong không khí. Thế nhưng rõ ràng chúng đang bơi lộI rất thỏa thich, vừa bơi vừa ngoẹo những cái đầu tí hon ngây ngô nhìn tôi. Những cái mỏ cong tớn lên kia dường như đang cườI cợt chế giễu.
Tôi chợt ý thức được, bốn con vịt to vứa nhín thấy kia, chính là lũ vịt mà chúng tôi đã đánh mất. Bốn chú vịt con này là hình bóng thờI non tơ của chúng.
Thời khắc đang trôi ngược trở lại. Vậy liệu tôi có thể trở lại thời kỳ ấy chăng dẫu chỉ là trong mộng?
Thế là tôi bèn sải tay bơi ngược dòng thời gian, tìm lại bóng dáng đã mất.
Nhưng giấc mơ của tôi lần nào cũng tớI đây là bị ngắt quãng, tiếp theo sau đó là một mớ cảm giác mơ hồ, mờ ảo, mù mịt, là giấc mơ trong giấc mơ. Nhưng tôi lại tỉnh táo ý thức được rằng cảm giác mơ hồ mờ ảo, mù mịt ấy mới là cái chìm nổi bập bềnh của cuộc đời đích thực. Ý nghĩa và lẽ vĩnh hằng của cuộc đời đều nằm trong đám mơ hồ, mờ ảo ấy.
Mặt trời lại đã mọc lên và con thiêu thân không biết đã bay đi đằng nào, không biết có còn sống không. Lúc ấy, tôi nghĩ tại sao tôi không dùng ngòi bút để bổ sung và nối tiếp giấc mơ kia? Ghi chép lại một cách chân thực, thẳng thắn, mạch lạc, rõ ràng cái quá khứ đã mất đi? Chẳng có gì đáng phải cảm thấy hổ thẹn ân hận, chẳng có gì cảm thấy nhục nhã, làm sao lại có thể đem đạo đức trong quan niệm mà phán đoán và đánh giá cảm giác của cuộc đời.Còn như lý trí ư? Aristote đã từng nói &lt;&lt;phàm những gì chưa từng có trong cảm giác, tức là không tồn tại trong lý trí&gt;&gt;. Con thiêu thân chết đi, sẽ chẳng ai chịu trách nhiệm về cuộc đời quá ngắn ngủI của nó, vậy thì ai còn có quyền chê trách độ cong và đường bay của nó.
Mặt trời rọI thẳng vào tôi, tia nắng dường như xuyên thấu qua lồng ngực tôi, và tôi dường như bồng bềnh trong ánh sáng vàng kim, rời khỏi cõi trần thế ồn ào này rồi. Tôi lợi dụng ngay tâm trạng vừa có, một tâm trạng xuất thế lâng lâng thanh thản, vội vã tung người vùng dậy, hăng hái cầm bút hối hả viết thật nhanh.Tôi biết, nếu không thế thì chỉ một lát sau thôi, chưa chừng tôi thay đổI ý định này mất.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-31 05:40:44ĐạoCấy>
 
                                                                       PHẦN THỨ NHẤT.
                                                                          CHƯƠNG MỘT.
 
Có thể trước kia tôi có gặp cô ta mà không để ý, cũng có  thể tôi chưa từng gặp cô ta bao giờ. Dẫu sao lần này cô ta đã để lại cho tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc.
Hai tháng trước, tôi được điều khỏI tổ lớn đi chăm sóc cánh đồng lúa nước. Ở đội lao động cải tạo, tôi là tổ trưởng tổ lớn, điều đến tổ chăm sóc ruộng đồng, tôi vẫn làm tổ trưởng. Đội trưởng Vương, người điều tôi ra đây, là một cán bộ vùng này, một ông già nhỏ thó xuất thân nông dân, ngồi hút thuốc cuốn sâu kèn bảo tôi: - Điều mày ra làm đội trưởng, là lãnh đạo tín nhiệm mày. Chà! Mười hai thằng này khó quản lắm! Thằng nào cũng làm giỏi, nhưng thằng nào cũng lắm khuyết tật. Đồ đĩ đực ạ, mày mà quản được mườI hai thằng cha này, ra trại sẽ làm giám đốc nhà máy quản được hàng trăm hàng nghìn người đấy
Lúc đó ông ta ngồi xổm trên đập con mương nhánh cao cao, còn tôi thì vừa từ cửa mương tưới đã dẫn đầy nước bước lên, chân đất, đứng trước mặt ông. Ông hình như còn định nói gì nhưng lại thôi,chỉ lặng lẽ hút thuốc suy nghĩ đăm chiêu. Vẻ trầm tư hiện rõ trên khuôn mặt nhỏ gầy khô đầy nếp nhăn. Dĩ nhiên tôi không biết ông ta nghĩ gì, chỉ biết rằng bất cứ anh cán bộ lao động cải tạo nào cũng đều chưng ra vẻ mặt ấy, khi chỉ có một mình giao nhiệm vụ đặc biệt cho một phạm nhân lao cải ( lao động cải tạo ) nào đó. Vẻ trầm tư thể hiện sự nghiêm nghị, mà sự nghiêm nghị lại chứng tỏ rằng giữa ông ta và anh có một ranh giới không được vượt qua. Vẻ mặt ấy còn chứng tỏ sự bố trí sắp xếp của ông ta là thận trọng, đã được cân nhắc kỹ càng, tớI mức đã mở xem hồ sơ của anh và được một tập thể cấp cao hơn thảo luận và quyết định rồi, đồng thờI cũng nói lên tầm quan trọng của nhiệm vụ được giao phó. Cán bộ trình độ văn hoá thấp nói năng kém cỏi, thường dùng vẻ trầm mặc để buộc anh không được coi thường cách nói năng cộc lốc của họ. Lặng yên không nói mà buộc anh phảI ý thức được là: từ bây giờ, vì sự &lt;&lt; tín nhiệm &gt;&gt; này cái gánh nặng trên vai anh đã nặng hơn. Hơn nữa, đối với anh bây giờ không còn chỉ là sự cải tạo bình thường nữa, mà là sự cải tạo gấp bội, do đó thường có thể giúp anh có được cơ hội lập công, lĩnh thưởng, thậm chí còn được phóng thích trước thới hạn. Vì vậy đây lại thường thường là mấu chốt số phận cả đời anh.
Trong vẻ trầm mặc ông ta cố tình tạo ra ấy chứa đựng cả phần thiện ý mà ông ta được phép bày tỏ nữa, tôi hiểu như vậy.
Ông ngồi trên đập con mương hút thuốc, tôi đứng dưới đập, cứ phải lấy bàn chân bên này xoa mu bàn chân để trần bên kia, liên tục đổi bên mà cọ xát. Khi lúa mới gieo xuống ruộng thì muỗI chưa ra đời, nhưng từng đàn bọ chó tụ tập thành đám, kéo nhau ùa tới đốt anh đến điên người. Loại bọ này bé hơn cả hạt cát hạt bụi này, chui vào tai, vào mi mắt, vào cổ vào gáy,vào chân tóc, đũng quần ngườI ta…..đúng là không lỗ hở nào chúng không chui vào được. Nó mà đốt chỗ nào, thì chỗ ấy lập tức sưng tấy lên một cục to bằng mấy trăm lần nó.Tôi vừa phải xoa chân, vừa phải vung tay xua, cứ thế mà huơ tay huơ chân ngước nhìn ông đội trưởng. Thế mà ông vẫn không nói. Ông đi tất sợi, đội mũ, tay lại đang cầm thuốc, ông có đầy đủ thiết bị phòng chống bọ chó, vì thế ông đâu có vội đi ngay. Đại đội đã đi khá xa. Cuối con đập nhánh cao cao, là chỗ ngoặt của dòng mương, dưới gốc liễu to, ánh chiều tà vàng óng dọi chiếu xuống quần áo đen của tù nhân. Họ đi thành hàng, vai vác cuốc, tay vung vẩy.Trông theo bóng họ xa dần, cảm thấy tinh thần họ phấn chấn thật là đáng mến. Chỗ dòng mương rẽ ngoặt ấy chính là chỗ đi qua làng xóm có đàn bà con gái. Dĩ nhiên tình thân thiết của tôi đối vớI họ, chủ yếu bởi tôi chính là một thành viên của họ. Trên thế giớI này, tôi thuộc về đội lao động cải tạo, chứ đâu phải thuộc về xứ sở nào khác. Huống hồ phía ấy còn văng vẳng tiếng hát sao mà quen thuộc, tiếng hát hoà vào nhịp chảy róc rách của dòng nước vang vọng trên cánh đồng vừa mớI gieo hạt:
… … …
                                               Cải tạo, cải tạo, cải cái tạo này à!
                                               Buổi tối trở về, được một…. gáo đầy à!
                                               Hầy hầy! a hơ hầy hầy! a… hơ hầy.
Dẫu bị bọ chó đốt, bất giác tôi vẫn mỉm một nụ cười tinh nghịch đồng cảm. Đấy là mấy câu cuối bài &lt;&lt; đội ca đội lao cải &gt;&gt; do anh em tù nhân chúng tôi tự sáng tác ra. Bài &lt;&lt; đội ca đội lao cải &gt;&gt; kể lại đời sống hằng ngày của người tù lao cải bằng thổ ngữ địa phương - Tây Bắc khôi hài dí dỏm, phổ theo làn điệu &lt;&lt; Ninh Hạ đáo tình &gt;&gt; hài hước nhẹ nhàng. Làn điệu chủ đạo ấy đã thể hiện vẻ lạc quan bên trong hàng rào đầy thép gai. &lt;&lt; Cải tạo, cải tạo, cải cái tạo này a! &gt;&gt; hát lên theo thổ âm địa phương, rất là giống tiếng phổ thông đang được phổ cập &lt;&lt;  xúi quẩy, xúi quẩy, xúi cái quẩy lắm thay &gt;&gt; còn &lt;&lt; buổI tối trở về, một gáo đầy…a &gt;&gt; đấy là một gáo đầy cháo thơm phưng phức xiết bao hấp dẫn rắc nhiều hành hoa, sợi gạo đặc quánh &lt;&lt; Ộc ộc &gt;&gt;, &lt;&lt; ộc ộc.. &gt;&gt; Cô cấp dưỡng khom lưng bên chiếc thùng to tướng bốc hơi nghi ngút, ráng sức vung lia lịa cánh tay to khoẻ, nhanh nhẹn và chính xác như máy, cầm chiếc gáo sắt ngắn cán to như cái bát tộ, múc từng gáo đầy, từng gáo đầy &lt;&lt; cháo mì hổn hợp &gt;&gt; đổ vào chậu cơm của ngườI tù lao cải. Trong thứ &lt;&lt; cháo mì hỗn hợp &gt;&gt;  ấy còn tưới thêm cả mồ hôi ngườI cấp dưỡng, bởi thế cái âm hưởng &lt;&lt; ộc ộc, ộc ộc &gt;&gt; và cái động tác như máy ấy, đều thật sự chứa chan mùi vị tình người.
Tôi muốn mau mau trở về với đội ngũ ấy, mau mau trở lại trại tù, mau mau về huởng nhận &lt;&lt; một gáo đầy &gt;&gt; ấy. Cái tiếng húp cháo &lt;&lt; xì xụp, xì xụp &gt;&gt; trong trại tù ấy mớI tuyệt diệu làm sao!
Nhưng đội trưởng Vương chưa ban lệnh tôi đâu dám đi. Đây là luật lệ quy củ của đội lao cải. Tôi đã am hiểu tường tận toàn bộ cái luật lệ ấy, vì tôi đã lao cải hai lần. Chính vì tôi đã hai lần lao cải, đã &lt;&lt; hai lần bệ kiến &gt;&gt; chính vì tôi am hiểu toàn bộ luật lệ, nên vừa áp giải vào đội lao cải đã được vinh dự làm ngay đại tổ trưởng cai quản bốn nhóm gồm sáu mươi tư tù nhân. Nay thật hơn xưa, chuyến lao cải này sáng sủa hơn chuyến trước nhiều. Trong đội lao động cải tạo phải tuân thủ một hệ thống quan niệm và tiêu chuẩn hoàn toàn khác với thế giới bên ngoài. Kể thật kỳ quái nhưng nghĩ lại cũng bình thường thôi. Ở bên ngoài, những người có vấn đề chính trị thì bị khinh rẻ không được trọng dụng, những kẻ đạo đức đồi bại thường được đốI xử như &lt;&lt; mâu thuẫn trong nộI bộ nhân dân &gt;&gt; coi là mắc chút sai lầm trong sinh hoạt, thuộc về tiểu tiết, được xếp vào loại đối tượng đoàn kết và giáo dục. Trong đội lao cải, tù chính trị lại hầu như đều được cán bộ lao cải tín nhiệm. Dẫu rằng sự tín nhiệm ấy chỉ thể hiện trong phạm vi cực kỳ hạn hẹp, nhưng rõ ràng là thái độ đối vớI họ khác hẳn vớI đội hình sự. Không những thế đội lao cải còn biết thực hiện &lt;&lt;  nhân tận kỳ tài &gt;&gt; ai thạo nghề gì, người ấy được bố trí vào nơi phát huy được sở trường riêng. Bản thân đội lao cải là một vương quốc riêng, đủ mặt trăm nghề nông, công, thương nghiệp, bao dung được mọi nghề lao động khác nhau. Có một thầy thuốc ở ngoài chỉ suốt ngày quét dọn chuồng xí, vào đến đội lao cải lại làm bác sĩ chủ trì nội khoa. Ôi vào cái năm tháng rối ren hỗn loạn này, đội lao cải thật là thiên đường.
Dù rằng tên tù lao cải này chẳng được hết lòng cung kính đứng trước mặt ông, mà cứ khua tay múa chân lia lịa, vặn vẹo thân mình liên tục, xoa tai gãi má không ngừng, chốc chốc lại ngẹo đầu ngửa cổ, nhưng đội trưởng đội lao cải không hề trách mắng, vẫn ngồi trầm tư hút điếu thuồc cuốn to sù dài ngoẵng ấy. Tôi không đi, còn có một ý khác nữa, tôi cho rằng ông còn muốn tiết lộ với tôi một tin gì đó bên ngoài. Cũng như đội trưởng Tạ mà tôi từng quen biết, ông cán bộ lao cải này quả là con ngườI tốt bụng, hay nói hay cườI, lòng dạ lương thiện. Con người từ nhỏ lăn lộn làm ăn nơi cao nguyên hoàng thổ, tâm hồn lẽ đương nhiên cũng thuần phác như chất đất mầu vàng; lao động nông nghiệp thủ công truyền thống khiến đầu óc họ luôn giữ được những quan niệm truyền thống, khi bỗng dưng tung ra &lt;&lt; phải đấu tranh giai cấp, ngày này sang ngày khác, tháng nọ tiếp tháng kia &gt;&gt; họ thật không sao hiểu nổi. Chẳng hạn như khi đám tù lao cải chúng tôi ở ngoài đồng vừa làm vừa hát bài &lt;&lt; đội ca đội lao cải &gt;&gt; hay khi kể chuyện tiếu lâm cực kỳ tục tĩu trắng trợn giữa những năm tháng phải lên tiếng hát &lt;&lt; bài ca ngữ lục &gt;&gt; này, thì ông ta chỉ ngồI xổm trên bờ ruộng lắng nghe, đã không quát mắng chúng tôi, lại còn bỏ mũ ra, vỗ vỗ cái chỏm đầu trọc lóc, hoác miệng cười than thở: &lt;&lt; chà chà, chúng bay những thằng đĩ đực! Chà chà chúng bay những thằng đĩ đực!…&gt;&gt; ấy là ông bày tỏ lời tán thưởng chân thành. Khi nghe tin dân quân Việt Nam bắn rơi được nhiều máy bay Mỹ, ông cũng đã dùng &lt;&lt; những thằng đĩ đực &gt;&gt; để tán dương dân quân Việt Nam. Chúng tôi còn để ý thấy khi ông nựng dỗ cháu ông - có một hôm, ông bế đứa cháu lên ba ra đám ruộng tù nhân lao cải đang làm, ông cũng nựng là thằng đĩ! Bởi thế tù nhân lao cải mỗI lần nghe ông gọI mình &lt;&lt; thằng đĩ &gt;&gt; thì đều cảm nhận được hơi ấm gia đình.
Mùa hè năm ngoái, vào cái tháng vừa bắt đầu &lt;&lt; đại cách mạng văn hoá &gt;&gt; thì đại đội chúng tôi đang làm cỏ ở ruộng lúa nước. Đội trưởng Vương cùng công an cảnh sát được vào phố lị tham quan tập thể &lt;&lt; Triển lãm thành qủa đại cách mạng văn hoá &gt;&gt; của tỉnh, khi về tớI nông trường ông không về nhà, mà đội xùm sụp cái mũ vải mỏng giống hệt chiếc bánh xèo, vội vội vàng vàng, sải chân bước như chạy ra ruộng. Ông đứng trên bờ đưa mắt tìm kiếm, rồi khi nhìn thấy tôi, ông liền băng qua hai con mương nhỏ, mừng rỡ gọi:
&lt;&lt; Chà chà! Thằng đĩ Chương Vĩnh Lân! Năm 57 mày làm cái thơ gì thế, chữ viết to bằng trái đào, treo ở phòng triển lãm đấy &gt;&gt; Ông vừa nói vừa giơ tay mô tả hạt đào to bằng nào. Ngón tay cái và ngón tay trỏ sù sì đen xỉn của ông chụm lại thành một vòng tròn. Một vòng tròn to khỏe chắc nịch, không có mảy may tứ thơ cao siêu bay bổng nào, nhưng chính nó biến thơ thành một sức mạnh vật chất một cách đầy hình tượng &lt;&lt; Chà chà thằng đĩ! Chữ gì to quá đi thôi! Mẹ kiếp, mày viết giỏI thật đấy….&gt;&gt; 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-14 06:26:48ĐạoCấy>
Thời đó, mọi người đều nghĩ rằng ý nghĩa của câu chữ tỷ lệ thuận với cỡ chữ to hay bé, chả là người ta đã bắt đầu dùng chữ đậm cỡ to số một để in tất cả mọi câu &lt;&lt; ngữ lục Mao chủ tịch &gt;&gt; trong tất cả mọi loại văn chương. Cứ thế ông cho bài thơ tôi viết năm 1957 nhất định là quan trọng lắm, chả thế mà chữ viết &lt;&lt; to bằng cả hạt đào &gt;&gt;. Thật ra đây là bản &lt;&lt; chứng cớ tội phạm &gt;&gt; trưng bày để phê phán, nhưng theo cách suy nghĩ đánh giá của ông nó lại giành được một vị trí đặc biệt. Nghe ông bô bô gào thét, các tù nhân lao cải khác đều quay nhìn cả về tôi, ánh mắt long lanh vẻ kinh ngạc và tôn kính. Tôi lẳng lặng không nói gì, vẫn lom khom cắm cúi làm cỏ, nhưng trong lòng bất giác vừa đau buồn, vừa kiêu hãnh. Chín năm đằng đẵng đã trôi qua, nhưng ở ngoài kia người ta vẫn túm chặt không buông tha tôi, lại còn đem thơ tôi ra &lt;&lt; biêu giễu cảnh cáo &gt;&gt;
Nhưng mặt khác, điều ấy chẳng chứng tỏ tôi đã trở thành một nhân vật lịch sử đó sao?
Nhân vật lịch sử thật ra là do quần chúng tạo dựng nên, không hoàn toàn do công hay tội lớn nhỏ của bản thân người ấy quyết định. Miễn là không bị lãng quên ta trong bất cứ &lt;&lt; phong trào quần chúng &gt;&gt; nào là ngườI ấy đương nhiên giành được vị trí lịch sử nhất định. Và số phận của nhân vật lịch sử là do lịch sử chi phối, chứ không hề tùy thuộc vào ý chí của bản thân anh ta. Tôi đứng lên vo viên nắm cỏ dại trong tay, vứt lên bờ ruộng. Tôi nhìn ra dẫy núi xa xa trang nghiêm và trầm mặc. Tôi cúi xuống rẽ mạ ra tìm cỏ dại, mặt nước bùn đục ngầu lấp lánh phản chiếu những vòng sáng long lanh, triền miên biến ảo. Ôi! Hai bức tranh đó chính là lịch sử: ổn định và biến hoá. Là con người, thì vừa phải lấy bất biến ứng vạn biến, lại vừa phải ráng sức tìm kiếm cái đa biến, để thích ứng với lịch sử!
Khi tôi một lần nữa đứng lên, vứt đám cỏ dại khác lên bờ ruộng, tôi chợt thấy mình to ra, cao lên khác nào một anh hùng trong bi kịch. Tôi đưa mắt nhìn các bạn tù đang cắm cúi làm cỏ ở quanh mình giống như chúa Giêsu trên cây giá thập tự ở Bãi Sọ nhìn hai tên cướp đứng hai bên tả hữu, tự nhận &lt;&lt;  tôi là con của thánh thần &gt;&gt;, vậy mà trong lòng trào dâng nỗi thương xót nẩy sinh từ cảm giác ưu việt về tinh thần.
Cám ơn ông đã cung cấp tin cho tôi!
Trong cảnh khốn cùng và khuất phục con người cần được thấy mình là đúng, cần được tự cao tự đại để nâng đỡ mình đứng vững.
Quả nhiên lịch sử biến đổi nhanh chóng đến kinh người. Mùa thu gặt xong, đám tù lao cải bắt đầu gùi cõng từng bó lúa lên đường cái rồi chở tiếp bằng xe bò về sân to. Cánh đồng đã gặt quang, dưới các gốc rạ màu vàng dày đặc chi chít, đã lộ ra đất nguyên sơ nâu xỉn ẩm ướt. Từ trên đập mương nhánh cao cao nhìn ra chung quanh, mặt đất bốc hơi ngùn ngụt; trên cánh đồng mương, lạch và bờ ruộng ngang dọc chia cắt thành những ô nhỏ như bàn cờ, đám tù lao cải quần áo tù đen kịt đông như kiến tất bật chạy đi chạy lại. Chúng tôi xếp những lượm lúa nặng trĩu buộc bằng sợi cỏ lên bờ ruộng, chất gọn vào đoạn dây dài để sẵn trên bờ, sau đó thắt chặt nút dây ở lưng, ngồi thụp xuống , dùng dây néo thật lực sợi dây ở lưng đã buộc chéo chữ thập, rồi ráng sức nhướng người lên phía trước, chồng lúa cao ép chặt vào lưng, thế là gùi cõng đi. Tôi là đại tổ trưởng dĩ nhiên là phải đầu tầu gương mẫu, thông thường thì tôi cõng nhiều hơn mọi người. Ở đây không có gì phân biệt, chẳng kể gì xuất thân gia đình, trình độ văn hoá, lý lịch trong sạch hay không trong sạch, &lt;&lt; lao động cải tạo &gt;&gt; là nghề nghiệp cố định của chúng tôi; thế nên chỉ biết lao động và lao động giỏi mới có thể giành được đãi ngộ đặc biệt. Tôi biết lao động và lao động giỏi thì tôi được quản lý người khác, trách mắng người khác, tôi được &lt;&lt; tín nhiệm &gt;&gt; trở thành một tù nhân tự do, khi về trại tôi chẳng những được &lt;&lt; một gáo đầy &gt;&gt;, mà ngoài &lt;&lt; một gáo đầy &gt;&gt; ấy có thể còn thêm &lt;&lt; một gáo đầy &gt;&gt; nữa. Lao động sáng tạo ra con người, vì thế bản tính nguyên thủy của con người tự nhiên hướng về lao động chân tay; lao động chân tay vất vả và căng thẳng sẽ làm sống dậy bản tính từ lâu đã trở thành ý thức tiềm tàng của con người trót bị nền văn minh vùi lấp, bỗng chốc đưa con người lùi ngược lại hằng triệu năm, cảm nhận được một thứ khoái cảm tâm lý rằng chính mình đang phát triển, chính mình đang đổi thay, phẩm chất của mình đang phong phú lên.
Đi ngược lại hằng triệu năm về trước để tái hiện quá trình tiến bộ, hãy hưởng thụ lấy niềm thoả mãn và sướng vui trong quá trình ấy!
Từ sau ngày tôi đọ tài lao động chân tay với Hải Hỷ Hỷ, từ sau ngày tôi được Mã Anh Hoa nuôi dưỡng thành một người lao động chân tay bình thường, tính đến nay năm năm đã trôi qua, không biết đã bao nhiêu lần trong lao động tôi được hưởng thụ niềm thỏa mãn và sướng vui của tổ tiên xa xưa.
Hễ lao vào lao động cầm cán cuốc vào tay, đặt bao tải lên vai, ép bó lúa vào lưng là tôi mê mẩn đến phát cuồng lên, giống như nhân vật nữ đáng yêu trong truyện &lt;&lt; Củ Ấu đỏ tươi &gt;&gt; cứ đi đôi hài qủy vào là nhẩy lấy nhẩy để, nhẩy mãi, nhẩy hoài cho tới lúc chết.
Cứ cõng lúa lên lưng là tôi thường nảy sinh tâm lý tham lam, cứ muốn thử lượng xem bản thân mình rốt cuộc chịu đựng nổi một áp lực lớn bao nhiêu. Không có gì để chứng minh rõ mệnh đề &lt;&lt; thế giới do vật chất tạo nên &gt;&gt; một mệnh đề căn bản của triết học, bằng trọng lượng đè trên lưng. Một bó lúa to bằng cái mông con trâu, tù lao cải thông thường chỉ cõng được hai đến ba bó, nhưng tôi cõng năm bó còn chưa đã, phải cõng sáu bó, sáu bó còn chưa đã, phải cõng bảy bó…đi qua cạnh đội trưởng Vương, đội trưởng Vương còn khen ngợi: &lt;&lt; Chà chà, thằng đĩ này, thồ khoẻ hơn cả lừa! &gt;&gt;
Hừ! Lừa kia đã thấm vào đâu?!
Tôi là tôi đấy chứ!
Hãy dẹp lòng tự trọng thương xót yếu mềm
Chuẩn bị một tinh thần khác hẳn
Giao tranh cùng số phận một phen!
Vi cõng nhiều lúa, tôi thường xuyên được đội trưởng Vương giúp đỡ. Khi tôi thít xong bó lúa, ngồi thụp xuống đất, néo gùi vào vai, chuẩn bị nhún người dậy, thì đội trưởng Vương chạy đến nâng giúp tôi phía sau. Có bàn tay nâng đỡ khác hẳn với không có bàn tay nâng đỡ. Giây phút nhún người đứng dậy, chẳng khác gì giây phút vận động viên cử tạ khi nắm lấy đòn tạ nặng chỉ cần hai chân đứng thẳng lên được, thì cái vật đè trên lưng nặng thế nào đi nữa cũng cất bước được
- Đừng dốc sức thế! Đừng dốc sức thế!
Ông bảo:
- Dốc sức thế, rồi thổ huyết, thì khổ cả đời đấy!
Có hôm tôi luồn hai vai vào dây néo ở lưng xong xuôi rồi, ông chạy đến, nhưng không nâng giúp, mà nhoài người lên trên bó lúa sau lưng tôi, thở dài bảo:
- Ôi chao! Thằng đĩ này, mày cứ ở lỳ trong đội lao cải mà lại hay.
Tôi nghe ông chép miệng sau lưng tôi
- Mày nghĩ thế nào nào? Hôm kia vào phố, tao thầy bí thư tỉnh ủy cùng với chủ tịch tỉnh đều bị người ta lôi đi diễu phố đấy! Đội mũ giấy cao ơi là cao tay lại còn gõ chậu thủng: &lt;&lt; Tôi là phái đi theo đường lối tư bản! - Tôi là phái đi theo đường lối tư bản! &gt;&gt; Mày nghĩ thế nào nào? Lần trước bọn tao đi tham quan cái gì &lt;&lt; Triển lãm thành quả đại cách mạng văn hóa &gt;&gt; Hồng vệ binh bảo rằng bọn đi theo đường lối tư bản âm mưu che dấu tội trạng của chúng nên dở trò bịp bợm, bảo là tỉnh chúng ta chưa hề làm &lt;&lt; đại cách mạng văn hoá &gt;&gt;, bây giờ phải xếp bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh vào cùng loại với địa chủ, phú nông, phản động, phá hoại, hữu phái, tất cả sàng lọc lại một lần nữa. Hèn chi, ngoài phố, sau bí thư tỉnh ủy kéo cả một xâu dài loại người như chúng mày, trai có gái có, đếm không xuể nữa. Tất cả đều đội mũ giấy bồi nhé, có kẻ bị cạo trọc nửa đầu; có kẻ bị bôi mặt như hề… Ôi thằng đĩ ơi, tống mày vào đội lao cải là phúc đức cho mày lắm! Không thế, cứ để mày ở bên ngoài bây giờ, thì cũng như đám ấy thôi, người ta lại không trị cho mày đến chết à!
Bông cỏ vực cọ vào mặt tôi, ngưa ngứa. Mùi lá thuốc già ở miệng ông xộc vào mũi tôi, đang cơn thèm thuốc mà không được hút, thì cái mùi ấy cũng giúp được mình đã thèm. Qua mẫu tin ông kể, tôi bỗng thấy toàn thân lâng lâng thư thái: lịch sử cứ biến đổi theo tốc độ này, thì cái thời cơ then chốt xoay chuyển vận mệnh cả nước và số phận từng người còn xa được nữa không?
Thế là tôi càng làm như phát rồ, bảy bó chưa đã tôi cõng lên tám bó! Đội trưởng Vương thất kinh:
- Thằng đĩ ơi! Không muốn sống nữa hả? Còn hai mươi năm nữa mày mới ra khỏi đây còn khối việc cho mày làm đấy.
- Không sao ông giúp tôi nào.
Tôi quay người lại, cởi dây néo lưng, thêm vào một bó nữa. Hồn quỷ bị đè dưới tầng đáy, dẫu trọng lượng mười bẩy tầng địa ngục trên đầu không giảm, nhưng chỉ cần phía trên lung lay chao đảo đôi chút, thì hồn quỷ cũng sẽ cảm thấy nhẹ nhàng đôi phần. Huống hồ tôi lại còn có thêm &lt;&lt; phúc phận &gt;&gt; quý hoá thế này: trong thế giới hôm nay, ai dám nghĩ rằng đội lao cải mà &lt;&lt; sáu điều luật công an &gt;&gt; quy định rõ &lt;&lt; không được đụng tới &gt;&gt; lại chính là chốn đào nguyên bên ngoài thế giới con người?
….
Nhưng lần này ông lại không tiết lộ cho tôi một tin gì, ông cứ ngồi im lặng lẽ hút thuốc tràn.Tôi rất thất vọng, bị bọ chó đốt đến là khốn khổ. Chiếc máy kéo, kéo theo máy gieo hạt hăm tư hàng đậu ở bên đường, suốt ngày nắng đốt bốc lên mùi dầu máy nồng nặc. Mùi dầu máy hoàn toàn lạc lõng với mùi bùn đất.. Đất đai cổ thuần phác xưa nay dường như chối từ công cụ hiện đại bằng sắt thép, và tẩy chay nốt mọi mùi vị của nó, bởi thế cái mùi dầu máy nồng nặc này hết sức khó ngửi. Cuối cùng không chờ đợi được nữa, tôi hỏi:
- Thưa đội trưởng Vương, còn việc gì nũa không?
- Hừm! - Ông quay đầu lại làm như lúc đó mới phát hiện ra tôi, vẫn còn đứng dưới đập mương nước nơi ông đang ngồi.
- Không.
Ông nói rồi nhoài người ra phía trước trao cho tôi nửa điếu thuốc lá cuộn hút dở:
- Mày về đi!
&lt;&lt; Mày về đi &gt;&gt; tức là bảo tôi về trại của đội lao cải, chứ không phải về một nơi nào khác. Điều ấy tôi biết.Tôi cầm mẩu cuộn thuốc của ông, cấu phần đuôi ông đã ngậm ướt, nhưng vừa cấu thì cả mẩu thuốc rã ra. Mẹ kiếp kỹ thuật cuốn thuốc của ông thua tôi. Có điều chẳng sao cả, tôi cũng có thuốc. Đội lao cải hàng tháng có phát được mấy đồng tiêu vặt, và cũng có thuốc để mua, bây giờ không như năm 60 nữa rồi. Tôi rút hộp kim tiêm bằng nhôm nhặt được ở đống rác bên cạnh trạm xá ra, cẩn thận đổ dúm lá thuốc của ông ta vào trong, rồi lấy trong chiếc hộp kim tiêm rất giống hộp đựng thuốc bằng bạc này ra một điếu thuốc nguyên vẹn, châm lửa hút: &lt;&lt; về thôi &gt;&gt;
Tin tức ông để lộ cho tôi qua vẻ trầm mặc kéo dài ấy, còn nhiều hơn những gì ông nói ra. Cái hỗn loạn ở ngoài, sự biến đổi vũ bão của lịch sử, có lẽ chính ông ta cũng không nói được cho rõ ràng. Ông ta không nói, chứng tỏ rằng, loạn đến mức ông chẳng có cách nào nói cho được; ông ta không nói, chứng tỏ rằng, biến động đến mức khiến ông mắt trợn trừng miệng ớ ra rồi. Điều ấy không hề gì, tôi có thể tưởng tượng ra được. Tất thảy tù nhân lao cải đều là người theo chủ nghĩa Hê-Ghen: có thể từ &lt;&lt; không &gt;&gt; làm thành&lt;&lt; có &gt;&gt; ngay. Trên thế giới này hoàn toàn không thể tồn tại không gian và thời gian trống rỗng, ở những chỗ thoạt trông tưởng chừng trống vắng ấy thật ra lại chứa chan niềm hy vọng sống động nhất.
Sự bố trí sắp xếp này của ông ta, đã khiến tôi gặp được cô ấy. 
 
 
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-09 05:14:59ĐạoCấy>
                                                                          CHƯƠNG HAI.
 
 
Kỳ thực thì mười hai phạm nhân điều từ các tổ đến không khó quản như lời đội trưởng Vương. Đội trưởng Vương bảo rằng khó quản, là nhìn từ góc độ cán bộ lao cải và coi tôi là con người khác với mười hai con người ấy. Từ thuở phát minh ra chế độ ngục tù đến nay, không có biện pháp nào sáng suốt hơn được việc dùng phạm nhân cai quản phạm nhân. Một không khí dân chủ bình đẳng sẽ nhanh chóng khởi động lên tính tích cực và tính tự giác của phạm nhân bị cai quản. Nhất là tổ chăm sóc ruộng đồng này của chúng tôi, ở giữa cánh đồng rộng cách xa trại bảy tám dặm.
Căn nhà đất dựng trên một gò đất khá cao bên con mương nhánh; đội sản xuất của công xã ở ngay bên kia mương đối diện với chúng tôi. Ở đây không có vọng gác, không có mạng điện, không có ông cai cầm súng. Chúng tôi lại được nghe tiềng gà gáy, tiếng chó sủa; vào mùa hoa liễu quế hương bên phía mương nước chúng tôi nở rộ, ong của đội sản xuất vù vù bay đến từng đàn, tựa hồ như xóa bỏ được tường lũy thâm nghiêm ngăn cách con ngườI với con người. Phạm nhân có gia đình dường như được trở về nhà, phạm nhân không có gia đình thì cảm thấy được tự do đôi chút. Vả lại tù nhân tự do điều về đây, tất thảy đều là tù ngắn hạn hoặc sắp mãn hạn tù, trong những năm tháng như thế này, có được cảnh điền viên tốt đẹp như thế này, thì hà tất còn phải trốn đi đâu?
Vào lúc lúa nẩy mầm, hoa liễu quế hương trên cây dọc bờ mương bắt đầu tàn. Những bông hoa màu vàng rực rỡ, lấm tấm rụng xuống mương, trôi xuôi dòng nước, có bông bị cành liễu rủ loà xoà mặt nước cản đường níu lại. Hoa bám quanh cành liễu lại kéo về vô số bông hoa và tơ liễu khác, chúng kết thành từng mảng hoa óng vàng đan xen những sợi tơ bạc lóng lánh dập dờn trên mặt nước. Hết ngày lao động ở ruộng lúa về, chúng tôi ngồi xổm trên bờ mương ăn cơm chiều. Dưới hàng liễu bên kia mương từng đàn trẻ con nông dân, đứa đứng đứa ngồi, ngây ngô chằm chằm nhìn lũ người quấn áo đen chúng tôi như những con người kì dị. Quần áo đen giống hệt áo chùng thâm của cha cố trùm kín một vẻ thần bí: họ can tội gì nhỉ? Số kiếp nào đã dồn đuổi họ tập trung lại đây?…Từ đây, những tâm hồn thơ dại thấm dần nỗi khiếp sợ cõi đời, khiếp sợ tương lai.
Nếu đại đội có lính gác áp giải, xếp hàng đi dọc bờ muơng ra đồng làm việc, thì bà con nông dân kéo ra xem còn đông hơn nhiều. Ngay cả người tận đâu đâu đến làng này thăm bà con thân thích cũng phải xem bằng được &lt;&lt; bọn tù lao cải &gt;&gt; như xem một tiết mục đặc sắc hấp dẫn
- Ồ nhìn kìa…còn đeo cả kính nữa đấy!
- Ờ tay kia, tay kia…trông đẹp trai đấy chứ!
- Sao kia! Cho mày lấy nó làm chồng…
- Đồ chết dẫm, tao vả vào cái mồm…của mày bây giờ!
Tất nhiên đó là đám đàn bà con gái.
Trong chốc lát họ cãi nhau lộn ẩu ầm ỹ cả lên.
Thế là bỗng dưng thành một sân khấu ngoài trời, khán giả cũng là diễn viên rất sôi nổi. Lâu dần thành lệ, nếu chúng tôi ra đồng về trại mà không nhìn thấy họ, nhất là những cô gái trẻ mặc áo hoa đứng bên kia mương nước nhìn sang chỉ trỏ, thì chúng tôi lại thấy quạnh vắng, các chàng trai đi trong hàng, sẽ uể oải rã rời, dẫu rằng hôm ấy công việc chẳng nặng nhọc gì. Nếu người ra xem đông, thì hầu như tất cả tù nhân đều phấn chấn hẳn lên, đội trưởng Vương không ra lệnh hát ( hát cũng phải theo lệnh ) cũng cứ hát.
Trong tất cả &lt;&lt; ca khúc cách mạng &gt;&gt;, chúng tôi thích nhất hai bài:
                          Mặt trời lặn sau núi Tây, ráng đỏ bay.
                          Chiến sĩ bắn bia trở về doanh trại.
Và:
                          Người cộng sản - chúng ta khác nào những hạt giống!
Hát tới từ &lt;&lt; hạt giống &gt;&gt; cánh tù trẻ lại nháy mắt liếc sang nhìn những cô gái đứng bên kia bờ mương. Đội trưởng Vương cho tù nhân hát bài gì cũng được, nhưng phải hát cho đều hát cho vang, và ông chửi ngay thằng đĩ đực để tỏ ý khen ngợi. Mãi sau này, bọn cảnh vệ đề nghị với cục lao cải qua đường dây lính cảnh vệ, cục lao cải mới đưa ra quy định: trong thời kỳ cách mạng phi thường này, tù nhân lao động chỉ được phép hát &lt;&lt; Phàm là quân phản động, anh không đánh, nó không đổ nhào &gt;&gt;. Nhưng tới năm 1967, cục công an, viện kiểm sát, toà án đều bị đập nát, những cơ quan nhất loạt thi hành chế độ quân quản, đại biểu quân đội &lt;&lt; cao quý &gt;&gt; thì &lt;&lt; thông minh &gt;&gt; hơn cán bộ lao cải xuất thân nông dân &lt;&lt; đê tiện &gt;&gt; - chân lý là kẻ cao quý thì thông minh, kẻ đê tiện thì ngu xuẩn ngữ lục đã phán truyền thế - đã cảm nhận bằng trực giác rằng các &lt;&lt; bài ca ngữ lục &gt;&gt; đều sẵn có tính chất phương pháp luận, giai cấp nào, phe phái nào cũng lợi dụng được, cũng đều được soi sáng để lĩnh hội mọi vấn đề. Ví dụ cái anh gọi là &lt;&lt; loài phản động &gt;&gt; thì bọn họ lại bảo là cái khác kia, anh làm sao được nào? - Đối với loại người lòng dạ khôn lường ấy anh làm sao biết được trong lòng họ &lt;&lt; loài phản động &gt;&gt; là chỉ ai? Thế là lập tức ra lệnh tù lao cải dứt khoát không được phép hát &lt;&lt; bài ca ngữ lục &gt;&gt; nữa. Nhưng ngoài &lt;&lt; bài ca ngữ lục &gt;&gt; ra, lúc đó chẳng còn bài nào đáng được hát cả, thế là, trong một buổi liên hoan tết của đội lao cải bài &lt;&lt; Ninh Hạ đáo tình &gt;&gt; do tù nhân tự biên tự diễn, đã biến thành khúc ca phổ biến của đội lao cải.
….
                           Cải tạo, cải tạo, cải cái tạo này à!
                           Buổi tối trở về, một gáo đầy a!
                           Hây hây! A hơ hây hây! A hơ hây!
Ở tổ trông coi ruộng đồng chúng tôi, &lt;&lt; một gáo đầy &gt;&gt; do chúng tôi cử tù nhân trực nhật về gánh ra. Chúng tôi có đôi thùng thiếc lớn, dù là cơm gì đi nữa, thì mỗi bữa tù trực nhật cũng gánh về hai thùng đầy ắp. Nguyên tắc ở ngoài làm nhiều hưởng nhiều bị phê phán tơi bời không còn gì, nhưng trong đội lao cải trước sau vẫn thi hành không đổi. Khi ấy dưa chuột đã chín, cà chua bắt đầu nhuốm hồng. Đi qua vườn rau người trực nhật gánh cơm thế nào cũng lôi về khối rau quả tươi ngon vừa trẩy xong. Người trông coi vườn rau cũng là tù tự do, mà tất cả tù tự do đều thuộc một tầng lớp với nhau nên thương yêu nhau, no đói có nhau. Chúng tôi được ăn cà chua và dưa chuột sớm hơn cả những &lt;&lt; ông cai &gt;&gt; và cán bộ lao cải cùng vợ con của họ. Tính tương đối của tự do ở đây được thể hiện triệt để: bất cứ ở đâu, hễ anh tự do hơn người khác một chút thôi, anh sẽ kiếm được nhiều lợi lộc hơn; mà lợi lộc nhiều hay ít hoàn toàn tỷ lệ nghịch với mức độ mất tự do ở lúc đó; ở nơi mất tự do nhất mà anh được buông lỏng một tý thôi, lợi lộc kiếm đươc sẽ nhiều nhất.
Hai gáo đầy - chứ không phải một gáo đầy – ăn xong rồi lại nhai thêm một đống cà chua, dưa chuột nữa vào, tất cả bọn chúng tôi đều tức bụng không đi lại được nữa. Chúng tôi nằm kềnh trên sườn dốc bờ mương, gối đầu lên cánh tay. Đại đội hết giờ làm việc về cả rồi, bốn bề trở nên vắng lặng khác thường. Đám quạ về đậu trên cây liễu già ỉa xuống, phân quạ luồn qua cành lá rơi bồm bộp trên bờ mương phủ đầy đất vàng. Mặt trời khuất sau đỉnh núi, cánh đồng đã dẫn đầy nước phút chốc mát dịu hẳn đi. Ếch nhái đã kêu mấy tiếng giáo đầu rời rạc. Tiếng kêu kéo dài uể oải, tưởng chừng chúng đang ngáp dài ngái ngủ. Lát sau chúng đua nhau gào to thật lực, cả cánh đồng đột nhiên rộn rạo tiếng &lt;&lt; ì ộp! ì ộp! &gt;&gt; vừa rộn ràng vừa giận dữ. Chúng như muốn giành lại thế gian từ trong tay con người, hơn nữa xem ra chúng có vẻ tràn trề niềm tin tất thắng. Lúc ấy, gió chiều cũng hiu hiu từ cánh đồng lúa mênh mông bát ngát thổi về, kéo theo vô số những đốm sáng nhẩy nhót lấp lánh. Tôi nhắm mắt lại đắm mình vào cõi điềm tĩnh vô tri. Điềm tĩnh vô tri là trạng thái tinh thần tối ưu trong cảnh đời, cũng được rèn luyện rất tự nhiên trong cảnh chờ đợi dằng dặc. Bước ngoặc lịch sử chưa xẩy ra, con người thật sự bất lực, hành động mà phạm tội, thì chi bằng ngấm ngầm mà suy nghĩ.
Nhưng tôi suy nghĩ những gì? Tôi chẳng suy nghĩ gì hết. Thế giới bên ngoài đã hoàn toàn trệch khỏi quy luật Mác đã tìm ra, sách vở đã bị quẳng đi, nghe đâu có thế mới thật sự tuân theo lời Mác &lt;&lt; vũ khí phê phán không bằng sự phê phán bằng vũ khí &gt;&gt;. Bởi vậy, nó đã khiến đội trưởng Vương hoảng hồn, mắt trợn trừng, miệng ớ ra, còn tôi cứ tưởng mình sáng suốt tài giỏi hơn đội trưởng Vương, cũng thấy bàng hoàng sửng sốt. Vẻ trầm mặc của đội trưởng Vương đã gây ra cho tôi cảm giác mông lung trống rỗng mặc dầu tôi đã gửi gắm vào đây bao nhiêu hy vọng hão huyền viển vông mà hoàn toàn cần thiết, nhưng thực sự thì tôi suy nghĩ về xã hội một cách vu vơ vô căn cứ mà thôi. Spi-nô-za đã nói &lt;&lt; Dốt nát đâu có phải là luận cứ &gt;&gt;.
Mặc mẹ nó suy nghĩ làm gì! Cứ làm một tù nhân lao cải đơn giản thế thôi. Đội trường Vương đối xử với tôi khác với các tù nhân lao cải khác, nói ra thật xấu hồ, ngay từ xương tủy tôi đã là một tù nhân lao cải thực thụ rồi còn gì, vì trong những nghề tôi đã làm ở đời này, thì tính ra nghề tù nhân lao cải tôi làm lâu nhất.
Nằm dưới chân bờ mương đã chán, đám tù nhân bắt đầu duỗi chân vươn tay cho thoải mái.
- Mẹ kiếp! Đêm tối thế này có hồn ma đàn bà hiện lên thì hay nhỉ.
- Ma đàn bà hiện lên nhưng đừng tóc tai rũ rượi, mà giá được môi son má phấn thì hay.
- Eo ôi! Ma thắt cổ có cái lưỡi thè lè dài thườn thượt đỏ lòm lòm, liếm vào mặt một cái, đủ hết hồn bỏ mẹ rồi.
- Một hồn ma con gái thì không đủ chia, tốt nhất là một lũ, mười ba cô, chúng mình chia mỗi thằng ôm một cô.
- Tổ trưởng của chúng mình không cần đâu, cậu ta là trí thức mà!
- Trí thức thì sao nào? Trí thức thì không có con b…. à?
Tôi vẫn nhắm mắt, nhưng bất giác không nhịn được, cũng phì cười thành tiếng với họ. Tôi cảm giác được lúc đó ánh mắt của họ đang dồn cả vào tôi. Tôi được họ kính trọng, tách tôi ra khỏi bọn, nhưng từ nội tâm tôi lại hướng hẳn về họ. Từ năm 1958, sau khi  &lt;&lt; công xã hoá &gt;&gt;, ngoài pháp luật ra còn thêm vào đủ các loại chế độ quy định, chúng lấp kín mọi kẽ hở của đời sống nông thôn một cách khắc nghiệt chưa từng có. Người nông dân chẳng khác gì sủng thần thân tín của vua Sy-ra-cu trong truyền thuyết cổ Hy Lạp, trên đầu lơ lửng một lưỡi gươm Đê-mô-crít, không biết lúc nào sẽ bất thần lao xuông chặt đầu… Mười hai tổ viên trông coi đồng ruộng do tôi chỉ huy, đều là những trai cày lực lưỡng theo việc đồng áng. Nghe họ bình tĩnh kể về tội trạng của mình, thì có cảm giác khác nào một làn gió nhẹ hiu hiu thổi lướt giữa rừng cây.
- Khổ quá, không ăn trộm thì làm thế nào. Bụng đói mà…
Một anh chàng mũi tẹt ăn cắp phân hoá học cùa đội đem bán, bị xử năm năm tù, giờ kể lại anh ta còn lấy làm may lắm
- Đáng đời! Tớ lấy tiền chữa bệnh cho mẹ già tớ, xử tớ ngồi tù năm năm, không bắt tớ phải đền tiền nữa.
- Hì hì! Tớ cũng may - Một cậu khác kể - Tớ cho bò của đội sản xuất ăn thế nào mà chướng bụng lên chết! Tòa hỏi tớ, anh thích đi lao động cải tạo hay đền tiền? Tớ đắn đo suy nghĩ: đi cải tạo còn được cơm ăn, thế là tớ đến đây. Đến đây, thấy không đến nỗi nào! Phải cái không có đàn bà. Thôi chịu đựng một tý vậy….
Có khi họ cũng hỏi tôi
-Tổ trưởng Chương ơi, anh làm sao mà phải vào đây?
-Tớ ấy à? Tớ chẳng vì sao cả.
Họ toét miệng cười thông cảm &lt;&lt; chẳng vì sao cả &gt;&gt; cũng phải vào đội lao cải hầu như đã trở thành một việc quen thuộc bình thường quá rồi, giống như ăn no thì ợ, nhiễm lạnh thì ốm, thế thôi, chẳng ai hơi đâu tìm hiểu ngọn ngành: do đâu &lt;&lt; chẳng vì sao cả &gt;&gt; lại tống người ta vào đội lao cải? Thái độ chẳng hề oán thán, mặc cho đời mình số phận mình như chiếc lá rụng lênh đênh trên dòng nước, trôi dạt đến đâu thì đến của họ đã thể hiện thái độ ngoan ngoãn, nhẫn nhục, vui với mệnh trời ngấm sâu trong linh hồn dân tộc chúng ta. Sống cùng với họ, có lúc tôi đâm ra nghi ngờ bản thân mình: việc gì phải suy nghĩ? Đứng trước định mệnh, suy nghĩ liệu có ích gì không?
Ôi, định mệnh!
Tôi biết vì sao họ lại nghĩ đến hồn ma đàn bà, nghĩ đến con ma thắt cổ. Căn nhà đất cách xa đại đội lao động cải tạo chúng tôi đang ở - nói theo trong sách giáo khoa chiến thuật của Nhật Bản - thì là &lt;&lt; ngôi nhà độc lập &gt;&gt;, từ những năm đầu của thập niên 50 xây dựng nông trường lao cải đến nay, vẫn đứng trơ trọi trên cánh đồng mênh mông, bằng phẳng, trải bao năm tháng dãi gió dầm mưa. Người ta kể rằng vào khoảng giữa những năm 50, cái làng nhỏ bên kia mương nước, có một cô gái trẻ đẹp, chống lại việc gả bán ép buộc của cha mẹ, giữa ban ngày đã băng qua mương vào căn nhà này thắt cổ tự tử. Ở đây thắt cổ tự tử rất tiện, căn nhà trống hoang, trơ rui trơ xà, xà rui nào cũng buộc được dây cả. Hơn nữa vào lúc công việc đồng án đã vãn, ai còn đến căn nhà độc lập, hoang vắng bỏ không của nông trường lao cải &lt;&lt; nghiêm cấm người vào &gt;&gt; để mà ngăn cản cô ta tự kết liễu đời mình kia chứ? Đám tù nhân lao cải trên mười năm tù ngồi, kể lại chuyện này đến nay vẫn rất say sưa hấp dẫn.
- Ôi, xinh lắm nhá! Cô ta đi giầy đỏ, hai bím tóc to, bóng mượt! Da mặt trắng nõn, lông mày dài. Khi bọn mình đỡ cô ta xuống, người hãy còn mềm….
Có người bảo, cô ta đái ướt sũng cả quần, lưỡi cô thè ra dài ơi là dài, nghe nói người nào thắt cổ chết đều như thế cả. Nhưng phần lớn tù nhân lao cải đều cho rằng nói vậy là bêu xấu cô ta, họ ra sức vẽ cô thành một nàng tiên. Những tù nhân đến sau như tôi không được nhìn tận mắt, tất nhiên chẳng sùng bái gì cô cả, chỉ muốn cô trở lại nguyên hình một con người bằng xương bằng thịt.&lt;&lt; Chịu đựng một chút vậy &gt;&gt;, những lúc bị giầy vò hành hạ, bất giác lại lấy cô ra làm chỗ dựa an ủi về tinh thần.
Ôi, cô gái dũng cảm, trong trắng, không rõ tên tuổi, hãy thông cảm và tha thứ cho chúng tôi nhé.
Có hôm, buổi tối nông trường bộ có chiếu phim, đội trưởng Vương thông tri cho chúng tôi đi xem – xem phim là &lt;&lt; học tập &gt;&gt; mà - để lại một người quản nước ruộng ban đêm là được. Lần nào tôi cũng để cho mười hai tổ viên đi hết, một mình tôi ở lại &lt;&lt; ngôi nhà độc lập &gt;&gt;. Làm lãnh đạo dẫu chỉ là thủ trưởng của tù nhân, cũng cứ phải công bằng đúng mực, tự mình phải hy sinh, có thế mới được sự tôn trọng và phục tùng  của kẻ bị lãnh đạo. Ếch nhái ì ộp, nước mương róc rách, gió lướt trên lúa non như than như khóc, giống như một dàn hợp xướng lúc bổng lúc trầm. Ngoài cửa sổ trời tối đen như mực, trên tấm kính cửa sổ loang lổ vết bùn bẩn thỉu. Ngọn đèn dầu bằng hạt đậu thức cùng tôi đọc sách. Khi tôi chỉ thấy bóng mình in mờ mờ lên bức tường đất nham nhở bùn, tôi liền nghĩ ngay số 13. Mười ba! Con số này không tốt lành tý nào. Con số này sẽ gọi cô ấy hiện ra đây mất.
Quả nhiên cô đu người từ xà nhà xuống. Thoạt tiên là một đám hơi sương sặc sỡ chưa thành hình thể, đọng lại trên mặt đất, rồi nhanh chóng ngưng tụ lại thành một cô gái xinh đẹp sống động hẳn hoi, hệt như lời bác tù già đã nói, hai bím tóc đuôi sam bóng mượt, lông mày dài cong vút, đôi mắt lúng liếng, da dẻ, dẫu dưới ánh đèn dầu tù mù, cũng cứ phô ra màu trắng hồng mơn mởn. Cô mặc cả áo bông đỏ mùa đông, và đúng là cô đi giầy đỏ. Căn nhà đất tồi tàn sơ sài có cô đến bỗng rộn ràng ấm áp hẳn lên.
Cô vuốt áo nhe nhẹ, e thẹn bước lại gần tôi, cất tiếng thở than não nuột, sưởi ấm lòng người:
- Chao ơi, khổ quá!
- Đến đây em – Tôi đưa tay ra đón cô &shy; Em khổ, anh cũng khổ, đôi ta hãy ở cùng nhau.
- Em nói anh chứ - Cô đặt tay lên vai tôi, thân hình yểu điệu mà ấm nóng áp sát người tôi, mắt nhìn vào cuốn sách đang mở rộng trước mặt tôi. - Anh khổ, chứ em không khổ nữa đâu. Người ta chết đi, thì chẳng còn đau khổ gì hết.Tối nào em cũng thấy anh chờ mọi người ngủ cả, mới bò dậy đọc sách. Hà tất phải thế nhỉ? Chớ có hủy hoại sức khỏe như vậy anh ơi!
Giọng cô thật u buồn ai oán. Tôi ôm lấy eo lưng thon thả đáng yêu của cô. Cô tự cho mình là không khổ mà lại quan tâm đến tôi, điều ấy khiến tôi cảm động. Tôi cay đắng bảo:
- Em cũng khổ quá đấy. Vì đâu còn trẻ măng đã phải đi tìm cái chết? Sống dù sao cũng còn hơn chết! Giá em còn sống thì hay biết mấy?
- Sống không nổi nữa - Thân hình cô đu đưa nhè nhẹ, khiến tôi có cảm giác như chìm vào ảo mộng - Người ta ép gả em cho người em không muốn lấy, anh bảo còn sống sao được nữa? - Giọng cô lại thẽ thọt - Lúc ấy giá có anh ở đây có phải hay không. Đúng cái ngày phải đi lấy chồng, em đã chạy đến đây treo cổ tự tử. Hôm ấy giá có anh, em chẳng thắt cổ đâu.
Tôi kéo cô vào lòng mình, để cô ngồi lên đùi, vuốt ve đôi bím tóc mượt mà:
- Tất cả đều do xã hội cả thôi. Chúng ta vẫn chưa thật sự đạt tới nam nữ bình đẳng, chưa thật sự có tự do hôn nhân. Anh đọc sách, suy nghĩ tìm tòi xem thế nào để xây dựng một xã hội thật sự bình đẳng giữa người và người.
Cô hầu như không tin lời thuyết giáo của tôi, quay ngoắt lại bảo:
- Đến đời kiếp nào mới được thế hả anh. Đến mơ tưởng cũng chẳng dám nữa là! Ông bí thư khu ủy chỗ chúng em cũng nói vậy, loa đài cũng ra rả gào lên luận điệu ấy, nhưng có được tí gì đâu anh! Thế nhưng chết đi là hơn anh ạ! Nếu anh coi em là người sống thì em sẽ sống lại ngay - Cô lại ngẩng mặt lên âu yếm bảo - Người tình lý tưởng của em! Anh đừng học thói ba hoa khoác lác của loa đài nữa. Em hát cho anh nghe nhé. Lâu lắm rồi em không hát. Lâu nay vẫn giữ kín trong lòng để hát cho người em yêu.
Đoạn cô cất tiếng hát khe khẽ. Tiếng hát vẫn u buồn ai oán, nhưng trong trẻo du dương, trước mặt tôi hiện ra bãi bồ công anh vàng rực trong tiết xuân, chẳng ai trông nom, mặc cho người đời giầy xéo:
                           Pha lê trong suốt trước song.
                           Hàm răng ai trắng cứ trông anh cười. 
                           Cửa hai cánh mở hờ một phía.
                           Cất tiếng cười anh hãy vào đây.
                           Say sưa cuối mắt đầu mày.
                           Làn mi chấp chới nói thay nỗi lòng….
                           Từng đôi chim hướng trời nam.
                            Phận hèn em quyết ăn nằm cùng anh.
…….
Nhưng đám bạn tù lao cải đã về!
Từ xa, đã nghe tiếng cười đùa ồn ào vui vẻ.
Cô gái phút chốc lại biến thành đám hơi sương sặc sỡ. Tiếng ca, thể xác, hơi ấm thảy đều tan biến hết. Các tổ viên của tôi, vào đến nhà, đã bỏ từng vốc dưa chuột và cà chua ra trước mặt tôi.
- Kẻ cắp đâu chịu về không! - Họ đua nhau nói - ăn đi ăn đi. Giống dưa này vỏ sù sì nhưng giòn lắm đấy! - Cậu mũi tẹt đưa bàn tay còn bẩn hơn cả dưa, xoa liền mấy cái lên quả dưa, coi như đã chùi sạch đưa cho tôi. Anh đã coi họ là kẻ trộm cắp, thì họ cũng nhận mình là kẻ trộm cắp. Hơn nữa khi ngưới nông dân nào cũng đi ăn trộm, không ăn trộm mới là không bình thường, thì dĩ nhiên trộm cắp cũng chẳng có gì đáng hổ thẹn nữa.
Rồi họ lôi chăn đệm ra, lịch kịch rải đệm ra, dũ chăn, mùi hôi khét lẹt bỗng chốc lan toả khắp nhà. Chui vào chăn đệm rồi, họ vẫn còn tán nhảm hồi lâu:
- Này, cái con Ngô Quỳnh Hoa cầm chắc là tằng tịu với Hồng Thường Thanh rồi! Bộ đội ở cùng đơn vị với nhau, suốt ngày ra vào đụng chạm mà không ăn nằm với nhau, tớ đếch tin.
- Người miền nam chúa khỏe cái khoảng ấy lắm. Chả là khí hậu nóng nực…
- Tớ nghe nói, người miền nam ra nhà xí không phân biệt nam nữ đâu nhé.
- Ở bên nước Nhật, trai gái tắm chung một nhà tắm nhá!
- Cứ gì phải nước Nhật! Năm nọ tớ lớ xớ mò ra Thượng Hải, cũng vào lúc nóng bức, chính mắt tớ trông thấy, một lũ cả trai lẫn gái, đùa giỡn vùng vẫy trong một hồ nước lớn đấy!
- Không mặc quần áo à?
- Mặc quần áo đếch gì! Mặc quần áo thì làm sao đùa giỡn vùng vẫy trong hồ nước được? Mẹ kiếp tất cả trần như nhộng.
- Chậc, chậc….
Còn tôi, tôi ôm cô gái của mình mà ngủ. Tôi chừa ra một khoảng trống trong chăn, dành cho tấm thân mềm mại nhưng hư ảo của cô.
Một hôm, không biết đội lao cải lôi ở đâu về bộ phim &lt;&lt; Lênin tháng mười &gt;&gt;. Anh em xem xong rất thích thú cảnh Va-xi-li ôm hôn từ biệt vợ.
- Ôi! Tuyệt quá! Trong phim ảnh cũng có cắn vợ.
- Hừ! Ôm lấy mặt rồi cứ thế gặm.
- Cậu đã gặm vợ lần nào chưa! Hì hì gặm lần nào chưa?
- Nói đi, nói đi! Thành khẩn thì được khoan hồng, ngoan cố thì bị nghiêm trị
Thuật ngữ tra tấn tù nhân nhớ rất kỹ, thường luôn miệng nói hằng ngày.
- Gặm cái đếch gì, mặt bẩn bỏ mẹ! Tớ ghếch phốc một cái lên ngựa, là phóng một mạch đến Hà Tây…
Hôn &lt;&lt; thì bẩn bỏ mẹ &gt;&gt; còn chung đụng các bộ phận khác thì không &lt;&lt; bẩn &gt;&gt;! Tình yêu thật ra là một biểu hiện của văn hoá. Ở nơi thiếu văn hoá, ở những con người thiếu văn hoá, hoàn toàn không có thứ tình yêu thanh cao tao nhã, không có nghi lễ phiền phức tao nhã thanh cao, chỉ có thứ tình dục nguyên thủy nhất và cũng là cơ bản nhất.
                          Vào đến nhà là tắt đèn ngay.
                          Ôm lấy cục cưng thân thiết này.
                          A - ới – a, là – i - ới – i!
Ngọn đèn hạt đậu đã tắt, trong căn nhà cô gái thắt cổ tối đen như mực, mọi người đã ngủ cả. Kẻ thì ngáy, người thì nghiến răng, có anh lại rên rỉ: anh tù để chết bò kia lại nghêu ngao hát mấy câu, cuối cùng chép miệng mấy cái,rồi cũng chìm vào giấc ngủ say sưa.Trong căn nhà đất này, mọi người đều mơ thấy đàn bà, như ánh lửa tĩnh điện, lập loè sáng bừng lên trong mơ tưởng của cánh đàn ông này.
Ôi ma chướng! Quả là ma chướng!
Tôi không thể bảo đây là dâm đãng thấp hèn. Con người tôi, cơ thể cường tráng mới ngoài ba mươi tuổi của tôi cũng xốn xang rạo rực thứ ma chướng ấy. Kinh Phật &lt;&lt; Đại trí độ luận &gt;&gt; có viết:
- Hỏi: Vì sao gọi là ma quỷ?
- Đáp: Nó cướp đi trí tuệ tính mệnh, nó phá hoại cái gốc của đạo pháp, công đức, thiện lương.
Nghĩa là, đàn bà có thể hủy hoại sạch sành sanh hết mọi thứ trí tuệ, đạo đức, giáo dưỡng, lương thiện Trời đã phú cho người ta. Nhưng thôi cút mẹ mày đi cho rồi! Đã từ lâu coi tao là &lt;&lt; kẻ thù giai cấp &gt;&gt; lao cải một lần, rồi lại lao cải hai lần, &lt;&lt; chống phái hữu &gt;&gt; đã qua hàng chục năm rồi mà còn đem thơ của tao ra &lt;&lt; bêu giễu cảnh cáo &gt;&gt;, túm chặt lấy tao không chịu buông tha; nhà Phật lại còn rêu rao &lt;&lt; lục đạo luân hồi, sống chết nối nhau &gt;&gt;, tao đây thử hỏi còn đầu thai kiếp nào nữa đâu? Những thứ trí tuệ, đạo đức, giáo dưỡng ấy còn có ích gì?
Tù nhân lao cải chúng tôi khi ngủ đều trần như nhộng, một là để tiết kiệm quần áo ( ngoài bộ đồ đen thui ra, quần áo lót tù nhân phải bỏ tiền ra mua, hoặc nhờ người nhà gửi cho ) hai là để khỏi sinh rận. Nằm trong chăn, lấy bàn tay thô ráp vuốt ve bộ ngực chắc nịch khoẻ mạnh của mình tôi cảm thấy bứt rứt không yên, dường như vuốt ve một con dã thú sẵn sàng gầm rống lên. Tình yêu từ lâu đã tắt lịm trong trái tim tôi; tình yêu của tôi, người yêu của tôi đã biến đi tận đẩu tận đâu mất tăm mất tích. Chính vì yêu nàng, tôi đã không để nàng chịu chung số phận hiểm nguy, tôi lìa bỏ nàng là để trả lại tự do cho nàng; chính vì yêu nàng, tôi đã không nghĩ nhiều đến nàng. Nghĩ đến nàng lại hoá ra giả dối, chẳng khác gì trút món nợ tình cảm lên thân nàng. Hơn nữa nếu tâm hồn được thương nhớ, được tình yêu xoa dịu, thì không thể có sức cứng rắn của đấng trượng phu để chống chọi với hiện thực phũ phàng. Tôi đã thấy quá nhiều: bao người đã gục đổ trước hiện thực phũ phàng, phần lớn là người đa sầu đa cảm, quyến luyến gia đình, vợ bìu con díu.
Tình yêu thanh khiết như đoá hoa bách hợp trằng ngần, mối tình đầu e ấp run rẩy, khuôn mặt nhỏ nhắn ửng hồng lung linh ráng chiều, làn hương u uẩn lả lướt, bồng bềnh huyền ảo, mơ mộng lãng mạn kiểu Pháp, tình yêu lý tưởng kiểu Pla-Tông..v..v.. tất cả đều bị xoá bỏ sạch trơn bởi áo đen, bởi xếp hàng, bởi báo cáo và điểm danh, bởi khổ chiến và nhảy vọt…Chỉ còn trơ lại đòi hỏi sinh lý và thú tính. Đáng sợ là chung quanh không thiếu những cô gái đáng yêu, nhưng quả thật trong trái tim mình đã chẳng còn mảy may rung động của tình yêu. Thế là tình yêu khác giới chỉ dồn vào xác thịt; tình yêu quay về với bản năng. Tình cảm và da thịt đều trở nên thô ráp sần sùi. Mắt chẳng còn ánh lên vẻ dịu hiền, mà hoá thành u tối như mắt loài cú vọ. Tôi sờ thấy được trong lồng ngực tôi, trong khoang bụng tôi có một con vật hung hăng dữ dằn đang cấu xé tôi. Tôi nghe thấy hơi thở gừ gừ thâm hiểm của nó, cảm thấy một mạch ngầm sục sôi như lửa đốt, lồng lộn điên cuồng rần rật khắp cơ thể tôi. Đấy không phải là tôi, hoặc giả là một cái tôi khác nhưng rất có thể nó sẽ lao vút ra cào xé tôi thành trăm mảnh, rồi liếm láp cặp môi đẫm máu của nó, vồ chụp ngay kẻ khác giới đầu tiên mà nó bắt gặp.
Tôi ngủ thiếp đi. Tôi mơ thấy đàn bà. Nhưng ngay trong tiềm thức tôi, đàn bà cũng mơ hồ mờ ảo, chẳng cụ thể gì. Năm nay tôi đã 31 tuổi, từ tuổi dậy thì cho tới nay, tôi chưa bao giờ cọ xát thực sự với da thịt đàn bà. Tôi thèm được như những người nông dân đang ngủ cùng tôi trong căn nhà đất này, vùng này có tập quán tảo hôn. Trong giấc mơ họ còn nhớ lại cả quá trình chung đụng với người khác giới. Trong những giấc mơ nơi tù ngục này, họ dũ bỏ được gông xiềng, tới được cõi cực lạc. Còn với tôi cả đàn bà trong mơ vẫn vô cùng trừu tượng: một thứ mềm mềm không rõ hình hài ngọ nguậy như giun, một mảng màu sặc sỡ của Pi-Cát-Xô thời cuối đời, một đám mây trắng hoặc khói nhạt lững lờ bất định. Nhưng tôi ráng sức tự nhủ mình : đấy chính là đàn bà!
Có lúc đàn bà lại tan hoà vào những thứ đã khiến tôi vui thích say mê: đàn bà là điếu thuốc thơm yểu điệu, với đường cong tuyệt mỹ, là chiếc bánh màn thầu trắng xốp, chua dôn dốt vừa ngon, là cuốn sách mở kêu sột soạt, giấy trắng tựa màu da, là chiếc cuốc dùng rất vừa tay có cái cán gỗ cầm vào như nắm lấy cổ tay ai… Tôi đã cùng tất cả ngần ấy thứ rơi xuống vực thẳm, hưởng thụ niềm khoái cảm sinh lý trong cõi tối tăm vô bờ bến. 
 
 
 


[/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-09 04:50:17ĐạoCấy>
                                                                        CHƯƠNG BA.
 
 
Công việc chăm sóc đồng lúa vất vả nhất trong bốn mươi ngày, từ gieo giống, tưới nước cho tới lúc cây lúa vươn thẳng lên mặt ruộng. Bốn mươi ngày ấy gọi là &lt;&lt; thời kỳ bảo dưỡng mạ &gt;&gt;. Hết thời kỳ này thì cả mười ba người đều thư thả hơn. Mạ non trên hơn hai trăm mẫu ruộng của chúng tôi đã lên đều tăm tắp; hơn ba nghìn mẫu ruộng xanh biếc một màu. Nhưng đội lao cải không rút người của chúng tôi đi. Đội trưởng Vương vốn thành thạo nghề nông. Ông biết cái nhàn rỗi của người chăm sóc động ruộng lúc này, chính là để bù đắp lại nỗi vất vả ngày đêm trong bốn mươi ngày trước đó. Huống hồ, dạo này bên ngoài lại đang liên tiếp tống người vào đội lao cải, đến nỗi đội tiếp đón không xuể. &lt;&lt; Đại cách mạng văn hoá &gt;&gt; đã sáng tạo một năng suất phạm tội phá kỷ lục thế giới, cục lao cải  ngày ngày còn đang đau đầu với vấn đề ăn ở cho hàng loạt tội phạm mới đưa vào, nên chẳng cần rút vội người của tổ chúng tôi về trại làm gì.
Anh chàng mũi tẹt về trại gánh cơm kể là, anh ta gặp ở vườn rau một tù nhân vừa mới giải vào trại, người ấy bảo anh; công bố xét xử của toà án dán kín hết cả đường phố.
Trời ơi! May mà vào sớm, chứ không thì bây giờ cũng bị tóm vào rồi. Vào sớm thì lại ra sớm! Mười ba người chúng tôi đều lấy làm mừng, nghĩ rằng thật phúc đức cho số phận chúng tôi.
Sau thời kỳ bảo dưỡng mạ, toàn bộ cao nguyên hoàng thổ bỗng chốc hiện lên một màu xanh bao la. Bốn bề đều xanh: xanh núi, xanh sông, xanh đồng ruộng và cả bầu trời cũng tưởng chừng tràn trề chất men ngào ngạt mùi hương hoang dã say người. Đàn bồ nông bất chấp biển gỗ &lt;&lt; nghiêm cấm ra vào &gt;&gt;, bất chấp hàng rào dây thép gai tua tủa, cứ ung dung đến giang đôi cánh màu tro bạc bay là là trên mặt nước xanh. Chú cò lêu đêu bước chậm rãi trên ruộng nước, vẻ lặng lẽ trầm tư, trông giống hệt đội trưởng Vương,vịt giời làm tổ trong đám lau lác bên mương tiêu, tất bật lo toan cho cái gia đình cỏn con của chúng. Đàn chim nước tung cánh bay chấp chới trong nắng vàng rực rỡ, tiếng chim rộn ràng vang vọng khắp cánh đồng bát ngát. Mạ non lặng lẽ hút lấy nhựa sống trong lòng đất ,dập dờn theo làn gió. Đất trời hoàn hảo chẳng cần đòi hỏi gì thêm, còn con người thì khát vọng tình yêu.
Đội trưởng Vương thường xuyên đến khu ruộng lúa, tay chắp sau lưng, một mình quanh quẩn trên bờ ruộng, kiểm tra công việc của chúng tôi. Chiếc áo màu xanh bộ đội khoác hờ hững trên người, ông bước đi tập tễnh ngả nghiêng trông chẳng khác gì một con rối có gắn lò xo. Mạ đã lên đều, chúng tôi không sợ ông kiểm tra, cũng chẳng cần phải đi theo ông. Chúng tôi vẫn làm việc của chúng tôi như thường, mò cá, bắt vịt giời, hay ngồi dưới bóng liễu vá bộ quần áo tù chẳng bao giờ lành lặn. Cho tới một hôm đã kiểm tra khắp lượt, ông đến trước mặt tôi ra lệnh:
- Bảo những thằng đĩ ấy, sửa sang, đắp cho chắc những miệng tưới tiêu, bờ ruộng chỗ nào bé đắp thêm vào. Vài ngày nữa đại đội đến làm cỏ đấy.
Lúc ấy chúng tôi mới tất bật đứng lên.
Sáng sớm ba hôm sau, chúng tôi ăn xong suất cơm trực nhật gánh về, đang rửa chậu cơm và bát đĩa, một tổ viên đi đổ nước, phấn khởi chạy về căn nhà đất, hét toáng lên:
- Đại đội đến rồi!
Ai nấy đều xúc động, kể cả tôi. Ở đại đội tôi không có người thân, cũng chẳng có bạn bè, nhưng đoàn người mặc quần áo tù đen ngòm ấy vô cùng hấp dẫn tôi. Khi chưa ra tổ trông coi ruộng, ngày đêm tôi sống ở đấy. Chế độ luật lệ khắc nghiệt và máy móc đã tạo cho bầy người những tập quán chung, luật lệ sống chung, và cả những tiếng lóng chỉ có chúng tôi hiểu với nhau. Tôi cũng ngơ ngơ ngác ngác buông bát đũa xuống, cùng mọi người lao ra cửa.
Lâu lắm rồi mới được gặp lại đại đội ơi!
Sương mai chưa tan hết. Mặt trời mới mọc, ánh vàng da cam mới chỉ lấp ló ngọn liễu và bạch dương màn đêm còn quyến luyến mặt đất. Đứng trên gò chúng tôi nhìn về phía bắc đập mương nhánh, một đoàn người mờ mờ xam xám như những u hồn đang di chuyển nhanh về phía chúng tôi. Họ từ từ tiến gần chỗ chúng tôi. Xám đã chuyển thành đen mặt mũi họ cũng hiện rõ dần. Những khuôn mặt nghiêm trang hoặc lơi lả, khắc khổ hoặc phóng đãng, tươi cười hoặc ủ dột, hiền lành hoặc độc ác, bảnh trai hoặc xấu dáng, tất cả lướt qua rất nhanh dọc bờ mương theo tiếng chân bước lộn xộn. Điều khiến người ta kinh sợ lạ kỳ là phép mầu nào đã bắt gom về đây đủ các hạng người khác hẳn nhau như nước với lửa này, rồi đem đóng lên tất cả những khuôn mặt ấy một dấu ấn &lt;&lt; vết hằn lao cải &gt;&gt;. Vẻ mặt họ không đến nỗi tiều tụy, vì vào thời vụ bận rộn, ăn uống không đến nỗi quá tệ. Nhưng từng ấy khuôn mặt đều mang vẻ lạnh lùng của thầy tu khổ hạnh và vẻ đa nghi của thầy kiện già đời. Nhất là đường hằn pháp lệnh hai bên cánh mũi nối với nếp nhăn bên mép, tạo nên cái tướng &lt;&lt;đằng xà văn nhập khẩu &gt;&gt; mà tướng số tối kỵ &lt;&lt; vết hằn lao cải &gt;&gt; đau khổ, không thấy có trên gương mặt những công dân bình thường, không những là biểu trưng cảnh ngộ hiện tại của họ, mà còn quy định cả tâm lý u tối ảm đạm suốt đời họ sẽ không sao thoát nổi.
Anh em tổ trông coi đồng ruộng đứng trang nghiêm trên gò đất không hề giễu cợt họ, cũng không thấy tự hào gì, lẳng lặng nhìn đoàn tù đi qua. Đứng ngoài đoàn người ấy, chúng tôi mới cảm thấy uất ức nặng nề, mới thấy được số phận mình thật thê thảm. Tại sao lại thế nhỉ?Có đúng là chúng tôi tranh nhau từ nhà ra đây để xem đại đội không! Đúng rồi, nhưng chúng tôi lại không cảm nhận được tâm trạng của bà con trong làng khi kéo ra xem đoàn tù lao cải. Đứng ngoài, họ nhìn thấy một thế giới khác, còn chúng tôi lại nhìn thấy chính bản thân mình. Đội ngũ màu đen ấy có một chức năng là khi nó nuốt chửng anh, thì anh sẽ hoà tan trong đó, anh hoàn toàn không còn nữa.
Muốn nhìn rõ mặt mình phải đứng cách gương một cự ly nào đó.
- Kìa! Hãy còn.
Trên gò đất có người quẳng một điếu thuốc đã châm về phía bờ mương. Cảnh vệ quay nhìn chúng tôi nhưng không can thiệp. Một người tù lao cải đang đi trên bờ mương vội nhặt lấy, chúm miệng rít lấy rít để mấy hơi, rồi chẳng khác gì chuyền gậy chạy tiếp sức, đưa ngay cho người khác. Tuy chúng tôi đều được phát tiền tiêu vặt, nhưng tù trong đại đội muốn mua gì chẳng được dễ dàng như tù tự do.
Rồi anh em trong tổ chúng tôi thi nhau tung những quả cà chua, dưa chuột hồi hôm qua chưa ăn hết sang phía bờ mương. Kẻ tung người hứng đều rất vui mừng hồ hởi, chẳng khác gì những cầu thủ đội bóng bầu dục của nước Mỹ. Tiếng cười đầy sức quyến rũ vang vọng trong sương sớm đang tan dần. Có người cứ tưởng rằng tù lao cải suốt ngày cứ ủ rũ rầu rĩ. Không đâu! Như vậy thì là sao chịu đựng cho hết cái hạn tù dài dằng dặc? Cứ phải kiếm ra cái gì đó mà làm cho khuây khỏa đôi chút. Hàng ngũ có phần chuệch choạc. nhưng lính cảnh vệ chỉ quát &lt;&lt;nhanh lên nào!&gt;&gt; &lt;&lt;nhanh lên nào!&gt;&gt;. Với những con người đang cười, họ cũng không nỡ thúc báng súng? Có lẽ họ cũng có chút nghi ngờ, những con người này thật sự có tội chăng. Thật chẳng khác nào những người bạn chiến đấu trong một đơn vị bộ đội, tôi nghĩ thế. Nhưng kẻ thù của đội ngủ này là ai? Không biết! Chẳng ai có thể trả lời cho được, mặc dầu từ lâu họ đã bị kết án là &lt;&lt; kẻ thù giai cấp &gt;&gt;.
Đoàn người đã qua hết. Bụi đất trên bờ mương dần dần lắng xuống. Nhóm đi đầu đã tới bờ ruộng, đội trưởng Vương đang giục họ cởi giầy đi bộ xuống. Anh em tổ tôi tung hết cà chua, dưa chuột rồi, niềm hứng khởi dường như vẫn chưa tan, trên từng gương mặt vẫn thoáng một nụ cười tinh nghịch. Đáng lý nên khóc thì họ lại cười. Vậy đấy là chỗ mềm yếu hay là chỗ cứng rắn của tính người? Bỗng, một người trong tổ tôi chỉ tay lên phía bắc, quay đầu lại phấn khởi gào lên:
- Hãy còn nữa kìa!
Cậu mắc tội làm chết bò nghển cổ lên nhìn, rồi nhoẻn miệng cười ranh mãnh.
- Đội nữ đấy!
Đúng là đội nữ!
Nhưng từ xa không tài nào nhận ra được họ là nữ. Người tù để chết bò có lẽ ngửi thấy mùi đàn bà bằng khứu giác. Họ cũng mặc áo tù đen tóc cắt ngắn cũn. Trước năm 1966, khi tôi vừa bị giải vào đội lao cải, lao động trên sân phơi thì từ xa đã phân biệt được rõ nam và nữ, vì khi ấy tù đàn bà vẫn còn đươc phép tết đuôi sam. Sau năm 1966 làn gió xóa bổn cũ ở bên ngoài đột nhiên ùa vào, chỉ trong một đêm, tù đàn bà bất kể già trẻ đều phải cắt tóc bằng hết. Một người nữ tù tự do ở vườn rau, vốn là một bà đồng đội bát nhang, đã ngoài sáu mươi tuổi, cũng bị xén nốt lọn tóc chỉ còn vài sợi lơ thơ bạc trắng. Xử bà bẩy năm tù giam bà không hề oán thán lại còn cảm ơn chính quyền:
- Ra tù tôi sẽ đèn nhang cúng bái cụ Mao!
Nhưng khi cắt cái búi tóc của bà thì bà kêu khóc thảm thiết, gào đến đứt hơi khản tiếng:
- Trời Phật ơi! Khốn nạn thân tôi! Khốn nạn thân tôi! Cách mạng cách đến cả túm lông cằn của tôi rồi!
Bà ta còn hát như lên đồng, chẳng ai nghe rõ lời hát quái đản kỳ quặc của bà ta, chỉ biết một tháng sau bà lăn ra chết. Chính tôi là đại tổ trưởng  đã dẫn bốn người tù đàn ông đi nhập liệm cho bà. Hôm ấy chúng tôi theo sau đội trưởng Vương mặt mày ủ dột vào trại tù đàn bà khiêng xác bà đồng đi trước mặt đám tù đàn bà đang sợ run như cầy sấy. Bốn anh tù đàn ông khiêng không vững, tấm ván cửa nghiêng ngả chao đảo, tờ báo phủ diện phập phồng rồi bay xuống đất. Tôi thấy cặp mắt thất thần khô đét của bà phẫn nộ hướng lên trời. Tôi đưa hai ngón tay vuốt mắt cho bà, nào ngờ xác bà đồng đã khô quắt như que củi, mà mi mắt vẫn còn đàn hồi co dãn. Tôi vuốt xuôi xuống, thì nó lại từ từ co trở lại như ốc sên:
- Mày làm gì thế? Tại sao bắt tao phải nhắm mắt? Tao phải mở mắt thật to kia.
Đứng bên người chết, cái chết thảm khốc, và điều bí ẩn vĩnh hằng chẳng ai lý giải được, đã khiến tôi bớt tò mò đi, tôi không dám liếc sang đám tù đàn bà và trại giam của họ, mặc dầu đây là một dịp tham quan cực kỳ hiếm hoi. Chỉ khi bà đồng lại mở mắt trừng trừng nhìn lên, tôi thấy đám đàn bà con gái rú lên kinh hãi và khóc lóc thảm thương, có cả tiếng va đập loảng xoảng, chẳng biết ai quá hãi đánh đổ cả chậu cơm.
Chúng tôi đã đặt bà đồng già chết không nhắm được mắt vào trong &lt;&lt; bộ vỏ dòn &gt;&gt; đóng bằng gỗ bạch dương.&lt;&lt; Bộ vỏ dòn &gt;&gt; là tiếng lóng của tù lao cải, so với từ &lt;&lt; quan tài ván mỏng &gt;&gt; của nhà văn sáng tạo ra, thì hình tượng hơn nhiều. Xem ra bà đồng này vẫn còn gặp may, chứ tù chết năm 60 thì bộ vỏ dòn cũng chẳng có, chỉ có manh chiếu cói mà thôi. Hồi ấy, suýt nữa tôi đã được bó bằng manh chiếu như vậy.
Tù đàn bà và tù đàn ông được cách ly tuyệt đối. Đến mức tù đàn ông chúng tôi tưởng chừng quên hẳn là còn có tù đàn bà đang ở đây. Nhưng rút cục thì cùng ở một nông trường, cùng một loại lao động, cùng đi chung một con đường, họ sống sờ sờ ngay cạnh chúng tôi. Có anh tù hình sự trẻ mũi thính như chó dái, chỉ ngửi cũng biết, tù đàn bà hôm nay, đi làm ở đâu, đi qua con đường nào, thậm chí biết cả hôm nay trong đội đàn bà đã xảy ra chuyện gì. một mẩu dây bọc cao su rơi trên đường, chiếc vòng tay thay cho xuyến bạc dùng làm đồ trang sức khi họ bị tước đoạt hết mọi lạc thú trên đời, đây chính là dấu hiệu đàn bà của đội lao cải. Mẩu dây bọc cao su ấy đã khiến tù đàn ông tơ tưởng, thêu dệt bao nhiêu là chuyện. Giầy lao cải cỡ nhỏ, dấu chân bé xíu như chân trẻ con, vết chân thon thon in mờ mờ trên mặt đất, rồi thì vụn màn thầu, vụn khoai tây vứt bừa trên cỏ ( tù đàn bà thường ăn ít hơn tù đàn ông ), đều như lối mòn quanh co thanh vắng trong vườn hoa, biến thành nơi để hai bên trai gái hẹn hò gặp gỡ. Dĩ nhiên chỉ là gặp gỡ trên tinh thần, chẳng khác gì giấc mơ trong đêm tối, vĩnh viễn chẳng bao giờ thành hiện thực, trừ phi cả hai đều là tù tự do.
Điểm danh chiều xong về trại, khi tất cả chưa ngủ, cánh tù già ngồi sưởi bên lò lửa kể cho tù mới nghe bao nhiêu chuyện trai gái phóng đãng, tù già là Hô-Me của đội lao cải, lịch sử nông trường nhờ họ được lưu truyền lại. Theo họ kể, đi ở tù đàn bà khốn đốn hơn đàn ông. Thần kinh yếu đuối không chịu đựng được cảnh cô đơn, họ phải tìm kiếm sự vuốt ve, chiều chuộng và chăm sóc. Có người đứng sau song sắt tán tỉnh lính cảnh vệ:
- Ông cai ơi, con chuột nhà ông có muốn ngoáy lọ mỡ không?
Chỉ cần có dịp tốt thôi - dịp tốt bao giờ cũng do người tạo ra dịp tốt không phải từ trên trời rơi xuống, dây thép gai 5 ly cũng không cản nổi nhưng cơn hứng tình của họ, có người lăn xả vào ôm lấy tù đàn ông tự do.
Giờ đây họ đã đến.
Sương mai đã tan hết. Ánh nắng da cam đã xuống tới bờ mương, dấu chân loạn xạ trên mặt đất trông chẳng khác gì những đường hoa văn chồng chéo kỳ dị. Đây thật sự là con đường lầm lỗi đầy khổ ải. Trời mù sương nên không có gió, liễu xõa cành lặng lẽ; lau lách và cỏ nước rìa mương đứng trơ trơ chĩa ngọn lên trời, tựa hồ đám tù đàn bà này chẳng có gì đáng quan tâm cả. Đoàn tù đàn bà bước đi nhanh nhẹn, diễu qua chỗ chúng tôi như đi duyệt binh vẻ khiêu khích ra mặt. Đúng vậy, dáng họ đi thật nhanh nhẹn, có người còn làm dáng thướt tha yểu điệu, vì đám đàn bà ra làm đồng này còn rất trẻ.
Nhưng nếu không nhìn dáng họ đi, nếu họ cũng đứng im như lau lách và cỏ nước, thì ai tin được họ là đàn bà? Cuốn Phục sinh mô tả Ma-dơ-lô-va bước trên đại lộ Vla-di-mia để đi Xi-bê-ri hình như cô ta vẫn mặc váy; tôi không nhớ rõ màu trắng hay màu xám, nhưng đúng là váy, đâu còn được trùm khăn nữa. Còn tù đàn bà ở đây thì mặc quần áo tù màu đen hoàn toàn cùng kiểu với tù đàn ông. Quần áo như bao tải rộng thùng thình, đã dấu kín hết mọi nét đặc trưng nữ giới của họ. Họ biến thành một loại động vật nam không ra nam, nữ không ra nữ, xấu xí hơn cả đám tù đàn ông. Họ là cái gì vậy? Họ là đàn bà ư? &lt;&lt; Đàn bà &gt;&gt; chẳng qua chỉ là một khái niệm được gán cho họ theo thói quen mà thôi. Họ không có eo, không có ngực, cũng chẳng có mông; trên từng gương mặt phì phị, màu bồ quân, dẫu không có &lt;&lt; vết hằn lao cải &gt;&gt; nhưng vẫn toát ra vẻ hoang dã của những con thú cái. Nhiều người vừa đi vừa cắn hạt quỳ xanh, liếc nhìn chúng tôi bằng đôi mắt trắng dã như cá chết, ra vẻ kênh kiệu tự đắc, và dường như đây chính là cách họ làm dáng gợi tình. Vỏ hạt quỳ dính quanh miệng, bẩn thỉu chẳng khác gi đám bọt dãi trắng xoá trong miệng phun ra. Tôi bỗng thấy dạ dày đau quặn lên và ợ chua. Tôi quay mặt đi, tôi không dám nhìn họ nữa. Họ sẽ huỷ hoại lòng ngưỡng mộ của tôi, vùi dập hứng thú của tôi đối với đàn bà, thậm chi còn dập tắt cả niềm hy vọng của tôi vào cuộc đời. Cứ nghĩ nếu như người con gái mà tôi đã từng yêu, hình tượng nghệ thuật phụ nữ mà tôi đã từng say sưa, mà tôi đã thưởng thức, bị bắt vào đây để rồi hình hài cũng biến dạng đi như thế này, cõi đời này còn gì đáng lưu luyến nữa?
Tôi quay lưng lại bờ mương, bật lên những tiếng ho.
Trời ơi! Mẹ ơi!
Tôi chợt nghĩ rằng, con người vượn đầu tiên lấy lá cây hay da thú che kín phần hạ bộ của mình, nhất định là một con vượn cái….
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


[/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-14 16:53:30long tong>

Tự xóa cho sạch sẽ chủ dề của bạn DC.
 
Chúc bạn Dạo Cấy vui và đóng góp thêm nhiều bài cho thư quán.


0
Đúng như LongTong nói. Cấy soạn bằng Word font Arial , size 12 chữ đậm. Nhưng đến lúc gửi đi thì trở thành tùm lum: to nhỏ, đậm nhạt _ 12 con giáp trông không ra con giáp nao _ làm Cấy muốn điên cái đầu.
Cám ơn LongTong đã hướng dẫn cho, lần này chắc không phải uống Át-xì pi-rin nữa [;)][:)]
Chúc LongTong vui.
                                                                                 ĐạoCấy
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-09 05:04:10ĐạoCấy>
                                                                            CHƯƠNG BỐN.
 
 
 
Cánh đồng lúa nước rộng lớn tỏa hơi nóng hầm hập dưới nắng gắt, bầu trời không một gợn mây. Hôm nay đẹp trời. Lá cỏ kê to mập, giữa lá nổi đường gân trắng, lá cỏ ba cạnh xòe rộng, óng ả mượt mà, lá lau nhọn hoắt, rìa sắc như dao, hàng triệu, hàng triệu lá bao nhiêu là lá, chúng sung sướng hân hoan hướng tới bầu trời xanh thăm thẳm. Từ cánh đồng suốt tới tận chân núi, cây cỏ tươi tốt xanh ngắt, màu xanh thẫm, một màu xanh bao la man mác.
Lá lúa mảnh dẻ đầy lông tơ, lại bị che lấp lẫn dưới cỏ kê, cỏ ba cạnh và lau lách, với cặp mắt mệt mỏi, phải tách biệt được chúng ra. Hơn ba nghìn mẫu lúa nước của chúng tôi, xưa kia là đầm lầy đầy cỏ dại và muỗi dĩn, vốn là xứ sở của le le và vịt giời. Bắt đầu từ những năm 50, hết năm này sang năm khác, tù lao cải đã dần dần lấp bằng. Nhưng chất đất mặn ở vùng trũng chỉ cấy được lúa nước, hơn nữa không bao giờ tháo chảy được hết nước. Trừ cỏ không sạch rễ, bãi hoang tuy đã thành đất trồng trọt, nhưng tất cả các loài cỏ nước lại mọc lên tốt hơn, rậm rạp hơn. Vì ruộng được bón thêm phân. Bây giờ lấy tay nhổ từng cọng cỏ một, đừng hòng nhổ được hết.
Song cũng đành nhổ bằng tay.
Có hề gì, đội lao cải thiếu gì người.
Nhổ đi, nhổ đi! Giải phóng cho từng mảng mạ ra khỏi lùm cỏ rối. Có chỗ nhổ hết cỏ chỉ còn trơ lại đám bùn loãng, chẳng thấy mạ đâu.
- Phải đào móc cho hết củ cái cỏ ba cạnh!
- Phải lôi cho bật gốc lau lên!
Đội trưởng Vương đội mũ cói rộng vành, đi lại quát tháo trên bờ ruộng.
Làm sao mà lôi bật gốc lau lên? Chúng kéo bè đan kết vào nhau dưới bùn sâu, dường như toàn bộ lau lách của cả vùng đầm lầy này đều mọc lên từ cái rễ to bằng con trăn khổng lồ. Làm sao mà móc củ cái cỏ ba cạnh lên được? Loại củ này tên vị thuốc là &lt;&lt; hương phụ tử &gt;&gt;, nằm sâu dưới bùn đen. Với lại, định mức hằng ngày cho mỗi tù nhân là năm sào, cỏ mọc um tùm thế này, chổng mông chổng đít cả ngày, ông cứ làm thử một sào xem nào?
Anh em tù vơ đám cỏ nhổ không bật rễ lại thành búi, rồi lẳng lặng lấy chân dận xuống bùn. Vất lên bờ mà đội trưởng bắt được thì cứ gọi là ăn chửi. Gốc lau không nhổ lên được đứt giữa chừng, nước chui vào đoạn gốc rỗng, sủi bọt kêu lục bục, như muốn tố giác người tù.
- Tao cứ tưởng là đứa nào không nhổ được gốc lau lên kia đấy, hoá ra là tao đánh rắm - Người tù không lôi bật được gốc lau lên, ranh mãnh pha trò cười.
- Rắm kêu lớn nhỉ! Sao không thối lại có mùi cỏ tươi, không phải rắm con lừa đấy chứ?
Người tù bên cạnh trêu anh ta, thế là cả đám hỉ hả cười lên vui vẻ.
Phải thế chứ, phải có cái gì vui lên một chút, không thì làm sao sống nổi? Có người cất giọng hát:
                             Anh hai đi nông trường lao cải.
                             Bỏ em ba ở lại phòng không.
                             Em ba ơi chớ lo lắng phiền lòng.
                             Ở nông trường lao cải, bụng anh không đói nào!
                              A - ới – a! Ới – a – a!
Giữa trưa nắng càng gay gắt, màu xanh im lìm đè nặng lên mặt đất. Vịt giời, ếch nhái đều chẳng buồn kêu, không khí như đặc quánh lại. Thi thoảng, một cơn gió nóng từ hẻm núi ào tới, cuốn theo về không khí bỏng rát của sa mạc, lau lách rung lên xào xạc nghe như tiếng kim khí cọ xát vào nhau, nước bùn đục ngầu nóng bỏng chân. Đám tù nhân chẳng còn hơi sức đâu chuyện trò nữa, chúi đầu mải miết làm, cố đạt định mức 5 sào. Khẩu hiệu &lt;&lt; đổi ác theo thiện, tiền đồ sáng sủa &gt;&gt; cắm ngay trên bờ mương kia kìa. Tôi vác xẻng đi lại quanh quẩn bên đám ruộng tôi phụ trách. Đứng đằng trước mà nhìn, thì dưới ruộng lúa là những cái đầu tóc bị nắng hun đốt cháy sém vàng hoe khô khốc, đây đó mồ hôi loang loáng nhỏ giọt, bốc ra mùi thum thủm hắc hơn mùi lá mục. Nhìn từ phía sau thì lổm ngổm toàn mông đít. Mông đít vá chằng vá đụp, loang lổ bùn đất vàng khè.
Trên cao, bầu trời xanh thẳm; ở dưới mặt đất xanh rì. Trong suốt, sâu thẳm, đẹp tươi. Nhưng ở giữa là đám người một màu đen ngòm bị đè cho bẹp dúm.
Chợt trong ruộng lùa bùng lên tiếng hoan hô vui sướng. Hóa ra xe chở cơm đã hiện ra trên bờ mương nhánh cao cao.
Bốn con ngựa kéo mấy thùng cơm đi trước, một chú lừa kéo thùng nước khổng lồ theo sau, thủng thẳng bước dưới bóng liễu. Mẹ kiếp! Xem kìa, chúng nó dẫn rượu đi đủng đà đủng đỉnh! Chúng mày ních no căng rốn rồi chứ gì?! Món gì nào? Thoang thoảng mùi cải trắng nấu cải củ, chỉ ước sao buổi trưa được cái bánh bo bo to hơn tí: lạy ông bà ông vải, khôn thiêng phù hộ. Được miếng ăn đâu có dễ! Có điều coi như bữa nào cũng có ăn.
Đội trưởng Vương đã thổi còi. Tù nhân vùng lên như bạo động, ào tới chiếc xe cơm đỗ trên bờ mương nhánh.
Chạy nhanh! Bánh lĩnh trước to hơn, lĩnh sau vớ phải bánh dưới thùng không bị vẹt thì cũng bị bẹp dí.
Tù ăn cơm, chẳng khác gì con chiên lúc cầu nguyện, phải một lòng một dạ dốc hết đức tin vào đó. Đang ăn mà có ai quấy rầy, thì người tù giống hệt con sói đang ngoạm một con thỏ, răng nhe ra, miệng gầm gừ giận dữ, mắt vằn tia máu, gườm gườm nhìn người ấy ngay. Đội trưởng Vương biết vậy cho nên dù công việc cấp bách đến mấy, ông cũng không bao giờ quát giục tù nhân nhồi nhét cho nhanh. Ông thường bảo:
- Trời đánh còn tránh bữa ăn!
Nếu buổi sáng hoàn thành tốt định mức, ông còn để tù nhân nghỉ trưa thêm một lát.
Hôm nay mới bắt đầu làm cỏ, suốt mùa đông rồi cả mùa xuân ru rú mãi trong trại và làm việc trên ruộng khô, ngày đầu tiên thấy nước, họ vô cùng thích thú, nên tiến độ làm cỏ buổi sáng rất nhanh. Đội trưởng Vương rất khoái, cơm xong ông để tù nhân nằm nghỉ trên bờ mương. Dù chẳng có gì che, người nào cũng rũ ra như tầu lá héo dưới trời nắng nóng, nhưng nằm nghỉ vẫn thoải mái hơn làm việc. Đội trưởng Vương ngồi một mình dưới bóng cây nhỏ, lấy cọng cỏ xỉa răng, mắt lim dim thỏa mãn nhìn đám tù nhân dưới chân ông, chẳng khác nào người chăn cừu nhìn đàn cừu no nê của mình.
Khi tù ăn cơm trưa, thì tổ trông coi đồng ruộng chúng tôi, đi kiểm tra các bờ ruộng và các cửa tưới tiêu. Cánh tù chẳng tiếc gì lao động của mình, càng không coi trọng lao động của người khác. Nhãng đi một chút, là có kẻ phá hoại các cửa tưới tiêu, hoặc giẫm nát bờ ruộng ngay. Người coi ruộng vất vả, khổ sở mới dẫn được nước vào đồng ruộng, nhưng sơ ý đi là cánh tù tháo cho cạn sạch, hoặc để nước mương dồn vào vỡ hết bờ. Chúng mày đi mà đắp lại! Chúng mày thiếu chó gì thời gian!
Tù ở đại đội cho rằng, ruộng lắm cỏ thế này là tội của bọn coi ruộng.
Tù làm không hết định mức thì trút giận lên đầu người coi ruộng. Ruộng làm cỏ xong thì cả cỏ lẫn lúa đều nát bét, chẳng khác gì có đàn trâu vừa giẫm…
Hơn hai trăm mẫu lúa do tôi trông coi, chia làm bốn lô, ngay ngắn như bàn cờ nằm hai bên bờ hai con mương tưới thẳng tắp. Mỗi dòng mương tưới cho hơn một trăm mẫu. Mương cái vuông góc với mương nhánh. Mỗi mương nhánh lại tỏa ra mấy chục dòng mương tưới như vậy. Ruộng lúa, một bên sát liền mương tưới, còn bên kia là mương tiêu sâu hơn. Do địa hình thấp trũng, mương tiêu quanh năm đầy nước, mùa đông thì đóng băng, cho nên nước ở đây lạnh buốt. Hai rìa mương tiêu, lau lách mọc thẳng cao vút. Đây là những gì còn sót lại của đầm lầy xưa kia. Xuân sang thì ngoài ruộng, lau lách mọc lên trước tiên thẳng tắp nhọn hoắc như chông. Chúng hút nhựa sống từ mương tiêu quanh năm không bao giờ khô cạn, lớn lên như thổi. Khi gieo mạ không dẫn nước vào ruộng, thì chúng đã cao hơn đầu người. Giờ đây lau lách rậm rạp dầy đặc, gió thổi không lọt, chẳng khác gì một bức tường xanh biếc.
Bên kia bức tường xanh biếc ấy, tôi nghe có tiếng phụ nữ cười đùa vui vẻ. Tù đàn bà làm cỏ ở lô ruộng bên cạnh. Họ không cùng ăn với tù đàn ông trên bờ mương nhánh. Trực nhật của họ gánh cơm phía trên bờ mương tưới để họ ngồi ăn riêng một chỗ.
Trong coi lô ruộng bên cạnh, là một ông tù già, già nhất trong tổ tôi, đã ngoài năm mươi tuổi. Đội trưởng Vương bố trí đến là khéo! Ông chịu án tám năm, hết năm nay thì mãn hạn, ông sẽ chẳng dại gi mà gây chuyện rắc rối vớ vẩn.
Có người tù đàn bà nào đó cất tiếng hát oang oang:
- Sắp hành sự nốc vào bát rượu, là khắp người dồn máu hăng lên….
Giọng hát khản đặc, khàn khàn, chẳng khác nào một khói sương mù dầy đặc xám xịt vượt qua bức tường xanh, quay cuồng khắc khoải. Nhưng chỉ phút chốc, tiếng hát chợt im bặt. Phía trước tôi, trong đám lau lách im lìm, vọng ra tiếng khỏa nước bì bõm, nghe như có đàn vịt giời đang ríu ran đập cánh trên mặt nước.
Đúng vịt giời! Loài chim nước mỏ bẹt lông cánh sặc sỡ ấy thường thường là những bữa tiệc cải thiện của anh em trong tổ coi ruộng chúng tôi. Cơm của đội lao cải dẫu được ăn no, nhưng rất ít khi có thịt. Bắt vịt giời, bắt cá trở thành nghề phụ của tổ chúng tôi. Ở ngoài người ta săn vịt giời bằng súng hoặc đánh lưới, vào đội lao cải thì tài trí thông minh của con người, được phát huy hết cỡ, chúng tôi chỉ hai bàn tay không cũng bắt sống được vịt giời ngon ơ. Cái giống ngu xuẩn ấy thích làm tổ trong bụi rậm. Lau lách um tùm, chúng ra vào đâu có lên thẳng xuống thẳng được như trực thăng. Chúng phải mở một lối đi nho nhỏ trên ruộng lúa bên mương tiêu, thoạt tiên hạ cánh xuống ruộng rồi theo lối nhỏ bơi đến bờ mương tiêu, bò lên bờ lạch bạch về tổ. Ra khỏi tổ đi kiếm ăn lại phải theo một quy trình ngược lại. Chúng tôi thường nhìn thấy vịt giời bên bờ mương tiêu nghiêng đầu nghển cổ nhìn trời, thật chẳng khác nào mấy thầy nho sĩ xem xét thời tiết lúc xuất hành. Chúng tôi chỉ cần nhìn thấy ở đám ruộng nào cỏ lúa bị rẽ ra thành một vệt, lần theo vệt dài ngoằn ngoèo quanh co ấy tìm đến bờ mương tiêu, là thế nào cũng thấy ngay dấu chân vịt hiện ra rõ ràng. Đêm đến, sẵn đèn pin của đội phát cho, chúng tôi lần theo dấu vết ban ngày đã phát hiện, chắc chắn là nhìn thấy cái ổ kết bằng rơm và cành khô của nó. Một ổ như vậy ít ra có hai con vịt to, lại còn trứng và vịt con nữa. Ánh đèn pin chiếu vào, vịt ta vươn dài cổ ra, đầu nghẹo đi, giương cặp mắt đờ đẫn nhìn chằm chằm vào luồng sáng, chẳng hề cựa quậy. Tròng mắt sáng lấp lánh như huyền ngọc, đầy nét dại khờ, ánh lên vẻ trong trắng ngây thơ và hồn nhiên thanh thản mà loài người đã đánh mất từ lâu. Ánh sáng gì vậy? Mặt trời mọc rồi sao? Giữa lúc chúng đang ngơ ngác ấy, chúng tôi túm lấy cổ chúng, nhẹ nhàng như không. Có đêm chúng tôi bắt được đến mười mấy con.
Thế là tôi rón rén đi về phía có tiếng nước róc rách bì bõm ấy.         
Tôi tụt giầy, lấy xẻng nhẹ nhàng thận trọng rẽ lau lách ra, lội thẳng sâu vào trong bụi. Cũng thật là may, trưa trời lại nổi gió, những khóm lau bỗng reo lên rì rào xào xạc như trong rừng sâu; lá lau vươn dài lay động đu đưa trên đầu và quanh người tôi, làm vỡ vụn những mảng bóng nắng đổ dài trên mặt nước trong xanh. Nước lạnh đã lút mắt cá chân. Bước tiếp thì sẽ ngập đầu, sườn bờ mương tiêu dốc lắm.
Giờ đây tiếng róc rách nghe càng rõ hơn. Sau tiếng róc rách là tiếng nước chảy ri rỉ, dường như những giọt nước đang thầm thì tỉ tê cùng cỏ dại. Không giống tiếng khua động của vịt giời.
Tiếng gì thế nhỉ?
Tôi tò mò vạch lau ra, nhòm sang phía bên kia mương tiêu. Tôi chợt giật mình kinh ngạc: tôi nhìn thấy một con người!
Một người đàn bà!
Một người đàn bà trần truồng!
 
 
 
 
 

[/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 04:46:37ĐạoCấy>
                                                                       CHƯƠNG NĂM.
 
 
 
Cô ta đang tắm.                                   
Cô ta cũng không dám lội ra giữa dòng mương, hai chân giẫm lên đám cỏ nước bên bờ, vung vẩy cánh tay tròn lẳn, khum hai tay làm gáo, vốc nước hắt lên cổ, lên vai, lên ngực, lên lưng, lên bụng dưới… Cả thân hình cô là một khối đầy đặn ngồn ngộn mỡ màng, từng bộ phận đều toát lên nét dịu dàng mềm mại mà khỏe khoắn. Ánh nắng chiếu thẳng xuống giữa hai bờ lau cao vút xanh thẫm, da thịt cô bóng mịn như tấm lụa căng phồng, khơi gợi lên cảm giác sảng khoái thư thái như một màu tơ trong mờ óng ả. Đôi vai xoay qua xoay lại và cặp vú nhún nhẩy nhịp nhàng, ướt nước loang loáng càng sáng lên lung linh ấm áp. Phía dưới hai bầu vú căng tròn, là hai quầng bóng râm lượn cong hấp dẫn. Nước da không trắng nõn, mà là màu sữa trắng ngà, tôn thêm vẻ đẹp tự nhiên không mảy may trang sức, nhựa sống căng đầy. Để vốc khoát nước, cô hết cúi xuống lại ngẩng lên, y hệt như một chú cá heo đang thỏa thuê đùa giỡn, tung mình lên không trung bằng những động tác vươn dài thật đẹp. Khoát nước vào đến đâu, cô đưa tay xát mạnh chỗ đó, thế là khắp cơ thể cô ửng hồng lên tràn trề sức sống. Và được làn nước mát kích thích bất chợt, gương mặt cô vụt hiện lên vẻ hân hoan lấp lánh một niềm vui sướng trẻ thơ.
Khuôn mặt thật ưa nhìn. Cô ngửa cổ ngước nhìn bầu trời, giữa màu xanh của lau lách nổi lên gương mặt xiết bao duyên dáng. Đôi mắt, sống mũi, cặp môi, tất cả đều nhỏ nhắn phối hợp bên nhau hài hòa tuyệt đỉnh, lung linh vẻ xinh xắn lanh lợi riêng của phái đẹp. Mái tóc cắt ngắn ướt đẫm vuốt ra sau gáy gọn gàng duyên dáng, điểm tô thêm cho khuôn mặt yêu kiều một nét hào hoa vũ dũng của con trai. Cặp lông mày tôn thêm vẻ lộng lẫy của gương mặt, vẽ bằng một nét dài thanh thanh kẻ thẳng phía trên mi mắt. Làn nước mát kích thích khiến hai đầu mày nhướn lên cao cao rồi nhanh chóng thư giãn nhẹ nhàng. Thật sinh động không sao tả được, có vẻ cô đã quên đi tất cả. Đã quên đây là đội lao cải, đã quên người ta có thể chạy đến quát mắng cô bất cứ lúc nào, đã quên cả quá khứ và hiện tại của đời mình, đã quên bộ quần áo đen đang hong bên cạnh, bộ quần áo như chiếc kìm đóng dấu sắt nung, đóng cái dấu đen ngòm lên thân phận cô. Cô hoàn toàn chìm đắm trong niềm khoái lạc được tắm rửa, cô chăm chú kỳ cọ cơ thể thật cẩn thận kỹ càng tưởng chừng như muốn lộn trái hết cả lục phủ ngũ tạng và linh hồn ra mà kỳ mà rửa vậy.
Cô đã quên bản thân cô, tôi cũng quên bản thân tôi. Lúc đầu mắt tôi rất không tự giác cứ nhắm vào chỗ bí ẩn nhất trên người cô. Nhưng một lát sau, toàn bộ bức tranh như đã thăng hoa thành một sức mạnh lạ kỳ làm tôi rung động. Ở đây bao trùm một không khí huyền thoại vượt lên trên cuộc sống tầm thường nhàm chán, vượt ra ngoài cả cõi trần thế này. Thế giới này nhờ có cô mà rạng rỡ lên. Kiếp sống lao cải của tôi vì được chiêm ngưỡng bức tranh sống động này mà đã gặp được một thứ vận may đầy kịch tính, mà có được mùi vị hài hước thật chua cay. Tôi rạo rực muốn đến bên cô chuyện trò thân mật, muốn trêu đùa cô chốc lát, nhưng lại sợ quấy rầy cô, khiến cô giật mình sợ hãi bỏ chạy mất, làm tan vỡ cuộc gặp gỡ diệu kỳ như một giấc mơ này, làm hỏng bức tranh kỳ ảo thần tiên.
Tôi chỉ lặng lẽ ngây dại ngắm nhìn.             
Cô tắm xong, cẩn thận lau khô người bằng chiếc khăn bông rách. Gió thổi liên hồi, bầu trời bắt đầu xuất hiện những gợn mây trắng bay đi vun vút. Dường như cô cảm thấy se lạnh, quay mình cầm lấy chiếc quần lót để trên bộ quần áo tù màu đen. Cô quay người lại, ngẩng đầu lên, thì chợt phát hiện ra tôi.
Cô không giật mình kêu thét, cũng không hốt hoảng tìm chỗ nấp, mà lim dim cặp mắt nghi nghi hoặc hoặc nhìn tôi, ánh mắt nửa như tức giận, nửa như thách thức pha chút e lệ ngập ngừng: cô sẽ phải quyết định thế nào đây?
Tôi không bỏ chạy, cũng không lên tiếng chào cô, nhưng khắp toàn thân tôi mọi dây thần kinh đều căng ra hết cỡ.
Cuối cùng cô hé miệng, để lộ hàm răng trắng bóng mỉm cười với tôi. Rồi lại mím chặt môi, lắng tai nghe ngóng. Chỉ có tiếng gió vi vu, tiếng lau lách chuyện trò tình tự. Thế rồi cô không vội mặc quần áo, để chiếc quần lót trên tay xuống, làm như sợ lạnh, hai cánh tay bắt chéo nhau, hai bàn tay ấp lên hai vai, nhìn thẳng vào tôi.
Ánh mặt trời trong gió bồng bềnh một màu vàng nhạt. Nắng vàng dọi chiếu vầng trán trẻ trung của cô.
Cô không mảy may có một động tác khêu gợi nào, càng không hề thổ lộ một câu tình tứ, vẻ mặt cũng không hề phảng phất một nét tươi cười. Cô đang vẫy gọi tôi bằng ánh mắt, bằng tất cả phần da thịt đang run rẩy nhè nhẹ trên mình cô, bằng dáng vẻ không mảy may sẵn sàng phòng ngự của cô.
Lúc này trước mặt tôi xuất hiện một màn sương đỏ; tôi thấy mồm miệng ráo hoảnh; một nguồn sức mạnh trào lên cuồn cuộn trong người tôi, thúc giục tôi không phải là chồm về phía trước mà là quay đầu bỏ chạy. Tuy nhiên phía ngoài cơ thể tôi dường như lại có một nguồn sức lực kìm giữ tôi, không cho tôi được chồm lên phía trước cũng không cho tôi quay đầu bỏ chạy. Tôi một mực nuốt nước bọt: sợ hãi, ham muốn, nhút nhát, tham vọng, cảm giác tai họa bỗng nhiên ập tới, cảm giác vận may vụt đến bất ngờ khiến tôi bất giác rùng mình, hai hàm răng va vào nhau cầm cập, đấu óc có phần choáng váng.
Đây là miếng mồi chăng? Hay là một chiếc bẫy? Là thực tại hẳn hoi chứ? Hay chỉ là ảo giác? Ví thử tôi chồm lên phía trước, phải chăng là lẽ đương nhiên? Hay là một lần sa ngã?… … Một con cáo màu đen, lông gáy dựng đứng lưỡi thè ra, bọt dãi dòng dòng, ngồi chồm hổm trong bãi lau, đang rình con mồi đáng ngờ.
Lau lách, đồng bãi, bầu trời bỗng chốc đều tối sầm lại. Hai đứa chúng tôi cứ giữ thế với nhau như vậy.
Cơn xung động mãnh liệt làm tôi choáng váng ngây ngất đã qua đi, thói quen tự kiềm chế thắng thế dần. Lúc ấy, tôi nhìn thấy một vẻ đau khổ khủng khiếp ánh lên trong mắt cô, trên làn da thịt run rẩy nhè nhẹ của cô, nhìn thấy số phận thê thảm đang trùm lên đầu chúng tôi. Nỗi đói khát của cô cũng là nỗi đói khát của tôi: cô là tấm gương soi của tôi. Trong lòng tôi dâng trào một nỗi xót thương êm dịu, lòng ham muốn định chiếm hữu cô đã thấm đậm một ý thức mạnh mẽ kiểu đàn ông sẵn sàng bảo vệ cô. Cái tư thế không mảy may phòng ngự ấy của cô khiến tim tôi tựa hồ thắt lại; đòi hỏi về sinh lý cũng tiêu tan, thay vào đó là một nỗi đau tinh thần. Đúng vào giây phút ấy, trên đập mương cao cao vang lên một hồi còi sắc nhọn. Tiếng còi như ngọn roi quất vào người tôi, tôi thấy như mình còn rên lên một tiếng, rồi lập tức quay người vùng chạy.
Tôi loạng choạng lao ra khỏi bãi lau, lúc ấy mới phát hiện ra, mặt, tay, bắp chân đều bị lá lau sắc cạnh cứa cho toạc máu không biết bao nhiêu chỗ, gan bàn chân cũng bị gốc lau đâm lủng.
Buồi chiều, tôi như kẻ mất hồn vác cuốc đi loanh quanh trên bờ ruộng, mặt cúi gầm, như người đi tìm kiếm một vật gì đánh mất đâu đây.
Người tù già trông mom đám ruộng bên cạnh đến xin diêm bảo:
- Tổ trưởng Chương này, trông sắc mặt anh thế nào ấy. Ốm đấy à?
Tôi sờ lên trán thấy tay và mặt đều mát lạnh. Tôi buồn bã trả lời:
- Phải, người hơi khó ở.
Nhân cớ ấy tôi xin phép đội trưởng Vương về nhà nghỉ. Đội trưởng Vương nhìn mặt tôi “ừ” một tiếng coi như đã cho phép. Tôi lê đôi chân mệt mỏi về chỗ ở nằm vật ngay ra gường.
Chính ở trong nhà đất cô quạnh này, chính trên cái giường sạp bốc mùi mốc ẩm và mùi mồ hôi khen khét này, tôi đã bao phen mơ tưởng đến đủ loại đủ kiểu đàn bà và tình yêu. Bởi vậy tôi vô cùng hối tiếc, tôi đã để lỡ một dịp may cực kỳ hiếm có. Nhưng tôi lại xiết nỗi tự hào, cảm thấy mình đã vượt qua một cơn thử thách ác liệt, nhưng rút cục là cái gì thì tôi không sao nói rõ ra được.
Ôi ma quái, ma quái thật? Cái gì đã ngăn chặn tôi không chồm lên phía trước? Cơn đói khát cả tinh thần lẫn thể xác đã hành hạ tôi lẫn cô ta. Chiếc kìm nung khổ đau đã đóng dấu chín lên cơ thể chúng tôi, thì cớ sao chúng tôi lại không được quyền lén lút giành lấy phút hoan lạc trong cảnh khổ đau này?
Tôi bắt đầu khinh bỉ toàn bộ sự giáo dục tôi đã thừa hưởng trước kia. Văn minh chẳng qua chỉ là sợi dây ràng buộc con người, làm cho mọi đòi hỏi thuộc về con người, nẩy sinh từ bản tính con người đều trở nên phức tạp xa vời. Giá mà tôi cứ như những người tù lao cải nông dân bình thường kia thì hay biết mấy. Nhưng tôi lại lấy làm may mắn vì mình đã từng được giáo dục, văn minh đã khiến tôi khác với động vật, khiến tôi kiềm chế được mình, trong giây phút then chốt ấy đã biểu hiện hành vi cao thượng của con người, và chỉ có con người mời biểu hiện ra được.
Tôi có ý chí tự do, tôi biết chọn lựa, bởi thế tôi phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Thế nhưng ví thử tôi tiến lên đón nhận lấy thì thế giới này cũng chẳng vì thế mà xấu xa thêm; tôi quay người bỏ chạy thì thế giới này cũng chẳng vì thế mà tốt đẹp hơn lên. Tôi, một thằng tù lao cải, một con kiến đen, còn gì đâu mà bấu víu lấy chút hành vi hợp với quy phạm đạo đức để tự an ủi động viên? Huống hồ, nếu tôi coi mình là đạo đức, thì tất nhiên phải coi cô ta là không đạo đức, nhưng tôi thì có quyền gì để thầm chỉ trích cô ta? Đấy chẳng là cảnh tượng từng hiện lên trong mơ tưởng của chính tôi đó sao? Tôi chịu trách nhiệm về hành vi của tôi, nhưng có đã ai chịu trách nhiệm đối với tôi? Trách nhiệm của xã hội thì dường như hoàn toàn hành hạ tôi, vùi dập tôi.
Như đã nói là hôm nay một con bướm vẫy cánh ở Bắc Kinh, tháng sau khí hậu ở NewYork sẽ có thể chịu ảnh hưởng, vậy thì một khi tôi đã chung đụng với cô ta, tôi sẽ không còn là tôi nữa, số phận sau này của tôi sẽ có thể đổi khác rất nhiều, nghe nói số phận một đời người là một chuỗi dài các mối quan hệ nhân quả vòng nọ lồng vào vòng kia. Có điều làm sao tôi biết được số phận sau khi đã đổi khác thì cứ bắt buộc phải tồi tệ hơn?. Biết đâu từ đó tôi lại cắt bỏ được sợi dây tinh thần trói buộc tôi để trở lại làm một con người, một con người nguyên thủy, sống bừa bãi nháo nhào theo kiểu người man rợ giữa cái thời buổi man rợ nhào nháo này.
Các loại quan niệm nhào trộn thành một mớ hổ lốn trong đầu óc tôi, đến mức đầu tôi đau nhức như  muốn vỡ ra. Cuối cùng mớ hổ lốn các quan niệm ấy tiêu tan hết. Trạng thái mệt mỏi rã rời khiến đầu óc tôi và cả trước mắt tôi chỉ còn một cõi hư vô rỗng tuếch. Chẳng còn quan niệm đạo đức, chính trị, luân lý, chẳng còn luật lệ nhà tù cũng chẳng còn điều lệ lao động cải tạo gì; ngay cả tôi cũng không tồn tại nữa. Chỉ còn tấm thân ngồn ngồn tròn lẳn, xinh đẹp quyến rũ của cô ta. Hình ảnh hai cánh tay bắt chéo nhau để hai tay ấp lên hai vai của cô ta, lừng lững giữa cõi hư vô rỗng tuếch ấy.
Trên thế giới này chỉ còn lại có cô ta!
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 04:55:51ĐạoCấy>
                                                                       CHƯƠNG SÁU.
 
 
Tôi suốt đêm không ngủ.
Nửa đêm, ngoài cửa sổ tiếng mưa rơi lộp bộp. Lát sau mưa càng nặng hạt. Ngoài đồng, trên mái nhà, nước chảy ầm ầm ào ào; từ mái căn nhà đất nước xối xả như thác đổ, làm rung chuyển cả đêm đen tĩnh lặng. Bóng đêm lan tỏa khắp mọi nơi, tưởng chừng như có vị thần siêu việt oai nghiêm tung đôi cánh khổng lồ đen sì sắp giáng hạ xuống thế giới này. Tôi thấy khủng khiếp, trong im lìm vắng lặng, cảm giác tai họa theo thói quen khiến tôi mơ hồ cảm thấy sắp phải chịu sự trừng phạt gì đây. Thế là tôi vứt bỏ ý nghĩ hỗn loạn trong lòng, không tơ tưởng đến….. cô ta nữa. Mưa đến sáng thì đột nhiên tạnh hẳn.Lúc đến hối hả bao nhiêu thì lúc đi đột ngột bấy nhiêu. Một chú gà trống cất tiếng gáy thê lương phía bên kia bờ mương, giọt mưa trước mái hiên gõ nhịp buồn bã xuống vũng nước.
Sau khi dập tắt ngọn lửa tình dục háo hức trong niềm tự thoả mãn về đạo đức, tôi bắt đầu tìm kiếm về tinh thần những gì không đạt được về xác thịt. Đàn bà,  những phông màn bầy lâu nay che đậy cơ thể đàn bà gỡ bỏ dần hết lớp này đến lớp khác trước mặt tôi. Bây giờ đã gỡ nốt lớp cuối cùng, thì đàn bà chẳng còn gì thần bí nữa. Sự vật không còn sắc thái thần bí sẽ là sự vật tầm thường nhạt nhẽo. Vậy là có thể nói rằng, giờ đây cảm nhận của tôi về đàn bà đã khớp đúng với thực tế hiện hữu. Trạng thái mông lung có thể khiến tôi mặc sức tưởng tượng để từ đó thêu dệt nên một câu chuyện lãng mạn…
Tôi chợt hiểu - thực ra – tôi chỉ là kẻ chìm đắm trong ảo tưởng và khéo bịa chuyện dẫu rằng tôi đã đối phó được mọi nỗi trớ trêu của hiện thực đối với tôi, nhưng còn thiếu hẳn tinh thần tiến thủ chủ động.
Tôi còn chợt hiểu vai trò của văn minh chủ yếu không phải ở chỗ chỉ đạo hành vi của mình mà ở chỗ giải thích hành vi mình làm. Tôi đã không làm cái việc ấy, tôi đã tưởng tượng rất hợp lý hình ảnh cao lớn của mình. Nhưng nếu tôi làm cái việc ấy, tôi vẫn có thể giải thích hợp lý được, không những tha thứ được cho mình, mà thật sự có thể cho rằng đấy là hành vi của kẻ mạnh.
Trời sáng rồi, ánh sáng ban mai nhờ nhờ lọt qua tầng kính bẩn đục. Anh em tù đang ngủ say cả. Tôi thở dài não ruột: người có khả năng suy nghĩ thì sống bằng tư duy, kẻ không có khả năng suy nghĩ thì sống bằng bản năng. Nhưng bản năng làm người ta cứng rắn, còn tư duy lại khiến người ta yếu mềm.
Thật ra trên thế giới này, suy nghĩ hay không suy nghĩ cũng thế thôi! Tôi muốn vươn vai ngồi dậy  nhưng đã ngủ thiếp đi.
Hôm sau đại đội vẫn đi làm như thường. Trận mưa đêm qua,chẳng để lại bao nhiêu dấu vết trên cao nguyên hoàng thổ, ngoài mấy dòng chẩy tự nhiên do nước mưa xói mòn trên bờ dốc sườn mương. Đương nhiên, ruộng lúa, bãi lau và đầm lầy đều ngập nước. Khi đám cỏ nước xanh rờn đu đưa theo gió, giữa đám cành lá đang khua động, có thể thấy bọt nước trắng xoá khắp nơi. Chỉ khi mưa rào mới nổi bọt nước lên như vậy. Không khí ẩm ướt khác thường, gió như mang theo những làn mưa bụi mỏng như tơ. Màu nâu trên thân liễu và liễu quế hương càng thẫm đậm hơn, còn thân bạch dương thì sáng loáng như đúc bằng bạc. Trên bờ ruộng và lối đi, cóc ngồi chồm chỗm, ếch nhái thì lủi nấp vào cỏ, chẳng khác gì những nạn nhân vùng bão lụt, hoang mang hoảng hốt. Nhưng lối đi không hề lầy lội, bờ ruộng vẫn chắc chắn qua lại được. Đại đội lao cải vẫn đi làm theo con đường đất ấy.
Trời sáng rõ, tổ coi ruộng chúng tôi bò dậy, vác xẻng đi kiểm tra phần ruộng của mình, xem mưa có xói vỡ cửa tưới cửa tiêu không, bờ ruộng có chỗ nào sạt lở không. Đầu ong ong váng vất tôi lượn lờ quanh đám ruộng của mình, chẳng biết phải làm gì, miệng đắng chát, bụng không thấy đói tí nào. Nhìn vào nơi hôm qua mình đã đi vào, rồi lại chạy ra, lau lách bị rẽ sang hai phía như một cái cửa tò vò giữa bức tường cao. Cái cửa tò vò ấy đã dấy lên trong lòng tôi một niềm vui sướng, một nỗi buồn thương và một tâm trạng rối bời.
Khi tôi kiểm ra qua quít cho xong rồi về với căn nhà đất, đến giữa đường thì gặp đại đội ra đồng làm cỏ. 
                                Đêm mưa, ngày tạnh, trời ơi!
                                Cho tù lao cải rối bời ruột gan!
Một anh tù có cái mũi nhòm mồm, đi qua bên tôi đọc một câu ca dao bực bội hằn học. Đúng thế, giá ban ngày cứ mưa tiếp thì hay bao nhiêu, tù nhân sẽ được trùm chăn ngủ suốt ngày trong trại. Đằng này, sáng ra trời âm u, nhưng lại không mưa. Trong đội lao cải vẫn thường xảy ra chuyện bất ngờ, nhưng xưa nay không bao giờ gặp may. Làm cái thân lao cải, tốt nhất đừng có mơ tưởng hão huyền gì về cuộc sống: tôi mơ tưởng hão huyền, nên tôi đau khổ.
Ở đây không có tình yêu, chỉ có tình dục sinh lý.
Đội đàn ông đã đi qua hết. Ở tít xa phía sau là đội đàn bà. Bây giờ tôi mới biết mình đang đợi ai; tôi bỗng thấy trào dậy một niềm rạo rực bao nhiêu năm qua chưa từng thấy bao giờ.
Không khí xám một màu chì, những hạt mưa đọng trên cỏ xanh bờ mương cũng mờ đục. Nhưng tất cả đều như sáng lên vì được nhìn thấy cô ta.
Đám tù đàn bà đi phía trước đều tò mò nhìn tôi chằm chằm, qua khỏi chỗ tôi mới quay mặt đi, cô ta đi sau cùng. Sau lưng cô ta là ông cai vác súng, tay cô cầm liềm để cắt cỏ. Bờ ruộng nào cỏ rậm quá, dứt khoát phải cắt bằng liềm, vì chỗ ấy dù sao cũng không có lúa.
Tôi nhìn vào mắt cô ta, mắt cô ánh lên vẻ cười cợt chế giễu nhưng có nét gì đó dường như đã rất quen thuộc và thân thiết với tôi. Chúng tôi chào hỏi nhau qua ánh mắt “ Chào em” “Chào anh” “Em ăn sáng có no không?” “Cũng tàm tạm”.
Khuôn mặt cô rạng rỡ tươi tắn, không mảy may có vẻ gì hổ thẹn, thế là tôi lại đâm ra đỏ mặt. Cô cũng ăn mặc hệt như mọi người, quần áo tù đen ngòm không cổ, không túi, thẳng đuồn đuỗn như cái bao đựng bột mì; tay áo rộng thùng thình đung đưa theo nhịp cánh tay, những cánh tay nhỏ bé của phụ nữ, nhưng dưới mắt tôi, cô tựa hồ vẫn trần truồng, vẫn xinh đẹp như hôm qua.
Nhưng khi đi qua chỗ tôi, vào cái giây phút giáp mặt nhau thì bỗng nhiên cô vung liềm lên, khua qua mặt tôi một nhát, đồng thời buông một câu nói dữ dằn chỉ để mình tôi nghe rõ:
- Ước gì tao giết được mày chết tươi!
Tôi chưa kịp phản ứng, cô ngoay ngoảy đi liền. Ông cai đi sau cô miệng làu bàu một câu gì đó, rồi cũng đi luôn.
Nòng súng ánh lên nước thép xanh đen.       
Tôi chờ đợi mãi chỉ để được nghe một câu như vậy. Những lời chuyện trò trao đổi thầm lặng qua ánh mắt của tôi, hoá ra là do tôi tưởng tượng ra.
Cơm sáng xong tôi thẫn thờ ngồi trên bờ mương, gió đã xé rách lớp mây màu chì. Xa xa phía chân trời, đã le lói ánh nắng màu da cam. Trong làng bà con đã bắt đầu công việc hằng ngày, đã nghe tiếng uể oải “vắt riệt” giục bò thúc ngựa. Một con ngựa tía gầy trơ xương lao ra khỏi chuồng, ra đến đám ruộng củ cải thì đột nhiên khựng lại, cất cao đầu nghếch mũi hít hít trong gió sớm. Nước mương đã lên tới bắp chân tôi. Tiếng nước chẩy rì rào róc rách, như điệu nhạc rầu rĩ mến thương. Tôi bỗng uất ức trào nước mắt, tôi thấy mình bị tổn thương, cô ta cũng bị tổn thương. Nhưng đích thực bị tổn thương ở đâu thì chịu không biết đươc.
Từ đấy về sau, trong đội lao cải không bao giờ trông thấy cô ta nữa. Hơn ba nghìn mẫu ruộng lúa nước, hơn một nghìn người làm cỏ hai ngày là xong. Sang ngày thứ ba đại đội chuyển đến cánh đồng phía bắc nông trường bộ.
Tới lúc lúa chín vàng, tổ coi ruộng chúng tôi lại rút về đại đội. Đội đàn bà đã dọn đi trạm khác, chúng tôi chẳng còn dịp nào gặp nhau trên đường nữa. Tôi chỉ hỏi được tên cô ta thôi.
Cô ta tên Hoàng Hương Cửu.
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 05:21:17ĐạoCấy>
                                                                 PHẦN THỨ HAI.
                                                                 CHƯƠNG MỘT.
 
 
 
Tám năm sau chúng tôi mới gặp lại nhau.
Cũng vào những ngày trời nổi gió. Nhưng không phải là thứ gió ẩm ướt, mà là gió nóng khô trên sỏi đá; nơi sỏi đá chỉ có cỏ tranh nhọn, cỏ bạch cập, cây chút chít và táo gai chịu hạn sống được mà thôi. Đây không phải là ruộng lúa nước của đội lao cải, mà là chuồng cừu nông trường, mùi phân cừu chua loét quyện với mùi cừu hôi nồng nặc toả ra trong không khí mùa xuân. Thời gian đã trôi đi, cảnh huống đã đổi thay, nhưng thân phận chúng tôi hầu như chẳng có gì thay đổi.
Tôi dùng cào bốn răng thu dọn cỏ khô vương vãi trên phân cừu lại. Cỏ khô bay tứ tung những cọng cỏ quay tròn lông lốc trong nắng, chẳng khác gì đàn châu chấu bay kín trời kín đất. Phía xa xa sườn núi giăng đầy sương khói lung linh, khiến cho cả dẫy núi trùng điệp không còn khí thế tầng tầng lớp lớp, và cũng mất luôn cả cảm giác hình khối lập thể, chỉ còn như một bức tranh phong cảnh lồng trong khung kính. Chân núi hiện ra một con đường nhỏ ngoằn ngoèo đi xuống dưới, tới tận chuồng cừu này, rồi lại từ chuồng cừu kéo dài tới điểm dân cư. Từ đấy, nhập vào con đường đất ăn thông với nông trường bộ.
Cô ta đến chuồng cừu theo con đường nhỏ ấy.
Hôm trước tôi dồn cừu từ trên núi về, chuồng cừu đã hư hỏng, chẳng còn ra chuồng trại gì nữa. Chuồng không nhốt cừu, chẳng khác gì nhà bỏ hoang không có người ở, dột nát rất nhanh. Cột thì xiêu xiêu vẹo vẹo, xó xỉnh nào cũng đầy mạng nhện, máng cho cừu ăn cũng chẳng biết ai đã lấy mất. Máng bằng gỗ, lôi về nhà cũng đóng được cái tủ. Ở nông trường chỉ có đá ngoài bãi hoang là không mất cắp, còn những gì dùng được trong cuộc sống hằng ngày, thì chỉ nhãng đi một tí là biến ngay. Sắp sang mùa đông rồi, ngay những tấm đá xanh để xây dựng, cũng có người lấy cắp - Vại dưa nhà nào mà chẳng đè đậy bằng tấm đá xanh.
Máng chẳng còn, mà rui trên mái nhà cũng mất khá nhiều, thảo nào chuồng sụp mất một góc. Tôi đề nghị ông bí thư đội sản xuất của chúng tôi cho người đến giúp tôi sửa sang lại:
- Chuồng trại thế này, đâu dám để cừu chui vào, sập chết cừu đừng đổ cho tôi mưu đồ phá hoại.
Cừu quan trọng hơn người. Nếu bảo nhà mình hỏng, xin lỗi nhá, anh đừng hòng đội sản xuất cho người đến sửa chữa đâu. Nhưng cừu thì lại là chuyện khác, dẫu bây giờ đang là thời vụ mùa màng bận rộn, bí thư vẫn đồng ý cho một người nữ đến.
- Vừa đến đại đội ta đấy, vốn là ở nông trường Bãi Bạc. Cô ta không thích ở đấy nữa, thế là mình xin cô ta về đây – Ông bí thư nói rồi, nhe răng cười – cô ấy trước kia cũng đi lao cải, cùng ở một nông trường với cậu đấy
- Ồ! Tên là gì? – Tôi hơi giật mình.
- Hoàng Hương Cửu.
Quả đúng là thế thật.
Tù đàn bà cùng đi lao cải với tôi, dễ tới hơn trăm người, nông trường tôi đến cải tạo, trước sau có tới hơn một nghìn lượt người tù đàn bà, nhưng tôi nghĩ ngay tới cô ta. Tôi lại một lần nữa tin chắc rằng, mình có một thứ dự cảm thần bí, quá khứ, hiện tại, lúc nào cũng linh nghiệm. Có điều dự cảm tốt lành thì chưa linh nghiệm bao giờ. Có lẽ cái số tôi chẳng bao giờ gặp may cả.
Chỉ mong sao lần này được gặp điều may đặc biệt.
Tôi đứng nhìn cô từ chỗ ở của đội sản xuất tới lúc cô từ từ leo lên dốc, mới quay người đi, cô vác hai cây gỗ nhỏ và một cái xẻng. Gió ra sức thổi phần phật tấm khăn trùm đầu màu xanh trứng sáo của cô. Bộ quần áo màu xanh bộ đội – màu sắc hợp thời trang nhất lúc ấy - chật căng trên thân hình cô. Cô cúi đầu đi ngược gió tới chuồng cừu, quẳng các thứ trên vai xuống cái “rầm” một tiếng đứng dựa vào hàng rào gọi:
- Này, tôi làm ở đây có phải không?
Bên tai tôi lại vẳng lên – “ước gì tao giết được mày chết tươi!”. Giọng nói xa xăm ấy, giờ đây bỗng ở gần ngay bên cạnh. Đúng thế chính cái giọng ấy, buông tuồng mà lại nhõng nhẽo. Tôi tủm tỉm cười bước lại đón cô.
- Phải rồi. Nhưng cô mang rui này đến thì bé quá – Tôi đá thử mấy cây gỗ dưới chân cô – Như que củi thế này thì chống sao được chuồng.
- Kệ nó chứ! Vác cái bé thì nhẹ hơn – Cô bĩu môi, rồi lim dim mắt nhìn tôi. Tôi chờ đợi căng thẳng. Mấy giây sau cô hít vào một hơi dài:
- Ồ, anh đấy à?
- Phải tôi đây. – Tôi rất mừng là cô vẫn còn nhận ra tôi.
- Sao mà anh lại cũng ở đây? Mấy hôm trước anh làm ở đâu? Sao không thấy anh nhỉ? – Cô vừa trèo qua hàng rào vào trong chuồng cừu, vừa hỏi tôi. Tôi đỡ lấy nách cô, giúp cô vượt qua hàng rào. Giữa bầu không khí khô như rang này, chỉ có dưới nách cô mới thấy ấm áp chút hơi ẩm.
- Làm sao tôi lại đến đây ư? Số phận chúng tôi có khác chi những con cừu đã đánh số, không về nông trường như thế này thì còn biết đi đâu  nữa – Tôi cố kìm nén nỗi vui mừng và phấn khởi vụt lóe lên, nhưng bất giác lại hóa ra lắm lời - Đội lao cải chẳng phải vẩn có nguyên tắc đâu gửi đến thì lại trả về đấy mà lị, nông trường này đưa tôi đi lao cải, cho nên được thả ra thì lại trở về nông trường này. Suốt mùa đông tôi chăn cừu ở trên núi, hôm kia mới về đây. Thế còn cô sao lại đến đây?
- Chà, anh biết chăn cừu à? Giỏi thật đấy! – Cô đứng trong chuồng cừu, lấy tay vuốt lại quần áo, nhặt những cọng cỏ khô dính trên người. Cái kiểu ưa sạch sẽ gọn gàng chi ly tỉa tót này thật đúng chỉ phụ nữ mới có. Chắc hẳn mắt tôi có ánh lên những tia khác thường nhưng tôi vẫn nói bằng giọng tỉnh khô:
- Hề hề! Cái gì mà tôi chẳng làm được? Từ năm 57 đến giờ, mười tám năm trời, nếu đi học đại học thì tốt nghiệp năm trường rồi. Công việc nhà nông, tôi chỉ không biết lái máy kéo thôi. Họ không cho tôi lái, chứ cho lái thì tôi cũng biết!
Cô lại nhìn tôi, từ đầu đến chân một lần nữa, tôi tươi cười bảo:
- Kể cũng lạ thật đấy! ngờ đâu chúng mình lại gặp nhau ở đây.
- Lạ cái nỗi gì? Tôi chẳng thấy lạ lùng chút nào cơ. Cái loại người như cô với tôi thì cũng nhốt vào một chỗ thôi. Thế giới này vô cùng rộng lớn, nhưng với chúng mình thì lại vô cùng nhỏ hẹp. Mấy năm nay, chẳng cụng đầu thì cũng cụng tai, tôi quanh đi quẩn lại toàn gặp lại những người đã từng lao cải với mình. Như lần này đấy, có năm tay chăn cừu trên núi, đều điều ở các đại đội đến, trừ cái lão đội trưởng chẳng biết làm một tí gì, là bộ đội phục viên ra, bốn tay còn lại, đều ở nông trường lao cải của chúng mình đến cả; lại có tay trước ở cùng một trại với tôi nữa kia, cô bảo có lạ không? Thôi nào, cầm lấy xẻng, chúng mình bắt đầu công việc đi.         
Năm tháng dường như chẳng để lại bao nhiêu dấu vết nơi cô, cũng có thể trước kia tôi chưa từng nhìn rõ cô bao giờ. Giờ đây cô hẳn đã ngoài ba mươi, so với con người trong ký ức tôi, cô có phần đẫy đà ra, sắc mặt tươi tỉnh hơn trắng ngà mỡ màng. Trước kia cô cũng giống như mọi người thôi, mặt lúc nào cũng tối sầm; đuôi mắt và sống mũi đã thoáng hiện những nét chân chim li ti, nhưng tôi lại thấy khuôn mặt cô càng thêm dồi dào sức sống và tình tứ hơn nhiều. Trong mắt tôi cô hình như trẻ đẹp hơn xưa.
- Từ bấy đến nay, đã tám năm rồi đấy nhỉ - Cô giúp tôi chống đỡ cây cột – Tám năm trời anh vẫn ở nông trường này à?
- Không đâu – Tôi lấy xẻng xúc đất đổ vào chân cột, chúng tôi phải chống lại chỗ mái chuồng sập – Có điều tám năm ấy thật khốn khổ. Đầu tiên là chuyên chính một năm, sau đó ngồi tù hai năm. Lần đầu vừa được phóng thích thì bị cuốn vào &lt;&lt; Đại cách mạng văn hoá &gt;&gt;; lần thứ hai vào năm 70, lại cuốn vào &lt;&lt; một diệt ba chống &gt;&gt;. Còn cô? Tám năm nay cô sống ra sao?
- Tám năm đằng đẵng nhắc tới làm chi! – Cô cười nhại lại bằng một câu hát trong vở tuồng cách mạng mẫu mực &lt;&lt; Dùng mưu chiếm Uy hổ sơn &gt;&gt;*. Hai chân cô dận lên chỗ đất tôi vừa đổ vào chân cột mắt nhìn xuống đất – Tám năm ấy, lấy hai đời chồng, hai lần ly hôn, có thế thôi, may mà không có con.
Tôi vẫn cắm cúi làm, chẳng mảy may kinh ngạc lạ lùng . Tôi đã mắt thấy tai nghe bao chuyện bất ngờ. Cho nên, chẳng có việc gì khiến tôi sửng sốt nữa. Cô không sống như thế thì còn biết sống như thế nào nữa cơ chứ? Hạnh phúc là điều lạ hiếm có, bất hạnh mới là lẽ thường tình. Cô cũng không hề kinh ngạc trước nỗi bất hạnh của tôi, và như thế chúng tôi thật sự hiểu nhau. Cô không thốt ra lời an ủi nào càng hay, nhưng năm tháng đã qua tôi sợ nhất cái thứ đồng tình thông cảm xuýt xoa ngoài miệng như kiểu các bà già.
- Nói anh đừng cười – Cô nói tiếp – Anh hai lần ngồi tù, tôi hai lần lấy chồng. Thực ra lấy chồng có khác gì ngồi tù đâu, có khi lại khốn khổ hơn là ngồi tù ấy chứ. Lần đầu tôi dấu anh ta là tôi đã từng đi lao cải, suốt ngày tôi cứ nơm nớp, sợ lộ bem. Nhưng rồi anh ta cũng biết đòi ly hôn ngay. Lần sau ở nông trường Bãi Bạc, ngay từ đầu tôi đã nói hết với anh ta. Nhưng anh ta cứ vin vào đấy mà hành hạ tôi, tôi chịu không nổi phải ly hôn. Lần trước người ta bỏ tôi, lần sau thì tôi bỏ người ta, tỷ số một đều - hoà. Ôi, một đời người, chỉ có vậy thôi. Tôi sẽ không lấy chồng nữa.
- Cô quyết chí không lấy chồng nữa thì dễ thôi, như tôi quyết chí không ngồi tù nữa mới khó chứ - Tôi cười trêu cô - Lấy chồng hay không hoàn toàn do cô, ngồi tù hay không lại chẳng phải do tôi. Thế là dẫu sao, cô vẫn hơn tôi.
Chúng tôi gặp nhau bao giờ cũng tươi cười hỉ hả, thoải mái tự nhiên không khác gì bạn cũ thân tình. Tình bạn kể cũng thật lắm kiểu, có người vừa gặp mặt đã thân mật một cách rất tự nhiên, có người phải qua một thời gian để dần dần gần gũi gắn bó, như bánh xe răng khớp lại với nhau, không khớp thì không chạy được. Chúng tôi đều không lạ gì nỗi thống khổ của nhau, vì mỗi chúng tôi đều đã khốn khổ với số phận của mình rồi.
Nhưng chúng tôi thực sự thông cảm được với nhau, vì chúng tôi tự mình đã từng chịu đựng nỗi thống khổ ấy, dẫu về hình thức có khác nhau: một bên ngồi tù một bên lấy chồng, nhưng thực chất và mức độ cảm giác lại giống nhau.
Cọng cỏ khô bay tung lên một lúc, rồi lả tả rơi xuống, loang loáng khắp chuồng. Gió thổi cần kéo nước kêu cót két cọt kẹt, gầu múc va vào thành giếng bình bịch bình bịch. Tôi kéo mấy cái thùng nước dưới giếng lên, nhào một đống bùn, rồi cùng cô ta thong thả trát vách quanh chuồng. Thực ra ông bí thư không cho thêm người, thì mình tôi cũng sửa sang xong chuồng cừu. Nhưng kinh nghiệm nhiều năm làm công nhân nông trường đã dạy tôi, trước khi nhận một nhiệm vụ gì người ta giao cho anh, đầu tiên anh phải kêu ca, cho thêm người đến thì anh đỡ phần vất vả. Say sưa khi lao động và ranh ma khi nhận nhiệm vụ lao động, hai cái đó không mâu thuẫn nhau: lao động là cuộc sống của mình còn nhiệm vụ thuộc về người khác. Chỉ có công nhân làm thuê mới phân biệt được rõ sự khác nhau giữa hai cái đó.
Giờ đây, hai chúng tôi làm công việc của một người, nên rất thảnh thơi rất, ăn ý. Điều đó bỗng khiến tôi nghĩ đến: sự hưởng thụ lớn nhất mà nền kinh tế tiểu nông đem lại cho con người, chính là làm ăn có vợ có chồng! Toàn bộ nội dung thẩm mỹ của Văn học cổ điển Trung Quốc về nông thôn chẳng qua chỉ xoay quanh cái hạt nhân - chồng cầy ruộng vợ dệt vải - mà thôi.
Chúng tôi chuyện trò với nhau về những người thân của mình. Những người thân quen ở đây, không phải là những người thân đã mất, những người thân chỉ còn trong thế giới ảo mộng, mà là những người cùng cảnh cải tạo tù tội với nhau. Vì cuộc sống của chúng tôi chỉ gặp nhau ở mỗi một điểm ấy mà thôi. Bọn họ, có người lại bị tống vào trại cải tạo lần nữa, người thì chồng bỏ, kẻ thì vợ chê, người thì tự tử, kẻ thì bị giết…..quanh đi quẩn lại chúng tôi lại thấy số phận mình hãy còn khá; cuộc đời hãy còn đặc biệt ưu ái hai đứa chúng tôi. Chúng tôi thở than nhưng chúng tôi vẫn thấy vui hơn
- Vậy thì, sao cô không ở luôn nông trường Bãi Bạc, mà lại đến nông trường này? – Tôi hỏi cô – Có phải ở đấy công việc vất vả quá?
- Nông trường nào cũng thế thôi. Còn công việc cứ trông người ta mà làm – Cô nói và cố ý kéo lọn tóc trước trán ra khỏi tấm khăn lụa ni-lông rẻ tiền, dướn mắt nhìn vào đấy. Ở đây không có gương nếu có chắc cô đã chạy đi soi. Chính trong giây phút ấy, gương mặt cô quả thật duyên dáng một cách hồn nhiên như đang soi gương vậy. Nhưng đúng là tóc cô rất mượt và rất đen – Đã bỏ nhau mà còn ở cùng một nông trường còn ra gì nữa? Cứ đi thật xa cho rảnh, ông  bí thư chỗ anh là bạn chiến đấu với ông bí thư chỗ chúng tôi, thường đến chỗ chúng tôi luôn. Chính ông ấy xin tôi về đấy.
Ngừng một lát cô lại nói:
- Cái lão bí thư này của các anh chẳng ra gì đâu!
- Sao cô biết? Theo tôi ông ấy cũng khá đấy chứ!
- Hừ hừ – Cô cười mũi – Đàn ông ấy mà tôi gặp nhiều rồi, cứ trông con mắt lão ta thì biết thôi.
Tôi nghĩ bụng mắt ông bí thư này cũng chẳng có gì khác người. Cũng có thể xưa nay tôi không chú ý đến mắt ông ta chăng? Rồi tôi lại nghĩ ngay tới mắt mình, hay là cô ấy cũng đã nhìn thấy cái gì đó trong mắt mình rồi? Tôi nhớ lại cảnh tượng đã nhìn thấy tám năm về trước; tất cả còn rất rõ ràng sống động: như sự việc mới xảy ra hôm qua, có điều lúc ấy tôi chẳng biết mắt mình ra sao?
Trước mặt người đàn bà rất tự tin có biệt tài quan sát đàn ông này, tôi phải cẩn thận mới được. Tôi vội vàng nhìn lảng ra chỗ khác, xem xét mấy cây gỗ cô ta vác đến làm như có ý định sử dụng chúng vào một công việc gì đấy.
Lúc ấy bí thư cũng đã leo lên dốc rồi rảo bước đến chuồng cừu. Cũng may đúng lúc ấy chúng tôi vừa ngừng câu chuyện, cô ta tỉnh bơ đứng đấy, còn tôi giả bộ đang làm việc.
- Chà hôm nay hai người làm khá nhiều việc đấy nhỉ! – Hôm nay bí thư vui vẻ khác thường, thực ra chúng tôi làm chẳng được mấy tí công việc. Bí thư đi qua cạnh tôi đưa mắt nhìn, tôi cũng nhìn lại ông ta. Tôi không phát hiện những gì khác thường trong mắt ông ta, ông cười tít, những nếp nhăn dầy dạn phong sương hằn rõ ở đuôi mắt. Ông là người nhạy bén tinh nhanh, khi không có ai ở bên cạnh ông đối xử với tôi rất tốt. Đội này vốn mang tên &lt;&lt; Quỷ môn quan &gt;&gt;, là đội quản lý người chặt chẽ nhất trong nông trường. Sau &lt;&lt; đại cách mạng văn hoá &gt;&gt;, đổi thành đại đội vũ trang, phụ trách cai quản nhà tù của sư đoàn xây dựng nông trường đặt tại đây.
Sau sự kiện Lâm Bưu – ngày 13 tháng 9 – chính ông đến đây giải tán nhà tù này. Nhưng giống như ở ngoài xã hội thôi, tiếng là giải tán, chẳng khác gì bỏ nhúm muối vào cả một chum nước - cuối cùng - muối tan biến, cả chum nước đều có vị mặn đắng pha loãng, cả xã hội đều phảng phất mùi vị của nhà tù. Tôi nghe nói ông thường cảnh cáo những kẻ thích dùng nắm đấm và gậy gộc đánh người rằng:
- Các anh chớ dồn chó tới chân tường!
Tuy ông coi bọn chúng tôi như chó, nhưng kể ra trong những năm tháng kêu gào:
- Đánh cho chết những con chó đã lăn xuống nước!
Thì nói như ông đã là có tình người lắm rồi, từ ngày ông đến đây chế độ ở &lt;&lt; Quỷ môn quan &gt;&gt; có được nới lỏng ra ít nhiều, công nhân nông trường ngày nghỉ đã được ra khỏi cổng, thậm chí không xin phép cũng được; &lt;&lt; Quỷ môn quan &gt;&gt; không đến nỗi là &lt;&lt; Cửa ải của quỷ sứ nhà giời &gt;&gt; nữa.
Vẫn với cặp mắt cười tít, ông quay sang phía cô ta, đến trước mặt cô, đón lấy cái xẻng trong tay cô, nhấc thử nặng nhẹ rồi bảo:
- Vừa lĩnh à? Lưỡi còn nguyên chưa dẽ.
Nói rồi ông đặt lưỡi xẻng lên hòn đá ráp kê máng gỗ, cổ tay đè chặt cán xẻng, mài qua mài lại xoèn xoẹt. Chiếc áo xanh bộ đội đã bạc màu khoác trên người ông, hai ống tay áo vắt qua vắt lại như hai quả núm trống bơi, tư thế trông rất khoẻ, vóc người thấp chùn chùn mà lại ngồi xổm xuống, trông càng chắc nịch vạm vỡ. Mài một lúc khá lâu, ông đứng lên, lấy ngón tay cái miết thử lưỡi xẻng rồi trao cho cô ta:
- Này, có thế mới dễ làm, cô xúc thử xem có sắc không?
Theo lời ông cô xúc mấy nhát vào đống phân cừu, rồi nở một nụ cười thoả mãn:
- Vâng, đúng thế, dễ làm lắm.
Bí thư đã làm thay đổi nhanh chóng ấn tượng của cô đối với ông. Ông bí thư này giỏi thật! Tôi đâu có nghĩ ra việc giúp cô ta mài xẻng, chỉ khéo khua môi múa mép thôi.
Quay lưng lại họ, tôi buộc lại hàng rào bằng từng mẩu dây thép. Giờ đây bí thư thay tôi, cùng cô ta chôn cột, qua từng làn gió thổi tôi nghe họ trò chuyện với nhau:
- Bí thư Tào à, trước khi tới đây, ông ở đâu nhỉ?
- À! Tôi ở vùng cỏ mênh mông, đại thảo nguyên Xi-lin-cô-lơ, cô có biết chỗ đó không? Tôi làm lính kỵ binh ở đấy.
- À, nơi ấy đẹp quá chừng.
- Cô đến nơi ấy rồi à?
- Chưa tôi chỉ thấy trên màn ảnh. Thảo nguyên đẹp ơi là đẹp.
- Đúng thế đấy, thảo nguyên là một miền đất quý, nhất là về mùa hạ. Nhưng mấy trăm dặm liền không lấy một bóng người, càng không kiếm ra đâu đàn bà. Lính thì toàn đực rựa cả, nhiều lúc cô đơn quá chừng.
Ông ta mà cũng cảm thấy cô đơn ư?
- Sao ông không đưa vợ đi theo?
- Khi ấy tôi chưa có vợ. Hơn nữa tôi cũng chưa có tiêu chuẩn, tôi mới là trung đội trưởng. Trong bộ đội phải tiểu đoàn trưởng mới được đem vợ con theo.
- Chị nhà đẹp quá, có phải chị đang dạy ở trường nào đó không?
- Dào, đẹp gì mà đẹp! Tục ngữ có câu &lt;&lt; Đi lính được ba năm, thì nhìn lợn sề mắt cũng hấp háy &gt;&gt;, huống hồ tôi đi lính những tám năm liền?! Tôi phục viên về quê là lấy vợ ngay, kể gì đẹp với xấu!
Giọng bí thư Tào có phần chán chường. Cứ như bây giờ có lẽ ông không lấy người đàn bà như vậy chăng? Nét nổi bật của vợ ông là miệng rộng, răng vàng khè, hai má đỏ lựng, da sần sùi, nghe đâu do vùng quê ông độc nước. Hoàng Hương Cửu khen chị ta đẹp, là để lấy lòng chị ta. Đúng thôi, không lấy lòng chị ta thì còn lấy lòng ai nữa? Chị ta là vợ ông bí thư đại đội kia mà, học chưa xong tiểu học, viết cái tên mình cũng còn nguệch ngoạc thiếu nét, thế mà được dạy tiểu học ở trường học của nông trường cơ đấy.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-12 11:23:27ĐạoCấy>
Cô ta cũng khéo bắt chuyện với bí thư thật. Bí thư Tào thường ngày vốn không khệnh khạng kênh kiệu gì, bây giờ càng giải bày cởi mở. Ông bảo, ở đây thua ở quê ông, đã lắm gió cát, giao thông lại không tiện lợi, nhưng đến đây lại được làm cán bộ quốc doanh, lại ăn đứt so với cán bộ công xã ở quê nhà, thứ hai vợ ông và chị dâu ở nhà không hợp nhau cho nên mới đến đây. Nếu có cơ hội chuyển về đơn vị quốc doanh nào ở quê thì ông sẵn sàng về.
Cô ta tỏ ra lấy làm tiếc vế việc bí thư không có ý định ở đây lâu dài, bảo rằng anh em trong nông trường chúng tôi trông chờ vào lảnh đạo giỏi giang &lt;&lt; Tầu muốn chạy nhanh, cốt nhờ đầu máy &gt;&gt;. Cô lại còn suýt xoa: làm cán bộ sướng thật, điều đi chỗ nào cùng được. Chẳng thích ở nông trường thì đến nhà máy, chẳng thích ở nhà máy thì vào cơ quan nhà nước. Chứ làm cái thân công nhân nông trường chúng tôi, điều đi điều lại vẫn quanh quẩn ở nông trường thôi.
Bí thư Tào bảo cô ta cũng nên xoay xở để được điều về quê, bảo chỉ cần ở quê cô có đơn vị nào tiếp nhận, ở đây ông ta sẽ đồng ý cho đi ngay. Tôi liếc nhìn thấy ông xoáy cổ tay, làm như đang ký giấy. Cô ta bảo:
- Cám ơn ông lắm, nhưng tôi không muốn về quê, ra đi đất khách quê người đã phải tù phải tội, về quê chỉ tổ thêm nhục gia đình họ hàng.
Bí thư Tào bảo:
- Tội của cô thì to tát gì lắm đâu, thuần túy là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân thôi! Đấy là trước &lt;&lt; đại cách mạng văn hoá &gt;&gt;, chứ thời &lt;&lt; đại cách mạng văn hoá &gt;&gt; thì làm sao có thể bắt cô đi cải tạo ba năm được? Cô không thấy người ta tố giác trên báo chữ to đấy sao, khối ông cán bộ cao cấp mắc tội ấy đấy!
Tôi thì chưa biết cô ta mắc tội gì, bí thư nắm sinh mệnh chính trị, có quyền lục hồ sơ từng người tất nhiên là nắm được! Nghe khẩu khí của bí thư, chắc hẳn là cô ta mắc tội quan hệ nam nữ thôi. Chỉ có tội ầy là không phân biệt cán bộ cao cấp, cán bộ cơ sở hay dân đen, đều có thể mắc tuốt. Chứ còn tội đi theo &lt;&lt; đường lối tư bản chủ nghĩa &gt;&gt; thì cô ta đâu đã đến cái cỡ ấy.
Hai người cứ chuyện trò bên nhau, còn tôi thì thẫn thờ với công việc. Chẳng hiểu vì sao tôi đâm ra uể oải chán nản. Trời đã xế chiều, sương núi long lanh đã tụ thành một lớp mù xám bềnh bồng, lững lờ quanh đỉnh núi trọc. Gió cũng đã yếu đi, lãng đãng chờn vờn trên cỏ khô mùa đông năm ngoái và lá non mùa xuân năm nay. Vời trông về hướng nam, trên đường chân trời màu vàng đã xuất hiện đám bụi màu trắng, Chàng Câm đã sắp lùa cừu về. Cánh chăn cừu đi làm muộn hơn lại về sớm hơn, họ về đến nhà còn phải cho cừu uống nước, chăm sóc cừu ốm – bao nhiêu là việc.
Tôi chẳng cần giữ ý gì, mở toang ngay cửa chuồng cừu ra. Cửa chuồng chẳng khác gì chiếc quạt đã rã hết khung nan, dẹo dọ lắc lư mãi, như có ý nhắc: anh chị đi đi cho, cừu sắp về chuồng rồi.
Bí thư Tào quay đầu lại nhìn tôi, rồi đưa tay nhìn đồng hồ bảo:
- Hôm nay làn đến đây thôi – Ông ta đưa trả xẻng cho Hoàng Hương Cửu, và đi đến chỗ tôi.
- Này hút điếu thuốc. Trên tin tức tham khảo nói là hút một điếu thuốc giảm thọ năm phút, mình không tin. Con người ta làm sao biết mình thọ bao lâu? Năm phút ấy trừ vào chỗ nào?
Tôi bảo:
- Hút thì hút. Chứ tăng thọ năm phút hay giảm thọ năm phút, đối với tôi chẳng có nghĩa lý gì.
Tôi đốt thuốc trước rồi chìa lửa cho ông ta. Ông ta mồi lửa trên tay tôi, phả ra một hồi rồi nói bằng một giọng thâm trầm ý tứ:
- Với ai, thì cũng chẳng nghĩa lý gì. Bây giờ có ai sợ chết đâu.
Đúng thế, người Trung Quốc đâu có sợ chết, nhất là giờ đây sống có sung sướng cái nỗi gì! Có điều nói với ông ta phải có chừng mực, tôi hỏi:
- Lần này về đây, tôi ở ngay chuồng cừu? Hay về ở cùng với đại đội?
- Tùy anh – ông trả lời thoải mái – Chăn cừu hay không cũng tùy anh. Anh đã vất vả chăn cừu suốt mùa đông trên núi rồi, muốn nghỉ ngơi thì về đại đội. Muốn chăn cừu cho thảnh thơi, lại chăn cừu tiếp. Với lại anh vừa về, cho anh nghỉ ba ngày nhé được chứ?
- Được, vậy tôi về làm ở đại đội.
Ở nông trường sống cho qua ngày thì ở đại đội là hay nhất, làm theo giờ, nghỉ theo giờ, phép tắc theo giờ, bất kể làm ăn tốt xấu ra sao, tiền công cũng không thiếu một xu. Đây không phải đội lao cải, đi làm riêng lẻ cũng không được tự do hơn, ngược lại còn bị trói chặt vào công việc, chẳng ai dại gì bỏ ngày nghỉ ra thay thế cho anh. Nhất là loại chúng tôi, lại thành ra đâm đầu vào chỗ nguy hiểm. May mà tỷ lệ cừu sống cao, thành tích cũng chẳng đến anh, chẳng may tỷ lệ cừu chết cao, thì tội vạ dứt khoát đổ vào đầu anh.
Bí thư xoa hai tay, phủi ống quần ra về. Vẫn đi theo con đường nhỏ ban sáng, trở về khu nhà ở. Cô ta ôm xẻng tới chỗ tôi
- Bí thư gia ân cho tôi nghỉ hẳn ba ngày – Tôi nói - Lạ thật, hôm nay, ông ta ăn ở có vẻ phúc đức hẳn lên. Tôi thấy ông ta chuyện trò với cô cũng rất rôm rả.
- Hừ! – Cô ừ hử một tiếng – Bây giờ khác ngày xưa rồi. Lũ này cáo lắm đấy!
- Khác là thế nào?
Tôi trở nên nhạy cảm hơn. Suốt mùa đông tôi ở trên núi, chẳng được xem báo, chẳng được nghe đài, lẽ nào trong thời gian ấy thế giới đã có biến đổi gì chăng
- Tôi cũng không biết nói như thế nào, nhưng tôi thấy khác rồi – Cô nhìn đám bụi trắng lớn dần lên phía chân trời bảo - Nếu anh rỗi rãi, đến chỗ chúng tôi chơi. Chỗ tôi yên tĩnh lắm, có hai người thôi, tôi ở cùng một bà già….
 
_________
 
       *Tuồng cách mạng mẫu mực: tên gọi hợm hĩnh thứ tác phẩm văn nghệ khô cứng, sống sượng,tuyên truyền chính trị hồi Cách mạng văn hoá
                                                  
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-12 11:50:17ĐạoCấy>
                                                                              CHƯƠNG HAI.
 
 
Chàng Câm đã lùa cừu về. Nhập chuồng đếm đầu, cho uống nước, chia ngăn. Chuồng cừu vắng lặng bỗng chốc ồn ào khác thường. Nhưng không có người chỉ có cừu đang ầm ĩ - cừu chen cừu, cừu húc cừu, cừu con tìm cừu mẹ, chỉ có những ông cừu già ốm yếu nhìn đồng loại với ánh mắt của những người theo chủ nghĩa bi quan, lạnh lùng không hề nói năng gì cả. Xong rồi, tổng cộng hai trăm bảy mươi nhăm con, không thiếu, dĩ nhiên không thể thừa ra được.
Cừu đã lùa về chuồng rồi, thì chàng Câm cũng xong việc. Không phải không có việc cho anh làm, mà là ngoài việc chăn cừu ra, anh không làm việc gì khác nữa, cừu cũng không đếm, anh chỉ có độc một vai trò chăn cừu. Khi ấy anh lẳng lặng ngồi ở chân tường, đầu gục xuống, mắt nhìn đôi dép leo núi làm bằng lốp ô tô dưới chân mình. Tôi vừa xua cừu, vừa gọi anh:
- Này, anh về đi thôi!
- Về đi thôi!
-Tôi bảo anh về ăn cơm đi!
- Về ăn cơm đi!
Thôi cũng đành chịu! Anh ta nói, tất cả đều như tiếng vọng hồi âm, ai nói gì anh ta nhắc lại nguyên si. Tôi đành mặc anh ta, một mình bận bịu với công việc.
Lát sau vợ chàng Câm đến. Chị là một phụ nữ có đôi bàn chân to bè người Nội Mông, khuôn mặt bẹt xỉn vàng; khi mọi người ở đây đều mặc quân phục xanh, riêng chị vẫn mặc áo to vạt kiểu cũ. Chưa tới chuồng cừu, hãy còn trên con đường nhỏ, chị đã chửi toáng cả lên:
- Bà đã bảo sao mày không chết đi cho rồi. Ôi! Đồ gấu xám vô phúc! Ngày nào bà cũng phải ra lôi mày về, không lôi mày về, thì ngay cổng nhà ở đâu, mày cũng không mò ra được! Mày chết đi cho bà được nhẹ mình.
Tôi bảo:
- Đừng chửi nữa chị ơi. Anh ấy còn sống, thì tháng nào cũng còn đem về cho chị ba mươi ba đồng đấy. Đừng thấy anh ấy không mò ra cổng nhà mà coi thường, chăn cừu anh ấy còn giỏi hơn cả chó…..
Ba mươi ba đồng bạc ấy, báu lắm đấy! - Người đàn bà chân to lạch bạch bước vào trong chuồng – Cái đồ gấu xám này có đúng là vô phúc không? Ai bảo nó đem hơn một vạn đồng nộp lên trên cơ chứ? Mà đã nộp rồi thì thôi, chứ lại còn tiếc của, đến nỗi mang tật vào thân. Này! Cậu Chương, tôi ngẫm nghĩ mãi không ra được, con nguời này là thế nào nhỉ? Ôi! Cậu nói xem, con người này là thế nào nhỉ? Cậu học hành nhiều như vậy, cậu ngẫm nghĩ thấu đáo về con người được chứ….?
Chị ta đặt trọng âm vào từ &lt;&lt; con người &gt;&gt;. Chứng tỏ rằng điều chị ngẫm nghĩ không phải chỉ là chồng chị. Chị đang ngẫm nghĩ về bản tính của con người, bản chất của con người, ý nghĩa của con người. Ngày nay khi người ta, chỉ chú ý thuộc tính giai cấp của con người, thì người đàn bà chân to sống trên hoang mạc này, xem ra suy nghĩ còn sâu sắc hơn cả người chuyên viết nhưng bài văn phê phán lớn.
Nữ triết gia bất hạnh ấy lấy roi chăn cừu của chồng vụt cho chồng mấy cái. Chàng Câm bừng tỉnh, lẳng lặng bước theo sau chị, theo con đường nhỏ về nhà.
Cừu kêu be be ầm ĩ, nơi công nhân ở đã có những nóc nhà toả khói lam chiều. Rất nhiều nhà đun bằng cỏ bông, khói bốc lên có khi chợt vút thẳng lên cao, y như có ma quỷ trong đó.
Chàng Câm thực ra không câm. Những năm trước đây. Khi đang bừng bừng phong trào học thuộc &lt;&lt; ba bài cơ bản &gt;&gt; anh tuy chỉ lõm bõm vài chữ, nhưng nói như bà con ở đây, thì lại thuộc vanh vách như nước chảy. Anh xuất thân bần nông, năm đời liền, lý lịch trong sạch không một vết nhơ. Đi bộ đội, phục viên về nông trường này, vì không có văn hoá, nên không làm lãnh đạo đại đội như Tào Học Nghĩa được, chỉ vớt vát được tý tiểu đội trưởng mà thôi. Mà lại tiểu đội trưởng chăn cừu chẳng ma nào muốn làm cả. Anh xưa nay vui vẻ lạc quan tính tình dễ dãi, tám năm cầm súng cũng không thay đổi được thói quen nông dân của anh.
Nhưng thời kỳ đấu tranh bằng vũ lực sôi động ( vũ đâu ), thì anh đã từng sùi bọt mép nhảy thẳng lên đài ra sức đấu đá. Anh căm thù lũ ma vương quỷ sứ ấy hoàn toàn xuất phát từ một niềm thành kính với cách mạng: lãnh đạo đã bảo là bọn xấu thì chúng chắc chắn là bọn xấu! Thái độ căm thù của anh được hoàn toàn quần chúng ủng hộ; thái độ sùng bái cấp trên của anh được lãnh đạo yêu mến, cho nên năm nào anh cũng được bầu là phần tử tích cực học tập &lt;&lt; trước tác Mao Trạch Đông &gt;&gt;.
Mùa thu ba năm về trước, theo lệ thường, cừu của nông trường dồn lên thả ở bãi cỏ rộng sườn núi. Anh dẫn bốn người của các đại đội tập hợp lại đi chăn cừu. Chuồng cừu xây bằng đá ở bên đường cửa khẩu thông qua Nội Mông, chính là chỗ cách đây không lâu, tôi đã ở đấy trở về. Sườn núi toàn đá sỏi, những đường mương thoát lũ tự nhiên do nước lũ xói mòn, cũng toàn là đá xám đen. Nhưng cỏ mọc rất tốt, nghe nói, cừu ăn được thứ cỏ mọc ở kẽ đá đó sẽ rất khoẻ mạnh, vì cái hồn thiêng ngoan cường dẻo dai của cỏ sẽ chuyển sang cho cừu. Đấy là nguyên nhân mỗi năm một lần, chúng tôi phải lùa cừu lên núi đá. Một hôm người tiểu đội trưởng chưa trở thành &lt;&lt; chàng câm &gt;&gt; ấy, lùa hơn hai trăm cừu lên chăn ở sườn núi hoang, đang đi, chợt anh phát hiện thấy trên đá sỏi, một bọc vải bạt màu xanh bộ đội căng phồng, mở ra xem, thì toàn là tiền nhân dân tệ mới cứng buộc từng bó tướng. Ở chốn hoang vu như đại lục trên mặt trăng, thì gói tiền đó chỉ có thể là từ trên trời rơi xuống mà thôi.
Suốt cả buổi chiều anh ngồi trên sườn núi, người run lên, đếm mãi cũng không rõ bao nhiêu tiền nữa. Chỉ biết là nhiều, nhiều lắm! Về tới chuồng cừu cất giấu bọc tiền xong, anh lăn ra ốm, khi thì luôn miệng lẩm bẩm một mình, khi thì lắp bắp môi mà không ra tiếng, cứ như là đang lẩm nhẩm đọc hàng chuỗi con số thiên văn. Cừu dĩ nhiên là anh không chăn được nữa, nhưng anh là tiểu đội trưởng, nên người khác phải chăn thay anh.
Ít lâu sau, phòng Công an huyện cho người đi dò xét khắp nơi, cuối cùng cũng lần tới chuồng cừu này. Hoá ra là tiền của người Mông Cổ đánh rơi, họ lùa một bầy ngựa đem bán ở vùng ven sông Hoàng Hà, bán được tất cả hơn một vạn đồng. Trên thảo nguyên bao la này không có bưu cục, họ buộc gói tiền mặt vào sau yên ngựa để mang về. Nhưng cả đám người Mông Cổ này đều say rượu tí bỉ, khi đi ngang qua cửa khẩu, gói vải bạt bị rơi lúc nào họ cũng không biết. Công an huyện căn cứ theo con đường họ trở về, điều tra từng chặng từng chặng một, cuối cùng thì khẳng định rằng những người sống ở chuồng cừu, giữa một vùng rộng lớn mấy chục dặm không một bóng người này là khả nghi hơn cả.
Cái chuồng cừu lẻ loi heo hút; xưa nay chưa bao giờ đông người đến như vậy. Cảnh sát mặc sắc phục gọi từng người chăn cừu tới bên chiếc xe giép để xét hỏi. Chàng Câm là tiểu đội trưởng, bần nông chính hiệu năm đời thứ thiệt, lại đang mắc một chứng bệnh quái đản, chẳng ai nghi cho anh ta cả. Nhưng vừa trong thấy người cầm súng, anh ta đã tái mặt sợ hãi người run như cầy sấy, chưa ai hỏi đến, anh ta đã tự phun ra hết. Mấy người cảnh sát moi gói vải bạt của người Mông Cổ vùi trong đống phân cừu ra, đếm lại thấy không thiếu một xu.
Chàng Câm chỉ trong một đêm thành nhân vật nổi tiếng. Ngoài danh hiệu phần tử tích cực học tập &lt;&lt; trước tác Mao Trạch Đông &gt;&gt; anh đã trở thành nhân vật điển hình ngành nông trường toàn tỉnh, chiến sĩ thi đua, đảng viên cộng sản ưu tú. Khi cán bộ tuyên huấn về giúp anh viết bản thành tích, anh cười hề hề bảo:
- Tiền nhiều quá! Giá chỉ độ mấy trăm thôi thì tôi đã giữ lại để tiêu rồi.
Không có tiền trong tay, thì bệnh anh cũng hết, và anh nói đúng sự thật. Cán bộ tuyên huấn tất nhiên không thể viết đúng như anh kể, mà trái lại viết cho anh một bài phát biểu hoa hoè hoa sói xúc động lòng người bằng những lời lẽ sẵn có trên báo chí. Thế là chàng Câm được về Bắc Kinh, tham dự một cuộc đại hội đại biểu những nhân vật tiên tiến toàn ngành nông trường, lại còn được gặp các vị thủ trưởng cỡ bự ở trung ương nữa kia.
Ở Bắc Kinh về, gặp ai anh cũng bảo, trước kia mình thật là ngốc, cứ nghĩ có tiền thì chẳng biết tiêu như thế nào, đến Bắc Kinh mới biết tiền mua được mọi thứ; ở bách hoá đại lầu phố Vương Phủ Tỉnh, muốn mua gì có nấy. Có tiền thì cuộc đời mới sung sướng được. Chuyện đến tai lãnh đạo nông trường, anh bị gọi lên chỉnh cho một trận, bảo rằng nếu anh còn tiếp tục nói lung tung bậy bạ nữa, thì sẽ quy kết là &lt;&lt; kẻ thù giai cấp &gt;&gt;. Rời nông trường bộ ủ rũ ra về hôm trước, thì hôm sau anh lập tức trở chứng thành kẻ lú lẫn ú ớ như bây giờ.
Thoạt đầu người ta tặng anh biệt hiệu chàng Ngốc nhưng khi ấy &lt;&lt; chàng Ngốc &gt;&gt; lại chính là từ khen ngợi biểu dương đầy vinh dự, chẳng hạn như nhân viên kỹ thuật thủy lợi tài giỏi hơn người, sáng tinh mơ hôm nào cũng dậy quét dọn sạch sẽ nhà xí, khốn khổ lắm mới trút bỏ cái vỏ &lt;&lt; trí thức &gt;&gt; giành được danh hiệu vẻ vang &lt;&lt; chàng Ngốc &gt;&gt;, và được vào đảng. Thế nên mọi người cảm thấy gọi anh &lt;&lt; chàng Ngốc &gt;&gt; là không thoả đáng, về sau theo đặc điểm bệnh trạng của anh mới đổi thành &lt;&lt; chàng Câm &gt;&gt;.
Anh cứ lì lợm lầm lũi như vậy, chẳng ai biết được anh đang nghĩ gì? Còn mọi người cứ gặp anh là lập tức cảm thấy bóng đen dày đặc choáng ngập tâm hồn. Bi kịch của người khác đều do các phong trào đấu tố chính trị gây ra, riêng bi kịch của anh lại chẳng dính dáng gì với các phong trào chính trị. Điều đó khiến người ta chợt nhận ra rằng dưới lớp vỏ bọc của khẩu hiệu chính trị, trong lòng những con người bình thường nhất, vốn sẵn có một thứ dục vọng ích kỷ dễ sợ, khao khát cuộc sống sung sướng, mà chính trị không thể nào chinh phục được.
Dục vọng ấy như ma quỷ náu mình trong góc chết của mỗi trái tim, bất cứ phong trào chính trị nào cũng không đụng tới nó được. Ngược lại, nó có thể bất ngờ chui ra xoá sạch sành sanh mọi ảnh hưởng mà chính trị đã tạo ra được cho con người. Qua chàng Câm mọi người tự kiểm điểm bản thân, thấy trong lòng mình ngoài tính đấu tranh &lt;&lt; cách mạng không ngừng &gt;&gt; ra, dường như có một thứ gì đó không nói ra được, có khác chăng là chàng Câm thì công khai hoá nó mà thôi. Cái ý nghĩ ghê tởm nặng nề ấy, giống hệt dòng nước nhỏ chảy ri rỉ dưới tầng băng rắn, gặm nhấm dần dần tầng băng đông cứng ở trên.
Điều mà nữ triết gia chân to ngẫm nghĩ có lẽ chính là nó đấy chăng?
Chàng Câm theo thói quen vẫn cúi gầm mặt, đi theo sau người đàn bà chân to đang cầm roi trong tay. Bóng họ chìm hẳn vào trong lớp mây chiều màu xanh nhạt nơi khu nhà ở của công nhân. Sương khói ma quỷ phun ra đã bao phủ toàn bộ xóm làng. Cừu đã im lặng nằm xuống, lão cừu già theo chủ nghĩa bi quan nằm vào một xó, não nuột thở than, buông thõng bộ râu dài đầy vẻ ưu thời mẫn thế. Tôi làm xong mọi công việc phải làm, ngồi lên phiến đá ráp ban nãy bí thư Tào mài xẻng, châm thuốc hút. Một nỗi xót xa phiền muộn khó tả lại dâng lên trong lòng tôi như mọi ngày. Nỗi niềm này đến với tôi chính xác như bộ máy đồng hồ. Mặt trời lặn, hoàng hôn, cừu về chuồng, ráng chiều, gió lắng xuống, hoang mạc im lìm, cồn cát bị không khí chuyển động bào mòn, những ngọn cỏ lác trơ trọi vươn cao, những bụi gai lá cành xoắn xuýt, tất cả đều mờ dần và loãng đi.
Và tự đáy lòng tôi dần dần hiện rõ nỗi hiu quạnh cô đơn. Ngày cũng như đêm bầu bạn quanh tôi chỉ có cừu, với chàng Câm. Không gian mênh mông, không tìm đâu thấy một dẫn chứng thực tế nào để chứng minh cho những tư tưởng tôi học được trong sách vở. Đây hình như không phải xã hội loài người, mà tựa hồ như một cục bùn bé tí xíu văng ra từ xã hội loài người đang quay tít với vận tốc chóng mặt. Cục bùn ấy không còn liên hệ với xã hội loài người nữa, những vẫn mang bản chất của xã hội loài người. Trạng thái trì trệ này thường khích lệ tôi phải hành động, và cũng thường khiến tôi nản lòng thoái chí, nhưng nhiều hơn là những khi nó khiến tôi sợ hãi; năm tháng và trí lực, cứ thế lặng lẽ im lìm rữa nát hết sạch; rút cục tôi sẽ biến thành một con người vô dụng, lặng lẽ biến thành một thứ &lt;&lt; chàng câm &gt;&gt; lúc nào không biết.
Anh dám bảo rằng đầu óc chàng Câm không hề suy nghĩ gì chăng? Nhưng chàng Câm chung quy cũng chỉ là &lt;&lt; chàng câm &gt;&gt;. Thế giới này đúc bằng thép không còn tình cảm, không còn tri giác, không thể nào giao lưu thầm lặng với anh. Anh phải tác động tới nó, thúc đẩy nó, chí ít thì cũng phải thét lên, gào lên, dù chỉ là một tiếng gào thét đang bị bóp nghẹt.
Thế nhưng hôm nay, khi tôi ngắm nhìn mặt trời vàng vọt từ từ lặn xuống sau đỉnh núi xanh, trong cảm giác hiu quạnh và cô đơn, tựa hồ còn có một nỗi niềm khác nữa, ve vuốt nhè nhẹ khiến tôi nhồn nhột. Thế là tôi đã gặp lại cô ấy rồi! Phải chăng đây là ý trời?! Bao năm nay rồi những cô gái đã quen biết trước kia đều dần dần bị lãng quên đi. Hàn Nguyệt Bình, Mã Anh Hoa, đều không thể gặp lại được nữa, nên tôi không nghĩ nhiều đến họ nữa. Với tôi, đều đã thành hồi ức không bao giờ phai mờ. Với riêng tôi có khi nhớ lại vẫn còn thấy hoài nghi: có đúng là sự thật không nhỉ? Thế là lòng tôi trở nên khô cứng vì thiếu dòng nước mát của tình yêu. Nhưng nét khắc mạnh mẽ của cô đã để lại trên tảng đá cứng lòng tôi một dấu vết khó phai mờ. Bức tranh cho tới nay vẫn sống động tươi rói: một tấm thân trần truồng với những đường cong tuyệt mỹ, đã bao lần khơi dậy tình dục và ham muốn rất đàn ông của tôi, khiến tôi biết rằng, tôi dẫu là một thân tù cỏ vê khoác cái vỏ ngoài màu đen, màu lam. hoặc như lúc nãy đây là màu lục đi nữa thì rốt cuộc tôi vẫn là thằng đàn ông. Trong cái chung đã bóp chết mọi cái riêng, ít ra còn giữ lại được cái đặc trưng giới tính. Nét khắc mạnh mẽ ấy của cô, lời kêu gọi thầm lặng mà táo bạo ấy, và lúc ấy tuy tôi chưa có được phản ứng dũng cảm như cô, nhưng dường như tôi đã bị cô hãm hiếp rồi. Từ ấy tôi đâu còn trinh trắng nữa, mặc dầu giờ đây tôi đã ba mươi chín tuổi đầu tôi vẫn trai tơ.
Những vòng tay ôm đằm thắm, những nụ hôn nồng cháy xưa kia, đã hoàn toàn bị va đập tan nát bởi cơ thể đầy căng chỗ nào cũng rậm rật run rẩy của cô; sáng sớm đỏ tươi đã xua tan sương mai màu hồng nhạt. Từ lúc ấy trở đi, tôi biết rằng, hễ nghĩ tới đàn bà, tôi lập tức tưởng nhớ tới cô, chứ không phải ai khác nữa. Sự trinh trắng của tôi đã mất ở nơi cô ta! Tôi không tin rằng cô chỉ có thể thoáng hiện trước mặt tôi, rồi sẽ không bao giờ gặp lại bóng dáng cô nữa. Tôi mong đợi rất viển vông rằng, cô sẽ xuất hiện trong cuộc sống của tôi, và giờ đây cô đã hiện ra trước mắt tôi! Phàm sự vật xuất hiện hai lần, chắc chắn là có mang một ý nghĩa nào đó. Đấy là số phận.
Tôi cũng biết rằng, vốn không quen với những tình cảm dịu dàng thầm lặng, tôi đã sớm cầm tù bởi tình dục đầy thú tính; thay đổi lối sống sẽ làm thay đổi cách yêu đương, thay đổi ý định yêu đương và thay đổi cả quan điểm thẩm mỹ yêu đương nữa. Tôi đã giống hệt như chàng Câm, lúc nào cũng ở trong một trạng thái mâu thuẫn triền miên giữa một bên là tư duy lý tính, trung thành với đức tin, chịu sự ràng buộc kiềm chế của đạo đức văn minh, với một bên là bản năng phi lý tính, khát khao được ôm trọn một xác thịt cụ thể, tươi rói, sống động, chẳng cần biết xác thịt ấy là của ai, miễn là một kẻ khác giới – chính mắt tôi trông thấy và khơi dậy được bản năng tình dục của tôi.
Ráng chiều đã tắt hẳn….
Hút hết điếu thuốc, thì loa phóng thanh trên các nóc nhà ở của công nhân vang lên. Cái của nợ bằng tôn xám ấy, ngoác cái miệng khổng lồ đen ngòm của nó ra, giữ vai trò trung gian duy nhất nối liền anh em công nhân nông trường chúng tôi với thế giới bên ngoài. Nhưng ngày ngày nó cứ nhai đi nhai lại mãi một giọng điệu nhàm chán, chứng tỏ thế giới này hoàn toàn trì trệ. Chỉ có thời gian vẫn tiếp tục trôi, bởi thế những chiếc loa chỉ còn một chức năng duy nhất là báo giờ: đã đến giờ xuống nhà ăn lĩnh cơm rồi. Tôi đứng dậy, cuộn chăn đệm lại vác lên vai, đóng cửa và cũng chẳng nhờ người trực ca đêm nữa, tôi cắm đầu chạy thẳng xuống sườn đồi.
Mặc mẹ nó! Cần đếch gì! Cơm xong đi gặp cô ấy thôi.
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 05:39:39ĐạoCấy>
                                                                             CHƯƠNG BA.
 
 
Tôi ngồi xổm ngay cửa nhà ăn, lùa xong suất cơm, một bên tay kẹp cái chậu ăn, vai kia vác chăn đệm, tôi về nhà ngủ tập thể nơi tôi đã ở trước kia, vất bịch chăn đệm lên sạp gường:
- Ớ này, còn hai cậu nữa đâu?
Nhìn hai sạp gường trống trơn tôi hỏi Chu Thụy Thành đang ngồi xếp bằng tròn trên gường. Thành có cái mồm chuột chù nhưng mặt mũi trông cũng thanh tú. Đang kéo nhị anh ta ngẩng đầu lên bảo:
- Lập gia đình hết rồi, chỉ còn trơ lại mình cậu độc thân thôi đấy.
Anh ta nhếch mép cười có ý lấy lòng, nhưng lại cố tình tỏ vẻ khiêm nhường rất bề trên. Chỉ có kẻ độc mồm độc miệng mới có kiểu cười ấy. Tôi độp lại ngay:
- Vẫn cứ hơn anh đi: tôi thì không có vợ, còn anh thì có vợ mà chẳng được về với vợ!
Anh ta im lặng, lại cúi đầu kéo khúc &lt;&lt; Lưu Dương Hà &gt;&gt;. Ngón nhị của anh ta khá mùi mẫn, tiếng nhạc buồn bã sâu lắng, nhưng anh chỉ chơi bài &lt;&lt; Lưu Dương Hà &gt;&gt; mà thôi, chưa bao giờ chơi một bài nào khác.
Anh là &lt;&lt; vật tư dôi thừa &gt;&gt; trong nhà tù, nguyên là trưởng phòng cung ứng của sư đoàn xây dựng nông trường. Năm ấy để nhét đầy nhà tù, người ta lôi từ sư đoàn bộ và nông trường các trung đoàn về không biết là bao nhiêu là ma vương quỷ sứ. Chúng tôi đã từng bị giam chung một chỗ. Về sau xoá bỏ nhà tù, thì tất cả bọn ma vương quỷ sứ đều trở về đơn vị cũ, có người được trở lại nguyên chức. Riêng có anh không được thả, vẫn ở dãy nhà độc thân của đại đội này, cùng với cánh công nhân nông trường không vợ con chúng tôi, đã được mấy năm rồi, mà chẳng ai biết thân phận anh ta là thế nào..
Tiếng đàn vang vọng rập rờn trong bốn bức tường đất, tôi giải chăn đệm và ngả người xuống giường, ngắm nhìn cái mồm chuột chù và chòm râu nhọn hoắt của anh ta. Trời tối dần, vóc dáng già nua của Thành cứ nhỏ dần đi, cuối cùng chỉ là một bóng đen. Chỉ có dòng nước trong vắt của con sông Lưu Dương rì rầm chảy, như cố sức thoát ra khỏi căn nhà nhỏ rách nát tiêu điều này, qua các cửa sổ và khe cửa chính mà róc rách tuôn chảy ra ngoài. Căn phòng quạnh quẽ, không khí quạnh hiu, cả tiếng nhạc cũng thật cô quạnh.Tôi chợt hiểu tiếng đàn của anh &lt;&lt; Lưu Dương Hà &gt;&gt; có phổ lời vào thì mới trở thành ca khúc ca ngợi lãnh tụ vĩ đại, chứ riêng làn điệu thì chỉ thuần túy là điệu dân ca Hồ Nam. Âm vực vừa phải và cái quãng nhẩy tương đối hẹp ấy, thể hiện ra một cách nền nã nuột nà làn điệu trữ tình ưu uất sầu tư.
Tôi ngồi dậy, ý tứ hỏi anh ta bằng giọng của người có lỗi:
- Nhớ nhà lắm phải không?
Trong bóng tối, chỉ thấy anh ta hai mắt thẫn thờ, nhìn đăm đăm vào bản nhạc hay một người, một vật nào đó ở trước mặt, mà mắt tôi không thể trông thấy được. Một lát sau, anh mới thận trọng nhẹ nhàng đặt cây nhị xuống, thở dài não ruột, nhưng lại trả lời khác hẳn:
- Có nhớ nhà đâu, chỉ vì công việc nặng quá nên làm mệt đấy thôi!
Anh chỉ dám lén lút gửi chút tình cảm riêng tư vào điệu nhạc ca khúc cách mạng chẳng khác nào tên buôn lậu, gửi món hàng trái phép của mình quá giang trên những chuyến tàu xe hợp pháp, để chuyên chở tới nơi hắn cần đến. Giá mà anh dám bộc bạch những lời thổ lộ can tràng, thì chúng tôi đã chuyện vãn được với nhau rồi. Anh đã tốt nghiệp một học viện quân sự nào đó của Quốc Dân đảng, vốn học thức khá sâu. Nhưng anh chẳng chuyện trò tâm sự bao giờ, thường ngày cũng ít nói ít cười. Có lần tôi gọi đùa nhà ngủ tập thể này là &lt;&lt; ủy ban độc thân &gt;&gt; nghe vậy anh hãi hết cả hồn, tới một xó xỉnh hẻo lánh, anh mới thận trọng nhắc nhở tôi:
- Trời ơi! Cậu Chương, sao cậu lại cả gan gọi là ủy ban gì thế hả. Lãnh đạo họ chúa hay để ý tới việc có tổ chức này nọ đấy, người ta mà nghe được thì nguy to chứ chẳng chơi!
Mà nào anh có mắc bệnh tâm thần gì đâu. Anh thường ngồi úp mặt vào tường nắn nót viết đơn khiếu nại bằng nét chữ chân phương thật đẹp.
- Thế nào? Vẫn chưa có hồi âm ư? - Tiếng nhạc quạnh hiu khiến tôi thông cảm đồng tình với anh. Tôi lại hỏi:
- Suốt mùa đông tôi ở trên núi, cứ tưởng anh được về nhà lâu rồi kia đấy. Té ra anh viết nhiều như thế mà vẫn không ăn thua gì.
- Sao lại không ăn thua?
Anh nói nghiêm túc - Chỉ tại trên chưa nhận được đấy thôi. Chắc là bị người nào ách lại ở đâu đó. Cậu phải biết mình là người đã từng lập công đấy.
- Anh đã lập công ư? – Tôi tò mò hỏi – Anh lập được công gì thế? Hay là sau khởi nghĩa, anh còn tham gia chiến đấu trong Giải Phóng quân.
- Ôi cậu đâu có biết – Anh chán chường nằm xuống, dường như để nhớ lại dĩ vãng - &lt;&lt; Đại cách mạng văn hoá &gt;&gt; mở màn, lúc ấy chúng tớ tập trung học tập ở sư đoàn bộ, tài liệu về quá khứ của rất nhiều người ở bộ đội khởi nghĩa của chúng tớ trước kia, đều là do tớ cung cấp…..
Nghe vậy là tôi hiểu ngay tất cả: những phần tử Quốc Dân đảng trước đây đã theo về với cách mạng bị anh tố giác cung cấp về quá khứ cho cấp trên, bây giờ không biết những ai đã được minh oan, khôi phục chức vụ ở ngành nông trường. Người đó đã ách lại giữa chừng những lá đơn khiếu nại của anh ta.
Chính công lao tố giác của anh đã quay lại làm hại anh. Nhưng bản thân anh là người trong cuộc lại chẳng biết gì.
- Tốt thôi anh cứ viết cho hay vào, cho nhiều vào. Thế nào cũng có ngày cấp trên nhận đươc, dứt khoát đến ngày anh được về - Tôi an ủi anh.
- Hừ! Hãy đợi đấy!
Tôi nhanh chóng tụt khỏi giường đi ra ngoài. Tôi đã gặp rất nhiều kẻ thích đi tố giác người khác. Chủ nhiệm ban doanh nghiệp chỉ là một tên trong số đó thôi, và đây lại thêm một tên nữa! Nhưng bây giờ thì hình như anh đã bỏ nghề tố giác rồi, chỉ chuyên viết đơn khiếu nại thôi. Lúc đầu thì đi vu cáo hãm hại người ta, về sau lại đi thanh minh khiếu nại cho mình. Đấy cũng là một kiểu số phận của con người!
Trong đêm tối bỗng hôi nồng nặc mùi hố phân khăm khẳm.
Phải chăng sắp trở trời chăng?
Nhưng cũng phảng phất hương thơm thanh khiết mát lịm cả tâm can của hoa liễu quế huơng.
Đã cuối xuân rồi còn gì.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-12 11:56:03ĐạoCấy>
Trong nhà họ lắp một bóng đèn to quá mức quy định, tôi bước vào mắt lim dim vì chói.
- Xin chào các vị đang làm gì đấy? Đánh cờ à?
Cô ta ngẩng đầu lên, cười khúc khích.
- Cờ bạc gì đâu, chẳng qua bà Mã nhờ tôi viết hộ lá đơn khiếu nại.
Hai người ngồi đối diện nhau, cùng cúi xuống một chiếc rương gỗ cũ kỹ, trên rương là một tờ giấy trắng. Lúc ấy tôi mới nhìn thấy tay cô đang cầm cây bút.
Bà Mã bảo tôi:
- Cậu Chương ơi! Cậu đã đến, tôi thấy phải nhờ cậu viết hộ thôi, cậu văn hóa cao mà.
- Xin lỗi bà, tôi chưa hề viết đơn khiếu nại hộ ai bao giờ - Tôi bảo - Nếu bà viết đơn đăng ký kết hôn, thì tôi sẵn sàng viết hộ ngay. Bảo đảm là trên sẽ phê chuẩn.
Bà Mã mắng ngay:
- Đồ quỷ sứ cái nhà cậu này! Tôi mà kết hôn ư? Ai người ta lấy mà kết? Có mà hết hồn ấy chứ.
Tôi cười hì hì bảo:
- Kết hôn với Chu Thụy Thành ấy. Vợ lão ta bỏ đi với người khác rồi, có lẽ lão ta chưa biết đâu. Hai người đẹp đôi đấy, lão ta cũng đang viết đơn khiếu nại mà.
Bà Mã cũng cười:
- Cái cậu này, chẳng bao giờ nói chuyện cho nghiêm chỉnh cả. Cậu em của tôi ơi, cái đời cậu chỉ khổ vì cái mồm thôi, cậu em ạ!
- Tôi nói thế không đúng ư? – Tôi suồng sã ngồi lên giường bà Mã, giường bà đối diện với cô ta – Tính tôi xưa nay rất nghiêm túc đứng đắn. Có điều thời buổi này chuyện đứng đắn nghiêm chỉnh người ta coi như trò đùa, còn chuyện bậy bạ hoang đường lại coi là đứng đắn - Với lại tôi trước sau năm lần mắc tội, có lần nào mắc tội vì lỗ miệng nói ra đâu, mà vì tay tôi viết đấy chứ! Bà xem, người như tôi, bà còn nhờ viết đơn khiếu nại cho bà sao được? Biết đâu càng viết càng tồi tệ, rồi bà lại bị bắt giam mất thôi.
Bà Mã lên tám tuổi đã về làm con dâu nuôi dấm sẵn trong nhà địa chủ nhỏ ở Sơn Đông, được tám năm thì quê bà được giải phóng. Người chồng hơn bà mười tuổi trong chiến tranh loạn lạc, không biết chạy đi đâu mất. Đoàn trưởng bần nông ở quê bà, đem lòng yêu bà, nhưng cô dâu hờ mười sáu tuổi đầu ấy lại dại dột chối từ hạnh phúc. Ông đoàn trưởng bần nông tức quá hoá thù, chờ mãi tới năm 58 &lt;&lt; đại nhảy vọt &gt;&gt; mới kiếm được dịp tốt trả thù chụp cho bà cái mũ con nhà địa chủ. Bà đau khổ uất ức trốn đến cái nông trường ở một tỉnh xa xôi heo hút này, làm công nhân nông nghiệp.
Tờ lệnh truy nã đuổi sát sau lưng bà cho tới năm 1963 trong phong trào &lt;&lt; giáo dục Xã Hội chủ nghĩa &gt;&gt; người ta đã tìm ra bà, nông trường bèn coi bà là địa chủ bỏ trốn xử bà ba năm tù. Tuy đã mãn hạn tù và đã được phóng thích từ lâu, nhưng đến nay bà vẫn là địa chủ. Bà viết đơn là để xin bỏ cái mũ oan uổng ấy đi. Nhưng chính miệng bà đã kể với tôi, cái ông bí thư đoàn trưởng bần nông ấy bây giờ làm bí thư công xã ở quê bà.Việc đánh giá phân loại địa chủ tốt xấu, phải thông qua chính quyền địa phương, thế thì có khác gì bỏ đơn khiếu nại vào bồ giấy lộn mà thôi
Người ta sống là phải có hy vọng. Tôi không nỡ nhẫn tâm dập tắt niềm hy vọng của bà, đành phải đùa tếu cho bà khuây khỏa phần nào.
- Cậu Chương này, cậu cũng phải khiếu nại đi mới được. Cậu xem ra cũng sắp bốn mươi rồi. Cậu mà được minh oan, vẫn còn về trường dạy học được đấy – Bà Mã nhìn tôi, nói rất chân thành.
Người ta thường tưởng rằng cái gì mình thích ăn thì cái ấy là thứ ngon nhất trên đời, mong muốn người khác cũng nếm thử xem.
Tôi móc túi lấy thuốc, mắt chăm chú nhìn mặt bà Mã. Đúng là một khuôn mặt khác thường! Bà chỉ hơn tôi bốn tuổi, dường như mỗi một ngày trôi qua, đều để lại trên mặt bà một vết nhăn. Hèn nào, cả ông cụ bảy mươi cũng gọi bà là bà lão.
- Bà cứ về đi! Tôi nghĩ bà cứ về quê hương bản quán của bà đi! Khuôn mặt bà chính là lá đơn khiếu nại đầy đủ nhất. Để cho lão đoàn trưởng bần nông ngày xưa, lão bí thư công xã bây giờ ấy, nhìn lại xem: &lt;&lt; anh còn có nhận ra được người thiếu phụ xinh đẹp mà anh từng đeo đuổi không!? &gt;&gt;. Nếu như lão còn đôi chút lương tâm, dứt khoát lão sẽ minh oan cho bà.
Nhưng e rằng loại người ấy thì một mi-li-gam lương tâm cũng chẳng còn đâu.
Song bà vẫn đang hy vọng,không những bản thân mình ôm ấp hy vọng, mà còn chia sẻ hy vọng với người khác. Vẻ lương thiện ẩn dấu dưới những nếp nhăn chi chít ngang dọc, khiến cho khuôn mặt bà vẫn le lói chút ít hồi quang của vẻ đẹp mười sáu xưa kia.
- Bà khác tôi khác – Tôi châm thuốc nói với bà – Tôi thoạt đầu là phái hữu, rồi sau là thành phần phản cách mạng, tôi không biết phải khiếu nại việc nào nữa. Bà mà cất bỏ được mũ địa chủ thì muôn sự tốt lành! Bà nên viết đi, thế nào cũng có ngày mọi chuyện sẽ được làm rõ cho bà.
Tôi thật lòng cầu chúc cho bà
- Ôi – Bà Mã cười thở dài – Làm rõ được thì tốt quá. Cuộc sống đày đọa oan ức thế này, cực nhục lắm! – Quay sang cô ta bà hỏi – Chúng mình viết tới đâu rồi nhỉ? Năm1963…..
- Thôi lát nữa hãy viết – Cô bỏ bút xuống, ngả người tựa lưng vào tường – Có khách đến chơi, phải chuyện trò một lát đã chứ bà.
- Phải rồi, phải rồi – Bà Mã rối rít xin lỗi - Cậu xem tôi cứ mụ mị cả lên vì lo cho mình. Cô cậu ngồi chơi tôi đi kiếm chút mực đã.
Bà Mã cố tình lánh đi chỗ khác.
Đúng là một bà già tinh tế, ý nhị.
Thế mà bà lại không nhận biết được sự nâng đỡ cất nhắc của đoàn trưởng bần nông.
Kết quả là…..
Mùi hương hoa liễu quế hương càng đậm đà hơn, hình như sắp có mưa bão, hương thơm ùa vào phòng qua cửa sổ và khe cửa chính. Căn nhà nhỏ kia mọi thứ bên trong đều muốn thoát ra, còn căn nhà này mọi thứ bên ngoài đều muốn ùa cả vào.
Tôi hỏi:
- Sao cô không viết đơn kêu oan cho mình?
- Dào! Vớ vẩn! – Cô cười lạnh lùng - Chuyện tình cảm ai dãi bày cho ra lẽ được? Không tôi sai thì anh ta sai. Mà tôi vào lao cải rồi, thì còn bới chuyện ra làm gì nữa! Với lại, dẫu có minh oan được cho tôi thì ba năm trời đã trôi đi qua ấy, làm sao tìm được để đền bù cho tôi nữa.
Tôi không biết nói gì hơn, cô nhìn vấn đề còn sâu hơn tôi.
Cô mặc sơ mi trắng, khuy cổ không cài, cổ áo trễ xuống, để lộ một mảng ngực hình tam giác, nước da vẫn trắng ngà, chẳng phải sờ vào đó cũng cảm thấy làn da ấy vẫn ấm nóng mịn màng….Tôi mỉm cười.
- Anh nên làm đơn khiếu nại đi! – Cô nói – Anh phải lần lại từ đầu, từ cái chuyện phái hữu ấy. Những việc về sau này, kỳ thực đều từ đấy gây ra cả thôi. Anh được minh oan, biết đâu chẳng đúng như lời bà Mã, lại được đi dạy học…….
- Thôi thôi, cho qua thôi – Tôi xua tay gạt đi – Chính vì phải lần lại từ cội rễ, cho nên giờ đây tôi mới không hơi đâu mà bới ra nữa.
- Vậy chờ đến bao giờ?
Tôi rời mắt khỏi mảng ngực hình tam giác, nghĩ xem trả lời cô thế nào.
- Chắc anh còn chưa biết – Cô ngồi thẳng dậy - Đặng Tiểu Bình được minh oan rồi đấy.
- Thế à? – Đúng là một cái tin khiến tôi sửng sốt và phấn khởi, thảo nào mà bây giờ viết đơn khiếu nại đã thành cả một phong trào – Có thật thế không?
 - Đúng là như vậy, người ta đã ra làm việc rồi.
Cái điều mà ban chiều cô bảo muốn nói với tôi có lẽ là việc này đây.
Việc này vốn phải tuyên truyền trên báo, trên đài để mọi người đếu biết, đằng sau báo và đài, chắc chắn còn phải có bao nhiêu là văn kiện viền đỏ từ số hàng đơn vị cho tới tận số hàng trăm đấy chứ. Nhưng ở khu công nhân nông trường heo hút hoang vắng này, ở cái làng nhỏ được thu gom lại bằng những thứ linh tinh tạp nhạp do gió trời tung đến một cách vô ý thức, dưới con mắt một người sống ở các làng nhỏ này như tôi, thì công việc quốc gia đại sự được truyền đến đây, qua con đường môi giới trung gian, chẳng khác gì một chuỗi chữ tượng hình, một chuỗi dấu hiệu, là nó đấy, mà cũng chẳng phải là nó đâu. Phải qua những nét chữ gẫy khúc ngoằn ngoèo ấy mà tìm cho được con đường đến với nó. Nhưng các nét chữ gẫy khúc ngoằn ngoèo ấy đã tạo nên một mê cung Mi-nôx thật sự, người ngoài cuộc dứt khoát không thể nào lý giải được. Bộ máy nhà nước khổng lồ ở tầng cao nhất, thông qua không biết bao nhiêu tầng khởi động dây chuyền, hết nấc này sang nấc khác truyền lực của nó xuống dưới, đến được đất này, chẳng khác nào hành trình của ánh sáng mặt trời phải qua sự phản xạ của mặt trăng để tới trái đất. Đầu dây thần kinh của chúng tôi, chỉ có thể cảm nhận mong manh cái rung động khẽ khàng ấy mà thôi.
Ở đây, từ cái việc lớn như tăng giảm định lượng lương thực, cho tới cái việc bé như hôm nay ông bí thư chủ động mời tôi hút một điếu thuốc lá, anh hãy đi săn lùng những tin tức kỳ diệu sâu xa trong đó. Lý giải không nổi đâu, hoàn toàn phải nhờ vào cảm giác, cho nên mọi thứ đều trở nên thần bí; sao băng, động đất, gà mái gáy, quái thai, hài nhi lông lá cùng các hiện tượng tự nhiên ly kỳ quái gở, rồi Việt Nam đình chiến, Xi-Ha-Núc thăm Trung Hoa, văn chương đại cà sa của Diệu Văn Nguyên*, thứ tự sắp xếp họ tên trong các đại tiệc quốc gia, cùng mọi tin tức vỉa hè, thông tấn bờ bụi dường như đều có ý nghĩa quan trọng ngang nhau đối với xã hội. Đây là thời đại thịnh hành học thuyết &lt;&lt; thiên nhân hợp nhất &gt;&gt;, trời với người hợp thành là một; chúng ta đã quay lại thời kỳ trung cổ.
Tôi gắng sức tìm hiểu qua chính trị kinh tế học, và mọi điều trong sách vở đều rõ ràng minh bạch. Trên nét lớn tôi biết rõ xã hội phải đi theo phương hướng nào. Sự lý giải đó không những là chỗ dựa cho tôi sống còn mà còn hoá thành những xúc tu trực giác trong tâm hồn tôi. Nhưng hễ chạm vào thực tế, là lập tức rối tung cả lên: tin tức truyền tới hiện ra theo thứ tự phi tuyến tính, hơn nữa mang tính tùy tiện cực đại. Chúng tràn ra khỏi mọi nền nếp thông thường, và gây nhiễu cả trực giác, chẳng khác nào cơn mưa kim loại do máy bay tung ra để làm nhiễu sóng rađa.
Nhưng lần này tin tức khác hẳn mọi khi, trực giác báo cho tôi hay rằng ở ngoài kia thật sự đã có biến đổi. Một cột lửa đã luồn qua ống khói; một dòng máu nóng truyền khắp mọi huyết quản toàn thân tôi. Cũng từ một chiếc thuyền ngã xuống, kể gì người ngã xuống trước, kẻ lăn xuống sau, giờ đây rút cuộc đã có một người leo được lên thuyến, hơn nữa lại giữ chân thuyền trưởng, thì việc đầu tiên theo lẽ thường là ông ta phải chỉ huy công việc cứu vớt. Còn như sau này con thuyền ấy sẽ hướng về đâu trên biển cả mênh mông, thì phải đợi cứu vớt cho hết những người bị nạn đã hẵng hay.
Cô nhìn tôi với ánh mắt dò hỏi. Đôi mắt đàn bà không phải mắt cừu, nhưng lại giống hệt mắt cừu: dịu hiền, hoài nghi, cảnh giác, do dự. Giờ đây tôi có thể nói gì với cô? Một thứ cảm giác mông lung mơ màng không thể coi là sự lý giải, mà dẫu có lý giải được cũng khó mà lọt vào được toà mê cung ấy. Tôi đâu có muốn đánh chìm con thuyền lớn ấy: tôi đã ngã xuống nước rồi, thì tất cả đều phải ngã xuống hết đi! Con thuyền lớn ấy phải dành một chỗ cho tôi! Tôi chỉ muốn trở về con thuyền lớn đó hong khô quần áo, liếm sạch vết thương trên mình, duỗi bốn tay chân ra sưởi nắng và tự đáy lòng ấp ủ một nguyện vọng thầm kín: tham gia vạch hướng đi cho con thuyền. Kinh nghiệm mười mấy năm qua đã chứng minh: có thể do một người cầm lái, nhưng không thể để cho người ấy thích lái thuyền đến đâu thì thuyền sẽ đi đến đó. Cơ mà. liệu có thể nói những điều ấy cho cô ta nghe được chăng?
Đèn điện vẫn toả sáng trắng loá mắt, tôi không quen với thứ ánh sáng này nữa rồi Ở chuồng cừu này mấy tháng nay, chỉ đốt một chiếc đèn dầu hoả như ở thế kỷ trước. Tôi yêu thích cái ấm áp trong bóng tối, tưởng tượng rằng những lời thỏ thẻ rì rầm trong bóng tối, nhẹ nhàng êm ái vuốt ve tâm hồn cô quạnh của tôi…. Và giờ đây trước mặt tôi đang ngồi là một người đàn bà bằng xương bằng thịt hẳn hoi, hơn nữa lại là cô ta! Cô đang khuyên tôi, bằng một giọng nói tha thiết du dương. Nhưng giọng nói ấy nghe ra cứ ỡm ờ lơ lửng dường như có điều ý tại ngôn ngoại. Tôi bỗng hiểu ra ý nghĩa dò hỏi trong ánh mắt cô, căn buồng giờ đây có hai ta, một người đàn ông không vợ với một người đàn bà không chồng, lẽ nào chỉ quanh quẩn khiếu nại với minh oan, ngoài ra không còn chuyện gì nói nữa sao?
Ánh mắt cô không những có vẻ thăm dò, do dự, mà luồng sáng long lanh trong mắt cô còn chứa đựng cả sự chờ đợi, ước ao và hứa hẹn. Dường như cô sẵn sàng tư thế, chỉ còn chờ tôi xông lên tiến công. Nhưng chắc chắn là cô không chống trả, cô đã sẵn sàng tan rã hoàn toàn trước đòn tấn công của tôi rồi. Tôi ngồi trên giường bên này, cô ngồi trên giường bên kia, giữa là một rẻo đất nâu sẫm, không đầy hai mét. Rẻo đất ấy đúng là con sông &lt;&lt; Hán giới Sở hà &gt;&gt; trên bàn cờ tướng, anh cho nó là thành cao hào sâu thì nó là thành cao hào sâu, còn anh cho nó là chẳng có gì đáng kể thì nó lập tức biến đi, búng tay một cái là hết nhẵn ngay.
Thời gian vẫn lặng lẽ trôi. Trên mặt trên môi cô thoáng hiện một nét cười khó hiểu và thần bí, sự vẫy gọi táo bạo và thầm lặng dồn dập nổi lên trong không khí tĩnh mịch. Cô vẫn mặc áo quần đấy, nhưng dưới lần quần áo mỏng tang hằn rõ những đường cong tuyệt diệu. Một cơ thể khoả thân trần như nhộng lại hiện rõ trước mặt tôi, cái hăng say về chính trị và cái rạo rực về tình dục xem ra rất giống nhau, đều là kích thích tố nội tiết trong cơ thể ngươi ta. Nó kích thích người ta lao mình vào: dũng cảm, kiên định, tiến thủ, chiếm hữu, để dành lấy sự thỏa mãn và niềm vui sướng của sự dâng hiến. Hôm nay là ngày tốt lành, mọi sự tốt lành làm sao lại đổ dồn cả vào một ngày hôm nay thế này? Thật đáng ăn mừng lắm! Tôi như đã được giải phóng một nửa rồi! Mặt tôi môi tôi cũng thoáng một nụ cười khó hiểu và thần bí! Tôi nghĩ là cô lý giải được, tôi nghĩ là cô có thể biết tôi đang nghĩ gì, một khi cô đã từng phân biệt được những ánh mắt khác nhau của những người đàn ông.
Kích thích tố màu vàng ấy cứ tăng dần lên mãi. Tôi đã ngà ngà say. Tôi đã cảm nhận được một niềm hạnh phúc nơm nớp thấp thỏm, một trạng thái căng thẳng cực kỳ khoái lạc. Tôi lại cảm thấy miệng khô lưỡi bỏng, y hệt như giữa bãi lau lách năm nào……
Nhưng đúng vào lúc tôi toan nói một câu, toan làm một điều gì đó, thì bà Mã đẩy cửa bước vào.
- Chà, đi khắp mà không kiếm được mực – Bà Mã đưa ánh mắt như tò mò dò hỏi liếc nhìn tôi và cô ta – Cái số mình sao mà khổ thế, viết lá đơn khiếu nại mà cũng khó khăn trầy trật.
- Bà ra văn phòng mà xin – Cô xui bà - Chỗ kế toán có đấy.
- Ôi đâu dám thế! – Bà Mã giả bộ sợ sệt nói – Bí thư Tào lại hỏi: chị viết gì? Chị chẳng có ai thân thích bạn bè, thì viết thư cho ai? Chắc chắn lại viết đơn tố giác thôi!
Chúng tôi đều phá lên cười thoải mái. Khuôn mặt nhăn nheo của bà lại ánh lên nét ngây thơ hồn nhiên của tuổi muời sáu.
- Chỉ có cô cậu là hay – Bà Mã nói - Cứ phớt lờ nó đi, là chẳng buồn phiền gì nữa – Bà lại ngồi xuống trước chiếc rương gỗ, cầm lấy chiếc áo đang khâu dở, giấu mặt vào áo, nói toạc móng heo ra - Thật đấy, tôi không nói chơi đâu, hai cô cậu thật đẹp đôi lắm.
Cô không nói gì, chỉ mỉm miệng cười.
Bà Mã quả là tốt bụng nhưng khí nóng vội.
Tôi bảo:
- Ý bà bảo là, tôi không làm đơn khiếu nại và cô ấy cũng không làm đơn khiếu nại chứ gì. Vậy thì bà viết đơn, Chu Thụy Thành cũng viết đơn hai người cũng thật đẹp đôi đấy thôi!
- Cậu lại tếu nữa rồi – Bà Mã gại kim lên da đầu – Tôi nói thật lòng đấy! Hai cô cậu đều đã đi lao cải, chẳng ai còn chê ai nữa; tuổi cũng sàn sàn ngang nhau; cậu có văn hoá thì văn hoá người ta cũng không thấp, học hết sơ trung rồi đấy! Hoàng Hương Cửu vừa về đến nông trường này một cái, là tôi nghĩ đến việc ấy rồi, chỉ còn chờ cậu nữa thôi.
- Thôi, thôi, thôi! – Cô cười – Tôi không lấy chồng nữa đâu. Đời tôi lấy chồng như thế là đủ lắm rổi.
 - Ấy chết! – Bà Mã răn bảo cô – Làm sao lại không lấy chồng được cơ chứ? Đàn bà trời sinh ra là để ghép đôi với đàn ông – Bà lại thêm – Tôi chẳng có ai vời, có người vời là tôi cũng lấy chồng ngay! – Xem chừng bà Mã quyết tâm ra phết.
- Sao lại không ai vời – Tôi nói - Người vời đầu tiên là ông đoàn trưởng bần nông nhá, nhưng bà có theo đâu.
- Không được đâu! – Bà nghiêm sắc mặt nói – Anh ta có vợ có con, giá mà anh ta chưa có gia đình là tôi theo anh ta ngay. Anh ta khá đáo để, người cao to vạm vỡ, làm ăn giỏi giang, có tướng làm quan nữa chứ! Anh ta chụp mũ cho tôi, chẳng qua là định làm cho tôi bớt kiêu kỳ đi, chứ chẳng có ý khác đâu.
Xem ra bà vẫn còn tiếc cái anh đoàn trưởng bần nông ấy. Nhưng anh ta thì đã làm hại bà khiến bà phải lìa bỏ quê hương bản quán, đi lao cải ba năm.
- Vậy tại sao lúc đầu bà phải trốn đi? – Tôi bực mình hỏi.
- Thực ra cũng không phải anh ta quá quắt đến mực tôi chịu không nổi đâu, thật ra ở quê nhà đói quá, bỏ trốn đi, cũng không phải một mình tôi, chúng tôi kéo nhau đi cả đoàn cả lũ đấy chứ…. Nhưng chỉ có tôi là rủi ro.
- Nhưng bà nghĩ xem, tờ lệnh truy nã ấy vẫn là do ông đoàn trưởng phát đi kia mà – Tôi toan nói – bà đừng có si tình như vậy nữa.
- Ôi! Anh ta chỉ muốn bắt tôi về, về với anh ta. Ai ngờ gặp phải ngay cái phong trào…
Đành chịu thôi! Đúng như lời Hoàng Hương Cửu: chuyện tình cảm ai mà giãi bày cho minh bạch được? Tôi nhìn cô, thấy cô chỉ nhìn bà Mã mà cười. Cái cười ý nhị sâu xa, thông cảm đồng tình với bà chăng? Khinh rẻ bà chăng? Giễu cợt bà chăng? Hay là khích lệ bà, để bà lại nêu chuyện hai chúng tôi?…
Tôi rời nhà họ ra về, trời đầy sao. Trong bóng tối Hà Lệ Phương, cô gái thanh niên trí thức* ở Bắc Kinh về nông thôn lao động thực tế, cất tiếng khe khẽ hát theo điệu dân ca Côdắc &lt;&lt; Cho em một bông hồng &gt;&gt;.
                                        Thân em giá chẳng cao đâu.
                                        Tất ni-lông chỉ hai bao thôi mà.
                                         Nếu anh cảm thấy chưa vừa.
                                         Xin thêm một chiếc đồng hồ nghe anh.
- Ông anh ơi – Cô đến bên tôi thầm thì - Đến nhà em ngồi chơi một lát được không? Cả mùa đông ở trên núi kiếm đủ rồi, thế nào chả dành dụm được bảy tám tờ đại đoàn kết*.
- Khuya rồi còn đến làm gì – Tôi bảo – Mai tôi đến nhé.
- Khuya mới dễ làm ăn chứ, anh ấy nhà tôi về Bắc Kinh thăm bố mẹ rồi.
- Cô không sợ Đen về nó nện cho à?
- Hừ! Anh ta ở ngoài ấy cũng vậy thôi, kiếm tiền bằng hai ngón tay - Cặp mắt cô sáng lên như mắt mèo, trong đêm đen như mực – Lúc này ai còn quản ai nữa cơ chứ?!
- Về ngủ đi – Tôi bảo cô – Đen là bạn tôi, tôi mặt mũi nào làm như vậy được.
Dòng nước nhỏ vẫn rầm rì chảy, gặm dần, gặm dần tảng băng đông cứng ở trên.
Tôi ngửa mặt lên trời, thở dài: tôi suy ngẫm thế nào cho thấu đáo về con người được đây?…….                                                                                                                                                                                     
  -------------
* Diệu Văn Nguyên nhân vật trong Tứ nhân bang.
* Thời Mao, học sinh tốt nghiệp phổ thông bị đẩy về nông thôn đi lao động, đều được gán cho danh hiệu là : thanh niên trí thức
* Tờ giấy bạc một đồng nhân dân tệ.
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 05:51:38ĐạoCấy>
                                                                          CHƯƠNG BỐN.
 
La Tông Kỳ cưỡi trên chiếc xà cái, buông thỏng hai chân xuống. Gọi là xà cái, nhưng chỉ là cây gỗ bằng cánh tay thôi. Anh đang chái thêm gian bếp.
- Họ trị cậu mười mấy năm rồi, mà sao cậu vẫn ngây thơ thế nhỉ. Mình khuyên cậu chớ ôm ấp quá nhiều hy vọng – Anh đặt đinh vào đúng chỗ đã định sẵn, vung búa lên đóng – Đúng thế, mình cũng đã được minh oan rồi, mình cũng đã đảm nhận công việc, tất nhiên là chức vụ bé hơn nhiều, nhưng cũng coi như đứng đầu một vùng. Có điều mình cũng phải báo cho cậu biết, mình liệu có thể xoay chuyển được trời đất này chăng?
Anh có vẻ bực bội, và dường như nhắc nhở tôi phải tỉnh táo. Tôi đi bộ suốt buổi sáng, từ trại trung đoàn chúng tôi đến trại trung đoàn anh, vừa đúng bốn mươi dặm đường. Ánh nắng trong trẻo lạ thường, khiến tôi nhớ tới biển cả, tôi muốn đến chỗ anh dể học hỏi anh về những chữ tượng hình ấy. Anh biết cách dắt tôi đi vào mê cung, nhưng anh vừa dẫn tôi đến hành lang thứ nhất, thì ánh mặt trời đã tối sầm.
Tôi cứ ngồi uống trà mãi không thôi. Trà ngon tuyệt! Lâu lắm rồi tôi mới lại được uống trà này. Nó sẽ làm tiêu hoá hết các món thịt tươi sống, một chén trà có thể biến tôi từ một động vật ăn thịt thành một con người. Văn minh thật kỳ diệu! Trong căn phòng có buông mành trúc, vang lên tiếng băm lạch cạch. Chu Thục Quân đang băm nhân bánh. Có thịt có bột là được, cớ sao cứ phải lấy bột bọc thịt thì ăn mới ngon cơ? Tất cả những thứ đó tôi đều đã cảm thấy xa lạ lắm!
Còn cái sân nhỏ này: giống quỳ đất Thục tuy chưa trổ hoa, nhưng đã xanh tốt lắm rồi. Trên mảnh đất con vuông vắn bằng phẳng, cà chua, ớt, cà pháo đã lên xanh. Đất vàng được cào phẳng lỳ mượt mà xanh ngắt. trông chẳng khác gì một tấm thảm. Hai chú bướm xám nhởn nhơ bay lượn, sát tường còn có một cây hạnh con con.
Cuộc sống của một con người bình thường là như vậy đấy! Tôi có cảm giác như được trở về nhà, mặc dầu tất cả những thứ đó đối với tôi đều vô cùng xa lạ. Tôi ngả người trên chiếc ghế dựa vải bạt, thiu thiu buồn ngủ, nhưng trong lòng lại rất nôn nao muốn tiếp tục câu chuyện
La Tông Kỳ nói tiếp:
- Mình là trại trưởng trung đoàn này, nhưng để cộng tác và giúp việc mình, người ta giao đến đây cho mình một con người như thế nào?…. Mình chỉ nói nội một việc thôi là cậu sẽ đủ hiểu. Bà này vốn là bí thư nông trường Tần Cừ &lt;&lt; Đại cách mạng văn hoá &gt;&gt;, dĩ nhiên là gạt tuốt tuột bà ta vào trong đó. Con gái bà viết thư gởi đến chuồng bò cho bà: Mẹ ơi, họ không cho con được gia nhập Hồng vệ binh, mẹ con mình phải cắt đứt quan hệ thôi, dẫu rằng chỉ giả vờ cắt tạm ít lâu thôi cũng được. Nhưng bà ta đã trả lời như thế nào? Bà ta thừa nhận bà là &lt;&lt; phần tử tam phản &gt;&gt; chính cống trăm phần trăm, yêu cầu con gái thật sự chú ý – không phải giả vờ - cắt đứt quan hệ với bà, trong tư tưởng triệt để phân rõ ranh giới, không được tình cảm yếu đuối và yêu cầu con gái kiên quyết cách mạng đến cùng. Kết quả là con nhóc con mười bảy tuổi đầu ấy trở thành tên đầu sai hung dữ đánh người không ghê tay, nghe nói chính tay nó đánh gẫy xương hai ông già địa chủ. Cậu nghĩ xem một con người đang tâm chối bỏ cả mẹ đẻ ra mình, thì nó còn nể ai nữa? Chỉ có người mẹ bị ma quỷ cám dỗ mới nuôi dạy nên đứa con để ma quỷ cám dỗ như vậy!
- Thế đấy! Một bà như vậy làm bí thư đảng ủy cho mình. Mình bảo để anh chị em công nhân tự trồng lấy ít rau, đất hoang ở đây thiếu gì, lúc rỗi rãi tranh thủ vỡ hoang một tí, cải thiện đời sống cũng tốt. Rau vừa mới nẩy mầm, bà ta cho ngay máy kéo đến cầy trốc đi bằng hết. Mình bảo, trên chín triệu sáu trăm ngàn cây số vuông đất đai Trung Quốc này, thì một cây cà pháo, một gốc dưa chuột, một cây cà chua mọc lên đều là của cải Xã Hội chủ nghĩa cả thôi, sao không để họ trồng? Bà ta bảo, của cải Xã Hội chủ nghĩa chỉ có thể do xí nghiệp quốc doanh sản xuất ra mà thôi, mọi sản xuất cá thể đều là Tư Bản chủ nghĩa tuốt tuồn tuột. Bà ta lại còn tuôn ra hàng tràng Mao ngữ lục, mình tất nhiên nói không lại bà ta. Từ đấy, hai người gặp nhau chẳng ai nói với ai, bà ta đi đường bà ta, mình đi đường mình. Cậu Chương, cậu nghĩ xem, một trại trưởng trung đoàn với một bí thư đảng ủy, quan hệ công tác như vậy, thì làm ăn tốt cái quái nào được? Đến con số trung bình cộng giữa hai bên cũng chẳng mong đạt được, lực lượng của hai bên chống đối nhau, triệt tiêu nhau thì cuối cùng chỉ là con số không mà thôi.
- Từ đấy mình suy ra Đặng Tiểu Bình – Bà này chí ít cũng không phải là kẻ đã trừng trị mình ngày xưa – còn Đặng Tiểu Bình thì lại phải cùng với những kẻ vừa mới đây thôi đã trừng trị mình, bây giờ lại cùng ngồi vào Trung Nam Hải, chèo lái một con thuyền. Cậu nghĩ xem, để một đám người chưa hoàn hồn ngồi cùng thuyền với bầy sói đói khát, kết quả sẽ ra sao? Hơn nữa. Chu thủ tướng lại đang ốm. Hừ!…. Theo mình thì, chỉ có thể lại tiếp tục là bi kịch thôi!
Anh ngừng tay búa, từ trên cao nhìn xuống phía tôi. Ánh mắt ấy khiến tôi nghĩ tới con cừu già ốm yếu bi quan trong chuồng lâu nay. Tôi mỉm cười buồn bã:
- Chà – Tôi vươn vai - &lt;&lt; Đại mộng thùy tiên giác, bình sinh ngã tự tri &gt;&gt; ( Giấc mơ lớn ai tỉnh trước, cả đời ta tự hiểu ta )… Này cậu La, mình cảm thấy là màn bi kịch này đã kéo quá dài, diễn suốt mười mấy năm trời rồi. Không biết cảm tưởng khán giả ra sao (?) chứ mình là diễn viên,mình thấy mệt mỏi hết sức.
- Cả Trung Quốc này làm gì có ai là khán giả, tất cả đều là diễn viên tuốt! – Anh nói một cách quả quyết - Một số sắm vai kẻ đi trừng trị người, một số khác lại sắm vai người bị trừng trị, cho tới một lúc nào đó lại đổi vai cho nhau một lát. Cậu chỉ bị mệt mỏi trong vai người bị trừng trị mà thôi. Thế nào? Cậu cũng muốn sắm vai kẻ đi trừng trị người khác sao?….
La Tông Kỳ dáng người cao cao thân hình gầy nhẳng, mặt dài xương xương, giá đôi mắt nẩy lửa của anh sâu một tí, sống mũi dọc dừa của anh cao hơn một tí, thì anh giống một hiến binh Anh Quốc như lột. Năm 1970 chúng tôi đã ngồi tù cùng với nhau hai năm, đắp chung một cái mền bông của tôi, ăn chung một chậu đựng cơm của tôi, vì ông bí thư đại đội trước thời Tào Học Nghĩa tịch thu hết mọi thứ, đến ngay cả chiếc đũa Chu Thục Quân gửi cũng không tha. Khi rét run bắn người ở trong chăn, tôi đã từng bảo anh Lâm Bưu dứt khoát là chết bất đắc kỳ tử cho xem! Anh hỏi tôi căn cứ ở đâu, tôi bảo chẳng căn cứ vào đâu hết chỉ cảm thấy lão ta trông giống người tù lao cải bị bắn chết mà tôi quen biết. Người tù lao cải ấy có biệt hiệu là &lt;&lt; bóng điện bốn trăm oát &gt;&gt; đầu cũng hói, đường hằn pháp lệnh trên mặt và cằm của hai người rất giống nhau. Cười thoải mái với nhau một lúc là quên cả rét. Mỗi lần nhận tội, anh có một tư thế rất đặc biệt, đầu không cúi mà ngoẹo sang một bên, như người đang trầm tư mặc tưởng.
Nghe những lời nhận tội dài dòng của anh thì biết, năm 1942 ở Diên An anh đã bị chỉnh, năm 1957 che chở cho bọn &lt;&lt; hữu phái &gt;&gt;, năm 1959 bản thân anh trở thành &lt;&lt; phần tử cơ hội hữu khuynh &gt;&gt;, năm 1966 thì bị khép vào &lt;&lt; bộ tư lệnh tư sản Lưu Thiếu Kỳ - Đặng Tiểu Bình &gt;&gt;. Nhưng anh không hề biết &lt;&lt; bộ tư lệnh &gt;&gt; ấy đặt ở đâu, đã chỉ huy chiến dịch nào. Thế là làm cho &lt;&lt; uỷ ban cách mạng nghị gật &gt;&gt; kia nổi giận. Trong nhà tù ai cũng biết, giá mà anh không cõng trên lưng nhiều vấn đề lịch sử như vậy, thì anh đã là cán bộ cấp cục, cấp bộ từ lâu rồi.
- Mình đã nhìn thấu suốt tất cả - Anh co chân lên, leo từ nóc nhà xuống, vừa leo vừa nói - Giờ đây tốt nhất là lo tự làm lấy gian chái bếp, sắm sửa ba thứ dụng cụ gia đình thôi….. À, cậu Chương này, sô pha mình tự làm bằng săm ô tô, tốt ra phết, chẳng kém gì lò xo nhá, cậu vào nhà ngồi thử xem.
Tuy anh mới ngoài năm mươi, nhưng tay chân còn nhanh nhẹn linh lợi lắm.
- Mình chưa phát phì chứ? – Anh đứng trên đất, vẻ phấn khởi đắc ý – Con người ta xem ra nên đi tù, một là có lợi cho sức khoẻ, hai là có ngồi tù anh mới biết rằng người đồng chí thường không phải là người ngồi cùng văn phòng với nhau, mà là người đã từng ngồi tù với nhau.
Chúng tôi vén mành bước vào nhà, ngồi vào sô pha tự tay anh đóng.Tôi bảo.
- Cậu La ạ! Mình thấy bi kịch của bọn mình không chỉ ở sự kiềm chế kìm kẹp lẫn nhau giữa người và người, mà thực ra là chế độ của chúng mình có vấn đề
- Đúng rồi. Nhưng anh muốn cải cách chế độ, thì trước hết phải điều hoà quan hệ giữa người và người đã – Anh rót trà và nói - Bắt mình công tác với một người như bà ấy thì nói gì tới cải cách chế độ bất hợp lý, mà chỉ thông qua một nghị quyết làm nhà vệ sinh công cộng thôi cũng không xong nữa là.
- Còn về lý luận - Chất u-mua* chợt trỗi dậy trong tôi – Mình cảm thấy cái mà chúng ta đang thực hiện, hoàn toàn không phải là chủ nghĩa Mác, mà là chủ nghĩa Đuy-rin….., chủ nghĩa Bu-kha-rin, và chủ nghĩa Tu-rin nữa! - Tôi cười nói tiếp - Quốc Dân đảng thì thực hiện cái gọi là &lt;&lt; chủ nghĩa tam dân &gt;&gt; còn chúng ta đang thực hiện &lt;&lt; chủ nghĩa tam–rin &gt;&gt;!
- Thế là thế nào? – Anh há hốc miệng hỏi tôi.
- Thế mà còn chưa rõ à? Chủ nghĩa Đuy-rin, tức là duy ý chí luận, chủ nghĩa Bu-kha-rin: cậu nghe đây xem Bu-kha-rin đã nói như thế nào nhé. Ông ta bảo, giai cấp vô sản muốn tiêu diệt một cách máy móc kẻ thù tư sản của mình thì dễ dàng đấy. Nhưng giai cấp tư sản sẽ dựa vào lực lượng văn hoá mạnh gấp mấy lần giai cấp vô sản, phản công trở lại, và sẽ nuốt tươi giai cấp vô sản. Do đó, giai cấp vô sản sau khi đã giành được chính quyền rồi, muốn củng cố chính quyền của mình, tất phải làm cách mạng văn hoá. Cậu La ạ, hóa ra người phát minh ra cách mạng văn hoá, không phải là lãnh tụ vĩ đại của chúng mình, mà chính là Bu-kha-rin đã đăng ký bản quyền phát minh ấy ở phong trào cộng sản quốc tế từ lâu rồi. Còn như chủ nghĩa Tu-rin, thì quá ư đơn giản, tức là sùng bái cá nhân.
- Thằng cha này! – Anh cười bảo - Thảo nào cậu cứ bị trị mãi không thôi, xếp cậu phản cách mạng chẳng oan tí nào.
Lúc ấy Chu Thục Quân đã bưng nồi bánh bao bốc hơi nghi ngút bước vào.
- Một tên phản cách mạng và một phần tử hữu khuynh già đời, vào ăn cơm đi thôi! - Chị cười tít cả mắt, bảo – Anh Chương ạ, hơn một năm nay, anh không đến chơi với chúng tôi rồi, hôm nay phải ăn cho nhiều vào đấy.
Chị vươn bộ ngực nở nang, tay áo xắn lên, để lộ cánh tay mập mạp. Con gái chị vén mành để chị bưng mâm vào. Căn nhà gạch sơ sài, phút chốc tràn đầy không khí yến tiệc. Tôi hứng thú hẳn lên, đã lâu rồi không được trò chuyện dí dỏm trí tuệ như thế này với ai cả, tuy rằng ngày nào tôi cũng nói chuyện với đàn cừu như vậy.
 
----------------
*Hài hước.
0
 
    - Còn về lý luận, bây giờ đây thật cực kỳ hỗn loạn! – Tôi ngồi trong căn nhà gạch sơ sài, cầm đôi đũa tre đã lên nước đen bóng, ăn bánh bao nhân thịt, mà tưởng như đã ngồi lên ghế chủ tịch đoàn điều khiển hội nghị - Nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là phải thật sự trở về với chủ nghĩa Mác chân chính. Ví dụ như khi bà bí thư ấy đọc Mao ngữ lục cho cậu nghe thì cậu hoàn toàn có thể lấy lời của Lê-Nin mà phản kích lại. Lê-Nin từng nói: mưu toan hoàn toàn hoặc cấm ngặt hoạt động trao đổi phi quốc doanh của mọi tư nhân bung ra, tức là sự bung ra của thương nghiệp, tức là sự phát triển Tư Bản chủ nghĩa, mưu toan ấy là ngu xuẩn và chính là tự sát. Đến ngay thương nghiệp Tư Bản chủ nghĩa tư nhân, Lê-Nin còn không cấm, huống hồ là để công nhân nông trường trồng thêm tí rau lúc nhàn rỗi.
 - Ừ thì toàn những điều Lê-Nin đã nói từ xưa cả chứ sao – La Tông Kỳ lẩm bẩm.
 - Đúng đấy – Tôi mỉm cười – Thì hiện nay chúng ta chẳng phải đang luẩn quẩn loanh quanh với những lời nói ngày xưa của lãnh tụ đó sao? Anh lấy câu của lãnh tụ này đối phó với tôi, thì tôi lấy câu của lãnh tụ kia đối phó lại với anh. Thật đúng như lời Mác nói: người chết lại túm chặt lấy người sống. Biểu hiện của sự phát triển lý luận trong chúng ta giờ đây là lý luận không phát triển.
- Nếu chúng ta muốn phát triển trong tình trạng nghẹt thở này, tất phải tìm kiếm những câu ngữ lục có lợi cho sự phát triển. Thông minh tài trí của chúng ta không được dùng vào việc sáng tạo,mà chỉ có thể dùng vào cho việc lựa chọn. Đây chính là bi kịch của lý luận của chúng ta: màn cuối của nó là dắt tất cả chúng ta vào trong ngõ cụt.
La Tông Kỳ vừa nhai bánh, vừa chú ý lắng nghe. Anh ngoẹo đầu như khi nhận tội bảo tôi:
- Vậy thì, theo ý cậu, giờ đây chúng ta nên làm thế nào đây?
- Giờ đây à! Giờ đây thì không làm được gì nữa đâu. Chỉ có thể làm theo lời Lê-Nin: trong một nước mà nền kinh tế bị phá nát, thì nhiệm vụ đầu tiên là phải cứu vớt những người lao động – Tôi nhớ những công nhân nông trường cùng đại đội với tôi: chàng Câm, bà Mã, Đen, Hà Lệ Phương…- Phải để họ được sống làm người. Sau đó chúng ta mới cải cách chế độ của chúng ta, mà nền tảng cải cách chế độ thì ở trang mười tám &lt;&lt; Tư Bản luận &gt;&gt; tập hai…..
- Hì, hì…. La Tông Kỳ cười mũi bảo - Cậu học thuộc thật đấy! Cậu Chương ơi, cậu đã nghĩ những điều này bao giờ chưa? – Anh nói nghiêm túc - Những điều tâm đắc đã học được ấy cậu viết thành luận văn đi, bây giờ chưa dùng đến nhưng tương lai nhất định sẽ được việc đấy.
- Mình viết sao được – Tôi cười khổ sở - Cậu còn nhớ cái lão Chu Thụy Thành không? Bây giờ mình ở chung với lão ta một buồng. Thằng cha này ngày xưa rất hay thậm thụt đi tố cáo. Chỉ cần một dòng chữ của mình lọt vào tay họ thôi, mình sẽ chẳng còn được bao giờ đến đây ăn bánh bao nữa, không khéo họ còn mời mình đi ăn kẹo lạc ba hào sáu một viên* chưa biết chừng.
- Anh Chương này – Chu Thục Quân vẫn đứng cạnh chuyên giục chúng tôi gắp, lúc ấy nói chen vào – Anh cũng nên lấy vợ đi thôi. Có gia đình mọi cái đều tiện hơn nhiều…..
- Phải đấy! – La Tông Kỳ gõ ngang đũa xuống bàn - Tốt nhất là cậu phải có gia đình, tự mình phải có phòng riêng, tự mình viết gì cũng chẳng ai biết? Lúc này tương đối lỏng lẻo, có thể họ sẽ phê chuẩn…..
- Lấy vợ cốt để viết luận văn ư? – Tôi cười, con gái anh đứng bên cạnh cũng cười thầm một mình.
- Không để làm gì cả, thì anh cũng phải lấy vợ chứ! – Chu Thục Quân nói - - Về kinh tế có gì khó khăn chúng tôi lo giúp anh.
- Kinh tế thì chẳng có gì khó khăn cả, khó khăn là không có người mà lấy.
Thực ra tôi nghĩ bụng: người để mà lấy cũng có rồi.
………..
Mây thoạt đầu bay là là sát đường chân trời, rồi phút chốc nhanh chóng trùm kín núi non. Trên những thửa ruộng lúa mì xanh thẫm, từng bầy chim én lông đen chao qua lộn lại như thoi đưa, hót ầm ĩ, vẻ thảng thốt nôn nao. Không khí đã thẫm mùi đất tanh tao ẩm ướt, lúa mì đều hàng tăm tắp, thấp thỏm không yên, lao xao rì rào đón mưa rơi.
Trên đường đi trời quang mây tạnh; trên đường về mây đen mù trời. Nhưng trong bầu không khí âm u nặng nề ấy có một niềm hưng phấn đang trỗi dậy, có một niềm hy vọng đang cựa mình. Bên dưới giai điệu chủ đạo u buồn ảm đạm đã tìm thấy phức điệu đối ứng sáng tươi.
 Tôi sải chân bước dài trên cánh đồng. Lát sau hạt mưa khá to nện xuống rồi. Đường đất bốc khói trắng: khói trắng cuồn cuộn chạy tới dọc theo con đường đất, dường như đằng sau có con quái vật nào đấy đang xua đuổi nó. Đất ven rừng và đất trồng màu phút chốc hoà vào làm một, những giọt mưa lạnh buốt đập vào mặt tôi, rồi tức khắc chảy ngay xuống dưới. Lúc ấy tôi mới cảm thấy mặt mình nóng bỏng, đúng vậy trong giông tố tôi đã tìm thấy một cái động. Lời La Tông Kỳ dường như đã làm cái động trú thân này càng sáng sủa hơn. Kết hôn, hai tiếng ấy thật khó tưởng tượng! Công việc ấy thật khó hình dung! Ngày xưa tôi đã tưởng tượng không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại có thể kết hôn trong thân phận bị giam cầm như thế này, lại kết hôn với người đàn bà cùng thân phận như mình.
Tưởng tượng thì bao giờ cũng đẹp đẽ. Dưới bầu trời trong xanh, chú rể là tôi đi bên cạnh cô dâu choàng voan trắng…. và cô dâu lại là cô ta. Thật quá bất ngờ với tôi. Vậy thì, tôi có bao giờ từng nghĩ xem vợ tôi phải là người như thế nào chưa? Chưa! Ngoài bộ đồ cưới bằng voan trắng ấy ra, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng cô ta có một hình hài cố định bất biến. Cô ta phải thay đổi theo với sự thay đổi các lớp lang thẩm mỹ của tôi, bởi vậy trí tưởng tượng tự do đã biến tôi trở thành một kẻ háo sắc thực sự. Còn khi áo cưới voan trắng đã biến thành áo tù đen ngòm rồi, thì trong giấc mơ ở trại giam, khái niệm vợ chỉ còn một nghĩa đàn bà mà thôi; và ngược lại, thì bất cứ người đàn bà nào cũng có thể làm vợ được cả.
Vì khi đã mất hết tự do, tôi đã không thể có cuộc sống bình thường, nói chung của những con người bình thường, thì hà tất phải nhọc lòng đi mơ tưởng cuộc sống hạnh phúc thông thường? Không hy vọng thì sẽ không bao giờ thất vọng, còn miềm hy vọng lớn nhất lại ẩn kín ở chỗ không có bất cứ một hy vọng nào khác.
Vậy là, cái mất ngược lại sẽ có cảm giác là cái được: một hình phạt nhẹ vẫn có thể coi là điều may mắn to lớn, có thể khiến mình mừng rơn trước những hình phạt liên tiếp giáng xuống đầu mình, coi mọi nỗi khốn đốn lao đao là sự phong phú đa dạng của cuộc đời, coi đói rét bơ vơ là sự tôi luyện thử thách của trời trước lúc giao cho ta trách nhiệm lớn, làm một Đông Ky-sốt hiện đại nhìn ma quỷ thành cối xay gió ( chứ không phải nhìn cối xay gió thành ma quỷ ) mới có thể sống nốt quãng đời còn lại.
Nhưng thật sự kết hôn rồi ( tức là kết hôn với cô ta ). Có nhà ( tức là gian buồng hiện nay tôi và Chu Thụy Thành hay bà Mã và cô ta đang ở ). Có vợ ( tức là cô ta )… Vậy là tôi sẽ bị cột chặt vào một cái gì đó: cuộc sống hiện thực cơm áo vặt vãnh, sẽ giống như giọt mưa nặng hạt, lạnh buốt từ trên trời rơi xuống, gõ thật lực vào cái đầu tôi, khiến tôi trở nên thực tế hơn, mất hết bùa phép tự an ủi mình, tự say mê với chính mình trong tưởng tượng. Tôi sẽ giống như giọt mưa nặng hạt, lạnh buốt kia từ trên mây rơi xuống, lao thẳng vào lòng đất, nhanh chóng bị hút vào đất khô để cuối cùng biến thành bùn nhão
Nhưng tấm thân loã lồ, mềm mại và tràn trề sức sống ấy, trước sau vẫn cuốn hút tôi, khiến tôi xúc động và hưng phấn. Mặt tôi nóng bừng, toàn thân tôi nóng ran. Hạt mưa lạnh giá rơi vào đấy, như rơi vào tấm sắt nung, lập tức bốc ngay lên một làn khói trắng.
Với lại nhà cũng chính là hang động, đó là nơi nương náu nhất thiết phải có của con người thời tiền sử; nhà cũng là sào huyệt, nghe nói có họ Sào thị, chính nhờ phát minh ra nơi ăn chốn ở cho con người mà được tôn làm hoàng đế. Còn với tôi – nhà – cũng có nghĩa là tôi cũng có một mảnh đất trời rộng mấy mét vuông trên đất nước chín triệu sáu trăm nghìn cây số vuông này. La Tông Kỳ nói đúng lắm! Phải khoanh cho mình mấy mét vuông đất yên tĩnh trên chín trăm triệu sáu trăm nghìn cây số vuông đang rối ren loạn lạc này. Thế là tôi được độc lập rồi. Tôi là chủ nhân vương quốc rộng mấy mét vuông. Trong vương quốc độc lập ấy, cho tôi đươc chuyên tâm suy nghĩ về viễn cảnh tiền đồ của chín triệu sáu trăm nghìn cây số vuông còn lại kia.
Bi kịch rồi đến ngày sẽ kết thúc…….
Khi qua mương tiêu, giầy dính chặt dưới bùn, rút thế nào không lên. Mẹ kiếp! Vứt quách cho rồi!… Có thể rồi cô ta sẽ khâu cho mình một đôi mới đây! Tôi nghĩ vậy rồi bước thấp bước cao đi về khu nhà tập thể.
- Ủa! Sao cậu không tránh vào chỗ ven rừng một lát? – Chu Thụy Thành ngẩng đầu lên khỏi trang giấy để trước mặt. Anh ta lại đang viết đơn khiếu nại. Anh cứ viết đi, viết nữa đi. Hừ! Đúng là bi kịch còn tiếp diễn…. - Cậu nhìn xem, ướt sũng từ đầu tới chân rồi kìa.
Anh lại cười cái cười lấy lòng và ra vẻ khiêm nhường của bậc trên. Hôm nay tôi thấy cái cười ấy sao mà đáng ghét lạ! Chung sống với loại người này thật cực kỳ khó chịu.
- Mẹ kiếp! Mưa thế này ăn thua gì! Hồi chăn cừu, tớ đã bị những trận mưa to hơn nhiều!
- Ấy kìa! – Lát sau anh nhìn ra cửa sổ, nụ cười biến thành sự giễu cợt hí hửng trên đau khổ của người khác - Cậu nhìn kìa, lại nắng rồi đấy!
Thật vậy, phía bên kia cửa sổ, trên tường sau của dẫy nhà phía trước, đã xuất hiện ánh nắng vàng nhạt. Hoá ra chỉ là cơn mưa bóng mây thôi.
- Mẹ kiếp! Trời cũng chơi khăm mình thật! – Tôi nằm co người trong chăn, miệng lẩm bẩm – Này cậu Chu, cuộc sống này của bọn mình đến đời thuở nào mới chấm dứt nhỉ?!
Khuôn mặt gầy gò tiều tụy của lão ta, lập tức hiện rõ vẻ sợ hãi nghi kỵ. Lão cho rằng tôi sắp phun ra những ngôn luận phản cách mạng. Điều này sẽ gây phiền hà cho lão: báo cáo? Hay không báo cáo? Báo cáo nhưng tôi chối thì sao?
- Mình thấy chỉ có cách cưới vợ, thì cuộc sống này mới coi như chấm dứt - Để cho lão khỏi hoảng hồn tôi nói ngay ra những ý nghĩ trong lòng mình.
Tôi nhìn đám rui mè ám khói trên nóc nhà, căn phòng này sẽ dọn dẹp thế nào đây?……
 
…………
  * viên đạn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:29:23ĐạoCấy>
                                                                          CHƯƠNG NĂM.
 
- Cậu đi chăn ngựa được không? – Tào Học Nghĩa cười hề hề, hỏi tôi:
Lão ta thấy tôi đồng ý, liền móc thuốc ra cho tôi một điếu.
- Chăn ngựa cũng gọn nhẹ lắm, khoảng hai chục con thôi. Buổi sáng lùa đi, buổi chiều lùa về. Chẳng cần đi đâu xa. Ca đêm để người khác cho ăn, cậu không phải quản. – Làm như lão đặc biệt chiếu cố đến tôi, để tôi làm công việc thoải mái nhất không bằng. Kỳ thực tôi biết, cả đại đội ngoài tôi ra, chẳng còn ai biết chăn ngựa. Bây giờ, chỉ là vạn bất đắc dĩ, người ta mới cầm lấy cái xẻng, làm cho qua ngày ở ngoài đồng thôi, các kỹ năng lao động khác có ai buồn học hỏi gì đâu.
- Vậy thì, ai cùng đi chăn với tôi đây? – Tôi châm thuốc hỏi.
- Cậu xem ai làm được?
- Tôi thấy chàng Câm chăn được.
Lão ta cười
- Sao cậu lại nhắm đúng thằng cha ấy nhỉ? Điều hắn đi thì lấy ai chăn cừu?
- Thế ông cho người khác đến cùng làm với tôi, thì cũng điều của đại đội mất một người chứ sao – Vào thời buổi người ta ưa to mồm to họng đua nhau gào thét với hô khẩu hiệu này, thì làm bạn với chàng Câm là tốt nhất.
Lão ta suy nghĩ một lát rồi bảo:
- Thôi được, đại đội sẽ suy nghĩ.
Lúc đó chúng tôi ngồi xổm trên bờ ruộng lúa mì, nhìn dòng nước đang róc rách chảy vào cửa ruộng, nước vây quanh gốc lúa rồi bò lan ra mãi. Trận mưa hôm trước làm tôi ướt như chuột lột, nhưng chẳng đủ nước cho lúa, chúng tôi vẫn phải dẫn nước tưới đợt hai. Xuân năm nay lúa mì lên rất đẹp, những khóm ở ven bờ đã bắt đầu ôm đòng. Cây trồng có cái gọi là ưu thế vùng ven, những khóm ở đầu bờ cuối rạch, nhận được đủ ánh nắng không khí và nước. Nhưng con người tốt nhất là chen lẫn vào giữa đám đông.
Riêng tôi không sao chen lách vào được, mà cứ giơ đầu ra hứng chịu sóng gió của mọi phong trào.
Thử kết hôn xem sao? Chui vào hang động sinh con đẻ cái như mọi người, phải chăng có thể lẩn hẳn được vào đám đông? Hồi đi tù, nhân viên hỏi cung chỉ thẳng vào mặt tôi bảo:
- Chương Vĩnh Lân, mày chẳng phải là tay vừa đâu! Ba mươi tuổi đầu rồi mà mày vẫn chưa thèm kết hôn, mày còn chờ cái gì? Mày còn chưa chết thì còn lắm âm mưu thủ đoạn lắm! Mày chờ trời đất đổi thay rồi mới lấy vợ chứ gì!…..- Không kết hôn sẽ khiến người ta nghi ngờ, mà nghi ngờ sẽ biến thành tội trạng.
Loa phóng thanh vang lên. Trong không khí ẩm ướt tiếng kim loại truyền đi rất xa. Đang buổi phát thanh bản tin trưa: “….. Thông qua việc học tập chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Mao Trạch Đông và tiến hành giáo dục giai cấp, dưới sự dẫn dắt của tập thể tiên tiến, cá nhân tiên tiến, bộ mặt tinh thần của quảng đại công nhân viên chức mỏ Khai Loan, đã có đổi mới sâu sắc. Anh chị em đã gột bỏ ý thức làm thuê, nâng cao tinh thần trách nhiệm làm chủ, tinh thần cộng sản chủ nghĩa được phát huy rộng rãi, người mới việc mới không ngừng xuất hiện. Anh chị em đã đập tan thuyết mệnh trời là thứ xiềng xích tinh thần mà giai cấp thống trị phản động trước giải phóng đã đè nặng lên người công nhân, tiến thêm một bước giải phóng tư tưởng, thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển sản xuất và đổi mới kỹ thuật…..”.
Tôi dỏng tai lên nghe, nghe mãi, chỉ biết là công nhân mỏ Khai Loan không tin theo thuyết mệnh trời, ngoài ra chẳng còn gì để nghe cả!
Bản tin như vậy, thì ngồi bờ ruộng tôi cũng viết được mười mấy bản.
Tào Học Nghĩa không hiểu sao cũng thở dài, chửi ngay loa phóng thanh một câu “Đ. mẹ nó!” rồi đứng lên, bẻ một cành liễu, vừa đi vừa vung vẩy, như động tác ruỗi ngựa trong kinh Kịch.
Bà Mã lúc ấy mới chui ra khỏi đám ruộng ven rừng đằng sau lưng tôi. Vai vác xẻng, bên nách bà cắp một bó củi khô. Nữ công nhân độc thân ở nông trường không ăn ở bếp tập thể. Họ vốn sở trường nấu nướng hơn nữa qua công việc bếp núc, họ tìm lại được niềm vui của người phụ nữ.
- Cậu Chương chưa về cơ à? Đài nói rồi đấy. - Điều thông tin mà bà nhận được ở bản tin trưa ở loa phóng thanh là đã tan tầm có thế thôi.
- Đám ruộng này chưa tưới xong, tôi còn nán lại một lát nữa – Tôi cười hỏi bà - Thế nào rồi? - Thấy khuôn mặt bà lại bừng sáng lên vẻ đẹp tuổi mười sáu, là tôi đoán được gần hết.
- Cô ấy bảo tự cậu phải đến nói cơ! – Bà cũng ngồi xuống bên tôi 
- Chẳng khó gì đâu! - Giọng đầy tin tưởng - Cậu đừng nghe lời cô ta, một điều không lấy chồng, hai điều không lấy chồng, thật ra trong bụng thì chỉ mong có người đến với mình. Đàn bà thế cả thôi.
- Bà nói với cô ấy thế nào? – Tôi xích lại gần bà hơn - Rồi cô ấy nói với bà ra sao? Bà bảo cô ấy là tôi nhờ bà nói phải không?
- Dĩ nhiên rồi, dĩ nhiên là tôi bảo cậu nhờ tôi đi nói chứ! Cô ấy chỉ bảo: “ Bà để tự anh ấy nói, bà nhé!”.
- Bà thấy có chắc ăn không? Làm thế nào đừng để tôi mất mặt với mọi người.
- Thì tôi đã chẳng nói rồi là gì? Chẳng khó lắm đâu!
Nước sông Hoàng Hà chảy vào đến ruộng lúa mì là sủi bọt trắng xoá, và vui sướng réo lên ầm ĩ. Tôi thấy tâm lý sĩ diện hão của mình được thoả mãn. Đối với tương lai tôi chẳng nghĩ gì nhiều. May mắn nhất là bước đi đầu tiên đã không bị trở ngại vấp váp. Điều này mười mấy năm qua hầu như chưa từng có.
- Vậy thì khi nào tôi nên đến nói?
- Còn khi nào nữa! Hay là cậu còn phải chờ chọn giờ hoàng đạo ngày lành tháng tốt mới được? – Bà mách nước cho tôi – Ngay tối nay cậu đến, cậu vừa bước vào là tôi chuồn ngay.
- Tôi nên mở đầu thế nào nhỉ?
- Vẫn chưa biết mở đầu như thế nào ư? Ôi cậu là con người thông minh tài trí lắm cơ mà! Tôi đã khai mào cho cậu rồi còn gì! - Được thì được, không được thì chuồn luôn. Mà này tôi cam đoan là thế nào cũng xong.
- Sao bà biết là xong?
- Trời ơi! Cái cậu này! Hỏi cái gì cũng hỏi cho cùng kỳ lý! Tôi với cô ấy ở cùng nhà với nhau hai tháng nay rồi, còn gì mà tôi không biết nữa! Đã hai đời chồng như cô ta, còn đòi hỏi gì nữa cơ chứ? Muốn lấy chồng quan, thì quan chẳng lấy, đừng nghĩ là cô ta đẹp thì lấy ai cũng được! Muốn lấy công nhân, hộ khẩu không chuyển vào được thành phố. Lấy được cậu, thì dù cô ta đẹp đến…..
Tôi thấy có phần kém vui. Bây giờ tôi chỉ mong người ta khen cô đủ điều, chỉ muốn nghe người ta nói rằng còn khó mà lấy được cô ta…
Buổi tối tôi đến phòng họ ở. Khi đẩy cửa tôi chợt cảm thấy, cũng chẳng cần đến dũng khí, cũng chẳng có gì là thần bí, hoàn toàn không có một bầu không khí màu hồng nào như trong các tiểu thuyết lãng mạn thường mô tả.
Căn phòng trông giống một cái hang, khác một chút là có bóng đèn rực sáng. Cung cách căn phòng hoàn toàn y hệt gian phòng của tôi và Chu Thụy Thành, có điều sạch sẽ hơn, gọn gàng hơn thôi. Tất cả những căn phòng của nông trường đều nhất loạt giống nhau kiểu chuồng thú. Sự phát triển của &lt;&lt; Đại phê phán &gt;&gt; mười năm nay là đã tước bỏ hết mọi phát triển của con người, đỉnh cao cũng chính là điểm xuất phát. Thế là chúng ta cuối cùng lại quay trở về làm đàn ông và đàn bà đúng với cái nghĩa sinh lý học của nó, quay trở lại cái giây phút vượn vừa mới chuyển hoá thành người xưa kia.
Mọi thứ tục lệ bắt cóc cô dâu, ăn cướp chàng rể. cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, nào sính lễ, nào tự ý đính hôn vượt quyền bố mẹ, cho tới tự do yêu đương, tất cả đều là việc về sau này. Chúng tôi thì chỉ vừa mới chuyển hoá thành người, nên vẫn còn mang tính chất nguyên thủy của động vật thuộc bộ linh trưởng, vậy thì chúng tôi chỉ cần ngửi hít đánh hơi nhau là đủ!
Qủa nhiên bà Mã cười hềnh hệch tuế toái mấy câu, cầm luôn kim chỉ trên tay, cứ thế bỏ ra ngoài. Tôi không hề nghe thấy, chẳng biết bà nói gì.
- Anh đã đến, anh ngồi chơi – Cô bỏ cuốn sách trên tay xuống, phủi qua giường chiếu. Hình như cô biết trước tôi sắp đến, trên giường mới thay tấm trải bằng vải ca-rô rất sạch sẽ.
- Đọc sách gì thế?
Tôi cho rằng đã có chuyện để nói. Tôi cầm sách lên xem, hoá ra là nửa quyển “ Sổ tay thực hành cho công nhân điện ”, chính tôi đọc cũng không hiểu.
- Sách gì đâu! Bà Mã cắt kiểu giầy mà – Cô cười – Em thì còn xem được sách gì, học được mấy chữ, sắp rơi rụng hết rồi.
- Có thể tiếp tục học được đấy – Tôi nói một câu vu vơ đưa đẩy. Đặt quyển sách xuống, tôi định thừa thế ngồi ngay vào chỗ góc giường, cô vừa phủi, nhưng nào ngờ quyển sách lại để đúng ngay vào chỗ ngồi thích hợp nhất cho tôi mất rồi, thế là tôi đành ngồi vào giường bà Mã.
Cô lại cầm quyển sách lên, lật dở sột soạt, cúi đầu xem tranh vẽ trong sách, ra vẻ rất chăm chú. Sách không có bức tranh nào, chỉ có mấy cái sơ đồ dòng điện.
Tôi lấy thuốc lá ra châm lửa hút, lẳng lặng kéo mấy hơi liền. Tinh thần tôi hoang mang bất định, vì tất cả đều quá xa với những gì tôi đã tưởng tượng. Tôi tính, hẳn phải là trong một khung cảnh hoàn toàn khác với thế này chứ! Nào thưởng hoa ngắm nguyệt, nào chỉ non thề biển, nào chàng ơi nàng hỡi, vịn liễu trao hoa, nào khoé môi thầm lặng, nào nhả ngọc phun châu, nào tình trong như đã mặt ngoài còn e…… Đây không phải là đàm phán, mà là sự hoà hợp của hai mảnh tâm hồn, và trong phản ứng hoá học lập tức nẩy sinh một chất kết tinh hoàn toàn mới mẻ. Nhưng tình yêu ở đây thì sao? Ở đây có tình yêu không? Cút mẹ nó đi cho rồi, ở đây tình yêu đã hoàn toàn bị nhu cầu tình dục thay thế.
Trong giây lát, tôi ngờ rằng tôi đã chọn lầm: tôi hoàn toàn không nên đặt bước đi đầu tiên này một chút nào.Tôi chợt nẩy sinh một nỗi chán chường bực dọc, trong lòng có cái gì đó đang nổi lên chống lại chính mình. Tôi bắt đầu tỷ mỉ quan sát cô, bằng ánh mắt bình tĩnh sắc lạnh của một khách mua hàng. Cô không phải là người đẹp lắm, nhưng khuôn mặt ấy, mái tóc đen bóng kia quả có đủ ma lực quyến rũ của phái đẹp. Khác hẳn với bà Mã, trên khuôn mặt ấy không hề để lại chút dấu vết nào của cuộc sống cô đã trải qua. Chỉ có những con người suốt ngày ôm ấp những mơ tưởng hão huyền, và những con người suốt ngày không hề bận tâm suy nghĩ mới giữ được tuổi xuân.
Vậy thì cô là loại người nào? Khuôn mặt cô hiện rõ một vẻ hồn nhiên trong trắng. Vẻ trong trắng hồn nhiên ấy rọi chiếu trên khuôn mặt cô một vầng sáng huyền diệu, thánh thiện, thoát tục siêu phàm. Thế nhưng nếu nhìn thật kỹ, thì dưới vầng sáng thánh thiện thoát tục siêu phàm ấy, hình như đã lại ẩn giấu vẻ ngu xuẩn đần độn của kẻ suốt ngày chẳng hề bận tâm suy nghĩ. Thế là, khuôn mặt ấy trở nên hết sức ưa nhìn, người ta không tài nào đoán ra được. Vậy thì cô ngu xuẩn đần độn hay là hồn nhiên ngây thơ?
Nhưng cô ngồi kia, ngồi ngay ngắn, dựa người vào tường, dáng vẻ như chú mèo lười nhác mệt mỏi, dường như lúc nào cũng chờ đợi một đôi tay vuốt ve âu yếm, hoàn toàn khớp đúng với tưởng tượng của tôi trong tám năm qua. Một ảo ảnh nhưng lại không phải là ảo ảnh.
Đôi vú nhu nhú cao, và cái bụng dưới nây nẩy chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta cảm giác đàn hồi mềm mại. Trên cơ thể cô, không có chỗ nào mờ nhạt, chỗ nào cũng phơi phới giới tính, dường như cả hơi thở cô cũng chứa chan hơi hướng đàn bà, vì thế tràn trề sức lôi cuốn mê hoặc đàn ông. Điều phát hiện đó khiến trong lòng tôi chợt cảm thấy tiềm ẩn một thứ nguy cơ, nhưng chịu không biết được có thể là thứ nguy cơ gì… Nhưng rồi chính cái cảm giác nguy cơ ấy đã kích thích tôi phải chồm lên phía trước, phải thăm dò xem sao…..
- Bà Mã đã nói với cô rồi phải không? - Cuối cùng tôi đã bật được ra.
- Vâng – Cô ngẩng đầu lên nhìn tôi với cặp mắt cười cười – Bà ấy nói rồi.
- Thế nào? - Giọng tôi như muốn mời cô đi dạo chơi.
- Sao anh lại phải nhờ bà ấy nói? Việc này tốt nhất là chúng mình tự bàn bạc với nhau – Nghe giọng cô, khác nào như thể trao đổi về việc tôi muốn vay tiền cô vậy.
- Chúng mình tự bàn bạc với nhau cũng được. Vì là, vì là……- Tôi có phần đuối sức, nói hơi ngắc ngứ - Vì trước kia, trước kia tôi chưa bao giờ nói tới chuyện này. Cho nên tôi mới nhờ bà ấy…..
- Có thật trước kia anh chưa bao giờ nói tới chuyện này không?
- Thật đấy – Tôi cam đoan với cô một cách kiên quyết. Thực tế thì hai tiếng &lt;&lt; trước kia &gt;&gt; ở đây tôi chỉ tính từ năm 1957, Quãng trước năm 1957, thì ngay bản thân tôi cũng không còn coi là một phần của đời mình nữa.
- Làm sao tin được? – Cô mỉm cười, nhưng vẫn tỏ vẻ nghi ngờ.
- Cô nghĩ xem, bắt đầu từ năm 1957, tôi liên tục làm vận động viên, tham gia hết cuộc vận động này, đến cuộc vận động khác – Quay sang chuyện này tôi lại ăn nói trôi chảy lưu loát, tôi khai hết lý lịch của mình với cô rõ ràng như đếm bạc – Cô thấy đấy, tôi còn thời gian đâu mà tìm hiểu, mà nói chuyện yêu đương nữa.
- Ôi! – Cô khẽ lắc đầu – Thật khổ cho anh! – Nhưng rồi cô lại cười ngay - Vậy thì để em dạy anh nhé?
Tôi nghệch mặt ra cười:
- Em dạy anh cũng được – Tôi cảm thấy chung sống với cô sẽ rất thoải mái.
- Nói thực lòng – Cô bỗng trở nên nghiêm chỉnh - Đến cái tuổi như chúng mình, lại đã trải qua bao nhiêu sự việc như vậy, yêu đương gì thì cũng chẳng còn nữa. Cái chính là lập gia đình, rồi sinh sống như tất cả mọi người thôi.
- Điều này thì em cũng nghĩ đúng như anh – Tôi nói thế, nhưng trong lòng tôi lại nghĩ khác, điều chúng tôi suy nghĩ không hoàn toàn giống nhau.
- Vậy thì, chúng mình đừng ai nói ai…..Việc đã qua rồi thì không nhắc lại nữa! – Cô bỗng nhìn như xoáy vào tôi bằng ánh mắt lạnh lùng. Tôi hiểu là cô đang bảo vệ chỗ yếu của mình bằng thái độ cứng rắn. Tôi cúi đầu hít một hơi thuốc, tôi nghĩ xét về tình cảm, mình cũng chẳng còn trinh trắng bao nhiêu. Mình chẳng đã từng yêu người khác đó sao? Mà là yêu thật sự kia.
Tôi gật đầu:
- Dĩ nhiên rồi! Đã là, đã là…..
Hai chữ vợ chồng tôi không thể nào nói ra được. Vừa không quen, vừa ngường ngượng; vả lại ở giữa vẫn còn một khoảng cách hai mét, rõ ràng hệt như cảnh mặc cả mua bán. Tôi chợt cảm thấy cả hai chúng tôi đều rất nực cười, rất kỳ quái, rất lúng túng.
Cô dường như cũng cảm thấy vậy. Cô đứng lên, lôi từ gầm giường ra chiếc phích to vỏ sắt màu xanh, rồi lại lấy một chiếc cốc thủy tinh ra, hỏi tôi:
- Anh có uống trà không?
Tôi bảo “ không ” và cảm kích nhìn cô. Lúc ấy tôi mới phát hiện ra, gương mặt cô chứa chan vẻ trìu mến dịu dàng. Tiếng nước rót vào cốc vọng ra như tiếng chuyện trò thủ thỉ. Nước vốn không có hình dáng, rót vào cốc, hoá thành hình cốc. Một câu thơ tôi rất yêu thích, thoáng hiện lên trong ký ức.
0
Cô đặt cốc nước lên trên chiếc rương gỗ trước mặt tôi, rồi đứng lại và cùng với cốc nước cô cúi người xuống chiếc rương. Chúng tôi đã nhanh chóng rút ngắn khoảng cách. Lúc ấy lẽ ra tôi nên làm những gì? Tôi chỉ đưa tay ra là sờ vào được người cô. Nhưng cô lại hỏi tôi một câu khiến ý định của tôi rụt ngay lại.
- Thế hiện nay anh có được bao nhiêu tiền? – Cô vén mái tóc xõa trước trán, hỏi tôi.
- Hiện anh có khoảng bảy tám chục đồng – Tôi nói – Nhưng anh có thể vay thêm – Tôi nghĩ đến La Tông Kỳ.
- Khỏi phải vay – Cô dẩu môi ra – Vay thì phải trả, dây dưa tháng nọ sang tháng kia….. Sao anh dành dụm được ít thế? Một thân một mình ngần ấy năm trời.
Tôi lại cảm thấy toàn thân lạnh toát, tôi bưng cốc lên uống một hớp nước nóng
- Làm sao mà dành dụm được? Em cũng biết đấy: một tháng hai mươi bảy đồng tiền công, phải ăn, phải mặc, phải hút thuốc, rồi khấu đầu trừ đuôi khoản nay khoản nọ……. thôi thì để anh cai thuốc lá đi vậy – Tôi biết, tôi chẳng có quyết tâm ấy đâu, ở đội lao cải khó khăn đến thế, mà tôi có cai được thuốc đâu. Nhưng diễn biến vở kịch này đã quy định tôi phải nói câu ấy.
- Không cần cai thuốc – Cô bảo – Sau này tiết kiệm khoản khác cũng được. Em đã để dành được ít nhiều…..
Cô cúi đầu lấy ngón tay trỏ vạch vạch lên thớ gỗ nắp rương như chờ tôi hỏi. Nhưng tôi không hỏi. Thế là cô ngẩng mặt lên nhìn tôi nở một nụ cười bí ẩn.
- Nhiều hơn anh nhiều!
Tôi cũng nhìn cô cười. Tôi nghĩ, nhiều hơn cũng chẳng hơn được bao nhiêu! Phàm cánh tù lao cải lao giáo thả ra, nhất loạt hưởng tiền lương công nhân lao động bậc một – hai trăm bẩy mươi hào! Làm sao mà dồi dào được?
- Vậy thì được, sau này em làm chủ gia đình vậy nhé! – Tôi nói.
- Đương nhiên rồi! – Cô cười vẻ đắc thắng.
Tất cả những điều đó khiến tôi cảm thấy vô cùng kỳ lạ. Vốn dĩ chỉ là một ảo ảnh, tôi bảo làm cái gì, cô làm cái ấy. Tôi bảo nói câu gì, cô nói câu ấy. Giờ đây, trong tâm tưởng tôi, ảo ảnh ấy nổi bềnh lên, nhảy tung ra, hoàn toàn tách rời khỏi tôi, và sau đó biến thành một thực thể độc lập đứng trước mặt tôi, thì những điều cô nói, những điều cô làm, chẳng còn giống nhau tí nào khi cô còn trong tâm tưởng tôi. Tôi vẫn tưởng mình rất đỗi quen thuộc cô, nhưng giờ đây lại thấy cô rất đỗi xa lạ.
Nhưng so với khi còn ở trong tâm tưởng tôi, thì cô sống động hơn, đầy cảm giác hình khối và xác thịt hơn. Hơi thở cô ấm áp, phảng phất mùi hành, nhè nhẹ phả vào mặt tôi; bộ ngực đầy căng, phập phồng theo nhịp thở. Đôi vai cô tròn lẳn, chắc nịch, hai đường cong tuyệt mỹ chạy dài xuống tận hai cánh tay cô…. Vậy là cô hoàn toàn trùng hợp làm một với cái ảo ảnh kia.
Xem ra chẳng còn gì bàn bạc tiếp nữa, chúng tôi chờ đợi nhau trong im lặng. Ngón tay cô khắc khoải loay hoay trên mặt rương; tôi ngồi trên giường bà Mã cũng thấp thỏm hồi hộp. Nhưng hình như cuộc trao đổi rất đỗi thực tế ấy, đã hủy hoại bầu không khí trong phòng, nén chặt tình cảm của chúng tôi khiến chúng tôi khó bề đột phá nổi cái ranh giới mỏng manh có thể đột phá trong giây lát ấy.
Lát sau cô lại ngẩng đầu lên hỏi:
- Anh xem liệu cấp trên có phê chuẩn cho anh không? Hoàn cảnh anh bây giờ….
- Anh nghĩ là có thể được – Tôi cười đau khổ - Em chả bảo là tình hình bây giờ khá hơn trước đấy sao?
Cô cũng cười, nhưng là cái cười gượng ngạo, không có nội dung, không có phương hướng. Cái cười ngậm ngùi thương cảm, cái cười vẩn vơ phó mặc cho số phận.
- Ôi! Chúng mình vấp ngã ở đâu, thì phải bò dậy ở đấy thôi - Giọng cô đầy thương cảm.
Tôi bỗng xúc động lạ thường. Hoá ra cái cội rễ gắn bó chúng tôi là ở đây! Lúc này cô mới thật sự phóng toả hết sức mạnh cuốn hút vẫn tiềm tàng trên mình cô. Tôi muốn nắm lấy bàn tay vẫn đặt trên mặt rương kia, se sẽ kéo cô vào lòng mình, nhưng chợt nghe Đen thình lình chửi toáng lên ở ngoài sân:
- Ông đi quá phép đấy, ông xem thằng cai đầu dài nào dám khấu tiền công của ông! Bây giờ là lúc nào rồi, mà còn đè hầu bóp cổ người ta?! Bảo những thằng cai đầu dài ấy lên Bắc Kinh mà ngó xem…..
Tiếp đây là tiếng Tào Học Nghĩa:
- Cái gì đấy hả Đen, mày điên à? Ai bảo khấu tiền công của mày?! – Lão ta hạ giọng đấu dịu – Thôi về đi, về đi! Mấy ngày mày đi quá phép, tao đã bảo với kế toán rồi, giải quyết như đi công tác mua hàng cho đại đội……
…………
Đây chính là cung cách yêu đương và tỏ tình của tôi chăng? Nằm trong chăn tôi trằn trọc mãi mà không sao ngủ được, cứ cảm thấy việc ấy đến quá nhanh, hình như quãng giữa còn thiếu một số khâu nào đó, vì thế những gì nắm được trong tay, vẫn còn có cảm giác chưa đủ liều lượng. Niềm phấn khởi sắp được nếm mùi cuộc sống mới, lại khiến tim tôi đập thình thịch rộn ràng mãi. Ánh trăng lạnh lẽo qua cửa sổ tràn vào trong nhà, tôi đã ngủ say đâu mà vẫn rơi vào cõi mộng. Và một khi cõi mộng hoá thành hiện thực, thì hiện thực lại dường như biến thành cõi mộng ảo huyền. Thực tại và tiền đồ của đất nước và cá nhân, đều đã trở thành một cái gì đó không nắm chắc được nữa. Cái gì đó thần bí khôn lường, bởi thế chỉ đành quy tất cả vào số kiếp vận mệnh mà thôi.
Tiếng loa phóng thanh nghe được ban sáng lại vẳng lên bên tai: “… Họ đã đập tan được xiềng xích tinh thần là thuyết mệnh trời mà giai cấp thống trị phản động trước ngày giải phóng đã cột vào mình người công nhân..” vân vân và vân vân. Họ đã đập nát như thế nào nhỉ? Ma quỷ thật! Mình gắn bó với cô ấy hình như đúng là mệnh trời! Số kiếp và vận mệnh quả là nghệ nhân ảo thuật vũ trụ, bao giờ cũng trổ tài diễn nhiều cảnh trớ trêu đúng vào lúc người ta hoàn toàn không thể ngờ tới. Nó tạo ra tưởng tượng, tạo ra hy vọng, rồi khiến mọi thứ đều hụt hẫng. Nó gây ra thất vọng, gây ra ảo tưởng, rồi sau đó lại đem tới cho mọi người hy vọng và ước mơ.
Tôi lần lượt hồi tưởng lại tình yêu trước kia, với người mình yêu đương say đắm nhất, thì không được kết hôn; kết hôn được với tôi thì lại chỉ là một xác thịt trong hy vọng, trong ảo tưởng; cái lý tưởng thì không được gắn bó cùng, còn cái gắn bó được với tôi lại thành lý tưởng của tôi - Chuyện này rốt cục nên nói như thế nào cho phải? Có người bảo tình yêu là cho đi, nhưng tôi có thể cho cô ta những gì nhỉ? Chẳng có gì cả! Ở đây không có tình yêu, chỉ có nhu cầu tình dục. Hôn nhân hoá ra không phải kết quả của tình yêu, mà là kết quả của duyên số. Ôi! Thì ra nhà thơ nào đó đã nói đúng: - Nàng ơi, ta với nàng đều không biết tình yêu là gì?…..
- Cậu Chu ơi! Cậu Chu ơi! – Tôi đột nhiên gào to lên, tôi muốn gọi bất cứ người nào đó đến chuyện trò chốc lát.
Chu Thụy Thành giật mình tỉnh ngay tức khắc:
- Gì thế? Có chuyện gì thế?
- À! chẳng có chuyện gì đâu – Tình cảm của tôi phút chốc lắng xuống – Có diêm không?…… Mình hút điếu thuốc.
- Ngủ đi, thôi ngủ đi! – Anh ta bực bội trở mình một cái - Cậu biết đấy thôi, mình không hút thuốc làm gì có diêm?!
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:32:30ĐạoCấy>
                                                                                PHẦN THỨ BA.
                                                                                CHƯƠNG MỘT.
 
 
Tôi không thể nào kềm chế được mình, cứ phải đưa mắt nhìn lên tờ báo trên tường. Trên tờ báo có một bức ảnh: “ Giặc Mỹ xâm lược gây ra thảm sát dã man ở Mỹ Lai ”. Tấm ảnh rất nhỏ lờ mờ không rõ lắm, nhưng vẫn có thể nhận ra một đống xác người nằm ngổn ngang chồng chéo lên nhau.
Căn buồng mới đã được dán một tờ báo, tấm ảnh này lại ở đúng chính diện, làm tôi rất khó chịu. Nhưng tôi cũng không gỡ xuống thay tờ khác.
Lại còn chiếc chăn hoa nữa, vỏ chăn thêu hai cỗ máy kéo, mang theo cả lưỡi cày. Sao mà nặng nề! Mình và cô ấy sẽ phải nằm ngủ dưới đống máy móc khổng lồ ấy ư?
Vách buồng được Đen giúp dán giấy. Lúc ấy anh ta vui vẻ hồ hởi ôm ở văn phòng đại đội bộ về một cuộn báo, quẳng xuống đất, xắn tay áo lên bảo:
- Người anh em, nhìn tớ đây! Vách đất này chẳng cách nào quét vôi trắng được, dán phủ báo lên cũng thế thôi! Cậu không thấy bên Mỹ người ta còn lấy báo làm nhà lầu cơ đấy!
Anh ta rút trong cuộn báo ra một tập, quẳng lên mặt giường lò* tôi đang trát bùn, nói thêm:
- Này, mình biết cậu thích xem bản tin tham khảo, nên cố tình lấy trộm một ít. Nhưng xem cái đồ ma này có ích gì đâu? Bây giờ người nước ngoài lại quay sang học tập chúng mình. Chẳng là, lại có đảng cộng sản ( Mác-Lê ) nào đó khen ngợi “ đường lối 57 ” của chúng mình. Đúng là no cơm rửng mỡ. Cứ bắt chúng nó đi xuống nông thôn thử xem!….
Tôi xem báo, anh dán vách. Thế là trên vách hiện ra đống xác người ngổn ngang chồng chéo ấy.
Vỏ chăn là quà tặng tập thể của những người đã lao cải, lao giáo*, quần chuyên*, đã ngồi tù ở đại đội chúng tôi. Chỉ có nhà nữ triết học chân to, là không thuộc vào cái đội ngũ này thôi. Mỗi nhà bỏ ra năm hào, ở cái xóm nhỏ chưa đầy trăm hộ này, đã góp nhặt được hơn hai mươi đồng. Một con số to lớn biết bao và cũng là một con số nhỏ bé biết bao!
- Tôi đi xếp hàng mãi mới mua được đấy – Bà Mã phải đi ba mươi cây số về bảo – Toàn màu xấu cả, chỉ có cái màu này là nhất, đỏ chót, chúc mừng cô cậu, sang năm đẻ lấy thằng cu thật kháu nhá!
Thế là chiếc máy kéo mang theo lưỡi cày chạy thẳng đến trên giường lò chúng tôi.
Tất cả như trong một giấc mơ!
 Hơn nữa giấc mơ ấy còn tiếp diễn, và sẽ còn kéo dài nữa.
Con đường mà thế giới này quy định cho mỗi con người thật vô cùng hạn hẹp. Hễ đã đặt bước chân đầu tiên trên con đường đó rồi, là bắt buộc phải cứ thế mà đi tiếp. Con người chỉ có thể chọn lựa trước khi đặt bước chân đầu tiên thôi. Một khi đã chọn lựa xong, thì con người lập tức biến thành con rối. Không phải là đang tự mình đi, mà là tường cao hai bên đang dồn ép con người đi lên phía trước.
Hôm ấy tôi đến thăm Đen. Vừa vào nhà Đen đã oang oang:
- Tốt lắm! Nghe Lệ Phương bảo cậu sắp kết hôn với Hoàng Hương Cửu phải không? Hai đứa chúng mày thật là đẹp đôi - Một cặp vợ chồng mới, hai món đồ cũ!….
Hà Lệ Phương bảo:
- Anh đừng có nói bậy. Anh Chương đây đâu phải đồ cũ, chưa “hé nụ” đâu nhá! – Nói xong, cô ta đứng sau lưng Đen, nháy mắt với tôi lia lịa.
- Cô thì biết gì! – Đen phát vào mông vợ một cái – Con trai không gọi là “ hé nụ “, mà gọi là giai tân. Được đấy, cậu Chương này, cậu thì cái đếch gì cũng chính hiệu cả, đến cái “ của quý “ ấy cũng còn nguyên xi chưa bóc tem! Nói đi, cậu cần gì tớ bao cho tất.
Không rào đón gì, tôi nói hết mọi dự định của tôi với anh ta.
- Sợ đếch gì! – Anh vỗ vào ngực mình - Tớ đi tìm Tào Học Nghĩa, nếu lão ta không phê chuẩn, tớ cho lão nếm đòn của cánh anh chị Bắc Kinh toàn nông trường!
- Mấy lão cai ấy còn chưa biết, ở Bắc Kinh ngay cả bọn tội phạm chiến tranh ngày xưa cũng đã được tha cả rồi! – Anh lại đưa tay ra bưng lấy miệng nói - Mẹ kiếp! Lần này mình về cúng hắn không ít đâu, riêng rượu trắng đã hai chai…..
- Lại còn một hộp kẹo sữa, để vỗ béo mụ vợ xấu xí của lão! – Hà Lệ Phương ngồi cạnh bổ xung thêm.
- Phải rồi! Nào nhanh lên, Lệ Phương, cho tờ giấy đây, viết ngay thôi……Được, tờ này được rồi. Mẹ kiếp! Tờ này là giấy viết thư mình mua ở cửa hàng Tây Đơn cơ đấy!… Này bút đây, cậu vẽ vời đi, xem có mực chưa? Viết thế này nhé: Phần tử phản cách mạng Chương Vĩnh Lân, cùng tù lao cải được phóng thích Hoàng Hương Cửu, tự nguyện kết thành tập đoàn phản cách mạng…..
Chúng tôi cùng cười phá lên.
Tôi bắt đầu viết lá đơn nghiêm chỉnh cả đời tôi chưa từng viết bao giờ, trong bầu không khí đùa bỡn, với một tâm trạng đùa bỡn như vậy. Tôi đón lấy giấy – hoá ra có phải là giấy viết thư gì đâu, mà là giấy để khách hàng góp ý của cửa hàng Tây Đơn - lật mặt trái lên, cầm lấy bút, trầm ngâm một lát.
- Này Đen ơi – Tôi bảo, - Mình thấy, phải viết một dòng ngữ lục trước đã chứ.
- Viết ngữ lục gì! – Đen đập bàn - Cậu mà viết rằng “ Phải chuyên chính với giai cấp tư sản ”, e suốt đời cậu cứ mồ côi vợ mãi thôi! Người ta sẽ bảo, mẹ kiếp, mày cứ thật thà chịu khó cải tạo thì cũng hết đời, còn kết hôn cái con mẹ gì nữa? Bọn “ trí thức thối tha ”  chúng mày, chỉ biết vớ lấy roi của kẻ khác để quất mình thôi!
- Đừng nói thế. Chúng mình cũng biết hưởng theo nhu cầu, lấy cái mình cần cho mình dùng chứ.- Tôi nói – Có rồi cậu đừng quấy đảo nữa.
Thế là tôi cầm bút viết:
                                                                       Ngữ lục Mao chủ tịch.
Điều động hết thảy mọi nhân tố tích cực, đoàn kết với tất cả những người đoàn kết được, và gắng hết sức biến nhân tố tiêu cực thành nhân tố tích cực, để phục vụ cho sự nghiệp vĩ đại xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa này.
                                                                             Đơn xin phép.
Nay có công nhân nông trường đại đội ba Chương Vĩnh Lân, nam, ba mươi chín tuổi ( tình trạng hôn nhân: chưa từng kết hôn ), cùng với công nhân nông trường Hoàng Hương Cửu, nữ, ba mươi mốt tuổi ( tình trạng hôn nhân: ly hôn ) xin đăng ký kết hôn. Hai bên đều tự nguyện. Bảo đảm sau khi kết hôn tiếp tục cải tạo, tiếp thụ giám sát, dưới sự lãnh đạo của chi bộ và sự giáo dục lại của bần nông, trung nông lớp dưới, góp phần nhỏ bé xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa. Mong chi bộ đảng đại đội nghiên cứu phê chuẩn, xin đội ơn.
Kính chào.
                                                                                                                                       Chương Vĩnh Lân.
                                                                                                                                        Hoàng Hương Cửu. 
                                                                                                                                        Tháng 4 năm 1975.
- Hừ! – Chàng Đen cầm lấy tờ giấy khách hàng góp ý của cửa hàng Tây Đơn lên, làm như ngắm nghía một bức hoành phi do một cây bút tài hoa đề chữ - Mẹ kiếp, thật hay hết chỗ nói! Lại còn “đội ơn” nữa chứ! Ngữ lục thuộc làu như cháo chẩy, mẹ kiếp, cậu làm được bí thư đảng uỷ đấy! Chỉ nguyên cái chữ viết đẹp thế này, thì lão cai cũng phải phê duyệt thôi! Chờ đấy tớ đi tìm lão ta.
- Thế còn buồng ở thì sao? – Hà Lệ Phương túm lấy anh ta - Chuyện buồng ở cũng phải giao hẹn rành mạch với Tào Học Nghĩa.
Đen cân nhắc một lát:
- Nhà ở ấy mà, tớ thấy các cậu đừng đụng đến bà Mã, cũng đừng đụng đến Chu Thụy Thành. Mẹ kiếp! Họ cũng tội nghiệp lắm cơ.
- Em thấy, bảo hai người ấy dọn vào ở chung với nhau là xong! – Hà Lệ Phương cười nói chen vào.
- Thôi, thôi! Cứ để mặc người ta! – Đen bảo – Mình thấy bọn ta phải tìm cách khác…….. À, phải rồi! Cánh ta xin lão, hai gian nhà kho xưa nay vẫn để nông cụ ấy.
Đen đi rồi, Hà Lệ Phương tủm tỉm cười bảo tôi:
- Anh Chương ạ! Em nói cái này nhé, nếu cô ấy không sinh đẻ, anh đừng ruồng bỏ cô ấy nhá.
- Làm sao cô biết, cô ấy không sinh đẻ?
- Hà hà! Chuyện đàn bà, còn có gì em không biết cơ chứ! – Cô miết hai ngón tay bật đánh tách một cái trước mặt tôi – Tri thức về chuyện này còn lớn hơn cả học vấn trong sách vở của anh nhiều.
- Không biết đẻ càng hay, tôi đang cần người không biết đẻ đây.
Tôi trả lời lạnh lùng.
- À, à? – Hà Lệ Phương nhìn tôi kinh ngạc.
Giờ đây nói như lời Đen, thì tất thảy đều đã xong!.
Tôi bỗng nhiên có nhà.
Mà lại là nhà hai buồng hẳn hoi, so với nhà ở của gia đình nông dân nông trường bình thường, thì còn dôi ra nửa gian. Tuy là hai gian nhà kho dột nát, nhưng vẫn cứ là có phòng trong phòng ngoài. Cũng chẳng hiểu Đen đã thuyết phục Tào Học Nghĩa như thế nào mà được thế.
Cô đã trổ tài sắp xếp bố trí nhà ở, khiến tôi phải kinh ngạc: chỗ nào đóng giỏ tre đựng đũa, chỗ nào gắn miếng gỗ để xà phòng, chỗ nào xây bệ đất; rương kê làm sao trở thành tủ đầu giường, bàn thớt kê liền bệ lò, để khi kéo dài bàn thớt, thì đồng thời cũng mở rộng bệ lò, nồi niêu, gáo chậu, bát đĩa… nên để chỗ nào, để như thế nào, vừa bảo đảm an toàn vệ sinh vừa ít choán chỗ; chậu rửa mặt, chậu rửa chân, khi dùng thì đặt ở đâu, dùng xong cất chỗ nào, cô chỉ bảo rõ ràng cho tôi trước, và tôi thật sự thấy chỉ có kê đặt như vậy mới gọn gàng được; trên tường phải đóng đinh vào chỗ nào, dây phơi khăn mặt căng ra sao, dây phơi quần áo căng như thế nào; phía trên và phía dưới giá treo mũ áo, cô chọn ra hai tờ giấy bóng trắng tinh dán lên, vậy là quần áo treo  lên giá, vừa không cọ vào tường đất,mà phía trên lại có cái che phủ, công năng của hai tờ giấy bóng chẳng kém gì một chiếc tủ lớn gắn vào vách.
0
Cô còn bảo tôi tháo cánh cửa ngăn giữa hai gian xuống, mượn cưa về, cưa trộm đúng quãng giữa để thành hai tấm. Một tấm kê dưới cửa sổ, bên trên phủ một mảnh vải kẻ ca-rô, bày lên đấy lọ kem xoa mặt và tài sản duy nhất có thể khoe ra của tôi - một chồng tác phẩm Mác-Ăngghen đóng bìa cứng ( chỉ có sách này mới dám bày công khai ra ngoài ). Thế là, sau mười sáu năm trời đằng đẵng, tôi lại có một chiếc bàn đọc sách nghiêm chỉnh. Trên chín triệu sáu trăm ngàn cây số vuông đất đai, tôi đã thật sự chiếm hữu cho mình một mét vuông! Mấy lọ kem thoa mặt kia, cũng không làm cho bàn đọc sách nhiễm không khí phấn sáp, tầm thường, ngược lại còn tăng thêm vẻ thanh nhã là khác, vì lúc ấy nhãn hiệu hàng hoá hết sức nghiêm chỉnh.
Còn nửa cánh cửa kia, cô làm như thế này: cô chặt về bốn đoạn gỗ to bằng nhau, một đầu vót nhọn, đóng chặt xuống nền đất gian nhà ngoài, để bốn đầu phía trên cao ngang nhau kê nửa tấm cánh cửa lên trên, rồi phủ lên đó nửa vuông vải kẻ ca-rô, nghiễm nhiên thành ra một chiếc bàn ăn thật đẹp. Trong phòng chỉ cần một chiếc bàn ăn thôi, lập tức nổi ngay lên không khí gia đình. Cả nông trường này, đây là chiếc bàn độc nhất, không có chiếc thứ hai!
Cô còn chỉ huy tôi, giường lò và lò phải xây tách ra ở từng gian một, buồng trong xây giường lò, buồng ngoài xây lò, nhưng hai thứ phải thông nhau. Cách xây như vậy, tôi chưa nghe nói bao giờ mặc dù tôi là tay chuyên nghề này. Nhưng sau khi đã xây theo ý cô, mới thấy là, chẳng khó khăn về kỹ thuật cả, chỉ có điều vì ở giữa có bức tường ngăn, đòi hỏi phải tăng thêm độ dài cho ống khói mà thôi. Đơn giản như vậy, mà sao người ta không nghĩ ra nhỉ.
- Xây như vậy – Cô bảo – Chúng ta sẽ dùng buồng ngoài làm nhà bếp, phòng ăn. Buồng trong là nơi ngủ và nơi anh đọc sách, tro bụi chọc lò không bay được vào buồng trong. Chúng mình phải giữ gìn cho căn phòng lúc nào cũng sạch sẽ gọn gàng.
Quả nhiên, phòng ngủ và đọc sách của chúng tôi không bao giờ vương chút bụi bẩn nào.
Cánh cửa ở giữa gỡ đi rồi nhưng cũng chẳng hề gì. Cô treo lên đó một tấm khăn trải giường trắng tinh sạch sẽ làm màn cửa, hoá ra đẹp hơn tấm ván cửa dán đầy biểu ngữ.
Hà Lệ Phương đem cho chúng tôi, cả bình lẫn hoa nhựa mà cô ta đã bầy hai năm rồi. Bó hoa ở phòng Đen suốt ngày mặt ủ mày chau, chết dở sống dở, xưa nay ai chú ý đến nó đâu. Cô chỉ lấy nước xà phòng rửa qua một luợt, lập tức tươi tắn lên ngay, sắc màu rực rỡ chói lọi lung linh đẹp mắt. Chúng lồ lộ trước bàn ăn của chúng tôi, Hà Lệ Phương hầu như không còn nhận ra được là hoa của nhà mình nữa.
- Trời ơi!…. Này! Mẹ kiếp sao mà cô khéo tay thế? – Hà Lệ Phương tròn xoe mắt bảo – Vào đến tay cô, những thứ héo quắt héo queo cũng đều tươi tắn và đẹp xinh trở lại.
- Nàng dâu khéo muối, dưa héo cũng ngon – Bà Mã nói – Mùa đông năm nay tôi không có rau ăn, là phải đến đây tìm cô cậu đấy!
Chu Thụy Thành đang nhai kẹo, ngồi lặng yên trên ghế đẩu. Mọi người bảo anh kéo một bài nhị, anh vội vã xua tay bảo:
- Không thích hợp, không thích hợp.
- Có gì mà không thích hợp? - Tất cả đều thấy kỳ lạ.
Điều đó chỉ có mình tôi hiểu.
Bí thư Tào Học Nghĩa cũng đến vào lúc đang vui vẻ ồn ào.
- Ồ! Hoàng Hương Cửu, cô tháo vát thật! – Ông ta nhìn cô toét miệng cười – Hai gian nhà nát này, qua tay cô thu dọn sửa sang thành đàng hoàng ra phết!
Đen rút một điếu thuốc trên chiếc bàn ăn xinh xắn.
- Đồng chí bí thư, đồng chí phải hút điếu thuốc này. Đồng chí xem, dưới sự lãnh đạo anh minh của đồng chí, người người đều muốn cắm rễ ở biên cương, coi nông trường là nhà rồi.
- Hôm nay sao cậu văn minh hẳn lên thế nhỉ? – Tào Học Nghĩa cười bảo – Dĩ nhiên là tôi vui lòng hút điếu thuốc này rồi, ngày vui của Hoàng Hương Cửu mà lại. Chính tôi xin cô ấy về đây đấy……
Hoàng Hương Cửu tuy đã đi lao cải nhưng không có mũ; tôi phải lao cải, lại thêm có mũ, là thân phận một cổ hai tròng. Trong trường hợp này bí thư phân biệt rành mạch, nên chỉ chúc mừng cô thôi.
Còn cô thì đứng bên chiếc rèm cửa bằng vải trắng tinh mà cười thôi.
Cười rất đẹp.
Giờ đây, tất cả những gì bận bịu rộn ràng và ồn ào náo nhiệt đếu đã qua đi.
Tôi ngồi trên giường lò hút thuốc, cô ở nhà ngoài dọn dẹp hạt dưa và bánh kẹo còn thừa lại. Chốc chốc lại vọng vào tiếng va chạm lách cách khe khẽ, âm thanh ấy vô cùng xa xôi. Một cõi mộng xa xăm và xa xăm như cõi mộng, đây chính là âm thanh của “ người vợ ”. Phải rồi âm thanh ấy, chỉ có thể thuộc về người vợ mà thôi, không thể phát ra từ bàn tay người nào khác được.
Đàn bà không đơn thuần chỉ để nói về một loại người khác với giới tính đàn ông, mà còn có âm thanh đàn bà, linh khí đàn bà, từ trường đàn bà, hơi thở đàn bà, mùi vị đàn bà……Đàn bà có thể để lại những thứ ấy ở nơi họ đã đụng chạm tới, trên đồ đạc mà họ đã sờ vào. Dẫu cho họ không có mặt, thì nơi ấy, những đồ đạc ấy, đều có ma lực của họ bám vào, nó bao vây chặt lấy anh. Cô có mặt ở mọi nơi, quan tâm đến mọi điều, nhúng tay vào mọi việc.
Tất cả mọi thứ trong cái nhà này, trừ tấm ảnh đáng ghét trên tường kia, đếu là cuộc sống do cô sáng tạo nên. Cuộc sống chính là do từng tí, từng tí ấy, cái giường lò này, tấm chăn bông kia, rồi chiếc bàn đọc sách làm bằng cánh cửa, tờ giấy bóng trên giá treo mũ áo, lọ kem xoa mặt….tạo nên. Cuộc sống do cô sáng tạo ra đang bao vây chặt lấy tôi, tôi bỗng chốc đánh mất bản thân mình, và bắt đầu thay thế mình bằng cô ta. Cô xen vào cuộc sống của tôi, chẳng khác nào khi cưa ngang tấm gỗ, cô đã chặt phăng ngang lưng cái quá khứ của tôi rồi. Quá khứ không biết đã để lại nơi đâu? 
 
…………
* Giường lò: vùng nông thôn Trung Quốc lò sưởi kết hợp giường nằm cho ấm vào mùa đông.
* Lao giáo: cải huấn bằng lao động.
* Quần chuyên: (quần chúng chuyên chính) chịu sự chuyên chính của quần chúng. Tất cả đều là hình thức giam giữ trong Cách mạng văn hoá.
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:35:18ĐạoCấy>
                                                                              CHƯƠNG HAI.
 

Cô giật tắt đèn phòng ngoài, vén chiếc rèm cửa bằng vải trắng bước vào.
- Buồn ngủ chưa? – Cô cười hỏi tôi, cô có vẻ như sống với tôi đã mấy năm nay rồi.
- Chưa buồn ngủ - Tôi trả lời – Em buồn ngủ chưa? Anh trải giường cho nhé.
- Đừng làm thế, ai lại để đàn ông trải giường – Cô leo lên giường lò, thành thạo trải chăn ra – Anh ra rửa đi, nước đã lấy sẵn cho anh rồi đấy.
Thế là tôi đã biết: một là từ nay về sau, tôi không phải trải giường, gấp chăn nữa; hai là cô ta bảo “ rửa ”, thì chắc chắn đây là trình tự bắt buộc phải làm.
Rửa ráy xong xuôi, tôi bước vào, cô đã ngủ ở trên giường rồi. Nhanh thật!
Tôi không biết giờ đây mình phải làm gì. Trên giường chỉ có một tấm chăn, mà lại đặt hai cái gối. Thật là kỳ quái, ở đâu đã thình lình hiện ra một người đàn bà thế này; cô ta không phải là đàn ông, cô ta là đàn bà! Mà người đàn bà ấy lại ngủ bên cạnh tôi. Bất cứ ai cũng không được can thiệp vào, chẳng có người nào lại cảm thấy kỳ quái như tôi……Có điều, còn phải có những trình tự nào đó nữa, tôi nghĩ thế. Tôi châm một điếu thuốc.
- Anh lại còn hút thuốc à? – Nhưng trong giọng nói không có ý trách.
- Chưa muốn ngủ - Tôi cười như xin lỗi – Anh hưng phấn quá.
Có lẽ cô cũng cười, nhưng là cười thầm trong chăn.
- Hương Cửu, sao em lại kết hôn với anh? – Tôi ngồi lên mép giường, hỏi cô.
Cô nhìn lên mái nhà, lặng im một lát, rồi hỏi lại tôi.
- Vậy thì, vì sao anh kết hôn với em nào?
- Em còn nhớ tám năm về trước không? Trong bãi lau lách….
Cô cười, cái chăn rung rung.
- Ôi, anh còn nhớ kia ư?
- Dĩ nhiên rồi, dĩ nhiên là anh nhớ chứ! Anh cứ nghĩ rằng….
- Em quên lâu rồi! – Cô ngắt lời tôi, giọng rất dứt khoát.
Cô quên rồi! Lòng tôi lắng xuống. Nhưng tôi nghĩ cô không thể quên được.
- Không, em không thể quên được. Bằng không, làm sao vừa gặp mặt em đã nhận ra anh?
- Ngủ đi, thôi ngủ đi – Cô ôn tồn tỏ ý đã sốt ruột - Nhắc những chuyện ấy làm gì nữa? Bây giờ đã ăn ở cùng nhau, thì phải nghĩ xem sau này sinh sống như thế nào chứ.
- Sinh sống thế nào nhỉ? – Tôi thẹn thùng líu ríu hỏi, và từ từ cởi quần áo. Lẽ ra tôi còn có rất nhiều chuyện để nói, tôi cũng có thể nói ra rất nhiều chuyện, nhiều chuyện rất hay, nhưng giờ đây tôi chỉ nói được theo nếp suy nghĩ của cô ta.
- Sinh sống như thế nào đây? – Cô nằm ngửa người thẳng đuỗn – Hai đứa chúng mình sống với nhau, lương tuy chẳng cao, nhưng không vướng víu bận bịu gì, dứt khoát phải khá hơn họ! Những con mẹ ấy, nói cứ như rồng leo, biết làm cái gì đâu? Hừ! Em khinh tất….
Giọng cô đột nhiên trở nên rất bực bội, lộ vẻ khinh bỉ đối với “ những con mẹ ấy ”. Dường như tất cả mục đích cuộc sống sau này của cô, là chạy đua cuộc sống với “ những con mẹ ấy ”, và sẽ áp đảo họ trong cuộc chạy đua này.
Ôi đàn bà, đàn bà! Tôi phải làm quen dần từng bước với cô. Tôi cởi áo ngoài, quần dài, ngồi dựa vào tường bên người cô. Tôi phải hút hết điếu thuốc. Tôi muốn kéo dài thêm những giây phút như thế này. Những giây phút như thế này đáng được tận hưởng. Niềm vui này phải được hưởng trọn vẹn. Cô nằm ở đây ngay bên chân tôi. Làn tóc đen nhánh mềm mại buông xõa ra trên tấm khăn phủ gối trắng trẻo mịn màng. Cặp mắt sáng long lanh nhìn đăm đăm vào một khoảng không gian nhỏ hẹp. Trong khoảng không gian ấy, có thể có rất nhiều bức tranh tuyệt diệu, cặp mắt đen láy ấy chan chứa mộng mơ, ước mong và khao khát, lại cả tính toán, chờ đợi và sự căng thẳng trước khi vào trận.
Tấm chăn mỏng dính đã không che kín cơ thể kiều diễm của cô. Cỗ máy kéo theo bộ lưỡi cày sáng loáng kia càng làm nổi bật bộ ngực đầy căng và khuôn bụng dưới mềm mại với những đường cong uốn lượn mê hồn. Cô chịu nổi cỗ máy kéo nặng nề như vậy, chứng tỏ cô có sức bật dẻo dai vô bờ bến. Ảo ảnh đã biến thành hiện thực, đã mất đi vẻ mỹ miều huyền diệu không tài nào nắm bắt được. Nhưng trái lại, hiện thực còn say đắm lòng người hơn cả ảo ảnh.
- Vào đi – Cô gọi tôi.
Tôi vén chăn, hoá ra lúc này đây, cô đã hoàn toàn giống hệt như tôi đã thấy trong bãi lau năm xưa……
- Có thể là anh đã hưng phấn quá – Tôi nói.
Nhưng tôi nói câu này chẳng qua chỉ là để che dấu nỗi hổ thẹn, bồn chồn và chán ngán của mình thôi.
Đây là một bãi lầy nóng bỏng, tôi lăn lộn trong đám bãi lầy ấy; đây là một ngọn núi lửa sục sôi nham thạch, vừa đẹp đẽ hoành tráng vừa ghê sợ khủng khiếp; đây là một con ốc Anh Vũ xinh đẹp, đột nhiên thò cái vòi thịt nần nẫn dính nhơn nhớt từ trong vách buồng ra, ra sức quấn chặt lấy tôi mà lôi xuống dưới đáy biển; đây là khối bọt biển màu sắc rực rỡ bám chặt vào tảng san hô trắng, nó liều mạng toan hút kiệt đến giọt nước cuối cùng trong cơ thể tôi, đến nỗi tôi cơ hồ ngất lịm đi như một cơn choáng; đây là ảo giác thành phố lâu đài; đây là vườn hoa của người khổng lồ trong đồng thoại; đây là một chuyện đồng thoại xa xưa nhất, mà chuyện đồng thoại xa xưa nhất lại là chuyện mới mẻ nhất, xa vời hư ảo nhất…..
Cuộc giao đấu sớm nhất của nhân loại không phải cuộc giao đấu giữa người với người, giữa người với con thú, mà là cuộc giao đấu giữa đàn ông với đàn bà. Cuộc giao đấu này không bao giờ ngừng nghỉ, cuộc giao đấu này không những phải dựa vào sức lực, dựa vào dũng khí, mà còn phải dựa vào tình cảm, dựa vào sức mạnh trong linh hồn, dựa vào trực giác nghệ thuật bẩm sinh….Chỉ trong cuộc giao đấu đối lập ấy mới có thể đạt tới cân bằng, đạt tới hoà bình, đạt tới thống nhất, đạt tới sự hoàn mỹ trọn vẹn, mà lại giữ được đặc tính của bản thân mỗi bên, sự độc lập của bản thân mỗi bên….
Nhưng tôi đã thất bại trong keo giao đấu ấy! Tôi đã đánh mất đặc tính của mình, đánh  mất sự độc lập của mình rồi.
Toàn thân tôi mồ hôi đầm đìa, như vừa ra khỏi bồn tắm, mà gan bàn chân lại lạnh ngắt. Thở dốc một hồi, tôi khẽ nhỏm người dậy, hổn hển bảo.
- Cho anh uống nước.
Cô xoay nghiêng người tung chăn ngồi dậy.
- Anh hỏng quá! Còn chưa đâu vào đâu cả!
Cô tuy nói thế, nhưng vẫn rời khỏi giường rót cho tôi cốc nước. Tiếng nước chảy vào cốc nghe lanh tanh.
- Nước đây! – Cô đưa nước tới trước mặt tôi. Trong bóng tối tôi sờ vào cốc, đồng thời nắm lấy tay cô.
- Xin lỗi em nhé! – Tôi nói, tôi muốn kéo cô ngồi xuống cạnh tôi.
Cô hất tay tôi ra, rồi lại trèo lên giường chui vào chăn.
- Có gì mà xin lỗi với chả không xin lỗi. Lần sau lại thử một keo nữa xem.
Tôi không nhìn được biểu hiện trên nét mặt cô, nhưng nghe giọng nói tỉnh khô.
Chúng tôi đã sống yên ổn được mấy ngày.
Tôi muốn ráng sức cảm nhận lấy từng li từng tí niềm hạnh phúc trong những ngày ấy. Đầu tiên là đã có người nấu cơm cho tôi ăn. Nhà ăn tập thể gắn bó ngót chục năm nay cuối cùng đã chia tay với tôi. Đi làm về lùa ngựa vào chuồng xong, về tới căn nhà kho hai gian dột nát kia, thì trên chiếc bàn ăn xinh xắn nhất định là đã có mâm cơm đang đợi tôi, và bữa nào cũng khiến tôi phải tấm tắc không thôi. Lương thực và thực phẩm chẳng khác gì ở nhà ăn tập thể, nhưng qua bàn tay cô, chúng lại đậm đà mùi vị và màu sắc kỳ diệu. Cô bảo:
- Ăn như anh thế này, thì định lượng của chúng mình sẽ không đủ được! – Nhưng tôi vẫn cho câu nói ấy là lời khuyến khích động viên tôi.
Thứ hai là phía trước nhà kho, tôi lấy xẻng và đầm đá, đầm cho phẳng một khoảng sân nhỏ. Giữa bãi hoang ba bề đầy cỏ, mảnh đất bằng phẳng ấy lấp lánh phản chiếu ánh nắng, ánh ráng chiều và ánh trăng, chẳng khác nào một khoảng sân vàng quý giá. Cơm chiều xong, tôi có thể ngồi trên vuông đất bằng ấy mà mơ màng suy tưởng.
Đúng ngày kết hôn, có một người ở An Huy bán vịt con, đi xe đạp đến làng chúng tôi. Cô mua bốn con, hai tay nâng niu những sinh mạng bé xíu vàng nuột như nhung.
- Giá được vịt cái cả thì tốt – Cô nói.
Hôm ấy cô rất phấn khởi, nhà nữ triết học chân to thì bảo:
- Chỗ cô cậu ở là nhà kho, chuột chắc chắn là nhiều đấy. - Thế là đem luôn cho chúng tôi một chú mèo con vừa mới thôi bú, lông xám khoang vằn trắng, trông sắc sảo ra phết. Thế là cái gia đình nhỏ vừa mới xây dựng nên của chúng tôi, đã có hẳn một bầy đông đúc. Vịt con kêu chíp chíp, mèo thì meo meo cả ngày, ăn uống đùa giỡn trên sân vuông nhỏ mà tôi đã tạo ra. Thực tế thì tôi cũng như chúng thôi, cũng vừa làm quen với môi trường sống mới mẻ này.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-14 06:13:30ĐạoCấy>
Nhưng sắc mặt âm thầm ủ dột và nụ cười gượng gạo của cô, cùng với nỗi xót thương dấu kín sau vẻ ân cần dịu dàng, đã phá tan cảm giác hạnh phúc của tôi. Một mặc cảm tự ty rất khó hình dung đã nẩy sinh trong tôi, khiến tôi thấy giữa chúng tôi có một sự bất bình đẳng rất tế nhị. Đấy chính là hạnh phúc ư? Hạnh phúc lẽ nào chỉ vẻn vẹn là nâng cao chất lượng ăn và ở? Tôi chẳng còn lòng dạ nào để đọc sách nữa. Tôi mất luôn tâm thế yên ổn trong cô đơn. Cảnh mặt trời lặn buổi hoàng hôn, cảnh ráng chiều dần tắt, đàn cừu ốm yếu khẳng khiu xù lông trong gió chiều lúc trời chạng vạng, đám bụi đất lơ lửng là là trên đường cái, lũ bò ngựa mệt nhọc rệu rã, trụi lông rách da dưới càng xe và dây cương, tất cả vẫn phổ thành bản giao hưởng êm ái chậm rãi lê thê, khơi dậy trong lòng tôi không chỉ niềm thương cảm trầm uất xưa kia và còn thấm đẫm thêm trong đó một tâm tư khắc khoải bồn chồn.
Ngày ngày cô diễu qua diễu lại bên tôi. Cô vốn cao ngạo kiêu kỳ. Cô là con thú cái cường tráng được đưa vào đấu trường, đang chờ đợi tôi đến chinh phục. Nhưng ngay đêm đầu tiên, tôi đã cảm giác thấy, phát hiện ra, và nhận thức rõ ràng chính xác không chút lầm lẫn, rằng tôi đã đánh mất khả năng ấy rồi.
Có thể do không khí tạo ra chăng? Cũng có thể do trở ngại về tâm lý nào đó chăng? Nhân lúc cô không ở nhà, tôi đã lấy một tờ báo khác dán đè lên những xác người ngổn ngang chồng đống ấy; lấy cớ đắp chăn mới nóng tôi bảo cô thay một tấm chăn khác mỏng hơn. Xác chết và máy kéo khuân đi rồi, thì không còn gì nữa chứ? Đầu óc u ám nặng nề tôi khắc khoải chờ đợi lần sau…..
Vào một đêm sau đó mấy hôm, được bàn tay cô làm hoa tiêu dẫn lối, tay tôi chẳng khác nào một chiếc thuyền cỏn con, lênh đênh trên khắp lãnh hải cơ thể cô, trong giông tố hãi hùng tối đen như mực, sóng cồn nhấp nhô. Biển cả ấm áp mênh mông. Từng cơn rung chuyển liên tiếp truyền ra từ khoảng sâu đáy biển, địa cầu dường như cũng bập bềnh trôi đi dưới chân tôi. Nhưng tôi run rẩy hãi hùng phát hiện ra: có núi cao mờ mịt mưa mù, có tân đại lục không khí ẩm ướt, có ngọn thác từ trời cao đổ xuống, có bướm màu rực rỡ tung cánh dập dờn trong ý thức tôi.
Ở đây không có khái niệm nào biểu hiện ra bằng ngôn ngữ cả. Ở đây là trạng thái hồn hoang hỗn độn nhất. Hai khối nguyên sinh chất không có hình thù rõ ràng cố định. Hai con sâu cỏ nước ngọ nguậy nhún nhẩy toàn thân chi chít tiêm mao. Tất cả đều phát ra từ chùm thần kinh thái dương. Từ chùm thần kinh thái dương làn sóng điện phát đi truyền tới mọi điểm trên cơ thể….
Ôi! Đầu tôi sao mà đau nhức ê ẩm.
Cô nhẹ nhàng đẩy tôi ra.
- Anh có bệnh phải không? – Cô thở dài hỏi tôi.
- Anh không biết….. – Tôi day day huyệt thái dương đang giật lên dữ dội, ấp úng bảo - Trước kia…., anh không biết……
- Trước kia thật là anh chưa bao giờ?
- Chưa – Tôi thở dài não ruột - Thật sự chưa bao giờ.
Cô vặn mình uốn người mấy cái, tung chăn ra, trong chăn nóng hầm hập như trong nhà tắm hơi nước, lúc ấy mới mát dịu đi. Tôi thấy dễ chịu hơn nhiều
- Có phải trước kia vì anh có bệnh làm không được, nên trước kia mới chưa bao giờ…
- Không phải – Tôi tự biện hộ cho mình, chẳng khác gì kẻ bị tình nghi phạm tội – Không phải, vì là, vì không có điều kiện, không có dịp nào…
- Vậy thì – Cô do dự một lát - Chuyện này em muốn không nhắc lại, vậy thì, cái lần tám năm về trước ấy thì sao?
Tám năm về trước?
Tôi không có cách nào giải thích được. Tôi không sao tập trung được tư tưởng. Mà cho dù có tập trung tư tưởng được thì cũng không có cách nào giải thích, bởi vì bản thân tôi cũng không hoàn toàn hiểu hết.
Tôi cựa mình ngồi dậy, với tay lấy thuốc lá trên nắp rương.
- Cho em một điếu với – Cô bỗng nhiên xin thuốc lá.
Trong bóng tối loé lên một chùm tia lửa sáng chói. Rồi tắt ngay. Nhưng đã có hai đốm lửa lập loè trong im lặng.
Hút hết nửa điếu thuốc, tôi mới chậm rãi nói:
- Anh nghĩ rằng, nguyên nhân có lẽ là vì anh ức chế lâu ngày quá.
- Ức chế? Ức chế là gì vậy?
Cô rít lấy rít để mấy hơi liền, rồi hảo hển nhả khói ra liên tiếp.
- Ức chế có nghĩa là….. có nghĩa là nhịn ấy mà.
Cô bật cười lên khanh khách.
- Anh đến là lắm từ ngữ!
- Thật thế - Tôi vẫn mải đuổi theo dòng suy nghĩ của mình - Ở đội lao cải em biết đấy, tối lại mọi người vô công rỗi nghề toàn nói những chuyện tào lao. Còn anh, anh cố nhịn, không tơ tưởng gì đến những chuyện như vậy, cố nghĩ sang chuyện khác. Ở khu nhà độc thân cũng vậy, mọi người đua nhau tán chuyện bậy bạ, riêng anh cứ bịt tai lại đọc sách và nghiền ngẫm…. Nhịn mãi, nhịn hoài, lâu ngày quá, nên cái khả năng ấy mất đi – Và tôi còn vớt vát thêm một câu không lấy gì làm chắc chắn – Có thể sau này sẽ dần dần khá lên chăng?
- Vậy thì anh nghiền ngẫm như thế để làm gì? Anh đọc sách như thế vì cái gì? Đọc sách ư, nghiền ngẫm ư, anh được cái gì nào? - Con người đã sinh ra có bộ óc thì phải suy nghĩ nghiền ngẫm: chẳng lẽ chúng ta cứ tiếp tục sống mãi như thế này sao? Chẳng lẽ đất nước chúng ta cứ tiếp tục là một nhà tù khổng lồ mãi như thế này sao?
- Thôi đủ rồi! Anh chẳng có tài cán gì, chỉ được cái món võ mồm! – Cô ném luôn cái đầu mẩu thuốc lá còn khá dài vào xó nhà,vạch một đường thẳng đỏ loè trong bóng đêm - Người ta cũng khối người nghiền ngẫm, cũng khối người đọc sách, thế mà có ai như anh đâu! Em nghe nói, các sư cụ tụng kinh niệm Phật già nửa đời người, chưa bao giờ đụng chạm đến da thịt đàn bà con gái, vậy mà đến lúc đó vẫn làm được đấy. Người ta bảo: “ Tam thập như lang, tứ thập như hổ ”, trai ba mươi như chó sói, trai bốn mươi như hổ đói. Anh đang độ tuổi ấy, vậy mà anh vẫn không ăn thua gì, thì dứt khoát anh có tật bẩm sinh rồi.
- Về phương diện này, tất nhiên là em có kinh nghiệm hơn anh – Tôi chợt nảy sinh ý nghĩ đối địch với cô. Đã không thắng nổi cô, thì cả cô lẫn bản thân tôi đều trở thành kẻ địch của tôi – Tám năm trước, ở đội lao cải em đã muốn “ ấy ” với người ta rồi cơ!
- Ồ! Sao anh lại nhắc tới chuyện cũ thế nhỉ? Anh chỉ là đồ phế thải ý mà. Anh chỉ có nửa phần người thôi! - Lời tôi đã trót xúc phạm cô, cô càng nổi cơn tam bành lên – Tám năm về trước…. Hừ! Hôm đó nếu anh mà xông tới, thì tôi đã túm cổ anh nộp cho đội trưởng Vương, để ông ta trừng trị anh chứ! Hồi đó tôi còn máu lập công mà! Anh cứ tưởng tôi mê anh, tôi yêu anh đấy ư? Anh hãy đái ra một bãi mà soi mình vào đó thử xem.
Cái bóng hoàn toàn tách rời với xác thịt.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-21 03:18:19ĐạoCấy>
                                                                         CHƯƠNG BA.
 
Con ngựa của tôi – Con Xám vạm vỡ - thình lình sa xuống hố bùn. Nó bước hụt hai vó trước rồi mất đà cắm đầu xuống. Theo bản năng nó ra sức quẫy hai vó sau hòng co vó trước lên, nhưng chỉ quẫy được hai cái là vó sau cũng sa xuống nốt.
Tôi quất roi và thúc mạnh đôi bàn đạp vào mông nó. Nó ngẩng đầu lên, dóng cả đôi tai nhọn hoắc. Ngồi trên lưng nó mà tôi nhìn thấy cả cặp mắt to của nó trợn lên trắng dã. Bốn vó của nó ra sức vùng vẫy một hồi nhưng càng cựa càng lún xuống sâu hơn.
Không thể quất thêm roi nữa. Tôi vội vàng xoay mình lăn xuống bãi cỏ bên cạnh. Đó là cái hố nứt từ khi mương cái bị vỡ đê. Sau khi chỗ vỡ được hàn tạm, dòng nước từ chỗ hàn thấm ra, mang theo bùn cát, dần dần đọng lại trong hố. Ngày lại tháng qua, trên lớp bùn đọng lau lách và cỏ bồ đã mọc lên, trông cứ như là một bãi cỏ bằng phẳng, nhưng hễ người hoặc súc vật đặt chân lên đó, thì lập tức sẽ sụt ngay xuống cái hố bẫy tự nhiên đó. Ngày thường tôi vẫn để ý, xưa nay chưa hề bị sa bẫy bao giờ. Nhưng mấy hôm nay tôi như người mất hồn, thẫn thờ ngơ ngác, thế là cuối cùng mắc phải thòng lọng.
Đó chính là lúc chúng tôi đánh ngựa quay về. Mặt trời sắp lặn toả ra đợt nắng gay gắt cuối cùng, cỏ cây đều phản chiếu ánh nắng vàng rực rỡ đến loá mắt. Mặt hồ yên tĩnh xa xa lấp lánh những làn sóng bạc. Cảm nhận trước tiên khí chiều mát lạnh, lũ cóc nhái đua nhau ồm ộp khắp bốn phía. Mấy con ngựa kia do chàng Câm chăn dắt buộc phải dừng lại trên bãi hoang, nghiêng đầu nhìn chúng tôi: “ Các người làm sao thế? Mau mau về chuồng thôi, lũ muỗi kéo cả đến bây giờ! ”.
- Này! – Tôi gào lên với chàng Câm – Anh cứ đánh xe về trước đi, tôi sẽ tự kéo nó lên. Đừng chờ tôi. Xem chừng còn phải mất một hồi lâu may ra nó mới vùng lên được cơ.
Tôi muốn nhờ anh về nói với Hương Cửu, có thể tôi sẽ về rất muộn. Nhưng anh có nói được đâu.
Anh không nói được nhưng nghe thì hiểu hết. Anh vung roi quật đen đét đánh ngựa đi.
Bốn bề bỗng nhiên vắng lặng hẳn. Chú ngựa xám vạm vỡ mệt nhọc khịt mũi liền mấy tiếng rõ to, chớp chớp cặp mắt lồi, lo lắng buồn bã nhìn tôi. Rồi gác cằm lên bãi cỏ bồ, nằm yên không nhúc nhích. Cái giống muỗi sinh ra có biệt tài đánh hơi người và súc vật, lúc này ùa cả lại, nhao nhao lượn quanh trên đầu chúng tôi.
Tôi châm một điếu thuốc, ngồi xuống sườn dốc bên bờ mương cái. Từ phía núi bên kia một đàn chim về tổ bay lướt qua trên cánh đồng cỏ. Xa xa trên đồng, một chú thỏ rừng lông màu tro bạc đang nhảy nhót. Bóng cây, bóng chú thỏ rừng, bóng chú ngựa xám vạm vỡ và cả bóng tôi đổ dài trên đồng cỏ. Mọi vật đều mỏi mệt, kể cả những cái bóng.
Cả cánh đồng cỏ phủ lên một gam màu tối nặng nề, ngưng đọng và chậm chạp. Khói thuốc lá không toả lan ra bốn phía, mà bay thẳng lên, nhạt dần nhạt dần, cuối cùng không biết tan biến vào đâu. Dưới dốc chân đập còn thấm nước ri rỉ ra ngoài, cuốn theo tứng hạt cát nhỏ mịn như bột dần dần đọng lại trong hố giữa dòng nước như làn lụa mỏng. Phải tháo dỡ yên xuống cho ngựa nghỉ ngơi lấy lại sức.
Điếu thuốc lập bập trên môi, tôi dùng thứ dao chuyên dùng của người chăn ngựa cắt đứt dây bụng, dỡ chiếc yên trên lưng con Xám xuống. Một mùi tanh nồng quen thuộc của mồ hôi ngựa, xộc thẳng lên mũi tôi. Tôi đặt chiếc yên xuống đất, xoạc chân cưỡi lên yên, ngồi xuống trông nom con Xám của tôi.
Chúng tôi nghỉ như vậy một hồi lâu. Tôi đã hút hết năm điếu thuốc, nhặt sạch hết những quả ké bám trên bờm trên đuôi nó, lấy đầu ngón tay chải vuốt những túm lông cứng của nó phơi trên đám cỏ. Trời đã tối mịt từ lúc nào.
Một làn không khí trong mát, như một u hồn xám ngắt khẽ lướt trên đầu những ngọn liễu trồng dọc bờ mương. Đến chỗ vỡ đê mương cái trước kia, u hồn rẽ ngoặt xuống, vung trong tay áo thụng ra một luồng xoáy, đùa giỡn tôi và chú Xám.
Chú Xám ngẩng cao đầu rồi lại cúi xuống, như cung kính lên tiếng chào u hồn. Tôi nghĩ bụng, nó nghỉ ngơi như thế chắc đã tạm đủ, bèn đứng lên, nhổ mấy nắm cỏ bồ độn xuống dưới chân nó.
- Nào chú mày, cố thêm tí nữa đi! Tớ cầm đuôi chú mày tớ giúp một tay, y như lần trước lúc chú mày sa lầy ấy. Nào!
Cái đuôi to khoẻ của nó cứng như gỗ trong tay tôi. Khó mà tin đó là da thịt. Một, hai, ba! Tôi cố sức kéo lên, đồng thời đá mạnh gót giầy leo núi đã đóng cá sắt vào mông nó. Nó như cũng biết phối hợp thật ăn ý với tôi, cố rướn hết toàn bộ sức lực cơ bắp chồm mạnh lên một cái. Dưới bốn vó của nó, bùn réo lên lục bục, tưởng chừng những hồn ma chôn chặt lâu ngày dưới đất, thình lình bị quấy nhiễu đều giật mình trỗi dậy.
Tôi cùng chú Xám, người trên bờ ngựa dưới hố, lúc căng gân cố sức, lúc lại nghỉ ngơi, thử đến mười mấy keo, xéo nát cả đám cỏ xanh quanh miệng hố. Bùn đặc sền sệt đã loãng ra như nước, nước dưới hố đã tràn thành vũng trên mặt đất, nhưng cuối cùng chúng tôi đã thất bại. Con Xám dứt khoát đã bỏ cuộc, xem ra nó có vẻ biết rõ tình cảnh tuyệt vọng của mình.
Nó lại gác cái đầu dài ngoẵng lên bãi cỏ bồ như cũ, mũi phì phò thở.Tôi vuốt mạnh mồ hôi trên tóc, ngồi xổm xuống bên cạnh đưa vạt áo lên phe phẩy quạt. Làm thế nào đây? Chú mày ơi, chúng mình ngủ đêm lại giữa nơi đồng không mông quạnh này ư?
Đồng hoang bãi vắng, làng xóm rừng cây, dẫy núi nhấp nhô, tất cả đều chìm đắm trong bóng đêm một màu đen kịt. Tôi nghển đầu ngóng nhìn xa xa, không hề thấy một ánh đèn le lói.Bầu trời đêm thần bí lặng lẽ bồng bềnh trên mặt đất….
Giữa lúc đó, bên tai tôi bỗng vang lên một giọng nói vừa lạ lùng vừa thân quen.
- Này anh bạn ơi, đừng có mà vờ vịt nữa. Loài người các anh thật khéo đóng kịch – Chú Xám vạm vỡ của tôi bỗng nhiên ngẩng đầu lên, trợn một bên mắt nhìn tôi chằm chằm nói - Thật ra là anh có muốn về nhà đâu! Anh cưới vợ mới được hơn một tháng, mà chẳng đã vợ chồng ngủ riêng rồi đó sao? Và bây giờ anh đâm sợ, anh sợ đêm đến cũng giống như tôi sợ phải thắng ách kéo xe vậy.
- Ấy! Sao chú mày lại nói được tiếng người thế? – Tôi kinh hãi ngồi đánh bệt xuống vệ cỏ ướt mèm.
- Ha! – Nó vẫn chế diễu tôi bằng cái giọng điệu ấy – Kìa trông, anh hoảng hốt đến thế kia ư? Anh chớ quên, cái loa phóng thanh kia đang chõ vào gian lều của chúng ta, và từ khi tôi có mặt trên thế giới này thì báo chữ to đã là món ăn thường xuyên. Báo chữ to này tuy không hề có mùi mực, nhưng dẫu sao cũng làm bằng sợi rơm, ngon lành hơn nhiều so với thứ cỏ nần dai nhách mà nhân viên chăn nuôi vô trách nhiệm vẫn nhét bừa vào mồm chúng tôi. Tôi phát hiện ra rằng, tôi ra đời vào cái thời buổi mà ngôn ngữ phát triển chưa từng thấy. Loài người các anh về mọi phương diện khác thì đã thoái hoá lắm, duy có mỗi ngón sở trường là múa may ngôn ngữ. Như người ta thường nói: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng ” được hun đúc lâu ngày tất nhiên là tôi cũng biết nói.
- Chao ôi! – Tôi mê hoặc thốt lên - Thế này thì…. thật là quá ư kỳ quặc.
Đó là chỗ yếu của loài người các anh – Nó nói – Loài người các anh nên học chúng tôi để biết cách câm lặng và phớt lờ tất cả. Đó mới là cách xử thế khôn ngoan trầm tĩnh nhất.
- Vậy thì cớ sao hôm nay bỗng dưng chú mày lại mở mồm lên tiếng?
- Tôi biết, hôm nay anh không muốn về nhà – Nó khịt mũi một cái rõ to - Về phần tôi ấy à, thì cũng vừa vặn đúng hôm nay tôi không muốn về. Một lúc nào đó, tôi cũng giống như anh, cảm thấy cần phải tách khỏi bầy mà sống một mình. Chúng ta có thể trầm tĩnh lại, mà suy ngẫm một vài vấn đề. Triết học vốn bao trùm lên mọi thứ: đạo người với đạo ngựa vốn có quy luật chung mà.
Ừ! – Tôi không thể không thừa nhận - Quả có thế, trong thâm tâm tớ hôm nay quả không muốn về nhà. Tớ muốn ở lại một mình trên chốn hoang dã này, để lần cho ra đầu mối mọi điều.
- Biết đâu tôi chẳng giúp đỡ được anh điều gì đó – Nó nói với giọng khiêm tốn của một học giả - Tuy tôi sống chưa tới ba mươi chín năm như anh, nhưng trong thế giới loài ngựa thì cũng đã lên lão rồi. Người ta thường nói: “ Lão mã thức đồ ”, ngựa quen đường cũ, chính là chỉ tôi đó. Biết đâu chúng mình chẳng gợi ý được cho nhau, anh bạn ạ.
- Chú mày đã biết rành rọt như vậy, thì về phương diện này, chú mày có thể bảo cho tớ những gì nào?
- Chậc, chậc! – Nó chép miệng – Tôi rất thông cảm với anh, anh với tôi số phận thiệt tương đồng. Tôi nghĩ anh biết đấy, tôi đã bị loài người tàn nhẫn thiến đi. Giờ đây tôi chỉ là một lão ngựa thiến.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-21 03:19:26ĐạoCấy>
- Đúng thế - Tôi nói – Nhưng tớ thì không hề bị thiến. Tớ vẫn có cái ấy, duy chỉ có điều là không có cái công năng ấy thôi. Như thế nghĩa là làm sao?
- Cái hồi tôi chưa bị thiến ấy mà, anh ạ, chỉ cần một tiếng reo của ngựa cái, một thoáng hơi của ngựa cái thôi là đã đủ khiến tôi thần hồn điên đảo. Thôi thì dẫu muôn núi nghìn sông, dẫu tường đồng vách sắt, không gì ngăn cản tôi. Cái ấy của tôi xưa nay chưa bao giờ có trục trặc gì, lần nào cũng như lần nào, nó đều mang lại cho tôi niềm hạnh phúc ngây ngất, mê man một cách vô cùng chuẩn xác không chê vào đâu được. Nhưng từ sau bị thiến, tôi đã mất đi nguồn hưng phấn tình dục, và thế là tôi đâm ra dửng dưng với mọi thứ trên đời. Thánh nhân nói rằng “ Ai mặc đại ư tâm tử ”, mọi nỗi đau xót không có gì bằng nguội lạnh con tim, quả có thế. Hỡi loài người kia, sự tàn ác và thâm độc của các người chính là ở đó: các người đã dứt tiệt nọc của ta về mặt tâm lý. Hỡi người chăn thân yêu của ta, anh hãy kiểm tra trạng thái tâm lý của mình xem sao, anh hãy làm một cuộc tự giám định thật nghiêm khắc đi.
- Không – Tôi cãi - Tớ vẫn còn giữ nguyên cái dục vọng đó. Đó là lúc cô ta cùng tớ săn tìm thú vui chăn gối lần thứ nhất, lần thứ hai và cả mấy lần sau đó. Chỉ có thời gian gần đây tớ mới đâm ra chán chường. Mà cái nỗi chán chường ấy chính là sự sợ hãi do căn bệnh bất lực của tớ sinh ra.
- Hi hi! - Chú ngựa Xám vạm vỡ phát ra một chuỗi tiếng cười nhạt rất kỳ dị - Anh đã chú trọng phương diện ấy đấy, lẽ nào anh không cảm thấy mình quá dung tục và thấp hèn ư? Tôi nói là nói trạng thái tâm lý toàn diện của anh kia. Sự bất lực về phương diện này tất nhiên có thể ảnh hưởng đến hoạt động tâm lý về những phương diện khác. Anh là người có hiểu biết; anh nhớ rằng con người với thế giới là một thể thống nhất, phải biết phân tích mọi hệ thống bằng một cái nhìn thống nhất. Hệ thống này bị trục trặc, thì hệ thống khác tránh sao khỏi chịu ảnh hưởng? Anh chẳng phải là còn đức tin, có lý tưởng, có hùng tâm tráng chí của mình đó sao?
- Tớ nghĩ rằng, có lẽ không đến nỗi có ảnh hưởng gì đâu? – Tôi chậm rãi đáp – Ví như Tư Mã Thiên đấy, sau khi bị xử cung hình, ông vẫn sáng tác được bộ Sử ký vĩ đại ấy thôi.
- Hì hì! – Chú ngựa vạm vỡ càng cười vang hơn, rồi lại khịt mũi một tiếng rõ to – Ôi! người chăn ơi, khen cho anh cũng là người từng đọc sách cơ đấy! Ở chỗ này, anh lại đã phạm phải về một sai lầm về lô-gíc hình thức rồi. Tư Mã Thiên, tôi có biết. Trong cuộc vận động “ bình pháp, phê nho ” của các người, hầu như ngày nào tôi cũng nghe loa phóng thanh giới thiệu tình hình của ông ta, cái gọi là cung hình là thủ đoạn tàn hại bên ngoài diễn ra đối với xác thịt ông. Điều đó chỉ khiêu gợi thêm nỗi uất hận lớn nơi ông, tích tụ một sức kích thích tâm lý mãnh liệt hơn, bởi lẽ đó ông đã hoàn thành được pho Sử ký đồ sộ kia. Thậm chí tôi cho rằng, nếu không bị xử cung hình, ông không viết nổi Sử ký cơ!
- Trên đời này mất đi bộ phận sinh dục, nhưng lại có thêm một trước tác khổng lồ chói lọi. Đó có lẽ là việc xấu biến thành việc tốt mà loa phóng thanh của các người vẫn gào ra rả đấy chứ gì? Còn như anh, anh giờ đây khoẻ như vâm, đáng là anh em của tôi! Mặc dù người ta có lôi anh ra bãi pháp trường, nhưng chẳng có hòn đạn nào chạm đến lông chân của anh. Toàn thân anh chẳng mảy may suy suyển, anh chỉ bị tổn thương về tâm lý thôi. Di chứng do kích thích bên ngoài để lại, nằm ngay trong lục phủ ngũ tạng, trong đầu óc, trong hệ thần kinh của anh cơ, anh bì với Tư Mã Thiên thế quái nào được?
- Phải quả đúng như vậy – Tôi cúi hẳn đầu xuống - Tớ nhờ chú mày tiếp tục phân tích cho tớ nữa đi.
- Bởi thế, về một phương diện nào đó, anh với tôi rất giống nhau – Con Xám ném về phía tôi ánh mắt thân thiết, long lanh trong đêm tối - Một mặt, vì bị thiến nên tôi đã tắt hết tình dục, vất bỏ mọi ý nghĩ vẩn vơ bậy bạ, nhờ đó tôi mới khác hẳn mọi súc vật khác, tu hành đắc đạo nói được tiếng người. Cũng như anh, ai cũng thừa nhận rằng trong đám tù lao cải, trong đám công nhân nông trường lao động khổ sai kia, anh đã thuộc lòng ngữ lục của Mác-Ăngghen, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông trôi chảy hơn cả - nếu tôi dùng từ không xác đáng mong anh bỏ lỗi cho – như Tư Mã Thiên ấy, nhưng cũng bị tổn thương về tâm lý như tôi, cho nên trong hành động của anh cũng chỉ giống như tôi thôi: suốt đời vô tích sự, suốt đời bị người sai khiến, bị người đánh đập, bị người đè cưỡi.
- Hô, hô! Chúng mình thật khéo đôi vừa cặp: người hoạn cỡi ngựa thiến! – Xin lỗi, tôi thường không kềm chế được thói hài hước của mình – Ôi phải rồi, về phương diện này, chúng mình cũng có chỗ tương tự, mỉa mai bóng gió, hay khôi hài vặt vô thưởng vô phạt, hay huyênh hoang, phét lác…. Này! Thậm chí tôi có ngờ rằng, hình như cả cái giới trí thức các người đều bị thiến bị hoạn tất, chí ít thì cũng là bị ngôn ngữ quá phát triển làm cho bại hoại cả. Giá như trong đám trí thức các người có lấy được mười phần trăm đáng bậc tu mi nam tử, thì đất nước các người cũng không đến nỗi điêu đứng thế này. Chẳng hiểu anh thấy thế nào, chứ tôi thì ngày nào cũng nghe cái loa phóng thanh kia đến phát nhàm phát ngấy. Lẽ nào cả đến phương diện ngôn ngữ vốn là cái sở trường của các người đó, các người cũng không còn kiếm đâu được mặt hàng mới mẻ hơn ư?
- Cứ như chú mày phân tích đó, thì đời tớ đi tong rồi ư? – Tôi đau khổ hỏi lại.
- Đi tong là thế nào? - Con Xám ngẩng đầu lên, giọng nghiêm túc – Anh đã đặt chân đến thế giới này, anh đã công tác, anh đã xem, anh đã ăn, anh đã nghe đủ mọi thứ tin giật gân hấp dẫn, chẳng hạn như: một vị nguyên thủ quốc gia bỗng chốc biến thành tên tù phạm như thế nào, một thằng lưu manh nhãi nhép bỗng dưng leo lên làm phó chủ tịch một đảng lớn có mấy chục triệu đảng viên ra sao, và sau đó thì anh chết. Cuộc đời bất cứ con người nào thì về bản chất cũng là một quá trình như vậy. Anh còn may mắn chán, bởi vì anh đang sống trong một thời đại khôi hài hết chỗ nói. Lẽ nào anh còn đòi hỏi một cái gì khác chăng? Ôi! Phải chăng anh muốn nói đến việc sinh con đẻ cái?
- Không đâu, về điều ấy tớ không hề có hy vọng. Đúng như chú mày vừa nói đó, nếu như đất nước cứ diễn mãi tấn tuồng hài hước này, thì con cái tớ cũng không tránh khỏi lập lại cái số phận bi thảm của tớ. Nó không ra đời mà lại hoá hay. – Tôi ôm chặt lấy đầu nói - Điều tớ muốn nói đến là, con người ta sống ở đời phải đem thêm được những gì cho thế giới này, cống hiến được những gì cho nhân loại
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-21 03:20:26ĐạoCấy>
- Dào! Nói khoác, nói khoác! Lại vẫn chứng nào tật nấy – Con Xám ngắt lời tôi – Như chúng tôi đây, ngày ngày kéo càng xe, chuyên chở thứ này thứ khác, há chẳng phải là để công sức ra, há chẳng phải là cống hiến như anh vừa nói đó sao? Loài người các anh thật bao giờ cũng muốn bôi phết lên những sự việc tầm thường vặt vãnh một màu sơn hào nhoáng. Đi ra nhà xí về cũng cứ phải hô lên là kết quả học tập trước tác Mao chủ tịch….
- Ấy, chú mày không hiểu ý tớ, điều tớ muốn nói đến là sự lao động sáng tạo cơ, chứ không phải bị người ta sai khiến như chú mày.
- Anh còn muốn sáng tạo cái gì nữa cơ? – Con Xám vặn lại tôi - Sự sáng tạo cơ bản nhất của con người cũng như của con ngựa và của hết thảy mọi sinh vật chính là sự phồn thực sinh sôi của chính mình. Đến cái đó mà anh cũng không làm nổi, còn nói đến sáng tạo gì ở đâu nữa? Quả tình, trong loài người các anh quả có nhiều nhân vật vĩ đại ôm hoài bão tiến thân, suốt đời không lấy vợ, suốt đời không con cái. Thế nhưng họ không hề bị mất năng lực lấy vợ đẻ con, chỉ có họ mới có phần sáng tạo phát minh. Còn như anh thì mất béng cái năng lực ấy cơ. Trạng thái tâm lý của bản thân anh đã không cân bằng, giữa các hệ thống có sự rối loạn, không nhịp nhàng, cho nên tôi khuyên anh nhất thiết chớ có mơ tưởng viển vông. Dẫu cho anh có sáng tạo cái gì, thì cái đó cũng là thứ quái thai dị dạng, thậm chí có hại cho loài người.
- Hỡi người chăn dắt thân yêu của tôi, anh chẳng hệt như thằng em ruột của tôi đó sao. Thằng em tôi bị thiến sót, năng lực thì mất, nhưng dục vọng thì còn, cuối cùng bị ngay chính dục vọng của mình làm cho đến phát điên phát rồ. Nó bị các người ăn thịt, da của nó vẫn còn vứt lên nóc lều đấy thôi. Nhất thiết phải thế! Dứt khoát phải thế! Hãy mau mau dập tắt ngay cái dục vọng sáng tạo ấy của anh, hãy làm một con người thủ thường an phận, giống như tôi vẫn làm một con ngựa an phận thủ thường.
- Nói như chú mày thì hoá ra cô ta nói đúng ư? Tớ chỉ là thằng bỏ đi, chỉ là con người có một nửa ư? – Tôi bỗng thấy lạnh giá bên thái dương. Trên đó có nước mắt chảy xuống.
- Ôi, đúng thế! – Chú Xám trút ra một hơi thở dài, như phát ra từ đáy phổi – Anh nên thừa nhận một việc đã rồi. Đó chính là số phận. Sức mạnh của số phận chỉ hiển hiện ra khi con người ta gặp phải điều bất hạnh. Đức tin lý tưởng, hùng tâm tráng chí của anh thảy đều vô nghĩa, đều là ma chướng giày vò anh. Anh biết rõ rồi đấy: người ta cứ phải thiến chúng tôi để làm gì? Chính là để tước đoạt sức sáng tạo của chúng tôi, để con người dễ bề sai khiến. Nếu không lừa phỉnh chúng tôi, chúng tôi có ý chí tự do của mình, chúng tôi thường tỏ ra khôn ngoan hơn các người, các người sao còn có thể đè đầu cưỡi cổ chúng tôi được nữa. Ngay chính Tư Mã Thiên đã nói rồi: “Con người sau khi bị cực hình, thì không thể nói đến dũng khí ”. Ôi! Anh còn huyênh hoang đến sáng tạo gì nữa?
Tôi đành câm họng, tôi cảm thấy nhục nhã. Lòng dạ tôi trào dâng một nỗi xót xa cay  đắng.
- Ờ! - Chú Xám thình lình cất đầu lên như chợt tỉnh giấc, hếch mũi lên trời hít mấy hơi rõ dài – Tôi ngửi thấy đâu đây bồc mùi nhục dục. Cái mùi ấy không phải từ cơ thể anh bốc ra, nhưng nó quẩn quanh bên mình anh. Quái lạ! Ôi, hỡi người chăn thân yêu của ta, anh hãy cảnh giác…. Thôi được chúng mình đi thôi! Tôi chẳng muốn anh gặp điều gì bất hạnh, bởi vì dẫu sao anh vẫn là người quan tâm chúng tôi hơn cả..
Nói đoạn, nó vụt nhấc bổng hai vó trước, nửa người phía trước dướn hẳn lên được. Lập tức, nó nhanh nhẹn bám đôi vó trước lên mép hố, giẫm mạnh lên nền đất chắc, rồi nhổm hẳn đít lên, lại quỳ đôi vó trước một lần nữa, và vọt mạnh lên được. Trước sau không đến mười giây đồng hồ.
Tôi kinh ngạc đứng bên cạnh nó.
- Đi thôi – Nó đứng trên bãi đất khô dưới chân đập quay đầu gọi tôi - Trời tối rồi, anh không nhìn thấy đường đâu. Anh cứ đi theo tôi, trực giác của tôi mạnh hơn của loài người các anh. Chao ôi! Thật ra, loài người các anh là loài thoái hoá tệ hại nhất trong mọi loài động vật. Một trong những dấu hiệu chủ yếu của sự thoái hoá, ấy là các người cứ tưởng rằng các người là thông minh nhất…..
Nó sải dài bước chân, gõ lóc cóc bốn vó xuống mặt đường. Tôi cõng chiếc yên, cắp cái roi, lẽo đẽo theo sau nó.
Đêm tối mịt mùng mênh mông man mác….
Về đến làng mọi người đều đã ngủ yên, chỉ riêng hai gian nhà kho rách nát của tôi, chỉ có cái nhà của tôi, còn sáng ánh đèn. Cô ta vẫn chờ tôi, thì ra có gia đình vẫn hơn.
Đến cổng tàu ngựa, con Xám quay đầu lại.
Phì! – Nó hé môi, từ trong kẽ răng rít lên một hơi dài, như muốn bảo tôi đứng yên - Hỡi người chăn thân yêu, từ nay về sau chúng mình phải giữ tuyệt đối im lặng trở lại ngớ ngẩn ngờ nghệch như xưa. Và tha thiết mong anh chớ tiết lộ ra với lũ đồng loại của tôi là tôi biết nói nhé. Chúng nó mà biết tôi nói được tiếng người, rằng tôi khôn ngoan tài giỏi, chắc chắn là chúng nó sẽ xúm lại mà đá mà cắn tôi kỳ chết. Với lại, tôi cũng xin có lời khuyên anh, từ nay về sau giữa mọi người anh cũng chớ tỏ ra nổi trội hơn người. Hãy giữ kín mọi hiểu biết và ý nghĩ của mình, có như vậy mới mong anh giữ toàn tính mạng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-21 03:24:36ĐạoCấy>
                                                                          CHƯƠNG BỐN.
 
Cô quả nhiên chưa ngủ, đang ngồi cắn hạt hướng dương bên chiếc bàn ăn kê ở buồng ngoài. Trên bàn trải một tờ báo, rắc đầy vỏ hạt hướng dương. Con mèo mun khoanh tròn trên một chiếc ghế đẩu.
- Anh làm sao về muộn thế?
Cô đưa ngón tay cái và ngón trỏ nhón lấy một hạt hướng dương, ngón tay út giơ cao lên, đưa lên giữa hai chiếc răng cửa nõn nà bằng một động tác duyên dáng như trên sân khấu, lơ đãng hỏi một câu.
- Con Xám vạm vỡ của tôi bị tụt xuống hố bùn – Tôi nói, tiện tay treo chiếc roi ngựa lên cái đinh cô đã quy định.
- Cơm ở trong nồi đấy – Cô vẫn ngồi yên tại chỗ.
Tôi rửa mặt xong, bê cơm ra bàn, đuổi con mun đi. Trong chiếc chiếc vỏ đồ hộp làm cái gạt tàn để trên bàn, có mấy đầu mẩu thuốc lá.
- Ai đến thế? – Tôi hỏi.
Theo ánh mắt tôi, cô nhìn chiếc vỏ đồ hộp, im lặng một lát rồi nói:
- Bí thư Tào.
- Ông ta đến làm gì?
- Có gì là lạ. Quý chúng mình thì đến chơi thôi.
- Bí thư mà lại quý chúng mình, chỉ nguyên điều đó đã đủ lạ rồi – Tôi vừa ăn vừa nói.
Cô đưa mắt nhìn tôi một cái, rồi lại tiếp tục cắn hạt hướng dương. Im lặng một lúc, cô mới nói:
- Anh đến là kỳ quặc. Cứ như là trời sinh ra để bị người ta khinh rẻ thì mới thích thú. Người ta quý mình, người ta đến nhà chơi, thì anh lại thắc mắc không yên. Chúng mình có chột mắt cụt mũi gì đâu nào, cớ sao lại không sống được trước con mắt người ta giống như mọi người khác.
Nói có lý có lẽ, tôi chịu không cãi được, đành lặng lẽ ngồi ăn.
Ăn xong tôi dọn bát đũa ra bàn bếp, lúc này mới cảm thấy rã rời mệt mỏi. Tôi cứ tưởng cô sẽ nói như mọi bận: “ Anh để đấy, em rửa cho ” . Nhưng không, cô chẳng nói gì cả, thế là tôi bắt tay rửa, cô cũng chẳng ngăn.
Cô vẫn ngồi bên bàn ăn, uể oải cắn hạt hướng dương, rồi uể oải vươn vai một cái rõ dài, đoạn dốc hết tàn thuốc trong chiếc vỏ đồ hộp ra tờ báo, vo viên lại vứt vào sọt rác, rồi cầm lấy chiếc bàn chải nhỏ, cẩn thận trải khăn bàn thật sạch sẽ. Bất cứ lúc nào, ngay cả lúc chán chường buồn bã nhất, cô vẫn giữ được thói quen gọn gàng sạch sẽ.
- Anh cởi bộ quần áo của anh bỏ ngoài kia, đừng mang vào gian trong, anh lăn lê những đâu, mà cứ như trâu đầm thế kia? – Cô nói xong cũng không hề nhìn tôi, vén luôn rèm cửa đi vào. Tôi làm theo lời cô, cởi bỏ bộ quần áo bê bết bùn đất ra, quẳng vào chậu giặt. Chần chừ một lúc, tôi đổ nước vào, tự mình giặt lấy.
Khi tôi vào buồng cô vẫn chưa ngủ, mắt mở thao láo, nhìn lên trần nhà dán bằng giấy báo, cứ như đang đọc một bài nào trên đó.
- Chưa ngủ à? – Tôi buột miệng hỏi.
Cô không buồn đáp, mà trở mình quay mặt vào vách. Tôi trải chăn mé giường đằng này. Gần đây, tôi lại đắp cái chăn cũ của tôi, cô đắp cái chăn cũ của cô, còn chiếc chăn cưới mới tinh có thêu hình chiếc máy kéo của chúng tôi, thì đặt giữa hai người để làm ranh giới. Chiếc vỏ chăn đỏ rói, đúng là cái màu cảnh cáo răn đe.
Tôi nằm xuống, vớ lấy một quyển sách, nhưng mãi chẳng đọc được chữ nào. Cô cũng không giục tôi tắt đèn đi ngủ như mọi hôm, cả đến hơi thở cũng không nghe thấy. Gian buồng chìm trong một thứ im lặng đến nghẹt thở, đòi hỏi tôi phải phá tan.
- Hương Cửu này – Tôi bỏ sách xuống, dốc hết quyết tâm nói - Nếu cô cảm thấy không hợp ấy mà, thì chúng ta có thể ly hôn.
- Có mà điên! – Cô tiếp ngay lời tôi bằng một giọng hết sức tỉnh táo, rõ ràng là cô chờ mãi cái phút tôi lên tiếng – Tôi đã ly hôn hai bận rồi, bây giờ vừa mới cưới nhau lại ly hôn nữa? Để người ta cười cho thối mũi ra à. Sau này tôi cũng còn phải sống nữa chứ - Sau đó là tiếng khóc tức tưởi – Thôi thôi, đủ rồi! Chỉ tại cái số tôi đen đủi rủi ro, cái kiếp tôi nó khổ thế! Bây giờ thì tôi đã rõ, cả đời tôi chẳng bao giờ được sống sung sướng đâu!
- Đâu có? Cô còn trẻ chán! – Tôi bỗng thấy mủi lòng xót xa – Cô chẳng phải viết đơn đâu, để tôi viết cũng được……
- Anh viết, anh cứ đi mà viết. – Cô giẫy lên trong đống chăn – Anh lấy cớ gì mà viết? Tôi có tội tình gì? Anh lấy lý do gì mà đòi ly hôn với tôi nào?
- Ấy, cô đừng hiểu nhầm! – Tôi vội vàng giải thích – Không phải là cô có tội, mà là tôi có tội. Luật hôn nhân chẳng đã có điều quy định: “ Những người không có năng lực trong sinh hoạt vợ chồng thì không được kết hôn ”. Chỉ có điều sau khi cưới chúng ta mới biết được điều đó.
- Thôi, thôi! – Vai cô rung lên – Đem cái lý do ra càng chỉ tổ cho người ta cười. Người ta lại tưởng cái con Hoàng Hương Cửu này chỉ thèm cái của ấy….
- Cũng chẳng sao cả. Đó là một lý do quang minh chính đại.
- Thôi cút anh đi. Chuyện chăn gối mà quang minh chính đại à? Chỉ có cái hạng mọt sách như anh mới mở mồm ra mà nói như vậy được.
Việc quang minh chính đại, hợp lý hợp pháp, thì ở nơi này lúc này không thể giải quyết một cách hợp pháp hợp lý, chính đại quang minh. Tôi suy nghĩ đắn đo mãi: quả có vậy! Nhưng đâu là cách giải quyết êm thấm trọn vẹn? Tôi quả là vô kế khả thi….
- Hề hề! - Lại cái giọng cười khẩy lạnh nhạt của cô mà tôi nghe đã quen tai – Tôi đã nghĩ kỹ rồi: chúng ta kết hôn thì cũng coi như hai hộ riêng lẻ nhóm họp thành hợp tác xã vậy. Chúng ta đâu có đáng được gọi là gia đình? Vẫn là hộ độc thân đấy thôi. Tôi cũng cầm bằng như vẫn ở với bà cụ Mã, anh thì cứ coi như vẫn ở bên cạnh Chu Thụy Thành là được. Chúng ta giúp đỡ nhau trong cuộc sống, những công việc nặng nhọc như gánh nước, nhào than, vác gạo, bổ củi thì anh giúp tôi; còn thổi cơm, giặt giũ quần áo, quét dọn nhà cửa thì để tôi làm.
- Hu, hu…. – Cô như không nén nổi, bỗng oà lên khóc - Chứ còn biết làm thế nào bây giờ? Đành phải vậy thôi…. Tôi mong lên mong xuống, mong ngày mong đêm, mong có được một người đàn ông tử tế….Việc gì tôi cũng làm được, tôi tình nguyện hầu hạ chồng tôi, ăn ở đời kiếp yên lành với nhau, dù cho người ta có thay đổi chính sách, thay quân đổi quan gì đi nữa, thì người ta cũng phải để cho dân được sống chứ?! Không có dân, thì ra cái nhà nước gì nữa? Chúng ta cứ đóng cửa buồng lại mà ăn ở với nhau, không gây rối, không kiếm chuyện, không để người ta thọc gậy bánh xe. Thế mà, than ôi…..mong lên mong xuống, mong ngày mong đêm cuối cùng vớ phải cái đồ phế thải vô tích sự là anh! Anh là cái thứ đàn ông gì? Bà cụ Mã còn cứ một hai khen anh tốt nết, mát tính, phúc hậu. Hề, hề! Bây giờ tôi mới biết, anh đâu đáng mặt đàn ông. Tôi nghe người ta bảo, lũ hoạn quan ngày xưa cũng ẽo ợt đồng cô như anh đấy…..Anh mà là đàn ông ra thằng đàn ông ấy à, thì dù anh có suốt ngày đánh đập chửi bới tôi…..
0
Từng giọt, từng giọt nước mắt to như hạt ngô bất giác trào lên hai khoé mắt tôi. Tư duy của tôi rối loạn hẳn. Một nỗi đau đớn xót xa to lớn quật tôi ngã vật trên giường. Đèn vẫn còn sáng nhưng trước mặt tôi trời đất tối sầm, tối đen như mực, rồi chợt nẩy đom đóm như sao xa.
- Trời ơi là trời! – Tư xưa tới nay tôi không hề tin trong cõi u minh có trời đất quỷ thần gì, nhưng vẫn không nén nổi gào lên – Ông trời ơi, sao ông nỡ đày đoạ tôi đến thế này? Ông vật tôi ngã lăn đùng ra còn chưa đủ sao, lại còn giẫm lên ngực tôi nữa.
Cô thấy tôi nằm im bèn ngồi dậy, nhìn tôi bằng cặp mắt ướt đẫm đỏ hoe. Có lẽ cô nhìn thấy nước mắt tôi đầm đìa, nhưng cô cũng chẳng nói gì, chỉ đưa tay giật tắt ngọn đèn.
Lẽ ra tôi phải nằm dịch vào an ủi cô, vỗ về cô, ôm chặt cô vào lòng, và tỉ tê, và hành động…để dỗ dành cô vui lên. Nhưng tôi đâu có cái năng lực ấy, tôi không có cái năng lực để mà đảm đương lấy cái nghĩa vụ mà lẽ ra tôi được gánh vác. Trước đây tôi cũng thử vài lần, những lúc cô không vui. Nhưng lần nào rồi rốt cuộc, cô cũng cố sức đẩy tôi xuống rồi lồm cồm ngồi dậy. Mắt lờ đờ, mặt đỏ lựng, cô hổn hển thở dốc.
- Anh chỉ làm em thêm khó chịu thôi! – Cô bảo.
Thế là tôi hiểu, từ nay tôi không được đụng đến cô nữa. Tôi phải nép mình sang một bên, phải chúi vào trong xó nhà kia, tốt nhất là hoá thành con chuột. Trong cái mà người ta gọi là nhà đây, trong hai gian nhà kho dột nát này, cô dần dần phình to ra mãi, cuối cùng cô choáng hết toàn bộ không gian, và chẳng còn đâu chỗ cho tôi dung thân nữa. Trước kia lúc tôi còn ở nhà tập thể của nhân viên độc thân, thì chỗ ở của tôi cũng hẹp thôi, nhưng không gian tâm lý của tôi thì mênh mông bát ngát; giờ đây không gian nhà cửa của tôi rộng hơn nhiều, nhưng không gian tâm lý cứ co thắt lại hẳn. Tim tôi bị cô nhét cho đầy ứ, tôi thấm thía cái câu người ta thường nói: “ nẫu ruột, nẫu gan ” là nghĩa thế nào.
Đến bây giờ tôi mới nếm mùi được biết, có một thứ áp lực còn khủng khiếp hơn cả áp lực xã hội, đó là áp lực gia đình. Lần lượt nhớ lại những người bị hành hạ giày vò đến phải tự tử trong bao nhiêu cuộc vận động đấu đá trước đây, tôi nghiệm ra rằng cái bẫy cò then chốt nhất, thúc bách họ đi tới hành động tuyệt vọng lại chính là tác động của vợ con đối với họ. Chính tác động này thúc họ đi đến quyết định cuối cùng. Còn những người chịu đựng và vượt qua mọi nỗi giày vò, thì phần lớn đều có một hậu phương vững chắc và êm ấm. Ngay khi ngồi trong chuồng bò, không có lấy cả một chiếc đũa, họ vẫn có thể cảm ứng được nỗi niềm nhớ nhung của một con tim.
 Lại một lần nữa tôi nghĩ đến tự tử. Đã thành ra thứ đồ phế thải, thành ra người phân nửa rồi, chỉ có quyền để cho người ta sai khiến chẳng khác gì con Xám vạm vỡ kia, cuối cùng lay lất kiếp sống thừa trong cái tàu ngựa, sống vật sống vờ như thế thì phỏng còn ý nghĩa gì nữa? Những ngày này, người mẹ thân yêu khuất bóng từ lâu hiện ra trong chiêm bao của tôi. Vẫn như trong ảnh, người hiền từ, xinh đẹp, khoé miệng luôn nở một nụ cười vĩnh hằng bất diệt. Trong làn sương mù mịt hư ảo, người thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện. Nhưng mỗi lần tôi hấp tấp bò đến bên người thì người lại biến mất. Tỉnh lại, tôi cứ thầm đoán mãi cơn chiêm bao, cho đến khi trời sáng hẳn: người đang gọi tôi đi theo người chăng? Hay người động viên tôi tiếp tục sống nữa?
Sau buổi rạng đông, nhà kho dần dần sáng sủa hơn. Một túp nhà dột nát vách siêu mái sụt đã được bàn tay Hương Cửu sửa sang dọn dẹp trở nên sạch sẽ khang trang. Tôi là người chúa ghét mạng nhện, cái mạng nhện thường khiến tôi liên tưởng nhà tù. Vậy mà trong túp nhà kho vốn rất dễ bắt màng nhện này, giờ đây sạch sẽ như lau chùi. Chiếc bàn viết làm bằng cánh cửa, khăn trải bàn trắng tinh, trên cửa sổ, trong chiếc ống nghiệm trong suốt cắm một chùm hoa mã lan phơn phớt tím chen vài bông bìm bịp hái ngoài bờ dậu.
Nền đất ghép từng viên gạch phẳng lỳ; trên tường đất màu vàng, giấy báo cắt dán khéo léo chẳng kém gì giấy bồi vách có hoa văn đẹp mắt. Lọ kem xoa mặt và chiếc gương tròn của cô, chồng sách dầy cộm của tôi, mọi thứ đều tưng bừng sức sống lúc nào cũng tung tăng hớn hở làm vừa lòng chủ nhân.
Đôi bàn tay tài hoa của cô đã gẩy lên những nốt nhạc tuyệt vời của khúc “ Mộng xây tổ ấm Bồng Lai ”. Và nhìn lại cô đang ngửa mặt thiêm thiếp giấc nồng, từ vầng trán cho tới khuôn cằm, chủ nhân của đôi bàn tay khéo léo ấy thật xinh tươi duyên dáng, khác nào người đẹp trong tranh. Mọi thứ đều không có ý hắt hủi tôi, mà trái lại, như đều ra sức cuốn hút tôi vào trong đó, cuốn hút tôi vào cuộc sống bình thường. Nhưng giữa tôi với mọi thứ đó lại đang có một bức tường giá lạnh ngăn cách, một bức tường xây bằng gạch pha lê không thể nào đập vỡ được.
Cơ năng sinh lý của tôi, cho đến đầu nút dây thần kinh của tôi, đã khiến tôi không bao giờ được hưởng thụ cuộc sống của con người bình thường nữa, đã khiến tôi đã mất hết khả năng sáng tạo mà mỗi con người bình thường hằng có.
“ Sinh tồn? Hay hủy diệt? ” Tôi lặp đi lặp lại mãi câu nói của Hăm-Lét.
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-17 11:49:19ĐạoCấy>
                                                                      CHƯƠNG NĂM.
 
- Này Chương ơi, hôm nay dành cho tớ mượn một con ngựa cỡi được chứ.
Tôi và chàng Câm lùa ngựa ra khỏi tàu, đi đến đầu làng thì gặp Đen. Anh khóa khẩu súng săn đứng giữa đường chờ chúng tôi. Anh định xuống chân núi đi săn. Hôm nay đội sản xuất nghỉ việc, tôi và chàng Câm tất nhiên vẫn phải chăn ngựa ra bãi thả. Đã đành là tôi cũng có thể nhờ người khác chăn thay, rồi gán khoán tiền công ngoài giờ này sang tên người ấy, nhưng tôi xung phong đi làm, chỉ vì tôi không muốn ở nhà.
Tôi ngó lên cổng văn phòng liên đội, có mấy người đang đứng đó.
- Đi xa xa một chút – Tôi nói - Tớ đợi cậu ở rừng cây trước mặt.
Tôi cưỡi lên con Xám vung roi, xua đàn ngựa ra bãi đất trống. Trên bãi cỏ kê, rau tai lợn và rau cúc dại vừa nhú lên đã bị vó ngựa xéo nát, rễ và lá tả tơi trên mặt đất khô nẻ xác xơ. Bãi đất này, cánh chăn lợn chăn cừu và bọn chăn ngựa chúng tôi đều đã quen thuộc lắm. Bây giờ, muốn cho súc vật ăn no thì phải tới những vùng xa hơn.
Tôi dắt con Xám đến dải rừng cạnh bãi đất trống, buộc vào gốc cây.
Đen chạy tới, móc túi lấy thuốc lá ra châm, và đưa tôi một điếu.
- Con nào hay? Cho tớ con nào ngoan ngoãn một chút.
- Thôi cậu cưỡi con Xám, tớ vẫn thường cỡi này vậy – Tôi nói – Nhưng chiều liệu mà về sơm sớm, đừng để cho người khác biết. Sau yên có cái túi con, tiêu chuẩn tiểu táo tớ để riêng cho nó đấy. Thỉnh thoảng cho nó nghỉ, nghỉ thì nhớ cho nó ăn.
- Biết rồi – Đen ngắm nghía con Xám - Ừ, ngựa hay đấy! Mẹ kiếp, trông như trong phim ấy!
- Ngựa hay đến mấy mà đem đến đây, thì cũng phí cả một đời. Người có tài mà vào đây thì cũng đến mai một.
- À này! – Đen chợt nhớ ra điều gì, quay ngoắt lại - Tớ bảo điều này. Có điều là chỗ anh em mình, tớ mới nói với cậu. Lệ Phương cứ dặn tớ đừng nói cho cậu biết, nhưng tớ nghĩ chỗ cậu với tớ thì không thể xấu chơi như vậy….Tối hôm qua, Tào Học Nghĩa uống rượu ở nhà tớ. Cậu biết đấy, lão đĩ trai ấy vẫn thường mò tới nhà tớ nốc rượu. Đêm qua nốc tới nửa đêm thì đĩ trai ta say. Lão bảo thế nào nhỉ: phụ nữ trong liên đội này, thì chỉ có Hương Cửu vợ cậu là đẹp. Lại còn khen vợ cậu lưng eo và mềm, đôi má cũng mịn, đã thế vợ cậu lại có tình ý với lão, nói năng với lão rất tình tứ. Lão bảo dù phải mất chức tép riu của lão cũng cam, chứ thế nào cũng phải ngủ với vợ cậu một phen. Lão ấy nói chuyện với tớ bao giờ cũng nói thật tình. Lão ta cũng thừa biết cái lẽ đời ở thời buổi này rồi: lão chả thiết gì chức cai chức đội ở cái đất này, làm ngày nào hay ngày đấy thôi, bởi thế lão chẳng hăng hái quát tháo chửi bới mọi người như trước kia nữa. Nhưng riêng khoản gái thì lão ấy nói được là làm được đấy…..
- Bảo thật cậu, Chương ạ. Vợ cậu cũng chẳng phải đàn bà chính chuyên gì đâu. Trứng không nứt vỏ thì nhặng chẳng bu, Lệ Phương cùng làm một ca với cô ta. Lệ Phương bảo, thường ngày đi làm, lão ấy cứ quấn lấy cô ta, hai người mắt liếc mày đưa, xem ra quả có tình ý đó…. Cơ mà thôi, cậu lấy cô ta rồi thì chúng tớ cũng chẳng còn biết nói sao. Đàn bà ấy mà, cậu cứ quản chặt vào là được. Hễ cứ ngứa nghề động cỡn, là cậu cứ quật thẳng cánh vào, cứ roi ngựa mà quất là đâu phải vào đấy.
Tôi không hề cảm thấy tức giận, thậm chí cũng không hề tỏ ra kinh ngạc. Cây cỏ kê đã bị người và súc vật xéo đổ xéo nát, thì cũng chẳng còn đủ sức mà ngả nghiêng trước gió. Tôi đưa tay vuốt phẳng nếp nhăn trên trán.
- Mặc xác cô ta, Đen ạ. Cậu quan tâm như vậy, tớ rất cảm ơn. Nhưng lúc này cô ta cứ ngày ngày lo cơm nước giặt giũ cho tớ, tớ cũng đã lấy làm quý lắm rồi. Con người mà lị….
- Chết! Cớ sao cậu lại đớn hèn đến cái nước như thế hả? – Đen nhướn cao đôi lông mày chổi sể - Khen cho cậu là thằng đã hai lần đi tù lao cải, đã ba lần ngồi chuồng bò cơ đấy! Mẹ kiếp, hay là cậu có cái tì vết gì để cô ta nắm được thóp? Mẹ kiếp, cô ta thì cũng là tù lao cải chứ gì! Lại đã hai phen lộn chồng….
0
- Đi đi – Tôi trao roi ngựa cho Đen, đẩy cậu ta một cái - Chiều nhớ về sơm sớm.
Con Xám buộc bên gốc cây cũng gật gật đầu, ra vẻ tán thưởng tôi.
Đen lẩm bẩm mấy câu chửi thề sau lưng tôi rồi đi. Tôi luồn qua rừng, đi đến bên bờ thửa ruộng lúa mì thì dừng lại và ngồi xuống.
Lúa mì đã chín rộ một màu vàng rực. Mùa gặt đã tới. Nhưng bông lúa mì nặng trĩu đung đưa đều đều trong làn gió hiu hiu, như một tốp đàn bà lớn tuổi đang rì rào ca hát, dưới bóng mây nhàn nhạt, hồi tưởng và luyến tiếc tuổi thanh xuân tươi đẹp: ngày nào còn là những cái mầm trắng phau, là những cây mạ xanh non, là những thân lúa xanh thẫm trẻ trung rắn chắc, là những cây lúa làm đòng thơm nhựa thơm phức rồi đến vẻ duyên dáng của thời kỳ trổ bông vào mẩy…. mà giờ đây tất cả đã trôi qua vĩnh viễn.
Giờ đây chúng là những hạt lúa mì rắn chắc, khô vàng, chẳng còn mảy may ướt át; là những cọng rơm khô vàng dễ dàng dập gãy, không còn chịu nổi gió dập mưa vùi; là những chiếc lá xơ xác tả tơi héo quắt như trải qua khói hun lửa đốt. Chúng đã chín, phải, đã chín rộ, có nghĩa là đã mất đi từ lâu cái thời con gái nõn nà duyên dáng, mất rồi, vĩnh viễn đã mất thật rồi.
Không khí oi nồng. Cây bạch dương phe phẩy, cành lá lao xao trên đỉnh đầu tôi. Một con chền chện lao vút lên cao, vẽ lên một chấm xám giữa trời xanh, mỗi lúc một nhỏ dần. Mây trôi lững lờ từng lớp, lớp thấp hơn trắng ngời như bạc, lớp trên cao trắng phau như tuyết. Chẳng biết chúng trôi về đâu? Đến nơi nao chúng sẽ dừng lại? Chóng thật! Tôi cưới vợ mới đó đã hơn hai tháng. Mảnh ruộng lúa mì này chính là nơi tôi đi qua lúc tôi ở nhà La Tông Kỳ ra về hôm ấy. Vậy mà cảnh vật đã đổi thay hết, cả tôi cũng đã thay đổi hẳn.
Bờ ruộng trồng toàn thầu dầu. Một cây thầu dầu cao lớn, xoè những chiếc lá như những bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi, run rẩy trong làn gió như thổ lộ vời tôi mọi nỗi niềm và âm thanh của thiên nhiên, tha thiết mà rầu rĩ. Chào bạn, cây thầu dầu của tôi! Chào bạn, cây bạch dương thân mến! Chào bạn, áng mây đời đời phiêu bạt! Chào bạn, bông lúa mì vàng óng của tôi! Nhờ bạn mà tôi mới có được sinh mệnh này, nhưng sinh mệnh của tôi hoàn toàn vô giá trị. Sinh mệnh của tôi đã hoài phí công bạn, sinh mệnh của tôi cũng đã phí hoài cả cuộc đời tôi, phí hoài mọi công lao cố gắng của chính mình.
Tôi đứng phắt dậy, và chợt thấy đất trời nghiêng ngả quay cuồng, sức nén trong buồng phổi tôi bỗng nhiên bật ra:
- Hỡi thần thánh của đời con, sao Người nỡ lòng rời bỏ?
Gã này đang cầu nguyện Thượng đế! – Tôi nghe tiếng một người I-xra-en đang nói bên tai tôi.  
0
«« « 1 2 » »»