<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-14 19:45:48Ngọc Lý>
Đánh giá 5 năm thực hiện Chỉ thị 58: Không đạt yêu cầu
Lao Động số 136 Ngày 15/06/2007 Cập nhật: 10:31 PM, 14/06/2007
[/align]

Nhân lực CNTT của Việt Nam vừa thiếu, vừa yếu.
(LĐ) - Tháng 10.2000, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 58-CT/TW (gọi tắt là CT58) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Sau 5 năm thực hiện, hầu hết các mục tiêu cơ bản của CT58 đều không đạt yêu cầu. Điều đó không chỉ bộc lộ hàng loạt yếu kém, bất hợp lý trong ứng dụng và phát triển CNTT; mà còn tác động không tốt đến chiến lược giai đoạn 2006 - 2010.
[/align]
5 năm thực hiện Chỉ thị 58 về ứng dụng và phát triển CNTT: Thấy gì qua những con số?
* CNTT VN tụt hậu.
* Các chương trình, đề án trọng điểm phần lớn ách tắc, hiệu quả thấp.
Thành công ít
Theo báo cáo đánh giá sơ bộ, có 9 đầu mục được coi là kết quả của CT58 gồm: 1/ Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT được đổi mới và tăng cường. Theo đó, VN đã có BCĐ Quốc gia về CNTT; nhiều bộ, ngành, địa phương đã có BCĐ CNTT của mình; 63/64 tỉnh, thành có sở BCVT. 2/ Môi trường pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT được cải thiện. Cụ thể đã có hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật về CNTT & truyền thông được xây dựng và phê duyệt; xoá bỏ độc quyền trong lĩnh vực viễn thông; khuyến khích phát triển CN phần mềm (PM). 3/ Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước đã có bước phát triển mới, tạo tiền đề cho phát triển chính phủ điện tử. Trong đó đã có 22/26 bộ, ngành; 56/64 tỉnh, thành có website. 4/ ƯÁng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quan trọng trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó có 89% số DN kết nối Internet; có 50 sàn thương mại điện tử. 5/ Ứng dụng CNTT phục vụ các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Trong số này, mục tiêu 100% trường ĐH-CĐ kết nối Internet đã hoàn thành; đã đạt 100% bệnh viên T.Ư, 50% số bệnh viện tỉnh kết nối Internet; có 300 website cung cấp thông tin về các lĩnh vực trên. 6/ Công nghiệp PM phát triển, hình thành định hướng XKPM. 7/ Công nghiệp phần cứng ổn định. 8/ Nguồn nhân lực CNTT phát triển nhanh, đa dạng trong đào tạo. 9/ Mạng thông tin quốc gia phát triển nhanh với nhiều loại hình dịch vụ, chất lượng tốt, giá cước giảm. Riêng lĩnh vực này, thành công rõ nhất là viễn thông và Internet đạt yêu cầu. Trong đó, 100% số xã có điện thoại, mật độ đạt 19 máy/100 dân với gần 16 triệu thuê bao; số người dùng Internet đạt 12,9%, gấp 2,5 lần so với mục tiêu và đạt 10,7 triệu người sử dụng.
Thất bại nhiều
Phải gọi chính xác đây là những thất bại của việc triển khai thực hiện CT58; bởi những con số về mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản hầu hết đều không hoàn thành. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đã không theo kịp sự phát triển; môi trường pháp lý chưa đáp ứng được cho chính nhu cầu ứng dụng và phát triển lĩnh vực này. Có thể nói chính từ rào cản này mà hàng loạt các mục tiêu lớn đã không thể đạt được. Cụ thể, mục tiêu: "Đến năm 2005, trình độ và hiệu quả ứng dụng CNTT đạt mức trung bình các nước trong khu vực" đã không đạt. Thậm chí, trình độ CNTT của VN đã bị xếp vào hàng tụt hậu xa so với một số nước ASEAN và mức trung bình của thế giới. Bên cạnh đó, mục tiêu 500 triệu USD sản lượng PM, trong đó có 200 triệu USD XK thì mới chỉ đạt lần lượt tương ứng là 45% và 35%. Đặc biệt, mục tiêu máy tính trong nước đáp ứng 80% nhu cầu nội địa thì đạt quá thấp, ở mức 30%...
Trong khi các mục tiêu cơ bản đều đạt tỉ lệ quá thấp thì hàng loạt các chương trình, đề án, dự án trọng điểm phần lớn bị ách tắc, hiệu quả thấp và triển khai lúng túng. Đặc biệt, trong số 4 chương trình trọng điểm nằm trong "Chương trình hành động" thì chỉ có 1 chương trình về phát triển nhân lực được xây dựng và phê duyệt. Thế nhưng, việc triển khai chương trình này lại gặp khó khăn vì không có cơ chế thực hiện rõ ràng. Bên cạnh đó, trong số 14 đề án, dự án trọng điểm thì hầu hết bị ách tắc, hiệu quả thấp...
Từ thực tế trên, các chuyên gia đánh giá: Kết quả đạt được chưa đáp ứng được mục tiêu; CNTT vẫn chưa trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của phát triển KT-XH.
[/align]Anh Xuân - Lê Minh
[/align][/align][/align]
http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/6/41034.laodong
Lao Động số 136 Ngày 15/06/2007 Cập nhật: 10:31 PM, 14/06/2007
[/align]
Nhân lực CNTT của Việt Nam vừa thiếu, vừa yếu.
(LĐ) - Tháng 10.2000, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 58-CT/TW (gọi tắt là CT58) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Sau 5 năm thực hiện, hầu hết các mục tiêu cơ bản của CT58 đều không đạt yêu cầu. Điều đó không chỉ bộc lộ hàng loạt yếu kém, bất hợp lý trong ứng dụng và phát triển CNTT; mà còn tác động không tốt đến chiến lược giai đoạn 2006 - 2010.
[/align]
5 năm thực hiện Chỉ thị 58 về ứng dụng và phát triển CNTT: Thấy gì qua những con số?
* CNTT VN tụt hậu.
* Các chương trình, đề án trọng điểm phần lớn ách tắc, hiệu quả thấp.
Thành công ít
Theo báo cáo đánh giá sơ bộ, có 9 đầu mục được coi là kết quả của CT58 gồm: 1/ Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT được đổi mới và tăng cường. Theo đó, VN đã có BCĐ Quốc gia về CNTT; nhiều bộ, ngành, địa phương đã có BCĐ CNTT của mình; 63/64 tỉnh, thành có sở BCVT. 2/ Môi trường pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT được cải thiện. Cụ thể đã có hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật về CNTT & truyền thông được xây dựng và phê duyệt; xoá bỏ độc quyền trong lĩnh vực viễn thông; khuyến khích phát triển CN phần mềm (PM). 3/ Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước đã có bước phát triển mới, tạo tiền đề cho phát triển chính phủ điện tử. Trong đó đã có 22/26 bộ, ngành; 56/64 tỉnh, thành có website. 4/ ƯÁng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quan trọng trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó có 89% số DN kết nối Internet; có 50 sàn thương mại điện tử. 5/ Ứng dụng CNTT phục vụ các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Trong số này, mục tiêu 100% trường ĐH-CĐ kết nối Internet đã hoàn thành; đã đạt 100% bệnh viên T.Ư, 50% số bệnh viện tỉnh kết nối Internet; có 300 website cung cấp thông tin về các lĩnh vực trên. 6/ Công nghiệp PM phát triển, hình thành định hướng XKPM. 7/ Công nghiệp phần cứng ổn định. 8/ Nguồn nhân lực CNTT phát triển nhanh, đa dạng trong đào tạo. 9/ Mạng thông tin quốc gia phát triển nhanh với nhiều loại hình dịch vụ, chất lượng tốt, giá cước giảm. Riêng lĩnh vực này, thành công rõ nhất là viễn thông và Internet đạt yêu cầu. Trong đó, 100% số xã có điện thoại, mật độ đạt 19 máy/100 dân với gần 16 triệu thuê bao; số người dùng Internet đạt 12,9%, gấp 2,5 lần so với mục tiêu và đạt 10,7 triệu người sử dụng.
Thất bại nhiều
Phải gọi chính xác đây là những thất bại của việc triển khai thực hiện CT58; bởi những con số về mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản hầu hết đều không hoàn thành. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đã không theo kịp sự phát triển; môi trường pháp lý chưa đáp ứng được cho chính nhu cầu ứng dụng và phát triển lĩnh vực này. Có thể nói chính từ rào cản này mà hàng loạt các mục tiêu lớn đã không thể đạt được. Cụ thể, mục tiêu: "Đến năm 2005, trình độ và hiệu quả ứng dụng CNTT đạt mức trung bình các nước trong khu vực" đã không đạt. Thậm chí, trình độ CNTT của VN đã bị xếp vào hàng tụt hậu xa so với một số nước ASEAN và mức trung bình của thế giới. Bên cạnh đó, mục tiêu 500 triệu USD sản lượng PM, trong đó có 200 triệu USD XK thì mới chỉ đạt lần lượt tương ứng là 45% và 35%. Đặc biệt, mục tiêu máy tính trong nước đáp ứng 80% nhu cầu nội địa thì đạt quá thấp, ở mức 30%...
Trong khi các mục tiêu cơ bản đều đạt tỉ lệ quá thấp thì hàng loạt các chương trình, đề án, dự án trọng điểm phần lớn bị ách tắc, hiệu quả thấp và triển khai lúng túng. Đặc biệt, trong số 4 chương trình trọng điểm nằm trong "Chương trình hành động" thì chỉ có 1 chương trình về phát triển nhân lực được xây dựng và phê duyệt. Thế nhưng, việc triển khai chương trình này lại gặp khó khăn vì không có cơ chế thực hiện rõ ràng. Bên cạnh đó, trong số 14 đề án, dự án trọng điểm thì hầu hết bị ách tắc, hiệu quả thấp...
Từ thực tế trên, các chuyên gia đánh giá: Kết quả đạt được chưa đáp ứng được mục tiêu; CNTT vẫn chưa trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của phát triển KT-XH.
[/align]Anh Xuân - Lê Minh
[/align][/align][/align]
http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/6/41034.laodong