<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-15 03:22:24Ngọc Lý>
.
THE LAST GHOST OF WAR
PHẠM QUỐC THÁI - JANET GARDNER

"A must-see documentary"..."A catalyst to a much-needed national conversation on Agent Orange" - NEWSDAY

At Tu Du Hospital in Saigon, babies in a special unit have enlarged heads or are missing limbs. Pham thi thuy Linh, born without arms, writes with her feet. A boy with a shrunken leg careens around the corridor in a wheelchair.
Thirty years after the end of the Vietnam war, they are among several millions of victims of Agent Orange

In The Last Ghost of War, we meet victims who are plaintiffs in a class action suit against 32 US chemical companies. Attorneys, activists and scientists take us to a new battlefield.

These Vietnamese victims are seeking compensation and justice. The question is were these dioxin-laden herbicides chemical weapons? And if so, who should be held accountable in the wake of what was allegedly the largest chemical warfare operation in history?
____________________________________________________________________________________________
Narrated by Kevin Kline, Produced by Pham Quoc Thai and Janet Gardner, directed by Ms. Gardner.
__________________________________________________________

________________________________________________________________________________________________
Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh: Bộ phim tài liệu về chất da cam/Dioxin ở Việt Nam
Thanh Trúc, phóng viên đài RFA
Phiên toà phúc thẩm để xét lại phán quyết bác đơn của nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ sẽ diễn ra tại New York ngày 18 tới đây.
Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
Tải xuống để nghe
[/align]
Em Thái Thi Nga, 15 tuổi,
một nạn nhân chất da cam hôm 10-8-2004.
[/align]Hôm thứ Hai 11 tây vừa qua, bộ phim The Last Ghost Of War, Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, nói về những hệ quả tai hại của chất khai quang diệt cỏ màu da cam có chứa độc chất Dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng tromg cuộc chiến Việt Nam, được trình chiếu tại trung tâm phim ảnh Cantor ở đại học New York.
Bộ phim tài liệu dài 57 phút được quay tại Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ. Tác giả là ông Phạm Quốc Thái, sang Hoa Kỳ du học từ năm 1971, và bà Janet Gardner, trước từng viết nhiều bài báo liên quan đến vụ các cựu chiến binh Mỹ kiện các công ty sản xuất là họ đã bị nhiều di chứng bệnh tật vì hít phải chất thuốc khai quang trong khi tham chiến ở Việt Nam.
Mục đích và lý do thúc đẩy ông Phạm Quốc Thái và bà Janet Gardner đứng ra thực hiện cuốn phim Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, với hình ảnh, nhân chứng, tư liệu về sự tác hại không thể phủ nhận của hoá chất màu da cam trên con người, được ông Thái trình bày trong mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay. Xin nhường lời cho ông Phạm Quốc Thái:
Phạm Quốc Thái: Tôi biết vấn đề này từ những thập kỹ 70, 80 nhưng không tìm hiểu nhiều bởi lúc ấy báo chí chưa nói đến nhiều. Gần đây, nhân dịp Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ nên sẳn tiện đó chúng tôi làm luôn.
Thanh Trúc: Thưa ông bắt đầu thức hiện bộ phim này từ năm nào
Phạm Quốc Thái: Năm 2004.
Thanh Trúc: Động lực mành nhất thúc đẩy ông làm phim?
Phạm Quốc Thái: Vì tôi muốn đem vấn đề này đến người dân Mỹ, để nói cho họ biết chất độc da cam thế nào, quân đội Mỹ đã dùng ở Việt Nam trong hoàn cảnh thế nào, hiện bây giờ có bao nhiêu nạn nhân, và những nạn nhân đó phải trả một giá rất đắt.
Con số thí tôi không thể nói chính xác được, hơn nữa bên Việt Nam thống kê rất yếu,nhưng tôi nghĩ cũng phải từ vài trăm nghìn người, có thể ba trăm đến năm trăm.
Là bởi vì theo bà Stellman là người đã công bố một bài nói về hậu quả của chiến dịch Operation Grand Chain thì chừng khoảng từ hai cho đến bốn triệu gọi là bị xịt thẳng lên người, còn lính Mỹ thì cũng nhiều nhưng họ chỉ đi ngang vùng đó thôi, chứ người dân Việt Nam là phải sinh sống trên vùng đất ấy từ lúc bị xịt thuốc cho đến bây giờ.
Thanh Trúc: Thưa ông đã thu thập tài liệu như thế nào, tiến trình xin phép để quay bộ phim như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Những người làm phim độc lập như tụi tôi thứ nhất là rất nghèo. Cái thứ hai nữa là rất ít người làm. Thì tôi với một người Mỹ, bà ta tên Janet Gardner, chúng tôi cùng đi về Việt Nam, thu thập các số liệu để làm phim.
Thanh Trúc: Thưa khi về Việt Nam để thực hiện bộ phim này thì ông đã đi qua những vùng nào?
Phạm Quốc Thái:Chúng tôi đến Hà Nội, từ Hà Nội đi Hải Phòng để phỏng vấn một nạn nhân. Sau đó chúng tôi vô Huế, đến bệnh viện của thành phố Huế để phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Việt Nhân.
Từ Huế chúng tôi có đi ra Quảng Trị, rồi bay từ Huế vô thành phố Hồ Chí Minh. Từ TP Hồ Chí Minh chúng tôi đi Biên Hoà để phỏng vấn một nạn nhân khác.
Thanh Trúc: Có nghĩa là khi về Việt Nam ông đích thân tới những vùng hồi xưa bị ảnh hưởng bời chất da cam thì dụ Huế hay Quảng Trị hay ở trong miền Nam?
Phạm Quốc Thái: Vâng.
Thanh Trúc: Sau ba mươi năm chiến tranh thì bây giờ cây cỏ rừng la ở đó như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Cây cỏ đã phục hồi lại, nhưng điều đó không có nghĩa là chất dioxin đã hết, bởi vì chất dioxin lưu lại trong đất rất lâu. Cây cỏ đã mọc lại rồi đã xanh tươi lại rồi nhưng mà không có nghĩa là dioxin không còn nữa.
Theo tôi biết hiện giờ đang có những công trình giải độc một số vùng nhưng mà chính những nhà khoa học cũng không biết sẽ giải độc bằng cách nào bởi vì chất dioxin rất khó để giải độc. Tôi muốn nói là kiểm soát trong vùng nào đó thôi. Có nhiều giải pháp nhưng các nhà khoa học cũng chưa đi đến cái giải pháp nào cho nó ổn định.
Thanh Trúc: Những chương trình giải độc đó là do chính phủ Việt Nam khia triển hay do những tổ chức quốc tế hay là như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Dĩ nhiên là có sự hợp tác của chính phủ Việt Nam, bởi vì ở Việt Nam bây giờ nếu không có sự hợp tác của chính phủ thì có nhiều chuyện không thể làm được.
Về nguồn tài trợ thì do gần đây chính phủ Mỹ cũng có bỏ ra số tiền nhưng mà cái tài khoản rất nhỏ và những tổ chức phi chính phủ NGO của Mỹ có tham gia vào. Nhờ đó họ có tiền để bắt đầu, nhưng mà chuyện này cũng như các nạn nhân vậy, phí tổn để trị bịnh hay để giải độc môi trường có thể nói như một giọt nước một hột cát trên bãi biển.
Thanh Trúc: Những hình ảnh nào ông ghi lại trong bộ phim tài liệu mà ông thấy đáng lưu ý nhất?
Phạm Quốc Thái: Chúng tôi thấy sao ghi vậy chứ không phải là nói các nạn nhân đóng tuồng là không có. Hoàn cảnh của các nạn nhân rất đau khổ vì họ rất nghèo, mà tiền phí tổn như tôi nói để đương đầu với những cơn bịnh do cấht dioxin gây ra nó chả thấm vào đâu hết.
Ở Việt Nam hiện giờ hàng năm lương của công nhân viên chức bình thường là chứng hai ba trăm đô la một năm thôi. Số tiền mà để mua thuốc hay là trị liệu các bịnh của người bị nhiễm chất độc da cam đến mấy chục nghìn đô la. Phí tổn trị bịnh không thể nào trang trải được.
Chính ngay trong phim của tụi tôi có ông Nguyễn Văn Quí, lúc trước đi bộ đội, giờ phải sống nhờ váo gia đình vợ vì không có tiền. Chính phủ Việt Namcó cho ông một số tiền hàng tháng nhưng mà cô biết là rất ít,ông đã phải vay nợ từ bạn bè, thân nhân, hợp tác xã. Tính ra bây giờ ông nợ 20.000 đô, nếu có sống đời cũng không trả hết.
Thanh Trúc: Thưa ông Nguyễn Văn Quí bị những chứng bệnh như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Đầu tiên là ung thư bao tử, rồi di căn qua phổi nhưng ma 2ông không biết. Trước đó ông có ba đứa con, đứa con đầu tiên bị có thể coi như là quái thai hay dị tật. Người vợ thứ nhất sợ quá đành phải bỏ ông. Cái này là chuyện riêng của người ta nhưng mà tôi phải nói.
Ông đi kiếm người vợ thứ hai, đẻ hai đưa con Theo lời ông nói trong phim là khi đẻ đưa con thứ hai ra người nó đầy lông. Bây giờ nuôi ra thì cũng lớn 15 16 tuổi rồi, đưa con trai đầu 18 tuổi thì ngồi xe lăng.
Thanh Trúc: Trong phim có nạn nhân chất da cam dioxin ở miền Nam không?
Phạm Quốc Thái: Miền Nam thì có bà Nguyễn Thị Hồng, bà Hồng cững như ông Quí lúc đó đều tham gia kháng chiến. Theo lời ba Hồng kể thì lúc đó bà gặp một đoàn trức thăng bay rất nhanh và phun chất khia quang. Chất. khai quang dùng ở Việt Nam phần lớn là chất độc da cam. Sau đó bà không biết t mình bịnh cho đến những năm gần đây là 70,80 bà mới trở bịnh.
Chuyện bà Hồng là coi như bị xịt thẳng. Trong cuộn phim của tụi tôi cũng có một cặp vợ chồng thường dân. Họ rất nghèo. Sau khi chiến tranh chấm dứt họ đi vô rừng nhặt bom đạn chưa nổ hay nổ rồi mà còn xác để đem về bán sắt. Mỗi lần đi như vậy họ đi hàng tháng ở trong rừng, khi thấy đủ thì gánh về. Họ sinh ba đứa con đều bị bịnh tâm thần. Họ bắt đầu đi vào rừng để nhặt mãnh bom đạn từ năm 1975 khi mà chất dioxin vẫn còn đó và họ bị nhiễm dioxin.
Thanh Trúc: Thưa ông Phạm Quốc Thái cuốn phim này mới được trình chiếu ở New York trong trường hợp nào?
Phạm Quốc Thái: New York không phải là nơi đầu tiên. Cuốn phim được trình chiếu lần đầu tiên tại New Jersey tại đại học Rutgers. Chúng tôi phải trình chiếu bên New Jersey it nhất là hai lần vì chúng tôi có xin được một tài khoản của New Jersey Council For Humanity và theo hợp đồng thì phải chiếu hai lần. Sau đó có gởi chiếu rất nhiều nơi nhưng phần lớn là những đại học.
Gần đây nhất là hôm thứ Hai vừa qua thì chiều tại Cantor Film Center của trường đại học New York NYU.
Thanh Trúc: Có phải mục đích của buổi chiếu phim là bởi vì ngày 18 sắp tới đây sẽ có vụ phúc thẩm đơn kiện của phia Việt nam về sự átc hại của chất da cam /dioxin mà đã bị chánh án bác bỏ vào năm 2005?
Phạm Quốc Thái: Có thể nói như vậy. Nhưng mà tôi cũng xin lưu ý là bên kiện không phải chính phủ Việt Nam mà là những nạn nhân họ họp lại họ kiện. Cái đó là cái đầu tiên. Cái thứ hai tụi tôi chiếu phim này là bởi vì các nạn nhân sẽ đến New York, do đó chúng tôi muốn chiếu trước để nói với những người xem phim để nói cho họ biết đến cái vấn đề này. Tôi nghe nói cũng có những tổ chức khác họ định tổ chức một buổi gặp mặt giữa các nạn nhân da cam, thì chúng tôi phải chiếu trước.
Thanh Trúc: Mặc dù những nạn nhân họ tập hợp lại thành Hội Các Nạn Nhân Da Cam /Dioxin và kiện các công ty hoá chất Mỹ, nhưng cũng có sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ. Có phải đó là Tổ Chức Cựu Chiến Binh Vì Hoa Bình và Tổ Chức Cứu Trợ Và Trách Nhiệm không ạ?
Phạm Quốc Thái: Đúng rồi, và có một số hội từ thiện khác nữa.
Thanh Trúc: Thưa ông Phạm Quốc Thái, chính phủ Việt Nam đánh giá về bộ phim tài liệu Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Tôi không rõ là họ đánh giá thế nào. Đến bây giờ bên Việt Nam vẫn chưa chiếu. Chúng tôi chỉ chiếu riêng cho Hội Nạn Nhân Da Cam coi thôi chứ chưa chiều rộng rãi.
Thanh Trúc: Tại buổi trình chiếu tối thứ Hai vừa qua ông thấy phản ứng của những người coi phim như thế nào, nhất là những người Hoa Kỳ?
Phạm Quốc Thái: Không chỉ buổi chiếu thứ Hai vừa rồi mà mọi lần tất cả những nơi chiếu khác đều có phản ứng như nhau, rất tốt, là vì sao? Vì họ hiểu thêm vấn đề. Agent Orange, tức là thuốc khai quang trong lúc sản xuất thì có một chất khác được tạo nên, đó là chất dioxin.
Đối với khoa học đó là chất độc hại nhất. Mà các công ty sản xuất ra thuốc khai quang họ đã biết trước từ những thập kỷ 40, 50 rằng đó là thuốc độc với hậu quả không lường được. Họ đã biết trước nếu muốn làm giảm chất dioxin trong sản xuất thuốc khai quang thì họ phải rửa lại hay lọc lại. Nhưng mà họ không làm như vậy. Họ cứ sản xuất ra.
Như trong cuốn phim có nói đến là ở Nitro, một thành phố nhỏ của bang West Virginia, công ty Monsanto có cơ xưởng sản xuất ra chất Agent Orange và chính người công nhân mà bây giờ đã về hưu rồi thì họ nói là trong cái thời chiến tranh Việt Nam thì công ty đó có dựng nên một toà nhà để chuyên môn sản xuất chất khai quang.
Toà nhà này hoạt động 24/24, bảy ngày một tuần. Chính người công nhân đó khai sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt thì toà nhà đó bị đập phá và bị chôn dưới lòng đất. Ông ta nói ông biết chổ chôn và biết chổ đó bị nhiễm độc.
Riêng tôi đã ý thức và biết chuyện này đã lâu lắm rồi. Đây là một vấn đề quan trọng nhưng mà bị lu mờ, cố ý hay vô tình cái đó tôi không được biết nhưng mà nhân vụ kiện này thì chúng tôi làm phim luôn. Người cùng làm với tôi thì bà cũng có viết báo nhân cái vụ kiện của các cựu chiến binh Mỹ kiện các công ty hoá chất những năm 80 đó. Tôi nghĩ bà ấy cũng biết từ năm 80 nhưng không làm gì hết cho đến khi các nạn nhân Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ.
Thanh Trúc: Ông phải mất mấy năm mới hoàn thành xong?
Phạm Quốc Thái: Từ năm 2004 cho đến cuối 2006 nhưng mà có tin gì mới thì chúng tôi phải cập nhật lại.
Qúi thính giả vừa nghe bài phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện với ông Phạm Quốc Thái, đồng tác giả bộ phim tài liệu Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, nói về ảnh hưởng tai hại của độc chất da cam/ dioxin đối với các nạn nhân Việt Nam.
Đoàn nạn nhân da cam/ dioxin gồm bốn người qua Mỹ vận động dư luận tại năm thành phố của Hoa Kỳ. Họ từ San Francisco bay sang New York và đã tham dự một buổi họp báo do UN Mission của Liên Hiệp Quốc tổ chức chiều thứ Tư vừa qua.
Chiều thứ Bảy tuần tới, đoàn sẽ có mặt tại một buổi họp báo khác trước khi ra làm nhân chứng tại phiên phúc thẩm ở toà Brookklyn ngày Chúa Nhật.
Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị tối thứ Năm tuần tới.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/06/14/TheLastGhostOfWarADomentaryFilm_Truc/
________________________________________
Vụ kiện chất da cam: Có thắng được không?
Tạ Văn Tài
Luật sư từ Hoa Kỳ
[/align]
Ngày 18-6 sẽ diễn ra phiên phúc thẩm vụ kiện chất da cam
Câu hỏi đầu tiên cần xem xét là vì sao các nguyên đơn Việt Nam đã thua vụ kiện chất Da Cam trước Tòa án Mỹ?
[/align]Ta chỉ việc phân tích bản án 233 trang (vụ số 04-CV-400) ngày 10 tháng 3, 2005 của Chánh án Weinstein của Tòa án Liên Bang ở New York thì thấy lý do các nguyên đơn Việt Nam thất kiện: Các luật sư Mỹ của họ đã làm hại các nguyên đơn, vì đã làm trật lất trong việc viện dẫn các căn bản pháp lý của việc kiện và trong việc đưa ra bằng chứng quá sơ sài, mặc dù Chánh Án đã cho nguyên đơn 6 tháng từ ngày 9 tháng 2,2004 để đệ nạp bằng chứng.
A. Luật sư nguyên đơn đã dựa vào nhiều căn bản pháp lý không có cơ hội thành công, vì trái luật quốc nội và luật quốc tế, và không có sức thuyết phục.
1) Trái luật quốc nội Mỹ, vì các bản án tiền lệ về các vụ kiện của cựu chiến binh Mỹ, trước vụ Việt Nam, kiện các hãng sản xuất chất da cam, như Dow Chemical , Monsanto v.v. đã thua khi đưa ra luận cứ là theo luật quốc nội, các hãng này phải chịu trách nhiệm về các sự tác hại của các chất hoá học rải trên chiến trường, mà họ sản xuất, theo luật product liability (trách nhiệm về sản phẩm gây tai hại), vì Tòa án Liên bang trong các vụ tiền lệ đó đã nói là theo nguyên tắc vô trách nhiệm của nhà thầu chính phủ (‘chính phủ biểu chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm thế, giao hàng hóa như thế ‘) cho nên họ được miễn trách. Luật sư Mỹ trong vụ Việt Nam lại dùng lại lý luận trên của các cựu chiến binh Mỹ đã thua trên căn bản này.
2) Trái luật quốc tế, hay đúng hơn là trái một phần luật quốc tế.
Trước hết, phải nói là Chánh Án Weinstein của Tòa Án Liên Bang NY đã mở ra một chân trời hy vọng cho các nguyên đơn Việt Nam bằng cách nói rõ là Tòa Án Liên Bang Mỹ làm việc trong vụ kiện quốc tế này như một Tòa Án quốc tế (International Court) để xét xử về nhân quyền của các nạn nhân; và do đó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luật quốc nội Mỹ về sự vô trách nhiệm của nhà thầu, mà có thể xét trách nhiệm trực tiếp của các nhà sản xuất các hóa chất, kể cả chất Da Cam, chiếu theo luật Alien Tort Act của Mỹ đã có từ những năm đầu lập quốc Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, công nhận cho người ngọai quốc được kiện các bị đơn ở Mỹ đã vi phạm dân quyền ở ngọai quốc. (mở dấu ngoặc nói về việc khác: Hiện nay, Bộ Ngọai Giao Mỹ có phỏng vấn một số nạn nhân Việt Nam hiện ở Mỹ đã bị hành hạ trong các trại tù học tập cải tạo bởi một số bạn đồng tù được cất nhắc làm cán bộ hay làm tình báo cho cán bộ trong trại cải tạo mà hiện nay có mặt ở Mỹ. Tôi có bạn là Giáo sư HXH bị hành hạ ở trại Hà Nam Ninh được phỏng vấn, nhưng yêu cầu Bộ Ngọai Giao Mỹ bỏ qua không kiện, vì ông ấy đã tu theo Đạo Phật nên muốn hỉ xả, tha thứ hết).
Trở lại vấn đề các nhà sản xuất hóa chất khai quang bị coi là vi phạm nhân quyền khi sản xuất các chất khai quang đem rải ở Việt nam, làm hại cho dân Việt Nam - Nếu có đủ bằng chứng là có liên hệ nhân quả giữa sản phẩm thuốc khai quang rải hay phun và các bệnh tật của người dân trong các khu vực rải thuốc đó (sẽ bàn ở phần sau về điều kiện dẫn chứng liên hệ nhân quả phải có này, thì mới thắng kiện, điều kiện mà các luật sư Mỹ trong vụ kiện của người Việt Nam đã không làm tròn bổn phận).
Luật sư Mỹ đưa ra một lọat các tội danh khác, dựa trên những luật quốc tế khác, để quy trách nhiệm cho các hãng hóa chất Mỹ, tất cả đều đã bị Tòa Án New York bác bỏ. Đó là các tội danh như: Tội ác chiến tranh, diệt chủng, chống nhân lọai, tra tấn, hành hung, cố ý hay bất cẩn gây thống khổ tinh thần, bất cẩn gây tử vong, làm giầu bất chính và làm tổn hại môi trường.
Một phái đòan nguyên đơn Việt nam có đến Harvard thuyết trình, gồm có giáo sư Đại học Hà Nội Phan Thị Phi Phi, cựu chiến binh Nguyễn Văn Quý và một vài luật sư của họ. Tôi có hỏi và góp ý kiện là không nên đưa ra lời cáo buộc về tội ác chiến tranh. Tòa án đã bác luận cứ các tội danh này, quá rộng lớn, chẳng khác gì lấy súng săn có đạn bắn tỏa ra nhiều viên đạn để bắn một con ruồi, thật là vô ích. Tòa án cũng nói là một số các luật lệ dao to búa lớn nói trên chỉ áp dụng cho các quốc gia, chứ không áp dụnh cho các công ty tư nhân.
B.- Luật sư Mỹ của nguyên đơn Việt Nam đã không dẫn chứng liên hệ nhân quả dùng để thuyết phục Tòa án.
Chánh án Weinstein có nói như vậy, vì ông cho là bằng chứng về sự liên hệ nhân quả phải có từ một số lớn các dữ kiện nghiên cứu khoa học về bệnh lý và dịch tễ, vì việc khai quang diễn tiến trên một số diện tích rất lớn và động chạm đến số dân cư rất đông mà nguyên đơn nói là 4 triệu người. Ông nói là nồng độ của chất độc dioxin trong chất khai quang agent orange quá nhỏ, vì thế thuốc khai quang là thuốc diệt cỏ, chứ không phải là thuốc độc. Và Ông Chánh Án nói là nguyên đơn nói quá ngắn gọn, không đủ chứng minh liên hệ nhân quả là: thuốc nào của hãng Dow Chemical đã tác hại đến mấy người nguyên đơn, tức là 25 người gồm các trẻ em và cha mẹ, giám hộ của họ ở Miền Bắc Việt Nam.
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang
[/align]
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang, tức là có các đường bay của phi cơ đi qua, và các con số bệnh nhân có thể gán ghép cho chất Da Cam trong các vùng đất đó ở Miền Nam Việt Nam. Tức là phải theo phương pháp sinh học mới, là thống kê hàng lọat các dữ kiện A (các đường bay khai quang) đi liền với các dữ kiện B ( số bệnh tật) và chứng minh là có liên hệ thống kê giữa các dữ kiện ấy thì mới chứng minh được liên hệ nhân quả giữa chất khai quang và bệnh tật. Đằng này các luật sư nguyên đơn chỉ tập trung vào một vài người ở Miền Bắc Việt nam, có đi Nam đánh trận, và chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người ở trong Miền Nam.
Tôi có hỏi phái đòan thuyết trình ở Havard tại sao không đem cả những người Miền Nam Việt Nam vào vụ kiện, kể cả những người hiện đang định cư ở Mỹ và có thể đang là công dân Mỹ, họ cũng sống ở những vùng khai quang và họ có thể to mồm trong dư luận Mỹ để giúp vụ kiện tập thể nhân danh toàn thể số dân chúng nạn nhân này , thì phái đòan không trả lời được. Việc ích kỷ chỉ nghĩ đến các nguyên đơn gốc từ Bắc Việt nam mà quên đại đa số các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam, nơi rải chất khai quang, là một lầm lẫn, nhưng Chánh án Weinstein cũng còn rộng lượng nói rằng ông không bác bỏ Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam /Dioxin Viet Nam—lập tại Miền Bắc, và Hội chỉ để ý đến các nạn nhân đi đánh trận ở Miền Nam rồi về Bắc-- ra ngọai vụ, mặc dầu các hãng bị đơn đòi như vậy.
Việt Nam nói cần có công lý cho hàng triệu nạn nhân chất độc da cam
Tôi cũng hỏi có muốn giúp ý kiến thì tôi sẵn sàng, nhưng luật sư Mỹ không nói gì. Bởi vì tôi có biết một chuyện có thể khiến cho luật sư của nguyên đơn Việt Nam không thể đưa ra bằng chứng hàng lọat (massive evidence) về các đường bay khai quang ở các vùng lãnh thổ ở Miền Nam Việt Nam và các số bệnh nhân trong các vùng đó: đó là họ không biết đến các bản đồ các đường bay (flight paths) của các máy bay khai quang và tổng số các bệnh nhân tại các vùng khai quang mà tôi đã đựợc đọc thấy tại nhà bác sĩ Hòang Đình Cầu, nguyên thứ trưởng Y tế và Khoa Trưởng Đại Hoc Y Khoa, mấy năm trước khi ông qua đời.. Vì Ông là anh rể họ, Ông tâm sự với tôi và cho tôi xem những cuốn sách rất dầy như những cuốn tự vị về các đường bay, và nói rằng đây là bản sao ông còn giữ, còn bản chính thì đã trao cho người kế quyền của ông trong chức vụ Chủ tịch Ủy Ban 1080 của Việt Nam chuyên về chất Da Cam, là bác sĩ Lê Cao Đại, cựu sinh viên của ông. Tôi nhớ là có mời bác sĩ Lê Cao Đại đến nhà tôi ở gần trường Harvard dùng cơm trưa khi ông có việc qua thăm Mỹ, nhưng hồi đó tôi chưa được bác sĩ Cầu kể chuyện về sổ sách đường bay nên dịp đó đã không hỏi bác sĩ Đại.
Viện trợ nhân đạo?
Tôi nghĩ việc kiện tụng ở Tòa án chống các công ty tư nhân thì đã đâm lao phải theo lao, vì nếu để cho thua luôn thì sẽ có ảnh hưởng xấu khi xin viện trợ nhân đạo, vì cái lý lẽ để mặc cả yếu hẳn đi.
Việc xin viện trợ nhân đạo nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân
[/align]
Còn liệu có cơ may có thể thắng hay không thì tùy thuộc ở việc tranh đấu kiên trì ở tòa Kháng Cáo, Tòa ấy có thể bắt Tòa Liên Bang ở dưới xử lại. Như chính ông Chánh Án Weinstein có nói là, nếu xử lại khi Tòa Kháng án bác phán quyết của Ông, thì Ông sẽ chú tâm xét kỹ đến các dữ kiện khoa học nêu ra liên hệ nhân quả giữa khai quang và bệnh tật, và ông chưa bác bỏ những liên hệ nhân quả đó, vì còn quá sớm. Các luật sư nguyên đơn phải ráng tìm lại các bản đồ các đường bay và các dữ kiện thống kê bệnh tật ở các vùng rộng lớn ở Miền Nam Việt nam, chứ không thể nói sơ sài như trong phiên Tòa trước đây và chỉ nói đến các người Việt ở Miền Bắc.
Do đó, việc xin viện trợ nhân đạo, tức là xin chính quyền Mỹ và nhân dân Mỹ, thì nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân, vì nhỡ ra các công ty tư nhân tuyên bố phá sản thì việc kiện là công “dã tràng se cát Biển Đông”. Việc chính phủ Bush đã giúp Việt Nam về việc đối phó với bệnh SARS, bệnh AIDS, là một bằng chứng cho thấy viện trợ nhân đạo vẫn có thể có.
Việc vận động xin viện trợ nhân đạo cũng là ý kiến của bác sĩ Hòang Đình Cầu khi trả lời câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi đó hỏi ý kiến có nên kiện hay không, khi có một phái đòan Mỹ có luật sư đi kèm con ông Đô Đốc Zumwalt sang Việt Nam xúi kiên tụng, thì bác sĩ Cầu nói nên dùng đường lối thương lượng xin viện trợ nhân đạo. Viện trợ này có thể giúp vào việc ủng hộ tài chánh và cộng tác trong các cuộc nghiên cứu khoa học về nhân quả trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước Việt Nam có rải chất khai quang và có bệnh tật nhiều; và cũng có thể tiến tới vấn đề chữa trị dài hạn cho các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam là những người bạn cũ của Mỹ, ở Miền Bắc là những người bạn mới của Mỹ. Không nên kỳ thị người Miền Nam trong vấn đề viện trợ nhân đạo này, như đã xẩy ra trong một vài việc làm khó khi thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ nhận viện trợ xe lăn phải đóng thuế, mà báo Nhật Bản đã nêu ra cách nay vài năm.
Nạn nhân Da Cam, với những hiện tượng bệnh tật có thật và rõ rệt tận mắt, mà ai trông thấy cũng phải mủi lòng, chắc chắn sẽ làm cho lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ trổi dậy và họ sẽ viện trợ nhân đạo nhưng với điều kiện đừng nói đến “Tội ác chiến tranh”, chỉ làm cho dân Mỹ quay nhìn đi chỗ khác.
Luật sư Tạ Văn Tài là Tiến sĩ chính trị học, Đại học Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh, Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.
Bài thể hiện quan điểm và đánh giá của tác giả, đề cập đến những diễn biến xảy ra trước tháng 6.2007 xung quanh việc Việt Nam theo đuổi vụ kiện chất da cam. Quý vị có ý kiến gì xin chia sẻ với Diễn đàn BBC ở địa chỉ [email=vietnamese@bbc.co.uk]vietnamese@bbc.co.uk[/email]
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/06/070613_agent_orange_tavantai.shtml
CÁC BÀI LIÊN QUAN
[/align][/align]
Cựu binh đòi Hoa Kỳ nhận lỗi
28 Tháng 3, 2006 | Việt Nam
[/align][/align]
Chất độc da cam cản quan hệ Việt-Mỹ?
16 Tháng 11, 2005 | Việt Nam
THE LAST GHOST OF WAR
PHẠM QUỐC THÁI - JANET GARDNER

"A must-see documentary"..."A catalyst to a much-needed national conversation on Agent Orange" - NEWSDAY

At Tu Du Hospital in Saigon, babies in a special unit have enlarged heads or are missing limbs. Pham thi thuy Linh, born without arms, writes with her feet. A boy with a shrunken leg careens around the corridor in a wheelchair.
Thirty years after the end of the Vietnam war, they are among several millions of victims of Agent Orange

In The Last Ghost of War, we meet victims who are plaintiffs in a class action suit against 32 US chemical companies. Attorneys, activists and scientists take us to a new battlefield.

These Vietnamese victims are seeking compensation and justice. The question is were these dioxin-laden herbicides chemical weapons? And if so, who should be held accountable in the wake of what was allegedly the largest chemical warfare operation in history?
____________________________________________________________________________________________
Narrated by Kevin Kline, Produced by Pham Quoc Thai and Janet Gardner, directed by Ms. Gardner.
__________________________________________________________

________________________________________________________________________________________________
Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh: Bộ phim tài liệu về chất da cam/Dioxin ở Việt Nam
Thanh Trúc, phóng viên đài RFA
Phiên toà phúc thẩm để xét lại phán quyết bác đơn của nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ sẽ diễn ra tại New York ngày 18 tới đây.
Bấm vào đây để nghe bài tường trình này
Tải xuống để nghe
[/align]

Em Thái Thi Nga, 15 tuổi,
một nạn nhân chất da cam hôm 10-8-2004.
AFP PHOTO
[/align]Hôm thứ Hai 11 tây vừa qua, bộ phim The Last Ghost Of War, Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, nói về những hệ quả tai hại của chất khai quang diệt cỏ màu da cam có chứa độc chất Dioxin mà quân đội Mỹ sử dụng tromg cuộc chiến Việt Nam, được trình chiếu tại trung tâm phim ảnh Cantor ở đại học New York.
Bộ phim tài liệu dài 57 phút được quay tại Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ. Tác giả là ông Phạm Quốc Thái, sang Hoa Kỳ du học từ năm 1971, và bà Janet Gardner, trước từng viết nhiều bài báo liên quan đến vụ các cựu chiến binh Mỹ kiện các công ty sản xuất là họ đã bị nhiều di chứng bệnh tật vì hít phải chất thuốc khai quang trong khi tham chiến ở Việt Nam.
Mục đích và lý do thúc đẩy ông Phạm Quốc Thái và bà Janet Gardner đứng ra thực hiện cuốn phim Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, với hình ảnh, nhân chứng, tư liệu về sự tác hại không thể phủ nhận của hoá chất màu da cam trên con người, được ông Thái trình bày trong mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay. Xin nhường lời cho ông Phạm Quốc Thái:
Phạm Quốc Thái: Tôi biết vấn đề này từ những thập kỹ 70, 80 nhưng không tìm hiểu nhiều bởi lúc ấy báo chí chưa nói đến nhiều. Gần đây, nhân dịp Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ nên sẳn tiện đó chúng tôi làm luôn.
Thanh Trúc: Thưa ông bắt đầu thức hiện bộ phim này từ năm nào
Phạm Quốc Thái: Năm 2004.
Thanh Trúc: Động lực mành nhất thúc đẩy ông làm phim?
Phạm Quốc Thái: Vì tôi muốn đem vấn đề này đến người dân Mỹ, để nói cho họ biết chất độc da cam thế nào, quân đội Mỹ đã dùng ở Việt Nam trong hoàn cảnh thế nào, hiện bây giờ có bao nhiêu nạn nhân, và những nạn nhân đó phải trả một giá rất đắt.
Con số thí tôi không thể nói chính xác được, hơn nữa bên Việt Nam thống kê rất yếu,nhưng tôi nghĩ cũng phải từ vài trăm nghìn người, có thể ba trăm đến năm trăm.
Là bởi vì theo bà Stellman là người đã công bố một bài nói về hậu quả của chiến dịch Operation Grand Chain thì chừng khoảng từ hai cho đến bốn triệu gọi là bị xịt thẳng lên người, còn lính Mỹ thì cũng nhiều nhưng họ chỉ đi ngang vùng đó thôi, chứ người dân Việt Nam là phải sinh sống trên vùng đất ấy từ lúc bị xịt thuốc cho đến bây giờ.
Thanh Trúc: Thưa ông đã thu thập tài liệu như thế nào, tiến trình xin phép để quay bộ phim như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Những người làm phim độc lập như tụi tôi thứ nhất là rất nghèo. Cái thứ hai nữa là rất ít người làm. Thì tôi với một người Mỹ, bà ta tên Janet Gardner, chúng tôi cùng đi về Việt Nam, thu thập các số liệu để làm phim.
Thanh Trúc: Thưa khi về Việt Nam để thực hiện bộ phim này thì ông đã đi qua những vùng nào?
Phạm Quốc Thái:Chúng tôi đến Hà Nội, từ Hà Nội đi Hải Phòng để phỏng vấn một nạn nhân. Sau đó chúng tôi vô Huế, đến bệnh viện của thành phố Huế để phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Việt Nhân.
Từ Huế chúng tôi có đi ra Quảng Trị, rồi bay từ Huế vô thành phố Hồ Chí Minh. Từ TP Hồ Chí Minh chúng tôi đi Biên Hoà để phỏng vấn một nạn nhân khác.
Thanh Trúc: Có nghĩa là khi về Việt Nam ông đích thân tới những vùng hồi xưa bị ảnh hưởng bời chất da cam thì dụ Huế hay Quảng Trị hay ở trong miền Nam?
Phạm Quốc Thái: Vâng.
Thanh Trúc: Sau ba mươi năm chiến tranh thì bây giờ cây cỏ rừng la ở đó như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Cây cỏ đã phục hồi lại, nhưng điều đó không có nghĩa là chất dioxin đã hết, bởi vì chất dioxin lưu lại trong đất rất lâu. Cây cỏ đã mọc lại rồi đã xanh tươi lại rồi nhưng mà không có nghĩa là dioxin không còn nữa.
Theo tôi biết hiện giờ đang có những công trình giải độc một số vùng nhưng mà chính những nhà khoa học cũng không biết sẽ giải độc bằng cách nào bởi vì chất dioxin rất khó để giải độc. Tôi muốn nói là kiểm soát trong vùng nào đó thôi. Có nhiều giải pháp nhưng các nhà khoa học cũng chưa đi đến cái giải pháp nào cho nó ổn định.
Thanh Trúc: Những chương trình giải độc đó là do chính phủ Việt Nam khia triển hay do những tổ chức quốc tế hay là như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Dĩ nhiên là có sự hợp tác của chính phủ Việt Nam, bởi vì ở Việt Nam bây giờ nếu không có sự hợp tác của chính phủ thì có nhiều chuyện không thể làm được.
Về nguồn tài trợ thì do gần đây chính phủ Mỹ cũng có bỏ ra số tiền nhưng mà cái tài khoản rất nhỏ và những tổ chức phi chính phủ NGO của Mỹ có tham gia vào. Nhờ đó họ có tiền để bắt đầu, nhưng mà chuyện này cũng như các nạn nhân vậy, phí tổn để trị bịnh hay để giải độc môi trường có thể nói như một giọt nước một hột cát trên bãi biển.
Thanh Trúc: Những hình ảnh nào ông ghi lại trong bộ phim tài liệu mà ông thấy đáng lưu ý nhất?
Phạm Quốc Thái: Chúng tôi thấy sao ghi vậy chứ không phải là nói các nạn nhân đóng tuồng là không có. Hoàn cảnh của các nạn nhân rất đau khổ vì họ rất nghèo, mà tiền phí tổn như tôi nói để đương đầu với những cơn bịnh do cấht dioxin gây ra nó chả thấm vào đâu hết.
Ở Việt Nam hiện giờ hàng năm lương của công nhân viên chức bình thường là chứng hai ba trăm đô la một năm thôi. Số tiền mà để mua thuốc hay là trị liệu các bịnh của người bị nhiễm chất độc da cam đến mấy chục nghìn đô la. Phí tổn trị bịnh không thể nào trang trải được.
Chính ngay trong phim của tụi tôi có ông Nguyễn Văn Quí, lúc trước đi bộ đội, giờ phải sống nhờ váo gia đình vợ vì không có tiền. Chính phủ Việt Namcó cho ông một số tiền hàng tháng nhưng mà cô biết là rất ít,ông đã phải vay nợ từ bạn bè, thân nhân, hợp tác xã. Tính ra bây giờ ông nợ 20.000 đô, nếu có sống đời cũng không trả hết.
Thanh Trúc: Thưa ông Nguyễn Văn Quí bị những chứng bệnh như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Đầu tiên là ung thư bao tử, rồi di căn qua phổi nhưng ma 2ông không biết. Trước đó ông có ba đứa con, đứa con đầu tiên bị có thể coi như là quái thai hay dị tật. Người vợ thứ nhất sợ quá đành phải bỏ ông. Cái này là chuyện riêng của người ta nhưng mà tôi phải nói.
Ông đi kiếm người vợ thứ hai, đẻ hai đưa con Theo lời ông nói trong phim là khi đẻ đưa con thứ hai ra người nó đầy lông. Bây giờ nuôi ra thì cũng lớn 15 16 tuổi rồi, đưa con trai đầu 18 tuổi thì ngồi xe lăng.
Thanh Trúc: Trong phim có nạn nhân chất da cam dioxin ở miền Nam không?
Phạm Quốc Thái: Miền Nam thì có bà Nguyễn Thị Hồng, bà Hồng cững như ông Quí lúc đó đều tham gia kháng chiến. Theo lời ba Hồng kể thì lúc đó bà gặp một đoàn trức thăng bay rất nhanh và phun chất khia quang. Chất. khai quang dùng ở Việt Nam phần lớn là chất độc da cam. Sau đó bà không biết t mình bịnh cho đến những năm gần đây là 70,80 bà mới trở bịnh.
Chuyện bà Hồng là coi như bị xịt thẳng. Trong cuộn phim của tụi tôi cũng có một cặp vợ chồng thường dân. Họ rất nghèo. Sau khi chiến tranh chấm dứt họ đi vô rừng nhặt bom đạn chưa nổ hay nổ rồi mà còn xác để đem về bán sắt. Mỗi lần đi như vậy họ đi hàng tháng ở trong rừng, khi thấy đủ thì gánh về. Họ sinh ba đứa con đều bị bịnh tâm thần. Họ bắt đầu đi vào rừng để nhặt mãnh bom đạn từ năm 1975 khi mà chất dioxin vẫn còn đó và họ bị nhiễm dioxin.
Thanh Trúc: Thưa ông Phạm Quốc Thái cuốn phim này mới được trình chiếu ở New York trong trường hợp nào?
Phạm Quốc Thái: New York không phải là nơi đầu tiên. Cuốn phim được trình chiếu lần đầu tiên tại New Jersey tại đại học Rutgers. Chúng tôi phải trình chiếu bên New Jersey it nhất là hai lần vì chúng tôi có xin được một tài khoản của New Jersey Council For Humanity và theo hợp đồng thì phải chiếu hai lần. Sau đó có gởi chiếu rất nhiều nơi nhưng phần lớn là những đại học.
Gần đây nhất là hôm thứ Hai vừa qua thì chiều tại Cantor Film Center của trường đại học New York NYU.
Thanh Trúc: Có phải mục đích của buổi chiếu phim là bởi vì ngày 18 sắp tới đây sẽ có vụ phúc thẩm đơn kiện của phia Việt nam về sự átc hại của chất da cam /dioxin mà đã bị chánh án bác bỏ vào năm 2005?
Phạm Quốc Thái: Có thể nói như vậy. Nhưng mà tôi cũng xin lưu ý là bên kiện không phải chính phủ Việt Nam mà là những nạn nhân họ họp lại họ kiện. Cái đó là cái đầu tiên. Cái thứ hai tụi tôi chiếu phim này là bởi vì các nạn nhân sẽ đến New York, do đó chúng tôi muốn chiếu trước để nói với những người xem phim để nói cho họ biết đến cái vấn đề này. Tôi nghe nói cũng có những tổ chức khác họ định tổ chức một buổi gặp mặt giữa các nạn nhân da cam, thì chúng tôi phải chiếu trước.
Thanh Trúc: Mặc dù những nạn nhân họ tập hợp lại thành Hội Các Nạn Nhân Da Cam /Dioxin và kiện các công ty hoá chất Mỹ, nhưng cũng có sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ. Có phải đó là Tổ Chức Cựu Chiến Binh Vì Hoa Bình và Tổ Chức Cứu Trợ Và Trách Nhiệm không ạ?
Phạm Quốc Thái: Đúng rồi, và có một số hội từ thiện khác nữa.
Thanh Trúc: Thưa ông Phạm Quốc Thái, chính phủ Việt Nam đánh giá về bộ phim tài liệu Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh như thế nào?
Phạm Quốc Thái: Tôi không rõ là họ đánh giá thế nào. Đến bây giờ bên Việt Nam vẫn chưa chiếu. Chúng tôi chỉ chiếu riêng cho Hội Nạn Nhân Da Cam coi thôi chứ chưa chiều rộng rãi.
Thanh Trúc: Tại buổi trình chiếu tối thứ Hai vừa qua ông thấy phản ứng của những người coi phim như thế nào, nhất là những người Hoa Kỳ?
Phạm Quốc Thái: Không chỉ buổi chiếu thứ Hai vừa rồi mà mọi lần tất cả những nơi chiếu khác đều có phản ứng như nhau, rất tốt, là vì sao? Vì họ hiểu thêm vấn đề. Agent Orange, tức là thuốc khai quang trong lúc sản xuất thì có một chất khác được tạo nên, đó là chất dioxin.
Đối với khoa học đó là chất độc hại nhất. Mà các công ty sản xuất ra thuốc khai quang họ đã biết trước từ những thập kỷ 40, 50 rằng đó là thuốc độc với hậu quả không lường được. Họ đã biết trước nếu muốn làm giảm chất dioxin trong sản xuất thuốc khai quang thì họ phải rửa lại hay lọc lại. Nhưng mà họ không làm như vậy. Họ cứ sản xuất ra.
Như trong cuốn phim có nói đến là ở Nitro, một thành phố nhỏ của bang West Virginia, công ty Monsanto có cơ xưởng sản xuất ra chất Agent Orange và chính người công nhân mà bây giờ đã về hưu rồi thì họ nói là trong cái thời chiến tranh Việt Nam thì công ty đó có dựng nên một toà nhà để chuyên môn sản xuất chất khai quang.
Toà nhà này hoạt động 24/24, bảy ngày một tuần. Chính người công nhân đó khai sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt thì toà nhà đó bị đập phá và bị chôn dưới lòng đất. Ông ta nói ông biết chổ chôn và biết chổ đó bị nhiễm độc.
Riêng tôi đã ý thức và biết chuyện này đã lâu lắm rồi. Đây là một vấn đề quan trọng nhưng mà bị lu mờ, cố ý hay vô tình cái đó tôi không được biết nhưng mà nhân vụ kiện này thì chúng tôi làm phim luôn. Người cùng làm với tôi thì bà cũng có viết báo nhân cái vụ kiện của các cựu chiến binh Mỹ kiện các công ty hoá chất những năm 80 đó. Tôi nghĩ bà ấy cũng biết từ năm 80 nhưng không làm gì hết cho đến khi các nạn nhân Việt Nam kiện các công ty hoá chất Mỹ.
Thanh Trúc: Ông phải mất mấy năm mới hoàn thành xong?
Phạm Quốc Thái: Từ năm 2004 cho đến cuối 2006 nhưng mà có tin gì mới thì chúng tôi phải cập nhật lại.
Qúi thính giả vừa nghe bài phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện với ông Phạm Quốc Thái, đồng tác giả bộ phim tài liệu Bóng Ma Cuối Cùng Của Chiến Tranh, nói về ảnh hưởng tai hại của độc chất da cam/ dioxin đối với các nạn nhân Việt Nam.
Đoàn nạn nhân da cam/ dioxin gồm bốn người qua Mỹ vận động dư luận tại năm thành phố của Hoa Kỳ. Họ từ San Francisco bay sang New York và đã tham dự một buổi họp báo do UN Mission của Liên Hiệp Quốc tổ chức chiều thứ Tư vừa qua.
Chiều thứ Bảy tuần tới, đoàn sẽ có mặt tại một buổi họp báo khác trước khi ra làm nhân chứng tại phiên phúc thẩm ở toà Brookklyn ngày Chúa Nhật.
Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị tối thứ Năm tuần tới.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/06/14/TheLastGhostOfWarADomentaryFilm_Truc/
________________________________________
Vụ kiện chất da cam: Có thắng được không?
Tạ Văn Tài
Luật sư từ Hoa Kỳ
[/align]
Ngày 18-6 sẽ diễn ra phiên phúc thẩm vụ kiện chất da cam
Câu hỏi đầu tiên cần xem xét là vì sao các nguyên đơn Việt Nam đã thua vụ kiện chất Da Cam trước Tòa án Mỹ?
[/align]Ta chỉ việc phân tích bản án 233 trang (vụ số 04-CV-400) ngày 10 tháng 3, 2005 của Chánh án Weinstein của Tòa án Liên Bang ở New York thì thấy lý do các nguyên đơn Việt Nam thất kiện: Các luật sư Mỹ của họ đã làm hại các nguyên đơn, vì đã làm trật lất trong việc viện dẫn các căn bản pháp lý của việc kiện và trong việc đưa ra bằng chứng quá sơ sài, mặc dù Chánh Án đã cho nguyên đơn 6 tháng từ ngày 9 tháng 2,2004 để đệ nạp bằng chứng.
A. Luật sư nguyên đơn đã dựa vào nhiều căn bản pháp lý không có cơ hội thành công, vì trái luật quốc nội và luật quốc tế, và không có sức thuyết phục.
1) Trái luật quốc nội Mỹ, vì các bản án tiền lệ về các vụ kiện của cựu chiến binh Mỹ, trước vụ Việt Nam, kiện các hãng sản xuất chất da cam, như Dow Chemical , Monsanto v.v. đã thua khi đưa ra luận cứ là theo luật quốc nội, các hãng này phải chịu trách nhiệm về các sự tác hại của các chất hoá học rải trên chiến trường, mà họ sản xuất, theo luật product liability (trách nhiệm về sản phẩm gây tai hại), vì Tòa án Liên bang trong các vụ tiền lệ đó đã nói là theo nguyên tắc vô trách nhiệm của nhà thầu chính phủ (‘chính phủ biểu chúng tôi làm gì thì chúng tôi làm thế, giao hàng hóa như thế ‘) cho nên họ được miễn trách. Luật sư Mỹ trong vụ Việt Nam lại dùng lại lý luận trên của các cựu chiến binh Mỹ đã thua trên căn bản này.
2) Trái luật quốc tế, hay đúng hơn là trái một phần luật quốc tế.
Trước hết, phải nói là Chánh Án Weinstein của Tòa Án Liên Bang NY đã mở ra một chân trời hy vọng cho các nguyên đơn Việt Nam bằng cách nói rõ là Tòa Án Liên Bang Mỹ làm việc trong vụ kiện quốc tế này như một Tòa Án quốc tế (International Court) để xét xử về nhân quyền của các nạn nhân; và do đó không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luật quốc nội Mỹ về sự vô trách nhiệm của nhà thầu, mà có thể xét trách nhiệm trực tiếp của các nhà sản xuất các hóa chất, kể cả chất Da Cam, chiếu theo luật Alien Tort Act của Mỹ đã có từ những năm đầu lập quốc Hoa Kỳ cuối thế kỷ 18, công nhận cho người ngọai quốc được kiện các bị đơn ở Mỹ đã vi phạm dân quyền ở ngọai quốc. (mở dấu ngoặc nói về việc khác: Hiện nay, Bộ Ngọai Giao Mỹ có phỏng vấn một số nạn nhân Việt Nam hiện ở Mỹ đã bị hành hạ trong các trại tù học tập cải tạo bởi một số bạn đồng tù được cất nhắc làm cán bộ hay làm tình báo cho cán bộ trong trại cải tạo mà hiện nay có mặt ở Mỹ. Tôi có bạn là Giáo sư HXH bị hành hạ ở trại Hà Nam Ninh được phỏng vấn, nhưng yêu cầu Bộ Ngọai Giao Mỹ bỏ qua không kiện, vì ông ấy đã tu theo Đạo Phật nên muốn hỉ xả, tha thứ hết).
Trở lại vấn đề các nhà sản xuất hóa chất khai quang bị coi là vi phạm nhân quyền khi sản xuất các chất khai quang đem rải ở Việt nam, làm hại cho dân Việt Nam - Nếu có đủ bằng chứng là có liên hệ nhân quả giữa sản phẩm thuốc khai quang rải hay phun và các bệnh tật của người dân trong các khu vực rải thuốc đó (sẽ bàn ở phần sau về điều kiện dẫn chứng liên hệ nhân quả phải có này, thì mới thắng kiện, điều kiện mà các luật sư Mỹ trong vụ kiện của người Việt Nam đã không làm tròn bổn phận).
Luật sư Mỹ đưa ra một lọat các tội danh khác, dựa trên những luật quốc tế khác, để quy trách nhiệm cho các hãng hóa chất Mỹ, tất cả đều đã bị Tòa Án New York bác bỏ. Đó là các tội danh như: Tội ác chiến tranh, diệt chủng, chống nhân lọai, tra tấn, hành hung, cố ý hay bất cẩn gây thống khổ tinh thần, bất cẩn gây tử vong, làm giầu bất chính và làm tổn hại môi trường.
Một phái đòan nguyên đơn Việt nam có đến Harvard thuyết trình, gồm có giáo sư Đại học Hà Nội Phan Thị Phi Phi, cựu chiến binh Nguyễn Văn Quý và một vài luật sư của họ. Tôi có hỏi và góp ý kiện là không nên đưa ra lời cáo buộc về tội ác chiến tranh. Tòa án đã bác luận cứ các tội danh này, quá rộng lớn, chẳng khác gì lấy súng săn có đạn bắn tỏa ra nhiều viên đạn để bắn một con ruồi, thật là vô ích. Tòa án cũng nói là một số các luật lệ dao to búa lớn nói trên chỉ áp dụng cho các quốc gia, chứ không áp dụnh cho các công ty tư nhân.
B.- Luật sư Mỹ của nguyên đơn Việt Nam đã không dẫn chứng liên hệ nhân quả dùng để thuyết phục Tòa án.
Chánh án Weinstein có nói như vậy, vì ông cho là bằng chứng về sự liên hệ nhân quả phải có từ một số lớn các dữ kiện nghiên cứu khoa học về bệnh lý và dịch tễ, vì việc khai quang diễn tiến trên một số diện tích rất lớn và động chạm đến số dân cư rất đông mà nguyên đơn nói là 4 triệu người. Ông nói là nồng độ của chất độc dioxin trong chất khai quang agent orange quá nhỏ, vì thế thuốc khai quang là thuốc diệt cỏ, chứ không phải là thuốc độc. Và Ông Chánh Án nói là nguyên đơn nói quá ngắn gọn, không đủ chứng minh liên hệ nhân quả là: thuốc nào của hãng Dow Chemical đã tác hại đến mấy người nguyên đơn, tức là 25 người gồm các trẻ em và cha mẹ, giám hộ của họ ở Miền Bắc Việt Nam.
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang
[/align]
Lẽ ra luật sư của các nguyên đơn phải đưa ra hàng lọat các dữ kiện nghiên cứu khoa học của nhiều vùng trên lãnh thổ Miền Nam Việt nam có rải chất khai quang, tức là có các đường bay của phi cơ đi qua, và các con số bệnh nhân có thể gán ghép cho chất Da Cam trong các vùng đất đó ở Miền Nam Việt Nam. Tức là phải theo phương pháp sinh học mới, là thống kê hàng lọat các dữ kiện A (các đường bay khai quang) đi liền với các dữ kiện B ( số bệnh tật) và chứng minh là có liên hệ thống kê giữa các dữ kiện ấy thì mới chứng minh được liên hệ nhân quả giữa chất khai quang và bệnh tật. Đằng này các luật sư nguyên đơn chỉ tập trung vào một vài người ở Miền Bắc Việt nam, có đi Nam đánh trận, và chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là người ở trong Miền Nam.
Tôi có hỏi phái đòan thuyết trình ở Havard tại sao không đem cả những người Miền Nam Việt Nam vào vụ kiện, kể cả những người hiện đang định cư ở Mỹ và có thể đang là công dân Mỹ, họ cũng sống ở những vùng khai quang và họ có thể to mồm trong dư luận Mỹ để giúp vụ kiện tập thể nhân danh toàn thể số dân chúng nạn nhân này , thì phái đòan không trả lời được. Việc ích kỷ chỉ nghĩ đến các nguyên đơn gốc từ Bắc Việt nam mà quên đại đa số các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam, nơi rải chất khai quang, là một lầm lẫn, nhưng Chánh án Weinstein cũng còn rộng lượng nói rằng ông không bác bỏ Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam /Dioxin Viet Nam—lập tại Miền Bắc, và Hội chỉ để ý đến các nạn nhân đi đánh trận ở Miền Nam rồi về Bắc-- ra ngọai vụ, mặc dầu các hãng bị đơn đòi như vậy.
Việt Nam nói cần có công lý cho hàng triệu nạn nhân chất độc da cam
Tôi cũng hỏi có muốn giúp ý kiến thì tôi sẵn sàng, nhưng luật sư Mỹ không nói gì. Bởi vì tôi có biết một chuyện có thể khiến cho luật sư của nguyên đơn Việt Nam không thể đưa ra bằng chứng hàng lọat (massive evidence) về các đường bay khai quang ở các vùng lãnh thổ ở Miền Nam Việt Nam và các số bệnh nhân trong các vùng đó: đó là họ không biết đến các bản đồ các đường bay (flight paths) của các máy bay khai quang và tổng số các bệnh nhân tại các vùng khai quang mà tôi đã đựợc đọc thấy tại nhà bác sĩ Hòang Đình Cầu, nguyên thứ trưởng Y tế và Khoa Trưởng Đại Hoc Y Khoa, mấy năm trước khi ông qua đời.. Vì Ông là anh rể họ, Ông tâm sự với tôi và cho tôi xem những cuốn sách rất dầy như những cuốn tự vị về các đường bay, và nói rằng đây là bản sao ông còn giữ, còn bản chính thì đã trao cho người kế quyền của ông trong chức vụ Chủ tịch Ủy Ban 1080 của Việt Nam chuyên về chất Da Cam, là bác sĩ Lê Cao Đại, cựu sinh viên của ông. Tôi nhớ là có mời bác sĩ Lê Cao Đại đến nhà tôi ở gần trường Harvard dùng cơm trưa khi ông có việc qua thăm Mỹ, nhưng hồi đó tôi chưa được bác sĩ Cầu kể chuyện về sổ sách đường bay nên dịp đó đã không hỏi bác sĩ Đại.
Viện trợ nhân đạo?
Tôi nghĩ việc kiện tụng ở Tòa án chống các công ty tư nhân thì đã đâm lao phải theo lao, vì nếu để cho thua luôn thì sẽ có ảnh hưởng xấu khi xin viện trợ nhân đạo, vì cái lý lẽ để mặc cả yếu hẳn đi.
Việc xin viện trợ nhân đạo nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân
[/align]
Còn liệu có cơ may có thể thắng hay không thì tùy thuộc ở việc tranh đấu kiên trì ở tòa Kháng Cáo, Tòa ấy có thể bắt Tòa Liên Bang ở dưới xử lại. Như chính ông Chánh Án Weinstein có nói là, nếu xử lại khi Tòa Kháng án bác phán quyết của Ông, thì Ông sẽ chú tâm xét kỹ đến các dữ kiện khoa học nêu ra liên hệ nhân quả giữa khai quang và bệnh tật, và ông chưa bác bỏ những liên hệ nhân quả đó, vì còn quá sớm. Các luật sư nguyên đơn phải ráng tìm lại các bản đồ các đường bay và các dữ kiện thống kê bệnh tật ở các vùng rộng lớn ở Miền Nam Việt nam, chứ không thể nói sơ sài như trong phiên Tòa trước đây và chỉ nói đến các người Việt ở Miền Bắc.
Do đó, việc xin viện trợ nhân đạo, tức là xin chính quyền Mỹ và nhân dân Mỹ, thì nên tiến hành song song với việc kiện công ty tư nhân, vì nhỡ ra các công ty tư nhân tuyên bố phá sản thì việc kiện là công “dã tràng se cát Biển Đông”. Việc chính phủ Bush đã giúp Việt Nam về việc đối phó với bệnh SARS, bệnh AIDS, là một bằng chứng cho thấy viện trợ nhân đạo vẫn có thể có.
Việc vận động xin viện trợ nhân đạo cũng là ý kiến của bác sĩ Hòang Đình Cầu khi trả lời câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi đó hỏi ý kiến có nên kiện hay không, khi có một phái đòan Mỹ có luật sư đi kèm con ông Đô Đốc Zumwalt sang Việt Nam xúi kiên tụng, thì bác sĩ Cầu nói nên dùng đường lối thương lượng xin viện trợ nhân đạo. Viện trợ này có thể giúp vào việc ủng hộ tài chánh và cộng tác trong các cuộc nghiên cứu khoa học về nhân quả trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước Việt Nam có rải chất khai quang và có bệnh tật nhiều; và cũng có thể tiến tới vấn đề chữa trị dài hạn cho các nạn nhân ở Miền Nam Việt Nam là những người bạn cũ của Mỹ, ở Miền Bắc là những người bạn mới của Mỹ. Không nên kỳ thị người Miền Nam trong vấn đề viện trợ nhân đạo này, như đã xẩy ra trong một vài việc làm khó khi thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa cũ nhận viện trợ xe lăn phải đóng thuế, mà báo Nhật Bản đã nêu ra cách nay vài năm.
Nạn nhân Da Cam, với những hiện tượng bệnh tật có thật và rõ rệt tận mắt, mà ai trông thấy cũng phải mủi lòng, chắc chắn sẽ làm cho lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ trổi dậy và họ sẽ viện trợ nhân đạo nhưng với điều kiện đừng nói đến “Tội ác chiến tranh”, chỉ làm cho dân Mỹ quay nhìn đi chỗ khác.
Luật sư Tạ Văn Tài là Tiến sĩ chính trị học, Đại học Virginia; Thạc sĩ luật học, Đại học Harvard; nguyên Giáo sư các trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Quốc gia Hành chánh, Vạn Hạnh, Chiến tranh Chính trị và Cao đẳng Quốc phòng, Việt Nam; nguyên Giảng sư và Phụ khảo nghiên cứu, Đại học luật khoa Harvard.
Bài thể hiện quan điểm và đánh giá của tác giả, đề cập đến những diễn biến xảy ra trước tháng 6.2007 xung quanh việc Việt Nam theo đuổi vụ kiện chất da cam. Quý vị có ý kiến gì xin chia sẻ với Diễn đàn BBC ở địa chỉ [email=vietnamese@bbc.co.uk]vietnamese@bbc.co.uk[/email]
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/06/070613_agent_orange_tavantai.shtml
CÁC BÀI LIÊN QUAN
[/align][/align]
Cựu binh đòi Hoa Kỳ nhận lỗi 28 Tháng 3, 2006 | Việt Nam
[/align][/align]
Chất độc da cam cản quan hệ Việt-Mỹ? 16 Tháng 11, 2005 | Việt Nam
![[:@]](/images/smiley/s6.gif)