📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Hoàng Văn Chí (1913-1988)

42 trả lời, 3.140 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-17 17:13:39Ngọc Lý>
Hoàng Văn Chí
(1913-1988)

Bài do Ngọc Lý soạn, như một nén hương
nhân ngày giõ Cụ Hòang Văn Chí - 6/7/2007.


Hoàng Văn Chí (1/10/1913-6/7/1988) là một đại biểu cho "tri thức Việt" trong thế hệ từ thực dân đến cộng sản và luôn tranh đấu cho sự tự do, khai phóng đích thực của văn hóa Việt.



[/align]
 Hoàng Văn Chí
(1913-1988)



[/align]Hoàng Văn Chí gốc người Mường, hấp thụ văn hóa Tây Phương, tích cực kháng chiến chống Pháp, nhưng sớm nhìn ra hiểm họa Cộng Sản và di cư vào Nam năm 1954. Tại miền Nam, ông thất vọng với nền độc tài gia đình trị dưới thời Ngô Đình Diệm nên tìm cách bỏ ra hải ngoại. Ông trải một thời gian ở Ấn Độ, và tìm hiểu thêm nhiều ảnh hưởng Ấn và Phật Giáo trên văn hóa Việt. Ông cũng từng sống tại Nhật, Pháp, và một thời gian dài tại Hoa Kỳ. Tuy vậy, tâm hồn của ông luôn hướng về đất Việt. Tác phẩm cuối đời của ông nhằm tổng hợp triết thuyết và nhân sinh quan toàn cầu cộng với kinh nghiệm sống của riêng ông để đưa ra một học thuyết giải đáp bài toán Việt Nam: Xây dựng lại một nền văn hóa Việt lành mạnh, vững vàng, nhân bản, để cứu quốc và kiến quốc.

Ông là một trong những nhà tri thức Việt có tác phẩm dịch ra trên 15 thứ tiếng toàn thế giới (From Colonialism to Communism) từ những năm 1960s, và là một ngòi bút chống Cộng đầu tiên của người Việt trên bình diện quốc tế, tuy lẻ loi nhưng mạnh mẽ. Cho đến hôm nay, các tác phẩm và tài liệu của ông vẫn được sử gia quốc tế tra dùng như kinh điển về kinh nghiệm Việt Nam.

Hoàng Văn Chí là một học giả, một nhà văn hóa, một chính trị gia, một nhà nghiên cứu triết học, nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, dịch giả.

Trên tất cả, ông là người đã tận tụy hiến cả cuộc đời hoạt động tranh đấu cho một nước Việt tự do, độc lập, dân chủ, và phát triển với hướng đi dân tộc và nhân văn do chính ông tự đề xướng: Duy Văn Sử Quan.

Duy Văn Sử Quan chủ trương duy trì cái đẹp nhân bản để mang xã hội thoát khỏi các tệ nạn do "Duy Vật Sử Quan" của chủ nghĩa Cộng Sản tạo ra. Đây là một nhân sinh quan mà Cụ Hoàng Văn Chí hy vọng sẽ góp phần xây dựng một nền móng vững chắc cho con người và xã hội Việt trong mục đích cứu quốc và kiến quốc.
 
Sơ lược tiểu sử:
 
Ông Hoàng Văn Chí sinh ngày 01-10-1913 tại Thanh Hóa, Trung Việt.

Học trường Trung học Albert Sarraut Hà Nội (1928-1935).

Đậu Cử Nhân khoa học tại Đại Học Đông Dương (1940).

Viết văn, dịch sách, bút hiệu Mạc-Định.

Kết hôn năm 1940 với bà Lê Hằng Phấn, ái nữ cụ Sở Cuồng Lê-Dư, có ba người con: một trai, hai gái.

Hoạt động kháng chiến chống Thực Dân Pháp:

Năm 13 tuổi ông đã tham gia bãi khóa (1926) phản đối thực dân Pháp.

Năm 23 tuổi ông tham dự phong trào "Le Travail" (1936)

Hoạt động trong đảng Xã Hội SFI0 (1937-1939).

Tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946.

Năm 1949, Hoàng Văn Chí chính thức hoạt động với chính quyền Việt Minh (1949-1953) với tư cách chuyên viên phụ trách đúc tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, thiết lập hệ thống thủy điện. Với căn bản kiến thức của một kỹ sư cử nhân khoa học Pháp, ông đã tiếp tay tích cực cho lực lượng kháng chiến.

Đây là giai đoạn ông tiếp xúc gần gũi với Hồ Chí Minh, nhận ra rằng ông Hồ ngày càng ngả theo Cộng Sản, tuân lệnh quan thầy Trung Cộng mà đánh mất mục tiêu Độc Lập Tự Do thực sự cho dân Việt, nhất là trong đợt Cải Cách Ruộng Đất.

Ông đã âm thầm quyết định sẽ bỏ Việt Minh sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công.

Năm 1954, Hoàng Văn Chí bỏ Kháng chiến trở về thành.

Hoạt động tranh đấu cho một Việt Nam Tự Do, không Cộng Sản:
 
Sau khi Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, Hoàng Văn Chí di cư vào Nam (1955). Khi đi, ông có hứa với các bạn văn nghệ miền Bắc (Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm), là sẽ mang tiếng nói của họ phổ biến trong thế giới tự do.

Tại miền Nam, từ 1955-1960, ông đã không ngừng cố gắng thâu thập tài liệu, đúc kết, và xuất bản tập "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc", nói lên sự đàn áp trí thức của Cộng Sản miền Bắc thay cho các bạn văn của ông còn ở trong tù Cộng Sản. Đây là tập tài liệu đầu tiên và duy nhất ghi lại đầy đủ về vụ án Nhân Văn Giai Phẩm.

Trong giai đoạn này, ông viết và xuất bản "Phật Rơi Lệ" (1956) - "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" (1959) - "The New Class in North Vietnam" - "The Nhân Văn Affair"

(1959-1960) Cộng tác với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng nhận ra sự sa lầy của chế độ gia đình trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông xin được chuyển đi làm Phó Lãnh Sự tại Tân Đề Li Ấn-Độ (1959-60).

Hoạt động cho một nền tảng văn hóa dân tộc Việt tự do, không Cộng Sản, không độc tài.

Tháng 2/1960, Hoàng Văn Chí tự ý rời Ấn Độ, ra khỏi sự quản thúc của chính quyền Ngô Đình Diệm, qua Âu Châu lưu trú tại Pháp (1960-1965) bắt đầu viết sách và hoạt động văn hóa.

Từ 1960 - 1962, ông viết "From Colonialism to Communism" bằng Anh văn và Pháp văn.  Sách xuất bản năm 1962, đồng lúc tại New York, London, và New Dehli.   Sách được dịch ra trên 15 ngôn ngữ toàn cầu. Đây là tài liệu đầu tiên do một người Việt viết bằng ngoại ngữ để nói lên thảm trạng Cộng Sản tại Việt Nam, và phổ biến đến Thế giới tự do. Sau này, ông dịch sách sang tiếng Việt, với tên "Từ Thực Dân đến Cộng Sản", với bút hiệu "Mạc Định", xuất bản năn 1964.

Trong giai đoạn này, ông cũng đóng góp tài liệu hoặc bài viết trong các cuốn sách: "North Vietnam today", "Vietnam Seen From East and West".

Năm 1965, theo lời mời của Bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ, ông bỏ Pháp sang định cư tại Mỹ. Tại đây, ông tiếp tục theo đuổi điều tha thiết nhất: Nói lên sự thật tại Việt Nam cho thế giới tự do biết, và từng làm các công việc:

- Biên tập viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) chuyên bình luận về Bắc Việt (1965-69)

- Giảng viên về văn-hóa và triết học cho cơ quan Phát-triển Quốc-tế (USAID), cho các lớp huấn luyện ngoại giao, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và một số trường Đại-học Hoa-Kỳ (1970-79).

- Thuyết trình với các giới thanh niên dưới hình thức thuyết giảng, hội đàm, mạn đàm về các đề tài văn-hóa, giáo dục tại nhiều nơi ở Mỹ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, trong nhiều năm liên tiếp.

- Thuyết trình trước "Hội-nghị bàn về vấn đề hòa đàm Paris 1973 về Việt Nam" tại Paris, Pháp (1987).

- Nghiên cứu và sưu khảo các tài liệu về chính trị, văn hóa, triết lý cổ kim, Đông Tây, với tham vọng đưa ra một cuốn sách, tổng nhận định về bước tiến hóa của nhân loại, dẫn đến một học thuyết mới, khả dĩ hướng dẫn được chúng ta trong tiến trình kiến quốc và hưng quốc. Cuốn sách này được thực hiện mang tựa đề "Duy Văn Sử Quan" với chương XXI đang viết dở dang năm 1988, thì tác giả từ trần.

- Lập xưởng Tương Cự Đà và Thính Quê Hương tại Bowie, Maryland, vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

- Cố Vấn, và yểm trợ tích cực cho Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, Boat People SOS.

- Từ trần ngày 6 tháng 7 năm 1988 tại Maryland, Hoa Kỳ, thọ 75 tuổi.

Tác phẩm:

- "Phật Rơi Lệ" (1956)
- "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" (1959)
- "The New Class in North Vietnam"
- "The Nhân Văn Affair"
- "From Colonialism to Communism" (1964)
- "Từ Thực Dân đến Cộng Sản" (bản dịch của Mạc Định)
- Duy Văn Sử Quan (1988), xuất bản năm 1990, sau khi tác giả đã qua đời.

Liên kết ngoài:

Hoàng Văn Chí - Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc

Hoàng Văn Chí - Từ Thực Dân Đến Cộng Sản

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan


_________________________________

Bài do Ngọc Lý soạn, như một nén hương
nhân ngày giõ Cụ Hòang Văn Chí - 6/7/2007.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 06:07:57Ngọc Lý>
Giáo Sư NGUYỄN NGỌC BÍCH
Viết Thay Lời Tựa
Duy Văn Sử Quan






Paris. Quartier Latin. Một căn gác xép. Anh tôi, bây giờ ở Úc và khi viết thường ký tên Nguyễn Nam Phong, và tôi, lúc bấy giờ còn là một sinh viên cao học, nhẩy mấy bực cầu thang lên gõ cửa. Hai ông bà niềm nở ra đón chào. Nói các cháu chào hai bác, làm tôi ngượng tái người. Hè 1962, tôi chưa đầy 25 tuổi. "Xin anh cho các cháu gọi bằng chú là được rồi." Nhất định ông không chịu!

Ông vẫn thế, hơi cổ cổ, nhưng thân tình biết mấy! Gốc kẻ sĩ, ông không bao giờ rời bỏ được cái nét cương trực ở nơi ông, một thứ khí phách làm cho người khác nếu không mến được thì cũng phải nể. Hai ông bà lúc bấy giờ sống thật đạm bạc: Cả hai vợ chồng với ba người con, một trai hai gái, chỉ chung nhau có một căn phòng nhỏ -- hai ông bà nằm một giường còn ba cháu nhỏ chiếm cứ một cái giường chồng lên nhau, cháu trai nằm ở giường trên và hai cháu gái chia nhau giường dưới. Tuy nhỏ, đạm bạc, nhưng vẫn ngăn nắp. Lúc bấy giờ, ông cũng mới rời tòa Tổng Lãnh Sự của Việt Nam Cộng Hòa ở Tân Đề Li để sang Pháp viết cuốn sách "Từ Thực Dân đến Cộng Sản," một trong những cuốn sách đầu tiên viết về chính sách cải cách ruộng đất của Bắc Việt và những hậu quả thảm khốc của nó. Cuốn sách, viết bằng tiếng Anh, cho đến giờ này vẫn là một trong những cuốn đứng đắn và đầy ắp dữ kiện nhất viết về đề tài đó, chỉ mấy năm sau đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả những tiếng như Urdu, Y-Pha-Nho, Nhật-Bản, và Ả-Rập.

Chính cái cặn kẽ đó đã là cái nét điển hình của nhà biên khảo Hoàng Văn Chí, mà sau này chúng ta mới được biết cũng là tác giả của tuyển tập nổi tiếng Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc (ông cho xuất bản tập này dưới bút hiệu Mạc Định). Ông cũng còn là tác giả cuốn "The New Class in North Vietnam" (Giai cấp Mới ở Bắc Việt), tiền thân cuốn Trăm Hoa Đua Nở nhưng có lẽ vì viết cho người ngoại quốc nên không đi sâu được vào nhiều vấn đề như cuốn sau.

Vì biết tôi đang học về văn-học Nhật-Bản nên ông hỏi tôi có biết tiếng Cao-ly không. Tôi bảo: "Em đang học, được độ hai năm." Ông bèn rút từ trong hồ sơ của ông ra một lá thư viết bằng tiếng Cao-ly và nhờ tôi đọc hộ. Vì tiếng Cao-ly của tôi có lẽ cũng chưa vững lắm, cộng thêm lá thư viết tay nên hơi khó đọc (tôi toàn học tiếng Cao-ly trong sách in nên rõ ràng lắm), tôi chỉ nắm lờ mờ được đại ý của lá thư. Ông bèn giảng: "Lúc bấy giờ là khoảng năm 1942. Người Cao-Ly (mà bây giờ thường gọi là Đại Hàn- NNB) cũng có người đi tranh đấu nhằm mưu tìm độc lập cho nước họ thoát khỏi nanh vuốt của quân-phiệt Nhật. Có người phải trốn sang tận Việt-nam, và anh này -- chỉ tác giả bức thư -- đã được gia đình nhà tôi cho tá túc, để trốn bọn Nhật, trong một thời gian."

Thì ra, chủ-nghĩa quốc-tế không phải đợi đến Cộng Sản sang nước ta rồi dân ta mới biết thế nào là "nghĩa vụ quốc tế." Có điều chủ nghĩa quốc tế, ở trong trường hợp của cha ông ta, xuất phát từ con tim -- khác xa một trời một vực với chủ nghĩa của Cộng Sản, lúc nào cũng nhồi nhét, tống xuống họng xuống cổ người ta.

Cũng nhân đó, tôi học được một nét quý ở nơi ông. Đó là tính ân cần mà bao giờ ông cũng dành cho thành phần tuổi trẻ, những thành phần cách mạng, những thành phần mà ông cho là nắm vận mệnh tương lai của đất nước. Hai mươi lăm năm sau, khi đến nhà ông ở Bowie, Maryland, trông thấy chung quanh ông quây quần những anh chị em trẻ, đến để học hỏi nơi ông, tôi thấy cái ngọn lửa cách mạng trong con người ông - ở tuổi 70 hơn - vẫn còn bừng bừng cháy!

Ông có tham vọng làm cách mạng. Cả cuộc đời ông là một cuộc đời cách mạng. Cách mạng chính trị, đối với thế hệ của ông, là mưu tìm sự độc lập cho tổ quốc thân yêu. Chính niềm khát khao này đã kích thích, thúc đẩy ông, vào năm 1945, đi xe đạp từ Thanh-hóa, nơi sinh quán của ông, ra đến tận Hà-nội để đi tìm những lực lượng cách mạng Việt Nam. Trên đường đi, ông đã phải đi qua bao nhiêu chặng cửa ải rất gian nguy vì lúc bấy giờ, quân đội và hiến binh Nhật còn trấn giữ nhiều trục giao thông ở trong nước.

Gặp được Hồ Chí Minh, ông đã đi theo "Cụ" để một lòng với kháng-chiến sau khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ vào tháng 12-1946. Ông trở về Thanh Hóa rồi lập ra nhà máy thủy điện, rồi lại được giao phó việc in tiền và đúc tiền Cụ Hồ. Ở Thanh Hóa lúc bấy giờ có tướng Nguyễn Sơn, một sĩ quan đã sống nhiều năm và chiến đấu bên cạnh Hồng quân Tàu, đi theo cả cuộc trường chinh của Mao Trạch Đông về đến Diên An - một vị tướng có hào khí cách mạng lãng mạn và rất văn nghệ nên cũng đã thu hút được một số khá đông đảo văn nghệ sĩ về ở chung quanh mình. Nhưng khi nghe thấy Cộng sản Việt Nam sửa soạn học đòi "cải-cách ruộng đất" kiểu Trung cộng là lập tức tướng Nguyễn Sơn cho những người thân cận của ông, trong đó có ông bà Hoàng Văn Chí, hiểu rằng cuộc cách mạng Việt Nam đang bị dẫn dắt vào một con đường đầy sắt máu. Vì bất đồng ý kiến với Đảng Lao Động nên Nguyễn Sơn đã trở về Trung quốc để rồi sau này cũng bỏ xương ở đó.

Riêng ông Hoàng Văn Chí khi kháng chiến thành công, ông liền bỏ đi Nam. Không phải ông tin là ở miền Nam đã có minh chủ nhưng vì cuộc cải cách ruộng đất đã làm cho ông thấy chân tướng của Cộng sản VN, và ông không còn thể sống được với lũ người man rợ như vậy. Cho nên ra đi thì có, còn đến với ai thì chưa rõ ràng.

Nhưng không vì thế mà ông không tích cực. Chỉ riêng những tác phẩm của ông đủ cho ta thấy ông biết rõ cái chế độ đó đến mực nào. Có lẽ không ai ngoài ông mà có thể làm chủ biên được tập "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" ở mức gần như lý tưởng. Ông quen, ông là bạn của rất nhiều người trong số 34 tác-giả của vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Do đó nên những dữ kiện đầu tập có thể xem là một bài phân tích mẫu mực về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, và cho đến nay, vẫn chưa có ai làm hơn được.

Nhưng con người cách mạng ở ông không ngừng ở đó. Sau khi làm cách mạng chính trị và kỹ thuật (ở trong kháng chiến là làm thủy điện, làm nhà máy giấy in tiền, v.v...; sang đến Mỹ sau này thì là nghiên cứu và lấy môn bài về làm tương Cự Đà cũng như đi ngay vào thực tế, tức lập xưởng sản xuất tương bán cho khắp thế giới), ông lại còn nuôi mộng làm cách mạng dân trí, làm cách mạng tư tưởng để thức tỉnh cả nhân loại.

Người xưa đã nói, lập ngôn (tức là nói một câu để đời) cũng đã khó, lập chí lại còn khó hơn (vì đòi hỏi nhiều kỷ luật), lập thuyết là khó nhất. Nhưng không vì thế mà ông nản lòng. Có lẽ ông cũng cho rằng đả phá thôi không đủ, mà phải đưa được ra cái gì hay hơn, sáng giá hơn, khoa học hơn, nhân bản hơn! Có lẽ vì thế mà mười năm cuối đời, ông bỏ ra nhiều thời giờ để làm công việc này.

Ông đã ngồi nghiên cứu lại hết cả, cổ kim, Đông Tây, đủ hết! Ông đặc biệt lại đem được cái hiểu biết thu thập được từ Ấn Độ, đem đúc kết hết cả lại với những cái hiểu biết của ông về khoa-học để thành một học thuyết mới, một tổng đề mà ông mong là sẽ hướng dẫn được chúng ta tới một tương lai sáng lạng.

Triết thuyết Duy Văn Sử Quan chính là những suy tư nghiền ngẫm của một bộ óc suốt đời tận tụy với quê hương, dân tộc, và văn hóa Việt Nam. Cái nhìn của ông không phải là một cái nhìn thuần túy văn-hóa, nó còn có tham vọng làm một tổng hợp, khoa học và con người trên một căn-bản mà ông gọi là "duy văn sử quan".

Chúng ta có thể đồng ý, chúng ta có thể không đồng ý, nhưng có một điều chắc chắn là ở tác giả Hoàng Văn Chí không có vấn đề "tận tín thư," không có vấn đề "giáo điều."

"Tin hoàn toàn vào sách vở thì thà không có sách còn hơn," Mạnh tử ngày xưa đã chẳng dạy rồi sao? Vì không "tận tín thư" nên ông Hoàng Văn Chí đòi xét lại tất cả, không chỉ một mình chủ thuyết Cộng sản, mà còn cả những sự thật mà nhiều người trong chúng ta đã coi là hiển nhiên và không còn thắc mắc nữa. Ông làm thế không phải để khuyến khích một tinh thần hoài nghi tất cả mà là để xây dựng trong ta một niềm tin có cơ sở hơn khi đã luận ra mọi nhẽ. Vậy đồng ý hay không với những điều ông trình bầy có lẽ còn không quan trọng bằng sự thảo luận với ông ở một trình độ khá sâu sắc.


*

Anh,

Mới ngày nào đây anh còn ngồi đó, nhìn ra cảnh vườn mà anh chị đã dày công xây đắp, vun trồng. Có những mùa hoa nở rộ, cánh trắng, cánh hồng xen lẫn vào màu xanh của lá với mây trắng lãng đãng ở xa xa, chắc hẳn nhiều bạn bè của anh chị cũng đã thoáng có ý tưởng là ta đã lạc vào tiên cảnh. Vào nhà trong, một ấm trà nóng, một đĩa rau muống luộc, một chén tương, một bát cà trắng tươi và dòn tan, một đĩa bê thui (rắc thính cũng của xưởng anh chị làm ra), là những kỷ niệm êm đềm và khó quên của cả một nhóm bạn "vong niên" mà có lẽ anh chị đã coi như là một phần của gia đình.

Mới đó, mới đó, chị còn cười tươi và kể xấu anh chuyện gì - nhưng trong đó ẩn chứa biết bao âu yếm.

Mới đó, mới đó, mà giờ đây cả anh, rồi đến chị, đã thành người thiên cổ. Vợ chồng cháu Dũng, cháu bé ngày nào mà anh chị còn bắt gọi em bằng bác, lại nhà để yêu cầu em có vài hàng giới thiệu tác phẩm "tử hậu” của anh, để đánh dấu ngày giỗ của anh. Em làm sao từ chối được, nhưng ngôn bất tận ý, chỉ mong sao ở Suối Vàng mấy lời mộc mạc trên đây làm cho anh chị cảm thấy ấm lòng đôi chút.


Nguyễn Ngọc Bích
Springfield, Virginia
Ngày 10-9-1990


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 06:08:27Ngọc Lý>
LỜI NHÀ XUẤT BẢN TỦ SÁCH CÀNH NAM
Nhân dịp xuất bản Duy Văn Sử Quan




Là một cơ sở nhỏ với lúc đầu phương tiện còn rất eo hẹp, Tủ Sách Cành Nam chưa bao giờ dám có tham vọng xuất bản những tác phẩm "nặng" thuộc loại nghiên cứu hay triết hoc. Không phải vì chúng tôi quan niệm là những sách này không quan trọng, mà chỉ vì tự lượng sức Tủ Sách Cành Nam chưa có đủ khả năng về mặt tài chánh, cũng như tổ chức, để có thể tung ra thị trường những tác phẩm loại đó.

Tuy nhiên, có những trường hợp không thể không cần xét lại căn bản, lý do: Cụ Hoàng Văn Chí, một vị học giả lão thành, mà mấy năm gần đây trong giới văn học hải ngoại, không mấy ai là không biết tiếng (Cụ là tác giả các cuôn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản và Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc... ) Cụ không những đã cống hiến cho kho tàng văn học sử V.N những tài liệu thật quý giá, nhất là mấy năm sau này, Cụ đã bỏ hết công việc để chuyên tâm nghiên cứu, biên soạn bộ "Duy Văn Sử Quan" - một bộ sách có thể gọi là "đại tác phẩm" - nêu ra một đường lối trái ngược với lối "tư duy" máy móc thiếu nhân bản và thuyết "Duy Vật Sử Quan" của Cộng Sản.

Trong thời kỳ biên soạn, cụ thường bảo tôi: "Bao giờ viết xong bộ sách này, tôi sẽ nhờ Tủ Sách Cành Nam xuất bản hộ" Lúc ấy tôi chỉ vâng dạ, không dám hứa chắc, cũng không dám chối từ, vì tự nghĩ: chắc còn lâu cụ mới viết xong, biết đâu chừng đó Tủ Sách Cành Nam lại không có đủ phương tiện để ấn hành?

Ngờ đâu, khi bộ sách đã viết tới chín phần mười, chỉ còn một chương cuối cùng nữa là hoàn thành một tác phẩm vĩ đại, thì cụ đột ngột ra đi để lại một công trình lỡ dở, thật là một sự thiệt thòi lớn cho giới văn học.

Sau khi cụ Hoàng Văn Chí từ trần, cụ bà vẫn muốn noi theo chí hướng của cụ ông, định góp nhặt những bản thảo và nghe lại những bài cụ ông thuyết trình các nơi còn ghi trong băng "tape" để viết tiếp nốt chương cuối cùng rồi cho xuất bản. Nhưng có lẽ vì quá đau buồn và vì bệnh tật liên miên, nên không thể thực hiện được ý muốn, rồi chỉ mấy tháng sau, cụ cũng nối gót theo cụ ông tiêu dao miền cực lạc. Bộ sách vì thế mà thiếu mất chương kết luận.

Nhưng tuy cụ Hoàng Văn Chí đã ra đi trước khi tác phẩm hoàn thành, chúng tôi vẫn lạm nghĩ là những nét chính trong "Duy Văn Sử Quan" của cụ cũng đã rõ nét ở những chương đã được hoàn tất. Sau này, nếu có vị học giả nào muốn nghiên cứu theo đường lối của cụ, thì cũng đã có tài liệu sẵn sàng. Thiết tưởng cũng không đến nỗi uổng phụ cái công cụ đã tốn mười năm tâm huyết, cố gắng làm việc, bất kể ngày đêm để thực hiện kỳ được cái nguyện vọng của mình là mong được đóng góp một chút gì cho dân tộc, cho quê hương.

Nhân dịp trưởng nam của hai cụ là tiến sĩ Hoàng Việt Dũng, vì muốn hoàn thành tâm nguyện của tiên phụ đã cố gắng thu thập và sửa sang tập bản thảo và yêu cầu chúng tôi cho ấn hành bộ sách này, chúng tôi cũng không muốn phụ lòng tin cậy và sự ân cần ủy thác của hai cụ lúc còn sinh tiền, nên quyết định lãnh việc xuất bản, dám mong độc giả sẽ chia sẻ với chúng tôi, quan niệm đây là một đóng góp đáng kể của một người đã cả đời tận tụy với quê hương và con người Việt Nam.

Sau hết, chúng tôi xin được giữ nguyên dạng lối đánh máy và sắp chữ của tác giả - đây là những qui luật riêng của cụ (về chắp chữ hay gạch nối) - trong một tinh thần tôn trọng hoàn toàn di cảo của người quá cố.

TỦ SÁCH CÀNH NAM
Những ngày cuối năm - 1990

.

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 05:58:03Ngọc Lý>

[size=+1]


Mục-Lục

DUY-VĂN SỬ-QUAN


Lời Mở Đầu: Đi tìm một Ý thức hệ Nhân văn

Phần I:Văn-Hóa và Dântộc
Chương I : Bảotồn Văn-hóa
Chương II : Văn-Hóa Giaolưu
Chương III :Nghiêncứu Văn-Hóa
Chương IV: Tận-Tín Thư
Chương V : Thẩmđịnh Sử-liệu
Chương VI : Nguồn-gốc Dântộc
Chương VII : Con Rồng, Cháu Tiên
Chương VIII : Chếđộ Mẫuquyền và Tinhthần Bộlạc
Chương IX: Tiếng Việt
Chương X : Nôlệ Văn-hóa Hántộc
Chương XI : Sađọa
Chương XII : Triết-học và Ýthức-hệ
Chương XIII : Nhogiáo và Khổnggiáo
Chương XIV : Triết-học Phậtgiáo
Chương XV : Lãogiáo
Chương XVI : Mặcgiáo
Chương XVII : Tâmtrí Bệnhhoạn

PHẦN II: VĂN HÓA VÀ NHÂN LOẠI

Chương XVIII : Văn-Hóa Biếnđổi
Chương XIX : Tâmtrí Tuần Hoàn
Chương XX : Tâmtrí và Văn-Hóa
Chương XXI : Vănhóa và Lịchsử
[/size]
 [/align] [/align]
Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 06:05:59Ngọc Lý>
.
 
LỜI MỞ ĐẦU

__________


ĐI TÌM MỘT ÝTHỨC-HỆ NHÂNVĂN



Trướctiên, chúngtôi xin nói tạisao chúngtôi lại dùng danhtừ NhânVăn thay vì danhtừ Nhânbản hiện đang thịnh hành.

Tâyphương có hai chủ-thuyết trái-ngược nhau, nhưng cả hai đều được gọi chung là Humanism. Vì lẽ ấy nên tựđiển Tàu và Nhật đã phải dùng hai chữ Hán khác nhau, Nhân-bản và Nhân-văn để đặt tên cho hai chủ-thuyết "mặttrăng mặttrời" của Tâyphương.

Tự-điển Khai-Trí, Hán-Việt Tự-Điển Đào-Duy-Anh cũng như Trung-Văn Đại Tự-Điển đều địnhnghĩa nhưsau:

Nhânbản = Thuyết lấy người làm gốc trong vũ-trụ.
Nhânvăn = Thuyết lấy nhânloại làm đốitượng để nghiêncứu.

Nói rõ hơn, thì thuyết Nhânbản tin rằng Chúa tạo ra người theo hình-ảnh của Ngài trước, rồi sauđó mới tạo ra vạnvật, cốt để cho loài người sửdụng. Thuyết Nhânvăn lại cho rằng người cũng chỉ là một sinhvật như mọi sinhvật khác, nhưng đặcbiệt, loài người có một thứ mà không loài vật nào có. Đó là Văn-Hóa.

Tóm lại, thuyết Nhânbản dựa trên tínngưỡng tôn-giáo, mà thuyết Nhânvăn đứng trên lậptrường khoa học, quanniệm loài người chỉ là một loàivật có văn-hóa.

Không ai địnhnghĩa, nhưng chúngtôi ngờ rằng những người ưa dùng danhtừ "Chếđộ Nhânbản" muốn nói một chếđộ "hợp với bản-tính con người". Nhưng nếu quảvậy, thì không những trái với những địnhnghĩa sẵn có trong các tựđiển Ta, Tàu, Nhật, mà còn vấpphải một khókhăn khác: Bản-tính conngười tốt hay xấu, hãy còn là một vấnđề đang bàncãi. Mạnhtử quanniệm "Nhân chi sơ, tính bản thiện". Tuân Tử lại cho rằng "Nhân chi sơ, tính bản ác". Chúng ta học Mạnh Tử nên quan niệm Nhân bản thiện, nhưng Tần Thủy Hoàng và Cộng-sản lại theo Tuân tử và tin Nhân chi sơ, tính bản ác, nên chủ-trương dùng bạolực để tiêudiệt kẻ-thù. Họ biết họ ác, nhưng họ vẫn tự hào họ theo đúng Nhânbản.

Kết luận: Danhtừ Chếđộ nhânbản không rõ nghĩa và không nên dùng.

Trong phongtrào Trăm Hoa Đua Nở ở Miền Bắc năm 1956, nhóm tríthức Chống-Đảng do cụ Phan Khôi lãnh đạo, xuất bản tờ NHÂN-VĂN, với dụng ý mang VĂN-hóa NHÂN-loại ra "chọi" với chủ nghĩa Mác, vì văn-hóa là điểm yếu nhất, là cái tử huyệt (talon d'Achille) của Cộng sản.

Tờ Nhân-Văn bị Đảng bópchết và những người cộngtác bị tù đầy, nhưng sáchlược dùng Văn-hóa làm lợikhí đấutranh chống Đảng đã tỏ ra rất hữuhiệu, vì cho tới ngày nay, Cộngsản không thù ai bằng thù những cây bút trong nhóm Nhân-Văn, và không sợ ai bằng sợ những người tranh đấu đòi Tự Do Văn-hóa.

Tómlại, chúngtôi dùng chữ "Nhân-văn" vì hai lýdo:

1.- Theo thuyết Chínhdanh của Khổnggiáo, chúng ta phải tôntrọng những địnhnghĩa đã ghi trong các tựđiển.

2.- Ýthức-hệ chúngta đi tìm phải là Ýthức-hệ nhằm bảotồn và pháttriển văn-hóa, chống lại tính chất phản văn-hóa của cộngsản.

Sauđây, chúngtôi xin trìnhbầy những lýdo khiến chúngtôi phải lặnlội đi tìm một Ýthức-hệ Nhânvăn, trong vòng 30 năm vừa qua*

_______

* (1960 -1990).



Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 06:22:52Ngọc Lý>
.
Bệnh Giáođiều



Trong lịchsử cậnđại, không dântộc nào đaukhổ hơn dântộc ViệtNam vì chưa đầy một thếkỷ mà mất-nước tới hai lần.

Lần thứ nhất, mất-nước với Pháp năm 1884 vì vua quan bị Bệnh Giáođiều Tống-nho giamhãm trong một ýthức-hệ lỗi-thời, chật-hẹp, không có một kẽhở để nhìn thấy sựtiến bộ của thếgiới bênngoài.

Lần thứ hai, năm 1975, lại mất-nước với Cộngsản Quốctế, tứclà Đếquốc Liênxô vì giới lãnhđạo cộngsản bị Bệnh Giáođiều Mácxít giamhãm trong một ýthức-hệ lỗi-thời, chật-hẹp, cũng không có một kẽhở để nhìn thấy sự tiếnbộ của thếgiới bên ngoài.

Về bệnh Giáođiều Tống Nho, người Nhật đã có thuốc điều-trị. Họ phátđộng cuộc Cáchmạng Minh-Trị (1868), bảnchất là một cuộc Cách-mạng Văn-hóa, nhằm gạt bỏ phần hủlậu của Hậu -Nho, nhưng bảotồn những phần quýgiá của Tiền-Nho và đón chào văn-hóa tâyphương. Ba mươi năm sau, Nhật nghiễmnhiên trở thành cường-quốc, và đại-thắng Đếquốc Ngalatư, năm 1905.

Chợt-tỉnh Giấcngủ Giáođiều, Khang Hữu-Vi và Lương Khải-Siêu ở Trung quốc, Phan Chu Trinh và các Cụ trong phongtrào Đôngkinh Nghĩa-thục và Duytân ở Việt nam muốn noigương Nhật, phátđộng một cuộc Cáchmạng Văn-hóa, nhưng vì đã mất- nước với Pháp, nên không thành. Rốtcuộc, ở ÁĐông chỉ có một mình Nhậtbản canhtân được xứsở, tiếnbộ về khoahọc kỹ-thuật, đuổikịp và vượt hẳn nhiều quốcgia tây phương, vì Nhật đã thànhcông trong cuộc Cáchmạng Văn-hóa, trong khi Trungquốc bị liệtcường xâu xé và Việtnam bị Pháp thôntính.

Nhìn rộng ra khắp Thếgiới, chúng ta thấy các nước Tây-Âu và Bắc-Mỹ cườngthịnh vì họ đã hoànthành Cáchmạng Văn-hóa từ Thếkỷ 18. Chúngta cũng thấy, từ Đông sang Tây, các nước không thực-hiện được Cáchmạng Văn-hóa, như Tâybannha, Bồ-đào-nha, Phi luật tân, Mỹ Latin,..., cứ lẹt đẹt, yếu ớt nghèo nàn.

Xin đừng một ai nghĩ rằng có học Pháp, học Mỹ, chúng ta đã hấpthụ được Văn-hóa Tâyphương, vậy khỏi cần làm Cáchmạng Văn-hóa. Xin nhớ rằng ****, Võ Nguyên Giáp cũng có Tâyhọc. **** đi khắp đó đây, mà giáođiều vẫn 100 phần 100 giáođiều.

Năm 1936, Mặttrận Bìnhdân lên cầm-quyền ở Pháp, nên chínhsách ở các thuộcđịa có cởi-mở đôi-chút. Tù chínhtrị được tha về, và báo-chí được tựdo xuấtbản, với điềukiện phải viết bằng tiếng Pháp. Lợi dụng tìnhhình, các tổ-chức cáchmạng Việtnam cũng thànhlập Mặttrận Bìnhdân, và chungsức xuấtbản báo-chí để tranh đấu đòi thêm tự do - Tờ Le Travail ở Hanoi và tờ La Lutte ở Saigon.

Một hôm, trong mộc cuộc mạnđàm tại trụ sở báo Le Travail, có người nêu câu hỏi: "Sau khi giànhlại được nền độclập, chúng ta nên noi-gương nước nào để xâydựng quốcgia?" Những người "khôngcộngsản" đề-nghị nên bắtchước Nhật, nhưng nhóm Cộngsản Đệ-tam không đồng-ý. Lãnhtụ của họ là Đặng xuân Khu (sau này đổi tên là Trường-Chinh) nói "Nhật thoátđược là tại hồi ấy các nước Tưbản đang cấuxé lẫn nhau vì tranhgiành thuộcđịa. Bâygiờ khối Tưbản hếtsức đoànkết. Nếu chúng ta tự- lực xâydựng quốcgia, chúng sẽ đồngtâm nhấttrí tiêudiệt chúngta. Chỉ còn một conđường duynhất là theo Liênxô, vì chỉ có Liênxô thực-lòng giúp các thuộcđịa chốnglại thựcdân, đế quốc."

Vì chỉ là một cuộc mạnđàm sau bữa cơm-tối, nên mạnh ai nấy nói, không đồng-ý thì ngồi yên, khỏi cãi-lộn, trong khi đang hợptác với nhau trong một Mặttrận để tranhđấu đòi thêm tựdo. Nhưng ngay từ lúc ấy, chúngtôi thấy Cộngsản tin Liênxô in hệt ngàyxưa Lê Chiêu Thống tin Tàu. Tàu và Nga khác nhau, Tống-Nho và Mácxít trái-ngược nhau, nhưng bệnh Giáođiều và Tinhthần Vọng-ngoại vẫn y-nguyên. Vỏ-chai và nhãn-hiệu có đổi mới, nhưng rượu trong chai vẫn là Rượu Giáođiều caođộ.

Giáođiều Mácxít nguyhại hơn Giáođiều Tống-Nho một trăm lần, mà taihại nhất là cho đến nay, Bệnh Giáođiều Mácxít vẫn chưa có thuốc chữa. Vìvậy nên hiệnnay vẫn có nhiều thanhniên giàu thiệnchí nhưng ít kinhnghiệm, cứ bị lýtưởng Mác lôicuốn vào Trậnđồ Bátquái, không tìm thấy lối-thoát.

Theo thiển-ý của chúngtôi, lýdo chính là tại triết-học Mác chưa được phântích kỹlưỡng để xem nó sai ở chỗ nào.

Thídụ: Thấy triết học ấy dựa trên Duy-vật Biệnchứng các họcgiả chốngcộng vội bảo nó sai là tại nó Duyvật. Rất đúng, nếu hiểu Duyvật theo nghĩa Xung đột vì quyền lợi "vật chất" của giaicấp, mà Mác đã đềxướng; nhưng hoàntoàn sai, nếu hiểu theo nghĩa "Vũ-trụ-quan Duyvật" của khoa học. Nhưng dù sao, Duyvật Biệnchứng vẫn sai về cănbản vì nó "Biệnchứng". Nhưng vì Biệnchứng là con-đẻ của Plato, nên chẳng ai dám đụng tới.



Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-10 19:55:34Ngọc Lý>

[size=+1]

Tìm Thầy Học Đạo
[size=+1]



Vào khoảng 1953, giữa lúc Cộngsản đang phátđộng chiếndịch Cảicách Ruộngđất ở Miền Bắc, chúngtôi và một số bạn thân thường gặp nhau để traođổi nhậnxét.

Một hôm có người nêu câuhỏi: "Tại sao Cụ Mác mơ-tưởng nào là Thếgiới Đạiđồng, Tứ-hải giai huynh-đệ, Xâydựng Thiênđàng trên mặtđất, mà giáolý quýbáu của Cụ lại tạo nên Địa-ngục trên Trần-gian?"

Không ai trảlời được câuhỏi ấy.

Saukhi trốn vào Nam, năm 1955, câu hỏi oái-oăm ấy cứ tiếp tục ám-ảnh tâmtrí chúngtôi. Hỏihan mấy "đồng chí" cũ trong Đảng Xãhội ở Hànội, như Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn đăng Thục, Mai ngọc Thiệu... , cũng không tìm được câu trảlời thỏa- đáng, nên sang năm 1958, với sự tánthành của mấy ông bạn kể-trên, chúngtôi quyếtđịnh ra đi để "Tìm Thầy Học Đạo", vì tin- tưởng ở Thếgiới bên ngoài thế-tất phải có Triếtgia lỗilạc trảlời giùm câuhỏi ấy.

Chúngtôi cũng muốn ra đi để viết sách về Cộngsản một cách khách-quan, mà không bị mấy ông thưlại dốtnát ở bộ Thôngtin kiểmduyệt.

Vì từ năm 1957, chúngtôi đã sang Ấnđộ hai lần, dự phiên họp của Hội-nghị Xã hội ÁChâu và Đảng Xãhội Ấnđộ, có dịp quen nhiều chính-khách Ấn, nên khi nộp-đơn xin đi ngoạigiao, đầu năm 1959, Bộ Ngoạigiao cử đi New Dehli. Hết hạn giao kèo một năm, chúng tôi sang Pháp, và năm 1965 sang Hoa kỳ. Tới đâu cũng tra-cứu sách vở, tìm gặp những học giả có tên-tuổi để hỏihan. Nhưng không ngờ càng đi về phía Tây, càng gặp chuyên viên về đủ mọi ngành, kể cả "ngành Chống-Cộng", nhưng "triếtgia" thì càng ngày càng vắng-bóng.

"Triếtgia" hiểu theo nghĩa "một nhà thôngthái quánxuyến được phầnlớn kiếnthức của thờiđại, tiêuhóa cái vốn kiếnthức ấy, rồi như con tầm của Phan Khôi, ăn lá dâu rồi nhả ra một sợi tơ nõn, sợi tơ ấy là một họcthuyết có thể đánhbại họcthuyết Mác trên võđài tưtưởng quốctế." Chúngtôi thấy sự cầnthiết, vì nếu cộngsản là con rắn thì họcthuyết Mác-Lê là cái nọc-độc ở đầu con rắn. Thành ngữ có câu "Đánh rắn phải đánh rập đầu", ấy thế mà lâunay thiên-hạ cứ đuổi rắn để đập vào đuôi nó. Tìnhtrạng bế-tắc tưtưởng đã kéodài quá lâu, và tìnhhình mỗi ngày một thêm khẩntrương, vì đàngsau cái bế-tắc ấy là chiếntranh nguyêntử, giữa Tưbản và Cộngsản, hoặc giữa Cộngsản và Cộngsản, và sauđấy là một "MùaĐông Nguyêntử" (Nuclear Winter) mà may ra, mộtvài con chuột nhắt có thể sốngsót.

Chúngtôi không dám nói trong cuộc "Tây Du", chúngtôi không gặp một ai đáng làm "Thầy" mình. Chúngtôi chỉ nói chúngtôi không có maymắn gặp một họcgiả nào hiểu rõ chủ-thuyết và sáchlược cộngsản để bầy cho chúng ta một giảipháp hữuhiệu nhằm lậtđổ bạoquyền, và hướngdẫn chúngta tới một phươngtrời sánglạn. Lâu-ngày mới vỡ-lẽ. Sởdĩ có sự khanhiếm kể trên là tại mấy lýdo sauđây:

1. Thếgiới bênngoài không hiểu "ma-giáo" của Cộngsản.

Tỉdụ: Trong một cuộc hộiđàm với mấy lãnhtụ ẤnĐộ, mọi người tỏ vẻ ngạcnhiên khi nghe chúngtôi trìnhbầy về sách lược Đấu-tố Địachủ trong chiếndịch Cảicách-Ruộng-đất. Trong số có ông Jaya Prakhash Narayan (người Ấn gọi tắt là J.P.), một đồđệ của Thánh Gandhi, và tuy không thamdự chínhquyền, uytín chẳng kém ông Nehru.

Ông J.P. đềnghị chúngtôi nên từbỏ chứcvụ ngoạigiao, dùng thìgiờ viết sách kểlại những điều đã chứngkiến, để giúp người Ấn và người các nước trunglập hiểu rõ về ma-giáo của Cộngsản. Ông cũng hứa sẽ hếtsức giúp chúngtôi thực-hiện côngcuộc ấy.

Vì quyếtđịnh "đã ra đi, là đi thẳng", mà Ấnđộ chỉ là chặng đầu của cuộc đi "Tìm Thầy học Đạo", nên chúngtôi vuivẻ nhậnlời, nhưng vẫn thắcmắc, không tin rằng các thứcgiả ở Thếgiới Tựdo lại thiếu hiểubiết về một vấn đề tối-quan trọng của thờiđại, mà phải cần đến sự đónggóp của người tài-hèn sức-mọn như chúng tôi.

Với tư-cách là sánglập-viên của Hội Tựdo Văn-hóa (Congress For Cultural Freedom) ông J.P. viết thư cho Ban Trịsự của Hội ở Paris đề-nghị cấp cho chúng tôi một phụ-cấp (grant) để thực -hiện côngviệc mà ông yêucầu. Nhờ sự giúpđỡ tậntình ấy chúngtôi được cấp 2,000 mỹ kim để sống một cách nghèo-nàn trong hai năm, viết xong cuốn From Colonialism To Communism, đồngthời xuấtbản ở New York, London, New Delhi, năm 1962. Tiếptheo là những bản-dịch sang 12 thứ tiếng khác, trong số có bản tiếng Việt (Từ Thựcdân đến Cộngsản).

Nhân bàn về sự-thể người ngoạicuộc không hiểu rõ ma-giáo của cộngsản, chúngtôi muốn ví việc nghiêncứu sáchlược cộngsản với việc nghiêncứu Hóa-học. Không ai có thể chỉ ngồi đọc sách hóahọc mà trở thành hóahọc-gia. Phải vừa học, vừa thựctập trong các phòng thí-nghiệm, và sau khi tốt-nghiệp còn phải tu-nghiệp tại một vài xưởng chế-tạo hóa-chất. Chẳngkhác hóahọc, nghiêncứu sáchlược cộngsản cũng đòihỏi nhiều kinhnghiệm bảnthân. Ai không tin, xin hỏi mấy ông Nhật-Tiến, Tạ-Tỵ, và Hà-Thúc-Sinh.
[/size][/size]
[/align]


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-11 17:15:03Ngọc Lý>
.
2. Tâyphương càng ngày càng nghèo về Triết-học



Từ 50 năm, nền giáodục tâyphương, bắtđầu từ Hoakỳ, bị ảnhhưởng của Triết-học Được-việc (Pragmatism) của William James, chỉ nhằm đàotạo chuyênviên biết rất nhiều chi-tiết về kỹ-thuật để phục-vụ công nghệ. Nếu cần biết 10 cái Know-how (Làm thế-nào) để hànhnghề, họ dạy luôn 20 cái, khỏi cần bópđầu suynghĩ để tìm cái Know-why (Tại làm sao). Kếtquả là "càng ngày Tâyphương càng biết nhiều về những cái càng ngày càng nhỏ" ("They know more and more about less and less" Mortimer J. Adler, trưởngban biêntập bộ Encyclopaedia Britannica.)

Một nền giáodục nhưvậy không tài nào đàotạo được triếtgia. Triếtgia Mỹ lỗilạc nhất của hậubán Thếkỷ 20 là Eric Hoffer, tácgiả cuốn The True Believer, trong đó ông nói những kẻ cuồng-tín là những misfits, nghĩalà không đủ khả-năng để ngóc-đầu trong xãhội bìnhthường, nên phải làm cáchmạng cực- đoan để "làm quan đường-tắt". Sởdĩ ông trở-thành triếtgia vào bực-nhất là tại, may mắn hơn người, ông thất-học từ thưở nhỏ. Lớnlên, ông vừa tự-học vừa kiếm-ăn bằng nghề khuân vác ở bếntàu San Francisco. Saunày làm Giáosư Triết-học, ông vẫn ra bếntàu khuân-hàng, mỗi tuần một ngày.

Nhưng không gặp thày thì đành học bạn. Tam nhân đồng-hành tất hữu ngã sư. Cứ hỏihan người này, lắngnghe người khác, rồi lâu-ngày chẳng học được nhiều cũng học được ít. Cộng thêm việc tracứu sáchvở và suy-nghĩ trong nhiềunăm, chúngtôi mới nhậnthấy phải tiến về hướng nào mới bò-dần tới đích. Chúngtôi mới thoáng trôngthấy ánhsáng ở cuối đường-hầm.

Vì cùng-hội cùng-thuyền, chúngtôi tinrằng tất cả chúngta đều chung một hoàibão: Tìm hướngđi để cứuquốc và kiếnquốc. Vìvậy nên không ngại khen-chê, chúngtôi xin trìnhbầy những nhậnxét mà chúngtôi đã thâu lượm được, mặcdầu chưa có gì có thể gọi là hoàn-mỹ, vì nếu chờ cho được hoàn-mỹ thì phải chờ đến baogiờ, trong khi dântộc đang tiến dần tới nạn diệtvong?

Một lýdo khác: Những năm-tháng chúngtôi còn đủ sứckhỏe và đủ tỉnhtáo để đónggóp có thể đếm trên đầu ngón tay, nên có sự vộivã phải trút lại tráchnhiệm cho lớp người trẻ hơn. Có nhậnxét gì, chúng tôi cứ mộcmạc trìnhbầy, mụcđích chính là báo-cáo côngviệc, nói rõ chúngtôi đã đi tới chặng đường nào, để người tiếptay biết rõ nên bắtđầu từ chỗ nào để tiến xa hơn.
Côngviệc phát-huy một ýthức-hệ đầyđủ không thể là côngviệc của một cánhân.

Vì bàn về triết-học và tư-tưởng nên chúng tôi xin lưu-ý bạn đọc về một điểm: Triết-học là một lãnhvực mà không ai đồng-ý với ai, kể cả Thày và Trò, như Khổngtử và Mạnhtử, Plato và Aristotle. Về điểm này, Phậtgiáo Nhậtbản có một giaithoại :

"Hai chàng samurai, một chàng từ hảiđảo lên, một chàng từ miền-núi xuống, gặp nhau tại một lữquán ở Tokyo. Họ lậy nhau năm bẩy lậy, traođổi một vài câu xãgiao, rồi nhìn qua cửasổ thấy mặttrời trong buổi tàdương, anh chàng từ hảiđảo lên mở đầu câuchuyện bằng một nhậnxét mà anh tin là vôhại.

Anh nói: "Kỳlạ thay! Sáng nào mặttrời cũng mọc từ dưới biển lên, tối đến lại lặn xuống biển."

Anh chàng từ miền-núi xuống vội ngắt lời: "Tiênsinh thật là lầm! Suốt đời, sáng nào tôi cũng thấy mặttrời từ núi chui lên, tối đến lại chui xuống núi."

Võsĩ vốn nóng tính nên chẳng baolâu cuộc tranhluận về mặttrời biến thành cuộc đấu-gươm. Khi nghe tiếng hòhét và tiếng gươm va-chạm, ông chủ-quán tất-tưởi chạy đến, gạt mỗi võsĩ sang một bên, và hỏi nguyênnhân vụ xungđột.

Sau khi nghe rõ luậncứ của cả đôibên, ông chủquán lắcđầu nói: "Chết nỗi! Cả hai tiênsinh đều lầm. Mặttrời mọc từ mái-nhà lên, rồi tối đến lại chui xuống mái-nhà." Chỉ vào một nửa mặttrời còn đang lơlửng trên máinhà, ông nói tiếp: "Các ngài trông kìa! Rõràng nó đang chui xuống mái-nhà!"

Hai võsĩ đâm ông chết tươi, và tiếptục đánhnhau cho tới khi cả hai bị tử-thương và lăn-đùng ra chết."


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-12 07:52:32Ngọc Lý>
.
 
ẢO TƯỞNG


Ngàynay chúngta khỏi cãinhau về mặttrời mọc và mặttrời lặn, vì maymắn, cáchđây mấy thếkỷ, đã có Copernic giảithích cho chúngta biết: Mặttrời đứng yên một chỗ, nhưng vì Tráiđất xoay-tròn nên chúngta có ảo-tưởng mặttrời mọc chỗ nọ, lặn chỗ kia.

Chúngtôi nói chúngtôi đi Tìm Thầy Học Đạo mà tìm chẳng thấy, vì trước kia chúng tôi cứ yêntrí Thầy là một triếtgia. Nhưng saunày, suy-nghĩ về giai-thoại kể trên, chúng tôi mới vỡ-lẽ: Thầy phải là một hay nhiều nhà bác-học, một hay nhiều Copernic, và cái Đạo chúngtôi đi tìm phải là một Lý-thuyết Khoa-học, giảithích tại sao Thiên-hạ cứ có ảo-tưởng nọ, ảo-tưởng kia, rồi in-hệt hai võ sĩ trong giai-thoại kể trên, là bệnh Cuồngtín, đang lantràn khắp Thếgiới và đang hoànhhành tại nhiều nơi, như Ireland và vùng Cậnđông, chưa kể trong nộibộ Thếgiới Cộngsản. Hễ không cùng một ảo-tưởng thì tấtnhiên bị coi là kẻ-thù không đội trời chung.

Nghĩ cho cùng, ảo-tưởng là một ýthức sailầm mà ýthức phát xuất từ bộ-não. Muốn tránh ảo-tưởng phải kiểmsoát ýthức, mà muốn kiểmsoát ýthức phải nghiêncứu tâmtrí (the mind), và muốn nghiêncứu tâmtrí phải hiểu rõ sinhlý của bộ thầnkinh (Neuro-physiology).

Thực rõràng, loàingười xâydựng được nhiều nền vănminh huyhoàng là tại bộ-não của loàingười pháttriển và tiếnbộ hơn não của loàivật. Pháhoại những nền vănminh ấy lại là hànhvi của những bộ-não còn đầy thú-tính. Hiệntình ở Iran, Việtnam, Lebanon, và các nước cộngsản khác chứngtỏ điều đó.

Mà từ xưa đã có nhiều họcgiả nhậnthấy như vậy. Trong cuốn Paradise Lost, John Milton đã viết:


The mind is its own place, and in itself
Can make a Heaven of Hell, a Hell of Heaven.


Tạm dịch: Tâmtrí tự-tại, mà tự nó có thể biến địa-ngục thành thiênđàng, và biến thiênđàng thành địa-ngục.

Bảo Thiên Kinh (Ratnamegha) của Phậtgiáo Đạithừa cũng có nhậnxét tươngtự, nhưng rõràng hơn:

"Vạn pháp khởi từ Tâm. Hiểu được Tâm thì hiểu được vạn sự. Tâm có thể bốc như lửa, đốt cháy rừng-núi. Tâm có thể dâng cao như thủytriều, lôi-cuốn mọi vật theo giòng nước-lũ. Bồ-tát là những vị đã thông-hiểu vạn sự phải cảnhgiác, luônluôn đề phòng những phátđộng bấtngờ của Tâm để khỏi bị nó saikhiến và ngược lại, phải thườngxuyên chế-ngự Tâm. Hễ chế-ngự được Tâm thì chế-ngự được vạn sự."

Mỗi lần nổi khùng, người Anh thường nói: "Sorry! I lost my control" Nghĩa là: "Xinlỗi, tôi không chế-ngự được (tâmtrí của tôi)." Làm thế nào để chế-ngự tâmtrí, và giảithích cho chúngta biết tại sao lại có Tâmtri' tốt và Tâmtrí xấu, Tâmtrí lành và Tâmtrí dữ. Nhưng vì Tâmlý -học yếu quá nên không trả lời nổi. Tâmlý-học yếu đến nỗi có người chế-riễu "Tâmlý-học mất Linhhồn, mất luôn cả Tâmtrí, và bâygiờ đang bốirối với Tínhnết" (Psychology has lost its soul, then its mind, and is now having trouble with its behaviour). Bị chế-riễu như vậy là tại mấy ông Tâmlý-học nói mụcđích của mấy ông là "Nghiêncứu Linhhồn". Làm chẳng được, mấy ông lại bảo chỉ "Nghiêncứu Tâmtrí". Không xong, các ông lại nói chỉ "Nghiêncứu Hành-vi tính nết" (Behaviour), và hiện đang nghiêncứu hànhvi tínhnết loài khỉ.

Khókhăn là tại Tâmlý (Psychology) gồm có linhhồn, ýthức, tâmtrí, tínhnết, và nhiều thứ khác nữa, tất cả đều phátxuất từ bộ-não nhưng lâu nay các báchọc không có phươngtiện kỹthuật để nhìn sâu vào bộ-não. Mổ xẻ cũng không được vì nó mềm như bún, chằng chịt dây nhợ và có tới 15 tỷ tếbào quấn quýt lấy nhau như mớ bòng-bong.

Nhưng maymắn, trong thậpniên 70 nhiều kỹthuật tốitân như Radio-isotopes và Cat-Scan... kịp thời xuấthiện, nên các nhà nãohọc có thể nhìn sâu vào bộ-não, khámphá được sinhlý của bộ thầnkinh, và tìmthấy vị-trí những bộ phận điều khiển Tâm (Emotion) và Trí (Reason) và nhiều sự thể khác nữa.

Những phátminh của khoa nãohọc đã làm sángtỏ nhiều vấnđề, nhưng côngcuộc còn đang tiếptục, và nhiều ýkiến còn đang bàn cãi. Nhưng đạikhái, nhiều nãohọc-gia côngnhận trong sọ cái của chúng ta có 3 cái não riêngbiệt, cái nọ baotrùm cái kia. Trong cùng là Não của loài Bò-sát (Reptilian Brain), di-tích của Loài Bò-Sát. Phía ngoài là Não của loài Có-Vú (Mammalian Brain), ditích của Loài Có-Vú và trùm lên trên là Tân-Não (Neo-Cortex). Loài có vú cũng có một chút tân-não, nhưng não ấy bột-phát khi loài người xuấthiện, chiếm 85% trọnglượng của toànthể bộ-não.

Nhưng vì Tân-não chia thành hai bán-cầu (hemispheres) có phậnsự khácnhau nên có thể coi là loài-người có tất cả 4 cái não khác nhau, mỗi cái phát-ra mỗi loại tâmtrí riêngbiệt. Vấn đề sẽ được trình bầy cặnkẽ hơn ở Phần II.

Cũng trong thậpniên 70, với chứcvụ Giảngviên về Văn-hóa tại Cơquan Việntrợ (AID) và Trường Hướngdẫn Cánbộ Ngoạigiao (Foreign Service Institute) của chínhphủ Hoakỳ, chúngtôi phải nghiêncứu thêm về Văn-hóa Nhânloại, và nhận thấy trong giòng Lịchsử, và trên mặt Địacầu có 4 loại Văn-hóa khácnhau. Có nhiều sự-thể chứngtỏ mỗi loại văn-hóa phátxuất từ một cái não riêngbiệt.

Cho tới nay, kiếnthức của nhânloại được chia thành hai ngành: Khoahọc Tự-nhiên và Khoahọc xãhội. Chúngta có thể hìnhdung như một cái "phuốc-set". Khoahọc tự-nhiên đi dần từ đầu cán "phuốc-xét" trở vào, bắt đầu từ Toán đến Lý-hóa-học rồi đến Sinh-học và Não học. Khoahọc xãhội bắt đầu từ các Triết- học, chẳng khác những cái "răng" của phuốc sét. Mỗi triết-học là một địnhđề, không có chứngminh, như Địnhmệnh, Tính-bản thiện, Tính-bản ác, Duyvật Biệnchứng, v.v...

Mỗi triết-học tạo nên một chếđộ chínhtrị kinhtế riêngbiệt, và ảnhhưởng đến lịchsử dântộc.

-------Tính-bản thiện
-------- Tính-bản ác

Toán --&gt; Lý-hóa --&gt; Sinhhọc --&gt;TâmLý- học ----&gt; Lịch Sử
---------- Định mệnh
---- Duy vật Sử quan


Hai ngành khoahọc đi ngượcchiều với nhau nên cả hai hiệnđang "tắctị" và "lủngcủng" ở quãng-giữa "phuốc sét".

Nếu nối liền được Nãohọc với Tâmtrí, Văn-hóa, và Lịchsử thì kiếnthức nhânloại sẽ trở thành một cái "đũa DuyVăn Sửquan", đi thẳng từ toán-học ở một đầu, sang lịchsử ở đầu phía kia.
____________________________________________________________________

Toán - Lý-Hóa - Sinh-học - Não học - Tâm trí- Tư tưởng - Văn hóa - Lịch sử
____________________________________________________________________

Vấnđề rất phứctạp mà thu-gọn trong một cuốn sách nhỏ, nên chúngtôi chỉ trìnhbầy được những nét đạicương, không đi vào những chi-tiết của từng vấnđề một. Dođó, trong khi đọc một đoạn, hay một Chương nào đó, các bạn có thể thắcmắc, thấy chúngtôi nói "tréo cẳng ngỗng", trái với những điều nhiều người thường nói từ trước tới nay. Xin các bạn cứ bìnhtâm. Đấy là chúngtôi mới nói qua và nói vắntắt, rồi tới một Chương khác chúngtôi sẽ trìnhbầy cặnkẽ hơn. Chỉ tươngđối, vì từ Bộ-não đến Lịchsử NhânLoại là một câuchuyện quá dài.

Tuynhiên, trước khi đềcập đến Nãohọc và Tâmtrí để trìnhbầy luậncứ Vănhóa quyếtđịnh vậnmệnh các quốcgia dântộc trong giòng lịchsử, gọi tắt là "Duy Văn Sử Quan", xin bàn qua về những vấnđề liênquan đến Văn-hóa và Dântộc, với mụcđích giúp các bạn trẻ có dữkiện để suyluận về ảnhhưởng taihại của những lệchlạc về vănhóa trong mấy thếkỷ gần đây, khiến chúngta mất-nước với Pháp, với Liên xô.

Mụcđích chính là tìm cách chỉnhđốn lại Tâmtrí của chính chúngta, bằng cách nhìn vào Tiềnnhân về Đời Lý-Trần làm gương, lo việc kiệntoàn và bảo tồn nền Văn-hóa Dântộc, để có đầyđủ khả-năng đóng-góp một cách hữuhiệu vào côngcuộc Cứu-quốc và Kiến-quốc.

Như vậy là cuốn sách này sẽ chia thành 2 phần:

Phần I, nhanđề Văn-Hóa và Dântộc, bàn về những liênquan giữa Văn-hóa và Dântộc chúngta.

Phần II, nhanđề Văn-hóa và Nhânloại trìnhbầy ảnhhưởng của 40 tìnhtrạng tâmtrí (mental attitudes) khác nhau, và tạo nên 4 loại văn-hóa tiến-bộ, và 4 loại văn-hóa thoái-hóa.

Chúngtôi cũng sẽ trìnhbầy phươngthức biếnchuyển từ loại văn- hóa này sang loại văn-hóa khác ở Phần II.
 
 

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-14 05:11:41Ngọc Lý>

LẬP TRƯỜNG CỦA NGƯỜI VIẾT





Ở đây, xin có vài lời trình bày lậptrường của chúngtôi khi viết cuốn sách này:

1. Chúngtôi không muốn đóngkhung kiếnthức về vănhóa dântộc trong phạmvi những thầnthoại và huyềnthoại, như truyện Bánh-chưng bánh-dầy, truyện Sơn-Tinh Thủy-Tinh, truyện Bà Âu-Cơ đẻ một trăm trứng. Một đôi truyện có phản-ánh biếncố lịchsử như truyện Phù-Đổng Thiên-Vương, truyện Trọng-Thủy Mỵ Châu, nhưng hầuhết là những sángtác của ngườixưa, đặt ra nhằm một trong hai mụcđích:

a)- Giảithích những hiệntượng thiênnhiên dưới nhãnquan huyềnbí của họ, như truyện Sơn-Tinh, Thủy-Tinh.

b)- Và để khuyênnhủ hậuthế một điều gì đó, như truyện Con Rồng Cháu Tiên mà bây giờ chúngta nên nghiêncứu để tìmhiểu.

2. Nhưng nghiêncứu thầnthoại, huyềnthoại cũng chẳng khác nghiêncứu bất cứ bộ-môn nào khác của khoahọc. Phải có lậptrường khoahọc và triệtđể ápdụng phươngpháp khoahọc.

Phươngpháp khoahọc là: Mỗi khi thấy lối giảithích nào đó không hợplý, thì phải lập-nên một giả-thuyết mới, tươngđối hợp-lý hơn. Không đòihỏi phải đúng 100 phần-trăm ngay tứckhắc, chỉ cần tươngđối đúng hơn lối giảithích cũ, rồi sau này sẽ có người có nhiều kiếnthức mới hơn, đưa ra những giảthuyết gần sự-thực hơn nữa.

Trong cuốnsách nhỏ này, chúngtôi đưa ra rất nhiều giảthuyết, nhưng chúngtôi không có kỳvọng tấtcả những giảthuyết ấy sẽ được mọi người chấpnhận. Chúngtôi mong những bậc caominh trong thiênhạ sẽ bổcứu thêm, lập-nên những giảthuyết hay hơn, để chúngta tiến dần tới chânlý.

3. Chúngtôi rất thắcmắc khi thấy gầnđây có xuhướng phảnđối khoahọc, bàibác tinhthần duylý, lậpluận rằng Tưbản và Cộngsản đều "mất-hết nhân bản" (sic) vì cả hai đều duylý, và chỉ lo pháttriển khoahọc kỹ-thuật. Chúngtôi thấy có mấy điểm cần phải xét lại:

a)- Theo thiểný của tôi thì Cộngsản chỉ khoác cái áo khoahọc để bịp những người thiếu kiếnthức khoahọc. Thực ra chủ-nghĩa Mácxít hoàntoàn phản-khoahọc. Còn nói rằng Cộngsản có tinh thần duylý thì quả thật, sau 9 năm khángchiến và 40 năm nghiêncứu sáchlược Cộngsản, chúngtôi chưa hề thấy Cộngsản có một chínhsách nào có thể gọi là hợplý. Bắt đầu từ lýthuyết Mác, tất cả mọi chủ-trương của Cộngsản đều hếtsức philý, phản-khoahọc, và phản-thiênnhiên. Cộng sảnquả có xảoquyệt, nhưng duylý thì hoàntoàn không.

b)- Xãhội Tưbản, đứngđầu là HoaKỳ, xuốngdốc một cách trầmtrọng từ sau ThếChiến II. Nhưng lýdo không phải là tại họ duylý, mà ngược lại, vì họ tướcbỏ tinhthần Duylý (rationalism), và thaythế bằng tinhthần Đượcviệc (Pragmatism). Đượcviệc nghĩa là làm bấtcứ cách nào để kiếm nhiều đôla. Có hợp-lý, hợp-tình, hợp-pháp hay không, không cần biết. Chúngtôi sẽ trìnhbày vấnđề này ở Phần II. Ngay đây chúngtôi chỉ xin nói qua rằng khoahọc, kỹ -thuật, và tinhthần duylý chẳng hề làm hưhỏng con người. Chứngcớ là Nhậtbản, bây giờ đang "ngồi chiếu trên" về khoahọc kỹ-thuật, mà xãhội Nhật vẫn lànhmạnh. Lýdo: Họ bảovệ được những giá-trị cổ-truyền của dântộc.

4. Mỗi lần nhắc lại những trang lịchsử oaihùng của dântộc, chúngtôi không quên đề-cao những đứctính của tiềnnhân, nhưng mỗi khi nghĩ tới thảmtrạng vừa qua, và nhìn vào tư-cách bêbối của giới lãnhđạo, chúngtôi phải ngậmngùi mà nói lên những bệnhhoạn về tinhthần chúngta đã mắc phải. Theo thiểný của chúngtôi, chúngta chỉ có thể tiếnbộ, đuổi kịp người, tạo thành một lựclượng hùnghậu để có khảnăng đónggóp một cách tíchcực và hữuhiệu vào côngcuộc cứuquốc và kiếnquốc, nếu chúngta tẩytrừ được những bệnhhoạn chúngta đã mắc phải. Làm xong việc ấy trước đã, rồi sau đấy chúng ta sẽ nghĩ đến việc học thêm những cái hay của người khác. Vì vậy nên trong cuốnsách này, chúngtôi buộc lòng phải nêu lên những bệnhhoạn như vịkỷ, hiếudanh, hámlợi, vọngngoại, lừadối đồngbào, bán-nước cầu-vinh,..., hơn là ca-ngợi một số đứctính cổ-truyền hiện còn giữ được, như tính hiếuhọc, tinhthần đùmbọc giađình,..., mà ai cũng biết.


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
TÁC GIẢ CÁO-LỖI


Chúngtôi tự biết chúngtôi sẽ không làm hàilòng nhiều người vì mấy lýdo sau đây:

1. Cuốnsách nhỏ này trìnhbầy về Văn-hóa Việtnam trong khuôn-khổ Văn-hóa Nhânloại, một vấnđề baola và rất phứctạp, nên chúngtôi chỉ trìnhbầy sơ qua những điểmchính và rất tiếc là không đi sâu vào chi-tiết của từng điểm một. Nếu bạnđọc nào thắcmắc về một chitiết nào đó, xin tìm tàiliệu để tra-cứu thêm, hoặc hỏi các họcgiả chuyên-môn về từng ngành một.

2. Ngoài ra, còn một điều làm chúng tôi rất thắcmắc: Vì tôntrọng sự-thật, vì sự cầnthiết phải thẩmđịnh lại sử-liệu, chúngtôi phải nêulên nhiều sailầm trong sách cũ. Việc ấy có thể làm mấtlòng những người lâu nay vẫn căncứ vào kinhđiển để lậpluận, trong số có nhiều vị rất khảkính. Biết vậy, nhưng chả nhẽ thấy sai mà không chữa, cứ để những cái sai ấy tồntại, từ thếhệ này sang thếhệ khác.

3. Mới đọc mấy trang đầu, các bạn có thể bỡngỡ vì chúngtôi viết liền danhtừ-kép.Chúngtôi có mấy lýdo như sau:

Nước nào cũng viết liền danhtừ-kép, vì hai chữ gộp-lại chỉ có một nghĩa. Người Anh, người Pháp viết Locomotive là "đầu tầu", họ không viết rời Loco Motive, hoặc Loco-motive. Chúng ta cứ viết rời chữ một vì chúng ta bị ảnh hưởng chữ Hán, mà chữ Hán không có cách viết liền. Nên để-ý rằng bây giờ, khi viết bằng mẫu tự Latin, người Tàu cũng viết liền danhtừ-kép, như Beijing, Shanghai, Deng Xiaoping.

Người Nhật cũng viết liền Tokyo, Nagasaki, không viết rời To Kyo (Đông Kinh) và Naga Saki (Trường Thành).

Chúngtôi viết Họcgiả, với nghĩa là "Người có học". Nếu viết rời hai chữ học và giả thì chữ giả có thể hiểu là "giả dối, không thực", chẳng khác vú giả, răng giả. Nếu danhtừ-kép nào cũng dùng vạch nối thì lại có quá nhiều vạch nối. Chúngtôi tin rằng đọc đến trang này các bạn đã thấy quen mắt. Viết liền cũng là một bước tiếntới việc miễn bỏ dấu cho những chữ quá quenthuộc, như Vietnam, Hanoi, Saigon, v.v...

Tuy-nhiên chúng tôi vẫn phải dùng vạch nối (-) mỗi lần có thể đọc lầm, như Tu-nghiệp, vì nếu viết liền Tunghiệp thì người đọc phải nghĩngợi một chút, xem là Tu nghiệp hay Tung hiệp.

Xin thànhthật cáolỗi.


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-15 07:16:50Ngọc Lý>
.
 
TÁC GIẢ GHI ƠN



Chúngtôi hoànthành được cuốnsách này nhờ có sự giúpđỡ tậntình của những bạn xa-gần như:

- Cụ Trương Cam Khải và phu-nhân, nữ sĩ Kim-Y, là hai nhà thâm-nho mà chúngtôi nhờcậy rất nhiều.

- Giáosư Nguyễn Đình Hòa đã giúp chúngtôi tàiliệu và kiếnthức chuyênmôn về ngữhọc.

- Họcgiả Nguyễn Hữu Hiệu đã tra-cứu giùm tàiliệu tiếng Phạn.

- Họasĩ Nguyễn Cao Nguyên đã trangtrí cuốnsách.

- Kiếntrúc-sư Đỗ Viết Quý đã vẽ giùm những biểuđồ trong sách.

Chúngtôi không quên ghi-ơn tiệnnội, nhũ-danh Lê Hằng Phấn, đã đảmđang gánhvác mọi côngviệc làm-ăn sinhsống, cộng thêm việc duyệtlại bản thảo.


Tác giả: Mạc Định Hoàng Văn Chí.
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
.
 
CÁO LỖI CỦA NGƯỜI ĐÁNH MÁY



Duy Văn Sử Quan ấn bản năm 1990 có nhiều phần do chính Cụ Hoàng Văn Chí đánh máy, sửa, và tự tay bỏ dấu. Cách đánh máy và ghép chữ là một di cảo đặc biệt của Cụ.

Khi đánh máy lại để đem vào Đặc Trưng, chúng tôi gặp khá nhiều khó khăn vì dấu chữ Việt không cho phép ghép chữ, nên phải đánh rời và trở lại ghép từng nhóm chữ sau đó, như quý vị đọc thấy trong phần Lời Mở Đầu.

Chúng tôi đã thưa chuyện với Tiến Sĩ Hoàng Việt Dũng, trưởng nam Cụ Hoàng Văn Chí, và được cho phép đánh máy lại theo cách viết từng chữ Việt rời thông thường, bắt đầu từ Chương 1 cho đến hết Chương 21, vì các lý do sau:

1/ - Lý do kỹ thuật: Bộ chữ Việt không cho phép bỏ dấu khi đánh chữ ghép nhau.
2/ - Dạng chữ ghép hơi phức tạp cho các thanh thiếu niên mới học tiếng Việt, dễ bị rối loạn, khó đọc và khó thâu nhập ý tưởng chính của tác giả hơn.
3/ - Sau này, nếu có vị nào theo đuổi ý hướng tác giả, phát huy một hệ thống ghép chữ được chuẩn nhận và có thể áp dụng dễ dàng hy vọng chúng ta có thể sửa lại.

Kính xin hương hồn Cụ Hoàng Văn Chí hiểu và tha lỗi.
Mong quý đọc giả của Đặc Trưng thông cảm, và nếu được, xin đọc ghép theo ý tác giả.

Kính,

Ngọc Ruby


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-17 17:21:13Ngọc Lý>
PHẦN I
VĂN HÓA VÀ DÂN TỘC



Chương I
BẢO TỒN VĂN HÓA





Khi chưa xuất ngoại , chúng ta bơi lội trong văn-hóa dân tộc như cá trong nước. Cá không biết phải có nước cá mới sống được, mãi tới khi không may mắc cạn, cá mới biết hễ thiếu nước thì cá nghẹt thở.

Khi ở quê nhà, chúng ta không để ý đến văn hóa như cá không để ý đến nước. Sống trong lòng dân tộc, nói một thứ tiếng, ăn bận cùng một kiểu, cùng một phong tục tập quán, cùng tôn trọng những giá trị cổ truyền, cùng theo những lễ nghi cố định, chúng ta suy nghĩ và hành động theo những khuôn khổ đã có từ ngàn xưa.

Chúng ta không thắc mắc, không hoang mang. Họa hoằn, có kẻ không theo đúng khuôn khổ ấy và hành động ngang trái, nhưng họ là một thiểu số không đáng kể, những con cừu ghẻ, những cặn bã mà xã hội nào cũng có, không làm cho chúng ta phải bận tâm hàng ngày.

Nhưng bước chân sang nước khác, dù là nước bên cạnh, chúng ta bắt đầu bỡ ngỡ, lạc hướng, vì chúng ta không dè, và không hiểu tại sao họ lại suy nghĩ và hành động khác hẳn chúng ta. Đặt chân lên đất Trung quốc, một nước gọi là đổng-văn, chúng ta nhận ngay thấy nhiều điều khác biệt, như đám ma thì họ đốt pháo, mà đám cưới thì họ thổi kèn.

Sang tới Ấn Độ vào ngày Tết của một sắc tộc nào đó, (mỗi sắc tộc có lịch riêng và Tết riêng) mà cứ bận quần áo bảnh đi dạo phố thì sẽ bị dân địa phương dùng bơm xe đạp phụt mực xanh, mực đỏ làm hoen ố quần áo diện của mình. Không có ác ý, họ chỉ Chúc Mừng Năm Mới, cầu phúc, cầu lộc cho mình. Đấy chỉ là một vài trong muôn ngàn thói tục kỳ lạ mà chúng ta không hề biết, vì chúng ta không am tường nền văn hóa của họ, khác với văn hóa của chúng ta.

Khi mới đặt chân lên đất Hoa Kỳ, chúng ta lác mắt trước những kỳ công về kỹ thuật hiện đại, như chưa bước chân tới cửa, cánh cửa đã mở toang để đón chúng ta vào. Nhà nào cũng có vài ba xe hơi, điện thoại, TV,... Việc gì cũng làm bằng máy: giặt áo, hút bụi, rửa bát, xa lộ dọc ngang như mắc cửi. Chúng ta hết sức khâm phục.

Nhưng sau một thời gian ngắn, chúng ta thấy trong xã hội Mỹ luân thường đạo lý đã bị đảo ngược. Vợ chồng bỏ nhau như thay áo (1), cứ hai đứa trẻ thì một đứa không có bố, hoặc không ở với mẹ, con giết bố, trò đánh thầy, con gái chửa hoang (2), con trai du đãng, nghiện ma túy, trộm cướp như rươi, giết người như ngoé. Pháp luật nhu nhơ, cầm súng bắn vào ông Tổng Thống mà tòa cho trắng án.

Chúng ta lo ngại. Mà chính vì mối lo ngại ấy nên các hội đoàn Người Việt Tị Nạn đã lên tiếng kêu gọi Bảo tồn Văn-hóa Cổ-truyền. Như cá mắc cạn, bây giờ chúng ta mới cảm thấy Văn-hóa Dân tộc là một chuỗi hạt ngọc, một của gia bảo phải bảo tồn để đời đời truyền lại cho con cháu.

Mặc dầu vậy, vẫn có một số, có lẽ khá đông, lý luận rằng ngàn năm một thưở mới có cơ hội đặt chân lên đất Mỹ, khí hậu tốt, lợi tức cao, đầy đủ tiện nghi, đời sống đảm bảo, có đủ thứ phụ cấp,... , và chế độ dân chủ, thì dại gì mà tính chuyện di-chuyển một lần nữa, dù là hồi hương. Tốt hơn là cứ để mặc cho con em "Mỹ hóa" càng sớm càng hay.

Nhưng có người chẳng lạc quan chút nào. Họ không tin rằng một nước, dù cường thịnh đến đâu, cũng không thể nào trường tồn, nếu thanh niên không chịu đi lính, mài đít quần ở nhà trường 12 năm mà không biết đọc biết viết, hầu hết những tệ đoan đã phát hiện ở La Mã 50 năm trước khi Đế quốc La Mã sụp đổ. Có người nói "Mỹ châu nhất đái bất khả vạn đại dung thân."

Nhận xét ấy rất đúng, nhưng mặc dầu vậy, chúng ta vẫn còn hy vọng nhân dân Hoa Kỳ sẽ tỉnh ngộ trước nguy cơ thua Nga, và sẽ thay đổi thái độ, sửa chữa chính sách. Thực tế, dư luận Mỹ có nhiều thay đổi, từ năm 1980. Không chắc có cứu vãn được tình thế hay không, nhưng vạn vật biến chuyển. Vả lại sửa đổi chính sách đối nội, đối ngoại, là trách nhiệm của 250 triệu dân Hoa Kỳ.

Cộng-đồng Tị-nạn chúng ta có một vấn đề khẩn trương cần phải tự giải quyết: Làm thế nào để con em chúng ta không sa-đọa? Con gái không hư hỏng như cô gái láng giềng, con trai không nghiện ma túy như thanh niên trong xóm? Hơn nữa, chúng ta còn muốn chúng học những cái hay, cái đẹp của người địa phương, như tính "siêng làm biếng ăn", ưa cứu giúp những người gặp hoạn nạn, trong số có chúng ta.

Nhưng có điều khó là "cái dở bao giờ cũng dễ bắt chước hơn cái hay." Trao đổi văn-hóa giữa hai dân tộc cũng theo một định luật thường thể hiện trong việc trao đổi tiền tệ. Định luật ấy là: Tiền xấu đuổi tiền tốt. Nghĩa là mỗi khi có hai thứ tiền cùng lưu hành, một thứ tốt, vững giá trị, như đồng bạc thực, và một thứ xấu như bạc giấy, thường mất giá vì lạm phát - thì không ai bảo ai - mọi người đều mang bạc giấy ra xài và cất bạc thực vào tủ sắt. Như vậy là Tiền xấu đã đuổi tiền tốt ra khỏi thị trường. Văn-hóa cũng vậy. Mỗi khi hai dân tộc có dịp trao đổi văn-hóa, cả hai đều dễ dàng bắt chước thói hư tật xấu của nhau, không mấy khi chịu khó học hỏi những cái hay, cái tốt của đôi bên.

Tóm lại, ngoài việc cho con em đi học để trau dồi khoa học kỹ thuật tối tân, chúng ta còn hai nhiệm vụ trước mắt:

1) Bảo tồn những gía trị cổ truyền
2) Và đừng để con em tiêm nhiễm những bệnh hoạn của trẻ con địa phương.

Nhưng tuy hai mà là một, vì lẽ hễ làm được công việc thứ nhất thì đồng thời cũng giải quyết được vấn đề thứ hai: Nếu chúng ta giáo dục được con em biết Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, thì chúng sẽ không bất nhân, bạc nghĩa, vô lễ, vô trí, và thất tín. Tóm lại, chúng ta chỉ cần bảo tồn những giá trị đạo đức. Một gương sáng nên noi theo: Trẻ con Nhật được rèn luyện kỷ luật từ thưở thơ ấu nên chúng biết tự kiềm chế, không bị sa ngã, và nhờ vậy xã hội Nhật luôn luôn lành mạnh, vẫn tiến bộ, mà vẫn bảo tồn được Văn-hóa Cổ-truyền.

___________

(1) Theo thống kê năm 1986 (Newsweek 24/08/87) thì trung bình vợ chồng Mỹ chỉ sống chung 7 năm trước khi ly dị, vì sợ bệnh AIDS nên khá hơn 10 năm trước, chỉ có 6,5 năm.
(2) Theo thống kê năm 1986 của National Institute of Health của Hoa Kỳ thì 30% con gái Mỹ đã chửa hoang, 80% đã ngủ với trai trước khi lấy chồng.

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-19 22:27:45Ngọc Lý>
.
 
VĂN HÓA LÀ LỢI KHÍ ĐẤU TRANH ĐỂ SINH TỒN


Mỗi dân tộc có phong tục tập quán khác nhau, suy nghĩ và hành động khác nhau, nghĩa là có một nền văn-hóa riêng, nên trong cuộc cạnh tranh để sinh tồn trên cùng một mảnh đất, có kẻ thắng, người bại.

Ở Hoa Kỳ là nơi tụ họp dân tị nạn từ bốn phương trời, một sự thể hiển nhiên đã bầy ra trước mắt, không ai không nhận thấy: Sắc tộc nào mang theo, và giữ được những giá-trị văn-hóa cổ-truyền thì sắc tộc ấy thành công rực rỡ, nắm ưu thế trên nhiều lãnh vực.

Đứng đầu là người Do Thái. Một thiểu số rất nhỏ (vào khoảng 2% dân số) mà nắm trọn guồng máy tài chính, kinh tế, giáo dục, truyền thông, và đảng phái chính trị. Người Do Thái thành công vì họ có 4 ưu điểm:

1. Họ bảo tồn nguyên vẹn những giá trị tinh thần (spiritual values) tôn giáo của họ đã phát huy từ mấy ngàn năm.

2. Mất nước và di tản ra khắp Thế giới, tới đâu họ cũng chỉ học những cái hay của dân địa phương, không học cái dở.

3. Bị kỳ thị và khinh rẻ, họ đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau.

4. Họ đầu tư tài sản vào sự học hành của con cháu. Nhiều gia đình Do Thái bỏ một số tiền vào ngân hàng, ghi rõ con cháu chỉ được dùng số tiền ấy để trả học phí đại học.

Sau người Do Thái là người Tàu và người Nhật. Sinh trưởng ở Mỹ đã mấy thế hệ, mà phần đông vẫn giữ được nhiều đức tính của dân tộc.

Sau họ là người Âu Châu sang lập quốc và lập nghiệp ở Mỹ Châu.

Ngược lại, những sắc tộc không có vốn liếng văn hóa mang theo, cứ lẹt đẹt, thấp kém, không cạnh tranh nổi. Một số đông chỉ sống nhờ oeo-phe (welfare), một hình thức bố thí kèmtheo một dụng ý rất thâm độc. Đấm mõm cho sống vất vưởng, không có nghị lực đấu tranh, suốt đời chỉ "há mõm chờ sung rụng."

Gần đây, người Phi, người Thái, và người Đại-Hàn đã thành-lập những cộng-đồng vững mạnh. Mỹ đen và người Mễ kém về văn-hóa nhưng có hai yếu tố thuận lợi: Họ có sức vóc, làm được công việc nặng, và họ có số đông, bắt đầu biết đoàn kết, nên đang trở thành hai lực lượng chính trị đáng kể.

Vấn đề cần nêu lên là: Cộng đồng người Việt tị nạn phải làm thế nào để cạnh tranh sinh tồn, kiếm được thế đứng vững vàng trong xã hội đa chủng Hoa Kỳ? Hết sức khó khăn, vì chúng ta có 3 yếu tố rất bất lợi:

a. Chúng ta là một thiểu số quá nhỏ, chỉ bằng 0.2% dân số Hoa Kỳ.

b. Chúng ta nhỏ con, không làm được công việc lao động nặng nhọc, chỉ giỏi làm "dân thầy", mà chính vì vậy nên Mỹ không muốn nhận thêm người Việt tị nạn. Họ muốn có "đầy tớ rẻ tiền" để hầu hạ, không muốn có người đến chiếm công việc "dân thầy" của họ.

c. Chúng ta chưa biết đoàn kết chặt chẽ như các thiểu số khác, kể cả Lào và Mên.

Cũng may chúng ta có thể chất thông minh, nhưng cậy và thông minh, mà thiếu những đức tính khác như tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái thì chưa đủ để cạnh tranh sinh tồn.

Trong giòng lịch sử đã có nhiều chủng tộc hết sức thông minh, đã xây dựng nhiều nền văn minh huy hoàng mà nay đã diệt vong.

Chúng ta chỉ còn một biện pháp: Bảo tồn văn-hóa cổ-truyền, vì nền văn-hóa ấy là một lợi khí sắc bén đã giúp dân tộc ta đấu tranh thắng lợi và trường tồn cho tới ngày nay.



Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 05:01:49Ngọc Lý>
.
 
BẢO TỒN VĂN HÓA CỔ TRUYỀN


Bảo tồn văn hóa là một nhiệm vụ cần thiết và khẩn trương, nhưng hãy còn là một lời kêu gọi, một khẩu hiệu nhắc đi nhắc lại. Chưa có một công trình nghiên cứu sâu rộng để tìm thấy nguyên nhân những bệnh hoạn chúng ta đã mắc phải, như Bệnh Chia Rẽ, Bệnh Lãnh Tụ, Bệnh Vị Kỷ,... , tất cả 10 bệnh hiểm nghèo, đã phá hoại nền văn hoái cổ truyền của dân tộc, đã và hiện đang gây trở ngại cho công cuộc giải phóng đất nước. Nhiều người đã nói đến những chứng bệnh ấy, nhưng án bệnh (diagnosis), tức là nhận thấy bệnh, gọi đúng tên, mới là bước đầu. Cốt yếu là phải tìm phương cứu chữa (therapy), mà muốn chữa bệnh, phải nghiên cứu bệnh lý (pathology) để tìm thấy căn bệnh (etiology). Không hiểu rõ căn bệnh, không tài nào chữa nổi. Thí dụ: Thấy cộng-đồng thiếu đoàn kết, mà cứ hô hào: "Đoàn kết lại!" thì chẳng khác bác sĩ thấy bệnh nhân ho, cứ bảo "Đừng ho nữa!" mà không cho thuốc thang gì cả. Chữa bệnh Văn-hóa còn khó khăn gấp trăm lần chữa bệnh của cơ thể. Chúng tôi sẽ thảo luận về vấn đề ấy vào một dịp khác. Ở đây, hãy xin góp ý kiến về công cuộc Bảo tồn Văn-hóa Cổ truyền Việtnam.

Khẩu hiệu ấy có 4 danh từ: "Bảo tồn", "Văn-hóa", "Cổ -truyền", "Việtnam" - mỗi danh từ nêu lên nhiều câu hỏi cần phải giải đáp :

1. Bảo tồn Văn-hóa Cổ-truyền Việt Nam


Đành rằng chúng ta chỉ lo bảo tồn văn-hóa của chúng ta, không có nhiệm vụ bảo tồn văn hóa của người khác. Nhưng chúng ta có cần bảo tồn những Giá-trị Trí-tuệ (Intellectual values) và Giá-trị Đạo-đức (moral values) chúng ta đã hấp thụ của Ấn Độ, Trung quốc, và của Tây phương hay không?

Xin thưa rằng Văn-hóa là sản-phẩm chung của nhân loại, dân tộc này học hỏi, vay mượn của dân tộc kia.

Chưa chắc những cái hay chúng ta học được của Tàu đã do chính Hán tộc phát huy, không vay mượn của người khác. Lịch trình truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ sang Tàu, rồi từ Tàu sang Ta là một thí dụ cụ thể. Thực sự, Tàu còn vay mượn ngoại bang nhiều hơn Ta.

Vì hoàn cảnh địa-lý chính trị, (geopolitis), mỗi dân tộc đúc kết được một số đức tính thường gọi là "Văn-hóa Cổ-truyền". Nếu cộng cả những cái dở, hoặc cái không hay mấy, thì gọi là "Dân tộc tính". Những đức tính phát xuất từ nơi khác nhưng đã nhập vào văn-hóa của ta, đã trở thành truyền thống tốt đẹp thì, mặc dầu ngoại lai, chúng ta vẫn phải coi như của dân tộc và lo bảo tồn, vì tiền nhân đã phải trải qua nhiều gian lao, trong nhiều thế kỷ mới hấp thụ được. Tinh thần bài ngoại là tinh thần hẹp hòi, thoái hóa.

Tiện đây xin nêu lên một sai lầm khá phổ biến: Nhiều người bài xích học thuyết Mácxít, vì nó ngoại lai. Lầm! Chúng ta không chấp nhận học thuyết của ông Mác chẳng phải vì ông ấy là người Đức, mà chỉ vì học thuyết của ông ấy phi nhân, phản khoa học, và phản thiên nhiện. Nếu ngoại lai mà tốt đẹp thì chúng ta vẫn chấp nhận, như Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Tinh thần Khoa học, và Tư tưởng Dân chủ của Tây phương.

Nếu bài trừ bất cứ cái gì ngoại lai thì lại tái phạm điều sai lầm của Minh Mạng, Thiệu Trị, cứ bịt tai bịt mắt, không chịu học những cái mới, cái hay của thế giới bên ngoài. Mất nước với Pháp là vì vậy.

Ngược lại, cũng có phong tục người Hán mang sang mà lâu ngày chúng ta yên trí là truyền thống dân tộc. Chúng tôi muốn nói thói tục "Trọng Nam Khinh Nữ". Câu hỏi cần được nêu lên là: "Có thực thói tục ấy là của dân tộc ta không?" Hỏi một cách khác: Từ ngàn xưa, khi chưa bị Hán tộc đô hộ, tổ tiên chúng ta có Trọng Nam Khinh Nữ không? Nếu có, thì tại sao khi người Hán sang cai trị lại có mấy Bà phất cờ khởi nghĩa, chỉ huy quân đội đàn ông đánh đuổi giặc Tàu?

Hồi mới cắp sách tới trường, học Sử-ký thấy chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, chúng tôi thắc mắc, và tự đặt câu hỏi: Khách mày râu lẩn đi đâu, mà gái má hồng phải xông ra giết giặc?

Sau khi nghiên cứu sự biến chuyển từ mẫu quyền sang phụ quyền, chúng tôi mới tìm thấy lý do: Trọng Nam Khinh Nữ là truyền thống của dân du mục, theo phụ quyền, như rợ Arya và rợ Chu, xuất phát từ các thảo mạc ở Đông Âu và Mông Cổ. Thế kỷ 12 trước TL, nhờ có khí giới bằng đồng và ngựa kéo chiến xa - hồi ấy họ chưa biết cưỡi ngựa - những rợ hùng mạnh nhưng kém văn-hóa ấy tràn vào Ấn độ và lưu vực Hoàng Hà, mang theo chế độ Phụ quyền và thói tục "Trọng Nam Khinh Nữ".

Thời ấy dân Vănlang đã có văn-hóa nông nghiệp. Ruộng nương do các bà khai phá và trồng tỉa, nên dân nông nghiệp bao giờ cũng theo Chế độ Mẫu quyền. Hiện nay ở những nơi không bị người Arya, hoặc Hán tộc cai trị như Tây tạng, Miến điện, Ai Lao, dân chúng vẫn theo chế độ mẫu quyền. Ở những nơi ấy con trai muốn có vợ phải nộp trâu bò cho nhà gái làm sính lễ. Ở Thượng Lào lấy vợ phải ở gửi rể, lao động không công cho nhà vợ, ngồi đầu nồi tiếp xôi (người Lào không ăn cơm) cho bố mẹ vợ, và tội nghiệp, nếu sau 2 năm mà vợ không thai nghén thì bị thải hồi nguyên quán.

"Nam Trọng Nữ Khinh" rõ ràng là thói tục của người Hán, vì 4 chữ Nam, Trọng, Nữ, Khinh là chữ Hán. Rõ ràng hơn nữa: Chúng ta có thành ngữ "Lệnh Ông không bằng Cồng Bà". Tại sao Bà mang Cồng ra đánh, khiến mọi người tăm tắp vâng lời, mà Lệnh Ông thì coi như đồ bo? Và tại sao ngày nay Ông lại thiếu quyền hơn Bà? Xin trả lời:

Sau khi chiếm nước Ta, Hán triều cử quan lại Tàu sang cai trị. Vì họ theo phụ quyền nên họ chỉ dạy con trai bản xứ học chữ Hán, và học sinh nào xuất sắc được bổ làm thuộc-quan dưới quyền điều khiển của họ, chẳng khác mấy ông phủ, huyện dưới thời Pháp thuộc. Theo Sử Việt thì trong số những người may mắn đó có ông Thi Sách, nhưng ông chẳng có thực quyền vì ông là quan lại ngạch bản xứ (cadre indigène). Hơn nữa, với tinh thần chống xâm lăng còn đang mạnh, nhân dân không phục những người "cộng tác" với thực dân, và thứ ba: ông là Nam trong một xã hội mẫu quyền mà mọi người "Khinh Nam Trọng Nữ".

Cũng theo Sử Việt thì Thái thú Tô Định bảo ông ra lệnh cho dân, bắt phải làm một việc gì đó, dân không làm. Tô Định nổi khùng, và chặt đầu ông để ra oai. Vợ ông là Bà Trưng Trắc mang cồng ra đánh, tập hợp quân sĩ, đánh đuổi thực dân Hán về Tàu.

Thêm một chứng cớ: Nếu hồi ấy đã có chế độ phụ quyền thì người ta gọi bà là Bà Thi Sách, không gọi là Bà Trưng Trắc, vì lẽ dưới chế độ phụ quyền, đàn bà bao giờ cũng lấy Họ, và có khi cản tên của chồng.

Mã Viện mang đại đội binh mã sang dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, nhưng đồng thời cũng nhận thấy ngày nào các Bà Giao Chỉ còn to quyền, thì ngày ấy Tàu chưa cai trị được nước Văn Lang qua tay đàn-ông bản xứ được. Mã Viện bèn ban hành 10 dạo luật, tước quyền của nữ giới, để đổi chế độ từ mẫu quyền sang phụ quyền, nhưng luật pháp không thể nhất đán thay đổi một truyền thống lâu đời. Chứng cớ: Hai thế kỷ sau Mã Viện, chế độ mẫu quyền vẫn còn y nguyên, vì một anh thư khác là Bà Triệu lại cầm quân đánh Tàu, và phải chờ 5 trăn năm sau nữa mới có một anh hùng là Lý Bôn lãnh đạo kháng chiến.

Nhưng người Hán cứ tiếp tục dạy con trai Giao Chỉ học chữ Hán, bổ dụng vào ngạch "quan lại bản xứ" nên dần dà, họ cũng tạo nên một "giai cấp mới ", có Hán học, và sẵn sàng hợp tác với họ. Giai cấp mới này trở thành giai cấp cao nhất trong xã hội. Bắt đầu từ giai cấp ấy, chế độ mãu quyền biến dần thành chế độ phụ quyền. Việtnam cũng bắt đầu bị "Hán hóa " từ ngày ấy, và từ đó có giới sĩ phu có Hán học.

Tóm lại, Trọng Nam Khinh Nữ là thói tục của dân du mục mang vào Ấn độ và Trung quốc từ thế kỷ 12 trước TL, rồi Hán tộc mang vào Việt Nam. Cho tới gần đây, thói tục ấy chỉ phổ thông trong giới thượng lưu, không phổ biến xuống đại chúng lao động. Mấy anh dân cấy trong thôn xóm không dễ gì bắt nạt vợ, vì vợ cũng lao động cày cấy, sức vóc không kém. Nhìn chung trong xã hội Việt Nam, hình như số người sợ vợ còn nhiều hơn số người bắt nạt vợ.

Chúng tôi trình bầy như trên để chứng tỏ thói tục: Trọng Nam Khinh Nữ chẳng phải là truyền thống dân tộc, mà có là truyền thống chăng nữa cũng nên loại bỏ, vì bất công và lỗi thời.
 
2. Bảo tồn Văn-hóa CỔ-TRUYỀN


Chữ Cổ-truyền nêu lên mấy câu hỏi:

- Bảo tồn văn-hóa cổ truyền có phải là Bài trừ bất cứ cái gì mới, là duy trì những thói tục hủ lậu, phải tiến bộ không? Xin thưa là không. Nếu dân tộc là một cái cây, thì văn-hóa cổ truyền là một cái gốc. Giữ cho gốc cây vững chắc, đừng để gió bão lay đổ, không có nghĩa là không cho cây trổ thêm cành, mọc thêm lá, nở thêm hoa. Tiến bộ cứ việc tiến bộ, miễn là đừng mất gốc.

- Phải trải qua thời gian bao lâu mới gọi là Cổ-truyền? Xin thưa rằng không có hạn định trong thời gian, nhưng phải có thử thách với thời gian, và phải được quảng đại quần chúng chấp nhận. Một thiểu số thượng lưu ưa chuộng không đủ để công nhận là văn hóa cổ truyền. Lấy y phục làm tỉ dụ: Trong nhiều cuộc họp báo bô lão, nhiều vị bận áo thụng xanh, đội khăn đóng, có vị còn trưng cả mề đay, kim khánh.

Áo thụng xanh là triều phục của Mãn Thanh vua Minh Mạng mới bắt chước. Khăn đóng mới xuất hiện từ năm 1920. Trước kia, các Cụ vẫn soi gương chít lấy khăn. Kim khánh là di tích của chính phủ bù nhìn Nam triều, và mề đay (médaille) là huy chương Thực dân Pháp gắn cho tay sai đắc lực. Những thức ấy, không những không phổ biến trong dân gian, mà còn nhắc nhở cái nhục vong quốc trong 80 năm vừa qua. Chẳng phải là truyền thống dân tộc, và không nên phô bầy.

- Ngược lại, Y phục Tân thời của phụ nữ - quần trắng và áo thắt lưng ong - do họa sĩ Cát Tường mới vẽ năm 1932 - nhưng vì chẳng khác kiểu xưa bao nhiêu, và được phụ nữ trong toàn quốc chấp nhận, có thể tạm coi là truyền thống (traditional).

3. Bảo tồn VĂN-HÓA Cổ truyền Việtnam:

Chúng ta đều hiểu Văn-hóa là gì, nhưng định nghĩa danh từ ấy là một việc khó khăn.

Chứng cớ là trong cuốn Review of Anthropoloby, năm 1977, có tất cả 124 định nghĩa khác nhau. Nói chung, học giả thuộc mỗi bộ môn (như ngôn ngữ, tâm lý, xã hội, v.v...) thường định nghĩa Văn-hóa là môn chính mình nghiên cứu. Còn những môn các học giả khác nghiên cứu chẳng phải là văn-hóa. Tình trạng "cãi vã" về văn hóa làm cho chúng tôi liên tưởng đến giai thoại Người Mù Sờ Voi của Kỳna giáo (Jainism)

Một hôm, một con voi đến một vùng mà tất cả mọi người - vì một bệnh tật nào đó - mù cả hai mắt. Nghe nói có voi tới, họ rủ nhau đi xem voi. Người sờ được cái vòi bảo voi giống con trâu. Người sờ được ngà bảo voi nhọn như ngọn dáo. Người sờ được đuôi bảo voi dài như sợi thừng. Người sờ được cái tai bảo voi giống như cái quạt thóc. Người sờ được chân bảo voi to như cột nhà.

Cùng một thực thể, mà mỗi người nhận xét theo một khía cạnh. Tình hình kiến thức nhân loại hiện nay cũng tương tự. Cứ nhận xét cục bộ, phiến diện, tin tưởng một cách mù quáng, đả kích lẫn nhau và chém giết những người không đồng quan điểm với mình. Hiện thời, chúng ta đang "sờ rất nhiều voi", vì khoa học chưa soi sáng cho chúng ta thấy rõ mọi thực trạng trong vũ trụ. Chỉ khi nào tất cả mọi người đều nhận thức được rằng: Chính mình vẫn còn "thông manh", thì may ra lúc bấy giờ thiên hạ mới được an hưởng thái bình vĩnh cửu.

Sở dĩ Văn-hóa có quá nhiều định nghĩa là vì Văn-hóa là tất cả. Mỗi bộ môn của kiến thức chỉ là một phần của Văn-hóa, chẳng khác mỗi bộ phận của con voi chỉ là một phần của con voi. Vì văn-hóa quá phức tạp nên thường có nhiều nhận định sai lệch về văn-hóa:

- Có người cho rằng biết cầm đũa và cơm, biết ăn rau muống, đậu phụ chấm tương, và rộng hơn nữa, biết chắp tay "chào ông, chào bà," biết nói tiếng Việt, là còn giữ được Văn-hóa Dân tộc, nên chỉ dậy con cái nói tiếng Việt, là còn giữ được Văn-hóa Dân tộc, nên chỉ dậy con cái bấy nhiêu điều. Thật quả chưa đủ. Đấy mới là những bước đầu cần thiết.

- Nhiều người thường lẫn lộn Văn-hóa với Văn-chương .

- Tây phương thường lẫn lộn Văn-hóa với Văn-nghệ. Chứng cớ: Ở thủ đô Hoa kỳ có một tòa nhà lộng lẫy thường dùng để biểu diễn văn nghệ, mà mang tên là Trung Tâm Văn-hóa Kennedy (Kennedy Cultural Center)

Định-nghĩa trong Tự-điển:

Trong khi các học giả cứ định nghĩa văn-hóa lung tung, các tự điển không thể dành 10 hoặc 15 trang để liệt kê tất cả những định nghĩa chung chung. Họ nói: Văn-hóa là nếp sống, là lề lối sinh hoạt. Rất gọn, nhưng có lẽ vì gọn quá, nên thành ra thiếu sót. Vì có người có thể nêu lên câu hỏi: Mỗi sinh vật đều có lề lối sinh hoạt riêng biệt, vậy thì chiếu theo định nghĩa ấy chúng cũng có văn-hóa hay sao?

Hãy nhìn vào loài ong. Chúng có một tổ chức xã hội hoàn hảo: phân công sản xuất, phân phối, có nhiều "giai cấp", nhưng không có "xung đột giai cấp", có một tổ chức hành chính chu đáo mà không có "thư lại", có một đội quân tình nguyện "thần phong", mà không có sĩ quan. Về kỹ thuật, chúng chế tạo được mật, thực phẩm số 1, chưa có phòng thí nghiệm nào chế tạo nổi. Nếu bảo loài ong không có văn-hóa, thì rõ ràng định nghĩa kể trên chưa đúng hẳn.

Cần phải định-nghĩa lại:

Chúng tôi thấy sự cần thiết phải bổ túc thêm. Văn-hóa phải là Lề lối Sinh-hoạt và Suy-nghĩ mới đúng, vì loài người khác loài vật ở điểm loài người biết suy nghĩ, trong khi loài vật chỉ sinh hoạt theo bản năng, tức là không suy nghĩ. Phải thêm chữ suy nghĩ thì định nghĩa mới đầy đủ, vì ngay cả trong xã hội loài người, dân tộc này hơn dân tộc kia, văn hóa cao hay thấp, tùy theo khả năng suy nghĩ, hơn thua vì tư tưởng đúng hay sai.

4. BẢO TỒN Văn-hóa

Danh từ BẢO TỒN cũng nêu lên nhiều câu hỏi:

a. Chúng ta phải bảo tồn toàn bộ văn-hóa cổ truyền, hay phải chọn lọc những cái hay để bảo tồn, và loại bỏ những cái dở, những cái lỗi thời?

Văn-hóa Cổ truyền cũng gọi là Truyền Thống. Để trả lời một cách vắn tắt, chúng tôi xin trích một câu trong Kinh Kalama của Phật giáo Tiểu thừa. Phật dạy: "Đừng nhắm mắt tin một điều nào đó là đúng, là hay, chỉ vì điều ấy vốn là một truyền thống."

Thật rõ ràng, cách đây 25 thế kỷ một vĩ-nhân Ấn Độ là Phật Thích Ca đã răn chúng ta không nên yên trí mọi truyền thống đều hay, đều đúng. Có truyền thống hay mà cũng có truyền thống dở. Phải lo bảo tồn những cái hay, và loại bỏ những cái dở.

b. Nếu bỏ một phong tục cổ-truyền của dân tộc, có nên thay thế bằng một phong tục hiện đại của Tây phương không? Đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Tây phương có nhiều phong tục tốt, chúng ta nên chấp nhận, vừa có ích, vừa giúp chúng ta dễ hòa đồng trong khi chúng ta sống với họ.

Nhưng trong trường hợp Ta dở, mà Tây cũng dở thì thế nào? Thí dụ: Ngày xưa các Cụ nói : "Cha mẹ đặt đâu, con cái ngồi đấy." Dĩ nhiên các Cụ tự cho mình quá nhiều quyền, không đếm xỉa đến ý nguyện của con cái. Bây giờ phong tục Tây phương lại trái ngược: "Con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đấy." Pháp luật đảm bảo thanh niên đôi lứa có toàn quyền lựa chọn người bạn trăm năm.

Tự do lựa chọn là một nguyên tắc hợp tình hợp lý, nhưng đấy chỉ là một nguyên tắc. Vấn đề cần nêu lên là: Các cô, các cậu có thực sự lựa chọn hay không? Xin trả lời: Hôn nhân phải bắt đầu bằng Tình yêu, nhưng Tình yêu thuộc Tâm vì hễ yêu nhau thì tim đập mạnh, mà Lựa chọn lại thuộc Trí, vì Trí có tỉnh táo mới có thể so sánh ai hơn ai kém, mà lựa chọn. Vấn đề trở thành phức tạp, vì Tâm và Trí là Sine và Cosine của một góc cạnh. Theo phương trình Lượng-giác thì:

(Sin a)² + (Cos a)² = 1



Tức là (Tâm)² + (Trí )² = 1*

- Nếu đặt Tâm vào tung độ, và Trí vào hoành độ, thì với mỗi độ mở (a) của Tâm, gía trị của Tâm là Sine, và của Trí là Cosine.

- Nếu biết được gía trị của Tâm, thì có thể tính được giá trị của Trí, hoặc ngược lại, theo phương trình:

(Sin a)² + (Cos a) ² = 1

- Tức là: Hễ Tâm lên tới cực độ (Sin = 1) thì Trí tụt xuống 0 (Cos = 0).

Bạn đọc nào không nắm vững lượng giác học có thể tạm hình dung đường vòng A-B, như một đường thẳng:

______A_____Trí________M_______Tâm________B_____


với phương trình Trí + Tâm = 1 và coi quãng cách từ A đến M là Trí, và từ M đến B là Tâm. Khi nào M tiến về phía A thì Tâm rộng thêm và Trí hẹp lại. Khi nào M tiến sát tới A thì Tâm lên đến cực độ, và Trí biến mất. Đấy là trường hợp "sét đánh" (Tâm = 1, Trí = 0). Hễ rơi vào trường hợp ấy thì mất hết lý trí, không còn khả năng suy xét và lựa chọn, chỉ yên trí một cách chủ quan rằng "Hễ yêu nhau khi mới gặp, thì sẽ yêu nhau trọn đời."

Lấy nhau rồi, ngày tháng trôi qua, Tâm bớt rung động, thu hẹp lại, để chỗ cho Trí mở rộng thêm, và dần dần sáng suốt trở lại. Lúc bấy giờ Chị mới khó chịu vì Anh hay gắt gỏng, tối nào cũng chờ cơm mà chẳng thấy về, ham mê cờ bạc và hình như mê cả gái nữa. Anh mới thấy Chị nhiều lời, mắng mỏ con cái suốt ngày, hay ghen vặt, làm mất hết bạn bè, không giao thiệp làm ăn gì được. Cơm hết lành, canh hết ngọt, nhưng khốn nỗi, tay Anh đã chót "nhúng chàm", ván của Chị đã chót "đóng thuyền". Chỉ còn hai cách: Một là "ngậm bồ hòn làm ngọt", chịu đựng ngang trái suốt đời, hai là


"Anh đi đường Anh, Tôi đường Tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi..."

rồi đưa nhau ra tòa ly dị, đổ hết tai vạ lên đầu lũ trẻ thơ dại.

Vì người Mỹ thiếu kiên tâm chịu đựng, không ngậm được bồ hòn, nên họ thường chọn cách thứ hai, và đây là lý do tại sao, trung bình, vợ chồng người Mỹ chỉ sống chung 6, 7 năm trước khi ly dị.

Gần đây, thanh niên Mỹ mới phát minh ra một diệu kế: Trước khi ra tòa ký giấy hôn thú, hãy "thử kiểu" xem sao đã, in hệt khi mua giầy phải thò chân vào giầy thử xem giầy có hợp với bàn chân không. Thực thà mà nói, phương pháp ấy chỉ có lợi cho bàn chân, được thò vào nhiều giầy mới, tuyệt nhiên không có lợi cho chiếc giầy. Hơn nữa, người Mỹ thử kiểu chán chê mà ly dị vẫn cứ ly dị.

Với kinh nghiệm bản thân, chúng tôi xin "đại-thí" các bạn trẻ một giải pháp khả dĩ dung hòa cổ kim, đông tây: "Khi nào các bạn thấy Tim đập mạnh quá, mà Trí có chiều lu mờ, thì nên tham khảo ý kiến của người ngoại cuộc, như bố mẹ, anh chị em, bạn bè thân thuôc. Cứ hỏi. Nghe hay không là tùy nơi mình. Mà trong số những người ngoại cuộc không ai bằng bố mẹ vì các Cụ bao giờ cũng cầu mong hạnh phúc cho con cái, và nhất là các Cụ đã có kinh nghiệm về tình nghĩa vợ chồng.

Kinh nghiệm ấy là: Tình yêu là yếu tố cốt yếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất đảm bảo hạnh phúc trăm năm. Còn nhiều yếu tố cần thiết khác, nhưng chỉ có kinh nghiệm lâu năm mới giúp chúng ta biết thận trọng, trước khi lao đầu vào một cuộc phiêu lưu vô hạn định.


___________

* Phương trình này áp dụng vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của Tâm Trí đối với Văn-hóa và sự Thăng Trầm của các Quốc gia Dân tộc ở Phần II.



Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-28 05:20:58Ngọc Lý>
.
 
GIA TÀI VĂN-HÓA



Có một câu hỏi, có thể gọi là ngớ ngẩn, nhưng đã thảo luận thì phải đầy đủ, nên chúng tôi vẫn thấy cần phải nêu lên: Gia tài văn hóa của tiền nhân để lại quý giá chừng nào mà phải lo bảo tồn? Bây giờ chúng ta là công dân của nước Mỹ hay một nước thứ ba giàu mạnh, có nên bỏ vứt đi, và thay thế bằng toàn bơ văn-hóa của người địa-phương không? Xin trả lời:

Đọc lại lịch sử chúng ta thấy Việt Nam có một thời đại vàng son mà chúng ta có quyền tự hào. Không ai chối cãi, và thế giới bên ngoài cũng phải công nhận: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh dũng. Một nước nhỏ bé, nằm sát nách một đế quốc lớn hơn 50 lần, bị đế quốc ấy cai trị trên một ngàn năm, mà không những thoát khỏi ách đô hộ, còn đánh bại đế quốc ấy nhiều lần. Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới đã đánh bại Mông Cổ ba lần liên tiếp, không phải vào lúc Mông Cổ suy nhược, mà vào giữa lúc Đế-quốc Mông Cổ bao trùm gần hết Á Châu và Âu Châu, từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ, Trung Đông, bờ sông Danube và biển Baltic. "Liên Xô Vĩ Đại" và ngay cả đế quốc Nga-La-Tư cũng chưa ra đời, nhưng vương quốc Motskva đang bị đoàn người ngựa Mông Cổ dẫm nát. Từ Âu sang Á, không một quốc gia nào, hoặc liên minh quốc gia nào, kháng cự nổi đoàn người ngựa ấy, ngoại trừ Việt Nam nhỏ bé.

Có nhiều nguyên nhân giúp Việt Nam chiến thắng, nhưng nguyên nhân chính mà sử sách đã chép rõ: Về thời ấy, dân tộc Việt Nam có tinh thần đoàn kết cao độ, thể hiện tại Hội-Nghị Diên-Hồng.

Một kỳ công thứ hai: Trung quốc bao gồm cả trăm chủng tộc khác nhau mà tất cả đã bị Hán hóa. MãnThanh là trường-hợp điển-hình. Vì hùng mạnh quá, mang quân sang chiếm Trung quốc, nhưng kém về văn-hóa, nên bị Hán-hóa và mất nước với Hán tộc, trong khi sau một ngàn năm Bắc thuộc, chúng ta vẫn còn là một dân tộc biệt lập.

Một kỳ công thứ ba: Tiền nhân không những giữ được biên giới phía Bắc, mà còn bành trướng về phía Nam, từ lưu vực sông Nhị đến biên giới Cao Mên, cách xa 2.000 km. Trung bình 1km mỗi năm.

Để hình dung ba công cuộc vĩ đại ấy, chúng tôi xin đưa ra một hình ảnh cụ thể. Nhìn vào bản đồ Á Đông, chúng ta thấy Trung quốc là một nước khổng lồ ở phía Bắc, và Việt Nam là một hành lang nhỏ hẹp, con đường độc đạo nối liền Trung quốc với miền Đông-Nam-Á phì nhiêu.

Chúng ta hãy hình dung hai nước như một cái phễu khổng lồ.

Suốt trong lịch sử, Hán tộc ở trong loa phễu cứ muốn chui qua cuống phễu để Nam tiến.

- Dân tộc Việt Nam đóng vai một cái nút bông, đặt ở ngay đầu cuống phễu, ngăn chặn không cho binh mã của Trung quốc (ví như những hạt sạn) lọt qua, mà chỉ cho Văn-hóa Hán tộc (ví như chất lỏng) thấm dần.

- Tiền nhân hứng lấy chất lỏng ấy, tức là phần tinh túy của Văn-hóa Hán tộc, cộng vào những cái tốt đẹp của Văn-hóa Dân tộc, rồi chế biến thành một lợi khí sắc bén để chiến thắng Chiêm Thành.

Trong giòng Lịch Sử Tiền Nhân đã hoàn thành ba công trình vĩ đại:

a. Không bị Hán hóa sau một ngàn năm Bắc thuộc.
b. Ngăn chặn không cho Hán tộc Nam tiến
c. Giữ việc Nam tiến về phần mình.

Nếu tiền nhân không chận đứng được cuộc Nam tiến của Trung quốc, thì không những Việt Nam không còn, mà có lẽ toàn vùng Đông-Nam-Á đã bị Hán hóa từ lâu.


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
.
 
VĂN-HÓA QUYẾT-ĐỊNH VẬN-MỆNH CÁC DÂN TỘC


Ôn lại toàn bộ Lịch-sử Nhân loại, chúng ta có thể nhận thấy một điều, có giá trị một định luật: Văn-hóa ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh các quốc gia dân tộc. Nghĩa là:

- Từ Cổ chí Kim, từ Đông sang Tây, các dân tộc đều đạt tới mức toàn-thịnh trong những thời đại có một nền văn-hóa lành mạnh, phong phú.

- Ngược lại, hễ văn-hóa bị lệch lạc là dân tộc xuống dốc. Đây chính là trường hợp của nước Ta trong cận-đại lịch-sử.

- Nhiều dân tộc đã có một nền văn minh huy hoàng, như dân tộc Cổ Ai Cập, Khmer, và Inca, đã bị diệt vong sau khi văn-hóa của họ đi vào ngõ cụt. Các vị Thân-Vương mang hết tài nguyên và sức lực của nhân dân, xài vào công việc xây dựng đền đài, lăng tẩm nguy nga. Dân bị diệt vong vì đuối sức và thiếu ăn, không chống nổi bệnh tật.

- Đây cũng chính là thảm trạng của Việt Nam hiện nay: Văn- hóa Mác-xít đã đi vào ngõ cụt. Chẳng khác các Thân-Vương thuở xưa, Đảng đang làm dân kiệt sức. Vì vậy nên chúng tôi nói: Hiện nay dân tộc chúng ta đang tiến dần đến thảm họa diệt vong.

Xin kể thêm 10 trường hợp khác chứng tỏ văn hóa quyết định sự thăng trầm của các dân tộc, mà Lịch-sử đã ghi chép rõ ràng:

1. Thế kỷ 7 và 6 trước Tây Lịch, Lục phái Trí-Tuệ tức là 6 học phái triết học đồng thời xuất hiện ở Ấn Độ. Sáu học phái ấy gồm có Định- Mệnh, Hoài-Nghi, Hoài-Nghi Tuyệt-Đối, Duy-Vật, Nguyên-Tử, và Thiên-Nhiên. Mục đích của tất cả 6 học phái là đả phá những mê-tín dị-đoan của Bà-La-Môn giáo. Họ mở đường cho Phật giáo và sau đấy, A Dục Đế (Asoka) dùng Phật giáo thống nhất Ấn Độ một cách ôn hòa. Ấn Độ bắt đầu thời đại vàng son.

2. La Mã là một đô thị nhỏ, mà bành trướng thế lực ra khắp Âu Châu, Cận Đông, và Bắc Phi, vì đã phát huy được nền văn hóa sáng ngời.

3. Cuối Thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch, La Mã suy yếu vì mấy lý do:

a)- Thanh niên bỏ học, chỉ mải mê đi xem kiếm sĩ (gladiators) đấu gươm và không chịu đi lính. La Mã thiếu người biết chữ đến nỗi phải thuê người Hy Lạp, Ả Rập, và Do Thái làm thư ký. La Mã phải tuyển mộ những "rợ" (barbarians) vào quân đội. Vừa là lính đánh thuê, vừa bị trả lương bằng muối*, họ chẳng có tinh thần chiến đấu.

b)- Luân thường đạo lý suy đồi. Các bà trong giới quyền quý chuyên ngoại tình, nhưng vì pháp luật xử tội ngoại tình rất nặng, nên các bà bí-mật đăng-ký với công-an là các bà làm nghề mãi dâm, để nhỡ bị bắt quả-tang, các bà có thể biện bạch rằng chẳng phải là ngoại tình, mà các bà chỉ hành nghề mãi dâm, đã đăng ký và đóng thuế.

c)- Các nghị sĩ tham nhũng chiếm đất công và mua nô lệ khai khẩn.

4. Mấy thế kỷ gần đây, Tây phương làm bá-chủ thế-giới vì Tây phương phát triển khoa học, kỹ thuật,sau phong trào Cách Mạng Dân Chủ, con đẻ của phong trào Phục-Hưng Văn-Hóa (Renaissance).

5. Trung quốc đạt tới mức văn minh, huy hoàng về đời Đường, vì người Tầu thời bấy giờ có đầu óc cởi mở, không bài ngoại. Sử gia Nhật Obata chép: "Thủ đô Tràng An là trung-tâm truyền-giáo của đủ các tôn-giáo trên thế giới, và cũng là nơi tụ hội nhiều chủng-tộc có tín-ngưỡng khác nhau như Siri, Thát Đát, Ả Rập, An Nam, Cao Ly, và Nhật Bản." Sở dĩ hồi ấy người Tầu không kỳ thị chủng tộc, không bài ngoại, là nhờ có chế độ Tam- Giáo. Học sinh phải học cả ba triết học khác nhau (Khổng, Lão, Phật), có dịp so sánh và tổng hợp cả ba thành một ý-thức-hệ lành mạnh, phong phú. Nhờ vậy Trung quốc phát triển kinh-tế, kỹ-thuật, thương-mại, hàng-hải, và thơ phú tới mức "vô tiền khoáng hậu".

6. Nhưng đột nhiên, năm 845, dưới áp lực của nhóm Nho Sĩ, đứng đầu là Hàn Dũ, Vua Đường Vũ-Tông ra lệnh Bài-trừ Ngoại-Đạo, đưa Khổng giáo lên địa-vị độc tôn, gọi là Quốc Giáo , phá hủy đền thờ của tất cả mọi tôn giáo ngoại lai, đuổi hết người ngoại quốc ra khỏi nước và phá hết thuyền đi bể để người trong nước hết phương tiện xuất ngoại, như Thầy Pháp-Hiền và Nghĩa-Tĩnh đã sang Ấn Độ va chở kinh Phật về bằng đường biển. Phật giáo bị bài trừ tận gốc rễ: 25.000 ngôi chùa bị san bằng, tượng Phật bằng vàng bạc, đúc thành thỏi, chuông chùa đúc thành tiền đồng nộp ngân khố, 250.000 tăng lữ bị đưa đi "khu kinh tế mới" khẩn hoang, sản xuất nông nghiệp, và nộp thuế cho triều đình. Từ ngày ấy Trung quốc xuống dốc, mà cho đến ngày nay vẫn chưa bò lên được. Vẫn còn là "Sư Tử ngủ ".

7.Sau cuộc khủng bố "long Trời, lở Đất" cỡ ấy, tất nhiên phải có hàng ngàn tăng lữ Phật giáo chạy sang nước ta tị nạn, và đây có lẽ là lý do tại sao Phật giáo bột phát ở Việt Nam ngay sau cuộc đàn áp tôn giáo của Đường Vũ Tông bên Tầu. Từ đấy, có thêm Phật giáo, Tiền nhân có đủ bộ ba Tam giáo, kiện toàn được văn-hóa. Một thế kỷ sau, khôi phục nền độc lập, và mấy thế kỷ sau nữa, đại thắng Mông Cổ.

8. Nhưng chẳng bao lâu vua Trần lại bắt chước Tầu, bãi bỏ chế độ Tam-giáo, mượn Tống Nho mang về làm Quốc-giáo. Hậu quả đến một cách rõ ràng và nhanh chóng. Chỉ 65 năm sau cuộc đại thắng Mông Cổ, Việt Nam bị Chiêm Thành đánh cho đại bại. "Chế Bồng Nga cưỡi ngựa đi giữa thủ đô Thăng Long như chỗ không có người."

9. Năm 1945, Nhật Bản bị bại trận, bị bom nguyên tử tàn phá, kinh tế hoàn toàn kiệt quệ, mà chỉ 20 năm sau đã nghiễm nhiên trở thành siêu cường. Lý do: Trong thế giới đang ngả nghiêng vì văn-hóa suy đồi, Nhật bản vẫn bảo tồn được văn-hóa lành mạnh.

10. Năm 1947 người Do Thái trở về đất tổ sau hai ngàn năm lưu lạc, vì họ bảo tồn được văn-hoá dân tộc.

Còn rất nhiều chứng minh khác trong lịch sử nhân loại, nhưng chúng tôi thiết nghĩ bấy nhiêu trường hợp kể trên cũng đủ chứng tỏ định luật ấy, chúng ta - những người di tản ra khắp bốn phương - sẽ nhận thấy mấy điều cần thiết và khẩn trương:

1. Bảo-tồn nền văn-hóa lành mạnh của tổ tiên đời Lý Trần.
2. Cố gắng học những cái hay, cái đẹp của dân tộc khác.
3. Nhưng quan trọng nhất là: "Đừng tiêm nhiễm những cái dở của họ." Chẳng khác La Mã về cuối Thế kỷ 4, hiện nay các nước Tư bản Tây phương đang bước vào con đường sa đọa.

Ba điều ấy phải được thực hiện ngay, để Cộng đồng người Việt hải ngoại có đủ khả năng đóng góp vào công cuộc lật đổ bạo quyền Cộng sản, giải phóng dân tộc và xây dựng quốc gia. Về điểm này, Do Thái và Nhật Bản là hai cái gương sáng chúng ta nên noi theo. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta tán thành và chấp nhận mọi chính sách của chính phủ Nhật và Do Thái. Chúng ta cần phải học những Giá Trị Tinh Thần và Đạo Đức của họ, và đặc biệt hơn cả là Tinh Thần Đoàn Kết Dân tộc.

Xin kể một chuyện. Năm 1966, nhân dịp đi dự Hội-nghị Thế-giới Chống-Cộng ở Hán Thành (Seoul), chúng tôi ghé qua Tokyo và Jerusalem. Chúng tôi được bộ ngoại giao Nhật bản và Do thái tiếp đón và tham khảo ý kiến. Ở cả hai nơi, họ hỏi chúng tôi cùng một câu:

"Theo ý ông thì nước chúng tôi nên làm gì để giúp Việt Nam?"

Ở cả hai nơi, chúng tôi đưa ra cùng một câu trả lời:

"Các ông nên cấp nhiều học bổng cho thanh niên Việt Nam sang du học. "

Họ hỏi lại: "Tại sao ông muốn thanh niên nước ông sang du học nước chúng tôi?"

Chúng tôi trả lời: "Tại vì, sang quý quốc mới có cơ hội học được Tinh-thần Đại-đoàn-kết Dân-tộc và kế-hoạch kiến-quốc của Quý ông."

Tới đây, Ủy ban Ngoại giao Nhật nói: "Chúng tôi biếu rất nhiều học bổng, mà chỉ có một số rất nhỏ sinh viên sang học."

Ủy ban Do Thái nói: "Chúng tôi cấp nhiều học bổng, nhưng tuyệt nhiên chẳng có một thanh niên Việt Nam nào sang cả."

Chúng tôi ngậm miệng, không trả lời được. Nhưng chúng tôi hiểu: Những thanh niên được chính phủ cho phép xuất ngoại là "con-ông cháu-cha". Họ chỉ thích đi Mỹ, đi Pháp, để vừa "du-học" vừa "du-hý". Dại gì đi Nhật và Do Thái cho cực thân.

Có ba tai vạ cần phải tránh:

a. Đánh mất những đức tính cổ truyền của tổ tiên là một.
b. Không thèm học những cái hay của người khác là tai vạ thứ hai.
c. Tiêm nhiễm những cái xấu của người khác là tai vạ thứ ba.

Thế kỷ trước mất nước với Pháp vì triều đình lây Bệnh Giáo điều của Tầu. Gần đây giới thượng lưu mắc Bệnh Sa Đọa của Tây phương nên thua Cộng sản. Hiện giờ đồng bào tị nạn ở Hoa-kỳ đang gập phải một tai vạ rất lớn: Nhiều phần tử đang bắt chước những thói hư tật xấu của xã hội Mỹ, vào giữa lúc xã hội ấy đang sa-đọa. Đây là một điều rất khó tránh, vì như chúng tôi đã trình bầy: Cái dở bao giờ cũng dễ bắt chước hơn cái hay."Gần mực thì đen", mà hiện nay xã hội Mỹ đang đen ngòm.

Trong Thời kỳ Chiến tranh, xã hội Việt Nam cũng có nhiều hư hỏng, nhưng chưa đến nỗi. Có nạn giật ví, giật đồng hồ, nhưng không có tổ chức du đãng, dụ trẻ con nghiền ma-túy rồi sai chúng đi ăn cướp.

Thế kỷ trước, người Nhật sang Mỹ học được nhiều cái hay của Mỹ, mà không tiêm nhiễm một thói hư nào cả vì hồi ấy xã hội Mỹ còn đang lành mạnh. Chúng ta không may sang Mỹ vào giữa lúc xã hội Mỹ đang sa-đọa đến cực độ.

Nhưng chúng ta cũng nên tự hỏi: Tại sao hiện nay người Nhật và người Do Thái ở Mỹ rất đông mà không bị hư hỏng? Xin trả lời: Tại vì người Nhật và người Do Thái vẫn bảo tồn được văn hóa cổ truyền của họ. Đi tới đâu, họ cũng giữ được tư cách con người có văn-hóa, biết tự trọng, biết giữ thanh-danh cho giống nòi.

Xin tạm kết-luận: Chúng ta nên noi gương người Nhật và người Do Thái trước mắc, nếu sau một ngàn năm chúng ta không hình dung được tấm gương sáng ngời của tổ tiên chúng ta về đời Lý Trần.




Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-04 18:20:21Ngọc Lý>
Chương II

VĂN-HÓA GIAO LƯU



Văn-hóa là món hàng trao đổi, vay mượn, có khi phải "mua" với giá rất đắt, như chúng ta đã mua văn-hóa Tàu và Pháp, và cũng như hiện nay dân tộc ta đang phải trả bằng xương máu món nợ "Văn-Hóa Mác-Lê" ông Hồ mua chịu của Liên Xô, mang về xài từ 60 năm nay. Nợ Liễu Thăng, chưa biết trả đến kiếp nào mới hết.

Văn-hóa là sản-phẩm chung của nhân loại. Mỗi dân tộc đóng góp ít nhiều vào vốn liếng chung. Không dân tộc nào lẻ loi có thể tự mình phát-huy được một nền văn-hóa phong phú, chứng cớ là những dân tộc ở ven biển, có thuyền bè qua lại, hoặc ở giữa các trục giao thông, thường có văn-hóa phong phú hơn những dân tộc ở sâu trong nội địa, đặc biệt là những bộ lạc sống trên núi cao, ít người lui tới.

Vì văn-hóa là món hàng trao đổi, nên những bộ môn văn-hóa như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thần thoại, kỹ thuật, ngôn ngữ, thời trang, ẩm thực,..., thường phát xuất từ một nơi, rồi từ từ lan ra khắp thế giới.

Tỉ dụ :

- Chuyện Tấm Cám của Lào, Việt Nam và Tàu, và chuyện Cô Bé Lọ Lem của Tây phương phát xuất từ Ấn Độ.

- Chúng ta có huyền thoại Trời sai Chú Mõ rao: "Người già người lột, rắn già rắn chết." Nhưng Chú Mõ lú lấp, rao lầm "Người già người chết, rắn già rắn lột", nên từ ngày ấy, người gài phải chết, không lột xác để trẻ lại được. Thổ dân xứ New Britain thuộc Papua, New Guinea, cũng có thần thoại in hệt, chỉ thêm một chi tiết: Họ nói tên Chú Mõ là Korvouva, và Thần sai Chú Mõ đi rao là Kambinana.
- Đạo Tam-Tòng của Tống Nho "Tại gia tòng phụ - Xuất gía tòng phu - Phu tử, tòng tử" là dịch nguyên văn Điều 148 của Đạo luật Manu. Bộ lạc Manu thuộc đại chủng tộc Arya, tràn vào Ấn Độ vào khoảng Thế kỷ 12 trước Tây Lịch. Đấy là những bộ lạc du mục, phát xuất từ các thảo-mạc Đông-Âu. Họ theo chế độ phụ quyền và khinh miệt đàn bà.

- Nhiều bộ lạc Phi Châu vẫn kể chuyện "Chúa lấy đất nặn ra người đầu tiên". Họ không nói Chúa là Nam hay Nữ, và người đầu tiên là Trai hay Gái.

- Cách đây chừng 5 ngàn năm, người Cổ Ai-Cập thờ thần Khnemu, đầu dê mình người, là vị thần linh đã "lấy đất nặn ra người đầu tiên". Thời ấy người Ai-Cập còn theo chế độ mẫu quyền nên cũng như các dân tộc khác theo chế độ mẫu quyền và có văn-hóa nông nghiệp, thần của họ đều là Nữ thần.

- Cách đây chừng 3 ngàn năm, người Babylon, theo phụ quyền, kể chuyện "Chúa là đàn ông, lấy đất nặn ra ông Adam, rồi bẻ xương sườn của ông Adam nặn ra bà Eva".

- Thế kỷ 6 trước Tây Lịch, Babylon xâm chiếm Do Thái và bắt người Do Thái mang về làm nô lệ trong 30 năm. Được tha về, người Do Thái chép thần thoại họ học được của người Babylon vào Thánh kinh của họ, tức là Cựu Thánh kinh. Sau này Thiên Chúa Giáo mang thần thoại ấy truyền ra khắp thế giới.

Có câu hỏi: Tại sao lại nói "lấy đất nặn ra người?" Nói như vậy có trái với khoa học không? Xin thưa rằng không, nếu hiểu chữ Đất với nghĩa của chữ ấy trong danh từ kép Trái-Đất, Trời-Đất.

Ngày xưa chưa có danh từ chuyên môn, nên một chữ có thể dùng để chỉ nhiều loại. Tỉ dụ: Người Tàu có chữ kim là vàng, nhưng cũng dùng để chỉ bất cứ loại kim khí nào. Chúng ta có huyền thoại ông Phù Đổng Thiên Vương, mặc áo sắt, cưỡi ngựa sắt. Có người thắc mắc: Thời ấy mới có đồ đồng, đã làm gì có đồ sắt? Có lẽ người xưa dùng một tiếng cổ nào đó, có nghĩa là kim khí, rồi sau này có nghĩa là sắt.

Người xưa nhận thấy con người lớn lên được là nhờ ăn rau cỏ, và rau cỏ mọc được là nhờ có đất. Nếu không có đất thì chẳng có cây cỏ, mà cũng chẳng có Người. Vì vậy nên họ quan niệm rằng tất cả các sinh vật, kể cả người, đều do đất sinh ra. Danh từ "Đất" trong câu "lấy đất nặn ra người" nên hiểu là tất cả mọi nguyên tố hiện có trong đất, trong vũ trụ. Chúng tôi đề nghị: Không nên hiểu những danh từ cổ xưa theo nghĩa chính xác hiện nay.

Nhắc đến tên nữ thần Khnemu, xin có một nhận xét: Trong rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới, những tiếng có nghĩa là Mẹ đều có bắt đầu bằng vần M, như Mẹ (Việt Nam), Mutter (Đức), Mater (Latin), Madre (Tây Ban Nha), Mother (Anh), Mère (Pháp), Moeder, Moer (Hòa Lan), vân... vân... Tại sao? Giới ngữ học cho rằng vì vần M dễ nói nhất, nên trẻ nhỏ dùng vần ấy để gọi Mẹ.

Chúng tôi không tin như vậy. Theo rõi rất nhiều trẻ nhỏ, con và cháu, khi chúng tập nói, chúng tôi chẳng thấy đứa nào bắt đầu bằng vần M, mà trái lại, rất nhiều đứa bắt đầu bằng vần B. Chính vì vậy mà chúng ta nói "Trẻ con bi-ba, bi-bô, bập-bẹ tập nói." Quả thực, người vùng Sơn Tây gọi Mẹ là Bầm, là Bu. Họ nói: "Chết bỏ Bu."

Thêm một nhận xét thứ hai: Trong khi người Cổ Ai Cập có bà Khnemu nặn ra người đầu tiên, chúng ta cũng có Bà Mụ nặn ra bào thai trong bụng mẹ. Từ việc nặn ra người đầu tiên đến việc nặn ra bất cứ người nào quả không xa nhau lắm. Do đó, để trả lời câu hỏi, chúng tôi tạm đưa ra một giả thuyết: Vần M của những tiếng có nghĩa là Mẹ phát xuất từ âm MU của Khnemu, từ Ai Cập tràn ra khắp thế giới.

Vì văn-hóa phát sinh từ một nơi, rồi lan rộng sang nơi khác, văn-hóa thường được hình dung như một cái cây - gọi là "Cây Văn-hóa" (Cultural Tree) - gốc ở một nơi, nhưng cành lá chĩa ra tứ phía, và hạt bay đi khắp nơi, có khi từ lục địa này sang lục địa khác.

Con người là "chiếc xe vận tải văn-hóa", nên văn-hóa di chuyển theo người. Sau đây là ba trường hợp điển hình:

1. Văn-hóa truyền bá vì giao-dịch thương-mại.
2. Có người "Đi Tìm Thầy học Đạo", hoặc tới một xứ lạ thấy điều gì hay, hoặc tưởng lầm là hay, mang về truyền bá trong nước.
3. Dân bị trị học văn-hóa của kẻ thống-trị.

Xin bàn về trường hợp 1 và 2. Vấn đề "học văn-hóa của kẻ thống trị" sẽ bàn về sau (Chương X và XI)
 
 

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-04 19:00:39Ngọc Lý>
.
I. Văn-Hóa Truyền Bá vì Giao Dịch Thương Mại

Thế kỷ 13, nhân dịp lui tới buôn bán với Nam Dương và Mã Lai, người Ấn mang Ấn Độ Giáo và Phật Giáo sang hai xứ ấy. Về sau, người Ả Rập nắm độc quyền về hàng hải trong nhiều thế kỷ liền, cũng nhân dịp chuyên chở hàng hóa, truyền bá Hồi giáo sang Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, và Chiêm Thành. Họ thường lui tới cửa bể Lạch Trường ở Thanh Hóa, nên mang cả chữ Tauh là tên cái thuyền đi biển của họ vào tiếng Việt.

Nhân dịp người Hòa Lan sang Nhật buôn bán, người Nhật vội vã học tiếng Hòa Lan, và sau một thời gian ngắn, cố gắng dịch sách Hòa Lan sang tiếng Nhật. Buổi đầu, chưa có tự điển, và chưa nắm vững tiếng Hòa Lan, họ gặp rất nhiều khó khăn, và thường dịch không sát nghĩa. Sau đây là một mẩu chuyện khá lý-thú:

Mấy người Nhật đang dịch một cuốn sách Hòa Lan, đột nhiên gặp chữ Godsdienst, không hiểu nghĩa, phải chạy vội xuống tầu Hòa Lan để hỏi. Gặp ngay một ông mục sư, hỏi "Godsdienst" là gì?" Ông mục sư mang thánh kinh ra giảng một thôi, một hồi. Nghe câu được câu chăng, anh chàng hiểu đại khái: "Đức Chúa Cha ở trên Trời, tạo ra loài người. Sau này Chúa Cha sai Con, là Chúa Jesus, xuống trần giảng đạo. Những lời Chúa Jesus dạy gọi là Godsdienst" Anh chàng lý luận: "Chúa Cha sinh ra loài người, vậy ngài là Ông Tổ chúng ta. Chúa Jesus là Con Chúa Cha, thì phải gọi là Ông Tông. Vậy thì những lời "Ông Tông dạy" phải gọi là Tông Giáo. Anh là người đầu tiên lấy hai chữ Hán, TôngGiáo, ghép lại để dịch chữ Godsdienst của Hòa Lan, tương đương với chữ Religion của Pháp và của Anh.

Lúc đầu đọc giả không ai hiểu "Tông-Giáo", tức là "Lời dạy của Con Ông Tổ" là cái gì, nhưng về sau, trực-tiếp đọc sách Tây, họ mới vỡ nghĩa: Tông Giáo là Tin Chúa, thờ Chúa, gia-nhập một hội thánh và chấp nhận sự chỉ đạo của một giáo-hội.

Chữ Tông trong Tông-giáo, Tông-chí, Lê Thánh Tông, sau này đọc trẹo thành Tôn, như chúng ta thường nói Tôn giáo, Tôn chỉ, Lê Thánh Tôn. Vì đọc sai nên có thể lầm với chữ Tôn trong Tôn trọng, Tôn kính, do đó có người lầm lẫn tưởng Tôn-giáo là "Lời dạy đáng kính ". Dễ lầm lắm, vì quả thật tôn giáo nào cũng có lời dạy đáng kính.

Họ cũng dịch chữ Proletariat là "Vô-sản". Đúng lý phải dịch là "Người làm thuê, làm mướn", vì Proletariat là người không có phương tiện sản xuất, như ruộng đất, nhà máy, phải đi làm thuê, bán sức lao động cho người khác. Dịch là "Vô sản", tức là người nghèo, "không có tài sản", làm cho nhiều người hiểu lầm "Vô Sán Chuyên Chính" là một "Chính thể độc tài do phường khố rách áo ôm cầm quyền." Kể ra cũng dễ lầm.

Chữ Communist, Communism, đồng căn với chữ Commune thường dịch là "Công Xã", như "Commune de Paris" (Ba Lê Công Xã), "Commune de Canton" (Quảng Châu Công Xã). Mục đích tối hậu của chủ thuyết Mác Lê là thành lập Công Xã, do công nhân và nông dân quản trị, một việc mà họ Mao đã táo bạo dám làm, nhưng vì thất bại thảm hại nên Đặng Tiểu Bình phải cấp tốc giải tán. Liên xô và Việt Cộng không dám bắt chước, vẫn dẫm chân ở giai đoạn "Hợp Tác Xã". Mặc dầu Công xã chỉ là một ảo tưởng, chữ Communism vẫn phải dịch là "Công Xã Chủ Nghĩa" mới đúng, vì đấy là ý nguyện của Marx và Lenin. Dịch là "Cộng sản" tức là "Tài sản chung" làm cho nhiều bần cố nông hiểu lầm là "Sung công tài sản", bất cứ tài sản nào. Sự thực, ít nhất là trên lý thuyết, Marx chỉ chủ trương "Sung công phương tiện sản xuất" như ruộng đất và nhà máy.

Tóm lại, chúng ta nên hiểu Religion, Culture, Proletariat, Communism, theo nghĩa quốc tế, không nên hiểu theo nghĩa hai chữ Hán mà người Nhật hoặc người Tàu đã dùng để dich. Nếu tìm nghĩa chữ Văn-Hóa người Tàu mới đặt ra để dịch chữ "Culture" bằng cách suy diễn Văn là thế này, Hóa là thế kia, thì chẳng khác tìm hiểu Hỏa Xa là cái gì bằng cách phân tích Hỏa là "Lửa", Xa là "Xe", rồi kết luận Hỏa-xa là "Xe chạy bằng lửa ".

Nhắc đến sự sáng suốt của người Nhật, sớm nhận thấy cái hay của người khác và cố công học cho kỳ được, chúng ta không khỏi bùi ngùi khi nghĩ đến thái độ thiển cận của giới sĩ-phu nước Ta trong mấy thế kỷ gần đây. Hồi người Hòa Lan sang Nhật, họ cũng tới Hội An (1607), và Hưng Yên (1636), buôn bán với cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Nhưng Chúa Nguyễn cũng như Chúa Trịnh chỉ khẩn khoản yêu cầu họ bán súng đạn để bắn giết lẫn nhau. Phố Hiến là nơi người Hòa Lan thiết lập thương cuộc trở thành một thị trấn sầm uất, "Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Buôn bán phồn thịnh như vậy, thì thế tất phải có người Hòa Lan biết tiếng Ta, và người Ta biết tiếng Hòa Lan, nhưng theo chỗ chúng tôi biết, không có tài liệu nào chứng tỏ người Việt lưu tâm nghiên cứu tới nền văn-hóa kỳ lạ của Tây phương, do người Hòa Lan mang tới. Lý-do: Sau khi đưa Khổng giáo lên địa vị độc tôn, Tàu và Ta ngủ mê Giấc Ngủ Giáo Điều *, trong khi Nhật bản không độc tôn học thuyết nào cả nên vẫn còn thức tịnh nhận thấy những điểm hay của văn-hóa Tây phương và cố gắng nghiên cứu.

_____________

* Triết gia Đức Christian Wolf (1679 - 1754) là người đầu tiên dùng chữ "Giấc Ngủ Giáo Điều" (Dogmatishe Slummer) để tả "Giấc ngủ" của Âu Châu trong Thời Kỳ Đen Tối (Dark Age).
 

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-12 07:04:11Ngọc Lý>
 
II. Tìm Thầy Học Đạo



Trong lịch sử Đông, Tây, thường có người nghe nói ở một chân trời góc biển nào đó có điều gì mới lạ, một phép kỳ diệu, không quản đường xa vạn dặm, quyết tâm trèo đèo lội suối tìm đến nơi, xem xét và học hỏi. Họ đi tìm "Thầy" học "Đạo", nhưng tùy theo sự hưởng ứng của người trong nước, và tùy theo cái Đạo họ học được, hay hay dở, công lao của họ thường mang lại 4 kết quả khác nhau:

1. Học được cái hay, mang về nước truyền bá, được nhiều người hưởng ứng. Đấy là trường hợp mấy thầy Đường Tăng, sang Ấn Độ nghiên cứu Phật Giáo và thỉnh Kinh Phật mang về Trung Quốc.

2. Đi xa, nhìn thấy nhiều cái hay, về nước đề nghị bắt chước, nhưng triều đình và giới sĩ phu trong nước u mê, không chịu nghe. Đấy là trường-hợp Nguyễn Trường Tộ.

3. Đi xa, trông thấy nhiều cái hay, về nước kể chuyện, nhưng người trong nước không tin, cho là "đi xa về nhà nói phét". Đấy là trường hợp Marco Polo người Ý, sang Trung Quốc về đời Nguyên và được Hốt Tất Liệt tin dùng. Tuy nhiên về sau, nhờ có tinh thần cởi mở của Phong trào Phục-Hưng Văn-Hóa (Renaissance), dư luận cũng công nhận Marco Polo nói đúng. Chính nhờ có Marco Polo mà sau này Columbus mới quyết chí tìm đường biển để sang Ấn-Độ. Như vậy là Marco Polo đã gián tiếp khuyến khích Columbus vượt biển và tìm thấy Mỹ Châu. Trong một chuyến đi thuyền trở về Ý, Marco Polo ghé Qui Nhơn, lúc bấy giờ thuộc Chiêm Thành, người Tàu vẫn gọi là Thị-Nại.

4. Để giải quyết khó khăn trong nước, một số người cất công đi "Tìm Thầy Học Đạo", nhưng không may gặp phải "Thầy dốt, Đạo xằng" mà cứ tưởng là hay, mang về phổ biến trong nước, gây nên tai họa tầy trời. Đấy chính là trường hợp rủi ro của ông Nguyễn Ái-Quốc, sang Liên xô học Đạo Mác-xít vớit Thầy Xít-ta-lin.

Trường hợp Thầy Đường Tăng, Nguyễn Trường Tộ, và Marco Polo, sử sách đã chép đầy đủ, chúng tôi khỏi phải kể lại. Ở đây, chúng tôi xin bàn thêm về sự hối hả của những người thiếu suy xét, hấp tấp vớ phải "Thầy dốt, Đạo xằng".

Sau khi Khổng Giáo được tôn làm "Quốc-giáo", và nắm được địa vị "độc-tôn" ở Trung quốc về cuối đời Đường, và ở Việt Nam về giữa đời Trần, Tàu và Việt Nam bắt đầu có tinh thần bài ngoại, kỳ thị văn hóa, nhất thiết không chấp nhận bất cứ điều gì không có trong Ngũ-Kinh, Tứ Thư. Họ trở thành cố chấp, thủ cựu, và phản tiến bộ. Họ ngủ "Giấc ngủ giáo điều Tống Nho", chẳng khác gì bây giờ Việt Cộng đang ngủ "Giấc ngủ giáo điều Mác-xít".

Sang đầu Thế kỷ 20, sau khi tinh thần Tống Nho đã tỏ ra lỗi thời và bất lực trước sự đe dọa của liệt cường Tây phương, một số thanh niên Tàu và Ta sang Liên xô "Tìm Thầy học Đạo", học được chủ nghĩa Mác-xít mới lạ, tin rằng chủ nghĩa ấy sẽ là một lợi khí sắc bén để đánh bại Thực Dân Đế Quốc. Vì quá hăng say, vội vã, họ đã phạm ba sai lầm vô cùng nghiêm trọng:

a. Cộng Sản mới chiếm được chính quyền ở Nga có mấy năm, chưa đủ thời gian để chứng tỏ chủ nghĩa Mác Lê có thực sự mang lại ấm no cho nhân dân hay không. Giá họ thận trọng hơn một chút, họ phải chờ ít năm, xem hay dở thế nào đã.

b. Họ đi tìm cái mới, nhưng trước khi ra đi, họ đã học ít nhiều Hán học nên đã bị tiêm nhiễm bệnh Giáo điều của Tống-Nho. Nguyễn Tất Thành có học trường Pháp Việt nhưng chưa tới mức thấm nhuần được Tinh Thần Hoài Nghi (Skepticism) và Tinh Thần Duy Lý (Rationalism) của Tây phương. Vì vậy nên khi vớ được sách Mác xít để đọc, cũng Tận Tín, chẳng khác mấy thế hệ trước học Tống Nho. Những người như Nguyễn Ái-Quốc hay Mao Trạch Đông làm một việc rất giản dị: Họ "bẩy" ông Khổng của Tống Nho đi, và đặt ông "Thánh Mác" vào chỗ. Thay vì "Khổng viết", họ nói "Mác đã nói". Nội dung trái ngược, nhưng tinh thần giáo điều mạnh hơn mọi phần.

c. Vì quá hối hả, muốn đánh bại thực dân đế quốc ngay tức thì, với bất cứ giá nào, họ nuốt chửng toàn bộ học thuyết Mác Lê. Tin theo học thuyết ấy, họ sẵn sàng sử dụng bạo lực "làm phương tiện đấu tranh", vì bạo lực được coi là lẽ tất nhiên trong Định luật thứ 3 của Duy Vật Biện chứng, tức là Hủy Thể của Hủy Thể, và Duy Vật Biện chứng là "Định Đề của học thuyết Mác xít". Định đề là một mệnh đề không có chứng minh.

Họ không biết, nếu dùng lâu ngày, phương tiện (means) có thể bị lầm lẫn thành cứu cánh (end), nên họ cho rằng dùng phương tiện nào cũng được, miễn là đạt tới thắng lợi cuối cùng. Họ không dè một chế độ xây-dựng bằng bạo lực, thế tất sẽ trở thành bạo tàn. Khởi thủy cứu cánh của họ là Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nhưng vì sử dụng bạo lực làm phương tiện, chế độ của họ trở thành độc tài, quốc gia không độc lập, con người không có tự do, và nhân dân không có hạnh phúc.


________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-13 06:39:02Ngọc Lý>
.
Cẩm Nang Thần Kỳ



Năm 1960, nhân dịp sang Liên xô để ăn mừng "thất tuần đại khánh", ông Hồ có viết trên tờ Pravda một bài, trong có một đoạn như sau:

"Lúc đầu, chính là Chủ-nghĩa Yêu Nước, chứ chưa phải Chủ-nghĩa Cộng Sản đã khiến tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc Tế Thứ Ba. Nhưng từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác Lê, vừa làm công việc thực tế, dần dần tôi hiểu được chỉ có Chủ Nghĩa Xã hội, Chủ Nghĩa Cộng Sản mới giải phóng được những dân tộc bị áp bức và lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ."

"Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc có chuyện Cẩm Nang Thần Kỳ. Hễ gặp khó khăn thì chỉ việc mở cẩm nang ra là biết cách xử trí. Đối với Cách mạng Việt Nam và Dân tộc Việt Nam, Chủ nghĩa Mác Lê không những là một Cẩm Nang Thần Kỳ, mà còn là Mặt Trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, đưa tới chế-độ xã hội và chế-độ cộng-sản."

Có hai câu hỏi cần nêu lên:

- Tính đến năm 1960, năm ông Hồ viết bài báo kể trên, ông đã làm "việc thực tế" được 40 năm, mà ông vẫn tin như "đinh đóng cột" rằng phải có lý thuyết Mác Lê mới giải phóng nổi những dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ. Trong suốt 40 năm, ông không mở mắt nhìn xem chủ-nghĩa Mác-Lê đã giải phóng được những dân tộc nào, và không tự hỏi: Tại sao không có chủ nghĩa Mác-Lê, mà Ấn-Độ, Algeria, Nam Dương, Phi Luật Tân, và vô số các thuộc địa khác cũng vẫn thoát ách nô lệ của Thực dân Đế quốc?

- Ông Hồ nói ông rất thực tế, nhưng sao ông lại tin chuyện "Cẩm nang Thần Kỳ", biến hóa thần thông? Như vậy có khác gì mắc bệnh mà không đi thăm bác sĩ, cứ tin ma quỷ và cúng ma quỷ? Tai hại nhất là Ông Hồ chỉ biết ở Việt Nam và Trung quốc có chuyện "Cẩm Nang Thần Kỳ", mà không biết chuyện ấy xuất xứ từ Ấn Độ, có sự tích rõ ràng và chứa đựng ý nghĩa rất hay. Câu chuyện như sau:

"Vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn đêm ngày lo sợ, không biết lấy gì để chống đỡ, nếu chẳng may một ngày nào đó, nước láng giềng rất hùng mạnh mang đại đội binh mã sang xâm chiếm. Một hôm nhà vua mang vấn đề ra bàn giữa triều đình. Ông chiêm tinh, giữ chức cố vấn tối cao, hiến kế: "Bệ-hạ nên thân hành đến xứ Takasila, tìm một đạo sĩ trứ danh tên là Dissipa Moka, yêu cầu đạo sĩ ban cho một phép thần thông, vì ngoài phép thần thông, không có cách nào khác để kháng cự đoàn quân hùng mạnh của một nước lớn." Vua nghe lời, và một buổi tối trời, vua ra đi với 4 ông Tứ trụ và ông Chiêm Tinh. Bà Hoàng cũng xin theo.

Đường xa ngàn dặm, trèo đèo vượt suối cả tháng mới tới. Đạo sĩ ân cần tiếp đón, và khi phái đoàn cáo từ ra về, Đạo sĩ tặng Vua một chiếc túi gấm (cẩm nang), dặn Nhà Vua hẽ gặp hoạn nạn, chỉ việc mở túi ra là biết cách xử trí. Vua cảm tạ Đạo Sĩ và ra về.

Nhưng chẳng may, đi được nửa đường, phái đoàn bị lạc trong rừng rậm, loay hoay suốt mấy ngày mà chẳng tìm thấy lối ra. Lương thực mang theo đã gần cạn, và cơ nguy chết đói hiện ra trước mắt. Vua vấn kế ông Chiêm Tinh. Ông Chiêm Tinh nhắc Vua biết có sẵn "Cẩm Nang Thần Kỳ" trong tay, Vua hãy mở ra xem Đạo sĩ bảo phải làm thế nào. Vua mở cẩm nang ra. Quả nhiên thấy một miếng giấy Đạo sĩ đã ghi sẵn cách thức xử trí. Theo đúng lời chỉ dẫn của Đạo sĩ, sáu người đứng chụm lại. Bốn ông Tứ trụ đứng thành hình chữ nhật, Hoàng Hậu đứng giữa, Vua đứng một đầu, ông Chiêm Tinh đứng một đầu. Đứng vào vị trí rồi, tất cả sáu người đồng thanh hô câu thần chú: "Úm-ba-la, chúng ta thành cọp !" Trong nháy mắt, cả bọn hóa thành một con cọp khổng lồ. Vua thành cái đầu, bà Hoàng thành cái mình, bốn ông Tứ trụ thành bốn cái chân, và ông Chiêm Tinh thành cái đuôi. Cọp tức khắc vượt qua bụi rậm, tìm bắt hươu nai ăn thịt, vấn đề chết đói hoàn toàn giải quyết.

Nhưng khốn nỗi, một khi đã thành Cọp, phái đoàn mất hẳn nhân tính, quên mất trước kia họ là "người", là vua quan một nước nhỏ, cất công đi "tìm Thầy học Đạo", tìm phép thần thông để bảo vệ lãnh thổ quốc gia và hạnh phúc cho nhân dân. Cẩm nang rơi mất. Mà nếu còn, Cọp cũng không đọc được để biết cách trở lại làm người.

Dân trong nước cứ ngong ngóng chờ họ về, chẳng dè họ đã trở thành thú dữ, bắt muôn loài ăn sống nuốt tươi mà lấy làm mãn nguyện. Nếu Cọp lò mò về tới nước, chắc Cọp sẽ bắt thần dân ăn thịt cho thỏa thích, vì Cọp đã mất hết lòng yêu nước. Cọp chỉ còn một ý nguyện: "Làm Chúa Tể muôn loài."

Đúng vậy! Chỉ vì sử dụng cái "Cẩm Nang Thần Ký Mác-Lê" của "Đạo-sĩ họ Xít", mà ông Hồ đã hóa thành "Con Cọp Mác-Xít" quên mất trước kia là Nguyễn Ái-Quốc sang Nga tìm kế đánh đuổi thực dân, để mang lại ấm no cho dân tộc. Chẳng khác con cọp trong truyện, ông chỉ còn một ý-nguyện: Làm thế nào để Cộng Sản làm bá chủ thế giới?

Vì chỉ nghe nói có chuyện "Cẩm Nang Thần Kỳ", mà không biết sự tích của câu chuyện ấy, nên ông Hồ không lĩnh hội được lời răn quý báu trong sự tích. Lời răn ấy là: Trong khi theo đuổi một mục đích cao cả, chớ nên sử dụng phương tiện bất chính. Dù hữu hiệu đến mấy cũng chẳng nên dùng, vì trước sau phương tiện cũng sẽ trở thành cứu cánh.

Để tạm kết luận, xin có hai nhận xét:

- Mỗi lần gặp khó khăn, nên suy tính, đắn đo kỹ lưỡng để tìm cách đối phó, không nên đi tìm "Cẩm Nang Thần Kỳ" của bất cứ "đạo sĩ" nào. Một người nhẹ dạ làm hại cả nước.

- Văn-hóa là một món hàng trao đổi, vay mượn. Ai có gì hay thì chúng ta học, nhưng phải thận trọng: Chỉ học những cái hay, không học những cái dở, và không có gì dở hơn "Bệnh Giáo Điều".


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-24 04:14:46Ngọc Lý>
.
 
Chương III



NGHIÊN CỨU VĂN HÓA
___________________



Như đã trình bầy ở Chương I, Văn-hóa bao trùm tất cả, nên tùy theo khả năng và phương tiện, người nghiên cứu văn hóa nên cố gắng tham khảo toàn bộ kiến thức của nhân loại, nghĩa là học qua tất cả các bộ môn của Khoa Học Tự Nhiên và Khoa Học Xã Hội, không bỏ sót một bộ môn nào cả, dù bề ngoài có vẻ xa vời đối với văn-hóa. Không đòi hỏi phải học kỹ tới mức trở thành chuyên viên, chỉ cần học đủ để nắm vững những điểm chính yếu của từng bộ môn.

TOÁN HỌC


Đứng đầu là Toán Học, vì phải có căn bản về Toán mới thông hiểu được các bộ môn khác của Khoa học Tự Nhiên như Lý, Hóa, và Sinh-Học. Toán học cũng là một thú "thể thao", rèn luyện tinh thần "Duy Lý", biết cách lý luận phân minh, khúc triết, rành mạch, không lẫn lộn vấn đề nọ với vấn đề kia, không lệch lạc, hàm hồ, lộn xộn, chủ quan, hoặc lẩm cẩm. Hiện nay đa số người Mỹ, kể cả chính trị gia và bình luận gia, cứ lý luận lung tung vì, từ 40 năm nay, chương trình giảng dạy toán học ở cấp trung học bị coi nhẹ.

SINH VẬT HỌC và NHÂN CHỦNG HỌC


Kế tiếp là Sinh Vật và Cổ Sinh Vật học, Nhân chủng và Cổ nhân chủng học, với chủ đích nắm vững Tiến-hóa luận, vì có thông hiểu Tiến-hóa luận, mới tìm thấy lý do tại sao con người hãy còn "thú tính", ẩn núp trong tiềm thức, và tại sao loài người lại có những kẻ hung ác như Hitler, Stalin, Pol Pot...

Một hầu tính khá phổ biến

Một hôm chúng tôi đến thăm Bác Sĩ Paul MacLean, Giám đốc Phòng Thí Nghiệm Sự Phát Triển Tính Nết các Loài Vật (Laboratory of Brain Evolution and Behaviour) thuộc National Institute of Health của Chính Phủ Hoa Kỳ. Phòng Thí Nghiệm có cả một "Sở Thú", nuôi đủ các loài động vật có xương sống để nghiên cứu sự liên hệ giữa cấu tạo của bộ não mỗi giống vật và tính nết của giống vật ấy.

Ông MacLean dẫn chúng tôi tới xem một con khỉ đực thuộc loại Squirel Monkey (Saimiri Sciusreus). Ông lấy một chiếc gương, chìa cho con khỉ thấy hình của chính nó trong gương. Ông xoay gương đi, xoay gương lại, và mỗi lần con khỉ thấy hình của chính nó trong gương, nó tưởng đấy là một con khỉ đực khác, một "tình địch", nó bèn tức khắc dương "của quý" của nó, chĩa vào gương, có ý "trộ" tình địch trong gương, ra chiều "Tao sexy hơn mày". Ông MacLean dùng hiện tượng ấy để giải thích rằng những người hay văng tục là những người còn nhiều "hầu tính". Nhân dịp, chúng tôi hiến nhà bác học Mỹ một bằng chứng cụ thể hơn, và kể chuyện cho ông nghe:

Năm 1978, hồi Trung Cộng chưa dạy cho Việt Cộng một "bài học" quân sự, hai bên hãy còn trong giai đoạn "Đấu khẩu Chính trị" với nhau, cán bộ hai Đảng Cộng sản Tàu và Ta, đứng hai bên đầu cầu Móng Cái, chửi nhau om xòm. Rồi đùng một cái, như đã có chỉ thị từ trước, cả lũ cán bộ nam nữ Việt Cộng tụt quần, giơ "của quý" chĩa sang phía cán bộ Trung Cộng ở đầu cầu bên kia. Theo tạp chí Quê Mẹ, cuộc xung đột giật gân ấy - giữa hai nhóm người cùng tự xưng là đồ đệ của Cụ Mác - đã được truyền hình Pháp chụp và chiếu ở Paris.

Chúng tôi đã nghĩ đến, nhưng vì "quốc thể", không dám kể cho bác sĩ MacLean nghe chuyện ngày xưa trong thôn xóm, thường có những vụ đấu khẩu giữa hai bà láng giềng vì chuyện con gà, con ngóe "vi phạm lãnh thổ". Mỗi bà đứng một bên hàng rào, mồm chửi "Mày ăn ba vạn chín nghìn - bát nọ bát kia - của tao", tay vén váy vỗ bì bạch.

Một hành vi rất thông thường mà xã hội nào cũng có: Hai bạn trai-gái ngồi kề nhau. Chàng thò tay làm gì không biết, nàng gạt tay ra. Nếu nàng là con gái Việt Nam nàng sẽ mắng nhẹ "Đừng làm trò khỉ !" Khỉ có làm như vậy không, hình như chưa nhà bác học nào nghiên cứu.

Đúng như thuyết của ông MacLean, văng tục và chửu thê là một "hầu tính" còn sót lại. Trong xã hội chúng ta thường có những người Đ.M cái này cái kia luôn mồm. Họ thiếu lịch sự, thiếu văn-hóa, chưa học được chữ Lễ, chưa hoàn toàn thành Người theo đúng tiêu chuẩn của Khổng Giáo. Những dữ kiện kể trên chứng tỏ rằng mặc dầu tiến hơn loài khỉ rất nhiều, một số con người vẫn còn "hầu tính" ẩn núp trong tiềm thức.

Lịch Sự và Duyên Dáng

Về điểm này chúng tôi muốn nêu lên một sự khác biệt giữa Đông và Tây. Ở Tây phương đàn bà con gái thường sử dụng dục tình (sex) để khêu gợi đàn ông, ăn mặc nửa kín nửa hở, chẳng khác một người chứa nhiều châu báu trong tủ, mà cánh cửa tủ cứ để hé mở. Ngược lại, phụ nữ Á Đông bao giờ cũng ăn mặc kín đáo, chẳng cần sử dụng sex, vì họ có một lợi khí hữu hiệu hơn. Lợi khí ấy là Duyên.

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên


Bà Dương Quý Phi ngày xưa không đẹp, vì bà mập thù lù. Nhưng bà làm cho Vua Đường Minh Hoàng suýt mất ngôi, và mất mạng, chỉ vì bà có duyên. Ngắm bà nhẹ nhàng bước chân, nhà vua ca ngợi: "Mỗi bước chân bà đi trên sàn nở ra một đóa hoa!"

Duyên quả có lợi hại hơn sex và sắc đẹp, vì hai thứ ấy chỉ có một thời, và chỉ cám dỗ được giới thanh niên. Trái lại, duyên không bao giờ phai nhạt, và duyên chinh phục được mọi người - nam, phụ, lão, ấu - nghĩa là kể cả các phụ nữ khác. Ngày xưa, mấy "cậu cử" vào Huế "thi đình" thường mê mệt với mấy cô gái Huế hút thuốc lá "sâu kèn" ghé miệng xin "châu-thuốc". Gái Hà Thành nhan sắc, thanh lịch hơn, nhưng gái Huế có duyên mặn mà hơn, ăn nói thỏ thẻ như chim bồ câu.

Vua Maximilien II nước Áo, nói 8 thứ tiếng, đã phê bình: "Tiếng Pháp dùng để giảng bài, tiếng Y Pha Nho để cầu Chúa, tiếng Đức để hét với ngựa, và tiếng Ý để tình tự ". Bắt chước Vua Maximilien, chúng tôi cũng muốn nói: Giọng Bắc dùng để giảng bài, giọng Nam để hô hào quần chúng, giọng Nghệ để cãi nhau, và giọng Huế là giọng lý tưởng của đôi bạn tình nhân ngồi dưới ánh trăng.

Sắc đẹp là thừa hưởng của bố mẹ, tổ tông, và giống nòi, nhưng lịch sự, duyên dáng phải luyện tập mới có. Một dân tộc mà đàn bà lịch sự và duyên dáng là một dân tộc có văn-hóa cao, và văn-hóa càng cao bao nhiêu thì con người càng xa loài thú bấy nhiêu.

Trên đây, chúng tôi giới thiệu một "hầu tính" đặc biệt. Trong Phần II, chúng tôi sẽ trình bầy những thú tính khác đã và đang phá hoại nền văn-hóa của nhiều quốc-gia dân tộc.

________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-21 04:44:02Ngọc Lý>
 
TINH THẦN KHOA HỌC


Khoa học Tự nhiên giúp chúng ta hiểu biết về vũ trụ, về thiên nhiên, nhưng ngoài sự ích lợi ấy, người nghiên cứu Văn-hóa cũng nên dựa vào Khoa học Tự nhiên để phát triển Tinh thần Khoa học, nghĩa là:

Xây dựng kiến thức trên nguyên tắc hoàn toàn khách quan, bắt đầu từ việc nhận xét các hiện tượng, đến việc đặt vấn đề, rồi đưa ra một giả thuyết khả dĩ giải thích được tất cả mọi hiện tượng đã chiêm nghiệm và, nếu có thể, mang giả thuyết ấy ra thí nghiệm. Nếu thấy không đúng thì phải bỏ, hoặc nếu không hoàn toàn đúng thì phải sửa lại cho kỳ đúng. Đấy là kỷ luật của Khoa-học Thực-Nghiệm.

Nghiên-cứu Văn-hóa thuộc Khoa-học Xã-hội, không thí nghiệm được, nhưng phải chiêm nghiệm, nhận xét, và so sánh một cách hoàn toàn khách quan. Cũng phải đặt giả-thuyết để giải-thích mọi hiện-tượng đã chiêm-nghiệm. Không được phép tin những lý-thuyết mơ hồ, viển vông, thiếu chứng minh, và phản khoa-học.


PHONG-TỤC HỌC


Bước sang công việc Nghiên-cứu Văn-hóa, nên bắt đầu bằng Phong-tục học, vì phong-tục là một phần quan-trọng của Văn-hóa Cổ-truyền.

Nghiên cứu một số phong tục cổ truyền có thể giúp chúng ta hình dung được lề lối sinh hoạt của tiền nhân. Thí dụ: Mỗi lần chúng ta làm giỗ cúng thân nhân mới mất, chúng ta "cúng cơm", thổi bằng gạo tẻ, nhưng mỗi năm dân làng làm lễ cúng ông Thành-hoàng, bao giờ cũng "cúng xôi" đồ bằng gạo nếp. Tại sao? Tại vì lúc sinh thời, ông Cụ mà sau này được thờ là Thành-Hoàng chỉ ăn xôi. Hồi ấy các Cụ sống trên vùng đồi núi, ở Thượng-Du hay Trung-Du miền Bắc, và các Cụ trồng lúa ở các thung lũng rất phì nhiêu, có quá nhiều chất đạm (nitrogen), chỉ trồng được lúa nếp. Nếu trồng lúa tẻ, cây lúa sẽ bị "óp", ra rất nhiều lá, nhưng không ra hột. Mãi sau này, khi lưu vực Sông Nhị và Sông Mã bớt ngập lụt, mới trồng được lúa tẻ.

Hiện nay, những sắc tộc sống trên mạn ngược, như người Mường, Tày, vẫn ăn xôi mỗi ngày ba bữa. Năm 1982, người Hmong (Mèo) sang Hoa Kỳ tị nạn nhiều quá, ăn hết gạo nếp sản xuất tại Mỹ, nên phải nhập cảng gạo nếp của Trung-cộng mới đủ cho họ ăn.


PHONG TỤC ĐỐI CHIẾU



Tiếp theo là Phong-tục học Đối chiếu (Comparative Ethnology), để so sánh phong tục của Ta với phong-tục các dân tộc khác xem có điểm nào giống không. Môn học này có thể giúp chúng ta truy-nguyên Nguồn-gốc Văn-hóa, và một phần nào Nguồn-gốc Dân tộc.

Cho tới nay, nhiều người thường phạm một sai lầm căn bản:

Tin vào huyền thoại "Con cháu Ông Thần Nông", họ yên trí tổ tiên chúng ta là Tàu, hoặc là một trong các nhóm Bách-Việt, rồi học cứ lục lọi cổ thư Tàu để tìm nguồn gốc dân tộc (Sẽ trình bày ở Chương VI).

Giả dụ, nếu Pháp cai trị chúng ta thêm một nghìn năm, và cứ tiếp tục dạy chúng ta câu "Nos Ancêtres les Gaulois" thì có lẽ có nhiều học giả cũng lục lọi cổ thư Pháp để tìm hiểu thêm về những tổ tiên mơ hồ ấy. Thực sự đã có một ngữ học gia khẳng định rằng chữ Mẹ đĩ trong tiếng Ta phát xuất từ chữ Médis của người Tokharien, ở vùng Bretagne bên Pháp, và cũng là nơi phát xuất ra người Gaulois.

Nhận tổ tiên thống trị là tổ tiên của mình đã gây tai hại rất lớn cho tinh thần dân tộc. Lại cũng vì vậy mà lâu nay các học giả Việt ít để ý đến văn-hóa các dân tộc láng giềng, các sắc tộc thiểu số, mà họ coi là thấp kém, không đáng nhận làm bà con.

Một Định Luật Chung:

Tới đây chúng tôi xin mở một vạch ngoặc: Phong tục của một dân tộc cũng thay đổi trong thời gian, như cơ thể của một sinh vật trong giai đoạn trưởng thành, nên cả hai cùng chung một định luật: Trong lịch trình hình thành, mỗi sinh vật thường ôn lại lịch trình tiến hóa của giống nòi (Ontogeny recapitulates Philogeny).

Các nhà sinh-vật học thường dẫn chứng: Con cá sống dưới nước nên thở bằng mang. Khi cá bò lên cạn để biến thành các loài khác như loài bò sát, loài chim, loài có vú, mang biến đi, và phổi mọc ra.

Tuy nhiên, khi còn là bào thai, mỗi bào thai đều có 5 cái vạch ở mỗi bên cổ(gill slits). Ít lâu sau, những vạch mang ấy biến đi, rồi phổi mọc ra. Lối biến hóa kể trên gọi là Tiến-hóa thay thế (Evolution by substitution), nghĩa là một bộ-phận nào đó biến đi, trước khi được thay thế bằng một bộ phận hoàn toàn mới, hợp với hoàn cảnh sinh hoạt mới. Nhưng trong khi còn là bào thai, mỗi sinh vật vẫn "qua loa ôn lại" sự cấu-tạo cơ- thể của tổ tiên từ mấy triệu năm trước.

Di-tích Văn-hóa Ấn-Độ :

Vì chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn của Văn-hóa Hán-tộc, nên chúng ta yên-trí mọi phong-tục tập-quán của chúng ta đều phát-xuất từ Trung-quốc. Có nghiên-cứu Văn-hóa Ấn-Độ mới thấy rõ những phong tục đáng gọi là cổ truyền nhất đều phát xuất từ Ấn-độ. Việc ấy rất dễ hiểu, vì Ấn-độ có văn-minh sớm ngang với Ai-Cập, trước Trung Quốc 2, 3 ngàn năm.

Có thể từ Ấn-Độ truyền sang Trung Quốc, rồi như Phật giáo, từ Trung quốc truyền sang Việt Nam.

Sau đây là mấy thí dụ cụ thể:

1. Cách đây chừng 50 năm, bố mẹ thường đeo một cái kiềng vào chân đứa bé mới tập đi, có khi kèm thêm một cái lục lạc để nghe tiếng, biết nó đang ở đâu. Con gái thường để cái bờm, và con trai để hai trái đào. Nhưng lớn lên, chúng ta bỏ kiềng chân, bỏ bờm và bỏ trái đào. Con gái bắt đầu để tóc thề chấm ngang vai, đến tuần cập kê thì để tóc dài, vấn khăn, thò lò cái đuôi gà. Con trai thì cạo trọc đầu (vì chưa có tông đơ để hớt tóc), và sau đấy cũng để tóc dài, búi tó, và chít khăn.

Hiện nay ở miền Bắc Ấn Độ vẫn còn mấy bộ lạc mà già, trẻ, trai, gái, đều đeo kiềng chân, đàn bà để bờm, và đàn ông để trái đào suốt đời.

So sánh, chúng ta thấy những bộ lạc Ấn Độ cứ giữ nguyên những phong tục cổ truyền, như cá vẫn giữ mang, trong khi chúng ta bỏ phong tục cũ, theo thời trang mới. Nhưng chẳng khác các loài động vật có xương sống ở trên cạn vẫn có 5 cái vạch-mang để ôn lại quá khứ xa xăm của giống nòi, lúc nhỏ, chúng ta cũng đeo kiềng, để bờm, hoặc trái đào để nhắc lại truyền thống Ấn Độ. Phong tục đồ xôi cúng Thần cũng in hệt như vậy. Quá khứ vẫn nằm yên trong tiềm thức của dân tộc.

2. Để rước Thần, dân làng thường đặt bài vị của Thần trên một cái kiệu. Đi trước kiệu là cái Tàn, và hai bên kiệu là hai cái Tán để che nắng cho Thần ngồi trong kiệu.

Tán có hình quạt lông, nhưng to gấp đôi. Tàn giống cái lọng, nhưng may bằng nhiễu điều, nhỏ hơn, đường kính chỉ vào khoảng 70 phân. Xung quanh có tua-tủa dây thao đen. Cán dài chừng 2 mét, và phía trên cán có cái chóp dài chừng 20 phân.

Nếu chúng ta sang Cao-mên, rồi đi dần sang Thái Lan, Miến Điện, thì càng đi về phía Tây, cái chóp của cái Tàn càng dài hơn.

Sang tới Ấn Độ, thì cái chóp to và cao quá cỡ và cái Tàn rõ ràng là cái Linga (dương vật), và cái Tán là Yoni (âm vật). Người Ấn-Độ giữ nguyên-hình dương vật và âm vật vì họ thờ hai thứ ấy. Chúng ta không thờ hai "của quý" ấy, nên chúng ta chế biến cho khác đi, làm cho đẹp hơn và không "thô tục", vì Văn-hóa Hán tộc mà chúng ta đã hấp thụ chê bai việc ấy.

3. Còn nhiều phong tục như ăn trầu, nhuộm răng, ngồi xếp bằng, chít khăn, đóng khố,..., là phong tục Ấn-Độ, không phải phong tục Tàu.
 
 
 
______________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-21 04:49:41Ngọc Lý>
.
NGHIÊN CỨU THỔ NGỮ VÀ NGOẠI NGỮ

Vì tiếng nói là "chiếc xe vận tải văn-hóa" từ nơi này sang nơi khác nên người nghiên-cứu văn-hóa phải cố gắng học càng nhiều ngôn-ngữ càng hay. Nên bắt đầu từ gần đến xa, như tiếng Mường, tiếng Tày, thổ ngữ của người Thượng trên dãy Trường Sơn. Không có thổ ngữ nào quan trọng hơn tiếng Mường, vì đấy là tiếng của Nguyễn Kim, Lê Lợi, Đinh Tiên Hoàng, và Bà Triệu, nghĩa là Tiếng Việt Nam Cổ, mọi người đều nói cách đây mấy thế kỷ. Sau đấy là tiếng Tày, cũng gọi là tiếng Thổ, vì lẽ Tiếng Kinh, tức là tiếng nói ở kinh-thành, là sự pha trộn tiếng Mường và một ít tiếng Tày, với một số lớn tiếng Hán-Việt.

Sau đấy là những thổ ngữ trên dãy Trường Sơn, tiếng của "Người Thượng" vì trước kia chúng ta cũng là một trong số các sắc tộc "Thượng" đi dần từ miền Nam lên. Chúng ta chỉ khác họ ở điểm chúng ta dẫn đầu, mà vì dẫn đầu nên đụng chạm với văn-hóa Hán tộc trước nhất.

Sau cùng là ngôn-ngữ các dân tộc láng giềng như Lào, Mên, Mã Lai, Miến Điện, Phi Luật Tân,... , tất cả đều có liên hệ xa gần với tiếng Ta.

Là người Việt Nam, chúng ta cần phải biết ít nhiều chữ Hán, vì lẽ trong tiếng Ta có pha lẫn quá nhiều chữ Hán. Trong khi học tiếng Hán, nên để ý rằng giọng Hán-Việt và giọng Quan-Thoại (bây giờ gọi là giọng Phổ-thông) khác nhau rất nhiều.

Sự thể kể trên chứng tỏ sự cần thiết phải biết tiếng Mường, tức là Tiếng Việt Cổ và biết đọc chữ Hán, vì các đại-học Tây phương đều có lớp dạy chữ Hán, và tiếng Tàu đọc theo giọng Bắc Kinh.

KHẢO CỔ HỌC


Khảo cổ học là một bộ môn rất cần thiết cho công cuộc đi tìm nguồn gốc văn-hóa dân tộc. Thí dụ: Nhờ có Ông Orlov Jansé tìm được trống đồng ở Đông Sơn, và công cuộc tìm kiếm cổ vật của nhiều nhà khảo cổ khác, chúng ta mới có ý thức khá rõ ràng về nền văn-hóa cổ xưa, cách đây mấy ngàn năm. Nhưng xin có mấy nhận xét:

a. Chúng ta có trống đồng, và trống đồng Ngọc Lữ của chúng ta đẹp nhất. Nhưng vì văn hóa không bị giới hạn trong biên giới của một quốc-gia, nên chúng ta không nên khẳng định rằng chỉ có chúng ta có trống đồng và Văn-hóa Đông Sơn. Thực ra, Văn-hóa Đông Sơn chỉ là một nhánh của Văn-hóa Đông Dương (Indochinese Civilization) bao trùm Bắc Thái, Bắc Lào, Bắc Việt, mà giới Khảo cổ học và Tiền sử học coi là lâu đời và giá trị ngang với các nền Văn-hóa Cổ Ai Cập, Harrapa (Bắc Ấn), Văn-hóa Lưỡng-hà, và Văn-hóa nhà Thương bên Tàu. Công việc khảo cứu nền văn-hóa này mới bắt đầu, và còn đang tiếp tục.

b. Nhìn vào những di vật của người xưa để lại, có thể nhận xét về kỹ-thuật và lề lối sinh hoạt của người xưa. Thí dụ: Nhìn vào những hình trong trống đồng có thể hình dung lối ăn mặc: đàn bà mặc váy theo kiểu Hawaì, đàn ông đội nón có cắm lông chim, như người Da Đỏ ở Mỹ châu, và đóng khố như người Thượng.

Có thể nhận thấy người trong trống đồng thổi cái khèn làm bằng quả bầu có cắm nhiều ống nứa dài, ngắn, mà hiện nay người Lào và người Mèo vẫn còn thổi. Cũng có thể thấy sự liên hệ giữa cái khèn ấy với cái khèn người Inca ở Nam Mỹ vẫn đang thổi.

Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy: Văn-hóa là của chung của Nhân loại, đã truyền bá từ lục địa này sang lục địa kia, từ xưa tới nay. Ngoài ra còn nhiều liên-hệ văn-hoá khác giữa người Việt chúng ta với các dân tộc ở Thái Bình Dương và các thổ dân Da Đỏ ở Mỹ châu.

c. Nhưng chớ nên nhìn vào hình trên trống đồng mà quả quyết rằng nó chứa đựng một triết lý nào đó, vì lẽ người đúc trống đồng là thợ thủ công. Chẳng khác thợ kim hoàn ngày nay, họ dựa vào những kiểu sẵn có, rồi tô điểm thêm, cố làm thế nào cho tuyệt đẹp. Họ chẳng phải là triết gia, mà cũng chẳng có triết gia nào đứng đằng sau họ, vẽ họa đồ cho họ làm theo. Không nên suy diễn lung tung. 

 
SỬ HỌC


Mục đích của việc Nghiên-cứu Lịch-sử là học những bài học thuộc về quá khứ để rút kinh nghiệm cần thiết cho tương lai, nên học Lịch sử cần phải tìm hiểu nguyên nhân của mọi sự việc. Thí dụ:

1. Đọc Sử thấy chúng ta đã chiến thắng Mông Cổ. Nhưng cần phải tìm hiểu lý do tại sao Việt Nam là một nước nhỏ bé lại thắng một đế quốc rộng lớn và hùng mạnh như Đế quốc Mông Cổ.

2. Đọc Sử thấy chúng ta mất nước với Pháp. Việc cần thiết là phải tìm hiểu lý do tại sao Pháp ở bên trời Tây, chỉ mang một dúm quân sang, mà đánh bại chúng ta một cách dễ dàng. Có trả lời được những câu hỏi như vậy thì việc nghiên cứu Sử học mới thực sự có ích lợi.

Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam thường gặp mấy khó khăn như sau:

1. Điều rất tiếc là những Cuốn Sử, đặc biệt là Sử Tàu và Sử Việt Nam chỉ ghi chép những chuyện đã xảy ra, như Trận Bạch Đằng, Trận Đống Đa, ai được, ai thua. Không nêu lên những ưu-khuyết-điểm của đôi bên, nghĩa là tất cả những yếu tố quân-sự, chính-trị, kinh-tế, v.v... đã quyết định sự thắng bại. Vì quân sự, chính-trị, kinh-tế, v. v... đều nằm trong Văn-hóa, và có so sánh tình trạng văn-hóa của đôi bên mới tìm thấy nguyên nhân thắng hay bại của mỗi bên. Chẳng hạn: Chúng ta thắng Mông Cổ về Đời Trần, vì lúc ấy chúng ta có một nền văn-hóa lành mạnh, phong phú, và sau này, chúng ta thua Pháp vì văn-hóa của chúng ta lệch lạc, vua quan và giới sĩ-phu đang ngủ Giấc ngủ Giáo-điều Tống Nho. Có nhiều yếu tố khác, như bệnh kiết lỵ, bệnh sốt rét giết đỡ quân Nguyên, nhưng Văn-hóa lành mạnh vẫn là yếu tố quyết định.

2. Sử gia thường diễn giảng lịch sử theo quan điểm thiển cận của mình. Tỉ dụ:

a)- Các sử gia Việt Nam thiếu kiến thức về nhân chủng và phong tục học cứ yên trí xã hội và phong tục ngày xưa cũng y-nguyên như ngày nay. Họ quan-niệm về đời Hồng Bàng, tổ tiên chúng ta đã xài tiếng Hán nhiều như bây giờ. Họ nói các Hoàng tử và Công chúa đời Hồng Bàng đã có tên bằng chữ Hán, nhưng họ không biết về thời ấy Tàu chưa lập quốc, mà chữ tượng hình, viết vào cộm rùa cũng chưa có.

b)- Các sử gia không biết cách đây 2 ngàn năm, chúng ta còn theo chế-độ mẫu quyền. Vì tài liệu của Tàu không nói bà Triệu có chồng, nên mấy sử gia Việt Nam đoán đại Bà là gái chưa chồng. Lại cũng vì cảm thấy "xấu hổ cho nam giới" khi thấy Bà Triệu là người đàn bà thứ ba đứng lên phất cờ khởi nghĩa, nên họ cố ý hạ giá Bà bằng cách nói Bà là "một cô gái ngỗ ngược", can tội giết chị dâu, rồi sợ bị truy nã, phải chạy vào núi trốn, v.v... Hãy hỏi: Lăng của Bà ở trong xó núi, vậy còn phải chạy vào núi nào nữa? Mà truy nã thế nào được? Tàu đã làm gì có lắm công an mật vụ đắc lực như FBI của Mỹ?

Tóm lại, sử sách Việt Nam chép nhiều điều rất vô lý cần phải xét lại. Tây phương đã thẩm định sử liệu của họ, nhưng chúng ta cũng cần phải thẩm định sử liệu của chúng ta.

 
TRIẾT HỌC

Những bộ môn văn-hóa vừa kể trên, như phong tục, ngôn ngữ, lịch sử, và khảo cổ, là những môn nghiên cứu "lề lối sinh hoạt". Nhưng Văn-hóa bao trùm cả lề lối sinh-hoạt lẫn lề lối suy nghĩ, mà phần "suy nghĩ" lại quan trọng hơn cả phần "sinh hoạt", vì con người thường suy nghĩ trước khi hành động.

Nghiên cứu lề lối hoặc phương thức suy nghĩ và suy luận thuộc phạm vi "Triết học". Vì suy nghĩ dẫn đường cho sinh hoạt, như chiếc đầu tầu kéo cả đoàn tàu, nên Triết học là bộ môn quan trọng nhất. Cá nhân nọ hơn cá nhân kia, dân tộc nọ hơn dân tộc kia, chỉ vì suy nghĩ đúng hay sai, theo một triết học hay, hay dở. Do đó, không nắm vững Triết học, không thông hiểu được Văn-hóa.

Tuy nhiên, có một điều đáng chú ý: Hồi chúng tôi bắt đầu học triết học, sách vở và thầy giáo còn khuyên: Trước khi học khoa học, phải học triết học đã, vì triết học dạy cho khoa học cách thức lý luận. Vì tự ngàn xưa, triết học Cổ Hy Lạp đã phát huy được một lối lý luận rất độc đáo, gọi là Tam đoạn luận, đại khái như sau:

Đoạn 1: Đã là người, thì thế tất có ngày phải chết.
Đoạn 2: Tôi là người,
Đoạn 3: Vậy thì có ngày tôi sẽ chết.

Cả ngàn năm Triết học Tây phương hãnh diện là có Tam đoạn luận và đã chỉ đường cho khoa học. Đến thế kỷ 18, khoa học đột nhiên phát triển, mà chẳng hề sử dụng Tam đoạn luận của Triết học. Khoa học cũng lập ra nhiều phương pháp lý luận mà triết học chẳng hề biết. Thế là từ đầu Thế kỷ, riêng về phương pháp lý luận, Triết học phải cắp sách đi với Khoa học.

Chúng tôi thiết nghĩ: Chỉ học một mình Triết học, không đủ. Muốn nghiên cứu Triết học cần có căn bản khoa học. Cái đại họa của nhân loại hiện nay là Triết gia Karl Marx bóp đầu nặn ra một triết học, nhưng vì ông chỉ là chuyên-viên nghiên-cứu triết-học và thần-học, cả đời chẳng học khoa-học, nên triết-học của ông đầy tính chất phản khoa-học.

Do đó, chúng tôi xin thành khẩn khuyên các bạn trẻ một câu: Hãy học toán-học và khoa-học cho có căn-bản lý-luận vững vàng trước khi mang sách triết học ra đọc. Nếu không có sự thận-trọng ấy, rất có thể ngáp phải những triết học vô cùng nguy hại, chẳng khác gì ông Hồ đã ngáp phải triết-học Mác-xít.

Vì tầm quan-trọng đặc biệt của Triết-học và Ý-thức hệ, chúng tôi sẽ bàn riêng ở Chương XII. Quan trọng vì sự tranh chấp giữa Thế giới Tư bản và Thế giới Cộng sản, giữa chúng ta và Việt Cộng là một cuộc tranh chấp ý-thức hệ. Mà Ý-thức hệ hay, hay dở, đúng hay sai, tùy thuộc vào Triết-học phát sinh ra nó. Mà muốn xây dựng Triết-học, thì việc đầu tiên cần phải làm là Nghiên-cứu Văn-hóa, vì Văn-hóa là sự thể-hiện của Triết-học. Nếu không có Ý-thức hệ rõ ràng minh bạch, chúng ta không rõ Chống Cộng để làm gì? Chống Cộng cho ai? Chống Cộng không phải chỉ đơn thuần là "vác súng bắn chết Cộng Sản". Nếu chỉ có vậy thì chúng ta đã thắng Cộng Sản từ khuya.

Và muốn chiến thắng Cộng Sản thì việc cần làm trước tiên là xây dựng một ý-thức hệ Nhân-Văn, hợp với Văn-hóa Dân tộc, Văn-hóa Nhân loại, và không phản khoa-học như Ý-thức hệ Mác-xít.

Tóm lại, nghiên cứu Văn-hóa là công việc tối cần, nhưng Văn-hóa là một "con voi khổng lồ". Phải mở mắt nhìn toàn thể con voi. Không nên nhắm mắt sờ một bộ phận, rồi đoán phỏng, nói liều.


________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-25 10:07:50Ngọc Lý>
Chương IV


TẬN TÍN THƯ
___________




Như đã trình bày ở Chương trước, muốn nghiên cứu văn-hóa, phải đọc đủ loại sách, cổ - kim, đông - tây. Nhưng đọc bất cứ sách nào, người đọc cũng nên nhớ lời răn của Mạnh Tử. Ông nói: "Tận tín thư, bất như vô thư." Nghĩa là: "Thà không có sách, còn hơn (có sách để đọc rồi) nhắm mắt tin sách (Sách Mạnh Tử, Thiên Tận-Tâm).

Mạnh Tử đã phải cảnh cáo đệ tử của ông một cách gắt gao như vậy, là tại ngay từ thời ấy (thế kỷ 4 TTL) đã có bệnh "Tôn Sùng Kinh Điển", đã có nhiều người yên trí bất cứ điều gì đã chép vào sách là tất nhiên phải đúng. Họ không biết sách có thể chép sai vì vô tình hay hữu ý, có những chương, những mục hậu-thế ngụy tạo, và có những sách hoàn toàn giả mạo. Xin nêu lên một số trường hợp điển hình:



1. Sử Gia Bóp Méo Lịch Sử



Mạnh Tử nói ông đọc thiên Vũ Thành trong Chu Thư, tức là cuốn sử chính thống của nhà Chu, mà trong toàn thiên, ông chỉ thấy một đôi câu là đáng tin (còn tất cả đều là xuyên tạc). Kể chuyện vua Vũ nhà Chu mang quân sang đánh vua Trụ nhà Thương, sách Chu Thư chép: "Thoạt mới trông thấy đoàn quân của vua Vũ tiến đến, binh lính của vua Trụ trở giáo giết lẫn nhau, khiến máu chảy thành suối, làm trôi cả chày giã gạo."

Mạnh Tử phê bình là phi lý, không thể nào tin được. Ông không nói - hoặc giả có nói nhưng sách không chép - tại sao sử gia nhà Chu lại dựng đứng câu chuyện quân lính của vua Trụ "trở giáo giết lẫn nhau"? Cho rằng họ ghét vua Trụ vì vua Trụ độc ác như các sử gia sau này vẫn chép, nhưng ghét vua Trụ thì mang vua Trụ ra mà giết, tại sao lại chém giết lẫn nhau?

Ngẫm nghĩ một chút, chỉ một chút thôi, chúng ta cũng thừa biết sử gia nhà Chu xuyên tạc sự thực để kéo chính nghĩa về phe mình. Ý muốn nói: "Chúng tôi không chối cãi vụ tàn sát ghê gớm, làm máu chảy thành suối, nhưng vua Vũ của chúng tôi là một đấng minh quân, rất nhân từ đạo đức, chẳng hề ra lệnh cho quân lính của Ngài chém giết một cách quá dã man như vậy. Ngài chỉ mang quân đi hỏi tội vua Trụ gian ác, Ngài không có trách nhiệm gì về vụ tàn sát ấy. Hai bàn tay Ngài trắng tinh, chẳng dính một giọt máu."

Ngày nay chúng ta thừa hiểu đấy chỉ là cái thuật bóp méo lịch sử để "kéo chính nghĩa về phe mình." Theo giới nhân chủng học thì người Chu là một rợ du mục thuộc đại chủng tộc Arya. Thế kỷ 12 TTL, Thời Kỳ Băng Gía (Ice Ages) đã kết thúc, khí hậu ấm áp hơn, cỏ mọc tốt, hươu nai nhiều, và dân du mục trở thành hùng mạnh. Họ lại chế tạo được giáo mác và áo giáp bằng đồng, nuôi ngựa và dùng ngựa kéo chiến xa. Nhờ vậy, họ tràn xuống những vùng nông nghiệp, giết người cướp của. Trong khi người Arya từ các thảo mạc Đông Âu, tràn xuống Hy Lạp và Ấn Độ, thì người Chu ở Mông Cổ tràn xuống Thiểm Tây, Cam Túc, rồi tràn vào lưu vực sông Hoàng, là lãnh thổ của người Thương. Những người này - cũng gọi là người Ân - đã phát huy văn-hóa nông nghiệp, và đạt tới mức văn minh khá cao.

Không những người Chu chỉ chém giết người Ân làm cho "máu chảy thành suối, làm trôi cả chày giã gạo", mà vì họ là dân du mục, chỉ chăn nuôi, không biết làm ruộng, nên họ thả súc vật của họ tàn phá hết mùa màng của người Ân, đến nỗi người Ân phải bỏ nước chạy thoát thân. Có một nhóm sang đến Bắc Ninh, bị ông Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi.

Nói về cuộc đụng độ giữa đoàn quân của Vua Vũ nhà Chu và binh lính của vua Trụ nhà Thương, thì điều đáng tin hơn cả là: Vua Vũ là một nhân vật tàn bạo, chẳng kém Thành Cát Tư Hãn sau này, xua quân giết người Thương đến máu chảy thành suối, làm trôi cả chày giã gạo. Nhưng "được làm vua, thua làm giặc", kẻ chiến thắng bao giờ cũng tự nhận là "nhân nghĩa, đạo đức", đổ hết tội lỗi lên đầu kẻ chiến bại.

Nếu rõ tính chất phi lý của câu chuyện chép trong Chu Thư, Mạnh Tử đã cảnh cáo, không riêng gì đệ tử của Ông và người đương thời, mà còn nhắc nhở hậu thế phải coi chừng luận điệu tuyên truyền của bất cứ phe nào. Ngày nay chúng ta cần phải thận trọng hơn bao giờ hết, vì tuyên truyền đã trở thành một nghệ thuật tinh vi, và đã áp dụng kỹ thuật điện tử, làm cho nhiều người "chết đứng" vì nhẹ dạ mắc mưu tuyên truyền.

Xin kể hai trường hợp điển hình:

- Vào khoảng 1960, một Việt Kiều buôn bán giàu có ở Tân Thế Giới, tối ngày nghe đài phát thanh Hà Nội, nên quá tin, bán hết cơ nghiệp, mang gia đình về Bắc Việt. Về tới nơi mới biết dưới chế độ Cộng sản không có tự do kinh doanh. Tiêu dần hết tiền, bán xe hơi, bán đồ đạc, nhưng cuối cùng còn một cái radio không bán. Lấy búa đập tan. Vừa đập vừa rủa: "Chỉ vì mày mà tao khổ như thế này!"

- Hai anh em người Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan cũng trong tình trạng tương tự, nhưng thận trọng hơn một chút. Người em về trước, hẹn sẽ viết thư sang, kể rõ tình hình làm ăn sinh sống. Nếu quả tốt đẹp, thì người anh sẽ mang vợ con về sau.

Ít lâu sau, người em viết thư sang, nói: "Tình hình tốt đẹp vô cùng. Sau khi anh chị làm lễ cưới cho cháu, thì nên thu xếp về ngay." Người anh hiểu ý, không về nữa, vì đứa cháu nói trong thư mới lên ba.


______________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-26 10:53:40Ngọc Lý>
.
2. Triều Đình Xuyên Tạc

Ngày xưa Trung Quốc có Dịch Học, dựa trên thuyết Âm Dương, rất sát khoa học và có lẽ phát xuất từ Thuyết Nguyên Tử của Ấn Độ, nhưng sách vở về Dịch Học đã thất lạc hết, chỉ còn lại hình Bát Quái và 64 quẻ, tức là 64 cách sắp xếp Âm và Dương, như xếp 6 viên gạch, viên nọ chồng lên viên kia.

Trung Quốc cũng có Kinh Dịch, một tổng hợp của 12 cuốn sách bói của 12 môn phái lý số về đời nhà Chu, mà đúng lý phải gọi là Chu Dịch, như Cụ Phan Bội Châu đã đề tên sách của Cụ.

Thường có sự lẫn lộn giữa Dịch Học và Kinh Dịch, vì giới lý số mượn 64 quẻ của Dịch Học để bói toán, chẳng khác ngày nay nhiều người thường dùng 52 lá bài tây, và ngay cả truyện Kiều của Nguyễn Du để soạn may rủi.

Về sau, có lẽ từ đời Tống, vua chúa Tàu muốn có thày bói giỏi, có học thức, để bói cho vua nghe, như ngày nào nên xuất hành, về phương nào, tối nào nên động phòng với bà cung phi nào để sinh quý tử, nên nhét ba chữ "Khổng Tác Dịch" vào cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên, cốt ý đưa Kinh Dịch vào chương trình Khổng Giáo, khiến thí sinh cứ thế mà học, không hiểu cũng phải cố mà hiểu, vì tưởng thật đây là tác phẩm của "Đức Thánh Khổng", giảng về luân lý đạo đức, mặc dầu từ đầu đến cuối, toàn là giọng "lơ mơ" của thày bói, khác hẳn lời giảng rõ ràng, minh bạch của Khổng Tử trong Luận Ngữ.

3. Sách sai vì văn tự lộn xộn

Những triết gia thưở xưa, như Khổng Tử, Mạnh Tử, Phật Thích Ca, chỉ giảng dạy các đệ tử, thày trò đối đáp với nhau. Các Ngài không phải là nhà văn, ngồi giữa bốn bức tường, cắm cúi viết sách để xuất bản như các học giả hiện nay. Trong nhiều trường hợp, trò nêu câu hỏi, rồi thầy giải thích, hoặc giữa lớp học, hoặc trong khi thầy trò đang đi trên đường. Có khi Thầy đàm luận với một đệ tam nhân, trò chắp tay đứng gần, nghe câu được câu chăng, sau này chép vào sách.

Ngày xưa chưa có máy ghi âm, chưa có tốc ký, chưa có lối viết thảo để viết nhanh, và ngay cả lối khải thư tương đối gọn gàng như bây giờ cũng chưa có. Cách đây mấy ngàn năm mỗi chữ Hán còn là một "bức vẽ tượng hình", mất nhiều công phu và thì giờ mới "vẽ" được một chữ.

Tỉ dụ:

Mỗi lần thầy nói "Mã", trò phải nhanh tay vẽ cả một con ngựa, có đầu, có đuôi, có đủ bốn chân, có một con mắt, và vài sợi lông bờm. Không có lông bờm có thể là một con thú khác, không phải ngựa.

Mỗi lần thầy nói "Lật", trò phải cấp tốc vẽ một cây hạt rẻ, có thân cây, một rễ cái, hai rễ con, ba cành, mỗi cành có một quả, mỗi quả có 5, 6 hạt rẻ, và trên mỗi quả, vắt vẻo một chiếc lá.

Sau đây là lối viết chữ Hán qua các thời đại:

- Chữ của người Thương đặt ra và viết trên cộm rùa, trước thế kỷ 12 trước Tây Lịch... với hình vẽ ngoằn ngoèo.

- Chữ viết của Triều đại nhà Chu (thời đại Khổng Mạnh) từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 3 trước Tây Lịch ... còn rất tượng hình.

- Sau khi nhà Tần đã thống nhất văn tự (Thế kỷ 3 trước Tây Lịch)...

- Lối "Khải Thư" hiện nay...

(Tác giả có hình chữ Mã và Lật trải qua các giai đoạn, nhưng hiện thời máy scan của nrb bị hư nên chưa mang hình vào được, xin toàn phố vui lòng chờ !)

Nhìn vào lối viết về Thời Khổng Mạnh với chữ nghĩa còn lôi thôi rườm rà như vậy, chúng ta có thể đoán biết mỗi lần thầy nói một tràng dài, giỏi lắm trò chỉ viết được vài chữ, cốt ghi mấy ý chính, rồi về nhà, trông cậy vào trí nhớ, ngồi suốt đêm từ từ viết lại. Nếu nhớ sai, tất nhiên viết sai, mà hễ người đầu tiên chép thế nào thì người sau cứ "nguyên văn lai cảo".

Đây chỉ là giả dụ. Thực tế thì cả mấy chục năm sau, nhân gặp nhau để làm giỗ Thầy, các đệ tử mới bảo nhau ai nhớ được Thầy đã nói gì thì chép lại thành sách. Những lời kể lại của mỗi đệ tử sau này là một "Chương" trong sách Luận Ngữ, còn truyền lại cho đến bây giờ.

4. Sai vì tam sao thất bản

Cứ xem Truyện Kiều, Nguyễn Du mới soạn cách đây hai trăm năm mà bây giờ đã có mấy chục bản khác nhau, thì đủ hiểu kinh điển của Khổng giáo, cách đây trên 25 thế kỷ chẳng khỏi sai lại rất nhiều. Các cụ thường nói: "tam sao thất bản", nghĩa là chỉ chép đi, chép lại ba lần là đã sai hẳn đối với nguyên bản, mà kinh điển Khổng giáo có lẽ đã chép đi, chép lại mấy trăm lần.

Trong nhiều trường hợp "thợ chép" vô tình chép sai, cũng như ngày nay thợ in xếp lầm chữ, khiến đôi khi người đọc phải đoán mới hiểu. Chữ quốc ngữ gồm có 25 mẫu tự Latin rất khác nhau, mà thợ in còn lầm lên lầm xuống, chẳng trách người xưa chép chữ Hán còn lầm nhiều hơn. Nhiều chữ có nghĩa khác nhau một trời một vực, mà viết thì gần giống nhau như trứng gà, trứng vịt. Hơn nữa, ngày xưa chưa có kính lão, những thợ chép cao niên thường "trông chữ Tác ra chữ Tộ", và chép chữ Tộ thay vì chữ Tác.

Từ ngày có máy in, tình trạng khả quan hơn, nhưng nhiều nhà in không có đủ 10 ngàn chữ chứa trong 10 ngàn hộp, nên thường xảy ra nạn thiếu chữ. Trong trường hợp ấy người thợ in có thể tự ý thay thế một chữ họ không có, bằng một chữ đồng âm, rồi để người đọc đoán lấy nghĩa. Bây giờ có computer, muốn "chế" ra chữ gì cũng được nên không có nạn ấy nữa.


5. Một chữ, hai nghĩa: "Thương Nhân"

Đường Thi có câu:

Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang, do xướng Hậu Đình Hoa

Hỏi Cụ đồ: Thương nữ là gỉ?

Chiếu theo sách, Cụ đồ giảng: Thương là buôn bán. Thương nhân là lái buôn. Thương nữ là con gái đi buôn.

Hỏi thêm: Tại sao con gái đi buôn lại ca hát ở tửu điếm?
Cụ đồ bảo: Tại mấy cô ấy buôn son bán phấn.
Hỏi tiếp: Tại sao mấy cô buôn son bán phấn, tức là "gái mãi dâm" lại có "hận vong quốc"? Các cô ấy mất nước với ai? Từ bao giờ?
Sách không giảng nên Cụ đồ quát: Hỏi gì mà hỏi lắm thế?

Không phải chỉ có Cụ đồ Việt Nam lúng túng, mà tất cả những người Tàu chúng tôi hỏi đều lắc đầu. Lý do là tại chữ thương có hai nghĩa khác nhau.

a) - Người thuộc chủng tộc Ân, thành lập triều đại nhà Thương, ở lưu vực Sông Hoàng từ Thế kỷ 16 trước Tây Lịch.

b) - Nghề buôn. Thương nhân là người đi buôn.

Tại sao một chữ mà có 2 nghĩa khác nhau?

Tại vì sự thể như sau: Theo nguyên nghĩa "Thương nhân" là "Người thuộc chủng tộc Ân", những người đã lập nên một nước, có triều đại thường gọi là Nhà Thương. Do đó, lúc đầu, "Thương nhân" có nghĩa là "Dân của nước Thương, của Triều đại Nhà Thương".

Người Thương, tức là "Người Nước Thương", đã phát triển văn hóa nông nghiệp, nghĩa là đã định cư và khai thác ruộng đất. Thế kỷ 11 trước Tây Lịch, họ bị người Chu là rợ du mục từ Thiểm Tây tràn vào, cướp nước và giết họ, nhiều đến nỗi "máu chảy thành suối làm trôi cả chày giã gạo" Hơn nữa, vì người Chu là dân du mục, chỉ sống về chăn nuôi, không làm ruộng, không công nhận tư hữu tài sản về ruộng đất, nên thả dê, bò, phá hoại mùa màng của người Thương.

Người Thương phải chạy thoát thân. Nhiều nhóm chạy bằng thuyền sang Đài Loan, hoặc dọc theo ven biển, sang tới California và Guatemala. Người ta biết như vậy, vì các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở bờ biển California và Guatemala những tảng đá hình tròn, to như bánh xe hơi, ở giữa có khoét lỗ tròn, mà người Thương dùng để neo thuyền. Vì ra đi tay không, người Thương phải kiếm sống bằng cách đi chợ nọ, chợ kia, buôn bán, kiếm chút tiền lời.

Vì vậy nên chữ "Thương nhân", nguyên nghĩa là "người nước Thương", về sau có nghĩa là "lái buôn". Cũng như chữ Juif của tiếng Pháp, nguyên nghĩa là người Do Thái, sau này lại có nghĩa là "người bủn xỉn", vì lẽ họ là những người mất nước, mất cơ nghiệp, phải di tản khắp nơi, nên phải ăn tiêu dè xẻn. Họ không xài lớn như nhiều người Việt tị nạn ở Mỹ, vì họ không quên "vong quốc hận".

Trong khi đàn ông Thương phải ngược xuôi buôn bán, đàn bà con gái phải đi làm "gái bar", ca hát ở mấy tiệm rượu, để kiếm thêm chút đỉnh góp vào quỹ gia đình, nuôi con cái. Về đời Đường, người Hán chưa có chủ trương cố tình "Hán hóa" các sắc tộc phi Hán, nên người Thương còn được coi là một sắc tộc riêng biệt, và chữ Thương nhân còn hiểu theo nguyên nghĩa: Người thuộc chủng tộc Ân, đã lập nên triều đại nhà Thương.

Đỗ Mục, tác giả bài Đường thi kể trên dùng chữ "Thương nữ" với nghĩa "Cô gái thuộc chủng tộc Thương". Ông có ý chê mấy cô không nhớ nhục mất nước, và lòng hận thù người Chu, nỡ mang nhan sắc và giọng ca, hát, vào những bài ẻo lả như bài Hậu Đình Hoa để mua vui cho mấy chú Hán tộc, con cháu người Chu cướp nước. Có hiểu chữ "Thương" theo nguyên nghĩa mới hiểu tại sao Đỗ Mục lại chê mấy cô đã "quên vong quốc hận".

Sau này, tự điển Tàu chỉ giảng Thương nhân là "lái buôn", bỏ hẳn nghĩa "Thương nhân là người thuộc chủng tộc Thương", vì người Hán muốn xóa nhòa cái tội đã cướp nước, và đã tàn sát người Thương. Chỉ vì tự điển Tàu bỏ hẳn nghĩa cũ, mà các thày đồ Ta đâm ra lúng túng.

________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-27 03:26:53Ngọc Lý>
.
Như đã trình bầy ở trên, hồi người Chu tràn vào lưu vực Sông Hoàng, họ chém giết người Thương nhiều đến nỗi "máu chảy thành suối làm trôi cả chày giã gạo". Trong khi nhiều nhóm chạy bằng thuyền ra biển, thì một nhóm chạy bộ sang nước Ta. Nhóm này đụng độ với ông Phù Đổng Thiên Vương, và chúng ta gọi họ là "Giặc Ân", vì sau khi mất nước, mất triều đại, người Thương trở lại là "Người Ân" [Aryan]. Có sử gia ngờ "Giặc Ân là quân đội nhà Thương", nhưng Cụ Trần Trọng Kim không đồng ý. Cụ viện hai lẽ:

a. - Từ lưu vực Sông Hoàng đến ta xa quá, không thể nào hành binh nổi.

b. - Và Sử Tàu (tức Sử của nhà Chu) không chép.

Dại gì mà họ chép. Theo thiển ý của chúng tôi, "Giặc Ân" không phải là quân lính của triều đình nhà Thương, cử đi đánh nước Ta trong khi nhà Thương còn nắm chính quyền, mà "Giặc Ân" chỉ là tàn quân và thường dân người Ân di tản về phía Nam, chẳng khác nào quân đội và thường dân Tàu di tản sang Đài Loan, sau khi Trung Cộng toàn thắng ở lục địa. Mà hiện nay, vẫng còn toán quân của Quốc Dân Đảng Tàu chiếm cứ một vùng ở phía Bắc Miến Điện.

Nhưng người Ân không chạy một lèo từ lưu vực Sông Hoàng sang Bắc Việt - không ai có hơi sức đâu mà chạy dài như vậỵ Họ đi từ nơi này sang nơi khác, nhóm đi trước bị nhóm đi sau thúc, và nhóm sau cùng bị người Chu đánh tập hậu. Có lẽ phải mấy chục năm, nhóm đi đầu mới sang đến Bắc Ninh và bị ông Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi.

Về điểm người Thương là một chủng tộc riêng biệt, đã mất nước với nhà Chu, và sau đấy đã di tản ra khắp nơi, nên có hai điều đáng chú ý:

a) - Cho đến ngày nay, người Thương vẫn tẩy chay văn hóa Hán Tộc, không cho con cái đi học để mong làm quan, phục vụ chính quyền của người Hán, mà chỉ học đủ chữ để biên chép sổ sách, rồi kế nghiệp buôn bán của ông cha. Trong khi người Hán xâu xé, đấm đá nhau, người Thương rất đoàn kết, có tinh thần tương trợ cao độ. Họ cũng rất linh động, không giáo điều, đề cao chữ TÍN, nên tới đâu cũng nắm vững kinh tế và tài chính, in hệt người Do Thái, ngoại trừ một điểm: họ không can thiệp vào chính trị nơi họ ngụ cư. Sau đây là một giai thoại:

Vào khoảng 1925, hồi các quân phiệt Tàu còn đánh nhau lung tung, một hôm ký giả Albert Londres đến thăm thành phố Thiên Tân, vào giữa lúc ông quân phiệt đã cũ bỏ chạy, và ông quân phiệt mới chưa tới, cả một tuần lễ Thiên Tân không có người cai trị. Albert Londres vào một tiệm chạp phô hỏi ông chủ tiệm: "Trong những ngày không có chính phủ, có ảnh hưởng gì đến công việc làm ăn của ông không?" Chủ tiệm đáp: "Cái lị, puôn pán thì chỉ cần khách hàng, không cần chính phủ hớ!"

Sang bên Ta, người Tàu thuộc Hán tộc nhanh chóng đồng hóa với chúng ta để trở thành người "Minh Hương", nhưng người Thương chẳng chịu đồng hóa với ai cả. Họ sống quây quần với nhau ở Chợ Lớn, cũng như ở Singapore, và các Chinatown ở Hoa Kỳ.

b) - Trong bốn giai cấp Sĩ, Nông, Công, Thương, người Hán đặt người Thương xuống hạng bét, có lẽ chẳng phải vì họ ghét con buôn gian dối, mà chính vì họ khinh người Thương là dân "mất nước". Trong cuộc xung đột Hoa Việt do người Pháp gây ra, năm 1924 ở Hải Phòng, có khách trú dám gọi người Việt là "Vong quốc quỷ".

6. Ngụy tạo để kiếm lời


Thế Kỷ 3 tr.TL, Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách. Tần đổ, Hán lên thay. Muốn phục hồi Khổng giáo, và các triết học khác của Tiền Nho, Hán triều đặt giải thưởng để khuyến khích những người đã dấu được cổ thư mang nộp triều đình. Nhưng vì giải thưởng quá hậu, nên nhiều kẻ gian manh thừa cơ làm sách giả mang nộp và lĩnh thưởng, chẳng khác những người hiện nay làm hàng mạo hóa mang bán, hoặc làm giấy bạc giả.

7. Vẽ Búa

Một họa sĩ thường ngao-du khắp đó đây, tìm phong cảnh đẹp để vẽ tranh. Một hôm, sau khi đã lưu lại nhiều ngày ở một địa phương, và được một phú ông tiếp đãi nồng hậu, họa sĩ tặng chủ nhân một bức tranh tuyệt đẹp. Phú ông treo tranh giữa nhà, và khách đến xem ai cũng tấm tắc khen ngợi. Bức tranh tả một người tiều phu, hạ gánh củi xuống bên đường, ngoảnh nhìn khu rừng ở phía xa, trong buổi hoàng hôn, mặt trời xế núi. Người gánh củi có vẻ đăm chiêu, lo ngại.

Trong số những người xem tranh có người phê bình: "Anh chàng lo âu vì không hiểu ngày mai, mang củi ra chợ bán, có kiếm đủ tiền đong gạo, nuôi vợ con thêm một ngày nữa không?" Nếu có danh từ hiện đại, người ấy sẽ khen họa sĩ đã vẽ theo họa pháp "Hiện thực Xã hội" của cộng sản.

Rồi có một họa sĩ khác đến xem. Ông này cũng hết sức thán phục tài nghệ của tác giả bức tranh nhưng về sau, nêu lên một nhận xét mà chỉ những người cùng nghề mới có. Họa sĩ xem tranh bảo phú ông: "Bức tranh tuyệt đẹp, nhưng tiếc, người vẽ đãng trí, quên vẽ một vật tối cần thiết."

Phú ông hỏi quên cái gì? Họa sĩ giải thích: "Cụ nhìn bó củi, toàn là củi gộc, phải có búa mới chặt được. Thế mà Cụ nhìn kỹ xem, tác giả quên vẽ cái búa." Phú ông gật gù, và đồng ý để ông họa sĩ thứ hai vẽ thêm một cái búa, đặt vào bó củi.

Mấy năm sau, tác giả bức tranh có dịp đi qua, và ghé thăm phú ông. Phú ông kể lại câu chuyện "đãng trí", và nói đã nhờ một họa sĩ khác vẽ thêm cái búa cho được hoàn-hảo.

Thoạt nghe, họa sĩ chạy vội đến xem, và tức khắc giơ tay xé toạc bức tranh, ngồi ôm mặt khóc. Rất đỗi kinh ngạc, phú ông gạn hỏi duyên cớ. Nguôi giận, họa sĩ nghẹn ngào trả lời:

"Tôi đã dùng nét bút để diễn tả tâm trạng của nhân vật trong tranh. Người tiều phu vào rừng đốn củi, chiều về, đi được nửa đường mới sực nhớ đã bỏ quên chiếc búa nơi đốn cây. Anh lo ngại, sợ sáng hôm sau, người khác đến trước sẽ nhặt mất chiếc búa. Người tiều phu muốn trở lại lấy búa, nhưng sợ không kịp, vì trời đã gần tối. Tôi không vẽ chiếc búa, vì lẽ nó đang nằm chơ vơ trong rừng. Bây giờ Cụ nhờ người khác mang chiếc búa trả lại cho người gánh củi, thì tranh của tôi mất hết ý nghĩa. Tranh mà không có ý nghĩa thì giữ làm gì? Chẳng xé đi cho đỡ ngứa mắt?"

Chúng tôi kể chuyện Vẽ Búa để cụ thể hóa những việc tương tự đã xảy ra trong kinh điển của Trung quốc: Hậu Nho đã "vẽ rất nhiều búa" vào sách vở của Tiền Nho. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu lên một chiếc "Búa Tạ", Hậu Nho đã "vẽ" vào hai cuốn Trung Dung và Đại Học của Khổng Giáo.

Hán tự có chữ Thành 成 , có ít nhất 3 nghĩa khác nhau:

a. Thành 成 là làm được một công việc gì (thành công), thực hiện được nguyện vọng (thành đạt), đạt tới tình trạng hiện hữu (thành hình).

b. Thành 誠 là thành thật, không điêu ngoa, xảo trá.

c. Thành 城 là tường xây xung quanh một căn cứ quân sự (thành lũy).

Ngày xưa chỉ có 1 chữ Thành 成 có đủ 3 nghĩa kể trên. Nhưng sau này, người Tàu nghĩ ra cách viết thành ba chữ khác nhau để khỏi lẫn lộn.

1. Họ để nguyên chữ Thành 成 cũ với nghĩa thứ nhất (Thành công, thành đạt, thành hình, v.v...)

2. Vì lòng thành thật thường biểu lộ qua lời nói, nên họ viết thêm chữ Ngôn言 bên cạnh chữ Thành cũ : 言 + 成 = 誠

3. Ngày xưa thành lũy chỉ là một bức tường đất - như Thành Cổ Loa - nên họ viết thêm chữ Thổ 土 bên cạnh chữ Thành cũ = 土 + 成 = 城

Trong hai cuốn Trung Dung và Đại Học có rất nhiều chữ Thành mà đúng lý phải viết chữ Thành 成 với ý nghĩa thứ nhất: thành công, thành đạt, thành hình, nhưng vì Hậu Nho quan niệm Khổng giáo chỉ là một môn học chuyên về luân lý đạo đức, nên yên trí mỗi lần "Thánh hiền" nói "thành", là một lần các Ngài khuyên nên "thành thật". Họ bèn tự ý vẽ một cái búa "ngôn bên" vào bất cứ chữ Thành nào trong hai cuốn sách. Không rõ từ bao giờ, nhưng bây giờ Trung Dung và Đại Học có rất nhiều chữ Thành 誠 là thành thật, hoàn toàn không ăn nhập với ý nghĩa của câu văn và của cuốn sách.

Sách đã viết như vậy, người đọc không hiểu, cũng phải cố mà hiểu, và hễ không tài nào hiểu nổi, thì bảo "đấy là ý kiến cao siêu của Thánh hiền, cứ tin như vậy, và học như vậy." Vả lại cũng chẳng có hại vì thành thật là một đức tính rất quý. Xin nêu lên ba trường hợp điển hình:

1. Sách Đại Học để ra một chương trình tu luyện, gồm có 8 mục liên tiếp: 1) Cách Vật. 2) Trí tri. 3) Thành ý. 4) Chính tâm. 5) Tu thân. 6) Tề gia. 7) Trị quốc. 8) Bình Thiên hạ.

Tám mục ấy in hệt 8 bực của một chiếc thang. Người tu luyện phải tuần tự leo từ bực thứ nhất (Cách vật). Đứng vững ở bực ấy, rồi mới leo lên bực thứ hai (Trí tri ). Xong rồi mới leo lên bực thứ ba (Thành ý), và cứ thế, từ từ leo lên bực thứ tám - Bình Thiên hạ - là bực cao tột.

Điều cốt yếu là: không thể nhảy vọt, bỏ sót một bực nào được. Một phần nào chúng ta gặp phải tai họa ngày nay cũng vì nước ta có nhiều nhân vật mà "Cách vật chưa xong, Trí tri chưa có, Ý chưa thành, Gia đình lộn xộn, mà đã được Mỹ cho thầu việc Trị quốc." Mất nước chỉ là kết quả dĩ nhiên.

Như đã trình bầy ở trên, mức thứ nhất là Cách vật, nghĩa là phải biết mọi vật, mọi sự, tức là phải học cái mà ngày nay chúng ta gọi là Khoa Học Thường Thức, cả Tự Nhiên, lẫn Xã hội. Mà quả thật ngày xưa lớp dạy Khoa học gọi là Lớp Cách Trí (Cách vật + Trí tri).

Mức thứ hai là Trí tri, nghĩa là phải hiểu đến nơi đến chốn nguyên nhân của mọi vật mọi sự, cái mà ngày nay chúng ta gọi là những Định Luật của Thiên nhiên và của Xã hội loài người. Thứ tự rõ ràng: Phải học trước, rồi nhiên hậu mới có thể hiểu được. Có học rộng, biết nhiều, mới hiểu sâu.

Mức thứ ba là Thành ý. Đã biết mọi vật, mọi sự trong thiên nhiên và trong xã hội, và hiểu rõ nguyên do của mọi việc, biết cái gì phải, cái gì trái, tại sao, thì có thể phát huy được một "ý niệm" về sự đời. Nói theo lối mới, Thành ý có nghĩa là "có lập trường vững vàng", hoặc nói về triết học, thì Thành ý là đã lập Thành một Ý-thức hệ đúng đắn.

Nếu đúng vậy thì chữ Thành 成 phải không có ngôn bên, nghĩa là lập thành. Nhưng khốn nỗi, sách lại viết chữ Thành 誠 có ngôn bên, nghĩa là "thành thật". Vì vậy nên các học giả Ta, Tàu, Tây, cứ phải căn cứ vào sách mà giảng chày giảng cối:

"Phải học mọi vật, phải hiểu đến nơi đến chốn, rồi mới có thể thành thật hóa cái Ý của mình được."

Lâm Ngữ Đường (Lin Yu Tang) dịch Thành ý sang tiếng Anh là:

To make one's will sincere.

Tâm thì có thành thật (thành tâm) hay xảo trá (manh tâm), nhưng Ý chỉ có tốt (hảo ý) hoặc xấu (ác ý). Làm gì có Ý thành thật?

Thí dụ: Tôi có ý định ăn cướp nhà băng. Bây giờ tôi phải làm gì để thành thật hóa cái ý của tôi? Phải chăng bảo tôi phải đi báo công an trước khi đi ăn cướp? Trời cũng không hiểu nổi. Không hiểu, nhưng cứ phải tin sách và nhắm mắt dịch đại.

2. Chương 20, sách Trung Dung nói "thánh nhân" không học cũng thành (đạt tới sự hiểu biết, khôn ngoan), nhưng tầm thường như chúng ta cũng có thể nên được bằng cách: Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi.

Nghĩa là: Học thật rộng, nghiên cứu thật kỹ, suy nghĩ thật cẩn thận, lý luận thật minh bạch, để hết tâm trí vào công việc học hành thì cũng có thể thành được, tức là thành công về đường học vấn.

Nhưng vì sách viết chữ Thành 誠 có ngôn bên cạnh, nghĩa là thành thật, nên các học giả Đông Tây đều phải giảng: Phải học cho rộng, hỏi cho cùng, nghĩ cho kỹ, biện cho rành, làm cho siêng, mới có thể trở thành "con người thành thật" được.

Ô hay! Thành thật thì cứ việc thành thật, can gì phải làm lắm chuyện như vậy? Nếu phải công phu tới mức ấy, thì liệu trên thế gian có mấy người thành thật? Và tại sao trẻ con ngây thơ, và dân quê chất phác thường thành thật hơn mấy ông bác sĩ và luật sư?

3. Chương 25, sách Trung Dung, bàn về Vũ trụ và Thiên nhiên, về sự biến hóa kỳ diệu của vạn vật, và kết luận bằng một câu:

Thành giả, vật chi chung thủy; Bất thành vô vật.

Vì chữ Thành ở đây cũng là chữ Thành là Thành thật nên, cũng như tất cả các học giả khác, cụ Trần Trọng Kim cũng phải chiếu theo sách mà dịch "chữ một" (Nho Giáo trang 215) như sau: Thành (thật) là trước - sau của muôn vật. Không có thành (thật), thì không có sự vật gì cả.

Mấy câu hỏi cần được nêu lên:
- Trước - sau của muôn vật là cái gì?
- Tại sao không có thành thật thì không có sự vật gì cả?
- Muôn ngàn sự vật đã có trước mắt chúng ta rồi thì đức thành thật đã có sẵn rồi, còn phải tìm đâu nữa cho tốn công?

Cũng như Cụ Trần, Lâm Ngữ Đường dịch câu "Bất thành vô vật" sang tiếng Anh là "Without sincerety, nothing". Chắc chắn chẳng có người Anh nào hiểu nổi cái bí mật ấy.

Sự thực, trong Chương 25 và tiếp sang Chương 26, sách Trung Dung bàn về Thiên nhiên và những biến hóa kỳ diệu của Thiên nhiên, nên chữ Thành có nghĩa là "muôn vật đã đạt tới tình trạng hiện hữu", đã biến hóa theo cái Đạo của Trời đất, mà ngày nay chúng ta hiểu là những định luật của Thiên nhiên. Chữ Thành 成 phải không có ngôn bên cạnh mới có nghĩa, và câu văn phải hiểu như sau:

Thành giả = Tiến hóa là
Vật chi chung thủy = Sự biến đổi của vạn vật từ xưa tới nay.
Bất thành vô vật = Nếu không có tiến hóa, thì chẳng có (sinh) vật nào cả.

Tóm lại: Tiền Nho đã có ý thức về Tiến Hóa luận, 20 thế kỷ trước Darwin. Nhưng vì Hậu Nho đóng khung Khổng giáo trong vòng luân lý đạo đức, nên mỗi lần nghe Tiền Nho nói "thành" là yên trí "Thánh hiền khuyên nên thành thật, chớ có xảo trá."

Nhãn quan chật hẹp ấy đã gây nên ảnh hưởng dây chuyền:

- Vì giới hạn tư tưởng trong lãnh vực đạo đức, không dám vượt ra ngoài, không để ý đến Thiên nhiên, mặc dầu Tiền Nho đã có ít nhiều ý thức về thiên nhiên.

- Vì không để ý đến Thiên nhiên nên không phát triển được Khoa học Tự nhiên.

- Vì không phát triển được Khoa học Tự nhiên nên học thiếu bề rộng, nghiên cứu thiếu bề sâu, suy nghĩ không cẩn thận, lý luận không rành mạch, mặc dầu Tiền Nho đã khuyên: "Bác-học chi, thẩm-vấn chi, thận-tư chi, minh-biện chi."

Các bạn hãy tưởng tượng: Kinh điển chép sai, nhưng thầy cứ theo sách mà giảng chầy giảng cối, trò cứ ù ù cạc cạc mà học cả ngàn năm. Đến khi dịch sang tiếng Việt, thì vì không hiểu nghĩa, cứ "dịch chữ một", miễn là cố dịch. Tất cả những lời của Tiền Nho, hoặc chép đúng, hoặc chép sai, đã trở thành những "giáo điều bất khả nghị luận". Mà đã không được phép bàn luận thì chẳng còn là một triết học, mà đã trở thành một tín ngưỡng, một tôn giáo. Cứ việc nhắm mắt mà tin.

Đấy là nguyên do chính đã khiến Trung Quốc và Việt Nam ngủ giấc ngủ giáo điều một ngàn năm, đến bây giờ vẫn chưa thức tỉnh. Hết giáo điều Tống Nho, lại đến giáo điều Mác Xít. Mấy thế hệ trước đã ngủ quá say. Nếu thế hệ trẻ muốn phục vụ tương lai dân tộc thì nên coi chừng Bệnh Giáo điều, nghĩa là: Đừng nhắm mắt tin sách, đặc biệt cổ thư Á Đông, vì lẽ cổ thư Á Đông chưa được thẩm định lại.

________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-28 17:39:52Ngọc Lý>
,
Chương V: THẨM ĐỊNH SỬ LIỆU




Ở Chương IV trên, chúng tôi đã áp dụng phương pháp huấn- hỗ, để chữa lại hai chữ trong cổ-thư Trung-quốc - chữ "Thương-nữ" trong Đường Thi, và chữ "Thành" trong Đại-học và Trung-Dung. Có thể tìm thêm, nhưng đây là việc của người Tàu. Nếu Cộng Sản Tàu không làm, thì học giả Tàu ở Đài Loan có phận sự ấy.

Riêng chúng ta là người Việt, chúng ta có phận sự phải thẩm định lại sử liệu của chúng ta, vì nếu chúng ta không làm, thì chẳng ai làm giùm chúng ta. Và lẽ dĩ nhiên, sử liệu của chúng ta cũng có rất nhiều điểm sai, vì từ xưa tới nay, các sử gia Việt cứ lục lọi sử liệu của Tàu để viết Quốc Sử.

Vẫn biết chúng ta có sử gia đứng đắn, nhưng mãi đến Thế kỷ 13, chúng ta mới có Lê Văn Hưu bắt đầu chép sử. Chúng ta tin ông chép đúng những việc xảy ra trong đời ông, hoặc trước đấy không lâu. Nhưng chúng ta cũng nên biết khi ông ghi lại những việc đã xẩy ra mấy ngàn năm trước, nhất là trong thời kỳ Bắc Thuộc, ông không có cách nào khác là tra cứu văn kiện của Tàu để lại, phần lớn là những bản phúc trình của quan lại Tàu gửi về triều đình của họ. Và lẽ dĩ nhiên những bản phúc trình ấy thường thiên lệch, vì công chức của nước nào, thời nào, cũng có thói: "làm láo, báo cáo hay".

Có hai trường hợp viết sai: Một là cố ý, thêu dệt để lái lịch sử theo ý kiến của cá nhân mình. Hai là thiếu ý thức, Tàu viết thế nào thì cứ nguyên văn chép lại, hữu lý hay phi lý cũng chẳng cần, sai hay đúng cũng chẳng thắc mắc. Nhiều chữ Tàu dùng để phiên âm mà không biết, cứ đi tìm nghĩa của những chữ thực ra chẳng có nghĩa.

Bắt đầu, xin kể mấy vụ cố ý xuyên tạc lịch sử (disinformation):



Sử-gia chữa thẹn



Khi chép chuyện Bà Trưng và Bà Triệu là hai người đầu tiên phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Tàu, những người chép sử tất nhiên phải thắc mắc, và tự đặt câu hỏi: "Hồi bấy giờ, khách mày râu lẩn đi đâu, mà gái má hồng phải xông ra giết giặc?" Không hiểu rằng cách đây mấy ngàn năm, xã hội nước Ta còn theo chế độ Mẫu quyền, các Bà nắm hết quyền bính trong tay - "lệnh ông không bằng cồng bà" - nên mấy ông chép sử cảm thấy hơi nhục cho nam giới. Mấy ông bèn tìm cách hạ giá trị mấy Bà cho đỡ thẹn. Đối với mấy ông, danh giá của nam giới quan trọng hơn sự trung thực của người viết sử.

Về Bà Trưng, thì họ cho rằng Bà đánh Tàu, vì Tàu giết chồng Bà. Đấy chỉ là một vụ "trả thù nhà", chẳng phải là "đền nợ nước". Cũng có thể, nhưng chúng tôi vẫn ngờ rằng vị tất nhân vật Thi Sách có thật, vì cái tên Thi Sách là tên chữ Hán, quá sớm về thời đại bấy giờ, khác với tên Trưng Trắc là tên "nôm".

Về Bà Triệu, thì họ nói Bà là một cô gái ngỗ ngược, can tội giết người. Căn cứ vào sách cũ, Cụ Trần Trọng Kim kể lại:

"Thưở nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu Quốc Đạt, đến độ 20 tuổi, gặp phải người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi, rồi vào trong núi. Khi vào trong núi, chiêu mộ hơn một ngàn tráng sĩ làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà. Năm mậu thìn (248), vì quan lại nhà Ngô tàn ác, Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu Chân. Bà đem quân ra giúp anh."

Đoạn văn kể trên chứa đựng mấy ẩn ý của một ông sử gia nào đó như sau:

a) Bà Triệu mồ côi cha mẹ từ thưở nhỏ. Ý muốn nói: Bà thiếu gia đình giáo dục.

b) Bà ấy đang tay giết chị dâu. Một tội rất lớn, đáng chém đầu, trái với đạo lý của Khổng Mạnh.

c) Bà Triệu sợ bị truy nã, phải trốn vào núi. Không biết làng Chuồng (Trung thôn) của Bà ở sâu trong núi, thì Bà còn phải chạy vào núi nào nữa?

d) Bà chiêu mộ hơn một ngàn tráng sĩ làm thủ hạ. Để làm gì? Phải chăng để làm một đảng giặc cỏ, hay đảng cướp, vì một cô gái 20 tuổi lấy đâu ra của mà nuôi một ngàn thủ hạ?

e) Người có chí phục quốc là Triệu Quốc Đạt, một người đàn ông. Đàn bà không thể có chí lớn như vậy. Họ chỉ có phận sự đẻ con và lo việc bếp núc.

f) Sau khi Triệu Quốc Đạt đã phất cờ khởi nghĩa rồi, Bà Triệu mới mang thủ hạ của Bà ra giúp ông Anh. Nhưng Tàu chỉ kể chuyện đánh nhau với Bà Triệu, không hề nói đến việc đánh nhau với ông Anh Bà.

Rõ ràng là mấy ông cố ý xuyên tạc để hạ giá trị Bà Triệu, và đề cao giá trị Ông Anh tưởng tượng. Tóm lại, theo ý kiến của mấy ông chép sử Việt Nam thì Bà Triệu chỉ là một cô gái hung hãn, can tội giết người, chẳng phải là người có chí lớn, chủ trương đánh Tàu để giải phóng dân tộc.

Nhưng họ quên không nêu một câu hỏi: Nếu quả thật Triệu Quốc Đạt là người thủ xướng việc khởi nghĩa thì tại sao Vua Lý Nam Đế không phong cho Triệu Quốc Đạt, mà lại phong cho Bà Triệu là "Bát Chính, Anh Liệt, Hùng Tài, Trinh Nhất Phu Nhân"?

 [/align] [/align]
________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-01 07:14:42Ngọc Lý>
 
Lãng mạn hóa lịch sử

Chúng ta đều biết Cô Giang là một liệt-sĩ cách mạng đóng một vai trò rất quan trọng trong tổ-chức Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cô cũng là vị hôn-thê của Nguyễn Thái Học. Ngày 17 tháng 7, 1930, sau khi đảng bị tan vỡ, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông bị hành hình ở Yên Báy. Cô trà trộn vào đám đông để chứng kiến vụ hành quyết, và sau đấy, Cô về làng họ Nguyễn, ngồi dưới cây đa ở đầu làng, và dùng súng lục quyên sinh. Sở dĩ Cô Giang về tận quê nội của họ Nguyễn để tự sát là tại Cô muốn buộc nhà chức trách địa phương phải chôn cất Cô, ngay tại đây. Cô tự coi là vợ của Nguyễn Thái Học, tức là con dâu của họ Nguyễn, nên theo phong tục Việt Nam, Cô muốn "sống gửi thịt, chết gửi xương" cho họ Nguyễn.

Ấy thế mà khi viết về vụ này, trong cuốn LE VIETNAM, sử gia thân cộng Lê Thành Khôi nói: Cô Giang tự tử dưới gốc cây đa, vì trước kia Cô và Nguyễn Thái Học đã "ngồi tự tình với nhau dưới gốc cây đa ấy."

Ông Lê Thành Khôi (con Cụ Lê Thành Ý, đi lính sang Pháp hồi Thế Chiến I và có quốc tịch Pháp) sinh sau đẻ muộn, không biết Nguyễn Thái Học người Vĩnh Yên, và Cô Giang sinh trưởng ở Bắc Giang, hai người gặp nhau ở Nam Đồng Thư-xã (phố Hàng Gai, Hà Nội), là nơi hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng lúc bấy giờ. Nhà viết sử Mác Xít cố ý đặt chuyện tình tự dưới gốc cây đa để hạ giá trị Cô Giang, từ địa vị một Liệt Sĩ Cách Mạng xuống tư cách một Cô gái lãng mạn.

[/align][size=+1] 
[size=+1]Tình Sử Hóa Lịch Sử
[font="times new roman"]
Để giải thích lịch sử một cách dễ dàng và đơn giản, nhiều học giả và sử gia có xu hướng tiểu thuyết hóa lịch sử, và lấy ái tình làm động cơ cho những biến cố lịch sử. Xin kể hai chuyện:

a. Năm 1306, Vua Chàm là Chế Mân dâng châu Ô, châu Lý, cho nước Ta, bây giờ là tỉnh Thừa Thiên, và hỏi Huyền Trân công chúa làm vợ. Nhiều người chê Chế Mân là si tình, là ngu ngốc, mang lãnh thổ quốc gia đổi lấy một cô gái đẹp. Hoàng Cao Khải làm một bài thơ trong đó có hai câu:

Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm
Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi


Sự thực thì việc dâng đất và giao hảo là cả một quốc sách của Triều đình Chàm.

Như tằm ăn lá dâu, Việt Nam đã thôn tính hầu hết phần đất của Chàm ở phía Bắc đèo Hải-Vân, chỉ còn lại Châu Ô và Châu Lý, mà người Chàm không tài nào giữ nổi, vì không thể nào mang quân qua đèo Hải Vân để chống lại quân đội Việt Nam. Vì nhận thấy trước sau cũng mất vào tay Việt Nam, nên Vua Chàm không còn cách nào hơn là mang dâng đứt phần đất ấy, và hỏi nàng Huyền Trân làm vợ để cầu thân, cầu hòa, hy vọng có thì giờ củng cố quân lực, và lo việc phục thù về sau. Quả nhiên, vào khoảng 80 năm sau, Chiêm Thành trở nên hùng mạnh, Chế Bồng Nga đại thắng Việt Nam, mấy lần "cưỡi ngựa đi giữa thành Thăng Long như chỗ không có người."

b. Trong Việt Nam Sử Lược Cụ Trần Trọng Kim có viết:

"Sử chép rằng Thục Vương... hỏi con gái Vua Hùng Vương thứ 18 là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang... Người cháu Thục Vương tên là Phán... đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang."

Xin có mấy nhận xét:

- Nước Thục ở vùng Tứ Xuyên bên Tàu cách nước Ta mấy ngàn dặm, đường xá chưa có. Làm sao vua nước Thục biết vua nước Ta có con gái đẹp mà muốn hỏi làm vợ?

- Nếu hỏi mà người ta không chịu gả, thì bực tức một hồi rồi cũng thôi. Có lẽ nào hỏi vợ không được mà sinh căm thù, đến nỗi dặn cháu đích tôn về sau phải mang quân đi đánh để "rửa nhục" cho ông nội? Lịch sử không ngộ nghĩnh như vậy.

- Về nước Thục, Cụ Trần bàn:

"Nước Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua nào nữa."

Cụ Trần lý luận như vậy, chẳng khác nói rằng sau năm 1949 thì chẳng còn Trung Hoa Dân Quốc, vì lẽ Trung Hoa Lục Địa đã bị Cộng Sản Tàu chiếm hết rồi. Việc nhà Tần chiếm đất Ba thục không có nghĩa là Triều đình nhà Thục không còn, mà rất có thể họ mang tàn quân chạy về phía Nam, và sang chiếm nước Văn Lang, chẳng khác Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan, hoặc tân binh của Trung Hoa Dân Quốc chạy sang Miến Điện, và hiện nay vẫn chiếm cứ một phần đất của Miến Điện.


[/align]


________________________

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan


[/align]
[/align][/size][/size][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»