📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Hoàng Văn Chí (1913-1988)

42 trả lời, 3.141 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-06 06:20:51Ngọc Lý>
.
 
Trên đây là những chuyện chép sai vì thiếu nghiên cứu chu đáo. Nơi đây, chúng tôi xin nêu vài nhận xét về mấy danh từ mà lâu nay chúng ta, vì cứ nhắm mắt tin sách Tàu nên cứ nhận là quốc hiệu, như Lâm Ấp, Xích Quỷ, và Lạc Việt.

A. Lâm-Ấp


Sử chép sau khi Mã Viện dẹp xong cuộc khởi-nghĩa của Hai Bà Trưng, vào đến Thanh Hóa rồi trở ra, và sau khi Lục Dận dẹp xong cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, cũng ở Thanh Hóa, đột nhiên xuất hiện nước Lâm Ấp ở vùng Bình Trị Thiên, "cứ năm ba năm lại sang quấy nhiễu vùng Nhật Nam."

Hai câu hỏi được nêu lên:

1. Tại sao lại có nước Lâm Ấp sau khi các Bà thất trận?
2. Tại sao nước ấy lại hay "quấy nhiễu" Nhật Nam (Nghệ An) thuộc Tàu cai trị?

Trước khi trả lời chúng tôi xin nêu lên một nguyên tắc:

Trước khi người Pháp sang cai trị, Hà Nội chưa có phố Paul Bert, và Sài gòn chưa có phố Catinat, nghĩa là Việt Nam chưa có địa danh bằng tiếng Pháp. Tất nhiên cũng chưa có người Việt nào tên là Paul hay Pierre.

Nếu chấp nhận nguyên tắc ấy, chúng ta cũng có thể khẳng định: Trước khi Hán tộc sang cai trị nước ta, chúng ta cũng chưa lấy đâu ra chữ Hán, để đặt tên người, tên làng, tên quận huyện và tên nước, tức là quốc hiệu. Mãi đến khi người Tàu sang cai trị, họ mới dùng chữ Hán đặt tên người, tên làng, tên quận huyện, vì phải dùng chữ Hán họ mới biên chép sổ sách, và viết bản phúc trình về triều đình của họ được.

Kết luận: Trong thời kỳ chúng ta chưa học được chữ Hán, tất cả các tên ghi trong sách đều là tên người Tàu đặt hộ chúng ta. Họ thường đặt tên bằng hai cách mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy:

- Một là họ dùng chữ Hán để đặt ra những danh từ như Giao-Chỉ, vì họ thấy nhiều người - nhất là ở vùng Phúc Yên, Vĩnh Yên, có hai ngón chân cái chĩa vào nhau. Những chữ có nghĩa Hán hẳn hòi, như Giao Chỉ, Lâm Ấp (Trại trong rừng), là những chữ người Tàu tự ý đặt ra, không hỏi ý kiến người địa-phương, tức là tổ-tiên chúng ta.

- Hai là họ phiên âm những danh từ đã có sẵn, tức là cổ ngữ của Ta sang tiếng Hán là tiếng của họ, chẳng khác gần đây họ phiên âm Paris là Ba-Lệ Suisse là Thụy Sĩ. Không riêng gì người Tàu làm vậy. Sau khi Tàu về nước, chúng ta cũng bắt chước làm in hệt, vì chúng ta tiếp tục dùng chữ Hán để biên chép. Chính vì vậy mà cho đến ngày nay, gần như mọi làng ở miền Bắc đều có hai tên, một "tên Nôm" và một "tên chữ", tức là tên bằng chữ Hán.

Thí dụ: Làng Klam của Ông Đạo Klam, sau này là Vua Lê Lợi, có "tên chữ" là Lam Sơn (Klam = Lam) Nhưng sau này vần Kl đổi thành Ch, nên làng Klam bây giờ là làng Cham. Tên nhiều làng khác trong vùng cũng biến đổi tương tự.

Trở lại vấn đề Lâm Ấp. Hai chữ Lâm Ấp có nghĩa là "Trại Trong Rừng". Vì có nghĩa hẳn hòi, nên tất nhiên hai chữ Lâm Ấp là do người Tàu đặt ra, không phải là phiên âm. Cũng chẳng phải là "quốc hiệu" người ấy tự đặt cho mình, vì không có lý do gì họ lại gọi nước họ là "Trại Trong Rừng". Vả lại, chiếu theo nguyên tắc kể trên, dân xứ ấy chưa bị Tàu cai trị thì lấy đâu chữ Tàu để đặt tên. Chỉ còn một giải đáp: Người Tàu tự ý đặt ra chữ Lâm Ấp, cũng như họ đã đặt ra chữ Giao Chỉ.

Sử cũng chép vua nước Lâm-Ấp là Phạm Hùng, tên Tàu, họ Tàu. Câu hỏi được đặt ra là: Người nước Lâm Ấp chưa hề bị Tàu cai tri, dậy chữ Tàu, sao lại có tên Tàu? Chỉ còn một giả thuyết: Phạm Hùng là người Việt, vì hồi ấy người Việt đã bị Tàu cai trị và ban cho tên họ Tàu, cũng như hiện nay, tất cả người Phi Luật Tân được người Tây Ban Nha ban cho tên họ Spanish.

Nhưng tại sao lại có người Việt lò mò vào làm vua nước "Trại Trong Rừng"? Xin đưa ra một giả thuyết thứ hai:

Sau khi cuộc khởi nghĩa của các Bà thất bại, một số tướng lãnh và quân đội của các Bà rút lui vào vùng Bình Trị Thiên lập chiến khu, tức là những nông trại trong rừng , để vừa luyện tập quân sự, vừa sản xuất lương thực để tự túc, rồi thỉnh thoảng năm ba năm một lần, mang quân ra đánh đồn bót của Tàu ở Nhật Nam để mưu việc phục quốc.

Phạm Hùng rất có thể là người Việt, làm lãnh tụ tập đoàn kháng chiến. Cũng rất có thể quan lại Tàu, sợ trách nhiệm, không dám báo cáo là có kháng chiến, nên mỗi lần một số lính Tàu bị giết, thì báo cáo: "Đây chỉ là những vụ quấy nhiễu lăng nhăng". Triều đình Tàu có thể hỏi lại "Tại sao chúng cứ quấy nhiễu hoài vậy?" Quan Tàu phải trả lời: "Tại người Lâm Ấp có tính hay đi cướp phá." Gọn lắm! Vì gọn như vậy nên Cụ Trần cứ nguyên văn chép vào Việt Nam Sử Lược của Cụ. 

 
Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-07 21:40:58Ngọc Lý>
.
 
B. Xích Quỷ

Sách Thiên Nam Ngũ Lục chép có một thời quốc hiệu của nước Ta là Xích Quỷ, tức là "Quỷ Đỏ", đúng cái tên mà chúng ta gọi Việt Cộng.

Theo thường lệ, dân tộc nào cũng tự nhận là Con Thần, Cháu Thánh. Người Nhật tự xưng là con cháu Thần Amaterasu, Tàu dịch là "Thái Dương Thần Nữ". Người Do Thái tin họ là con cháu Ông Adam và Bà Eva, hai người đầu tiên Chúa đã tạo ra theo hình ảnh của Ngài. Mà rõ ràng chúng ta cũng vẫn tự hào là Con Rồng Cháu Tiên.

Ngược lại, không một dân tộc nào trên trái đất nhận tổ tiên mình là "Quỷ Đỏ", hay "Quỷ Xanh". Một học giả hiện đại đưa ra một lời giải thích rất độc đáo. Ông nói: Quỷ là Thần. Không có một quyển tự điển Hán Văn nào định nghĩa Quỷ là Thần, Thần là Quỷ. Chúng ta thường nói: quỷ thần, cũng như bố mẹ, con cái, bát đĩa, nồi niêu, vân vân..., nghĩa là những thức cùng một loại. Quỷ và Thần giống nhau ở điểm: Cả hai đều vô hình, lúc ẩn, lúc hiện. Nhưng khác nhau ở một điểm căn bản: Thần thì ở trên Trời, thường giáng trần để cứu nhân độ thế, còn Quỷ ở dưới đất, chui lên, rất hung ác, và lúc nào cũng nhằm hại người.

Nghe chữ "Quỷ", cũng biết ngay là chữ xưa nay người Tàu dùng để chỉ người ngoại quốc, không thuộc Hán tộc, như Hồng Mao Quỷ, Dương Quỷ, v.v... Nếu "Quỷ" có nghĩa là "Thần" thì khi Tàu gọi người Anh là "Hồng Mao Quỷ", họ muốn nói là "Thần Tóc Đỏ" hay sao? Hiện nay, những phái đoàn Âu-Mỹ sang viếng thăm Trung Cộng, vẫn được cán bộ phụ trách đón tiếp niềm nở, lễ phép, luôn mồm "Yes, Sir", "Yes, Madam", nhưng sau lưng, nói tiếng Tàu với nhau, những cán bộ ấy vẫn gọi du khách da trắng là "Dương Quỷ". Chữ "Quỷ" của Tàu tương đương với chữ Mọi của Ta, và chữ Barbare, Barbarian của tiếng Pháp, tiếng Anh. Đối với người Tàu, bất cứ ai không phải là người Hán thì là "Quỷ" tất.

Học giả kể trên cũng giảng Xích là "đỏ", và biện minh "Màu đỏ là màu tượng trưng cho uy quyền". Rất đúng, nhưng chỉ đúng với người Tây, vì vua chúa Âu Châu thường mặc áo đỏ.

Nhưng ở Á Đông, màu đỏ là màu dành cho phụ nữ (hồng quần), còn vua chúa bao giờ cũng mặc áo màu vàng (Hoàng Bào), vì màu vàng mới là màu tượng trưng cho uy quyền.

Mà chữ Xích ở đây không có nghĩa là "đỏ", vì chữ ấy còn hai nghĩa khác:

- Xích là "Phương Nam", nơi có mặt trời, khí hậu nóng.
- Nhưng ở đây, Xích là "trần truồng". Trong Kinh Thi, Xích diệu diệu là "truồng nồng nồng". Chữ Xích tử, các cụ thường dịch chữ một là "con đỏ". Thực ra, Xích-tử là "đứa bé mới lọt lòng, chưa mặc quần áo".

Có lẽ có một anh Tàu nào đó đi về phương Nam, tới một nơi nào đó thấy đàn ông đóng khố, và đàn bà không mặc yếm, như người Thượng hiện nay, chép vào một tài liệu nào đó, nói anh đã tới xứ "Mọi Cởi Truồng". Tin rằng chúng ta là con cháu ông Thần Nông từ hồ Động Đình di cư về phía Nam, một sử gia nào đó vội nhận Xích Quỷ là quốc hiệu của chúng ta.

Phải nhận đại là "Quỷ Đỏ", hay "Quỷ Cởi Truồng", mới có hân hạnh được làm con cháu Tàu. Trả giá quá đắt! Tủi cho vong linh các Cụ, mà cũng chẳng hãnh diện gì cho nòi giống Lạc Việt.



 [/align] 
Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 07:10:20Ngọc Lý>
.
C. Văn-Lang

Sử chép quốc-hiệu của nước Ta về đời Hồng-Bàng là Văn-Lang. Ông Bình Nguyên Lộc * nói Văn- Lang là một thứ cau (lang), vỏ có sọc trắng (văn) chỉ có ở miền Nam, và tổ-tiên chúng ta coi thứ cau-sọc ấy là vật-tổ (totem). Có hai nhận xét:

a) Chữ lang là cau khác chữ lang trong Văn-lang.

b) Không có lý gì, tổ-tiên chúng ta ở miền Bắc lại lấy một thứ cau làm vật tổ, mà thứ cau ấy chỉ có ở vùng Đông-Môn, thời ấy thuộc nước Phù-nam.

Có người hiểu Văn-lang là "Con Trai Đẹp". Tại sao lấy quốc-hiệu là Con-Trai Đẹp? Thế con gái xấu lắm hay sao? Có người viết Văn-Lang và hiểu là "Con Trai vẽ mình", vì cũng có nhiều tài liệu của Tàu nói người Việt nam là nghề đánh cá, có tục vẽ mình bằng chàm để cá mập lầm tưởng là đồng loại, không ăn thịt. Nếu vậy thì Văn-Lang còn đọc là Bản-lang, gần chữ Bản làng, có nghĩa là "Làng nước" hay "Cá nước". Nếu vậy thì là một thứ chữ Nôm người xưa dùng để phiên-âm một cổ-ngữ.
[size=+1][/size] 
[size=+1]D. Việt-Thường
[font="times new roman"][size=+1]
Sách Tàu chép về thế kỷ 10 TTL, có một phái đoàn của nước Việt-Thường mang chim bạch trĩ sang cống Tàu, được ông Chu Công Đán ban cho một cỗ xe Tý Ngọ (có kim chỉ nam) để tìm đường về. Có tài liệu nói Tàu phải dùng 8 người thông ngôn liên tiếp mới nói chuyện được với họ. Sử Việt chép Việt-Thường là một quận của Việt-nam, bây giờ là Quảng Bình, Quảng Trị. Vấn đề cần phải xét lại vì có mấy mâu thuẫn như sau:

a) Theo Sử thì đời Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 TTL
b) Và từ thời ấy các hoàng tử và công chúa có tên bằng chữ Hán.

Câu hỏi được đặt ra là: Nếu từ đời vua Hùng đã biết chữ Hán rồi, thì tại sao, 18 thế kỷ sau, Tàu phải dùng 8 người thông ngôn dây truyền mới nói chuyện được với người Việt-Thường ở nước ta sang?

Câu chuyện có quá nhiều mâu thuẫn. Và để giải quyết những mâu thuẫn ấy, chúng tôi xin đưa ra mấy nhận xét:

1. Theo Sử, thì họ Hồng-Bàng bắt đầu từ năm 2879 TTL, mà mãi đến năm 1523 TTL, tức là 13 thế kỷ sau, Tàu mới có nhà Thương là triều đại đầu tiên đặt ra chữ tượng hình mà sau này biến dần thành chữ Hán. Trước đây người Tàu chưa có chữ nghĩa gì cả, chỉ có kinh điển của một tôn giáo, gọi là Nho-giáo từ Iran tràn vào, chép bằng những mẫu tự ngoằn ngoèo, viết bằng mũi nhọn, bây giờ gọi là chữ Khoa Đẩu, tức là "chữ con nòng nọc", không ai đọc được. Vì là chữ của Nho Giáo, nên đúng lý phải gọi là Chữ Nho. (Sẽ bàn thêm ở Chương XIII)

2. Nếu tin vào những niên đại kể trên thì Việt Nam có "chữ Hán" 13 thế kỷ trước khi người Tàu đặt ra chữ ấy. Làm sao mà tin được?

3. Lãnh thổ nhà Thương còn là một vùng nhỏ hẹp ở lưu vực sông Hoàng, và tuy họ có chế ra chữ, nhưng hãy còn viết vào cộm rùa. Lấy đâu ra nhiều cộm rùa và chữ nghĩa còn khan hiếm như vậy thì có thể nào truyền sang nước Ta được sớm như vậy?

4. Và chữ Thương người Tàu đọc là Shang. Chúng ta chẳng có địa danh nào khiến người Tàu phải phiên âm là Shang. Nếu là vùng Shan của một bộ lạc ở phía Bắc Miến Điện, phía Tây tỉnh Vân Nam, thì có phần hợp lý hơn. Có lẽ vì họ ở phía Tây Nam nước Tàu nên khó tìm đường về, còn Ta ở phía Nam, chỉ việc đi dọc theo bờ biển là về tới nơi.

5. Nếu quả thật Việt-Thường là Quảng Bình, Quảng Trị, thì cách đây 3 ngàn năm, dân ở đấy còn là dân Chàm hay một sắc tộc nào khác, chưa phải người Việt chúng ta.

Chúng tôi ngỡ rằng vì thấy việc được Triều Đình Tàu tiếp đón là một vinh dự quá lớn, nên một sử gia nào đó vội nhận Việt-Thường là một quận của nước Ta, và không biết đặt quận ấy vào đâu, bèn nói đại là Quảng Bình, Quảng Trị.

Chúng tôi nghĩ rằng không phải là Việt-Thường cũng chẳng chết ai cả, mà việc mang chim bạch trĩ đi cống Tàu chẳng phải là một danh dự to tát lắm. Vả lại, một bên "bắt chim trong rừng" rồi mang đi cống, và một bên "ban cho cỗ xe có kim chỉ nam", tức là một phát minh về kỹ thuật, thì bên nào danh giá hơn? Việc ấy chẳng khác nào việc Việt Cộng mang hoa quả sang Liên Xô đổi lấy võ khí tối tân mang về. Liên Xô oai hơn, vì Liên Xô chế tạo được võ khí tối tân, còn Việt Cộng chỉ thu nhặt hoa quả, gỗ lạt, và những sản phẩm thiên nhiên khác để mang đi cống hiến Liên Xô thì có vinh dự gì?

Kết luận: Không nên coi chuyện cống hiến một cường quốc là một vinh dự lớn lao và cố tình nhận liều cho kỳ được.

________

* Bình Nguyên Lộc: Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam, tr. 772

[/size][/size][/font]
Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-09 02:38:08Ngọc Lý>
.
 
E. Lạc-Việt

Theo huyền-thoại, thì Ông Tổ chúng ta là Lạc-Long. Theo Sử, về đời Hồng-bàng quan văn là Lạc-hầu, quan võ là Lạc-tướng, và ruộng nương gọi là Lạc-điền. Theo Cụ Nguyễn văn Tố thì Vua là Lạc-Vương, nhưng người sau viết lầm thành Hùng-Vương. Thế kỷ 3 TTL, Thục An Dương Vương nguyên là người Âu Việt (Thái) chiếm nước Văn Lang của người Lạc-Việt và đặt lại quốc-hiệu là Âu-Lạc (Xem chương VII).

"Lạc" nghĩa là gì?

Có rất nhiều chữ Lạc, nghĩa khác nhau, tùy theo chữ ấy viết với "bộ" nào. Cụ Trần viết chữ Lạc với bộ "mã", nghĩa là con Lạc Đà, một con thú không hề có ở Nước Ta. Có người viết chữ Lạc với bộ "điểu", là một loại chim ở ven biển (sea gull). Cũng có chữ Lạc với bộ "trĩ" là một con thú "giống con ly".

Nhưng bất cứ chữ Lạc nào, viết với bất cứ "bộ" nào, với nghĩa là con lạc-đà, con chim biển, hay một con thú bốn chân nào đó, cũng đều vô nghĩa. Và đã không có nghĩa, mà viết lung tung, "bộ nọ, bộ kia" thì chúng ta phải ngờ đây là những chữ người Tàu đã dùng để phiên âm một tiếng nào đó của người địa phương, của tổ-tiên chúng ta.

Xin trở lại hai nguyên tắc chúng tôi đã nêu lên:

a. Mãi đến Thế kỷ 15 TTL, người Tàu mới đặt ra một thứ chữ mà sau này biến thành chữ Hán. Vậy trước đây trên thế giới, kể cả chúng ta, chưa ai có chữ Hán để dùng. Chúng tôi ngờ rằng tất cả những chữ Hán chép trong Sử về đời Hồng-Bàng đều do người sau đặt ra.

b. Những chữ Hán dùng làm địa danh mà không có nghĩa, phải là những chữ người Tàu dùng để phiên âm, chẳng khác họ đã phiên âm chữ "France" là Pháp Lan Tây, Asia là Á-Tê-Á. Đọc tiểu thuyết Tàu, thấy họ viết "Công môn đả lão phụ", đừng vội tưởng họ nói "Mang bà già ra cửa công mà đánh", vì thực ra, họ chỉ phiên âm câu chào hỏi tiếng Pháp: "Comment allez-vous?" (Ông mạnh giỏi không?)

Bây giờ câu hỏi cần được giải đáp là: Họ đã dùng chữ Lạc để phiên âm chữ gì của tiếng Ta?

Xin bắt đầu bằng chữ Lạc-điền. Nhiều người thường hiểu Lạc điền là "ruộng của người Lạc". Nhưng thử hỏi, chúng ta có bao giờ nói "ruộng Tàu", "ruộng Pháp" không? Người Tàu có nói Hán điền, Pháp điền bao giờ không? Theo thường lệ, chúng ta chỉ nói "ruộng ngô, ruộng khoai" để phân biệt ruộng nào trồng cây gì. Nhưng chẳng lẽ Lạc điền là "Ruộng trồng Lạc đà", hay "Ruộng trồng chim biển"?

Chúng tôi đã đưa nhận xét: Chữ Lạc là một chữ người Tàu dùng để phiên âm. Phiên âm tên một loại cây nào đó bên Tàu không có, nhưng có trồng ở nước Ta. Nói một cách khác, Lạc là tên một thứ cây, tổ-tiên chúng ta gọi là gì đó, nhưng người Tàu phiên-âm là Lạc.

Vậy cây Lạc là cây gì? Xin đưa ra một giả thuyết như sau:

Về đời Hồng-Bàng, người Tàu ở Hoa-bắc không hề biết đến nước Ta, và mãi đến đời Thục An-dương Vương, mới bắt đầu dòm ngó đến nước Âu-Lạc, và sau này mưu việc thôn tính. Nhân dịp này, có lẽ mới có người Tàu nào đó, thuộc vào hạng có chữ nghĩa, lò mò đến nước Ta. Người Tàu ấy hết sức ngạc nhiên trước một quang cảnh chưa từng thấy ở bên Tàu, kể cả vùng Lưỡng Quảng. Anh ta thấy những thửa ruộng bằng phẳng, bốn bề có đắp bờ để giữ nước ngập mặt ruộng, và trong ruộng có một loại cây, trồng thẳng hàng thẳng lối.

Thấy một người Giao Chỉ vác cuốc đứng bên bờ ruộng, người Tàu hỏi: "Ná! Sư sự-má ju-wu?" Không biết tiếng Tàu, nhưng thấy tay chỉ, mồm hỏi, người Giao Chỉ hiểu anh Tàu muốn biết cây gì trồng trong ruộng. Người nông dân Giao Chỉ bèn đáp: "Ló". Người du khách Tàu bèn rút "sổ tay" - thời bấy giờ là một thẻ tre - viết một chữ, mà cho đến ngày nay 3 phần 4 người Tàu vẫn đọc là Ló.

Sau này, người Tàu sang đô hộ, học cũng dạy chúng ta chữ ấy, và bảo chúng ta đọc là "ló", nhưng sau khi họ bị đuổi về nước, thầy đồ Việt cứ tiếp tục dạy chữ Hán cho trẻ con Việt, và thày trò đọc mỗi ngày một sai dần, không có ai chữa giùm, nên bây giờ chúng ta đọc chữ ấy là Lạc. Ngay cả cái lò để nung, người Tàu gọi là lò, chúng ta cũng bắt chước gọi là lò , mà chữ Lò của Tàu, bây giờ tiếng Hán Việt cũng đọc là Lạc. Vì người Tàu chỉ dùng chữ Lạc để phiên-âm tiếng Ló của người Giao Chỉ, nên về sau, họ viết bất cứ chữ Lạc nào, viết với bất cứ "bộ" nào, họ cũng đọc là Ló tất.

Đến đây, có độc giả sẽ hỏi: Ló là cây gì?

Xin thưa: Ló là Lúa.

Ai không tin xin hỏi người Mường Hòa Bình, hoặc người nông dân Nghệ-An, họ sẽ xác nhận như vậy.

Người du khách Tàu về nước kể chuyện sang Giao-Chỉ, anh ta thấy Ruộng Lúa, mà anh ta gọi là Ló-tiền (Lạc-điền), và người bản xứ trồng ló, và sống bằng ló. Sau đây, người Tàu gọi dân ta là Lo-Yueh, tức là Lạc-Việt, (dịch sang tiếng Anh là "Rice People"), và do đó, họ cũng gọi vua quan nước Ta là Lạc-hầu, và các tướng sĩ trong quân-đội của nước Ta là Lạc-tướng.

Tóm lại, Cây Ló bây giờ là cây Lúa , và chữ Ló của Tàu, bây giờ chúng ta gọi là Lạc. Vì vậy nên không mấy người biết Lạc là Lúa, và cứ loay hoay đi tìm nghĩa chữ Lạc mà không thấy. Đây là một sự thể chứng tỏ chúng ta học chữ Hán nhiều quá, nhiều tới mức quên mất tiếng Mẹ đẻ, tiếng của người dân thiếu Hán học.

Mường =&gt; Ló &lt;= Quan Thoại
Kinh =&gt; Lúa = Lạc &lt;= Hán Việt

Thêm một chi tiết: Có lẽ sang nước ta bằng thuyền và chỉ viếng thăm miền duyên hải, người du khách Tàu không ở lâu, và không đi sâu vào nội địa, nên không thấy nông dân Giao Chỉ dùng gàu tát nước vào ruộng, và nhìn quanh, nhìn quẩn, không thấy cái guồng nước, mà nông dân Tàu vẫn dùng để đạp nước vào ruộng từ đời Chu. Người du khách Tàu đoán phỏng: Người Giao chỉ chờ khi nào nước thủy triều dâng lên, cao hơn mặt ruộng, thì khơi bờ cho nước thủy triều tràn ngập ruộng, rồi lại chờ khi nào nước thủy triều rút xuống, thì đắp bờ lại để giữ nước trong ruông. Anh ta đoán như vậy, về nước kể chuyện như vậy nên từ đấy về sau, sách Tàu cứ chép như vậy. Cho đến ngày nay, Trung-Văn Đại-Tự-Điển, xuất bản ở Đài Loan, vẫn định nghĩa: "Lạc-điền là ruộng tưới bằng nước thủy triều". Encyclopaedia Britannica cũng cứ nguyên văn chép như vậy. Quả là Chúa Tàu ngớ ngẩn. Nước thủy triều mặn. Tưới bằng nước thủy triều thì cây gì cũng phải chết ngoẻo.

Có người có thể hỏi: Mới cách đây 23 thế kỷ mà người Tàu phải sang đến nước Ta mới trông thấy cây lúa à?

Để trả lời, xin kể từ đầu. Trước đây 12.000 (12 ngàn) năm còn là Thời kỳ Băng giá (Ice Ages). Nhiệt độ trung bình thấp hơn bây giờ nhiều, nên chưa trồng trọt được gì cả.

Sau đấy nhiệt độ gia tăng dần dần, bắt đầu từ những vùng gần đường xích đạo. Nông nghiệp bắt đầu phát triển ở những vùng ấy. Cách đây 8 ngàn năm, Ai Cập và Ấn Độ bắt đầu trồng lúa mì, một loại ngữ cốc giỏi chịu lạnh, mà hiện nay vẫn còn được trồng ở Canada và Alaska. Vì nhiệt độ cứ tiếp tục tăng dần, nên địa bàn trồng lúa mì lan rộng ra Lưu vực Lưỡng-hà (Mesopotamia), và Lưu vực sông Hoàng, ở phía Bắc nước Tàu. Cách đây 7 ngàn năm, người Ấn Độ bắt đầu trồng lúa nước, và địa bàn trồng lúa nước tràn sang Mã Lai và Nam Dương. Cách đây 4 ngàn năm, lúa mọc được ở Bắc Thái và Bắc Việt, mà nhiệt độ tương đương với South Carolina hiện nay. Cách đây hai ngàn năm, Quảng Đông và Quảng Tây còn lạnh ngang với Pennsylvania, nên chưa trồng lúa được.

[/align]
[size=+1]Nếu chúng ta cứ tin huyền-thoại tổ-tiên chúng ta là Quỷ Cởi Truồng, là Con Cháu Ông Thần Nông Bên Tàu, và vẫn giữ thói lục lọi cổ thư Tàu để tìm "quốc hiệu", thì câu chuyện giả tưởng sau đây có thể thành sự thực:

Chúng ta hãy giả dụ: Từ xưa tới nay chưa hề có người Tàu nào sang nước Ta, và không biết có nước Việt nam ở sát cánh. Mãi tới năm 1985 - nhân dịp Việt Cộng kỷ niệm "Mười Năm Giải Phóng Miền Nam", báo chí Tàu mới được mời sang dự lễ.

Nhân dịp, phóng viên tờ Nhân Dân Nhật Báo vào nhà một cán bộ Việt Cộng vào giữa lúc cả nhà đang ăn cơm trưa. Thấy trong bát có một thức ăn kỳ lạ, màu xám và cắt thành khoanh tròn, người phóng viên Tàu chỉ tay vào bát, hỏi: "Nị mấn trừ sự-má?" Không biết tiếng Tàu, nhưng anh cũng hiểu người Tàu hỏi: Các anh ăn cái gì vậy? Anh bèn đáp: "Khoai." Ký giả Tàu rút sổ tay, viết chữ Khoái.

Anh ta cũng đi về vùng quê và trông thấy một quang cảnh mà thi sĩ Phùng Quán đã tả trong bài Chống Tham Ô Lãng Phí (Giai phẩm Mùa Thu 1956, và Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc trang 117) trong đó có mấy câu:

Tôi đã đi qua
Nhiều xóm làng vùng Kiến An Hồng Quảng
Phân người đầy vỏ khoai tím đỏ


Vì thấy đồng ruộng ở Việt Nam đầy vỏ khoai tím đỏ, ký giả Tàu về nước viết bài kể chuyện sang nước ta, anh thấy nhân dân ăn khoai, và ỉa ra khoái-bì (vỏ khoai) đầy ruộng, nên anh ta gọi dân ta là Khoái-Việt, ruộng vườn đầy vỏ khoai là Khoái-điền. Anh cũng gọi Trường Chinh, Lê Duẩn là Khoái hầu, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng là Khoái tướng.

Nhưng cũng vào dịp ấy, phóng viên Takung Bao (Đại-công Báo) vào nhà một thường dân ở Bắc Việt, cũng vào lúc cả nhà đang ăn cơm. Thấy trong bát có một thứ hột kỳ lạ, anh ta hỏi: "Ăn cái gì?" Chủ nhà đáp: "Bo-bo". Nhà báo rút sổ tay, viết chữ Bô.

Ra thăm đồng ruộng, anh ta thấy những bãi phân lổn nhổn những hột bo-bo, vì bo-bo (sorgho) là một thứ hột rất cứng, người Nga chỉ dùng để nuôi bò, vì chỉ có bò có tính nhai đi nhai lại, nhai suốt đêm mới vỡ hột bo-bo và tiêu hóa được những hột ấy.

Sau đây là lời tường thuật của nhà văn Hà Thúc Sinh, nạn nhân của "chính sách cải tạo", và của bo-bo (Hà Thúc Sinh - Đại Học Máu, tr. 709):

"Nghĩ tới lúc về phòng ngồi nhai bo-bo với những cọng rau muống già cỗi, Vinh chợt nhớ tới những buổi sáng, đám tù trực, nhào đến các rãy cầu tiêu, giành dật từng thùng phân để đổ vào thùng tổ mình. Những thùng phân ấy đầy ắp những hạt bo-bo to gần bằng hạt ngô, vẫn căng mọng, vẫn óng ánh màu vàng, an toàn trong lớp mày dầy như nylon, dù nó đã trải qua một quá trình tiêu hóa trong bụng dạ con người."

Xin trở lại câu chuyện mấy nhà báo Tàu:

Về Bắc Kinh, phóng viên tờ Takung Bao viết bài tường thuật, nhưng lại kể rằng sang nước Ta, anh trông thấy người bản xứ ăn Bô và ỉa ra bô. Vì vậy nên anh ta gọi dân Ta là Bô-Việt, đồng ruộng ở Bắc-Việt là Bô-điền. Anh cũng nói anh được mấy ông Bô-hầu và Bô-tướng tiếp đãi rất nồng hậu.

Lại xin cống hiến một giả tưởng khác:

Bẵng đi hơn hai thế kỷ, nghĩa là đến đầu thế kỷ 23, sau khi Việt Cộng bị Trung Cộng dạy cho mấy bài học liên tiếp, sau cuộc Đại Chiến giữa Liên-Xô và Trung Cộng, và sau Thế Chiến thứ III, giữa Mỹ và Liên Xô, 2/3 thế giới bị tàn phá, sách vở tài liệu bị thiêu hủy hết, một số học giả Việt đua nhau tìm kiếm những quốc-hiệu cũ của nước Ta.

Rồi một hôm, một nhà khảo cổ tìm thấy trong đám gạch vụn ở Bắc Kinh bài của tờ Nhân dân Nhật báo, nói nước Ta là Khoái Việt , có Khoái-hầu Trường Chinh, và có nhiều Khoái tướng đang mang quân sang xâm chiếm Kampuchea.

Nắm được sử liệu "quý hóa" ấy, một sử gia Việt khẳng định rằng vào cuối thế kỷ 20, quốc-hiệu của nước Ta phải là Khoái-Việt, vì lẽ bài báo ấy và cả cuốn phim Viêtnam, A Television History tìm được ở Mỹ chứng tỏ nhân dân Việt Nam rất "khoái" chế độ Cộng Sản.

Nên để ý rằng hồi ấy sử gia rất lơ mơ về chế độ Cộng sản vì chế độ bất nhân ấy đã biến khỏi mặt đất sau Thế Chiến Thứ III.

Nhưng lại có một nhóm sử gia khác tìm được bài của tờ Đại-công Báo, nói nước Ta là Bô-Việt. Viện Musée de l'Homme ở Pháp cũng đào được ở Paris một tài liệu nói từ năm 1975 đến 1990, có hơn một triệu người Việt trốn ra nước ngoài, có Hội Les Medecins du Monde mang tàu ra cứu họ, và có mấy chục ngàn người khác lẩn vào rừng núi lập chiến khu, chống lại chính quyền Cộng Sản. Nhóm này lý luận: Vì theo đúng nghĩa chữ Hán, Bô... là đi trốn, lẩn tránh, nên quả quyết vào cuối thế kỷ 20, quốc hiệu nước Ta phải là Bô-Việt mới đúng.

Cuộc tranh luận giữa mấy học giả bị bệnh Tận-tín-thư còn đang tiếp-diễn, thì một hôm có một bà già ngoài 100 tuổi lên Truyền Hình hát một bài Ru Con mà bà nghe "bà cố nội" của Bà, hát từ hồi bà còn nhỏ. Bà hát:

"Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng
Đẻ ra một lũ con Rồng, cháu Tiên
Ai khôn thì đã vượt biên
Còn ai kẹt lại, phát điên phát khùng..."


Nhờ có bài hát ấy, hai nhóm học giả mới đồng ý với nhau, và đạt tới một nhận xét chung về dân tộc chúng ta vào cuối Thế kỷ 20. Họ cho rằng nòi giống Lạc-Việt đã bị phân hóa thành hai giống người có hình dáng rất khác nhau:

- 99.7 % là Bô-Việt, sống bằng bo-bo, và gầy còm.
- 0.3 % là Khoái Việt, bụng phệ, má phính, vì ăn đủ của ngon vật lạ, kể cả caviar của Nga và rượu sâm banh của Pháp, vì giới khảo cổ đào được vỏ chai sâm banh và vỏ hộp caviar ở Hà Nội. Giống Khoái Việt sống theo Khoái lạc chủ nghĩa, dùng giống Bô-Việt làm nô lệ, và bóc lột họ còn tàn nhẫn hơn trăm lần Tư bản bóc lột công nhân hồi đầu thế kỷ 19. Và họ hiểu tại sao giống Bô-Việt thường bị bệnh điên gia truyền.

Trên đây chỉ là một viễn tượng hãi hùng, đe dọa tương lai của dân tộc, nhưng thật quả, viễn tượng ấy thực sự bắt đầu. Chúng tôi nghĩ rằng, dân Lạc Việt trồng lúa và ăn gạo suốt 4 ngàn năm, mà bây giờ không có gạo ăn, phải nhai bo-bo thay cho bò của Nga, thì sao còn là Lạc-Việt?

Nghĩ tới đây, chúng tôi phải ngậm ngùi mà than rằng:

"Ôi, Lạc-Việt! Nay còn đâu!"


[/size]

Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-12 04:08:16Ngọc Lý>
.
CHƯƠNG VI: NGUỒN GỐC DÂN TỘC

[size=+1][/size][size=+1]

Ôn lại Lịch Sử Nhân Loại, chúng tôi thấy có một quy luật bất biến: Một quốc gia chỉ có thể cường thịnh khi nào nhân dân trong nước - từ kẻ sĩ có trách nhiệm lãnh đạo đến quảng đại nhân dân - có Tinh thần dân tộc cao, nhưng đúng mức. Đây là trường hợp của Nhật bản hiện nay, và cũng là trường hợp của nước Ta về đời Lý, Trần.

Điều đáng chú ý là Tinh Thần Dân tộc phải đúng mức. Thấp quá thì ươn hèn, mà cao quá - tới mức dân tộc và chủng tộc độc tôn - thì nguy hại cũng không kém.

Đấy là trường hợp của Trung Quốc sau đời Đường, coi tất cả các dân tộc khác là "man-di, mọi-rợ", gọi họ là "Quỷ", như "Hồng mao quỷ", "Dương Quỷ", "Xích Quỷ", "An Nam Quỷ" (Ôn-năm quẩy), v. v... Đấy cũng là trường hợp của Đức Quốc Xã, đưa đến tội ác giết 6 triệu người Do Thái, gây ra Thế Chiến Thứ II, làm đất nước bị tàn phá.

Nghĩa là có hai mặc cảm nên cố tránh:

a. Mặc cảm tự ti: cho rằng dân tộc mình thấp kém đối với các dân tộc khác. Như vậy là mất Tinh thần Dân tộc.

b. Mặc cảm tự tôn: coi mình là giỏi nhất, về mọi phương diện, và không thèm học hỏi ai cả.

[/size]
I. MẶC CẢM TỰ-TI
[size=+1]
Từ sau đời Trần, giới sĩ-phu nước Ta mắc phải tinh thần tự ti, coi Hán tộc là văn minh nhất thế giới, và coi dân tộc mình là thấp kém, chỉ đáng làm đàn em. Thái độ ấy đưa đến một sự nhầm lẫn tai hại: Nhận mình là con cháu Tàu, con cháu vua Thần Nông bên Tàu.

Chúng tôi không phủ nhận sự thể có nhiều sắc tộc sinh sống ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, như người Hmong (Mèo), Dao (Mán), Lõa (Lolo), Nùng, Nhắng, Tày (Thái), v. v... Theo thống kê năm 1953, có 3.640.000 (ba triệu sáu trăm bốn mươi ngàn) người Mèo, 2.680.000 (hai triệu sáu trăm tám mươi ngàn) người Dao, và 11.140.000 (mười một triệu, một trăm bốn mươi ngàn) người Tày ở Vân Nam, chưa kể 7.780.000 (bảy triệu, bảy trăm tám mươi ngàn) người Chuang (Tráng) ở Quảng Tây, cũng thuộc đại chủng tộc Thái. Nhưng họ từ phía Tây tràn vào Trung quốc, không dính dáng gì đến nước Xích-quỷ, và không nhận là "Con cháu ông Thần-nông". Riêng người Mèo đi từ Siberia sang.

Đã nhận là con cháu Tàu, có họ hàng với Tàu, thì lẽ tất nhiên tinh thần chống Tàu biến mất. Hễ trong nước có nội loạn thì chạy sang Tàu, khẩn khoản xin viện trợ quân sự để chống lại kẻ thù trong nước. Thái độ ấy đã khiến người Tàu chê chúng ta là Nô-lệ Căn tính, không có tinh thần tự cường, mà sẵn sàng làm nô lệ kẻ khác.

Đấy là trường hợp của Lê Chiêu Thống, của Gia Long, của Việt Cộng, thân Tàu, thân Nga, rồi bây giờ lại đang cầu cạnh để thân Mỹ.

Chúng tôi nghĩ rằng Tinh-thần Vọng-ngoại phát triển vì thiếu Tinh-thần Dân-tộc, và sở dĩ thiếu Tinh-thần Dân-tộc là tại hai lý do:

a. Nô lệ văn hóa ngoại bang, và
b. Nhận mình là con cháu kẻ thống trị.

Chúng tôi sẽ trình bày về tinh thần Nô lệ văn hóa Hán tộc ở Chương X. Ở đây, xin hãy bàn về câu chuyện "Con Cháu Ông Thần Nông" bên Tàu. Chúng tôi thấy việc cần phải làm là: Đặt lại vấn đề Nguồn Gốc Dân Tộc. Sở dĩ chúng ta cứ nhận là đồng chủng với Tàu, là vì chúng ta không chịu đi tìm Nguồn Gốc Dân Tộc đến nơi đến chốn, hoặc có tìm, nhưng không đúng phương pháp, không đúng nguyên tắc.
[/align][size=+1][/size] 
[size=+1]Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan


[/align][/size][/size]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-12 21:47:22Ngọc Lý>
.
Nguyên Tắc Tìm Nguồn
[size=+1]
Đi tìm nguồn gốc của bất cứ cái gì, nguồn gốc tiếng nói, phong tục, văn hóa, hay giống nòi, cũng chẳng khác chi đi tìm nguồn của một con sông, tức là nơi phát nguyên của con sông ấy. Có hai nguyên tắc cần phải tôn trọng:

a. Nguyên-tắc thứ nhất: Phải đi ngược giòng, từ dưới lên trên, từ gần đến xa, từ chỗ biết đến chỗ không biết.

b. Nguyên-tắc thứ hai: Cái gì cũng pha trộn, không có cái gì thuần nhất. Sông cái là nơi tụ hội của nhiều sông con. Văn-hóa, phong-tục, ngôn-ngữ, nòi giống của bất cứ dân tộc nào cũng là thành quả của một sự pha trộn nhiều chủng tộc, nhiều văn-hóa, phong-tục, ngôn-ngữ khác nhau suốt giòng lịch-sử. Xa hơn nữa, từ khi có văn-hóa, có nhân loại.

Trong phạm-vi một Chương, chúng tôi chỉ nêu lên mấy nguyên-tắc căn-bản để lưu ý những ai muốn đi tìm nguồn gốc dân tộc. Còn việc thực sự đi tìm - tiếp tục đi tìm - xin nhường lại cho những người trẻ hơn, có nhiều kiến thức hơn chúng tôi.

A. Nguyên-tắc Thứ nhất: Đi ngược giòng.

Hãy lấy sông làm tỉ dụ: Hà nội có một con sông chảy qua, gọi là Sông Nhị, Sông Hồng, hay Sông Cái. Đi tìm nguồn, tìm nơi phát nguyên của con sông ấy, chúng ta phải đi ngược giòng nước chảy, lên Việt-trì, Yên-bái, Lào-cay, Côn-minh, rồi lần mò tới một cái suối nhỏ nào đó ở Tây Tạng. Tìm đến con suối ấy, chúng ta có quyền khẳng định: "Đây là nguồn của Sông Nhị"

Có hai điều cần phải tránh:

- Phải đi theo con sông chính, sông cái, chớ đi lầm sang một con sông con. Cẩn thận, vì có nhiều sông con cũng to gần bằng sông cái.

- Không nên nhắm mắt tin cổ thư, nhất là cổ thư Tàu. Dã sử Tàu có chuyện như sau:

Hán Vũ Đế (140 TTL) sai ông Trương Khiên sang Tây Vực tìm nguồn Sông Hoàng, bảo ông cứ đi ngược giòng sông, đi mãi cho đến nơi phát nguyên của con sông.

Ông Trương Khiên đi 5 năm mà chẳng tới đâu cả. Mệt quá, ông cắm thuyền nghỉ ngơi chơi bời thêm vài năm. Nghỉ ngơi chán chê, ông về kinh tâu với vua rằng ông đi xa lắm, rồi tới một nơi, đột nhiên thấy "nước từ trên trời đổ xuống, và Sông Hoàng bắt đầu từ nơi ấy."

Người Tàu tin lời ông Trương Khiên, vì sách Tàu chép như vậy. Lý Bạch, thi sĩ đời Đường, cũng tin câu chuyện nước từ trên Trời đổ xuống, nên có câu thơ: [/size]
[size=+1]
Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy "thiên thượng lai!"

Có lẽ mãi gần đây, xem bản đồ của Tây, người Tàu mới biết ông Trương Khiên nói dối, và cổ thư đã chép một câu chuyện bịa.

Nói cho cùng, thì ai ở vào địa vị ông Trương Khiên, có lẽ cũng phải nói dối cho được việc. Nếu thú thật là đuối sức, phải bỏ cuộc, thì có thể bị mất đầu. Mà mệt thật, vì sông Hoàng dài 4.845 km, làm sao có thể đi thuyền, hay đi bộ từ hạ lưu Sông Hoàng lên đến Tây Tạng.

Mà với những phương tiện vận chuyển thô sơ của thời ấy, có lẽ đi cả đời cũng chẳng đến. Hơn nữa, thời ấy định giới Trung quốc chưa lên đến Tây Tạng, dọc đường còn nhiều dân tộc thù nghịch với người Hán, thì dễ gì họ cho ông đi qua địa phận của họ.

Mãi gần đây, trong thời đại thái bình, nhờ có phương tiện vận chuyển cơ giới, mấy phái đoàn thám hiểm Tây phương mới lần mò lên đến Tây Tạng và tìm được nơi phát nguyên của Sông Hoàng, Sông Nhị, và nhiều sông khác.

Chúng tôi nêu việc đi tìm nguồn sông làm tỉ dụ, vì thực sự, nhiều học giả đã phạm sai lầm, chỉ vì không tôn trọng nguyên tắc kể trên: Đi từ dưới lên trên, từ gần đến xa, từ chỗ biết đến chỗ không biết.

Mắc bệnh Tận-tín-Thư, họ "nhẩy dù" xuống một trang sách nào đó, vớ được một câu, rồi khẳng định: "Đây là nguồn gốc của dân tộc Ta. Đây là nguồn gốc tiếng Việt. Đây là văn-hóa tổ tiên chúng ta, rồi kết luận: "Ta là con cháu Tàu, Tàu nọ, Tàu kia! "

Đấy là kết quả của nhiều thế kỷ nô lệ văn-hóa Tàu. Sau đây là ảnh hưởng của 80 năm nô lệ văn-hóa Pháp:

Cách đây 50 năm, chúng tôi và những người cùng trạc tuổi ngưỡng mộ bất cứ cái gì của Pháp. Chúng tôi cho rằng:

a. Tiếng Pháp hay nhất, rõ ràng nhất. Tiếng Ta là một phương-ngữ lạc hậu. Hồi ấy, thanh niên Việt chạo tiếng Pháp "oang-oang" giữa phố. Trai, gái viết thư cho nhau cũng viết bằng tiếng Pháp, vì không giỏi tiếng Pháp có nghĩa là không có học thức.

b. Chúng tôi cho trẻ con Pháp kháu khỉnh nhất, "đầm" Pháp đẹp nhất, đẹp hơn đàn bà Việt Nam.

Hồi người Nhật mới sang năm 1940, họ nói con gái Việt Nam đẹp nhất Á Đông, chúng tôi tưởng họ nói để lấy lòng. Sau này, đi khắp đó đây, mới biết họ nhận xét đúng. [/size]
[size=+1][/size] 
[size=+1][/size] 
[size=+1] 
[size=+1][font="times new roman"]Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan [/size][/size][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
.
 
Xin trở lại vấn đề đi tìm nguồn.

Đi tìm nguồn của một con sông, phải đi ngược giòng nước, từ đồng bằng lên núi, từ Đông sang Tây, hoặc từ phía Nam lên phía Bắc, nghĩa là đi trong không gian. Nhưng đi tìm nguồn gốc dân tộc và văn-hoá phải đi ngược thời gian.

Mà đi ngược thời gian lại khó hơn đi ngược giòng nước một vạn lần. Lý do:

Chúng ta có thể đi tới, đi lui, sang phải, sang trái, trèo lên, tụt xuống, trong không gian ba bề (3 dimensions), nhưng vũ trụ có một bề thứ tư, là thời gian mà chúng ta không chủ động di chuyển được. Thời gian cứ lôi cuốn chúng ta theo một chiều, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai. Chúng ta không lùi về quá khứ, mà cũng không nhảy vọt đến tương lai được. Ấy thế mà đi tìm, nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc văn hóa lại phải đi ngược thời gian, trở lui về quá khứ, một việc mà con người không tài nào làm được.

Chỉ còn hai cách:

a) - Một là tra-cứu cổ-thư của Tàu, Ta.
b) - Hai là khảo-cứu Cổ-học (Archeology), Chủng-tộc học, Phong-tục học, và Ngôn-ngữ học Đối-chiếu.

Cách thứ nhất dễ hơn, vì không cần kiến-thức khoa-học, chỉ cần biết ít nhiều chữ Hán. Vì dễ, nên nhiều người viết sách vẫn tiếp tục lục lọi cổ-thư, rồi nói đại: "Chúng ta là con cháu ông Thần nông" cho được việc. "Không tin hãy rở sách nọ, sách kia xem có đúng như vậy không?"

Như đã trình bày, cổ-thư Tàu và Ta không có gì đảm bảo (Xem chương IV, Tận Tín Thư). Để bài trừ căn bệnh nguy hại ấy, chúng tôi chỉ xin nhắc lại một câu của Đức Phật trong Kinh Kalama:

Đừng nhắm mắt tin một điều nào đó là đúng
chỉ vì lẽ điều ấy có chép trong kinh điển.

Chỉ còn cách thứ hai là: Khảo-cứu Cổ học, Chủng-tộc và Phong-tục học. Đấy là Phương pháp Khoa-học, con đường duy nhất có thể dẫn tới chân lý. Nhưng đấy lại là con đường gay go nhất.

Không nói đến việc tự mình vác xẻng đi đào di vật, hoặc tự mình đo lường đặc tính hình thể của người mình và người khác để so sánh - việc ấy đã có người làm - chỉ nói đến việc mang tài liệu đã có sẵng ra đọc cũng đủ khó rồi, vì muốn đọc và hiểu những tài liệu khoa học, phải có kiến thức khoa học, có lý luận khoa học.

Có điều khó khăn là vấn đề nguồn-gốc chủng tộc là một vấn đề quá phức tạp, mênh mông, và các nhà bác học còn đang theo đuổi, nhiều ý kiến còn đang bàn cãi. Do đó, đi tìm nguồn gốc dân tộc, tiếng nói, văn-hóa, v.v..., cũng chỉ đi được một đoạn, rồi phải dừng lại, vì khoa học chưa đủ sáng tỏ để soi đường cho chúng ta đi xa hơn. Có điều không ai bắt chúng ta phải nói dối như ông Trương Khiên. Đi tới đâu, nói là đã tới đó. Không suy diễn lung tung rồi nói liều.

Các nhà khoa học có thể lầm, nói sai, nhưng trước khi tuyên bố một giả thuyết nào mới, họ cũng phải tốn công nghiên-cứu, suy luận rất kỹ càng, minh bạch. Họ rất thận trọng, không bao giờ nói liều như ông Trương Khiên.


Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan
Đăng nhập để trả lời
0
Những Nguyên Nhân Đưa Đến Sai Lầm

Không rõ từ bao giờ, nhưng cho tới nay, nhiều người vẫn khẳng định: "Chúng ta là con cháu ông Thần nông bên Tàu". Tại sao cứ nhắm mắt tin liều như vậy? Xin thưa là tại mấy lý do sau đây:

1. Tất cả chúng ta có họ Tàu: Thấy họ mình là Tàu thì yên trí tổ tiên mình là Tàu. Về điểm này, xin nêu lên 3 nhận xét:

a) - Xem tên, họ, người Mỹ, có thể đoán một người Mỹ nào đó gốc Đức, Ý, Pháp, Ba lan, Nga, v.v... Nhưng nếu họ của người ấy là một họ Angl-Saxon thì không tài nào đoán được người ấy là Mỹ trắng hay Mỹ đen. Lý do: Khi người Anh sang Hoa Kỳ lập nghiệp, họ mua nô lệ da đen, rồi những người da đen ấy lấy họ của ông chủ người Anh, da trắng. Vì vậy, nên có Mỹ da đen tên là Mr. White (Bạch Tiên?sinh).

b) - Hiện nay, tất cả các người Phi Luật Tân đều mang tên họ Tây Ban Nha, vì khi người Tây Ban Nha tới cai trị, họ ban cho người Phi tên và họ Tây Ban Nha. Có điều lý thú là người Tây Ban Nha đặt họ cho người Phi theo kiểu Mỹ đặt tên phố, theo đúng thứ tự A, B, C. Những người ở miền Cực Bắc có họ bắt đầu bằng chữ A. Xích xuống phía Nam là vần B, rồi C, v.v... Ở những đảo về phía cực Nam, họ cho người Phi bắt đầu bằng chữ X,Y, Z. Do đó, chỉ xem họ của một người Phi nào đó bắt đầu bằng chữ gì, có thể biết đại khái người ấy quê quán ở vùng nào.

c) - Ở Thanh Hóa có họ Cầm, làm lang đạo Châu Thường Xuân. Ở Nghệ An có họ Sầm, làm lang đạo huyện Quý Châu. Cả hai đều là người Tày (Thái), cùng chung một họ Thái, vẫn nhận họ với nhau, vì mỗi bên chỉ là một chi của họ ấy. Chi ở Thanh-hóa phiên-âm họ Thái sang Hán Việt là Cầm, mà chi ở Nghệ-an lại phiên-âm là Sầm.

Chúng tôi nêu mấy nhận xét kể trên để nói lên sự thể có tên họ Tàu, không có nghĩa chúng ta nhất thiết phải là con cháu Tàu. Tất nhiên có nhiều người Tàu, mới di cư sang nước Ta trong thời gian gần đây, mang theo họ Tàu, có khi có cả gia phả, như nhiều "ba tàu" ở Chợ Lớn. Nhưng họ là thiểu số.

Xin nhắc lại một nguyên tắc: Trước khi người Pháp sang nước Ta, không có người Việt nào tên là Paul, hay Pierre. Vậy trước khi người Hán sang, cũng chưa có người Việt nào có tên, họ Tàu. Những nhân danh và địa danh bằng chữ Hán có trước thời Bắc Thuộc là do người sau, có Hán học, đặt ra, nếu không phải là Tàu đặt giùm.

Khi người Hán sang cai trị, họ bắt dân bản xứ phải khai tên trong sổ sách của họ bằng chữ Hán, và sau khi Tàu đi khỏi, quan lại Việt Nam cũng làm như vậy. Gỉa dụ : Có người họ là Kèo thì viết thành Kiều, và nếu tên là Cột, thì viết là Kiệt, là những chữ Hán đọc gần giống nhất.

2. Thấy người sang bắt quàng làm họ: Tại sao lại cho Tàu là sang? Xin thưa là tại tinh thần "Nô lệ văn-hóa Tàu", và tinh thần ấy phát sinh về cuối đời Trần, sau khi mượn Tống Nho bên Tàu về làm quốc giáo của mình. Trong 6 thế kỷ liền, giới khoa bảng chỉ học văn chương, thơ phú của Tàu, chê văn chương Việt là "nôm na cha mách qué". Vì chỉ đọc sách Tàu, nên coi Hán tộc là văn minh tuyệt vời, coi Trung quốc là "cái rốn của vũ trụ".

3. Muốn cầu cạnh Tàu , muốn được Tàu viện trợ quân sự để chống lại kẻ thù trong nước. Đấy là trường hợp Lê Chiêu Thống ngày xưa, và của Việt Cộng từ 1950 đến 1975, trước khi phản Tàu thân Nga. Bây giờ đuối quá, lại muốn cầu cạnh Mỹ, nhưng vì đã chót quá tay giết hết tù binh Mỹ, như trước khi tiếp thu Hà Nội năm 1955 đã giết hết những người Nhật tình nguyện ở lại huấn luyện quân sự cho Việt Minh. Bây giờ không ăn nói thế nào được, chỉ còn một cách: Thỉnh thoảng đào một bộ xương mục, giao cho Mỹ để lấy lòng.

Năm 1965, Hà Nội xuất bản Tập I, cuốn Lịch Sử Việt Nam, trong ấy vẫn nhắc đến chuyện Chúng ta là con cháu Vua Thần nông bên Tàu, Tổ tiên chúng ta là Quỷ Cởi Truồng. Động cơ chính: Hồi bấy giờ Việt Cộng đang "nhờ vả" Trung Cộng nên ra sức cầu thân, nhưng từ ngày Tình hữu-nghị Việt-Trung kết thúc, hai bên coi nhau như chó mèo, thì Hà-nội im bặt, không nhận họ với Tàu nữa.

[/align]
 
[size=+1]Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan[/size]

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-22 07:58:26Ngọc Lý>
.
 
4. Ngộ-nhận vì hiểu lầm những danh từ Bách Việt, Nam Việt,Việt Nam.
[size=+1]
Chữ Việt có nghĩa là vượt qua, như việt quyền là vượt qua quyền hạn, việt ngục là vượt ngục. Người Hán dùng chữ Việt để chỉ những sắc tộc ở phía Nam sông Dương-tử, mà họ coi là thấp kém, vì chẳng khác người Thượng hiện nay, họ không định cư ở một nơi để canh tác nông-nghiệp. Cứ ở một nơi vài năm, phá rừng làm rẫy, rồi hễ đất hết màu mỡ, lại "vượt sông, vượt núi", di chuyển tới một khu rừng khác. Vì có nhiều sắc tộc Việt quá nên người Hán gọi "hầm bà lằng" tất cả là Bách Việt. Có mấy điểm nên chú ý:

a). Chữ Việt không dùng để chỉ một dân tộc thuần nhất, mà chỉ rất nhiều sắc tộc cùng một phương thức sinh hoạt, nhưng khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, chẳng khác chữ Indians của Mỹ.

b). Hán tộc gọi chung tất cả các sắc tộc ở phía Nam sông Dương tử là Việt, không định rõ tới đâu thì không còn là Việt nữạ Họ có gọi chúng ta là Lạc Việt, tức là "Người Việt trồng lúa" (xem tại đây ). Còn nước Việt Thường mà nhiều sử-gia nhận-đại là vùng Bình-Trị-Thiên, thì chúng tôi ngờ là vùng Shan bên Miến Điện.

c). Thế kỷ 3 tr.T.L, vào lúc nhà Tần suy yếu, quận ủy quận Nam-hải là Triệu Đà tách khỏi Tần triều, và tuyên bố tự trị, đặt quốc-hiệu là Nam-Việt. Hai chữ Nam-Việt (Southern Viet) có nghĩa là: "Người Việt ở phía Cực Nam so với các sắc tộc Việt khác".

Năm 207 TTL, Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc, và sát nhập vào nước Nam Việt của hắn. Từ đấy nước Ta trở thành thuộc địa của Tàu, chẳng khác sau này nước Ta trở thành thuộc địa của Pháp.

Có một hồi người Pháp gọi Algérie là "France d'outrmer", nghĩa là "Pháp quốc Hải-ngoại". So sánh, ngày xưa nước Ta cũng chỉ là "Nam Việt Sơn ngoại" (Nam Viet d'outre-montagne). Chúng ta là kẻ bị trị, người Hán là kẻ thống trị.

Một ngộ nhận khác: Có sử gia coi thời kỳ chúng ta bị sát nhập vào nước Nam Việt là "Thời-kỳ Tự-trị". Tự trị là Triệu-Đà tự trị đối với Tần triều ở phương Bắc, nhưng chúng ta vẫn là "dân bị trị". Nhận liều như vậy là "bất tri vong quốc hận".

d). Nhưng từ ngày nước Ta thoát khỏi ách đô hộ của Hán tộc, vua chúa nước Ta cứ cố ý nhận đại là Việt. Đinh Tiên Hoàng đặt quốc-hiệu là Cồ Việt. Chữ Cồ của tiếng Mường nghĩa là Lớn*. Nói Đại Cồ Việt nghĩa là Lớn-Lớn Việt , nói thừa một chữ. Việc ấy tố giác sự thiếu sót của một sử gia nào đó, học quá nhiều chữ Hán mà quên mất tiếng Mẹ đẻ.

Vua Lý bỏ chữ Cồ và đặt quốc hiệu là Đại -Việt. Vẫn cứ "sập-xí sập ngầu" nhận đại là Việt để kiếm cớ "đòi" Lưỡng Quảng. Mà quả thật, Lý Thường Kiệt đã mưu việc ấỵ

Trung quốc bắt buộc phải công nhận nền tự trị của nước Ta, nhưng coi nước Ta là "phiên quốc", nghĩa là một nước ngoài biên giới, nhưng phải thần phục Trung quốc, hoặc ít nhất cũng phải trung lập, không được liên kết với một nước nào khác để gây mối đe dọa cho Trung quốc.

Việt Nam là cửa ngõ của Trung quốc, và "Bác Hồ" cũng đã ví Ta với Tàu như "răng với môi". Sự thực Trung quốc sợ Nga kiểm soát Việt Nam còn hơn Hoa kỳ sợ Nga kiểm soát Nicaragua.

Vì nghĩ rằng "tránh voi chẳng hổ mặt nào" nên các triều đại kế tiếp vẫn nhận điều kiện bất thành văn (unwritten understanding) ấy và chịu khó giao hảo với Tàu để tránh mối đe dọa từ phía Bắc. Việt Cộng không hiểu như vậy khi kết thân với Nga là nước thù địch của Tàu nên gây nên mối xích mích mà không thể nào hàn gắn được.

Trung quốc nhận cho chúng ta tự trị nhưng rất cẩn thận: Không bao giờ chính thức nhận chúng ta là Việt. Họ phong cho Vua nước Ta là "An-nam Quốc vương". Vua Gia Long lên ngôi, sai sứ sang Tàu xin đặt quốc-hiệu là Nam-Việt, nhưng Triều đình Mãn Thanh không chịu mắc lừa. Họ bèn đặt quốc-hiệu cho nước Ta là "Việt Nam".

Theo ngữ phạm của tiếng Hán, Việt (chi) Nam có nghĩa: Nước ở phía Nam người Việt (South of the Viets). Vua Gia Long không chịu, cho Tàu là láo xược, vì không có nước nào lại chịu nhận tên nước mình là ở phía Nam hay phía Bắc một nước khác. Giả dụ, Hoa kỳ đặt tên cho Mexico là South of Texas, và Canada là North of Michigan thì chắc chắn hai nước ấy chẳng bao giờ chịu nhận những tên kỳ quặc ấy.

Tàu hỗn, chúng ta cũng chẳng cần, vì chúng ta "trả đũa" bằng cách gọi họ là Tàu**, tức là bọn cướp Tàu ô, thường dùng tàu chia thành nhiều ô, để nhỡ bị trúng đạn, thủng một hai ô, tàư không bị đắm.

Không chịu nhận quốc hiệu là Việt Nam, nhà Nguyễn cứ lấy quốc hiệu là Đại Nam. Nhân dân trong nước cứ xưng là Người An-Nam. Giáo sĩ Tây sang cũng gọi nước Ta là Annam. Viết sách bằng Latin, họ gọi người An nam là Annamiticum. Người Pháp đổi chữ Annamiticum thành Annamite.

Không ai phản đối chữ An-nam, kể cả sử gia Trần Trọng Kim, vì ấn bản đầu tiên cuốn Sử của Cụ mang tên là An-nam Sử lược. Hồi ấy, Hà nội có tờ An-nam Tạp Chí do Tản Đà làm chủ bút. Ngày xưa, Vua Lê, Chúa Trịnh vẫn lấy quốc hiệu là An-Nam.

Nhưng nhiều người không thích danh từ An-nam-mít, vì chữ mít tiếng Ta có nghĩa là "dốt đặc, không hiểu, không biết gì cả". Chúng ta thường nói "mít đặc cán mai cán thuổng", vì gỗ mít là một thứ gỗ rất đặc thớ, dùng làm cán mai, cán thuổng rất tốt.

Vì ghét chữ Annamite, họ ghét luôn chữ An-nam, viện cớ rằng hồi người Tàu đô hộ, Tàu gọi nước Ta là An-nam Đô hộ Phủ. Họ hiểu An-nam là "Bình định miền Nam". Sự thực An phải hiểu là "bình an", và An-Nam phải hiểu là "Miền Nam an bình" (Peaceful South)

Trung quốc có An-đông, Diên-an, v.v... và chúng ta cũng có nhiều địa danh có tên An như Kiến An, Nghệ An, Hội An, An Khê, v.v...

Hình như người đầu tiên dùng chữ Việt Nam là Cụ Phan Bội Châu (Việt-Nam Vong-quốc Sử, 1905). Kế đến ông Nguyễn Ái Quốc xuất bản tờ Việt-Nam Hồn (1920), và sau đấy là Việt Nam Quốc Dân Đảng (1926).

Ngày 17 tháng 6, 1930, Nguyễn Thái Học, và 12 đồng chí của ông bị Pháp xử tử ở Yên Bái, và trước khi đưa đầu vào máy chém, mỗi người đều hô: "Việt-nam Muôn năm!" Từ giờ phút ấy, hai chữ Việt Nam trở thành thiêng liêng, và được toàn dân công nhận. Rồi Người Việt Nam được gọi tắt là Người Việt, làm cho nhiều người càng yên trí thêm chúng ta là một trong các sắc tộc Bách Việt bên Tàụ

Tóm lại: Chữ Việt Nam tuy không chỉnh, nhưng cũng nêu lên sự thể chúng ta không phải là Việt. Những danh từ Người Việt, tiếng Việt đã gây nhiều hiểu lầm. Nếu chúng ta tự nhận là Việt, nghĩa là trên thế giới, ngoài chúng ta, chẳng có ai là Việt cả, thì những thần dân của Việt vương Câu Tiễn phải gọi là gì?

Tuy sai, nhưng đã thông dụng trong hơn 50 năm, bây giờ đã thành thói quen, không phải là lúc chữa lạị Nhưng giữa chúng ta, vẫn có thể nói như các Cụ ngày xưa: Nước Ta, Người Ta, tiếng Ta.

Chúng ta có câu đố:


"Cái thúng mà thủng hai đầu
Bên Ta thì có, bên Tàu thì không"


Không ai nói "Bên Việt Nam thì có, bên Trung quốc thì không".

___________

* Vua Đinh Tiên Hoàng có 5 bà vợ. Bà Vợ cả, tức là Bà lớn, gọi là Bà Cồ.

** Chữ TÀU, chúng ta mượn của người Á Rập, khi Tauh (thuyền đi biển) của họ bốc hàng lên cửa bể Lạch Trường về đời Trần, vì hồi ấy Trung quốc đang có chính sách "Bế quan tỏa cảng". Cũng vào dịp ấy, họ mang Hồi giáo vào Chiêm thành.




[/align][size=+1]Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan[/size]
[/align][/size]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-23 17:49:12Ngọc Lý>
.
Đặc tính chủng tộc
 
Như đã trình bầy ở trên, muốn đi tìm nguồn gốc phải đi từ gần đến xa, từ hiện tại đến quá khứ. Đi từ hiện tại, nghĩa là phải biết hiện nay chủng tộc chúng ta có những đặc tính gì về thân hình, tóc tai, mắt mũi, v. v… Chúng ta đứng vào vị trí nào trong bản đồ huyết chủng (Blood-groups Chart). Có biết những đặc tính nhân chủng ấy, mới có thể so sánh với các chủng tộc khác, xem chúng ta gần những chủng tộc nào, xa những chủng tộc nào. Lẽ tất nhiên là nếu có họ thì phải có họ với những dân tộc có những đặc tính nhân chủng gần nhất. Chẳng hạn, nói rằng chúng ta có họ với người Pháp, và người Gaulois là Nos Ancêtres, thì không xuôi, vì người Pháp da trắng, mắt xanh, mũi lõ, mà chúng ta da vàng, tóc đen, mũi tẹt. Nói rằng chúng ta là con cháu Tàu, cũng không được, vì Tàu đầu dài (dolichocephale), mà chúng ta đầu tròn (brachycephale). Về huyết chủng cũng rất xa nhau.
 
Nhưng rất tiếc là hiện nay nhiều người vẫn chưa để ý đến những đặc tính chủng tộc và đặc tính văn hóa của chính chúng ta. Không phải chưa ai khảo cứu, không phải không có tài liệu, chỉ tại ít người đi kiếm tài liệu có sẵn để đọc.Vi` không rõ những đặc tính chủng tộc, đặc tính văn hóa của chính mình, nên nhiều người cứ căn cứ vào cổ thư để nhận họ với Tàu, cứ yên trí chúng ta đồng chủng với Tàu, Tàu Hán hay Tàu Thương gì cũng được. Cứ Tàu là quy’.

Từ đầu thế kỷ (20), có hàng trăm học giả đã nghiên cứu những đặc tính chủng tộc và văn hóa của chúng ta, so sánh với các chủng tộc khác, nhưng phần lớn viết bằng tiếng Pháp, mà từ ngày Pháp về nước, mấy tài liệu ấy cứ nằm yên trong các thư viện.

Vào những năm 1960, miền Nam có ông Bình Nguyên Lộc mang những tài liệu ấy ra đọc cùng với cổ thư của Tàu, và viết cuốn NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Rất công phu – có lẽ không mấy ai công phu hơn ông – vì ông khảo cứu rất nhiều sách vở, cổ kim đông tây, nhưng chính vì ông đọc và trích quá nhiều tài liệu nên cuốn sách dày 900 trang của ông có nhiều giá trị về tài liệu, hơn là về giải thích vấn đề.

Hồi ấy ông cũng chưa ra Bắc, nên chưa nắm vững ngôn ngữ và phong tục của người Bắc. Sau đây là một vài thí dụ:

1. Trích một câu trong Thi văn đời Trần của Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản:

Bao giờ đến tháng giêng hai
Trồng bông, trồng đậu, trồng khoai kịp thì.

Ông cho rằng về đời Trần, bông có nghĩa là hoa như ở trong Nam. Rất đúng, vì trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam, chữ Hoa của Tàu chưa xâm nhập ngữ vựng Việt Nam.

Nhưng câu thơ kể trên là một ca dao nói về công việc canh tác của người nông dân, nào là trồng đậu, trồng khoai, trồng bông. Vậy thì bông mà người nông dân lo trồng phải là “bông vải”, dùng để kéo sợi, dệt vải, mới đúng là công việc làm ăn của họ. Hơi đâu mà họ mong đến tháng giêng hai để trồng bông (hoa), ngắm cho sướng mắt.

2. Ông nói ở miền Bắc có Thái trắngThái đen, và ông tưởng Thái đen“người Thái da đen”. Ông thú thật không hiểu tại sao ở Bắc Việt lại có người da đen. Ông không biết Thái trắng là người Thái, đàn bà mặc áo trắng, và Thái đen là người Thái, đàn bà mặc áo đen. Có lẽ ông cũng không biết có cả Thái đỏ, đàn bà mặc áo đỏ.

3. Một mặt ông đọc sách Tàu, và tin huyền thoại tổ tiên chúng ta từ bên Tàu di cư sang Việt Nam. Mặt khác, ông lại tin những tài liệu khảo cứu chứng tỏ chúng ta rất gần người Mã Lai về chủng tộc, ngôn ngữ, và văn hóa, nên ông có sáng kiến dung hòa cả hai bằng cách đưa ra một lập luận rất độc đáo. Ông nói:

- Tổ tiên chúng ta, thuộc đại chủng tộc Mã Lai, xuất phát từ vùng Hy Mã Lai Á (Himalaya), đi 5.000 cây số lên đến Hoa Bắc. Ông không nói lên Hoa Bắc để làm gì. Ông tin chữ Mã Lai Á (Malaya) bắt nguồn từ chữ Himalaya, nhưng ông không chứng minh.

- Rồi cách đây chừng 5 ngàn năm, tổ tiên chúng ta từ Hoa Bắc, đi làm nhiều đợt, “đờ mi tua” đi trở lại 5 ngàn cây số về phía Nam. Đợt 1, mà ông gọi là “Nhóm Hùng Vương” tới Bắc Việt trước, rồi sau đó, người Mường, mà ông gọi là Đợt 2, tới “ở trọ” nước Văn Lang của “Nhóm Hùng Vương”. Rồi lại có nhiều nhóm khác chạy dài xuống Mã Lai, Nam Dượng Lại có nhóm Chàm dùng thuyền trở lại Trung Việt. Ông bắt các cụ đi quanh đi quẩn nhiều quá. Tội nghiệp! Ông không nói các cụ đi làm gì cứ ngược xuôi vất vả như vậy.

Ông Bình Nguyên Lộc là một học giả mà ai cũng phải khâm phục. Nhưng ông có một thiếu sót: Ông dấn thân vào lãnh vực khoa học phiền toái mà ông thiếu sửa soạn. Vốn là một tiểu thuyết gia có tài, ông không tránh được xu hướng rất tự nhiên là tiểu thuyết hóa những dữ kiện ông đọc trong cổ thư của Tàu và của Ta. Đấy là một thiếu sót mà đa số chúng ta thường mắc phải vì cổ thư của Ta và của Tàu chưa được thẩm định lại, đa số chúng ta vẫn tận tín thư, vẫn chưa thoát Bệnh Giáo Điều. Thêm vào đấy, chúng ta còn bị ảnh hưởng “phong thần” của tiểu thuyết Tàu.

Nhưng gần đây có mấy học giả có căn bản vững hơn, mang những tài liệu khảo cứu về chủng tộc học và tóm tắt lại, viết thành mấy cuốn sách có giá trị. Đứng đầu là cuốn Nguồn gốc Dân tộc Việt Nam của ông Nguyễn Khắc Ngữ, xuất bản ở Montreal.  Theo thiển ý của chúng tôi, bạn nào muốn tìm hiểu nguồn gốc dân tộc mà không có những nguyên bản tiếng Pháp nên mua và đọc cuốn sách ấy. Ông Ngữ có lập trường khoa học, có công sưu tầm, và đưa ra nhiều nhận định rất chính xác, như:

1.      Ông vạch rõ chuyện Con Rồng Cháu Tiên là một huyền thoại, và chỉ có giá trị một huyền thoại. Chúng tôi sẽ bàn thêm ở Chương VII (Con Rỗng, Cháu Tiên).

2.      Để đả phá những thuyết vớ vẩn cho rằng tổ tiên chúng ta từ Trung quốc di cư xuống miền Nam, ông chứng minh dân tộc Việt Nam có liên hệ mật thiết với chủng tộc Melanesien ngoài Thái Bình Dương.

3.      Ông xác định người Mường và người Kinh là một, chỉ khác ở một điểm: Người Mường ít lai Tàu, và ít bị ảnh hưởng văn hóa Tàu. Va` còn nhiều điểm khác nữa. Nên đọc cả cuốn sách.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-23 17:48:32Ngọc Lý>
 
Từ đâu tới Bắc Việt?
 
Ở Chương V, chúng tôi đã giải thích Lạc Việt là “người Việt trồng lúa, và sống bằng lúa gạo”, và đưa ra giả thuyết: Vì chuyện trồng lúa, mà địa bàn trồng lúa phát triển từ phía Nam lên phía Bắc, bắt đầu từ Ấn Độ, nên có lẽ tổ tiên chúng ta xuất phát từ miền Bắc Ấn Độ. Có lẽ từ đấy tràn sang Miến Điện, Thái Lan, Cao Mên, rồi dọc theo dãy núi Trường Sơn đi dần đến Bắc Việt. Vì là nhóm tiền phong trong cuộc Bắc tiến, nên người Mường là sắc tộc đầu tiên tới Bắc Việt. Người Thượng trên dãy Trường Sơn là bà con gần nhất, nhưng vì họ không Bắc tiến nên không học được văn hóa Hán tộc.


Những dân tộc khác ở Đông Nam Á, cũng sống nhờ cây lúa, có lẽ cũng phát xuất từ Bắc Ấn Độ, nên có liên hệ về chủng tộc, ngôn ngữ, và văn hóa với chúng ta. Nhưng từ Miến Điện, Thái Lan, họ đi thẳng xuống bán đảo Mã Lai, tràn xuống Nam Dương và các quần đảo ở Thái Bình Dương. Vì vậy nên, như ông Nguyễn Khắc Ngữ đã nhận xét, chúng ta có liên hệ cả với người Melanesien ở ngoài Thái Bình Dương. Có lẽ vì cùng phát xuất từ một nơi nên Ta và Mã Lai có trò chọi gà, Ta và Nam Dương có trò múa rối, và Tiếng Ta thuộc chi Mon-Khmer của ngữ tộc Nam Á (Austro-Asiatic).


Nếu quan niệm chúng ta là con cháu ông Thần Nông từ nước Xích Quỷ di cư xuống miền Nam thì không thể giải thích được những liên hệ Nam Á. Cũng không giải thích được tại sao những truyền thống cũ kỹ nhất của ta đều phát xuất từ Ấn Độ.


Cụ thể, nếu chúng ta từ phía Bắc xuống thì tại sao chúng ta lại chít khăn, đóng khố, ăn trầu, nhuộm răng, ngồi xếp bằng như người Ấn? Và tại sao khi vái trước bàn thờ chúng ta lại lên gối, xuống gối in hệt như ngưỜi Sikh, không khuỵu cả hai chân một lúc, cong lưng phủ phục như người Tàu? Cũng không giải thích được tại sao Tiếng Việt lại thuộc ngữ chi Mon-Khmer và ngữ tộc Austro-asiatic (Nam Á) .
 
B. Nguyên tắc thứ hai: Không có thuần nhất.


Theo nguyên tắc thứ hai thì phải có nhiều sông con hợp lại mới thành sông cái, nghĩa là nước của sông cái là nước của nhiều sông con đổ vào. Dân tộc, ngôn ngữ, hay văn hóa cũng chẳng khác. Tất cả đều là trao đổi, vay mượn, và pha trộn.


Những người cứ đinh ninh chúng ta là một dân tộc thuần chủng là những người bất chấp nguyên tắc ấy. Hãy nói Mỹ chỉ đóng quân ở nước Ta trong 10 năm mà đã có hàng ngàn trẻ con lai Mỹ. Vậy thì số người lai Pháp trong 80 năm Pháp thuộc phải đông gấp bội. Và còn người lai Tàu trong 1000 năm Bắc thuộc, còn con cháu Mạc Cửu ở Hà Tiên, còn người Minh Hương, người Việt gốc Mên, gốc Chàm, còn vô số sắc tộc trên miền Thượng,  miền thượng du Bắc Việt.


Họ không để ý đến huyền thoại, không nêu câu hỏi: Ông Lạc Long và bà Âu cơ sinh ra 100 người con, 50 theo Bố xuống biển, 50 theo Mẹ lên núi. Vậy chúng ta là nhóm theo Bố, hay nhóm theo Mẹ? Nếu chúng ta thuộc nhóm theo Bố, thì nhóm theo Mẹ bây giờ là ai? Ở đâu?


Còn một câu hỏi khác cần phải giải đáp: Chúng ta có ca dao


Bầu ơi! Thương lấy Bí cùng!
Dù rằng khác giống, nhưng chung một giàn.



Nếu câu ấy là của người Mỹ, thì rất dễ hiểu, vì trên cái “giàn Hoa Kỳ” có Mỹ trắng và Mỹ đen, có thể so sánh với Bầu và Bí. Nhưng câu hỏi cần phải giải đáp là:  Trên giàn Việt Nam, ai là Bầu, và ai là Bí?

Thần thoại Con Rồng Cháu Tiên và câu chuyện Bầu Bí, chứng tỏ chủng tộc Việt Nam gồm có ít nhất là hai sắc tộc chính - người Âu và người Lạc – cùng chung trên hai ngàn năm lịch sử. Chúng tôi sẽ bàn thêm về quốc hiệu Âu Lạc ở Chương kế tiếp.
 
 
[size=+1]Hoàng Văn Chí - Duy Văn Sử Quan[/size]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-24 15:07:15Ngọc Lý>
.
 
II MẶC CẢM TỰ TÔN

 
Theo thường lệ, dân tộc nào cũng tự hào về những đức tính của mình và coi thường các dân tộc khác. Tỉ dụ: Chúng ta vẫn đề cao tinh thần toàn dân đoàn kết đã thể hiện một cách rực rỡ tại Hội Nghị Diên Hồng, và nhờ  có tinh thần Đại Đoàn Kết ấy, chúng ta đã đánh bại Mông Cổ ba lần. Đấy là tinh thần  của ông cha chúng ta về đời Lý, Trần.

Hiện nay, chúng ta còn giữ được nhiều đức tính cổ truyền, mà tờ Washington Times ngày 25/12/1985 đã viết bài ca ngợi, như  tinh thần hiếu học, tinh thần đùm bọc gia đình. Bài báo nói “thuyền nhân” đã mang sang Hoa Kỳ nhiều đức tính mà người Mỹ đã để mất, và bây giờ nên học lại của “thuyền nhân” Việt Nam.

Nhưng về mặt khác, chính chúng ta cũng đã để mất khá nhiều đức tính của ông cha, trong khi nhiều dân tộc khác vẫn còn giữ được. Phải thành thật công nhận:

Người Nhật và người Do Thái cũng có tinh thần hiếu học, tinh thần đùm bọc gia đình, và đặc biệt, họ vẫn giữ đuợc tinh thần đoàn kết dân tộc.

Chúng ta nên tự trách là đã để mất Tinh Thần Đại Đoàn Kết của ông cha. Mỗi lần nhắc tới hai chữ Diên Hồng chúng ta nên hổ thẹn với tiền nhân. Chỉ vì không bảo tồn được tinh thần ấy mà chúng ta đã mất nước với Cộng Sản Quốc Tế dưới sự điều khiển của Liên Xô và Trung Cộng.

Hơn nữa, hiện nay chúng ta đang tị nạn ở các nước khác, chúng ta nên khiêm tốn học hỏi những cái hay của người địa phượng Nếu cho rằng chúng ta hơn người về đủ mọi phương diện, thì trẻ nhỏ sẽ kiêu căng, không thèm học hỏi người khác.

Có tinh thần dân tộc, nghĩa là biết thương yêu dân tộc, phục vụ dân tộc, và sẵn sàng hy sinh cho dân tộc. Thiếu tinh thần ấy thì quốc gia ươn hèn, nhưng nếu quá trớn, cho rằng dân tộc mình giỏi nhất, thì lâm vào Tinh thần Dân tộc Độc tôn, khinh miệt và kỳ thị các dân tộc khác.

Đành rằng ai cũng muốn bảo tồn sự thuần nhất của chủng tộc mình, tránh sự pha giòng, nhưng không nên quá hẹp hòi, và coi rẻ các dân tộc khác. Đây là một thái độ rất khó tránh. Thi sĩ Tản Đà cũng không tránh nổi.Trong bài hát xẩm Con Cá Vàng, ông viết:

Anh tiếc cho em phận gái má đào,
Tham đồng bạc trắng mới gán mình vào cái chú Tây đen.

Tây đen là mấy “Chú Bảy” bán vải, người Bombay, Hoặc mấy ông “Chetty” cho vay nợ lãi, người Pondichery. Họ là người Ấn độ, đồng hương với Phật Thích Ca. Nếu mình miệt thị cả người Ấn, thì làm sao trách được người Mỹ và người Nam Phi kỳ thị da đen và da vàng?

Thôi được! Kỳ thị người ngoại quốc, khác chủng tộc, là một việc rất thường tình. Nhưng có người kỳ thị cả những sắc tộc thiểu số cùng sống trên giàn Việt Nam, coi họ là mọi rợ, không phải Người Việt chính cống, như Mường, Mán, Thổ v.v… Tại sao lại dám khinh thường Mường? Chả lẽ khinh cả Triệu Ẩu, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Nguyễn Kim hay sao? Tất cả đều là Mường, vì dân cư ở mấy địa phương ấy vẫn còn ăn bận kiểu Mường, nói tiếng Mường.

Lại còn kỳ thị người Thượng trên dãy Trường sơn. Kinh họ thì làm sao đoàn kết được với tổ chức FULRO để chống kẻ thù chung?

Nghĩ lại, giá như ông Diệm không kỳ thị người Mên, không ghét Sihanouk, không sai Paulus Hiếu sang tổ chức ám sát ông Sihanouk, nếu ông Diệm viết Kampuchea và Việt Nam quan hệ mật thiết với nhau như “Môi với Răng”, biết khéo léo ngoại giao, chiều chuộng nếu cần, thì chắc chắn Sihanouk không nổi khùng, mở cửa cho Cộng sản đặt căn cứ trong nội địa Kampuchea, và tình hình chiến tranh có lẽ đã khác hẳn. Đành rằng Sihanouk làm như vậy là dại, vì hậu quả là cũng mất nước với Cộng sản, nhưng ông Diệm và quan thầy Mỹ cũng chẳng khôn ngoan hơn chút nào. Bây giờ cùng hội cùng thuyền, Mên và Việt mới biết thương nhạu Mong rằng hai dân tộc sẽ đoàn kết để chống kẻ thù chung.

      Ông Diệm có học Pháp mà ông không nhớ thành ngữ của Pháp: “On a toujours besoin d’un plus petit que tọi” (Bao giờ cũng cần đến người kém mình.) Mà so sánh thì chắc gì Sihanouk đã kém ông Diệm?

Nên để ý ra(`ngtrong khi ấy, Hà Nội cử Hoàng Minh Giám là thầy học cũ của Sihanouk sang “tâng bốc” ông Hoàng tử hiếu thắng và “phổi bò”.

      Bài học quá đắt mà ông Diệm và ông Sihanouk đã để lại cho dân tộc Việt Nam và Kampuchea là: Cầm đầu một nước, đặc biệt là nước nhỏ, chớ nên nóng mặt và hách xằng.

      Có một câu hỏi cần được nêu lên: Tại sao ông Diệm lại hách đối với Sihanouk, trong khi ông Diệm chỉ là một cựu quan lại và Sihanouk là một cựu quốc vương? Xin thưa là tại có hai lý do:

-         Ông Diệm là quan lại, xuất thân trong một gia đình ba đời làm quan, mà quan lại thường tự coi mình là “dân chi phụ mẫu”, thường có thái độ hách dịch đối với bất cứ ai. Vì biết như vậy nên năm 1945 Nhật không dám cử ông làm Thủ tướng, mặc dầu ông ráo riết vận động.

-         Hai là ông có mặc cảm tự tôn, khinh miệt tất cả những chủng tộc khác, kể cả người Mên và những dân tộc thiểu số trong nước, vì họ không có “văn hóa Hán tộc”, không phải là Con cháu ông Thần nông bên Tàu.
 
Để tạm kết luận, xin thưa một câu: Thế giới sắp bước sang Thế kỷ 21, mà chúng ta vẫn còn đang ở thế kỷ 19 về phương pháp lý luận và phê phán. Để đuổi kịp người, dân tộc đang trông chờ một thế hệ mới, có kiến thức mới, có tầm mắt bao quát, không tận tín thư, không mắc bệnh giáo điều, bất cứ giáo điều nào, và không có mặc cảm tự ti hay tự tôn. Nghiên cứu đủ loại văn hóa. Hễ thấy ai có gì hay hơn ta thì học, ta có gì hay hơn người thì lo bảo tồn. Thế hệ ấy sẽ tiếp tục nghiên cứu vấn đề Nguồn gốc Văn hóa và Dân tộc để đạt tới những kết quả đầy đủ hơn.

.           Có hiểu rõ quá khứ mới định được hướng đi trong tương lai.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-10 07:00:55Ngọc Lý>
.
CHƯƠNG VII
CON RỒNG, CHÁU TIÊN
 

Chúng ta có huyền thoại sáng tạo nói chúng ta là Con Rồng, Cháu Tiên, kể chuyện Ông Lạc Long là Rồng, lấy Bà Âu Cơ là Tiên. Bà Âu Cơ sinh ra 100 trứng, nở ra 100 người con. Về sau, hai ông bà nhận thấy vì khác giống, Rồng và Tiên không thể sống chung được, phải ly thân, chia gia tài và chia con. Bà Âu Cơ mang 50 người con lên núi, và ông Lạc Long mang 50 người con xuống biển.

Trước hết xin có mấy nhận xét:

a.  Mỗi dân tộc trên thế giới đều có thần thoại sáng tạo. Người Nhật nói họ là con cháu Thái dương Thần nữ, tức là Thần Mặt Trời. Người Do Thái tin họ là hậu duệ ông Adam và bà Eva, hai người đầu tiên do Chúa lấy đất nặn ra, theo hình ảnh của Ngài. Điều đáng chú ý là mỗi dân tộc chỉ có một huyền thoại sáng tạo, không bao giờ có hai.

Chuyện Con Rồng Cháu Tiên là huyền thoại của người Âu Lạc, đặt ra về đời Thục An Dương Vương để quy tụ hai sắc tộc – Âu (con cháu bà Âu cơ), và Lạc (con cháu ông Lạc Long), thành một dân tộc thống nhất. Chuyện Con cháu vua Thần nông là chuyện mượn của Tàu. Việc bắt Rồng và Tiên phải làm con cháu vua Thần nông bên Tàu để nhận họ với Tàu là chuyện thêm thắt về sau, và hết sức vô lý. Rồng và Tiên có từ muôn thuở, không là con cháu ai cả.

b. Chuyện người đầu tiên, từ trứng nở ra, là một chuyện chung cho nhiều dân tộc. Ấn Độ có chuyện người đầu tiên là một ông Hoàng tử, từ một quả trứng nở ra.

Con số một trăm ông Tổ, bà Tổ cũng là một con số trong huyền thoại của nhiều dân tộc . Người Dao (Mán) kể chuyện Mẹ đi chợ, mua một miếng thịt, chặt thành 100 miếng, mỗi miếng hóa thành một người. Người Hmong (Mèo) kể chuyện Mẹ mua một quả bầu, bổ ra, từ trong quả bầu vọt ra một trăm người.

         Chúng ta là con Rồng, cháu Tiên, vậy Rồng và Tiên là gì?

Khái niệm về Tiên:

Tiên là một nhân vật thần kỳ, mang theo mấy khái niệm như sau:

Tiên ở trên núi. Muốn tu tiên, phải lên núi.

Tiên rất đẹp. Chúng ta thường nói đẹp như tiên.

Tiên có nhiều phép lạ, có phép tiên, có nhiều phương thuốc rất thần hiệu để chữa đủ thứ bệnh, gọi là thuốc tiên.

Tiên lúc nào cũng sung sướng. Khi nào rất sung sướng, chúng ta nói sướng như tiên.

Tiên ở trên trời, trên miền cực lạc. Lúc nào chết, chúng ta có hy vọng sẽ được tới đấy. Vì vậy nên chết là quy tiên.

Hãy xét lại mấy điểm quan trọng:

Tiên là người trên núi.

Tiên là chữ Hán, gồm có chữ Nhânlà người, và chữ Sơn là núi. Vậy theo nguyên nghĩa, Tiên là người sống trên núi.

Tiên rất đẹp.

Có thể duyên do như sau: Vì ít ánh nắng, nên con gái vùng cao nguyên thường có nước da tương đối trắng, đặc biệt con gái mấy ông tù trưởng, các Nàng Mái, không làm việc đồng áng nên da rất trắng và mịn màng. Mấy cậu con trai ở miền xuôi lên trông thấy là đủ mê. Đấy là trường hợp mấy “cậu giáo” được đổi lên mạn ngược.

         Về điểm này, xin có một nhận xét. Từ xưa tới nay, con gái các lang đạo Mường và Thái, kể cả Thái ở Vân Nam, đều gọi là Nàng-Mái. Tàu phiên âm là Mai-neng, chúng ta đọc theo giọng Hán Việt là Mỵ Nương. Chữ Mái chỉ còn sót lại trong chữ gà mái.

Tiên có nhiều phép lạ

Tiên là người trên núi, trên vùng cao nguyên. Chúng ta thường tin người trên núi có “bùa ngải”, họ dùng để “chài” mấy cậu thanh niên lò mò lên nơi họ ở, làm cho các cậu mê man tâm hồn, không nghĩ đến chuyện trở về miền xuôi. Xin kể mấy trường hợp:

a.       Chẳng khác con gái Mỹ, con gái mạn ngược không bị phong tục “nam nữ thụ thục bất thân” của Khổng giáo ràng buộc, nên tấn công con trai thẳng cánh. Theo lời thi sĩ Quang Dũng, người đã dự Chiến dịch Tây Tiến năm 1952, lính Việt Minh lên Hòa Bình, Sơn La bị con gái địa phương tấn công. Nhưng vì có chính trị viên luôn luôn theo rõi, mấy “đồng chí Giải phóng quân” không dám lơ mơ. Tấn công không được, các cô gái Thái đồn rằng “lính Việt Minh đã bị Cụ Hồ thiến, trước khi đưa lên chiến trường Tây Bắc.”

Cũng nên biết ở những vùng có bệnh sốt rét, đàn bà vẫn khỏe mạnh vì khí huyết thay đổi, nhưng đàn ông bị sưng lá lách, thiếu máu, thiếu sinh lực, nên con trai miền xuôi thường có giá hơn.

b.       Người miền cao nguyên sẵn lòng gả con gái cho con trai miền xuôi, nhưng họ nghe nói ở miền xuôi có nạn mẹ chồng bắt nạt nàng dâu nên thường đặt điều kiện: Muốn lấy con gái họ thì phải ở gửi rể. Mấy cậu con trai lấy vợ mạn ngược rồi bị “kẹt” luôn nơi quê vợ, phải mượn chuyện bùa ngải để tự bào chữa với bà con nơi quê nhà.

c.       Chúng ta thường tin người miền núi có nhiều phép lạ, đặc biệt là có ma, thường gọi là “ma mường”. Lên miền rừng núi mà không cẩn thận có thể bị ma mường bắt.

Xin kể:

         Ông Bác chúng tôi lên một xứ gọi là Mường Khô, thuộc châu Hồi Xuân, Thanh Hóa. Chừng nửa tháng sau, ông cụ bị lên cơn sốt rất nặng. Bị líu lưỡi, cụ nói “cái đèn” thành “cái tèn” .

         Vì “đèn”, tiếng Mường là tèn, bà cụ tin rằng ông cụ bị ma mường nhập, nên nói tiếng Mường. Bà bèn mời phù thủy, lập đàn cúng tế để cầu Đức Thánh Trần trừ giùm ma mường. Mãi cũng chẳng khỏi. Sau cùng phải cho ông cụ vào bệnh viện. Bác sĩ chích mấy phát ký ninh, là khỏi ngay.

         Bây giờ chúng ta hiểu chẳng có ma quỷ gì cả, chỉ có bệnh sốt rét rừng do muỗi anopheles truyền từ người nọ sang người kia.

         Về mặt khác, chúng ta thấy thổ dân ở thượng du sống được, mà không bị bệnh sốt rét, nên chúng ta ngỡ rằng họ có phù phép nào đó để “chống ma”, nên mới không bị sốt.

         Chúng ta không biết họ cũng bị bệnh sốt rét, nhưng dưới hình thức kinh niên. Đang làm, run lập cập, nằm quay ra đất một lúc, rồi đứng dậy làm việc như thường. Họ chỉ yếu, vì thiếu hồng huyết cầu, nhưng họ không chết. Chúng ta có thể chết, vì lớn lên chúng ta mới bị. Tây y gọi là primo-infection, rất trầm trọng và rất nguy hiểm.

Tiên cảnh:

Vì ở vùng cao nguyên có đồi núi, nên phong cảnh rất đẹp, khí hậu cũng mát hơn, không ẩm thấp, áp lực không khí nhẹ hơn. Lên miền núi cao như Đà Lạt, chúng ta có cảm tưởng như lên tiên, như tới Miền Cực lạc, khác hẳn với Hạ giới, nóng nực và ẩm thấp.

         Vì núi ở trên cao, mà cao hơn một chút nữa là Trời, nên lúc đầu Tiên là người trên núi, nhưng về sau, chúng ta quan niệm Tiên ở trên Trời.

Một khái niệm chung cho cả thế giới:

         Cũng như chúng ta, người Tây phương quan niệm Tiên thường ở trên núi cao, có nhiều phép lạ, có thần dược.

         Nhiều học giả tây phương cho rằng khái niệm về  Tiên phát xuất từ hình ảnh giống người thời Tân Thạch (Neolithic) còn sống sót trên núi cao, sau khi miền đồng bằng đã bị những chủng tộc có văn hóa đồ đồng chiếm cứ. Vì người Tân thạch hoàn toàn sống nhờ thiên nhiên, nên có nhiều kinh nghiệm về thiên nhiên, như biết dùng các loại thảo mộc làm thuốc. Chẳng khác chúng ta, Tây phương cũng quan niệm Tiên (Fée, Fairy) là người trên núi, có nhiều phép lạ. Khởi thủy, người dưới đồng bằng sợ họ, nhưng về sau, sự sợ hãi biến thành lòng cảm phục.

.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»