📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

(url) Lý Chánh Trung

49 trả lời, 6.219 lượt xem — Trang 2 / 2
Cảnh dân Việt Nam ăn Tết làm tôi nhớ lại một loài cá mà tôi có dịp xem trong môt phim của Walt Disney. Cứ đến mùa sanh nở là phải từ biển cả, vượt thác băng ngàn để trở về nguồn trên núi cao

 
Bài đọc thêm:
 
Trong những trang sổ tay trước, chúng tôi đã có dịp đề cập đến kỹ nghệ cá hồi đóng hộp. Nay xin phép được nhắc lại, tóm lược, như sau:

Trước hết xin được minh định đây chỉ là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi; chớ cá còn cá rô, cá thu, cá chim, cá chuồn, cá bạc má, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá lòng tong, cá mập, cá chép, cá cơm, cá trê, cá đèn cầy, cá ngừ, cá heo, cá hương, cá bống, cá bống kèo, cá bống đá, cá lia thia, cá giếc, cá xảo, cá đuối, cá bè, cá bẹ, cá hú, cá mú, cá trích, cá me, cá he, cá khoai, cá lù đù, cá tra, cá nược, cá mai, cá bông lau, cá dứa, cá chẻm... - hoặc bất cứ một loại cá nào khác đều (hoàn toàn và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc bể nào chăng nữa, thế nào rồi cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở.

Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ, và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Dại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi, về về từ sông ra biển (và ngược lại) nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng - dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm hơn một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu ý và học hỏi. Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây, cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh. Mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Và lũ cá con sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực”.

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Rồi nhờ vào khả năng “cảm” đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, cá sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà - tức sông xưa bến cũ - và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người Nhật đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao, khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào ...hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ”, để biển cả nuôi nấng, khi chúng trở về - theo bản năng - thì họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp rồi mang bán.

Cách họ kiếm tiền (rõ ràng) dễ ẹc, và chắc là nhiều. Bởi vậy, có người bắt chước. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần tương tự như vậy. Chỉ khác có chút xíu (xiu) là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=686
 
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
 
CÁ HỒI VÀ LUẬT VỀ CÁ HỒI NHẬT BẢN:



(Hinh: Mua ca hoi – chum.jpg)
 



CÂU CÁ HỒI, chỉ 3 từ nghe quá đơn giản vậy mà để thực hiện được nó tôi đã phải mong đợi ngậm ngùi suốt 9 năm qua bởi LUẬT VỀ CÁ HỒI của Nhật không hề đơn giản như các nước khác, nếu không muốn nói là khắt khe nhất thế giới. Chính sự khắt khe này mà cứ đến mùa thu (mùa săn cá Hồi) hằng năm là giới cần thủ võ lâm Phù Tang đang yên ả lại nổi nhiều cơn sóng dữ, gây chấn động các diễn đàn câu cá bằng những đề tài HOT nhất xoay quanh vấn đề "ĐÁNH BẮT CÁ HỒI TẠI NHẬT", thậm chí đôi khi cơn sóng dữ này còn biến thành những cuộc khấu chiến, bút chiến tập thể kinh thiên động địa làm tan nát các forum, làm sứt mẻ tình cảm bạn bè online không thương tiếc..., mà kết quả hiện tại vẫn bất phân thắng bại.
 

Vậy LUẬT VỀ CÁ HỒI của Nhật là gì mà khiến thiên hạ đảo điên tới vậy? Trước khi hầu chuyện các bạn chuyến câu cá Hồi của tôi vừa qua, tôi xin 4so9 thêm ít đất để giới thiệu sơ qua về CÁ HỒI NHẬT BẢN & NHỮNG ĐẠO LUẬT LIÊN QUAN (nghe nói đất đang xuống giá, chắc 4so9 không tiếc "cho đời chút ơn" chứ?)
 



CÁ HỒI NHẬT BẢN:
 

Cá Hồi, tiếng Anh gọi là Salmon (tôi không hiểu bắt nguồn từ nghĩa nào) nhưng tiếng Việt, tiếng Trung dù phát âm khác nhau đều mang nghĩa "HỒI" có lẽ xuất phát từ bản năng lá rụng về cội của chúng chăng? Ở Nhật, các loại cá được gọi tên dựa vào mức độ trưởng thành (cùng 1 loại cá nhưng tên gọi sẽ hoàn toàn khác nhau phụ thuộc vào trọng lượng, chiều dài hay tuổi của chúng như >50cm, >60cm, >70cm... ) hoặc được gọi tên theo mùa đánh bắt. Cá Hồi ở Nhật được gọi chung là SAKÊ, nhưng với dân câu thì chúng được gọi theo các thứ 2, theo mùa đánh bắt.
 

Cá Hồi tháng Tư - TOKISHIRAZU (Thời bất tri ngư - Cá không nhận biết được thời gian): Là loại cá Hồi không tuân theo quy luật thời gian vì chúng "trở về dòng sông tuổi thơ" khi chưa đủ tuổi, không phải vào mùa đẻ trứng, đi ngược chu kỳ sống của cá Hồi, tức chúng bị lầm lẫn về thời gian. Giới đánh bắt chuyên nghiệp Nhật thường đổ xô đi giăng lưới loại cá này vì thịt chúng rất thơm, ngon, nhiều dầu và bổ dưỡng do chưa phải dồn sinh lực cho việc tạo trứng.



(Hinh: Thit ca Hoi thang 4 – 55836199_1.jpg)

Chu thich: Thịt cá Hồi tháng 4, nhiều dầu và mềm đến nỗi có thể cắt bằng... đũa



Cá Hồi mùa Thu - AKIZAKE: Đây là loại cá mà tôi sẽ đi câu nên xin giải thích rõ hơn về chúng. Cứ vào mùa xuân hàng năm (khoảng cuối tháng 3 đến đầu tháng 5) , đàn cá Hồi con kéo nhau từ sông, suối trong đất liền ra biển lớn, ở đây chúng vẫy vùng rong chơi đến mùa thu của 4 ~ 5 năm sau (cuối tháng 8 đến giữa tháng 11) là lúc đã "đủ vây đủ trứng" chúng vác những cái bụng lặc lè ngược dòng quay về mái nhà xưa tìm ổ đẻ, thụ tinh và chết ngay sau đó, kết thúc phim "nguời về từ nghìn trùng" .
 



(Hinh: tranh vẽ tay chu kỳ sống của cá Hồi - s1.gif ~ s10.gif )

Chú thích:

s1: Trứng cá hồi được ấp trong ổ

s2: Cá bột

s3: Cá Hồi con

s4: Di trú ra vùng nước mặn (khoảng 1 năm tuổi)

s5: Tạm trú ở hải ngoại

s6: 3~4 năm sau - Hồi hương

s7: Cá cái đào ổ

s8: Cá cái đẻ trứng

s9: Cá đực thụ tinh cho trứng

s10: Cá đực và cái trở về cát bụi.
 



Chu kỳ sống và sinh sản của cá Hồi tự nhiên nhìn chung là như vậy, nhưng gần như 100% cá Hồi ở Nhật được nuôi và ấp trứng nhân tạo tại những trại thủy sản rồi sau đó được thả vào mùa xuân để bắt đầu lớp hậu sinh mới.
 



Hình : Lấy trứng cá - Shun4.jpg

           Thụ tinh cho trứng – jusei.jpg

            Trại nuôi ấp trứng cá Hồi - kuma03.jpg



LUẬT VỀ CÁ HỒI NHẬT BẢN:  Vào thời xa... lắc, xuất phát từ việc bảo vệ và phát triển cá Hồi (loại cá rất hiếm lúc đó), chính phủ Nhật đã ban hành 1 đạo luật "CẤM NGƯỜI ĐÁNH BẮT KHÔNG CHUYÊN ĐÁNH BẮT CÁ HỒI TRÊN LÃNH THỔ NHẬT BẢN DƯỚI MỌI HÌNH THỨC, TRỪ LÝ DO PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU ", bên cạnh đó Chính phủ cùng giới đánh bắt chuyên nghiệp trao cho Hiệp hội Thủy sản Quốc gia "MỌI QUYỀN QUYẾT ĐỊNH" trong việc duy trì và phát triển cá Hồi Nhật Bản. Sau đó Hiệp Hội này đã thành công trên cả tuyệt vời trong việc nhân giống giúp cá Hồi Nhật Bản "hồi sinh". Cá Hồi Nhật bản thoát khỏi cảnh tuyệt chủng cũng là lúc cần có thêm kinh phí để phục vụ tiếp cho dự án nhân giống này, nên Hiệp hội Thủy sản Nhật Bản lần đầu tiên đã thực hiện 1 phương án lách luật táo bạo là: ban hành giấy phép cho phép người câu không chuyên được đánh bắt cá hồi dưới hình thức "NGHIÊN CỨU", nên giấy phép này mang tên "GIẤY CHO PHÉP NGHIÊN CỨU CÁ HỒI QUY MÔ NHỎ".
 

Chính vì để hợp thức hoá lý do "Nghiên cứu quy mô nhỏ" này mà giấy phép câu cá Hồi tại Nhật được bán với giá "trên trời" (5000JPY/ tờ cho 1 ngày câu hoặc 8000JPY/tờ cho 2 ngày câu ) kèm theo những quy định hết sức ngặt nghèo về:
 

*Địa điểm câu: Chỉ được phép câu ở 1 dòng sông nhất định trong phân đoạn nhất định (VD: chỉ được câu trên sông Sài Gòn, đoạn từ bến Bạch Đằng đến xưởng Ba Son chẳng hạn)

*Thời gian câu: Chỉ được phép câu từ 15/8 ~ 15/11, vào 1 ngày nhất định.

*Số lượng người câu: Chỉ được tối đa 40 người/ngày/1 dòng sông.
 

*Quy trình cấp giấy phép: Trước hết, người đi câu phải nộp đơn xin mua giấy phép "nghiên cứu" dán 2 hình kèm theo, ghi rõ tên, tuổi, nghề nghiệp và yêu cầu cụ thể: muốn đi câu cá hồi vào ngày nào, ở sông nào... Nếu là người nuớc ngoài như tôi thì phải nộp thêm bản copy hộ chiếu và visa nhập cảnh Nhật. Sau đó, người đi câu phải qua cửa ải xét "lý lịch câu" theo các tiêu chí sau:
 

-Có vi phạm luật câu của Nhật bao giờ chưa? Tức có từng bị phạt do câu các loại cá cấm đánh bắt, câu không đúng mùa, câu theo phương pháp "sát cá hàng loạt", câu lụi (tức câu mà không mua giấy phép)...

-Có vi phạm Luật môi trường bao giờ chưa? Tức xả rác bừa bãi, bỏ rác không đúng cách (không phân loại rác cháy được, rác tái chế...) hoặc chặt phá cây cối v.v...

Cũng may là không có tiêu chí "ngoại ngữ lưu loát, ngoại hình ưa nhìn" chứ không thì Cẩm Vân tôi rớt ngay vòng loại!

Nếu lý lịch câu đạt chuẩn "chất lượng cao", thì đơn xin giấy phép sẽ được "tuyển thẳng" vào vòng bốc thăm. Như đã giải thích về số lượng người chỉ được phép câu là 40 người / ngày /1 dòng sông mà số cần thủ nộp đơn khá đông (tỉ lệ thường là 40 người được chọn / khoảng 200 người nộp đơn ) nên phải áp dụng trò chơi may rủi này để quyết định mang tính công bằng.
 

Khi qua được vòng bốc thăm này, người đi câu sẽ nhận được "GIẤY PHÉP NGHIÊN CỨU CÁ HỒI QUY MÔ NHỎ" với những ràng buộc pháp luật tiếp theo:



Hình : Giấy phép (loại 8000JPY/tờ cho phép câu 2 ngày trên cùng 1 đoạn sông - docu000121.jpg)





-Khi câu được cá: người câu phải thả cá vào vật chứa của Hiệp Hội cá Hồi được chuẩn bị sẵn ở khu vực câu để nhân viên của Hiệp Hội đến đo chiều dài, cân nặng, phân loại cá (Pink, cham hay King salmon) phục vụ cho công tác khoa học.
 



Hình : Nhân viên thị sát buổi câu đang kiểm tra cá câu được và bản thu hoạch kết quả buổi câu  (s-IMGP1758-2.jpg)



-Số lượng cá cái được phép câu không giới hạn, nhưng phải liên hệ với Hiệp hội theo số ĐT có sẵn để nhân viên đến lấy trứng kịp thời.

-Số lượng cá đực được phép câu là 2 con. Khi đã câu được 2 con cá đực thì mọi hành động liên quan đến đánh bắt cá Hồi đều phải dừng lại. 
 



Hình cá đực (chambersmalehead3.jpg) và cá cái (chambersfemale3.jpg) 



Diễn giải dài dòng cho dễ hiểu, còn quay lại với những trận chiến online ở đầu bài viết, tôi xin tóm tắt nội dung của chúng như sau: Sự ra tay kịp thời của Hiệp hội đánh bắt Thủy sản và Hiệp hội cá Hồi trong việc bảo tồn và phát triển giống cá Hồi Nhật Bản là rất đáng ghi nhận và trân trọng. Tuy nhiên ngày nay, khi cá Hồi Nhật Bản liên tục phát triển đến nỗi bắt không hết, ăn tới mệt mà giá tờ giấy phép câu cá Hồi vẫn ở mức "cao cao bên cửa sổ" cùng những quy định, luật lệ về cá Hồi vẫn nghiêm ngặt như thửơ ban đầu , gây ra biết bao bất cập mà dân câu không phẫn nộ mới là chuyện lạ. Đó là chưa nói đến cảm xúc của các cần thủ khi xem việc đi câu là thú tiêu khiển lành mạnh, mà trước lúc tiêu khiển lại bị buộc phải vượt biết bao "chướng ngại vật" như trên khiến họ chưa khởi động đã cụt hứng, hết ham về đích. Cuối cùng dân câu chuyên và không chuyên lên tiếng đòi lại "MỌI QUYỀN QUYẾT ĐỊNH" ngày xưa mà họ trao cho Hiệp hội, còn Hiệp hội thì vẫn vô tư "Luôn luôn lắng nghe, nghe xong hổng hiểu" dẫn đến những trận chiến lở mồm long móng trên các forum giữa Hồi ngư truy sát cần thủ Chánh phái và Hồi ngư bảo hộ Hiệp hội Tà phái  là vậy. Ôi! Quan bất minh, dân tất loạn. Thiện tai, thiện tai.
 
http://www.4so9.com/cauca/DiscView.php?mid=13269&forum_id=6&
Đăng nhập để trả lời
0
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-28 04:21:56Như Ý>
Tr 56, 57, 58
 
Cho nên cực khổ tốn kém mà người ta vẫn vui khi được về quê ăn Tết.  Và cái niềm vui mà mỗi người có thể cảm thấy thấm thía bên trong nỗi cực nhọc của mình, đó chính là niềm vui của dân tộc.
 
Hình ảnh những ngày Tết đưa chúng ta đến một ý tưởng đầu tiên: rằng dân tộc là một thực tại cụ thể mà tôi có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp, chớ không phải là một một ý niêm trừu tượng mà tôi đã rút ra từ sự quan sát một tập thể nào đó.
 
Dân tộc này đã có trước khi tôi sinh ra và sẽ tồn tại sau khi tôi chết đi (ít nữa là trong trường hợp không có một cuộc chiến tranh hạt nhân trên đất nước nầy!).  Tôi sanh ra giữa lòng dân tộc và khi bắt đầu ý thức về tôi thì cũng ý thức về tôi như một phần tử của dân tộc, dính liền với dân tộc như lá với cành.  Khi tôi tìm cho tôi một vị trí, một thể thức hiện hữu như một con người trong vũ trụ thì con người đó chỉ có thể là con người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam.  (hay thế giới)
 
 
Tôi sống giữa dân tộc và dân tộc sống nơi tôi.
 
Tôi không thể chọn lựa dân tộc, cũng như không thể chọn lựa gia đình tôi, bởi cái lý do giản dị là không có ai đã hỏi ý kiến tôi trước khi sanh ra tôi.  Đó là một điều đáng tiếc.  Nhưng đã làm người thì chỉ có thể thành người giữa một gia đình, một dân tộc.  Tôi có thể từ bỏ dân tộc, cũng như tôi có thể từ bỏ gia đình tôi.  Nhưng từ bỏ dân tộc là đành mất cái thế đứng của tôi trong vũ trụ, giữa xã hôi loài người.  Khi nào tôi còn muốn có mặt trong thế gian như một con người thì con người đó chỉ có thể là con người Việt Nam.  Tôi không thể lựa chọn dân tộc mà chỉ có thể chấp nhận hay từ chối cái thân phận làm nguời.  Nói đúng hơn nữa, dân tộc nằm ngay trong cái thân phận làm người của tôi như một “hoàn cành giới hạn” nghĩa là một hoàn cảnh mà tôi không thể vượt qua, giống như cái khổ và cái chết.
 
.......
Đăng nhập để trả lời
0
Tr 58, 59,
 
 
Dân tộc là một thực tại mà tôi bó buộc phải chấp nhận để thành người. Tại sao như vậy?  Vì rằng dân tộc là một thực tại sơ khởi.  Có một dân tộc Việt Nam rồi mới có những người Việt Nam chứ không phải ngược lại.  Các triết gia Tây phương thế kỷ 17-18 thường quan niệm một “trạng thái tự nhiên” (état de nature) như là cái trạng thái sơ khởi trong đó con người còn là những cá nhân đơn độc, hoặc tốt lành (theo Locke và Rousseau) hoặc hung ác (theo Hobbes), rồi do một sự “giao kết” nào đó, những cá nhân mới bước qua “trạng thái xã hội” (état de société) để tạo thành những dân tộc.
 
Chắc quý vị cũng đồng ý rằng cái “trạng thái tự nhiên” đó chỉ là một huyền thoại.  Trong lịch sử không có những cá nhân mà chỉ có những tập thể biến chuyển trong thời gian, và khi sự biến chuyển nầy đã tạo được những điều kiện vật chất và tinh thần để làm bộc phát ý thức dân tộc khi đó mới có những con người với cái ý nghĩa mà ngày nay chúng ta gán cho chữ “người”.  Trong lịch sử cũng như trong cuộc đời của mỗi người, tập thể luôn có trước cá nhân, như Max Scheller viết: “không có cái tôi nào mà không có cái chúng tôi và, trên phương diện sanh hóa, cái chúng tôi có một nội dung trước cái tôi” (!) 
 
Lẽ dĩ nhiên, nếu chúng ta cứ lùi lại mãi trong thời gian thì có thể tưởng tượng một hoặc hai cá nhân nào đó – như ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ – đã “sanh ra” dân tộc nầy.  Nhưng đó chỉ là tưởng tượng.  Nguồn gốc dân tộc chìm đắm trong bong tối thời gian và khi những người Việt Nam bắt đầu ý thức mình là người Việt Nam như trong bài Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư thì dân tộc Việt nam đã thành hình rồi.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư
 
Tham khảo:
 

Nguyên bản tiếng Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
 

Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
 
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_qu%E1%BB%91c_s%C6%A1n_h%C3%A0
 
&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;
 
LÝ THƯỜNG KIỆT

Đôi dòng tiểu sử


Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn. Thường Kiệt là tự; sau này ông được ban quốc tính nên mới đổi tên thành Lý Thường Kiệt.

Theo tài liệu mới phát hiện (bài văn khắc trên chuông chuà Bắc Biên và cuốn Tây Hồ Chí) thì ông là người làng An Xá, huyện Quảng Đức, thuộc khu vực phía nam hồ Tây trong thành Thăng Long.

Ông sinh năm 1019 và mất tháng Sáu năm Ất Dậu (tức từ 13 tháng Bảy đến 11 tháng Tám năm 1105).

Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn. Năm 23 tuổi, ông đã được bổ làm Hoàng môn chi hậu rồi thăng đến chức Thái úy\. Ông có công rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: phá Tống, bình Chiêm, dẹp tan phản loạn...

Tác phẩm còn lại gồm có bài Lộ Bố Văn phát ra cho nhân dân Trung Quốc ở các châu Ung Khâm Liêm nhân dịp chủ động đem quân sang đánh Tống năm 1075, lời tâu xin vua Lý Nhân Tông cho đi dẹp loạn Lý Giác năm 1103, và tiêu biểu nhất là bài thơ :

Nam Quốc Sơn Hà

Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !


Dịch thơ:

Sông Núi Nước Nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời !


Chú thích:


Đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Bài thơ xuất hiện năm 1077 giữa cuộc chiến đấu oanh liệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (khúc sông Cầu thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc ngày nay) giữa quân dân Đại Việt và mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy. Tương truyền giữa lúc khó khăn, quân sĩ hai bên một đêm bỗng nghe tiếng ngâm vang vọng của bài thơ trên từ đền thờ Trương Hống Trương Hát (hai tướng tài của Việt Vương Triệu Quang Phục). Bài thơ góp phần khích lệ tinh thần chiến đấu của quân ta và khiến quân Tống hoang mang, rúng động, dẫn đến thất bại thảm hại của chúng chẳng bấy lâu sau đó.
 
http://nhatnam.com/forum/index.php?showtopic=156
Đăng nhập để trả lời
0
Tr  59, 60
 
Dân tộc có trước cá nhân, dân tộc cũng vượt khỏi cá nhân: dân tộc là một thực tại siêu việt.  Siêu việt không có nghĩa là tuyệt đối mà chỉ là cái gì vượt khỏi ý thức cá nhân.  Dân tộc là siêu việt vì dân tộc là cái toàn thể (totalité) mà mỗi cá nhân chúng ta chỉ là một phần tử.  Và, theo các khoa học nhân văn hiện đại, cái toàn thể có một thực tại riêng, không thể được giản thể có một thực tại riêng, không thể được giản lược vào phần tử cấu tạo nên toàn thể đó.
 
Dân tộc Việt Nam không phải là tổng số ba mươi triệu cá nhân (1967) tự gọi mình là người Việt Nam và đang sống từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau,bởi lẽ không bao giờ làm được cái tổng số.  Ngay khi tôi nói câu nầy, trong ba mươi triệu cá nhân đó, đã có một số người chết đi (và bây giờ thì số ấy rất nhiều!) cũng như có một số người đã sanh ra hay sắp được sanh để rồi cũng chết đi.  Nếu chỉ nhìn những đợt vào cõi chết thì không bao giờ thấy được cái thực tại của dân tộc.  Nếu chỉ nhìn những cá nhân thì không bao giờ thấy được tập thể.
 
.......
Đăng nhập để trả lời
0
ải Nam Quan
 
 
Đọc thêm:
 
Nam Quan là tên cửa ải cách tỉnh Lạng Sơn 31 dặm về phía bắc, phía bắc giáp Quảng Tây, chỗ mà người nhà Thanh gọi là Trấn Nam Quan. Cửa nầy được dựng xong vào năm 1725. Địa thế ải Nam Quan theo Đại Nam nhất thống chí: “... phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường...”
 
Ải Nam Quan trong lịch sử Việt Nam
 
Tên gọi qua các thời kỳ lịch sử
 
 
Cửa ải hiện mang tên Hữu Nghị Quan, nằm trên đất Trung Quốc (ảnh chụp năm 2007)
 

  • Ải Pha Lũy: tên gọi của ải trước thời nhà Minh xâm lược Việt Nam
  • Ải Nam quan: tên gọi của ải phổ biến từ thời nhà Minh đến nay.
  • Trấn Nam Giao
  • Mục Môn quan
  • Mục Nam quan
  • Hữu Nghị quan: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên để kỷ niệm quan hệ hữu hảo Việt Trung.


Sự kiện lịch sử gắn với ải Nam Quan


  • Năm 1284, 1287, Nguyên Thái Tổ (tức Hốt Tất Liệt - Qubilai) đã sai Thoát Hoan tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Lạng Sơn, ắt phải qua ải Nam Quan.

  • Năm 1407, gia đình Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương bị quân nhà Minh bắt ở Hà Tĩnh và bị áp giải về Trung Hoa. Trong số những vị quan bị giải theo gia đình Hồ Quý Ly, có Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi bịn rịn đưa tiễn cha lên tận ải Nam Quan. Tại đây, Nguyễn Phi Khanh nói với con: “Con phải về nhà mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo mà khóc lóc làm gì.” Sau đó, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh và đạt được thành công năm 1428.

  • Năm 1788, theo lời cầu viện của mẫu thân của Lê Chiêu Thống, vua Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong, trị vì 1736-1795) cử Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngả: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống, Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng, và đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào đường Tuyên Quang. Đoàn quân viễn chinh nhà Thanh bị vua Quang Trung đánh tan, phải chạy về vào đầu năm kỷ dậu (1789).



http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Quan
 
Đăng nhập để trả lời
0
mũi Cà Mau
 
Đọc thêm:
 
Link:
 
&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;
 
Du lịch Mũi Cà Mau
15/03/2006 11:44:35
 
 
 
Đến với điểm du lịch Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biển, chiêm ngưỡng ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la.

Mũi Cà Mau là mảnh đất nhô ra ở điểm tận cùng phía Nam của Tổ quốc Việt Nam thuộc địa phận xóm Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, cách thành phố Cà Mau hơn 100 km.
Đất Mũi được nhắc đến như một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú. Đến với điểm du lịch Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biển, tham quan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến; chụp hình đứng dưới chân biểu tượng Mũi Cà Mau. Du khách được chiêm ngưỡng nhiều điều kỳ thú khi hoàng hôn buông xuống, những ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la.
Bên trái là biển Đông, bên phải là biển Tây, bạn như đang đứng trên mũi tàu khổng lồ của Tổ quốc rẽ sóng ra khơi. Khu du lịch Mũi Cà Mau đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ du khách. Nơi đây là điểm du lịch địa lý, du lịch sinh thái hấp dẫn đối với du khách của cả nước và bạn bè quốc tế. Du khách chỉ mất khoảng 2 giờ đi bằng canô từ thành phố Cà Mau là tới Mũi Cà Mau.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 60, 61, 62
 
Thật ra, nếu 30 triêu cá nhân có thể tự gọi mình là người Việt Nam, thì phải có một thực tại Việt Nam hiểu như cái gì chung cho 30 triệu cá nhân đó.  Cái chung không thể phát xuất từ cá nhân bởi lẽ yếu tính của cá nhân nằm trong cái riêng rẽ, cái độc đáo.  Nó chỉ có thể phát xuất từ cái tập thể hiểu như một thực tại siêu việt.  Tập thể định nghĩa cho cá nhân, cá nhân không định nghĩa cho tập thể. 
 
Dân tộc vượt khỏi cá nhân, dân tộc cũng tồn tại lâu bền hơn cá nhân.  Lấy lại lời của một văn hào Pháp, dân tộc gồm nhiều người chết hơn là kẻ sống.  Những người đã khuất vẫn còn đây, họ “vô hình nhưng có mặt” (Victor Hugo), họ hiện diện trên giải đất quê hương và trong tâm hồn chúng ta.  Nhưng còn phải thêm rằng dân tộc cũng gồm nhiều người sẽ sống hơn là kẻ đang sống: những kẻ nầy có mặt nơi chúng ta như một hứa hẹn.  Chúng ta nghĩ tới họ vì họ sẽ gánh chịu những hậu quả của hành động chúng ta.  Họ sẽ phán đoán chúng ta như chúng ta đang phán đoán những người đi trước.  Cái thực tại mà chúng ta gọi là Việt Nam bao trùm tất cả những người Việt Nam đã khuất, đang sống và sẽ sanh ra.
 
Nó thành hình trong thời gian nhưng vượt khỏi thời gian. Nó không vĩnh cữu, nó có thể suy mạt rồi chết đi như lịch sử đã cho chúng ta thấy nhiều trường hợp.  Nhưng dẫu sao, nó trường tồn lâu bền hơn cái số kiếp phù du của mỗi người chúng ta chỉ là những đợt sóng nối tiếp nhau rì rào trong khoảnh khắc để rơi vào im lặng.  Nhưng đó không phải là im lặng của sự chết, mà chính là của sự sống đang lặng lẽ vươn lên xuyên qua lòng vũ trụ.
 
Sự im lặng của dân tộc tạo nên lời nói của chúng ta.  Và nếu có những người trong chúng ta không tin nơi vĩnh cữu, thì dân tộc sẽ là nguồn an ủi quý báu nhứt đối với họ vì họ biết rằng khi họ trở về với im lặng, những đợt sóng khác sẽ nối tiếp họ thì thầm những lời nói của con người, của con người Việt Nam.  Và khi họ trở thành một quá khứ, họ biết giữ lại trong cái thực tại siêu việt của dân tộc cho đến tận cùng lịch sử.
 
…….
Đăng nhập để trả lời
0
Victor Hugo
 
 
 
 
 
 





Victor Hugo là nhà thơ, nhà viết tiểu thuyết, nhà viết kịch danh tiếng nhất của nước Pháp, là nhân vật dẫn đầu phong trào lãng mạn (the romantic movement) của nền Văn Chương Pháp. Các tác phẩm của ông gồm 45 cuốn với hai cuốn tiểu thuyết được toàn Thế Giới biết đến, là cuốn "Nhà Thờ Đức Bà" (Notre Dame de Paris, 1831) và cuốn "Các Kẻ Khốn Cùng" (Les Misérables, 1862), với hai nhân vật trong chuyện là anh gù Quasidomo trong cuốn tiểu thuyết trước và Jean Valjean trong cuốn sau.
 Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao, mỗi ngày ông có thể làm 100 câu thơ hay viết 20 trang tiểu thuyết và qua các tác phẩm của ông, đã phản ánh các phong trào chính trị và văn chương của thời đại, đã bộc lộ rõ niềm tin của ông nơi Khoa Học, nền Dân Chủ và Tự Do. Victor Hugo đã chào đời vào năm 1802 và qua đời năm 1885, và do các tác phẩm đồ sộ, thế kỷ 19 với nền văn chương đặc sắc của nước Pháp đã được gọi là "Thế Kỷ của Victor Hugo". 



Các cháu của  ông là nguồn cảm hứng cho tác phẩm Nghệ thuật làm ông, in năm 1877 [/align]

 

 

a- Các năm thiếu thời (1802-1830).

 Victor Hugo chào đời vào ngày 26 tháng 2 năm 1802 trong tỉnh Besancon, nước Pháp, là con trai thứ ba của ông Joseph Léopold Sigisbert Hugo, vốn là con của một người thợ mộc, nhưng ông Joseph đã phục vụ quân đội Pháp trong thời kỳ Cách Mạng và lên tới cấp bậc thiếu tá, rồi về sau do lòng dũng cảm và công trạng chiến trường, trở thành một vị tướng trong đội quân của Napoléon. Ông Joseph đã trung thành với chế độ mới, từ Hội Nghị Quốc Ước tới Đế Chế Thứ Nhất, đã phục vụ cho Joseph Bonaparte và quân vụ đã khiến cho Tướng Hugo này phải đi làm việc tại nhiều nơi.


Victor Hugo đã đi thăm cha tại nước Ý vào tuổi lên 5 và theo học trường tiểu học tại Madrid, nước Tây Ban Nha, vào tuổi lên 9. Ký ức về tuổi trẻ xa xứ đã được Victor Hugo ghi lại sau này qua các tập thơ và các vở kịch. Trái ngược với người cha theo Cách Mạng Pháp, bà mẹ của Victor Hugo lại là một phụ nữ có tính độc lập, cương quyết, theo phe Bảo Hoàng và không ưa cuộc đời nay đây mai đó của vợ một quân nhân, vì thế vào năm 1812, bà Joseph Hugo đã định cư tại thành phố Paris và từ nay, ba người con trai của bà theo đuổi một nền giáo dục căn bản. Sự khác biệt vì tư tưởng chính trị, vì tính tình tương phản giữa hai ông bà Hugo đã dẫn đến việc ly dị chính thức vào năm 1818. Victor Hugo sống với mẹ, nên vào thời gian đầu, đã theo khuynh hướng bảo hoàng.
 Victor Hugo là con trai nhỏ nhất, đã theo học tại trường trung học Louis-le-Grand (1816-18). Cậu Victor này từ nhỏ đã có thiên khiếu về văn thơ, vào tuổi 15 đã yêu thương cô bạn gái hàng xóm tên là Adèle Foucher và đã dự tính sau này theo ngành văn học để có thể kết hôn với người yêu. Tại trường trung học, Victor Hugo là một học sinh xuất sắc về Toán Học và Văn Chương. Năm 1817, Victor Hugo lãnh được bằng khen danh dự của Hàn Lâm Viện Pháp về một bài thơ dự thi rồi tới năm 1819, đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi thơ phú toàn quốc.
 Năm 1818, Victor Hugo ghi danh vào Đại Học Luật Khoa Paris nhưng việc theo học này đã không đều và không có chủ đích. Các kỷ niệm về thời sinh viên nghèo này đã được phản ánh qua nhân vật Marius trong cuốn truyện "Các Kẻ Khốn Cùng".
 Luật Khoa không phải là tham vọng của Victor Hugo bởi vì trong các cuốn sổ của ông đã ghi đầy các bài dịch nhiều vở kịch, các bài thơ, đặc biệt là các thi phẩm của Virgil. Do sự khuyến khích của bà mẹ, Victor Hugo đã lập ra tạp chí văn học "Le Conservateur Littéraire" (Người bảo quản văn chương, 1819-21) qua đó, các bài của ông viết về hai nhà thơ Alphonse de Lamartine và André de Chénier, đã được nhiều người chú ý. Trong một cuốn sổ ghi, Victor Hugo đã viết:"Tôi sẽ trở nên một Chateaubriand hoặc chẳng ra gì". Chateaubriand là nhà văn hàng đầu của nước Pháp vào đầu thế kỷ 19.
 Khi bà mẹ qua đời vào năm 1821, Victor Hugo đã từ chối nhận trợ cấp của cha và chịu đựng cuộc sống thiếu thốn. Cũng vào năm này, ông cho xuất bản thi phẩm đầu tiên có tên là "Odes et poesies diverses" (Các bài thơ ngắn và thơ nhiều loại) qua đó các cảm tình bảo hoàng đã khiến cho ông nhận được món tiền trợ cấp 1,000 quan một năm của Vua Louis 18 rồi nhờ số tiền này, Victor Hugo đã kết hôn với người yêu Adèle Foucher và họ đã có với nhau 4 người con.
 Năm 1823, Victor Hugo phổ biến cuốn truyện tiểu thuyết đầu tiên tên là Han d'Islande (Đại Hãn của Ai Nhĩ Lan), mô tả sự man rợ của một bộ lạc chặt đầu người bằng búa đá và uống máu kẻ địch. Cuốn truyện này được dịch sang tiếng Anh vào năm 1825 và được nhà báo Charles Nodier cho là có giá trị nên ông này đã mời Victor Hugo tham gia vào nhóm các nhà viết văn thuộc trường phái Lãng Mạn (Romanticism). Nhóm văn hữu này mang danh hiệu là Cénacle và cũng do mối liên lạc này mà Victor Hugo quen biết Saint-Beuve, một nhà phê bình văn chương Pháp độc đáo của thế kỷ 19.
 Nhóm văn hữu Cénacle họp mặt thường xuyên tại thư viện Arsenal, họ đã đề cao tự do là các nguyên tắc của nghệ thuật và đời sống. Vào thời kỳ này, Victor Hugo đã phổ biến một loại báo văn học có khuynh hướng ôn hòa với tên là Muse Francaise (Thi Thần nước Pháp, 1823-24). Năm 1824, Victor Hugo cho xuất bản tập thơ ngắn Nouvelles Odes (Các bài thơ ngắn mới) rồi 2 năm sau, xuất hiện cuốn tiểu thuyết Bug-Jargal (bản dịch tiếng Anh là The Slave King = nhà Vua nô lệ). Tập thơ "Odes et Ballades" (Thơ ngắn và thơ ba tiết ba-lát) là một ấn bản năm 1826, bao gồm nhiều bài thơ Victor Hugo đã làm ra trước kia và các bài thơ sau này mang tính lãng mạn, sau đó là tập thơ "Les Orientales" (Đông Phương, 1829) gợi lên các phong vị lãng mạn và màu sắc của  phương đông. Bằng các tập thơ ngắn này và qua cách dùng các nhịp thơ, các hình ảnh rực rỡ, Victor Hugo dần dần trở nên một nhà thơ lãng mạn.
 Thiên tài của Victor Hugo đã thể hiện qua trường phái Lãng Mạn như là một nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch qua kịch bản "Cromwell" xuất bản năm 1827. Kịch bản này nổi tiếng vì lời tựa dài, soạn công phu, qua đó Victor Hugo đã đề cập tới chủ thuyết của trường phái Lãng Mạn (a doctrine of Romanticism) trong một kỳ thi thơ phú toàn quốc. Victor Hugo cho rằng các tương phản của đời người, thiện hay ác, đẹp hay xấu, vui hay buồn, phải được tự do thể hiện trong các cách diễn tả và bài tựa của vở kịch "Cromwell" của ông đã phá vỡ các luật lệ cổ điển chi phối cách viết kịch từ các thời kỳ trước. Victor Hugo đã cổ vũ cho việc chấp nhận Shakespeare là một nhà soạn kịch kiểu mẫu, ông ủng hộ lập trường tự do trong ba nguyên tắc viết kịch về thời gian, nơi chốn và hành động, và chủ trương rằng trong vở kịch phải có cả các sự việc bi-hài, có cả sự tầm thường lẫn sự cao cả và như vậy, trường phái Lãng Mạn đã lấn sang điạ hạt sân khấu.
[/align] [/align]

b- Giai đoạn thành công (1830-52).

 Vào khoảng năm 1831, Victor Hugo đã ưa chuộng, tôn sùng Napoléon, ông đã cho xuất hiện tập thơ "À la Colonne" (Xếp Hàng) và "Lui" (Người), nhưng việc giới hạn tự do báo chí của Vua Charles X và các cách kiểm duyệt của chính quyền thời đó lại khiến cho Victor Hugo hướng về lý tưởng tự do, sự kiện này đã khiến ông gặp gỡ các nhà văn cấp tiến của tờ báo Le Globe (Địa Cầu). Vở kịch "Marion de Lorme" (1829) của ông đã bị cấm trình diễn trên sân khấu vì hình ảnh của nhà vua đã không được trình bày thuận lợi. Victor Hugo đã phản đối các cấm đoán, các giới hạn bằng vở kịch lịch sử "Trận chiến Hernani", lần đầu tiên trình diễn vào ngày 25-2-1830. Ông viết vở kịch Hernani này, dùng tới miền đất Tây Ban Nha làm địa bàn với các đặc tính trung cổ, bí ẩn và đôc đáo. Vở kịch "Hernani" hầu như đã vi phạm tất cả các quy luật cổ điển của Racine và Corneille.
 Ngay từ đầu, vở kịch "Hernani" đã bị những người theo trường phái cổ điển la ó, phản đối, và Théophile Gautier là một nhà văn nổi danh thời đó đã phải ghi nhận rằng cả hai trường phái đã đối nghịch nhau trong các cuộc tranh luận văn chương. Vở kịch "Hernani" đã được trình diễn 45 lần, một thành công đáng kể đối với thời bấy giờ và cuối cùng, các nhà văn cổ điển đã phải chịu thua. Victor Hugo được ca ngợi là người đã giết chết con rồng cổ điển và trường phái Lãng Mạn đã toàn thắng về mọi mặt. Victor Hugo trở thành nhà lãnh đạo của phong trào Văn Chương Lãng Mạn của nước Pháp. Vở kịch "Hernani" về sau được Giuseppe Verdi, nhà soạn nhạc người Ý, dựa theo đó mà sáng tác ra nhạc kịch Ernani vào năm 1844.
 Giai đoạn sáng tác phong phú nhất của Victor Hugo là các năm từ 1829 tới 1843. Năm 1831, cuốn truyện "Nhà Thờ Đức Bà" (Notre Dame de Paris, dịch sang tiếng Anh là The Hunchback of Notre Dame = anh Gù của Nhà Thờ Đức Bà) là một tiểu thuyết lịch sử, đề cập tới đời sống dưới thời Vua Louis 11. Cuốn truyện đã lên án xã hội, đã chồng chất các đau khổ lên đầu các nạn nhân như anh gù Quasidomo và người con gái "gypsy" tên là Esmeralda. Cuốn tiểu thuyết này đã làm xúc động lương tâm của quần chúng hơn là cuốn truyện đã được xuất bản khi trước, với tên là "Ngày Cuối Cùng của một Tử Tội" (Le Dernier Jour d'un condamné, 1829) qua đó Victor Hugo đã phản kháng án tử hình.
 Cuốn truyện "Nhà Thờ Đức Bà" đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác. Qua tác phẩm này, Victor Hugo đã mô tả cuộc sống bi-hài của anh gù kéo chuông cũng như vẻ rực rỡ của ngôi giáo đường và thành phố Paris thời trước. Victor Hugo cũng xác định rằng một tác phẩm văn học phải là một công trình của trí tưởng tượng, của các biến đổi và những điều dị thường. Tác phẩm văn chương "Nhà Thờ Đức Bà" đã xác nhận Victor Hugo là nhà văn hàng đầu của nước Pháp.
 Trong thời gian cuốn truyện "Nhà Thờ Đức Bà" đang được viết, Vua Louis Philippe đã trở thành vị vua của thể chế quân chủ lập hiến sau cuộc Cách Mạng Tháng 7 (the July Revolution). Nhân dịp này, Victor Hugo đã làm một tập thơ đề cao sự kiện kể trên với tên là "Dicté après Juillet 1830" (Lời thơ sau cuộc Cách Mạng Tháng 7- 1830) và đây là tập thơ đi trước của loại thơ mang tính chất chính trị của ông.
 Cũng vào thời đại quân chủ tháng 7 này, Victor Hugo còn cho xuất hiện tập thơ "Lá Thu" (Le Feuilles d'automne, 1831) với các cảm hứng cá nhân và thân thương, "Các bài ca Hoàng Hôn" (Les Chants du Crépuscule, 1835) mang tính chính trị, "Các lời nội tâm" (Les Voix intérieures, 1837) chứa đựng các ý tưởng cá nhân và triết học, "Tia sáng và bóng tối" (Les Rayons et les Ombres, 1840) qua đó tác giả dùng tới nhiều chi tiết, màu sắc và hình ảnh. Victor Hugo không chỉ biểu lộ các cảm tưởng cá nhân, các câu thơ của ông còn là tiếng nói đề cập tới các vấn đề chính trị và triết học, mang nhiều băn khoăn của thời đại. Các bài thơ của Victor Hugo gợi lên nỗi nghèo khó của người công nhân cùng các vấn đề của thế kỷ. Victor Hugo cũng dùng thơ phú để ca ngợi sự rực rỡ của Napoléon và hô hào trở lại các lý tưởng cộng hòa. Ông đã nói ra bằng các lời lẽ hùng hồn, làm xao động tâm hồn của mọi người.
 Khả năng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao và đã thể hiện qua các vở kịch. Có hai động lực thúc đẩy ông viết kịch: ông cần một diễn đàn để trình bày các tư tưởng chính trị và xã hội, và lý do nữa là vì cô Juliette Drouet, một diễn viên trẻ, đẹp, mà ông đã quen từ năm 1833. Juliette thực ra không có tài năng diễn xuất nên không lâu, đã từ bỏ sân khấu và trở thành người tình trung thành và kín miệng, một thư ký và một người bạn du lịch với nhà văn, cho tới năm 1883 khi cô ta qua đời.
 Vở kịch đầu tiên của Victor Hugo là một kịch thơ có tên là "Le Roi s' amuse" (Nhà Vua tiêu khiển - 1832) mô tả các tình yêu nông nổi của Vua Francis I vào thời kỳ Phục Hưng Pháp. Cũng giống như cuốn truyện "Nhà Thờ Đức Bà", kịch thơ kể trên đã chỉ trích các bất công chính trị và xã hội tại nước Pháp. Đầu tiên vở kịch "Nhà Vua tiêu khiển" đã bị chính quyền cấm đoán nhưng về sau được phép trình diễn và lại được nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi dùng làm lời cho nhạc kịch Rigoletto. Bốn vở kịch thơ kế tiếp của Victor Hugo là "Lucrèce Borgia và Marie Tudor" (1833), "Angelo, bạo chúa của thành Padoue" (Angelo, tyran de Padoue,1835), "Ruy Blas" (1838) và "Les Burgraves" (1843)(được dịch qua tiếng Anh là The Governors = các thống đốc) và vở kịch sau cùng này đã không thành công.
 Tháng 9 năm 1843, người con gái của Victor Hugo tên là Léopoldine mới kết hôn, đã bị chết đuối cùng người chồng trong một tai nạn, sự việc này đã khiến cho Victor Hugo rất đau buồn. Ông đã ngưng sáng tác trong vài năm, một phần cũng vì các xáo trộn chính trị và xã hội của thời cuộc.
 Xã hội của nước Pháp vào giai đoạn này gặp nhiều bất ổn chính trị và thay đổi. Các nhà văn lãng mạn thấy rằng nhiệm vụ của họ không phải là chỉ viết ra các tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp, điều hay, mà tài năng của họ còn phải được dùng vào việc nói lên các điều bất công trong xã hội và việc giúp đỡ các người nghèo, các người bị áp bức. Nhận định này đã chấm dứt thời kỳ văn chương lãng mạn và bắt đầu thời kỳ hiện thực và tự nhiên (realistic-naturalistic period).
 Trong khi chính trị và xã hội của nước Pháp thay đổi, thì lập trường chính trị của Victor Hugo cũng biến đổi theo thời gian. Từ khuynh hướng bảo hoàng của người mẹ, Victor Hugo dần dần mở rộng quan điểm chính trị, dàn hòa với người cha vào năm 1822 để rồi trở nên một người cộng hòa ôn hòa. Sau cuộc cách mạng năm 1848, Victor Hugo được bầu làm đại biểu của thành phố Paris vào Hội Nghị Lập Hiến rồi về sau là Hội Nghị Lập Pháp. Ông đã ủng hộ ông hoàng Louis Napoléon lúc đầu, nhưng vào tháng 2 năm 1851 đã xẩy ra một cuộc đảo chính và Louis Napoléon đã hủy bỏ chế độ cộng hòa, thành lập Đế Chế Thứ Hai (the Second Empire) và trở nên Vua Napoléon III. Do thất bại trong cuộc tập hợp các công nhân của thành phố Paris biểu tình chống lại nhà vua mới, Victor Hugo phải cải trang thành một công nhân và trốn qua đất Bỉ.
[/align] [/align]

c- Giai đoạn lưu vong (1851-70).

 Ngày 17 tháng 7 năm 1851, Victor Hugo đã trình bày trước Quốc Hội Pháp một bài đả kích ông hoàng Louis Napoléon. Ông đã giận dữ tuyên bố rằng "Chúng ta đã có Napoléon Đại Đế, phải chăng chúng ta cần có Napoléon Bé Nhỏ " (Napoléon le Petit). Lời nói "Napoléon Bé Nhỏ" đã là một câu hô hào chống lại Vua Napoléon III trong 19 năm. Sau khi nhà vua này đã dẹp tan được mọi chống đối, lệnh truy nã Victor Hugo được ký vào ngày 3 tháng 12-1851 khiến cho ông phải chạy qua nước Bỉ rồi các hoạt động chính trị của ông đã khiến cho chính quyền Bỉ đã phải yêu cầu ông ra đi. Victor Hugo chạy qua nước Anh, đầu tiên cư ngụ trên đảo Jersey thuộc vùng biển Channel từ năm 1852 tới năm 1855. Victor Hugo đã dùng các bài viết đầu tiên của thời kỳ lưu vong vào việc châm biếm và kết tội Vua Napoléon Bé Nhỏ, mô tả nhà vua này là kẻ cắp, kẻ hèn nhát và bạo chúa. Khi nước Anh và nước Pháp trở nên đồng minh chống lại nước Nga trong trận chiến tranh Crimea, các chỉ trích của Victor Hugo đã làm cho chính quyền Anh bối rối và ông bị trục xuất khỏi đảo Jersey. Ông dời sang hòn đảo Guernsey, là nơi có thể nhìn thấy bờ biển của nước Pháp.
Thời gian gần 20 năm sống lưu vong này là thời kỳ sáng tác phong phú nhất của Victor Hugo. Ông đã làm các lời thơ châm biếm trong các tập thơ "Napoléon Bé Nhỏ" (Napoléon le petit, 1852), "Trừng Phạt" (Les Chatiments, 1853) và đây là một trong các tập thơ chỉ trích mạnh mẽ nhất của ngôn ngữ Pháp. Trong thời gian sống lưu vong trên đảo Guernsey, Victor Hugo đã dùng văn chương mô tả các sự thật sâu xa nhất mà ông đã trải qua. Tập thơ "Suy Tưởng" (Les Comtemplations, 1856) là tập thơ được chia làm hai phần, là "Ngày Trước" (Autrefois) và "Ngày Nay" (Aujourd'hui) ngăn cách bằng ngày qua đời của cô con gái Leopoldine. Victor Hugo đã đề cập tới thiên nhiên, tình yêu và sự chết. Bằng tập thơ anh hùng ca "Truyền thuyết của các thế kỷ" (La Légend des Siècles, 1859), Victor Hugo đã nói về các tiến bộ của nhân loại qua các thế kỷ. Ông đã bàn luận tới sự tranh đấu của con người giữa điều tốt và điều xấu, con người giải phóng chính mình ra khỏi mọi tôn giáo để đi tới sự thật toàn diện và ông cũng tiên liệu sự tiến bộ của Khoa Học và của Kiến Thức.
Khi Vua Napoléon III công bố lệnh ân xá cho mọi người lưu vong vì chống đối, Victor Hugo đã viết rằng: "Cam kết với lương tâm của tôi, tôi chia xẻ cuộc sống luu vong với Tự Do. Khi nào Tự Do trở về, tôi sẽ trở về".
Trong thời gian sống lưu vong, Victor Hugo trở nên biểu tượng của Tự Do đối với nhân dân Pháp. Ông đã viết ra trong thời gian này các thi phẩm anh hùng ca bất hủ đồng thời hoàn thành cuốn tiểu thuyết dài nhất và danh tiếng nhất: " Các Kẻ Khốn Cùng" (Les Misérables,1862), một cuốn truyện mô tả rõ ràng và kết án sự bất công của xã hội trong thế kỷ 19.
Vào năm 1848 trước khi tham gia vào các hoạt động chính trị, Victor Hugo đã phác thảo cuốn truyện "Các Đau Khổ" (Les Misères) nhưng tới khi phải sống lưu vong vào năm 1960, ông trở lại với bản thảo cũ. Victor Hugo đã viết: "Dante đã tạo ra một địa ngục từ thơ phú, tôi thử tạo ra một thứ địa ngục khác từ thực tế". Cuốn truyện "Các Kẻ Khốn Cùng" với hơn 1,200 trang, ngay từ đầu đã được mọi người công nhận là tiểu thuyết của thế kỷ và được dịch sang nhiều ngôn ngữ. Cuốn truyện này đã lên án các loại địa ngục nhân tạo trên mặt đất với ba vấn đề của thời đại, đó là sự hạ giá nhân phẩm do nghèo khó, sự suy tàn của phụ nữ vì đói khổ và sự thu hẹp thời niên thiếu của trẻ em cả về tinh thần lẫn vật chất. Xã hội của con người còn ngột ngạt khi mà sự ngu dốt và nghèo khó còn tồn tại trên mặt đất.
Ngoài tác phẩm lừng danh "Các Kẻ Khốn Cùng", Victor Hugo còn viết viết tác phẩm khảo luận có tên là "William Shakepeare" (1864) qua đó bộc lộ các tư tưởng của ông và hai tiểu thuyết khác với tên là "Les Travailleurs de la Mer" (Các người lao động trên biển, 1866) viết ra để tặng cho hòn đảo Guernsey và các thủy thủ của nơi này, và "L'homme qui rit" (Người hay cười, 1869), một cuốn tiểu thuyết về người dân nước Anh chống lại chế độ phong kiến của thế kỷ 17. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Victor Hugo là cuốn "Chín Mươi Ba" (Quatrevingt-treize, 1874), tập trung vào năm 1793 đầy chính biến tại nước Pháp, đề cập tới sự công bằng và bác ái chống lại hậu trường của cuộc Cách Mạng Pháp.
[/align] [/align]

d- Trở về nước Pháp.

 Trong 19 năm, Victor Hugo đã báo trước sự sụp đổ của chế độ độc tài của Vua Napoléon III và cảnh cáo về những tai họa theo sau. Năm 1870, Vua Napoléon III đầu hàng tại Sédan vì nước Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ và từ nay tới lượt "Vua Napoléon Bé Nhỏ" bị đưa đi lưu vong. Victor Hugo trở về thành phố Paris trong tiếng chào mừng trên đường phố, trước khách sạn mọi người đều hô to câu "Victor Hugo muôn năm". Nhưng Văn Hào Hugo đã không an hưởng được hòa bình. Thành phố Paris còn bị quân đội Phổ vây hãm và Victor Hugo đã kêu gọi người Đức nên thiết lập lại hòa bình giữa hai nước Pháp và Đức bởi vì Đế Chế Thứ Hai đã sụp đổ. Ông viết: "Hãy xóa biên giới. Giòng sông Rhine nên được dùng cho mọi người. Chúng ta hãy ở trong một liên bang, Liên Bang của châu Au . . . Hãy duy trì hòa bình quốc tế. Bây giờ hãy bắt tay với nhau và hãy giúp đỡ lẫn nhau…". Nhưng mặc dù các lời kêu gọi thống thiết của Văn Hào, vẫn còn các hận thù giữa người Pháp và người Đức, vẫn còn sự chia rẽ giữa phái tả và phái hữu tại nước Pháp, một chính quyền ổn định chỉ là một ảo tưởng. Văn Hào Victor Hugo được bầu làm đại biểu của Quốc Hội Pháp vào năm 1871 nhưng sau một tháng, ông đã từ chức. Victor Hugo đã tình nguyện rời khỏi nước Pháp một cách cay đắng và trở về đảo Guernsey vào năm 1872 và từ đây, ông đã trải qua nhiều năm hướng nhìn về Tổ Quốc.
 Năm 1873, Victor Hugo trở lại thành phố Paris và được bầu vào Thượng Viện (the Senate). Ông luôn luôn chống lại các hình thức độc tài mới, chẳng hạn như ngăn trở các tham vọng của Thống Chế Mac Mahon.
 Vào năm 1768, bà vợ Adèle của Văn Hào Hugo qua đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn, rồi sau đó là hai cái tang của hai người con trai, chết vào năm 1871 và 1873. Năm 1882 tới lượt cô Juliette Drouet qua đời, cô là thư ký và cũng là người tình, người bạn đồng hành trung thành của Văn Hào Hugo. Cùng vào năm 1882, lễ thượng thọ 80 của Văn Hào được nước Pháp tổ chức long trọng với Đại Lộ d'Eylau được đổi thành Đại Lộ Victor Hugo và Văn Hào được ca ngợi như một vị anh hùng quốc gia.
 Sức khỏe của Victor Hugo suy yếu dần. Vào mùa hè năm 1883, Văn Hào đã để lại những điều dặn dò, được coi như lời di chúc: - Tôi cho các kẻ nghèo 50,000 quan. - Tôi ước mong được mang tới nghĩa trang trong quan tài của người nghèo khó. - Tôi từ chối các lời cầu nguyện của tất cả nhà thờ. - Tôi tin tưởng nơi Thượng Đế.
 Victor Hugo từ trần vào ngày 22 tháng 5 năm 1885. Mặc dù ước vọng của ông là được chôn cất trong hoàn cảnh của kẻ nghèo, chiếc quan tài của ông được đặt tại Khải Hoàn Môn (Arc de Triomph) với 12 nhà thơ lớn đứng kế bên, có nhiều kỵ binh cầm đuốc xếp hàng chung quanh và tang lễ được cử hành long trọng như một quốc lễ để tôn kính nhà văn vĩ đại nhất của nước Pháp. Vào ngày tang lễ, dân chúng đứng xếp hàng dài từ Khải Hoàn Môn tới Công Trường Concorde. Văn Hào Victor Hugo được chôn trong Điện Panthéon, nơi an nghỉ của các vĩ nhân của nước Pháp.
 Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ lớn của nước Pháp. Sự rộng lượng trong các tư tưởng của ông, sự ân cần trong cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc bởi vì ông là nhà thơ của người bình dân, đã viết ra văn, làm ra thơ với đặc tính giản dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả về niềm vui lẫn nỗi buồn của nhiều người. Khi được hỏi ai là nhà thơ lớn nhất của nước Pháp, Văn Hào André Gide đã trả lời: "Vẫn là Victor Hugo". Victor Hugo có thể bị chỉ trích về sự nông cạn của tâm hồn tác giả và sự tầm thường của các nhân vật trong chuyện, nhưng tầm vóc tài năng của ông về văn chương, bao gồm cả kịch nghệ và thơ phú, thật là bao la, không có ai sánh kịp trong lịch sử văn học kể từ thời Shakespeare và Goethe. Mặc dù không phải là nhà tư tưởng sâu sắc, Victor Hugo vẫn là nhà văn chân thành, hiến mình cho "Chân, Thiện, Mỹ" và ông là Văn Hào được dân chúng Pháp yêu chuộng nhất.
Về Kịch Nghệ, Victor Hugo là người phát ngôn của trường phái Lãng Mạn, ông đã lên án sự cứng dắn về ngôn ngữ và hình thức của trường phái Cổ Điển, chỉ quen dùng đề tài là các vua chúa Hy Lạp hay các anh hùng La Mã. Victor Hugo đề nghị dùng lịch sử cận đại với nhân vật trong các vở kịch có thể là một người tư sản, một tên cướp… nhưng vẫn mang vẻ cao thượng trên kịch trường và như vậy đã chuyển hướng Kịch Nghệ về đường lối Hiện Thực.
Về phương diện tiểu thuyết, Victor Hugo đã đề cập tới các vấn đề luân lý với các nhân vật trong truyện làm các hành động đơn giản nhưng không thể quên được. Cuốn truyện "Nhà Thờ Đức Bà" là một tiểu thuyết lịch sử, với thời điểm là các năm 1400 tại thành phố Paris. Cuốn tiểu thuyết "Chín Mươi Ba" nói về các biến cố của cuộc Cách Mạng Pháp, còn cuốn "Các Kẻ Khốn Cùng" được đặt vào trong khung cảnh của nước Pháp cùng thời đại với nhà văn, với nhân vật Jean Valjean phấn đấu để có thể thực hiện một đời sống hữu ích mặc dù các thành kiến của một xã hội tàn ác. Như vậy cuốn truyện đã phản ảnh niềm tin của tác giả vào khả năng tự quyết của cá nhân đối với các thói đời. Cuốn truyện đã mô tả bản chất của xã hội và bản chất của con người. Victor Hugo cho rằng các điều kiện xã hội phải thay đổi để cho các trẻ em được nuôi dưỡng đầy đủ, đàn ông có công việc làm ăn, đàn bà được che chở, nền giáo dục nên dành cho mọi người, cơ hội phải công bằng và giữa con người với nhau phải có tình huynh đệ. Cuốn tiểu thuyết "Các Kẻ Khốn Cùng" đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan tới chính trị, xã hội, văn chương, lý tưởng nhân đạo và hướng thiện. Ngoài ra, nhiều tác phẩm của Victor Hugo còn được coi là xuất sắc vì cách canh tân về ngôn ngữ và hình thức văn chương, vì cách vận dụng chủ đề theo trừu tượng. Đại Văn Hào Victor Hugo xứng đáng được kể là nhà văn đại diện cho Tinh Thần của nước Pháp vào Thế Kỷ 19./.
[/align]



 
 
Những tác phẩm chính:
Poésie lyrique:
     Odes et ballades (1826),
     Les Orientales (1829),
     Les feuilles d'automne (1831),
     Les chants du crépuscule (1835),
     Les voix intérieures (1837),
     Les rayons et les ombres (1840),
     Les contemplations (1856),
     Les chansons des rues et des bois (1865)
     L'année terrible (1871),
     L'art d'être grand-père (1877),
     Les quatre vents de l'esprit (1881)
Poésie satirique:
     Les châtiments (1853)
Poésie épique:
     La légende des siècles (1859,1876, 1883)
Théâtre:
     Cromwell (1827),
     Hernani (1830),
     Ruy Blas (1838),
     Les Burgraves (1849).
Romans:
     Burg-Jagal (1818)
     Le Dernier Jour d'un condamné (1829)
     Notre-Dame de Paris (1831),
     Les misérables (1862),
     Les travailleurs de la mer (1866),
     Quatre-vingt-treize (1874)

(D'après la Collection littéraire Lagarde et Michard)
 Sách của Victor Hugo trên NET:
L'Ane (1881)
L'année terrible (1871)
L'art d'être grand-père (1877)
Odes et Ballades
Bug-Jargal (1825)
Les contemplations, tome premier
Les contemplations, tome second
Les feuilles d'automne (1831)
A propos de William Shakespeare
La légende des siècles, première série - tome premier
La légende des siècles, tome second (1859)
Notre Dame de Paris
Les Orientales
Quatre-vingt-treize
Les Rayons et les Ombres
Les Chansons des rues et des bois
La fin de Satan
Bài đọc thêm:
Les Misérables, nguyên văn  tiếng Pháp
Tác  phẩm Các  kẻ  khốn  cùng  (tóm lược)


  http://vietsciences.free.fr
 
http://vietsciences.free.fr/biographie/artists/writers/victorhugo.htm
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
Tr. 62, 63
 
Thưa Quý Vị,
 
Chúng ta vừa đi vòng quanh cái thực tại dân tộc để xem những đặc tính tổng quát của nó.  Chúng ta đã thấy rằng đó là một toàn thể sơ khởi siêu việt và trường tồn.  Bây giờ phãi đi vào thực tại đó để xem nó là cái gì.
 
Nói đến dân tộc, người ta thường nghĩ đến cái nòi giống, chủng tộc, cái giòng máu “Lạc Hồng” đang chảy trong mỗi người chúng ta, như thể 30 triệu người Việt Nam là con cháu của một cặp vợ chồng duy nhứt.  Nhưng tất cả những cái đó đều là huyền thoại.  Trên trái đất nầy, không tìm đâu cho ra “một chủng tộc thuần túy” trừ một vài bộ lạc trên những hải đảo xa xôi hoặc lạc loài nơi những vùng “khỉ ho gà gáy”.  Riêng tại Việt Nam, với những cuộc di cư, chiến tranh, chiếm đóng liên miên trong mấy ngàn năm, một chủng tộc thuần túy lại càng không thể có.  Chủng tộc thuần túy chỉ là cái ảo mộng của những người da trắng kỳ thị chủng tộc đặc biệt là của chế độ quốc xã Đức.  Nhưng dầu chúng ta thuộc chủng tộc nào thuần túy hay lai căng, Nam Mông-Gô-Lích hoặc In-Đô-Nê-Xia thì chủng tộc đó mới chỉ là cái chất liệu (matière), nó không phải là yếu tố cấu tạo dân tộc.
 
…….
Đăng nhập để trả lời
0
Nam Mông-Gô-Lích hoặc In-Đô-Nê-Xia
 
........
 
2.     ‘Bố Cái’ theo thuyết ‘Mã Lai’
 
‘Thuyết Mã Lai’ [1] truy tầm nguồn gốc dân tộc Việt Nam qua rất nhiều đường hướng khác nhau. Đại khái, song song với chủng Mông-gô-Lích, chủng Mã Lai là một chủng lớn thứ nhì đã tạo dựng nên người Á Châu ngày nay. Chủng Mã Lai xuất phát từ miền bình nguyên khu vực Tây Tạng tiến về phía Đông và Đông Nam. Nhóm đầu gọi Proto-Malay, và cuộc di dân đầu tiên xảy ra cách đây khoảng 5000 năm. Nhóm thứ nhì gọi Deutro-Malay – di tản theo hướng của nhóm trước, cách đây khoảng 2500 năm. Bình Nguyên Lộc đã bỏ ra hơn 10 năm để nghiên cứu về đề tài, nhưng khi viết nên quyển ‘Mã Lai’, lại gây nhiều ngộ nhận. Phần lớn do ở tầm vóc hết sức phức tạp của vấn đề. Thường đòi hỏi hợp tác của nhiều chuyên gia thuộc các lãnh vực khác nhau nhưng hỗ tương lẫn nhau. Thêm vào đó, tác giả đã dùng những tên gọi, thời bây giờ có thể nói không được ‘thuận lý’ hoặc ‘nghe hợp tai chính trị’ cho lắm. Đại khái, thay vì Proto-Malay, Deutro-Malay, tác giả đặt ra Mã Lai đợt I và Mã Lai đợt II. Làm nhiều người đọc dễ hiểu nhầm Mã Lai I và II, là hai đợt di cư do chính tác giả ‘sáng tác’ ra. Hoặc Mã Lai đợt I (còn gọi chủng In-đô-nê-sien) xuất phát từ Mã Lai Á, đem lôm chôm và sầu riêng,  mà mò lên Việt cổ rồi định cư ở đó. Bởi ngày nay có hai quốc gia lớn In-đô-nê-sien và Mã Lai Á, nên hầu như mọi sách vở viết về các chủng Malay hoặc In-đô-nê-sien đều tránh dùng các thứ từ này. Để tránh lôi các nước khác nhau trở thành bà con cùng gốc gác chủng tộc với nhau.
 
Có lẽ quá hứng khởi với kết quả công trình nghiên cứu của riêng ông, nhất là việc so sánh hằng ngàn từ Việt với tiếng Mã Lai và các phương ngữ Hoa Nam, và làm quen được tinh thần lô-gích trong nghiên cứu, Bình Nguyên Lộc đã mạnh tay công kích gần như tất cả những công trình của các vị học giả Tây phương, như Aurousseau, Maspéro, Madrolle, Coedès, Jansé, v.v. cũng như nhiều giáo sư Việt đang giảng dạy tại các đại học thời đó ở miền Nam. Mang đến hậu quả tai hại kéo dài hàng chục năm: Giới khoa bảng thường tẩy chay hay không thích đọc ‘thuyết Mã Lai’, hoặc ngộ nhận rằng ‘thuyết Mã Lai’ nói về người Việt có gốc Mã Lai xuất phát từ miệt phía dưới, thích ăn nhiều trái lôm chôm hay măng cụt, và đem trầu cau lên vùng Bắc Việt rồi ở luôn tại đó. Hoặc họ hết thuốc xâm mình nên mò lên miệt trên, và xin nhận nơi đó làm qơng [12]. Tuy vậy quyển Mã Lai vẫn được tái bản đều đều. Cũng nhờ ở lý do ‘thuận lý chính trị’. Bởi ngày nay ít ai thích đề cập đến chủng tộc Mã Lai trong khi có hai nước lớn mang chủng tộc này là In-đô-nê-xia và Mã Lai Á. Quyển ‘Mã Lai’ do đó trở thành một quyển sách hiếm về liên hệ của ‘chủng Mã Lai’ với dân Việt.
 
.......
 
http://www.khoahoc.net/baivo/nguyennguyen/bocaidaivuongvachunom.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 63, 64
 
Đa số người Việt Nam có thể là cùng một chủng tộc “Nam Mông-Gô-Lích” với người Trung Hoa miền Nam.  Trên phương diện cơ thể, không có gì phân biệt hoặc với người Quảng Đông, Quảng Tây.  Nhưng nếu đứng trước một người Việt Nam và một người Quảng Đông vóc vạc bằng nhau và cùng vận Âu phục, chắc chúng ta có nhiều may mắn để đoán đúng ai là người Hoa, ai là ngưới Việt.  Ngay trên phương diện thề xác, mỗi dân tộc có một cái “vẻ” riêng, một dáng diêu riêng, không thể phân tách mà chỉ có thể trực giác.  Một người Pháp và một người Đức có thể cao lớn bằng nhau, cùng có tóc vàng, mũi cao, và mắt xanh; nhưng có một cái gì khiến cho người Pháp không “giống” người Đức.  Cái dáng điệu đặc biệt của một dân tộc không là hậu quả của huyết thống mà chỉ có thể là hậu quả của môi trường văn hóa.  Khi người Trung Hoa đã “Việt hóa”,  thì họ cũng mất đi cái “vẻ Tàu” để mặc lấy cái “vẻ Việt”. Và Việt hóa là gia nhập môi trường văn hóa Việt Nam.  Chính môi trường này đã ấn định một mô thể (forme) cho cái chất liệu chủng tộc.
 
Vậy yếu tố cấu tạo một dân tộc không phải là huyết thống mà chính là cái môi trường văn hóa đang gìn giữ và nuôi dưỡng chúng ta.  Chúng ta gọi môi trường đó là văn hóa vì nó là công trình của con người,  chứ không phải là của thiên nhiên.  Văn hóa là hóa thành “văn”,  nghĩa là biến cái nhiên giới thành cái nhân giới,  biến con người “tự nhiên” thành con người “văn vẻ”,  nghĩa là con người có lời nói,  có văn tự tức con người nhân bản vậy.
 
Văn hóa là toàn thể những phương tiện vật chất và tinh thần mà một tập thể đã dần dần sáng tạo để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của mình.  Mất những phương tiện này,  con người không thể sống như con người.  Cái mà chúng ta gọi là “con người” hiện nay là một sự phối hợp giữa thiên nhiên và văn hóa trong đó văn hóa là yếu tố quyết định.
 
……
Đăng nhập để trả lời
0
Quảng Đông, Quảng Tây

 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Tr. 64, 65, 66
 
Nơi con người, không có gì hoàn toàn là “tự nhiên”, nhưng ngược lại cái gì hoàn toàn “của con người” là do văn hóa sáng tạo. Sự nghiên cứu những đứa trẻ “rừng rú” (enfants sauvages), từ nhỏ phải sống với thú vật, cho thấy rằng, nếu sống ngoài môi trường văn hóa, không những các đặc tính riêng biệt của loài người sẽ mất đi (như thái độ đứng thẳng và lời nói) mà ngay những bản năng căn bản được xem là “tự nhiên” (như bản năng sinh dục) cũng không phát triển được (1) (1) Xem Lucien Malson: Les enfants sauvages, Mythe et re1alite1.  Le monde en 10-18. Paris 1961.
 
Đối với con người, thiên nhiên không bao giờ có tính cách tất định mà chỉ là một hứa hẹn và một thách đố.
 
 
Một nền văn hóa là một thể thức hoàn thành những hứa hẹn, trả lời những thách đố của thiên nhiên, nghĩa là một thể thức hiện hữu trong vũ trụ như một xã hội loài người.
 
Gìn giữ, giao truyền và bồi đắp cái môi trường văn hóa để cho mỗi thế hệ có điều kiện thành người, đó là sứ mạng của giáo dục,  Nói đến dân tộc là nói đến giáo dục.  Vì nếu văn hóa là yếu tố của dân tộc, thì giáo dục là điều kiện thiết yếu của dân tộc, thì giáo dục là điều kiện thiết yếu của dân tộc trường tồn trong thời gian.  Trong bài diễn văn gởi cho dân tộc Đức mà cái đề tài chính là giáo dục, Fitche viết: “Chúng ta đã mất tất cả, nhưng chúng ta còn giáo dục”.  Và còn giáo dục cũng là còn tất cả.
 
Giáo dục là sự trường tồn của dân tộc nên một nền giáo dục chỉ có thể là một nền giáo dục dân tộc.  Và một nền giáo dục dân tộc không thể tách rời môi trường văn hóa để trở thành một hoạt động thuần túy chuyên môn.
 
Cái sa lầm của những người binh vực sự hiện diện của những trường ngoại quốc trên đất nước nầy nằm ở chỗ họ tưởng rằng có thể tách rời giáo dục khỏi mội trường văn hóa, rằng dân tộc tính là một đặc tính “tự nhiên” và một đứa trẻ Việt Nam tự nhiên trở thành một người Việt Nam như con bê trở thành con bò; rằng dân tộc chỉ là tổng số những cá nhân và mỗi cá nhân có quyền hấp thụ bất cứ nền văn hóa nào mà vẫn là thành phần của dân tộc.  Cái sai lầm căn bản của họ, thật ra, chính là chủ nghĩa cá nhân: những người theo chủ nghĩa nầy là những người không thể nhìn thấy một ai, nhìn thấy cái gì ngoài cái rún của họ và cái rún vô cùng dể thương và quan trọng đó, họ ngây thơ hoặc vênh váo cho rằng đó là cái rún của vũ trụ!
 
........
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-06 17:46:32Như Ý>
Bài đọc thêm:

Tác giả Nguyễn Văn Lục

...

Trong để tài "Tứ Nhân Bang" trang 3, Ngày 28 tháng 9, 2007, báo Saigon Nhỏ: ông Lục có nhận xét về Lý Chánh Trung như người trí thức Công Giáo.

......
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Saigon Nhỏ
Số 563
28 tháng 9, 2007
 
 
"Tứ Nhân Bang"
 
 
.......
 
Ông Nguyễn Nghị viết tập sách mỏng năm 1992, tựa đề là Lịch sử Đạo Công Giáo tại VN.  Tài liệu nầy đuợc đưa cho ông Lý Chánh Trunbg, đại biểu quốc hội, duyệt.  Ông phê: "Nên thêm vào tên sách Lịch Sử Những Tội Lỗi Của đạo Công Giáo".   Ông Lý Chánh Trung ghi tiếp: "Bài nầy là một tài liệu chính trị chứ khônbg phải một bài nghiên cứu sử học, nếu viết để đăng trên một tt báo chính trị thì là quyền của tác giả và của tờ báo.  Nhưng không đuợc công bố như một cuốn sách về lịch sử, cho Giáo Hội Công Giáo  và cho cả nước VN.  Ông Nguyễn Nghị, còn gian trá trí thức là liệt kê số sách tham khảo, số sách đọc khoảng 20 tài liệu, sách vở.  Nhưng trong toàn bộ tài liêụ, ông không ghi chú một tài liệu nào cả làm ông Lý Chánh Trung phải ghi chú: "Chỉ Có một chú thích số 2 có ghi trong bài viết."  Một nhận xét rất nhẹ nhàng thôi, nhưng đủ cho thấy tư cách trí thức và tâm điạ người viết ra sao.
 
 
.....
 
 
Theo Nguyễn Văn Lục  
Đăng nhập để trả lời
0
   Lý Chánh Trung
 





 


·        Tìm Về Dân Tộc. Sài Gòn: Trình Bày, 1967.



·        Tôn Giáo và Dân Tộc. Sài Gòn: Lửa Thiêng, 1972

 
 
http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/thumuc.htm
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
.......
Ngày biểu tình, chúng tôi tò mò đi xem, nhìn thiên hạ vác biểu ngữ reo hò “Việt Nam! Việt Nam!” mà chẳng thấy vui mừng chi, chỉ nghe ấm ức và bực bội và cảm thấy mình bơ vơ, lạc loài giữa đám đông. Tôi còn nhớ một đứa trong bọn tôi đã nói lớn “Độc lập là cái cóc gì?” Câu hỏi xấc xược, ngô nghê này diễn đạt cái tâm trạng chung của chúng tôi lúc ấy. Quả tình chúng tôi không hiểu...[12]
 
......
 
 [12] Lý Chánh Trung, Tìm Về Dân Tộc, tr. 23-27.
 
http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/chuong2.htm#_ftnref2
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»