📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Chuyện Cà Kê số 4 - "Mai Nở Miền Tuyết Trắng" - Tô Vũ (Paris) 🔒

0 trả lời, 1.395 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-13 21:04:15Ct.Ly>
 Chuyện Cà Kê số 4
(tháng 08/2007)
Tô Vũ (Paris)
Mai Nở Miền Tuyết Trắng

Nhận được giấy mời của Văn Bút Âu châu mời tham dự buổi ra mắt sách của Nhóm Diễn Đàn Phụ Nữ tại Trung tâm FIAP ngày 24-6-07, Tô Vũ ngần ngại vì vấn đề đậu xe chung quanh trung tâm đó.
Mỗi lần đến họp ở đó, may mắn lắm mới tìm được chỗ đậu, còn không thì phải chạy lòng vòng bao nhiêu lần chung quanh mới tìm thấy một chỗ, mà mỗi vòng cả cây số chứ ít đâu.
Hơn nữa, Tô Vũ không quên hôm 10-12-06, bị xui xẻo ở FIAP nên TV cũng không ‘chaud’ lắm. Hôm đó, ông HVT mời đến tham dự ngày Kỷ niệm của đảng ĐV, chạy 5, 6 vòng mới thấy một cái xe đang ra, mừng quá, sà ngay vào đậu ở chỗ đó, rồi đi bộ đến Cabanis. Không xa lắm.
Không ngờ hôm đó số hao tiền mất của.
Ngồi họp xong, lúc ra lấy xe, tới gần, đã nhìn thấy có giấy phạt gài trên kiếng gió rồi, phạt 35 euros vì đậu vào bến xe ca, mà lúc đậu mừng quá không để ý đến bảng cấm nhỏ. Đang bực tức vì mình vô ý, nhìn thấy một cái giấy màu đỏ dán ở cửa xe bên phải của cảnh sát gọi xe dépannage đến kéo xe về phú-de (fourrière). May mà ra sớm, xe dépannage chưa tới, chứ nếu bị kéo rồi, thì còn rắc rối và tốn thêm nhiều tiền nữa và mất công nữa. Phải đi taxi đến phú-de, nộp tiền phạt, trả tiền kéo xe từ chỗ đậu đến phú-de, mất khoảng hai trăm euros, không kể xe mà bị kéo đi thì thế nào cũng bị hỏng, bẹp chỗ này chỗ nọ rồi mất tiền sửa nữa.

Tô Vũ về sau nghĩ lại cũng ngạc nhiên thấy tâm lý con người lạ thật, bị phạt xe 35 euros mà trong lòng Tô Vũ lại khoan khoái và coi như là hên. Thật đúng như chuyện Tái ông mất ngựa !
Hai hôm sau di mua tem phạt ở tiệm thuốc lá, đến hai tiệm gần nhà mà không mua được, chẳng biết có phải tại cảnh sát phạt nhiều hay sao mà thiếu tem bán. TV phải lấy xe đi kiếm ở tiệm xa. Mùa đông khoảng 6 giờ đã tối mịt, lại gặp phải kẹt đường vào xa lộ A4, Tô Vũ phải lách sang bên trái để về nhà, tối quá nhìn không rõ quệt nhẹ vào xe trước. Xe của Tô Vũ bị vỡ đèn, xe trước không bị sây sát chút nào, nhưng anh chủ xe trước cứ bắt phải làm biên bản để đòi bồi thường. Làm thì làm chứ sao, có gì mà phải cãi với nó, bảo hiểm hai bên nói chuyện với nhau, chứ mình đâu có phải đền bồi gì, nhưng xe mình bị hư thì mình phải móc tiền túi ra sửa, bảo hiểm ‘au tiers’ không trả !
Hôm sau phải đi gara sửa ngay, vì để đèn hư mà chạy thì bị phạt, (ở Na Uy hình như chạy xe ban ngày trời sáng tỏ, xe nào cũng phải bật đèn (!?)
Đi hai gara ở gần nhà, chỗ thì đòi 600 euros, thay đèn, gõ móp, sơn bóng lại, v.v, chỗ thì đòi 800, Trời ! sửa một chút mà bao nhiêu là tiền !
May quá, (lại may ! ) có một người quen giới thiệu cho một người làm giùm, mua đồ cũ phế thải để thay, sửa chữa gõ móp, sơn qua loa, cuối cùng phải trả 300 euros.
Thật là số xui, đi họp mà mất 335 euros, nên từ đó đến giờ Tô Vũ ngại đi họp ở Cabanis lắm.
Hôm ra mắt Tuyển Tập Phụ Nữ Việt 2006 của nhóm Diễn Đàn Phụ nữ Việt, Tô Vũ ngập ngừng, không muốn đi, nhưng sau cũng quyết định đến, một phần vì Tô Vũ ở trong hội Văn Bút Âu Châu mà buổi Ra Mắt Sách lại do Văn Bút tổ chức, một phần vì tò mò muốn biết nhóm Diễn Đàn Phụ nữ ở đâu tới Paris, chưa từng nghe danh nhóm này bao giờ cả.
Tô Vũ đậu xa, chỗ thật an toàn, không sợ bị phạt, đi bộ tới, phải mất hơn hai mươi phút, lúc ở nhà ra đi đã đi trễ, đến nơi lại phải đi bộ xa, đến phòng họp thì chương trình đã xong phần giới thiệu, sang phần Văn nghệ, giải lao và bán sách.
Khi hỏi mua Tuyển Tập Phụ nữ 2006 ở quầy bán sách thì cô tiếp viên cho biết là sách đã bán hết, nếu muốn mua thì trả tiền trước, rồi sách sẽ gửi đến nhà, TV đưa tiền, đưa tên và địa chỉ. Nhìn thấy một cuốn sách khác để trên bàn, tựa đề là Mai Nở Miền Tuyết Trắng, nhìn ảnh tác giả Võ Thị Điềm Đạm thấy giống cô tiếp viên, TV hỏi cô có phải là tác giả không ?
Cô tươi cười gật đầu. Thế là TV may mắn gặp một nhà văn trong Nhóm Diễn Đàn Phụ nữ Việt bằng xương bằng thịt, khỏi phải đi tìm. May mắn và hân hạnh. TV hỏi cô ở đâu tới, cô nói từ Na Uy. Thảo nào. Ở xa thế, làm sao TV biết và gặp được.
TV trả tiền mua tập truyện ngắn đó, và xin chữ ký đề tặng. Nhìn chữ ký thấy như chữ viết thường đủ dấu sắc hỏi huyền ngã. TV nghĩ bút hiệu Điềm Đạm nói lên một đức tính tốt rất cần thiết trong đời sống bon chen vật chất này và chữ ký cũng đặc biệt dản dị.

Một tác giả (TVkhông biết tên) về khoa đoán chữ ký đã viết :
(.. .) Việc bạn ký tên một cách rõ ràng, không thiếu chi tiết nào chứng tỏ bạn rất cẩn thận khá tỉ mỉ, làm việc gì cũng cẩn thận chứ không hề đốt cháy giai đoạn để đảm bảo mình có thể dự đoán được kết quả càng nhiều càng tốt (...)

Hồi trước ở Sài gòn có Chiêm tinh gia Huỳnh Liên nổi tiếng, nghiên cứu chữ ký, gọi là khoa chiết tự, nhìn chữ ký đoán được tính nết của người ký, và luận ra tương lai của người đó.
Đây là bìa cuốn sách của Chiêm tinh gia Huỳnh Liên :
NGHệ_ THUậT XEM CHữ_ KÝ
1969
LOạI SÁCH XEM CHO BIẾT ĐờI MÌNH
Cấm trích dịch dưới mọi hình thức
HUYỀN BÍ ĐờI NGƯờI
Nghệ thuật XEM CHữ_KÝ
Của Chiêm tinh gia HUỲNH LIÊN TỬ

Làm người ai chẳng có tên.
Ký thành nét chữ số liền hiện ra.
Tương lai hung, kiết, hiền hòa?
Hiện trên nét chữ ấy là mệnh nhân..

Thông thường thì chữ ký có thêm hoa lá cho đẹp, hoặc ký rắc rối không đọc được, người ký bao giờ cũng ký nhanh chứ không viết chậm chạp như chữ viết thường. Hình như ở Mỹ và ở một vài nước, nhiều người ký tên (viết tên) như chữ viết thường, đầy đủ dấu, tôi không biết có đúng như thế không ?
TV có một người bạn trung học, anh Ng. đ. H., du học ở Mỹ, học thành tài xong về nước, anh được cử làm Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Sài gòn, (Anh mất ở bên Mỹ mấy năm nay rồi, cầu xin cho Anh yên vui nơi miền vĩnh cửu), chữ ký của anh cũng như chữ viết thường đầy đủ cả dấu sắc huyền hỏi ngã. Bạn tôi lúc sống là một người dản dị thành thực và là một người chủ gia đình tốt, một người bạn tốt. Vì thế nên tôi có những ý nghĩ tốt đẹp về những người có chữ ký dản dị, chắc tâm hồn họ cũng dản dị chân thật và thành thực, giống như bạn tôi.

Thời Pháp, tôi biết một ông giữ chức vụ quan trọng, ông ta làm công sứ một tỉnh Bắc Việt, nghĩa là một ông quan đầu tỉnh, tên ông là V, ông ký những công văn quan trọng mà chữ ký như chữ viết thường, nhìn thấy tôi cứ nghĩ là người nào muốn giả mạo chữ ký của ông thì thật dễ dàng.
Tôi không biết rành rẽ về luật pháp, nhưng cũng biết rằng giả mạo chữ ký là một tội phạm hình luật.
Ngày trước, ở ngoài Bắc, ở vùng quê, nơi mà còn ít ngưòi biết viết chữ quốc ngữ, làm văn tự mua hay bán nhà, đất, v.v... không biết ký, thỉ điểm chỉ thay chữ ký (tức là empreintes digitales), bây giờ khi mình đi lấy passeport hay lấy căn cước, công an cảnh sát họ cũng lấy điểm chỉ của mình bỏ vào hồ sơ cá nhân. Điểm chỉ thì không bao giờ thay đổi và giả mạo được.


***

Chữ ký thời xưa, thời nho học, thì dản dị lắm. Tự tay đương sự viết một chữ ‘ký’ (ký có nghĩa là ‘signé’ của Pháp, hay ‘signed’ của Anh) dưới tên họ của mình. Nếu có chức tước thì đề tên họ và chức tước, rồi viết một chữ ‘KÝ’, cũng có khi kèm theo một triện son màu đỏ. Trên triện đó có đề tên người ký, khắc bằng một lối chữ riêng gọi là ‘chữ triện’.
Sau đây, TV mời quý độc giả coi những chữ ký năm 1884, thời nho học :
Hiệp ước Bảo Hộ (Traité de Protectorat) ký tại Huế ngày 06-06-1884, giữa nước Pháp và nước Đại Nam (Việt Nam):
1 - Một bên là Đại sứ đặc quyền Patenôtre thay mặt nước Pháp
2 - Một bên là ba vị Đại thần thay mặt nước Đại Nam :
1 Thứ nhất là Phụ chánh Đại thần Nguyễn Văn Tường,
2 Thứ hai là Toàn quyền Đại thần Phạm Thận Duật,
3 Thứ ba là Phó Toàn quyền Đại thần Tôn Thất Phan

***

Ở phiá dưói tờ Hiệp ước (mà nội dung viết bằng chữ Pháp), có tên, chức tước chữ ký viết bằng chữ Hán (chữ nho) của ba ông Đại diện nước Đại Nam .
- Đọc từ dòng phải trước, từ trên xuống dưới :
- Dòng l (phải) : Đại Nam Phụ chánh Đại thần Nguyễn văn Tường ‘ KÝ ‘ Chữ Ký (có mũi tên chỉ) là chữ của ông Tường viết bằng chữ Hán
- Dòng 2 (giữa): Đại Nam Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật ‘ KÝ ‘
Chữ Ký (có mũi tên chỉ) là chữ của ông PT Duật viết bằng chữ Hán
- Dòng 3 (trái) : Đại Nam Phó Toàn quyền đại thần Tôn Thất Phan ‘ KÝ ‘ Chữ Ký (có mũi tên chỉ) là chữ của ông TT Phan viết bằng chữ Hán



Nhìn ba chữ ‘KÝ’ của ba ông Đại thần không nét chữ ông nào giống nét chữ ông nào. Ngày xưa, xem tự dạng, tức là coi một chữ viết để biết được những đặc điểm của chữ đó, so sánh, phân biệt với những chữ viết của người khác, rồi tìm được ra tác giả viết những dòng chữ đó, một bài thơ đó.
Tô Vũ ký bút hiệu dản dị, không ký thoắng, viết rõ ràng đầy đù abcđ , cũng đánh dấu nhưng có một đặc biệt là dấu mũ và dấu ngã dính làm một, cuối cùng thì bay bướm kéo dài lên cao vút, và tiện đường kéo xuống gạch một vạch ngang dài và mạnh dưới tên bút hiệu.
Hồi trước, có người bạn nói chữ ký của TV có tương lai lắm. Tô Vũ không tin. Được tiếng khen thì ho hen chẳng còn. Viết một bài báo, viết một truyện dài, một truyện ngắn, một cuốn sách, nhất là một sách tài liệu, mệt đứt hơi.
Nhưng bù lại, khi sách đã viết xong, in xong, ra mắt độc giả, thật là một ngày trọng đại, một niềm vui.
TV đã nhìn thấy những nét mặt tươi cười vui mừng của tác giả ngày hôm ra mắt sách mà TV đã hân hạnh giới thiệu như :
- thi sĩ Đỗ Bình ra mắt tập thơ Bóng Quê ở salle de conférence lớn chứa 400 người của trung tâm FIAP, -
- thi sĩ Bích Xuân, ra mắt tập thơ Bây giờ Em Vui ở salle de réception của hôtel lớn Apogia,
- thi sĩ Việt Dương Nhân ra mắt tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi và đãi khách ăn ở tiệm ăn sang trọng Asia Palace, quận 13 Paris
- thi sĩ Minh Tâm ra mắt tập thơ Nắng chiều ở Institut Franco Vietnamien quận 5 Paris.
Tình cờ cách đây vài tuần, mở web Đặc Trưng thấy đăng hình của Tô Vũ kèm theo bài TVgiới thiệu tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của thi sĩ Việt Dương Nhân. Thật bất ngờ thấy tấm hình chụp ngày 25-10-1998 (chưa được coi bao giờ), TV đọc lại bài giới thiệu đó, mà lòng vui vui nhớ lại kỷ niệm cũ, thấm thoát đã gần 10 năm trời,
Nhân bài Cà kê hôm nay, TV đăng tấm hình đó để nhắc lại một kỷ niệm chung vui với thi sĩ Việt Dương Nhân, và chép một đoạn trong bài để lấy ra một vài ý kiến gửi tới nhà văn Võ Thị Điềm Đạm và thi sĩ Thi Hạnh ở Na Uy.


Hình Tô Vũ giới thiệu tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của Việt Dương Nhân tại Asia Palace ngày 25-10-1998
Xin trích :

(...) Dịp trình làng một tác phẩm đầu tay, là một dịp vui mừng hiếm có cho một tác giả. Ngày ra mắt là một ngày vui trọng đại đánh dấu son đậm trong cuộc đời cầm bút, ghi khắc trong trí óc những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt, những cảm giác không bao giờ xóa nhòa.

Thật vậy, ngày ra mắt tác phẩm là ngày cụ thể hóa bao tâm tư suy nghĩ, cụ thể hóa bao cảm giác, bao cảm xúc tâm hồn đã tạo lên trong lúc hình thành tập thơ tập truyện, bao thời giờ khó nhọc, vất vả, mê say không kể ngày đêm, có khi quên ăn, bỏ ngủ để kết thúc bài viết trong điều kiện mong ước.

Thụ thai một đứa con tinh thần không có thời gian nhất định, có thể là vài tháng, có thể vài năm, có thể là vài chục năm nhất là sáng tác tùy hứng không bị điều kiện nào dàng buộc. Tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của thi sĩ Việt Dương Nhân là một thí dụ điển hình. Bài Về Đất Mẹ đã ghi sáng tác năm 1976, và liên tiếp những năm sau 76, những năm 80, những năm 90 đều có những bài sáng tác, gần nhất là trong năm nay, năm 1998, như thế chứng tỏ tập thơ này đã có 22 tuổi đời kể từ bài đầu. Ngoài tinh thần và nhịp sáng tác của tác giả, phải nói đến những điều kiện cụ thể để in ra tập thơ, tập truyện, mà không phải ai cũng có đủ. Một tác giả chưa có tiếng tăm trên văn đàn, không thể tìm thấy một nhà xuất bản nhận in tác phẩm của mình, vì vấn đề lợi tức của nhà in, đừng nói đến món thơ là món khó tiêu thụ. Vì vậy nhiều tác phẩm đã phải do chính tác giả bỏ tiền ra in để tự mình phát hành lấy. Do đó cái cơ may của một tác phẩm được trình làng rất hiếm hoi, vì còn tùy thuộc điều kiện sáng tác, nhất là tùy thuộc điều kiện xuất bản.(...)

***

Thế rồi nhà văn Điềm Đạm cho biết đã từ Na Uy tới với nhà thơ Thi Hạnh, và mấy nhà văn nữ khác từ Đức, Hoà Lan, Mỹ tới Paris để ra mắt Tuyển Tập Diễn Đàn Phụ Nữ Việt 2006.
Tô Vũ đến chậm thành ra không được nghe lời giới thiệu của nhà văn Từ Trì giời thiệu tuyển tập đó.
Chương trình ca nhạc do ban nhạc silicon Band với các ca sĩ tuy không là ca sĩ nhà nghề, nhưng cũng hát hay chẳng thua kém, đặc biệt với những lời giới thiệu duyên dáng, vui vẻ, của cô Thi Hạnh, cô gây được nhiều thiện cảm của khán giả.
Sự tình cờ là khi mua sách, TV định mua tập thơ Đếm Những Hư Hao, mà vì trong túi hết tiền lẻ, có mấy chục đã trả mua hai cuốn kia rồi, nhưng cô Điềm Đạm đã mang lại cho TV tập thơ với lời đề tặng của tác giả Thi Hạnh. TV rất ngạc nhiên, cảm ơn cô Điềm Đạm. Xứ Na Uy không đến nỗi lạnh quá! Rồi cô Thi Hạnh bận điều khiển chương trình văn nghệ nên Tô Vũ không gặp được cô để cám ơn. TV nghĩ phải mời mấy cô đi ăn phở nhưng cô ĐĐ nói rằng ban tổ chức đã mời các cô rồi. Như vậy là TV mắc nợ, khi nào hai cô sang Paris là phải cho phép TV trả nợ.
Thi Hạnh nói giới thiệu dễ dàng lưu loát và vui vẻ, chắc cũng đã có nhiều kinh nghiệm, nhiều lần giới thiệu những buổi họp.
Bây giờ người ta gọi những người điều khiển chương trình là MC (Master of Ceremony, hay Maitre de Cérémonie).

Xin nói ngay đến tập thơ Đếm Những Hư Hao.
Thi sĩ Thi Hạnh là một nhà thơ trẻ ở Na Uy đồng tác giả tập thơ với nhà thơ Nhược Thu.
Tập thơ in trang nhã. Bià màu xanh-đen xẫm (deep black blue) hay nâu xẫm (deep brown), Tô Vũ nhìn không rõ, chữ vàng, bìa trước có hai ngọn nến cháy, một lớn một nhỏ, hai ngọn nến soi trong đêm tối. Tô Vũ nghĩ hai ngọn nến là hai nhà thơ, một nhà thơ lớn, một nhà thơ nhỏ, thắp nến để đếm những hư hao (?), không biết có đúng ý người trình bầy trang bìa đó không ? Sách dày 120 trang, khoảng 100 bài thơ, mỗi trang một bài. Theo lời giới thiệu của Thi Hạnh thì tập thơ này ghi những bài thơ xướng hoạ giữa Thi Hạnh và Nhược Thu (Nhược Thu là một nam thi sĩ). Có lẽ phải một nam và một nữ đối đáp thì mới mặn mà câu chuyện, nhưng Nhược Thu đã sợ Thi Hạnh ‘tưởng là thật’ phải : ‘dặn dò, cảnh cáo Thi Hạnh’ :
 
Thơ chỉ là thơ em biết không.
Chẳng như mộng ngọc phủ cung lòng.
Thơ như mây gió không bờ bến,
Thoáng hợp rồi tan cõi viển vông.

Rõ rệt là những bài thơ của hai bên xướng hoạ sáng tác chỉ để cho gió bay đi, không phải là ‘mộng ngọc phủ cung lòng’ . Nhưng đọc xong một số bài, người đọc khó chấp nhận được đó là những lời thơ vô hồn, vô hình, vô tình, làm chơi cho vui. Thật là uổng nếu đúng như vậy, vì những bài thơ của Thi Hạnh và Nhược Thu là những bài thơ lãng mạn trữ tình, với những lời thơ nhẹ nhàng, óng ả, thi tứ dồi dào. Tô Vũ nghĩ rằng những bài thơ đó, nếu đứng riêng một mình, (không đứng chung trong tập thơ xướng hoạ), thì là những bài thơ đẹp.
Nhưng nếu để gió bay đi, thì sao lại phải ‘đếm những hư hao’ ?
Hư hao gì ? Phải có nhiều mới đếm, phải không còn lành mới là hư, phải hụt số mới là hao.
Hư hao gì ? Hư hao tình cảm chăng?
Nhà thơ Thi Hạnh có thể bật mí một chút được không ?

*

Tô Vũ hân hạnh giới thiệu với quý độc giả tập thơ ‘Đếm Những Hư Hao’, của Nhược Thu và Thi Hạnh xuất bản ở Na Uy. Độc giả muốn biết chi tiết xin liên lạc email thẳng với nhà thơ Thi Hạnh email : [email=thihanhthi@yahoo.com]thihanhthi@yahoo.com[/email]


***

Giở tập truyện ngắn Mai Nở Miền Tuyết Trắng của Võ Thi Điềm Đạm, Tô Vũ chọn 2 truyện để đọc, chọn một cách ngẫu nhiên, và tự hứa sẽ đọc nốt những truyện kia khi nào có thêm nhiều thì giờ. Vì TV làm nhiều việc một lúc, nên lúc nào cũng bề bộn, Thường thì TV đọc nhanh những sách mới mua hay được tặng để có một ý niệm chung, bài nào hay đoạn nào hay thì đọc kỹ chứ không đọc hết cả quyển ngay. Không phải do thói quen đâu, mà vì bây giờ thiếu thì giờ chứ trước kia thì có quyển nào cũng đọc ngấu nghiến xong ngay quyển đó.
Hiện có trên 10 cuốn, TV đang đọc giở hay chưa đọc :
1) cuốn La Petite Fille de monsieur Linh tác giả Philippe Claudel, đóng thành phim do Depardieu đóng
2) cuốn Da Vinci Code của Dan Brown, 745 trang, đọc gần hết. Nhưng TV cũng đã đọc thêm rất nhiều tài liệu khác liên quan và đã coi cuốn film về cuốn sách này.
3) cuốn Terre des Oublis của Dương thu Hương, 800 trang chữ nhỏ, in màu mực lợt (đọc không rõ, không hiểu sao bây giờ các nhà xuất bản đều in mực nhạt không in mực xẫm như trước, đọc rất khó). Cuốn này TV đọc không thấy ham như mấy cuốn sách khác của DTH, thí dụ như cuốn Những Thiên Đường Mù
4) cuốn Le Fleuve Rouge của Mai Kim mới tặng
5) cuốn Le sixième sens de la Petite souris của Mai Linh viết bằng chữ Pháp,trên 200 trang chữ nhỏ, do La Bruyère Paris xuất bản. Một hồi ký tự truyện về những ‘aventures amoureuses’ của tác giả. Sách bán tại nhà in La Bruyère.
6) cuốn Lê Vân Yêu và Sống của Nguyễn Mai Hạnh xb ở Saigon. Cuốn này là một cuốn tự truyện của một nghệ sĩ múa ba-lê (ballet) ở Hà nội viết nhiều về những điều kiện sinh sống của nghệ sĩ sống dưới chế độ cộng sản tại Hà nội trước 75
7) Truyện trào phúng Đaị Hội Đảo Điên của nhà báo Nguyển đình Nhân cựu chủ nhiệm báo Tin Tức, châm biếm về những toan tính chính trị của một số người lợi dụng tranh đấu, sách dày 300 trang, viết bằng chữ Việt, do nhà xuất bản Pháp l’Harmattan ở Paris xuất bản
8) Tuyển tập Phụ nữ Việt 2006 mới nhận được
9) Tập thơ Bến Đợi của Phú Sĩ và Kim Thành mới nhận được
10) Thơ David Lý Lãng Nhân , 250 trang, thơ sáng tác chữ Việt, chữ Pháp và và chữ Anh, dày 250 trang xb ở bên Mỹ, mới nhận được
11) Tập thơ Tình còn Say - Forever Love, của Sóng Việt Đàm Giang và Thomas D. Le, thơ chử việt và chử Mỹ gần 300 trang xb ở bên Mỹ mới nhận được
12) Bản thảo một truyện dài Những mảnh Tình, dày trên 300 trang, chữ nhỏ, của nhà văn ĐTV nhờ đọc trước khi đưa xuất bản. Đọc gần xong.
13) Tập thơ Nhặt Lá Tim Rơi của Dã Thảo nhờ viết bài giới thiệu. Dã Thảo tác giả tập thơ Tình Của Cỏ xb ở Paris trên 10 năm trước với những bài thơ lãng mạn, TV đã viết bài giới thiệu cho tập thơ Tình của Cỏ và giới thiệu trên Radio Asie Paris trong một buổi phỏng vấn.

*

TV xin cáo lỗi cùng các tác giả đã tặng sách về những chậm trễ trong việc giới thiệu.

Mai Nở Miền Tuyết Trắng

Tới đây, xin giới thiệu tập truyện ngắn Mai Nở Miền Tuyết Trắng của nhà văn Võ thị Điềm Đạm
Sách dày 300 trang
Bìa màu xanh hy vọng, có in bức hoạ Angel of Love
Nhà xuất bản An Tiêm, Na Uy
Tuyển tập này gồm 15 truyện ngắn, trong số có truyện Hai Mẹ Con Nó đã được giải thưởng của Mạng Website Vietno ở Na Uy năm 2006. do lời giới thiệu trong sách

***

TôVũ chọn truyện Mảnh Giẻ Vụn để giới thiệu với độc giả www.congdongnguoiviet.fr.
Đề tài truyện ngắn này là một đề tài xã hội, mà tất cả những người Việt Nam tránh cộng sản, bỏ nước VN thân yêu ra nước ngoài cư ngụ, không cứ gì ở Na Uy, đều phải lưu ý. Vì nó liên quan đến tương lai của những trẻ em trong gia đình, những thanh niên trong xã hội, mà mặc dù nền giáo dục cổ truyền nền nếp gia giáo tốt đẹp của xã hội Việt Nam, các vị-thành niên, trí khôn còn non nớt, đã vấp phải khi chạm chán với một xã hội, đầy cạm bẫy hư hỏng ở một số nước ngoài.
Theo nhận xét của Tô Vũ, ngọn bút già dặn của Điềm Đạm đã nêu ra những vần đề được phân tích sâu rộng với nhiều kinh nghiệm sống và kinh nghiệm giáo dục trẻ em. Vấn đề thiếu nhi phạm pháp là một vấn đề phức tạp, một đề tài xã hội nóng bỏng mà nhà văn ĐĐ đã trình bày thành một truyện ngắn,

Trong truyện ngắn Mảnh Giẻ Vụn, tác giả đã để chính nạn nhân của sự phạm pháp, kể lại chuyện của em với những trường hợp nào đã dẫn em đến phạm pháp. Một thiếu niên đáng thương. Một thiếu niên phạm pháp do sự đưa đẩy của lòng tham lam của cha mẹ, do sự không hiểu biết pháp luật của cha mẹ, do sự chểnh mảng, do sự lơ là nhiệm vụ của cha mẹ, em được hưởng tất cả những phúc lợi xã hội, sự chăm lo, săn sóc, nuôi nấng tốn kém của xã hội Na Uy cho em, mong muốn em trở thành một công dân tốt như mọi công dân tốt, nhưng em đã không bắt kịp với cuộc sống ở một xứ văn minh, những đà tiến triển, em đã không lợi dụng được những phúc lợi quý giá của một xã hội văn minh đã tặng cho em. Do sự khai man của cha mẹ ruột em tham tiền trợ cấp khai em là cháu, không có cha mẹ, nên em được nuôi dưỡng sống đầy đủ tiện nghi trong một trại mồ côi, em sống ở xã hội Na Uy mà em không nói được tiếng Na Uy, không hội nhập được với xã hội Na Uy, khiến em phải tụ tập bè đảng với những em đồng cảnh ngộ để làm những việc phi pháp, sống ngoài lề một xã hội văn minh, một xã hội tận tình săn sóc em mong em trở thành một công dân tốt, em đã bỏ uổng cơ hội của đời em.
Tác giả đã kết luận với lời hy vọng của chính em mong trở thành một vật hữu ích, hy vọng có những bàn tay giúp vá víu những mảnh giẻ vụn (là các em phạm pháp) để may thành môt vật hữu ích, một bao gối, một bao chăn, một khăn trải bàn, một patchwork đẹp, hữu ích mà ta vẫn thấy bày bán ở các tiêm bán chăn mền, rideaux ở Âu Châu.

***

Để tìm hiểu xứ Na Uy, một nước tự do giàu có, ở Bắc Âu,Tô Vũ xin giới thiệu qua về xứ Na Uy trên một vài khía cạnh đặc biệt.
Na Uy có 385.000 cây số vuông. Dân số là 4 triệu 700 ngàn người.

A.- GDP của Na Uy :
GDP tức là Tổng sản phẩm nội địa, năm 2006, Na Uy đứng hàng thứ 25 trên bảng so sánh 180 quốc gia trên toàn cầu.
Tổng sản phẩm nội địa là Gross domestic Product (viết tắt là GDP) tức là tổng số giá trị các sản phẩm và dịch vụ của Na Uy trong năm 2006. So sánh 180 nước trên toàn cầu, thì năm 2006, theo thống kê của IMF (International Money Funds = Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) Hoa Kỳ là nước đứng hàng số một với GDP 13,244,550 triệu Mỹ kim. Na Uy đứng hàng số 25, với GDP 335,281 triệu Mỹ Kim
Xin quý độc giả coi bảng kê so sánh, sắp hạng 30 nước đứng đầu thế giới sau đây, năm 2006 :
1 United States 13,244,550 triệu US$
2 Japan 4,367,459
3 Germany 2,897,032
4 People's Republic of China 2,630,113
5 United Kingdom 2,373,685
6 France 2,231,631
7 Italy 1,852,585
8 Canada 1,269,096
9 Spain 1,225,750
10 Brazil 1,067,706
11 Russia 979,048
12 South Korea 888,267
13 India 886,867
14 Mexico 840,012
15 Australia 754,816
16 Netherlands 663,119
17 Belgium 393,590
18 Turkey 392,424
19 Sweden 385,293
20 Switzerland 377,240
21 Indonesia 364,239
22 Republic of China (Taiwan) 355,708
23 Saudi Arabia 348,604
24 Poland 338,689
25 Norway 335,281
26 Austria 321,934
27 Greece 307,709
28 Denmark 276,611
29 South Africa 255,155
30 Ireland 222,080

Trong số 180 nước so sánh này, thì :
- Na Uy đứng hàng thứ 25, với PNB 335,281 triệu Mỹ Kim
- Thái Lan đứng hàng 36, với PNB 168.774 triệu Mỹ Kim
- Việt Nam đứng hàng thứ 59, với PNB 50.900 triệu Mỹ Kim
- Kiribati đứng sau chót, hàng thứ 180, với 63 triệu Mỹ Kim

B.- GNP của Na Uy
Gross nominal product hay là Nominal per capita tức là Tổng sản phẩm cá nhân
Chia GDP cho dân số mỗi nước thì tìm thấy GNP.
GNP là sản phẩm trung bình của một người dân một nước trong một năm.
So sánh Tổng sản phấm cá nhân năm 2006 của 182 nước trên toàn cầu, theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) thì nước Na Uy đứng hàng thứ nhì trên thế giới với số tiền 72.306 US$ mỗi đầu người Na Uy , hơn hẳn người Mỹ. Mỹ đứng thứ 9, với 44.190 US$ . Anh đứng thứ 13 với 39.213 US$. Pháp đứng thứ 18 với 35.404 US$ .
Xin mời quý độc giả xem bảng so sánh GNP (tổng sản phẩm cá nhân) của 20 nước trong năm 2006 :

Thứ hạng Quốc gia Tổng sản phẩm cá nhân US$
1 Luxembourg 87,955 US$
2 Norway 72,306
3 Monaco 67,000
4 Qatar 62,914
5 Iceland 54,858
6 Ireland 52,440
7 Switzerland 51,771
8 Denmark 50,965
9 United States 44,190
10 Sweden 42,383
11 Netherlands 40,571
12 Finland 40,197
13 United Kingdom 39,213
14 Austria 38,961
15 Canada 38,951
16 Belgium 37,214
17 Australia 36,553
18 France 35,404
19 Germany 35,204
20 Japan 34,188

Tổng sản phẩm cá nhân Đại Hàn năm 2006, đứng thứ 36 với 18.392 US$ mỗi đầu người.
Tổng sản phẩm cá nhân cộng sản Việt Nam đứng thứ 138 với 723 US$ năm 2006
Theo một tài liệu của ông Nguyễn Văn Thành trình bày, cho biết ông so sánh GDP Đại Hàn với GDP Cộng sản Việt Nam thì kết quả cho thấy :
Tô Vũ lược trích :
(...) Nếu so với Đại Hàn thì Tổng sản lượng (GDP) cộng sản Việt Nam bằng 61/888 = 6.87 %, của Đại Hàn. Nếu so với Thái Lan thì VN bằng 61/206 = 29.6 %
Như vậy, tổng sản lượng GDP của cộng sản Việt Nam trong khoảng 34 năm nữa mới bằng tổng sản lượng của Đại Hàn ngày hôm nay. Bài tính sau đây sẽ dẫn chứng :
Theo thống kê của nhà nước cộng sản XHCN Việt Nam, hiện nay, mỗi năm độ tăng trưởng của Việt Nam là 8%. Thử tính xem bao nhiêu năm nữa thì GDP của Việt Nam mới bằng GDP của Đại Hàn năm 2005.
Biết rằng năm 2005, GDP của cộng sản Việt Nam là 61 tỷ USD và GDP của Đại Hàn là 888 tỷ USD.
Ta có phương trình:
61 x (1+0.08)n = 888
Lấy Logarithm thập phân cho cả hai vế của phương trình trên để giải n, ta được: n ≈ 34,8
Như vậy đợi đến năm 2040 tháng 10 (hơn 34 năm nữa), thì tổng sản lượng GDP của cộng sản Việt Nam mới có thể bằng GDP Đại Hàn, năm ngoái 2006 ( hết lời trích)

C.- Một vài khía cạnh xã hội Na Uy (tài liệu Wikipédia) :
1) Về Phát Triển Nhân Bản (Human development) Na Uy đứng thứ nhì trên 177 nước (2/177) theo UN Development Programme.
2) Về Tự do Báo chí (Worldwide Press Freedom), Na Uy đứng thứ 6 trên 168 nước (6/168) (theo Reporters Without Borders)
3) Về tình trạng săn sóc/trợ giúp thiếu nhi, năm 2004, Na Uy đứng thứ Nhất trên 119 nước (1/119) (theo Save The Children State of the World’ children năm 2004)
4) Về tình trạng săn sóc người Phụ Nữ , năm 2004, Na Uy đứng thứ 6 trên 119 nước (6/119) (Theo Save the Children, State of the world’ women 2004)
5) Về tình trạng săn sóc các Bà Mẹ , năm 2004, Na Uy đứng thứ 6 trên 119 nước (Theo Save the Children, State of the world’ mothers 2004)
6) Về tình trạng săn sóc đời sống tốt đẹp của trẻ em (Child Well being) , theo UNICEF, thì Na Uy đứng thứ 7 trong số 21 nước kỹ nghệ hàng đầu thế giới (7/21)
7) Về Khả năng Bảo vệ Môi trường (Environmental Sustain Ability) Na Uy năm 2005 đứng thứ Nhất trong số 149 nước (1/149) (theo Yale University, University of Columbia)
8) Về Hoà bình Toàn cầu (Global Peace) theo báo The Economist, Na Uy đứng thứ nhất trong số 121 nước (1/121)

***

Tô Vũ phỏng vấn nhà văn VT Điềm Đạm


Tô Vũ : Chào nhà văn Điềm Đạm. Tô Vũ đã đọc bài Những Giẻ Vụn viết về vấn đề thiếu niên phạm pháp ở Na Uy, xin Nhà văn vui lòng giới thiệu với Cộng đồng Người Việt ở Paris tình trạng các thanh thiếu niên gốc Việt Nam ở Na Uy.
Điềm Đạm : Nhìn chung, đa số nhịp sống cũng như nếp nghĩ của thanh thiếu niên Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai ở Na Uy đã dần dần tìm được chỗ đứng khá vững trong xã hội. Đó là do thế hệ cha mẹ đã nhanh chóng hòa nhập vào mạch sống với đất nước và xã hội mới. Theo thống kê cũng như tin tức trên báo chí thì cộng đồng người Việt ở Na Uy có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất và trình độ học thức cao nhất trong số các nhóm ngoại kiều đến từ các nước có địa lý nằm ngoài tây Âu. Thêm vào đó, chịu ảnh hưởng tinh thần trọng chữ nghĩa của cha mẹ, con đường học vấn của đa số các em khá trôi chảy và sinh viên Việt Nam chiếm tỉ lệ khá cao trong sân trường đại học và cũng là nhóm sinh viên có nhiều triển vọng.
Dầu rằng các em cảm thấy là khách du lịch khi các em viếng thăm Việt Nam nhưng các em vẫn luôn luôn tự hiều và tự cố gắng tìm một căn cước cho chính mình. Một căn cước được nhồi nắn từ hai nền văn hoá, một căn cước phải có khả năng đàn hồi theo từng hoàn cảnh. Theo những bài tường trình trên báo chí cũng như trong những buổi hội thảo cho thấy sự cân bằng trong quá trình hòa nhập của thanh thiếu nên Việt Nam có nhiều dấu hiệu tốt đẹp.

Tô Vũ : Xin cho biết về những trẻ em Việt Nam phạm pháp ở Na Uy.
Điềm Đạm : Có những em vì hoàn cảnh gia đình, vì vốn liếng tiếng Na Uy quá yếu kém, không được sự giáo huấn đứng đắn; các em không tự tạo được một căn cước thích hợp cho mình. Các em rơi khỏi nhịp sống bình thường. Các em mất thăng bằng.
Theo nhà xã hội học Whym Uyen Lam, hiện trạng thanh thiếu niên Việt Nam hàng ngày lang thang vĩa hè thủ đô Oslo và những thành phố rất lớn hay sống ngoài vòng pháp luật, rất đáng lưu ý. Cô đã làm việc với năm mươi lăm em và kể rằng: Các em ấy cảm thấy vô dụng trong xã hội, không có bạn Na Uy, không nghề nghiệp, không công ăn việc làm, tiếng Na Uy yếu kém, khả năng giao dịch rất thấp. Nói chung, các em vừa không tìm được chỗ đứng trong xã hội các em đang sống, vừa không tìm được cho mình một cội nguồn như cha mẹ, vừa cảm thấy xa lạ với tập tục văn hóa mà các em đại diện. Đa số các em này là nam, chỉ khoảng 10 đến 15 phần trăm là nữ, tất cả trong lứa tuổi từ mười bốn đến hai mươi ba.
Tô Vũ : Xin cho biết về tỷ lệ phạm pháp các em gốc Việt Nam
Điềm Đạm : Theo SSB, Trung Tâm Thống Kê Quốc Gia, năm 2002, có khoảng ba mươi hai trong số một ngàn người phạm pháp là người gốc Việt Nam. Trong khi đó, tỉ lệ phạm pháp ngoại kiều không thuộc gốc Tây Ấu là 30/1000 và tỉ lệ phạm pháp gốc Na Uy là 13,5/1000. Nói chung, số lượng người phạm pháp tăng đều từ năm 1998. Và tệ nạn băng đảng, bụi đời, nghiện narkotika là hiện tượng rõ nét nhất trong số thanh thiếu niên phạm pháp này.

Tô Vũ : Đã có những sự giúp đỡ gì của công đồng Việt Nam ở Na Uy cho các em phạm pháp?
Điềm Đạm : Các hội đoàn Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, các tổ chức chính quyền tìm mọi cách để tạo những sinh hoạt nhằm hướng dẫn thanh thiếu niên tìm hướng sống hài hòa trong xã hội đồng thời giữ được cội nguồn. Thêm đó, chính quyền cũng hỗ trợ tích cực những tổ chức, những kế hoạch nhằm tạo điều kiện thuận tiện giúp các em đã mang thành tích phạm pháp trở về với gia đình, với đời sống bình thường.

Tô Vũ : Cảm ơn nhà văn Võ Thị Điềm Đạm.

***
Và bây gìờ Tô Vũ xin giới thiệu với quý độc giả tác phẩm Những giẻ Vụn của VT Điềm Đạm trích từ Tập truyện ngắn Mai Nở Miền Tuyết Trắng. Quý độc giả muốn liên lạc với tác giả xin gửi email cho [email=diemvost@yahoo.no]diemvost@yahoo.no[/email]
Xin nhắc lại email của Tô Vũ là [email=npham@free.fr]npham@free.fr[/email]

***
Kính chào tạm biệt quý độc giả và xin hẹn tới Cà Kê số 5 vào hạ tuần tháng 08-07 Tô Vũ

MẢNH GIẺ VỤN
Võ Thị Điềm Đạm


Sức gió từ hai cái quạt khổng lồ treo ở hai bên tường cao thổi ào ào vẫn không giảm được mùi mồ hôi người hanh hanh, không đánh tan được cái nóng hâm hẩm tháng tư làm lớp da dưới cánh áo thun ri rỉ ẩm. Phim gì mà chán quá, nói hoài thôi, ngồi bó gối, ngồi chồm hỗm trên ghế, ngồi gát chân lên ghế trước, đủ kiểu ngồi cũng không hết chán. Cái thằng Lục Đen cà chớn thiệt tình, đòi coi cho được phim này. Uổng tiền, phải chi hồi nãy theo tụi thằng Hải Bụng, thằng Hải Cò, thằng Tám Lé ra bến Ninh Kiều, dọc dọc vườn bông chọc phá mấy cặp ngồi rù rì, để tiền mua chuối nướng dì Ba Ốm, thế nào dì cũng chan thêm nước dừa béo ngậy, liếc ngó con Hương Teo con của dì một cái, cũng đã lắm rồi. Giờ này chắc con Hương Teo đang quạt lửa than, ánh lửa làm ửng đôi má, làm ánh mắt nó long lanh. Hừm... tụi nó ngu quá, cứ kêu con đó là Hương Teo. Nó teo là tại nó ốm, nó còn nhỏ, nhưng đôi mắt nó, đen lay láy, nhìn xớt qua cũng vui rồi, hình như nó cũng nhìn xớt qua mình nữa sao đó. Thôi, chút xong phim, chạy tạt qua gánh chuối nướng của dì Ba Ốm một cái... hừm, không còn đồng nào dính túi...hừm... cái phim cà chớn.

Thọc tay vô bịch ny lon, quậy tìm trong gói đậu phọng luộc, hy vọng còn sót vài hột, hừm, toàn là vỏ ướt nhẹp. Đang bực vì thằng Lục Đen ăn sạch không chừa một hột, em hết hồn khi cánh tay bị ai kéo ngược ra phía sau, đau điếng, quay lại nhìn. Ủa, má, má làm gì mà coi bộ gấp dữ vậy. Má kéo em xồng xộc tuốt ra ngoài, không nói không rằng. Hơi mát ban đêm không làm giảm cơn sửng sốt, nhưng em không dám cưỡng lại vì thấy gương mặt má có vẻ nghiêm trọng quá. Má nói nhỏ: "Lẹ, lẹ đi con, chạy con! Đi đâu mà đi mất tiêu không nói cho ai biết, kiếm nát chợ từ chiều đến giờ, chạy con!"

Không cần giải thích là đi đâu, tại sao phải chạy gấp, má chạy, em cắm đầu cắm cổ chạy theo. Sao lại không về nhà? Đêm tối mà má chạy xồng xộc vô vườn nhà cậu Bảy chi vậy? Xuống chiếc xuồng con đang chờ ngoài con rạch sau vườn, em nhận ra ba và bốn đứa em ngồi co ro chờ ở đó. Bây giờ em mới hiểu. Từ lâu, em đã nghe người lớn thì thầm chuyện vượt biên, nghe đồn gia đình người này đã đi vượt biên thoát được, gia đình người kia bị bắt. Ngay cả ông bà ngoại, các cậu, các dì cũng đã vượt biên hơn hai năm nay, hiện đang ở Na Uy nên ba má em cũng muốn đi luôn, qua Na Uy ở với ông bà ngoại.

* * *


Em giận run, dựt mạnh cái áo khoát treo gần cửa, chạy ra đường. Trời cuối thu nên gió rít lạnh buốt, đường ướt nhẹm nhưng không làm chùn được bước chân em. Em phải đi, đi thật xa, xa cái nhà có ba má, có mấy em. Càng nhớ lại lời má dặn hồi nãy, nghĩ tới gương mặt ba giận dữ, em càng tức. Nói đúng hơn là em vừa tức vừa buồn, buồn đến hoang mang là không biết mình sẽ làm gì.
Cơm nước vừa xong, chưa kịp coi chương trình TV thiếu nhi đài NRK lúc sáu giờ thì má dặn, rõ ràng:
- Từ nay con không được kêu ba má là ba má nữa mà phải kêu là cậu Hai, mợ Hai.
Em không hiểu trọn câu nói của má, không hiểu là má nói với ai nhưng sao tự nhiên em hỏi lại:
- Sao vậy ?
- Nhà mình chỉ còn gia đình cậu Bảy ở lại Việt Nam. Ông bà ngoại muốn bảo lãnh vợ chồng cậu mợ và các em qua Na Uy luôn mà chắc chắn là không được. Đi vượt biên nguy hiểm quá. Con làm con của cậu Bảy, con bảo lãnh cho cậu mợ và mấy đứa nhỏ qua thì nhanh hơn.
- Con đâu phải là con của cậu Bảy.
- Thì từ nay con là con của cậu Bảy, phải kêu ba là dượng Hai, má là dì Hai, nhớ chưa.
Giọng ba đầy mùi bia nhưng ráng làm ra vẻ nghiêm nghị:
- Biểu sao thì nghe vậy, bày đặt hỏi tới hỏi lui. Nhớ chưa, ai hỏi thì nói ba má và ba đứa em còn ở Việt Nam, một mình vượt biên qua đây với dì Hai dượng Hai.
- Còn nữa, ai có hỏi tuổi thì nói con chín tuổi.
- Chín tuổi? Con mười hai tuổi chớ không phải chín tuổi.
- Không có cãi tới cãi lui, tao tát một cái là trẹo họng cho hết cãi.

Có nghĩa là từ đây em sẽ nói láo. Láo đủ chuyện, làm sao em nhớ cho hết đây, lỡ em quên thì sao. Tại sao ba má không muốn em là con của ba má nữa? Ba má không thương em nữa sao? Mấy đứa em có còn là em của em nữa không? Tại sao? Tại sao? ĐM, bắt em nói láo thì em nói láo, sợ gì ai. Không cho em làm con của mấy người thì em tìm chỗ khác ở. Ở đâu? Nhà ngoại? Nhà cậu Ba? Nhà dì Hà? Hay xin vô nhà mồ côi như thằng Alexandre. Thằng này vậy mà sướng, đi học có xe taxi đưa đón, người ta cho tiền xài không hết, mỗi tuần được taxi đưa về thăm gia đình. Nhưng làm sao xin vô nhà mồ côi ở được. Tưởng gì, vượt biên được qua đây thì ba không thương em nữa, má không thương em nữa, ba má không muốn có em là con nữa. Biết vậy em trốn, không thèm theo má xuống chuyến xuồng đêm đó.
* * *


Thiệt là xấu hổ, em gần mười ba tuổi rồi mà phải ngồi chung với tụi mới chín tuổi. Dầu cho vóc dáng em không to hơn tụi trong lớp chi cho lắm nhưng em cảm thấy em lớn hơn tụi nó nhiều lắm. Lớn mà ngu. Đúng vậy. Đã ngu thì em phải làm mọi cách cho tụi nó nể, nể chuyện gì cũng được. Một tuần em được học riêng sáu giờ tiếng Na Uy với ba đứa em, con Hạnh mười tuổi, thằng Tín tám tuổi và cả con Út Lan bảy tuổi. Cũng là một mối nạn vì thằng anh lớn mà cùng học abc với đám em, coi bộ còn tụi nó vô tư học nói học nghe còn giỏi hơn thằng anh to đầu. Những giờ còn lại là em ngồi miết trong lớp, ngày này qua ngày kia. Ngồi nghe như vịt nghe sấm. Nghe chữ mất chữ còn. Thường thì đoán mò dần dần được năm ba chữ. Liếc chừng tụi nó làm gì thì em làm theo. Tụi nó cười thì em cũng cười. Tụi nó la ó thì em la to hơn. Tụi nó chạy phá trong lớp thì em cũng chạy cũng phá. Nhưng chừng tụi nó ngồi yên làm bài thì em không sao ngồi yên được vài phút chứ nói chi cả tiếng đồng hồ. Biết gì đâu mà làm. Chẳng lẻ hỏi cô giáo hoài, mà cũng không biết hỏi cái gì. Ngồi yên không được thì em kiếm chuyện phá thằng ngồi trước, giựt sách con nhỏ ngồi kế bên, đi lại thằng ngồi đầu bàn làm bộ mượn cây thước, đi ngang qua thúc cùi chỏ vô thằng này, hất giày con nhỏ kia, đủ chuyện để làm cô giáo bực mình. Cô càng bực mình, em càng thích phá. Tại vì khi cô giáo bực là tụi trong lớp khoái chí, tụi nó thích em.

Em sợ nhất là giờ ăn, một cực hình. Cô giáo bao giờ cũng đọc truyện cho cả lớp nghe trong khi tụi nó ngồi nhai nhỏ nhẹ, phải yên lặng. Cô biểu em làm gì, em còn không hiểu thì làm sao em hiểu truyện cô giáo đọc. Tụi nó lắng tai theo dõi câu chuyện, em ngóng tới ngóng lui mong chuông reng. Tụi nó cười ầm, mặt em thì trơ trơ ngó lơ chỗ khác. Ngày nào cũng thế. Bữa ăn trưa nào cũng vậy. Em kiếm chuyện đi uống nước, đi quăng rác, đi lấy tờ giấy lau tay, cố ý làm rớt hộp thức ăn, cô giáo phải ngưng đọc hoài thôi. Lúc này thì tụi nó không thích chuyện em lục đục tới lui vì như vậy cô giáo phải ngưng đọc để la em, câu chuyện bị cắt ngang. Thường thì cô giáo phải gởi em lên văn phòng trong giờ ăn.

Bị bắt vô phòng cô giáo xã hội để nghe cô hỏi chuyện hầu như mỗi tuần, thét rồi em ngán. Em ngán, ngán nhưng không cưỡng được. Thế là em im lặng, không thèm trả lời hay chỉ trả lời nhát gừng. Cô lắc đầu chịu thua. Cô giận dữ. Cô năn nỉ. Cô dỗ ngọt. Cô đặt giờ thông dịch mời ba má lên họp. Không ai cạy được răng em, không ai bắt được em nói. Nói gì? Em còn không hiểu chính em thì làm sao em kể cho cô giáo xã hội những câu hỏi đâu đâu. Biết đâu mà trả lời. Trả lời lạng quạng làm bể mánh của ba má là về nhà bị ba đục cho bầm mặt, bị má chưởi cho nát nước. Trường học, cô giáo, ba má, làm sao hiểu được rằng những giờ ngồi như vịt nghe sấm, trơ trơ cái mặt trong lớp học là một sự hành hạ dai dẳng, liên tục mà người lớn đã giáng lên đầu một đứa nhỏ như em. Cái thế câm lặng vậy mà thành công. Riết rồi không ai thèm ngó đến em.

Ngoài sân chơi, em ráng đeo theo tụi lớp sáu, tụi cùng tuổi với em (tuổi thật) nhưng tụi nó khinh thường em lắm. Tụi nó kêu em là "con khỉ tóc hoe". Nghĩ cho cùng, tụi nói kêu em là con khỉ cũng không sai lắm. Mà con khỉ tóc hoe càng không sai. Em không muốn ai nhìn màu tóc đen thui trên đầu, em muốn giống tụi nó, em nhuộm tóc vàng vàng nâu nâu mà sao nó cứ ra màu cam cam nâu nâu, hoe hắt. Em phải ráng bắt chước tụi lớp sáu là tụi lớn nhất trường để tụi nó cho em theo sau giờ tan trường, lang thang các trung tâm mua bán, ngóng nhìn người qua kẻ lại. Em có thua gì tụi nó đâu, từ cách chưởi thề, cách đi xềnh xàng, cách nhổ nước miếng cái bẹt, cách giựt banh của tụi lớp nhỏ... Luôn cả cách chôm chỉa trong chợ. Chỉ có chuyện chôm chỉa là tụi nó nể tài em. Chuyện này tụi nó ngu lắm, và nhát nữa. Em hả? Tỉnh queo. Lượn một vòng vô chợ để tìm mua bịch kẹo, xoay lưng nhét lẹ phong kẹo vô túi áo khoát, quơ tay lấy hộp kem vuốt tóc... Mà em cũng không dại gì rảo nhiều lần trong một tiệm. Nay siêu thị này mai siêu thị kia.

Mấy món lấy được, em chia cho tụi nó, em đem về nhà. Coi bộ má thích dữ a. Má thiệt là khờ. Em nói tụi bạn cho em mấy thứ đó vậy mà má tin. Tháng này qua tháng kia, năm này qua năm kia, hết ba năm cấp hai, má vẫn còn tin như vậy. Ba cái món lặt vặt em đem về bỏ tùm lum ở nhà. Má xài không hết, má cho nhà ngoại, má cho bạn má. Có lần nhân viên Bảo Vệ bắt được em, mời ba má lên lãnh về. Em khoái má chỗ này, má binh em, má bịa ra là tụi bạn Na Uy bắt em ăn cắp, nếu không là tụi nó đánh. Em thích quá, im re. Thét rồi em đem món gì về má cũng chẳng thèm hỏi, cần thì xài, không cần thì quăng. Có khi má còn biểu em xin tụi bạn món này món kia. Nhưng rồi em cũng chán chuyện chôm chỉa lặt vặt. Không ai la rày. Không đủ đô. Trong người em luôn luôn nóng nảy, mau giận, thích đập phá một cái gì đó. Chỉ cần một ánh mắt khinh thường, một lời chê kiểu tóc chải, một xoay lưng là đủ làm đầu em nóng bưng, là đủ làm miệng em kiếm chuyện gây, là đủ làm tay em tung ra không cần lệnh của cái đầu.

* * *


Cái xứ gì mà lạ lùng. Học dỡ học dốt gì cũng cho lên lớp, học sao cũng không thày cô nào dám la mắng. Cứ mười lăm tuổi là xong lớp chín, phải học xong lớp chín. Sau đó là tự ý, muốn học tiếp thì học, không thì lang thang kiếm công chuyện làm mướn. Em chỉ mong cho xong lớp chín là được tự do.

Bây giờ thì em khôn lắm rồi. Cách đây hai năm, em chán cảnh ba em sáng bia, chiều bia, bia một mình, bia với mấy người bạn, bia ngày thường, bia cuối tuần. Mà phải uống bia không thì cũng đở. Đàng này bia vô là lời ra. Ba càng ra lời thì má càng lớn tiếng, em càng chuồn xuống đường sớm. Em đánh lộn với tụi Thái Lan trên Oslo, ngày hôm sau, manh cái mặt bầm đi học, em kể với cô giáo xã hội là em bị ba đánh. Làm như vậy được hai lần là nhà trường báo cho văn phòng bảo vệ thiếu nhi, đem em đến một nhà mồ côi ở một quận khác. Người Na Uy ngây thơ lắm.

Muốn trốn khỏi lời gây tiếng gổ mỗi ngày trong gia đình, muốn được sống thoải mái với tụi cùng tuổi, muốn được có phòng riêng, muốn được có tiền tiêu khá rộng rãi, nên em mới làm đủ trò để được ở nhà mồ côi. Vậy mà em không ngờ rằng em nhớ ba má, nhớ các em đến nổi em chỉ mong đến chiều thứ sáu là được về thăm nhà. Em phải có một sợi dây kết nối, em sợ, sợ mình là đứa trẻ mồ côi thực sự. Coi bộ hình như ba má cũng thích giải pháp này nữa, khỏi tốn cơm gạo, khỏi tiếng la lời mắng. Tiếng là về nhà chứ kỳ thực em có ở nhà được bao lâu, đám bạn cũ rủ rê, đám bạn mới hẹn hò. Thành phố Drammen từ lâu đã trở thành quá nhỏ, quá nhàm chán cho em. Em lân la lên Oslo.

Mười tám tuổi, hết hạn được ở nhà mồ côi, bỗng nhiên em bị quăng ra đời. Được cấp một phòng trọ, một số tiền trợ cấp hàng tháng trong khi chờ kiếm được việc làm. Em không ngờ và nhân viên phòng xã hội không hiểu cái xốc hụt hẫng của một người đang sống trong nhà mồ côi có bốn người lớn chăm lo, bỗng chốc phải hoàn toàn tự lập chỉ vì vừa tròn một mức tuổi đã được ấn định. Tháng trước, tháng sau, thế là đường sống của em hoàn toàn thay đổi. Miếng ăn miếng mặc, chuyện làm chuyện chơi, mọi sự em lo mình ên. Tội gì đi làm cho mệt xác. Được hưởng trợ cấp xã hội, có thì giờ mánh mung thêm, có thì giờ tụm năm tụ ba, có cơ hội thử hút thử hít. Được có cái là em không ưa ba cái chuyện hút sách, không ai cấm cản cả, chỉ không ưa vậy thôi. Có biết bao chuyện làm hồi hộp, hấp dẫn, nguy hiểm và dễ kiếm tiền hơn.

* * *


Tôi nhào tới bồi thêm một cái đá thiệt mạnh, thằng Pakkis lăn qua một bên, nằm im rơ. Chẳng cần ngó coi nó sống hay chết, hoảng quá, tôi chạy băng qua sân vườn trẻ, nhảy rào, tìm ra đường lộ, cố giữ bình tỉnh khi đứng ở trạm xe chờ chuyến xe buýt ra khỏi thành phố Drammen. Đang thổi thổi hai tay cho ấm, nghe tiếng thình thịch phía sau, tôi quay lưng. Thằng Tự cũng vừa chạy tới trạm xe, tôi nhanh trí, giả bộ ngóng cổ chờ xe tới, làm như không quen biết gì nó. Nó hiểu, nó cũng chẳng ngó ngàng gì đến tôi, còn chu miệng huýt một điệu nhạc nữa chớ. Tôi xuống trước nó một trạm, ráng đi thật ung dung đến nhà thằng Hòa Cò như thường lệ.

Mới chín giờ tối thứ sáu mà hành lang khu chung cư vắng hoe, tôi ngồi ngoài cửa chờ chưa được năm phút thì thằng Hòa Cò cũng về tới. Không hơn một tiếng đồng hồ là cả đám tụ tập trong nhà thằng Hòa Cò. Thằng Hòa Cò này khôn tính, rộng tánh, sòng phẳng và cư xử đàn anh, tụi tôi tin tưởng nó, lợi tức tiền bạc giao cho nó cai quản. Nó khôn, những lần tụ tập ở nhà nó, không có cảnh ồn ào nhậu nhẹt làm phiền lòng hàng xóm, ra vô im lìm, không gây chú ý. Nó sống một mình nên cả băng tìm đến đây sau khi chạy tứ táng để đánh lạc hướng cảnh sát.

Thằng Hòa vừa để nồi nước nóng với những cây xúc xích đỏ nằm ngổn ngang, quăng ra bàn ba gói bánh khoai tây, chai tương cà, bịch hành khô, là cả đám nhào lại, tranh nhau làm phần ăn cho mình. Cũng thằng Hòa Cò, nó bàn hơn tính thiệt. Nhất định cả băng sẽ bị lấy cung, tệ lắm là bị giam vài tháng, nhưng tất cả nhất định không ai nhận là mình đã bắn hai phát vô đám Pakkis, biết cũng không nói. Đám Young A kéo từ Oslo xuống Drammen tính chuyện ăn thua đủ, tính chuyện dằn mặt băng Việt Maxi, tính tranh dành thị trường cho chi nhánh đàn em ở Drammen. Tất cả sẽ chối được cái gì là chối, chối hết, nhất là chuyện tụi cảnh sát Na Uy không đánh đập nên không sợ, không khai.

Tụi cảnh sát hay thiệt. Không về nhà riêng, tôi bắt xe xuống Moss, nhà ba má, chưa nhắm mắt là tụi nó gõ cửa. Biết trốn cũng vô ích, tôi theo ra xe trong tiếng khóc bỡ ngỡ của má, miệng há hốc của ba, ánh mắt kinh hoàng của bốn đứa em. Cảnh sát còn cho biết là cả băng Việt Maxi, sáu thằng đều bị bắt, thằng Hòa Cò cũng ngồi khám luôn. Ở tù vậy mà yên. Chớ không, tôi phải trốn tiệt trong nhà một thời gian, sợ đám Young A tìm trả thù, nghe nói tụi nó tính diệt từng thằng một. Yên thì yên phần không bị trả thù nhưng bụng thì lo không biết tụi kia có giữ đúng lời là sẽ không khai cái gì hết.

Cảnh sát phải mướn thông dịch, thẩm vấn từng đứa một, dọa dẫm, dụ dỗ hợp tác để giảm án, thét rồi cảnh sát chắc chịu thua đám Việt Maxi, miệng đứa nào cũng kín như dán băng keo thứ thiệt. Trước sau như một, tôi khai tôi đi lại nhà dì ở gần đó, nghe tiếng súng, chạy lại coi, bị tụi nó xô đẩy, tôi tức quá đá cái thằng nằm ngay chân tôi một phát rồi bỏ đi, không biết gì nữa hết. Tôi nhận tôi thường đi chơi chung với năm thằng trong băng Việt Maxi. Khi tôi khai như vậy, tôi nghĩ thằng Pakkis đó không phải chết vì cú đá của mình. Quả thật đến bây giờ tôi cũng không biết chắc thằng nào trong bọn đã bắn, nhưng tôi có thể đoán ra, tôi dại gì thú thiệt sự suy đoán của mình. Anh em Việt Maxi được cái đó, không bao giờ phản bội nhau.

Mấy tuần lễ xử án, tôi bật ngữa. Té ra là chỉ mình tôi khai là tôi đá thằng đó. Mấy đứa kia chối hết, chối từ đầu đến cuối, chối mọi chuyện. Tụi nó bị kết tội đồng lõa âm mưu đả thương người khác. Bằng chứ sờ sờ đó mà tụi nó còn kháng án, không nhận tội âm mưu, không nhận tội đồng lõa, chối hết. Cảnh sát điều tra từng gia đình Việt Nam có liên quan đến chúng tôi, không khai thác gì được, không ai hở môi. Tôi phục người Việt Nam ở chuyện này.

Cái chết của thằng Pakkis là cái án tử có âm mưu, nhưng thằng nào cũng chối, không nhận một lời kết án nào có liên quan đến vụ này. Hơn hai năm trời, không tìm ra cây súng, không tìm ra thủ phạm đã bắn hai phát đạn vô đám Pakkis, làm một thằng lãnh trọn hai phát đó, chết ngay tại chỗ trước khi cảnh sát có mặt. Tụi nó chối hết. Không ai khai gì hết.

Nhận tội cú đá là nhận cho phần tôi, tôi muốn ở tù cho qua chuyện, tôi đã bắt đầu chán đám bạn cả ngày rong rong kiếm tiền bằng mọi cách. Những chuyện mánh mung gian lận không còn hấp dẫn cho tôi nữa. Đi đâu, ở đâu, ngay cả trong họ hàng tôi, tôi không có một tiếng nói, tôi không dám ngững mặt ngang hàng với ai hết. Chục năm trời. Bây giờ tôi muốn thay đổi, muốn sống một đời sống như thằng Tâm thua tôi một tuổi, con cậu Tư. Nó cũng học tới lớp chín như tôi, lúc nghỉ học nó cũng là cà đầu đường xó chợ, nhưng được vài năm thì nó xin vô làm hãng bia Ringnes, làm bốn năm, lên được chức trưởng nhóm, coi ngó hơn hai chục nhân viên chớ ít sao. Tôi muốn đi làm, hãng xưởng nào cũng được, lương bao nhiêu cũng được, miễn sao tôi có nồi cơm chắc chắn mỗi ngày, miễn sao tôi được ngồi ngang hàng với mọi người mà trong lòng không ngượng nghịu mặc cảm. Ông Lars ở văn phòng xã hội khuyên tôi biết bao lần, ông hứa nếu tôi muốn là ông tìm ngay việc làm cho tôi.

Ngày cuối cùng, tòa án xử tôi tội đồng lõa đả thương với bản án không có gì nặng lắm. Tôi nhẩm tính: Bản án ba năm trong tù và hai năm tại ngoại, mình ở trong tù đã hơn hai năm, như vậy không còn bao lâu nữa. Kể ra cũng đáng thôi. Bề nào thì thằng Pakkis cũng đã chết. Tôi chấp nhận bản án. Thời gian trong tù, tôi được dạy nghề thợ mộc, cái nghề tôi thích từ nhỏ, cũng là nghề của ông nội. Những ông thày trong tù khen tôi khéo tay, khen tôi siêng học, làm nhiều báo cáo tốt cho tôi, hứa tìm việc cho tôi khi mãn hạn tù. Tôi nôn nao chờ ngày ra.

Trời Phật đâu sao không chứng giám cho lòng thành của tôi. Trước khi mãn hạn tù, tôi nhận được một tờ giấy báo là tôi sẽ bị trả về Việt Nam vì bản án đồng lõa, cố tình đả thương người cho đến chết. Ngẩn ngơ mù người, tôi đòi có thông dịch để dịch lại bản án. Đúng vậy. ĐM thằng thông dịch hồi đó. Nó dịch mà không giải thích, dịch là bản án đồng lõa đả thương người. Nhiêu đó. Tôi không hiểu rõ nghĩa từng chữ khi người ta đọc bản án dầu đã được dịch ra tiếng Việt. Mấy người đó đâu biết khả năng tiếng Việt của tôi có hơn gì tiếng Na Uy đâu. Tôi chỉ mới học tới lớp ba là phải đi vượt biên mà. Tôi có đồng lõa cho nên tôi không kháng án ngay lúc đó, cho nên tôi nhận tội liền vì tôi đã khai là tôi đá thằng đó. Nhưng còn tệ hơn nữa là lý do tôi bị đuổi về Việt Nam vì tôi là một phạm nhân không có quốc tịch Na Uy. Lạ đời không? Cả nhà ai cũng vô quốc tịch hồi tôi còn đi học, hồi tôi ở nhà mồ côi. Đúng vậy. Ba má tôi quên, quên ghi tên tôi vô đơn khi gia đình xin vô quốc tịch vì trên giấy tờ, tôi không phải là con của ba má. Người ta quên tôi, quên sự hiện diện của tôi. Má tôi khóc, ba tôi ân hận, thừa!

Tôi kháng án. Hai năm tại ngoại tôi từ hẳn đám bạn du đảng, từ hẳn, không giao tiếp với người Việt Nam với hy vọng làm lại từ đầu, với hy vọng nếp sống chừng mực sẽ là bằng chứng tốt khi tòa xử lần nữa. Tôi được huấn nghệ, tôi được cấp nhà, tôi có bạn bè Na Uy đàng hoàng, tôi sống như một người Na Uy, tôi đi trượt ski, tôi chơi thể thao, tôi thực tập ở hãng Eskones. Thư kháng án của tôi được chấp nhận. Bạn bè Na Uy hứa giúp tôi kháng án tiếp. Muốn giúp là một chuyện, công pháp là một chuyện. Cho đền gần ngày xử, suy ngẫm những lần hỏi cung, linh cảm một kết quả vô vọng, tôi quyết định trốn qua Đức, tìm đến tụi Việt Nam bên đó mà tôi đã giao du từ mấy năm trước. Số mạng tôi nằm trên bàn cân mà cán cân là một sợi chỉ hy vọng mong manh. Một hạt cát thêm vô đầu cân kia, thế là quyết định trả tôi về Việt Nam được ký, theo lời người bạn kể.

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tụi Việt Nam bên Đức làm ăn táo bạo hơn tụi bạn của tôi ngày xưa. Tôi phải lăn vô để kiếm sống. Cùng là cặn bả của xã hội, nhưng phong sống của tụi này khác tụi Việt Maxi, làm tôi nhớ bạn bè, nhớ gia đình quá sức. Tôi lẻn về thăm gia đình. Không biết sao, cảnh sát chờ canh, chận bắt trước khi tôi về đến nhà. Được phép gặp ba má năm phút, tôi bị hai người cảnh sát mặc quần áo dân sự áp tải ra phi trường Fornebu.

Ba má tôi van xin. Các em tôi khóc lóc. Má tôi xin được gởi về Việt Nam thay tội cho tôi. Chuyện đâu có dễ như ba má nghĩ. Gương mặt ba héo khô già trước tuổi vì thằng con hoang đàng, mái tóc má lấm tấm trắng vì ân hận. Faen! Héo hắt! Bạc tóc! Tôi hoang đàng? Đúng! Ai đẩy tôi vào con đường hoang đàng? Nói đi! Chính tôi? Tôi không chối! Tại sao ba má chưởi mắng bắt tôi từ bỏ đám bạn của tôi? Tuổi trẻ tôi cần có bạn, không giao du với những người bạn ấy thì tôi giao du với ai? Ba má của tụi bạn cũng cấm cản không cho tụi nó giao du với tôi, ai tốt, ai xấu? Fuch you! Ai hơn ai? Ai đáng giá hơn ai? Ai sẽ tránh ai? ĐM! Tránh nơi này thì phải có một nơi trú ngụ khác. Nơi nào? Tôi là một hiện thể bằng xương bằng thịt bằng trái tim bằng khối óc, tôi phải có một chỗ dung thân giữa thế gian này. Nhưng tôi không có quyền lựa chọn.

Từ khi vừa bước chân đến Na Uy, tôi đã được huấn luyện cách nói láo. Láo là tôi qua đây một mình, kêu ba bằng dượng Hai, kêu má bằng dì Hai từ trong nhà cho tới ngoài đường để ba má nhận được tiền bảo dưỡng tôi, để cậu mợ được bảo lãnh qua Na Uy nhanh chóng. Láo về tuổi tác. Láo về công ăn chuyện làm đen của ba má. Láo đến độ đôi lúc tôi tưởng là thiệt. Thế mà tại sao tôi không nói láo, tại sao tôi không chối là tôi đã đá thằng Pakkis đó, có ai nhìn thấy rõ ràng là tôi đã đá đâu, có thằng bạn nào khai đâu. Tại sao? Tại sao khi tôi thành tâm muốn làm lại từ đầu, muốn được sống như một người bình thường thì được trả lời bằng một hình phạt này? Tụi kia chối, chối hết. Tụi nó được gì? Được máng án tù sáu tháng, một năm, hai năm là cùng. Còn tôi, tôi khai thật, cho nên tôi được tưởng thưởng bằng cái án biệt xứ, suốt đời. Đó là công lý, **** you! Đầu óc tôi bị những dấu hỏi dấu chấm than đánh tới đánh lui trong suốt hai mươi ba tiếng đồng hồ từ phi cơ này chuyển sang phi cơ kia.

Giao tôi cho công an tại phi trường Tân Sơn Nhất, hai người cảnh sát Na Uy biến mất. Lạ lắm, khi hai người cảnh sát Na Uy đi rồi, tôi mới nhận thức được là mối liên hệ với đất nước Na Uy, con người Na Uy hoàn toàn bị cắt đứt, một phần lớn trong tôi bị cắt lìa. Cảm giác mất mát càng lớn dần khi người công an áo vàng đeo những huy hiệu đỏ chói, đẩy tôi, nói, giọng nói lạ lùng tôi chưa từng nghe, tôi không hiểu lắm, đại khái hình như là: "Tao kiếm xe cho mày đi liền, ĐM, tụi Na Uy đem rác về đổ ở đây."

Với năm trăm dollar được mấy người công an đổi ra tiền Việt Nam, tôi bắt đầu chi dùng cho chuyến xe đò về Bắc Mỹ Thuận, về Cần Thơ, về quê tôi. Quê tôi? Người ta biểu Việt Nam là quê hương của tôi thì tôi biết vậy. Người tài xế lái chiếc xe gắn máy chở tôi lại địa chỉ được ghi trên tờ giấy mà công an ở phi trường biểu tôi phải trình diện. Bỏ tôi đó, giống như hồi ông hiệu trưởng tôi dẫn tôi đến lớp học, giao tôi cho cô giáo mà không hề thắc mắc là tôi sẽ xoay trở như thế nào giữa muôn ngàn âm thanh hoàn toàn xa lạ, ông quay lưng bỏ đi.

Người ta mướn cho tôi căn phòng được dựng kế bên nhà một người bà con xa của ba ở một con hẽm sâu, cho tôi một địa chỉ để tôi liên lạc. Căn phòng ba bề là lớp ván mỏng, vừa đủ chỗ cho cái gường lính, bếp gaz, vài kệ bằng mủ cứng, cái bàn nhỏ và vài ba cái ghế. Tôi tập quen dần với cái nóng hâm hấp của mái tole từ khi vài vệt nắng chen qua khe hở ở cánh cửa duy nhất cho tới khi tôi phải bật cái bóng đèn treo lơ lững trên đầu.


* * *

Cách đây mười lăm năm, tôi ngơ ngơ ngáo ngáo trong lớp học, mọi lời nói loáng thoáng qua tai, không bắt được một câu cho trọn vẹn, bắt chước cười, bắt chước la, bắt chước vẽ, mong chờ tiếng chuông reng hết giờ. Ngày nay, giữa phố chợ đông người, tôi cũng ngơ ngơ ngáo ngáo, mọi lời nói cũng loáng thoáng qua tai, không hiểu được một câu trọn vẹn. Nhưng tôi không thể bắt chước cười, tôi không thể bắt chước thong dong ngồi quán với ly bia trên bàn, tôi không thể làm những chuyện trái ngược để được chú ý bởi tôi không muốn ai gọi tôi là "con khỉ tóc hoe", bởi đầu tôi có quá nhiều dấu hỏi, có quá nhiều dấu chấm than.

Ngày rời Việt Nam tôi mười một tuổi, nay trở lại, tôi hai mươi sáu tuổi. Mười lăm năm! Ngày đi, tôi là một thằng nhỏ còn chạy quanh chọc phá mấy cặp rù rì trong vườn bông ban đêm, chưa bao giờ đứng trước gương ngắm nhìn chính mình, chưa bao giờ ngồi yên được vài phút, tiếp nhận mọi sự việc quanh mình như con chim con há mỏ nhận mồi chim mẹ thả bỏ vô, hít thở hơi mưa dầm cơn nắng hanh như nụ hoa mười giờ bò lan tràn trên mặt đất nở ra khi có nắng đóng lại khi nắng tàn, chưa biết ước mơ cho tương lai. Ngày trở lại, tôi là một người đàn ông luôn luôn nhìn quanh thăm dò cho mỗi bước đứng bước đi, gương mặt mang đầy dấu tích hận đau làm tôi không dám đứng trước tấm gương tự ngắm nhìn mình, tiếp nhận mọi sự việc chung quanh bằng tấm lòng có nhiều lớp cạn lọc, không biết mơ ước tính toán gì cho tương lai.

Nếu ai đó hỏi tôi là người nước nào thì thật tình tôi không biết trả lời như thế nào. Mười một năm ở Việt Nam so với mười lăm năm ở Na Uy, bên nào nặng? Tôi là người Việt Nam vì nội ngoại, ba má là người Việt Nam, vì má sanh tôi trong nhà thương Cần Thơ, vì tóc tôi đen, vì mũi tôi tẹt. Những năm ở Na Uy, đối với người Na Uy thì tôi mãi mãi là người Việt Nam, dầu tôi có nhuộm tóc, dầu tôi ăn chơi không thua gì tụi bạn Na Uy. Nhưng tôi lại không tự cảm thấy tôi là người Việt Nam hoàn toàn, tôi không có một chút gắn bó nào với câu vọng cổ kéo dài với những giọng hát nhèo nhẹo và tôi không cười được khi xem những vở kịch trên video.

Không phải tự tôi không cảm thấy tôi hoàn toàn là người Việt Nam mà ngay chính cả mọi người chung quanh đây, có ai coi tôi là người Việt Nam đâu. Người ta cười câu nói ngây ngô phát từ miệng người đàn ông gần ba mươi tuổi. Người ta nhíu mày không hiểu vài chữ phát âm ngượng nghịu từ người đàn ông da vàng mũi tẹt như họ nhưng lại đến từ một đất nước xa xôi. Xấu hổ, mặc cảm, tôi rút mình không muốn giao thiệp. Ngày ba bữa cơm thui thủi, tối trở lăn gối chiếc một mình, cứ thế mà hít thở cái không khí bưng bưng bụi bậm.

Phải tìm đường sinh nhai, tôi ráng lần tìm nơi xin việc, đủ mọi việc.
- Ông có thể cho tôi làm ở đây.
- Mày có thể làm gì?
- Ơ... tôi có học chuyện này, học hai năm.
- Chuyện này là chuyện gì?
- Chuyện... chuyện như ông đang làm.
- Ha... ha... chuyện tao đang làm mà cũng đi học, cũng học hai năm... ha... ha... Mà tao học hơn mày, tao học cả đời, học từ lúc cầm búa đập dập nát ngón tay cho đến khi tao nhắm mắt mà cũng bào láng cón mặt bàn, đến bây giờ cũng còn học, mày có thể biết không?
- Dạ, tôi có thể học nữa.
- Sao mày không có thể học nữa ở chỗ mày đã học đó... ha...ha... thằng này nói nó có thể làm được. Nó chỉ có thể thôi... ha...ha... có thê mà cũng xin vô đây làm. Mày có thể cho tao biết mày là người gì mà không biết nói chuyện. Mày có thể đi chỗ khác để tao đục cho xong cái chân bàn này không. Mày có thể đừng đứng lạng quạng cản công cản chuyện của tao không?

Như thế, tôi xin hết chuyện làm này đến chuyện làm kia, không ai tin tôi khi họ nghe giọng nói nạc mỡ, câu văn ngượng ngập. Ngưòi ta nghi ngờ tại sao tôi đang ở ngoại quốc nghe nói sung sướng giàu sang lắm mà lại về Việt Nam lang thang tìm những việc làm "rẻ tiền". Lâu lâu bạn bè khi thì tụi trong băng Việt Maxi ngày xưa, khi thì tụi bạn Na Uy, khi thì ba má chợt nhớ đến tôi, gởi cho vài trăm đô để dành sống qua ngày. Tôi tiêu dè dặt từng đồng vì không biết khi nào được nhớ tới. Tôi lo sợ đến một lúc nào đó bạn bè, gia đình quên người bạn, người con đang bơ vơ giữa "xứ người".

Na Uy không có án tử hình. Nếu tòa án cho tôi lựa chọn thì tôi chọn cái án nặng nhất của Na Uy là hai mươi mốt năm thay vì cái án "trở về quê hương" này. Hai mươi mốt năm trong tù, dầu gì thì còn có một chỗ đứng, được cư xử như một con người, được có những ước mơ cho hai mươi mốt năm sau. Còn ở đây, ở Việt Nam, ở nơi người ta gọi là quê hương của tôi thì tôi chỉ là một tấm giẻ rách vụn, suốt đời là tấm giẻ vụn trong muôn ngàn tấm vải đầy màu sắc được mang ra may thành những tấm áo, tấm màn. Làm sao tôi có được ước mơ cho hai mươi mốt năm sau?

Ba má đã cắt một tấm vải từ bộ áo gia đình để vá lên bộ áo gia đình khác mà không cần biết đến kết quả của sản phẩm may vá đó. Ba má đã cắt một tấm vải từ bộ áo Việt Nam màu vàng rực rỡ để đem vá chồng lên bộ áo Na Uy màu xanh đỏ trắng tươi. Bởi màu sắc quá chói mắt nên người ta cắt tháo nó ra, đem nó vá chồng lên bộ áo nguyên thủy của nó nhưng người ta không hiểu rằng tấm giẻ vụn này đã không còn thích hợp với tấm áo Việt Nam ngày nay cho nên không ai muốn dùng nó. Chẳng lẽ từ nay và mãi mãi, nó chỉ là một tấm giẻ vụn vô dụng?

Tôi có dám ước mơ: Một ngày nào đó, người ta thâu lượm những mảnh giẻ vụn như tôi, kết may khéo léo thành một tấm khăn trải bàn, thành một cái bao gối. Hỡi đôi bàn tay khéo léo! Hỡi khối óc biết tận dụng của thừa vật thải! Hỡi tấm lòng biết nhìn xuống vực sâu! Các người có hiện diện trên thế gian này không?


*****

Hết
 
Đã mang vào thư viện
Chúc chị Bảy luôn vui

Blog_vdn
0