📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ CỦA NHẠC PHI

1 trả lời, 1.745 lượt xem — Trang 1 / 1
CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ CỦA NHẠC PHI
 
Khiêm Cung

 
Nguồn: Thatsonchaudoc. com

 
Truyện Nhạc Phi là loại sử truyện Trung Hoa đề cao tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm. Nhân vật chánh trong truyện là vị anh hùng dân tộc Nhạc Phi, đời nhà Tống. Người Trung Hoa đã lập miếu và tạc tượng tôn thờ Nhạc Phi ngang hàng với Khổng Phu Tử. Trái lại ai cũng oán ghét Tần Cối, một đại gian thần, bán nước cầu vinh, luôn luôn mưu hại Nhạc Phi.
 
Thời các vua Huy Tông, Khâm Tông, Cao Tông  nhà Tống, triều đình đốn mạt,  quần thần thối nát, cúi đầu chịu sự thống trị của nước Kim ở phương Bắc, để chúng bắt cả hai vua Tống là Huy Tông và Khâm Tông đem về giam cầm ở dưới một cái giếng cạn, vùng sa mạc nước Kim. Dân chúng toan nổi dậy chống xâm lăng thì bị triều đình đàn áp thẳng tay. Đất nước đầy dẫy những sơn vương, thảo khấu xưng hùng xưng bá.
 
Nhạc Phi đã đứng ra tập họp quần chúng, thu phục nhân tài, lãnh đạo cuộc kháng chiến đánh cho quân Kim thất bại nặng nề.
 
Thấy Nhạc Phi rất có tài và được dân chúng hết sức ngưỡng mộ, Tần Cối ganh tị và sợ Nhạc Phi được vua Cao Tông ân sủng, tìm đủ mọi cách ngăn bước tiến và hãm hại Nhạc Phi.
 
Nhạc Phi là con trai duy nhứt của Viên ngoại Nhạc Hòa và Bà Diêu An Nhân, ở Tương Châu, huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hòa, xóm Hiếu Đễ. Lúc mới sanh ra được mấy ngày thì bị lũ lụt. Ông Bà Viên ngọai đặt con vào trong một cái chum, bềnh bồng trên sóng nước. Đuối sức, Nhạc Hòa mới trối trăn với vợ ở lại ráng nuôi dạy con, rồi ông vuột tay khỏi miệng chum, chìm dưới đáy nước. Trong lúc nổi trôi, Nhạc Phi được bầy chim oanh bay lượn bên trên che chở.
 
Khi mưa bão đã tạnh, Bà An Nhân và Nhạc Phi đã trôi giạt đến làng Kỳ Lân, xứ Hà Bắc, cách kinh thành chừng ba mươi dặm, được gia đình một Viên ngoại khác, họ Vương tên Minh , vợ là Hà Thị  tên  Viện Quân cứu vớt và nuôi nấng.
 
Lên bảy tuổi Nhạc Phi được Châu Đồng, một bậc nhân tài xuất chúng, truyền dạy cả văn lẫn võ và thu nhận làm con nuôi.
 
Đến năm mười sáu tuổi Nhạc Phi đã đính hôn, rồi sau đó làm lễ cưới với Lý tiểu thư, con quan Tri huyện Lý Xuân. Vợ chồng có đông con, có trai có gái, trong đó người con trai đầu lòng là Nhạc Vân, võ nghệ thật cao cường, rất hào hiệp, giống y như Nhạc Phi. Nhạc Vân đã là tùy tướng của nguyên soái Nhạc Phi, chống lại quân Kim xâm lược để bảo vệ đất nước và đã lập nhiều chiến công hiển hách.
 
Còn Tần Cối tự là Hội Chi, người Giang Ninh, năm Chính Hòa thứ năm (1115) đậu tiến sĩ, là người có văn tài, nhưng không có đức. Tần cối được triều đình nhà Tống tin dùng, cữ giữ nhiều chức vụ trọng yếu.
Khi Nhị đế nhà Tống bị bắt đày qua nước Kim, một số cận thần, trong đó có Tần Cối, đi theo phò tá. Những cận thần nhà Tống này không quy lụy vua nước Kim đều bị giết hại, chỉ trừ Tần Cối biết lòn lách nên còn sống sót, ở ẩn trong rừng núi nước Kim, vợ của Tần Cối là Vương Thị kiếm củi bán lấy tiền để vợ chồng sống qua ngày.
 
Nói về phương Bắc, vua nước Kim là Ô Cốt Đạt cho con trai là hoàng tử Ngột Truật mấy phen xâm lược đất Trung Nguyên của  nhà Tống đều thất bại trước sự chống trả anh dũng của quân binh do Nguyên soái Nhạc Phi thống lãnh. Ngột Truật mới móc nối, đưa Tần Cối trở về Tống, sử dụng y làm nội ứng và làm cho nội bộ nước Tống xáo xào.
 
Trong khi những người trung quân ái quốc xông pha trận mạc để bảo vệ giang sơn thì Tần Cối, với tư cách Lễ Bộ Thượng Thư, chủ trương cắt đất dâng cho quân Kim để cầu hòa. Còn Vương Thị cũng rất nham hiểm, nhân cơ hội Tần Cối đi vắng, đã đem bỏ thuốc độc vào ba trăm hũ ngự tửu của vua đưa qua Bộ Lễ niêm phong để ban thưởng cho Nhạc Phi và quân sĩ. Cũng may là phe của Nhạc Phi phát giác kịp thời. Vương Thị cũng là một tay cố vấn đắc lực, đưa ra nhiều mưu sâu kế độc choTần Cối.
 
Ở Châu Tiên trấn quân Kim thua chạy không còn một manh giáp. Nhạc Phi đang đóng binh ở Cao Sơn Lãnh, lo điều dưỡng binh mã, chuẩn bị sẵn sang để đánh thẳng qua Huỳnh Long Phủ giải cứu và rước Nhị Đế về.
 
Ngột Truật cho người gặp riêng Tần Cối lúc bấy giờ đang làm Tể Tướng, yêu cầu tìm cách hãm hại Nhạc Phi. Tần Cối y kế của Vương Thị là không phát thêm lương thảo cho Nhạc Phi viện cớ muốn nghị hòa với Kim Quốc và ra lệnh cho Nhạc Phi thu quân từ Cao Sơn Lãnh trở về Châu Tiên trấn nghỉ ngơi, rồi tìm cách hãm hại cha con Nhạc Phi.
 
Tần Cối một mặt tâu với vua sai sứ đi nghị hòa với Kim Quốc, mặt khác giả chiếu chỉ của nhà vua triệu hồi Nhạc Phi về kinh nói là để phong thưởng. Khi đến nơi thì bị tay sai của Tần Cối là Vạn Sĩ Hoa và La Võ Tập bắt, gán cho các tội quân đang tiến tự tiện rút quân rồi án binh bất động, cắt xén quân lương, thả quân đi cướp giựt, quấy nhiễu dân chúng, rồi bị tống giam vào ngục, bị đánh đập hành hạ thật đau đớn khổ sở để buộc phải nhận tội.
 
Bọn tay sai của Tần Cối sợ sau khi Nhạc Phi chết, Nhạc Vân và Trương Hiến, con của Nguyên soái Trương Sở, đều là hai kiện tướng,  có sức mạnh vô địch, sẽ báo thù, cho nên giả vờ thương hại, dụ Nhạc Phi viết thư kêu hai người đó đến để lập tờ minh oan cho Nhạc Phi. Khi Nhạc Vân và Trương Hiến đến rồi cũng bị giam vào ngục.
 
Nhạc Phi, Nhạc Vân, Trương Hiến đều bị đem ra giết tại Phong Ba Đình.
 
Chuyện Nhạc Phi với Tần Cối dài lắm, nói không hết, ở đây chỉ nêu lên một vài nét đại cương về hai nhân vật đó mà thôi. Trọng tâm của bài này là câu chuyện nhân quả của Nhạc Phi.
 
Theo truyền thuyết, tại núi Tây Nhạc Họa có ông Trần Đoàn tức Hi Di tiên sinh ở ẩn trong núi, dày công tu luyện trở nên một vị tiên đạo cao, đức dày. Tiên sinh soi thấy được nhiều kiếp.
 
Tiên sinh nói ở tiền kiếp, tại Tây Trúc, nơi chùa Lôi Âm, Phật Tổ đang ngự trên Cửu phẩm liên đài, có chư vị Đại Bồ Tát, La Hán, Yết đế và chư Hộ pháp thánh thần chầu chực để nghe Phật Tổ giảng diệu pháp chân kinh.
 
Khi đến đoạn hay, người ta có cảm giác mùi thơm tỏa khắp mọi nơi. Bất ngờ ở dưới liên đài có một vị tinh quân là sao Nữ Thổ Bức (con dơi cái) chẳng biết vô tình hay cố ý phát ra một tiếng trung tiện (người miền Nam gọi là “địt”, người miền Bắc gọi là “đánh rắm”) khá to. Phật Tổ rất từ bi, không để ý đến chuyện đó. Nhưng trên liên đài có một vị Hộ pháp là Đại Bàng Kim Sí Minh Vương (loài chim lớn) đang đứng chầu Phật Tổ, nổi giận, không tha thứ cho hành động vô lễ đó, nên bay xuống mổ Nữ Thổ Bức chết tươi, linh hồn của nó bay qua Đông Độ đầu thai làm con gái nhà họ Vương, sau nầy gả cho Tần Cối.
 
Do gây nhân ác, Đại bàng Kim Sí Minh phải bay qua Đông Độ đầu thai để trả cái oan trái đó.
 
Trên đường bay qua Đông Độ, Đại Bàng thấy có một con giao long tự xưng là Thiết Bối Cù Vương, là một loài yêu quái, thường dâng nước sông Hoàng Hà làm cho cư dân khốn đốn, Đại Bàng liền đáp xuống, mổ một cái thật mạnh trúng con mắt bên phải văng tròng mắt ra, máu chảy đầm đìa. Con Thiết Bối  đau đớn quá thét lên một tiếng, rồi lặng sâu dưới đáy sông. Binh tôm tướng cá cũng kinh hồn, không dám chống cự. Chỉ có một tên là Đoàn Ngư Tinh nhảy ra  chống cự, bị con Đại Bàng mổ một cái trúng ngay đỉnh đầu chết tức thì, sau đầu thai thành Vạn Sĩ Hoa, mưu hại Nhạc Phi trong ngục ở Phong Ba Đình.
 
Đại Bàng đầu thai thành Nhạc Phi, còn Thiết Bối Cù Vương là tiền thân của Tần Cối.
 
Truyện Nhạc Phi viết ra đời Nhà Thanh, có nhiều hư cấu, nhưng cốt truyện dựa trên căn bản lịch sử thực tế xãy ra đời Nhà Tống. Truyện hàm chứa những giáo điều căn bản: Tam cang, ngũ thường trong Nho giáo và luân hồi nhân quả trong Phật giáo.
 
Nói về ngũ thường thì Nhạc Phi có đầy đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mới thu phục được nhân tâm, thuyết phục được bọn thảo khấu qui hàng, kết tập được anh hùng hào kiệt để cùng nhau chung lưng đâu cật chống xâm lăng, bảo vệ đất nước.
 
Còn tam cang là ba giềng mối : quân-thần cang (giềng mối vua – tôi), phụ-tử cang (giềng mối cha-con), phu - thê cang (giềng mối vợ - chồng). Nho giáo chủ trương:
 
                        Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung,
                        Phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu.
                        (Vua xử tôi chết, tôi không chết là không trung,
                        Cha xử con chết, con không chết là bất hiếu).
 
Nhạc Phi tuân hành mọi chỉ dụ của nhà vua, đang đại thắng, vua bảo ngưng đánh thì ngưng ngay, vua triệu hồi thì về ngay, mặc dầu biết có gian thần tâu rổi để ám hại, vua xử chết thì chịu chết, không một hành động chống đối hay một lời oán than. Thậm chí sau khi chết rồi, anh em dưới trướng  muốn nổi loạn lên để chống lại triều đình, Nhạc Phi còn hiện hồn về ngăn cản anh em, không cho làm loạn. Đó không phải là vì chữ trung hay sao?
 
Khi đã biết có thánh chỉ xử tử hình, Nhạc Phi bảo Nhạc Vân, Trương Hiến cùng với mình đưa tay chịu trói trước khi nghe đọc thánh chỉ, vì Nhạc Phi sợ Nhạc Vân và Trương Hiến nổi loạn. Nhạc Phi nghe theo lời mẹ, bà đã khắc trên lưng Nhạc Phi  bốn chữ  “tận trung báo quốc”, còn Nhạc Vân tuân theo lệnh cha trói tay chịu chết. Đó không phải là vì chữ hiếu hay sao?
 
Nho giáo dạy người ta thực hành chữ trung, chữ hiếu một cách cứng ngắt, như theo một công thức toán học. Ai đi lệch công thức nầy là bất hiếu bất trung. Trở lại thời kỳ Nhạc Phi sống, lòng trung của Nhạc Phi đối với vua được mọi người coi trọng, như khuôn vàng thước ngọc. Ngày nay cái trung như vậy  có thể bị xem là mù quáng. Thuở xa xưa, có thiếu chi người trung với vua theo cách của Nhạc Phi, Tỷ Cang đã tỏ lòng trung với Trụ Vương, mổ trái tim chín lổ của mình để làm thuốc cho Đắc Kỷ  uống.  Thật ra Đắc Kỷ có bệnh hoạn gì, mục đích  của y thị là muốn giết một trung thần như Tỷ Cang thường hay can vua đừng đắm say tửu sắc.
 
Còn nói về nhân quả, nếu nói theo thường tình có vay thì có trả, Tần Cối và Vương Thị là chủ nợ thì có quyền đòi Nhạc Phi trả nợ. Nhạc Phi cũng nên vui vẻ trả cho xong món nợ cũ. Điều đáng lưu ý là Đức Phật dạy có sáu cõi luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la, người, trời. Trong truyện Nhạc Phi, toàn là những con vật đầu thai lên làm người để báo thù và trả oán, con dơi cái trở thành Vương Thị, con Thiết Bối Cù Vương thành Tần Cối, con Đoàn Ngư Tinh thành Vạn Sĩ Hoa, con Đại Bàng Kim Sí Minh trở thành Nhạc Phi. Còn Nhạc Vân thì kiếp trước đã gieo nhân gì mà kiếp nầy phải gánh cái quả như Nhạc Phi, kiếp trước “cha ăn mắm” cho nên kiếp này “con khát nước” hay là do một nguyên nhân nào đó mà hai cha con cộng nghiệp với nhau?
 
Những con vật đánh giết nhau thường là đơn thuần theo bản năng, chúng nó không có cân nhắc, tính toán. Con người thường vì bon chen danh lợi và nhờ có trí khôn, biết sắp đặt kế hoạch, thậm chí dùng những thủ đoạn thâm độc, tráo trở, lừa đảo đối với đối phương…, mức độ báo oán càng khốc liệt hơn nữa, tiếp tục gây ra nhân quả triền miên, lấy oán báo oán, cho nên  oán oán chập chồng.
 
Nói theo thói thường, nếu ở đời con người toàn là những Nhạc Phi thì ai cũng như nấy. Có Nhạc Phi cao thượng lại có Tần Cối nhỏ nhen thì vai trò của Nhạc Phi mới nổi bật.
 
Nhưng hiểu theo Phật lý thì thế gian là vô thường, như giấc mộng, như bọt nước, như sấm chớp, tranh danh đoạt lợi, dẫu hơn hay thua rồi cũng chẳng còn gì:
 
                        Nhất thiết hữu vi pháp,
                        Như mộng huyển bào ảnh.
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0

Con Rơi
Lưu Nhơn Nghĩa
 
Con đường đất ngả tư sân banh chạy tới chùa trên có dãy nhà gạch, vách đá, lợp ngói, vườn trước vườn sau rộng rải. Dân sống trong những căn nhà nầy thuộc thành phần trung lưu nề nếp, danh giá, biết chữ, nghĩa là không thuộc giới lao động tầm thường. Ho gốc Việt Nam rặt, họ Lê, Nguyễn, Bùi, Phan....

Bà Ba sống trong xóm nầy lâu lắm rồi. Mỗi sáng, bà có thói quen ngồi vò thuốc tể để trong xịa mang ra phơi trước hàng ba, có khi bà chặt nhánh lá từ bi phơi trên đệm, không làm thì cảm thấy bực bội khó chịu. Bỗng bà xăm xăm vô nhà, lục rổ kim chỉ, hỏi, " Cái miễng ve chai cắt rún đâu rồi? ". Bà nhớ hình như lâu lâu, con Rơi đem những xịa thuốc tể bà đổ bỏ, lũ trẻ hàng xóm giành giựt làm đạn bắn chim, lá từ bi thì để nhúm lửa , bà la đó rồi quên đó, lá từ bi có mùi cây dâu tầm trồng sau nhà, thuốc thì cứng, có mùi đất bùn.

Đêm đêm, bà Ba và bà Út ngồi xầm xì. Bà Út da đen, ốm, lưng còng lom khom, hồi nhỏ bà vô Sóc đổi lúa, gánh gồng không vất vả. Bà Ba nuớc da trắng, mặt đầy có da có thịt, vẫn còn giử được nét đẹp phúc hậu, đi đứng vững chải, chỉ hay lẫn lộn, nói lảm nhảm. Thường ngày hai bà ôm gối than lạnh, nhức mình, phải nhịn trầu cau, trên bảy mươi tuổi rồi. Hai bà sống nhờ con Rơi nuôi, cũng còn được ít nhứt buổi cơm chiều đạm bạc, tuy chưa được no như trước, nhờ vào nồi cháo đậu dưa mắm buổi sáng và gánh chè buổi trưa của Rơi, ba mươi tuổi mà chưa ai đi coi. Rơi gọi bà Ba là má ba, bà Út là má Út. Câu chuyện bắt đầu từ ba muơi năm trước.

Khi Tây đặt cơ sở bảo hộ Xà Tón, họ lập nhà thương, trường học, nhà việc và thành lính. Dân Miên đã ở đây lâu đời rồi, dân Tàu, dân Việt tới sau buôn bán làm ruộng. Người di dân cũng cần nhu cầu căn bản. Thầy Ba Nhàn làm infirmier, y tá trưởng nhà thương , người ta còn ngại ống chích kềm kéo, túng lắm mới đi nhà thương.

Đâù thế kỷ 20, dân Tàu còn mặc quần lảnh đen, lưng vận, áo nút thắt, kéo đôi guốc Tàu lốp bốp inh tai, còn đội nón tre rộng vành, phết chai hay dầu trong nặng chịch. Dân Việt giử cái nón lá nửa thế kỷ, dân Miên mặc xà rông tới cuối thế kỷ. Cái xã hội nhỏ thành hình có vừa đủ thợ thầy đóng góp. Giếng nước sạt có thợ hồ, cần cái cửa có thợ mộc đục khoét, ma quỷ phá nhờ thấy cúng hét la, dời ăn, có người khoáng dời, nhai đậu xanh, lấy mực Tàu vẽ bùa phun phèo phèo còn hay hơn thuốc mi xin gì đó.

Đại khái người người đều có trách nhiệm đóng góp khả năng sức lực hay tinh thần cho cộng đồng đang sống. Bây giờ nhìn lại, xứ nầy chỉ cần vậy thôi, tuy chưa có thợ sửa radio TV lúc ấy. Ai có khả năng đóng góp được gì thì đóng góp, nghề nào cũng sống được. Có nghề làm giàu như buôn bán, họ có khả năng đếm tiền, nghề thầy bùa xem ra nghèo, con cháu không khá, nhưng không có cũng không được, xứ nầy nhiều ma quỷ. Nghề hớt tóc đè đầu đè cổ thiên hạ mà ngóc đầu không nổi, thiếu họ đầu cổ chôm bôm. Nghề đạo tỳ cầm đuốc múa đuổi ma quỷ hai bên đường cho đám tang đi yên ổn về mả, nghề cầm bàn đưa đám ma, đều là nghề tay trái, vì tình nghĩa, may lắm được tang chủ đãi buổi cơm cảm tạ, tiền bạc gì đâu. Nghề được kính trọng như thầy thông thầy ký, thầy giáo, nghề cao sang, nhưng phải có học, đâu dễ làm...Nhiều lắm kể không hết. Quên không nhắc nghề hạ bạc đáng ghét đáng khinh xứ nầy cũng có, nghề của các kiều nữ bà tư da bò làm chủ, người thương cũng có người ghét cũng nhiều

Nghề căn bản tối cần, dành riêng cho số thân chủ phụ nữ tuổi từ 18 đến 40, mỗi năm tối đa một lần, đời người chừng muời lăm lần, đàn ông không cần dịch vụ nấy. Người làm nghề nầy phải có tài đức, nói nôm na là mát tay.

Thời đầu thế kỷ 20, loạn lạc, Marroc đổ bộ, chiều về sợ lắm, ban đêm không ai dám ra đường, nhà nhà đóng kín cửa, nghe tiếng kêu là run. Đàn bà chờ ngày sanh nở khổ hơn, ai mà dám liều lỉĩnh đốt đuốc đi rước mụ .

Năm đó cô Ba chừng trên 20 tuổi, hay theo người dì làm mụ, quen việc, rồi chiều chiều được mời đi ngủ nhà người sản phụ cận ngày sanh. Trong xứ có vài bà mụ, chưa có chữ nữ hộ sanh, tiếng Tây là sage femme. Cô Ba được trời cho mát tay. Dân chợ, nói đúng hơn là dân có tiền mới mời được cô đến ngủ, vì nhà họ rộng rải, thường có giường riêng cho cô. Cô Ba tuy tiếng là mụ, nhưng cao hơn mụ vườn.
----------------


Bà Ba đã lẩn lộn nhiều, gặp ai bà cũng nói là con bà, khi nhớ tên, khi quên tên. Bà nhớ tên đứa đặc biệt, rồi bừng tỉnh, rồi lại quên. Hôm ăn cá rô lưới mắc xương, bà chợt nhớ thím ba Chanh,( thím ba sanh ngược, chính cô Ba sanh ), nhờ thím tới vuốt cổ cho hết .. Năm xưa, cô Ba hàng đêm ngủ nhà người nằm chổ, cô phải ngủ nhà họ trước mấy ngày sợ trường hợp sanh non, thiếu tháng. Đêm khuya, ai cầm đèn kêu cửa, cô Ba cũng vui lòng đi, vừa đi vừa la, " Tôi đi rước mụ cho vợ tôi ), la lớn và cầm cây đèn thật sáng. Đêm nọ, một bòn ca ( anh chàng Miên) ở cách nhà cô chừng vài trăm thước, vợ kêu đau bụng, bòn ca quýnh lên, bắt đôi bò thắng xe cả buổi chạy đi rước cô Ba cho mau, không dám cho cô đi bộ lâu lắt. Tới nhà cô, bòn ca chực nhớ quên cây đuốc, vội chạy bộ về tìm hộp quẹt đốt đuốc , rồi chạy trở lại đở cô Ba lên xe, quát đôi bò chạy mau về, như rước mệnh phụ. Hôm sau, bòn ca mang trứng gà và thúng nếp biếu cô Ba, vợ bòn ca đau bụng đi cầu. Lâu lâu vui miệng, bà Ba kể chuyện đời xưa, hồi đó vùng nầy còn là khu rừng , có đêm, cọp đực đi cỏng bà mụ về cho chị cọp cái sanh, sau đó đền ơn bằng con nai, con heo rừng săn được.. Cũng có khi, ma đi rước mụ cho người con gái có thai, tự tử, oan hồn còn vất vưỡng trên cây dương. người ta còn nghe tiếng khóc oe oe và tiếng ru con qua cánh đồng vắng về khuya.

Bà Ba nằm nhớ đêm khuya, ai nấy đều ngủ say, người chồng ngủ giường ngoài ngáy như rống. Chị vợ bỗng lăn lộn đau bụng. Như thường lệ, cô Ba kêu anh chồng nhúm lửa nấu nước sôi. Anh chồng nói câu để đời, " nín đi, để tao ngủ, mai hãy sanh ". Đêm đó quả là khổ, đèn lờ mờ, nhà chật, quay qua quay lại đụng đồ đạc. Anh chồng càu nhàu, vừa nhúm lửa, khói cay sè, " đẻ mà lựa giờ bất nhơn, không cho người ta ngủ". Chị vợ vặn mình la hét, hết la lại chửi, " thằng khốn nạn ơi, tao biểu mầy đừng, mầy có nghe đâu, ".Cô Ba đã quen ngôn ngữ lâm bồn nầy, cô vuốt bụng người đàn bà, " Hít vô, một hai ba rặn... ". Trán cô Ba đổ mồ hôi, quên tiếng rên la, tiếng lầm bầm. cái giường kẻo kẹt, đống tả ẩm ướt, ngứa ngái. Con so, khó sanh, chợt nghe tiếng " hì", cô Ba cầm hai chưn đứa bé, tiếng oe oe, " Con gái ". Anh chồng như có ai thọc tiết, anh chửi thôi một loạt " ....thứ đồ con gái đầu lòng..", anh ta chửi nhiều lắm, dĩ nhiên chỉ dám chửi xéo cô Ba. Cô Ba nhẫn nại lấy miếng chai cắt rún rồi lấy tả quấn đứa bé đặt bên người mẹ, cô soát kỹ cái nhau, sợ sót nhau nguy hiểm. Có khi bực bội, cô quay sang anh chồng nạt, " vợ mầy mới sanh, coi chừng nó giận bị sản hậu là mầy chết dịch đó nghe , rồi mâỳ chưa đốt than cho vợ mầy nằm chổ hả? ". Cô Ba đã làm tròn trách nhiệm, mẹ tròn con vuông, đàn ông đi biển có đôi, dàn bà đi biển mồ côi một mình ".. Cô đánh ngón tay, " con gái tuổi Dậu, canh tư, chưa sáng, gà còn ngủ, con nhỏ nầy ít cực ". Anh chồng lầm bầm, muốn có con trai nối dòng nối dõi, tại bà mụ mà sanh con gái, tuy anh không dám nói ra. Cô ba xoa bóp cho sản phụ, mệt lả tới sáng.

Bà Ba chép miệng, nhớ tiếng la thất thanh đêm đứa bé , chết trong bụng mẹ, bị ngột, như bà già chồng nói, lỗi tại cô. Cô cho rằng người mẹ bị trụy thai, bụng xệ mà không hay. Con trai đầu lòng, cháu đích tôn, cả gia đình trông chờ, họ thất vọng, bao nhiêu lời mĩa mai cay đắng thô lổ, cô chịu.

Cô Ba thường ăn cơm chiều nhà thân chủ, ít khi cô ngủ nhà , cô chứng kiến sự ra đời bao nhiêu đứa bé, lớn lên nó có biết cô là ai. Nhiều đêm ngủ nhà lạ, rệp cắn đỏ cổ, rồi chí rận từ sản phụ bò qua cắn, giường chiếu ẩm , trời nóng quạt không nghỉ tay, sợ là sợ đêm súng nổ , nhà lạ, xa chồng.

Xóm chợ, cô đã sanh cho mấy thế hệ, cô không nhớ bao nhiêu đứa trẻ ra đời, bao nhiêu đêm ngủ nhà lạ. Gia đình cô Ba sống sung túc, dượng Ba có chút chữ nghĩa, không biết làm gì cho xứng và ngang hàng với cô Ba, dượng không thể làm nghề lao động, dù sao cũng là chồng cô mụ . Bẳng đi, năm mươi tuổi mới trực nhớ mình chưa có đứa con nào, trể quá, các bà mụ vùng nầy ít thấy bà nào có con mới lạ, chắc có huông, rồi dượng Ba mất nửa chừng.

Thời buổi văn minh, sóng sau đè sóng trước, quận có nữ hộ sinh Sai Gon đổi về, mấy cô trẻ sau nầy bắt đầu quen với Nhà thương , địa vị cô Ba có hơi sút, tuy mấy cô nhà quê vẫn còn nhờ cô Ba. mà lúc đó cô đã già, lục nghề. Nghe nói nhà thương có y tá chích thuốc, rượu alcol rửa rái, thuốc pénniciilin, nghe nói ở Sai Gòn còn có máy hút khi sanh khó. Cô Ba chê đám sau nầy không nằm lửa, không ăn thịt cá kho tiêu thiệt cay, con nít không xức thuốc trên mỏ ác cho cứng, bà mẹ không uống thuốc dưỡng thai, thuốc tể ,không tắm nước lá từ bi, sau nầy già bịnh hậu, nói mà mấy nhỏ không chịu tin.

Cái lần sanh thật sự làm cô hãi hùng là lần sanh con nhỏ Rơi. Đêm đó, cô Ba và chị bà con, dì Út , đang ngồi nghe hát máy, chợt cuối xóm có tiếng la và tiếng chạy huỳnh huỵch, " nó gần đẻ rồi, kêu cô Ba mụ ". Cô ba biết ngay, " cái con quỷ con Thơm rồi", cả năm nay đi mất, bây giờ về sanh, không thấy nói có chồng. Cô Ba bươn bả chạy tới. Con so, sanh khó. Thơm vặn vẹo mình, cả giờ chưa sanh đưọc, Thơm vừa rặn vừa chửi , lại nhìn thằng Sa chửi "tại anh, anh làm khổ tôi anh Sa ơi ,tôi đã nói là không đưọc, vợ anh là chị tôi. Chị con Thơm là Mùi, vợ thằng Sa, bên ngoài chạy vào. Chị Mùi không cần biết em mình đang sanh khó, như lửa đang âm ỉ cháy thêm dầu, chụp cây then cửa đập Sa loạn xạ. Cô Ba toát mồ hôi trán, không thể khuyên giải, chỉ biết lo cho đứa bé rồi ra về, bỏ lại sau tiếng chửi rủa gào thét. Hôm sau, tình cờ qua nhà chị Mùi, thấy nhà vắng tanh, đồ đạc ngổn ngang trên mặt đất, trên giường, tiếng khóc như mèo kêu, mặt tái như con búp bê đen trong bó tả ướt. Dì Út bất nhẫn bồng đứa bé về cho ống nước cơm vo, hai bà lắt đầu. Chờ chiều tối mang nó trả lại cho mẹ nó. Mẹ nó, cha nó, dì nó biến mât, trả nó cho ai, khổ ơi là khổ, ách giử đàng mang vào cổ. Cô Ba và dì Út chợt ngậm ngùi, mình muốn có đứa con mà không được, thôi, con rơi con rớt, coi như con mình, nuôi nó tốn kém bao nhiêu, nuôi làm phước. Ngày nầy qua ngày khác, năm nầy qua năm khác, mỗi khi đứa bé bịnh, hai bà luôn miệng , " cha mẹ bất nhơn ". Cô Ba xỉ trán đứa bé, âu ýếm, " cái đồ con rơi con rớt, tao lượm về nuôi ", rồi cô đưa võng ru,
"Ầu ơ, Sáng nay tôi vô Sóc Xla Đom mua om đường thốt nốt,
Chạy ra chợ Xà Tón mua cân bột, quành vô chợ Nhà Bàng mua nửa ký đậu xanh,
Tôi về tôi nấu chè xôi nước cúng đổi tên anh,
Để mấy bon pà ol ( anh em ) nhảy Lâm Thol trong Sóc mẹt, mấy ông đạo bới tóc ngoài kinh, mấy hia Tiều bán buôn dãy phố trong chợ, biết thằng Sở khanh điếm đàng."
Đứa bé cười luôn miệng, hai bà quen tay cũng bắt đầu thương nó, đứa bé có tên ," con Rơi " từ ngày đó.

Đứa bé biết thân, ít làm phiền hai bà mẹ nuôi,nhỏ thì lẩn quẩn kề bên chưn, lớn 5 tuổi nhờ được. Hai bà không buồn đặt tên cho , cứ kêu là " con Rơi ", lối xóm đã quen, Rơi chấp nhận, không lấy làm xấu hổ, giống như tên thằng Đực lé, con Phấn lùn, thằng The sún...Hôm làm thế vì khai sanh đi học, dì Út giải thích làm sao mà ông Hương bộ ghi Nguyễn thị Rơi, dì Út không biết chữ, mang khai sanh đi nộp cho trường, cũng xong. Rơi càng lớn càng tháo vát, hai bà càng lụm khụm. Ba mươi tuổi mà chưa ai coi mắt, Rơi mãi lo nồi cháo đậu buổi sáng và gánh chè buổi trưa nuôi hai bà mẹ lú lẫn. Thời buổi cơm gạo hết sức khó khăn, Rơi thường nhịn miệng cho hai bà khỏi ăn độn khoai mì, khoai lang. Cha mẹ ruột Rơi về chợ sống sờ sờ, Rơi hình như không thấy liiên hệ tình cảm, mà chỉ lo nuôi hai bà như mẹ ruột. Lối xóm khen hai bà có phước, làm phước gặp phước. Ừ, mà nếu thiếu con Rơi, hai bà sống sao nỗi cái thời sắp hàng mua gạo nầy, no cơm đã là khó rồi, nói chi tới đồ ăn. Hai bà than thèm món nầy, canh nọ, món đó ngày xưa tầm thường, bây giờ đi ra đi vô nhắc, thèm chết đuợc.

Mùa mưa năm đó, hai bà được đền ơn xứng đáng trước khi quên hết chuyện đời. Mưa ngập ruộng trên, Rơi dầm mưa bắt được cả gần chục con cua đồng mập, đúng lúc sau vườn mục măng mạnh tông vừa đội đất, cây bù ngót làm hàng rào lá xanh nhờ đủ nước, trong hủ còn hơn hai lon gạo mót. Hai bà nghe mùi thín thơm quen thuộc, lâu lắm mới ngửi thấy mùi nầy, hai bà tỉnh lại, hết lẫn lộn rồi. Buổi cơm có canh xiêm lo nấu cua đồng, măng mạnh tông, lá bù ngót ngọt, vừa miệng, cơm trong nồi đầy đủ. Hai bà gắp đủa măng với bù ngót, và miếng cơm, húp canh xùm xụp, " ai nấu ngon vậy kìa? ". Hai bà vét hết nồi cơm, tô canh dĩ nhiên không còn chút nước. Ăn đả thèm, mười mấy năm nay mới được ăn canh nầy, bà Ba ôm bụng đứng lên, chợt nhớ cái gì mà nhớ không ra, nhìn bà Út lầm thầm, đi tới lui tìm kiếm quanh quất, kêu, " Rơi a, ra ăn cơm con ". Hai bà đứng nhìn Rơi nằm ngủ say, Rơi ngáy khò khò, mệt mõi lắm , hôm sau phải thức sớm nấu cháo gánh ra chợ bán, Rơi thều thào, " má Ba, má Út, con no rồi ". Gương mặt Rơi xơ xác, da nhăn héo, đang ngáy ngủ , miệng há hốc, răng chìa, không có gì đáng gọi là đẹp, hèn chi Rơi khó có chồng. Gương mằt ba Ba nhăn như sắp khóc, rồi trở lại mất thần như thường ngày, bà Ba vuốt mặt Rơi," trời ơi, đây đâu phải con Rơi, con trời cho để nuôi má Ba má Út mà".
[/align]
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0