📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Loạt bài về Kinh Tế

3 trả lời, 1.494 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-11 21:42:04Ngọc Lý>
Xin chị Ly cho em thread này
 để đăng loạt bài về Kinh tế,
 
Việt Nam: Sau Ngưỡng Cửa WTO 
 TS Mai Thanh Truyết
 
 
Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới tức World Trade Organization (WTO). Kể từ ngày nầy Việt Nam đã đi vào cuộc chơi chung toàn cầu.
Cho đến nay (tháng 7, 2007), vừa hơn sáu tháng trong bước đường hội nhập, quá trình tiếp cận và hội nhập trong khoảng thời gian ngắn ngũi nầy đã cho chúng ta thấy một số điểm còn tồn đọng cũng như những thách thức cho Việt Nam trong những ngày sắp đến. Bài viết nầy có mục đích nêu ra những vấn đề trên để chúng ta, trên căn bản lợi ích chung của toàn dân Việt Nam cùng trao đổi hay cùng đưa ra những ý kiến thiết thực và khoa học trong tiến trình Việt Nam hội nhập vào cộng đồng thế giới.
 
Nhận định tổng quát
 
Biến cố tan rã của Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa Cọng sản quốc tế, chấm dứt tình trạng đối đầu lưỡng cực giữa khối Tự do và khối Cọng sản; từ đó đưa đến sự hình thành một khuynh hướng chung của thế giới, mệnh danh là “toàn cầu hóa”. Khuynh hướng nầy được xem như là một sinh lộ tất yếu của các nước đang phát triển và đặc biệt là các quốc gia đã một thời đặt mình thuộc khối Cọng sản quốc tế, nếu muốn tồn tại và phát triển trong tình hình mới.


Sự toàn cầu hóa bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, và được chú ý nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu tư ngoại quốc qua những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng công nghệ trao đổi, v.v...


Riêng đối với nước Việt Nam, kể từ sau ngày 30/4/1975, Việt Nam có thể được xem như hoàn toàn thống nhất về phương diện chính trị, địa dư, và xã hội. Lãnh thổ Việt Nam bị đảng Cọng sản thu về một mối, theo chế độ toàn trị do một Trung ương đảng gồm 160 Ủy viên chính thức, 21 Ủy viên dự khuyết, và 14 Ủy viên Bộ chính trị, tổng cộng 195 bộ óc “ưu việt” Việt Nam điều hành tất cả mọi sinh hoạt của 84,7 triệu dân (thốáng kê tháng 5/2006).


Đứng về phương diện phát triển kinh tế và xã hội trong 10 năm đầu tiên sau 1975, hầu như tất cả mọi người trong và ngoài nước đều đồng ý xác định sự thất bại hoàn toàn của một chính sách kinh tế tập trung rập khuôn theo cộng sản Nga Tàu. Đây là một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam, ngay cả so với thời phong kiến và thới Pháp thuộc.. Mọi sinh hoạt đều bị đình trê, nhiều vùng bị nạn đói đe dọa thường xuyên dù trước đây là vùng lương thực cho cả nước như Đồng bằng sông Cửu Long. Giáo dục, y tế công cộng hoàn toàn bị bỏ ngõ...
 
Đứng trước nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, CS Việt Nam không thể chọn con đường nào khác hơn là phải áp dụng một chính sách kinh tế mở, nhưng vẫn còn “bịn rịn” chưa mở hoàn toàn nên đã đưa ra chiêu bài “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nửa vời. Nhưng nhờ đó, người dân bắt đầu được nới lỏng hơn trong vòng kềm kẹp, nông dân được cấp quyền xử dụng mảnh đất của mình dù là tạm bợ để tự khai thác và tự cứu vãn đời sống kinh tế của gia đình. Những năm tiếp theo sau đó, nguy cơ tuy vẫn còn đầy rẫy khắp nơi, tình trạng xã hội và kinh tế chung vẫn còn nhiều gập ghềnh, chập chững trên bước đường phát triển và hội nhập vào thế giới bên ngoài.


Mãi đến tháng 12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương mãi hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành hình (US-VietNam Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối hồi sinh và có thể nói đây là bước mở đầu tiện của VN trên tiến trình hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).


Cũng cần nói thêm về những thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ kim thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng thống Clinton, HK đã ra quyết định bãi bõ lịnh cấm vận thương mại cho VN; kể từ đó, VN bắt đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK lên đến trị giá 50,5 triệu cho năm nầy.


Bảy năm sau khi hiệp ước trao đổi hai chiều ký kết, hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất ồ ạt vào thị trường HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng mãi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK chỉ xuất cảng độ 1,2 tỷ vào VN trong năm 2005. gồm dụng cụ y khoa, máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không.


Đây cũng là những chỉ dấu ban đầu cho VN lần lần thực hiện tiến trình gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Và Việt Nam đã chính thức gia được chấp thuận nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào ngày 7 tháng 11 năm 2006.


Tổ chức Thương mại Thế giới   WTO
                                                                 
Tổ chức Thương mại Thế giới hay World Trade Organization- WTO, có trụ sở đặt tại Thụy Sĩ đã được thành lập chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia thành viện ký tại thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ chức nầy tập hợp được 149 quốc gia thành viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:


-     Quy định những căn bản pháp lý làm nền tảng cho mọi trao đổi thương mãi quốc tế;
-     Tổ chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương lượng về tất cả mọi dịch vụ thương mại giữa các quốc gia thành viên.


Cũng từ ngày 1/1/1995, VN đã nộp đơn xin gia nhập vào tổ chức trên và trở thành quan sát viện của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đã được thành lập và có nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.
Tính đến nay, VN đã trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và đã kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc gia.


Đối với HK, văn kiện chính thức giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 31/5/2006 thỏa thuận trên nguyên tắcvề khả năng tiếp cận thị trường song phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng rào thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch vụ.


Kết quả là hàng hóa xuất cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây dựng, dược phẩm, phi cơ và các bộ phận rời bảo trì sẽ chịu thuế suất là 15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN cũng đã cam kết mở cửa một số lãnh vực cấm kỵ từ trước như viễn thông và viễn thông vệ tinh, lãnh vực tài chính, ngân hàng, và năng lượng cho HK nhún tay vào.


Một khi đã vào WTO, VN cần phải tuân thủ những tính chất pháp trị như: 1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt vai trò của mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ những giới hạn nhập cảng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ những quy chế kinh tế phi thị trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN ra khỏi nền kinh tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là 12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải tuân thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.


Để có một khái niệm về kết quả của việc gia nhập vào WTO trong những năm vừa qua của các quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây cho thấy khuynh hướng cũng như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra những số liệu về thương mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy lợi ích của WTO giảm xuống còn 287 tỷ cho thế giới, trong đó chỉ còn 90 tỷ trao đổi giữa các quốc gia đang phát triển dù số thành viên của các quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số thương mại toàn cầu.
 
Một khi đã là thành viên của WTO, Việt Nam cần phải tuân thủ các cam kết được ghi trong Bảng cam kết dịch vụ gồm 3 phần: 1- cam kết chung; 2- cam kết cụ thể; 3- và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc. Trong bảng cam kết dịch vụ, có đề cập đến các quy định vế chính sách đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế khóa, và trợ cấp doanh nghiệp trong nước. Trong mỗi dịch vụ lại còn có nhiều quy định cụ thể cần phải tuân thủ như viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, vận tải v.v…


Và sau cùng, mỗi thành viên tùy theo điều kiện hiện hữu của từng quốc gia có thể đề nghị mức độ cam kết ở bốn tầng bậc khác nhau. Đó là: cam kết toàn bộ, cam kết kèm theo những hạn chế, không cam kết, và không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật.


Như vậy, trong điều kiện Viêt Nam hiện tại, điều rõ nét nhất là Việt Nam chỉ có khả năng cam kết theo từng dịch vụ ở những điều cam kết thứ hai, ba, và bốn mà thôi do những khía cạnh thực tế của Việt Nam sau sáu tháng hội nhập.
 
Tình trạng phát triển của Việt Nam hiện tại
 
Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức được chấp thuận  vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006 vừa qua, quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn các điều luật trên. Và Việt Nam đã chính thức nhập cuộc ngày 11 tháng giệng năm 2007 rồi.


Vấn đề nơi đây là cần ghi nhận đứng đắn nội lực thực tế của VN đứng trước vận hội mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra thế giới bên ngoài những gì? Và ngược lại phải nhập cảng từ ngoại quốc những sản phẩm nào? Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể hình dung được thế mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được một viễn ảnh cho đời sống người dân trong những ngày hậu WTO.
 
Tính đến ngày hôm nay, VN đã xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới một số lượng đáng kể về trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.


Ngược lại, VN phải nhập cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hóa chất, phân bón, thực phẩm “cao cấp” như thịt gà, bò..., năng lượng, viễn thông, ngân hàng... Đây là những mặt hàng nhẹ về cân lượng nhưng cần phải chi ra một số lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương từ trước đến nay.


Thêm nữa, những mặt hàng xuất cảng của VN chỉ để giải quyết cuộc sống của hàng triệu nông dân hay công nhân với mức lương tối thiểu - trong khi đó cuộc sống của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc dù VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm. Lấy thí dụ về ngành may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần lãnh được từ 600 đến 800 ngàn Đồng VN/tháng, tương đương 37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt Nam tại Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương tối thiểu quy định là 7,75 Mỹ kim/giờ, tức 62 US$/ngày, hơn xa một tháng lương của một công nhân cùng ngành tại VN.


Tại thị trường nội địa, hiện tại VN đang làm chủ vì lợi thế sân nhà, và một số ngành nghề còn độc quyền và không cho người ngoại quốc tham dự. Do đó, mức cạnh tranh chưa hề được đặt ra, và nếu có, chỉ là những cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước mà thôi.


Một khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến mãi, và thị hiếu của người tiêu dùng VN.


Xin đan cử một thí dụ điển hình qua hình thức thương mại đơn giản nhất là hệ thống “siêu thị”: Siêu thị Walmart (Hoa Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt các siêu thị nội địa trong cung cách thu mua với giá rẽ hơn vì họ có thể chấp nhận không lời, hoặc lỗ trong thời gian đầu vì có nhiều tiền vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và hàng hóa từ ngoại quốc vào - điều trên đây càng nguy hiểm hơn vì nó có thể giết chết nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của người dân. Một lợi thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ thanh toán thường chỉ giải quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính điều này khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ không còn khả năng tài chính để trả nợ cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.


Trước mắt, chúng ta thấy rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang đi dần vào chỗ bế tắc:


-     Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không cạnh tranh được so với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân trồng mía.


-     Xuất cảng thủy sản và nông phẩm hiện đang bị nhiều cản ngại do an toàn về thực phẩm không đủ tiêu chuẩn, do dư lượng kháng sinh và sự hiện diện của các hóa chất phụ gia trong thực phẩm. Điều nầy đã bị nhiều quốc gia trả về lại nguyên xứ trong những đợt xuất cảng gần đây, nhất là Hoa Kỳ, khách hàng lớn nhất của Việt Nam.


-     Chăn nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn phá sản do kỹ thuật chăn nuôi còn nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận lớn cho một số cán bộ có quyền. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ $0.2/bls (vì người Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg


-     Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội thất sẽ không còn khả năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp, Ý..... Những mặt hàng rất bắt mắt và được người VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lý ưa chuộng hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu thụ của quốc tế hơn là một thị trường sản xuất.


Một số rào cản VN đang đối mặt trước ngưỡng cửa WTO được tiếp tục trình bày sau đây cũng là những gợi ý mà VN cần lưu tâm. Đó là những cản ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng vận chuyễn đường biển, ngành viển thông di động và một số phản ứng tâm lý của người dân VN trước tiến trình toàn cầu hóa.
 
Thách thức trong khu vực quốc doanh
 
Một trong nhiều yêu cầu để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch trong việc kiểm toán chi thu của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong lịch sử đảng, CSVN đã đưa ra bản báo cáo từng phần ngân sách nhà nước năm 2005. Theo đó, riêng trong lãnh vực quốc doanh, 19 tổng công ty và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến thua lỗ và công ty quốc doanh đã làm kinh tế theo một chính sách “ phi kinh tế”. Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng; ngành giấy lỗ 199 tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn toàn không còn khả năng thanh toán phần nợ và lỗ lã.


Hiện tại, con số các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức tư nhân hóa) là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông như trên, thì trách nhiệm hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lã trên, nhà nước VN lại phải gánh chịu hay “ Đất nước VN” qua hơn 84 triệu dân, phải cật lực lao động để trả nợ? Và một khi đã “giải tư” theo cung cách vừa kể, công ty tư doanh  cổ phần sẽ thuộc về ai? và ai sẽ chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để thỏa mãn yêu cầu cũa những luật định WTO, vô hình chung, VN đã biến các công ty quốc doanh thành một loại công ty đặt dưới cơ chế bao cấp khác.


Ngoài ra, đừng quên rằng, đã từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm kinh tế bao cấp đã đưa đất nước vào ngõ cụt. Có thể nói nhận định gần đây của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng hiện tại, đã nói lên một cách rốt ráo vấn đề nầy: “ Trong hơn 10 năm qua, song song với vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng thành công, khu vực kinh tế nhà nước trên thực tế đã trở lại cơ chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền kinh tế thị trường “ bao cấp hiện vật” chuyển thành “ bao cấp tài chính”. Và cơ chế bao cấp này cũng chính là mọt hình thức của cơ chế xin – cho, đã trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở đến các cấp cao nhất của chính quyền”. 


Như vậy, VN làm thế nào và bằng cách nào để thực hiện được lời T.T Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên bố là trong vòng 5 năm tới, VN bảo đảm cổ phần hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?
 
Thách thức trong ngành ngân hàng
 
Cũng theo quy định của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch vụ ngân hàng  ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm sau khi gia nhập) có thể đầu tư  tối đa 30% tổng  số vốn của ngân hàng. Một khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ phần còn lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn vốn lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard currency), trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có khả năng đóng góp bằng những số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh đảo thị trường bằng những thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn này.


Theo thống kê mới nhất (2006), tín dụng của ngân hàng ngoại quốc dành cho Việt Nam là 14% trên số tổng dư nợ  cho vay là 60 ngàn tỷ đồng, tương đương với 360 tỷ Mỹ kim. Với sự hiện diện của ngân hàng ngoại quốc, liệu ngân hàng Việt Nam có học được cung cách quản lý, cùng những cơ hội phát triển về các mặt sản phẩm, vế những mô hình mới, hay về năng lực chuyên môn cho nhân sự v.v…không? Chính những yếu tố nầy sẽ góp phần vào việc hoạt động lành mạnh của ngân hàng.


Trở lại các Công ty ngân hàng VN, một trong những lý do các doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay, là việc nhà nước tiếp tục bơm tiền bù lỗ thông qua các ngân hàng quốc doanh. Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép từ nhà nước, bị bắt buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo tình trạng kinh tế.Và sau cùng, ngân hàng được nhà nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển. Do đó, việc cổ phần hóa ngân hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc. Và việc chuyển doanh nghiệp quốc doanh sang chế độ hoạt động của một công ty trách nhiệm hữu hạn là một việc làm không tưởng, ít ra trong những năm sắp tới vì những yếu tố sau đây: 1- Người quản lý ngân hàng hiện tại vẫn còn giử não trạng càng cải tổ chậm càng có lợi, do đó, họ cố gắng trì hoản công việc nầy; 2- Một khi có cổ phần hóa, “những ông chủ ngân hàng” sẽ bị chi phối và giám sát do các nhóm lợi ích khác, do đó, quyền hạn của họ sẽ bị hạn chế, kéo theo mức thu nhập cá nhân của họ sẽ bị giảm đi vì không còn khả năng móc ngoặc hay làm những điều sai trái; 3- Các cấp quản lý trong đảng sẽ mất hẳn quyền lực một khi ngân hàng đã được cổ phần hóa toàn phần.
 
Thách thức về đầu tư
 
Một khi đã vào WTO, điều đó không có nghĩa là thế giới sẽ tuôn tiền vào đầu tư ở Việt Nam để cho con tàu Việt Nam vượt đại dương đi khắp năm châu., dù cho điều kiện phát triển ở Việt Nam hiện tại vẫn còn là điều kiện tối ưu cho đầu tư ngoại quốc. Lý do là Việt Nam hiện chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cho việc phát triển. Đó là hạ tầng cơ sở cần có để phát triển trong thế toàn cầu hóa ngày nay.


WTO sẽ không ảnh hưởng trực tiếp vào mỗi người Việt một sớm một chiều được qua mức tăng trưởng của lợi tức đầu người hàng năm. Đó chỉ là những con số biểu kiến, nói lên mức đầu tư của ngoại quốc trong các chương trình xây dựng hạ tầng cơ sở (nếu có) như năng lượng, cầu cống, đường xá, và tất cả các nhu cầu kiến trúc quốc gia cần thiết cho sự phát triển xã hội.


Do đó, trong những năm đầu nếu thực sự có mức đầu tư ồ ạt của thế giới, người dân chưa ắt hản có được một đời sống kinh tế khá hơn.


Và, với cung cách làm ăn hiện tại của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư, điều cần nhất là phải thay đổi não trạng sơ cứng, suy nghĩ mang lợi trước mắt mà không nhìn hại ở sau lưng (phát triển không bền vững, không bảo vệ môi trường chẳng hạn) bằng cung cách làm ăn thật thà, làm thật, nói thật, và sống thật với nhau. Làm như thế mới hy vọng gây được niềm tin cho đối tác đầu tư ngoại quốc, và họ sẽ dễ chấp nhận trong điều kiện đôi bên cùng có lợi (win-win situation).


Một vài thí dụ căn bản trong tương lai là, trong kỹ nghệ dệt may chẳng hạn, nếu để nhà đầu tư ngoại quốc tin tưởng và hợp tác, họ sẽ mang nguồn vốn, máy móc, công nghệ dây chuyền sản xuất mới cùng cung cách quản lý mới. Từ đó, mức sản xuất dĩ nhiên sẽ tăng bội phần và mang theo lợi nhuận về cho cả hai phía đối tác. Và hơn nữa, người công nhân lần lần sẽ được cải thiện trong lao động như làm ít giờ hơn theo tiêu chuẩn lao động thế giới, có đầy đủ chương trình bảo hiểm xã hội, và sau cùng đời sống kinh tế của công nhân sẽ được nâng cao do mức đãi ngộ của công ty đã điều chỉnh một khi đã có lời nhiều.


Một điểm quan trọng cần nêu ra đây là nhu cầu cần đầu tư ngoại quốc trong lãnh vực môi trường.Theo cam kết về dịch vụ môi trường khi Việt Nam gia nhập vào WTO là, Việt Nam sau bốn năm, dịch vụ môi trường có thể có được 100% vốn nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam.


Một điều rõ ràng và chắc chắn là lối giải quyết những vấn nạn môi trường hiện tại của Việt Nam chỉ làm tăng thêm nguy cơ ô nhiễm ở cả ba dạng của môi trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm qua sức tàn phá môi trường do phát triển và không cân bằng việc bảo vệ môi trường.


Cho đến nay, những nhà đầu tư ngoại quốc trong lĩnh vực nầy chỉ có thể cấp vốn không quá 51% của dự án, và công ty nước ngoài phải chấp nhận tối thiểu là 20% cán bộ quản lý và chuyên môn người Việt Nam. Điều nầy là một trong những yếu tố chính làm tắt nghẽn nhiều dự án cải tổ môi trường như thiết lập các nhà máy xử lý nước rỉ của rác sinh hoạt và phế thải kỹ nghệ. Bao nhiêu dự án đều bị thất bại nửa chừng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hai nguyên nhân chính là do cung cách quản lý tồi và nạn tham nhũng. Dự án kinh Nhiêu Lộc đã tiêu tốn ngân sách trên 200 triệu Mỹ kim vào năm 2000, và hiện tại, năm 2007, cũng trên 200 triệu khác bị thất thoát do các cty Đại Hàn và Đài Loan móc ngoặc với tham nhũng. Mặc dù đầu tư ngoại quốc rót vào cho các dự án trên hàng trăm triệu Mỹ kim trong những năm gần đây như dự án Bãi rác Đông Thạnh, Gò cát I và II, III, và IV, dự án khu liên hiệp Đa Phước v.v…tất cả đã để lại và làm cho môi trường ngày càng xấu đi.


Đây mới chính là một thách thức lớn nhất cho Việt Nam. Nói một cách rốt ráo, Việt Nam cần phải mở rộng cánh cửa để cho nhà đầu tư ngoại quốc trực tiếp đầu tư nguồn vốn, thiết bị, quản lý và vận hành nhà máy để rối từ đó, Việt Nam có điều kiện học hỏi một cách chính xác và thực tế hơn qua kinh nghiệm của những chuyên gia nước ngoài.


Hệ thống hành chánh chánh thức của Việt Nam hiện tại gồm ba cơ chế khác nhau: - cơ chế đảng ủy gồm khoảng 270 ngàn cán bộ; - cơ chế công nhân viên chức gồm 210 ngàn nhân viên; - và cơ chế tại địa phương gồm cả đảng ủy và nhân viên, có độ 280 ngàn. Có thể nói cả ba cơ chế tạo thành một thủ tục hành chánh trùng lấp, và chồng chất lên nhau ở nhiều giai đoạn. Thủ tục từ đó trở nên phức tạp làm cho người dân khó tiếp cận trực tiếp và được giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng.


Tất cả vì cung cách đùn việc, chuyển việc qua những nhân sự khác vì sợ trách nhiệm cũng có. Cung cách cường quyền cũng thể hiện nhiều mặt nơi đây, đôi khi vượt khỏi quyền hạn hay luật định của cán bộ có trách nhiệm quyết định sự việc. Tất cả chỉ vì cơ chế không rõ ràng và sự thiếu minh bạch trong khi giải quyết các thủ tục hành chánh cho “ông chủ của đất nước” là người dân đen.


Vào đầu tháng 4,2007, tại Hà Nội, ông Scott Jacobs, Chủ tịch hảng tư vấn Jacobs&Associates, trong hai ngày hội thảo dưới đề tài:”Đơn giản hóa thủ tục hành chánh: Kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý chính sách cho Viêt Nam” do Viện Quản lý Kinh tế trung ương tổ chức. Ông đã trình bày một tham luận về:”Kinh nghiệm toàn cầu về cải cách thể chế và quản trị kinh tế trong nền kinh tế WTO”, trong đó, ông đã phân tích cải cách thể chế (regulatory reform) tại nhiều nước trên thế giới, cũng như giới thiệu một số mô hình cải cách như mô hình “máy xén” (guillotine) . Các quy định trong mô hình kinh tế mở nầy cần phải có để nâng cao năng suất và cải cách thể chế để có thể đạt được mục tiêu tạo ra một thể chế chi phí thấp, ít rủi ro đồng thời bảo đảm các lợi ích môi trường và an toàn sức khỏe.
 
Muốn đạt các mục tiêu trên, ông nói tiếp, Việt Nam cần phải sàng lọc các quy định hiện hành, có cơ chế phản biện và tham vấn tốt để bảo đảm các quy định mang lại phẩm chất cao, xây dựng các thể chế tốt để bảo đảm cơ sở hạ tầng, và sau cùng, về nhân sự cần phải được phân nhiệm rõ ràng, cụ thể, và không thể thiếu vắng tính minh bạch trong nhiệm vụ.


Việt Nam cũng vừa đưa ra Đề án 30, tức là Đề án “Đơn giản hóa thủ tục hành chánh trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010” do Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng ký duyệt.


Tuy nhiên, mặc dù có nhiều chuẩn bị trên giấy tờ như đã nói trên, nhưng trên thực tế, cung cách quản lý của Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều nan đề cần phải giải tỏa. Được biết, vào cuối thập niên 1980, Ngân hàng Thế giới đã cử chuyên viên đến nghiên cứu việc cải cách hành chánh thí điểm ở tỉnh Quảng Bình trong bốn năm. Nhưng kết quả sau cùng chỉ là con số không vì các báo cáo, đề nghị cải tổ không được Việt Nam lưu tâm đến. Một thí dụ khác cho công cuộc cải các hành chánh thất bại khác của Việt Nam là vào năm 1999, Đề án 112 được bắt đầu thực hiện mạng lưới giữa các Bộ, Ngành ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý. Đề án đã tiêu tốn trên 4.000 tỷ Đồng Việt Nam, tương đương 2,4 tỷ Mỹ kim. Và mới đây, vào tháng tư, cũng chính Nguyễn Tấn Dũng đã ký thông tư chấm dứt Đề án vì thất bại hoàn toàn cũng như không quy trách nhiệm và xử phạt ai cả!. Con số 2,4 tỷ Mỹ kim đã tan thành mây khói.


Để bù lại việc nầy, ngày 21 tháng 5 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng vừa ký kết với Steve Ballmer, TGĐ Điều hành Cty Microsoft một hợp đồng mua bán quyền xử dụng phần mềm nhằm thúc đẩy công nghệ thông tin trong lãnh vực hành chánh và ngân hàng. Lại một chi tiêu khổng lồ mới sẽ làm tăng số nợ ngoại quốc Việt Nam đã phải bắt đầu trả một phần vốn và tiền lời mỗi năm trên 2 tỷ Mỹ kim.


Vì vậy, trong hiện tại, muốn thực sự cải cách, cần phải thanh toán hệ thống hai chính quyền đang tồn tại từ trung ương đến địa phương. Số nhân viên của đảng ủy trong cơ chế chính quyền cao hơn số nhân viên hành chánh trên toàn quốc, làm sao có thể có được một sự vận hành quốc gia ổn định nếu chỉ phải cải tổ hành chánh trong giới công nhân viên chức mà thôi? Nói về ngân sách, dù đây là một bí mật quốc gia, nhưng chỉ cần nhìn kỹ lại chúng ta sẽ thấy đảng đang sở hữu và quản lý một khối lượng chi tiêu và tài sản khổng lồ so với tổng ngân sách quốc gia.


Thêm nữa, làm sao có thể thực hiện được cải cách hành chánh khi nền tư pháp không được độc lập, các tòa án chỉ xử theo quyết định của cấp đảng ủy mà thôi.


Và điều sau cùng, quân đội và công an phải là công cụ chung và trung thành chỉ với tổ quốc và chỉ phục vụ cho nhân dân. Hai cơ quan nầy không thể nào phục vụ và trung thành với đảng cộng sản được.


Do đó, Việt Nam cần thực hiện các cải cách kể trên trước khi nói đến cải cách hành chánh để hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa ngày nay.
 
Thách thức trong vần đề công nhân và chuyên viên
 
Căn cứ theo lý thuyết kinh tế Clarke, sự phát tiển của một quốc gia tiến hành qua ba giai đoạn: giai đoạn phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp và phát triển dịch vụ. Tại các quốc gia kỹ nghệ cao, phát triển công nghệ và dịch vụ rất cao và chiếm tuyệt đại đa số. Như Hoa Ky chẳng hạn hiện tại chỉ có khoảng một triệu nông dân (0,30% dân số) cung cấp lương thực và thực phẩm cho toàn quốc và viện trợ khắp nơi trên thế giới.
 
Kể từ khi bắt đầu mở cửa để phát triển, hiện tại Việt Nam có 90 khu chế xuất (KCX) hay khu công nghiệp (KCN) và dự kiến vào năm 2010 sẽ có thêm 60 KCX và KCN mới. Do dó vấn để đặt ra ở đây là việc đào tạo và cung ứng đủ số lượng công nhân trong những ngày sắp tới.


Riệng tại Sài Gòn chẳng hạn, hiện có 15 KCX, trong đó có trên 1.000 doanh nghiệp đang hoạt động thu dụng 210.000 lao động. Đến năm 2010, Sài Gòn dự kiến tăng thêm 300 ngàn lao động có tay nghề kỹ thuật và chuyên môn cao như cơ khí, điện, điện tử, công nghệ thông tin v.v…


Sự chuyển dịch qua giai đoạn công nghiệp đòi hỏi thêm lao động chuyên môn, nhưng tình trạng ở Việt Nam hiện tại, có thể nói hầu hết lao động là lao động phổ thông (95%). Vấn đề đào tạo thêm lao động sẽ là một vấn đề lớn cho Việt Nam trong những năm sắp tới.


Tệ trạng luôn luôn thừa lao động tay chân, nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao, vì Việt Nam chưa thực sự chuẩn bị cho việc huấn nghệ lao động thích ứng với những đề án đấu tư phát triển mới: vì vậy, thu nhập nhiều đầu tư ngoại quốc, xây dựng thêm nhiều nah máy sản xuất, nhưng lại thiều lao động kỹ thuật cũng là một khiếm khuyết lớn của Việt Nam. Thách thức nầy là một trọng tâm để Việt Nam suy gẩm và  chuẩn bị trước khi phải đối mặt với việc con trâu đứng trước cái cày.


Thêm một tầng lớp lao động mới nữa cũng cần phải đề cập nơi đây là giới luật sư. Việt Nam mới vừa gia nhập vào WTO mà đã có trên 20 vụ kiện trước mắt về bán phá giá và tình trạng nầy chắc chắn sẽ tăng thêm từ đây đến cuối năm vì những tin tức dồn dập vềcác mặt hàng xuất cảng của Việt Nam bị nhiễm trùng, chứa dư lượng hóa chất độc hại cao, ghi sai thương hiệu (giả dối), … do đó các vụ kiện theo sẽ không thể tránh được. Hiện tại, lực lượng luật sư chuyên về mặt tranh chấp thương mại hầu như chưa xuất hiện. Với hiện trạng trên, chắc chắn Việt Nam sẽ phải thua thiệt trong những vụ kiện sắp tới đây.
Đào tạo một luật sư chuyên môn trong lãnh vực thương mại quốc tế không pahỉ là câu chuyện một sớm một chiều và cần phải đài tạo với một số lượng lớn để đáp ứng với tình thế mới.


Việt Nam đã lưu tâm và chuẩn bị chưa?
 
Thách thức trong khả năng chuyển vận hàng hóa
 
Việc gia nhập vào WTO đòi hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về chuyển vận hàng hóa hai chiều. VN đã chuẩn bị vấn đề này như thế nào? Các thông tin dưới đây tương đối đầy đủ để mô tả tình trạng vận chuyển đường biển của VN.  


Chỉ bốn ngày sau khi được bãi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyển vận hàng hóa APL, Hoa kỳ đã bắt đầu hoạt động trở lại cho các tuyến đường Mỹ – Việt Nam. Đây là một đại công ty trong dịch vụ chuyển vận trên 50 quốc gia. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX) và Haiphong China Express (HCX). Những dịch vụ này đã rút ngắn thời gian vận chuyển trong những năm trở lại đây: Từ Sài Gòn đến Seattle chỉ còn 15 ngày, và Saigòn đến Los Angeles là 17 ngày. Còn Hải Phòng đến Seattle và Los Angeles là 13 và 15 ngày. Ưu điểm này đã làm giảm giá thành và tăng thêm lượng hàng hóa giao thông do việc gia tăng lượng chuyển vận đi - về.


Trong khi đó, tình trạng vận tải đường biển của VN hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu vận chuyển viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên 1000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu vực. Các tàu vận chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho nên không có khả năng giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường biển. Và bất lợi hơn nữa là giá thành vận chuyển cao và vòng xoay đi - về không đạt hiệu quả kinh tế.


Theo thống kê 2005, đội tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa hai chiều mà thôi. Trong lúc đó những nước nhỏ láng giềng như Singapore chỉ có khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng tải lên đến 36,5 triệu tấn. Thậm chí, đội tàu của Campuchia đã chuyển vận gần 5 triệu tấn, hơn VN hàng triệu tấn. Do đó, ngay tại sân nhà, đội tàu VN đã bị lấn áp bởi các công ty ngoại quốc như Maersk line, NYK, P&O trong dịch vụ chuyển vận dầu thô và hàng hóa trong vùng.


Những thông tin trên cho thấy rằng VN còn phải đối mặt với nhiều sức ép sau khi gia nhập vào WTO, và nếu không có kế hoạch tạo dựng một lực lượng tàu với trọng tải lớn hơn, huấn luyện nhân viên quản trị chuyển vận, cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản lý điều hành, thì cuộc chạy đua cạnh tranh với quốc tế sẽ thấy VN ở thứ hạng thấp nhất.


Vào tháng 12,2007, Ban chấp hành Trung ương đảngCS Việt Nam đã ra nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó đề ra những điểm chính sau:


-     Việt Nam phải phấn đấu để trở thành một quốc gia mạnh về biển;

-     Xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn liền với các hạot động kinh tế biển làm động lục quan trọng đối với sự phát triển của các nước.


Chiến lược còn đặt ra chỉ tiêu cho năm 2020 là kinh tế biển phải đóng góp 53- 55% cho GDP và 55- 60% cho xuất khẩu của cà nước.


Chiến lược không nói đến căn cứ vào dữ kiện nào mà Việt Nam có thể đạt được những thành tích nhảy vọt trên mặc dù khả năng chuyển vận đường biển của Việt Nam hiện tại như đã nói trên còn quá yếu, kém cả nước láng giềng là Cambodia. Không đủ khả năng bốc dở hàng hóa, cũng như các bến cảng không đủ sức cho các tàu có trọng ati lớn, cùng tiến độ bốc dở còn chậm lụt… tất cả làm cho giá thành của sản phấm xuất và nhập cảng cao hơn giá thành thực sự.


Thách thức nầy cũng là một trong những ưu tiên cần giải quyết vì Việt Nam nặng về xuất cảng hàng nông phảm và thủy sản. Đó là những mặt hàng nặng về trọng lượng nhưng nhẹ về hiệu quả kinh tế.
 
 
Thách thức trong ngành viễn thông và điện thoại di động
 
Đây là một ngành tương đối mới ở VN mà trong những năm gần đây mức tăng trưởng của việc xử dụng điện thoại di động tăng từ 60 đến 70% hàng năm. Tính đến 2005, tổng số điện thoại di động thuê bao ở cả nước đạt được 12 triệu . Chính vì lý do đó, các hảng điện thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient Technologies đã khai thác và ráo riết cung cấp dịch vụ ở VN. Trong lúc đó, VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc doanh mạng di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone, E-mobile đang hoạt động, và một công ty mới sắp ra mắt là Hanoi Telecom.


Đứng trước sự xâm nhập của các đại công ty ngoại quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các công ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước viễn thông của VN giảm dần và đang ở mức giá trung bình tại ĐNA, không còn đứng đầu như cách đây năm năm. VN cũng đã dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù cổ phần hóa (tư nhân hóa) các công ty trên để có thể hội nhập vào thị trường chứng khoán tự do.


Nhờ vào những lợi điểm trên sân nhà, VN đã đẩy mạnh chương trình viễn thông di động, tuy nhiên với nguồn vốn không đủ lớn, sau khi hội nhập cuộc chơi WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai thác sức mạnh nguồn vốn để thôn tính các công ty VN qua các điều kiện thuận lợi trong thị trường VN, mặc dù trong giai đoạn chuyển tiếp, các công ty nước ngoài chỉ được đóng góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác VN đã được cấp giấy phép.


Hơn nữa, ngoài khả năng nguồn vốn, công ty ngoại quốc còn ở thế mạnh về công nghệ sản xuất và cung cách khuyến mãi theo cung cách tư bản làm cho công ty VN khó có khả năng đối đầu ở mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng có thể dùng thời gian còn đặc ân 12 năm để làm rào cản hạn chế bớt sự xâm nhập của các công ty viễn thông ngoại quốc vào VN.


  Cũng cần lưu ý là, hiện tại VN chú trọng nhiều đến viễn thông di động, nhưng không phát triển viễn thông “cố định”, tức là điện thoại dùng hệ thống dây cáp quang để có thể liên lạc và thông tin khi có biến động xảy ra như chiến tranh hay áp lực của thế giới tây phương. Vì còn lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động được việc điều hành vệ tinh viễn thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị gián đoạn, vì các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn thông có thể cắt đứt hợp đồng trước sức ép của quốc tế(!) để gây khó khăn cho VN.


Sau vụ động đất ở Đài Loan vào tháng 2, 2007 làm tê liệt hệ thống cáp quang của Đài Loan và Việt Nam do Việt Nam thuê bao. Tình trạng nầy đã cắt đứt hệ thống điện thoại viễn liên của Việt Nam trong nhiều ngày. Sau đó, Việt Nam đã quyết định xây dựng hệ thống cáp quang riêng do cty Hoa Kỳ thiết kế và thực hiện. Tuy nhiên do tình trạng kinh tế chung (nghèo) của người dân không ổn định, các hệ thống cáp quang vừa được lấp đặt lại bị những tàu “đánh cá” “đánh cắp” hàng trăm hàng ngàn tấn dây cáp quang để lấy đồng (copper) đem đi bán. Theo ước tình của Việt Nam sự thất thoát cho đến nay đã lên đến hàng trăm triệu Mỹ kim.
 
T.S Branco Milanovic, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định cần suy gẫm. Đó là “Toàn cầu hóa đã làm tăng thêm sự bất bình đẳng giữa công dân của những nước giàu nhất cũng như giữa các quốc gia đang phát triển”. Lý do làm ông đưa ra nhận định trên là những phản ứng trái ngược từ phía các quốc gia kỹ nghệ và những nước đang phát triển đối diện với sự phất triển của ẤnĐộ và Trung Quốc.


Đó là:


-     Các cường quốc trong WTO “khó chịu” trước nhũng bước tiến của TQ và AĐ, dù họ cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn cầu hóa do các cường quốc khơi mào.


-     TQ và AĐ hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có một phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn vinh. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa dân thành thi và nông thôn, giữa miền duyên hải và nội địa ở Trung Quốc; những bất ổn chính trị cũng có thể tự đó mà có.


Tại VN, sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối mặt với tình trạng môi trường hầu như bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt.


Việc phát triển và xuất cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có đem lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL hay không?  Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố lớn, nhìn vào tệ trạng học sinh bỏ học hàng loạt trong những năm gần đây, nhìn vào việc chấp nhận “làm dâu” người ngoại quốc của các thiếu nữ miền Tây, nhìn vào tất cả những hình thái tệ hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đã có thể hình dung câu trả lời.


Thêm nữa, việc khai thác quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến những thảm họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu VN tiếp tục khai thác như những năm vừa qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất bị sa mạc hóa.


Đây cũng là nguyên nhân dự báo trước khiến cho tâm lý người dân ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất lòng tự trọng để làm bất cứ việc gì chỉ vì kế “mưu sinh”. Chính họ đã xem nhẹ số phận của chính mình và không còn niềm tin vào chính sách của nhà nước nữa. Tâm lý trên đã tạo ra một thái độ bất cần đời, bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có thể tạo ra những bất ổn xã hội vì “cơm áo”. Từ đó có thể đưa đến một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào trong tầng lớp bần cùng này. Đây cũng là một cản ngại mà VN cần phải lưu tâm.
 
Thay lời kết
 
Sự phát triển xã hội của một quốc gia được đánh giá là bền vững khi tầng lớp trung lưu chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ. Và chính tầng lớp trung lưu nầy là tác nhân điều tiết mọi biến động kinh tế của quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức tăng trưởng có đều nhưng đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng, và trong tình trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ chiếm theo ước tính độ 30% chưa đủ để làm chất đệm cho xã hội. Chính hai yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh tế của VN là chưa bền vững được.


Đồng thời với việc gia nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đã lên tiếng báo động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị mất việc vì cạnh tranh. Vấn đề được đặt ra nơi đây không phải là những con số dương tính hay âm tính. Nhưng la,ø việc VN cần soi chiếu vào tình trạng hiện tại của quốc gia để hoạch định hướng hội nhập thích nghi với tiến trình toàn cầu hóa trong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước trong tiến trình trên.


Qua những gợi ý về những cản ngại căn bản trên, việc gia nhập vào WTO của VN không phải là một yếu tố đòn bẩy chủ yếu tạo nên tăng trưởng kinh tế quốc gia.  Điều cốt lõi là VN cần phải chuyển đổi não trạng, xác định rõ chính mức tăng trưởng kinh tế quốc gia  mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy  quá trình hội nhập của VN để được thành công hơn. Đây mới đúng là mục tiêu tối hậu của việc hội nhập vào cuộc chơi của toàn cầu.


Muốn đạt mục tiêu, VN cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng trong quản lý, nghĩa là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng luật định của quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ nhân vật cao cấp nào trong đảng. VN cần phải bình đẳng và công bằng trong mọi quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong vấn đề quản lý kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung. Đặc biệt là cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây mới đích thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất nước.


Làm được như thế, VN sẽ giảm bớt gánh nặng phá sản của các công ty quốc doanh, kéo theo mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ “xấu”. Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính của tình trạng tham nhũng trong nước.


Một yếu tố sau cùng cũngcần cảnh báo cho Việt Nam là khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng so với trước kia. Điều nấy chính là một nghịch lý lớn trong phát triển. Theo công bố mới nhất của Ngân hàng Thế giới vào tháng 3,2007 qua hội thảo “Công bố báo cáo cập nhật nghèo”, tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam là 5.766 Đồng/ngày (tương đương 0,30 Mỹ kim), trong lúc đó tiêu chuẩn nghèo của LHQ là 2 Mỹ kim/ngày. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng nơi rộng ra, và phúc lợi tạo ra do phát trỉển không phân phối đồng đều cho người dân.


Những nguyên nhân chính cho tệ trạng kể trên  là: 1- Việc xử dụng vốn đầu tư cho quốc gia không hiệu quả làm cho nỗ lực xóa đói giảm nghèo không tiến triển như ý muốn; 2- Việt Nam phải mất 5 Mỹ kim đầu tư để có được 1 Mỹ kim tăng trưởng thay vì 3 Mỹ kim như ở các quốc gia đang phát triển trong vùng. Thử hỏi 2 Mỹ kim thất thoát đó có phải là do môi trường tham nhũng tạo ra hay không? Và đây củng chính là nguyên nhân chính đẩy cao khoang cách giàu nghèo.


Do đó, muốn thực sự hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa qua WTO, Việt Nam  cần phải thay đổi toàn diện và triệt để. Cái đuôi “Kinh tế thị trường theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa” đã thất bại hoàn toàn qua những chứng minh trên. Từ đây, từ giờ phút nầy, thiết nghĩ, cường quyền cần phải lột bõ não trạng cũ để thay đổi và thành thật với chính mình. Thay đổi kinh tế không chưa đủ, cần phải thay đổi toàn diện những vấn đề của xã hội, từ bõ độc quyền lãnh đạo, căn nguyên của tất cả những bế tắc của Đất Nước hiện tại. Trong giai đoạn chuyển tiếp còn gọi là thời kỳ quá độ, người cộng sản thường hô hào là tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa bằng con đường “kinh qua” giai đoạn tư bản chủ nghĩa hiện nay. Nhưng đây, chỉ là những bước tiến “cổ điển” của một quốc gia đang phát triển đi lên tư bản chủ nghĩa thời phôi thai ở vào đầu thế kỷ 19. Đó là bước đầu của cách mạng cơ khí và công nghiệp mà chính người cộng sản đang dọ dẫm và mò mẫm học con đường nầy trong gượng ép và dưới sức ép của sự sống còn của một tầng lớp tư bản “đỏ” mới.


Sau nhiều thập niên sống trong chiến tranh, sau hơn 32 năm phát triển trong hòa bình, rõ ràng cơ chế quản lý bao cấp cũng như cơ chế quản lý theo cung cách phát triển thị trường tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho đến nay đã đem lại cho người dân được gí? Có chăng là tuyệt đại đa số dân chúng chỉ cầu mong hàng ngày được thỏa mãn nhu cầu sống còn ở bậc thấp nhất là miếng cơm manh áo.


Bao giờ người dân Việt mới có thể bước thêm một bước nữa để đạt được các nhu cầu cao hơn như được sống trong an bình, được trân trọng, và sống có lý tưởng để góp phần vào công cuộc đóng góp cho quốc gia!
 


Mai Thanh Truyết
Orange, Tháng 7, Đinh Hợi
 



http://www.nguoiviet4phuong.com/anhduong/index.php?option=com_content&task=view&id=763&Itemid=1&limit=1&limitstart=4
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-11 21:54:08Ngọc Lý>
Kinh tế VN: Đánh giá và khuyến nghị

[/align]BBC



[/align]
Xuất khẩu của VN đạt 40 tỷ đôla vào năm 2006, chiếm 65% GDP

Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review) trong số ra đầu tháng Chín có bài đánh giá về kinh tế Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị.

[/align] 

[/align]Bài báo với tựa Vietnam: "Beyond Fish and Ships" (Việt Nam: Tiến xa hơn Thủy sản và Đóng tàu) mở đầu bằng việc đánh giá một số thành tựu trong chiến lược kinh tế biển của Việt Nam.

Việt Nam hiện coi thủy sản, đóng tàu, dầu khí và du lịch biển là thế mạnh.

Chính phủ hy vọng cho tới năm 2020 thì các ngành vừa kể sẽ chiếm tới phân nửa GDP so với mức 15% vào năm 2005.

Ngoài kinh tế biển, VN cũng đang nổi lên như nhà xuất khẩu hàng đầu về cà phê, hồ tiêu, cao su, hàng may mặc và giầy dép.

Kinh tế với xuất khẩu các mặt hàng dạng thô cũng giải quyết được hàng triệu lao động giản đơn mà đa số lao động là nữ và đến từ vùng nông thôn.

Tuy nhiên các chuyên gia khuyến cáo rằng việc dựa vào lao động rẻ không phải là chiến lược phát triển có tính sống còn về lâu dài.

 Có các thế lực trong bộ máy của Đảng và Nhà nước đang hưởng lợi về kinh tế muốn duy trì cơ chế hiện nay
[/align][/align]Far Eastern Economic Review

[/align][/align]
Đó là bởi giá trị từ lao động trực tiếp của hàng gia công chỉ chiếm 3-4% tổng chi phí thành phẩm chưa xuất khẩu và chiếm chưa tới 1% giá của sản phẩm khi mang ra bán lẻ.

Đối với các nhà đầu tư thì các chi phí khác như giá điện, vận tải, viễn thông, an ninh, chi phí hành chính và tham nhũng có thể coi là ngang hoặc thậm chí quan trọng hơn giá nhân công ở VN.

Theo A.T. Kearny, một hãng tư vấn quản lý, thì giá điện tại VN tương đương với Trung Quốc và Thái Lan và cáo hơn giá điện tại Indonesia và Malaysia.

Chi phí vận tải đuờng biển của VN nằm trong số 5 nước cao nhất. Giá cước viễn thông và giá thuê văn phòng cũng rất cao.

Các kinh tế gia chỉ ra rằng VN nên chuyển dần từ nền kinh tế gia công vốn sử dụng nhiều nguyên vật liệu phải nhập sang các ngành công nghiệp công nghệ cao.

Thực tế cho thấy thành công từ các nước Đông Á cho thấy họ chủ động tập trung vào các mặt hàng như điện tử, xe hơi, ... vốn đang chiếm thị phần ngày càng tăng tại Bắc Mỹ và Âu châu.

Tuy nhiên để thực thi được hướng đi "công nghệ cao" thì đòi hỏi phải có những thay đổi về chính sách một cách nhất quán đối với một loạt các vấn đề từ quản lý kinh tế vĩ mô tới cải cách hệ thống pháp luật.

Các kinh tế gia (tác giả bài báo) khuyến nghị ba ưu tiên cho các nhà hoạch định chính sách.

Những điểm cần xem lại


Thứ nhất họ chỉ ra rằng VN cần chú trọng nhiều hơn về giáo dục.



VN thừa tài năng "thô" và thiếu "kỹ năng ứng dụng"

Việt Nam không thiếu "tài năng thô" khi ra thử sức tại kỳ thi toán Quốc tế nhưng các trường đại học lại không tôi luyện được các nhân tài này để sử dụng kỹ năng của họ vào các ngành công nghiệp hoặc đưa họ vào các dự án nghiên cứu phục vụ cho lợi ích kinh tế.

Các trường đại học VN cũng có số các tạp chí và ấn phẩm công nghệ và khoa học thấp nhất trong vùng.

Trung Quốc mặc dù dành ít ngân sách hơn cho giáo dục so với VN nhưng một số trường đại học tốt nhất của Trung Quốc đang gần đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Xét về thị trường vốn tại VN như điểm đáng khuyến nghị thứ hai, bài báo nhận định rằng trong khi doanh nghiệp khó kiếm tín dụng dài hạn thì các nhà đầu tư trong nước đổ xô vào thị trường chứng khoán vốn đang quá nóng.
Các tác giả nhận xét rằng giá cổ phiếu không được phản ánh dựa trên thực lực công ty.

Chứng khoán tay trong


Thị trường chứng khoán được thao túng bởi các vụ mua bán nội gián và thực trạng xào nấu thông tin.


 Thị trường chứng khoán bị thao túng bởi các vụ mua bán nội gián và thực trạng xào nấu thông tin

Khảo sát của Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) cho thấy các công ty lớn nhất của Việt Nam đang đầu cơ khá nhiều vào bất động sản và thị trường chứng khoán nhằm thu lời nhanh chóng.

Tức là những động thái này cùng với thực tế doanh nghiệp khó đi vay là chỉ dấu rõ ràng là thị trường vốn đang không hoạt động theo mục đích ban đầu của nó là huy động vốn nội địa và đưa vốn này vào các dự án đầu tư mới.

Tác giả bài báo cũng lưu ý các nhà hoạch định chính sách về một điểm thứ ba là hạ tầng cơ sở tại VN còn kém.
20 năm đổi mới kinh tế nhưng hiện VN chưa có một cảng nào đáp ứng được tàu biển cỡ lớn.

Dự án xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên, vốn được khởi động năm 1995 với dự kiến chi phí là 1.3 tỷ đôla nay được lên kế hoạch sẽ hoàn tất vào năm 2009 với chi phí là 2.5 tỷ đôla.

Lỗi hệ thống?


Bài báo nói rằng hệ thống chính trị VN cho thấy lợi ích kinh tế (đất, cổ phiếu, tín dụng...) được dàn trải đủ phần cho các chóp bu chính trị nhằm để đảm bảo ổn định và đoàn kết vùng miền cũng như giữ êm thấm cho các phe phái trong Đảng Cộng Sản cầm quyền.

Thế nhưng trong khi lợi ích chính trị được tư nhân hóa [đảng hóa] thì phí tổn kinh tế đang đè nặng lên bề mặt xã hội. [dân tộc]


Dân khiếu kiện về đất đai lan vào tới thành phố Hồ Chí Minh hồi tháng Bảy

Chất lượng kém của trường bậc phổ thông và đại học đã buộc các gia đình trung lưu vay mượn đủ kiểu để cho con vào trường tư hoặc cho con du học ở nước ngoài.

Việc trì hoãn thực hiện hoặc đội giá công trình công cộng làm chậm lại đà phát triển kinh tế và hút vốn từ các khu vực như y tế và giáo dục.

Giá đất cao ngất buộc dân nghèo thành thị sống chen chúc và nảy sinh các vụ khiếu kiện đất đai khi quan chức vơ các mảnh đất với giá rẻ để bán nhằm lấy lãi.

Bài báo cho rằng nhu cầu cần qui trách nhiệm công chức sẽ tăng trong bối cảnh xã hội ngày càng được đô thị hóa và kinh tế trở nên đa dạng và mở rộng.

Thế nhưng các tác giả cũng nói rằng cũng có các thế lực trong chính phủ và trong bộ máy của đảng và nhà nước, hiện đang hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế, muốn duy trì cơ chế như hiện nay.

Nguyên văn bài tiếng Anh Vietnam: "Beyond Fish and Ships" do các tác giả Jago Penrose, Jonathan Pincus và Scott Cheshier đăng trên FEER số tháng Chín 2007. Jago Penrose là một nhà tư vấn đóng tại Hà Nội, Jonathan Pincus hiện là trưởng kinh tế UNDP, còn Scott Cheshier hiện làm bằng tiến sĩ ở Queen Mary University of London. Bài viết thể hiện quan điểm của các tác giả.






Ngo Van Hoang
Bài viết khá hay, có tính lô gíc và về cơ bản là nói đúng các vấn đề, tuy nhiên những câu nhấn chữ đậm lại nhằm mục đích khác nói chung là về chính trị, không hay.

Nguyen Nghi, Hoa Kỳ
Tôi đặc biệt chú trọng đến vấn đề giáo dục của nhà nước, vì tương lai đất nước, điển hình là kinh tế VN, hoàn toàn tùy thuộc vào chính sách này. Người nhà tôi nói lại là hơn 90% học sinh trong nước (có điều kiện) mỗi ngày đều phải đi học thêm - sáng thì học trong trường, chiều tối thì học tư ở ngoài. Điều này chứng tỏ chương trình học không đáp ứng đúng và đủ cho một học sinh bình thường. Ở Mỹ không có cái vụ học thêm trường tư này, chỉ có những khoá luyện thi vào trường đại học chuyên nghiệp mà thôi. Kết quả là học sinh VN quá bận bịu với sách vở, nặng từ chương. Tôi mừng khi thấy họ đứng giải nhất nhì trong những kì thi trong nước và quốc tế. Nhưng có học thì phải có hành, như bài viết đã nêu lên. Bên Mỹ, ngay từ lớp ba lên tới đại học, năm nào cũng có ít nhất hai, ba projects, từ dễ đến khó, về mọi ngành (nhân văn, xã hội, khoa học, kĩ thuật...) để học sinh ứng dụng những điều học hỏi vào những vấn đề thực tế. Ngành đại học và hậu đại học cũng phải đạc biệt lưu ý. Tài năng giáo sư và những công việc nghiên cứu cần phải có phẩm lượng cao. Khi học xong, sinh viên phải được trọng dụng và đặt đúng vào ngành chuyên môn của mình. Hình như chính sách "trọng hồng hơn chuyên" vẫn còn áp dụng, không nhiều thì ít, trong nước nhà.
[/align] 

[/align]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/09/070910_vieteconfeer.shtml
 
_______________________________________

[/align]Nguyên bản Anh ngữ:
[/align]Far Eastern Economic Review
September 2007
Vietnam: Beyond Fish and Ships
by Jago Penrose, Jonathan Pincus and Scott Cheshier
[/align] 
[/align]Nguyen Huu Thanh left his university post in 1986 to take a job with a state-owned seafood processing company. After 11 years and countless administrative hurdles, he obtained a loan to set up a private seafood company to export to the Japanese market. Turnover in 2000, the company's first year of operations, was $5 million. By 2006 Viet Foods supplied nearly 40% of the sushi shrimp consumed in Japan, recorded revenues of $63 million, and employed 3,300 workers.


[/align]One thousand kilometers away in Hai Phong, the Nam Trieu shipyard, a member company of the Vietnam Shipbuilding Industry Group (Vinashin), is putting the finishing touches on another 53,000 deadweight ton vessel produced under contract to Graig Shipping of the United Kingdom. Vinashin, a state-owned conglomerate, posted $718 million in revenues in 2006 and claims to have orders worth around $10 billion.
 
[/align]Fish and ships are at the core of what Vietnamese planners call their "maritime economy," an idea set out in the government's "Ocean Strategy to 2020" published earlier this year. Offshore oil and gas and beach-front tourism are additional ways that Vietnam hopes to make the most of its 3,200 kilometers and marine resources. The government expects that by the year 2020, fish, ships, shipping, oil, tourism and related services will account for more than half of GDP as compared to 15% in 2005. Global demand for farmed fish and large ships is on the rise. Travel industry experts project that 50 million Chinese will travel overseas by 2010, and 100 million by 2020. Many of them will join Japanese, Korean and Taiwanese vacationers on Vietnam's new beach resorts and golf courses.
[/align]
The maritime economy also carries symbolic meaning. Having made a revolution in the rice fields of the Red River and Mekong deltas, Vietnam is now looking to the sea, driving forward a process that began with enterprise reforms in 1989 and extended through a European Union market access in 1995 and the landmark Bilateral Trade Agreement with the United States in 2001. World Trade Organization membership in 2007 is the culmination of a process that the Vietnamese know as doi moi or "renovation," but which in fact was a dramatic policy about shift. While China was breaking up its cooperative farms in 1978, Vietnam launched an ill-fated collectivization drive in the Mekong Delta that brought the country to the brink of starvation. Yet by 1996, Vietnam had disbanded its own collectives and ranked as the world's second largest rice exporter. The country has also emerged as a leading exporter of coffee, seafood, pepper, cashew, rubber as well as garments and shoes.
 
[/align]Vent for Surplus
 
[/align]Vietnam's economic achievements during the doi moi reform period are impressive. Annual growth of domestic output has averaged 7% over a 20-year period, and export growth has exceeded 20% per year.
 
[/align]Merchandise exports of $40 billion in 2006 represented 65% of GDP—a ratio that has more than doubled over the past decade.
 
[/align]Exports have driven Vietnamese growth in a classic "vent for surplus" fashion, as external demand has created incentives to bring underutilized labor and land into production. Rice, coffee, fish, garments, footwear and furniture producers have created millions of jobs, many of which have gone to unskilled, female workers from Vietnam's populous rural areas.
 
[/align]But even the most enthusiastic observers recognize that the economy still relies heavily on low wages and natural resources to propel exports and growth. And low wages are not in themselves a viable development strategy for the long period. Despite all the talk about off-shoring, labor in fact accounts for a tiny share of total costs in manufacturing. On average, direct labor in developing country manufactured exports represents only 3% to 4% of total costs at the port and less than 1% of retail prices.
 
[/align]Other costs, such as electricity, transportation, telecommunications, security, administrative costs and corruption are of equal if not greater importance to investors . And some of these costs are high in Vietnam relative to its competitors. According to A.T. Kearney, a management consulting firm, industrial electricity prices in Vietnam are on a par with China and Thailand, and higher than Malaysia and Indonesia. But Vietnam's shipping costs per kilometer are highest among the five countries, as are telecommunications and prime office space.
 
[/align]Another problem with vent-for-surplus commodities like rice, fish, pepper, shirts and shoes is that they are characterized by low income elasticities of demand. In other words, as people get richer they do not tend to buy more rice and coffee with their additional income. At the moment, Vietnam is extremely competitive in slow growth industries. One of the secrets of success of East Asian development has been a deliberate focus on income elastic goods like sophisticated electronics and automobiles, which capture a growing share of total spending in parts of the world like North America and Europe.
 
[/align]Political stability, geography, resource wealth, a rapidly growing domestic market and now WTO membership will all continue to make Vietnam an attractive investment destination for some time to come. Net foreign direct investment in 2006 was $2.3 billion, a 20% increase over the previous year, and is expected to rise again this year.


[/align]But as the country grows richer, it will need to diversify away from import-intensive and bulk commodities and towards technology intensive industries with greater growth potential. Most of Vietnam's existing firms are small, although a few large foreign firms operate in shoes and garments. Technology is simple, margins are thin and production is heavily dependent on imported inputs. Successful industrializing countries must eventually move beyond vent-for-surplus growth to develop domestic firms that achieve sufficient scale and technological capacity to meet international price and quality standards, and to integrate these firms into the global supply chains that dominate manufacturing in the 21st century.
 
[/align]New Policy Priorities
 
[/align]Following WTO entry, Vietnam has begun to attract investments into income elastic products. Companies like Intel, Foxconn, Compal and Nidec have announced new investments in electronic components assembly. The Saigon Hi-Tech Park has emerged as a technology hub bringing together foreign investors with domestic companies and research and training facilities. The goal is to replicate the Taiwanese and Chinese strategy of moving beyond assembly to link up foreign high-tech investors with domestic suppliers.
 
[/align]Implementation of this strategy will require decisive policy changes on a range of issues from macroeconomic management to legal system reform. But there are three areas which should become priorities for policy makers:
[/align]· Higher education. Domestic and foreign businesses routinely list skill shortages as the single largest obstacle to growth and technological upgrading. Vietnam is not lacking in raw talent, as shown by the country's gold medal haul at the most recent Math Olympiad. Toyota claims that training times for Vietnamese workers are the second fastest in the world. Yet the country's universities have failed to mold this talent into industry-ready skills or to produce economically-relevant research. Vietnamese universities record the lowest number of publications in scientific and technological journals in the region, and in 2002—the most recent year for which data are available—only two international patent applications were submitted by Vietnamese residents. Unlike China, scientific research institutes have only minimal links to business.

The crisis in higher education and research is not simply a matter of money. Although China spends a lower share of national income on education than Vietna m, some of its best universities are already approaching global quality standards. Universities in Vietnam are the last bastion of central planning, delivering outdated, centrally controlled curricula through systems that have not changed much since the 1980s. No progress will be made until universities and research institutes are given the autonomy they need to compete on the basis of quality, reputation and relevance.
[/align]
· Infrastructure. Vietnam emerged from decades of war and central planning with a massive infrastructure backlog. Roads, ports, airports, power stations, irrigation systems and water supply were all in need of reconstruction and development. Chronic delays and cost overruns in public sector projects have given rise to critical economic bottlenecks. After 20 years of reform, Vietnam still does not have a deep water port that can handle large container ships, adding some 28% to the cost of shipments to the U.S. Power outages are common in the major cities and the roads are congested to the point of gridlock. Construction of the country's first oil refinery, launched in 1995 at an estimated cost of $1.3 billion, is now expected to be completed in 2009 at a cost of $2.5 billion.
 
[/align]In 2000 the government approved plans to construct 17 new national research laboratories by 2005. Only two were in operation in mid-2007. Meanwhile, the government has approved plans to build a $33 billion high-speed railway linking Hanoi and Ho Chi Minh City, raising questions about public-sector priorities.
 
[/align]· Capital markets. As Vietnamese entrepreneurs struggle to find long term financing, domestic investors are crowding into overheated land and equity markets. The main VNI Index nearly tripled in value in the seven months after August 2006, before falling back 20% in recent months. Stock valuations are detached from corporate performance, and the market is driven by insider deals and manipulation of information. The market for luxury houses and apartments has once again caught fire. The UNDP survey found that Vietnam's largest firms are speculating heavily in the real estate and stock markets in search of quick returns. The formation of asset bubbles alongside credit constraints for business is a sure sign that the capital markets are failing in their primary function of mobilizing domestic savings and channeling it toward new investments. While banks pay negative real interest rates to domestic savers, companies such as Vinashin rely increasingly on foreign credits to finance expansion plans. Unhedged dollar-denominated debt is not only risky for the companies concerned, but also creates a political constituency opposed to depreciation of the Vietnam dong, which could ultimately penalize exporters.


[/align]Becoming Accountable
 
[/align]The common thread connecting these issues is public accountability. The Vietnamese system has proved adept at distributing economic and other benefits—land, shares, bank loans, professorships and so forth—to a wide enough swathe of the political elite to ensure stability and unity across regions and factions of the ruling Communist Party. But as political benefits are privatized, economic costs are socialized. The poor quality of domestic schools and universities forces middle class families to borrow beyond their means to educate their children privately or overseas. The delays and cost overruns that plague public-investment projects slow economic growth and divert funds from basic services like health and education. Soaring land prices force the urban poor into overcrowded housing and give rise to land disputes as officials snap up land cheaply and sell it on at profit.
 
[/align]Demands for greater public accountability are sure to intensify as society urbanizes and the economy diversifies and expands. But opposing forces, emanating from within the government and party apparatus and economic interests under or allied to sections of the party and state, can be counted on to defend the status quo. We can expect the leadership to approach reform cautiously and incrementally, taking care to steer a course that unleashes the dynamism of the economy without jeopardizing the nation's hard won unity and political stability. The open question is whether such a course is still available to them, and whether the winds of the international economy will continue to blow as favorably as they do today.
 
[/align]Mr. Penrose in an independent consultant based in Hanoi. Mr. Pincus is chief economist of the United Nations Development Programme in Vietnam. Mr. Cheshier is a doctoral candidate at the School of Business and Management, Queen Mary University of London.


[/align][/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-13 04:04:00Ngọc Lý>
Nguyễn Quốc Khải
Siêu Tư Bản và Thể Chế Dân Chủ
[12/09/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]


Hình (Lonely Planet): Thị Trường Chứng Khoán New York.

“Chúng ta có thể ở trong tình trạng hoặc chúng ta có một số ít người rất giầu có hoặc chúng ta có thể chế dân chủ. Nhưng chúng ta không thể có cả hai.”
Bill Gates, Sr.
(Luật sư và cha của Bill Gates, Jr., Chủ Tịch của công ty Microsoft).

Sự khác biệt giữa dân chủ và tư bản

Dân chủ có nghĩa là con người tự do. Tư bản có nghĩa là thị trường tự do. Dân chủ và tư bản cùng có một triết lý chính trị chung, nhưng cũng chỉ là hai phương pháp thử nghiệm nhằm giải quyết những vấn đề của con người trong những điều kiện không chắc chắn. Trong khi đó thì cộng sản hoàn toàn thất bại khi áp dụng chế độ kinh tế chỉ huy, tước đoạt sự tự do của con người, để giải quyết nhu cầu vật chất của con người, trong những điều kiện chắc chắn giả tạo.

Tư bản là về lãnh vực kinh tế. Dân chủ là về lãnh vực chính trị. Hai thể chế này có mục tiêu khác nhau. Kinh tế nhắm sản xuất nhiều sản phẩm và dịch vụ, tức là phúc lợi của con người. Chính trị ấn định luật lệ và quyền hạn của con người trong xã hội.

Trong khi dân chủ chủ trương phân chia quyền hành một cách quân bình hơn cho mọi người, chủ nghĩa tư bản không thể phân phối sự phong phú một cách công bình cho mọi giới. Trong khi thể chế dân chủ chú trọng về quyền lực của con người bình thường (demos = common people; cracy = power), chủ nghĩa tư bản thuấn tuý nhắm vào lợi nhuận. Dân chủ kết hợp dân chúng lại để quyết định những vấn đề quan trọng còn tư bản phân chia con người theo nhiều lãnh vực và mỗi người chạy theo tư lợi của mình mà không để ý đến những người khác. Dân chủ đại diện nhóm, công cộng và hợp tác trong khi tư bản ửng hộ cá nhân, riêng tư và cạnh tranh.

Chế độ siêu tư bản, xuất hiện trong thị trường toàn cầu hóa sẽ được bàn trong phần sau, làm những khác biệt giữa dân chủ và tư bản càng rõ rằng hơn. Tư bản và dân chủ ảnh hưởng lẫn nhau. Chủ nghĩa tư bản bị chi phối bởi những giới hạn chính trị thí dụ như chính sách về thuế, kiểm soát mức lương, bảo hiểm sức khoẻ và môi trường. Đã lâu người ta tin tưởng rằng tự do của cá nhân và tự do của thị trường liên hệ chặt chẽ với nhau và thể chế dân chủ và chủ nghĩa tư bản thường đi đôi với nhau. Dân chủ không thể có nếu không có tư bản và ngược lại. Nhưng trên thực tế trong một thế giới tiến bộ như hiện nay tư bản và dân chủ là hai lực riêng biệt và thường đối nghịch nhau. Đây là chủ đề của bài phân tách này.

Thế giới nhất cực về chính trị và kinh tế

Sau khi chủ nghĩa cộng sản xụp đổ trên toàn thế giới vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, chủ nghĩa tư bản đã toàn thắng. Trong khoảng một thập niên vừa qua, chủ nghĩa tư bản đã bành trướng khắp nơi trên thế giới. Vài nước độc tài cộng sản còn sót lại ở Á châu như Việt-Nam và Trung Quốc, ngoại trừ Bắc Hàn, đã trở thành những nước tư bản. Hầu hết các quốc gia đều là hội viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization – WTO) và hội nhập vào kinh tế toàn cầu. Từ một tình trạng lưỡng cực về cả hai mặt chính trị và kinh tế, thế giới trở thành một hệ thống nhất cực.

Về mặt chính trị, Âu châu, Nga và Trung Quốc đã cố gắng xóa bỏ tình trạng nhất cực. Liên Hiệp Âu châu (European Union – EU) được chính thức thành lập vào năm 1993. Tiền thân của tổ chức này là Thị Trường Chung Âu Châu (European Economic Community – EEC) được thành lập từ năm 1957. Từ ngày thành lập đến nay, EU đạt được thoả hiệp về việc bãi bỏ kiểm soát biên giới (1985), thiết lập đồng Euro (1999), và chấp thuận Hiến Pháp Âu châu (2004).

Khối Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation - SCO) được thành lập từ năm 2001, gồm Liên Bang Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, và Uzbekistan. Tiền thân của tổ chức này là Thượng Hải 5 (Shanghai Five) gồm tất cả những nước trên ngoại trừ Uzbekistan, được thành lập vào năm 1996. Năm nước tham dự với tính cách quan sát viên là Ấn Độ, Iran, Pakistan, và Mông Cổ. Iran tỏ ra chú ý đến việc gia nhập vào tổ chức này. Khối Thượng Hải MớI đây tổ chức thao diễn quân sự chung ở Nga.

Về mặt kinh tế, thế giới vẫn là nhất cực. Những đại công ty đa quốc gia được thành lập. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa và đang trở thành một thứ chủ nghĩa siêu tư bản (supercapitalism) với những cực đoan của tất cả những lý thuyết và phong trào cực đoan. Những quá trớn của chủ nghĩa siêu tư bản bắt đầu lộ ra. Tư bản toàn cầu tạo ra nhiều kẻ thắng và nhưng số người bại còn nhiều hơn. Sự giầu có vượt bực của một số ít làm gia tăng sự bất mãn của nhiều ngườI và có thể gây bạo loạn, khủng bố, và nội chiến.

Tư bản toàn cầu quá trớn cũng có thể tạo ra thảm họa cho thế giới. Giữa các quốc gia cũng có kẻ thắng bao gồm các cường quốc kỹ nghệ và người thua bao gồm các nước nông nghiệp chậm tiến với tất cả sự yếu kém về những phương diện như kỹ năng quản trị, bảo vệ môi trường, hạ tầng cơ sở và dịch vụ. Tại những quốc gia Phi Châu không có tài nguyên thiên nhiên, tình trạng kinh tế suy xụp trước làn sóng tư bản toàn cầu. GS Lord Dahrendorf của Trung Tâm Khoa Học Xã Hội tại Berlin và là cựu Giám Đốc của London School of Economics nhận định rằng những người bị đẩy vào ngõ cụt sẽ trở nên hung bạo và chủ tâm gây thiệt hại cho kẻ thắng mà không cần có mục đích gì cả. Đó là nguồn gốc của chủ nghĩa vô chính phủ trong quá khứ và cũng là nguyên nhân của nạn khủng bố ngày nay.

Xung khắc giữa dân chủ và tư bản

Tư bản và dân chủ không hoạt động nhịp nhàng với nhau về mọi phương diện như người ta tưởng.

Chúng ta còn nhớ buổi họp báo tại Quốc Hội Hoa-Kỳ do Phong Trào Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, và Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng tổ chức vào tháng 6-2007, một ngày trước khi ông Nguyễn Minh Triết đến thăm xã giao Tổng Thống George W. Bush. DB Ed Royce (CH, California), trong số những nhà lập pháp Hoa-Kỳ tham dự cuộc họp báo này, lên án mạnh mẽ chế độ độc tài tại Việt-Nam và ủng hộ phong trào dân chủ nhưng ông cũng không quên bào chữa cho việc đón tiếp lãnh tụ độc tài Nguyễn Minh Triết tại Tòa Nhà Trắng. Ông nói rằng Tổng Thống George W. Bush phải chiều lòng giới tư bản Hoa-Kỳ muốn giao dịch thương mại với Việt-Nam.

GS Michael Mandelbaum của trường Cao Học Quốc Tế Vụ thuộc Đại Học Học Johns Hopkins mới đây trong bài với tựa đề “Democracy Without America,” (Foreign Affairs, September / October 2007), nhận định rằng “Chìa khóa để thiết lập một thể chế dân chủ đắc dụng và đặc biệt đối với những định chế tự do, là nền kinh tế thị trường. Những định chế, kỹ năng, và giá trị để điều hành một nền kinh tế thị trường tự do là những vật liệu để cấu tạo thể chế dân chủ…Mặc dù Hoa-Kỳ thất bại trong những cố gắng bành trướng dân chủ, thể chế này đã bành trướng trên toàn thế giới vì thị trường tự do. Mặc dầu thế giới Ả Rập, Nga, và Trung Quốc là những thách thức, nhưng áp lực dân chủ chỉ có thể gia tăng khi mà các nền kinh tế được cải tổ trong thời gian tới.”

Quyền tư hữu là trọng tâm của chế độ tư bản. Quyền này tạo cho chủ nhân một môi trường tự trị và ban cho chủ nhân một số tự do cá nhân. Tư sản phân tán quyền lực, làm giảm sự lệ thuộc vào chính quyền, và khuyến khích sự thành hình của xã hội dân sự. Chúng ta chắc hẳn đồng ý rằng những ý niệm trên rất đúng trong khoảng gần nửa thế kỷ trước đây và ngày nay tại những quốc gia đang còn chuyển tiếp từ phi thị trường sang thị trường tự do. Nhưng tại những cường quốc kinh tế nơi đây chế độ tư bản đã phát triển cao độ, lấn sâu vào lãnh vực chính trị, làm ra luật để bảo vệ quyền lợi của giới kinh doanh, và trở thành một chế độ siêu tư bản, một lực tiêu cực với dân chủ.

GS Robert B. Reich thuộc Đại Học California tại Berkeley nhận xét rằng: “Tại Nhật Bản, nhiều công ty đã bỏ chính sách bảo đảm việc làm suốt đời, giảm số nhân viên, và đóng những bộ phận không sanh lời. Chắc chắn rằng một số người tiêu thụ và đầu tư Nhật Bản được hưởng lợi từ việc thu nhỏ công ty, nhưng nhiều công nhân Nhật bị bỏ rơi lại đằng sau. Một quốc gia từng hãnh diện về một xã hội nơi mà tất cả mọi người đều thuộc giai cấp trung lưu nay đã thể hiện sự cách biệt về lợi tức và phồn thịnh. Trong khoảng thời gian 1999-2005, tỉ lệ gia đình không có tiết kiệm tăng gấp đôi, từ 12% lên đến 24%. Công dân Nhật thường xuyên biểu lộ cảm giác mất quyền lực. Giống như nhiều nước tự do trên thế giới, Nhật Bản ủng hộ hệ thống tư bản toàn cầu nhưng có một thể chế dân chủ quá yếu ớt để đối đầu với nhiều bất lợi của thị trường tự do.”

Trong thế giới siêu tư bản, thị trường càng tự do bao nhiêu, thì thể chế dân chủ càng yếu, càng thiếu hiệu quả, và con người dưới chế độ này càng ít được “tự do”. Tư bản có khuynh hướng làm suy yếu thay vì hỗ trợ dân chủ. Nếu trong một quốc gia không có luật lệ, tất cả những công ty và những cơ quan được tư nhân hóa, nền dân chủ tại quốc gia này sẽ lụn bại. Chế độ siêu tư bản lý luận rằng các công ty tư nhân được tự do làm ăn, được điều hành các hệ thống an sinh xã hội, bưu điện, y tế, và cả hệ thống giáo dục công lập vì những người chủ trương chế độ siêu tư bản tin rằng lợi nhuận là động cơ làm cho tư nhân hoàn tất nhiệm vụ hiệu quả hơn là chính phủ.

Khi chính phủ ít can thiệp một cách không cần thiết vào đời sống và việc làm ăn của công dân, sự điều hành của chính phủ trong nước này có lẽ hiệu quả nhất. Nhưng nếu một quốc gia thiếu sự điều hành, người dân sẽ chịu nhiều thiệt thòi, không thua gì dưới một chế độ độc tài mọi thứ đều do chính phủ định đoạt.

Trường hợp dân chủ thất bại

Nhiều người ủng hộ sự bành trướng của dân chủ vì tin tưởng thể chế dân chủ làm gia tăng sự thịnh vượng cho nhân loại. Đây có thể là sự kỳ vọng quá mức vì lịch sử chứng minh rằng có những lúc dân chủ đem lại sự thất vọng.

Khi cộng sản xụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, dân Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc và nhiều quốc gia khác xuống đường để đòi hỏi độc lập và tự do. Tuy nhiên những công dân của các quốc gia này, ngoài quyền bỏ phiếu và tự do ngôn luận, còn muốn được tư do kinh doanh và mong đợi một đời sống sung túc hơn dưới chế độ tư bản. Nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp, những công dân Đông Âu đã chứng kiến nhiều công xưởng đóng cửa, dịch vụ nhà nước biến mất, nạn thất nghiệp và tỉ lệ nghèo đói tăng. Phép lạ của tư bản không thể hiện tại Đông Âu trong giai đoạn này. Người dân có khuynh hướng quay về dĩ vãng, thời kỳ bao cấp, làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu, mọi người đều có việc làm dù phải làm những việc không thích với đồng lương chết đói. Người dân trong giai đoạn này nghi ngờ giá trị của dân chủ.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào thập niên 30 khởi sự từ nước Đức, lan tràn qua các nước tư bản Âu châu, Hoa-Kỳ, và khắp các lục địa. Nạn khủng hoảng này là nguyên nhân của sự xụp đổ của nền dân chủ Đức. Các nền dân chủ lâu đời hơn như Anh và Hoa-Kỳ cũng bị thiệt hại không kém gì Đức. Tuy nhiên, tình trạng này không làm cho đám đông chán ghét chế độ dân chủ. Công dân ở các nước Hoa-Kỳ, Anh, Thủy Điển, Thụy Sĩ, cũng như một số nước khác dường như công nhận rằng khủng hoảng của chế độ kinh tế tư bản không nhất thiết trở thành một cuộc khủng hoảng của thể chế dân chủ. Ngược lại, cuộc khủng hoảng dân chủ không nhất thiết đưa đến cuộc khủng hoảng tư bản. Nhưng phần đông người ta không hiểu được như vậy. Vì thế một số người có những hành động làm thiệt hại cả hai thể chế dân chủ và tư bản và quên rằng thể chế dân chủ luôn luôn cần thiết để bảo vệ tự do và công bình trong xã hội.

Độc tài và tư bản

Trong một nước độc tài, chế độ tư bản lại mau chóng biến thành chế độ siêu tư bản. Độc tài cộng với siêu tư bản có thể biến thành phát xít như trường hợp của Việt-Nam, Trung Quốc và Nga hiện nay. Tại những quốc gia này, tự do thị trường liên kết với độc tài chính trị sanh ra đủ mọi thứ tội ác mà không ai kiểm soát được trong khi người dân hoàn toàn bất lực và do đó phải chịu mọi bất công xã hội. Giai cấp lãnh đạo trở thành giai cấp siêu tư bản với chủ trương xây dựng và phát triển một giai cấp trung lưu mới trung thành với đảng Cộng Sản. Những người bị khả nghi hay bất đồng chính kiến với đảng sẽ bị gạt ra ngoài xã hội, không có cơ hội thăng tiến hay phương tiện sinh sống dễ dàng. Gia đình của bị đối sử tương tự.

Trung Quốc cũng như một học trò trung thành là Việt-Nam tiến tới chế độ tư bản mà không chấp nhận thể chế dân chủ. Đây là điều kiện thuận lợi cho những người đầu tư ở Trung Quốc cũng như Việt-Nam vì họ cần sự ổn định chính trị. Điều này cho thấy có sự a tòng giữa tư bản và độc tài. Chủ tịch của các đại công ty thường giao hảo tốt đẹp với những lãnh tụ độc tài. Hoạt động của tổ chức Hội Đồng Thương Mại Mỹ Việt (US-Vietnam Trade Council – USVTC) nhằm liên kết tư bản Hoa-Kỳ và chế độ độc tài tại Việt-Nam và phát triển thương mại giữa hai quốc gia.

Trong khi đó những người dân Trung Quốc và Việt-Nam ngày càng chịu nhiều hậu quả xã hội. Khoảng cách chênh lệch giầu nghèo ngày càng rộng lớn hơn. Giới thương gia tinh hoa của Trung Quốc và Việt-Nam sống trong những dinh thự tại những khu vực ngoại ô có người canh gác và gửi con cái ra ngoại quốc học. Trong lúc đó, những dân quê tràn về vùng đô thị và làm gia tăng nạn thất nghiệp và sự nghèo đói tại đây. Tuy nhiên những người bị ảnh hưởng nhiều nhất lại chỉ có chút ít thế lực chính trị để có thể thay đổi tình trạng này. Họ không thể làm gì được hơn ngoài việc biểu tình nhưng lại thường xuyên bị dẹp tan bởi vũ lực như đã xẩy ra cho dân oan khiếu kiện tại Saigon vào tháng 7-2007.

Nhà cầm quyền Hà Nội toa dập với tư bản ngoại quốc để dìm mức lương và quyền lợi của công nhân. Mới đây, Việt-Nam còn ra luật cấm đình công nếu không được phép của Tổng Liên Đoàn Lao Động, một cơ quan thuộc Đảng CSVN. Khi các công ty ngoại quốc than phiền về các cuộc đình công bất hợp pháp và phản đối việc tăng lương tối thiểu của nhà nước, ông Chủ Tịch Trần Đức Lương vội lên tiếng xin lỗi.

Nhiều nhà phân tách nhận định rằng chế độ tư bản tại Trung Quốc cũng như Việt-Nam có những sai lầm. Một chế độ độc tài muốn tồn tại lâu dài cần phải can thiệp ít nhiều vào hoạt động kinh tế, trong đó quyền tư hữu tiếp tục bị giới hạn, sáng kiến kinh doanh bị hạn chế vì phải theo chỉ thị của nhà nước trong những “kế hoạch kinh tế ngũ niên” hoặc những phương cách kiểm soát khác. Do đó, trước sau Trung Quốc cũng như Việt-Nam sẽ phải hoặc giới hạn tư bản hoặc nới rộng dân chủ.

Điều kiện kinh tế cuối cùng sẽ định đoạt cấu trúc chính trị. Trong một tương lai gần, sự thành công của chế độ tư bản sẽ áp đặt thể chế dân chủ tại Trung Quốc cũng như Việt-Nam. Biến cố Thiên An Môn là dấu hiệu đầu tiên của lòng khao khát dân chủ tại Trung Quốc. Người dân Việt-Nam cũng như Trung Hoa ưa thích sự chọn lựa sản phẩm trong chế độ kinh tế thị trường tự do tất nhiên cũng sẽ muốn lựa người lãnh đạo quốc gia có quyền định đoạt sự an sinh của người dân.

Các chế độ độc tài hiện nay nghiên cứu rất kỹ lưỡng những lý do khiến các chế độ độc tài trong lịch sử có thể tồn tại lâu dài. Một trong những điều họ khám phá ra là sự sợ hãi, thụ động, và tránh né chính trị của người dân. Các chế độ độc tài cộng sản còn lại hiện nay như Trung Quốc và Việt-Nam dựa vào những điều kiện này để cai trị người dân. Trong khi nạn tham nhũng có thể làm soi mòn quyền lực của các chế độ độc tài, và sinh viên tốt nghiệp từ các nước Tây phương trở về sẽ đòi hỏi tự do ngôn luận, nhưng nếu số đông hài lòng với những thành công về mặt kính tế sẽ có thể chấp nhận sống dưới chế độ độc tài. Trong trường hợp này các chế độ độc tài có thể tồn tại lâu dài.

Giải pháp

“Mặc dầu những thị trường tự do đã mang lại thịnh vượng chưa từng thấy cho nhiều người, nhưng chúng cũng gia tăng cách biệt giầu nghèo, sự bất ổn về việc làm và những rủi ro về môi trường như sự hâm nóng quả địa cầu. Thể chế dân chủ được thiết lập để cho phép công dân nêu lên chính những vấn đề này một cách xây dựng. Tuy nhiên, công dân ở Âu Châu, Nhật Bản và Hoa-Kỳ cảm thấy mất dần quyền hành, trong khi đó giới tiêu thụ và đầu tư lại cảm thấy có nhiều thế lực hơn. Nói tóm lại không một quốc gia dân chủ nào có thể đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của chế độ tư bản.”

Chủ Nghĩa tư bản toàn thắng nhưng không lâu đã dành thêm được một số quyền lực mới: toàn cầu hóa quá trớn trong đó một người thắng thì sẽ có mười người thua. Một lần nửa thể chế dân chủ lại bị đổ cho trách nhiệm về sự ảnh hưởng kinh tế tiêu cực này. Thể chế dân chủ phải mạnh hơn để kiềm chế chế độ siêu tư bản chứ không thể để tình trạng ngược lại xẩy ra. Tự do dân chủ là cách tốt nhất bảo đảm nền hòa bình thế giới, chống lại khủng bố và các phong trào cực đoan. Nhưng trước hết chúng ta cần phải chặn đứng sự lấn áp của chế độ siêu tư bản và phải phân chia ranh giới rõ ràng giữa tư bản và dân chủ. “Vai trò của lực tư bản không có gì khác là làm cho chiếc bánh kinh tế lớn hơn và đáp ứng một cách thỏa đáng đối với đòi hỏi của người tiêu thụ, nhưng lực dân chủ phải tranh đấu để thực hiện những nhiệm vụ căn bản là chia chiếc bánh sao cho công bằng, nói và hành động theo lý tưởng tốt đẹp chung, và giúp đỡ xã hội thực hiện cả hai mục tiêu là tăng trưởng và quân bình.”

“Thể chế dân chủ cho phép công dân có thể tranh luận tập thể về những vấn đề như nên chia lợi tức quốc gia làm sao và ấn định luật lệ nào để áp dụng cho sản phẩm tư và công. Ngày nay, người ta ngày càng để mặc những việc này cho thị trường quyết định. Điều tối cần thiết là phân chia ranh giới rõ ràng giữa hai lãnh vực tư bản và dân chủ - giữa trò chơi kinh tế về một mặt và làm sao ấn định luật chơi về mặt khác. Nếu mục tiêu của chế độ tư bản là cho phép những công ty được tham dự vào thị trường càng năng nổ bao nhiêu càng tốt, thì thử thách đối với công dân là không để cho những thực thể kinh tế này làm ra luật lệ cho chúng ta phải sống theo.“

Lịch sử cho thấy mỗi khi có những biến đổi kinh tế lớn lao, luôn luôn xẩy ra hiện tượng người thắng kẻ thua, và cách biệt giầu nghèo gia tăng không tránh được. Những ảnh hưởng tiêu cực của chế độ tư bản toàn cầu tạo nhiều áp lực trên thể chế chính trị, có thể được triệt tiêu bằng cách tạo cơ hội cho những người bị bỏ rơi ra ngoài lề được hưởng những ảnh hưởng tích cực của sự toàn cầu hóa. Nền dân chủ phải bảo đảm rằng mọi công dân phải được hưởng quyền lợi một cách quân bình, nếu không nền tư bản toàn cầu sẽ phá huỷ nền dân chủ tại mỗi quốc gia.

Kết luận

Không thực sự có sự liên đới bắt buộc giữa dân chủ và tư bản. Kinh nghiệm cho thấy tư bản có thể tự bành trướng và phát triển trong các nước dân chủ hay độc tài. Nếu muốn phát triển dân chủ, rõ ràng là bành trướng chế độ kinh tế tư bản không đủ. Một thế giới tư bản không chắc chắn là một thế giới dân chủ.

Thị trường tự do giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho dân chủ phát triển, nhưng không đương nhiên đưa đến dân chủ. Thể chế dân chủ không thể tự xuất cảng mà phải được thực hiện bằng một chiến lược được tính toán kỹ lưỡng và hiệu quả trước sự chống đối của những kẻ chủ trương độc tài. Hiện nay một chiến lược thích hợp để dân chủ hoá toàn cầu cần được tìm thấy, nhưng chắc chắn không phải bằng vũ lực hay trông cầu hoàn toàn vào sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản.


Tài liệu tham khảo:

(1) Lord Dahrendorf, “Globalisation Capitalism and Democracy,” in Democracy and Capitalism, Hansard Society, 2006.
(2) John Feffer, “Capitalism and Democracy: Iron Fist Economics,” January 15, 2007.
(3) Nguyễn Quốc Khải, “Liệu Cải Tổ Kinh Tế Và Mở Cửa Buôn Bán Với Thế Giới Có Mang Lại Tự Do Và Dân Chủ Cho Việt-Nam Hay Không ?” Bài thuyết trình tại buổi hội thảo ở Đại Học Quebec, Montreal ngày 1.11.2003.
(4) Nguyễn Quốc Khải, “Việt-Nam Có Cần Một Chế Độ Độc Tài Hay Không Để Trở Thành Một Con Rồng Mới Của Á Châu ?” Vietnam Review, 20-02-2005.
(5) Michael Mandelbaum, “Democracy Without America,” Foreign Affairs, September/October 2007.
(6) Robert B. Reich, “How Capitalism Is Killing Democracy,” Foreign Policy magazine, September/October 2007
(7) Robert J. Samuelson, “Capitalism vs Democracy,” Newsweek, October 3, 2005.
(8) Michael Sky, “Capitalism vs. Democracy,” April 9, 2007.
(9) The Ethical Spectacle, “Democracy and Capitalism,” April 1996.

http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=6877
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 20:00:57Ngọc Lý>
Việt Nam, một năm sau khi gia nhập WTO
2007.10.30
Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long, RFA
 
Đầu tháng 11 2006, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, chuẩn bị cho Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới kể từ tháng Giêng năm 2007. Thấm thoát vậy mà một năm đã trôi qua. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ làm một tổng kết sơ khởi về những gì Việt Nam đã và chưa đạt được trên con đường hội nhập đó, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.

Một năm hội nhập kinh tế toàn cầu

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thấm thoát vậy mà Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO được gần một năm. Do đó, ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, ta sẽ cùng kiểm điểm kết quả của một năm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Nhận xét sơ khởi của ông ra sao về việc đó?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa ông, trước khi nói về kết quả của tình hình kinh tế Việt Nam trong năm đầu tiên hội nhập vào kinh tế thế giới, xin đề nghị là ta cùng nhớ lại về khởi điểm của một năm trước, tức là triển vọng và vấn đề cách đây một năm khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO.

Cách đây một năm, cả thế giới chứ không riêng Việt Nam đều chú ý tới việc Việt Nam sẽ gia nhập tổ chức WTO đồng thời cũng đạt quy chế thương mại bình thường và một cách vĩnh viễn với Hoa Kỳ, gọi là quy chế PNTR. Khi ấy, mọi người đều nói đến triển vọng to lớn của một xứ sở có 84 triệu người dân cần cù tháo vát, lại ở vào một vị trí địa dư thuận lợi trong vùng Đông Nam Á, đang cố thoát khỏi những sai lầm của chế độ kinh tế tập trung kế hoạch để cải thiện cuộc sống.

Một số nhà nghiên cứu chiến lược còn chú ý tới một yếu tố thuận lợi khác, là giới đầu tư quốc tế bắt đầu thấy ra nhiều rủi ro bất ổn trên thị trường Trung Quốc và sẵn sàng chuyển dịch đầu tư qua Việt Nam để san xẻ rủi ro. Nhờ vậy, Việt Nam sẽ có điều kiện cất cánh để trở thành một rồng cọp kinh tế Đông Á.

Việt Long: Nhưng thưa ông, cũng vào thời điểm một năm trước, nhiều người lại nói tới các vấn đề mà Việt Nam sẽ gặp khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trên diễn đàn này, ông cũng đã nhiều lần cảnh báo về các vấn đề ấy. Khi nói tới khởi điểm để tổng kết những thành quả trong một năm đầu, chúng ta có nên nhắc tới loại vấn đề ấy không?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa rất đúng và rất đáng nhắc lại.
Trước hết, về mặt quản lý kinh tế vĩ mô, nghĩa là về trách nhiệm quản trị kinh tế của chính quyền, thời ấy, người ta đã nói tới ba loại vấn đề đáng ngại. Thứ nhất là vật giá sẽ gia tăng từ khởi điểm quá cao là 5-7% nên sẽ đánh sụt lợi tức của dân nghèo và những ai có đồng lương cố định.
Thứ hai là ngân sách quốc gia đang và sẽ còn bị bội chi rất cao - vào khoảng 4% của tổng sản lượng nội địa GDP - nên sẽ thổi mạnh gánh nặng công chi và đánh sụt khả năng đầu tư của khu vực công vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở. Thứ ba là chế độ ngoại hối vẫn còn cứng ngắc và đồng bạc định giá quá thấp sẽ gây trở ngại cho tiến trình hội nhập.
Và thứ tư là Việt Nam thật sự bị nạn nhập siêu - tức là nhập nhiều hơn xuất khẩu - và khi mở cửa bước ra ngoài thì có khi còn bị nặng hơn nữa, trước khi thấy tình hình được cải thiện nhờ triển vọng xuất khẩu sau khi gia nhập WTO.
[/align]
Những vấn đề nảy sinh

Việt Long: Đó là loại vấn đề thuộc lãnh vực quản lý vĩ mô. Ngoài ra, còn loại vấn đề gì khác nữa không?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Loại thứ hai là các vấn đề về cơ chế cai trị. Thứ nhất là hạ tầng luật lệ của Việt Nam còn thô thiển và phải cải tiến thật mau thì mới thu hút đầu tư nước ngoài cho có lợi. Cụ thể trong lãnh vực đó là loại luật lệ cần thiết để chiêu dụ và bảo vệ giới đầu tư. Thứ hai, đi cùng hệ thống luật lệ thô thiển là vai trò tư pháp còn quá yếu và sức ép tham nhũng lại quá mạnh.

Hậu quả, và đây là vấn đề thứ ba, môi trường đầu tư của Việt Nam thật ra vẫn thiếu lành mạnh nên sẽ làm giới đầu tư thất vọng sau những hồ hởi lạc quan ban đầu. Thứ tư, doanh trường Việt Nam vẫn thiếu minh bạch, thông tin thị trường thì đơn giản và thiếu tính khả tín, không đáng tin, như khá nhiều thống kê của Việt Nam cho thấy. Vì lẽ đó mà thị trường không bắt được những tín hiệu trung thực về giá cả hay cơ chế, với hậu quả là dễ làm nảy sinh phản ứng đầu cơ nhất thời và thổi lên nhiều trái bóng rủi ro.
Và còn loại vấn đề thứ ba nữa, thuộc lãnh vực xã hội, còn nghiêm trọng hơn gấp bội....

Việt Long: Nếu vậy, xin ông nhắc lại luôn ở đây cho thính giả có cơ sở đối chiếu với thành quả sau một năm.


Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì hạ tầng luật lệ còn lỏng lẻo, cơ hội tham nhũng rất cao, khi mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài thì đặc quyền và đặc lợi của thiểu số có chức có quyền và có tiền sẽ đào sâu khoảng cách giàu nghèo và gây bất mãn xã hội. Đó là vấn đề thứ nhất, với biểu hiện dễ thấy và dễ gặp nhất là nạn đảng viên cán bộ địa phương đầu cơ về đất đai để kịp thời trục lợi trong việc liên doanh với nước ngoài.

Thứ hai là vì những cam kết trong khuôn khổ WTO, doanh nghiệp nhà nước sẽ được cổ phần hoá mạnh hơn, nhiều hơn, với hậu quả hai mặt là nhiều người sẽ mất việc mà nhiều đảng viên cán bộ sẽ có lời lớn nhờ đầu cơ quyền hành, quan hệ và thông tin trên thị trường chứng khoán. Thứ ba là khả năng ứng phó rất kém của guồng máy hành chính công quyền với các vấn đề bất ngờ như dịch bệnh, thiên tai lũ lụt hay cả tai nạn nghề nghiệp trên các công trường xây cất.

Nếu có nói gọn lại thì cách đây một năm, Việt Nam có rất nhiều triển vọng tốt đẹp khi gia nhập tổ chức WTO nhưng cơ chế quản trị và cai trị bên trong vẫn còn nhiều nhược điểm. Cho nên cùng với đà tăng trưởng kinh tế, người ta sẽ thấy nảy sinh nhiều vấn đề từ kinh tế đến xã hội và các vấn đề này sẽ gây bất ổn và làm nhiều người thất vọng về hội nhập.

Một năm gia nhập WTO

Việt Long: Thưa ông, đó là những triển vọng và rủi ro mà nhiều người đã nêu ra từ năm ngoái. Bây giờ, một năm sau, người ta thấy được những gì?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta có thể thấy là trong năm nay, Việt Nam sẽ đạt một tốc độ tăng trưởng sản xuất rất cao, có lẽ còn cao hơn những dự kiến của giới lãnh đạo. Một phần và chỉ một phần của hiện tượng ấy là tâm lý lạc quan ở trong nước khi bắt đầu hội nhập kinh tế với bên ngoài, chứ không hẳn là kết quả của đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam vào WTO.

Việt Long: Tuy nhiên, lượng đầu tư nước ngoài quả thật là có tăng mạnh trong giai đoạn vừa qua, ông nghĩ sao về yếu tố này?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa tôi xin gọi đó là "ảo giác của thị trường".
 
Trong 10 tháng đầu năm, đầu tư của nước ngoài có tăng hơn một phần ba so với cùng kỳ năm ngoái, vượt quá 11 tỷ Mỹ kim. Nhưng, và đây là sự thật bên dưới ảo giác, đến 90% lượng đầu tư này là vào các dự án mới, nghĩa là chưa đi vào sản xuất trong thời gian vừa qua.

Thứ hai, đa số lại đầu tư vào hai lãnh vực chính, có lợi ích kinh tế và xã hội tương đối giới hạn, là công nghiệp nặng và địa ốc. Tức là dễ thổi lên nạn đầu cơ bất động sản. Trong khi ấy, số đầu tư thực tế được thực hiện vẫn chưa quá bốn tỷ, chưa bằng số tiền mà người Việt ở hải ngoại gửi về giúp đỡ thân nhân.

Đáng chú ý hơn nữa là dường như nhà nước lại chưa được chuẩn bị để đón nhận làn sóng đầu tư ồ ạt đó, sau 11 năm thương thuyết để gia nhập tổ chức WTO và sau nhiều tiên đoán lạc quan về triển vọng đầu tư của quốc tế. Cũng như người hồ hởi rước dâu và khám phá là cô dâu đẹp hơn mình dự tính, rồi lại không biết làm điều gì hữu ích với nàng dâu.

Việt Long: Ngoài ra, về những cam kết với WTO thì Việt Nam đã thực hiện được những gì sau một năm làm hội viên tổ chức này?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa rất chậm và ít so với yêu cầu nên ta chưa thấy hiện tượng thẩm thấu xuống dưới. Cụ thể là tác dụng của WTO chưa ra khỏi thành phố và giải phóng sức sản xuất tại nông thôn, trong các ngành nghề tiểu thương. Một biểu hiện rõ rệt của tình trạng đó là việc gia nhập WTO chưa tạo ra sức bật cho xuất khẩu và năm nay, Việt Nam còn bị nhập siêu nặng hơn, đến hơn bảy tỷ Mỹ kim, và sẽ mắc nợ nhiều hơn.

Một khía cạnh thứ hai có được cảnh báo như ta vừa nhắc tới ở trên là nạn lạm phát đã gia tăng mạnh. Một phần là do hệ thống quản lý và phân phối kém trong thị trường nội địa với các loại nhu yếu phẩm rất quan trọng trong cái giỏ tiêu thụ - hay ngân sách gia đình tiêu biểu - cho dân nghèo. Dịch bệnh và thiên tai không thể giải thích hết được.

Yếu tố lạm phát quan trọng hơn là hiện tượng nhập khẩu lạm phát, tức là "lạm phát từ đầu vào", nghĩa là khi ta phải nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đang tăng giá trên toàn thế giới. Với viễn ảnh dầu thô đã vượt 93 Mỹ kim một thùng và có khi lên tới 100 đô la thì lạm phát tại Việt Nam sẽ vượt hai số và là vấn đề nguy kịch, nhất là cho người nghèo.

Việt Long: Nhưng xin ngắt lời để hỏi ông một chuyện về giá dầu. Việt Nam cũng là một nước xuất khẩu dầu thô cho nên nếu giá dầu tăng mạnh thì Việt Nam cũng có lợi chứ?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Dạ thưa có, nhưng tiền thu vào nhờ xuất khẩu dầu thô cũng chỉ bằng hoá đơn nhập khẩu xăng dầu là loại nhiên liệu chế biến từ dầu khí. Khi số thu gia tăng nhờ dầu lên giá thì chính quyền Việt Nam có thêm ngoại tệ trong dự trữ, nhưng khi xăng dầu lên giá thì giới tiêu thụ và người dân Việt Nam bị thiệt vì ảnh hưởng của lạm phát nhập khẩu vì xăng dầu sẽ đẩy vật giá lên còn cao hơn nữa. Cái được của nhà nước và cái mất của người dân là một vấn đề.

Nếu nhìn trên toàn cảnh thì Việt Nam mới chỉ tiến tới chế độ vắt sức lao động và nhập khẩu vào để làm gia công cho thiên hạ mà thôi. Và hội nhập kiểu đó sẽ đào sâu thêm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, là điều cũng đã được cảnh báo.

Đồng thời, cũng phải thấy rõ là trong năm đầu mở cửa, tình trạng dân oan đi khiếu kiện đã lan rộng và tăng vọt. Nếu có thể lập một đồ biểu về nạn đầu cơ bất động sản để so sánh với đồ biểu về nhịp độ và cường độ biểu tình khiếu kiện, thì người ta thấy ngay ra nguyên nhân là ở đâu.

Việt Long: Ông có vẻ hơi bi quan về kết quả gia nhập tổ chức WTO, nên không thấy điều gì tích cực hay sao?


Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa có chứ. Điều tích cực là trong năm qua, Việt Nam có thêm rất nhiều triệu phú bằng Mỹ kim. Họ là thành phần hết lời ngợi ca việc hội nhập, nhưng vẫn chỉ là một thiểu số, tập trung ở thành thị, có quan hệ tốt với chế độ hay thế giới bên ngoài. Chứ đại đa số dân chúng vẫn ở ngoài lề của việc hội nhập.

Tôi thiển nghĩ là những người lãnh đạo tại Việt Nam không phải là không biết điều ấy. Nhưng họ thiếu khả năng dự báo nên vẫn bị bất ngờ, thiếu khả năng ứng phó nên không kịp thay đổi chính sách khi thấp thoáng thấy ra những chệch hướng trong kinh tế sau khi mở cửa hội nhập. Quan trọng nhất là thiếu khả năng quản lý và điều hành, như được thấy rõ nhất ở việc gây ra lạm phát vì bơm tiền ra thu chín tỷ đô la về, và không cải tổ được hệ thống ngân hàng để xử lý một khối lượng Mỹ kim rất lớn trong nền kinh tế.

Nghịch lý ở đây là Việt Nam thiếu vốn đầu tư mà lại thừa đô la ngoài chợ. Lãnh đạo Việt Nam hãnh diện vì nay Việt Nam có lượng dự trữ ngoại tệ tương đương với 20 tuần nhập khẩu so với 12 tuần vào năm ngoái, mà lại không nói ra là Việt Nam lại mắc nợ nhiều hơn năm ngoái.

Để kết luận có lẽ cũng cần nói thêm là Việt Nam đã mất hơn 10 năm thương thuyết để được hội nhập với kinh tế thế giới, nhưng mới chỉ có một năm tập sự hội nhập mà thôi. Vì vậy, nếu có những chuyện bất toàn và tiêu cực thì cũng chẳng nên ngạc nhiên. Vấn đề là lãnh đạo phải nhìn vào sự thật hai mặt thay vì ém nhẹm thông tin và cho nhau uống nước đường. Quốc hội Việt Nam có thể thật sự hội nhập vào thế giới văn minh khi nêu ra mặt trái của sự hội nhập ấy.

[/align] 
[/align]© 2007 Radio Free Asia
[/align][/align]



[/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/30/Vietnam_WTO_Year_One_NXNghia/
Đăng nhập để trả lời
0