<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-18 04:06:00rongxanhag>
Ai mới thật là ông Đốc Vàng ở Đồng Tháp?
I.Tôi đã sử dụng nguồn của web baocantho:
Khoảng hơn nửa tháng nay, tôi copy một phần bài viết của tác giả Trần Văn Ngộ đăng trên web baocantho như thế này:
Là một vị tướng đời vua Minh Mạng, Trần Văn Năng (1763-1835) người làng Vĩnh Điểm, phủ Diên Khánh, huyện Vĩnh Xương (nay là tỉnh Khánh Hòa).
Xuất thân từ một gia đình con nhà võ, tuổi trẻ của tướng quân trải dài theo các cuộc chinh chiến chống giặc ngoại xâm và đã lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Dưới tài chỉ huy và mưu trí của ông, quân và dân Việt đã làm nên chiến thắng vang dội trong cuộc thủy chiến khốc liệt, đẩy lùi quân Xiêm do hai viên tướng là Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng kéo sang xâm lược vào nửa đầu thế kỷ XIX (1834), và được vua phong tới tước Quận công.
Năm 1835, Thượng Tưóng lâm bệnh nặng... trên đường xuôi thuyền về kinh để dưỡng bệnh, vừa đến Bến Siêu, khu vực Cù Lao Tây trên cửa sông Vàm Nao (sông Tiền), nay thuộc huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp thì ông trút hơi thở cuối cùng.
Nhân dân thương tiếc tài năng, đức độ của thượng tướng đã lập nên miếu thờ với bài vị là : “Trần Ngọc Thượng tướng Quận công” tại nơi người mất..
Và từ ngôi thờ nhỏ nay trở thành Dinh ông Đốc Vàng to lớn tọa lạc trên vùng đất Thanh Bình. Để xứng đáng với lòng tôn kính đối với Thượng Tướng Trần Văn Năng, dinh ông được xếp hạng là: “Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia” (theo Quyết định số 02/2004/BVHTT ngày 19-1-2004 của Bộ Văn hóa Thông tin).
II.Để chứng minh 2 tài liệu kể ngay sau đây là thiếu chính xác:
1.www.vietshare.com/quehuong/dongthap ( không thấy nêu tên tác giả)
Đền Thờ Thượng Tướng Trần Ngọc (Đền Đốc Binh Vàng): Tọa lạc tại địa phận ấp Nam, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, cách trung tâm thị xã Cao Lãnh 24 km (15 miles) theo hướng tây nam.
Thượng Tướng Trần Ngọc (Đốc Binh Vàng) giữ chức tổng binh kiêm chánh giải quân lương dưới triều vua Minh Mạng.
Năm 1837, trên đường giải quân lương đến biên thùy An Giang, được tin báo thành An Giang thất thủ, ông đã ra lệnh tiêu hủy đoàn thuyền, giải giáp binh sĩ và sau đó rút gươm tự vẫn.
Sau khi mất, triều đình ban tặng ông chức Thượng tướng quận công. Dân chúng nhớ ơn và thương tiếc ông, đã đặt tên con rạch thành rạch Đốc Vàng và lập đền thờ ông tại địa điểm hiện nay.
Năm 1965, đền thờ được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố đẹp và hài hòa với khung cảnh thiên nhiên. Hàng năm, vào các ngày 15, 16 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm và cúng tế ông rất long trọng với hàng chục ngàn người tham gia.
Ý nhỏ của người soạn:
Viết: Thượng Tướng Trần Ngọc, khiến người đọc rất dễ hiểu lầm đấy là tên của ông.( rất có thể vì người soạn thấy bài vị không ghi nguyên họ tên, mà chỉ ghi “Trần Ngọc Thượng tướng Quận công” nên nhầm lẫn)
Thực ra chữ “Ngọc” chỉ là mỹ tự do nhà vua ban cho để làm tên đệm, giống như chữ Ngọc trong tên tước Thoại Ngọc Hầu.
Và không rõ người soạn dựa theo tài liệu nào để cho rằng ông tự tử khi thành An Giang thất thủ vào năm 1873.
Xin bàn trước việc Thượng tướng bị bệnh mất hay do tự tử:
Sau khi nhờ Google, cũng chỉ là 2 ý khác nhau trên; tôi tra thêm vài bộ sách sử. Điều thật lạ là tôi không thấy bộ sử nào biên chép chuyện của ông.( Sử quan có quên chăng?). Do vậy, trong khi đợi có thêm tư liệu, tôi đành tạm tin theo những gì do ông Nguyễn Văn Ngộ cung cấp, vì tôi thấy người viết tỏ ra khá am tường vụ việc hơn.
Còn việc “thành An Giang thất thủ vào năm 1873”, tôi e rằng trên web vietshare, có thể do lỗi đánh máy, vì tuy miền đất này đã 2 lần thất thủ, nhưng lại là vào những năm:
- Vào năm 1833 ( có thể nhầm năm này), giặc Xiêm do Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng, một theo đường bộ thẳng tới An Giang, một theo đường thủy đến tỉnh Hà Tiên. Hai tỉnh ấy đều bị thất thủ…( theo Minh Mạng Chính Yếu, quyển 20, mục Phấn Võ)
Và một lần nữa :
Ngày 20 đến 24-6-1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25-5-1863) rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng… ( nguồn wikipedia tiếng Việt khi viết về Phan Thanh Giản).
2/ Nguyễn Hiến Lê viết trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười , bản in năm 1954:
Tôi cho tàu thả neo ở vàm rạch Đốc Vàng Thượng, rủ anh Bình lên thăm Dinh Ông.
Dinh là một miếu cổ cất bằng gạch, ở đầu một cái doi, giữa một vườn sao và quay mặt ra sông. Dinh thờ Đốc Binh Vàng. Ông là một vị anh hùng đã hy sinh cho tổ quốc.
Năm 1837 ông với Chưởng Binh Lễ cố công đánh tan giặc Xiêm và Miên đóng hai bên bờ sông gần chỗ này, nhưng cả hai ông đều tử trận.
Triều đình nhớ công, phong cho hai ông làm phúc thần và dân làng cất đình này để thờ Đốc Binh Vàng; còn Chưởng Binh Lễ có miếu ở làng Kiến An bên kia sông. Người ta lấy tên hai ông để đặt tên ba con rạch, tức rạch Đốc Vàng Thượng, rạch Đốc Vàng Hạ và rạch Ông Chưởng ở Chợ Mới.
Ý nhỏ của người soạn:
Cố học giả Nguyễn Hiến Lê đã nhầm vì Chưởng Binh Lễ sinh năm 1650 và mất năm 1700, thời của chúa Nguyễn Phúc Chu; thì làm gì Chưởng Binh Lễ & ông Trần Văn Năng, vị tướng thời Minh Mạng, đánh trận chung và chết chung cho được.
Học giả cũng nhầm lẫn khi viết năm quân Xiêm sang xâm lược nước ta & theo nhiều nguồn, cả hai ông đều lâm trọng bệnh rồi mất.
III.Nhưng hôm nay thì tôi lại phân vân:
Như đã nói trên, tôi soạn bài viết này đã hơn nửa tháng nay.
Thi thoảng có xem đi xem lại đôi ba lần, tôi tự nhận thấy nội dung như vậy là khá ổn.Vì sao? Vì tài liệu tôi sử dụng được đăng tải trên web báo Cần Thơ, tác giả chắc là người thuộc vùng miền này nên tỏ ra khá am tường và di tích đã được xếp hạng chắc chắn phải có bộ hồ sơ kê khai gốc tích, không thể ai muốn nói gì cũng được.
Phần khác, ở đoạn văn mà tôi vừa trích trên chỉ là mấy dòng bút ký của cố học giả Nguyễn Hiến Lê viết về xứ Đồng Tháp khi ông lãnh việc đo đạc, xem xét mực nước ở chốn này thời hồi còn trai trẻ; và cũng rất có thể ông chỉ nghe người ta kể về nguồn gốc của ngôi miếu cổ ấy, nên theo tôi đoạn văn này về mặt sử liệu, tính chính xác rất thấp.
Rồi thật bất ngờ, ngay sáng hôm nay tôi vô tình giở quyển Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam của cụ Vương Hồng Sển ( nxb Trẻ,Tp.HCM, năm 1999), mục địa danh Cù Hu, cụ Vương viết như sau:
Tên một vùng đất thuộc làng Tân Thành, tỉnh An Giang xưa, Nơi đây năm 1837 có xảy ra trận giao tranh dữ dội giữa binh nhà Nguyễn với binh Xiêm và binh Miên liên hiệp, trong trận ta thắng nhưng hai tướng tử trận, đó là: Đốc Binh Vàng, có tên ghi vào kinh Đốc Vàng, và Chưởng binh Lễ thành hầu Nguyễn hữu Cảnh, nay còn tên nơi Vàm Ông Chưởng và Lễ Công Giang tên nôm là Ông Chưởng; cũng có một cù lao Ông Chưởng, nay còn nhắc trong câu hát:
Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Rốt lại, cả 2 học giả có học thức rộng, nghiêng cứu sâu và làm việc gì cũng rất nghiêm túc; đều nêu sự kiện giống hệt nhau về mặt nội dung sử liệu.
Lòng đang phân vân, lập tức tôi cầu cứu google, vào vài bộ sách sử, vài quyển sách của Sơn Nam (cũng là một thổ địa Nam Bộ), viết vào thời kỳ này.
Tiêu hao gần trọn ngày tìm kiếm, rốt cuộc đại để các sách đều có nội dung na ná là chỉ nói về cái chết của ông Nguyễn Hữu Cảnh, chứ không hề ghi một chữ gì về ông Đốc Vàng.
…Ông nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày tết Đoan Ngọ ( mùng 5 tháng 5), ông miễn cưỡngra dự tiệc để khuyến lạo tướng si, rồi ông trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14, ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang ( rạch Gầm) thì mất…( Lịch sử An Giang - Sơn Nam. nxb TH An Giang, th.6/1988).
Giờ đây, cụ Nguyễn và cụ Vương đều đã ra người thiên cổ nên tôi không thể hỏi họ đã dựa vào sử liệu nào, để viết như thế.
Tôi cạn nghĩ, ông Đốc Vàng là một Thượng tướng, được phong tới tước Quận công ( nhà Nguyễn thường chỉ phong công thần tới tước hầu; còn tước công chỉ dành cho người trong hoàng tộc và một số ít người lập được nhiều đại công như: Duyệt Quận công Lê Văn Duyệt, Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức...)lại cùng lâm trận với ông Cảnh nhiều danh tiếng, để rồi cùng chết sau trận chiến đấu chống ngoại xâm oai hùng ấy: nếu đúng như vậy, lẽ nào sách vở lại ghi thiếu sót đến thế sao?
Hiện tại, trong đầu tôi hiện ra đôi câu hỏi như thế này:
-Trần Văn Năng, Trần Ngọc là 1 hay 2 người? Xin bạn đọc lưu ý, sử liệu ghi cái chết của họ khác nhau.
-Giải quyết câu hỏi trên xong thì ông họ Trần này, sống vào thời vua Minh mạng và ông Đốc Binh nào đó thời chúa Nguyễn Phúc Chu; ai mới thật là ông Đốc Vàng (tức Đốc binh Vàng), để người hôm nay (là tôi) không phải đắn đo và việc thờ cúng tại đền không phải nhầm lẫn?
Nay xin nêu ra vấn đề để những nhà nghiên cứu, những bạn đọc có hiểu biết hơn, giải đáp cho tôi đôi thắc mắc vừa kể…
Bùi Thụy Đào Nguyên
Long Xuyên 16/10/2007
I.Tôi đã sử dụng nguồn của web baocantho:
Khoảng hơn nửa tháng nay, tôi copy một phần bài viết của tác giả Trần Văn Ngộ đăng trên web baocantho như thế này:
Là một vị tướng đời vua Minh Mạng, Trần Văn Năng (1763-1835) người làng Vĩnh Điểm, phủ Diên Khánh, huyện Vĩnh Xương (nay là tỉnh Khánh Hòa).
Xuất thân từ một gia đình con nhà võ, tuổi trẻ của tướng quân trải dài theo các cuộc chinh chiến chống giặc ngoại xâm và đã lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Dưới tài chỉ huy và mưu trí của ông, quân và dân Việt đã làm nên chiến thắng vang dội trong cuộc thủy chiến khốc liệt, đẩy lùi quân Xiêm do hai viên tướng là Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng kéo sang xâm lược vào nửa đầu thế kỷ XIX (1834), và được vua phong tới tước Quận công.
Năm 1835, Thượng Tưóng lâm bệnh nặng... trên đường xuôi thuyền về kinh để dưỡng bệnh, vừa đến Bến Siêu, khu vực Cù Lao Tây trên cửa sông Vàm Nao (sông Tiền), nay thuộc huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp thì ông trút hơi thở cuối cùng.
Nhân dân thương tiếc tài năng, đức độ của thượng tướng đã lập nên miếu thờ với bài vị là : “Trần Ngọc Thượng tướng Quận công” tại nơi người mất..
Và từ ngôi thờ nhỏ nay trở thành Dinh ông Đốc Vàng to lớn tọa lạc trên vùng đất Thanh Bình. Để xứng đáng với lòng tôn kính đối với Thượng Tướng Trần Văn Năng, dinh ông được xếp hạng là: “Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia” (theo Quyết định số 02/2004/BVHTT ngày 19-1-2004 của Bộ Văn hóa Thông tin).
II.Để chứng minh 2 tài liệu kể ngay sau đây là thiếu chính xác:
1.www.vietshare.com/quehuong/dongthap ( không thấy nêu tên tác giả)
Đền Thờ Thượng Tướng Trần Ngọc (Đền Đốc Binh Vàng): Tọa lạc tại địa phận ấp Nam, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, cách trung tâm thị xã Cao Lãnh 24 km (15 miles) theo hướng tây nam.
Thượng Tướng Trần Ngọc (Đốc Binh Vàng) giữ chức tổng binh kiêm chánh giải quân lương dưới triều vua Minh Mạng.
Năm 1837, trên đường giải quân lương đến biên thùy An Giang, được tin báo thành An Giang thất thủ, ông đã ra lệnh tiêu hủy đoàn thuyền, giải giáp binh sĩ và sau đó rút gươm tự vẫn.
Sau khi mất, triều đình ban tặng ông chức Thượng tướng quận công. Dân chúng nhớ ơn và thương tiếc ông, đã đặt tên con rạch thành rạch Đốc Vàng và lập đền thờ ông tại địa điểm hiện nay.
Năm 1965, đền thờ được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố đẹp và hài hòa với khung cảnh thiên nhiên. Hàng năm, vào các ngày 15, 16 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ kỷ niệm và cúng tế ông rất long trọng với hàng chục ngàn người tham gia.
Ý nhỏ của người soạn:
Viết: Thượng Tướng Trần Ngọc, khiến người đọc rất dễ hiểu lầm đấy là tên của ông.( rất có thể vì người soạn thấy bài vị không ghi nguyên họ tên, mà chỉ ghi “Trần Ngọc Thượng tướng Quận công” nên nhầm lẫn)
Thực ra chữ “Ngọc” chỉ là mỹ tự do nhà vua ban cho để làm tên đệm, giống như chữ Ngọc trong tên tước Thoại Ngọc Hầu.
Và không rõ người soạn dựa theo tài liệu nào để cho rằng ông tự tử khi thành An Giang thất thủ vào năm 1873.
Xin bàn trước việc Thượng tướng bị bệnh mất hay do tự tử:
Sau khi nhờ Google, cũng chỉ là 2 ý khác nhau trên; tôi tra thêm vài bộ sách sử. Điều thật lạ là tôi không thấy bộ sử nào biên chép chuyện của ông.( Sử quan có quên chăng?). Do vậy, trong khi đợi có thêm tư liệu, tôi đành tạm tin theo những gì do ông Nguyễn Văn Ngộ cung cấp, vì tôi thấy người viết tỏ ra khá am tường vụ việc hơn.
Còn việc “thành An Giang thất thủ vào năm 1873”, tôi e rằng trên web vietshare, có thể do lỗi đánh máy, vì tuy miền đất này đã 2 lần thất thủ, nhưng lại là vào những năm:
- Vào năm 1833 ( có thể nhầm năm này), giặc Xiêm do Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng, một theo đường bộ thẳng tới An Giang, một theo đường thủy đến tỉnh Hà Tiên. Hai tỉnh ấy đều bị thất thủ…( theo Minh Mạng Chính Yếu, quyển 20, mục Phấn Võ)
Và một lần nữa :
Ngày 20 đến 24-6-1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25-5-1863) rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng… ( nguồn wikipedia tiếng Việt khi viết về Phan Thanh Giản).
2/ Nguyễn Hiến Lê viết trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười , bản in năm 1954:
Tôi cho tàu thả neo ở vàm rạch Đốc Vàng Thượng, rủ anh Bình lên thăm Dinh Ông.
Dinh là một miếu cổ cất bằng gạch, ở đầu một cái doi, giữa một vườn sao và quay mặt ra sông. Dinh thờ Đốc Binh Vàng. Ông là một vị anh hùng đã hy sinh cho tổ quốc.
Năm 1837 ông với Chưởng Binh Lễ cố công đánh tan giặc Xiêm và Miên đóng hai bên bờ sông gần chỗ này, nhưng cả hai ông đều tử trận.
Triều đình nhớ công, phong cho hai ông làm phúc thần và dân làng cất đình này để thờ Đốc Binh Vàng; còn Chưởng Binh Lễ có miếu ở làng Kiến An bên kia sông. Người ta lấy tên hai ông để đặt tên ba con rạch, tức rạch Đốc Vàng Thượng, rạch Đốc Vàng Hạ và rạch Ông Chưởng ở Chợ Mới.
Ý nhỏ của người soạn:
Cố học giả Nguyễn Hiến Lê đã nhầm vì Chưởng Binh Lễ sinh năm 1650 và mất năm 1700, thời của chúa Nguyễn Phúc Chu; thì làm gì Chưởng Binh Lễ & ông Trần Văn Năng, vị tướng thời Minh Mạng, đánh trận chung và chết chung cho được.
Học giả cũng nhầm lẫn khi viết năm quân Xiêm sang xâm lược nước ta & theo nhiều nguồn, cả hai ông đều lâm trọng bệnh rồi mất.
III.Nhưng hôm nay thì tôi lại phân vân:
Như đã nói trên, tôi soạn bài viết này đã hơn nửa tháng nay.
Thi thoảng có xem đi xem lại đôi ba lần, tôi tự nhận thấy nội dung như vậy là khá ổn.Vì sao? Vì tài liệu tôi sử dụng được đăng tải trên web báo Cần Thơ, tác giả chắc là người thuộc vùng miền này nên tỏ ra khá am tường và di tích đã được xếp hạng chắc chắn phải có bộ hồ sơ kê khai gốc tích, không thể ai muốn nói gì cũng được.
Phần khác, ở đoạn văn mà tôi vừa trích trên chỉ là mấy dòng bút ký của cố học giả Nguyễn Hiến Lê viết về xứ Đồng Tháp khi ông lãnh việc đo đạc, xem xét mực nước ở chốn này thời hồi còn trai trẻ; và cũng rất có thể ông chỉ nghe người ta kể về nguồn gốc của ngôi miếu cổ ấy, nên theo tôi đoạn văn này về mặt sử liệu, tính chính xác rất thấp.
Rồi thật bất ngờ, ngay sáng hôm nay tôi vô tình giở quyển Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam của cụ Vương Hồng Sển ( nxb Trẻ,Tp.HCM, năm 1999), mục địa danh Cù Hu, cụ Vương viết như sau:
Tên một vùng đất thuộc làng Tân Thành, tỉnh An Giang xưa, Nơi đây năm 1837 có xảy ra trận giao tranh dữ dội giữa binh nhà Nguyễn với binh Xiêm và binh Miên liên hiệp, trong trận ta thắng nhưng hai tướng tử trận, đó là: Đốc Binh Vàng, có tên ghi vào kinh Đốc Vàng, và Chưởng binh Lễ thành hầu Nguyễn hữu Cảnh, nay còn tên nơi Vàm Ông Chưởng và Lễ Công Giang tên nôm là Ông Chưởng; cũng có một cù lao Ông Chưởng, nay còn nhắc trong câu hát:
Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
Rốt lại, cả 2 học giả có học thức rộng, nghiêng cứu sâu và làm việc gì cũng rất nghiêm túc; đều nêu sự kiện giống hệt nhau về mặt nội dung sử liệu.
Lòng đang phân vân, lập tức tôi cầu cứu google, vào vài bộ sách sử, vài quyển sách của Sơn Nam (cũng là một thổ địa Nam Bộ), viết vào thời kỳ này.
Tiêu hao gần trọn ngày tìm kiếm, rốt cuộc đại để các sách đều có nội dung na ná là chỉ nói về cái chết của ông Nguyễn Hữu Cảnh, chứ không hề ghi một chữ gì về ông Đốc Vàng.
…Ông nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày tết Đoan Ngọ ( mùng 5 tháng 5), ông miễn cưỡngra dự tiệc để khuyến lạo tướng si, rồi ông trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14, ông kéo binh về, ngày 16 đến Sầm Giang ( rạch Gầm) thì mất…( Lịch sử An Giang - Sơn Nam. nxb TH An Giang, th.6/1988).
Giờ đây, cụ Nguyễn và cụ Vương đều đã ra người thiên cổ nên tôi không thể hỏi họ đã dựa vào sử liệu nào, để viết như thế.
Tôi cạn nghĩ, ông Đốc Vàng là một Thượng tướng, được phong tới tước Quận công ( nhà Nguyễn thường chỉ phong công thần tới tước hầu; còn tước công chỉ dành cho người trong hoàng tộc và một số ít người lập được nhiều đại công như: Duyệt Quận công Lê Văn Duyệt, Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức...)lại cùng lâm trận với ông Cảnh nhiều danh tiếng, để rồi cùng chết sau trận chiến đấu chống ngoại xâm oai hùng ấy: nếu đúng như vậy, lẽ nào sách vở lại ghi thiếu sót đến thế sao?
Hiện tại, trong đầu tôi hiện ra đôi câu hỏi như thế này:
-Trần Văn Năng, Trần Ngọc là 1 hay 2 người? Xin bạn đọc lưu ý, sử liệu ghi cái chết của họ khác nhau.
-Giải quyết câu hỏi trên xong thì ông họ Trần này, sống vào thời vua Minh mạng và ông Đốc Binh nào đó thời chúa Nguyễn Phúc Chu; ai mới thật là ông Đốc Vàng (tức Đốc binh Vàng), để người hôm nay (là tôi) không phải đắn đo và việc thờ cúng tại đền không phải nhầm lẫn?
Nay xin nêu ra vấn đề để những nhà nghiên cứu, những bạn đọc có hiểu biết hơn, giải đáp cho tôi đôi thắc mắc vừa kể…
Bùi Thụy Đào Nguyên
Long Xuyên 16/10/2007