Diễn Đàn » Sau Bức Màn Nhung

Nữ tải tử Kiều Chinh

2 trả lời, 1.714 lượt xem — Trang 1 / 1




Mạn đàm với Nữ tài tử Kiều Chinh về giải “Lifetime Achievement Arward“

[/align][/align]
Nguyễn Ngọc Chấn/VNCR/RadioVNCR.com[/align]
Garden Grove, CA. Ðược biết Nữ Tài Tử Kiều Chinh vừa được Ðại Hội Ðiện ảnh Á Châu San Diego, trao giải Sự nghiệp Ðiện ảnh “Lifetime Achievement Award”, đài phát thanh VNCR và Web site RadioVncr.com đã được nữ tài tử Kiều Chinh dành cho một cuộc mạn đàm trên Website, thu hình tại tư thất của bà ở Garden Grove, California.

Ðược đặc phái viên Hoàng Trọng Thụy hỏi về cảm tưởng, Nữ Tài Tử Kiều Chinh tâm sự:

“Khi được biết Ðại Hội Ðiện Ảnh San Diego gồm nhiều quốc gia Á Châu, Thái Bình Dương tham dự, Kiều Chinh được cái vinh dự này thì rất là vui, nhưng, điện ảnh là cái “team work”, đó là công trình chung do một số người cùng làm việc với nhau khá vất vả. Hôm nay, nhận được giải thưởng này thì tôi xin ngỏ lời cám ơn tất cả những người, từ người viết truyện phim, đạo diễn, nhà sản xuất, các chuyên viên và tài tử khác mà tôi đã có cơ hội được làm việc chung. Ðặc biệt, cuốn phim sau cùng tôi mới làm xong, phim Vượt Sóng “Journey from the Fall” của đạo diễn Trần Hàm và producer Lâm Nguyễn, anh Allan Võ và tất cả nam nữ tài tử trong phim. Kiều Chinh xin trân trọng cám ơn.”

Qua những phút mạn đàm nữ tài tử Kiều Chinh cho biết cái ý nghĩa của giải Lifetime Achievement Award, bà Kiều Chinh kiểm lại đoạn đường dài hơn 50 năm qua đi: “Kiều Chinh cũng xin được cám ơn tất cả khán giả đã và vẫn còn tiếp nhận mình là người nghệ sĩ cũng như cám ơn giới truyền thông đã hỗ trợ Kiều Chinh trong suốt cuộc hành trình với điện ảnh”

Tài tử Kiều Chinh có sự nghiệp điện ảnh kéo dài gần nửa thế kỷ và trải qua nhiều biến động của đất nước. Kiều Chinh bắt đầu đóng trong “Hồi Chuông Thiên Mụ” (1957), và bắt đầu đóng phim cho Hollywood từ khi còn ở trong nước.

Qua Mỹ năm 1975, vai đầu tiên của Kiều Chinh đóng tại Hollywood là bộ phim truyền hình “M*A*S*H” do Alan Alda viết kịch bản, dựa vao một phần đời Kiều Chinh.

Ngoài một trong những vai chính trong “Journey from the Fall,” Kiều Chinh còn đóng trong hàng chục phim của Hollywood, trong đó có nhiều phim chủ đề Á Châu được chú ý, như “Catfish in Black Bean Sauce.” Và tất nhiên phải kể tới vai Suyuan trong “The Joy Luck Club.”

Năm 1996, cuốn phim tài liệu “Kieu Chinh: A Journey Home” của Patrick Perez đài truyền hình KTTV đoạt giải Emmy.

Năm 2003, Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế vinh danh Kiều Chinh với giải sự nghiệp “Lifetime Achievement Award.”

Cũng trong năm 2003 Kiều Chinh nhận được giải Nữ tài tử xuất sắc tại Ðại Hội Ðiện ảnh Turin, Italy.

Tại San Diego, tuần trước, phim Journey from the Fall cũng chiếm giải “Grand Jury Award”, đây là giải lớn nhất của Ðại Hội. Nữ tài tử Kiều Chinh nghĩ sao?: “Rất hãnh diện, khi phim Vượt Sóng của Trần Hàm được giải thưởng cao quý này. Hôm đó họ phát 10 giải cho phim ảnh của nhiều quốc gia khác nhau, lần lượt từng giải nhỏ và cuối cùng, giải cao nhất được trao cho phim Journey From The Fall. Chúng tôi mừng vô cùng, mừng cho cuốn phim đã đành, mừng hơn nữa, đây là cuốn phim dài, đầu tay của đạo diễn Trần Hàm, lại được giải lớn nhất bên cạnh nhiều tác phẩm điện ảnh từ các quốc gia khác như, Ấn Ðộ, Ðại hàn, Nhật bản cùng dự tranh. Nhân đây một lần nữa xin chúc mừng điện ảnh Việt Nam, thế hệ trẻ”

Cuộc mạn đàm với nữ tài tử Kiều Chinh được Web site RADIOVNCR.COM ghi lại trọn vẹn, xin mời quý độc giả bốn phương vào xem hàng chục video clips của VNCR và, lắng nghe tâm tình của nữ tài tử Kiều Chinh nhân dịp bà tiếp nhận giải thưởng cao quý tại Ðại Hội Ðiện ảnh San Diego./ CNN/VNCR.



[/align][/align]

Nữ tài tử Kiều Chinh và tình mẫu tử




[/align]

Bài: Trường An
Hình ảnh: Vũ Ðình Trọng


“Không ai chiếm được ngôi vị của Kiều Chinh tại Việt Nam, tôi nghĩ rằng không ai có thể thay thế bà ấy được” - Nguyễn Thu, giám đốc kỹ nghệ phim VN - Los Angeles Times, số ra ngày 24 tháng 9 năm 1989.

“...Chỉ có tình mẫu tử mới khiến cho bà cương quyết ra đi tìm lại các con, khiến bà mạnh mẽ hơn, can đảm hơn khi phải đối đầu với mọi thử thách”.

Có lẽ nếu không có Kiều Chinh, lịch sử điện ảnh Việt Nam sẽ thiếu đi những mảng màu rực rỡ. Những đóng góp của bà cho điện ảnh Việt Nam từ khi bước chân vào nghề năm 1957 cho đến khi phải bỏ lại tất cả sự nghiệp, những người thân yêu... để đào thoát vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975, thực sự làm người ta phải thán phục.

Hai lần đào thoát là hai lần bà thể hiện bản lĩnh của người phụ nữ Việt Nam. Những sợ hãi trước tương lai tối tăm trước mắt, những đau xót khi phải chia lìa với người thân không làm bà mềm lòng, nản chí. Sự cứng cỏi ẩn trong nét đẹp dịu hiền làm bà tỏa sáng không chỉ trong nghệ thuật mà cả trong đời thường.

Bà là con út trong gia đình họ Nguyễn tại Hà Nội (ông bà Nguyễn Cửu – Nguyễn Thị An), một gia đình theo Tây học và rất mộ đạo Phật. Năm 1945, thế chiến thứ hai bước vào gia đoạn cuối, mẹ bà bị chết cùng người em trai khi phi cơ đồng minh oanh tạc quân Nhật tại ngoại thành Hà Nội, năm đó cô bé Kiều Chinh chỉ mới 6 tuổi. Mồ côi mẹ, bà được bố dành cho nhiều thương yêu để bù đắp phần nào sự thiếu vắng bàn tay chăm sóc của mẹ. Kiều Chinh lớn lên trong sự yêu thương ấy. Những bước đi chập chững vào đời được dìu dắt bởi một người cha, trong vai trò người mẹ, Kiều Chinh được chia sẻ những suy tư đầu đời của một người bố, trong vai trò người anh. Hình ảnh và tình cảm của người cha đã ghi một dấu ấn sâu sắc trong suốt quãng đời lưu lạc, mà rồi mãi 41 năm sau (1995), Kiều Chinh mới được trở về quê để thắp một nén nhang lên mộ bố. Ông Nguyễn Cửu đã chết sau nhiều năm bị tù đày trên chính quê hương mình mà không hề được xét xử vì ông là một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ quốc gia trước năm 1954.

Trong một buổi nói chuyện thân mật với những người bạn tại tư gia, Bà nhớ lại:

“Năm 1954, từng đoàn người di tản vào Nam, và bố tôi cũng chuẩn bị để đưa anh trai tôi và tôi đi. Khi ra tới máy bay thì bố tôi đẩy tôi lên trước và nói:

- Con vào trước, bố đi kiếm anh con rồi vào sau, gia đình mình sẽ gặp nhau trong trại tị nạn.

Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của bố dành cho tôi, vì tôi vẫn hy vọng bố tôi và anh tôi sẽ vào và gia đình tôi sẽ lại sum họp. Sau khi cánh cửa vào miền Nam bị đóng sập lại thì cả thế giới như sụp đổ dưới chân tôi. Một cô bé 15 tuổi, một thân một mình giữa miền Nam hoàn toàn xa lạ, không có cách nào để có thể liên lạc ra miền bắc, không một người thân thích ở miền Nam, tôi không biết tôi sẽ sống ra sao nếu không nhờ một gia đình người bạn bố tôi đi cùng chuyến bay vào nam với tôi, đã cưu mang, đùm bọc, và một năm sau tôi trở thành con dâu của họ.”

Trong khúc quanh lịch sử đó, miền Nam đã vô tình nuôi dưỡng một tài năng mà chỉ cần một vài năm sau đó đã sáng chói trên vùng trời nghệ thuật điện ảnh.

Những kỷ niệm ngọt ngào của một thời mới bước chân vào nghề làm giọng của Bà trở nên sôi nổi và say sưa hơn:

“Bố mẹ chồng tôi rất thương tôi, đối xử với tôi như con ruột, không có chút phân biệt nàng dâu mẹ chồng, do đó tôi rất kính nể các cụ. Khi làm một việc gì tôi đều thỉnh ý các cụ, nếu các cụ đồng ý thì tôi mới làm. Và cuốn phim đầu tiên của tôi đã được các cụ vui vẻ cho phép”.

Năm 1957, Bà bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” trong vai tiểu thư Như Ngọc. Và từ đó cho đến năm 1975, Bà đã đóng vai nữ chính trong 22 phim thực hiện tại Việt Nam và các nước Ðông Nam Á như Philippines, Singapore, Thái Lan, Ðài Loan, Ấn Ðộ... Một số phim nổi tiếng trong thời gian này:




A Yank in Vietnam (1963), còn gọi là Năm Dần, đồng diễn với đạo diễn kiêm tài tử Marshall Thompson.

Operation C.I.A. (1965), đồng diễn với Burt Reynolds.

Destination Vietnam (1968), phim do hãng Paramount sản xuất và được thực hiện tại Việt Nam, đồng diễn với nam tài tử Philippines Leopoldo “King” Salcedo.

Devil Within (1971), xuất phẩm của hãng 20th Century Fox dược thực hiện tại Ấn Ðộ, đồng diễn với nam tài tử Mỹ Rod Perry và người được coi là ông hoàng của điện ảnh Ấn Ðộ thời ấy: Dev Avnal.

Người Tình Không Chân Dung (1973), do Bà sản xuất và diễn vai nữ chính, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Phim đã đoạt hai giải “Phim Chiến Tranh Hay Nhất” và “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” tại đại hội điện ảnh Á Châu năm 1973.

Full House (1975) do J.P. Tan sản xuất và đạo diễn tại Singapore. Phim được ra mắt công chúng Singapore vào đúng tháng Tư năm 1975, trong khi vai nữ chính đang bôn ba trên đường đào thoát.




Ba mươi năm đã trôi qua nhưng những ký ức trong những ngày bôn ba tìm đường đào thoát để được đoàn tụ với các con vẫn còn nguyên vẹn, bà tâm sự với chúng tôi trong niềm đau xót chưa nguôi ngoai:

“Tháng tư năm 1975, tôi và các con tôi đang ở Canada. Tình hình trong nước lúc đó rất lộn xộn nhưng tôi vẫn quyết định phải trở về Việt Nam để thu xếp việc nhà đồng thời đưa bố chồng cùng chồng tôi sang bên này. Thế nhưng khi về đến nơi thì không cách gì chúng tôi có thể thu xếp để toàn bộ gia đình đi được. Sài Gòn ngày càng hỗn loạn và mọi người cũng tìm đủ mọi cách để ra đi. Các con tôi đang học bên Canada thì còn quá nhỏ, điện thoại về thúc giục tôi phải đi ngay.

Lòng tôi rối bời vì những tin đồn ngày càng nhiều, nào là Vua Bảo Ðại sẽ về, miền Trung sẽ trở thành “trái độn” cho hai chế độ của miền Nam và miền Bắc... Ðối với tình cảm của người con, tôi muốn ở lại vì nghĩ rằng biết đâu tôi sẽ được gặp lại bố và anh tôi sau bao năm xa cách, nhưng tình thương của người mẹ đối với các con thì tôi thực sự lo sợ vì nếu tôi không kịp đi thì các con tôi sẽ mất mẹ như 21 năm trước tôi đã mất bố tôi. Và rồi tình mẹ trong tôi đã thúc giục tôi phải làm mọi cách để gặp lại các con, tôi không muốn nỗi đau mất bố năm nào, nay lại chuyển cho các con tôi nỗi đau mất mẹ.

Nhờ một người bạn của gia đình làm trong Air Vietnam, tôi rời Việt Nam trong chuyến bay cuối cùng của Panama Air Line chở nhân viên và gia đình các Ðại Sứ Quán mà không mang được một thứ gì cả. Chuyến đi rời khỏi quê hương lần này cũng giống chuyến di tản của tôi năm 1954, tôi ra đi một mình với hai bàn tay trắng.

Khi máy bay đáp xuống Singapore thì tôi bị vào tù vì bị khép tội nhập cảnh trái phép do không có visa, mà passport của tôi, passport của một nước “vô chính phủ” đã không còn hiệu lực (lúc đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, các Ðại Sứ Quán VNCH đều ngưng hoạt động để chờ lệnh).

Ở trong tù, tôi xin gọi điện thoại ra ngoài cho các bạn tôi để nhờ giúp đỡ nhưng không được phép. May thay, trong giờ được ra ngoài làm vệ sinh cá nhân tôi thấy người cai tù đang đọc một tạp chí mà hình của tôi nằm ngay trang bìa. Tôi liền chạy lại gần kêu lên: “It's me. It's me” và chỉ cho ông ta xem tấm hình của tôi. Mặc dù tấm hình chụp trên bìa tạp chí thật đẹp khác xa với tôi ngoài đời do mấy ngày này mắt thâm quầng vì lo lắng, mất ngủ, lại không được nghỉ ngơi ăn uống gì cả nhưng cuối cùng ông ta cũng nhận ra tôi và cho phép tôi được gọi điện thoại ra ngoài.

Các bạn tôi liền đóng tiền để tôi được thả đồng thời liên lạc với chính phủ nước sở tại. Họ chỉ cho phép tôi lưu cư tại Singapore trong vòng 48 tiếng vì tôi là người “vô tổ quốc”. Bằng một vé máy bay một chiều (one way) đi khắp thế giới, các bạn tôi đã giúp tôi rời khỏi Singapore và chúng tôi phó mặc cho định mệnh an bài số phận của tôi.

Tôi lên máy bay với một nỗi lo lắng tột cùng. Không biết gia đình chồng có đi được hay không? Không biết các con tôi hiện nay ra sao? Tôi cảm thấy lạc lõng vô cùng trên chuyến bay mà tôi là người duy nhất không có tổ quốc.

Trong suốt cuộc hành trình vô định, vì tôi không biết mình sẽ thuộc về nước nào, không một đồng xu dính túi, tôi thu gom đồ ăn người ta phát trong chuyến bay để dành ăn từ từ trong khi chờ chờ chuyến bay chuyển tiếp và uống nước lạnh tại các thùng nước đặt trong phi trướng.

Tôi ghé qua Bankok - Hongkong - Ðài Loan - Ðại Hàn - Nhật - London (Anh Quốc) - New York (Mỹ) và cuối cùng là Cannada.

Máy bay đáp xuống Canada lúc 12 giờ trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975. Theo luật lệ quốc tế tôi nghiễm nhiên trở thành thường trú nhân của nước Canada. Các con tôi đón tôi tại phi trường, chúng tôi ôm nhau vào lòng và khóc nức nở. Trải qua chuyến bay định mệnh đó tôi nghĩ rằng không có gì có thể chia cắt được mẹ con chúng tôi, chúng tôi sẽ sống và yêu thương, đùm bọc nhau trong suốt quãng đời còn lại.”

Kiều Chinh chỉ là một trong hàng triệu người trải qua hai lần đào thoát tìm tự do. Qua câu chuyện của bà, chúng tôi không cố ý đề cao bà vì bà là một nghệ sĩ nổi tiếng. Chúng tôi kính trọng bà vì tình mẫu tử. Chỉ có tình mẫu tử mới khiến cho bà cương quyết ra đi tìm lại các con, tình mẫu tử đã khiến bà mạnh mẽ hơn, can đảm hơn khi phải đối đầu với mọi thử thách.

Chúng ta luôn có những Bà Mẹ Việt Nam như thế!

[/align]







Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Hình ảnh tài tử Kiều chinh
 
 






📎 KC|KC1|KC3
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-21 10:04:06Thanh Vân>
Kiều Chinh, 50 Năm Điện Ảnh 70 Năm Cuộc Đời

Triều Giang



Năm 2007 là năm đánh dấu 50 năm sự nghiệp điện ảnh và 70 năm tuổi đời của nữ tài tử Kiều Chinh. Viết về một con người và một cuộc đời dài gần ¾ thế kỷ với không gian quá nửa vòng trái đất; từ thành phố Hà Nội, tới thủ đô điện ảnh Hollywood, với những thành quả có thể trải trên nhiều ngàn trang sách, mà phải gói ghém trong khuôn khổ một bài báo, thực chỉ là làm công việc 'cưỡi ngựa xem hoa'. Trong tinh thần ấy, mời độc giả đi thăm một vài nết chính về cuộc đời và sự nghiệp của người nghệ sĩ khả ái trong thời đại chúng ta.

50 Năm Điện Ảnh
Từ Ni Cô Của  'Hồi Chuông Thiên Mụ' đến 'Người nghệ sĩ huyền thoại của VN và Á Châu'
Sự nghiệp 50 điện ảnh cuả nữ tài tử Kiều Chinh, một sự nghiệp mà nửa thế kỷ qua chưa có một diễn viên điện ảnh người Việt nào có thể so sánh được. Bắt đầu từ năm 1957, khi ấy, vừa tròn 20 tuổi, chị được mời đóng vai đầu tiên là ni cô trong phim 'Hồi Chuông Thiên Mụ' mà nhà sản xuất là cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm.

Có thể nói, chị là một trong những người có mặt đầu tiên trong ngành điện ảnh Nam VN. Từ lúc phôi thai ở giữa thế kỷ 20, đến khi tạm chấm dứt vào năm 1975, chị đã đóng góp vào điện ảnh Nam VN 22 cuốn phim. Từ những phim đóng với các nhà sản xuất, đạo diễn VN đến các nhà đạo diễn và sản xuất Á Châu như Ấn Độ, Phi Luật Tân, Thái Lan, Đài Loan, Singapore, cho đến một số phim Hoa kỳ quay tại Á Châu như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Hai phim VN cuối cùng là 'Người Tình Không Chân Dung' của Đạo Diễn Hoàng Vĩnh Lộc và 'Hè Muộn' của Đạo Diễn Đặng Trần Thức, chị đóng vai chính, sản xuất bởi hãng phim 'Giao Chỉ', hãng phim do chính chị thành lập và điều hành. Có thể nói, phim Devil Within với vai công chuá Ấn Độ năm 1971 là phim đưa sự nghiệp của chị lên đến tột đỉnh vào thời kỳ này.

Ngoài ra, chị cũng từng điều khiển một Talk Show trên đài truyền hình Sài gòn. Chị đã phỏng vấn nhiều gương mặt lừng danh của Hollywood như Danny Kay, Tippi Hedren... Chị đã đoạt giải Đệ Nhất Diễn Viên của Nam Việt Nam năm 1969, và của Đại Hội Điện Ảnh Á Châu năm 1973.
Con đường Hollywood gian nan với trên 100 phim, truyền hình và giải Emy Award  

Nếu trước năm 1975 điện ảnh đã tìm đến chị như một sự tình cờ, chị đã gặt hái hết thành công này tới thành công khác từ những ngày đầu, thì khi đến Hoa Kỳ lúc đã 38 tuổi, người diễn viên đệ nhất của Nam VN đã quyết định ở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu lại từ số không với  Hollywood, nơi mà hàng ngàn nghệ sĩ trẻ Hoa Kỳ cũng như từ khắp nơi trên thế giới ước mong được len chân vào. Nhưng, cũng đã có biết bao giấc mơ bị dang dở với thất bại chua cay. 

Từ những vai nhỏ chỉ có đôi ba giòng đối thoại trong phim, hai năm sau, chị đã được thủ vai chính bên cạnh tài tử bậc nhất Alan Alda trong chương trình truyền hình M*A*S*H.  Sau khi đóng phim với Kiều Chinh, Alan Alda đã nói về Kiều Chinh trên Johnny Carson Show và trên báo TV Guide:
“Tài ba như cô ấy, nhất định Hollywood phải có chỗ cho cô”


Tính đến hôm nay, chị đã có mặt trong trên 100 phim và chương trình truyền hình. Trong đó có những phim thật nổi tiếng như
The Letter (1986), Welcome Home (1989), Vietnam-Texas (1989), The Joy Luck Cub (1993),  Riot (1997), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What Cooking (2000), Face (2001), Tempted (2003), Journey from The Fall (2004). Có thể nói phim Joy Luck Club xác nhận vị trí hàng đầu của chị trong thế giới Hollywood. 

Năm 1996, Hàn Lâm Viện Khoa Học Và Truyền Hình đã vinh danh Kiều Chinh và trao giải Emy Award, một giải cao quý nhất của Truyền Hình Hoa Kỳ cho phim tài liệu 'Kiều Chinh A Journey Home', do Patrick Perez, Fox Telievision thực hiện. Chị còn lãnh nhận nhiều giải thưởng khác trong các đại hội điện ảnh từ Âu Châu, Á Châu, đến Mỹ Châu như Life Time Achievement Award của Đại Hội Điện Ảnh Á Châu tại San Diego 2006, The 10th Festival Internazionale Cinema Delle Donne, tại Ý, 2003.  

Từ Diễn Viên Đến Diễn Giả
Sự thành công của chị được nhiều giới ái mộ. Nhờ cách nói chuyện thật truyền cảm, thu hút đám đông, chị được mời làm diễn giả nhà nghề (professional lecturer) của  tổ chức The Greater Talent Network, Inc., một tổ chức chuyên cung cấp những diễn giả nhà nghề cho các trường đại học và các tổ chức văn hoá trên toàn nước Mỹ. Trên 13 năm qua,  từ 1994, chị đã đứng trên hàng trăm diễn đàn cuả Hoa kỳ đề nói lên những điều khó khăn cũng như những đóng góp tích cực cuả người Mỹ gốc Việt, về kinh nghiệm cuả chị, một nghệ sĩ VN  lưu vong cũng như chia xẻ cái nhân sinh quan đầy nhân bản của một phụ nữ VN trước mọi nghịch cảnh của cuộc sống. Chị là nguồn cảm hứng cho biết bao người trẻ Hoa Kỳ dù là gốc Á Châu, Âu Châu, Phi Châu, hay dân bản xứ.

Chị đã được Quốc hội Hoa Kỳ vinh danh là 'Người Tị Nạn Năm 1990'. 1986 được tổ chức Asian Pacific Woman Network tặng giải 'Woman Warrior Arward', và nhiều giải thưởng cao quý khác. Chị thực là một sứ giả VN xinh đẹp, tài giỏi, đầy lòng nhân ái và là niềm hãnh diện của cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói riêng và mọi người Việt Nam nói chung.

70 Năm Cuộc Đời
Kiều Chinh sinh ngày 3 tháng 9 năm 1937, tuổi Đinh Sửu, tại Hà Nội. Là con gái út của ông Nguyễn Cửu, một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ Bảo hộ Pháp, và bà Nguyễn Thị An. Năm 6 tuổi, chiến tranh đã cướp mất người mẹ và người em chưa chào đời cuả chị. Sau đó, chị sống được ít năm hạnh phúc với cha, với chị và người anh trong khung cảnh nhung lụa của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ.

Kiều Chinh bị ảnh hưởng người cha về học thức, về nhân cách, về sự yêu thương con cái và gia đình đến hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình, quý mến bạn bè và nhất là lòng say mê điện ảnh không có gì thay thế được. Cha chị, ông Nguyễn Cửu, người con trai duy nhất của điền chủ họ Nguyễn, chủ nhân khách sạn Đồng Xuân, Hà Nội. Ông Cửu theo Tây học nhưng mang lý tưởng quốc gia và có tâm hồn nghệ sĩ. Trong phòng khách văn chương của gia đình họ Nguyễn thường lui tới những nhân vật thời danh của Hà Nội như ông Dương Đồ Cổ hàng Trống, ông An hàng Đào, ông Phúc chủ nhân đồn điền Cam Bố Ha, ông Hùng tay đua xe hơi hạng nhất đường Hà Nội-Hải Phòng, cùng  những nhà văn, nhà thơ tên tuổi như Ngọc Giao, Vũ Hoàng Chương, Lê Văn Trương, Đinh Hùng... Là con út mồ côi mẹ từ nhỏ, Kiều Chinh được Bố thương đi đâu cũng mang theo, không cuộc họp mặt nào của bố mà thiếu vắng. Vì thế, chị đã thấm nhuần  tư tưởng của Bố và những bằng hữu của ông.

Ngay từ thời thơ ấu, Bố còn luôn đưa cô 'công chúa của bố' đi xem xi nê tại rạp Majestic hay rạp Philhamonique. Khi ngồi bên bố, không những xem phim lại còn được bố giảng giải cho từ truyện phim cho tới các tài tử. Phim ảnh do đó, đã ăn sâu vào tim óc chị từ thuở thơ ấu. Chị Kiều Chinh từng tâm sự:
'Người đàn ông quan trọng nhất trong đời của tôi là bố tôi...'

Năm 1954, cuộc chiến tranh chống Pháp kết thúc bằng hiệp định Geneve, chia cắt hai miền Nam Bắc và cũng cắt đứt cuộc đời ấu thơ tươi đẹp, hạnh phúc nhưng ngắn ngủi của chị. Người chị của Kiều Chinh lập gia đình và theo chồng sang Pháp. Đêm trước ngày cả gia đình di cư vào Nam, người anh theo tiếng gọi thanh niên bỏ nhà tham gia kháng chiến. Sau hai ngày chờ đợi tại phi trường Bạch Mai, phút chót người cha đẩy cô con lên máy bay nói “Con vào Nam trước, Bố ở lại tìm anh rồi sẽ vào sau.” Đây là lần sau cùng Kiều Chinh trông thấy Bố.

Năm ấy chị mới 17 tuổi, một thân, một mình nơi xứ lạ, trông ngóng ngày gặp Bố, nhưng ngày ấy không bao giờ tới nữa. Kiều Chinh đã khóc hết nước mắt, khi thời hạn 300 ngày tiếp thu miền Bắc chấm dứt. Bức màn tre đổ xuống làm tan vỡ ước mơ cha con xum họp. Chiến tranh đã cướp mất tất cả những người thân yêu của chị.

Tại miền Nam Việt Nam, Kiều Chinh được gia đình một người bạn của Bố là ông bà Nguyễn Đại Độ giúp đỡ và sau này chị trở thành con dâu của gia đình. Kiều Chinh  kết hôn với thứ nam của cụ Độ là anh Nguyễn Năng Tế, một sĩ quan Nhẩy Dù VNCH.
Lúc đó, chị mới 18 tuổi. Cuộc hôn nhân mang lại 3 người con, một gái hai trai.

Năm 1957, hai năm sau ngày di cư, Kiều Chinh được mời đóng vai ni cô trong cuốn phim đầu tiên  'Hồi Chuông Thiên Mụ' và nhiều phim sau đó. Dù là một diễn viên, khi ra ngoài được gọi là 'minh tinh màn bạc' nhưng sau cánh cổng của gia đình, chị vẫn chu toàn mọi bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ trong một gia đình nền nếp kiểu Bắc. 

Chuyến bay vòng quanh thế giới trong những giờ Nam VN hấp hối
Trung tuần tháng 4 năm 1975, chưa đủ một tuần sau khi trở về VN sau khi hoàn tất phim 'Full House' tại Singapore, chị lại phải đáp chuyến máy bay thương mại cuối cùng rời khỏi VN..Niềm hy vọng được gặp ngưòi cha yêu dấu sau 22 năm xa cách đã bị dập tắt vì  'nước mắt chảy xuôi', chị phải tìm cách đi sang Canada, nơi cả 3 người con của chị đang du học.
Tới Singapore, chị bị bắt vào nhà giam vì  thông hành ngoại giao mà chị đã được chính phủ VNCH trao cho sau khi chị được tặng tước hiệu 'Sứ giả của Nghệ Thuật và Thiện Chí của VN', với phim 'Devil Within' tại Ấn độ năm 1971, không còn giá trị.  May sao lúc đó tạp chí Female tại Singapore có đăng bài về phim 'Full House' và hình chị tại trang bià. Tờ báo đã giúp chị ra khỏi nhà giam và được lệnh rời Singapore trong vòng 48 tiếng đồng hồ.

Sau khi mất nước, mỗi người chúng ta đã trải qua một hành trình đi tìm tự do khó quên. Hành trình tìm tự do cuả Kiều Chinh cũng thật đặc biệt. Chiều ngày 25 tháng 4, 1975, chị bay chuyến bay vòng quanh thế giới trong lúc Sàigòn hấp hối, Chị không được phép nhập cảnh bất cứ một quốc gia nào vì, Nam VN đối với quốc tế lúc bấy giờ là đang trong tình trạng vô chính phủ. Chờ cho tới khi VN mất, lúc ấy chị mới có quyền xin tị nạn.

Sau 100 giờ bay, với những giờ phút đau khổ, lo sợ, nôn nóng đến tột cùng của cảnh 'nước mất, nhà tan', với bộ quần áo, và chiếc sắc tay duy nhất trên người, Kiều Chinh đã đáp xuống không biết bao nhiêu là phi trường chung quanh quả địa cầu. Đúng 6 giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi chuyến bay của chị đáp xuống Torronto, Canada. Kiều Chinh mừng tủi ôm được ba người con trong tay, nước mắt trào ra khi nghe tin Saigon thất thủ.

Khi thành người tị nạn tại Canada, công việc đầu tiên Kiều Chinh là quét dọn, hốt phân gà, với số lương tối thiểu. Anh Tế lúc này cũng đã tới đảo Guam rồi sau đó sang Canada đoàn tụ với gia đình. Hiểu rằng đây không phải là đời sống của mình và tương lai các con, Kiều Chinh quyết định tìm mọi cách vào Mỹ.  Tháng 7 năm 1975, nhờ sự bảo lãnh của người bạn cũ là tài tử Tippi Hedren , Kiều Chinh  và gia đình  sang định cư tại California.
“ Xin Nguyện cầu cho sự đoàn tụ cuả những gia đình bị chia lià vì chiến tranh”

Khi Kiều Chinh bắt đầu tìm cho chị được một chỗ đứng tương đối thì được tin bố mất sau những ngày lao tù. Ông đã chết trong cô đơn và thiếu thốn. Niềm hy vọng được gặp bố băng xương bằng thịt cũng tiêu tan. Cuộc hôn nhân kéo dài 25 năm,  đã chính thức chấm dứt. Và khi hỏi về người chồng cũ cuả chị bây giờ đã có gia đinh mới, chị luôn nhẹ nhàng nói:  'Anh Tế, đúng như cái tên mà các cụ đã đặt, anh ấy là một người rất tử tế. Chỉ tiếc duyên phận của mình chỉ  có vậy. Bây giờ mình vẫn coi anh ấy như người anh, người bạn, thường gặp nhau trong những sinh hoạt chung của gia đình.”

Trong chuyến trở về VN lần đầu tiên năm 1995, sau 20 năm xa Sài gòn và 41 năm xa Hà Nội trong chuyến công tác cho Viêt Nam Children's Fund, tổ chức xây trường cho trẻ em VN, Kiều Chinh đã ôm lấy mộ của bố, nỗi đớn đau cuả 41 năm xa cách, nhớ thương bật thành tiếng khóc: 'Bố ơi, con đã về! Chị đã khóc lặng người trước mộ phần của bố.

Nỗi đau khi nghĩ về những đày ải bố phải gánh chịu trong những ngày tù đày và những khốn khổ thiếu thốn cả miếng ăn, mọi người đều xa lánh khiến bố đã chết trong cô đơn và đói lạnh đã cắt từng tế bào của người nghệ sĩ VN tị nạn.

Và trong những giờ vinh quang nhất cuả sự nghiệp, buổi lễ nhận giải Emy Arward cho phim tài liệu “Kieu Chinh, A Journey Home” của nhà sản xuất Patrick Perez; phim nói về chuyến thăm quê hương cuả Kiều Chinh. Chị đã tuyên bố trước hàng ngàn khan giả tại chỗ và hàng trăm triệu khán giả trên toàn thế giới qua những cuộc trực tiếp truyền hình:
“ Xin nguyện cầu cho sự đoàn tụ đưọc đến với tất cả các gia đình bị chia lià vì chiến tranh trên toàn thế giới”   

Sống như 5 đời sống
Đã có rất nhiều nhà văn, nhà báo, nhà làm phim nổi tiếng Việt Nam cũng như ngoại quốc viết và nhận định về cuộc đời, và con người của chị Kiều Chinh. Mỗi người nhìn một cách khác nhau nhưng, người viết thích nhất là nhận xét của hai nhân vật, đó là  nhà văn nữ Alison Leslie Gold, và nữ tài tử nổi tiếng Tippi Hedren.

Bà Alison Leslie Gold,  người viết cuốn 'Nhật ký của Ann Frank', một trong những 'best seller' đã được dịch ra 16 thứ tiếng và được làm thành phim đoạt giải Emy Award năm 1994, phim 'The Attic', Bà Gold đã viết về Kiều Chinh như sau:
'Kiều Chinh là một phụ nữ phi thường. Bà đã sống như 5 đời sống. Kiều Chinh đã sống như một nhân chứng chua cay và từng trải qua cơn lốc thời cuộc mang nhiều tính tranh cãi nhất cuả thời đại chúng ta. Tôi xin ngả mũ chào Kiều Chinh, một phụ nữ có sắc đẹp cao quý của viện bảo tàng, một nghệ sĩ với tài năng hiém có, và với tôi, Kiều Chinh là người bạn trung thực và cao quý.'

Nhận xét về con người của chị Kiều Chinh, Tippi Hedren, một trong những tài tử hàng đầu của Hollywood, người đã bảo trợ Kiều Chinh vào Mỹ,  đã nhận xét như sau:
'Kiều Chinh thực sự là một trong những phụ nữ can đảm nhất, mạnh mẽ nhất, và dịu dàng nhất mà tôi được quen biết trong suốt cuộc đời của tôi' ( Kieu Chinh is indeed one of the bravest, strongest, and gentlest woman I have ever met in my life.)


Cuộc đời của Kiều Chinh là một định mệnh khắc nghiệt, một thân phận nổi trôi với vận nước thăng trầm. Có thể nói, đời chị, hạnh phúc, đắng cay, thành công, thất bại đã đến mức tận cùng cuả nó. Nhưng chị đã vượt lên tất cả bằng nghị lực, sự quả cảm, lòng vị tha, một nhân cách đặc biệt, và bằng một sức làm việc kiên trì, bền bỉ hiếm có.

Sống giữa ánh sáng chói loà của kinh đô điện ảnh, thế giới của chị là thế giới của vật chất xa hoa với phấn son, áo quần, trang sức, xe cộ,,,nhất nhất phải là đệ nhất, nhưng chị sống rất nội tâm. Ngoài những giờ đi đóng phim và học hỏi, trau dồi nghề nghiệp, chị đã dành thì giờ và những gì chị có để yêu thương gia đình, yêu quý bạn bè, dành một phần đời không nhỏ cho các hoạt động xã hội từ những ngày còn ở VN với các thương bệnh binh và cô nhi quả phụ. Đến việc chia xẻ với người VN tị nan trong những ngày tháng bơ vơ tại xứ lạ, quê người, Và cho tới nay,  hội VCF do chị là Chủ tịch sáng lập  đã xây cất  xong 42  trường tiểu học cho nhiều chục ngàn trẻ em  Việt Nam tại các vùng quê từng bị tàn phá bởi chiến tranh.
Bí quyết nào giúp chị bảo đảm được những giá trị tinh thần kể trên nhưng vẫn tạo cho mình một bề ngoài với vẻ đẹp, với phong thái hàng đầu tại Hollywood? Chính là chị đã không chạy đua với hào nhoáng, xa xỉ, nhưng chị đã chọn cái đẹp cuả sự đơn gỉản nhưng thanh nhã và trang trọng, một sự giản đơn có chọn lọc nên không tầm thường. Chị là biểu trưng cho cái đẹp tự nhiên, kín đáo cổ điển luôn vững bền và đứng trên những cái đẹp rực rỡ, chói chang mau tàn, mau chán.

Kiều Chinh và những ước mơ hôm nay
Những ngày còn làm cho báo Sóng Thần trưóc năm 1975, một lần nhà văn Hoàng Hải Thuỷ có sắp xếp cho tôi phỏng vấn chị Kiều Chinh, nhưng vì một lý do nào đó mà tôi không còn nhớ, vào giờ chót cuộc phỏng vấn không thực hiện được. Phải chờ mãi đến năm 1983, khi còn làm việc thường trực cho Báo Ngày Nay, tôi mới gặp chị và thực hiện cuộc phỏng vấn chị đầu tiên tại Houston. Sau đó, tôi cũng đã viết một số bài khác về chị. và có gặp chị một lần nữa tại Houston và môt lần khác nữa tại DC. Còn lại chị và tôi thường trao đổi với nhau qua điện thoại. Mãi đến năm ngoái, khi chị hướng dẫn phái đoàn của hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt sang đảo Guam để nhận lãnh tài liệu lịch sử cuả người Việt tị nạn từ năm 1975, một số các anh chị em trong hội và tôi đã được sống với chị 4 ngày trọn vẹn. Chuyến đi lịch sử này ngoài việc hoàn tất việc sưu tầm chương sử đầu tiên của người Mỹ gốc Việt, chuyến đi còn giúp tôi hiểu rõ hơn, học hỏi nhiều hơn về một người bạn vong niên yêu quý mà tôi đã đưọc quen biết hơn 20 năm qua.

Tuy là chuyến đi 4 ngày, trừ 1 ngày đi đường, phái đoàn có mặt trên đảo Guam có 3 ngày nhưng đã có tới 7 cuộc thăm viếng, hội họp. Sự khác biệt về giờ giấc khiến những người trẻ trong phái đoàn có cố gắng nhưng đôi khi cũng không giấu được vẻ mệt mỏi. Riêng chị, chị lúc nào cũng tươm tất. Buổi sáng chị dậy sớm. Chị luôn là một trong những người có mặt tại 'lobby' đầu tiên. Ngồi trên chiếc xe van chạy từ buổi lễ này sang những cuộc chào đón khác, chị luôn luôn  giữ không khí tươi vui nhưng trang trọng.

Trong các buổi lễ và họp mặt, chị ngồi lắng nghe chăm chú. Những bài nói chuyện của chị được soạn thảo kỹ lưỡng. Khi đứng trước khán giả, chị thu hút người nghe bằng sự khoan thai, nhẹ nhàng và tiếng nói trầm ấm, rõ ràng, truyền cảm. Những bài nói chuyện của chị không dài nhưng cô đọng. Nhìn khán giả ngồi im phăng phắc nghe chị nói chuyện, nhìn những cái bắt tay trang trọng của ông bà Thống đốc, bà dân biểu, báo chí, và đại diện các ban ngành của chính quyền cũng như dân sự cuả đảo Guam để hiểu được sự quý trọng của người dân ở đây dành cho chị nói riêng và cho người Việt tị nạn nói chung. Chị đã là linh hồn, là sự thu hút và là niềm vui của chuyến đi lịch sử này.

Người viết cũng xin mở ngoặc ở đây để nói về những đóng góp to lớn của các anh chị trong hội và hai cơ quan truyền thông tháp tùng chuyến đi; đài Saigon-Houston Radio và đài truyền hình SBTN . Ngoài việc hy sinh thời gian, người tham dự còn phải đài thọ một phần lớn chi phí của chuyến đi. Riêng với chị Kiều Chinh, với vai trò diễn giả nhà nghề, mỗi bài nói chuyện của chị. trị giá hàng chục ngàn đô la, nhưng chị đã đóng góp tất cả cho kho tàng lịch sử và văn hoá người Mỹ Gốc Việt.Vì đó, chính là một trong những ước mơ cuối đời của chị.

Những giờ được ngồi bên chị trên những ghềnh đá cheo leo với biển xanh ngát và tiếng sóng vỗ rì rầm, hoặc bên những thảm hoa rực rỡ cuả 'hòn đảo thần tiên của người Việt tị nạn', chị đã nói về những mơ ước cuả chị về một thư khố cho người Mỹ gốc Việt trong đó sẽ tàng trữ những văn kiện lịch sử, những hình ảnh, phim ảnh, sách báo cuả người Việt tự do, về việc sưu tầm và viết về những văn nghệ sĩ lưu vong VN,  về niềm mong ước có một nơi chốn gọi là 'Nhà Việt Nam.'  Nơi đây sẽ là linh hồn của cuả người Việt tị nạn, là nền móng của lịch sử và đời sống người Mỹ gốc Việt để cho thế hệ hôm nay và mai sau có nơi chốn để đi về, để thăm viếng, để lễ hội.

Trên chuyến bay dài hơn 5 tiếng đồng hồ từ Guam tới Tokyo, tôi đã ngồi bên chị để lắng nghe chị cho ý kiến về việc điều hành và phát triển hội. Ý kiến thật phong phú của một người đọc rất nhiều và kinh nghiệm sống rất dầy. Ở tuổi 70 mà chị vẫn làm việc và suy nghĩ với tốc độ của thanh niên 20-30. Thú thật, tôi nhiều lúc phải chạy theo chị hụt hơi. Chị chia tay với phái đoàn từ phiá trung và đông nưóc Mỹ tại phi trường Tokyo. Chị bắt tay và ôm từng anh chị em quyến luyến. Trong cái xiết tay thật chặt và thật ân cần dành cho tôi, chị thì thầm vào tai tôi: 'Nhớ nghe, phải có Nhà Việt Nam'

Cuối tháng giêng 2007, nhân chuyến đến DC để viện bảo tàng Smithonian vinh danh, chị cũng không bỏ qua cơ hội để cùng với chị Khúc Minh Thơ và Hội Bảo Tồn Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt vào quốc hội Mỹ để vận động cho những người Việt vô quốc gia tại Phi Luật Tân, Thái Lan và Căm Bốt. Gặp chị, chị trao cho tôi cuốn sách bằng tiếng Anh với tựa đề: 'Kiều Chinh, Vietnamese American'. Tôi đứng lặng người vì vừa nhận ra được cái thâm sâu đầy cao thượng của người nghệ sĩ khải ái cuả chúng ta. Chị đã vinh danh người Mỹ gốc Việt của chúng ta bằng sự chiến thắng một cuộc đời đầy sóng gió vì nghịch cảnh và vì chiến tranh, và bằng những vinh quang của những thành quả mà người thường có lẽ phải sống tới 5 đời người mới có được. Chị khẳng định rõ ràng, ngắn gọn: 'Kiều Chinh, Người Mỹ Gốc Việt'

Còn đối với đất nước Việt Nam thì ra sao? Chị trả lời người viết trong bài phỏng vấn nhân ngày kỷ niệm 50 năm sự nghiệp điện ảnh của chị, cũng ngắn gọn nhưng thiết tha như tiếng kinh cầu: 

'Tôi yêu quê hương, coi quê hương và thế giới như một mái nhà và mong ước  mọi người sống trong ngôi nhà đó được êm ấm, khoẻ mạnh, và hạnh phúc'

Triều Giang
Tháng 9/07 

( Nguồn thư viện toàn cầu)
📎 kc4
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0