📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Hòa Bình Vang Tiếng Súng (tài liệu chiến tranh)

7 trả lời, 4.829 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 07:45:53lyenson>
Hòa Bình Vang Tiếng Súng
Tác giả: Mê Kông
http://vietnam.ictglobal.net/
 
I. MẶT TRẬN BẮC HẢI VÂN
Về mặt quân sự, lãnh thỗ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được chia thành bốn vùng chiến thuật mang số từ 1 đến 4, đến năm 1971 thì được đổi tên lại là quân khu. Quân Khu 1 là khu vực cực Bắc của VNCH, tiếp giáp với Bắc Việt nên là khu vực thường xuyên bị áp lực nặng nề nhất dù là khu vực nhỏ nhất trong 4 quân khu về mặt lãnh thổ. lãnh thổ của Quân Khu 1 bao gồm 5 tỉnh:Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngải chạy dài từ Bắc xuống Nam với hai thành phố quan trọng là Huế và Đà Nẵng. Đà Nẵng trong tỉnh Quảng Nam là thành phố lớn thứ nhì của VNCH, sau thủ đô Saigon và là một trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng nhất ở phía Bắc Saigon.
Được thiên nhiên ưu đải với một hải cảng tốt và bờ biển dài và đẹp, Đà Nẵng được chọn là nơi những người lính bộ chiến đầu tiên của Quân Đội Mỹ đặt chân lên đất Việt Nam vào năm 1965. Mỹ đã xây dựng Đà Nẵng thành một căn cứ quân sự lớn gồm có phi trường/căn cứ không quân, hải cảng/căn cứ hải quân và các trung tâm tiếp vận/yểm trợ lớn và hiện đại. Phía Việt Nam Cộng Hòa cũng có các căn cứ không/hải quân lớn ở đây cùng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, chỉ huy toàn bộ các đơn vị cơ hữu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên lãnh thổ Quân Khu 1.
Huế trong tỉnh Thừa Thiên là cố đô của nước Việt Nam dưới triều đại phong kiến sau cùng của nhà Nguyễn với những di tích lịch sử và văn hóa quan trọng như các cung điện trong Hoàng Thành/Thành Nội và các ngôi chùa nổi tiếng trong thành phố và các lăng tẩm vua ở khu vực ngoại ô thành phố. Không có giá trị quan trọng về quân sự và kinh tế như Đà Nẵng, Huế lại có một giá trị vô cùng quan trọng về mặt chính trị, lịch sử và tâm lý cho chính phủ VNCH. Do đó Huế được coi trọng và phải bảo vệ đến cùng.


Hình chụp sau cuộc chiến trên một khúc đường đèo Hải Vân
(HÌNH ẢNH: Multipurpose).

Về phía Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), hai tỉnh địa-đầu Quảng Trị và Thừa Thiên trực thuộc Quân Khu Trị Thiên, bí danh "B-4," và đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của Quân Ủy Trung Ương cùng Bộ Tổng Tư Lệnh ở Hà Nội. Hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam được ngăn cách bởi rặng núi Hải Vân đâm thẳng ra biển Nam Hải tại đèo Hải Vân đẹp nổi tiếng nhưng cũng đầy nguy hiểm.
Sự phân chia về địa lý và thời tiết này đã tạo ra hai khu vực/mặt trận quân sự cách biệt ở Quân Khu 1 là Bắc Hải Vân --gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên-- và Nam Hải Vân (Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngải). Bài viết sẽ tập trung vào những hoạt động quân sự quan trọng trong khu vực Bắc Hải Vân từ đầu năm 1971 khi Quân Lực VNCH mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào để tiêu diệt hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh cho đến khi thành phố Huế và hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên mất vào tay Cộng Sản trong cuộc tổng tấn công kết thúc cuộc chiến vào mùa xuân năm 1975. Phần đầu tiên sẽ nói về năm 1973, năm đầu tiên sau hiệp định Paris về ngưng bắn và tái lập hòa bình ở Miền Nam Việt Nam, cho đến khi chiến tranh kết thúc vào tháng 4 năm 1975.
TÌNH HÌNH QUÂN SỰ CUỐI NĂM 1972-TRƯỚC NGÀY NGỪNG BẮN
Vào tháng 12 năm 1972 những đàm phán giửa Hoa Kỳ và Bắc Việt tại hội nghị Paris về một giải pháp ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Miền Nam Việt Nam đang bước vào giai đoạn căng thẳng quyết định thì trên chiến trường Miền Nam Việt Nam những nổ lực tổng tấn công xâm-lăng của Bắc Việt đã thất bại nặng nề, nhưng phía Quân Lực VNCH cũng thiệt hại không nhỏ.
Mực độ chiến trận đã giảm nhiều nhưng vẫn còn những cuộc hành quân lấn chiếm đất đai và dân cư trước khi có cuộc ngưng bắn. Quân đội Bắc Việt mở màn cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972 trong chiến dịch Nguyễn Huệ ở Quảng Trị thuộc lãnh thổ Quân Khu 1 với 3 sư đoàn chủ lực cùng nhiều trung đoàn bộ đội độc lập, thiết giáp, pháo binh, phòng không và đặc công Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị và thành phố Huế.
Đến giai đoạn cuối của chiến dịch này, vào tháng 12 năm 1972, trên lãnh thổ Quân Khu 1, quân đội Bắc Việt có 8 sư đoàn cùng với 5 trung đoàn bộ binh độc lập, 3 trung đoàn thiết giáp, 6 hay 7 trung đoàn pháo binh, ít nhất 4 trung đoàn đặc công của quân chủ lực, yểm trợ bởi 33 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh, phòng không, trinh sát, đặc công thuộc quân địa phương.
Đối phó với một lực lượng hùng hậu dù đã bị tổn thất hết sức nặng nề của Bắc Quân, Quân Lực VNCH có 5 sư đoàn (ba sư đoàn bộ binh cơ hữu của Quân Đoàn 1, tăng cường với 2 sư đoàn tổng trừ bị cơ động chiến lược của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH) cùng với 1 liên đoàn Biệt Ðộng Quân (BĐQ) trừ bị chiến thuật cho quân đoàn và các tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng và lực lượng phòng vệ lãnh thổ Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân.
Theo tổ chức của quân đội Bắc Việt, các hoạt động quân sự phía Bắc đèo Hải Vân do Quân Khu Trị Thiên (Mặt Trận B-4) trông coi từ đèo Hải Vân đến khu vực thị xã Quảng Trị. Phía Bắc thị xã Quảng Trị ra đến vùng Phi Quân Sự và chạy dọc theo Quốc Lộ 9 đến biên giới Lào thuộc mặt trận B-5 trực thuộc Quân Khu 4 của Cộng Sản ở phía Bắc vùng Phi Quân Sự.
BẮC HẢI VÂN, XUÂN 1973
Từ tháng 11 năm 1972, quân đội Việt Nam Cộng Hòa dùng 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đánh vào khu vực tỉnh lộ 560 chạy song song bờ biển Nam Hải lên đến Cửa Việt nhưng gặp sự kháng cự mạnh mẽ của Bắc quân và mùa mưa khởi đầu vào tháng 12 nên không chiếm được mục tiêu quan trọng là Cửa Việt.
Trải dài từ bờ biển Nam Hải dọc theo sông Thạch Hãn vào tận trong khu vực rừng núi phía Tây của Quốc Lộ 1 là các đơn vị của 4 sư đoàn Bắc Việt (304, 312, 320B, 325) cùng 2 trung đoàn độc lập của mặt trận B-5. Sư Đoàn 308 Bắc Việt sau tổn thất nặng nề đã trở về Miền Bắc để phục hồi và trở về vị trí tổng trừ bị chiến lược. Bắc Quân bố trí hai trung đoàn ở khu vực dọc theo bờ biển Nam Hải (Trung Đoàn 101 của Sư Ðoàn 325 và Trung Đoàn 48B của Sư Ðoàn 320B). Giữa khu vực này và thị xã Quảng Trị là ba trung đoàn khác (Trung Đoàn 27 và 31 độc lập của B-5 và Trung Đoàn 18 của Sư Ðoàn 325). Và lực lượng này được yểm trợ bởi Trung Đoàn 164 Pháo Binh.
Thị xã Quảng Trị được quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại ngày 16 tháng 09/1972 sau một chiến dịch hành quân ác liệt. Sau đó thị xã này được trấn giữ bởi một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ở hướng Tây và Tây-Nam thị xã Quảng Trị, về hướng tỉnh lộ 556 do sư đoàn Nhảy Dù VNCH đảm trách. Lực lượng Nhảy Dù đã lấy lại các căn cứ Anne và Barbara vào tháng 12 năm 1972. Đối diện với Nhảy Dù là các đơn vị Bắc Việt sau đây: Trung Đoàn 95 của Sư Ðoàn 325, Trung Đoàn 165 và 209 của Sư Ðoàn 312 và Trung Đoàn 66 của Sư Ðoàn 304.
Bảo vệ cố đô Huế và Quốc Lộ 1 ở phía Tây, Sư Đoàn 1 Bộ Binh (BB) dàn quân từ sông Bồ kéo dài qua khu vực Phú Bài, Phú Lộc xuống đến Lăng Cô và chân đèo Hải Vân. Trung Đoàn 3 đóng ở căn cứ T-Bone, bảo vệ tuyến sông Bồ. Trung Đoàn 1 đóng ở các căn cứ Veghel và Bastogne, bảo vệ Huế ở hướng tỉnh lộ 547 phía Tây. Trung Đoàn 51 đóng ở Phú Bài, bảo vệ an ninh cho Quốc Lộ cho đến chân đèo Hải Vân. Trung Đoàn 54 đóng quân trên các ngọn đồi phía Tây và Tây-Nam khu vực Phú Bài-Phú Lộc.
Đối diện với Sư Ðoàn 1 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hòa là Sư Ðoàn 324B CSBV với 3 trung đoàn (29, 803, và 812) cùng 2 trung đoàn độc lập (5 và 6) của Mặt Trận B-4. Để tiện việc chỉ huy các lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở khu vực Bắc Hải Vân, Trung Tướng Ngô Quan Trưởng cho thành lập bộ chỉ huy tiền phương Quân Đoàn 1 ở Huế, do Trung Tướng Lâm Quang Thi, tư Lệnh phó Quân Ðoàn 1 chỉ huy.


Phi Trường Phú Bài

Về phía Bắc Việt, trước ngày ký kết hiệp định được ít ngày cũng có những thay đổi quan trọng ở cấp chỉ huy. Thiếu Tướng Cộng Sản Lê Trọng Tấn làm tư lệnh Quân Khu Trị Thiên thay Trần Quí Hai, Trung Tướng Song Hào làm chính ủy. Các Đại Tá Cao Văn Khánh, Doãn Tuế và Hoàng Văn Thái vẩn giữ chức phó tư lệnh trong khi các Đại Tá Lê Tự Đồng và Hoàng Minh Thi là phó chính ủy.
Các đơn vị Bắc Việt đều bị thiệt hại nặng, chỉ còn 20 đến 30 phần trăm quân số, chưa kịp bổ sung. Khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực thì Bắc Quân có Sư Đoàn 312 ở hướng Tây đang giằng co với Sư Đoàn Nhảy Dù ở khu vực Ðộng Ông Do Ở cánh Đông ra hướng biển Nam Hải, Bắc Việt bố trí các sư đoàn 304, 320B, 325 và Trung Đoàn 27 độc lập của Mặt Trận B-4.
TÌNH HÌNH SÁU THÁNG ÐẦU NĂM 1973 Ở QUÂN KHU 1
Khi hiệp định ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Miền Nam Việt Nam được ký kết tại Paris vào cuối tháng Giêng năm 1973 thì trên phần đất Trị-Thiên, bộ đội Bắc Việt đã chiếm được khu vực phía Bắc tỉnh Quảng Trị kéo dài từ vùng Phi Quân Sự xuống đến sông Thạch Hãn cũng như khu vực rừng núi phía Tây từ dãy núi Trường Sơn vào tận biên giới Việt-Lào. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát hoàn toàn khu vực đồng bằng nhỏ hẹp nhưng trù phú, đông dân chạy dài từ sông Thạch Hãn đến Lăng Cô ở chân đèo Hải Vân. Khu vực này bao gồm 13 quận (3 thuộc tỉnh Quảng Trị và 10 thuộc tỉnh Thừa Thiên) với 960 ngàn dân (trong đó 202 ngàn dân ở tỉnh Quảng Trị).
Bắc Việt đã chuẩn bị cho Sư Đoàn 320B tấn công vào khu vực Chợ Sãi để mở rộng vùng kiểm soát. Tuy nhiên khi nhận được tin tình báo cho biết quân đội Việt Nam Cộng Hòa sắp mở một cuộc hành quân tái chiếm khu vực Cửa Việt thì Mặt Trận B-4 liền hủy bỏ cuộc hành quân vào Chợ Sãi để chuẩn bị đối phó.
TRẬN ÐÁNH CỬA VIỆT
Sau khi tái chiếm lại thị xã Quảng Trị và Cổ Thành, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến lần lượt sử dụng Tiểu Đoàn 8, 9 và 4 TQLC đánh vào khu vực tỉnh lộ 560 chạy song song bờ biển Nam Hải lên đến Cửa Việt nhưng gặp sự kháng cự mạnh mẽ của Bắc quân dưới sự yểm trợ dữ dội của các giàn pháo binh 130 ly và mùa mưa khởi đầu vào tháng 12 nên không chiếm được mục tiêu quan trọng là Cửa Việt. Trong một nỗ lực cuối cùng để chiếm mục tiêu chiến lược quan trọng là Cửa Việt, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến thành lập một lực lượng đặc nhiệm mang tên Tango. Lực lượng này do Đại Tá Nguyễn Thành Trí, tư lệnh phó sư đoàn, trực tiếp chỉ huy gồm có Tiểu Đoàn 2 và 4 TQLC, tăng cường một đại đội của Tiểu Đoàn 5 TQLC và 3 đại đội của Tiểu Đoàn 9 TQLC, Thiết Đoàn 20 Chiến Xa, Thiết Đoàn 17 và 18 Kỵ Binh và được ba tiểu đoàn pháo binh TQLC cùng pháo hạm của Hạm Đội 7 Mỹ yểm trợ đã đánh vào khu vực Long Quang, Bồ Xuyên và tiến dọc theo bờ biển về hướng Thanh Hội, Gia Đẳng, Cửa Việt.
Mục tiêu chính của Việt Nam Cộng Hòa là tái chiếm lại căn cứ Hải Quân ở cửa sông Miếu Giang đổ ra biển Nam Hải, cách tuyến đầu của Thủy Quân Lục Chiến khoảng 12 km và cắm cờ VNCH ngay trước giờ ngưng bắn. Khác với chiến dịch tái chiếm tỉnh Quảng Trị và đặc biệt là Thành Cổ Quảng Trị đẫm máu và lâu dài, cuộc hành quân này được thiết kế áp dụng lối đánh thần tốc để chiếm mục tiêu trong vòng 25 giờ đồng hồ.
Khi ấy lực lượng Cộng Sản Bắc Việt ở cánh Đông gồm có Trung Đoàn 48 và 64 của Sư Đoàn 320B ở khu vực Long Quang, An Lộng, Bồ Liên,Văn Hoa, Trung Đoàn 101 của Sư Đoàn 325 ở khu vực Gia Đẳng. Lực lượng trừ bị ở phía sau gồm Trung Đoàn 88 và 102 của Sư Đoàn 308 và Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320B. Bộ chỉ huy Mặt Trận B-4 cho tăng cường một đại đội chiến xa T-54, một tiểu đoàn pháo binh 85 ly chống chiến xa và một tiểu đoàn hỏa tiển chống chiến xa AT-3 Sagger.
Khoảng 7 giờ sáng ngày 27 tháng 1, lúc thủy triều xuống, gió bấc mưa phùn và ồn ào sóng biển, cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh gồm 10 ngàn quả đạn, thêm 9 phi vụ B-52 và 5 ngàn đạn hải pháo của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ từ ngoài khơi bắn vào, quân đội Việt Nam Cộng Hòa tiến quân dọc theo bờ biển về hướng Cửa Việt. Các chốt phòng thủ của Bắc Việt lần lượt bị nhổ, nhưng sức kháng cự của họ cũng còn mạnh.
Đến khoảng 8 giờ tối ngày này thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tiến được nửa đường, và một số đơn vị đã bị tổn thất khá nặng, khoảng trên dưới 20 chiến xa và thiết vận xa của bị hư hại. Đại Tá Trí cho hai lực lượng Cọp Biển và Thiết Giáp liên kết đánh nhanh theo hướng sát biển mà không cần yểm trợ bảo vệ ở cánh trái từ hướng đất liền. Do tập trung vào tuyến phòng thủ chánh phía trong đất liền, Bắc quân bị bất ngờ, vì đúng 7 giờ 58 phút sáng ngày 28 tháng 1, hai phút trước khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực thì mũi nhọn đột kích với khoảng 300 lính Cọp Biển được 3 chiến xa M-48 yểm trợ do Thiếu Tá Phạm Văn Tiền, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 4 TQLC, chỉ huy đã chọc thủng tuyến phòng ngự phía Đông và cắm cờ ngay cảng Cửa Việt, bắt loa kêu gọi ngừng bắn.
Các cấp chỉ huy Bắc Việt ở mặt trận (thuộc Sư Đoàn 320B CSBV) đã tỏ ra lúng túng, đánh thì sợ vi phạm hiệp định, không đánh thì bị mất đất, nên phải điện lên cấp trên xin chỉ thị giải quyết . Do vị trí quan trọng chiến lược trong việc chi viện cho chiến trường Trị Thiên của cảng Cửa Việt và Đông Hà, đã xảy ra những ngày căng thẳng ở bộ chỉ huy tối cao Cộng Sản ở Hà Nội khiến các cấp lãnh đạo không "yên tâm ăn Tết." Quân Ủy Trung Ương sau cùng phải cử Thiếu Tướng Lê Trọng Tấn, tổng tham mưu phó vào tận Quảng Trị ra lệnh cho Đại Tá Cao Văn Khánh, phó tư lệnh Mặt Trận Quảng Trị, xuống tận Cửa Việt với chỉ thị phải tấn công để lấy lại ngay.
Đêm 28 tháng 1 các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến tập trung ở ba cứ điểm phòng thủ về phía Nam cảng Cửa Việt, Đông Bắc của Thanh Hội và Nam của Long Quảng. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa được lệnh chuẩn bị nhận tiếp tế, tải thương và canh phòng cẩn mật để chờ cho Ủy Ban Kiểm Soát Ngưng Bắn đến ghi nhận. Suốt ba đêm từ 28 đến 30 tháng 1, bộ chỉ huy quân Bắc Việt do Cao Văn Khánh chỉ huy điều động lực lượng và hoàn chỉnh đội hình để tấn công cảng Cửa Việt.
Sáng ngày 31 tháng 1 Bắc quân dùng Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 320B và Trung Đoàn 101 của Sư Đoàn 325, tăng cường thêm Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 304 được chiến xa và pháo binh yểm trợ tấn công chiếm lại Cửa Việt. Cao Văn Khánh tổ chức ba hướng tấn công:

Hướng chận đầu do Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 320B và một bộ phận Hải Quân CSBV đang tiếp thu Cửa Việt bảo vệ không cho các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến VNCH mở rộng khu vực chiếm đóng.
Hướng khóa đuôi do Trung Đoàn 64 của Sư Đoàn 320B tăng cường 2 tiểu đoàn (một từ Trung Đoàn 24 và một từ Trung Đoàn 101) bố trí ở Vĩnh Hòa, vừa đánh các đơn vị Cọp Biển-Thiết Kỵ từ Thanh Hội lên tăng cường, vứa chận các đơn vị Cọp Biển-Thiết Kỵ từ Cửa Việt rút về.
Hướng tấn công do Trung Đoàn 101 của Sư Đoàn 325, Trung Đoàn 24 (thiếu 1 tiểu đoàn) của Sư Đoàn 304, tăng cường hai tiểu đoàn của mặt trận B-5 tấn công vào các cụm phòng thủ của liên quân Thủy Quân Lục Chiến-Thiết Giáp ở khu vực Cửa Việt.

Sau 30 phút bắn pháo mở màn từ 6 giờ 30 đến 7 giờ sáng, Bắc quân ào ạt tấn công và đến trưa ngày này đã khôi phục lại vị trí phòng ngự khu vực Cửa Việt.
Bị bao vây cả ba mặt trừ phía sau lưng trông ra biển, thiếu nước uống, đạn dược cũng như cần tải thương, không dám sử dụng hỏa lực yểm trợ của phi pháo do sợ vi phạm hiệp định, các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và Thiết Giáp phải mở đường máu rút trở về vị trí xuất phát với đơn vị Thiết Giáp bị thiệt hại trên 2/3 số chiến xa tham chiến.
Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương thở phào nhẹ nhõm và gởi thơ khen ngợi việc chiếm lại cảng Cửa Việt, chấm dứt chiến dịch tấn công chiến lược 1972 ở hướng Quảng Trị.
Phía Việt Nam Cộng Hòa, dù Lực Lượng Đặc Nhiệm Tango đã linh động khôn ngoan trong việc đột kích theo hướng sát bờ biển để cắm cờ trên căn cứ hải quân tại cửa biển chiến lược Cửa Việt ngay trước giờ ngưng bắn khiến Sư Đoàn 320B không kịp phản công, do sự thiếu sót trong công tác yểm trợ cũng như phán đoán sai lầm về thời gian có mặt lập tức của Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngưng Bắn khiến Bắc quân có nhiều thời gian chuẩn bị phản công. Tuy nhiên phía Việt Nam Cộng Hòa sau đó đã có cơ hội phục hận ở Sa Huỳnh.
Với thành tích trong trận đánh Cửa Việt, các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa tham chiến sau đây đã được tuyên dương công trạng với U.S. Valorous Unit Award của Hoa Kỳ:

Bộ Chỉ Huy Hành Quân Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến
Lực Lượng Đặc Nhiệm Tango (Sư Đoàn TQLC và Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh)
Tiểu Đoàn 2,4 và 9 Thủy Quân Lục Chiến
Bộ chỉ huy Thiết Đoàn 20 Chiến Xa, Chi Đoàn 1/20 và 3/20 Chiến Xa
Chi Đoàn 1/17 và 2/17 Kỵ Binh
Chi Đoàn 2/18 Kỵ Binh

Sau khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực được ít ngày, Bắc Việt cho sát nhập hai chiến trường B-4 và B-5 lại thành một, gọi là Quân Khu Trị-Thiên, bí danh B-4. Thiếu Tướng Cộng Sản Cao Văn Khánh trở thành tư lệnh Mặt Trận B-4, Đại Tá Lê Tự Đồng là chính ủy trong khi Đại Tá Hoàng Văn Thái là tư Lệnh phó và Đại Tá Nguyễn Hữu An là tư Lệnh phó kiêm tham mưu trưởng.
Lực lượng chủ lực của Bắc Quân gồm Sư Đoàn 304, 324B và 325 bố trí ở khu vực Bắc Quảng Trị cùng với các trung đoàn độc lập 4, 5, 6, và 271 của Quân Khu Trị-Thiên bố trí ở phía Tây Huế ở hướng Đường 12 và các lực lượng yểm trợ như Lữ Đoàn 164 Pháo Binh, Lữ Đoàn 219 Công Binh, Lữ Đoàn 203 Thiết Giáp. Các sư đoàn tổng trừ bị 308, 312, và 320B được đưa vào từ Lào và Miền Bắc để tham gia cuộc tổng tấn công đã được rút về Miền Bắc để dưỡng quân và hồi phục sau những tổn thất nặng nề.
Phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa có Sư Đoàn 1 BB và hai sư đoàn tổng trừ bị cơ động chiến lược Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến tăng viện từ Bộ Tổng Tham Mưu /Quân Lực VNCH cùng các đơn vị cơ hữu của Quân Ðoàn 1 như Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân, v.v.
Phía Bắc Việt, chủ yếu là hoạt động cũng cố và bảo vệ các vùng đất đã chiếm được trong chiến dịch Nguyễn Huệ vào mùa hè 1972, đặc biệt là thị trấn Đông Hà trở thành một trung tâm tiếp vận lớn cùng với cảng Cửa Việt. Bắc Việt cũng bắt đầu xây dựng con đường chiến lược mới Đông Trường Sơn chạy dài từ khu vực Khe Sanh xuống khu vực Tân Cảnh-Dakto nối vào Quốc Lộ 14 xuống tận Lộc Ninh cũng như những nhánh đường mòn tiếp-vận chạy dài từ khu vực rừng núi phía Tây các tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam ra hướng đồng bằng duyên hải để cắt đứt Quốc Lộ 1 và cô lập Huế và Đà Nẵng trong nổ lực tổng tấn công sắp đến.
Phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa chủ yếu là bảo vệ các vị trí quân sự quan trọng, khu vực đồng bằng duyên hải và các trung tâm đô thị, các khu vực tái định cư cho đồng bào Quảng Trị chạy nạn chiến tranh, và duy trì lưu thông liên lạc trên Quốc Lộ 1 huyết mạch chạy xuyên qua Quân Khu 1 dọc theo Biển Nam Hải.
NHẬN ÐỊNH TÌNH HÌNH
SÁU THÁNG CUỐI NĂM 1973 Ở QUÂN KHU 1

Trong sáu tháng cuối năm 1973, Bắc Việt tập trung nổ lực tái xây dựng lực lượng chiến đấu và mở rộng đường vận chuyển cùng các kho tiếp vận. Mức độ chiến trận thấp do các đường vận chuyển và kho tiếp vận của Bắc Quân ở phía Tây không bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa quấy rối. Quân Cộng Sản tiếp tục xây dựng các công cuộc tiếp-vận để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công mới mà không cần che đậy và tăng cường lực lượng phòng không để ngăn chận nổ lực trinh sát trên không trung của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân Ðoàn 1, cũng thay đổi kế hoạch phòng thủ với Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ hướng Bắc tiếp giáp với Miền Bắc ở tỉnh Quảng Trị. Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được tăng cường Trung Đoàn 51 của Sư Đoàn 1 BB bảo vệ phía Tây Quốc Lộ 1 thay thế Sư Đoàn Nhảy Dù. Sư Đoàn Nhảy Dù bảo vệ khu vực trọng yếu Cổ Bi-cầu An Lỗ. Sư Đoàn 1 BB đảm nhiệm khu vực phía Tây và Nam Huế chạy dài đến đèo Hải Vân. Sư Đoàn 3 Bộ Binh bảo vệ tỉnh Quảng Nam bao gồm thành phố Đà Nẵng và phía Bắc tỉnh Quảng Tín tại khu vực thung lũng Quế Sơn trong khi Sư Đoàn 2 Bộ Binh trách nhiệm từ phía Nam thung lũng Quế Sơn đến biên giới tỉnh Bình Định thuộc Quân Khu 2.


Hình chụp từ trực thăng UH-1 nhìn xuống căn cứ Cửa Việt. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, lúc 7 giờ 58 phút sáng một lực lượng gồm 300 lính Cọp Biển VNCH đã chọc thủng phòng tuyến đối phương và sau đó cắm cờ ngay cảng Cửa Việt. Nhưng sau đó, ngày 31 tháng 1, hai trung đoàn Bắc Việt có chiến xa và pháo binh yểm trợ đã mở cuộc tấn công và dành lại căn cứ này. (HÌNH ẢNH: Herman W. Hughes)
Khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nơi diễn ra trận đánh đẩm máu nhất trong chiến cuộc Việt Nam trong năm 1972, là khu vực yên tỉnh và ổn định nhất ở Quân Khu 1, nếu không nói là trên cả nước Việt Nam Cộng Hòa. Tiếng súng đã yên tỉnh từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1973 và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ngoài Trung Đoàn 51 của Sư Đoàn 1 BB còn kiểm soát 6 tiểu đoàn Địa Phương Quân và 12 đại đội Nghĩa Quân của tỉnh Quảng Trị, cùng Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh và một chi đoàn chiến xa M-48. ChuẩnTướng Bùi Thế Lân, tư lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến , cho đóng xen kẻ các đơn vị TQLC với các đơn vị Ðịa Phương Quân Quảng Trị trong các vị trí phòng thủ.
Cuối năm 1973, Tướng Lân nhận Liên Đoàn 15 BĐQ ra thay cho Trung Đoàn 51 Bộ Binh trở về lại Sư Đoàn 1. Tình hình yên tĩnh trong khu vực trách nhiệm cho phép Tướng Lân giữ một lữ đoàn làm trừ bị sư đoàn và các tiểu đoàn thay phiên về khu vực hậu cứ ở Thủ Đức nghĩ hai tuần dưỡng quân và thăm viếng gia đình.
Mặc dầu phải trú quân và liên tục đối diện với kẻ thù Cộng Sản ở Quảng Trị từ đầu năm 1971, tinh thần chiến đấu của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến được Phòng Tùy Viên Quân Sự Mỹ ở Việt Nam (Defense Attache’s Office-DAO) đánh giá là cao nhất trong toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Khu vực trọng yếu nhất bảo vệ Huế là cầu An Lỗ bắc ngang qua sông Bồ, cách Huế 15 km về phía Bắc bởì nếu khu vực này bị Bắc quân chiếm, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ bị cắt đứt ở Quảng Trị với lãnh thổ còn lại của miền Nam Việt Nam.
Do đó sư đoàn Nhảy Dù được giao trách nhiệm phòng thủ khu vực này, tăng cường hai tiểu đoàn Địa Phương Quân, một chi đoàn chiến xa M-48 và một chi đoàn thiết vận xa M-113. Từ tháng 5 năm 1972 khi toàn bộ Sư Đoàn Nhảy Dù được điều ra Quảng Trị để chuẩn bị phản công cho đến tháng Giêng năm 1974, sư đoàn đã bị thiệt hại 2 ngàn 900 chết, 12 ngàn bị thương và 300 mất tích. Với quân số khả dụng chỉ có 13 ngàn 500, có thể nói hầu hết các cấp chỉ huy tài ba cũng như những chiến binh dày dạn kinh nghiệm chiến trường đều đã chết hay bị thương. Các đơn vị Nhảy Dù vì vậy có nhiều tân binh hay sĩ quan chưa dầy dạn kinh nghiệm chiến trường.
Đến cuối năm 1973, tinh thần chiến đấu cao cũng như truyền thống anh dũng của binh chủng này bị phần nào giảm bớt khi cuộc khủng hoảng kinh tế ở Miền Nam Việt Nam làm đời sống người lính và gia đình, vốn đã khốn khổ, càng thêm bi đát. Phẩm chất của lính và sĩ quan mới ngày càng suy giảm cũng như số lượng bổ sung không đủ trám vào những tổn thất chiến trận. Tuy có khó khăn, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, vẫn duy trì hai tiểu đoàn làm trừ bị sư đoàn.
Khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn 1 BB bị áp lực nặng và Trung Đoàn 3 phải rút bỏ hai cứ điểm vào cuối tháng 7 và bốn vị trí dọc sông Bồ vào cuối tháng 8. Một loạt các cứ điểm dọc theo Ngoc Ke Trai lọt vào tay quân Bắc Việt trong tháng 11 đã làm mệt mỏi tinh thần chiến đấu của lính cũng như yếu kém trong vấn đề chỉ huy ở Sư Đoàn 1 BB. Sư đoàn này rất lừng danh và đã từng được nhiều niềm ngưỡng mộ.
Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, phải cho tăng cường một tiểu đoàn củaTrung Đoàn 1 và một tiểu đoàn của Trung Đoàn 51 vào khu vực trách nhiệm của Trung Đoàn 3 ở tuyến sông Bồ. Chỉ đến sau khi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng thay Tướng Thân bằng Đại tá Nguyễn Văn Điềm vào ngày 31 tháng 10/1973 thì phòng tuyến mới ổn định. Tuy nhiên Đại tá Điềm cũng không cải thiện được nhiều về sự suy giảm về tinh thần của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, do vượt ngoài khả năng của ông mặc dầu ông đã phục vụ lâu dài ở đơn vị này.
Sư Đoàn 1 BB phải bảo vệ một khu vực trải dài theo Quốc Lộ 1 luôn luôn bị áp lực nặng của Bắc quân cũng như thời tiết khắc nghiệt và ảnh hưởng của những cơn mưa bảo triền miên. Sự thiếu hụt về tiếp tế cho các vị trí tiền đồn trên miền rừng núi cộng với điều kiện sinh sống ngày càng khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế làm quyết tâm chiến đấu của người lính bị hao mòn dần.
Trung Đoàn 54 giữ khu vực núi Mõ Tàu và các vị trí quan trọng ở sông Tả Trạch, qua quận Phú Lộc đến tận chân đèo Hải Vân. Núi Bạch Mã với độ cao 1,448 mét ở Phú Lộc là một vị trí lý tưởng để khống chế Quốc Lộ 1 và cắt đứt hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên với lãnh thổ còn lại của miền Nam Việt Nam. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa duy trì một cứ điểm ở đỉnh núi do hai đại đội Địa Phương Quân trú đóng, tiếp tế bằng trực thăng nhưng khi bị sương mù hay mưa lớn thì phải tiếp tế khổ cực bằng chân. Tháng 9 năm 1973 Bắc Quân tấn công và chiếm cao điểm này. 
📎 HBVTS001|HBVTS002|HBVTS016
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:00:40lyenson>
II. MẶT TRẬN NAM HẢI VÂN
Khu vực Nam Hải Vân ở Quân Khu 1 của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bao gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng, nơi đặt bộ tư lệnh Quân Đoàn 1/Quân Khu 1 do Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy từ mùa hè 1972. Đà Nẵng cũng có một căn cứ không quân, hải quân và tiếp vận/yểm trợ to lớn do Quân Đội Hoa Kỳ xây dựng và để lại cùng với bộ tư lệnh của Sư Đoàn 3 Bộ Binh (BB), Sư Đoàn 1 Không Quân (KQ) và Hải Quân (HQ) Vùng 1 Duyên Hải. Với dân số 600,000 người, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa với tầm quan trọng chỉ kém thủ đô Sàigòn. Ngoài Đà Nẵng, Quân Đội Mỹ cũng xây dựng mới một căn cứ quân sự lớn nằm sát biển Nam Hải trong tỉnh Quảng Tín ở giữa Tam Kỳ và ranh giới với Quảng Ngãi đặt tên là Chu Lai.
Trước năm 1972, lực lượng đồng minh trấn đóng trong khu vực này gồm có Sư Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ, Sư Đoàn 23 BB Mỹ (Americal) và Lữ Đoàn 2 TQLC Đại Hàn (Thanh Long) trong khi Quân Lực VNCH có Trung Đoàn 51 biệt lập chịu trách nhiệm Biệt Khu Quảng Đà và Sư Đoàn 2 BB chịu trách nhiệm toàn bộ khu vực còn lạI với bộ chỉ huy sư đoàn ở căn cứ Chu Lai cùng vớI Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh, Trung Đoàn 5 hoạt động gần HộI An (Quảng Nam), Trung Đoàn 6 tạI căn cứ Artillery Hill (Quảng Tín) và Trung Đoàn 4 tạI căn cứ Bronco (Quảng Ngãi). Do vùng trách nhiệm rộng lớn, Sư Đoàn 2 BB cũng được trợ lực bởi 6 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân (BĐQ) Biên Phòng.
Sau khi lực lượng đồng minh triệt thoái và Trung Đoàn 51 biệt lập tăng cường cho Sư Đoàn 1 BB bảo vệ phía tây Huế, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa ở phía nam đèo Hải Vân bị yếu đi, không kể Sư Đoàn 2 BB là một trong các sư đoàn chủ lực yếu kém của VNCH. Tuy nhiên quân đội vẫn duy trì một mức độ kiểm soát an ninh vừa phải, được yểm trợ bởi một số phi vụ oanh kích chiến lược B-52 liên tục đánh xuống một vài mục tiêu chọn lọc.

Đèo Hải Vân, tháng 10 năm 2005, với bảng giao thông trên đường (HÌNH ẢNH: Christina Kelsey).

Sau khi Sư Đoàn 3 BB tân lập bị tan hàng ở Quảng Trị trong mùa hè 1972, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 cho tái xây dựng lại ở Trung Tâm Huấn Luyện (TTHL) Hòa Cầm và giao cho trách nhiệm phòng giữ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, dưới sự chỉ huy của vị tư lệnh mới là Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh, nguyên là tư lệnh Biệt Khu Quảng Đà và Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1.
Về phía Bắc Việt, khu vực Nam Hải Vân cùng với khu vực duyên hải Trung Phần của các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn và Khánh Hòa thuộc quyền chỉ huy của Quân Khu 5 (bí danh B-1) với bộ chỉ huy thường nằm ở khu vực Hiệp Đức ở tận cùng của thung lũng Quế Sơn phân chia hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín. Thiếu Tướng Chu Huy Mân là tư lệnh (Mân sau lên đại tướng và nắm chức Chính Ủy Toàn Quân), Võ Chí Công là chính ủy (Công sau làm chủ tịch nước Việt Nam Cộng Sản) và Đại Tá Đoàn Khuê là phó chính ủy (Khuê sau lên tướng giữ chức Tư Lệnh Quân Khu 5 rồi leo lên đến chức đại tướng và giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng).
Quân Khu 5 Cộng Sản có hai đại đơn vị chủ lực là Sư Đoàn 2 và 3 Bắc Việt. Sư Đoàn 2 hoạt động trong khu vực rừng núi phía tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, và Quảng Ngãi từ hậu cứ trong khu vực Hiệp Đức trong khi Sư Đoàn 3 (còn được gọi là sư đoàn "Sao Vàng") hoạt động ở phía nam Quảng Ngãi và Bình Định từ hậu cứ ở mật khu An Lão.
Cuối năm 1971, để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972 (chiến dịch Nguyễn Huệ của Cộng Sản Bắc Việt), Quân Khu 5 Cộng sản cho thành lập Sư Đoàn 711 với 3 trung đoàn bộ binh gồm 31, 38 và 270 cùng Trung Đoàn 572 Pháo Binh-Thiết Giáp yểm trợ.
Trong cuộc tổng tấn công này, Sư Đoàn 2 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) di chuyển vào khu vực Tam Biên (biên giới ba nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt) để hỗ trợ cho Mặt Trận Tây Nguyên (bí danh B-3) trong trận đánh Kontum. Bị thiệt hại nặng nề, đơn vị này rút về hậu cứ ở khu vực Hiệp Đức để dưỡng quân và tái xây dựng. Để trả công cho mặt trận B-1, mặt trận B-3 cũng gởi theo Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320 về hoạt động trong tỉnh Quảng Ngãi.
Sư Đoàn 3 CSBV, nổi tiếng với biệt danh Sao Vàng và hoạt động từ hậu cứ trong mật khu An Lão, tấn công và chiếm đóng ba quận Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tam Quan ở phía bắc tỉnh Bình Định. Sau khi tan hàng ở Tân Cảnh, Sư Đoàn 22 BB được tái xây dựng lại và sau đó đã cùng Biệt Ðộng Quân tái chiếm lại ba quận trên, gây thiệt hại nặng cho Sư Đoàn 3 Sao Vàng. Mặt Trận B-1 cũng cho Sư Đoàn 711 được Trung Đoàn 572 Pháo Binh-Thiết Giáp yểm trợ tiến chiếm các quận lỵ Quế Sơn, Tiên Phước và Ba Tơ và gây áp lực nặng lên khu vực Mộ Đức và Đức Phổ trong tỉnh Quảng Ngãi. Đơn vị này sau đó đã bị thiệt hại nặng khi Quân Đoàn 1 dùng Sư Đoàn 2 và 3 BB cùng Biệt Ðộng Quân tái chiếm lại các vùng đất bị mất ở khu vực Nam Hải Vân.
TÌNH HÌNH QUÂN SỰ CUỐI NĂM 1972
Phối hợp với các mặt trận khác trong cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972, và để giảm bớt áp lực của Quân Lực VNCH trong nổ lực tái chiếm lại thị xã Quảng Trị trong khu vực Bắc Hải Vân, Quân Khu 5 Cộng Sản cho Sư Đoàn 711 với Trung Đoàn 572 Pháo Binh-Thiết Giáp yểm trợ mở nhiều cuộc tấn công mạnh mẽ vào thung lũng Quế Sơn, tiến chiếm các quận lỵ Hiệp Đức, Quế Sơn và Tiên Phước. Bị mất ba quận lỵ trong khu vực trách nhiệm của mình, Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp xin từ chức dù Sư Đoàn 2 BB sau đó đã tái chiếm lại quận lỵ Quế Sơn và “người hùng An Lộc” Đại Tá Trần Văn Nhựt ra nắm chức tư lệnh Sư Đoàn 2 BB vào ngày 28 tháng 8/1972 khiến khả năng chiến đấu của đơn vị này cải thiện nhiều so với lúc trước.
Khi này Trung Đoàn 5 và 6 của Sư Đoàn 2 BB bị thiệt hại nặng trong các trận đánh với Sư Đoàn 711 Bắc Việt (sau khi chiếm Quế Sơn đang lấn ra quận Duy Xuyên để uy hiếp Đà Nẵng), đang được bổ sung quân số bằng cách đôn quân từ lực lượng Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân trong hai tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi. Trung Đoàn 4 tăng cường cho Sư Đoàn Nhảy Dù ở mặt trận Quảng Trị vừa trở về. Đổi lại Sư Đoàn 2 BB được tăng cường với Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 3 BB để đảm nhiệm phần lãnh thổ trách nhiệm chạy dài 150 km theo Quốc Lộ 1 đến biên giới tỉnh Bình Định của Quân Khu 2.
Cuối tháng Chín, Trung Đoàn 5 vào tăng cường cho Tiểu Đoàn 77 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng nhưng vẫn không giữ được Tiên Phước. Đại Tá Nhựt cho mở các cuộc hành quân để lấy lại thế chủ động và giải tỏa áp lực địch trong khu vực trách nhiệm, tập trung vào tỉnh Quảng Ngãi nơi Sư Đoàn 2 CSBV và Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320 vừa chuyển về từ mặt trận Kontum. Đầu tiên là hành quân tái chiếm Tiên Phước với Trung Đoàn 6 tăng cường Trung Đoàn 2 từ Sư Đoàn 3 BB. Sau đó Sư Đoàn 2 BB cho Trung Đoàn 4 và 5 BB tăng cường Liên Đoàn 2 BĐQ và Tiểu Đoàn 78 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, được Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh yểm trợ mở cuộc hành quân giải tỏa Mộ Đức và Đức Phổ đang bị áp lực của Trung Đoàn 52 và Sư Đoàn 3 Sao Vàng. Sau thắng lợi Tiên Phước, Trung Đoàn 6 và Liên Đoàn 1 BĐQ mở cuộc hành quân giải tỏa khu vực bán đảo Ba Làng An với ngôi làng Mỹ Lai nổi tiếng. Trung Đoàn 5 cố gắng trái chiếm lại Ba Tơ do Trung Đoàn 52 CSBV giữ nhưng không thành công.
Sau khi Sư Đoàn 3 BB tân lập bị tan hàng ở Quảng Trị trong mùa hè 1972, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 cho tái xây dựng lại ở Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm và giao cho trách nhiệm phòng giữ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, đặc biệt là ở hướng tây nam qua ngã thung lũng Quế Sơn và quận Đức Dục nơi mà Sư Đoàn 711 Bắc Việt đã cố chiếm được các mục tiêu quan trọng đặt phi trường và thành phố Đà Nẵng trong tầm pháo.
Sư Đoàn 3 BB dùng Trung Đoàn 2 tăng cường Trung Đoàn 6 của Sư Đoàn 2 BB sau đó đã tái chiếm lại Tiên Phước, lấy lại tinh thần và niềm tin sau cuộc triệt thoái cay đắng khỏi Quảng Trị. Sư Đoàn 3 BB cũng tiến dần vào khu vực Hiệp Đức với căn cứ Ross là vị trí tiền đồn sâu nhất trong thung lũng Quế Sơn. Do thành quả này, Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh là tư lệnh sư đoàn duy nhất của Quân Lực VNCH được thăng cấp Thiếu Tướng trong năm 1973 và Sư Đoàn 3 BB được Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đánh giá là một trong những sư đoàn khá nhất của quân đội..
Từ hậu cứ ở Hiệp Đức, Sư Đoàn 711 Bắc Việt dàn quân trên các sườn núi hai bên thung lũng để chờ cơ hội tiến ra khu vực đồng bằng duyên hải. Cuối năm 1972 Sư Đoàn 3 BB mở cuộc hành quân tấn công vào khu vực căn cứ địa của Quân Khu 5 Cộng Sản ở Hiệp Đức và tiến khá sâu nên Trung Tướng Ngô Quang Trưởng khai thác thuận lợi này, cho tăng cường Trung Đoàn 51 từ Sư Đoàn 1 BB vào ngày 03 tháng 1/1973. Chuẩn Tướng Hinh dùng Trung Đoàn 51 để tấn công vào khu vực căn cứ West ở đồi 1460 bảo vệ Hiệp Đức từ phía đông trong khi Trung Đoàn 2 kiểm soát tỉnh lộ 534 dẫn vào Hiệp Đức.
Tuy nhiên đến cuối tháng Giêng năm 1973, Sư Đoàn 3 BB phải hủy bỏ cuộc hành quân này để rút về yểm trợ cho các đơn vị Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân giải tỏa các cuộc hành quân “dành dân lấn đất” trước ngày ngưng bắn trong các khu vực phía tây và tây nam Đà Nẵng trong các quận Hiếu Đức, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục và Quế Sơn.
Mặc dầu chỉ có hai sư đoàn bộ binh tương đối yếu cùng các đơn vị BĐQ Biên Phòng và Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân, Quân Lực VNCH vẫn có thể bảo vệ các trung tâm dân cư chính cũng như Quốc Lộ 1 huyết mạch chạy dọc theo bờ biển Nam Hải do các đơn vị Bắc quân không hùng hậu như ở phía bắc đèo Hải Vân và cả hai đơn vị chủ lực chính, Sư Đoàn 2 và 711, đều bị thiệt hại nặng nề.
TÌNH HÌNH QUÂN SỰ SAU NGÀY NGƯNG BẮN
Trong chiến dịch “dành dân, lấn đất,” quân Bắc Việt cho các đơn vị địa phương tấn công vào các quận lỵ, thôn xóm cũng như cắt đứt các trục giao thông liên lạc trên khắp khu vực Nam Hải Vân và pháo kích hỏa tiển vào Đà Nẵng. Tuy nhiên Quân Lực VNCH sau đó đã kịp thời mở các cuộc hành quân giải tỏa lấy lại được hầu hết các khu vực bị tạm chiếm cũng như gây thiệt hại nặng cho các đơn vị Bắc quân. Lúc ấy, ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi đã xảy ra một trận đánh quan trọng trong giai đoạn ngừng bắn.
TRẬN ĐÁNH SA HUỲNH
Sa Huỳnh là một làng chài lưới và làm muối biển với 3,000 cư dân nằm ở phía nam quận Đức Phổ trên Quốc Lộ 1 tiếp giáp với tỉnh Bình Định thuộc lãnh thổ Quân Khu 2 do một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân của tỉnh Quảng Ngãi bảo vệ. Do đây là một cửa khẩu quan trọng trên Quốc Lộ 1 huyết mạch nối liền hai quân khu cực bắc của Việt Nam Cộng Hòa nên Quân Khu 5 Cộng Sản đã chuẩn bị đánh chiếm để gây bất lợi về cả quân sự lẩn chính trị cho chính phủ VNCH.
Mặt Trận B-1 sử dụng Trung Đoàn 141 tăng cường một tiểu đoàn của Trung Đoàn 1 từ Sư Đoàn 2 CSBV tấn công Sa Huỳnh từ hướng bắc trong khi hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 12 từ Sư Đoàn 3 Sao Vàng trong tỉnh Bình Định tấn công từ phía nam vào ngày 27 tháng 1/1973.
Bị sáu tiểu đoàn Bắc quân tràn ngập, đơn vị Ðịa Phương Quân rút về cố thủ trong một cứ điểm cuối cùng trước khi thất thủ vào ngày hôm sau. Quốc Lộ 1 bị cắt đứt từ phía nam quận Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngãi trong lãnh thổ Quân Khu 1 đến phía bắc quận Tam Quan của tỉnh Bình Định trong lãnh thổ Quân Khu 2. Do vị trí chiến lược quan trọng của Sa Huỳnh và để trả đủa hành vi xâm phạm hiệp định ngưng bắn ở Cửa Việt ở khu vực Bắc Hải Vân, Sư Đoàn 2 BB cho mở cuộc hành quân tái chiếm lại Sa Huỳnh.

Một ngôi làng gần cửa biển Sa Huỳnh
 
Trung Đoàn 5 BB từ Quảng Tín vào đánh giải tỏa nhưng không thành công. Quân Khu 5 Cộng Sản cho tăng cường một tiểu đoàn phòng không và một đại đội hỏa tiển AT-3 (hỏa tiển chống chiến xa) yểm trợ cho sáu tiểu đoàn Bắc quân “đóng chốt” trên sườn núi và giữa Quốc Lộ 1 và bờ biển. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng phải cho tăng cường Liên Đoàn 1 BĐQ từ mặt trận Quảng Trị di chuyển vào Mộ Đức rồi tiến về Sa Huỳnh theo Quốc Lộ 1, thanh toán các mục tiêu dọc theo bờ biển trong khi Trung Đoàn 5 tiến chiếm các mục tiêu trên sườn núi.
Quân Lực VNCH tiến rất chậm do địa thế hiểm trở trong khi Bắc quân “đóng chốt” trong các công sự phòng thủ kiên cố. Các đơn vị VNCH phải áp dụng chiến thuật đánh chốt ban đêm cũng như chặn đường liên lạc, tiếp tế và tải thương của Bắc quân ở phía sau.
Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt cũng cho thi hành các hoạt động nghi binh như cho Trung Đoàn 4 BB ra vẻ chuẩn bị tái chiếm Ba Tơ để cầm chân Trung Đoàn 52 CSBV, không cho tăng viện cho Sa Huỳnh đồng thời cho quân vận hạm của Hải Quân VNCH chở binh sĩ với thiết vận xa M-113 chạy sát bờ biển và cho bắn phá vào khu vực này như sắp mở cuộc hành quân đổ bộ để thu hút Bắc quân ra hướng bờ biển.
Tướng Nhựt cũng gởi các toán viễn thám vào sâu phía sau để báo cáo các hoạt động tăng viện cho Sa Huỳnh từ hướng mật khu An Lão trong tỉnh Bình Định của Sư Đoàn 3 Sao Vàng để cho quân đội VNCH dùng hỏa lực phi pháo tiêu diệt. Ngày 16 tháng 2 tướng Nhựt cho Trung Đoàn 4 BB được Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh yểm trợ đánh thẳng vào dứt điểm Sa Huỳnh. Bắc quân cố chống trả nhưng cuối cùng phải rút bỏ để lại trên 600 xác.
TÌNH HÌNH MẶT TRẬN NAM HẢI VÂN SAU NGÀY NGỪNG BẮN
Khi hiệp định ngừng bắn Paris có hiệu lực thì tương tự như khu vực Bắc Hải Vân, phía CSBV kiểm soát được khu vực rừng núi thưa dân ở phía tây bao gồm quận lỵ Ba Tơ trong tỉnh Quảng Ngãi trong khi phía Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát khu vực đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp đông dân chạy dài từ đèo Hải Vân đến biên giới tỉnh Bình Định thuộc Quân Khu 2 bao gồm khu vực đồng bằng lớn nhất Miền Trung xung quanh thành phố Đà Nẵng.
Quân Lực VNCH cũng duy trì các tiền đồn nằm sâu trong các khu vực rừng núi ở phía tây do Bắc quân kiểm soát như Thượng Đức, Đức Dục (Quảng Nam), Tiên Phước, Hậu Đức (Quảng Tín), Gia Vực, Minh Long (Quảng Ngãi). Sau trận đánh Sa Huỳnh, tình hình quân sự tương đối yên tỉnh so với ba quân khu khác và an ninh ở miền quê ổn định đến mức dân cư chạy nạn chiến tranh trong mùa hè 1972 đã trở về xây dựng lại cuộc sống mớI dưới sự bảo vệ của Quân Lực VNCH.
Giữa năm 1973 do bị thiệt hại nặng nề, Quân Khu 5 Cộng Sản cho giải tán Sư Đoàn 711 và Trung Đoàn 270 của sư đoàn này. Trung Đoàn 31 và 38 sát nhập qua Sư Đoàn 2 CSBV trong khi các đơn vị còn lại được sát nhập vào Trung Đoàn 52 để hình thành Lữ Đoàn 52, hoạt động trong khu vực Quảng Ngãi. Được bổ sung chiến xa, đại pháo và súng phòng không từ Miền Bắc trong nổ lực tái xây dựng lực lượng chiến đấu trong Miền Nam bị thiệt hại nặng nề sau cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972 và vi phạm trắng trợn hiệp định ngừng bắn, Quân Khu 5 cho thành lập Trung Đoàn 571 Thiết Giáp, Trung Đoàn 572 Pháo Binh và Trung Đoàn 573 Phòng Không là lực lượng yểm trợ chiến đấu chính của quân khu từ Trung Đoàn 572 Thiết Giáp-Phòng Không cũ.

Hình chụp vào mùa hè năm 1973 tại một ngôi làng nằm gần và về hướng tây Saigon. Vài người lính VNCH cùng một ông lão trong làng đang xem bản tin trên nhật báo nói về Hiệp Ðịnh Paris, một hiệp định đình chiến được ký kết giữa ba quốc gia để mang "hòa bình" đến trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Sư Đoàn 3 BB do Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh chỉ huy chịu trách nhiệm tỉnh Quảng Nam bao gồm thành phố Đà Nẵng cho đến thung lũng Quế Sơn ngay ranh giới Quảng Tín. Tình hình ổn định cho phép tướng Hinh giữ toàn bộ Trung Đoàn 2 làm trừ bị sư đoàn trong khi Trung Đoàn 56 đóng ở phía nam quận Đại Lộc và phía bắc quận Đức Dục và Trung Đoàn 57đóng ở thung lũng Quế Sơn, mỗi trung đoàn giữ một tiểu đoàn là trừ bị trung đoàn.
Tướng Hinh, một trong các tư lệnh sư đoàn hữu hiệu nhất của Quân Lực VNCH, tin tưởng rằng đơn vị ông có thể bảo vệ được Đà Nẵng. Trong khu vực 9 quận của tỉnh Quảng Nam, quân đội kiểm soát khu vực đồng bằng xung quanh Đà Nẵng nhưng 5 quận lỵ vẫn nằm trong tầm bắn của đại pháo 130 ly của quân Bắc Việt, đáng lo ngại nhất là Thượng Đức và Đức Dục nằm xa nhất về hướng Tây và Tây-Nam
Ở phía nam, Sư Đoàn 2 BB dưới sự chỉ huy của Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt đã phải gánh nhiệm một trọng trách nặng nề và khó khăn là bảo vệ 150 km của Quốc Lộ 1 với nhiều cầu cống qua hai tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi cùng khu vực đồng bằng duyên hải và các trung tâm dân cư dọc theo quốc lộ này, không kể vị trí chiến lược Sa Huỳnh tiếp giáp với Quân Khu 2.
Tướng Trưởng vì vậy thường tăng cường một hay hai liên đoàn Biệt Ðộng Quân trong khu vực hành quân của tướng Nhựt. Sau thắng lợi Sa Huỳnh, tướng Nhựt cho Sư Đoàn 2 BB và BĐQ yểm trợ cho các đơn vị Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân mở các cuộc hành quân giải tỏa ở phía tây Quốc Lộ 1để mở rộng khu vực an ninh hoạt động cũng như cắt đứt các đường tiếp tế của Bắc quân và cô lập họ với nguồn lương thực cũng như nhân lực cho công tác tuyển quân ở khu vực đồng bằng.
Trung Đoàn 4 được giao cho nhiệm vụ quan trọng bảo vệ Sa Huỳnh và quận Đức Phổ. Trung Đoàn 5 hoạt động trong khu vực Mộ Đức trong khi Liên Đoàn 11 BĐQ dưới quyền chỉ huy hành quân của tướng Nhựt hoạt động trong quận Sơn Tịnh phía bắc thị xã Quảng Ngãi. Trung Đoàn 6 chịu trách nhiệm từ bộ tư lệnh sư đoàn ở Chu Lai đến phía bắc Tam Kỳ.
Ngoài các hoạt động quấy phá như giật sập cầu trên Quốc Lộ 1 hay tấn công các thôn xóm hẻo lánh vào ban đêm, Bắc quân tập trung nổ lực tái xây dựng lại lực lượng chiến đấu, các căn cứ tiếp vận cũng như con đường chiến lược mới Đông Trường Sơn nối liền từ thung lũng A Shau xuống Bến Giang trong tỉnh Quảng Nam để nối vào Quốc Lộ 14, chuẩn bị chờ thời cơ để tiến chiếm Miền Nam.

📎 HBVTS003|HBVTS004|HBVTS018
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:16:06lyenson>
III. TỪ THẤT SƠN ÐẾN ÐỒNG THÁP
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
 Khu vực đồng bằng sông Cửu Long, còn gọi là Miền Tây, là viên ngọc quí của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những cánh đồng lúa bạt ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê do phù sa của hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang bồi đấp cùng một hệ thống 4,800 km (2,982 miles) sông, rạch, kinh đào chằng chịt là vựa lúa của VNCH, cung cấp gần 75% nhu cầu thực phẩm của cả nước. Hơn phân nửa dân số toàn quốc (khoảng 9 triệu người) sống đông đúc trong khu vực này, thuộc lãnh thổ Quân Khu 4, là nguồn nhân lực chính cho công tác tuyển quân. Khu vực này do đó có vai trò vô cùng trọng yếu về kinh tế và quân sự, ảnh hưởng đến sự sống còn của Miền Nam Việt Nam.
Giao thông bằng thủy lộ do đó có vai trò vô cùng quan trọng ở khu vực này và việc kiểm soát các thủy lộ này, chận đứng nổ lực tiếp tế liên lạc và vận chuyển lương thực của Cộng Sản là một trong những mục tiêu chính của chính phủ VNCH trong chiến trận ở Miền Tây.
Quân Khu 4 cũng có một biên giới dài giáp với Cam Bốt, chạy dài từ Hà Tiên sát vịnh Thái Lan đến khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) giáp với tỉnh Hậu Nghĩa của Quân Khu 3. Từ Hà Tiên đến thị xã Châu Đốc có bảy ngọn núi nhỏ nhô lên khống chế khu vực đồng bằng xung quanh từ Tịnh Biên đến Tri Tôn, bao gồm núi Sam nổi tiếng gần thị xã Châu Đốc với Chùa Bà và ngày hội lớn hằng năm. Khu vực bảy ngọn núi này do đó còn có tên là Thất Sơn. Trong khu vực này Quân Lực VNCH cũng có Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Chi Lăng, đảm trách việc huấn luyện cho các đơn vị Quân Lực VNCH ở Quân Khu 4.

Sông nước Vĩnh Long, nơi đóng quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh VNCH
(HÌNH ẢNH: Daniel Guip)

Từ Tân Châu đến khu vực Mỏ Vẹt là khu vực Đồng Tháp bao la, đồng lầy ngập nước vào mùa mưa như một biển hồ, có nơi sâu đến 4, 5 mét khiến tàu bè là phương tiện di chuyển đi lại duy nhất. Khu vực biên giới này do đó đã được Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) xây dựng thành một khu vực căn cứ địa (nối liền với hệ thống căn cứ địa trên đất Cam Bốt và hệ thống đường vận chuyển tiếp tế Sihanouk từ cảng Sihanoukville hay Kompong Som) và hành lang xâm nhập và tiếp tế cho cả khu vực Tiền Giang (chủ yếu là Định Tường và Kiến Hòa) lẫn Hậu Giang (chủ yếu là Chương Thiện và U Minh).
Quốc Lộ 4 huyết mạch chạy dài qua Miền Tây và hai con sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang nối liền thủ đô Saigon và Cà Mau là mạch máu kinh tế của Miền Nam và là trọng điểm an ninh của VNCH ở Miền Tây. Quân Khu 4 bao gồm 16 tỉnh: Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc, Kiến Phong, Kiến Tường, An Giang, Châu Đốc, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện, Bạc Liêu và An Xuyên.
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 đặt ở Cần Thơ, thành phố lớn nhất Miền Tây bên bờ sông Hậu Giang, còn được biết với tên Tây Đô. Cần Thơ cũng có phi trường Trà Nóc, căn cứ không yểm chính của Miền Tây và là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân. Ở Bình Thủy cũng có Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Sông Ngòi và căn cứ hải quân.
Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 4 từ mùa hè 1972, thay thế Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra chỉ huy Quân Đoàn 1 sau khi tỉnh Quảng Trị mất vào tay CSBV trong cuộc tổng tấn công Xuân Hè 1972. Tướng Nghi, nguyên là tư lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh (BB), tiếp tục truyền thống của sư đoàn hoàng gia này, từng được chỉ huy bởi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, thủ tướng chính phủ và Trung Tướng Đặng Văn Quang, cố vấn an ninh và quân sự cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tướng Nghi đã chứng tỏ tài chỉ huy cấp quân đoàn hiệu quả trong giai đoạn 1972-73 nhưng Sư Đoàn 21 BB từ vị trí sư đoàn thiện chiến nhất trong thập niên 1960 trở thành sư đoàn yếu kém nhất trong thập niên 1970 ở chiến trường Miền Tây.
NHỮNG CHIẾN SĨ SÌNH LẦY
Quân Đoàn 4, chỉ huy toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH trên lãnh thổ Quân Khu 4, với Sư Đoàn 7, 9 và 21 BB cùng Liên Đoàn 4 Biệt Ðộng Quân (BĐQ) là đơn vị trừ bị chiến thuật, yểm trợ bởi 200,000 lính Ðịa Phương Quân (ĐPQ) và Nghĩa Quân (NQ). Do lính ĐPQ và NQ được tuyển mộ để phục vụ ở địa phương, với dân số gần phân nửa dân số toàn quốc, lực lượng ĐPQ/NQ của Quân Khu 4 chiếm gần phân nửa quân số của lực lượng ĐPQ/NQ toàn quốc và đông gấp 3 lần lực lượng ĐPQ/NQ ở Quân Khu 2 cũng như gấp đôi lực lượng này ở Quân Khu 1 và 3.
Tổ chức thành 144 tiểu đoàn và 125 đại đội độc lập trú đóng trong 3,400 cứ điểm, lực lượng này đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực bình định, giữ gìn an ninh cho các thôn xóm, đồng ruộng và vườn tược, hệ thống giao thông liên lạc rộng khắp cả trên bộ lẫn dưới nước, đặc biệt là hằng ngàn cây cầu lớn nhỏ bắt qua hệ thống sông rạch, kinh đào chằng chịt của Miền Tây.
Sinh ra và lớn lên ở địa phương, người lính ĐPQ/NQ rất quen thuộc với địa hình phong thổ trong khu vực hoạt động cũng như chiến thuật du kích, mìn bẫy của cộng quân. Tuy nhiên hầu hết các đơn vị đều bị thiếu hụt quân số, đặc biệt là sĩ quan chỉ huy do phải hành quân thường xuyên và nạn lính ma lính kiểng. Sau khi phải rút bỏ 97 cứ điểm và mất 193 cái khác sau các cuộc đột kích của cộng quân trong năm 1973 ở Quân Khu 4, Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) Quân Lực VNCH và tướng Nghi, tư lệnh Quân Đoàn 4, cho rút bỏ các tiền đồn xa xôi, hẻo lánh, bị cô lập và khó tiếp tế cũng như gia tăng tính cơ động cho các tiểu đoàn ĐPQ để gia tăng hiệu quả chiến đãu và giảm thiệt hại. (Để biết rõ hơn về cuộc chiến đãu thầm lặng nhưng dai dẳng của những người lính ĐPQ/NQ ở Miền Tây, xin xem bài Viết Về Người Lính Địa Phương Quân của Nguyễn Hữu Nghĩa).
Trong thập niên 1960, ba tiểu đoàn BĐQ mang số 42,43 và 44 của Liên Đoàn 4 BĐQ và một số đơn vị của Sư Đoàn 21 BB đã tạo nhiều chiến công hiển hách ở Miền Tây, tạo nên huyền thoại về những chiến sĩ sình lầy và những cấp chỉ huy tài ba như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Minh Đảo, Lê Văn Hưng.
Riêng Tiểu Đoàn 42 BĐQ do Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt (nguyên là Đại Đội Trưởng Đại Đội 21 Trinh Sát) chỉ huy nổi tiếng dưới danh hiệu Cọp Ba Đầu Rằn, đã được hai lần tuyên dương công trạng của Tổng Thống Hoa Kỳ (Presidential Unit Citation) cũng như Tiểu Đoàn 44 BĐQ cũng được tuyên dương công trạng này một lần.
Đầu năm 1968, cũng để giảm bớt gánh nặng cho ba sư đoàn chủ lực của Quân Lực VNCH hoạt động ở Quân Khu 4, Biệt Khu 44 được hình thành để bảo vệ khu vực biên giới với Cam Bốt, kéo dài từ Hà Tiên trong tỉnh Kiên Giang đến khu vực Mỏ Vẹt ngay biên giới Kiến Tường-Long An, bao gồm các tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc, và khu vực biên giới của tỉnh Kiên Giang, với Bộ Tư Lệnh ở thị xã Cao Lãnh. Đơn vị chiến đãu chính của Biệt Khu 44 là Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh, sử dụng Liên Đoàn 4 BĐQ, 8 tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng và 5 thiết đoàn kỵ binh của Quân Đoàn 4.
Từ sau cuộc hành quân vượt biên sang Cam Bốt trong năm 1970 đến cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972 của Cộng Sản Bắc Việt, Biệt Khu 44 duy trì hai căn cứ tiền phương trên đất Cam Bốt ở Neak Luong và Kompong Trach, do các đơn vị Biệt Ðộng Quân giữ để bảo vệ khu vực biên giới.
Lãnh thổ của Quân Khu 4 được phân chia trách nhiệm cho 3 sư đoàn chủ lực. Sư Đoàn 7 BB với bộ tư lệnh ở căn cứ Đồng Tâm gần thị xã Mỹ Tho, chịu trách nhiệm các tỉnh Định Tường, Gò Công và Kiến Hòa. Sư Đoàn 9 BB với bộ tư lệnh ở Sa Đéc, sau dời về Vĩnh Long, chịu trách nhiệm các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc, An Giang và một phần tỉnh Kiên Giang, bao gồm thị xã Rạch Giá. Sư Đoàn 21 BB với bộ tư lệnh ở Bạc Liêu, chịu trách nhiệm các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, và An Xuyên.
Các thiết đoàn kỵ binh của binh chủng Thiết Giáp ở Miền Tây đều chỉ trang bị với thiết vận xa M-113 do chiến xa M-41 và M-48 không thích hợp với địa hình sình lầy ngập nước. Sư Đoàn 4 Không Quân với hai phi trường lớn ở Trà Nóc (Cần Thơ) và Sóc Trăng cung cấp các hoạt động không yểm.
Do địa thế bờ biển dài với hai đảo Phú Quốc và Côn Sơn cùng với hệ thống sông rạch và kinh đào đan kín cả Miền Tây, Hải Quân VNCH có sự hiện diện mạnh mẽ ở Quân Khu 4 với Vùng 4 và Vùng 5 Duyên Hải và Vùng 4 Sông Ngòi để bảo vệ các thủy lộ và khu vực bờ biển, ngăn chận các hoạt động liên lạc tiếp tế của cộng quân cũng như yểm trợ cho các đơn vị bạn trên bờ. Vùng 4 Sông Ngòi với Bộ Tư Lệnh ở Cần Thơ chỉ huy 7 giang đoàn xung phong trú đóng ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên cùng các đơn vị yểm trợ.
Ngoài ra còn có sự tăng cường của ba lực lượng đặc nhiệm (LLÐN) hải quân là Lực Lượng Đặc Nhiệm 211 (Thủy Bộ), Lực Lượng Đặc Nhiệm 212 (Tuần Thám) và Lực Lượng Đặc Nhiệm 214 (Trung Ương). Lực Lượng Đặc Nhiệm 212 (Tuần Thám) với Bộ Tư Lệnh ở Châu Đốc chỉ huy 14 giang đoàn tuần thám bảo vệ khu vực sông rạch dọc theo biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Lực Lượng Đặc Nhiệm 214 (Trung Ương) với Bộ Tư Lệnh ở căn cứ Đồng Tâm chỉ huy các giang đoàn ngăn chận. Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ thường kết hợp các giang đoàn xung phong yểm trợ cho các đơn vị bộ chiến trong các cuộc hành quân truy lùng Cộng Sản trên các vùng sông rạch và kinh đào.
Đầu năm 1974 các lực lượng đặc nhiệm ở Quân Khu 4 được sát nhập lại thành Hạm Đội Đặc Nhiệm 21 do Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng chỉ huy tổng cộng 362 tàu đủ loại, hoạt động từ 17 căn cứ trên khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tướng Thăng cũng chỉ huy đơn vị Hải Quân Vùng 4 Sông Ngòi.
Vùng 4 Duyên Hải với Bộ Tư Lệnh ở căn cứ An Thới trên đảo Phú Quốc chịu trách nhiệm từ biên giới lãnh hải với Cam Bốt đến mũi Cà Mau với 26 tàu tuần trên biển trong khi Vùng 5 Duyên Hải với Bộ Tư Lệnh ở Năm Căn (Cà Mau) chịu trách nhiệm dọc theo bờ biển từ mũi Cà Mau đến khu vực biển Gò Công và Cần Giờ (Long An) với 27 tàu tuần biển.
Theo tổ chức của quân đội Cộng Sản Bắc Việt, khu vực đồng bằng sông Cửu Long bao gồm luôn tỉnh Long An trực thuộc Mặt Trận Nam Bộ (hoặc Mặt Trận "B-2") với Quân Khu 8 trông coi khu vực Tiền Giang và Quân Khu 9 trông coi khu vực Hậu Giang. Sau khi được thăng vượt hai cấp cùng với Đồng Sỹ Nguyên trong kỳ thăng cấp cho các sĩ quan cao cấp toàn quân vào đầu năm 1974, Trung Tướng Lê Đức Anh giữ chức Tư Lệnh Quân Khu 9 kiêm Phó Tư Lệnh Mặt Trận B-2 trong khi Võ Văn Kiệt là Chính Ủy. Ở Quân Khu 8, Thiếu Tướng Đồng Văn Cống là tư lệnh trong khi Thiếu Tướng Lê Văn Tưởng là Chính Ủy.
Trừ khu vực núi Thất Sơn ở khu vực Hà Tiên-Châu Đốc và khu vực đầm lầy ngập nước U Minh (chạy dài từ Rạch Giá qua Chương Thiện xuống đến Cà Mau) và Đồng Tháp Mười giáp với biên giới Cam Bốt, toàn bộ lãnh thổ còn lại là khu vực đồng bằng phì nhiêu nối liền nhau bởi một hệ thống thủy lộ rộng khắp và dầy đặc với phong cảnh vẫn còn mang nét đồng quê, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến tranh du kích theo kiểu Cộng Sản.
Trừ các khu vực căn cứ địa đã được xây dựng trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất như U Minh và Đồng Tháp là nơi các trung đoàn chủ lực trú đóng, các đơn vị du kích Cộng Sản thường phân tán thành các đơn vị nhỏ cấp tiểu đoàn trở xuống để tiện việc cơ động cũng như phân tán khi bị rượt đánh.
Quân đội Bắc Việt có 11 trung đoàn chủ lực hoạt động ở Miền Tây trước giai đoạn ngừng bắn. Trung Đoàn 18B, 95A, D1 và D2 hoạt động trong khu vực U Minh Thượng-Chương Thiện trong khi Trung Đoàn 24, 88, và Đồng Tháp 1 hoạt động trong khu vực Định Tường, Trung Đoàn 320 hoạt động trong tỉnh Long An và Trung Đoàn Z-15 và Z-18 hoạt động trong khu vực Kiến Tường. Trung Đoàn D-3 hoạt động trong khu vực ranh giới hai tỉnh Vĩnh Long và Vĩnh Bình.
Các đơn vị cộng quân thường được trang bị nhẹ và được yểm trợ chủ yếu bằng đại bác không giật (DKZ) và súng cối. Du kích Cộng Sản cũng sống lẫn vào dân, hoạt động tiếp cận với các viên chức chính quyền và người lính VNCH để dò la tin tức, tiếp tay cho các hoạt động đặc công, khủng bố, phá hoại. Đặc biệt là ở các vùng xôi đậu (vùng tranh chấp giữa hai bên VNCH và Cộng Sản) phe VNCH kiểm soát ban ngày nhưng phe CSBV kiểm soát vào ban đêm khiến người dân phải chịu nhiều áp lực từ cả hai phía. Quân Khu 4 do đó trở thành trọng điểm cho nổ lực dành dân, tuyển quân và thu mua lương thực của CSBV và nổ lực bình định và tuyển quân của VNCH.
Mặc dầu chiến lược của Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận B-2 cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long thay đổi thường xuyên, cuối năm 1969, Quân Ủy Trung Ương và Bộ Chính Trị Đảng CSVN xác định vai trò quan trọng chiến lược của khu vực này, cũng như chiến trường quan trọng ảnh hưởng đến kết thúc cuộc chiến. Sau đó Sư Đoàn 1 CSBV đang hoạt động ở khu vực Tây Nguyên đã di chuyển vào Nam và hoạt động dọc theo khu vực Hà Tiên-Thất Sơn từ khu vực căn cứ địa trên đất Cam Bốt. Sư đoàn này cũng phân tán các đơn vị trực thuộc, xâm nhập vào các căn cứ địa ở Miền Tây để tiếp tay cho các trung đoàn và tiểu đoàn chủ lực địa phương.
Về phía VNCH, khu vực đồng bằng sông Cửu Long trở thành trọng điểm của nổ lực bình định của liên quân VNCH và Hoa Kỳ sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Trước đó lực lượng bộ chiến Mỹ và các nước Đồng Minh tập trung hoạt động ở ba quân khu phía trên trong khi Quân Khu 4 do địa hình phong thổ và vấn đề xã hội-lịch sử, hoàn toàn thuộc trách nhiệm của Việt Nam Cộng Hòa.

"Những Chiến Sĩ Sình Lầy" đang hành quân trên sông ngòi miền Nam
(HÌNH ẢNH: Fritz Degner)

Sư Đoàn 9 BB Hoa Kỳ với hai lữ đoàn di chuyển xuống hoạt động trong các tỉnh Long An, Định Tường và Kiến Hòa. Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn cũng di chuyển từ Long Thành xuống Đồng Tâm cùng lúc với sự hình thành Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy bộ (Mobile Riverine Force), cùng với các toán biệt kích SEAL của Hải Quân Mỹ hoạt động trong khu vực Rừng Sát phía nam thủ đô Saigon và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. (Ghi chú tác giả: Cựu thương nghị sĩ và thống đốc tiểu bang Nebraska ở Hoa Kỳ, ông Bob Kerrey từng là sĩ quan SEAL hoạt động trong khu vực này cũng như dọc theo duyên hải Việt Nam, từng bị chấn thương nặng ngoài khơi Nha Trang trong năm 1969, phải cưa chân và được ân thưởng huy chương cao quí nhất cho quân nhân Mỹ trong chiến đãu Congressional Medal of Honor. Ông Kerrey cũng bị đề cập trong vụ tai tiếng về thảm sát thường dân ủng hộ Cộng Sản ở tỉnh Kiến Hòa trước đó cũng vào dịp đầu năm 1969).
Một căn cứ quân sự lớn lao được xây dựng mới ở phía tây thị xã Mỹ Tho, nằm dọc theo sông Tiền Giang và Kinh Xáng nối ra Quốc Lộ 4, đặt tên là Đồng Tâm. Liên kết Lực Lượng Xung Kích Sông Ngòi (Riverine Assault Force) 117 của Hải Quân Hoa Kỳ và Lữ Đoàn 2 của Sư Đoàn 9 BB Hoa Kỳ, lực lượng này cơ động nhanh chóng trên hệ thống sông rạch, kinh đào chằng chịt ở Miền Tây từ một căn cứ nổi tự hành to lớn, phối hợp hoạt động với các đơn vị của Quân Lực VNCH như Sư Đoàn 7 và 21 BB, Hải Quân Vùng 4 Sông Ngòi và Lữ Đoàn B TQLC Việt Nam tăng phái từ BTTM Quân Lực VNCH. (Ghi chú tác giả: Thượng nghị sĩ John Kerry của tiểu bang Massachusetts, và cũng là đương kim ứng viên tổng thống năm 2004 của đảng Dân Chủ, từng chỉ huy duyên tốc đỉnh PCF hoạt động trong khu vực Năm Căn (Cà Mau) và An Thới (Phú Quốc) trước khi hồi hương và tham gia phong trào phản chiến).
Sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, để thay thế LLĐN Thủy Bộ Mỹ, Quân Lực VNCH cho thành lập Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211 bao gồm các giang đoàn xung phong của Hải Quân Vùng 4 Sông Ngòi và Lữ Đoàn B TQLC do Đại Tá Tôn Thất Soạn chỉ huy, hoạt động cho đến cuối năm 1970, bao gồm chiến dịch vượt biên sang Cam Bốt trong lãnh thổ Quân Khu 4. Tương tự như ở ba quân khu phía trên, Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ cũng thành lập một loạt các trại dân sự chiến đãu dọc theo biên giới Cam Bốt ở Quân Khu 4, từ Hà Tiên đến Đồng Tháp. Các căn cứ Tô Châu, Thạnh Trị, Tuyên Nhơn, Cái Cái, Bình Thành Thôn, Chi Lăng, Ba Xoài và Vinh Gia sau đó đã được chuyển giao lại cho Quân Lực VNCH, hình thành tám tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, dưới quyền chỉ huy của Biệt Khu 44.
THẤT SƠN
Khu vực Thất Sơn bao gồm bảy ngọn núi nhỏ với nhiều hang động nhô lên ngay biên giới Cam Bốt từ Tịnh Biên đến Tri Tôn, khống chế một khu vực đồng bằng rộng lớn của hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Từ lâu Cộng Sản Bắc Việt đã xây dựng các căn cứ địa cùng kho tiếp vận trong các hang núi này. Sư Đoàn 1 CSBV từ khi di chuyển xuống đây từ khu vực Tây Nguyên vào cuối năm 1970 đã hoạt động trong khu vực này để yểm trợ cho hành lang tiếp tế và việc thu mua lương thực của CSBV từ khu vực căn cứ địa trên đất Cam Bốt qua các hệ thống thủy lộ trong tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang xuống khu vực căn cứ địa của Quân Khu 9 Cộng Sản trong khu vực U Minh và tỉnh Chương Thiện.
Sau ngày ngưng bắn, Việt Nam Cộng Hòa cho thực hiện hoạt động phong tỏa việc tiếp tế thu mua lúa gạo ở khu vực biên giới. Cùng lúc đó quân Cộng Sản Khmer Đỏ cũng ngăn chận việc thu mua lương thực của CSBV trên đất Cam Bốt khiến cộng quân lâm vào tình trạng khủng hoảng về lương thực. Con số cán binh Cộng Sản về hồi chánh tăng vọt. Ngày 24 tháng 8/1973 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu xuống Cần Thơ để họp bàn về vấn đề kiểm soát và thu mua lúa gạo và phong tỏa nguồn lương thực tiếp tế cho Bắc quân.
Đầu tháng Bảy năm 1973 Biệt Khu 44 mở cuộc hành quân tảo thanh khu vực Thất Sơn, loại bỏ mối đe dọa của Sư Đoàn 1 CSBV. Lực lượng tham chiến gồm có Liên Đoàn 4 và 7 BĐQ và Lữ Đoàn 4 Thiết Kỵ với tổng cộng 10 tiểu đoàn BĐQ và BĐQ-Biên Phòng.
Sư Đoàn 1 CSBV có Trung Đoàn 52 hoạt động ở phía bắc Hà Tiên trong khi Trung Đoàn 101D và Trung Đoàn 44 Đặc Công xâm nhập vào khu vực Núi Dài và núi Cô Tô trong tháng Chín, bắn hỏa tiển và súng cối vào các trung tâm dân cư. Đến đầu tháng 10 thì do kiệt sức vì tổn thất chiến trận và thiếu hụt lương thực trầm trọng, Quân Khu 9 Cộng Sản phải giải tán Sư Đoàn 1 CSBV. Trung Đoàn 52 và Trung Đoàn 44 Đặc Công được sát nhập qua Trung Đoàn 101D, lúc này chỉ còn 300 bộ đội để hình thành đơn vị mới cấp lữ đoàn. Đơn vị này sau đó phải rút sang Cam Bốt để dưỡng quân. Mối đe dọa cho khu vực biên giới từ Hà Tiên đến Châu Đốc đã bị loại bỏ.
HỒNG NGỰ
Đầu năm 1973 thủ đô Nam Vang (Phnom Penh) của chính phủ Lon Nol thân Mỹ bị quân Cộng Sản Khmer Đỏ phong tỏa khiến sông Tiền Giang trở thành đường tiếp tế huyết mạch chính về đạn dược, nhiên liệu và lương thực cho Nam Vang do phi trường Pochentong thường xuyên bị pháo kích. Các tàu biển và xà lan tiếp tế tập trung ở khu vực Vũng Tàu để được tàu kéo dần theo sông Tiền Giang lên đến Tân Châu (An Giang) trước khi vượt biên giới sang Cam Bốt.
Thị trấn Hồng Ngự nằm dọc bờ sông Tiền Giang trong tỉnh Kiến Phong trở thành mục tiêu chiến lược quan trọng cho thủy lộ tiếp tế này. Để đánh chiếm Hồng Ngự và cắt đứt thủy lộ tiếp tế cho Nam Vang, quân Bắc Việt sử dụng một lực lượng cấp sư đoàn gồm Trung Đoàn 207 độc lập, Trung Đoàn 174 của Sư Đoàn 5 và Trung Đoàn 272 của Sư Đoàn 9, được Trung Đoàn 75 Pháo yểm trợ tấn công vào quận Hồng Ngự vào tháng Ba năm 1973.
Mặc dầu các đơn vị ĐPQ/NQ của chi khu Hồng Ngự đã chống trả quyết liệt và các phi vụ oanh tạc chiến lược của pháo đài bay B-52 trên hành lang dọc theo sông Cửu Long lên đến Nam Vang góp phần gây thiệt hại nặng cho cộng quân, áp lực Bắc quân vẫn đè nặng lên quận Hồng Ngự.
Giang Đoàn 26 Xung Phong ở Long Xuyên được lệnh tăng viện và đã yểm trợ hữu hiệu cho quân bạn cùng với Sư Đoàn 4 Không Quân cho đến tháng Tư khi Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 BB và một liên đoàn ĐPQ cơ động được Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh yểm trợ mở cuộc phản công, khai thông bờ đông của sông Tiền Giang từ Hồng Ngự lên đến biên giới Cam Bốt và gây thiệt hại nặng nề cho Bắc quân, bỏ lại 422 xác trong khi phía Việt Nam Cộng Hòa có 94 chết, 743 bị thương và 36 mất tích. Tuy nhiên tổn thất về mặt dân sự khá cao với 80 chết và 300 ngôi nhà bị phá hủy do các cuộc pháo kích bằng hỏa tiển của cộng quân mà cao điểm là 123 hỏa tiển pháo vào thị xã Hồng Ngự trong tuần lễ thứ nhì của tháng Tư (chi tiết của cuộc hành quân này đã được kể lại trong bài viết Những Dòng Sông Cũ của Trần Đỗ Cẩm).
ĐỒNG THÁP
Sau thất bại ở trận đánh An Lộc, Mặt Trận B-2 Cộng Sản di chuyển Sư Đoàn 5 CSBV sang khu vực căn cứ địa trên đất Cam Bốt trong tỉnh Svay Riêng để bổ sung quân số rồi di chuyển xuống khu vực Đồng Tháp, xâm nhập vào tỉnh Kiến Tường vào tháng Sáu năm 1972.
Đồng Tháp là một vùng đồng lầy hoang vu rộng lớn, được vây quang bởi sông Vàm Cỏ Tây ở phía đông, sông Tiền Giang ở phía tây, biên giới Cam Bốt ở phía bắc và Quốc lộ 4 huyết mạch chạy qua tỉnh Định Tường ở phía nam. Khu vực này không có nhiều sông ngòi nên hằng năm vào khoảng tháng Sáu nước sông Tiền Giang dâng cao đổ vào theo rạch Sở Hạ và rạch Cái Cái biến khu vực này thành một biển hồ ngập nước. Người ta có thể dùng ghe di chuyển từ biên giới Cam Bốt xuống tận thị xã Mỹ Tho. Khu vực sông Vàm Cỏ Tây có nhiều kinh rạch khiến sự lưu thông tương đối dễ dàng, dân cư sinh sống khá đông đúc bằng nghề ruộng rẩy.
Khu vực trung tâm là vùng đồng lầy với nhiều cỏ lác không có bóng cây vào mùa khô và biến thành biển hồ mênh mông với nhiều đỉa, muổi, rắn. Chỉ có xuồng nhỏ là phương tiện di chuyển duy nhất. Khu vực giữa Hồng Ngự và Cao Lãnh gần sông Tiền Giang có nhiều kinh rạch, quan trọng là kinh Đồng Tiến nối liền hai sông Tiền Giang và Vàm Cỏ Tây, và việc đi lại trên bộ cũng thuận tiện trong mùa khô.
Thiếu Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Quân Đoàn 4, cho di chuyển nhanh chóng Sư Đoàn 7 BB vào khu vực Kiến Tường, đồng thời sử dụng hoạt động không yểm , gồm cả pháo đài bay B-52 để đánh phá các khu vực tình nghi tập kết của Bắc quân. Chiến sự diễn ra ác liệt ở khu vực Chân Tượng (Elephant’s Foot). Bắc quân sử dụng cả hỏa tiễn SA-7 (loại hỏa tiễn chống phi-cơ) lần đầu tiên ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Dưới sự chỉ huy tài ba của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và dùng yếu tố thần tốc, Sư Đoàn 7 BB hoàn toàn làm chủ khu vực Chân Tượng vào cuối tháng Sáu. Tướng Nam sau đó đã để lại một trung đoàn để bảo vệ khu vực biên giới trong khi các thành phần còn lại rút về yểm trợ các đơn vị ĐPQ/NQ của tỉnh Định Tường đang phải đối phó với hai trung đoàn chủ lực Z-15 và ĐT-1 của Quân Khu 8 Cộng Sản đang gây rối trong khu vực Sầm Giang-Cai Lậy-Cái Bè.
Để đối phó với áp lực gia tăng của Bắc quân trong tỉnh Định Tường, Quân Đoàn 4 tăng cường cho khu vực này Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 BB sau khi hoàn thành sứ mạng tăng cường cho Quân Khu 3 ở mặt trận An Lộc và hai liên đoàn BĐQ cùng Bộ Tư Lệnh BĐQ/Quân Khu 4. Bộ Tư Lệnh tiền phương Quân Đoàn 4 cũng được thành lập ở căn cứ Đồng Tâm do Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Hoàng, Tư Lệnh Phó Hành Quân của Quân Đoàn 4 chỉ huy.
Đầu tháng Tám đơn vị BĐQ tiêu diệt các đơn vị Bắc quân trong khu vực Hậu Mỹ (Cái Bè). Quân đội VNCH đã thiết lập một số cứ điểm phòng thủ dọc theo kinh Tháp Mười. Đầu tháng 11 các đơn vị của Sư Đoàn 7 BB đánh tan một tiểu đoàn của Trung Đoàn 207 thuộc Sư Đoàn 5 CSBV từ Cam Bốt xâm nhập vào tỉnh Kiến Phong, bắt sống 73 tù binh (con số tù binh đông nhất trong một trận đánh riêng biệt trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai), hầu hết đều còn rất trẻ, thiếu dinh dưỡng và cho biết bị cấp chỉ huy chạy trốn bỏ rơi khi đụng trận.
Sau khi mối đe dọa ở khu vực biên giới từ Hà Tiên đến Đồng Tháp bị loại bỏ vào cuối năm 1973, Biệt Khu 44 được giải tán. Trách nhiệm các tỉnh Kiến Tường, Vĩnh Long và Vĩnh Bình được chuyển giao cho Sư Đoàn 7 BB trong khi tỉnh Châu Đốc, Kiến Phong và bắc Kiên Giang thuộc về Sư Đoàn 9 BB. Cũng trong thời gian này, Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc thay thế Thiếu Tướng Trần Bá Di giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 9 BB.
Cuối năm 1973 khu binh chủng Biệt động Quân được tái tổ chức để đối phó với tình hình và nhu cầu chiến trường mới, các đơn vị BĐQ và BĐQ-Biên Phòng ở Quân Khu 4 bị giải tán, thuyên chuyển, sát nhập vào hệ thống tổ chức mới của binh chủng BĐQ ở ba quân khu phía bắc. Riêng Liên Đoàn 4 BĐQ nay thuộc quyền điểu động của bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH.
ĐỊNH TƯỜNG
Định Tường là tỉnh quan trọng nhất, đông dân nhất và trù phú nhất của khu chiến thuật Tiền Giang với Quốc Lộ 4 huyết mạch chạy xuyên qua tỉnh nối liền các tỉnh còn lại của Miền Tây với tỉnh Long An của Quân Khu 3, nguồn cung cấp lương thực và thực phẩm chính cho thủ đô Saigon cũng như phân phối đi cho cả nước. Ngoài sông Tiền Giang ở phía nam, tỉnh Định Tường cũng có một hệ thống sông rạch, kinh đào chằng chịt nối liền với khu vực Đồng Tháp cũng như tỉnh Long An và khu vực Saigon-Gia Định, quan trọng là kinh Chợ Gạo.
Ngoài vai trò quan trọng về kinh tế và quân sự (Căn Cứ Đồng Tâm gần tỉnh lỵ Mỹ Tho là Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 7 BB và căn cứ Hải Quân lớn sau khi Sư Đoàn 9 BB Mỹ triệt thoái), Định Tường còn là quê hương của phu nhân Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và gia đình Bà Thiệu vẫn sinh sống ở tỉnh lỵ Mỹ Tho.

Một đơn vị VNCH chuẩn bị cho cuộc hành quân thủy-bộ tại Cần Thơ
(HÌNH ẢNH: Robert Payette)

Đối với Cộng Sản Bắc Việt, Định Tường cũng có vai trò quan trọng chiến lược trong việc cắt đứt Quốc Lộ 4 để cô lập thủ đô Saigon về cả kinh tế lẫn quân sự cho cuộc tổng tấn công kết thúc cuộc chiến. Quân Khu 8 của Mặt Trận B-2 Cộng Sản có lúc có đến 6 trung đoàn chủ lực hoạt động trong tỉnh Định Tường từ khu vực căn cứ địa ở Trị Pháp trong khu vực Đồng Tháp và khu vực biên giới hai tỉnh Định Tường-Gò Công.
Đầu năm 1974 để chận đứng hoạt động xâm nhập vào khu vực Trị Pháp để chờ thời cơ tràn xuống uy hiếp Quốc Lộ 4 của Sư Đoàn 5 CSBV, Quân Đoàn 4 cho mở cuộc hành quân lớn vào khu vực này và sau đó phối hợp với Quân Đoàn 3 mở chiến dịch vượt biên sang Cam Bốt để tiêu diệt khu vực căn cứ địa của Sư Đoàn 5 CSBV nằm trong tỉnh Svay Riêng. cuộc hành quân này sẽ được nói đến trong bài viết Từ Trị Pháp đến Svay Riêng.
Như đã nói ở trên, vai trò quan trọng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long về kinh tế (chủ yếu là lương thực và thực phẩm) và nhân lực (công tác tuyển quân) cho nổ lực chiến tranh từ hai phía khiến khu vực này trở thành chiến trường chính cho các hoạt động dành dân và thu mua lương thực về phía CSBV cũng như bình định, kiểm soát lương thực và nhân lực về phía Việt Nam Cộng Hòa.
TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ Ở QUÂN KHU 4 CUỐI NĂM 1974
Từ sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Việt Nam Cộng Hòa đã có nhiều thành công trong nổ lực bình định ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, kiểm soát phần lớn đất đai và hầu hết dân chúng sinh sống trong khu vực này cũng như loại bỏ hạ tầng cơ sở Cộng Sản hoạt động nằm vùng. Phía Cộng Sản Bắc Việt chỉ còn tập trung hoạt động trong các khu vực căn cứ địa lâu đời trong khu vực U Minh, Đồng Tháp, Chương Thiện và Định Tường.
Sau ngày ngưng bắn, với mối đe dọa dọc theo biên giới Cam Bốt bị loại bỏ, trọng tâm của Việt Nam Cộng Hòa là loại bỏ hay cô lập các khu vực "da beo" này, đó là các khu vực được Bắc quân sử dụng làm bàn đạp tấn công vào các khu vực đông dân trù phú khi có thời cơ.
Ở khu vực Đồng Tháp, Sư Đoàn 7 và 9 BB của Việt Nam Cộng Hòa đã thành công lớn trong việc loại bỏ khu vực căn cứ địa chính của cộng quân ở Trị Pháp. Trong khu vực U Minh Thượng trong tỉnh Kiên Giang, quân đội cũng chiếm đóng khu vực đông dân Gò Quao và Giồng Riềng do Bắc quân kiểm soát.
Sau Nghị Quyết 21, Quân Khu 8 và 9 Cộng Sản bắt đầu gia tăng các hoạt động khũng bố, lấn chiếm các đồn bót ở những nơi xa xôi, hẻo lánh. Nhìn chung mực độ chiến trận tương đối thấp so với ba quân khu ở phía trên. Tuy nhiên do quân viện bị cắt giảm trầm trọng, đặc biệt là nhiên liệu và đạn dược, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 phải cho rút bỏ các căn cứ tiền đồn hẻo lánh. Hải Quân Vùng 4 Sông Ngòi cũng cắt giảm 70% các hoạt động tuần tiểu trên sông và cho ngưng hoạt động gần 600 chiến đỉnh do thiếu cơ phận thay thế cũng như nhiên liệu và đạn dược để hoạt động. Tình hình an ninh trên sông rạch và các khu vực hẻo lánh do đó bắt đầu suy giảm.
Để chuẩn bị đánh lớn trong cuộc tổng tiến công trong hai năm 1975-76, Mặt Trận B-2 Cộng Sản bắt đầu cho sát nhập các đơn vị chủ lực hoạt động độc lập để xây dựng các sư đoàn và trung đoàn chủ lực nhẹ. Ở Quân Khu 9 (Hậu Giang), Sư Đoàn 4 CSBV được thành lập từ các trung đoàn độc lập D1, 18B và 95. Ở Quân Khu 8 (Tiền Giang), Sư Đoàn 8 CSBV được thành lập từ các trung đoàn độc lập 24, ĐT-1 và 320.
Theo kế hoạch của Mặt Trận B-2, ở Miền Tây, trọng điểm của Cộng Sản là 3 tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình và Kiến Hòa trong nổ lực chia cắt Quân Khu 4 để tiêu diệt, không cho các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa co lại cố thủ. Nếu kiểm soát được Vĩnh Long, Bắc quân sẽ cắt đứt Quốc lộ 4 và kiểm soát hai bến bắc chiến lược qua sông Tiền Giang và Hậu Giang, cô lập khu vực Hậu Giang. Bắc quân cũng mở rộng khu vực kiểm soát trong tỉnh Chương Thiện để có thể uy hiếp Cần Thơ, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 và phi trường Trà Nóc, căn cứ Không Quân chính ở đồng bằng sông Cửu Long và nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 4 Không Quân.
Ở khu vực Tiền Giang, trọng tâm của Bắc quân là sử dụng khu vực căn cứ địa Đồng Tháp để áp sát vào Quốc Lộ 4 và cắt đứt trục lộ huyết mạch này, không cho Sư Đoàn 7 và 9 BB rút về tăng cường phòng thủ Saigon. Đồng thời các trung đoàn độc lập của Quân Khu 8 trong tỉnh Định Tường cũng theo kinh Chợ Gạo tiến qua Long An để uy hiếp Saigon ở hướng đông nam từ khu vực Cần Đước, Cần Giuộc. Cùng lúc này các đơn vị chủ lực Bắc quân trong các tỉnh Vĩnh Long,Vĩnh Bình và Kiến Hòa cũng tiến về khu vực Cần Đước, Cần Giuột qua ngả Gò Công để hợp lực uy hiếp Saigon từ hướng nam. Tháng 11 năm 1974 do áp lực của phong trào chống tham nhũng và tòa đại sứ Mỹ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải thay thế Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 bằng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 BB.
Tương tự như vị chỉ huy tiền nhiệm ở cả hai chức vụ tư lệnh Sư Đoàn 7 BB và Quân Đoàn 4 là Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, tướng Nam có tiếng thanh liêm, sống đơn giản, đạm bạc, chăm lo nhiều cho binh sĩ dưới quyền và hết lòng phục vụ cho đất nước và quân đội theo đúng qui định về tổ quốc, danh dự và trách nhiệm.
Xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù và đã từng nắm chức chỉ huy cấp tiểu đoàn, chiến đoàn và lữ đoàn Dù, tướng Nam cũng có nhiều kinh nghiệm chiến trường cũng như khả năng chỉ huy tham mưu. Dưới quyền chỉ huy tài ba của tướng Thanh và Nam, Sư Đoàn 7 BB dần dần trở thành sư đoàn thiện chiến nhất của Quân Lực VNCH ở Miền Tây từ sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân.
📎 HBVTS005|HBVTS006|HBVTS017
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:25:39lyenson>
IV. TỪ TRUNG NGHĨA ĐẾN LỆ MINH
Mặc dầu đã đánh bại nổ lực cấp quân đoàn để tiến chiếm Kontum của Mặt Trận B-3 dưới sự yểm trợ hỏa lực hùng hậu và hữu hiệu của Không Quân Hoa Kỳ, đặc biệt các các phi vụ oanh tạc chiến lược B-52, Sư Đoàn 23 Bộ Binh của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cùng các đơn vị yểm trợ bao gồm Biệt Ðộng Quân (BÐQ) không đủ thực lực để tái chiếm các khu vực đã lọt vào tay Bắc quân trong cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972. Trọng tâm của quân đội VNCH là mở rộng vòng đai phòng thủ chung quanh thị xã Kontum để giảm áp lực của Bắc quân vào đây.
Khi hiệp định ngừng bắn Paris có hiệu lực thì trên lãnh thổ Quân Khu 2 Quân Lực VNCH có Sư Đoàn 22 và 23 Bộ Binh tổng cộng 7 trung đoàn bộ binh, Liên Đoàn 2 Biệt Ðộng Quân cơ hữu của Quân Đoàn 2 và Liên Đoàn 4 và 6 Biệt Ðộng Quân tăng cường từ Bộ Tổng Tham Mưu/Quân Lực VNCH cùng 9 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng, tổng cộng 18 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân chủ lực và biên phòng. Công tác yểm trợ hỏa lực do Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, Sư Đoàn 2 và 6 Không Quân thực hiện. Chủ lực quân đội VNCH tập trung vào 3 tỉnh trọng yếu Kontum, Pleiku và Bình Định.
Dưới quyền chỉ huy của Mặt Trận B-1 và B-3 Cộng Sản, chủ lực Bắc quân có Sư Đoàn 3 (còn được gọi là Sư Ðoàn Sao Vàng), 10 và 320, tổng cộng 8 trung đoàn, và 4 trung đoàn độc lập của Mặt Trận B-3 được sự yểm trợ của một trung đoàn chiến xa và nhiều trung đoàn pháo binh.

Hình chụp một cây cầu gần cứ điểm Polei Krong và làng Trung Nghĩa
(HÌNH ẢNH: 384th Radio Research Company)

Sư Đoàn 10 của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) mới thành lập vào tháng Chín năm 1972 từ 3 trung đoàn độc lập của Mặt Trận B-3 mang số 28, 66 và 95B đứng chân bảo vệ khu vực chiếm được trong chiến dịch Xuân-Hè 1972 theo một vòng cung trên 100 km chạy dài từ tây bắc thị xã Kontum xuống đến phía tây thị xã Pleiku. Riêng Trung Đoàn 95B đảm nhiệm việc "đóng chốt" đoạn đèo Chu Pao hiểm yếu để cắt đứt lưu thông trên Quốc Lộ 14 giữa hai thị xã Kontum và Pleiku.
Sau khi bị mất Trung Đoàn 52 (bị Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội CSBV điều về Quân Khu 5 theo Sư Đoàn 2) Sư Đoàn 320 với hai trung đoàn (48 và 64) di chuyển vào phía tây nam tỉnh Pleiku, chủ yếu đứng chân trên trục Quốc Lộ 14 (Hàm Rồng–Phú Nhơn) và Quốc Lộ 19 (Hàm-Rồng-Thanh An-Đức Cơ).
Mặc dầu thế quân bình tương đối ngang ngửa do các đơn vị Bắc quân đều bị thiệt hại nặng nề trong chiến dịch Xuân-Hè 1972, chỉ còn 25% quân số nhưng do nắm ưu thế chủ động tấn công về mặt chiến lược lại không phải lo giữ dân, giữ đất, bảo vệ hệ thống giao thông liên lạc trên một khu vực rộng lớn với địa hình phức tạp hiểm trở, Bắc quân có thể tập trung quân để đạt ưu thế ban đầu cùng yếu tố bất ngờ như ở Trung Nghĩa và Lệ Minh.
KONTUM
Nằm trong nỗ lực hoàn chỉnh khu vực chiếm đóng ở phía bắc tỉnh Kontum để có thể thông đường hành lang vận chuyển chiến lược sau thất bại của trận đánh vào thị xã Kontum, Mặt Trận B-3 Cộng Sản dùng Trung Đoàn 66 được pháo binh yểm trợ tiến chiếm căn cứ Ben Het và Dak Siêng đang bị cô lập.
Lá chắn phòng thủ thị xã Kontum từ hướng bắc nằm ở căn cứ Non Nước và đồi Eo Gio nằm dọc theo Quốc Lộ 14, chỉ cách thị xã 6 km về phía bắc và gần hơn nửa là căn cứ Lam Sơn và ở hướng tây nằm ở cứ điểm Polei Krong và làng Trung Nghĩa, gần nơi hai con sông Dak Bla và Krong Poko gặp nhau. Bắc quân đã chiếm được Polei Krong do Tiểu Đoàn 85 Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng giữ trong giai đoạn "dành dân lấn đất" trước ngày ngưng bắn do cứ điểm này nằm sát con đường chiến lược mới Đông Trường Sơn đang được xây dựng dọc theo biên giới Cam Bốt ở phía tây tỉnh Kontum.
Sư Đoàn 10 CSBV dùng Trung Đoàn 28 tăng cường Trung Đoàn 24B độc lập của Mặt Trận B-3 tràn ngập Polei Krong khiến Tiểu Đoàn 85 Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng phải rút bỏ ngày 28 tháng 1. Ở hướng tây nam, quân đội VNCH duy trì một cứ điểm tiền đồn ở đồi Ba Chấm, cao độ 700 mét, khống chế Tỉnh Lộ 3B và sông Dak Bla, tùy thuộc hoàn toàn vào nổ lực tiếp tế bằng đường không. Cuối tháng Năm 1973, pháo binh Bắc quân gồm cả đại bác 130 ly bắt đầu bắn vào các vị trí của Trung Đoàn 53 của Sư Đoàn 23 Bộ Binh ở hướng tây bắc thị xã Kontum và Bắc quân tấn công vào đồi Ba Chấm nhưng bị Biệt Ðộng Quân chận đứng.
Ngày 8 tháng 6 năm 1973 Mặt Trận B-3 Cộng Sản mở đợt tấn công kết hợp bộ binh-thiết giáp vớI các thành phần của Trung Đoàn 66 của Sư Đoàn 10 Cộng Sản Bắc Việt và Trung Đoàn 24B độc lập của Mặt Trận B-3 được 10 chiến xa T-54 cùng pháo nặng 130 ly và hỏa tiển 122 ly yểm trợ tiến chiếm làng Trung Nghĩa, một vị trí chiến lược dưới chân núi Ngọc Bảy ở phía tây bắc thị xã Kontum, cách thị xã 17 km do một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân (ĐPQ) tăng cường một số đơn vị của Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23 Bộ Binh giữ. Sau đó, quân Bắc Việt xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố để đánh trả các đợt phản công của các lực lượng thuộc Quân Đoàn 2 VNCH.
Mặc dầu được sự yểm trợ mạnh của phi pháo, Trung Đoàn 44 VNCH không tiến được xa ở hướng chính diện do Bắc quân dùng lợi thế khống chế các cao điểm của núi Ngọc Bảy để đánh trả hữu hiệu đường tiến quân của quân đội VNCH. Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, ra lệnh cho Trung Đoàn 45 Bộ Binh tấn công từ hướng nam vào hướng sông Dak Bla nhưng Trung Đoàn 95B của Sư Đoàn 10 Cộng Sản Bắc Việt chận lại ở hướng này ở khu vực Plei Mrong.
Mặc dầu vẫn giữ được làng Trung Nghĩa, Trung Đoàn 24B độc lập của Mặt Trận B-3 bị thiệt hại hết sức nặng nề nên phải rút về khu vực Dakto để tái xây dựng. Sư Đoàn 10 CSBV đưa Trung Đoàn 28 và 66 vào thay. Trung Đoàn 28 giữ Trung Nghĩa trong khi Trung Đoàn 66 giữ khu vực Plei Djo Drap, đối diện Trung Nghĩa qua sông Dak Bla.
Trung Đoàn 44 BB của Việt Nam Cộng Hòa cũng bị kiệt sức nên được thay thế bằng Trung Đoàn 42 của Sư Đoàn 22 BB, được không vận lên Kontum từ Bình Định bằng vận tải cơ C-130. Rút kinh nghiệm của đơn vị bạn, Trung Đoàn 42 Bộ Binh không tấn công ào ạt vào mặt chính diện mà sử dụng các đợt tấn công nhỏ cấp trung đội để "bứng" từng chốt kháng cự một của Bắc quân, dưới sự yểm trợ hữu hiệu của súng cối 81 ly dùng đầu đạn nổ chậm để tiêu diệt chốt.
Ngày 7 tháng 9 năm 1973, lính Trung Đoàn 42 Bộ Binh vào làng Trung Nghĩa với tổn thất nhẹ sau khi Trung Đoàn 28 CSBV rút lui với tổn thất khoảng 30% quân số. Ngày 16 tháng 9 Trung Đoàn 42 Bộ Binh chiếm lại Polei Krong. Ở hướng nam, Trung Đoàn 53 Bộ Binh VNCH vào thay Trung Đoàn 45 Bộ Binh cũng vào được khu vực Plei Djo Drap sau khi Trung Đoàn 66 Cộng Sản Bắc Việt triệt thoái sau những tổn thất nặng nề.
Sư Đoàn 23 Bộ Binh VNCH tiếp tục duy trì trách nhiệm trong tỉnh Kontum. Trung Đoàn 44 Bộ Binh cùng các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân (NQ) bảo vệ hướng tây bắc thị xã. Trung Đoàn 45 và 53 Bộ Binh bảo vệ hướng tây. Thiệt hại nặng nề, Sư Đoàn 10 CSBV phải tái xây dựng để chờ nhiệm vụ mới.
PLEIKU
Sau khi di chuyển xuống Pleiku, Sư Đoàn 320 CSBV bao vây uy hiếp Tiểu Đoàn 81 Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng trấn giữ căn cứ Đức Cơ trong 47 ngày đêm trước khi căn cứ thất thủ vào đầu tháng 11 năm 1972. Sư Đoàn 23 Bộ Binh VNCH cố tái chiếm nhưng không thành công cho đến khi Trung Đoàn 41 Bộ Binh tăng cường từ Sư Đoàn 22 Bộ Binh lấy lại căn cứ vào cuối năm 1972 với sự yểm trợ hữu hiệu của các phi vụ B-52, rồi sau đó bàn giao lại cho Tiểu Đoàn 73 Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng.
Trong giai đoạn dành dân lấn đất trước ngày ngưng bắn, Sư Đoàn 320 CSBV tấn công Đức Cơ ngày 20 tháng 1 năm 1973 và tràn ngập căn cứ này vào ngày hôm sau, tạo điều kiện cho Mặt Trận B-3 xây dựng căn cứ tiếp vận yểm trợ chính cho nổ lực tổng tấn công kế tiếp trên chiến trường Tây Nguyên.
Trong lúc Sư Đoàn 10 Cộng Sản Bắc Việt đang gây áp lực nặng lên khu vực Polei Krong-Trung Nghĩa thì ở hướng Pleiku, Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt cũng bắt đầu gây áp lực lên tuyến phòng thủ của quân đội VNCH ở phía tây thị xã Pleiku cũng như Quốc Lộ 14 ở giữa hai thị xã Kontum và Pleiku. Đầu tháng Tư năm 1973, từ hậu cứ ở Đức Cơ, Sư Đoàn 320 CSBV mở các cuộc tấn công thăm dò vào tuyến phòng thủ của quân đội VNCH ở Thanh Giao trong quận Thanh An. 
 

Tấm hình do một cựu chiến binh Ðại Hàn chụp vào đầu thập niên 70 trên Quốc Lộ 14 trước khi vào thị xã Pleiku. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Quân đội VNCH đánh bật 5 đợt tấn công trong khi không-ảnh trinh sát của Không Quân cho thấy các hoạt động xây dựng Đức Cơ thành một trung tâm yểm trợ tiếp vận lớn cho chiến trường Tây Nguyên của Cộng Sản Bắc Việt đang được xúc tiến khẩn trương. Đầu tháng Năm 1973, tình báo quân đội VNCH khám phá sự hiện diện của Sư Đoàn 320 CSBV với Trung Đoàn 64 ở phía bắc và Trung Đoàn 48 ở phía nam của Thanh Giao.
Để đối phó với mối đe dọa này, Trung Đoàn 47 thuộc Sư Đoàn 22 BB di chuyển từ Bình Định lên để tăng cường phòng thủ Thanh Giao. Quân đội VNCH duy trì một cứ điểm tiền đồn chiến lược ở Plei Djereng (Lệ Minh), nằm trên Tỉnh Lộ 613, chận đứng giao thông liên lạc giữa Đức Cơ và thung lũng Plei Trap, hai khu vực quan trọng do Bắc quân kiểm soát và hướng tiến ra thị xã Pleiku ở hướng đông qua Tỉnh Lộ 509, liên quan đến nổ lực chuẩn bị tổng tiến công trong tương lai của Cộng Sản Bắc Việt. Lệ Minh cũng nằm sát căn cứ tiếp vận Đức Cơ đang được quân Bắc Việt xây dựng và mở rộng và con đường tiếp vận chiến lược mới Đông Trường Sơn đi ngang qua đây nên căn cứ Lệ Minh phải bị loại bỏ bằng mọi giá.
Nguyên là trại dân sự chiến đấu Plei Djereng do Lực Lượng Ðặc Biệt (LLĐB) Hoa Kỳ thành lập, huấn luyện và chỉ huy, căn cứ được chuyển giao cho Quân Lực VNCH, mang tên Lệ Minh và Tiểu Đoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng được hình thành để bảo vệ cứ điểm này.
Ngày 16 tháng 9 một thượng sĩ trinh sát Bắc quân ra hồi chánh ở quận lỵ Thanh An cho biết Trung Đoàn 26 Cộng Sản Bắc Việt sẽ tấn công Lệ Minh trước cuối tháng. Chỉ huy trưởng căn cứ Lệ Minh cho gia tăng các hoạt động tuần tiễu chung quanh căn cứ. Khi Bắc quân tấn công Lệ Minh vào trưa ngày 22 tháng 9, chỉ có một đại đội phòng giữ căn cứ trong khi hai đại đội còn lại đang tuần tiễu ở phía ngoài. Trung Đoàn 26 Cộng Sản Bắc Việt được chiến xa T-54 và đại pháo 122 ly và 130 ly cùng hỏa tiển 122 ly và súng cối 120 ly yểm trợ trong khi thời tiết xấu khiến hoạt động không yểm của Việt Nam Cộng Hòa không thực hiện được.
Căn cứ mất liên lạc và vị sĩ quan chỉ huy căn cứ bị thương nặng. Chỉ có hai toán viễn thám Lôi Hổ được trực thăng vận vào khu vực căn cứ để tái thiết lập lại liên lạc cũng như hổ trợ tinh thần chiến đấu nhưng đó chỉ là nhiệm vụ không thành. Vài ngày sau khi thời tiết khả quan, Không Quân VNCH lên vùng, khám phá 10 chiến xa T-54 và bắn cháy 3 chiếc. Trong số 293 quân nhân của Tiểu Đoàn 80 Biệt Ðộng Quân-Biên Phòng, 200 chết hay bị bắt sống.
Sự thất thủ của căn cứ Lệ Minh khiến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 2/Quân Khu 2 và là người được Tổng Thống Thiệu tin cẩn và trọng dụng mặc dầu có nhiều tai tiếng, bị Thiệu khiển trách và mất cơ hội lên chức trung tướng. Thiệu chỉ thị cho Toàn bằng mọi cách không thể tạo điều kiện cho Bắc quân tập trung quân để dứt điểm những cứ điểm quan trọng trên lãnh thổ Quân Khu 2 như Lệ Minh hay Trung Nghĩa.
Cay cú với sự chểnh mãng này, tướng Toàn lập kế hoạch để "nhử" cho Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt lộ diện để dùng toàn bộ Sư Đoàn 22 Bộ Binh được không vận lên cao nguyên từ khu vực duyên hải Bình Định và hỏa lực phi pháo tập trung để tiêu diệt. Ông cho lập một loạt các cứ điểm dọc theo Tỉnh Lộ 509 nối kết thị xã Pleiku và Lệ Minh cũng như một cứ điểm mạnh ở phía bắc Pleime.
Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt tiếp tục duy trì áp lực lên khu vực Thanh An nhưng không chịu xuất đầu lộ diện toàn lực để bị tổn thất nặng trong khi không có những thay đổi quan trọng về lãnh thổ chiếm đóng, Cùng lúc này Sư Đoàn 470 Công Binh của Binh Đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) di chuyển toàn bộ hoạt động và căn cứ yểm trợ từ trong lãnh thổ Hạ Lào và Đông Bắc Cam Bốt vào khu vực Đức Cơ.
Đầu tháng 10 năm 1973, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn ra lệnh cho Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm di chuyển 3 trung đoàn của Sư Đoàn 22 Bộ Binh lên Pleiku, chỉ để lại Trung Đoàn 40 Bộ Binh ở Bình Định. Tướng Niệm đặt bộ chỉ huy hành quân Sư Đoàn 22 Bộ Binh ở quận lỵ Thanh An, có Trung Đoàn 47 Bộ Binh cùng Liên Đoàn 21 Biệt Ðộng Quân nằm dọc theo Tỉnh Lộ 509 từ phía tây thị xã Pleiku đến quận lỵ Thanh An. Trung Đoàn 41 Bộ Binh và Thiết Đoàn 21 Chiến Xa tiến dọc theo Quốc Lộ 19 về hướng Thanh Giao.
Đến giữa tháng 10 thì Trung Đoàn 40 Bộ Binh cũng được không vận từ Bình Định lên Pleiku và hoạt động ở phía tây thị xã Pleiku, dọc theo Tỉnh Lộ 565. Sau chiến thắng xứng đáng ở Trung Nghĩa, Trung Đoàn 42 Bộ Binh trở thành đơn vị trừ bị sư đoàn. An ninh trong tỉnh Bình Định giao lại cho các đơn vị Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân của tỉnh với sự yểm trợ của Liên Đoàn 4 và 6 Biệt Ðộng Quân tăng phái từ Bộ Tổng Tham Mưu.
Mặc dầu có những trận đụng độ đẫm máu giữa các đơn vị của Sư Đoàn 22 Bộ Binh VNCH và Sư Đoàn 320 CSBV, đã không có mức độ tập trung ác liệt như tầm cỡ ở Trung Nghĩa và các hoạt động tiến công để "nhử" Sư Đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt ra để tiêu diệt như Sư Đoàn 10 Cộng Sản Bắc Việt ở Trung Nghĩa chưa kịp thực hiện thì tướng Toàn đã phải đối phó với tình hình biến động ở khu vực Quảng Đức (xem bài Bạo Lực Cách Mạng và Chiến Dịch Đột Kích Chiến Lược phần 1).
Ngoài việc duy trì áp lực lên hai thị xã Kontum và Pleiku, Mặt Trận B-3 cũng mở chiến dịch cắt đứt các trục giao thông liên lạc quan trọng trên khu vực Cao Nguyên Trung Phần như Quốc Lộ 14 giữa thị xã Kontum và Pleiku và giữa thị xã Pleiku và Ban Mê Thuột cũng như Quốc Lộ 19 giữa thị xã Pleiku và Qui Nhơn trong giai đoạn dành dân lấn đất trước ngày ngưng bắn. Tuy nhiên phía Việt Nam Cộng Hòa sau đó đã giải tỏa được lưu thông trên các trục lộ quan trọng này mặc dầu Bắc quân vẫn có thể gây rối bất cứ lúc nào họ muốn. Bắc quân đã khai thác tối đa ưu điểm chiến lược này trong chiến dịch tấn công thị xã Ban Mê Thuột đầu năm 1975.
Bắc quân tiếp tục duy trì áp lực lên hai thị xã Kontum và Pleiku để giam chân chủ lực của Quân Đoàn 2 của Việt Nam Cộng Hòa trong khi bao che cho nổ lực xây dựng căn cứ tiếp vận lớn ở Đức Cơ và con đường chiến lược Đông Trường Sơn chạy sát biên giới Cam Bốt cũng cũng như những đường nối với hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh ở phía tây dãy Trường Sơn.
📎 HBVTS007|HBVTS008
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:31:55lyenson>
V. CHIẾN DỊCH TRỊ-PHÁP
Ngay từ thời chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ đạo xây dựng khu vực đồng lầy ngập nước Đồng Tháp và U Minh thành khu vực căn cứ địa chiến đấu lâu dài. Đồng Tháp do đó trở thành một trong ba địa điểm tập kết chính ra miền Bắc sau hiệp định Geneva. Đảng Ủy Nam Bộ do Lê Duẩn lãnh đạo cũng bí mật chôn dấu các kho vũ khí trong khu vực này cùng để lại một số cán bộ lãnh đạo quân sự cao cấp nhưng không được công luận biết đến để chuẩn bị cho giải pháp quân sự về sau nếu giải pháp chính trị (hiệp thương thống nhất đất nước vào năm 1956) thất bại.
Khi nỗ lực xâm lăng Miền Nam Việt Nam bằng vũ lực được phát động sau Nghị Quyết 15 của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1959 thì khu vực U Minh và Đồng Tháp được tái xây dựng và mở rộng để tiếp nhận hàng và người được gởi vào từ miền Bắc bằng đường biển qua ngả đường hải-cảng Kompong Som (Sihanoukville) bên Cam Bốt và hệ thống đường mòn Sihanouk nối liền cảng này và hệ thống căn cứ địa của Bắc quân mới được thiết lập dọc theo biên giới Cam Bốt trong khu vực Thất Sơn và trong tỉnh Svay Riêng.
Từ tháng Bảy đến tháng Chín năm 1973 Bắc quân bắt đầu tấn công các cứ điểm quân đội VNCH ở Cái Bè, Cai Lậy và Sầm Giang trong tỉnh Định Tường, gây áp lực lên Quốc Lộ 4 nhưng Sư Đoàn 7 Bộ Binh (BB) của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) gây nhiều tồn thất cho 4 trung đoàn chủ lực Bắc quân mang số Z-15, Z-18, 24 và Đồng Tháp 1 trong khu vực này. Riêng Trung Đoàn 24 bị thiệt hại quá nặng nên Trung Đoàn 207 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) được lệnh đưa quân bổ sung cho đơn vị này ở khu vực Trị Pháp, mặc dầu chính Trung Đoàn 207 cũng bị thiệt hại nặng nề sau chiến dịch Hồng Ngự.



Hình chụp ngày 18 tháng 3 năm 1973 tại căn cứ không quân Travis Airforce Base, California. Gia đinh của Ðại Tá Raymond Vissotsky chạy đến mừng ông trở về sau nhiều năm bị giam cầm trong nhà tù ở Hà Nội. Trước đó hơn 5 năm, ngày 19 tháng 11 năm 1967, Ðại Tá Vissotsky bị bắt làm tù binh khi phi cơ của ông bị bắn rơi trên không phận Bắc Việt. Ðối với bản thân ông, gia đình, bè bạn, cũng như thân nhân, thì chiến tranh Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt. Nhưng đối với người dân Việt nói chúng, cũng như hơn một triệu người lính miền Nam và bộ đội miền Bắc nói riêng, thì cuộc chiến lại đi vào một khúc rẽ mới, một khúc rẽ có đầy máu lửa và kinh khiếp không khác gì những ngày đã qua. Khi Hiệp Ðịnh Paris được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, đêm hôm đó, lúc 9 giờ tối Bắc Việt đã bắt đầu pháo kích vào An Lộc, một thị xã thuộc tỉnh Bình Long nằm gần biên giới Việt-Miên. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).
 
Theo ước tính của Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) Quân Lực VNCH, khoảng 40% thiệt hại của Bắc quân trong nửa năm cuối của năm 1973 xảy ra ở khu vực Quân Khu 4. Dưới quyền chỉ huy của Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh, Bắc quân cho mở hàng loạt các cuộc hành quân lấn chiếm cấp xã ấp. Trong khi đó quân đội VNCH phản pháo với các cuộc hành quân bao vây và diệt các lõm da beo.
Dưới quyền chỉ huy tài ba của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Sư Đoàn 7 BB dùng yếu tố bất ngờ, khả năng cơ động nhanh chóng và phối hợp hữu hiệu với Không Quân VNCH đã gây nhiều thiệt hại cho Bắc quân trong năm 1973. Nhưng đến cuối năm thì khả năng cơ động của đơn vị bắt đầu giảm sút khi ảnh hưởng của việc cắt quân viện từ phía Hoa Kỳ bắt đầu có hiệu quả.
Sư Đoàn 9 BB cũng có chỉ huy mới khi Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc thay Thiếu Tướng Trần Bá Di về làm tư lệnh phó Quân Đoàn 4. Sư đoàn bàn giao hai tỉnh trách nhiệm Vĩnh Long và Vĩnh Bình cho Sư Đoàn 7 BB để đảm nhiệm khu vực biên giới từ Hà Tiên đến Kiến Phong và mất Trung Đoàn 15 BB tăng cường cho Sư Đoàn 21 BB trong tỉnh Chương Thiện.
Trong khu vực Hậu Giang, Sư Đoàn 21 BB ngày càng suy yếu dẫn đến việc Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng về nắm sư đoàn này vào tháng Sáu năm 1973. Mặc dầu tướng Hưng cho thay thế các cấp chỉ huy yếu kém với các sĩ quan nhiều kinh nghiệm chiến đấu từ Nhảy Dù và Biệt Động Quân (BĐQ), tiến bộ ở sư đoàn này rất chậm. Ngoài 3 trung đoàn cơ hữu 31, 32 và 33, tướng Hưng còn được tăng viện Trung Đoàn 15 từ Sư Đoàn 9 BB. Tướng Hưng tập trung lực lượng vào khu vực Chương Thiện và Bắc An-Xuyên. Bộ chỉ huy Quân Khu 9 CSBV do Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt chỉ huy hoạt động trong khu vực này.
Cuối năm 1973 tình hình chiến sự gia tăng trên khắp lãnh thổ Quân Khu 4, tuy nhiên không có những thay đổi chiến thuật quan trọng ngoài việc tình hình an ninh xấu đi trong tỉnh Chương Thiện và phía bắc tỉnh An Xuyên khi Sư Đoàn 21 BB gặp nhiều khó khăn khi 4 trung đoàn chủ lực Bắc quân (95A, 18B, D1 và D2) mở rộng khu vực hoạt động ở U Minh sau khi nhận hàng và người qua hành lang tiếp tế thứ ba từ biên giới Cam Bốt qua tỉnh Kiên Giang. Tháng 11 năm 1973 Đại Tá Mạch Văn Trường thay Chuẩn Tướng Hưng chỉ huy Sư Đoàn 21 BB vào giờ phút chót mặc dầu Đại Tá Lâm Chánh Ngôn, tư lệnh phó sư đoàn đã chuẩn bị nhậm chức. Tướng Hưng thay tướng Di ở chức vụ tư lệnh phó Quân Đoàn 4.
TRỊ PHÁP
Nằm ngay biên giới ba tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và Định Tường trong khu vực đầm lầy ngập nước Đồng Tháp, khu vực Trị Pháp là căn cứ địa chính của Quân Khu 8 (khu vực Tiền Giang) của Mặt Trận Nam Bộ (B-2 Cộng Sản), được tình báo Việt-Mỹ gọi là khu vực căn cứ địa 470. Từ khu vực căn cứ địa an toàn nằm dọc theo biên giới Việt Nam trong tỉnh Svay Riêng, Bắc quân chuyển quân, vũ khí, lương thực và hàng tiếp tế qua hai hành lang xâm nhập trong tỉnh Kiến Tường vào khu vực Trị Pháp trước khi phân phối cho các tỉnh trong khu chiến thuật Tiền Giang. Do trọng tâm chính của Việt Nam Cộng Hòa là duy trì giao thông liên lạc trên Quốc Lộ 4 huyết mạch nối liền khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thủ đô Saigon qua tỉnh Định Tường, quân đội VNCH chưa hề có ý định tiến chiếm khu vực Trị Pháp.
Để bảo vệ cho hai hành lang xâm nhập chính từ tỉnh Svay Riêng của Cam Bốt vào căn cứ địa Trị Pháp qua tỉnh Kiến Tường, Mặt Trận B-2 Cộng Sản có Trung Đoàn Z-15 và Z-18 hoạt động trong tỉnh này trong khi Quân Lực VNCH duy trì hai căn cứ chính ở tỉnh lỵ Mộc Hóa và Long Khốt giáp với Cam Bốt trong khu vực Chân Tượng (Elephant’s Foot) để hạn chế và gây thiệt hại cho nổ lực xâm nhập của Bắc quân vào khu vực này.
Sau thất bại nặng nề của trận đánh An Lộc vào năm 1972, mặt trận B-2 Cộng Sản di chuyển Sư Đoàn 5 của Việt Cộng (VNCTLS ghi chú: Một số tài liệu khác gọi danh xưng của Sư Đoàn Việt Cộng số 5 này là Công Trường 5) về khu vực hậu cứ trong tỉnh Svay Riêng để tái xây dựng đồng thời đứng chân sẳn sàng tham chiến ở cả hai hướng Tây Ninh và Hậu Nghĩa ở Quân Khu 3 cũng như Kiến Tường và Kiến Phong ở Quân Khu 4.
Đầu tháng Giêng năm 1974 tin tình báo của Quân Lực VNCH khám phá các đơn vị của Trung Đoàn 6 của Sư Đoàn 5 CSBV bí mật xâm nhập vào khu vực Trị Pháp từ Svay Riêng để bổ sung cho các đơn vị Bắc quân bị thiệt hại nặng. Các hoạt động xâm nhập của Bắc quân qua hành lang Tuyên Bình trong tỉnh Kiến Tường cũng gia tăng.
Nhận định nếu Sư Đoàn 5 CSBV xâm nhập được vào khu vực Trị Pháp để gây áp lực lên Quốc Lộ 4 trong tỉnh Định Tường, quân đội VNCH sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc loại bỏ mối đe dọa này, Thiếu Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 ra lệnh mở cuộc hành quân thần tốc vào khu vực căn cứ địa Trị Pháp để tiêu diệt khu vực này. Dựa trên kinh nghiệm hành quân thành công vào khu vực này trong năm 1973 của Sư Đoàn 7 BB, tướng Nghi quyết định ra tay trước khi Bắc quân có điều kiện tập trung sức mạnh và nếu quân đội VNCH chiếm đóng được khu vực này, Sư Đoàn 5 CSBV sẽ không có căn cứ địa yểm trợ cho nổ lực đe dọa cắt đứt Quốc Lộ 4.
Kế hoạch hành quân của Quân Đoàn 4 sử dụng ba gọng kềm chọc thẳng vào trung tâm khu vực căn cứ địa Trị Pháp ngay giao điểm của 3 tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và Định Tường.
Ngày 12 tháng 2 năm 1974 Sư Đoàn 7 BB sử dụng Trung Đoàn 12 tăng cường 2 tiểu đoàn của Trung Đoàn 10 được hai chi đoàn thiết quân vận M-113 của Thiết Đoàn 6 Kỵ Binh yểm trợ tấn công vào Trị Pháp từ hướng đông. Mục tiêu của cánh quân này là khu vực căn cứ địa ngay biên giới hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường.
Ngày 15 tháng 2 Sư Đoàn 9 BB sử dụng Trung Đoàn 14 tăng cường một tiểu đoàn của Trung Đoàn 16 được hai chi đoàn thiết quân vận M-113 của Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh yểm trợ tấn công vào mặt tây của khu vực Trị Pháp từ hướng quận Mỹ An trong tỉnh Kiến Phong để bắt tay với cánh quân hướng đông của Sư Đoàn 7 BB.
Ngày 19 tháng 2 Trung Đoàn 10 của Sư Đoàn 7 BB với tiểu đoàn còn lại tấn công vào phía nam của khu vực Trị Pháp từ khu vực Hậu Mỹ ở phía bắc quận Cái Bè trong tỉnh Định Tường.
Như cá trong rọ, quân Bắc Việt bị bất ngờ và thiệt hại nặng nề về nhân lực, đạn dược, thực phẩm và đồ tiếp tế. Các thành phần của Trung Đoàn Z-15 và Z-18 của Quân Khu 8 Cộng Sản và Trung Đoàn 174 của Sư Đoàn 5 CSBV được ghi nhận có mặt trong các trận đụng độ trong khu vực Trị Pháp. Trong tuần lễ đầu tiên của chiến dịch, Bắc quân để lại 500 xác, trên 200 vũ khí cùng nhiều tấn lương thực và tiếp tế trong khi quân đội VNCH chỉ bị tổn thất nhẹ.
Chiến sự kéo dài trong suốt tháng Hai và Ba trong hai tỉnh Kiến Tường và Định Tường. Mặt trận B-2 Cộng Sản di chuyển Trung Đoàn Đồng Tháp 1 vào tăng viện cho khu vực Trị Pháp nhưng quân đội VNCH duy trì áp lực, giết chết trên 250 cộng quân trong các tuần lễ sau đó cũng như tịch thu nhiều vũ khí.
Các hoạt động yểm trợ tiếp tế cho cánh đông Trị Pháp và khu vực xung quanh thị xã Mộc Hóa được thực hiện qua Liên Tỉnh Lộ 29 (Mộc Hóa-Cai Lậy) từ thị trấn Cai Lậy trong khi cánh tây (Mỹ An) được thực hiện qua Liên Tỉnh Lộ 30 (Giáo Đức-Cao Lãnh) từ thị trấn An Hữu. Bắc quân cố cắt đứt hai tuyến đường tiếp tế này nhưng không thành công.
Để giảm áp lực của quân đội VNCH vào khu vực Trị Pháp, Mặt Trận B-2 Cộng Sản ra lệnh cho Quân Khu 9 (khu vực Hậu Giang) mở một loạt các đợt tấn công khằp nơi đồng thời chuẩn bị tăng viện cho khu vực này. Bị đánh đau trên chiến trường, Bắc quân chuyển sang chiến dịch khủng bố ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bắn đạn súng cối 82 ly vào trường tiểu học ở thị trấn Cai Lậy trong tỉnh Định Tường vào ngày 9 tháng 3 khi các em học sinh vô tội đang chuẩn bị sắp hàng vào lớp, giết chết 23 học sinh và gây thương tích nặng cho 46 học sinh khác. Trong tỉnh Bạc Liêu, đặc công cộng sản cũng ném lựu đạn vào một lễ hội tôn giáo, giết chết 9 người và gây thương tích cho 16 người khác.
Đến cuối tháng Ba, tình hình chiến sự giảm đi. Trung Đoàn Ðồng Tháp 1 nhận được 150 bộ đội mới xâm nhập vào từ miền Bắc, chưa kịp quen với chiến trường mới thì tướng Nghi đã tăng cường Liên Đoàn 7 BĐQ từ Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH và đơn vị này gây thêm thiệt hại cho Trung Đoàn Đồng Tháp 1. Đến cuối tháng Ba thì quân Bắc Việt bỏ lại 1,100 xác trong khi quân đội VNCH chỉ có gần 100 chết và trên 700 bị thương. Phía VNCH cũng tịch thu gần 5,000 tấn gạo và lương thực, 8 tấn đạn dược và trên 600 vũ khí cùng nhiều quân trang quân dụng. Trung Đoàn Z-15, Z-18 và Đồng Tháp 1 của Cộng Sản bị thiệt hại trầm trọng.
Quân đội VNCH bắt đầu xây dựng hệ thống công sự phòng thủ khu vực Trị Pháp, đủ sức cho một trung đoàn trú đóng. Sau khi hồi phục ở tây nam tỉnh Định Tường, Trung Đoàn Z-15 Cộng Sản dùng hai tiểu đoàn tấn công vào một cứ điểm mới của Địa Phương Quân ngay trung tâm Trị Pháp vào ngày 26 tháng 4 nhưng Trung Đoàn 11 của Sư Đoàn 7 BB sau đó đã phản công lấy lại. Ở hướng nam ngay biên giới hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường, Trung Đoàn Đồng Tháp 1 cũng tấn công và chiếm được một cứ điểm Địa Phương Quân khác nhưng sau đó bị Trung Đoàn 14 của Sư Đoàn 9 BB VNCH được Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh yểm trợ đánh thiệt hại nặng và chiếm lại.
Đến đầu tháng Năm thì Quân Lực VNCH đã kiểm soát hoàn toàn khu vực Trị Pháp, nay do 4 tiểu đoàn Địa Phương Quân trú đóng. Lực lượng Bắc quân trong khu vực bị yếm kém hẳn đi và suy sụp tinh thần nhưng Bắc quân trả đủa bằng các hoạt động khủng bố như bắt cóc, ám sát trên khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ngày 4 tháng 5 Bắc quân bắn 8 quả đạn cối 82 ly vào trường tiểu học ở Song Phú trong tỉnh Vĩnh Long, giết chết 6 học sinh và gây thương tích cho 28 em khác.
 
📎 HBVTS009
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:40:07lyenson>
VI. TỪ TRỊ PHÁP ĐẾN SVAY RIÊNG
Tỉnh Svay Riêng của Cam Bốt tiếp giáp với Việt Nam ở cả hai Quân Khu 3 và 4 có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, đặc biệt là hình thể khu vực biên giới với Việt Nam. Ngoài mũi tên nhọn chính chọc thẳng vào khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) tiếp giáp với tỉnh Hậu Nghĩa của Quân Khu 3, chỉ cách thủ đô Saigon khoảng 50 km về phía tây bắc, còn có hai nhánh nhỏ đâm thẳng vào tỉnh Kiến Tường của Quân Khu 4 ở khu vực Chân Tượng (Elephant’s Foot) và biên giới hai tỉnh Tây Ninh và Hậu Nghĩa của Quân Khu 3 ở khu vực Cánh Thiên Thần (Angel’s Wing).
Khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) bắt đầu nổ lực xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực, Hà Nội bắt đầu xây dựng khu vực căn cứ địa rộng lớn trong tỉnh Svay Riêng để làm bàn đạp tấn công vào lãnh thổ Quân Khu 3 và 4 của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Lợi dụng chủ trương trung lập nửa vời của ông hoàng Sihanouk ở Cam Bốt mà gia đình hưởng lợi qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển vũ khí, quân dụng từ cảng Kompong Som (Sihanoukville) sang khu vực căn cứ địa này và bán lương thực thực phẩm, thuốc men cùng nhiều hàng hóa cần thiết khác cho CSBV, Hà Nội xây dựng hệ thống đường mòn vận chuyển Sihanouk nối liền Kompong Som và khu vực căn cứ địa dọc theo biên giới chạy dài từ Hà Tiên lên đến khu vực Mỏ Vẹt. Mỗi khi bị liên quân VNCH-Hoa Kỳ rượt đánh tơi bời, Bắc quân rút chạy sang lãnh thổ Cam Bốt để hồi phục và chờ cơ hội kế tiếp.
Khi liên quân VNCH-Hoa Kỳ mở chiến dịch vượt biên sang Cam Bốt trong năm 1970, họ khám phá hàng loạt kho tiếp vận và căn cứ địa của Bắc Việt nằm dọc theo biên giới. Nhưng sau khi các lực lượng Việt-Mỹ rút về thì Hà Nội lại tái xây dựng trở lại khu vực quan trọng chiến lược này.
Sư Đoàn 5 (còn được gọi là "Công Trường 5") CSBV sau những tổn thất nặng nề trong chiến dịch An Lộc trong mùa hè 1972 rút về khu vực căn cứ địa trong tỉnh Svay Riêng để hồi phục. Đơn vị này sau đó đã gởi quân tăng cường cho chiến dịch Quãng Đức ở Quân Khu 2 cũng như khu vực Trị Pháp ở Quân Khu 4. Đầu năm 1974, mặt trận B-2 Cộng Sản ra lệnh cho đơn vị này tập trung ở phía nam tỉnh Svay Riêng, xung quanh Chi Phu. Từ vị trí thuận tiện này, Sư Đoàn 5 CSBV có thể tấn công vào các tỉnh Tây Ninh và Hậu Nghĩa ở Quân Khu 3 cũng như Kiến Tường ở Quân Khu 4.


Hình chụp tại Svay Rieng, một cây cầu bị bom đánh sập trong thời chiến
(HÌNH ẢNH: Rich Garella)

CHÂN TƯỢNG (ELEPHANT’S FOOT)
Ngay tại khu vực Chân Tượng tiếp giáp với Cam Bốt trong tỉnh Kiến Tường, Quân Lực VNCH thiết lập căn cứ biên phòng Long Khốt nằm sát biên giới. Sau thất bại ở khu vực Trị Pháp, Sư Đoàn 5 CSBV bắt đầu gây áp lực lên khu vực Long Khốt.
Trong lúc quân đội VNCH đang mở màn chiến dịch Svay Riêng thì Bắc quân tấn công Long Khốt vào ngày 28 tháng 3, sử dụng Trung Đoàn 275 và Tiểu Đoàn 25 Đặc Công thuộc Sư Đoàn 5 CSBV được thiết vận xa M-113 và đại bác 105 ly tịch thu của quân đội VNCH cùng đại bác 122 ly, hỏa tiển chống chiến xa AT-3 và hỏa tiển phòng-không SA-7 yểm trợ. Quân đội VNCH tiêu diệt 75 cộng quân và tịch thu nhiều vũ khí, được sự yểm trợ đắc lực của Không Quân VNCH, bay trên 100 phi vụ oanh kích yểm trợ cho chiến dịch Svay Riêng đang khai diễn.
Bắc quân duy trì áp lực lên khu vực Long Khốt nên Sư Đoàn 7 Bộ Binh (BB) VNCH di chuyển bộ chỉ huy tiền phương vào thị xã Mộc Hóa để chỉ huy hai chiến đoàn giải tỏa cho Long Khốt. Một chiến đoàn bao gồm Trung Đoàn 15 của Sư Đoàn 9 BB được Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh yểm trợ trong khi chiến đoàn thứ hai gồm Trung Đoàn 10 của Sư Đoàn 7 BB được Thiết Đoàn 6 Kỵ Binh yểm trợ. Sau 12 ngày chiến đấu trong khu vực biên giới, hai chiến đoàn tiêu diệt 850 cộng quân, bắt sống 31, tịch thu trên 100 vũ khí trong khi bị thiệt hại ít hơn 300, bao gồm 39 chết.
CÁNH THIÊN THẦN (ANGEL’S WING)
Khu vực Cánh Thiên Thần (Angel’s Wing) của tỉnh Svay Riêng đâm thẳng vào khu vực biên giới Việt Nam giữa hai tỉnh Hậu Nghĩa và Tây Ninh. Thị trấn Gò Dầu Hạ nằm dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, ngay giao điểm của Quốc Lộ 1(nối liền Saigon và thủ đô Phnom Penh của Cam Bốt) và Quốc Lộ 22 (nối liền Gò Dầu Hạ và thị xã Tây Ninh) và gần sát biên giới Cam Bốt (qua cửa khẩu Mộc Bài) có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Ở phía nam của khu vực Cánh Thiên Thần, quân đội VNCH duy trì một căn cứ biên phòng quan trọng ở Đức Huệ trong tỉnh Hậu Nghĩa, cách biên giới Cam Bốt không đầy 5 km.
Ngày 27 tháng 3 năm 1974 sau khi được pháo binh gồm đại bác 105 ly tịch thu của quân đội VNCH từ trên đất Cam Bốt và súng cối 120 ly và DKZ yểm trợ tầm gần, hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 6 thuộc Sư Đoàn 5 CSBV tấn công căn cứ biên phòng Đức Huệ do Tiểu Đoàn 83 Biệt Ðộng Quân Biên (BÐQ) Phòng (BP) trấn giữ.
Mặc dầu tổn thất 30 chết, lính mũ nâu chống trả dử dội và giữ vững căn cứ khiến Bắc quân phải rút lui, để lại 95 xác cùng nhiều vũ khí. Không chiếm được Đức Huệ dễ dàng, Bắc quân chuyển sang phong tỏa căn cứ này, với sự tiếp sức của Tiểu Đoàn K-7 Đặc Công của tỉnh Long An từ phía nam, cắt đứt đường bộ liên lạc duy nhất với căn cứ trong khi tiếp tục dội pháo vào.
Quân Đoàn 3 phải cho một lực lượng đặc nhiệm của Sư Đoàn 25 BB gồm hai tiểu đoàn bộ binh được một chi đoàn M-48 của Thiết Đoàn 22 Chiến Xa và Không Quân VNCH yểm trợ hỏa lực để giải tỏa nhưng không thành công. Bắc quân dùng hỏa tiển địa không SA-7 bắn rớt một khu trục cơ A-1 và một phi cơ quan sát của Không Quân VNCH.
Cùng lúc này ở hướng đông của Quân Khu 3, Sư Đoàn 7 và 9 CSBV cũng bắt đầu gây áp lực lên tuyến phòng thủ bảo vệ Saigon của quân đội VNCH, mở màn cho chiến dịch đột kích chiến lược của CSBV ở Miền Đông Nam Phần.
Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu 3 VNCH quyết định phải loại bỏ áp lực ở hướng tây Saigon dọc theo tuyến giao thông liên lạc Saigon-Tây Ninh khi còn cơ hội, trước khi mùa mưa bắt đầu, biến khu vực Đức Huệ và khu vực Cánh Thiên Thần thành một biển hồ ngập nước cũng như trước khi áp lực của CSBV ở hướng đông gia tăng thành mối đe dọa cho Saigon từ cả hai mặt.
Là người tin cẩn của Tổng Thống Thiệu từ ngày cùng phục vụ ở Sư Đoàn 5 BB, tướng Thuần không có nhiều kinh nghiệm tham mưu chiến đấu nhưng lại có tiếng tham nhũng (ông bị mất chức cùng lúc với các tướng tư lệnh quân đoàn khác là Toàn và Nghi vào cuối năm 1974). Nhưng Thuần biết dùng người và có hai phụ tá có tài là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, tư lệnh phó quân đoàn về hành quân và Đại Tá Trần Quang Khôi, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh. Thuần tham khảo ý kiến với Hiếu và Khôi và Khôi đề nghị táo bạo là muốn giải tỏa cho Đức Huệ phải đánh bọc vào phía sau của Bắc quân và khu vực căn cứ địa của họ trên đất Cam Bốt.
Kế hoạch hành quân của chiến dịch Svay Riêng, chiến dịch tấn công cuối cùng của QLVNCH trước khi quân đội này bị đẩy về thế phòng thủ thụ động, do tướng Hiếu, Đại Tá Khôi và ban tham mưu hành quân Quân Đoàn 3 soạn thảo khá phức tạp nhưng hữu hiệu, sử dụng tổng cộng 18 tiểu đoàn và thiết đoàn của Quân Đoàn 3 với sự yểm trợ của 2 tiểu đoàn của Quân Đoàn 4. Tướng Thuần sau đó đã bay xuống Cần Thơ để tham khảo với tướng Nghi, tư lệnh Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 về việc sử dụng 2 tiểu đoàn của Quân Đoàn 4 để yểm trợ cho chiến dịch này từ khu vực Kiến Tường.
Do tính chất chính trị cao của chiến dịch này (một cuôc hành quân lớn cấp quân đoàn sau ngày ngừng bắn và hoạt động chính diễn ra ngay trên lãnh thổ Cam Bốt) kế hoạch hành quân đã được bảo mật tối đa. Ngay cả Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và cơ quan DAO cũng chỉ biết được khi chiến dịch mở màn.
Giai đoạn 1 của chiến dịch khai diển ngày 27 tháng 4 khi Không Quân VNCH thực hiện 45 phi vụ oanh kích vào các khu vực căn cứ địa của Bắc quân trong tỉnh Svay Riêng. Cùng lúc này hai tiểu đoàn Ðịa Phương Quân (ĐPQ) tảo thanh khu vực giữa sông Vàm Cỏ Đông và phía bắc khu vực Cánh Thiên Thần. Từ khu vực Hiệp Hòa trong tỉnh Hậu Nghĩa, hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 49 thuộc Sư Đoàn 25 BB cùng hai tiểu đoàn của Liên Đoàn 7 BĐQ truy quét về hướng Đức Huệ và biên giới Cam Bốt. Bảo vệ mặt nam, 3 tiểu đoàn ĐPQ cũng tảo thanh phía bắc tỉnh Long An, giữa kinh Bo Bo và sông Vàm Cỏ Đông.
Trên lãnh thổ Quân Khu 4, một tiểu đoàn xuất phát từ Mộc Hóa, vượt biên giới Cam Bốt rồi thành lập một vị trí chốt chận trên Tỉnh Lộ 1012 trong tỉnh Svay Riêng. Tiểu đoàn thứ hai cũng vượt biên giữa khu vực Chân Tượng và Mỏ Vẹt, thành lập vị trí chốt chận thứ hai ở hướng đông nam của khu vực tình nghi là hậu cứ của Sư Đoàn 5 CSBV.
Trong hai ngày đầu 27 và 28 tháng 4 của chiến dịch Svay Riêng, Không Quân VNCH yểm trợ hết sức đắc lực, bay 188 phi vụ oanh kích và tiếp tế. Để yểm trợ hữu hiệu cho chiến dịch này, Sư Đoàn 3 Không Quân thành lập bộ chỉ huy không-trợ tiền phương ở Củ Chi, cạnh bên bộ chỉ huy tiền phương của Quân Đoàn 3.
Đến đêm 28 tháng 4 quân đội VNCH có tổng cộng 11 tiểu đoàn bộ binh, BĐQ và ĐPQ tham gia các hoạt động tảo thanh, truy quét chuẩn bị cho giai đoạn 2, giai đoạn chính của chiến dịch Svay Riêng. Giai đoạn 2 của chiến dịch Svay Riêng kéo dài 3 ngày, sử dụng 3 cánh quân Bộ Binh và Thiết Giáp tiến song song vào khu vực tình nghi là hậu cứ của Sư Đoàn 5 CSBV trong tỉnh Svay Riêng, sâu nhất là 15 km rồi chuyển về phía tây và tây nam, trở lại phần đất Việt Nam trong tỉnh Hậu Nghĩa.
Để bảo mật tối đa cho nỗ lực chính trước những đôi mắt nằm vùng của cộng sản trong khu vực tập trung, Đại Tá Khôi cho ba cánh quân thiết kỵ rời khu vực Gò Dầu Hạ di chuyển về hướng tỉnh Bình Dương rồi bí mật trở lại khu vực tập trung vào đêm 28 tháng 4, được Công Binh chiến đấu yểm trợ vượt sông Vàm Cỏ Đông rồi vượt biên ở phía tây thị trấn Gò Dầu Hạ.
Cánh bắc là nổ lực chính và tiến sâu nhất vào lãnh thổ Cam Bốt do Chiến Đoàn 315 đãm nhiệm. Chiến Đoàn 315 gồm có Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh, một chi đoàn chiến xa M-48 và Tiểu Đoàn 64 BĐQ, được một pháo đội hổn hợp 105 ly-155 ly yểm trợ. Chiến Đoàn 315 vượt biên ở phía nam Quốc Lộ 1, tiến gần Chi Phu thì chuyển về phía nam dọc theo Tỉnh Lộ 1012, truy đuổi các đơn vị Bắc quân về vị trí chốt chận của tiều đoàn thứ nhất từ Quân Đoàn 4 gần Chek.
Cánh giữa tiến song song với cánh bắc khoảng 2 km về phía nam do Chiến Đoàn 318 đảm nhiệm. Chiến Đoàn 318 gồm có Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh, một tiểu đoàn BĐQ và một chi đoàn chiến xa M-48 được một pháo đội 105 ly yềm trợ tiến sâu khoảng 10 km rồi cũng chuyển về phía nam trở lại phần đất Việt Nam, song song và ở phía trong cánh bắc.
Cánh nam vượt biên ở ngay bờ nam của khu vực Cánh Thiên Thần do Chiến Đoàn 310 đảm nhiệm, tiến dọc theo Tỉnh Lộ 1013 rồi chuyển về phía nam, dọc theo biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Chiến Đoàn 310 gồm có Chi Đoàn 3/10 Kỵ Binh, hai tiểu đoàn Bộ Binh (một từ Sư Đoàn 18 BB và một từ Sư Đoàn 25 BB), được một tiểu đoàn pháo binh yểm trợ. Cánh quân này không có chiến xa M-48 yểm trợ.
Nằm trừ bị ở Gò Dầu Hạ, tướng Thuần có Chiến Đoàn 322 gồm có hai chi đoàn M-48 còn lại của Thiết Đoàn 22 Chiến Xa, một chi đoàn M-113 của Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh, một tiểu đoàn Bộ Binh từ Sư Đoàn 18 BB và một pháo đội 105 ly. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh chỉ huy toàn bộ các hoạt động hành quân từ Gò Dầu Hạ. Ngoài yếu tố bảo mật tối đa, 54 trực thăng UH-1 của Sư Đoàn 3 Không Quân cũng được sử dụng thực hiện các cuộc hành quân trực thăng vận xuống ngay khu vực hậu cứ tình nghi của Bắc quân để đạt yếu tố thần tốc và bất ngờ.
Trong ngày đầu tiên của giai đoạn 2 (29 tháng 4), Chiến Đoàn 315 tiến sâu vào trong lãnh thổ Cam Bốt được 7 km, giết chết 50 cộng quân và bắt sống 1 tù binh trong khi chỉ thiệt hại 1 bị thương. Ngày kế đơn vị này tiếp tục tấn công, giết thêm 40 cộng quân với tổn thất nhẹ.
Ở phía nam, Chiến Đoàn 318 cũng có thành công tương tự, giết chết 60 cộng quân và bắt sống 5 tù binh với thiệt hại chỉ có 6 bị thương. Không Quân VNCH bay gần 200 phi vụ yểm trợ, giết chết khoảng 100 cộng quân cũng như tiêu diệt nhiều kho tiếp tế, công sự chiến đấu, vị trí pháo binh và súng phòng không.
Đến cuối tháng 4 năm 1974 thì Bắc quân bị thiệt hại 300 chết trong các trận đụng độ trên bộ, trên 100 chết do các cuộc oanh kích của Không Quân VNCH cùng 17 tù binh bị bắt sống. Dùng yếu tố thần tốc, táo bạo và bất ngờ cũng như sự phối hợp tuyệt vời giữa Không Quân VNCH và các đơn vị bộ chiến của QLVNCH, quân đội VNCH chỉ có thiệt hại rất nhẹ: 21 chết và 64 bị thương. Do thành công vượt mức, tướng Thuần ra lệnh kéo dài cuộc hành quân thêm vài ngày.

Hình chụp tại Svayrieng vào khoảng tháng 3 năm 1974 trong trận giao tranh ác liệt giữa lính quân đội Hoàng Gia Cam Bốt và Cộng Sản Khmer Ðỏ.
(HÌNH ẢNH: Patrick Chauvel)

Đối diện với mối đe dọa nghiêm trọng cho khu vực hậu cứ trong tỉnh Svay Riêng do Trung Đoàn 6 và 174 Cộng Sản bảo vệ đang hứng trọn gánh nặng tấn công của quân đội VNCH, cấp chỉ huy Bắc quân phân vân về việc rút Trung Đoàn 275 đang uy hiếp Long Khốt về trợ lực cho khu vực Svay Riêng. Tuy nhiên đơn vị này củng đang bị Sư Đoàn 7 BB đánh thiệt hại nặng ở Long Khốt.
Do các cuộc đụng độ tập trung nhiều hơn ở hướng nam, tướng Thuần rút Chiến Đoàn 315 về Gò Dầu Hạ làm trừ bị, Chiến Đoàn 322 tham gia chiến dịch, vượt biên qua trung tâm khu vực Cánh Thiên Thần tiến sâu 4 km trong khi các tiểu đoàn của Sư Đoàn 25 BB tiếp tục tảo thanh khu vực biên giới giữa Đức Huệ và Gò Dầu Hạ. Chiến Đoàn 322 sau đó chuyển về phía nam vào khu vực căn cứ địa Ba Thu, tây nam Đức Huệ và trở lại phần đất Việt Nam vào ngày 10 tháng 5, giết chết gần 300 cộng quân, bắt sống 17 tù binh và tịch thu trên 100 vũ khí.
Ngày 6 tháng 5 con đường độc đạo nối với căn cứ Đức Huệ được giải tỏa và Công Binh VNCH bắt đẩu tu bổ. Quân đội VNCH hoàn toàn kiểm soát chiến trường và mối đe dọa vào khu vực chiến lược Gò Dầu Hạ bị loại bỏ.
Chiến dịch Svay Riêng là cuộc hành quân tấn công lớn sau cùng của Quân Lực VNCH trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Chiến dịch tấn công cấp quân đoàn này được thiết kế hoàn toàn từ phía VNCH và thi hành một cách khéo léo với sự phối hợp và yểm trợ tuyệt vời giữa bộ binh và thiết giáp với không quân và pháo binh, gây thiệt hại nặng cho Bắc quân trong khi quân đội VNCH chỉ bị thiệt hại nhẹ, khác biệt với chiến dịch Hạ Lào đầu năm 1971. Nó chứng tỏ khả năng trưởng thành nhanh chóng về tham mưu và chỉ huy của Quân Lực VNCH sau những năm tháng khói lửa nếu như tài năng được sử dụng đúng chổ.
Với quân viện bị cắt giảm trầm trọng cùng với việc sử dụng đạn dược, xăng dầu cũng như phụ tùng thay thế cho phi cơ, trực thăng và xe cộ bị hạn chế tối đa, Quân Lực VNCH bị mất đi tính cơ động và chủ động chiến trường, không còn khả năng tiếp cứu các khu vực xa xôi hẻo lánh, nằm ngoài tầm yểm trợ. Từ đầu năm 1974 sự suy yếu này ngày càng trở nên nghiêm trọng vào cuối năm 1974, tạo điều kiện thuận tiện cho cuộc tổng tấn công kết thúc cuộc chiến vào đầu năm 1975 của Cộng Sản Bắc Việt.
 
📎 HBVTS010|HBVTS011
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 03:50:00lyenson>
VII. MẶT TRẬN NAM BỘ
Trong chiến tranh Việt Nam, Hà Nội dùng bí danh "B" cho chiến trường Miền Nam để phân biệt với A (hậu phương lớn Miền Bắc Cộng Sản) và C (chiến trường Lào) và phân chia chiến trường Miền Nam thành 4 mặt trận chính:
·  Mặt Trận B-1 (tức mặt trận Trung Bộ, còn được gọi là Quân Khu 5)
·  Mặt Trận B-2 (Nam Bộ)
·  Mặt Trận B-3 (Tây Nguyên)
·  Mặt Trận B-4 (Quân Khu Trị Thiên)
Tất cả các mặt trận này đều trực thuộc quyền điều khiển của Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội. Nguyên thủy chiến trường Miền Nam được chia thành hai vùng: mặt trận Trung Bộ (bí danh B-1) và mặt trận Nam Bộ (bí danh B-2).
Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang vào năm 1965 và các đơn vị bộ chiến Hoa Kỳ bắt đầu tham chiến, khu vực hai tỉnh địa đầu giới tuyến (Quảng Trị và Thừa Thiên) được tách riêng ra thành Quân Khu Trị Thiên (bí danh B-4) và khu vực Cao Nguyên Trung Phần của các tỉnh Kontum, Pleiku và Darlac cũng được tách ra thành mặt trận Tây Nguyên. Sau đó khu vực từ thị xã Quảng Trị ra phía Bắc đến vùng Phi Quân Sự và chạy dọc theo Quốc Lộ 9 từ Đông Hà đến biên giới Việt-Lào được tách ra riêng thành mặt trận B-5, dưới quyền chỉ huy của Quân Khu 4 CSBV ở phía bắc Vĩ Tuyến 17. Sau hiệp định ngừng bắn Paris năm 1973, mặt trận B-5 tái sát nhập trở lại Quân Khu Trị Thiên.



Hình chụp vào năm 1975, các bộ đội Bắc Việt đang vận chuyển tại chiến trường Tây Nguyên
(HÌNH ẢNH: Lê Minh Ðiền).

Mặt trận Nam Bộ (Mặt Trận B-2) bao gồm cả lãnh thổ Miền Đông và Miền Tây-Nam Phần, chạy dài từ tuyến Quảng Đức nối liền Tuyên Đức và Ninh Thuận xuống tận mũi Cà Mau và Hà Tiên, bao gồm luôn các đảo Phú Quốc và Côn Sơn, là mặt trận lớn nhất và quan trọng nhất của Cộng Sản Bắc Việt trên chiến trường Miền Nam. Khu vực trọng yếu này liên hệ trực tiếp đến sự sống còn của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cung cấp phần lớn nguồn nhân lực cũng như tiềm năng kinh tế của Miền Nam Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ tổ quốc chống xâm lăng. Đối với Hà Nội, đây là bàn đạp chính để tấn công Sàigòn để đánh sụp đổ chính phủ VNCH.
Địa hình của khu vực rộng lớn này cũng thay đổi từ khu vực rừng núi bao la của các cao nguyên Darlac, Di Linh và Lâm Viên, tận cùng của dãy Trường Sơn trùng điệp xuống khu vực rừng già Miền Đông-Nam Phần rồi đến khu vực đồng bằng Miền Tây-Nam Phần đông dân, rộng lớn và phì nhiêu, vựa lúa và thực phẩm của Miền Nam cũng như cả nước Việt Nam, bồi đắp bởi sông Cửu Long và một hệ thống kinh rạch chằng chịt đan chéo như mạng nhện. Ở phía tây là một biên giới dài tiếp giáp với Cam Bốt (gồm 2/3 chiều dài biên giới giữa Việt Nam và Cam Bốt) trong khi ở phía đông là bờ biển dài tiếp giáp với biển Nam Hải và vịnh Thái Lan.
Về mặt lãnh thổ, Mặt Trận B-2 bao gồm gần một nửa của Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm toàn bộ Quân Khu 3 và 4 cùng một phần phía nam của Quân Khu 2. Khu vực này tập trung 2/3 dân số của VNCH bao gồm thủ đô Sàigòn nên về mặt kinh tế và chính trị, đây là khu vực vô cùng trọng yếu, liên quan đến sự sống còn của VNCH. Do lãnh thổ quá rộng lớn, Mặt Trận B-2 cũng được phân chia thành 4 quân khu (6, 7, 8, 9) cùng Đặc Khu Sàigòn-Gia Định để tiện việc chỉ huy.
·  Quân Khu 6 gồm các tỉnh Miền Nam Trung Phần: Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy.
·  Quân Khu 7 bao gồm các tỉnh Miền Đông-Nam Phần: Phước Long, Bình Long, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, và Phước Tuy.
·  Quân Khu 8 bao gồm các tỉnh khu vực Tiền Giang của Miền Tây-Nam Phần: Long An, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Kiến Phong và Kiến Tường.
Quân Khu 9 bao gồm các tỉnh khu vực Hậu Giang của Miền Tây-Nam Phần: Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc, An Giang, Châu Đốc, Kiên Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu và An Xuyên.
Trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1970, Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B-2 và Trung Ương Cục Miền Nam nằm ở phía bắc tỉnh Tây Ninh, giáp với biên giới Cam Bốt, để có thể nhanh chóng rút sang khu vực căn cứ địa xây dựng trên đất Cam Bốt dọc theo biên giới Việt Nam trong trường hợp bị liên quân Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ mở chiến dịch tấn công. Khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực vào đầu năm 1973 thì Bộ Chỉ Huy này được đặt thường trực dưới một khu rừng cách thị trấn Lộc Ninh 50 km về hướng đông bắc.
MẶT TRẬN NAM BỘ
Sau Nghị Quyết 15 cực kỳ quan trọng trong năm 1959 xác định việc dùng biện pháp quân sự để tiến chiếm Miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước dưới chế độ độc tài Cộng Sản sau khi biện pháp chính trị (hiệp thương thống nhất đất nước qua bầu cử) thất bại thì nổ lực tiến hành chiến tranh ở Miền Nam của Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) bắt đầu tiến hành trong vòng bí mật. Ngày 1 tháng 6 năm 1959 toán mở đường gồm 32 cán bộ tập kết gốc Miền Nam lên đường vào Nam. Ngày 25 tháng 12 năm 1959 thêm toán cán Bộ Chỉ Huy Quân Sự hồi kết 27 người mang bí danh B-50 do Tăng Thiện Kim và Đặng Ngọc Sĩ chỉ huy về đến khu vực chiến khu Mã Đà (Biên Hòa) rồi căn cứ Xứ Ủy Nam Bộ ở khu vực Katum-Tân Biên trong tỉnh Tây Ninh vào cuối năm 1960.
Toán này tập họp đội ngũ sĩ quan đủ các quân binh chủng hợp thành được huấn luyện chuyên môn từ lái tàu biển, các loại xe, chụp ảnh và nhiều ngành nghề khác và được gặp mặt, dùng cơm với Hồ Chí Minh trước khi lên đường vào Nam. Các thành viên được di chuyển bằng xe vào phía tây Quảng Bình rồi đi bộ xâm nhập qua Hạ Lào để vào Miền Nam. Do mặc quân phục lính Biệt Kích Việt Nam Cộng Hòa lại nói tiếng Nam Bộ nên toán cán bộ này không bị lộ cho dù có tình cờ gặp một số toán lính tuần tiễu VNCH trên khu vực Tây Nguyên.
Hai nhóm cán bộ tiên phong này có nhiệm vụ xây dựng hạ tầng cơ sở cho tổ chức quân đội chủ lực Cộng Sản ở mặt trận Nam Bộ. Các thành viên được Ban Quân Sự của Xứ Ủy Nam Bộ phân phối về các quân khu 6, 7, 8,9 và Đặc Khu Sàigòn-Chợ Lớn và các cơ quan tham mưu và tác chiến ở Bộ Tư Lệnh Miền (xem ghi chú của tác giả về chữ Miền bên dưới) đang hình thành.
Tăng Thiện Kim sau chỉ huy trung đoàn chủ lực đầu tiên của Mặt Trận B-2 (Trung Đoàn Q761, sau đổi thành Trung Đoàn 271) tham gia các trận đánh nổi tiếng ở Đồng Xoài và Bình Giả trong khi Đặng Ngọc Sĩ sau chỉ huy các đơn vị đặc công của Mặt Trận B-2 rồi Sư Đoàn 6 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.
Trước đó vào tháng 2 năm 1959, Sư Đoàn 338 Bắc Việt do Tô Ký chỉ huy hình thành từ các đơn vị tập kết Miền Nam và một số trung đoàn độc lập ở Miền Bắc được chuyển thành các sư đoàn huấn luyện để chuẩn bị đưa bộ đội xâm nhập vào Miền Nam.
Đêm 25 rạng 26 tháng 1 năm 1960 đã xảy ra trận đánh lớn gây tiếng vang đầu tiên của Cộng Sản Bắc Việt tại Miền Nam sau Nghị Quyết 15. Lúc đó, Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy một cuộc tấn công bất ngờ đánh vào căn cứ Trảng Sụp (còn gọi là Tua Hai) của Trung Đoàn 32 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh VNCH trong tỉnh Tây Ninh như vào chỗ không người, giết 20 binh sĩ và dùng quân xa trong căn cứ chở đi trên 1,000 vũ khí đủ loại về khu vực căn cứ địa biên giới ở Katum. Trung Tá Trần Thanh Chiêu, tư lệnh sư đoàn, bị mất chức. Sau đó là các trận đánh ở Đồng Xoài, Đức Hòa, Đức Huệ ở Miền Đông-Nam Phần, Hiệp Đức (ở tỉnh Quảng Nam), Dak Pek, Dak Sut, Toumorong trên Cao Nguyên và công trình xây Quốc Lộ 14 chiến lược từ Kontum lên Bến Giàng (ở tỉnh Quảng Nam) kéo dài cho đến cuối năm 1960.


Hình chụp Thượng Tướng Trần Văn Trà đang đứng trước Sở Chỉ Huy Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B2 tại Tà Thiết, gần thị xã Lộc Ninh (một phần của tỉnh Bình Long cũ của Việt Nam Cộng Hòa, bây giờ là địa phận của tỉnh Bình Phước). Năm 1963, tướng Trần Văn Trà được phong chức vụ Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam kiêm Tư Lệnh Mặt Trận Nam Bộ. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Ngày 15 tháng 2 năm 1961, Hà Nội thành lập Quân Giải Phóng Miền Nam, bình phong cho nổ lực quân sự của Bắc Việt ở chiến trường Miền Nam, do Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy và Phạm Thái Bường là chính ủy, và thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên ở Nam Bộ (sau tham gia chiến dịch Bình Giả và trở thành Trung Đoàn 271 của Sư Đoàn 9 CSBV) ở chiến khu Dương Minh Châu vào tháng Bảy 1961. Trung đoàn này do Tăng Thiện Kim chỉ huy. Quân Khu Sàigòn-Gia Định cũng được thành lập trong tháng Ba 1961 bao gồm Sàigòn-Chợ Lớn, Gia Định, Củ Chi (ở tỉnh Hậu Nghĩa) và Dĩ An (ở tỉnh Bình Dương) do Trần Hải Phụng chỉ huy với đơn vị chiến đấu chính là Tiểu Đoàn Quyết Thắng.
Tại Nam Bộ, Cộng Sản bắt đầu xây dựng lực lượng dân quân du kích cấp tiểu đội ở 560 xã, cấp trung đội ở 190 xã. Các đơn vị địa phương cấp huyện (70 trung đội) và tỉnh (17 đại đội) cũng được thành lập cùng với một số ít tiểu đoàn cơ động liên tỉnh ở Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ.
Quân Ủy Trung Ương xác định rõ ràng Quân Giải Phóng Miền Nam là một bộ phận của Quân Đội Bắc Việt do Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo, phù hợp với chủ trương "tuy 2 mà 1" (một quân đội với 2 tên gọi) trong sách lược đấu tranh chính trị của đảng.
Ngày 25 tháng 2 năm 1961 Bộ Chính Trị Đảng CSVN thông qua kế hoạch quân sự 5-năm lần thứ hai (1961-65), vừa xây dựng một quân đội chính qui hiện đại bao gồm các quân chủng mới thành lập như Không Quân, Phòng Không và Hải Quân ở Miền Bắc, vừa xây dựng một lực lượng chiến đấu chủ lực từ 10 đến 15 trung đoàn ở chiến trường Miền Nam cũng như đào tạo và phát triển lực lượng chiến đấu Pathet Lào và "quân tình nguyện" Việt Nam ở chiến trường Lào.
Tháng 4 năm 1961, Quân Ủy Trung Ương phát động Đoàn Công Tác "B" ("B" là bí danh cho chiến trường Miền Nam) do Trung Tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham Mưu Phó, chỉ huy xâm nhập vào Miền Nam để chỉ đạo việc xây dựng một lực lượng chủ lực mạnh từ 10 đến 15 trung đoàn theo như kế hoạch quân sự 5-năm (1961-65) của Bộ Chính Trị.
Tháng 5 năm 1961, đoàn cán bộ quân sự cao cấp đầu tiên tăng cường cho chiến trường Miền Nam với mật danh "Phương Đông" do Thiếu Tướng Trần Văn Quang, Tổng Tham Mưu Phó, dẫn đầu với 500 người lên đường vào Miền Nam (quân đội Bắc Việt có nhiều chức tổng tham mưu phó, tức là phụ tá cho tổng tham mưu trưởng).
Vượt qua chặng đường 2,000 km, đoàn người này đến tỉnh Bình Long ngày 28 tháng 7 năm 1961. Sau đó, Thiếu Tướng Trần Văn Quang ở lại nhận chức Chỉ Huy Phó Ban Quân Sự Miền. Các cán bộ trong đoàn được phân công về các cơ quan của Ban Quân Sự Miền, các quân khu và Đặc Khu Sàigòn-Gia Định, chuẩn bị cho việc thành lập bộ tư lệnh các quân khu và Bộ Chỉ Huy các trung đoàn chủ lực. Thiếu Tướng Trần Văn Quang sau đó trở ra Miền Bắc để báo cáo tình hình trước khi trở vào một lần nữa để chỉ huy Quân Khu Trị Thiên (tức Mặt Trận B-4).
Do yêu cầu khẩn trương của chiến trường, vào tháng Sáu năm 1961 đoàn cán bộ quân sự cao cấp thứ hai tăng cường cho chiến trường Miền Nam do Nguyễn Hoàng Lâm (hay Nguyễn Văn Bứa) và Lê Quốc Sản dẫn đầu với 400 người cũng lên đường vào Miền Nam. Đầu tháng 9 năm 1961, đoàn người này vào đến khu vực tập kết và nhận sự phân công của Bộ Chỉ Huy Ban Quân Sự Miền. Lê Quốc Sản sau đó chỉ huy Quân Khu 8 (Tiền Giang) của mặt trận Nam Bộ.
Tổng cộng 900 cán bộ chỉ huy quân sự cao cấp của Quân Đội Cộng Sản Bắc Việt đã từ Miền Bắc xâm nhập vào Miền Nam trong vòng 2 tháng để xây dựng hệ thống chỉ đạo chiến tranh trên khắp các chiến trường, quân khu và các đơn vị chủ lực cơ động dưới tên gọi là Quân Giải Phóng Miền Nam.
Trong năm 1963, Trần Văn Trà và Lê Đức Anh đã trở về Miền Nam để xây dựng lực lượng quân sự cho mặt trận Nam Bộ. Trà được phong chức tư lệnh quân Giải Phóng Miền Nam kiêm tư lệnh Bộ Chỉ Huy Miền trong khi Lê Ðức Anh là tham mưu trưởng cho Trà như thời chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54). Là tham mưu trưởng Phân Liên Khu Miền Đông cho Trần Văn Trà trong cuộc chiến tranh Đông Dương từ 1945 đến 1954, Lê Đức Anh được phong quân hàm đại tá và giữ chức Cục Phó Cục Tác Chiến ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội CSVN sau khi tập kết ra Bắc.
Đứng trước tình hình lực lượng chủ lực cơ động trên chiến trường Miền Nam đang trên đà xây dựng và phát triển, để tăng cường lãnh đạo và chỉ huy vào tháng 10 năm 1963, Trung Ương Cục Miền Nam thành lập Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Nam Bộ (còn được gọi là Bộ Tư Lệnh Miền, để các cơ quan tình báo của đối phương khó lòng phát hiện hay theo dõi) và Quân Ủy Miền. Nguyễn Văn Linh, Ủy Viên Trung Ương Đảng và Bí Thư Trung Ương Cục trực tiếp làm Bí Thư Quân Ủy Miền trong khi Trung Tướng Trần Văn Trà, Ủy Viên Trung Ương Đảng và Tổng Tham Mưu Phó Quân Đội CSVN được cử làm Phó Tư Lệnh Miền.
Theo tài liệu công bố sau này của Hà Nội, hơn 40,000 cán bộ và binh sĩ Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam trong thời gian từ 1961 đến 1963. Cường độ chiến tranh ở Miền Nam ngày càng gia tăng thì các đoàn cán bộ chiến sĩ đi "B" (đi vào Nam) ngày càng nhiều, càng đông. Hình thức đi "B" cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn phải luồn rừng, leo núi, đi dọc Trường Sơn để vào chiến trường Miền Nam.
Đến cuối năm 1963, hầu hết cán bộ và những người Miền Nam tập kết trước đây có điều kiện đã trở về quê hương chiến đấu, sau một thời gian huấn luyện ở Sư Đoàn 338. Sau cuộc đảo chánh tại Miền Nam ngày 1 tháng 11 năm 1963 tình hình chính trị Miền Nam trở nên rối loạn với hàng loạt các cuộc đảo chính, chỉnh lý tranh quyền giữa các tướng lãnh quân đội Miền Nam được đào tạo trong thời kỳ Pháp cai trị. Gián điệp chiến lược Phạm Ngọc Thảo của Bắc Việt được gài trong chính trường Miền Nam đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn này.
Hà Nội triệu tập hội nghị trung ương đảng lần thứ 9 vào tháng 12 năm 1963, thông qua Nghị Quyết 9, thúc đẩy đường lối "cứng rắn gây chiến" theo Trung Quốc thay vì đường lối "xét lại, sống chung hòa bình giữa các ý thức hệ chính trị khác nhau" của Liên Xô (dưới thời chủ tịch Khrushev) trong cuộc xung đột thù địch Liên Xô-Trung Quốc, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng trầm trọng của chính phủ VNCH và cần tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng chi viện mạnh cho chiến trường Miền Nam để dành thắng lợi quyết định trong các năm kế tiếp. Hai ông họ Lê (Duẩn và Thọ) bắt đầu thanh lọc, xiết chặt hàng ngũ dưới quyền đồng thời thanh trừng tất cả những ai đi ngoài chủ trương đường lối của họ dưới chiêu bài "xét lại chống đảng."
Một số cán bộ quân sự cao cấp là nạn nhân của đợt thanh trừng này như Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh (Thứ Trưởng Quốc Phòng, chủ tịch Ủy Ban Thống Nhất Tổ Quốc), Thiếu Tướng Đặng Kim Giang (Thứ Trưởng Bộ Nông Trường), Đại Tá Đỗ Đức Kiên (Cục Trưởng Cục Tác Chiến-Bộ Tổng Tham Mưu), Đại Tá Lê Trọng Nghĩa (Cục Trưởng Cục Quân Báo-Bộ Tổng Tham Mưu), Đại Tá Lê Minh Nghĩa (Chánh Văn Phòng Bộ Quốc Phòng), Trung Tá Hoàng Thế Dũng (Tổng Biên Tập Báo Quân Đội Nhân Dân).
Hà Nội gấp rút mở rộng hệ thống đường vận chuyển Trường Sơn cho phương tiện cơ giới, đưa nhiều trung đoàn chủ lực vào Quân Khu 5 (tức Mặt Trận B-1) cùng với các võ khí cá nhân hiện đại như súng liên thanh tự động AK-47, thượng liên RPD và hỏa tiển chống tăng B-40. Thiếu Tướng Chu Huy Mân, Chính Ủy Quân Khu 4 (gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, và Hà Tĩnh) được trao nhiệm vụ vào chỉ huy Quân Khu 5. Lúc bấy giờ Quân Khu 5 bao gồm cả khu vực Tây Nguyên (về sau tách ra thành mặt trận B-3).
 
📎 HBVTS012|HBVTS015
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 04:07:34lyenson>
Tháng 9 năm 1964, Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Bộ Chính Trị Đảng CSVN để bàn về tình hình chiến trường Miền Nam và chỉ thị, "Ta phải đánh lâu dài từ 10 đến 20 năm... Miền Nam phải mở rộng chiến tranh du kích, xây dựng chủ lực thành quả đấm mạnh, gọn, nhanh. Hai năm qua chưa tăng cường ủy viên Bộ Chính Trị cho Miền Nam, nay tình hình cấp bách, không đi không được."
Sau hội nghị, Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy Viên Bộ Chính Trị và Phó Bí Thư Quân Ủy Trung Ương được Hồ Chí Minh cử vào Miền Nam để chỉ đạo toàn bộ các hoạt động quân sự và chính trị cho toàn chiến trường Miền Nam. Cùng đi có nhiều cán bộ cao cấp có kinh nghiệm xây dựng bộ đội chủ lực, lãnh đạo và chỉ huy tác chiến tập trung.
Sinh năm 1914 ở Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên), Thanh là đảng viên cộng sản từ thời còn hoạt động bí mật (vào đảng khoảng 1937), từng là Bí Thư Tỉnh Ủy Thừa Thiên rồi Bí Thư Phân Khu Bình Trị Thiên. Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, Thanh vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng và trở thành Chủ Nhiệm Việt Minh Trung Bộ kiêm Bí Thư Xứ Ủy Trung Bộ của Đảng CSVN. Ra Bắc năm 1948, Thanh nhận chức Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị của Quân Đội CSVN (gọi tắt là Chính Ủy Toàn Quân) và vào Bộ Chính Trị sau Đại Hội Đảng lần 2. Thanh được đánh giá là ham học về quân sự và chính trị và có tác phong bình dân, rất có uy tín và được nể sợ do xuất thân từ giai cấp công nông, không có tai tiếng và được Hồ Chí Minh xem là cán bộ trung kiên.


Hình chụp ngày 9 tháng 10 năn 1974 trong buổi họp Thường Trực Quân Ủy Trung Ương quyết định mở chiến dịch tấn công các đơn vị VNCH phòng thủ vùng nam Tây Nguyên, với mục tiêu chánh là thị xã Ban Mê Thuột. (HÌNH ẢNH: T.L., trích tài liệu Tổng Hành Dinh Trong Mùa Xuân Toàn Thắng, hồi ức Đại Tướng Võ Nguyên Giáp).


Trước khi vào Nam, Nguyễn Chí Thanh cử một đoàn 24 cán bộ chuyên môn của các tổng cục thuộc Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tư Lệnh bí mật vào Miền Nam trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1963 đến tháng 4 năm 1964 để nghiên cứu toàn bộ tình hình trong Miền Nam rồi trở ra Bắc báo cáo cho Thanh. Theo lời yêu cầu của Nguyễn Chí Thanh, một số các lãnh đạo quân sự cao cấp như Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, và Trần Ðộ đã được Hà Nội cử vào Nam để xây dựng lực lượng chủ lực và chuẩn bị leo thang chiến tranh. Tất cả những người này đều có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong chiến cuộc Đông Dương lần thứ nhất (1945-54).
Số cán bộ tập trung vào Nam lần nầy là lớn nhất từ trước đến nay. Phần lớn là cán bộ cấp tá trở lên và đủ mặt các ngành bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công hay chuyên môn về tham mưu, chính trị, hậu cần. Để bảo toàn lực lượng, đoàn cán bộ cao cấp này được phân chia thành nhiều tốp nhỏ, đi theo nhiều đường khác nhau, phần lớn là đường biển xâm nhập vào các khu vực như Xuyên Mộc, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau v.v., rồi được giao liên đưa đón về khu vực Bộ Chỉ Huy Miền ở trong tỉnh Tây Ninh.
Để giữ bí mật, các cấp lãnh đạo Cộng Sản trên chiến trường Miền Nam dùng bí danh như Hai Vân (Phan Văn Đáng), Hai Mạnh (Chu Huy Mân), Ba Long (Lê Trọng Tấn),Tư Chi (Trần Văn Trà), Năm Thạch (Hoàng Cầm), Năm Công (Võ Chí Công), Sáu Di (Nguyễn Chí Thanh), Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), Sáu Nam (Lê Đức Anh), Bảy Cường (Phạm Hùng), Chín Vinh (Trần Độ), Mười Khang (Hoàng Văn Thái), Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), v.v.
Nguyễn Chí Thanh là sĩ quan cấp đại-tướng thứ hai của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam, sau Võ Nguyên Giáp với biệt danh "đại tướng bần cố nông," và Thanh vào Miền Nam với toàn quyền hành động mà không phải xin chỉ thị trung ương. Nguyễn Chí Thanh cũng là nhân vật chủ yếu đề xuất việc mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Thanh thường xuyên đạp xe xuống các đơn vị chiến đấu và cơ sở Cộng Sản, ăn mặc như người nông dân.
Ngày 11 tháng 10 năm 1964 Quân Ủy Trung Ương chỉ thị các đơn vị Cộng quân ở Miền Nam mở chiến dịch Đông Xuân 1964-65 ở khu vực liên tỉnh Bình Long, Phước Long, và khu vực liên tỉnh Long Khánh, Bình Tuy, Phước Tuy ở Mặt Trận B-2, và khu vực Nam Quảng Ngãi Bắc Bình Định và vùng Tây Nguyên thuộc Quân Khu 5.
Được chỉ đạo và chỉ huy qua nhiều năm kinh nghiệm trong chiến tranh chống Pháp (1945-54), các đơn vị Cộng Sản đã gây nhiều tiếng vang trong giai đoạn này qua các trận đánh ở Ba Gia (thuộc tỉnh Quảng Ngải), và Bình Giả (ở tỉnh Phước Tuy), Đồng Xoài (ở tỉnh Phước Long). Lúc đó chủ lực Bắc quân đã bắt đầu đánh lớn ở cấp trung đoàn.
Lỗ hỗng chính trị và những hỗn loạn để lại ở Miền Nam sau cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng với những tổn thất liên tiếp trên chiến trường và tình trạng an ninh ở nông thôn ngày càng xấu đi. Trung bình mỗi tháng có khoảng một tiểu đoàn Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt và một quận-lỵ bị mất vào tay quân Cộng Sản. Việc này dẫn đến việc chính quyền Tổng Thống Johnson quyết định đưa quân bộ-chiến Hoa Kỳ sang tham chiến trực tiếp ở Miền Nam để cứu nguy sự sụp đổ của Miền Nam. Ðây là một điểm xoay quan trọng trong lịch sử cuộc chiến.
Ngày 20 tháng 11/1964 Trung Đoàn 95 của Sư Đoàn 325 CSBV trở thành trung đoàn chủ lực cơ-động đầu tiên của Quân Đội CSBV hành quân từ Quảng Bình vượt Trường Sơn vào đến khu vực Tây Nguyên với đầy đủ quân số trang bị. Sau đó Trung Đoàn 18 và 101 của sư đoàn này cũng lần lượt vào theo. Sư Đoàn 325 trở thành sư đoàn chủ lực chính qui đầu tiên xâm nhập toàn bộ vào Miền Nam.
Cuối năm 1965, theo lệnh của Trung Ương Đảng và Trung Ương Cục, Quân Ủy Miền mở hội nghị mở rộng do Nguyễn Chí Thanh chủ trì để bàn về vấn đề đánh Mỹ. Khi này trên toàn chiến trường Miền Nam Việt Nam, lực lượng quân sự Cộng Sản đã có 174,000 dân quân du kích ở cấp xã ấp và 80 nghìn bộ đội địa phương. Với lực lượng từ Miền Bắc tăng cường vào, Mặt Trận B-2 có 92,000 quân chủ lực, biên chế thành 18 trung đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng.
Trên cơ sở đó, và với quân tăng cường tiếp tục từ Miền Bắc đưa vào, Quân Ủy Trung Ương và Bộ Tổng Tư Lệnh quyết định thành lập 5 sư đoàn bộ binh (các sư đoàn 1, 2, 3, 5, và 9) và một sư đoàn pháo binh (Sư Ðoàn 69) trên chiến trường Miền Nam. Với cường độ chiến tranh gia tăng nhanh chóng với sự tham chiến của các lực lượng bộ chiến Hoa Kỳ và đồng minh, Hà Nội huy động toàn lực cho chiến trường Miền Nam về quân số, vũ khí, cán bộ với khẩu hiệu "tất cả vì Miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược."
Sau cái chết đột ngột của Ðại Tướng Nguyễn Chí Thanh vào tháng 7 năm 1967 Phạm Hùng, ủy viên duy nhất gốc Miền Nam trong Bộ Chính Trị Đảng CSBV và là Phó Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) vào Miền Nam giữ chức Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam kiêm Chính Ủy Mặt Trận B-2 (Nguyễn Văn Linh là Phó Bí Thư Trung Ương Cục đặc trách khu vực Sàigòn-Gia Định và các hoạt động quần chúng trong khu vực đô thị) trong khi Trung Tướng Hoàng Văn Thái giữ chức Tư Lệnh Mặt Trận B-2 (lúc đó Hoàng Văn Thái còn là Tổng Tham Mưu Phó Quân Đội CSBV và đang hoạt động ở Quân Khu 5). Trung Tướng Trần Văn Trà, lãnh đạo quân sự nhiều kinh nghiệm nhất của Cộng Sản Bắc Việt ở chiến trường Miền Nam, là phụ tá cho Thái, và kiêm luôn chức vụ Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam (một chức vụ danh nghĩa nặng tính chính trị sau khi các đơn vị chiến đấu cộng sản ở Miền Nam bị tiêu diệt sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 và các đơn vị này được tái xây dựng với phần lớn bộ đội mới xâm nhập từ Miền Bắc). Sau hiệp định ngừng bắn Paris, Trà được cử làm trưởng đoàn đại biểu quân sự của Quân Giải Phóng Miền Nam (một bình phong chính trị tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt) trong ban liên hợp quân sự 4 bên giám sát ngưng bắn. Sau khi Hoàng Văn Thái trở về Miền Bắc, Trà trở thành tư lệnh mặt trận Nam Bộ (B-2).
Trần Văn Trà được cử làm trưởng đoàn đại biểu quân sự của Quân Giải Phóng Miền Nam trong Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên giám sát ngưng bắn. Từ ngày công tác vào Nam, Thiếu Tướng Lê Trọng Tấn giữ chức Tư Lệnh Phó Mặt Trận B-2 và tham gia thiết kế các chiến dịch lớn ở chiến trường Mặt Trận B-2 cho đến năm 1969 khi Tấn trở ra Miền Bắc giữ chức Tổng Tham Mưu Phó Quân Đội CSBV trong khi Thiếu Tướng Trần Độ là Phó Chính Ủy Mặt Trận B-2. Trong khi đó Hoàng Cầm và Lê Đức Anh là phụ tá cho Thái và Trà. Hoàng Văn Thái trở ra Bắc đầu năm 1973 và sau đó Trần Độ cũng trở ra Bắc đầu năm 1974.
Đơn vị chủ lực chính của Mặt Trận B-2 là Sư Đoàn 5, 7 và 9 CSBV cùng 19 trung đoàn độc lập và nhiều tiểu đoàn địa phương. Lực lượng yểm trợ có nhiều trung đoàn pháo binh dưới quyền chỉ huy chiến thuật của (Sư) Đoàn 69 Pháo Binh và Lữ Đoàn 26 Thiết Giáp. Ba sư đoàn chủ lực của Mặt Trận B-2 và các đơn vị thiết giáp và pháo binh nặng hoạt động chủ yếu ở Miền Đông-Nam Phần. Do hoạt động xa hậu phương lớn Miền Bắc Cộng Sản, các sư đoàn chủ lực của Mặt Trận B-2 không được trang bị đầy đủ hỏa lực và các thành phần yểm trợ như các sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ Tổng Tư Lệnh.
Ngay từ thời Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), Cộng Sản Bắc Việt đã xây dựng Chiến Khu C và D cùng các mật khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Hố Bò, Củ Chi, Hát Dịch, Xuyên Mộc ở khu vực Miền Đông-Nam Phần, dựa trên thế núi rừng liên hoàn bao trùm các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Biên Hòa, Long Khánh và Phước Tuy.



Một phụ nữ đang xem bản tin hàng đầu ở trang bìa nhật báo Washington News về việc Tổng Thống Richard Nixon từ chức ngày 9 tháng 8 năm 1974. Tấm hình bên phải trên trang báo là tân tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Hoa Kỳ cuối cùng trong chiến tranh Việt Nam. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Khi nỗ lực xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực được phát động thì các chiến khu này được cũng cố và mở rộng, nối kết với khu vực căn cứ địa an toàn mới được xây dựng trên đất Cam Bốt dọc theo biên giới các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước Long trong các khu vực Lưỡi Câu (Fish Hook) và Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) để Bắc quân trú chân và hồi phục sau khi bị liên quân Hoa Kỳ-VNCH rượt đánh. Đoàn cán bộ quân sự Miền Nam tập kết ra Bắc bí mật trở về đầu tiên qua ngã Ðường Trường Sơn (tức hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh) vào cuối năm 1959 đã tập trung ở khu vực Mã Đà trong Chiến Khu D (nay gần khu vực thủy điện Trị An).
Đối với Mặt Trận B-2, Miền Đông-Nam Phần bao gồm Sàigòn là chiến trường chính, có giá trị chiến lược quan trọng đến việc kết thúc cuộc chiến, với địa hình thích hợp cho công tác chuẩn bị và yểm trợ cho nổ lực tấn công lớn theo kiểu chiến tranh qui ước do có thế đứng cơ động, nối kết với chiến trường Tây Nguyên và Miền Bắc Cộng Sản. Miền Tây-Nam Phần, mặc dầu là chiến trường quan trọng do là nguồn nhân lực và tài nguyên kinh tế chính cho thế cân bằng về cả quân sự, chính trị lẫn kinh tế, nhưng không có tính chiến lược quyết định cuộc chiến. Do đó trọng tâm chủ lực chiến đấu của Mặt Trận B-2 tập trung ở Miền Đông-Nam Phần trong khi Mặt Trận B-2 thường xuyên tăng cường một số đơn vị chủ lực cho Miền Tây-Nam Phần khi tình hình đòi hỏi.
QUÂN KHU 3
Quân Khu 3 có giá trị quan trọng đến sự sống còn của Việt Nam Cộng Hòa. Với diện tích 78,841 km vuông, Quân Khu 3 của Việt Nam Cộng Hòa bao gồm 11 tỉnh:

Bình Long
Phước Long
Tây Ninh
Long Khánh
Bình Tuy
Phước Tuy
Biên Hòa
Bình Dương
Hậu Nghĩa
Long An
Gia Định và thủ đô Sàigòn

Thủ đô Sàigòn, với dân số gần 4 triệu người, là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa của Miền Nam Việt Nam. Sàigòn cũng là nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Quân Lực VNCH (tức Bộ Tổng Tham Mưu), Bộ Chỉ Huy các quân-binh chủng, lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược (tức Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến) và các cơ sở huấn luyện lớn như Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Ðài Radar Phú Lâm (Trung Tâm Thông Tin Liên Lạc Trọng Yếu) cùng phi trường quân sự Tân Sơn Nhất và quân cảng Sàigòn (bến Bạch Đằng và Tân Cảng) lớn và hiện đại. Đây cũng là nơi tập trung các tòa đại sứ, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước.
Sàigòn cũng là tâm điểm của các trục lộ giao thông liên lạc huyết mạch và trọng yếu của Miền Nam như Quốc Lộ 1 nối kết với Miền Trung và biên giới Cam Bốt qua Gò Dầu Hạ, Quốc Lộ 4 nối kết với Miền Tây và Quốc Lộ 13 nối kết với Miền Đông và biên giới Cam Bốt qua thị trấn Lộc Ninh. Từ Gò Dầu Hạ có Quốc Lộ 22 đi thị xã Tây Ninh rồi lên biên giới Cam Bốt. Từ thị xã Chơn Thành có Quốc Lộ 14 đi Cao Nguyên Trung Phần (gồm các tỉnh Quảng Đức, Darlac, Pleiku, và Kontum). Từ Dầu Giây ở tỉnh Long Khánh có Quốc Lộ 20 đi Cao Nguyên Lâm Viên và Di Linh (ở hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức), trong khi từ Biên Hòa có Quốc Lộ 15 đi Phước Tuy và Vũng Tàu. Cảng Sàigòn cũng nối kết với biển Nam Hải qua nhánh sông Sàigòn (Lòng Tảo, Soài Rạp) chảy qua khu vực Rừng Sát. Để bảo vệ Sàigòn, Gia Định và khu vực Rừng Sát, quân đội VNCH đã thành lập Biệt Khu Thủ Đô và Đặc Khu Rừng Sát.
Về mặt quân sự và kinh tế, Biên Hòa là tỉnh quan trọng nhất, kế đến là Tây Ninh và Bình Dương. Tại Biên Hòa ngoài bộ tư lịnh Quân Đoàn 3 còn có một phi trường và căn cứ không quân to lớn, trú đóng bởi Sư Đoàn 3 Không Quân cùng Không Đoàn Kỹ Thuật Tiếp Vận và hậu cứ của nhiều đơn vị Nhảy Dù và Biệt Động Quân. Biên Hòa củng có khu kỹ nghệ chính của kinh tế Miền Nam. Ở Long Bình, QLVNCH có Tổng Kho Tiếp Vận to lớn do Quân Đội Hoa Kỳ xây dựng và để lại cùng Trường Chỉ Huy và Tham Mưu từ Đà Lạt dời về trong năm 1973. Ở Long Thành có Trường Bộ Binh (dời về từ Thủ Đức) và Trường Thiết Giáp trong khi ở Vũng Tàu có Trường Quân Cảnh, Trường Truyền Tin và Trường Thiếu Sinh Quân. Trong tỉnh Phước Tuy có Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa. Trong tỉnh Bình Dương có Trường Công Binh ở thị xã Phú Cường và Sư Đoàn TQLC có khu vực hậu cứ to lớn (căn cứ Sóng Thần) ở Dĩ An.
Lực lượng chủ lực chiến đấu chính của Quân Lực VNCH là Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh (BB), yểm trợ bởi Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh (KB) và lực lượng trừ bị chiến thuật gồm Liên Đoàn 3, 5 và 6 BĐQ. Các đại đơn vị này đều có trách nhiệm phòng thủ những vùng sau đây:

Sư Đoàn 5 BB chịu trách nhiệm các tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long, bảo vệ hướng bắc của Sàigòn.
Sư Đoàn 18 BB chịu trách nhiệm các tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh và Biên Hòa, bảo vệ hướng đông của Sàigòn.
Sư Đoàn 25 BB chịu trách nhiệm các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Long An, bảo vệ Sàigòn theo một vòng cung từ tây bắc đến tây nam.
Sư Ðoàn 3 và 5 Không Quân phụ trách phần yểm trợ trên không trung.
Hải Quân Vùng 3 Sông Ngòi lo về phần yểm trợ trên hệ thống sông ngòi.

Ba sư đoàn bộ binh chủ lực của Quân Đoàn 3 VNCH gặp nhiều khó khăn trong việc đối đầu với các đơn vị chủ lực của Mặt Trận B-2, đặc biệt Sư Đoàn 18 BB và Sư Đoàn 25 BB là hai sư đoàn yếu kém của Quân Lực VNCH. Đổi lại ngoài sự hiện diện của lực lượng tổng trừ bị cơ động thiện chiến của Quân Lực VNCH là hai sư đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng đồng minh duy trì một lực lượng bộ chiến khá hùng hậu ở Miền Đông-Nam Phần. Quân Đội Hoa Kỳ có Sư Đoàn 1 và 25 BB, Lữ Đoàn 199 BB Nhẹ, Trung Đoàn 11 Thiết Kỵ và tùy theo thời gian và tình hình chiến sự cũng có sự hiện diện của Sư Đoàn 9 BB, Sư Đoàn 1 Không Kỵ và Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù. Lực lượng viễn chinh Thái Lan cấp sư đoàn trú đóng ở khu vực Long Thành-Long Bình trong khi Lực Lượng Đặc Nhiệm Úc lừng danh trú đóng trong tỉnh Phước Tuy để bảo vệ Quốc Lộ 15 nối liền Sàigòn-Vũng Tàu.
Do vị trí trọng yếu của Quân Khu 3 đối với thủ đô Sàigòn, chức vụ tư lệnh Quân Đoàn 3/Quân Khu 3 thường được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu giao cho những tướng lãnh hết sức tin cẩn, tuy họ không có khả năng chỉ huy và tham mưu cao cấp như các tướng Nguyễn Văn Minh và Phạm Quốc Thuần để đề phòng đảo chánh. Việc này xảy ra từ khi ông củng cố quyền lực và thanh trừng phe cánh gốc Bắc Kỳ của tướng Nguyễn Cao Kỳ sau cuộc tổng tấn công Tết Mập Thân năm 1968 của Việt Cộng.
(Ngày 4 tháng 6 năm 1968, Tổng Thống Thiệu đưa Thiếu Tướng Nguyễn Văn Minh, nguyên tư lệnh Sư Đoàn 21 BB và là đàn em của Đặng Văn Quang và cháu của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên làm tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Ngày 5 tháng 8/1968, ông Thiệu cử Trung Tướng Đỗ Cao Trí sau thời gian lưu vong ở nước ngoài về nắm Quân Đoàn 3. Hai chức vụ này đã từng do Trung Tướng Lê Nguyên Khang, bạn thân thiết của Nguyễn Cao Kỳ nắm giữ ngoài chức vụ tư lệnh binh chủng TQLC).
Tuy nhiên, trong số các tướng lãnh VNCH thì Trung Tướng Đỗ Cao Trí và Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn là hai trường hợp ngoại lệ vì hai vị tướng này có tài chỉ huy quân sự. (Kiểm duyệt, bỏ một đoạn trong câu trên, Nhóm Chủ Trương Website xin cáo lỗi cùng tác giả).
TÌNH HÌNH QUÂN KHU 3 SAU NGÀY NGƯNG BẮN
Mặc dầu đánh bại nỗ lực tiến chiếm thị xã An Lộc của Cộng Sản Bắc Việt trong mùa hè đẫm máu năm 1972, các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là Sư Đoàn 5 BB, cũng bị kiệt sức và cần được tái xây dựng. Phía bên Bắc Việt, dù bị thiệt hại hết sức nặng nề về cả nhân lực lẫn quân cụ, nhưng họ đã kiểm soát được hoàn toàn khu vực biên giới của Quân Khu 3 từ gần biên giới tỉnh Quảng Đức xuống đến phía bắc tỉnh Tây Ninh bao gồm các căn cứ biên phòng Bố Đức (Bù Đốp), Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Xa Mát, Thiện Ngôn, và Katum trong tuyến phòng thủ vòng ngoài của Quân Đoàn 3 VNCH, cũng như cắt đứt Quốc Lộ 13 giữa An Lộc và Bầu Bàng và luôn cả Quốc Lộ 14 giữa Chơn Thành và cứ điểm Bunard.
Với việc kiểm soát mật khu Long Nguyên và khu vực An Nhơn Tây, Mặt Trận B-2 duy trì áp lực lên Quốc Lộ 13 và hành lang dọc sông Sàigòn cũng như tuyến giữa phòng thủ Sàigòn dọc theo Liên Tỉnh Lộ 7A (Rạch Bắp-Bến Cát) trong khu vực Tam Giác Sắt.
Từ tháng 12 năm 1972 Quân Đoàn 3 VNCH đã mở cuộc hành quân tảo thanh hành lang dọc sông Sàigòn lên đến Trị Tâm (Dầu Tiếng). Sư Đoàn 5 BB dùng 3 tiểu đoàn từ khu vực Tam Giác Sắt tiến dọc theo bờ đông sông Sàigòn trong khi Sư Đoàn 25 BB dùng 4 tiểu đoàn từ khu vực Hố Bò tiến dọc theo bờ tây sông Sàigòn. Cuộc hành quân đã tiêu diệt 400 cán binh Bắc Việt cùng nhiều vũ khí.
Quân Đoàn 3 do đó phải đối phó với một tình trạng vô cùng nguy hiểm trong việc bảo vệ Sàigòn từ hướng bắc. Các cứ điểm quân sự quan trọng như An Lộc, Tống Lê Chân, Chơn Thành và Đôn Luân (Đồng Xoài) trở thành những "ốc đảo tiền đồn" trong khu vực do Bắc quân kiểm soát, hoàn toàn tùy thuộc vào các hoạt động tiếp tế bằng đường không. Nỗ lực tiếp tế cho tỉnh lỵ Phước Long bằng đường bộ phải đi vòng qua Ban Mê Thuột và khu vực hậu cứ to lớn của Mặt Trận B-2 ở Bù Đốp-Bù Gia Mập cách đây không đầy 30 km. Sư Đoàn 5 BB cố gắng nhiều lần giải tỏa Quốc Lộ 13 giữa Bầu Bàng và Chơn Thành cũng như mở rộng khu vực hoạt động xung quanh Chơn Thành nhưng không thành công.
Do đã kiệt sức trong cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972, các hoạt động quân sự chủ yếu của Bắc quân trước ngày ngưng bắn ở Quân Khu 3 là cắt đứt các trục lộ giao thông huyết mạch như Quốc Lộ 1 (Trảng Bàng, Trảng Bom), Quốc Lộ 20 (Dầu Giây), Quốc Lộ 13 (bắc Lái Thiêu, nam Chơn Thành), Quốc Lộ 15 (đoạn Long Thành-Bà Rịa) nhưng đến ngày 1 tháng 2 năm 1972 thì giao thông đã thông suốt. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn làm chủ các khu vực tranh chấp trong khi Bắc quân bị thiệt hại trên 2,000 chết và 41 bị bắt sống.
Sư Đoàn 5 BB với Bộ Chỉ Huy ở Lai Khê (ở tỉnh Bình Dương) thường có một trung đoàn ở Lai Khê làm trừ bị cho sư đoàn. Đầu năm 1973, Sư Đoàn 5 BB có Trung Đoàn 7 ở Phú Giáo và Trung Đoàn 9 ở thị xã Phước Long. Đơn vị này từng bị thiệt hại nặng nề sau trận đánh tại Lộc Ninh và An Lộc nên phải tái xây dựng lại.
Sư Đoàn 18 BB với Bộ Chỉ Huy ở Xuân Lộc (ở tỉnh Long Khánh) thường có một trung đoàn ở Xuân Lộc làm trừ bị cho sư đoàn, một trung đoàn ở Biên Hòa và trung đoàn còn lại ở phía nam tỉnh Bình Dương. Nguyên thủy là Sư Đoàn 10 BB, đơn vị chịu nhiều tổn thất nặng nề nên được đổi tên thành Sư Đoàn 18. Trong giai đoạn tướng Minh chỉ huy Quân Đoàn 3, đơn vị này thường bị xé lẻ, tăng cường liên miên cho Sư Đoàn 5 và 25 BB nên đơn vị thường bị kiệt sức vì tổn thất thường xuyên.
Sư Đoàn 25 BB với Bộ Chỉ Huy ở Củ Chi thường có một trung đoàn ở Củ Chi làm trừ bị cho sư đoàn, một trung đoàn ở Trảng Lớn, phía tây thị xã Tây Ninh và một trung đoàn trong khu vực tam giác Khiêm Hạnh-Dầu Tiếng-Bời Lời. Cũng tương tự như Sư Đoàn 18 BB trước đây khi còn mang số 10, Sư Đoàn 25 BB là một trong những sư đoàn bộ binh yếu kém nhất của Quân Lực VNCH.
Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân ở Quân Khu 3 đảm nhiệm phòng thủ An Lộc, Chơn Thành và các vị trí tiền đồn quan trọng như Tống Lê Chân và Đức Huệ.
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh là đơn vị trừ bị quân đoàn đóng ở Biên Hòa. Thành lập vào tháng 11 năm 1970 và bắt đầu hoạt động trong chiến dịch vượt biên sang Cam Bốt đầu năm 1971, đơn vị này có Bộ Chỉ Huy và Ban Tham Mưu Cơ Ðộng chỉ huy các chiến đoàn đặc nhiệm bộ binh và thiết kỵ của Quân Đoàn 3, chủ yếu là Thiết Đoàn 15 và 18 Kỵ Binh tùy theo tình hình chiến thuật đòi hỏi. Sau cái chết của Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh về thay thế không có khả năng chỉ huy cấp quân đoàn nên phạm nhiều sai lầm, cho thay đổi kế hoạch hành quân của vị tư lệnh tiền nhiệm, mất đi tính chủ động chiến trường cũng như bất đồng ý kiến với các tư lệnh chiến đấu dưới quyền.
Sau khi du học Hoa Kỳ tại Trường Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp ở Fort Leavenworth từ cuối năm 1971, Đại Tá Trần Quang Khôi về nắm lại Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ngày 7 tháng 11 năm 1973 và cho tái tổ chức lại đơn vị này thành đơn vị trừ bị xung kích của Quân Đoàn 3 với 3 chiến đoàn cơ động mang số 315, 318 và 322. Và lữ đoàn này chiến đấu theo kiểu binh chủng hợp thành (combined arms). Ngoài 3 đơn vị cơ hữu là Thiết Đoàn 15 và 18 Kỵ Binh và Thiết Đoàn 22 Chiến Xa, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh còn kiểm soát Liên Đoàn 33 BĐQ, Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh (với đại bác 155 ly), Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh (với đại bác 105 ly) và Tiểu Đoàn 302 Công Binh cùng một đại đội tiếp vận của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận/Quân Khu 3. Liên Đoàn 33 BĐQ cũng có một đại đội trinh sát và một pháo đội 105 ly cơ hữu. Ðại Tá Khôi cho cơ-giới hóa pháo binh 105 ly, dùng xe xích-sắt yểm trợ M-548 của thiết giáp. Mỗi chiến đoàn cơ động gồm có một chi đoàn chiến xa M-48, hai chi đoàn thiết vận xa M-113, một tiểu đoàn BĐQ và một đại đội công binh chiến đấu tùng thiết.
Trong cuộc họp tổng kết tình hình cuối năm 1972 tại Dinh Độc Lập, Tổng Thống Thiệu dự đoán Bắc quân sau những tổn thất nặng nề của cuộc tổng tấn công chiến lược Xuân-Hè 1972 sẽ không có khả năng mở các cuộc tấn công lớn trong năm 1973 và sẽ đợi đến năm 1976 khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon mãn nhiệm kỳ để thực hiện ý đồ này mà không sợ một sự trừng phạt khốc liệt như trong năm 1972. Hà Nội cũng biết được những hứa hẹn của Nixon với Thiệu trước khi ký kết hiệp định Paris do Thiệu hết sức lo lắng về việc quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam cùng với khả năng yểm trợ dồi dào trong khi các đơn vị chủ lực Bắc quân vẫn trú đóng tại Miền Nam chờ thời cơ tổng tấn công.
CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ÐÔNG
Ngày 6 tháng 3 năm 1973, Tổng Thống Thiệu họp với tư lệnh Quân Khu 3 và 4 cùng các tỉnh trưởng trong khu vực này để xác nhận vai trò quan trọng của hai quân khu này đến sự sống còn của Việt Nam Cộng Hòa. Trọng tâm của Việt Nam Cộng Hòa là xóa bỏ thế "da beo" ở Quân Khu 3 và 4, và nếu có điều kiện, tái chiếm lại các khu vực bị mất vào tay Cộng Sản trong cuộc tổng tấn công Xuân-Hè 1972.
Ở Quân Khu 3, quân đội Việt Nam Cộng Hòa cố xây dựng một tuyến phòng thủ Sàigòn về hướng bắc một cách hoàn chỉnh, đồng thời duy trì các cứ điểm tiền đồn chiến lược như Trị Tâm, Khiêm Hạnh, Tống Lê Chân, An Lộc, Chơn Thành, Chí Linh, Đôn Luân để kiểm soát và kềm chế các nỗ lực quân sự "dành dân lấn đất" của Bắc quân, và luôn cả khắc phục một phần nào về sự yếu kém trong hệ thống phòng thủ không có chiều sâu của chính mình.
Trong năm 1973, các mục tiêu chính của Mặt Trận B-2 gồm có :

Bảo vệ, củng cố các khu vực chiếm đóng ở Miền Đông-Nam Phần, xây dựng khu vực hậu cứ tiếp vận và huấn luyện rộng lớn dọc theo biên giới từ Bù Gia Mập (trong tỉnh Phước Long) đến Lò Gò (trong tỉnh Tây Ninh). Tái xây dựng lại các đại đơn vị chiến đấu chủ lực đã bị thiệt hại nặng nề, chỉ còn từ 30% quân số trở xuống, sau chiến dịch An Lộc năm 1972.
Mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược giữa Miền Đông-Nam Phần và khu vực Đồng Tháp rồi nối tiếp xuống U Minh theo 3 tuyến đường thủy: đường dọc biên giới Cam Bốt, đường nối Mỹ Tho-Bến Tre-Trà Vinh và đường thủy qua hai sông Tiền Giang và Hậu Giang và các kinh rạch.
Lấn chiếm hành lang biên giới phía tây sông Vàm Cỏ Đông để uy hiếp cứ điểm chiến lược Gò Dầu Hạ và gây áp lực lên tuyến phòng thủ Sàigòn từ phía tây và tây nam trong tỉnh Hậu Nghĩa dọc theo Sông Vàm Cỏ Đông, Quốc Lộ 1 và Quốc Lộ 22. Sư Đoàn 5 CSBV di chuyển vào tỉnh Svay Riêng của Cam Bốt để yểm trợ cho nổ lực này.
Duy trì áp lực lên hành lang vận chuyển dọc sông Sàigòn từ khu vực căn cứ địa Long Nguyên, Bời Lời và Hố Bò. Mục tiêu chính là Trị Tâm, Khiêm Hạnh, Trảng Bàng và Củ Chi. Loại bỏ vị trí tiền đồn chiến lược Tống Lê Chân.
Duy trì áp lực lên khu vực thị xã Tây Ninh và núi Bà Đen.
Cắt đứt Quốc Lộ 13 (đoạn An Lộc-Chơn Thành và Chơn Thành-Bầu Bàng), Quốc Lộ 14 (đoạn Chơn Thành-Bunard), Liên Tỉnh Lộ 1A (đoạn phi trường Sông Bé-căn cứ Phước Vĩnh) và duy trì áp lực lên hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũng như phía bắc tỉnh Bình Dương.
Sư Đoàn 7 và 9 CSBV đứng chân ở hai bên Quốc Lộ 13 đảm nhiệm công tác này.

Cùng với các hoạt động quân sự theo kiểu"giành dân, lấn đất" và thu mua lương thực được Bắc quân tiến hành ở Miền Tây trong khi ở Miền Đông Sư Đoàn 7 và 9 CSBV và các trung đoàn độc lập chủ lực của Mặt Trận B-2 duy trì áp lực lên tuyến giữa phòng thủ Sàigòn của VNCH trong các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Bình Dương để giam chân 3 sư đoàn chủ lực (5,18,25) và các liên đoàn BĐQ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở Quân Khu 3.
TỐNG LÊ CHÂN
Nguyên là trại dân sự chiến đấu Tonle Tchombe do Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ thiết lập tại giao điểm chiến lược của 2 trục đường giao thông liên lạc quan trọng của Bắc quân (một nối liền tỉnh Bình Long trong Chiến Khu D và Tây Ninh trong Chiến Khu C, và một nối liền khu vực căn cứ địa dọc biên giới Cam Bốt xuống khu vực mật khu Long Nguyên và Tam Giác Sắt) gần thượng nguồn sông Sàigòn, ngay biên giới hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long và cách An Lộc 15 km về hướng tây nam, căn cứ Tống Lê Chân được chuyển giao cho Quân Lực VNCH vào cuối năm 1970 và đơn vị dân sự chiến đấu người Stiêng nổi tiếng can trường trú đóng ở đây, về sau đơn vị này trở thành Tiểu Đoàn 92 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng (BÐQ-BP).
Trong cuộc tổng tấn công Xuân-Hè năm 1972, trước áp lực nặng của Bắc quân, Quân Đoàn 3 cho rút bỏ toàn bộ các căn cứ biên phòng dọc theo biên giới. Nhưng Thiếu Tá Lê Văn Ngôn, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Đoàn 92 BĐQ-BP xin giữ vững căn cứ, lo ngại sẽ bị phục kích tiêu diệt trên đường rút lui.
Tiểu Đoàn 92 BĐQ-BP đánh bại nhiều đợt tấn công của Bắc quân từ tháng Năm 1972 nên sau ngày ngưng bắn, căn cứ này trở thành một thách thức lớn như một tiền đồn lẻ loi bảo vệ phía tây thị xã An Lộc, nằm sâu trong khu vực rộng lớn do Bắc quân hoàn toàn kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho công tác vận chuyển liên lạc giữa Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B-2 ở thị xã Lộc Ninh và khu vực Chiến Khu C cũng như dự định thông thương hành lang vận chuyển chiến lược giữa Miền Đông và Miền Tây-Nam Phần qua khu vực Mỏ Vẹt và Đồng Tháp.
Từ tháng 3 năm 1973, quân Bắc Việt bắt đầu phong tỏa căn cứ dùng các thành phần của Trung Đoàn 201 độc lập và Trung Đoàn 271 của Sư Đoàn 9 CSBV cùng các đơn vị pháo binh, phòng không và đặc công thực hiện trên 300 đợt pháo kích với 13,000 đạn pháo, 11 đợt tấn công bộ binh và 9 đợt tấn công đặc công cho đến tháng 7 cùng năm. Lính BĐQ có 16 chết, 4 bị thương nặng cùng 192 bị thương nhẹ và bệnh tật trong khi Bắc quân để lại 86 xác cùng 10 vũ khí. 
 

Hiệp định đình chiến được ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, nhưng hòa bình vẫn không đến. Những tiền đồn gần biên giới như Tống Lê Chân vẫn thường xuyên bị Bắc Việt bao vây và tấn công mãnh liệt. Vì có lợi thế đóng quân trên đất Cam Bốt, nên Bắc Việt không ngần ngại xử dụng vương quốc này như một căn cứ để vừa ẩn náu và vừa tấn công. Tấm hình trên chụp vào năm 1973 khi quân đội Cam Bốt đang mở chiến dịch truy tầm quân Khmer Ðỏ ở gần Prek Dam. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Công tác tiếp tế tùy thuộc hoàn toàn vào đường không (Không Quân VNCH bay 3,000 phi vụ tiếp tế từ tháng 3 năm 1973 đến tháng 3 năm 1974) và hỏa lực phòng không ác liệt của Bắc quân khiến việc tải thương không thực hiện được trong khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa chỉ thu hồi được 1/3 kiện hàng tiếp tế thả xuống, còn lại đều rơi vào tay các đơn vị Bắc Việt tham gia nỗ lực phong tỏa. Ngoài 254 binh sĩ Biệt Ðộng Quân, còn có 4 lính Pháo Binh, 7 nhân viên phi hành trực thăng Không Quân 12 lao công đào binh bị kẹt lại trong căn cứ. Trong nỗ lực không-vận tiếp tế, hai trực thăng CH-47 Chinook đã bị tiêu diệt.
Tống Lê Chân trở thành mục tiêu chính cho Việt Nam Cộng Hòa về việc vi phạm ngừng bắn của Cộng Sản Bắc Việt nhưng được sự trợ giúp của 2 quốc gia đồng minh Cộng Sản trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngưng Bắn là Ba Lan và Hungary (Hung Gia Lợi) cùng các thủ đoạn ma mảnh tinh vi quen thuộc, Cộng Sản Bắc Việt đã gây nhiều khó khăn cho việc điều tra về cuộc phong tỏa dài nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Tống Lê Chân trở thành một biểu tượng về tinh thần chiến đấu can trường và sức bền bỉ chịu đựng phi thường của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến nhưng giai trò chính trị của cuộc phong tỏa ngày càng quan trọng hơn khi phía Việt Nam Cộng Hòa dùng việc này như một cơ hội tố cáo sự vi phạm trắng trợn hiệp định ngừng bắn của Cộng Sản Bắc Việt để xin thêm quân viện hay yêu cầu Hoa Kỳ dùng các biện pháp mạnh để trừng phạt.
Tháng 6 năm 1973, Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH cố giải tỏa Quốc Lộ 13 giữa Chơn Thành và Bầu Bàng với Trung Đoàn 7 từ Chơn Thành đánh xuống và Trung Đoàn 8 từ Bầu Bàng đánh lên nhưng thất bại. Tháng 9 năm 1973, sau khi Tiểu Đoàn 2/49 Bộ Binh VNCH bị thiệt hại nặng trong một trận phục kích ở giữa Khiêm Hạnh và Quốc Lộ 22, Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá về thay Chuẩn Tướng Lê Văn Tư chỉ huy Sư Đoàn 25 BB.
Trong giai đoạn này Bộ Chỉ Huy Mặt Trận B-2 qua hệ thống tình báo chiến lược gài trong hệ thống chỉ huy cao cấp của chính quyền và quân đội VNCH bắt đầu nắm rỏ các hoạch định quân sự của Sàigòn và tìm cách đối phó. Mặt Trận B-2 cho rút Trung Đoàn 367 Đặc Công đang hoạt động ở Phnom Penh, thủ đô Cam Bốt, từ sau cuộc đảo chính của Lon Nol đầu năm 1970 về Việt Nam, đổi tên thành Trung Đoàn 116 để chuẩn bị hoạt động trong khu vực Sàigòn, và cho thành lập Sư Đoàn 27 Đặc Công do Đại Tá Đặng Ngọc Sỉ chỉ huy với 7 trung đoàn đặc công và Đoàn 316 Đặc Công Nội Thành tổng cộng trên 6,000 cán binh đặc công nhiều kinh nghiệm hoạt động ngay trong khu vực thủ đô Sàigòn-Gia Định cũng như khu vực ven đô.
Trung Đoàn 115 và 119 hoạt động ở phía bắc Sàigòn. Ở hướng đông có Trung Đoàn 116 (Long Thành) và Trung Đoàn 10 (Rừng Sát). Trung Đoàn 113 và 117 hoạt động trong khu vực Biên Hòa và Bình Dương. Sư Đoàn 27 Đặc Công cũng chỉ huy Trung Đoàn 429 Đặc Công và đang thành lập thêm Trung Đoàn 118 mới hoạt động ở phía nam Sàigòn.
Trong tháng Mười năm 1973, Mặt Trận B-2 tổ chức đợt học tập Nghị Quyết 21 của Trung Ương Đảng CSVN cho các cán bộ quân sự cao cấp toàn mặt trận. Lo ngại trước các hoạt động xây dựng và chuẩn bị rầm rộ cho cuộc tổng tấn công sắp tới của CSBV từ khu vực do họ kiểm soát ở hướng bắc Sàigòn, Tổng Thống Thiệu ra lệnh mở chiến dịch không kích xuống khu vực Xa Mát, Lò Gò (Tây Ninh), Lộc Ninh (Bình Long), và Bố Đức (Phước Long). Không Quân VNCH đã bay gần 800 phi vụ oanh kích từ ngày 7 tháng 11 đến ngày 5 tháng 12 với lý do trả đũa việc Trung Đoàn 113 Đặc Công pháo kích vào phi trường Biên Hòa ngày 06/11, tiêu hủy 3 chiến đấu cơ F-5. Ngày 02/12 đặc công nước của Trung Đoàn 10 Đặc Công thành công trong việc xâm nhập và phá nổ kho xăng lớn nhất Miền Nam ở Nhà Bè, gây thiệt hại nặng nề không những về mặt kinh tế mà còn về mặt tâm lý khi viện trợ Hoa Kỳ bị cắt giảm trầm trọng, cuộc khủng hoảng kinh tế và năng lượng thế giới đang xảy ra và nạn lạm phát đang hoành hành.
Lo ngại Việt Nam Cộng Hòa sẽ mở cuộc hành quân tái chiếm thị xã Lộc Ninh, cứ điểm chiến lược quan trọng về cả quân sự lẩn chính trị, Hà Nội ra lệnh di chuyển một sư đoàn chủ lực về bảo vệ thị xã này. Nhưng sau đó Mặt Trận B-2 thay đổi kế hoạch. Biết được quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có đủ thực lực vừa bảo vệ Sàigòn vừa tấn công Lộc Ninh, Mặt Trận B-2 cho tổ chức phòng thủ Lộc Ninh với các đơn vị địa phương tại chỗ cùng Trung Đoàn 201 độc lập mới thành lập trong khi tập trung quân sẵn sàng tấn công qua tuyến giữa của Quân Khu 3 để uy hiếp Sàigòn và giam chân chủ-lực quân của Quân Lực VNCH.
Sau nhiều thất bại trong nỗ lực giải tỏa Quốc Lộ 13 phía bắc căn cứ Lai Khê và Bầu Bàng cũng như liên hệ với nạn tham nhũng đang hoành hành trong đơn vị, Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch được thay thế ở chức vụ tư lệnh Sư Đoàn 5 BB vào tháng 11 năm 1973 bằng Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh phó sư đoàn. Trong những tháng cuối năm 1973, Bắc quân gia tăng áp lực lên Liên Tỉnh Lộ 1A, pháo kích và tấn công phi trường Sông Bé và Đôn Luân (Đồng Xoài) cũng như cố giật sập cây cầu chiến lược qua sông Bé ở Phú Giáo và cắt đứt khu vực này với tỉnh lỵ Phú Cường.
TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ CUỐI NĂM 1973
Khi hiệp định ngưng bắn có hiệu lực vào đầu năm 1973, dù bị kiệt sức về lực sau chiến dịch Bình Long đẫm máu, quân Bắc Việt đã đạt được một thế đứng vững chắc ở Miền Đông-Nam Phần, tạo điều kiện cho Mặt Trận B-2 tái xây dựng lại lực lượng chiến đấu, củng cố và mở rộng khu vực căn cứ địa tiếp vận và huấn luyện cùng hệ thống đường giao thông liên lạc nối liền với mặt trận B-3 cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Thay vì các căn cứ biên phòng dọc theo biên giới Cam Bốt, tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ thủ đô Sàigòn của Quân Đoàn 3 nay chạy dài từ phía tây thị xã Tây Ninh đến Trị Tâm (Dầu Tiếng) rồi dọc theo sông Sàigòn xuống khu vực Tam Giác Sắt rồi dọc theo Quốc Lộ 13 lên đến khu vực Lai Khê-Bầu Bàng, rồi chạy ngang qua khu vực Phú Giáo-Phước Vĩnh (trong tỉnh Bình Dương), rồi dọc theo sông Bé và sông Đồng Nai đến Xuân Lộc (trong tỉnh Long Khánh). Mặc dầu Việt Nam Cộng Hòa vẫn duy trì được giao thông qua các trục đường huyết mạch như Quốc Lộ 1, Quốc Lộ 15,Quốc Lộ 20 và Quốc Lộ 22, giao thông bị cắt đứt ở Quốc Lộ 13 (bắc Bầu Bàng), Quốc Lộ 14 (đoạn Chơn Thành-Bunard) và Liên Tỉnh Lộ 2 (Xuân Lộc-Bà Rịa).
Trong tỉnh Hậu Nghĩa, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá tỉnh trưởng Tôn Thất Soạn, nguyên là lữ đoàn trưởng tài ba của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến cùng một số sĩ quan nhiều kinh nghiệm chiến đấu của binh chủng này về chỉ huy các tiểu đoàn Địa Phương Quân như Thiếu Tá Tôn Thất Trân, quân đội Việt Nam Cộng Hòa duy trì thế phòng thủ chủ động với các cứ điểm phòng thủ trong quận Đức Hòa và Đức Huệ dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, bảo vệ Sàigòn từ hướng tây.
Với việc kiểm soát một khu vực rộng lớn phía bắc Sàigòn chạy dài qua 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Long và Phước Long cũng như phía bắc của tỉnh Bình Dương, Cộng Sản Bắc Việt đã tự do xây dựng nổ lực chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công vào thủ đô Sàigòn từ nhiều hướng để kết thúc cuộc chiến. Sau chiến dịch Quảng Đức và nổ lực phong tỏa căn cứ Tống Lê Chân, Tổng Thống Thiệu tuyên bố chiến tranh đã trở lại và cho mở các cuộc không kích xuống khu vực căn cứ địa đang được mở rộng của CSBV ở phía bắc Sàigòn, chạy dài từ khu vực Bố Đức (Bù Đốp)-Bù Gia Mập (Phước Long) đến khu vực Lò Gò-Thiện Ngôn-Xa Mát-Katum (Tây Ninh).
Tương tự như ở Quân Khu 1 và 2, sau Nghị Quyết 21 của Trung Ương Đảng CSVN vào cuối năm 1973, Mặt Trận B-2 cho mở chiến dịch đột kích chiến lược trong năm 1974 ở Miền Đông-Nam Phần để hoàn chỉnh thế đứng vững chắc và duy trì áp lực lên thủ đô Sàigòn, chuẩn bị chờ thời cơ chiến lược để kết thúc cuộc chiến. Để chuẩn bị khai thông tuyến tiếp vận chiến lược hoạt động trong mọi thời tiết Đông Trường Sơn, Mặt Trận B-2 cho mở chiến dịch Quảng Đức cuối năm 1973 để lấy lại quyền chủ động chiến trường.

📎 HBVTS013|HBVTS014|HBVTS019
Đăng nhập để trả lời
0