Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Người đàn ông bí ẩn - Agatha Christie 🔒

37 trả lời, 7.675 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-10 13:06:22Ct.Ly>

 
Người đàn ông bí ẩn - Agatha Christie
 
Nguyên bản tiếng Anh: The Mysterious Mr Quinn
Dịch từ bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Librairie  de Champs Elysée
 
Dịch giả: Hải Nam - Thuỳ Dương
 
Truyện  Trinh thám
 
Mục Lục
 
Chương I - Ông Quinn xuất hiện
Chương II - Bóng đen bên cửa sổ
Chương III - Quán trọ " Belles anh Motley "
Chương IV - Bàn tay của Chúa
Chương V - Đêm ở Monte - carlo
Chương VI - Người đàn ông đến ti biển cả.
 
                                    Hết
 

 

Các bạn muốn tải về nhớ cài vào máy Microsoft Word 7, thì mới mở ra được


 
 
📎 AG1|AG2|AG3|AG4|AG5
0
Trang 22 đến trang 39
📎 AG13|AG14|AG15|AG16|AG17|AG18|AG19
0
Trang 40 đến trang 53
📎 AG20|AG21|AG22|AG23|AG24|AG25|AG26
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-30 20:27:44Ct.Ly>
Trang 54 đến trang 65
📎 AG27|AG27|AG28|AG29|AG30|AG31|AG32
0
Trang 66 đến trang 79
📎 AG33|AG34|AG35|AG36|AG37|AG38|AG39
0
Trang 80 đến trang 93
📎 AG40|AG41|AG42|AG43|AG44|AG45|AG46
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-30 20:40:50Ct.Ly>
Trang  94 đến trang  107
📎 AG47|AG48|AG49|AG50|AG51|AG52|AG53
0
Trang 108 đến trang 123
📎 AG54|AG56|AG57|AG58|AG59|AG60|AG61
0
Trang 124 đến trang 139
📎 AG62|AG63|AG64|AG65|AG66|AG67|AG68|AG69
0
Trang từ 140 đến trang 155


📎 AG70|AG71|AG72|AG73|AG74|AG75|AG76|AG77
0
Trang 156 đến trang 171
📎 AG78|AG79|AG80|AG81|AG82|AG83|AG84|AG85
0
Trang 172 đến trang 171
📎 AG78|AG79|AG80|AG81|AG82|AG83|AG84|AG85
0
Trang 172 đến trang 187
📎 AG86|AG87|AG88|AG89|AG90|AG91|AG92|AG93
0
Trang 188 đến trang 203
 
 
 
 
📎 AG94|AG95|AG96|AG97|AG98|AG99|AG100|AG101
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-30 21:28:47Ct.Ly>
Trang 204 đến 206

Hết
 
 
 
📎 AG102|AG103
0
Để mình tải về đọc đã , nếu thây hay thì mình cũng xin một xuất
Cuộc đời là một câu truyện! Bạn muốn câu truyện của bạn như thế nào ? Hãy tự mình sáng tác câu truyện của chính mình bạn nhé ...

Hậu Tinh Thần Biến: http://blog.360.yahoo.com/blog-bK3x.0s_bZnINFuFZ8s-?cq=1
0
 thôi chết máy mình không có cài Microsoft Word 7 ,
Cuộc đời là một câu truyện! Bạn muốn câu truyện của bạn như thế nào ? Hãy tự mình sáng tác câu truyện của chính mình bạn nhé ...

Hậu Tinh Thần Biến: http://blog.360.yahoo.com/blog-bK3x.0s_bZnINFuFZ8s-?cq=1
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-08 17:23:20Ct.Ly>
Meobeo88 đã nhận gõ

Ct.Ly ơi,mình nhận đánh từ trang 14 đến trang 178 nhé. Mình định thông báo trên topic nhưng máy mình bị chặn.

Nên bạn thông báo dùm để mọi ng có đánh thì đánh trang khác. Khỏi bị trùng lặp nhau.

Sau khi gõ xong thì meobeo cứ đăng ở trong topic này nhé
 
Chúc vui
0
Nghe réo, Mars vào đây coi coi có chuyện gì xảy ra hihih
 
Mars chuyển tất cả sang thành dạng PDF rồi, ai không có MS Word 2007 thì download PDF ở đây nhé
 
http://vnthuquan.net/user/mars/truyen/
 
Sau khi tác phẩm này đánh máy hòan tất thì Mars sẽ xóa đường dẫn này đi.
 
Chúc thành công.
Thân mến,
Mars

----------------------------------

0
[:)] Thanks bác Mars nhiều lắm. chứ ko em cứ phải download về máy công ty rồi hì hục chuyển sang Words 98-2000 rồi copy về nhà đánh cho dễ.
Ôm hôn bác Mars cái nhỉ, he he he he
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
chị Ly ui, nếu Meo đăng ký đánh máy đến trang 178 thì em nhận từ 178 đến hết nhé. [:D]
0
Vậy thì cảm ơn matmun nhiều hé
 
Có trang nào thiếu, thì nhớ hú lên, Ct.Ly sẽ tự đánh máy lên vậy
 
Chúc các hiệp sĩ...nội lực thâm hậu nhé
 
Chúc vui
0
Ct Ly ơi, hu hu hu, em ko gửi bài lên đc. làm sao đây, em gõ trong Words nhưng mà ko upload lên được. Heo mi! Heo mi!
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
Chào meobeo
 
Em đã gõ xong ở Word, thì cứ copy, rồibấm trả lời ở topic này, rồi dán vào
 
Thế là xong, nếu mà không làm được thì gửi qua email cho chị nhé
 
Chúc vui
0
Chương II:
BÓNG ĐEN BÊN CỬA SỔ
-          Mọi người nghe nhé!
Bà Cynthia Drage bắt đầu đọc mẩu tin trên báo, giọng sang sảng:
-          “Tuần này, ông bà Unkerton tổ chức tiệc tại lâu đài Greenways. Khách mời gồm có bà Cynthia Drage, ông bà Richard Scott, ngài sỹ quan Porter, ông bà Staverton, đại úy Allenson và ngài Satterthwaite”. Rốt cuộc là như thế nào đây? Ít nhất chúng ta cũng phải được biết là đang chờ đợi cái gì chứ. Chẳng lẽ chúng ta lại lãng phí thì giờ đến đây ngồi như thế này sao?
Bà ta đặt tờ báo lên bàn.
Satterthwaite. Vâng, đúng là Satterthwaite nổi tiếng- người cũng có tên trong danh sách khách mời của buổi tiệc đêm nay- lặng lẽ nhìn người đàn bà, dò xét. Người ta thường kháo nhau rằng, một khi ông Satterthwaite đồng ý tới dự tiệc cùng nhân vật có máu mặt thì chỉ có thể hoặc là món ăn ở đó đặc biệt hấp dẫn, hoặc là sẽ có một bi kịch nào đó xảy ra. Ông từng thú nhận rằng mình có một niềm đam mê đặc biệt đối với các vở kịch- dù là bi hay hài kịch đều cuốn hút người đàn ông nhỏ bé này.
Quý bà Cynthia với khuôn mặt khô cứng phủ một lớp trang điểm dày cộp, đong đưa cây dù hàng hiệu ngoắc trên đầu gối, quay phắt về phía người đang “chiếu tướng” mình:
-          Ngài đừng làm ra vẻ không hiểu gì hết. Các ngài đều biết rõ điều tôi muốn nói mà. Tôi dám cá  là chúng ta có mặt ở đây chỉ với một mục đích là tranh cãi kịch liệt với nhau thôi mà.
Satterthwaite vẫn tiếp tục quan sát người đàn bà. Ông không hiểu bà ta muốn nói gì cả.
-          Tôi muốn nói với các ngài về Richard Scott. Các ngài có dám quả quyết là chưa bao giờ nghe nói đến nhân vật này không?
-          Ồ không, chắc chắn rồi. Đó là một thợ săn kỳ cựu, phải không nào?
-          Đúng thế: “những con gấu bự và những con hổ khổng lồ...”như lời một bài hát vậy. Tôi có thể nghiêm chỉnh mà nói rằng dám vẻ của ông ta không thua gì một con sư tử cả. Lẽ dĩ nhiên, ông bà Unkerton hẳn phải thích mê khi mời được ông ta tới, và cô vợ nữa chứ! Một cô nhóc dễ thương- Ồ! Vâng, vô cùng dễ thương- nhưng chắc là giả nai thôi...Cô ta hình như mới đôi mươi thôi, vậy mà các ngài thử nghĩ xem, ông chồng ít nhất cũng phải bốn mươi lăm rồi.
-          Thực ra thì bà Scott có vẻ rất tinh tế - Satterthwaite chậm rãi.
-          Vâng, thật đáng thương.
-          Tại sao lại “đáng thương”?
Bà Cynthia ném về phía Satterthwaite cái nhìn trách móc. Không nao núng trước sự tấn công của ông già, bà tiếp tục quay lại với điểm mấu chốt của câu chuyện.
-          Porter lại là một chàng trai thẳng thăn, ít nói với nước da sạm màu sương gió. Anh ta không được bảnh bao như Richard Scott. Họ là những người bạn từ thuở ấu thơ. Tôi nhớ là họ cùng tham gia vào buổi đi săn đó...
-          Buổi đi săn nào chứ?
-          Buổi đi săn của bà Staverton. Chẳng lẽ ông chưa bao giờ nghe nói tới bà Staverton ư?
-          Rồi, tôi đã nghe nói về bà Staverton, Satterthwaite miễn cưỡng trả lời.
Cynthia nháy mắt với ông già:
-          Vâng đó là đặc tính của nhà Unkerton! Họ đã quá chán nản với cuộc sống xa hoa và những bữa tiệc hào nhoáng. Tại sao họ lại mời hai người đó đến cùng một lúc! Hiển nhiên là vợ chồng Unkerton biết được là bà Saverton rất ham săn bắn và du lịch, ham đến mức đã viết hẳn một cuốn sách về đề tài này...Và họ chẳng đi tìm ở đâu xa! Loại người như họ, chết nỗi lại chẳng hề có được một ý nghĩ đơn giản là ở đời luôn có nghững cái bẫy sẵn sàng giương ra trước mặt. Tôi khốn khổ với họ suốt cả năm vừa rồi, và chẳng ai có thể tưởng tượng được sự trấn ai mà tôi đã phải chịu đựng như thế nào đâu. Lúc nào cũng phải kè kè đi theo sau họ nhắc nhở: “Đừng làm thế, các ngài không thể làm như vậy được!”...Chúa ạ, may mà bây giờ tôi đã thoát được cái việc khổ sai ấy. Nhưng đừng nghĩ là chúng tôi cãi nhau nhé, ồ không! Tôi chẳng giận ai bao giờ hết. Tôi đã từng nói nhiều lần rồi, tôi có thể khoan dung cho những dung tục, tầm thường, nhưng không thể chịu nổi sự ti tiện!
Sau lời tuyên bố đầy ẩn ý, bà Cynthia đột ngột im lặng một lúc, chừng như đang nghiềm ngẫm về sự ti tiện mà bà ta gán cho gia đình nhà Unkerton.
-          Trong trường hợp này- Cynthia tiếp tục – Nếu họ hỏi ý kiến tôi, tôi sẽ khẳng định chắc chắn với họ rằng “Ông bà không thể mời bà Staverton cùng với vợ chồng Richard Scott. Mới đây chứ có xa xôi gì đấy, bà ta và ông Richard đã ...”.
Bà Cynthia đột ngột dừng lời.
-          Nhưng họ đã thực sự như thế sao?- Satterthwaite bắt đầu quan tâm đến câu chuyện.
-          Ông bạn của tôi ơi! Chuyện mười mươi rồi, ai mà chẳng biết. Ngài thử nghĩ về chuyến đi săn đó xem! Tôi thực sự ngạc nhiên là bà Staverton có thể dẽ dàng chấp nhận lời mời như vậy.
-          Có thể là bà ấy không biết là có những người khác cùng tham gia? Satterthwaite giả thuyết.
-          Nhưng có thể là bà ấy biết trước như vậy. Điều có vẻ hợp lý hơn
-          Vậy bà cho là...?
-          Bà Staverton là kiểu phụ nữ nguy hiểm, kiểu phụ nữ không biết lùi trước bất kỳ điều gì- tôi cho là thế. Tôi chẳng muốn ở địa vị của Richard Scott trong kỳ nghỉ cuối tuần này.
-          Thế vợ ông ta chẳng liên quan gì hết, phải không?
-          Chắc chắn rồi. Một tâm hồn đẹp như thế kia mà, nhưng rồi cô ấy sớm muộn cũng biết chuyện thôi. A! Jimmy Allenson kìa...Một chàng trai quyến rũ. Anh ta đã cứu tôi hồi mùa đông năm ngoái ở Ai Cập đấy: không có anh ta thì tôi đã phát điên vì buồn mất. Ê! Jimmy, đến đây coi nào!
Rất ngoan ngoãn, đại úy Allenson tiến lại gần Cynthia, ngồi bệt trên thảm cỏ. Đó là một gã trai cuốn hút chừng ba mươi tuổi với đôi hàm răng trắng bóng và nụ cười mê hoặc.
-          May mà còn có người nhận ra tôi- Anh ta cất tiếng. Vợ chồng nhà Scott thì âu yếm tỉ tê như những cặp tình nhân vừa biết yêu vậy, họ chẳng còn để ý đến ai nữa, còn Porter thì ngấu nghiến tờ Fied, và tôi thì phải tránh một nguy cơ chêt người: sự cô đơn của chủ nhân.
Nói đoạn Alleson phá lên cười, bà Cynthia cũng bắt chước theo. Còn Satterthwaite, ông vẫn giữ vẻ nghiêm túc, tỏ ra đạo mạo trước những trò ddiuuaf không mấy mặn mà của những người ngồi cạnh mình.
-          Jimmy đáng thương- Bà Cynthia tỏ vẻ đồng lòng.
-          Trong những trường hợp như vậy, tốt nhất là chào gia chủ rồi chuồn. Tôi cũng muốn tránh câu chuyện về bóng ma trong gia đình này.
-          Bóng ma Unkerton?- Cynthia ngạc nhiên- Chết cười mất thôi!
-          Không phải con ma Unkerton – Satterthwaite sửa lại, mà là bóng ma Greenways. Họ đã từng gặp khi mua ngôi nhà này.
-          Việc này tôi cũng biết- Cynthia tiếp lời- Nhưng họ chỉ nhìn thấy bóng người trên những tán cây sồi, đúng không. Tôi thì cho vấn đề là ở chỗ cái cửa sổ.
Jimmy ngẩng phắt lên.
-          Cửa sổ ư?
-          Ông Satterthwaite không trả lời. Từ phía Jimmy, ông nhìn thấy ba bóng người đang tiến về phía tòa nhà. Một phụ nữ mảnh dẻ được hộ tống bởi hai người đàn ông thoạt nhìn rất giống nhau: cao lớn, tóc hung, cặp mắt linh hoạt trên khuôn mặt sạm đen vì nắng. Nhưng khi họ lại gần hơn, những đường nét hao hao biến mất. Richard Scott, một thợ săn đồng thời là nhà thám hiểm có tiếng tỏ ra cực kỳ sung sức. Ở ông toát lên sự lôi cuốn thật kỳ lạ. Còn John Porter, bạn và cũng là người đồng hành trong những chuyến phiêu lưu của Richard lại dường như đối lập. Vóc người vuông vức, khuôn mặt bình thản với những đường nét cứng lại, đôi mắt xám đong đầy suy tư. Một mẫu người khép kín, luôn bằng lòng làm cái bóng bên cạnh bạn mình.
Giữa họ là Moira Scott, người phụ nữ mà chỉ ba tháng trước vẫn còn là cô Moira O’ Connell. Đó là một phụ nữ thân hình mảnh khảnh, cặp mắt màu hạt dẻ lộ rõ vẻ u sầu và mái tóc hung đỏ ôm gọn khuôn mặt nhỏ bé.
-          “Không thể làm tổn thương người phụ nữ bé nhỏ này được- Satterthwaite nhủ thầm- Thật tồi tệ nếu làm hại một đứa trẻ đáng thương nhường vậy”.
Để thu hút những vị khách mời, bà Cynthia huơ huơ cây dù mốt mới nhất của mình, giọng hồ hởi:
-          Ngồi đi, quí vị, và đừng ngắt lời nhé. Ngài Satterthwaite đang kể cho chúng tôi nghe chuyện ma.
-          Tôi rất thích nghe chuyện ma!- Moira Scott nói, rồi ngồi xuống vạt cỏ.
-          Mọi người đang nói về con ma ở lâu đìa Greenways House ư?- Richard Scott hỏi.
-          Vâng. Ngài biết huyền thoại đó ư?
Scott gật gù.
-          Ngày xưa, khi Elliot chưa phải bán nhà, tôi thường lui tới nghỉ ở đó. Ngài muốn nói về Cavalier aux Aguets phải không nào?
-          Cavalier aux Aguets – Bà vợ thì thào nhắc lại- Em rất thích nơi này. Câu chuyện có vẻ thú vị đấy. Kể cho chúng tôi nghe đi, ngài Satterthwaite!
Nhưng Satterthwaite dường như ghê sợ điều này. Ông cảnh báo Moira rằng câu chuyện này chẳng hay ho gì cả.
-          Thôi mà, Sattethwaite- Richard Scott châm chọc- Làm ơn đi, không thì vợ tôi chết vì tò mò mất.
Trước đám đông hiếu kỳ, ông Satterthwaite không còn cớ thoái lui.
-          Tôi khẳng định với các ngài rằng chuyện này không thú vị một chút nào hết. Các ngài có nhớ vào thời Charles Đệ nhất không, thời ấy người ta gọi quân của Đức vua là Kỵ binh, còn quân của Nghị viện là Đầu Tròn. Vâng! Câu chuyện của chúng ta kể về một kỵ binh anh hùng- Ông tổ của gia đình Elliot- đã bị người vợ phụ tình tằng tịu với một gã Đầu Tròn. Người chồng bị vợ và tình địch giết chết tại một trong những căn lầu ở trên cao. Sau đó, hai kẻ tội đồ bỏ trốn, nhưng trong khi trốn chạy, chúng quay đầu lại nhìn ngôi nhà, và chúng đã nhìn thấy gì qua cửa sổ căn phòng gây án? Gương mặt của người bị chúng giết đang lặng lẽ quan sát chúng. Huyền thoại chỉ đến thế thôi, còn về chuyện ma thì như thế này, lâu nay người ta vẫn đồn là ở một trong những khung cửa sổ có một cái gì đó rất bất thường mà không thể phân biệt nổi nếu như nhìn gần, nhưng nếu nhìn xa thì rõ mồn một là khuôn mặt của một người đàn ông đang nhìn chằm chằm kẻ đối diện.
-          Ô cửa sổ nào chứ? – Bà Scott ngẩng đầu nhìn về phía tòa nhà.
-          Chúng ta không thể nhìn thấy nếu ngồi ở đây- Satterthwaite trả lời. Nó nằm ở hướng khác. Nhưng dù sao thì tôi cũng tin là nó đã bị bít kín từ những năm bốn mươi rồi.
-          Tại sao phải bín kín lại? Không phải ngài nói rằng con ma chỉ ở yên một chỗ sao?
-          Đúng thế. Nhưng tôi nghĩ là người ta không còn mê tín nữa. Thế thôi.
Satterthwaite muốn kéo đám người hiếu kỳ sang một câu chuyện khác. Nhưng Jimmy Allenson lại tỏ vẻ thích thú với đề tài dị đoan.
-          Đích thị là bọn lường gạt- Anh ta lên tiếng- Tôi muốn nói bọn thầy bói ấy. Chúng chỉ nói dông dài về quá khứ của các ngài, còn tương lai thì chịu chết. Sợ liên lụy về sau mà.
-          Tôi lại nghĩ ngược lại- John Porter góp chuyện.
-          Tôi thì cho rằng thật không công bằng nếu phải dự đoán trước tương lai ở một đất nước như thế này, phải không nào?- Richard Scott ôn tồn- Tôi nhớ có lần Moira yêu cầu một người phụ nữ Bohemien nói cho cô ấy biết những điều tốt lành sẽ tới trong tương lai, nhưng rồi bà thầy đó đã trả lại tiền Moira và tuyên bố chẳng có gì để nói cả.
-          Có thể là bà ấy đã nhìn ra điều gì đó thật khủng khiếp nên không muốn nói ra cho em biết thì sao?- Moira tiếp lời chồng.
-          Ông bà Scott thật ủy mị quá- Allenson cất giọng khè khè- Tôi thì tôi dứt khoát không tin vào số phận, nó chẳng làm gì được mình hết.
“ Mình tự hỏi- Satterthwaite lẩm bẩm- Mình tự hỏi...”
Bóng hai người phụ nữ bỗng đập vào mắt ông: một người thấp nhỏ, tóc đen, trông vẹo vọ trong chiếc váy mầu xanh ngọc rõ ràng là không hợp chút nào, người kia cao gầy, mặc y phục mầu kem. Ba thấp nhỏ chính là chủ nhân của tòa nhà đang gây tranh luận, bà Unkerton, người còn lại chắc hẳn là người mà ông từng nghe nói rất nhiều mà chưa từng được gặp.
-          Đây là bà Staverton- Bà Unkerton giới thiệu giọng ra chiều thỏa mãn- mọi người biết nhau cả chứ?
-          Loại người như thế này luôn có khả năng phi thường khi nói ra những điều không nên nói- Bà Cynthia thì thầm.
Nhưng ông Satterthwaite lúc này đang bận quan sát bà Staverton nên chẳng hưởng ứng gì hết.
Thật thoải mái và tự nhiên, người đàn bà ấy ném ra một ngữ điệu hết sức thư thái:
-          Chào Richard! Có dễ đến mấy thế kỷ rồi chúng ta không gặp nhau ấy nhỉ. Rất tiếc là tôi không đến dự đám cưới được. Vợ ngài đây phải không? Cô bạn đáng thương của tôi ơi, rồi cô sẽ chán ngấy khi gặp phải tất cả những bà bạn già khô cứng của chồng mình cho mà xem.
Moira rụt rè đáp lại câu gì đó. Người đàn bà liếc xéo rồi quay ngoắt sang phía khác.
-          Ô, Chào John!
Cũng vẫn kiểu giọng khoan thai như vậy, nhưng người ta có thể cảm nhận ở đó vẻ nồng nhiệt hơn.
Rồi cũng bất chợt, bà ta mỉm cười. Quả đúng là một con tắc kè. Bà Cynthia thật có lý. Một người đàn bà nguy hiểm! Tóc vàng óng... cặp mắt xanh sâu thẳm- không có gì khác ngoài mẫu phụ nữ cổ điển quyến rũ- một gương mặt trông có vẻ thống thiết, giọng kéo dài ra và nụ cười thì nhuốm màu chịu đựng. Thật lạ lùng.
Iris Staverton ngồi xuống thảm cỏ. Va lập tức, bà ta nhanh chóng trở thành nhân vật trung tâm của nhóm. Người ta có thể cảm nhận có lẽ ở bất kỳ một cuộc hội ngộ nào, bà ta cũng nổi bật như thế.
Lời đề nghị đi dạo vòng quanh tòa nhà của sĩ quan Porter kéo Satterwaite ra khỏi những luồng suy ngẫm. Mặc dù không thích dạo bộ chút nào với đôi chân già nua, ông lão vẫn chấp nhận lời đề nghị. Hai người đàn ông uể oải đứng lên.
-          Thật cuốn hút! câu chuyện ngài vừa kể ấy mà- Viên sĩ quan bắt chuyện.
-          Tôi sẽ chỉ cho anh thấy ô cửa sổ đó- Satterthwaite chậm rãi.
Hai người đi vòng quanh tòa nhà và dừng lại trước một khu vườn nhỏ xây theo kiểu Pháp mà người ta vẫn thường quen gọi là khu vườn Bí Mật. Thật xứng đáng với tên gọi, khu vườn bị rào kín bởi những bụi cây nhựa ruồi. Lối vào thiết kế theo hình chữ chi và cũng được bảo vệ khỏi những cặp mắt tò mò bằng hàng rào nhựa rồi lá sắc tua tủa.
Trong vườn rải rác những bồn hoa, những con đường nhỏ lát đá và một chiếc ghế băng làm bằng đá phiến được chạm trổ khá tinh tế. Tất cả tạo nên một không gian quyến rũ, song hoang vắng như một người đẹp bị bỏ quên lâu ngày. Từ giữa vườn, Satterthwaite dẫn Porter hướng về phía ngôi nhà và leo lên tầng hai. Mặt tiền tòa nhà Greenways House nằm ở mạn Đông Nam. Một chiếc cửa sổ với những ô kính cáu bẩn bị đám dây thường xuân che khuất. Không có gì khác hơn ở chiếc cửa sổ đã bị kết tội này.
-          Nó đấy- Satterthwaite lên tiếng.
Porter nhíu mày;
-          Hừm...tôi thấy chẳng có gì ngoài vết phai màu trên tấm kính.
-          Chúng ta ở gần quá, phải ở chỗ cao một chút. Vào trong rừng, ở dó có một bãi trống có thể nhìn thấy rất rõ.
Hai người đàn ông nhanh chóng rời khỏi khu vườn Bí Mật, rẽ phải đi về phía khu rừng trước mặt. Ở vai trò người dẫn đường, Satterthwaite vẫn không bỏ qua dáng vẻ vừa lơ đễnh, vừa như lo lắng của người đồng hành.
-          Thực ra người ta đã trổ một chiếc cửa sổ khác khi cửa sổ phía Tây bị kết tội là có ma. Cửa sổ mới quay về phía Nam, trông ra bãi cỏ, nơi chúng ta đứng hồi nãy đó. Ông bà Scott, là tôi nghĩ thế, đã ở đúng căn phòng ám ảnh đó: chính vì vậy mà tôi không muốn nói nhiều về vụ ma quỷ. Có thể bà Scott sẽ bị căng thẳng khi nghĩ rằng mình vẫn thường ngủ trong cái gọi là căn phòng có ma.
-          Vâng, tôi hiểu chứ.
Satterthwaite liếc nhìn Porter và nhận ra y không hề nghe ông nói gì hết.
-          Thật thú vị- Viên sĩ quan nói tiếp.
Đôi lông mày nhíu lại, y giơ cây gậy quật vào đám cây dương địa hoàng màu tía mọc cao quá đầu người.
-          Đáng lẽ cô ấy đừng đến- Porter lẩm bẩm- Đáng lẽ nàng đừng đến.
Satterthwaite vẫn luôn tin vào cảm nhận của mình. Ông đã nhìn ra ở người này vẻ gì đó kỳ kỳ. Quả vậy.
-          Không- Porter nhắc lại- Đáng lẽ nàng đừng đến mới phải.
Thốt nhiên, Satterthwaite hiểu rằng người mà viên sĩ quan đang nhắc tới không phải là bà Scott.
-          Anh chắc vậy chứ?-Ông hỏi.
Porter gật đầu, tựa như đang chìm đắm vào một linh cảm nào đó.
-          Tôi có tham gia vào cuộc đi săn nổi tiếng đó- Porter chậm rãi- Cả đoàn có ba người: Scott, Iris và tôi. Đó là một người phụ nữ tuyệt vời...và một tay súng cừ. Mà ai lại mời cô ấy đi cơ chứ?
-          Chịu thôi!- Satterthwaite nhún vai.
-          Có một vụ ẩu đả, chúng tôi thoạt đầu đứng ngoài theo dõi sau đó quyết định can thiệp cho yên chuyện.
-          Nhưng cô Staverton thực sự...?
-          Tôi nói về Scott cơ. Ông thử nghĩ xem bà Scott ấy mà...
 
Satterthwaite đã tới nhân vật này ngay từ đầu, nhưng ông tránh không nói ra, và rồi thì viên sĩ quan cũng nhắc tới cô ta.
-          Scott quen với vị hôn thê trong trường hợp nào? Ông hỏi.
-          Ở Cairo, mùa đông năm ngoái. Một vụ áp phe hết sức mau lẹ. Họ đính hôn sau ba tuần quen nhau, và sáu tuần sau thì cưới.
-          Tôi thấy cô ấy có vẻ quyến rũ đấy chứ?
-          Tôi hoàn toàn đồng ý với ông về điều này. Hơn thế Scott cũng rất yêu vợ mình, song cũng chẳng thay đổi được gì cả.
Nói đoạn, Porter lại như chìm vào hoang tưởng, lẩm bẩm nhắc lại một cái họ chẳng rõ là của người nào.
-          Crémon, lý ra cô ấy không đến mới phải.
Hai người đã trèo lên đến đỉnh một ngọn đồi nhỏ nằm không xa toàn nhà bao nhiêu. Vẫn tự hào với vai trò dẫn đường, ông Satterthwaite chỉ tay về phí dưới:
-          Nhìn kìa.
Chiều xuống rất nhanh, song vẫn có thể nhìn thấy rất rõ chiếc cửa sổ ấy. Trên một ô cửa kính bỗng hiện lên khuôn mặt của một người đàn ông đội trên đầu một chiếc mũ lông đúng kiểu kỵ binh ngày xưa.
-          Thật kỳ lạ, Porter thốt lên. Vâng, quả là kỳ lạ. Điều gì sẽ xảy ra nếu ô cửa này bị vỡ?
Satterthwaite cười:
-          Đó là một trong những điểm thú vị nhất của câu chuyện. Theo như tôi biết thì ô kính này đã được thay ít nhất là mười một lần, thậm chí nhiều hơn thế. Lần cuối cùng là cách đây mười hai năm, khi chủ nhân của tòa nhà thời đó quyết định chấm dứt mọi bí mật. Nhưng rồi kết quả vẫn vậy. Cái lớp vật chất mang hình người ấy lại xuất hiện. Không phải ngay tức thì mà dần dần. Thông thường là từ một đến hai tháng.
Lần đầu tiên, Porter tỏ ra thật sự phấn khích. Anh ta bỗng rùng mình:
-          Dẫu sao cũng có những hiện tượng vô cùng kỳ lạ mà ta không thể giải thích được. Nhưng tại sao người ta lại “kết tội” cái cửa sổ đó?
-          Người ta quả quyết rằng đó là căn phòng bất hạnh. Vợ chồng Evesham đã từng ở đó cho tới khi ly dị nhau. Rồi khi Stanley bỏ trốn với cô gái nhảy, ông ta cũng đang lưu lại Greenways House. Điều lạ là hị cùng ở đúng căn phòng đó.
Porter nhíu mày:
-          Tôi cũng biết thế. Vậy ra sự nguy hiểm đôi khi cũng được báo trước sao?
“ Và bây giờ đên lượt vợ chồng Scott sở hữu căn phòng..., Satterthwaite thầm nghĩ, mình tự hỏi...”
Trong yên lặng, hai người đàn ông xuống đồi, hướng về phiá ngôi nhà. Có lẽ là họ bước quá
êm, mỗi người lại đang chìm đắm vào những suy tư riêng nên vô tình họ đã trở thành những “ tên mật thám” chuyên nghe lén, dù không muốn thế.
Bước tới gần bụi nhựa ruồi, họ chợt nghe thấy một giọng nói cất lên thật rõ ràng và quyết liệt từ bên trong khu vườn Bí Mật, giọng nói của Iris Staverton.
-          Anh sẽ phải hối tiếc vì điều đó! Thật đấy, anh sẽ phải hối tiếc!
Tiếng đàn ông trả lời nghe thì thầm và ngập ngừng. Rõ là tiếng Scott, song họ không thể nghe được ông ta đang nói gì. Rồi giọng đàn bà lại cất lên lảnh lót, mà tấn sau này họ vẫn không tài nào quên được.
-          Ghen tuông sẽ nhấn chìm tất cả...Thật kinh khủng! Nó có thể đấy ai đó tới cái chết. Hãy nhớ lấy Richard. Ôi ơn chúa, hãy nhớ lấy!
Nói đoạn, người đàn bà rời khỏi khu vườn Bí Mật, đi vụt qua hai người đàn ông mà không hề để ý gì, rồi biến mất bên hông tòa nhà. Cô ta đi như chạy, như một con thú bị dồn đuổi vậy.
Satterthwaite chợt nhớ lại những lời nhận xét của bà Cynthia: “Một phụ nữ nguy hiểm”. Lần đầu tiên, ông linh cảm mình sắp phải tham dự vào một thảm kịch khủng khiếp, một thảm họa không thể tránh khỏi.
Nhưng tối hôm đó, ông lại thấy xấu hổ vì sự lo xa của mình. Không khí buổi tiệc vẫn hết sức bình thường, thậm chí dễ chịu là đằng khác. Staverton chẳng hề có biểu hiện căng thẳng nào hết. Còn Moira Scott thì vẫn thế, tự nhiên và quyến rũ. Hai người đàn bà tỏ ra khá hợp chuyện với nhau. Còn Richard Scott cũng sôi nổi không kém.
Người có vẻ phiền muộn nhất trong tất cả, lại là bà chủ nhà to béo Unkerton. Rốt cuộc, bà ta cũng thổ lộ với ông Satterthwaite:
-          Tôi cứ cảm thấy có cái gì đó làm lạnh cả sống lưng. Nếu đúng như tất cả những gì ông nói thì tôi sẽ cho người đi tìm một thợ lắp kính mà không cho ông Ned nhà tôi biết.
-          Thợ kính ư?
-          Để thay các kính trên cửa sổ. Ned cứ khẳng định với tôi là những ô kính cũ rất hợp với ngôi nhà, nhưng tôi không hài lòng tẹo nào. Tôi nói thật đấy. Tôi muốn có những ô kính thật đẹp, thật hiện đại để loại bỏ mọi điều tiếng khó chịu đi.
-          Nhưng bà quên mất một chi tiết- Satterthwaite nói- hoặc có thể là họ không nói cho bà biết một chi tiết, là lớp vật chất ấy luôn xuất hiện trở lại.
-          Có thể thế sao- Bà Unkerton kinh ngạc- nếu vậy thì quả là có điều bất thường ở đây.
Ông Satterthwaite nhíu mày không trả lời. Bà Unkerton tiếp tục với vẻ chán nản.
-          Vậy thì có thể làm gì được nếu nó xuất hiện trở lại? Chúng tôi cũng chưa đên nỗi cháy túi. Tôi và Ned có thể cho thay kính mỗi tháng một lần, thậm chí là mỗi tuần một lần, nếu cần!
Satterthwaite vẫn không thể góp một lời khuyên nào cho bà chủ nhà.
Ông không tin rằng có thể giải quyết được vấn đề, có thể đuổi bóng ma ám ảnh ấy, dù đó là một kỵ binh đã sống ở vài thế kỷ trước. Tuy vậy, ông lại cảm thấy sự bất an trong bà Unkerton là điều thu hút ông hơn hết. Ngay cả khi bà ta không để ý gì tới không khí căng thẳng xung quanh mình. Bà chỉ lo đối phó với bóng ma mà bỏ qua những xung đột ngấm ngầm giữa đám khách mời của buổi tiệc tối nay.
Nhưng chỉ vài phút sau Satterthwaite lại quên béng câu chuyện của bà chủ nhà khi ông tình cờ nghe được một mẩu đối thoại khác. Trở về phòng qua lối cầu thang chính, Satterthwaite bỗng nhìn thấy John Porter và Staverton ngồi đối diện nhau khuất trong hộc kê giường ở phòng lớn. Vẫn chất giọng khó trộn lẫn, song có vẻ kích động hơn, Iris tuyên bố:
-          Tôi không hề nghĩ là gia đình Scott cũng tới đây. Nếu biết trước thì tôi đã ở nhà. Nhưng giờ thì khác, tôi đã ở đây, John ạ, và đừng hi vọng là tôi sẽ cuốn gói đi nhé...
Satterthwaite tiếp tục trèo lên lầu, không ngừng thắc mắc “sự thật của câu chuyện là như thế nào? Và rồi điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?...”
Tinh mơ hôm sau, Satterthwaite tỉnh giấc. Và ông tự hỏi liệu tối hôm qua mình có thả trí tưởng tượng đi quá xa hay không. Rõ ràng là chẳng có gì xảy ra hết. Một chút căng thẳng... đúng vậy, song mọi thứ lại trở về trạng thái bình thường. Nỗi lo lằng về một thảm họa đang rình rập của ông có lẽ chẳng có căn cứ nào hết. Chắc là tại mình suy nghĩ nhiều quá thôi. Nay mai mình phải tính chuyện đi nghỉ xả hơi mới được.
Một ngày bình lặng trôi qua. Khi hoàng hôn xuống, Satterthwaite chợt nảy ra ý định đi dạo một vòng, ông tính rủ Porter cùng đi tới vạt rừng trống, tiện thể xem bà Unkerton đã thay kính cửa sổ như đã hứa hay chưa. Chẳng hiểu sao ống thấy như có cái gì thôi thúc mình vậy.
Hai người đàn ông vước chậm rãi theo bìa rừng, Porter, như thông lệ, vẫn tỏ ra trầm mặc, và Satterthwaite lại phải đóng vai kẻ nhiều lời:
-          Tôi cứ băn khoăn không hiểu chúng ta có lo xa quá không. Hôm qua ấy mà… anh với tôi đã từng tiên đoán về một thảm hoạ…Nhưng anh thấy đấy, sau hết thảy, mọi ngwif lại tự kiềm chế, họ biết kìm nén tình cảm của mình.
-          Có thể- Porter ngập ngừng- Những con người văn minh, vâng.
-          Có nghĩa là…?
-          Đôi khi con người bị cách ly trong một thời gian dài khỏi thế giới văn minh, người ta sẽ dễ dàng quay lại bản năng nguyên thuỷ, giống như bị thụt lùi vậy.
Họ cùng trèo lên mô đất nhỏ, Satterthwaite mệt muốn đứt hơi. Trước giờ ông chúa ghét đi bộ kiểu như thế này.
Ông đưa mắt về phía ô cửa sổ. Gương mặt bí ẩn xuất hiện ở đó, rõ mồn một.
-          Có lẽ chủ nhà đã thay đổi ý định.
Porter cũng chăm chú nhìn về hướng ngôi nhà.
-          Chắc là ông Unkerton đã ngăn bà nhà- Người đàn ông dửng dưng đáp- Ông ấy là một người quyết đoán. Mà biết đâu chính bóng ma ấy lại khiến ông ta tự hào thì sao. Những toà nhà khác làm gì có chuyện lạ như thế?
Vẻ như đã nói quá nhiều, Porter lại im bặt, đưa mắt nhìn mông lung những bụi cây nhỏ bao quanh ngôi nhà.
-          Ông có bao giờ nghĩ rằng nền văn minh là một mối nguy hại hay không?- Porter quay sang Satterthwaite.
-          Nguy hại ư?
Satterthwaite thực sự bị thu hút bởi những ý tưởng mới mẻ từ Porter.
-          Vâng- Porter khẳng định- Bởi vì càng văn minh, con người càng cảm thấy mất an toàn.
Nói đoạn, Porter đột ngột quay gót, Hai người đàn ông theo lối cũ quay về.
-          Phải thú thật kà tôi không hiểu anh muốn nói gì- Satterthwaite vừa nói vừa gắng buớc bắt kịp người đồng hành.
Một nụ cười hiếm hoi trên gương mặt Porter. Anh ta nhìn chăm chú bào ông già đang hấp tấp đi bên cạnh.
-          Ông nghĩ rằng tôi đang nói chuyện tầm phào phải không? Ông cũng biết là con người có khả năng đoán trước một trận bão sắp xảy ra. Họ cảm nhận đựoc “mùi bão” từ trong gió. Cũng như vậy, có người lại đoán được điềm gở, ngài Satterthwaite ạ…mà phải noóilà thảm hoạ mới đúng. Có thể nó sẽ xảy ra trong chốc lát nữa, chưa biết chừng…
Porter đột ngột dừng lại, níu lấy tay Satterthwaite. Và bất chợt, trong giây phút im lặng nặng nề ấy, điều đó đã xảy ra: hai phát súng vang lên , rồi tiếng thét- tiếng thét đàn bà.
-          Ôi! chúa ơi!- Porter kêu lên- Vậy là «nó» đã xảy ra!
Anh ta chạy thẳng về hướng tiếng súng, theo sau là ông Satterthwaite luýnh quýnh. Vừa tới bãi cỏ ngay sát hàng rào của khu vườn Bí Mật, họ đụng phải Richard Scott và ông Unkerton cũng vừa chạy tới từ bên hông toà nhà. Bông người đàn ông dừng lại, mặt đối mặt trước cổng khu vường Bí ẩn.
-          Nó…nó phát ra từ chỗ này- ông Unkerton mặt tái mét, chỉ tay vào trong vườn.
-          Chúng ta vào xem sao- Porter quyết liệt, rồi vượt qua hàng rào. Tơiư cuối lối mòn hình chữ chi,người đàn ông khựng lại. Ông Satterthwaite đi ngay sau lưng Porter. Và một tiếng kêu thảng thốt thoát ra từ phía Richard Scott.
Có cả thảy ba người trong khu vườn Bí Mật- Hai người trong số họ- một đàn ông và một đàn bà- nằm sõng soài trên thảm cỏ, sát cạnh chiếc ghế băng làm bằng đá.Nhân vật còn lại đứng cạnh hàng nhựa ruồi, đôi mắt mở to, gắn chặt vào hai kẻ đang rên rỉ dưới đất. Không ai khác ngoài quý cô Staverton, trên tay phải đang lăm lăm một vật gì đó.
-          Iris!- Porter kêu to- Iris, chúa ơi! Cái gì trên tay cô thế?
Người đàn bà chăm chú nhìn vào vật trên tay mình. Đôi mắt cô ta lộ rõ vẻ ngạc nhiên:
-          Một khẩu súng lục- Satterthwaite sững sờ.
Rồi sau vài giây mà ngỡ như cả thế kỷ, cô ta lên tiếng.
-          Tôi…tôi đã nhặt được.
Satterthwaite tiến lại gần Unkerton và Scott. Họ gần như quỳ sụp xuống bãi cỏ, chưa hết bàng hoàng.
-          Bác sỹ- Scott thầm thì. Gọi bác sỹ ngay.
Nhưng đã quá muộn, Jimmy Allenson- chàng trai trẻ đã từng phàn nàn về những gã thầy bói đã không chịu đoán trước tương lai- và Moira Scott- người mới hôm qua kể chuyện về một phụ nữ Bohemien từ chối không nói vận mệnh của mình- cả hai đã đi vào cõi vĩnh hằng.
Richard Scott yêu cầu khám nghiệm tử thi. Trong thời khắc này, ông ta lại là người tỏ ra bình tĩnh nhất, cài đặt mọi viêcj. Sau tiếng kêu tuyệt vọng không thể kìm nén, Richard lại trở về với đúng tính cách của một người đàn ông đầy bản lĩnh.
Ông nhẹ nhàng kiểm tra thi thể vợ mình.
-          Cô ấy bị bắn vào lưng- Giọng Richard khô khốc- Viên đạn đã trở ra đằng trước.
Ông ta quay lại nhìn Jimmy Allenson. Chàng trai này bị bắn vào ngực, viên đạn vẫn còn nằm bên trong.
John Porter tiến lại gần :
-          Không nên động bào bất cứ thứ gì. Chúng ta hãy giữ nguyên hiện trường chờ cảnh sát tới.
-          Cảnh sát!- Richard Scott máy móc nhắc lại.
Một ánh lửa chợt nghán lên trong đôi mắt của ông ta khi nhìn sang người đàn bà đứng bát độn bên hàng roà. Richard dợm bước tới gần Staverton, song John Porter đã kịp thời ngăn lại. Hai người bạn nhìn thẳng vào nhau, không nói.
Vài phút qua đi, rồi Porter chậm rãi.
-Không, Richard ạ- Chứng cứ ở hiện trường có thể bất lợi cho cô ta. Nhưng anh nhầm rồi.
Richard Scott liếm môi, khó nhọc:
-          Vậy thì tại sao cô ta lại cầm súng trên tay?
Iris Staverton giương cặp mắt trống rỗng nhìn vào hư không.
-          Tôi nhặt được mà!
Unkerton đứng dậy:
-          Cảnh sát…Phải gọi ngay cảnh sát tới. Ông có muốn điện thoại cho họ không, Scott? Tốt hơn là có một người ở lại đây canh chừng, vâng, phải có một người ở lại đây.
Với vẻ bình thản và nhã nhặn cố hữu, Satterthwaite đề nghị được ở lảitông hiện trường. Chủ nhà, sau một giây do dự, gật đầu đồng ý.
-          Tôi phải thông báo thảm kịch này. Làm sao đẻ nói cho bà Cindy và vợ tôi biết tin dữ đây?
Lần đầu tiên kể từ lúc có mặt trong khu vườn bí ẩn, ông Satterthwaite đưa mắt lặng ngắm cái xác bất động của Moira Scott:
“Tội nghiệp cô bé, Satterthwaite lẩm bẩm. Tội nghiệp…”
Như thể ông đang nguyện cầu cho những số phận đã ra đi bỏ lại nỗi đau trần thế. Nỗi đau do những người thân “ban tặng”. Bởi vì ở một khía cạnh nào đó, chả lẽ Richard Scott không có trách nhiệm gì trước cái chết của vợ mình hay sao? Thực tế, rất có thể Iris Staverton sẽ phải vào tù, nhưng không có nghĩa là Scott vô can. Nỗi đau do những người đàn ông gây ra…và người phụ nữ trẻ, vô tội, phải hứng chịu.
Tim Satterthwaite dường như bị bóp nghẹt lại vì thương cảm, ông chăm chú quan sát người đàn bà. Gương mặt thanh tú, trắng trẻo và u sầu. Nụ cười ngập ngừng vẫn còn đọng trên khoé môi. Mái đóc bù xù, vài giọt máu đã đông lại bên tai phải. Với bản năng của một nhà thám tử, Satterthwaite ngờ rằng người đàn bà xấu số đã bị văng chiếc khuyên tai khi ngã xuống. Và ông đã đoán đúng, chiếc khuyên bên trái vẫn còn.
“ Tội nghiệp, tội nghiệp cô bé”.
*
-          Đến lượt ông- Thanh tra Winkfield nói.
Mọi người đều tề tựu trong thư viện. Viên thanh tra quãng bốn mươi tuổi tỏ vẻ xốc vác cà mưu mẹo đang lấy lời khai của những nhân chứng cuối cùng. Winkfield đã hỏi hầu như khắp lượt các khách mời và đã có một phác hoạ tương đối rõ ràng về vụ án mạng. Bây giờ đến phiên đại uý Porter và ông Satterthwaite. Unkerton ngồi thu mình trong phôtơi, hai mắt trống rỗng nhìn lên bức tường trước mặt.
-          Nếu như tôi không nhầm, thưa hai ông- viên thanh tra nói- sau khi đi dạo, hai ông quay trở lại lâu đài theo đường mòn phía bên tay trái của khu vườn Bí mật, phải không nào?
-          Đúng vậy, thưa ngài thanh tra.
-          Và hai ông nghe thấy hai phát súng, sau đó là tiếng kêu của một phụ nữ?
-          Vâng.
-          Thế là hai ông chạy ra khỏi rừng, sau đó hướng thẳng tới lối vào vườn Bí mật. Nếu có kẻ nào đó vừa chạy thoát khỏi hiện trường, chắc chắn hắn phải đi theo lối này, bởi vì không thể nhảy qua hàng rào nhựa ruồi được. Và nếu như gã này rẽ về hướng phải, hắn sẽ bị ông Unkerton và ông Scott tóm được, còn rẽ về phía trái thì tôi cam đoan là hai ông phải nhìn thấy hắn? Đúng thế chứ?
Mặt đại uý Porter tái mét :
-          Chính xác.
-          Tôi có chút thắc mắc thế này- Viên thanh tra tiếp tục- Ông Scott lại đang ở phòng bida cùng với bà Cindy. Cô Staverton rời khỏi toà nhà lúc mười sáu giờ mười phút, nói vài câu với họ rồi đi về phía khu vườn Bí Mật. Hai phút sau, mọi ngườiđều nghe thấy tiếng súng nổ. Như tên bắn, ông Scott từ phòng bida phóng thẳng tới theo hướng đối diện với ông…ừm…Satterthwaite, vâng. Cô Staverton đang ở trong Vườn Bí mật, trên tay là khẩu súng vừa nã hai phát đạn. Theo tôi, cô ta đã bắn phát súng đầu tiên vào lưng nạn nhân nữ khiến bà này ngã xuống chiếc ghế băng. Đại uý Allenson lập tức nhảy tới bên nạn nhân, và sát thủ bắn thẳng vào ngực anh ta. Tôi ngờ là giữa thủ phạm và ông Richard Scott có sự dan díu nào đó, phải không nhỉ ?
-          Hoàn toàn bịa đặt ! Một sự dối trá trơ trẽn !- Giọng Porter vang lên khản đặc và thách thức.
-          Cô Staverton đã khai gì chưa?- Satterthwaite lên tiếng.
-          Cô ta khẳng định là muốn tới vườn Bí mật để tìm chút tĩnh lặng. Vừa tiến tới hàng rào cuối cùng trong vườn, cô ta bỗng nghe thấy những tiếng nổ. Cô ta chạy tới và lượm khẩu súng ở dưới chân lên. Cô ta không va phải ai, cũng không nhìn thấy bất kỳ người nào khác, trừ hai nạn nhân. Thanh tra Winkfield cảm thấy nỗi xúc động trên gương mặt mọi người. Bà ta cứ năn nỉ tôi được tham gia cùng những nhân chứng để tìm ra thủ phạm.
-          Nếu Staverton nói như vậy thì đó hoàn toàn là sự thật- Đại uý Porter mặt tái mét- Tôi rất hiểu tính cách của Iris Staverton.
-          Thôi noà đại uý, viên thanh tra tỏ vẻ an ủi, từ nãy tới giờ chúng ta vẫn đang đi tìm sự thật đấy thôi- Porter bỗng quay ngoắt về phía ông Satterthwaite.
-          Thế nào, ông? Ông không giúp tôi ư? Ông không làm gì sao?
Satterthwaite vẫn tiếp tục giữ vẻ bình thản “ Anh ta đang cầu xin mình, một nhân vật chẳng đáng kể gì so với những người đàn ông ở đây. Rõ ràng là Porter đang tuyệt vọng và run rẩy”
Giữa lúc không khí trong phòng đang căng thẳng, thì Thompson, viên quản gia bước vào, trên tay cầm chiếc khay đựng một tấm danh thiếp. Vẻ như có lỗi, Thompson líu ríu trình tấm thiệp trước mặt ông chủ đang co rút trong chiếc ghế bành. Unkerton dường như chẳng có phản ứng gì đối với người đàn ông trước mặt.
-          Tôi đã nói với quý ông này là ông chủ đang bận, thưa ông- Thompson lắp bắp- nhưng ông ấy cứ năn nỉ. Ông ấy khẳng định là đã có hẹn với ông chủ và cần phải gặp ông gấp.
Unkerton cầm lấy tấm danh thiếp.
-          Ngài Harley Quinn. Vâng, tôi nhớ rồi, ông ta muốn cho tôi xem một bức tranh- chúng tôi đã có hẹn với nhau, nhưng trong hoàn cảnh này thì…
Ông Satterthwaite bỗng cắt lời:
-          Ngài Harley Quinn, phải vậy không? Thật kỳ lạ! Ngoài sức tưởng tượng! Đại uý Porter, chẳng phải anh vừa nhờ tôi giúp sao…Đúng rồi, tôi nghĩ là có thể giúp được anh đấy. Ông Quinn này là một người bạn- Nói đúng hơn là một mối quan hệ. Rốt cuộc thì đây là một nhân vật rất thú vị.
-          Và còn là một thám tử nghiệp dư, tôi ngỡ là thế?- viên thanh tra tỏ vẻ coi thường.
-          Không!- Satterthwaite vẫn tiếp tục- Không phải dạng như thế đâu. Thực ra thì ông ta có một tư chất…một năng khiếu gần như siêu nhiên chỉ cho chúng ta thấy những gì chúng ta nhìn bằng mắt, và giúp chúng ta hiểu những gì nghe được bằng đôi tai của mình. Chẳng có gì để mất cả: Hãy thuật lại chi tiết vụ việc và lắng nghe ông ta bình luận.
Ông Unkerton liếc mắt nhìn viên thanh tra đang lơ đãng nhìn lên trần nhà, rồi quay sang ra hiệu cho viên quản gia già. Lát sau, Thompson quay lại cùng một người đàn ông cao gầy:
-          Ông Unkerton phải không?- Vị khách hỏi và bắt tay chủ nhà- xin lỗi vì đã quấy rầy ông trong giờ phút như thế này. Chúng ta sẽ hẹn một dịp khác để bàn luận bức tranh đó.
-          …A! ông bạn Satterthwaite của tôi. Ông vẫn thích hiện diện tại những nơi xảy ra thảm kịch, phải không?- Bóng tối dường như phảng phất trên nét cười nửa miệng của nhân vật bí hiểm.
-          Ông Quinn!- Ông Satterthwaite vồn vã- đúng là chúng tôi đang mắc phải một vụ án mạng. Tôi, cũng như là anh bạn Porter đây đang muốn nghe ý kiến của ông về vụ việc này.
Quinn ngồi xuống ghế. Chiếc chao đèn mầu đỏ che lấp ánh sáng trên khuôn mặt của người đàn ông mặc chiếc áo bành tô kẻ. Mà nếu có soi rõ mặt, thì Quinn vẫn mãi là một nhân vật kỳ bí và khó hiểu.
Satterthwaite thuật lại ngắn gọn những chi tiết chính của vụ giết người. Rồi ông im lặng, chờ nghe lời phán của “kẻ lạ mặt”.
Nhưng Quinn chậm rãi lắc đầu.
-          Một câu chuyện buồn. Một tội các làm rung động lòng người. Động cơ giết người lại không rõ ràng khiến nó càng trở nên bí hiểm.
Unkerton quay lại nhìn vị khách mới.
-          Vậy ra ông không hiểu gì sao? Chúng tôi đã nghe tháy cô Staverton hăm doạ ông Richard Scott. Cô ta đã nghẹn họng vì ghen tuông. Cơn ghen đã…
-          Tôi đồng ý- Quinn ngắt lời chủ nhà- Ghen tuông có thể biến con người thành quỷ dữ. Nhưng ông hiểu sai ý tôi. Tôi đang nói về cái chết của đại uý Allenson, chứ không phải là bà Scott.
-          Có lý!- Porter chen ngang, thần sắc đã có vẻ trở lại- Có một điều gì đó không hợp logic. Nếu muốn giết bà Scott, Iris sẽ chờ một thời điểm để chỉ gặp mình bà ta thôi. Thế có nghĩa là chúng ta đang đi chệch hướng. Tôi đảm bảo là mọi người có thể giải thích sự việc ở một góc độ khác. Chỉ có ba người này đã ở trong Vườn Bí mật lúc xảy ra vụ án, đó là điều khỏi cần bàn cãi và tôi cũng không có ý định phản bác. Nhưng tôi có một suy nghĩ khác về hoàn cảnh của thảm kịch. Giả thuyết rằng Jimmy Allenson đã bắn bà Scott, sau đó anh ta tự chĩa súng vào mình? Có thể lắm chứ, phải không nào? Khi ngã xuống anh ta đã làm văng súng…Cô Staverton nhìn thấy khẩu súng dưới đất và lượm lên, chính xác như lời cô ấy khai. Các ông nghĩ gì về giả thuyết này?
Viên thanh tra ngúc ngoắc đầu.
-          Không hợp lý, đại uý Porter ạ. Tại sao Allenson lại giết bà Scott chứ? Ông chỉ cho tôi động cơ xem nào?
-          Có thể là anh ta bị quẫn trí ? –Porter lẩm bẩm.
Nhưng giả thuyết mà Porter đưa ra rõ ràng không thuyết phục được thính giả. Căn phòng lại chìm vào im lặng cho tới khi Porter bất thần nhổm dậy, giọng đầy thách thức :
-          Nào, ông Quinn, kết luận thử coi !
Quinn bình thản :
-          Tôi không phải là nhà ảo thuật. Lại càng không phải là một chuyên gia về tội phạm học. Nhưng bù lại, tôi có thể nói với mọi người ở đây rằng tôi luôn tin vào những ấn tượng. Vào những thời khắc quan trọng, thể nào cũng có những sự kiện nổi bật hơn những chi tiết khác, những hình ảnh còn đọng lại mãi trong khi mọi hình ảnh khác đã bị xoá nhoà. Trong số các ông, tôi cảm thấy ông Satterthwaite là người ít liên quan nhất tới sự việc. Ông Satterthwaite này, ông có thể cố gắng nhớ lại , và nói cho mọi người biết thời khắc mà ông cho là ấn tượng nhất không ? Có phải ông đã thấy những tiếng nổ ? Khi nào thì ông phát hiện ra hai tử thi ? ông nhìn thấy bà Staverton cầm súng đứng ở chỗ nào ? Hãy thả lỏng tinh thần và loại bỏ những nhận định chủ quan !...
Satterthwaite chăm chú nhìn gương mặt Quinn, giống như thể một học sinh tiểu học đang sắp sửa phải trả bài trước một ông thầy khó tính vậy.
-          Không, Satterthwaite chậm rãi, không, chẳng có chút ấn tượng gì lúc đó cả. Giây phút luôn ám ảnh tâm trí tôi chính là lúc mà tôi ngồi lại một mình bên cạnh hai nạn nhân, và quan sát bà Scott. Bà ấy nằm dưới đất, tóc rối bù. Vài giọt máu đã đông lại bên dái tai phải- Dường như Satterthwaite vừa nói ra một chi tiết vô cùng quan trọgn.
-          Vết máu ở tai ư ?- Unkerton hỏi lại- Vâng, đúng rồi, tôi nhớ là có.
-          Bông tai của bà ấy chắc là bị vỡ khi ngã xuống- Satterthwaite đánh liều nhận xét.
Nhưng nhận định của ông hình như không được thuyết phục cho lắm.
-          Bà ta đã ngã về phía trái- Porter nói- Vậy có nghĩa là bông tai bên trái bị bể ư ?
-          Không, Satterthwaite khẳng định. Chắc chắn là bên tai phải.
Viên thanh tra húng hắng ho :
-          Tôi tìm thấy cái này dưới cỏ.
Nói đoạn, ông ta chìa ra một mảnh kim lại bằng vàng.
-          Nhìn này- Porter kêu lên- Một cú ngã bình thường không thể làm nát chiếc hoa tai đến mức độ này được. Nói chính xác hơn thì nó đã bị phá tan bằng một vết đạn.
-          Đúng thế- Satterthwaite cũng kêu lên kinh ngạc- Chắc chắn vậy rồi.
-          Nhưng chỉ có hai phát súng- Viên thanh tra ôn tồn- Một viên đạn không thể nào sượt qua tai rồi lại găm vào lưng của nạn nhân được. Mặt khác, nếu như một trong hai viên đạn làm vỡ chiếc hoa tai, và viên thứ hai bắn vào lưng lấy đi mạng sống của bà Scott thì làm gì còn viên đạn nào bắn vào đại uý Allenson nữa chứ. Hoặc giả là…liệu có thể giả thuyết ông ta đứng trước mặt bà Scott…phải thật gần bà ấy. Không, ngay cả trong trường hợp đó…phải tới mức mà…
-          Tới mức hai người đó đang ôm chặt lấy nhau, phải vậy không?- Quinn ngắt lời với một nụ cười ma quái- vâng, tại sao lại không nhỉ?
Mọi người nhìn nhau bối rối. Với họ, ý tưởng này có vẻ hết sức kỳ cục. Allenson và bà Scott…Ông Unkerton là người lên tiếng trước:
-          Nhưng mà họ vừa mới biết nhau thôi mà!
-          Không chắc là thế đâu- Satterthwaite thầm thì, vẻ suy ngẫm- Có thể họ đã biết nhau trước đó, thậm chí còn thân mật hơn ông nghĩ nhiều. Bà Cynthia đã nói với tôi là đại uý Allenson đã từng cứu bà ấy khỏi cảnh chết vì buồn vào mùa đông năm ngoái ở Ai Cập. Vâng…
Satterthwaite quay sang Porter:
-          Anh cũng từng cho tôi biết là Richard Scott đã gặp người vợ tương lai của mình vào mùa đông năm ngoái ở Cairo. Có thể là họ đã biết nhau từ lâu, đến độ mà…
-          Nhưng tôi thấy rất ít khi họ ở bên nhau- Unkerton nhấn mạnh.
-          Không…họ đã cố gắng tránh mặt nhau. Hơn nữa, bây giờ nghĩ lại tôi lạ thấy có gì đó không bình thường…
Mọi người quay về phía Quinn, ngạc nhiên về những kết luận không hề ngờ tới của kẻ lạ mặt này.
Quinn đứng dậy:
Các ông thấy không, ấn tượng lưu lại trong trí nhớ của ông Satterthwaite đã giúp chúng ta phần nào lần ra chân tướng của vụ án mạng.
Rồi Quinn quay sang hỏi ông Unkerton:
-          Vậy ông nghĩ sao?
-          Hả? tôi chẳng hiểu ông đang nói về cái gì…
-          Khi bước chân vào căn phòng này, tôi nhận thấy ông có vẻ tư lự. Tôi rất muốn biết điều gì đã thu hút tâm tư ông đến thế. Sẽ chẳng có gì quan trọng nếu như đó không phải là thứ có liên quan đến thảm kịchnày. Cũng sẽ chẳng quan trọng nếu như ông cho đó là…một dạng mê tín dị đoan…(Unkerton bất chợt rùng mình). Hãy kể cho chúng rôi nghe xem nào.
-          Tôi chẳng thấy có gì quan trọng cả- Unkerton nói- Mọi người thử nghĩ xem, điều tôi đang suy tư chẳng hề liên quan đến vụ việc này, và nếu tôi kể ra, có thể mọi người sẽ giễu tôi mất. Thế này nhé: Tôi cứ thấy tiếc tại sao bà vợ đáng kính của tôi lại cứ cho thay kính trên ô cửa sổ thay vì cứ để nguyên như cũ. Tôi có cảm giác khi ô cửa được thay kính thì chắc chắn có thảm kịch xảy ra, giống như trong quá khứ vậy.
Unkerton không hiểu tại sao hai người đàn ông trước mặt lại nhìn mình ngạc nhiên đến thế.
-          Nhưng đã thay kính đâu?- Satterthwaite phản ứng .
-          Thay rồi ông ạ- Thợ lắp kính đã tới đây từ tinh mơ hôm nay cơ mà.
-          Lạy chúa tôi!- Porter kêu lên- Tôi bắt đầu hiểu ra rồi…Cái bức tường trong căn phòng được sơn phủ, không đúng hơn là dán giấy màu, phải không ông Unkerton?
-          Vâng, song có quan hệ gì chứ?
Nhưng Porter đã chạy ra khỏi phòng. Những người khác nối gót theo sau. Porter chạy thẳng lên phòng của gia đình Scott, một căn phòng ấm cúng, xinh xắn, gỗ lát tường màu be sáng và có hai cửa sổ quay về hướng nam. Porter chăm chú thăm dò những miếng gỗ dát tường ở phía Tây.
-          Có một điều gì đó không bình thường…A, đây rồi.
Một mảnh gỗ dán tường bị bong ra sau cú chạm của Porter, để lộ những mảnh vữa trát tường và giấy dán nham nhở. Lẫn trong đó là một vật nhỏ. Với thái độ dứt khoát, Porter lượm lên, và trong lòng bàn tay của anh ta là một mảnh lông đà điểu Châu Phi. Porter quay về phía Satterthwaite mắt hấp háy.
Rồi Porter tiến lại gần chiếc tủ kê trong góc phòng. Bên trong xếp ngay ngắn rất nhiều mũ- đó là những chiếc mũ của người đàn bà xấu số. Porter lấy ra một chiếc có vành rộng và cắm rất nhiều lông: một chiéc mũ kiểu Scott được trang trí rườm rà.
Ông Quinn bắt đầu kết luận bằng một giọng nhẹ nhàng, tư lự:
-          Chúng ta đã được chứng kiến một người đàn ông điên cuồng vì ghen. Người đàn ông ấy đã lưu lại trong căn phòng này và tìm cách khám phá những bí mậtở đây. Để đỡ buồn chán trong lúc không có vợ ở bên cạnh, ông ta loay hoay tháo mảnh gỗ dán tường bên cảnh ô cửa sổ, và bất chợt nhìn ra khu Vườn Bí mật. Ở đó, ông ta phát hiện ra vợ mình và một người đàn ông khác. Ông ta nghĩ chắc chắn là phải có mối quan hệ mờ ám giữa hai con người đang đứng dưới vườn kia. Ông ta điên lên vì giận dữ. Phải làm gì đây? Một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu. ông ta tiến lại tủ quần áo và lấy ra chiéuc mũ lông rộng vành, rồi đội lên đầu. Màn đêm dần buông xuống, và ông ta nghĩ đến câu chuyện về bóng đen trên ô cửa sổ. Nếu như tình cờ có ai đó ngước lên nhìn, họ sẽ khẳng định là thấy bóng ma kỵ sĩ Aguets. Tưởng là dã chuẩn bị thật hoàn hảo, người đàn ông của chúng ta tiếp tục quan sát đối tượng, và khi họ ôm nhau, hắn đã nã súng. Quả là tay bắn tỉa cừ khôi…một phát xuyên táo. Và khi hai nạn nhân ngã xuống, hắn nã tiếp phát đạn thứ hai. Phát đạn này đã làm vỡ chiếc khuyên tai của người đàn bà. Tiếp theo, hắn lẳng khẩu súng qua cửa sổ xuống khu Vườn Bí mật, roồichạy xuống cầu thang và phóng hết tốc độ ra khỏi toà nhà, chạy thẳng đến phòng bida.
Porter tiến lại gần Quinn:
-          Nhưng hắn đã để mặc mọi người kết tội Iris ! Hắn chẳng tỏ chút thái độ nào hết. Tại sao ? tại sao ?
-          Tôi cũng đoán được điều này- Quinn trả lời- Theo tôi- các ông cứ coi đây là giả thuyết của riêng cá nhân tôi thôi nhé. Richard Scott đã rơi vào lưới tình của Iris Staverton. Hắn ta yêu cuồng nhiệt đến độ vừa mới gặp cô ấy đã sôi sục lòng ghen. Ngược lại, Iris Staverton cũng tưởng là yêu hắn, và đã từng cùng hắn và người đàn ông khác đi săn với nhau, nhưng sau chuyến đi ấy, bà Staverton đã quyết định chọn người đàn ông xứng đáng hơn. Bởi vậy sẽ chẳng có gì là khó hiểu khi hắn muốn giá hoạ cho người đàn bà đã từ chối tình yêu của hắn.
-          Người đàn ông xứng đáng hơn?- Porter choáng ván- Ý ông là… ?
-          Vâng- Ông Quinn cười nhẹ- Người đó chính là ông- Ngừng một lát, Quinn tiếp :
-          Ở vào địa vị của ông lúc này, tôi sẽ đi tìm cô Iris Staverton ngay lập tức.
-          Tôi sẽ không để lỡ cơ hội- Porter nói, rồi quay gót…
 
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-14 20:04:57Ct.Ly>
Đánh máy: meobeo888
 
Chương III


QUÁN TRỌ « BELLES AND MOTLEY »

Ông Satterthwaite đang bực. Quả đúng là một ngày tồi tệ. Khởi hành đã muộn thì chớ, đang đi thì bánh xe bị bể, mà tới hai lần. Chẳng những vậy, chủ tớ còn bị lạc đường và cứ lang tháng trên những dãy phố khuya vắng vẻ trong thị trấn Salisbury Plain. Nên bây giờ đã là tám giờ tối hoặc gần như thế, vậy mà họ còn cách nơi phải đến – thành phố Marswick Manor chừng sáu mươi kilômét. Và dường như ông trời muốn trêu chọc con người, bánh xe của họ bị bể lần nữa.
Ông lão Satterthwaite nhỏ thông trông nghiệp chẳng khác gì một con chim sẻ già với bộ lông bù xù lượn qua lượn lại hàng trăm lần trước cửa nhà ga của thị trấn, trong khi anh tài xế đang to nhỏ tranh luận với ta chuyên gia về rượu vang.
-          Phải mất nửa tiếng- Tay chuyên gia thấp giọng.
-          Nửa tiếng hơn, may ra thì được, Masters, anh lái xe nói giọng lo ngại- Theo tôi thì phải đến bốn mươi lăm phút.
Ông Satterthwaite bất chợt quay lại hỏi, mặt càu cạu:
-          Cái…cái chỗ này tên là gì?
Satterthwaite vẫn luôn là một ông già thanh lịch. Không muốn làm tổn thương ngwoif dối thoại, ông cố gắng kiềm chế không văng tục và gọi đích danh “cái nơi khỉ ho cò gáy” đã chực thoát khỏi cổ họng.
-          Kirlington Mallet.
Nơi đây chẳng có ấn tượng gì hết. Nhưng khoan đã nào, cái tên này nghe có vẻ quen quen. Satterthwaite khinh khỉnh nhìn những cảnh vật xung quanh, Kirlington Mallet trông chẳng khác gì một dãy phố nhỏ xíu với một bên là xưởng sửa chữa xe ôtô và bưu điện, còn bên kia là ba cửa hiệu to đùng. Xa xa, Satterthwaite nhận ra một tấm biển hiệu đang kêu cọt kẹt trong gió.
-          Hình như là một quán trọ thì phải- Satterthwaite nói
-          Vâng, nhà trọ “Belles and Motley”, hay như người ta vẫn quen gọi là L’Arlequin aux Grelots- Tay thợ sửa xe trả lời- chính là cái tên trương biển hiệu mà ngài nhìn thấy đó.
-          Nếu tôi được phép đưa ra một ý kiến thưa ngài- Masters thẽ thọt- tại sao ngài không ghé qua đó thử xem? Tôi cam đoan là ở đó ngài sẽ được phục vụ một bữa rất chu đáo. Dĩ nhiên là tôi biết ngài không mấy quen với những chỗ tầm thường như thế đâu ạ.
Anh ta ngừng bặt, như thể vừa làm điều gì có lỗi vậy. Bởi vì ông Satterthwaite vốn là khách quen thường xuyên của những sếp bự nhất thành phố. Bởi vì ông vẫn quen được phụ vụ bởi những tay đầu bếp cừ khôi với những món ăn đắt kinh khủng.
-          Có lẽ chúng ta phải mất ít nhất bốn mươi lăm phút để sửa xe, thưa Ngài- Masters nói tiếp- Vả lại bây giờ đã là tám giờ tối. Ngài có thể gọi nhờ điện thoại của quán trọ báo cho ngài George Poster và giải thích lý do chúng ta đến muộn.
-          Cứ như thể có anh là mọi việc đều ổn thoả hết vậy- Ông Satterthwaite cất giọng chua chát.
Biết phải làm gì trong lúc này, Masters im bặt, không dám hó hé thêm điều gì nữa.
Nhưng Satterthwaite có vẻ như xuôi theo lời đề nghị của người lái xe. Ông kín đáo đưa mắt liếc nhìn tấm biển hiệu, vẫn không thôi đung đưa trong gió ngay đầu phố vả lại cơn đói cũng đang khiến ông cồn cào cả gan ruột.
-          L’Ảrlguin aux Grelots- Satterthwaite tư lự- Quả là một cái tên kỳ cục. Tôi không nghĩ là đã nhìn thấy nó ở đâu đó.
-          Và những khách trọ rới đó cũng thật kỳ cục- Ông thợ sửa xe bình luận.
Giọng nói của người thợ nghe có vẻ lùng bùng, không rõ.
-          Những khách trọ kỳ cục?- Satterthwaite hỏi lại- Anh đã nghe được gì ở đó?
-          Cũng chẳng biết phải nói thế nào. Ngài cứ qua đó thì khắc biết- Người thợ tỏ vẻ muốn cắt đứt câu chuyện ở đấy.
Tính tò mò cố hữu thức dậy trong Satterthwaite. Ôn cứ thắc mắc không hiểunhững vị khách trong quán trọ ấy kỳ cục đến mức nào. Mà chắc chắn gã sửa xe này phải biết rõ chứ?! Nhưng dù sao thì mình cũng có bốn mươi lăm phút chờ đợi cơ mà. Thử tới L’ Arlequin aux Grelots xem sao.
Nhu để phụ hoạ thêm cho quyết tâm của ông Satterthwaite, tiếng sấm ẫm ĩ nổi lên từ phía xa, người thợ sửa xe đưa mắt sang Masters:
-          Thể nào bão cũng tới. Tôi cảm nhận được mùi vị của nó.
-          Vậy đấy! Masters nói - Thế nào còn tới sáu mươi kilômét nữa mới tới nơi!
-          Ồ!, Làm gì phải vội vã thế. Tôi cá là anh không thể khởi hành trước khi bão tan. Thật ngạc nhiên nếu ông chủ của anh cứ thích ra đi giữa lúc sấm chớp bão bùng như thế!
-          Hy vọng là họ phục vụ ông chủ tôi chu đáo- Viên tào xế thì thầm- Vả lại tôi cũng phải kiếm chút gì bỏ vào bụng nữa.
-          Billy Jones là người rất thạo việc, người thợ sửa xe quả quyết. Ai cũng khen anh ta nấu ăn ngon.
Trước cửa quán trọ “ Belles and Motley” hay còn gọi là “ L’ Arlequin aux Grelots”, một người đàn ông dáng to lớn, khoẻ mạnh, chừng năm mươi tuổi cúi đầu thật thấp, dáng vẻ khúm núm trước ông lão bé nhỏ Satterthwaite. Đó chính là William Jones- chủ quán.
-          Ở chỗ chúng tôi có món bittết rất ngon, thưa ngài, cả mứtnữa. Sau đó ngài có thể dùng thêm chút phomát. Lối này , thưa ngài. Lúc này khách trọ ít tìm đến đây. Mùa câu cá đã qua rồi mà. Nhưng mùa đi săn sắp tới, khi đó thì lại chật khách thôi. Hiện giờ có một vị khách đang trọ ở đây, ông ấy tên là Quinn.
…Satterthwaite dừng phắt lại:
-          Quinn? Ông vừa nói là Quinn phải không ?
Giọng ông như run lên vì kích động.
-          Vâng, đúng thế ? Ồ, chắc chắn thế rồi !
Trong cơn hưng phấn, Satterthwaite quên khuấy mất rằng ở trên đời này có cả ngàn người tên là Quinn. Song ông không mảy may nghi ngờ. Thật kỳ lạ, những gì mà ông vừa nghe thấy hoàn toàn trùng hợp với lời nói của người thợ sửa xe khi nãy : ‘Những khách trọ kỳ cục…’. Còn ví dụ nào khác sinh động hơn ngoài Quinn để chứng minh cho nhận định này ?
-          Chúa ơi, chúa ơi, Satterthwaite lẩm bẩm, không thể ngờ được. Lại gặp nữa rồi. Anh này, có phải ông Harley Quinn không ?
-          Chính xác, thưa ngài. Đến nơi rồi. Đây này, nhân vật mà tôi vừa mới nói với ngài đó.
Cao, gầy, tóc hung và nụ cười nửa miệng trên môi, ông Quinn đang ngồi tren chiếc ghế kê ở góc phòng.
-          Ông Satterthwaite, chúng ta lại gặp nhau nữa rồi- Giọng Quinn vang lên- một giọng nói mà Satterthwaite không thể nào quên- Tôi không thể ngờ lại có vinh hạnh này.
Satterthwaite nồng nhiệt bắt tay ‘người bạn cũ’ :
-          Thật sự rất vui. Một vụ hỏng hóc ‘đáng giá ”. Tôi muốn nói về cái ôtô đang sửa ngoài kia. Ông thuê phòng ở đây ư ? Có lâu không ?
-          Một đêm duy nhất.
-          A ! Tôi thật may mắn.
Thở dài nhẹ nhõm, ông Satterthwaite ngồi xuống phía đối diện, chăm chú quan sát gương mặt của ‘ông bạn’ Quinn, dường như vẫn không ngờ tới sự thật  trước mặt. Đối phương nhè nhẹ lúc lắc đầu.
-          Tôi đảm bảo với ông là tôi không có tài móc một hũ cá vàng hay một con thỏ ra khỏi mũ đâu.
-          Thật tiếc- Ông Satterthwaite tỏ vẻ thất vọng- Phải thú thật là lúc nào tôi cũng coi ông là một nhà ảo thuật. Vâng đúng thế. Một ảo thuật gia đại tài.
-          Ngược lại- Quinn tiếp lời- Tôi lại nghĩ là ông mới phải.
-          Ồ !- Satterthwaite kêu lên vui sướng- Nhưng không có ông thì tôi làm gì được nào ? Ông đã mang đến cho tôi…Phải nói thế nào nhỉ ?...hơi thở !
Quinn nhìn ông bạn già :
-          Ông cứ nói quá ! Đúng ra thì tôi cũng chỉ giúp ông được phần nào thôi mà.
Đầu bếp quán trọ đi vào, mang theo một bánh và một hũ bơ màu vàng. Một ánh chớp nhợt nhạt loé lên và tiếng sấm nổ gần như cùng lúc khi anh ta đặt khay đồ ăn xuống bàn.
-          Một đêm chết tiệt, các ngài ạ.-Tay đầu bếp mau mắn.
-          Anh định nói là một điểm đáng nhớ ư… ? Satterthwaite chỉnh lại.
-          Ồ đúng rồi chính xác là như vậy. Đên nay giống hệt như cái đêm mà đại uý Harwell cùng cô vợ trẻ trở về nhà. Đêm trước khi anh ta biến mất ấy mà.
-          A !- Satterthwaite chợt kêu lên- Tôi nhớ ra rồi !
Đúng vậy. Thảo nào lúc nãy khi nghe tay thợ sửa xe nhắc tới cá tên Kirlington tôi đã ngờ ngợ. Tôi đã đọc chi tiết tất cả những gì liên quan tới vụ mất tích bí ẩn của đại uý Richard Harwell. Khắp nước Anh, từ nam chí bắc, tất cả các tờ báo đều đăng trên trang nhất về một vụ mất tích đáng ngờ này. Và hết thảy những ai quan tâm đều cố tìm ra một nguyên nhân để lý giải vụ việc.
-          Vâng, tôi nhớ rồi- Satterthwaite nhắc lại- Vụ án xảy ra tại thì trấn Kirlington Mallet.
-          Anh ta tới đây vào mùa đông năm ngoái để đi săn- Tay đầu bếp kể lại- Tôi biết rõ anh ta mà. Một thanh niên trẻ, đẹp trai, cao lớn. Một người hoạt bát và hầu như không một chút phiền não. Có kẻ đã ‘thanh toán’ anh ta cùng cô Le Sueur cưỡi ngựa chung với nhau. Tất cả mọi người trong thị trấn này đều nói rằng họ là một cặp rất đẹp đôi. Đúng vậy. Đó là một phụ nữ tuyệt đẹp. Có lẽ chẳng nên tiếc lời khen đối với một người đẹp như thế, dù cho cô ta có là một người nước ngoài, vâng, dân Canada. A, mà có thể đó là một điều bí ẩn chăng. Cô ta có vẻ buồn. Đúng quá rồi ! Các ngài phải biết là cô ta đã bán hết mọi tài sản và một thân một mình ra nước ngoài, Làm sao mà cô ta chịu đựng nổi khi mà phải ở lại đây với một đám người lúc nào cũng dòm ngó mình, đúng là một phụ nữ đáng thương. À, phải, các ngài có cho đó là một điều bí mật đáng nguyền rủa không ?
Tay đầu bếp bỗng dừng lại, như nhớ ra nhiệm vụ của mình anh ta hấp tấp quay về nhà bếp.
-          Một bí mật đán nguyền rủa- Quinn tư lự.
Bên tai Satterthwaite những lời nói của Quinn cứ vang lên, thật khó chịu.
-          Liệu ông có muốn làm cho tôi tin rằng ông lại một lần nữa thành công, trong khi cảnh sát đã bó tay không ? Giọng Satterthwaite khô khốc.
Quinn lại nở nụ cười quen thuộc :
-          Không thể nào ! Ông biết đấy, thời gian đã trôi qua. Ba tháng rồi còn gì. Vụ này khác hẳn những vụ trước.
-          Thì vẫn theo lý thuyết của ông ấy, Satterthwaite nhẹ nhàng, theo đó dễ dàng bỏ qua vào thời điểm xảy ra sự việc.
-          Vâng, đúng vậy. Thời gian qua càng lâu thì những tình tiết càng trở nên rõ nét. Và khí đó ta có thể phân biệt rõ ràng hơn các mối quan hệ giữa chúng.
Hai người đàn ông cùng im lặng thật lâu.
-          Tôi không chắc là nhớ rõ được từng chi tiết đâu, ông Satterthwaite lưỡng lự.
-          Tôi thì lại nghĩ ngược lại- Quinn khẳng định.
Không có lời động viên nào mạnh hơn Quinn lúc này. Thường thì Satterthwaite vẫn giữ vai một khán giả trước mọi buồn vui của cuộc đời, nhưng cứ mỗi lần hợp tác với Quinn thì mọi thứ lại đảo lộn hết cả. Ông buộc phải ra sân khấu trong vai chính, còn Quinn lại là một khán giả tinh quái ngồi sau cánh gà quan sát vai diễn của ông.
-          Cách đây hơn một năm, cô Eleanor Le Sueur chính thức trở thành chủ nhân của Ashley Grange. Đó là một toà nhà cổ rất đẹp, song đã bị bỏ hoang từ nhiều năm trước. Cô Le Sueur là người Canada gốc Pháp, tổ tiên ông bà cô ta đã đi cư đến lập nghiệp tại đó và đã để lại cho cô ta đã di cư đến lập nghiệp tại đó và đã để lại cho cô ta một di sản kếch sù với vô số đồ cổ của Pháp. Le Sueur cũng là một nhà sưu tầm chuên săn lùng các tác phẩm nghệ thuật với một gu thẩm mỹ rất tinh tế. Vậy nên sau này khi cô ta quyết định bán lâu đài Ashley Grange cùng bộ sưu tập của mình, một triệu phú người Mỹ tên là Cyrus G. Bradburn đã không ngần ngại rút sau mươi ngàn bảng ra mua lại.
Ông Satterthwaite dừng lại lấu hơi.
-          Xin lỗi ông về một loạt những chi tiết lằng nhằng. Chúng hình như chẳng có liên quan gì với vụ việc mà chúng ta đang theo đuổi hết. Nhưng dù sao thì qua đóta cũng hình dung được không gian sống của bà Harwell trẻ tuổi.
Ông Quinn hào hứng gật đầu:
-          Không gian sống bao giờ cũng quan trọng.
-          Bây giờ tôi sẽ tập trung vào nhân vật nữ- Ông Satterthwaite tiếp tục- Hai mươi ba tuổi, tóc vàng, đẹp, hớn hở, tinh tế và giàu có- ông đừng quên điểm này nhé. Vốn là trẻ mồ côi, song Le Sueur luôn được một bà già tên là Saint- Clair rất hoà nhã và học thức kèm cặp. Có nhiều của cải nên không thiếu những gã đàn ông nhòm ngó tới cô ta. Hàng tá gã trai trẻ không đồng xu dính túi luôn tìm cách ve vãn cô ta bất kỳ lúc nào, trong những buổi đi săn, những đêm khiêu vũ…tóm lại là ở tất cả mọi nơi cô ta đặt chân đến. Trong số đó, lãnh chúa trẻ Leccan, một gã đẹp trai và giàu có hơn hẳn thậm chí đã ngỏ lời cầu hôn với Le Sueur, song cô ta đã từ chối thẳng thừng, cho tới khi đại uý Richard Harwell xuất hiện.
Đại uý Harwell đã thue phòng ở quán trọ này để tiện tham gia mùa săn bắn. Đó là một kỵ sỹ cừ khôi, dễ mến, đẹp trai, và hơn hết là một thợ săn thiện nghệ. Ông có nhớ câu thành ngữ “Hạnh phúc thay những tình yêu không vụ lợi”. Vâng những gì xảy ra giữa Richard Harwell và Eleanor Le Sueur cũng từa tựa như vậy đấy. Chỉ sai hai tháng quen nhau, họ quyết định đính hôn.
Ba tháng sau, hôn lễ được cử hành. Đôi vợ chồng trẻ ra nước ngoài hưởng tuần trăng mật nửa tháng, rồi trở về lâu đài Ashley Grange. Tay đầu bếp khi nãy nói với chúng ta là vào cái đêm họ trở về nhà, trời cũng đổ bão nhu đêm nay. Liệu có phải đó là điềm gở không? Ai mà biết được! Nhưng chỉ biết là sáng hôm sau, quãng bảy rưỡi, người ta làm vườn tên John Mathias đã nhìn thấy đại uý Harwell đi dạo một mình trong công viên. Đầu để trần và miệng huýt sáo. Chẳng có chút gì là lo âu hay buồn phiền hết. Nhưng ngay sau đó, chẳng ai còn nhìn thấy đại uý Richard Harwell nữa, dù còn sống hay đã chết.
Satterthwaite dừng lại như để tăng thêm hiệu quả cho câu chuyện của mình. Ánh nhìn chăm chú của Quinn tự như một sự cổ vũ cho những cố gắng của ông bạn già, và Satterthwaite tiếp tục:
-          Vụ mất tích này thật khó mà tin được. Không tìm nổi lý do để giải thích. Chỉ khi cô vợ trẻ lo lắng chạy tới báo cảnh sát, và như ông biết đấy, họ đã không làm sáng tỏ được vụ việc.
-          Tôi nghĩ là dù sao họ cũng đã đưa ra một số giả thuyết, Quinn lưỡng lự.
-          Ồ, có chứ. Giả thuyết đầu tiên được đưa ra là đại uý Harwell bị ám sát, bị “khử”. Nhưng trong trường hợp đó thì cái xác đâu? Chẳng lẽ nó đã bốc hơi ư? Và hơn nữa, động cơ giết người đâu? Ông phải biết là đại uý Harwell không hề có kẻ thù.
Satterthwaite bỗng dừng lại, có vẻ không chắc chắn vào nhận định của mình. Không bỏ lỡ cơ hội, Quinn vặn:
-          Ông có nghĩ tới gã trai trẻ Stephen Grant chưa?
-          Rồi- Satterthwaite trả lời- Nếu tôi nhớ không nhầm thì Stephen Grant vốn là người coi ngựa của đại uý Harwell, và gã đã bị ông chủ đuổi việc vì một lỗi nhỏ. Buổi sáng hôm vợ chồng Harwell trở về Ashley Grant, người ta thấy gã lảng vảng ở đó, và gã cũng không giải thích được lý do tại sao lại có mặt tại hiện trường. Cảnh sát đã tạm giữ hắn như là nghi can số một, song cũng chẳng tìm được chứng cứ buộc tội và hắn đã được thả ra. Tôi đồng ý với ông là ta có thể tưởng tượng rằng sau khi bị đuổi việc, gã Stephen nuôi ý định trả thù đại uý Harwell. Nhưng rốt cuộc thì chẳng có động cơ nào rõ ràng cả. Thực tế thì đúng như tôi đã nói với ông, đại uý Harwell không có kẻ thù.
-          Đúng hơn là không có kẻ thù lộ mặt- Quinn nhận xét.
Satterthwaite xác nhận:
-          Tôi cũng cho là thế. Bởi vì cuối cùng thì ta đã biết gì về Richard Harwell? Khi cảnh sát tiến hành dựng phả hệ của nạn nhân thì mới tá hoả là chẳng có chút thông tin nào về đại uý Harwell cả. Richard Harwell là ai? Anh ta có thể đi đâu được chứ? Người ta có cảm giác là vào một ngày đẹp trời, anh ta đã biến mất vào thinh không. Đó là một kỵ sỹ tài ba, và có vẻ là người khá giả. Không một ai ở Kirlington có ý định tìm hiểu kỹ hơn. Cô Le Sueur không có cha mẹ, cũng chẳng có người đỡ đầu để mà quan tâm đến việc tìm hiểu kỹ lưỡng danh tính của người chông mới cưới, có thể cô ta chỉ hỏi han qua loa. Và do đó cảnh sát cũng chỉ đi theo những giả thuyết cũ cho rằng Richard Harwell là người giàu có, bằng không thì hắn là một tên đại bịp. Thế thôi!
Nhưng giả thuyết thứ hai cũng khó thuyết phục nếu uy nghĩ theo lối thông thường. Đúng là cô Le Sueur không có cha mẹ và người giám hộ, nhưng ở Luân Đôn cô ta có một luật sư giỏi sẵn sàng đại diện cho quyền lợi của mình. Và thái độ của đôi vợ chồng này cũng làm phức tạp hơn vụ việc. Lúc đầu, Eleanor hy vọng sẽ chuyển quyền sử dụng một phần tài sản của mình cho chồng, song anh ta đã từ chối, bảo rằng mình cũng đang sở hữu một gia sản không nhỏ. Và đại uý Harwell đã chứng tỏ rằng mình không hề động đến một xu của vợ.
Vậy nên đây không phải là một tên bợm tầm thường, nhưng cũng có thể anh ta có những mánh khoé riêng. Người ta có thể tưởng tượng rằng anh ta dùng mánh đó để doạ vợi mình nếu một ngày nào đó cô ta quyết định cưới người đàn ông khác. Tôi cứ nghĩ anh ta là dạng người như thế, cho đến buổi tối hôm nay.
Quinn hấp tấp hỏi lại:
-          Cho đến tối hôm nay?
-          Vâng, cho đến tận tối nay. Bởi vì bây giờ tôi không còn tin vào giả thuyết của mình nữa. Thật quái quỷ làm sao khi anh ta có thể hoàn toàn bốc hơi một cách nhanh chóngvào đúng thời điểm mà tất thảy nông dân đang hối hả ra đồng? Mà đầu thì để trần/
-          Ông cho là điểm cuối cùng này có gì nghi vấn chăng- nhưng có chắc là người làm vườn đã thực sự nhìn thấy anh ta hay không?
-          Rõ ràng …gã làm vườn…John Mathias. Tôi tưj hỏi liệu có nên tập trung một chút vào nhân vật này không?
-          Cảnh sát đã kiểm tra lại lời khai của gã này chứ?
-          Vâng, họ đã hỏi khá lâu. Không có mâu thuẫn trong lời khai của hắn ta, và vợ hắn cũng xác nhận. Hắn ra khỏi nhà lúc bảy giờ sáng để tới nhà kho làm việc. Từ nhà lão tới đó mất khoảng bốn mươi phút. Còn ở lâu đài, đám gia nhận nghe thấy tiếng khép của ra vào lúc bảy giờ mười lăm, chính là thười điểm mà đại uý Harwell rời khỏ nhà. Nhưng tôi biết là ông đang nghĩ gì.
-          Thế à!
-          Vâng, Mathias có thể dư thời gian để giết ông chủ của mình. Nhưng tại sao, ông bạn của tôi, tại sao chứ? Vả lại hắn sẽ giấu cái xác ở đâu?
Viên đầu bếp trở lại với một chiếc khay.
-          Xin lỗi vì các ngài đã phải đợi lâu.
Nói rồi ông ra bày ra bàn một tảng bít tết to tướng kèm theo một đĩa khoai tây chiên giòn tan. Mùi vị của chúng làm điếc cả mũi ông Satterthwaite.
-          Thật tuyệt vời- Satterthwaite nhã nhặn- Chúng tôi đang tranh luận với nhau về vụ mất tích của đại uý Harwell. Theo anh thì người làm vườn, cái gã Mathias ấy là người thế nào?
-          Mathias đã từng làm công ở Essex. Nhưng tôi nghĩ là chẳng có gì hay ho ở cái chỗ chết tiệt ấy cả. Hắn cũng chẳng có lý do gì mà quanh quẩn ở đó.
Ông Satterthwaite xiên một lát bít tết, Quinn cũng máy móc làm theo. Gã đầu bếp đích thực là một kẻ “ buôn chuyện”, nhưng ông Satterthwaite chẳng thấy khó chịu.
-          Vâng, nhưng tôi muốn hỏi lão Mathias là loại người gì cơ?
-          Tầm trung niên. Hồi đó hắn ta còn to béo lắm, nhưng bây giờ thì hắn oằn người vì thấp khớp. Chính vì vậy mà hắn chỉ nằm suốt ngày trên giường, có khi chẳng còn làm việc được nữa. Theo ý tôi thì cô Eleanor giữ lão lại vì tình thương, mà cô áy cũng dễ thương lắm cơ, bởi vì lão còn làm gì ngoài vườn tược được mấy. Thế cho nên vợ lão mới phải nai lưng làm việc nhà. Bà ta là đầu bếp mà, chẳng nề hà việc gì hết.
-          - À, còn bà này, vợ lão làm vườn ấy, thì sao?- Ông Satterthwaite hỏi tiếp, rõ ràng là thích nói chuyện hơn là những món ăn hấp hẫn trên bàn.
Nhưg câu trả lời của viên đầu bếp làm ông thất vọng.
-          Cũng như mọi người cả thôi, đứng tuổi, cau có, hơn nữa còn điếc đặc. Các ngài phải nhớ là tôi chẳng biết gì mấy về đám này đâu. Họ mới tới đây một tháng trước khi vụ việc xảy ra. Nhưng riêng về Mathias thì mọi người vẫn khen rằng lão tưng là một người làm vườn nổi tiếng. Cô Eleanor cũng thường xác nhận điều này.
-          Cô ta thích làm vườn chứ?- Quinn nhẹ nhàng hỏi.
-          Không, thưa ngài, không thể nói như vậy. Cô ấy không giống như phần lớn mấy mụ đàn bà ở đây chỉ suốt ngày lê la trên đất cát và quanh quẩn với những việc không tên ngoài vườn. Tôi thấy như vậy thật ngu ngốc. Không, các ngài ạ, cô Le Sueur không mấy khi tới đây. Trừ mùa đông để đi săn. Thời gian còn lại cô ấy sống ở Luân Đôn hoặc ra ngươc sngoài, ở những biệt thự xa hoa, nơi mà như người ta hay nói với tôi là dân Pháp thậm chí chẳng hề dí một ngón chân xuống nước vì sợ hỏng từ… đồ lót.
Ông Satterthwaite cười.
-          Thế còn đại uý Harwell? Chẳng lẽ anh ta không dính líu vào chuyện …đàn bà sao?
Đáng lẽ Satterthwaite phải từ bỏ giả thuyết này ngay từ đầu, ông không nghĩ là mình lại có thể đặt ra câu hỏi như vậy. Gã đầu bếp phản đối ngay lập tức:
-          Không bao giừo. Không, tôi đã nói với các ngài đây là một bí ẩn khủng khiếp rồi mà.
-          Thế anh nghĩ gì về vụ này?
-          Tôi nghĩ gì ư?
-          Vâng?
-          Cũng chẳng có gì hết. Vâng, tôi nghĩ chắc chắn là anh ta bị giết. Nhưng kẻ nào đã ra tay thì có trời mà biêt được. Tôi sẽ mang pho mát đến cho các ngài.
Nói đoạn, gã đầu bếp quầy quả bước thấp bước cao ra khỏi phòng. Cơn bão tưởng chừng đã dịu lại bỗng trở nên dữ dội hơn. Những tia chớp loằng ngoằng, kem theo tiếng sấm ầm ầm, khiến ông lão bé nhỏ Satterthwaite cứ giật mình thon thót. Rồi trong tiếng nổ ấy, bất thần, một cô gái trẻ hiện lên trước cửa với khay pho mát trên tay.
Cao lớn, tóc hung, tren gương mặt đẹp phảng phất vẻ u buồn, cô gái nom giống hệt ông chủ quán trọ Bells and Montley khiến có thể đóan ngay họ là hai cha con.
-          Chào Marry. Quả là một đêm bão bùng đáng nhớ- Quinn nói.
-          Tôi ghét những đêm như thế này- Cô gái thầm thì.
-          Cô sợ sấm phải không ?- Satterthwaite nhẹ nhàng hỏi.
-          Sợ sấm ư ?Ồ không phải vậy. Tôi chẳng sợ cái gì hết. Nhưng cứ mỗi khi bão đến thì mọi thứ lại bắt đầu. Và ta lại nói chuyện với ngươi, và ta lại nói chuyện với ngươi, cứ lặp đi lặp lại, như một lũ vẹt vậy. Và bố tôi lại lẩm bẩm ‘Nó làm tôi nhớ lại, vâng, cái đêm mà đại uý Harwell đáng thương…’. Cứ huyên thuyên thế suốt.
Cô gái quay về phía ông Quinn.
-          Ngài đã từng nghe chưa ? Có nghĩa lý gì chứ. cứ lảm nhảm suốt ? Người ta không thể để quá khứ ngủ yên hay sao ?
-          Quá khứ sẽ chỉ còn là quá khứ một khi người ta đoạn tuyệt với nó- Quinn nhận xét.
-          Ông muốn nói là người ta không thể đoạn tuyệt với quá khứ ư ? Và rằng đơn giản là ông ấy muốn biến mất trong cõi thinh không ? Ông ấy không phải là người đầu tiên trong số những quý ông hào hoa làm như vậy đâu.
-          Cô tin là anh ta  tự biến mất ư ?
-          Tại sao không nào ? Thế còn hơn là đi tin rằng một chàng trai dễ thương nhu Stephen Grant  có thể giết chết ông ta. Tôi cứ tự hỏi rằng vì lẽ gì mà anh ấy phải giết ông ta chứ ? Đồng ý là anh ấy đã từng uống say và nói vài lời ngu ngốc với ông đại uý, sau đó bị ông ta đuổi việc. Nhưng anh ấy đã tìm được một chỗ làm mới còn tốt hơn ấy chứ. Vả lại cũng chẳng có lý do gì mà phải giết người máu lạnh như thế.
-          Cảnh sát cũng khẳng định là anh ta vô tội- Satterthwaite nói.
-          Cảnh sát ư ? cho tôi xin lỗi đi ! Mỗi khi Stephen bước vào quán rượu cũng có kẻ tình mò đằng sau. Họ không thực sự tin rằng anh ấy giết Harwell, nhưng cũng không dám khẳng định là anh ấy vô tội. nên họ cứ theo dõi anh ấy, và khi bị phát hiện thì lại lỉnh đi. Đó không phải là cuộc sống của một con người. Các ngài cứ thử nghĩ mà xem, khi mà lúc nào cũng có người kè kè bên cạnh như thể mình là một con vật hoang vậy. Và tại sao bố tôi lại không chấp nhận đám cưới giữa tôi và Stephen. ‘Con nên đặt những quả trứng của mình vào một cái giỏ chắc chắn hơn, con gái ạ. Bố không ghét bỏ gì Stephen cả, thậm chí còn có thiện cảm nữa, nhưng con thấy đấy, chúng ta đều chưa biết rõ về cậu ta, phải không nào.. ?’
Cô gái dừng lại. Cơn giận làm tim cô đập thình thịch trong lồng ngực. Và cô tiếp tục :
-          Thật độc ác. Stephen thậm chí không dám làm đau cả một con muỗi. Nhưng rồi bi giờ lúc nào anh ấy cũng phải sống trong cảnh bị người khác nghi ngờ là kẻ giết người. Anh ấy trở nên cáu bẳn, tôi biết mà. Và Stephen càng tỏ ra như thế thì mọi người lại càng nghĩ rằng anh ấy đang che dấu điều gì đó.
-          Không thể làm gì được sao ?- Satterthwaite ân cần.
Lòng trắc ẩn trong ông lại trỗi dậy. Song điều hiển nhiên là dù những nghi ngờ đối với Stephen có mỏng manh và hão huyền đến đâu chăng nữa thì anh ta cũng không ngăn được những lời buộc tội về anh ta, bởi vì anh ta có động cơ giết người.
Cô gái quay về phía ông :
-          Chỉ có sự thật mới có thể giúp được anh ấy. Chỉ khi nào người ta tìm thấy đại uý Harwell, hoặc ông ấy tự trở về. Nếu như người ta biết được rốt cuộc điều gì đã xảy ra…
Cô gái nức nở chạy ra khỏi phòng.
-          Một cô gái dễ thương- Satterthwaite lên tiếng- Hẳn là cô ấy buông lắm. Tôi muốn…Giá mà tôi có thể làm điều gì đó giúp cô bé.
-          Nhưng chúng ta đã làm tất cả  những gì có thể- Quinn nói- và lại, cũng chỉ còn vẻn vẹn nửa tiếng nữa là xe ông sửa xong. Ông Satterthwaite nhìn bạn, nghi ngờ »
-          Ông tin là chúng ta có thể khám phá ra sự thật trong khi cứ ngồi tranh luận không với nhau thế này sao ?
-          Ông có một vốn sống vô cùng phong phú- Quinn chậm rãi trả lời. Hơn hẳn mọi người.
Satterthwaite cay đắng :
-          Ồ ! Nhưng tôi đã sống được mấy dâu !
-          Tầm nhìn của ông rất sắc sảo. Ông nhìn thấy mọi chuyện trong khi những người khác chẳng hơn gì kẻ mù.
-          Đúng vậy- Satterthwaite giả bộ vênh váo- Tôi là nhà quan sát vĩ đại.
Nhưng nỗi cay đắng trong ông vẫn còn đấy. Sau vài phút im lặng, ông tiếp :
-          Lý thuyết của tôi là thế này : để nắm bắt được nguyên nhân của một hiện tượng, cần phải nghiên cứu những hiệu ứng.
-          Đúng thế- Quinn hưởng ứng.
-          Trong trường hợp này, hiệu ứng là cô Le Sueur, tôi muốn nói tới bà Harwell, và hiện giờ vẫn còn là một phụ nữ đã có chồng. Cô ta không còn son…Cô ta không thể tái hôn nữa. Mặt khác, nếu ông để ý kỹ thì sẽ thấy Richard Harwell là một nhân vật phức tạp, một người đàn ông có quá khứ bí ẩn, một con người hiện đang tồn tại giữa thinh không.
-          Tôi cũng hiểu điều đó- Quinn nói- Nhưng chúng ta chỉ có thể nhìn thấy ở đây tất cả những gì phải nhìn, những gì không thoát khỏi tầm mắt của chúng ta. Sự thực thì đến bây giờ, tôi cũng cảm nhận đại uý Richard Harwell là một nhận vật ám muội.
Ánh nhìn của Quinn đầy vẻ nghi ngờ. Ở một khía cạnh nào đó, những lời của Quinn như một mệnh lệnh bắt buộc Satterthwaite phải suy nghĩ khác đi :
-          Vậy là chúng ta đã nghiên cứư về những hiệu ứng- Satterthwaite nói – Hay nói khác đi là những gì mà tôi gọi là kết quả. Và bây giờ, hãy thử…
-          Nhưng ông vẫn chưa đề cập tới những kết quả mang tính ‘vật chất’, Quinn gợi ý.
Ông Satterthwaite đồng ý sau một giây suy nghĩ.
-          Ông nói có lý. Cần phải đi tới tận cùng mọi  hiện tượng. Để tóm gọn lại, có thể nói như vậy : Kết quả của tấn thảm kịch này là bà Harwell vẫn còn là một mệnh phụ đã có chồng và không có khả năng tái hôn ; và rằng ngài Cyrus G. Bradburn đã có thể tậu được lâu đài Ashley Grange và bộ sư tập đồ cổ của chủ nhân với giá…hình như là sáu mươi ngàn bảng, phải không ông ?... ; và rằng ai đó, từ Essex, đã mướn John Mahias về làm vườn. Ông có thấy vẻ gì đó mờ ám trong cụm từ « ai đó ở Essex » cũng như « nhân vật Cyrus G Bradburn ». Liệu có phải là một sự sắp đặt cho việc đại uý Harwell biến mất hay không ?
-          Có vẻ nhu ông đang mỉa mai- Quinn nói
Ông Satterthwaite ném cho đối phương cái nhìn sắc lẹm :
-          Nhưng ông chẳng từng đồng ý là gì…
-          Dẫu vậy- Quinn chặn lại- Nhưng mà giả thuyết này có vẻ kỳ cục sao ấy. Liệu chúng ta có gì khác không ?
-          Hãy thử tưởng tượng rằng chúng ta có mặt vào cái ngày tiền định ấy. Hai chúng ta đều biết rằng vụ mất tích xảy ra vào buổi sáng.
-          Không, không- Quinn cười- Cần phải sắp xếp theo kiểu khác để tưởng tượng của chúng ta có hiệu quả hơn. Hay quyết định thế này, cứ xem là vụ mất tích của đại uý Harwell đã trôi qua hàng trăm năm rồi. Bây giờ là năm 2025 và chúng ra đang ngồi chiêm nghiệm lại quá khứ.
-          Ông quả là một người kỳ lạ- Satterthwaite ngạc nhiên- Ông luôn tin vào quá khứ mà không phải là hiện thực trước mắt. Tại sao vậy ?
-          Ông chẳng vừa nói với tôi từ « không gian » là gì. Ở hiện tại, làm sao chúng ta có thể cảm nhận được « không gian » ?..
-          Thật chí lý- Satterthwaite nhượng bộ- Vâng, đúng thế. Hiện tại thường tỏ ra rất…quê mùa.
-          Ồ, từ ngữ của ông mới thú vị làm sao- Quinn tán thưởng.
-          Cảm ơn ông- Satterthwaite trả lời, hai tay vòng lại vẻ cung kính.
Nhưng Quinn nhanh chóng kéo ông Satterthwaite trở về với vấn đề trước mắt.
-          Thế này nhé…nếu như lấy năm 2025 làm mốc cũng không ổn, thử lùi lại hơn một năm xem. Ông hãy tóm tắt những đặc trưng cơ bản của một trăm năm trước bằng khả năng cô đọng thiên tài của mình xem nào !
Ông Satterthwaite im lặng suy nghĩ. Sau một hồi, ông lên tiếng.
-          Đã một trăm năm trôi qua, đó là năm của bột gạo và những loài ruồi. Vâng! Năm 1924 còn có thể coi là năm của trò chơi ô chữ và của lũ trộm chuyên trèo tường.
-          Rất tuyệt- Quinn nhận xét. Nhưng ông có thể tập trung nói về đất nước này mà không phải là một nơi nào khác không ?
-          Về trò chơi ô chữ thì phải thú thật là tôi chẳng biết gì mấy. Nhưng về lũ trộm trèo tường thì tôi rành lắm. Ông có nhớ một loạt nhữngvụ trộm không thể tưởng tượng nổi tại các lâu đài ở Pháp không ? Người ta vẫn phán đoán là chỉ duy nhất một tên có thể thực hiện liên tiếp các vụ đột nhập kinh thiên động địa đó. Bọn trộm thực hiện ngoạn mục những cú khoét ngạch với một khả năng kỳ lạ. Cảnh sát cũng tựng nghi ngờ một nhóm trộm « thiên tài »…Nhà Clondinis. Tôi đã có lần đọc qua về lũ này… Vô cùng ấn tượng. Nhóm này gồm mẹ và hai đứa con, một gái một trai. Chúng khuân đi hàng đống của cải một cách hết sức bí hiểm. Nhưmà thôi những chuyện này chẳng ăn nhập gì với vấn đ mà chúng ta đang bàn luận.
-          Vâng- Quinn trả lời- song cũng không đến nỗi đưa chúng ta đi quá xa đâu. Cùng lắm cũng chỉ đến bên kia eo biển Manche thôi mà.
-          Nơi mà những quý bà Pháp không thèm nhúng ngón chân xuống nước, nhu tay đầu bếp hay chuyện lúc nãy từng nói phải không- Satterthwaite cười.
Vài phút im lặng trôi qua, không khí bỗng trở nên nặng nề.
-          Nhưng tại sao anh ta biến mất !- Satterthwaite tiếp tục câu chuyện- Tại sao ? Tại sao ? Thật không thể nào tin được ! Cứ như một trò ảo thuật vậy.
-          Có khi là thế- Quinn nói- Một trò ảo thuật. Có lẽ bí ẩn nằm ở đó. Chúng ta bắt đầu xâm nhập được vào « không gian » rồi. Và nói một cách chính xác nhất thì ý nghĩa của một trò ảo thuật là gì ?
-          Đôi tay khéo léo của nhà ảo thuật tạo ra ảo giác cho khán giả, đó chính là bí quyết. Ông Satterthwaite đưa ra nhận định.
-          Chính xác là như vậy. Ảo giác. Nó thường được tạo ra từ sự khéo léo của đôi tay, nhưng đôi khi là nhờ những phương tiện khác. Có rất nhiề mánh khoé. Ảo thuật gia có thể bắn một phát súng lục, hay vẫy một chiếc khăn mùi xoa đỏ, rốt cuộc là tạo ra một thứ gì đó mà công chúng tưởng là thật, song thực tế lại không phải như vậy. Người ta nhìn những gì gây ấn tượng mạnh- và những gì lý thú- và người ta quên mất phải nhìn những gì quan trọng- những gì ẩn giấu sau đó.
Ông Satterthwaite chúi người về phía trước, mắt mở to.
-          Sự thật được ẩn giấu bên trong, phải vậy không ?
Thấy đối phương không trả lời, ông tiếp, giọng tư lự :
-          Một « phát súng lục », Nhưng « phát súng » dó nằm ở thời điểm nào trong trò ảo thuật này ? Đâu là « hành động » gây ấn tượng mạn làm đảo lộn trí tưởng tượng của chúng ta.
Satterthwaite dừng lại lấy hơi rồi tiếp tục :
-          Sự biến mất. Hãy tập trung vào yếu tố này. Liệu đây có phải là một hành động ảo thuật không ?
-          Vậy ư ? Ông cho rằng sự việc xảy ra hoàn toàn không phải là điều thương tâm như mọi người lầm tưởng, mà chỉ là một “phương tiện” thôi sao?
-          Không thể nói như vậy được… Ông cho rằng việc cô Le Sueur bán lâu đài Ashley Grange trong hoàn cảnh đó và bỏ đi lại không có lý do ư?
-          Ông nghĩ sao?
-          Nghĩ sao ư? Có chứ. Đây là một hành động rất hớ hênh, tôi cho là vậy. Và người ta chắc đã hỏi rất nhiều về giá trị của bộ sưu tập. Nhưng…đợi đã nào…
Satterthwaite dừng lại một lát, rồi bông tuôn ra ào ào:
-          Ông hoaà toàn có lý. Người ta đã quá chăm chú hướng đèn chiếu về phía đại uý Harwell. Trong khi cô ta thì lại ung dung trong bóng tối. Cô Le Sueur! Tất cả chúng ta đều quan tâm: “ vậy thì đại uý Harwell thực chất là ai ? Anh ta đến từ nơi nào ? », nhưng không một ai đặt nghi vấn lên cô ta, bởi vì cô ta đường đường là… nạn nhân. Liệu cô ta có đúng là một người Canada gốc Pháp ? Liệu cô ta có thự sự thừa kế bộ sưu tập giá trị đó không ? Ông đã đúng khi nói rằng chúng ra không đi quá xa vấn đề. Chỉ đến bên kia eo biển Manche. Những vật sưu tập được mạo nhận thực chất chỉ là chiến lợi phẩm thu được từ các cụ trộm tại những lâu dài ở Pháp, mà trong đó chủ yếu là các tác phẩm nghệ thuật giá trị, và do đó rất khó tiêu thụ, trên thực tế, ả ta đã mua ngôi nhà chẳng phải với mục đích để ở. Ả dọn tới đó, rồi ả bỏ một khoản tièn lớn để thuê một bà người Anh không chê vào đâu được làm người hộ tống ả cho ra vẻ quyền quý. Sau đó thì hắn đến. Tất cả đều là mưu mô chuẩn bị từ trước. Lễ cưới, vụ mất tích và những sự kiện ý nghĩa khác. Có điều gì tự nhiên hơn việc một người đàn bà trẻ mệt mỏi vì đau khổ muốn bán đi tất cả những gì có thể gợi cho mình nỗi tiếc thương vê niềm hạnh phúc đã mất ? Ngài quý tộc người Mỹ kia đich thực là một tay mơ, chỉ biết rằng những vật kia là thật và rất giá trị, nhiều thứ thậm chí là vô giá. Vậy là ông ta đề nghị mua lại và ả ta chấp thuận. Rồi ả rời khỏ nơi tang thương trong vai nhân vạt chính của tấn thảm kịch. Âm mưu đã bước đầu được hoàn tất. Công chúng té ra chỉ tập trung vào đôi bàn tay khéo léo và sản phẩm của ngón nghề ảo thuật.
Ông Satterthwaite dừng lại, mạt nhuốm đỏ niềm kiêu hãnh chiến thắng.
-          Nếu không có ông thì sẽ không bao giờ tôi hiểu được- Satterthwaite nói tiếp giọng xúc động- Ở ông tôi tìm thấy một hiệu ứng thật kỳ lạ. Người ta thường chú ý đén sự việc mà chẳng cần biết chúng muốn nói lên sự thật gì. Ông thật khéo tay khi hướng mọi người đi đúng đường. Nhưng vẫn còn một điểm bí ẩn. Harwell chắc chắn đã rất vất vả để có thể « biến mất ». Sau vụ mất tích, tất cả cảnh sát Anh đã nhảy vào cuộc để tìm kiếm. Thực tế thì đơngiản nhất là trốn ngay tại lâu đài Ashley Grange, nếu như hắn biết tự xoay xở.
-          Tôi nghĩ là hắn không thể nào trốn xa lâu đài Ashle Grange được- Quinn nhận định.
-          Nhà của Mathias, ông muốn nói như vậy đúng không ? Ông Satterthwaite hỏi.
-          Nhưng cảnh sát chắc đã lục tung chỗ này lên rồi.
-          Nhiều lần nữa là khác, tôi nghĩ vậy- Quinn trả lời.
-          Thế thì gã Mathias này…-ông Satterthwaite nhíu mày.
-          Và cả bà Mahias nữa- Quinn tiếp.
Satterthwaite ngước nhìn ông bạn :
-          Chúng đúng là nhóm trộm Clodinis. Nhóm trộm này có ba tên. Hai đứa con đóng vai Harwell và Eleanor Le Sueur. Nhưng còn mẹ chúng ? Chính là bà Mathias ư ? Trong trường hợp này…
-          Mathias có phải là bị thấp khớp nặng không ?
Quinn tiếp tục đóng vai một người vô can chẳng biết gì.
-          Đúng rồi !- Ông Satterthwaite kêu lên- Tôi biết rồi. Tôi tin là mình có thể diễn đạt được. Ông nghe nhé. Mathias ở đó một tháng. Trong thời gian này, Harwell và Eleanor đã bỏ ra mười lăm ngày để thực hiện cái gọi là tuần trăng mật, họ cùng nhau ở Luân Đôn. Đúng một tháng cho Mathias kịp hiện diện ở lâu đài Ashley Grange. Có nghĩa là Harwell không đi đâu hết. Một người có năng khiếu có thể đón tốt cả hai vai Harwell và Mathias. Và khi Harwell « tới » Kirlington Mallet thì Mathias đã kịp thời “bị” thấp khớp nặng và phải « đóng đinh » trên giường. Sự hiện diện của « bà Mathias » cũng là dối trá. Vai « bà Mathias » là không thể thiếu vì nếu không có nhân vật này thì lấy ai để đưa ra chứng cớ về việc Mathias nằm liệt giường ? Ông nói đúng. Harwell không trốn trong nhà của Mathias. Mà hắn là Mathias. Sau khi dựng xong kịch bản về hai vợ chồng «  nhà Mathias ». Le Sueur loan tin rằng tìm thấy chúng ở Essex. Sự thật thì chúng chẳng hề đi đâu hết…
Có tiếng gõ cửa và Masters rụt rè bước vào phòng :
-          Xe của ngài đang đợi sẵn ở ngoài rồi ạ.
Ông Satterthwaite đứng dậy, cùng lúc, Quinn cũng bước tới cửa sổ và vén tấm ri đô lên.
-          Bão đã tan- Quinn nói.
Satterthwaite mang găng tay vào:
-          Tuần tới tôi có hẹn ăn tối với cảnh sát trưởng hạt Yard. Tôi sẽ nói với ông ta về phán đoán của mình.
-          Thực ra muốn kiểm tra cũng không khó lắm. Chỉ cần so sánh catalogue bộ sưu tập của Eleanor Le Sueur với danh sách số vật quý đã bị lấy cắp mà cảnh sát Pháp đang lưu giữ là ra ngay thôi mà.
-          Đúng rồi- Satterthwaite nói- Thế thì không may cho quý ngài Bradburn rồi. Nhưng…
-          Tôi tin là ông ta đủ giàu để có thể chịu nổi sự mất mát nhường ấy- Quinn tiếp lời.
Ông Satterthwaite bắt tay người bạn:
-          Tạm biệt- Tôi không biết phải nói với ông như thế nào để diễn tả sự cảm kích về cuộc gặp ngẫu nhiên này. Ngày mai ông lại ra đi, phải không?
-          Có thể là ngay tối nay. Nhiệm vụ của tôi ở đây đã kết thúc. Ông biết rồi đấy, tôi chỉ là một vị khách kỳ cục ghé qua đây thôi mà.
Ông Satterthwaite bỗng nhớ lại chính xác những từ đã từng được nghe trong buổi tối nay. Thật kỳ lạ. Ông rời khỏi phòng trọ để ra xe, ông lại nghe thấy giọng người đầu bếp hay chuyện:
-          Một bí ẩn khủng khiếp- Anh ta nói. Vâng, một bí ẩn khủng khiếp.
Thực tế thì anh ta cũng phải thay từ “khủng khiếp” bằng một từ gì đó nghe có vẻ bớt bi kịch hơn. Vì sự thật thì chẳng có thấn thảm kịch nào xảy ra ở khu ngoại vi buồn tẻ này hết. Ông chủ quán và gã đầu bếp hay chuyện quả rõ khéo khi trầm trọng hoá vấn đề hù doạ những khách trọ đến đây. Chẳng gì khác hơn ngoài một vụ lừa đảo siêu hạng.
Ông Satterthwaite duỗi dài trong chiếc xe Limousine tiện nghi. Khom người lên phía trước để nhìn lại một lần nữa quán trọ, ông vẫn còn kịp thoáng thấy cô gái trẻ Mary đang bước xuống bậc thềm, trên đầu là chiếc biển hiệu đang kêu kèn kẹt.
-          Giá như chỉ mình cô bé biết- Ông thì thầm- Nếu chỉ mình cô bé này biết những gì ta sắp làm cho cô…
Chiếc biển hiệu mang dòng chữ Belles and Motley vẫn đung đưa nhè nhẹ trong gió.
  
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
Chị Ct Ly ơi, thiếu mất trang 110-111 rổi (AG55). Chị gửi mail cho em nhé, hoặc post lên diễn đàn để em đánh máy cho liền mạch. Thanks chị
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-11 11:39:32Ct.Ly>
(Đánh máy: Pha Lê Dễ Vỡ- Thanks Pha Le De Vo for your help!)

Chương VI:
 
 NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẾN TỪ BIỂN CẢ

Satterthwaite thấy mình đã già. Dưới mắt người khác cũng vậy. Đám choai choai cợt nhả với bạn gái của chúng thế này: "Ông lão Satterthwaite ấy à? Ồ có lẽ cũng trăm tuổi rồi. Không thì cũng chẳng thể dưới tám mươi". Ngay cả những người không hay nói phóng đại cũng phát biểu với vẻ cảm thông: "Satterthwaite? Người xưa đấy, ông ấy không dưới sáu mươi tuổi đâu". Xét về mặt nào đấy bọn họ đều nhầm, vì tuổi ông là sáu mươi chín tuổi.
Tuy vậy, ông không thấy mình đã già đến vậy, 69 tuổi là lứa tuổi đầy thú vị. Lứa tuổi có những khả năng không ngờ, lứa tuổi mà con người băt đầu gặt hái những kinh nghiệm sống của một con người. Nếu có cảm thấy già cỗi thì đó là chuyện đương nhiên, vì cũng đã đủ đầy mệt mỏi và những sự nản lòng, vì ý muốn thả mình tránh những chuyện phiền toái. Tự đáy lòng, ông là gì cơ chứ? Một ông già nhỏ thó không vợ con, chẳng sở hữu của cải gì ngoài một bộ sưu tập tranh và khi sang đến dốc bên kia của cuộc đời ông cũng chưa tìm đủ cho trọn bộ. Theo kiểu nói nhân văn, ông chẳng có gì gắn bó với đời. Ông sống hay chết, ai là người biết đến?
Giữa mớ bòng bong suy diễn ấy, Satterthwaite đã tự làm khổ mình bằng những ý nghĩ kỳ quậc cằn cỗi, rằng nếu ông lấy vợ, hai vợ chồng ông sẽ ghét nhay thậm tệ, con cái sẽ là nguồn gốc của mọi muộn phiền, lo lắng và cuối cùng, nghĩ vụ phải dành thời gian và sự thương tiếc cho gia đình sẽ khiến ông bị phiền nhiễu cùng cực.
"Không có gì đáng giá sau mọi vẻ tiện nghi và thoải mái", ông tự nhủ vẻ cương quyết.
Phản xạ này khiến ông nhớ đến một bức thư mới nhận sáng nay. Rút thư ra, ông đọc lại thật kux và lấy làm thú vị. Bởi lời lẽ trong thư chứng tỏ người viết là một phụ nữ đài các. Mở đầu bức thư kêu gọi đóng góp cho một hoạt động từ thiện, có lẽ người viết chưa viết thư kiểu này bao giờ, nhưng lời dề nghị được diễn tả khéo đến nỗi Satterthwaite chỉ còn biết thán phục. Vào đề, bức thư viêt:
"Vậy là ngài đã làm sa mạc hóa Riviera. Hòn đảo của ngài thế nào? Giá cả ở đó ra sao? Năm nay ở Cannotti cuộc sống đắt đỏ dễ sợ, tôi sẽ không bao giờ quay lại bờ biển Ngà nữa. Năm tới, có thể tôi sẽ đến hòn đảo của ngài nếu ngài đồng ý. Tôi sợ năm ngày tàu nhưng nếu ngài đích thân đặt chỗ, chắc chắn là sẽ rất - thậm chí là quá tốt. Cuối cùng ngài phải giống như những người sống thoải mái và chỉ quan tâm đến những tiện nghi nho nhỏ. Chỉ có một việc suy nhất cứu rỗi ngài, ngài Satterthwaite, là lợi nhuận vô kể mà ngài kiếm được trước đây..."
Khi gấp bức thư lại, trước mắt Satterthwaite hình ảnh bà công tước hiện rõ nét: Bủn xỉn, ngôn từ sắc nhọn, cá tính chưa được thuần hóa.
Cá tính! Tự thân nó là một phẩm chất hiếm có vào thời đại ngày nay. Ông rút ra một bức thư khác gửi từ Đức của một ca sỹ trẻ mà ông yêu mến. Lời thư thân thuộc và trìu mến. "Biết cảm ơn ngài thế nào, ngài Satterthwaite kính mến? Sắp tới cháu sẽ hát bài Isolde, điều này làm cháu vô cùng hạnh phúc...". Tiếc là cô ca sỹ đã không thực hiện được điều này. Cô bé Olga này thật đáng mến: chăm chủ, chất giọng đẹp trời phú, có điều còn thiếu cá tính. Cô lầm rầm hát: "Không, hãy yêu cầu anh ta điều đó! Hãy hiểu tôi, tôi đây, Isolde, tôi ra lệnh đó" - Không cô bé này không thế có cá tính mạnh như vậy, ý chí không khuất phục thế hiện rất rõ trong câu kết "Ich Isolde"
Cuối cùng...chẳng lẽ ông không có ích cho một người nào hay sao? Rõ ràng là  hòn đảo này khiến tinh thần ồn suy sụp. Làm sao, mà tại sao ông lại làm "sa mạc hóa" Riviera, nơi mà ông biết rất rõ và ong cũng được mọi người biết đến. Ở đây không có ai quan tâm tới ông. Không ai biết ông là "ngài Satterthwaite" nổi tiếng, bạn của các bà công tước, bá tước, bạn của các nữ ca sỹ và các nhà văn. Trên hòn đảo này không có ai là nhân vật quan trọng của xã hội thương lưu hay của giới nghệ thuật. Pần đông cư dân đến đây từ bảy, mười bốn, hai mươi mốt năm liên tiếp, thời gian như vậy khiến họ nhanh già.
Hít thở thật sâu, Satterthwaite ra khỏi khách sạn đi về bến cảng. Ông men theo con đường hoa giấy đang nở tung, rực rỡ. Thốt nhiên, ông thấy mình như một con vịt già nua xám xịt.
- Mình  đang già đi - Ông thì thầm - Mình tự khiến mình già và mỏi mệt.
Ông nhẹ người rời giàn hoa giấy và rẽ sang con phố trắng dẫn ra biển. Ở giữa đường, một con chó ghẻ đang nằm sưởi nắng. Nó sảng khoái vươn mình rồi ngồi dậy ngó nghiêng bóng mình. Sau đó, nó ngẩng lên, nhìn quanh tìm kiếm xem có thức gì ngon lành và cuộc đời còn có thể dành cho nó.
Vệ đường có một đống rác lớn. Con chó lon ton chạy lại gần, cánh mũi phập phồng đánh hơi đầy vẻ phấn chấn. Quả không sai. Mùi thối xộc lên từ đống rác. Con chó sịt mũi khoái trá, sục vào. Cuộc đời lúc này quả thực là thiên đường đối với nó.
No nê, con chó đứng dậy và nhoáy cái đã đến giữa đường. Đúng lúc đó, một chiếc ôtô cũ mèm ầm ầm  lao tới không một tiếng còi báo, đâm rầm vào con chó làm nó văng bật ra xa.
Con chó rướn lên rồi bất động trong giây lát, đôi mắt bám chặt lấy Satterthwaite, câm lặng trách cứ, rồi  rũ xuống. Ông bước lại cúi xuống chỗ con chó. Nó chết rồi. Ông lại cất bước, lòng cứ thấy day dứt trước nỗi buồn và sự tàn bạo của cuộc đời. Thật lạ lùng, ánh nhìn chê trách của con vật cứ như muốn nói: "Ồ cuộc đời! Cuộc đời mà ta tin yêu biết bao, tại sao chuyện đó lại xảy ra với ta?"
Ông Satterthwaite đi qua  hàng cọ, qua những ngôi nhà nằm rải rác đây đó, rồi đứng trước bãi biển. Những con sóng trồi lên rồi lại lùi ra xa. Ở dây, lâu rồi, một vận động viên bơi lội nổi tiếng của Anh đã chết đuối vì những con sóng này. Ông đi qua vùng bờ đá, chỗ bọn trẻ con và mấy bà sồn sồn đang loi choi choi trong nước mà cho rằng mình đang bơi. Cuối cùng ông theo con đường dốc đứng quanh co lên đến vách đá. Trên cao này có ngôi nhà mang biệt danh "La Paz"sơn màu trắng, những ô cửa màu xanh đã phaimauf đóng kín mít, khu vườn bao quanh hoang sơ thật đẹp, đường đi trồng bách hai bên chạy dài lên cao nguyên ven vách đá. Từ trên cao đó, tầm mắt phóng ra xa thật xa. Dưới kia là biển xanh ngút ngắt.
Những ngày này ông Satterthwaite hay đến đây. Ông rất thích khu vườn "La Paz", nhưng chưa bao giờ ông bước vào khu biệt thự đầy vẻ quạnh hiu này. Anh làm vườn người Tây Ban Nha tên là Manuel có khuôn mặt sạm nắng và vui vẻ. Anh đón mừng khách khứa bằng cách tặng một bó hoa lớn cho các bà, một bông hồng cài áo cho các ông.
Việc làm này khiến ông Satterthwaite tưởng tơợng ra bao chuyện về chủ nhân ngôi biệt thự. Giả như ngôi nhà này là của một vũ nữ người Tây Ban Nha, khi xưa nổi tiếng trên toàn thế giới vì sắc đẹp nay tìm đến đây chạy trốn sự tàn phá của thời gian.
Ông hình dung ra cảnh cô vũ nữ ra khỏi nơi cư ẩn, đi dạo trong khu vườn trong buổi hoàng hôn. Có đôi khi ông những muốn hỏi Manuel sự thể thế nào, nhưng rồi lại gạt đi. Ông vốn thích tưởng tượng mà.
Sau vài lời hỏi thăm anh làm vườn và lịch sự đón nhận bông hồng màu cam, ông Satterthwaite men theo con đường trông bách ra đến biển. Ngồi ở đây, bên bờ dại dương vĩ đại, đỉnh cao ngay dưới chân mình, thật là một niềm đam mê khó tả. Nhưng rồi bỗng ông rùng mình, cảm thấy mình đã già nua, lòng tê tái, đơn lẻ... Ông đã nhận được gì của cuộc đời? Chẳng gì cả. Trắng tay. Còn không bằng con chó bị kẹp chết sáng nay trên đường phố...
Đột nhiên, một tiếng động dội đến kéo ông ra khỏi dòng suy tưởng. Không phải tiếng bước chân mà là một lời rủa bằng tiếng Anh.
Quay đầu lại, ông thấy một thanh niên đang chăm chú nhìn ông với vẻ ngạc nhiên pha lẫn thất vọng. Ông nhanh chóng nhận ra anh ta, vị khách du lịch làm ông tò mò kể từ lúc anh ta đến vào hôm qua. Ông gọi "chàng thanh niên" Vì anh ta có vẻ trẻ so với phần đông những người hay lu tới khách sạn, tuy vậy anh ta cũng phải tầm bốn mươi, không thế ngoài năm mươi được. Dù vậy, gọi anh ta là "thanh niên" Cũng có vẻ đúng vì trông anh ra có vẻ không phải người sành sỏi. Ông Satterthwaite thường có những phán đoán kiểu này khác chính xác. Người đang ông kia có dáng vẻ của những con chó đã trung thành những vẫn lưu lại những đặc tính của chú cún con xưa kia.
"Chàng trai này chưa khi nào thực sự là người lớn. Ít nhất là theo nghĩa đen của từ này". Ông Satterthwaite nghĩ.
Dù sao, người đang ông kia không như một "cậu bé" Nghèo khó. Dồi dào sinh lực, béo tốt, biểu hiện của những người đầy đủ cả vật chất và tinh thần. Anh ta có đôi mắt màu nâu tròn, mái tóc  vàng hoa và bắt đầu hoa râm, hàng ria mép nhỏ trên khuôn mặt rám nắng.
Anh ra đến hòn đảo này làm gì nhỉ? Ông Satterthwaite thực sự tò mò. Ông hình dung thấy anh ra đang đi săn, tập bắn, chơi bài, đánh gôn hay tennis, tán tỉnh các cô nàng xinh đẹp nhưng trên hòn đảo này làm gì có máy cung để tập bắn, không có bãi săn, cũng không có môn thể thao nào khác ngoài bóng chày, và chỉ có cô Baba Kindersley, không quản tuổi tác vẫn giữ được dáng vẻ duyên dáng. Tất nhiên không lọa trừ lí do phong cảnh nên thơ nơi đây quyến rũ các nghệ sỹ, nhưng ông Satterthwaite dám chắc rằng anh ta không thuộc giới nghệ sỹ. Ở anh ta toát lên dáng vẻ cục mịch, không ham chữ nghĩa, nghệ thuật.
Mặc những phỏng đón trong đầu Satterthwaite, người lạ mặt nói với vẻ bối rối, vì biết câu rủa của mình khi nãy là hớ.
- Xin lỗi. Tôi ...tôi...không định nói thế... Tôi không nghĩ là lại có người ở đây.
Anh ra nở nụ cười hối lỗi. Nụ cười của anh ta thật quyến rũ, thân thiện và dễ làm động lòng người khác.
- Chỗ này kể cũng vắng vẻ - Ông Satterthwaite đòng tình.
Ông lịch sự nhích ra để nhường chỗ cho chàng trai. Anh ra im lặng ngồi xuống.
- Ở đây mà hoang vắng sao? - Anh ta nói - Tôi không nghĩ thế. Có vẻ như lúc nào ở đây cũng có người.
Trong giọng anh ra ẩn chứa sự kích động. Ông Satterthwaite tự hỏi vì sao anh ra tỏ ra là người thân thiện với những người al? Sao anh ra lại tìm đến nơi quạnh quẽ nãy nhỉ? Có lẽ là một cuộc hẹn tình tứ chăng? Nhất định là không đúng. Ông nhìn trộm người ngồi cạnh. Ông bất chợt thấy mình đã gặp người này ở đâu rồi, mới đây thôi, vì ông nhận ra ánh nhìn pha trộn vẻ bối rối và khiêu khích được che giấu.
- Vậy ra anh đã đến đây rồi à? - Ông Satterthwaite gợi chuyện.
- Vâng. Tôi ra đây hôm qua, lúc sau bữa tối.
- Thế à? Chắc buổi tối cửa vẫn đóng chứ?
Một lát lặng im.
- Tôi đã trèo tường vào - Cuối cùng anh ra trả lời với giọng cáu kỉnh.
Ông nhìn anh ta càng ngạc nhiên hơn. Vốn có sự tinh nhạy của một cảnh sát điều tra, ông không nghĩ là người đồng hành với ông đây lại có đủ thời gian khám phá vẻ đẹp quyến rũ của khu biệt thư lức ban ngày khi mà anh ta mới chỉ tới đây chiều hôm trước, hơn nữa anh ta cũng chưa nói chuyện với bất kỳ khách du lịch nào khác. Nhưng ngay khi đêm xuống anh ta đi thằng đến "La Paz" Làm gì nhỉ? Ông Satterthwaite quay đầu ngắm ngôi nhà có ô cửa xanh. Nó vẫn vắng vẻ, tĩnh lặng, và đóng cửa im ỉm như mọi khi... Vậy là, điều bí mật không trốn trong đó.
- Thế anh đã gặp ai tối qua ở đây à?
- Vâng. Có thể là khách của một khách sạn khác. Ông ra mang đồ giả trang.
- Đồ giả trang?
- Vâng. Một kiểu trang phục của Arlequin.
- Sao cơ?
Câu hỏi bật ra rành rọt khiến người lạ mặt ngạc nhiên nhìn ông chòng chọc.
- Tôi tưởng các khách sạn ở đây thường tổ chức các đêm dạ hội hóa trang?
- À! Vâng. Rất, rất thường xuyên.
Hơi thở ngắt quãng, ông ngừng lại rồi nói thêm.
- Mong anh bỏ quá cho sự xáo động vừa rồi. Anh có biết, vô tình thôi, rằng đó là một chất xúc tác không?
Chàng trai nhìn ông sững sờ.
- Chưa bao giờ tôi nghe nói đến từ này. Đó là cái gì vậy?
Với vẻ trang trọng, ông Satterthwaite kể:
- Một hành động mà qua đó một chất - gọi là chất xúc tác - đấy nhanh phản ứng hóa học!
- Thật thế sao? - Chàng thanh niên bối rỗi.
- Tôi có một người bạn tên là Quinn, mà từ "chất xúc tác" với ông ấy là dấu hiệu báo trước những sự kiện bất thường, mà ông ấy chưa nhầm lẫn bao giờ. Tôi có cảm giác người ông gặp hôm qua chính là bạn tôi.
- Ra vậy! Kiểu đó chẳng giống ai, bạn của ông ấy. Ông ra đã làm tôi sốc. Đột nhiên ông ra xuất hiên, như là ông ấy từ biển lên vậy.
Ông Satterthwaite đưa mắt nhìn dải đất và nhìn ra xa tận cùng thung.
- Tôi biết là vô lý, nhưng ông ta đã làm tôi sốc. Chuyện này rõ ràng là không có thực. Anh ta sẽ cúi xuống phía dốc đứng. Một cái vách phẳng lỳ, dựng đứng, nếu bị trượt trên đó, chúa ơi là cầm chắc cái chết.
- Còn nơi nào lý tưởng hơn để thực thi tội ác chứ! - Ông Satterthwaite bông lơn.
Người đồng hành nhìn ông, ngơ ngác, như thế bất chợt anh ta lạc mất chủ đề câu chuyện.
- À, vâng, thực sự... Cuối cùng anh ta nói, giọng mạnh mẽ.
Anh ra cau mày gõ đầu gậy xuống đất. Ông Satterthwaite chợt nhớ ra điều mà ông ngờ ngợ từ nãy giờ. Ánh nhìn dò hỏi và bối rối... Con chó bị kẹp chết sáng nay có cái nhìn y hệt như vậy, đều biểu hiện cùng một câu hỏi thống thiết và lời trách cứ: "Ồ cuộc đời mà ta tin yêu biết bao, tại sao điều đó lại xảy ra với ta?"
Giữa người lạ mặt kia và con chó sáng nay còn những điểm giống nhau như: cuộc sống vô lo, hưởng thụ, cùng vui vẻ giã từ những vui thú của cuộc đời, thiếu vắng những hành xử trí tuệ. Cả hai tận hưởng từng giây phút hiện tại, thế giới này là một nơi dễ chịu dành cho những thú vui vật chất: Mặt trời, biển khơi, bầu trời... biết bao là điều vui. Sau đó thì sao ư? Một chiếc ô tô đã cán chết con chó, còn điều gì sẽ quật ngã người đàn ồn kia?
Người lạ mặt lên tiếng, như là tự nói với mình hơn là nói với ông Satterthwaite.
- Ta tự hỏi tất cả rồi để làm gì chứ?
Những lời của người đàn ông khiến Satterthwaite mỉm cười vì chúng biểu lộ một cách vô thức bản chất ích kỷ của con người, mà loài người vẫn tin rằng mọi sự việc trên đờ đều chỉ dành riêng cho niềm vui cũng như sự đau buồn của chúng ta, Satterthwaite không trả lời. Người lạ mặt cười trừ:
- Dường như tất cả đàn ông đều phải xây một ngôi nhà, trông một cái cây và có một câu con trai... Tôi đã ngỡ là mình đã trông nên một cây rồi, buổi xưa kia...
Ông Satterthwaite lắng nghe. Trí tò mò trối dậy: sự hứng thú được quan tâm đến câu chuyện của người khác hiện rõ. Có sao đâu! Chẳng phải trong ông có những đức tính tốt của phụ nữ sao? Ông rất biết lắng nghe, có năng khiếu phát ngôn đúng lúc, đúng chỗ để diễn ta đúng sự việc, và nhanh chóng biết được mục đích của câu chuyện.
Người lạ mặt tên là Anthony Cosden. Có vẻ như anh ta giống như trong hình dung của ông Satterthwaite. Anh ta không có năng khiếu dẫn dắt câu chuyện, nhưng thính giả lại là một người thừa trí tưởng tượng. Anh ta có một cuộc đời bình dị như bao người khác: Thu nhập trung bình, đi nghĩ vụ quân sự, chơi thế thao mỗi khi có dịp, nhiều bạn, biết bao hoạt động thú vị và có vài phụ nữ vây quanh. Một cuộc sống thực dụng tách ròi cảm xúc. Nói trắng ra, sống như một con vật vô lo. "Nhưng người ta có thể thấy tệ hơn, ông Satterthwaite thầm đánh giá bằng tất cả sự nhạy cảm của kinh nghiệm sống. Phải rồi, có thể còn tệ hơn". Anthony vẫn luôn tin tưởng rằng cuộc đời thật đáng yêu. Nếu anh ra có tỏ ra khó chịu với đòi thì đó không phải là thực lòng muốn vậy, ấy vậy mà bất hạnh cuối cùng đã xảy đến với anh.
Anthony kể chuyện, giọng khá gay gắt và rời rạc. Một hôm, anh ra cảm thấy bất ổn liền đi gặp bác sỹ. Ông này đã thuyết phục anh ra đi gặp một chuyên gia ở phố Harley. Và không thể tin nổi. Chuyên gia đã cố gằng đề cập vấn đề khi nói đến những điều trị tăng cường, sự yên tính, nghỉ ngơi... Nhưng rốt cuộc cũng không thể lừa được anh ra tin vào câu chuyện đó được... Cuối cùng họ cũng phải thông báo nhẹ nhàng với anh ta rằng anh ta chỉ còn sống được sáu tháng nữa thôi.
Đôi mắt màu hạt dẻ nhìn Satterthwaite với vẻ tuyệt vọng. Thế là ông lại sốc vì nhận thấy tình thương lại dội lên trong lòng. Ông không biết...nói thế nào nhỉ?... Ông chỉ biết hành động.
Ông lắc đầu vẻ nghiêm trọng. Ông hiểu.
Thật khó cho Anthony Cosden. Biết sống những ngày tháng cuối cùng ra sao chứ? Đợi thần chết đến tìm ư? Đó đâu phải là sống. Anh ta không thấy mình bị bệnh, chưa thấy thì đúng hơn. Nhưng sau khi gặp chuyên gia thì khồn trốn tránh chuyện đó được nữa. Thật nghịch lý: Phải chết khi không hề muốn chêt! Anh ra đã nghĩ là cứ làm như không có việc gì xảy ra thì tốt hơn. Nhưng không được.
Đến đây, ông Satterthwaite những muốn ngắt lời người kể để hỏi cho ra xem anh ta có gắn bó với người phụ nữ nào khồn? Ông chỉ hỏi rất tế nhị.
Có vẻ như là không. Anh ra có nhiều phụ nữ quanh mình, dễ hiểu thôi, nhưng đó là hai chuyện khác nhau. Anh ra có cả hội bạn vui nhộn. Anh ra không hề muốn chết, không muốn ở trong lòng đất lạnh lẽo. Cái chết làm tất cả mọi người đều bối rối. Đó là lý do vì sao anh ta ra nước ngoài.
- Vậy là anh quyết định đến hòn đảo này! Nhưng vì sao lại chọn nơi đây chứ?
Ông Satterthwaite xâu chuỗi lại sự việc những diều không lối thoát...tế nhị nhưng hữu ích, và ông bị thuyết phục.
- Có thể trước đây anh đã đến đây rồi?
- Vâng - Cosden thành thật - Cũng lâu rồi, khi tôi còn trẻ.
Đột nhiên, gần như bản năng, anh ta đưa mắt rất nhanh về phía khu biệt thự.
- Tôi nhớ rất rõ nơi này, anh ta vừa nói vưa quay ra biển. Một bước đi về vĩnh hằng!
- Thế tại sao anh ta lại lên đây tối hôm qua? - Satterthwaite từ tốn. Anthony bực dọc nhìn ông.
- Ồ! Thực ra, tôi...
- Hôm qua anh đã gặp một người ở đây. Và chiều nay, anh gặp tôi. Vậy là chúng tôi đã cứu anh hai lần.
- Ông hiểu mọi việc như vậy cũng không sao, nhưng...nhưng, chúa ơi, đó là cuộc sống của tôi. Tôi có quyền muốn làm gì thì làm chứ.
- Đây là nơi công cộng - Satterthwaite nói với giọng mệt mỏi.
- Tôi hiểu - Anthony nói giọng cảm thông - Người ta khó nói khác được. Tôi cũng vậy thôi, tôi sẽ cố gắng thuyết phục để ngăn bất kỳ ai muốn tự tử, cho dù thâm tâm tôi vẫn biết là anh ta có lý. Và tôi đang có lý, ông biết đấy, một cái chết chóng vánh, không chê vào đâu được còn hơn là hấp hối trong lo âu không dứt. Hơn nữa, khi tôi không có người thân nào trên đời...
- Thế nếu anh có ai đó? - Satterthwaite ngắt lời.
Cosden thở dài.
- Tôi không biết nữa. Nếu có như vậy đi nữa thì tôi thấy đây vẫn là giải pháp tốt nhất. Dù sao tôi không có...
Anh ta đột ngột dừng lời. Satterthwaite nhìn anh ra tò mò. Bản tính lãng mạn, ông giả thiết là anh ta nhất định phải có một người đàn bà ở dâu đó. Nhưng Cosden không công nhận. Anh ta cũn không hề than phiền. Có thể là vì anh ta có một cuộc sống khá thoải mái. Tiếc là cuộc đời đó phải kết thúc quá sớm. Dù thế nào, anh ta cũng nghĩ là phải tận hưởng tối đa cuộc đời đó đi: Anh ta có được tất cả những gì anh ta có thể ước mong... Trừ một đứa con. Hắn là anh ta rất thích một cậu con trai. Anh ra sẽ yên tâm hơn nếu niết mình còn có một đứa con trai. Nhưng vẫn phải nói rằng anh ta đã có một cuộc sống rất thoải mái...
Điều đó làm Sattertwaite mất kiên nhẫn. Ông cảm thất bực mình trước sự mềm yếu của người đàn ông trước mặt.
- Anh vẫn chưa biết sống mà vẫn chỉ ở thời điểm bắt đầu.
Cosden phá lên cười.
- Vậy mái tóc hoa râm của tôi là sao kia? Tôi đã bốn mươi...
- Đây không phải là chuyện tuổi tác - Satterthwaite ngắt lời - Cuộc đời là tổng quan những kinh nghiệm về thể chất cũng như tinh thần. Như tôi là một ví dụ, tôi sáu mươi chín tuổi, và tôi đã sống thực sự. Với tư cách cá nhân hay với tư cách nào khác, tôi đúc rút được tương đối những kinh nghiệm sống mà cuộc đời có thể mang lại. Còn anh thì ngược lại, anh khiến tôi nghĩ đến một người luôn miệng nói về bốn mùa nhưng mới chỉ trông thấy tuyết và váng băng! Hoa cỏ mùa xuân những ngày hè uể oải, những cành lá chể của mùa thu, anh ta đâu đã biêt. Thậm chú anh ta còn không biết có những điều như vậy tồn tại trên đời. Và anh muốn quay lưng lại với cơ hội được khám phá những điều tốt đẹp đó sao?
- Có lẽ ông quên là tôi chỉ sống được có sáu tháng thôi - Giọng Anthony Cosden khô khốc.
- Thời gian là tương đối, mọi thứ đều chỉ có tính tương đối. Sáu tháng có thể sẽ dài hơn và anh sẽ thu được nhiều vốn sống hơn tất cả quãng đời trước đó.
Cosden vẫn chưa bị thuyết phục.
- Tôi dám chắc là ông cũng làm như tôi khi ông rơi vào hoàn cảnh giống tôi.
Satterthwaite lắc đầu.
- Không đúng. Trước hết, tôi không chắc mình đã rèn được sự dung cảm vì muốn tự vẫn phải có lòng dũng cảm, ma tôi thì chưa có. Thứ hai...
- Thứ hai nữa là gì?
- Tôi luôn tò mò muốn biết ngày mai sẽ ra sao.
Cosden lại cười và đứng dậy
- Vâng thưa ông. Ông đã rất lịch thiệp ngồi nghe chuyện của tôi. Tôi cũng không biết vì sao tôi lại kể ông nghe...mà lại nói rất nhiều. Ông vui lòng quên chuyện vừa rồi đi nhé.
- Thế ngày mai, khi tai nạn được thông báo tôi sẽ phải im lặng sao? Tôi phải bỏ qua giả thiết về một vụ tự tử?
- Ông cứ xử sự như ông cho là phải. Ít ra thì ông cũng có ý thức về một việc mà tôi lấy làm vui mừng, vì ông đã không ngăn cản tôi.
- Anh bạn trẻ oi, hãy suy xét cho kỹ càng, tôi không thể bán theo anh suốt ngày để ngăn cản được. Sớm muộn gì anh cũng phải bỏ qua tôi để thực hiện cho bằng được dự định của anh. Dù sao anh không được làm chuyện đó trong chiều nay. Anh hẳn không định để người ta  kết tội tôi đấy anh tới cái chết chứ!
- Đúng vậy. Nếu ông còn ở đây...
- Tất nhiên là tôi sẽ ngồi lại - Satterthwaite nói vẻ dứt khoát.
Cosden cười hóm hỉnh.
- Được rồi, vậy là tôi phải tiến hành sau vậy. Tôi về khách sạn đây. Có lẽ sẽ gặp lại ông.
Satterthwaite còn lại một mình ngắm biển. Ông lẩm bẩm:
"Rồi đây chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chắn là sẽ có một biến cố. Mình tự nhủ nếu..."
Ông đứng dậy, lặng bên vách đá chiêm ngưỡng những đợt sóng đang nô giỡn ngoài  khơi. Không khí nơiđaây không tố cho bộ máy hô hấp. Ông chậm rãi trở về trên lối đi bách bước vào khu vườn im ắng. Ông nhìn ngôi nhà vắng vẻ có những ô cửa xanh đóng kín và tự hỏi rằng ai sống trong đó và bí mật phía sau bức tường kia là gì. Bị trí tò mò thúc đấy mạnh mẽ, ông rảo bước đến đẩy một cánh cửa đã phai màu.
Ông ngạc nhiên thấy cánh cửa chuyển động. Một chút lưỡng lự, rồi ông mở cửa. Ông trở lùi lại ngay, kêu lên rụng rời. Trước mặt ông trên bậc cửa kính thông ra bao lơn là một phụ nữ mặc toàn đồ đen, đầu trùm một chiếc khăn đăng ten cùng đen.
Satterthwaite bỏ chạy, lắp bắp bằng thứ tiếng Italia trộn lẫn tiếng Đức, thứ tiếng nghe như tiếng Tây Ban Nha. Ông giả thích bằng những câu ngắt quãng, ông mệt mỏi và bối rối. Mong quý bà bỏ qua cho ông. Rồi ông hấp tấp trở lui, không để người phụ nữ nói câu nào.
Cuối cùng, khi ông đã ra đến giữa vườn, bà ta mới lên tiếng, gãy gọn như một phát súng:
- Quay lại!
Đó là một âm thanh khô khốc, một mệnh lênh vẫn dùng cho một con chó. Nhưng nó có đầy đủ uy quyền khiến Satterthwaite ngoan ngoãn trở lại. Người phụ nữ vẫn đứng trên bậc cửa kính, bất động. Bà ta nhìn Satterthwaite từ đầu đến chân, điềm tĩnh đánh giá.
- Ông chắc là người Anh.
Satterthwaite lại xin lỗi.
- Nếu tôi biết chị cũng là người Anh, tôi đẫ có thể nói rõ ràng hơn. Tôi thành thật xin lỗi chị. Tôi thật thất lễ khi mở cửa. Tuy vậy tôi chỉ tò mò quá thôi, tò mò muốn biết có gì b ên trong một ngôi nhà đẹp đẽ dường này.
Bông nhiên, người phụ nữ cười tật to.
- Nếu nó cuốn hút ông đến vậy thì xin mời ông vào.
Chị ta đứng tránh sang. Satterthwaite mừng rỡ bước qua bậc thềm. Dù hơi tối vì những cánh cửa khác vẫn đóng kín, ông vẫn nhận thấy có rất ít đồ vật bày biện trong nhà. Một lớp bụi phủ mỏng lên đống đồ.
- Mời ông đi tiếp. Tôi không dùng phòng này bao giờ.
Satterthwaite đi theo qua hành lang bước vào phòng khách ở phía bên kia. Cửa sổ phòng này trông ra biển, ánh mặt trời chiếu tràn trong phòng. Đồ đạc ở đây cũng sơ sài như phòng trước nhưng có một tấm bình phong bằng da xứ Cordoue, những bình hoa tươi vừa mới cắt ngoài vườn và những tám thảm đã sờn nhưng nhìn thì biết trước đây chúng rất đẹp
- Ông sẽ dùng trà với tôi nhé - Chủ nhà nói, rồi thuyết phcuj thêm - Trà ngon lắm đấy, lại được pha bằng nước tinh khiết nữa.
Chị ra bước ra ngoài và ra lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha rồi quay lại ngồi trên đi văng trước mặt ông khách mời. Ông Satterthwaite nhận thấy người đang bà tỏ ra rất thoải mái.
Trước nhân vật cá tính như vậy, thoạt tiên ông thấy mình già hơn, nhăn nheo hơn bình thường. Đó là phụ nữ cao lớn, tóc nâu, da tươi ánh mặt trời, còn rất đẹp tuy không còn trẻ lắm. Sự hiện diện của nàng khiến mặt trời rạng rỡ hơn. Satterthwaite lại cảm nhận được sự tò mò mãnh liệt và nhiệt tình xầm chiếm ông: "Cô ta mới tràn trề sức sống làm sao".
Nhớ lại vẻ uy quyền mà người phụ nữ vừa bộc lộ, ông thấy tiếc cho Olga, người được ông bảo trợ, không có được một chút sức mạnh tiềm ẩn kia. Ông tự nhủ: "Isolde chính là người phụ nữ này đây. Nhưng hình như cô ta không có năng khiếu ca hát. Tếh giới này kỳ quặc vậy".
Một mặt nào đó người đang bà lại khiến ông thấy ngại ngần vì ông không có thiện cảm với những phụ nữ có tính quyền uy.
Tay chống cằm, chị ta quan sát một cách không che đậy mà không cần biết phản ứng của vị khách lạ ra sao. Cuối cùng, chị ta lắc đầu như thể đã quyết định sau một hồi toan tính.
- Tôi rất hân hạnh vì ông đến đây. Chiều nay, tôi rất muốn có người cùng trò chuyện. Còn ông thì đã quen với việc này rồi phải không?
- Tôi cũng không thạo việc đó lắm đâu.
- Không phải mọi người vẫn tin tưởng ông đó sao? Ông biết rõ tôi muốn nói gì mà. Tại sao ông lại tỏ vẻ không hiểu?
- Tôi ...có lẽ...
Không cần đợi ông đồng ý, chị ta tiếp tục:
- Người ta có thể thú nhận và tin tưởng mọi điều vào ông. Vì ông có những nét tính cách rất đàn bà,  nên ông hiểu được tình cảm, suy nghĩ của chúng tôi, hiểu được những ứng xử kỳ quặc của chúng tôi...rất kỳ quặc.
Chị ta im lặng khi một cô hầu gái to béo người Tây Ban Nha tươi cười mang ấm trà đến.
Thứ trà Trung Quốc hảo hạng mà Satterthwaite vẫn ưa dùng xưa nay.
- Chị sống ở đây à? - Ông bắt chuyện.
- Vâng.
- Nhưng không sông quanh năm phải không? Hầu như ngôi nhà luôn đóng cửa? Là người ta nói vậy.
- Tôi thường ở đây, không như mọi người vẫn nghĩ. Nhưng tôi chỉ quan tâm đến phía nhà bên này thôi.
- Chị ở ngôi nhà này lâu chưa?
- Đã hai mươi năm rồi.
Làm gì lâu đến thế nhỉ. Ông già nghĩ thầm rồi dò hỏi:
- Thế thì cũng khá lâu đấy nhỉ.
- Có gì lâu đói với một người đâu!
Ông già tò mò thấy thực sự hứng thú.
- Cũng còn tùy - Ông thận trọng trả lời.
Chị ta lắc đầu.
- Vâng, cũng còn tùy. Thế nào là lâu, thế nào là chóng... Đến tận bây giờ tôi cũng không biết.
Chị ta lặng yên, đắm chìm trong suy tưởng. Cuối cùng chỉ mỉm cười nói.
- Đã lâu quá rồi tôi không nói chuyện với ai...lâu quá rồi. Nhưng không phải tôi muốn thanh minh việc tôi gọi ông lại đâu. Dù sao thì chính ông đã mở cửa rồi nhìn qua cửa sổ. Mà ông vẫn thường làm như vậy phải không? Ông đẩy cửa nhìn xem việc gì đang xảy ra trong cuộc đời mọi người...nếu người ta đống ý để ông nhìn vào, và thường xuyên ngay cả khi người ta không cho phép! Khó mà giấu được ông điều gì. Ông biết đoán định và đoán đúng.
Satterthwaite thấy cần phải thật trung thực.
- Tôi sáu mươi chín tuổi - Ông nói - Tất cả những gì tôi biết về cuộc đời nay, tôi đều chỉ học qua người khác. Đôi khi tôi thấy nỗi đau khổ lớn lao và sự hối hận không nguôi. Tuy nhiên qua đó tôi biết được nhiều điều.
- Tôi biết. Cuộc sống vốn kỳ lạ và đấy ưu tư. Tôi không hình dung được ý nghĩa của nó... Cuộc đời luôn đầy kịch tính.
Satterthwaite mỉm cười.
- Không, chị không thể hiểu đượcdđâu. Vị trí của chị là ở trung tâm tấn kịch đó. Chị luôn là diễn viên, dù chính, dù phụ trong cả một vở kịch cuộc đời.
- Nhận xét lý thú quá đi!
- Nhưng tôi lại có lý đấy. Cuộc đời chị có biết bao biến cố và nó sẽ luôn là như vậy. Tôi nghĩ, có một vài sự kiện rất đáng sợ. Liệu oôi có nhầm không?
Chủ nhà nhìn Satterthwaite, khóe mắt đã có vài nếp nhăn.
- Nếu ông ở đây lâu, người ta sẽ kể cho ông nghe về chuyện một vận động viên bơi lội người Anh bị chết đuối dưới chân vách đá. Người ta sẽ ngợi ca rằng anh ta thật trẻ trung và mạnh mẽ, rằng anh ta rất đẹp, và sẽ thì thầm với ông rằng cô vợ trẻ của anh ta đứng trên mỏm cao vách đá nhìn anh ta chêt đuối.
- Vâng tôi có nghe chuyện.
- Người đàn ông ấy là chồng tôi. Biệt thự này là của anh ấy. Anh ấy đưa tôi đến đây khi tôi mười tám tuổi, một năm sau anh ấy chết...chêt vì sóng, dập nát, bầm tím, thân xác không còn nguyên vẹn vì những mỏ đá đén kia.
Satterthwaite sững sờ, không nói được tiếng nào. Chị ta nhìn ông, đôi mắt như có lửa.
- Ông nói đến thảm kịch... Ông có thế nghĩ đến điều gì hơn cả thảm kịch khi một người phụ nữ trẻ như vậy, mới cưới được một năm: Yếu đuối, được bao bọc trong vòng tay cứng cáp của người đàn ông mà cô ấy yêu, chiêm ngưỡng anh ấy đấu tranh vì cuộc sống của cô...và mất anh ấy...trong một hoàn cảnh khủng khiếp đến thế?
- Độc ác quá - Satterthwaite xúc động thật sự - Độc ác quá. Chị nói đúng. Không gì còn có thể đáng sợ hơn thế.
Chị ta phá lên cười, đầu ngật ra đằng sau.
- Ông nhầm. Còn có điều đáng ghê sợ hơn gấp nghìn lần rằng: Cô vợ trẻ kia đứng đó, những mong chồng mình chết đuối...
- Lạy Chúa nhân từ! - Satterthwaite kêu lên - Chị không có ý...
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
0
Trích đoạn: meobeo88

Chị Ct Ly ơi, thiếu mất trang 110-111 rổi (AG55). Chị gửi mail cho em nhé, hoặc post lên diễn đàn để em đánh máy cho liền mạch. Thanks chị

 
 
Vậy để chị đánh máy vậy
 
Vậy nhờ em gõ tiếp mấy chương sau dùm chị nhé
 
Thân thương
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-14 07:01:32Pha Lê Dễ Vỡ>
Từ trang 5 tới trang 13 chưa có ai gõ vậy để Pha Lê Dễ Vỡ nhận gõ luôn nhá và từ trang 188 đến hết.
meobeo88 thông báo: Máy của Mèo đang bị hỏng, sẽ cố gắng khắc phục và sớm post tiếp lên.
0
«« « 1 2 » »»