Diễn Đàn » Tin Thế Giới

Buôn dân mà không bảo vệ dân: Ai bênh vực công nhân Việt tại xứ ngưởi

0 trả lời, 449 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-05 08:39:39Ngọc Lý>


Buôn dân mà không bảo vệ dân: Ai bênh vực công nhân Việt tại xứ ngưởi?
 
Trong khi Nguyễn Tấn Dũng cùng các phái đoàn doanh nghiệp Việt Nam đi "mời hàng" khắp thế giới bằng "Duyên Dáng Việt Nam" (với chi phí từ ngân quỹ quốc gia) để bán rẻ sức lao động của công nhân Việt, thì bao nhiêu công nhân trong nước lao đao vì lương không theo nổi sự leo thang của giá cả, hàng trăm ngàn công nhân Việt xuất khẩu lao động ra nước ngoài bị đàn áp bóc lột, tính mạng bị đe dọa, ngay cả bị giết không tin tức mà không có sự lên tiếng bảo vệ của chính quyền CSVN.
 
Người ta tự hỏi những kêu gọi "phát triển kinh tế theo định hướng chủ nghĩa xã hội" dưới sự độc đảng toàn trị của CSVN sẽ dồn tiền vào túi ai và đưa đa số dân Việt đến đâu?
 
Thái độ "đem con bỏ chợ, sống chết mặc bay, tiền ông bỏ túi" này không thể tiếp tục được .
 
Ngọc Lý

 
Công nhân xuất khẩu sang Malaysia bị lừa gạt, ức hiếp
2008.03.03
Nhã Trân, phóng viên đài RFA
 
Kể từ khi Việt Nam có chính sách xuất khẩu lao động, một trong những nơi công nhân Việt đến nhiều nhất là Malaysia. Từ khoảng vài năm trở lại đây có những khám phá cho thấy rất đông người đã bị bóc lột, hà hiếp khi chấp nhận sang đất nước này làm việc cho các tập đoàn sản xuất.
Nghe bài tường trình này
Tải xuống để nghe



    [/align]
    Công nhân ngoại quốc ăn trưa trong giờ nghỉ tại một xưởng làm ở Kuala Lumpur hôm 7-3-2007. Photo AFP



    [/align]Vào cuối năm 2007 công nhân Việt ở Công ty Esquel Malaysia, thuộc một trong những tập đoàn lớn nhất, đã đình công vì những đối xử tàn tệ của giới chủ, và một tổ chức ngoài chính phủ của người Việt ở Hoa Kỳ vừa lên tiếng về vụ này. Nhã Trân có bài tường thuật sau đây, mời quí vị theo dõi.

    Công Ty Esquel Malaysia trực thuộc Tập Đoàn Esquel toàn cầu, trụ sở chính tại Hồng Kông, là một trong những tập đoàn sản xuất y phục lớn nhất thế giới với doanh thu hàng năm vào khoảng nửa tỉ đô la.

    Năm 2007 tập đoàn này nhận khoảng 1,300 lao động Việt Nam qua nhiều công ty môi giới như Sovilaco, Vilexim, Châu Hưng Trading Joint Stock Company

    Những công nhân này đến từ các tỉnh Miền Bắc. Chân chất thật thà, những thanh niên nam nữ vùng quê hoặc tỉnh lẻ hoàn toàn tin vào hứa hẹn của phía công ty môi giới nhận lao động, ký hợp đồng 3 năm với mức lương khá và được đào tạo tay nghề.

    Phí tham gia phải đóng cho công ty môi giới rất cao, đến hàng chục triệu đồng, tức cả ngàn đô la một đầu người. Những người muốn qua Malaysia làm việc vì vậy thường phải thế chấp nhà cửa tài sản hoặc vay mượn để trả, với hy vọng sau đó đồng lương khá sẽ giúp trả nợ và dành dụm chút ít làm vốn lâu dài.

    Thực tế khác biệt với những hứa hẹn

    Thế nhưng, trên thực tế, mọi hứa hẹn này đều không được thực hiện. Chân ướt chân ráo rời quê nhà đến xứ người, công nhân Việt sớm nhận ra sự thật, như lời kể của anh Nam:

    “Tôi đến từ Bắc Giang. Tôi đang ở đảo Penang. Khi đi, tôi phải đóng tiền gốc phải tốn đến 21 triệu đồng, còn học hành họ bảo rằng cỡ 25 triệu. Nhưng sang bên này thì mói biết là sai hoàn toàn với hợp đồng. Họ hứa là 26.90 cents một ngày công đi làm, không kể những ngày lễ ngày Tết thì gấp đôi gấp ba. Nhưng sang bên này thì hoàn toàn ngược lại, còn có 21 cents và không bao giờ được trả đủ. Hãng thì không có việc, muốn làm gì thì làm dẫn đến lương thấp, còn nợ rất nhiều.


    Hầu như làm ở bên này với mức lương 300 ringgit một tháng chỉ đủ ăn và không trả đủ tiền lãi ở nhà, nói gì đến tiền gốc. Tiền gốc mỗi người trung bình phải khoảng cỡ 20 triệu đồng trở lên. Ăn ở thì cứ như ngồi trong rọ vậy. Bảo vệ đến điều tra bất cứ thời gian nào, hoặc là đến bắt bớ tra hỏi 24/24 chẳng có lý do gì cả. Họ thu hết hộ chiếu. Không có hộ chiếu thì đi đâu được. Không thể ra khỏi đảo được. Chỉ quanh quẩn trong đảo."


    Lời của anh Nam, một công nhân trẻ mới sang Penang làm việc cho công ty Esquel Malaysia, cho thấy lao động người Việt đã bị lừa gạt bởi những cam kết hấp dẫn về tiền lương cũng như điều kiện ăn ở.

    Anh Thắng, một lao động khác của Esquel Malaysia cũng trong hoàn cảnh tương tự : “Tôi tên là Thắng. Tôi đến từ Thái Bình. Anh em tôi đi tháng 5-2007 và hiệp đồng với công ty Esquel với mức lương là 26.9 cents một ngày và áp dụng trong 90 ngày. Nhưng trong 3 tháng đó chúng tôi hưởng mức lương không hoàn toàn chính xác như bản hợp đồng đã ký.”


    Hành động của công ty Esquel Malaysia được theo dõi bởi một tổ chức từ thiện của người Việt ở Hoa Kỳ, có trụ sở tại Bắc Virginia và nhiều chi nhánh trên toàn quốc. Cách đây 2 năm, Uỷ ban Cứu Nười Vượt Bển, còn được biết qua tên khác là Boat People SOS, qua trao đổi với công nhân người Việt ở Mã Lai, khám phá ra tình trạng lao động đến từ Việt Nam bị bóc lột, hà hiếp thậm tệ.

    Giám Đốc Điều Hành của tổ chức này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, cho biết đã ghi nhận và quan sát vụ việc từ cuối năm 2005:

    “Năm 2007 thì công ty này đã tuyển 1.300 ngưòi Việt, phần lớn ở những vùng nghèo và nông thôn như là tại Hà Giang, Tuyên Quang để đưa sang Mã Lai Á (Malaysia) làm việc với lời hứa hẹn tối thiểu mỗi tháng họ sẽ nhận đựoc 736 ringgit tức là đồng Mã kim (tương đương với khoảng 245 Mỹ kim).

    Tuy nhiên, khi đến nơi thì họ bị tịch thu tất cả giấy tờ tuỳ thân và bắt phải ký một hợp đồng mới. Sau đó họ đi làm chỉ nhận được một khoản rất nhỏ, chưa đầy 60 Mỹ kim một tháng, do đó họ không thể nào đủ sống và rất là đói kém."


    Bị bóc lột và ngược đãi


    Do cuộc sống khó khăn ở quê nhà, nhiều người Việt Nam tìm cách ra nước ngoài làm việc với hy vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình. AFP PHOTO.


    [/align]Bị bóc lột và ngược đãi, công nhân Việt ở công ty Esquel Malaysia đã trải qua những ngày tháng buồn khổ. Hồi tháng 10 năm ngoái họ đã đứng lên phản đối dã tâm của giới chủ:

    Một công nhân cho biết: “Mức lương cơ bản quá thấp nên chúng tôi đã tổ chức đình công và công ty hứa hẹn sẽ giải quyết trong 3 tháng. Nhưng không biết vì duyên cớ tại sao mà 20 ngày sau anh em chúng tôi mới đựoc đi làm. Mà trong kỳ đó thì chỉ làm được mấy ngày mà vẫn bị trừ thuế 50 ringgit một kỳ. Tôi là người công nhân thấp cổ bé họng chẳng biết lý do tại sao mà một công ty lớn như công ty Esquel lại áp dụng như thế. Một công nhân khác tiếp lời: “Cái vụ đình công đó ở tầm 2 hoặc 3 giờ đêm họ đến họ bắt bớ. Chỉ có được mặc đồ lót không đấy, họ bắt cho lên xe tống đi. Không có hỏi lý do gì hết. Hai tay bị còng. Rất nhiều người bị bắt như vậy.”


    Đại diện Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển cũng thuật lại diễn tiến và kết quả vụ đình công này: “Một số người bất mãn và đình công thì bị đánh, và cuối cùng do sự phẫn uất mà toàn thể 300 công nhân Việt Nam ở hãng Esquel Malaysia đã tổng đình công, thì lúc đó chủ nhân lôi ra khoảng 1 giờ cho tới 3 giờ sáng, không kịp thay quần áo, bị còng tay lại và bị lôi kéo đưa đến phòng giam ở tại công ty. Đến sáng sờm thì họ bị giao cho cảnh sát Mã Lai, và lập tức bị trục xuất về Việt Nam.


    Sau những bức hiếp của phía chủ, lao động người Việt của công ty Esquel Malaysia nay mang tâm trạng chán nản tột cùng. Hầu như mọi người chỉ còn mong được trở lại quê nhà vì đã hết tin tưởng vào thiện chí của lãnh đạo tập đoàn này.

    Một công nhân nói: “Kỳ này anh em tui vô cùng suy sụp về lòng tin đối với công ty Esquel cho nên anh em chúng tôi chỉ muốn, nếu như ai đó giúp đỡ được, anh em chúng tôi quay về nước càng sớm càng tốt. Đựoc về nước là điều may mắn nhất cho chúng tôi."

    Theo lời của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển, hành động của công ty Esquel Malaysia đi ngược với tinh thần Luật Chống Buôn Người của Malaysia, vi phạm Công Ước Quốc Tế Chống Buôn Người mà Kuala Lumpur đã ký kết tham gia hôm mùng 1 tháng 10 năm 2007.

    Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cho biết tổ chức của ông đã có một số phản ứng về vụ này: “Chúng tôi đã liên lạc với hãng Esquel ở Hong Kong và một luật sư người Mã Lai có lòng cũng đã viết thư liên lạc và yêu cầu giải quyết một cách ổn thoả và êm thắm nhưng không nhận được sự trả lời. Do đó đầu tháng 2 chúng tôi đã phát động một chiến dịch vận động dư luận để đánh vào quyền lợi kinh tế của công ty Esquel."

    Đến nay số lao động người Việt ở Malaysia đã lên tới hơn 120 ngàn. Trường hợp của lao động thuộc tập đoàn Esquel may mắn được đưa ra ánh sáng nhờ quan tâm của người Việt nước ngoài. Không biết còn bao nhiêu vụ tương tự đang xảy ra hàng ngày và hàng chục ngàn con dân Việt tiếp tục là nạn nhân của bất công trong lao động xuất khẩu ở Malaysia.

    Quý thính giả vừa nghe Nhã Trân trình bày về trường hợp của các công nhân lao động xuất khẩu Việt Nam sang Malaysia làm việc cho côn ty Esquel tại quốc gia này. Trong buổi phát thanh kế tiếp, chúng tôi sẽ trình bày về hiện trạng của vấn đề lao động xuất khẩu từ Việt Nam sang Malaysia.




    [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/03/VnWorkersInMalaysiaTheEsquelCase_NTran/








    Công Ty Esquel Malaysia Bóc Lột Hàng Ngàn Công Nhân Việt-Nam Xuất Cảng Lao Động
    Liên Minh Chống Nạn Nô Lệ Mới tại Á Châu
    Coalition to Abolish Modern-Day Slavery in Asia (CAMSA)
    Washington-DC, 27-02-2008




    Hình: Marjorie Yang, Chủ Tịch kiêm Tổng Giám Đốc Điều Hành Esquel Group.Trụ sở đặt tại Hong Kong.

    LGT: Liên Minh Chống Nạn Nô Lệ Mới tại Á Châu (CAMSA) hiện nay có ba thành viên là Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (Boat People SOS), International Society for Human Rights (Đức), và Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt-Nam - trụ sở Hoa-Kỳ (Committee to Protect Vietnamese Workers - USA).

    It lâu nay chúng tôi đã theo rõi, thu thâp dữ kiện về công ty Esquel Malaysia, và tình trạng công nhân Việt-Nam làm việc cho công ty này tại Penang, Mã Lai. Chúng tôi đã có mặt ở Mã Lai, tiếp súc và hợp tác với một số tổ chức nhân quyền và chống buôn người tại quốc gia này.

    LS Eric Cheah đã hợp tác với Liên Minh và đặc biệt BPSOS từ lâu. Ông là một công dân Mã Lai, nhưng rất thông thạo tiếng Việt. Việc truy tố Esquel Malaysia chỉ được tiến hành sau khi CAMSA đã tham khảo ý kiến với một số tổ chức, kể cả Văn Phòng Chống Buôn Người của Bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ và sau khi công ty Esquel Malaysia đã không có một phản ứng nào đối với dự định của CAMSA được thông tin trước cho công ty này.

    Khi nhân được thông báo của CAMSA, một số khách hàng lớn của Esquel Malaysia tại Hoa-Kỳ đã gửi người qua Mã Lai để tìm hiểu thêm vấn đề. Đại diện của Esquel Group tai Hong Kong cũng đã bay qua Mã Lai để điều tra.

    CAMSA cũng đã thông báo nội vụ cho các vị Đại Sứ Mã Lai để nhờ chuyển đạt mối quan tâm của chúng tôi lên Chính Phủ Mã Lai. Chúng tôi cũng sẽ vân động và kêu gọi sự yểm trợ của những tổ chức lao động và nhân quyền.

    Tin giờ chót cho hay đang có sự điều đình giữa Esquel Malaysia và CAMSA. Xin quý độc giả theo rõi.

    Sau đây là chi tiết của nội vụ.

    oo0oo

    Những công ty trong nhóm Esquel có trụ sở đặt tại Hồng Kông có thể đã vi phạm Đạo Luật Chống Nạn Buôn Người (Đạo Luật 670) trong việc đối sử với công nhân Việt-Nam tại xưởng may quần áo tại Penang, Mã Lai. Nhóm Esquel là một trong những cơ sở sản xuất quần áo lớn nhất thế giới với số hàng bán ra hàng năm trị giá nửa tỉ Mỹ Kim (US$).

    Vào năm 2007, công ty Esquel Malaysia SDN Berhad, trước đây có tên là Eastern Garment MFG Co. SDN Berhad, muớn theo khế ước khoảng 1,300 công nhân Việt-Nam qua trung gian của một số công ty Việt-Nam như Chau Hung Trading Joint Stock Company, Sovilaco, Vilexim, .... Khế ước 3 năm hứa hẹn chương trình dậy nghề và lương bổng kha khá. Bị thu hút bởi điều kiện mời chào hấp dẫn, những người xin việc bằng lòng vay nợ để trả cho nhưng công ty trung gian Việt-Nam và nhiều cơ quan chánh phủ những lệ phí cao từ 8 đến 25 triệu đồng Việt-Nam (US$500 - US$1,000). Đây là một tiền lớn so với lợi tức trung bình hàng năm là US$300 ở thôn quê, nơi mà đa số công nhân xuất khẩu lao động xuất phát.

    Esquel Malaysia vi phạm hợp đồng một cách có hệ thống. Thí dụ qua trung gian Châu Hùng, Esquel Malaysia phổ biến hợp đồng mẫu cho công nhân tại Việt-Nam, hứa hẹn lương tháng tối thiểu là 736 ML (Malaysian Ringgits) tức là đồng Mã Lai, tương đương với US$245. Tuy nhiên, ngay sau khi công nhân đặt chân đến Mã Lai, chủ nhân lập tức tích thu tất cả những giấy tờ cá nhân của công nhân và bảo họ ký một hợp đồng làm việc khác với lương hàng tháng là RM 700 cho ba tháng đầu tiên - được xem như giai đoạn dậy nghề; tiếp theo là lương tính theo mức sản xuất.

    "Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt giữa hai hợp đồng, một ký tại Việt-Nam và hợp đồng ký tại Mã Lai. Tuy nhiên, chúng tôi không có lựa chọn nào khác, mà phải ký vào hợp đồng thứ hai thôi," một công nhân giãi bầy tâm sự.

    Trên thực tế, công nhân chỉ được trả hàng tháng RM 600 trong ba tháng đầu và còn ít hơn sau giai đoạn huấn nghệ. Nhiều công nhân chỉ được trả một phần nhỏ của số tiền được hứa hẹn RM 736. Theo Luật Sư Eric Cheah, người viết (bằng điện thư và fax) cho ông Tammy Rodriguez, Giám Đốc về Trách Nhiệm Xã Hội của công ty Esquel, một số công nhân chỉ được "trả lương rất thấp hai tuần một lần như RM 8.90, RM 10, và RM 30" trong tháng 10, 2007. Với mức lương thấp như vậy, nhiều công nhân đã phải sống bằng một loại cháo đơn giản làm bằng gạo phân phối bởi những người làm phúc Mã Lai.

    Một số công nhân không chịu nổi điều kiện làm việc bóc lột yêu cầu được trở về quê quán nhưng không thể dởi Mã Lai vì những cản trở của chủ nhân công ty. Những công nhân này bắt buộc phải có nhưng không thể lấy được bản ghi điều khoản pháp lý của hợp đồng (checkout memo) mà chủ nhân công ty có thể dễ dàng lấy được từ sở Di Trú để chấm dứt ràng buộc đối với hợp đồng. Không có "Checkout Memo" công nhân sẽ bị bắt giữ ở phi trường và trả lại chủ nhân. Trở ngại thứ hai là thiếu thiếu giấy thông hành (hộ chiếu) -- Esquel Malaysia thường xuyên tịch thu thông hành của tất cả những công nhân ngoại quốc. Điều này trái với Đạo Luật về Thông hành của Mã Lai. Khó khăn thứ ba , Esquel Malysia đòi hỏi những công nhân muốn chấm dứt làm việc trước khi hợp đồng chấm dứt phải trả ít nhất RM 1,300, một số tiền lớn vượt ra khỏi khả năng của đa số công nhân. Một trở ngại nữa là món nợ lớn công nhân đã vay tại Việt-Nam để mua cơ hội sang Mã Lai. Một công nhân đã giải thích cho TS Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (BPSOS), rằng "Mặc dù tình trạng ở Mã Lai tồi tệ, trở về Việt-Nam không phải một chọn lựa; ngay cả nếu tôi có thể kiếm được việc làm ở Việt-Nam, tôi cũng chỉ có thể trả tiền lời hàng tháng, không đếm xỉa đến vốn nguyên thủy."

    Vì những đòi hỏi liên tục của công nhân không được chủ nhân đáp ứng, vào ngày 22 tháng 10, 2007, một số công nhân khởi xướng một cuộc đình công nhỏ. Ngày hôm sau, cuộc đình công lan rộng sau khi một nhân viên bảo vệ an ninh hành hung hai nữ công nhân. Để chấm dứt cuộc đình công, ban quản lý của công ty đồng ý thương lượng với trên 20 đại diện do công nhân chỉ định. Ban quản lý công ty bằng lòng trả mỗi công nhân RM 600 mỗi tháng cho ba tháng 10-12, 2007. Mặc dù có sự thỏa thuận mới này, công nhân tiếp tục bị trả ít hơn là số tiền đã hứa hẹn. Chúng tôi nghĩ rằng lương tháng sẽ giảm xuống đáng kể trong năm 2008 vì chủ nhân trì hoãn trừ thuế trong ba tháng cho tới tháng 1, 2008. Đây là một thủ đoạn làm cho công nhân cảm thấy được trả lương nhiều hơn là trên thực tế.

    Mượn lý do rằng công nhân đã vi phạm hợp đồng, trong đó có khoản cấm mọi hình thức đình công, công ty Esquel Malaysia đã nhắm vào những công nhân mà họ tin là những ngườI đã lãnh đạo đình công để trục xuất. Trong vài tuần vừa qua những nhân viên an ninh của Esquel cùng vớI nhân viên cảnh sát được thuê mướn, đã xông vào nơi trú ngụ chật hẹp của công nhân giữa đêm khuya, còng tay những công nhân được nhận diện, và đem họ đi – nhiêu ngườI còn mặc bộ đồ ngủ hay quần cụt – giam họ tạI công ty để trục xuất trong vài giờ. Tại công ty, những công nhân bị cưỡng ép để ký một số giấy tờ. Cho đến nay khoảng một trăm công nhân, bao gồm những người tham dự cuộc thương lượng sau khi xẩy ra đình công, đã bị trục xuất mà LS Cheah gọi là “bắt cóc phi pháp” (extra-judicial kinnapings) trong lá thư đề ngày 5-11-2007 ông gửi cho bà Rodriguez. Để tránh bị trục xuất, khoảng 200 công nhân đồng ý tình nguyện trở về quê quán theo quyết định của công ty. Về lại Việt-Nam, công nhân hồi hương không có recource để khiếu nại.

    Esquel Malaysia đã dối trá trong việc thuê mướn nhân công Việt-Nam, ép buộc họ ký hợp đồng làm việc bất công sau khi những ngườI này đặt chân đến Mã Lai, bóc lột những nhân công này bằng cách trả lương thấp hơn mức cam kết, sa thải một cách sai lầm, và đuổi việc những công nhân đã giám nói lên những bất bình, và cấm những công nhân khác ra khỏi môi trường làm việc bóc lột. Những hành động này vi phạm Đạo Luật chống buôn người 2007 của Mã Lai (Đạo Luật 670) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01-10-2007.

    Nhóm Esquel gồm nhiều công ty, sử dụng khoảng 43,000 công nhân tại 16 cơ xưởng ở tám quốc gia bao gồm Mã Lai, Trung Quốc, Việt-Nam, Phi Luật Tân, Maldives, Mauritius, và Sri Lanka, sản xuất 64 triệu chiếc áo hàng năm cho khách hàng nổI tiếng như Abercrombie & Fitch, Banana Republic, Brooks Brothers, Burberry, Esprit, Gant, Hugo Boss, JCPenney, Lacoste, Marks & Spencer, Nike, Nordstrom Polo Ralph Lauren, Tommy Hilfiger… Nhóm Esquel bao gồm công ty Esquel Apparel tạI Hoa Kỳ kết hợp vớI những cơ xưởng tại New York và Seattle.

    Esquel Group cũng có liên hệ ở Hoa-Kỳ qua Chủ Tịch và đồng thời là Tổng Giám Đốc Điều Hành Công Ty là Majorie Yang. Bà này là thành viên của Hội Đồng Quàn Trị của MIT và Ban Cố Vấn của Khoa Trưởng Trường Thương Mại của Đại Học Harvard. Trong cuộc phỏng vấn mới đây của tuần báo the Edge Malaysian (26-11-2007), Bà tuyên bố rằng, "Nếu chúng ta có thể chứng tỏ rằng ... chúng ta có lời, và lực lượng công nhân của chúng ta có một đời sống khá hơn, điều này sẽ giải quyết được vài mối lo sợ về hiện tượng toàn cầu hóa, ở đó người giầu sẽ giấu hơn, và người nghèo sẽ nghèo vĩnh viễn. Điều này thật là xấu xa. Nếu chúng ta trở nên giầu có, nhưng để lại một số người ở đằng sau, tình trạng này không thể tồn tại được.

    Vào ngày 31-12-2007 LS Cheah đã bắt đầu làm thủ tục truy tố Esquel Malaysia bằng cách khiếu nại với Bộ Quan Hệ Công Nghiệp (Industrial Relations Department) về việc sa thải công nhân bất hợp pháp để tiến hành một cuộc hòa giái. Nếu việc hòa giải thất bại, Bộ Quan Hệ Công Nghiệp sẽ chuyển hồ sơ sang Bộ Nhân Lực (Human Resources) để đưa ra Tòa Án Công Nghiệp xét sử. Tòa có thể ra lệnh bồi thường cho những công nhân bị sa thải phi lý hoặc miễn truy tố bị cáo.

    http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=7388








    Tâm sự của người lao động Việt Nam tại Malaysia
    2008.01.28
    Hưng Yên, phóng viên đài RFA

    Malaysia là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất lao động xuất khẩu từ Việt Nam, và đựơc đi làm việc tại nứơc ngoài vốn là ứơc mơ của không ít công nhân. Nhưng thực tế tình hình người lao động Việt Nam tại đất núơc này ra sao? Phóng viên Hưng Yên của ban Việt ngữ vừa rồi có cơ hội trực tiếp quan sát và thăm hỏi một số công nhân đang lao động ở bên đó, và có bài tường trình sau đây.

    Nghe bài tường trình này
    Tải xuống để nghe


    [/align]
    Do cuộc sống khó khăn ở quê nhà, nhiều người Việt Nam tìm cách ra nước ngoài làm việc với hy vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình. AFP PHOTO.



    [/align]“Nó coi mình giống như một kẻ nô lệ cho nó chứ không có một quyền lợi nào cả. Cho nên em rất mong muốn là mình có thể đòi được quyền lợi cho mình và cho tất cả mọi người.”
    Đó là lời chia sẻ của chị Nguyễn Thị Thanh, một công nhân Việt Nam đang lao động tại Malaysia nói về tình hình đối xử của chủ nhân đối với lao động Việt Nam nơi chị làm việc.

    120 ngàn người lao động Việt Nam ở tại Malaysia

    Với thực trạng lao động dư thừa tại Việt Nam hiện nay nên thị trường lao động nước ngoài là một trong những giải pháp quan trọng giải quyết thực trạng này. Với mức lương lao động được hưởng mà các công ty môi giới ký hợp đồng với các chủ nhân tại Mã lai theo chị Phan Thị Bé thì còn thấp hơn cả lương nhân viên dọn vệ sinh. Phải chăng vì sự dư thừa lao động trong nước nên lương lao động VN đã bị ép giá:


    “Em sang đất nước Mã Lai này thì mức lương của công nhân mình không bằng lương của công nhân dọn vệ sinh của đất nước họ. Điều đó em cũng chẳng biết hỏi ai và cũng chẳng biết tại sao như thế. Những người môi giới VN tại sao lại chấp nhận điều kiện như thế để đưa người Việt Nam mình sang đây lao động? Điều đó rất là bất công. Em cũng hi vọng trong thời gian tới có người nào đó quan tâm đến vấn đề này để bớt thiệt thòi cho những người dân lao động như bọn em.”

    Việt Nam hiện nay đã xuất khẩu trên 400 ngàn người sang lao động nước ngoài, mà Malaysia là nước tiếp nhận nhiều nhất và được xem là thị trường Vàng của các doanh nghiệp xuất lao động của VN do điều kiện tiếp nhận dễ dàng.

    Hiện tại có khoảng trên 120 ngàn lao động VN tại Malaysia. Trong đó năm 2007 VN xuất khẩu 26,700 người giảm, 11,000 người so với năm 2006 là do lao động không mặn mà lắm với mức lương của Mã Lai so với các quốc gia khác.

    Khi đi lao động tại Mã Lai, những công nhân Việt Nam phải nơm nớp lo sợ khi đối diện với cuộc sống hiểm nguy, cướp giật, giết người. Thanh nói về nổi sợ hãi của mình và bạn bè của cô:

    “Chỗ tụi em ở thì chưa có anh ạ, nhưng chỗ khác như Za – Hô rất là nhiều. Chẳng hạn như các chị em đi làm về với nhau, nếu đi người đi sau tí không thấy ở đâu. Những trường hợp ấy tụi em không biết kêu ai, rồi cũng lẳng lặng sợ hãi, lần sau không dám đi như thế nữa.Những trường hợp ấy ở đây rất là nhiều anh ạ”

    Thanh Hương, một nữ công nhân lao động tại Mã Lai gần một năm kể về những hiểm nguy luôn rình rập cuộc sống của cô và đồng nghiệp:

    “Sang đây cuộc sống đe dọa sinh mạng của chúng ta, những người India ở đây thường cướp giật, họ cướp tiền chúng ta vì họ biết chúng ta làm có tiền. Như là cách đây 4- 5 tháng gì đó có 2 người con gái, khi mà phát hiện chết thì 2 cái đầu đã bị chặt ra bỏ vào tủ lạnh.

    Nơi đó là Za-Hô, cách đây 12 tiếng đồng hồ. Khi chết thì không biết lí do vì sao, nhưng mà bị cắt đầu bỏ vào tủ lạnh. Còn nhiều người ra đường bị cướp tiền nếu không chống cự thì sinh mạng còn, nếu chống cự làm chúng phật lòng thì có thể chết.

    Em có nghe nói có chỗ thì Đại sứ quán Việt Nam can thiệp nhưng không mạnh lắm, có can thiệp nhưng không được mạnh mẽ cho lắm, có nơi thì không can thiệp.”

    Trong số những công nhân lao động nước ngoài có những người từng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng tại Việt Nam nhưng họ vẫn không kiếm được việc làm hoặc việc làm không đủ trang trải cuốc sống nên họ đành phải đi lao động nước ngoài. Với anh Trí từng tốt nghiệp ngành xây dựng tại VN đi lao động Mã Lai để kiếm một chút vốn cưới vợ:

    “Lúc tôi mới ra trường ở Việt Nam, đồng lương của tối rất thấp. Vì vậy tôi muốn qua đây để được đồng lương ra hơn một tí cũng đỡ trong thời gian còn trẻ. Sau 3 năm trở về tôi có một số vốn để lập gia đình và có số vốn cho riêng mình.”

    Chịu nhiều hy sinh mất mát

    Một thực trạng nữa đó là những công nhân đi lao động nước ngoài sau khi trở về có tỷ lệ ly hôn rất cao. Cụ thể tại thị xã Cửa Lò tỉnh nghệ An, năm 2006 1/3 số vụ li hôn là lao động xuất khẩu. Nhiều công nhân chấp nhận sự mất mát tình yêu, hạnh phúc gia đình để đổi lấy một số tiền nhỏ sau những giờ làm việc cật lực. Thanh Hương tâm tình về điều này:

    “Người Việt Nam mình qua đây mất mát tình thương của gia đình ví dụ như là những tình yêu đương chồng vợ xa cách nhau. Qua đây 100 người thì 100 người đều bị những người chồng hay những người vợ ở Việt Nam bỏ để lấy vợ, lấy chồng khác. Đổi lại họ có chút xíu tiền giúp đỡ gia đình phải mất tình yêu, mất chồng, mất vợ, mất con, mất tình thương.”

    Không ít công nhân sau khi sang Mã Lai lao động đã thất vọng, muốn trở về nhưng không thể vì điều kiện ràng buộc trong hợp đống. Từ kinh nghiệm bản thân, chị Phan Thị Bé gửi lời nhắn nhủ đến với những ai trong nước muốn đi lao động tại Mã Lai:

    “Em muốn nhắn nhủ mọi người, nếu họ muốn qua đây trước tiên họ phải đọc kỹ bản hợp đồng. Như chúng em đi rất là gấp và không được xem kỹ nên nhiều cái mình bị thiệt thòi. Nên mọi người hãy xem kỹ hợp đồng. Trong hợp đồng không nên ký mức lương 18 Ringit một ngày, bởi vì với số tiền đó mình không thể dư nếu không tiết kiệm.”

    Điểm quan trọng trong việc ký hợp đồng lao động đối với chị Thanh là thời gian. Theo chị thì chỉ nên ký hợp đồng 1 năm sẽ có nhiều điểm lợi cho công nhân hơn:

    “Mọi người sang đây chỉ nên ký hợp đồng 1 năm một chứ đừng nên ký 3 năm một. đó là điều em muốn nhắn nhủ cho những người đi sau. Tại vì đi lao động nước ngoài không đơn giản. Đi sang đây rồi nếu ký hợp đồng 3 năm, nếu 1 năm muốn về thì rất là khó vì mình phá hợp đồng, rồi bồi thường hợp đồng mà mình chưa làm được đến đâu cả.”

    Người Việt sinh sống tại Mã Lai đa phần là công nhân lao động, ngoài ra còn có nhiều phụ nữ lấy chồng là người Mã Lai rồi sinh con. Ngoài những số phận không được may mắn khi lấy chồng xa xứ thì tại Mã Lai nhiều cô dâu VN đã có cuộc sống khá bình yên và có phần khá giả.

    Chị Trinh đã lấy chồng và định cư tại Mã lai được gần 10 năm, hiện đang bán quần áo tại khu thương mại Bangsar, thủ đô Kuala Lumpur nói về điều này như sau:

    “Bên đây thuê mướn người làm mắc mỏ, đôi khi không an toàn nên các người vợ ở nhà nội trợ chứ không phải bắt buộc như vậy. Phụ nữ Việt Nam lấy chồng bên đây thời gian đầu còn bỡ ngỡ, sau đó quen OK hết. Họ sống bên đây thoải mái lắm. bên này nhà rẻ lắm, nhà ai cũng rộng rãi ở thỏa mái. Ai cũng có nhà có cửa, nếu nghèo cũng có đầy đủ, có ti vi này kia đủ hết”.

    Một số người cũng đã cố gắng vươn lên, phát triển thương mại. Chị Vân chủ nhà hàng Cung Đình sang trọng, sau khi lấy chồng người Mã Lai mở nhà hàng kinh doanh khá thành công mà chị chia sẻ, khó khăn nhất khi chị mới làm dâu xứ người là hòa nhập văn hóa gia đình chồng và việc gìn giữ tiếng Việt cho con cái nghe chừng cũng không đơn giản:

    “Khó khăn nhất của chị bước đầu là hòa nhập vào văn hóa gia đình bên chồng. Tại vì văn hóa người Trung Hoa Mã Lai khác với văn hóa người Việt. Mà người Việt mình nói chung là thẳng như ruột ngựa, có sao nói vậy nên nhiều lúc cũng không được hòa đồng lắm.

    Những đứa nhỏ của chị thì nói tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Mã lai và chút chút tiếng Việt, không nhiều lắm. Hiểu thì nhiều nhưng nói thì chịu. nhưng mà mình nói những từ đơn giản thôi chứ những từ khó thì không hiểu đâu. Thí dụ như tụi chị nói chuyện thì mấy bé hiểu nhưng phải dịch ra tiếng Anh rồi hỏi lại mẹ xem có đúng như nghĩa của mẹ nói hay không.”

    Kuala Lumpur cũng là thành phố thu hút sinh viên Việt Nam sang du học. Loan, một du học sinh tại đây đã nhận xét về đất nước và con người Mã Lai:

    “Ý thức văn hóa người bên này thì cao hơn mình, người ta không xả rác ngoài đường như người Việt Nam của mình, hay là người ta đi đêm khuya đèn đỏ người ta vẫn dừng lại, đèn đỏ như Việt Nam mình thấy vắng vắng là vượt luôn., ở đây người ta thấy đèn đỏ là dừng lại. Hơn nữa ở bên đây đường sá sạch sẽ, rộng rãi thoải mái hơn Việt Nam mình nhiều.”

    Với những chia sẻ của chị Loan, Hưng Yên xin rời làn sóng với tâm tình cá nhân cầu chúc cho các anh chị công nhân luôn bình an.

    Hưng Yên cám ơn sự lắng nghe quí báu của quý vị và hẹn quý vị trong chương trình lần sau.

    Vừa rồi là tường trình của phóng viên Hưng Yên về tình hình người lao động Việt Nam tại Malaysia. Chúng tôi mong nhận được thêm thông tin của anh chị em công nhân đang làm việc tại đất nứơc ấy. Hãy liên lạc với chúng tôi bằng E mail về địa chỉ
    [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email] hay gọi và để lại lời nhắn tại 001 202 530 7775. Xin cảm ơn các anh chị trước.








    176 nữ công nhân Việt Nam ở Jordan bị chủ bỏ đói, bị hành hung
    2008.03.01


    Nghe bản tin này
    Tải xuống để nghe


    [/align]Một trăm bảy mươi sáu công nhân nữ người Việt Nam sang làm việc ở Jordan đã bị chủ nhân bỏ đói và thuê người hành hung vì tổ chức đình công đòi tăng lương cũng như cải thiện điều kiện làm việc.

    Tin cho hay, sức khỏe của nhiều người trong số này đã bị suy yếu nguy kịch về sức khỏe mà không được chủ công ty cho đi chữa trị.



    Nhiều người Việt Nam tìm cách ra nước ngoài làm việc với hy vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Tuy nhiên, tại xứ lạ quê người họ lại phải đối diện với rất nhiều khó khăn. (Hình chỉ mang tính minh họa). AFP PHOTO.



    [/align]Đây là những ngừơi làm việc trong công ty may mặc W &D Apparel Corporation Jordan do một ngừơi Đài Loan làm chủ. Chủ nhân của W&D Apparel đã không trả lương đúng hợp đồng mà những nữ lao động này ký với công ty môi giới trứơc khi sang Jordan.

    Theo những nguồn tin từ trong và ngoài nước, vì bị đối xử và hành hạ dã man từ vụ đình công ngày 24 tháng 2 vừa qua, với nhiều ngừơi bị đánh đập và bắt nhốt, các nữ công nhân Việt ở Jordan đã kêu cứu.

    Ông Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành tổ chức Boat People SOS ở Hoa Kỳ, cho biết:

    “Ngày 24-2 chúng tôi biết được tin này qua báo Tuổi Trẻ. Ngay lập tức chúng tôi đã báo tin này với Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng như một số cơ quan khác. Và được Bộ ngoại giao giúp nối kết với cơ quan IOM.

    Cùng lúc đó, chúng tôi tìm cách truy tìm nơi ở, số điện thoại của các công nhân Việt Nam đang gặp nạn ở Jordan, để tìm phương cách giúp đỡ họ”.

    Hiện tại tất cả những người nữ công nhân của W&D Apparel Corp Jordan đều rất sợ hãi và bày tỏ ý định muốn về nứơc.

    Đại diện là nữ công nhân Phương Anh cho Ban Việt ngừ đài Á Châu Tự Do biết:

    “Lúc bắt đầu đình công thì đại diện công ty nói rằng bọn em làm như vậy là không tốt. Họ nói rằng họ đã làm theo đúng hợp đồng. Tuy nhiên bọn em vẫn nhất quyết đình công.

    Sau đó, tình trạng ăn uống của bọn em ngày càng sa sút. Chủ công ty chỉ cho tụi em ăn mỗi bữa một chút cơm thôi.

    Khi mà cảnh sát bắt đầu đến và đánh bọn em thì trong số nữ công nhân đã có 5 người rất là mệt. Tui em phải xúm lại với nhau xin kêu cứu. Tụi em tất cả phải qùy xuống chấp tay xin cứu cho tụi em về nước thôi ạ.”

    Tại Việt Nam, ông Cao Ngọc Quỳnh là cục trưởng Cục Quản Lý Lao Động Ngoài Nứơc, cho biết đã nhận được tin tức về vụ bóc lột, hành hạ và ngược đãi công nhân Việt Nam ở Jordan. Cục Quản Lý Lao Động Nứơc Ngoài đã cử ngừơi sang Jordan để tìm hiểu sự việc.

    Hàng trăm lao động Việt Nam chết ở Malaysia

    Liên quan đến đời sống và công ăn việc làm của người lao động xuất khẩu từ Việt Nam, tin tức báo chi cho hay, đã có hơn 300 trường hợp lao động Việt Nam chết tại Malaysia kể từ tháng 4 năm 2002 cho đến nay.

    Đây là con số thống kê do Cục Quản lý Lao động Ngòai nước thuộc Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội Việt Nam chính thức đưa ra gần đây.

    Trước thông tin này, Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, ông Bùi Sĩ Lợi, tỏ ra ngạc nhiên vì khi còn giữ chức vụ chánh thanh tra Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội ông không hề được Cục quán lý lao động ngòai nước báo cáo về con số thương vong đó.

    Ông Bùi Sĩ Lợi nhận định rằng con số lao động Việt Nam chết tại Malaysia hẳn phải cao hơn thế nữa. Lý do là vì có nhiều người đi theo con đường bất hợp pháp hay đi du lịch rồi ở lại không nằm trong diện mà cục quản lý.

    Trong khi đó, người đứng đầu Cục quản lý lao động ngòai nước là ông Nguyễn Ngọc Quỳnh thì cho rằng đối với tình trạng lao động Việt Nam chết tại Malaysia còn nhiều vướng mắc mà cấp của ông quản lý không thể giải quyết được.









    Công Nhân Kiệt Quệ, Chính Quyền Làm Ngơ
    Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển
    Ngày 3 tháng 3, 2008
     
    Amman, Jordan, ngày 3 tháng 3, 2008 - Số công nhân bị bóc lột và đàn áp bởi chủ nhân hãng W&D Apparel ngày càng kiệt quệ do không nhận được nguồn tiếp viện nào, kể cả từ vị đại diện chính quyền Việt Nam.


     
    Khu công nghệ Al Tajamou’at nơi công ty W&D Apparel đặt trụ sở

    Số 176 phụ nữ vừa được giải cứu, tuy không còn sợ bị đánh đập, vẫn đang hết sức lo lắng về thân phận và tương lai của mình. Họ đã vét sạch tiền để mua thức ăn cầm cự trong thời gian ba tuần bị chủ nhân bỏ đói.

    Do thiếu dinh dưỡng cũng như do tâm thần căng thẳng, tình trạng sức khoẻ của một số công nhân bị sa sút trầm trọng. Hôm nay chị Đinh Thị Ngọc lại lên cơn giật và phải đưa vào bệnh xá địa phương. Bệnh tình không thuyên giảm nên bác sĩ đã chuyển chị đi cấp cứu ở bệnh viện trong trung tâm thủ đô Amman.

    Đến chiều tối, chị Trần Thị Ánh mê man trở lại. Các chị em bạn gọi báo động nhưng cô thông dịch viên cũng như các nhân viên của công ty đều đã tắt điện thoại.

    Thứ Bảy vừa qua các công nhânï phải gom góp vật dụng cá nhân, kể cả quần áo lót và băng vệ sinh, đem bán rong ngoài đường để có tiền mua thực phẩm.

    Theo các công nhân, đúng lúc ấy Ông Trần Việt Tú, Phó Tổng Lãnh Sự tại Toà Đại Sứ Việt Nam ở Cairo, Ai Cập, đến thăm và chứng kiến cảnh tượng thảm thương này của phụ nữ Việt Nam trên đường phố Jordan.

    Với số tiền thu chưa đến 10 Mỹ kim, họ mua 20 gói mì tôm về nấu loãng ra cho những người ốm bệnh và kiệt sức. Vị đại diện chính phủ Việt Nam không hề tiếp trợ cho các công nhân dù là từ quỹ của nhà nước hay tiền túi của chính mình.

    Quá khổ nhục và còn hãi sợ, phần lớn các công nhân yêu cầu Ông Tú giải quyết cho về nước ngay. Tuy nhiên ông ta lại chỉ hứa hẹn là sẽ điều đình để chủ nhân tăng lương và đối xử tử tế.

    “Hôm nay em cảm thấy mình quá ư là tủi nhục rồi. Em phải gánh từng cái băng vệ sinh phụ nữ đem ra đường bán. Kéo dài mười ngày nữa thì bọn em không thể sống nổi nữa”, một chị công nhân thốt lên khi được phỏng vấn.

    Trước thái độ giùng giằng của chính quyền Việt Nam, Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Tân Thời Ở Á Châu (CAMSA) bắt đầu vận động trực tiếp với chính phủ Jordan để giúp đưa các công nhân về nước.

    “Chúng tôi sẽ đưa vấn đề này lên với Vua Abdullah Đệ Nhị của Jordan hiên đang thăm viếng Hoa Kỳ”, TS Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành của UBCNVB, phát biểu. Uỷ ban này là một thành viên của Liên Minh CAMSA.

    Dân Biểu Frank Wolf (Cộng Hoà, VA) cho biết sẽ hội kiến Vua Abdullah Đệ Nhị trong vài ngày tới đây và sẽ đích thân nêu vấn đề các công nhân Việt ở Jordan.

    Chính phủ Hoa Kỳ có một tư  thế đặc biệt để nêu vấn đề với Jordan vì công ty W&D Apparel nằm trong khu vực đặc lợi, mà tên gọi chính thức là Qualifying Industrial Zone (QIZ), với quy chế miễn thuế nhập cảng vào Hoa Kỳ.

    “Chúng tôi muốn Hoa Kỳ bảo đảm rằng sẽ không ban thưởng quy chế đặc lợi cho những kẻ buôn người”, TS Thắng nói.

    Liên Minh CAMSA là tập hợp của bốn tổ chức gồm có UBCNVB, Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam - USA, Hiệp Hội Quốc Tế Nhân Quyền (Đức), và Liên Hội Người Việt Canada.

    Phim và ảnh về giải cứu công nhân ở Jordan


    Phỏng vấn Ts Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành UBCNVB, về vụ giải cứu 176 công nhân Việt ở Jordan, với phim và ảnh về cuộc đàn áp.



    Phan 1: http://www.youtube.com/v/M-XInzbOYN8
    Phan 2: http://www.youtube.com/v/3wb9QWFhmpg


    [/align]http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=1245









    176 công nhân Việt Nam ở Jordan vẫn chưa trở lại làm việc
    2008.03.04

    176 công nhân Việt Nam ở Jordan vẫn chưa trở lại làm việc
    Phó Tổng lãnh sự Việt Nam tại Ai Cập hiện đang có mặt tại Jordan cho biết 176 công nhân Việt Nam ở Jordan vẫn chưa chịu trở lại làm việc, trong khi cảnh sát xứ này chối bỏ việc họ đã đánh đập công nhân trong lúc đang đình công.

    Nghe bản tin 9 giờ tối 4-3
    Tải xuống để nghe


      [/align]
      Công nhân bị đánh bất tỉnh được chị em bạn chăm sóc. Hình của machsong.org



      [/align]Báo Dân Trí loan tin này hôm nay, cho biết thêm Thứ trửong bộ lao động, thương binh và xã hội Việt Nam, ông Trần Thanh Hoà cũng cho rằng hiện tại chưa thể kết luận việc cảnh sát Jordan đánh công nhân Việt Nam.

      Ông Tú điện về Hà Nội cho hay ông đã xuống khu công nghiệp tiếp xúc với công nhân và gặp giám đốc phòng Lao động thuộc bộ Lao động Jordan.

      Ông Tú cho biềt cũng đã trao đổi với phó cảnh sát trửơng thị trấn Sahab, và cả hai viên chức Jordan vừa nêu không nhìn nhận đã làm gì hại đến công nhân, mà chỉ ngăn cản công nhân Việt Nam đánh nhau.

      Hôm thứ bảy hai người trong số 176 công nhân Việt Nam đình công đã kể với đài Á Châu Tự Do về việc họ bị ngược đãi và đánh đập tàn tệ. Chị Phương Anh nói:

      "Bắt đầu đình công thì công ty nói bọn em làm thế không tốt, công ty nói là hợp đồng đúng nhưng mà thất ra là không đúng. Xong rồi tụi em vẫn nhất quyết là đình công. Sau đó thì cái ăn uống của bọn em càng ngày càng sa sút vì bọn em không đi làm, mỗi bữa họ chỉ cho ăn khoảng một chút cơm thôi mà cơm lại không có cái gì ăn cả.
      Khi mà cánh cảnh sát đến mà đánh bọn em ấy là có chị Anh, có năm người bị rất là mệt. Vì thế bọn em phải kêu cứu. Bây giờ tất cả bọn em phải quí xuống đây và xin cái ông bộ trưởg lao động là cho cứu bọn em về nước thôi ạ.

      Bọn em không thể chỉnh lương ở đây, bốn năm trăm đô cũng không làm được nữa ạ. Đi viện cũng không có thuốc thang mà ở đây đặc biệt công ty không quan tâm đền bọn em. Cho nên bọn em 176 người là quyết tâm cầu cứu các anh các chị là giúp bọn em để về nước thôi ạ".

      Tiếp lời chị Phương Anh, chị Thao kể tiếp:

      "Trong cái thời gian ấy thì ăn không đủ no chị ạ. Bị đánh là hôm 20 tháng Hai, bọn em ở trong ký túc xá thì có một người tự xưng là Bộ trưởng bộ lao động ở Jordan này, với cả một số cảnh sát.

      Bạn nghĩ gì về vấn đề này? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email]

      Người ta vào người ta khuyên nhủ bọn em đi làm bọn em bảo là ông chủ phải thực hiện cho bọn em theo đúng hợp đồng và đảm bảo quyền lợi cho bọn em trong vòng ba năm thì bọn em sẽ đi làm ngay, thế nhưng mà ông chủ ông không ký nên bọn em không đi làm.

      Thế là có xố xát đó rồi cảnh sát xông vào đánh bọn em. Em chỉ biết là rất nhiều, em bị đánh không nặng , chỉ bị bấm tím thì bây giờ cũng khỏi rồi. Có một người bị sai khớp tay như kiểu là nó cầm tay nó kéo xuống đất xong rồi nó cầm tóc nó ném đi.

      Đúng ra chị ấy bây giờ vẫn sai khớp tay và hôm qua chỉ bị nôn ra máu đó. Còn chị Ánh thì bây giờ tình trạng nói chung là sức khỏe tồi tệ lắm ạ."

      Theo dòng thời sự:

      176 nữ công nhân Việt Nam ở Jordan bị chủ bỏ đói, bị hành hung
      IOM tìm cách cứu giúp các nữ công nhân Việt Nam ở Jordan

      [/align]Người Việt hải ngoại gây qũy hỗ trợ giới lao động Việt Nam

      [/align][/align]Việt Nam ra quy định mới về tiền ký quỹ lao động xuất khẩu
      20 doanh nghiệp tạm ngừng đưa lao động sang Qatar
      3 lao động Việt Nam tại Malaysia bị trả về nước
      Đâu là thực tế của vấn đề Lao động Xuất khẩu?
      Người lao động Philippines gửi về nước 12 tỷ 800 ngàn đôla
      19 công nhân Việt Nam ở Malaysia tiếp tục kêu cứu


      [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/01/28/Vietnamese_workers_in_Malaysia_HYen/
      Đăng nhập để trả lời
      0