<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-21 14:27:15Thanh Công>
VÌ SAO KIỀU THA CHO HOẠN THƯ
Trong mười lăm năm lưu lạc, kể từ khi phải bán mình chuộc cha, rơi vào tay Mã Giám sinh-Tú Bà, làm gái thanh lâu cho đến khi được Từ Hải giải cứu, giúp tìm lại công lý, Thuý Kiều đã trải qua bao ê chề nhục nhã. Hoan Thư là một trong những kẻ gây cho nàng bao đau đớn, tủi nhục. Hoạn đã đẩy Kiều từ địa vị người vợ bé thành con ở, từ quan hệ thiếp-chàng thành quan hệ con ở-chủ nhà:
Rõ ràng thật lứa đôi ta
Làm ra con ở chúa nhà, đôi nơi.
Trong bữa tiệc mừng vợ chồng tái ngộ, Hoạn bắt Kiều hầu rượu:
Vợ chồng chén tạc, chén thù
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi
Bắt khoan bắt nhặt đến lời
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.
Chưa thoả, Hoạn còn bắt Kiều hầu đàn:
Rằng: Hoa nô đủ mọi tài
Bản đàn dạo thử một bài chàng nghe.
Thực ra là để Hoạn nghe-nghe tiếng trách móc ai oán của Kiều, nghe tiếng sụt sùi vì “thấp mưu thua trí đàn bà” của Thúc Sinh. Vì thế:
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Hoạn Thư hành hạ Kiều và Thúc Sinh là để trả thù Thúc Sinh dám qua mặt thị lấy vợ lẽ không khai báo, không xin phép, là để thoả mãn cái ghen “sâu sắc nước đời” có một không hai của thị. Hoạn đã bộc bạch động cơ của mình:
Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi
Trước cho bỏ ghét những người
Sau cho để một trò cười về sau.
Chính người đàn bà Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không dao này đã biến Thúc sinh thành kẻ bội tình, bỏ mặc Kiều bơ vơ, đơn độc trước hàng hùm, miệng sói:
Liệu mà cao chạy xa bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Do đó, khi được Từ Hải giúp mở phiên toà công lý, Kiều đã nói rõ nỗi căm giận Hoan chất chứa bấy lâu trong lòng mình với Thúc Sinh:
Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!
Kẻ bị trừng trị đầu tiên là Hoạn Thư. Kiều gọi thị là “chính danh thủ phạm”. Kiều cũng dùng thủ đoạn “nói cười” năm xưa của Hoạn để hành hạ thị:
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
- Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?
Nhưng rồi, cơn tức giận dâng trào khiến giọng Kiều trở nên đay nghiến, chì chiết:
Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!
Tưởng như Kiều sắp ra lệnh tùng xẻo Hoạn. Thế mà sau khi nghe thị “chối tội”, Kiều đã tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống tướng tiền tha ngay. Do đâu mà Kiều có hành động lạ lùng, mâu thuẫn như thế?
Nhiều bài viết trước đây cho rằng, Hoạn Thư thoát chết là nhờ Hoạn có những “chước lạ đời” của kẻ “quỷ quái tinh ma”, “sâu sắc nước đời”. Hoạn đã dùng lời nguỵ biện “tinh ma” để cứu mình. Đầu tiên, Hoạn “lôi” Kiều từ ghế quan toà xuống ghế giới tính để đồng cảm cùng với cái ghen của giới nữ:
Rằng: - Tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tôi là đàn bà, cô cũng là đàn bà. Đàn bà ai chả ghen tuông khi chồng mình mê duyên mới: Ớt nào mà ớt chẳng cay/ Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng. Bởi vậy, cái nghen của tôi cũng “thường tình” như cái ghen của bao nhiêu người đàn bà khác. Không cho người nghe có thời gian suy nghĩ, nhận ra kiểu “lập lờ đánh lận con đen” của mình, giọng cầu khẩn của Hoạn gấp gáp, nhịp thơ 1/5, 4/4 dồn dập. Rồi Hoạn chuyển nhanh sang kể lể một cách chậm rãi, tỉ mỉ công lao của mình với Kiểu trước đây:
Nghĩ cho khi gác viết kinh
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Cùng như lòng ngưỡng mộ và trân trọng tài sắc của Kiều:
Lòng riêng riêng những kính yêu.
Nhưng vì cảnh “chồng chung” nên lỡ gây ra sai sót, khuyết điểm nhỏ nay cúi đầu xin bậc đại nhân có tấm lòng bao dung như trời biển, rộng lượng tha cho:
Trót đà gây việc chông gai
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Lý lẽ Hoạn Thư đưa ra vàng thau lẫn lộn. Có việc Hoạn lập lờ “đánh lận con đen”, có việc Hoạn đã nương tay với Kiều sau khi đã thoả mãn cơn ghen, đạt được mục đích như bố trí cho Kiều ra ở Quan Âm các sau nhà hay khi Kiều trốn khỏi nhà mang theo chuông vàng khánh bạc nhưng thị không cho người truy đuổi, bắt về.
Cách lý giải như trên, đúng nhưng chưa đủ, chưa thật sự căn cứ vào tính cách nhân vật và chỉnh thể của tác phẩm. Ngoài nguyên nhân dễ thấy, hiển hiện một cách tường minh trong cảnh báo ân báo oán, theo chúng tôi còn có những nguyên nhân sâu xa sau:
Trước hết, Kiều là một con người giàu lòng nhân ái, luôn hy sinh bản thân vì người khác. Nàng than khóc cho thân phận “hồng nhan bạc mệnh” của Đạm Tiên; nàng bán mình cứu cha và nhờ em nối lời với Kim Trọng… Ngay những ngày “hương lửa đương nồng”cùng Thúc Sinh, Kiều luôn nghĩ vì mình mà người vợ cả của Thúc thua thiệt nên nhiều lần khuyên nhủ:
Xin chàng kíp liệu lại nhà
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình.
Kiều biết mình với Thúc chỉ là “chút nghĩa đèo bồng” và sẵn sàng chấp nhận những cơn phẫn nộ lôi đình của Hoạn:
Dù khi sóng gió bất bình
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
Do đó, dù bị Hoạn sai người bắt về hành hạ đủ điều nhưng Kiều vẫn thấy mình là người có lỗi, là nguyên nhân dẫn đến cái ghen của thị. Hơn thế, Kiều là người dám nhận tội và sẵn sàng chịu tội. Trước đây, khi Tú Bà bắt làm gái thanh lâu, Kiều đã phản ứng quyết liệt bằng hành động rút dao quyên sinh. Nhưng khi bị mắc mưu, chạy trốn cùng Sở Khanh, trái với lời hứa với Tú Bà, nàng đã nhận tội và chấp nhận làm gái thanh lâu:
Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
Hoặc khi chung sống với Thúc Sinh, bị Thúc ông kiện, viên quan “mặt sắt đen sì” xử phạt rất nặng nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng:
Phận đành chi dám kêu oan
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày…
Mặt khác, dù bị Thúc ông kiện, viên quan xử “phép gia hình” hay bị Hoạn Thư chìa lìa tình ái và đày đoạ đủ đường nhưng cuối cùng Kiều đều được tha và mở ra cho con đường sống. Chẳng lẽ, bây giờ Kiều lại không bằng họ mà xử chết Hoạn Thư? Rõ ràng, những mệnh lệnh: dưới cờ, gươm tuốt nắp ra cùng những lời nói đay nghiến, mạnh mẽ: chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư chủ yếu là để phủ đầu, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn “hồn lạc phách xiêu”. Vì thế, khi đạt được mục đích: Hoạn Thư quỳ lay, xin tha mạng thì không có lý do gì mà Kiều không tha!
Mặt khác, cách xử án của Kiều là căn cứ vào lời nói và hành động của kẻ thù đối với mình trước đây để luận tội chúng. Bọn tội đồ buôn thịt bán người như Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà nàng dựa vào lời thề của chúng mà phán quyết: Thề sao thì lại cứ sao gia hình. Còn Hoạn Thư, tuy làm nhục nàng, cứa cho tim nàng rỏ máu nhưng khi Kiều cúi đầu quì trước sân hoa xin cho đi tu, Hoạn đã động lòng: Rằng: - Tài nên trọng mà tình nên thương và thu xếp cho Kiều ra ở Quan Âm các trong vườn nhà. Bây giờ, đến lượt Hoạn khấu đầu dưới trướng xin tha, chẳng lẽ Kiều không chấp nhận?
Thêm nữa, Kiều tha cho Hoạn Thư còn là chủ ý của Nguyễn Du. Khi nói về Hoạn, thi nhân không những dùng những lời xưng hô trân trọng: “tiểu thư”, “vốn dòng họ Hoạn danh gia”… mà trước đó, ông để cho Hoạn 5 lần khen Kiều: Tiểu thư xem cũng thương tài, Ví chăng có số giàu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên… Hơn thế, ông còn “gài” cho Hoạn cử chỉ “dung kẻ dưới”, không cho người đuổi bắt khi Kiều ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào lại cầm theo vàng bạc nhà Hoạn bỏ trốn. Nghĩa là các lớp lang đã được Nguyễn Du dựng sẵn, phiên toà mở ra là Hoạn Thư xuất hiện, biện bạch trơn tru, có lớp có lang, thấu tình đạt lý.
Cuối cùng, Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, giàu lòng yêu thương con người. Mặc dù, Truyện Kiều lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã loại bỏ những chi tiết sa vào chủ nghĩa tự nhiên, gây phản cảm với người đọc. Những cảnh đánh nhau, chết chóc, xử trảm, Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả khá kỹ lưỡng trong Kim Vân Kiều truyện được Nguyễn Du loại bỏ hoặc chỉ nêu một cách khái quát bằng một vài câu lục bát. Chẳng hạn, cảnh xử án bọn buôn thịt bán người được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả chi li rùng rợn chiếm gần cả chương nhưng Nguyễn Du chỉ viết có bốn câu:
Lệnh trên truyền xuống nội đao:
Thề sao thì lại cứ sao gia hình!
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!.
Trong mười lăm năm lưu lạc, kể từ khi phải bán mình chuộc cha, rơi vào tay Mã Giám sinh-Tú Bà, làm gái thanh lâu cho đến khi được Từ Hải giải cứu, giúp tìm lại công lý, Thuý Kiều đã trải qua bao ê chề nhục nhã. Hoan Thư là một trong những kẻ gây cho nàng bao đau đớn, tủi nhục. Hoạn đã đẩy Kiều từ địa vị người vợ bé thành con ở, từ quan hệ thiếp-chàng thành quan hệ con ở-chủ nhà:
Rõ ràng thật lứa đôi ta
Làm ra con ở chúa nhà, đôi nơi.
Trong bữa tiệc mừng vợ chồng tái ngộ, Hoạn bắt Kiều hầu rượu:
Vợ chồng chén tạc, chén thù
Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi
Bắt khoan bắt nhặt đến lời
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.
Chưa thoả, Hoạn còn bắt Kiều hầu đàn:
Rằng: Hoa nô đủ mọi tài
Bản đàn dạo thử một bài chàng nghe.
Thực ra là để Hoạn nghe-nghe tiếng trách móc ai oán của Kiều, nghe tiếng sụt sùi vì “thấp mưu thua trí đàn bà” của Thúc Sinh. Vì thế:
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Hoạn Thư hành hạ Kiều và Thúc Sinh là để trả thù Thúc Sinh dám qua mặt thị lấy vợ lẽ không khai báo, không xin phép, là để thoả mãn cái ghen “sâu sắc nước đời” có một không hai của thị. Hoạn đã bộc bạch động cơ của mình:
Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi
Trước cho bỏ ghét những người
Sau cho để một trò cười về sau.
Chính người đàn bà Bề ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không dao này đã biến Thúc sinh thành kẻ bội tình, bỏ mặc Kiều bơ vơ, đơn độc trước hàng hùm, miệng sói:
Liệu mà cao chạy xa bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Do đó, khi được Từ Hải giúp mở phiên toà công lý, Kiều đã nói rõ nỗi căm giận Hoan chất chứa bấy lâu trong lòng mình với Thúc Sinh:
Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!
Kẻ bị trừng trị đầu tiên là Hoạn Thư. Kiều gọi thị là “chính danh thủ phạm”. Kiều cũng dùng thủ đoạn “nói cười” năm xưa của Hoạn để hành hạ thị:
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
- Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?
Nhưng rồi, cơn tức giận dâng trào khiến giọng Kiều trở nên đay nghiến, chì chiết:
Đàn bà dễ có mấy tay?
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!
Tưởng như Kiều sắp ra lệnh tùng xẻo Hoạn. Thế mà sau khi nghe thị “chối tội”, Kiều đã tha bổng: Truyền quân lệnh, xuống tướng tiền tha ngay. Do đâu mà Kiều có hành động lạ lùng, mâu thuẫn như thế?
Nhiều bài viết trước đây cho rằng, Hoạn Thư thoát chết là nhờ Hoạn có những “chước lạ đời” của kẻ “quỷ quái tinh ma”, “sâu sắc nước đời”. Hoạn đã dùng lời nguỵ biện “tinh ma” để cứu mình. Đầu tiên, Hoạn “lôi” Kiều từ ghế quan toà xuống ghế giới tính để đồng cảm cùng với cái ghen của giới nữ:
Rằng: - Tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tôi là đàn bà, cô cũng là đàn bà. Đàn bà ai chả ghen tuông khi chồng mình mê duyên mới: Ớt nào mà ớt chẳng cay/ Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng. Bởi vậy, cái nghen của tôi cũng “thường tình” như cái ghen của bao nhiêu người đàn bà khác. Không cho người nghe có thời gian suy nghĩ, nhận ra kiểu “lập lờ đánh lận con đen” của mình, giọng cầu khẩn của Hoạn gấp gáp, nhịp thơ 1/5, 4/4 dồn dập. Rồi Hoạn chuyển nhanh sang kể lể một cách chậm rãi, tỉ mỉ công lao của mình với Kiểu trước đây:
Nghĩ cho khi gác viết kinh
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
Cùng như lòng ngưỡng mộ và trân trọng tài sắc của Kiều:
Lòng riêng riêng những kính yêu.
Nhưng vì cảnh “chồng chung” nên lỡ gây ra sai sót, khuyết điểm nhỏ nay cúi đầu xin bậc đại nhân có tấm lòng bao dung như trời biển, rộng lượng tha cho:
Trót đà gây việc chông gai
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Lý lẽ Hoạn Thư đưa ra vàng thau lẫn lộn. Có việc Hoạn lập lờ “đánh lận con đen”, có việc Hoạn đã nương tay với Kiều sau khi đã thoả mãn cơn ghen, đạt được mục đích như bố trí cho Kiều ra ở Quan Âm các sau nhà hay khi Kiều trốn khỏi nhà mang theo chuông vàng khánh bạc nhưng thị không cho người truy đuổi, bắt về.
Cách lý giải như trên, đúng nhưng chưa đủ, chưa thật sự căn cứ vào tính cách nhân vật và chỉnh thể của tác phẩm. Ngoài nguyên nhân dễ thấy, hiển hiện một cách tường minh trong cảnh báo ân báo oán, theo chúng tôi còn có những nguyên nhân sâu xa sau:
Trước hết, Kiều là một con người giàu lòng nhân ái, luôn hy sinh bản thân vì người khác. Nàng than khóc cho thân phận “hồng nhan bạc mệnh” của Đạm Tiên; nàng bán mình cứu cha và nhờ em nối lời với Kim Trọng… Ngay những ngày “hương lửa đương nồng”cùng Thúc Sinh, Kiều luôn nghĩ vì mình mà người vợ cả của Thúc thua thiệt nên nhiều lần khuyên nhủ:
Xin chàng kíp liệu lại nhà
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình.
Kiều biết mình với Thúc chỉ là “chút nghĩa đèo bồng” và sẵn sàng chấp nhận những cơn phẫn nộ lôi đình của Hoạn:
Dù khi sóng gió bất bình
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
Do đó, dù bị Hoạn sai người bắt về hành hạ đủ điều nhưng Kiều vẫn thấy mình là người có lỗi, là nguyên nhân dẫn đến cái ghen của thị. Hơn thế, Kiều là người dám nhận tội và sẵn sàng chịu tội. Trước đây, khi Tú Bà bắt làm gái thanh lâu, Kiều đã phản ứng quyết liệt bằng hành động rút dao quyên sinh. Nhưng khi bị mắc mưu, chạy trốn cùng Sở Khanh, trái với lời hứa với Tú Bà, nàng đã nhận tội và chấp nhận làm gái thanh lâu:
Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.
Hoặc khi chung sống với Thúc Sinh, bị Thúc ông kiện, viên quan “mặt sắt đen sì” xử phạt rất nặng nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng:
Phận đành chi dám kêu oan
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày…
Mặt khác, dù bị Thúc ông kiện, viên quan xử “phép gia hình” hay bị Hoạn Thư chìa lìa tình ái và đày đoạ đủ đường nhưng cuối cùng Kiều đều được tha và mở ra cho con đường sống. Chẳng lẽ, bây giờ Kiều lại không bằng họ mà xử chết Hoạn Thư? Rõ ràng, những mệnh lệnh: dưới cờ, gươm tuốt nắp ra cùng những lời nói đay nghiến, mạnh mẽ: chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư chủ yếu là để phủ đầu, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn “hồn lạc phách xiêu”. Vì thế, khi đạt được mục đích: Hoạn Thư quỳ lay, xin tha mạng thì không có lý do gì mà Kiều không tha!
Mặt khác, cách xử án của Kiều là căn cứ vào lời nói và hành động của kẻ thù đối với mình trước đây để luận tội chúng. Bọn tội đồ buôn thịt bán người như Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà nàng dựa vào lời thề của chúng mà phán quyết: Thề sao thì lại cứ sao gia hình. Còn Hoạn Thư, tuy làm nhục nàng, cứa cho tim nàng rỏ máu nhưng khi Kiều cúi đầu quì trước sân hoa xin cho đi tu, Hoạn đã động lòng: Rằng: - Tài nên trọng mà tình nên thương và thu xếp cho Kiều ra ở Quan Âm các trong vườn nhà. Bây giờ, đến lượt Hoạn khấu đầu dưới trướng xin tha, chẳng lẽ Kiều không chấp nhận?
Thêm nữa, Kiều tha cho Hoạn Thư còn là chủ ý của Nguyễn Du. Khi nói về Hoạn, thi nhân không những dùng những lời xưng hô trân trọng: “tiểu thư”, “vốn dòng họ Hoạn danh gia”… mà trước đó, ông để cho Hoạn 5 lần khen Kiều: Tiểu thư xem cũng thương tài, Ví chăng có số giàu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên… Hơn thế, ông còn “gài” cho Hoạn cử chỉ “dung kẻ dưới”, không cho người đuổi bắt khi Kiều ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào lại cầm theo vàng bạc nhà Hoạn bỏ trốn. Nghĩa là các lớp lang đã được Nguyễn Du dựng sẵn, phiên toà mở ra là Hoạn Thư xuất hiện, biện bạch trơn tru, có lớp có lang, thấu tình đạt lý.
Cuối cùng, Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, giàu lòng yêu thương con người. Mặc dù, Truyện Kiều lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã loại bỏ những chi tiết sa vào chủ nghĩa tự nhiên, gây phản cảm với người đọc. Những cảnh đánh nhau, chết chóc, xử trảm, Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả khá kỹ lưỡng trong Kim Vân Kiều truyện được Nguyễn Du loại bỏ hoặc chỉ nêu một cách khái quát bằng một vài câu lục bát. Chẳng hạn, cảnh xử án bọn buôn thịt bán người được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả chi li rùng rợn chiếm gần cả chương nhưng Nguyễn Du chỉ viết có bốn câu:
Lệnh trên truyền xuống nội đao:
Thề sao thì lại cứ sao gia hình!
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!.
Thah