Peter bước vào phòng họp và ngồi vào chỗ duy nhất còn trống quanh chiếc bàn gỗ gụ. Anh chỉnh lại ghế và chờ tới lượt mình. Mỗi lần tới lượt một đồng nghiệp phát biểu, anh cảm giác như có một sư đoàn tăng thiết giáp với những bánh xích gỉ rét đang lăn trên màng nhĩ và sẵn sàng nã súng vào thái dương anh. Những cuộc tranh cãi kéo dài bất tận. Người ngồi phía bên phải anh đã nói xong và cuối cùng, thì cũng đến lượt Peter được mời phát biểu. Các thành viên của hội đồng bắt đầu mở tập hồ sơ anh phát cho họ trước đó. Anh trình bày sơ qua về lịch đấu giá của mình và đặc biệt tập trung vào buổi đấu giá mà anh sẽ thực hiện tại Boston vào cuối tháng Sáu. Khi anh đề cập tới nguyện vọng được bổ sung thêm các bức họa của Vladimir Radskin mới được nhắc tới trong thời gian gần đây tiếng xì xào nổi lên khắp phòng. Ông giám đốc chủ tọa buổi họp cất lới. Ông nhắc nhở Peter rằng khách hàng đưa ra những bức họa của Radskin là một phòng tranh lớn. Nếu giao các bức họa đó cho Nhà Christie’s, chắc chắn khách hàng sẽ trông đợi công ty chăm sóc quyền lợi của họ một cách trân trọng nhất. Vì vậy không nhất thiết phải quá vội vàng trong công tác chuẩn bị. Các buổi đấu giá tại London trong quý hai có thể sẽ thích hợp hơn nhiều.
- Tất cả chúng tôi đều đã đọc bài báo đó, chúng tôi rất thông cảm với anh, Peter thân mến ạ, nhưng tôi sợ rằng anh sẽ khó có thể tạo ra một sự kiện lớn xung quanh Radskin, dù sao thì ông ta cũng không phải là Van Gogh! Ông giám đốc vui vẻ kết luận.
Tiếng cười cố kiềm chế của các đồng nghiệp khiến Peter vô cùng bực mình song làm anh không còn lời nào để tranh luận tiếp nữa.
Một nữ phụ tá bước vào, mang theo một chiếc khay đựng một ấm trà bằng bạc nặng trịch. Tiếng tranh luận chợt ngừng lại trong khi cô đi một vòng quanh bàn để tiếp trà cho những ai muốn uống thêm. Qua cánh cửa để ngỏ, Jonathan nhìn thấy James Donovan từ một phòng làm việc bước ra. Donovan chính là người đã gửi bức thư điện tử tới Boston cho anh hôm Chủ nhật.
- Xin thứ lỗi cho tôi vài phút, anh lắp bắp và vội vã bước ra hành lang.
Anh tóm lấy tay áo Donovan và kéo ra hơi xa một chút.
- Nói cho tôi biết, Peter gằn giọng qua kẽ răng, tôi đã để sáu tin nhắn cho anh trong vòng hai ngày, anh có đánh mất số điện thoại của tôi không?
Xin chào, ông Gwel, chàng trai trầm tĩnh nói.
- Tại sao anh không gọi lại cho tôi? Ngay cả anh cũng đã đọc báo quá nhiều rồi phải không?
- Di động của tôi bị mất cắp và tôi không hiểu ông đang nói gì, thưa ông. Peter cố gắng lấy lại bình tĩnh. Anh lấy tay phủi nhẹ vạt áo vét của Donovan và kéo anh ra xa hơn chút nữa.
- Nói cho tôi biết, Peter gằn giọng qua kẽ răng, tôi đã để sáu tin nhắn cho anh trong vòng hai ngày, anh có đánh mất số điện thoại của tôi không?
- Xin chào, ông Gwel, chàng trai trầm tĩnh nói.
- Tại sao anh không gọi lại cho tôi? Ngay cả anh cũng đã đọc báo quá nhiều rồi phải không?
- Di động của tôi bị mất cắp và tôi không hiểu ông đang nói gì, thưa ông. Peter cố gắng lấy lại bình tĩnh. Anh lấy tay phủi nhẹ vạt áo vét của Donovan và kéo anh ra xa hơn chút nữa.
- Tôi có một câu hỏi đặc biệt quan trọng dành cho anh, và anh sẽ phải tập trung toàn bộ chất xám hiện có để cho tôi một câu trả lời duy nhất mà tôi muốn nghe.
- Tôi sẽ cố gắng hêt sức, thưa ông, Dono van trả lời.
- Về vụ Radskin, có đúng như anh viết trong thư gửi cho tôi là có năm bức tranh sẽ được đưa ra không?
Chàng trai trẻ lấy từ trong túi áo ra một cuốn sổ chỏ bọc da và lật đi một vài trang, lật lại một vài trang rồi lại lật đi vài trang nữa. Cuối cùng anh dừng lại ở một trang và nói bằng giọng phấn khởi:
Chính xác là như vậy, thưa ông.
- Cụ thể là bằng cách nào anh đã có được con số đó? Peter hỏi khi cơn
nóng giận của anh đã lên tới cực điểm.
Người báo tin cho anh giải thích có một phòng tranh đã liên hệ với Nhà Christie’s và anh ta đã được phái gấp tới cuộc hẹn được ấn định vào thứ sáu tuần trước lúc hai giờ 30 phút chiều tại số 10 phố Abbermarle. Đích thân cô chủ phòng tranh đã tiếp anh ta và cung cấp cho anh ta mọi thông tin. Khi trở về phòng làm việc vào lúc bốn giờ chiều, anh ta đã thảo một bản báo cáo và gửi cho sếp mình vào lúc bốn giờ 45 phút chiều. Khi sếp anh ta hỏi trong công ty co chuyên gia đấu giá nào biết rõ về danh họa này không, cô Blenz của phòng tìm kiếm dữ liệu đã đưa ra cái tên Peter Gwel, người thường xuyên làm việc với Jonathan Gardner, một chuyên gia chuyên nghiên cứu về Vladimir Radskin.
- Tôi vội vàng viết ngay cho ông một bức thư điện tử và gửi đi từ nhà tôi vào buổi chiều hôm thư bảy.
Peter nhìn anh ra chằm chằm và nói ngắn gọn.
- Quả là khá cụ thể, Donovan ạ.
Sau khi cảm ơn anh ta, Peter hít một hơi thật sâu và quay trở vào trong phòng họp.
- Tôi có một lý do chính đáng để yêu cầu đưa các bức tranh ra trong buổi đấu giá ở Boston ngày 21 tháng sáu, anh tự hào tuyên bố với cử tọa.
Hội đồng đã đưa ra quyết định: nếu như bức họa cuối cùng của Radskin thực sự tồn tại, nếu nó đúng là tác phẩm trứ danh nhất của danh họa, và nếu Jonathan Gardner cam kết thẩm định nó trong thời gian ngắn nhất, chỉ duy nhất trong trường hợp ấy, Peter mới được tổ chức buổi đấu giá vào tháng sáu. Trước khi để anh ra khỏi phòng họp, ông giám đốc lại một lần nữa nghiêm khắc nhắc nhở anh. Sẽ không được phép có bất cứ một sơ suất nào trong cả quá trình chuẩn bị mang đầy tính ngẫu hứng này; Peter sẽ phải gánh toàn bộ trách nhiệm với tư cách là chuyên gia đấu giá trước các đồng sự của anh.
Cả ngày hôm đó, Clara không hề tới phòng tranh. Khoảng giữa buổi chiều cô gọi điện tới xin lỗi. Jonathan đã cùng Frank treo và điều chỉnh đèn chiếu cho bức tranh thứ ba trong tuần. Anh dành toàn bộ thời gian còn lại tiến hành thẩm định. Trong lúc người thợ ảnh chuẩn bị các đồ nghề để chụp bức tranh, Jonathan sang quán cà phê. Lúc lục túi áo vét tìm tiền lẽ, anh lấy ra tờ khăn giấy anh đã đưa cho Clara hôm nọ gặp nhau lần đầu tiên. Anh ngửi thấy mùi xạ hương vẫn còn tỏa ra từ chiếc khăn. Anh đi bọ về khách sạn. Peter đến tìm anh vào đầu giờ tối. Suốt cả buổi tối, họ trao đổi với nhau rất ít. Cả hai đều chìm đắm trong dòng suy tưởng riêng của mình. Kiệt sức và đầu đau như búa bổ, Peter lên phòng ngủ từ rất sớm.
Về đến phòng mình, Jonathan để một tin nhắn cho Anna qua điện thoại, rồi nằm dài ra giường để soát lại những gì anh đã ghi chép được trong ngày.
Clara kéo rèm che kín phòng tranh Soho sau một ngày làm việc mệt nhoài. Đúng với giờ tan rạp, cô thay đổi hành trình để tránh bị tắc đường.
Jonathan bật vô tuyến. Sau khi chuyển hết một vòng các kênh, anh đứng lên và bước lại gần cửa sổ. Một vài chiếc xe vun vút trên đại lộ Park Lane. Anh nhìn những dải sáng dài do đèn xe tạo ra cho tới hút tầm mắt. Một chiếc Cooper màu đỏ đi chậm dần tới ngã tư và lăn bánh về phía Notting Hill.
* * *
Ngày thứ 6 đầu tháng ấy có thể sẽ là một trong những ngày quan trọng nhất đời anh. Jonathan đã dậy từ lâu. Con đường vắng vẻ phía dưới cửa sổ phòng anh cho thấy vẫn còn rất sớm. Anh ngồi vào bàn làm việc kê ở góc phòng và viết vài chữ để fax cho Anna trước khi đi .
Clara ,
Tối nào anh cũng tìm cách gọi cho em mà không được. Lẽ ra em phải ghi lại lời chào trên máy nhắn tin để ít nhất anh cũng nghe được tiếng em khi anh gọi về nhà .Khi anh viết những dòng này cho em chắc em vẫn đang đây mặt trời bắt đầu lên ,anh vẫn ước giá có em ở đây, nhất là ngày hôm nay .Sáng nay, có lẽ cuối cùng thì anh cũng được ngắm bức tranh mà anh vẫn ao ước được nhìn từ rất nhiều năm rồi .Anh không muốn mình quá lạc quan song những ngày dài đăng đẳng vừa qua ở Luân Đôn đã khiến cho anh chấp nhận tin vào điều đó .Phải chăng cuối cùng anh đã tới chặng cuối cùng của cuộc tìm kiếm kéo dài gần hai mươi năm ?
Anh nhớ lại thời sinh viên ,những buổi tối ngồi một mình trong căn nhà nhỏ ,anh đọc đi đọc lại hàng giờ liền nhừng công trình nghiên cứu hiếm hoi nhắc tới sự tồn tại của kiệt tác độc nhất ấy .Bức hoạ cuối cùng của Vladimir sẽ là công trình thẩm định tuyệt vời nhất của anh .Anh đã chờ đợi nó từ bao lâu nay rồi .
Anh vẫn muốn giá mà sự kiện trọng đại khiến chúng ta phải xa nhau này không rơi vào lúc chúng ta phải chuẩn bị cho lễ cưới .Song biết đâu những ngày này sẽ mang lại những điều tốt đẹp cho cả hai chúng ta .Anh muốn quay trở về Boston để chúng ta được gặp lại nhau , quên đi tất cả những áp lực đã chia rẽ chúng ta trong những tuần gần đây .
Anh nghĩ tới em rất nhiều ,mong em khoẻ , hãy cho anh biết tin tức của em
Jonathan
Anh gấp lá thư lại , nhét nó vào trong túi áo vét và quyết định sẽ đi bộ đẻ thưởng thức làn không khí sớm mai ấm áp .Khi đi qua quầy tiếp tân , anh đưa bức thư nhờ người trực quầy gửi giúp rồi bước ra phố bên kia đại lộ ,công viên bắt đầu mở cửa đón khách vào dạo chơi .Cây cối đã phủ xanh lá và những bồn hoa rực rỡ đua sắc thắm .Jonathan đi tới tận cây cầu nhỏ bắc qua chiếc hồ ở giữa công viên .Anh ngắm nhìn những chú bồ nông khổng lồ đang bồng bềnh trên mặt nước phẳng lặng. Vừa bước tới dọc theo lối đi dạo , anh vừa tự nhủ có lẽ anh sẽ rất thích được sống tại thành phố này , anh có cảm giác nó vô cùng thân thuộc đối với mình . Một giờ trôi qua,anh quay trở lại con đường cũ và đi bộ tới phòng tranh .Anh vào ngồi trong quán cà phê chờ Clara tới. Chiếc xe Austin đậu trước cánh cửa màu xanh lơ .Clara tra chìa khoá vào chiếc hộp báo động gắn trên mặt tường và tấm màn sắt từ từ kéo lên .Clara tỏ ra ngập ngừng ,tấm màn sắt dừng lại giữa chừng rồi hạ xuống .Cô quay gót và băng qua đường .
Cô bước vào với vẻ dứt khoát và vài phút sau tiến về phía anh , trong tay cầm hai chiếc tách .
- Cppucino không đường! Coi chừng, còn nóng bỏng đấy .
Jonathan nhìn cô ngạc nhiên .
-Nếu muốn biết thói quen của ai đó , chỉ cần anh dành chút thời gian quan sát cách sống của họ , cô nói và đẩy một chiếc tách về phía anh .
Cô đưa ly nước lên môi .
-Tôi thích trời như thế này, cô nói, thành phố này thật khác xa mỗi khi trời đẹp .
- Bố tôi nói rằng, khi một phụ nữ nói về thời tiết,cô ta đang tìm cách tránh những chủ đề khác ,Jonathan trả lời .
- Thế mẹ anh nói gì ?
Nếu gặp trường hợp ấy , tốt nhất là không nên nói điều đó cho cô ta biết.
- Mẹ anh nói rất đúng!
Họ nhìn anh hồi lâu và Clara cười thật tươi .
- Chắc chắnanh đã lập gia đình rồi ,đúng không ?
Đúng lúc đó Peter bước vào quán cà phê .Anh chào Clara và quay ngay sang nói với Jonathan .
-Tớ có chuyện muốn nói với cậu .
Clara cầm túi lên ,cô chăm chú nhìn Jonathan và tuyên bố cô phải đi mở cửa phòng tranh, rồi cô để họ nói chuyện với nhau .
- Hy vọng là tớ đã không cắt ngang câu chuyện chứ? Peter hỏi và cầm lấy tách của Clara .
- Vẻ mặt cậu trông thật lạ, có chuyện gì thế ? Jonathan hỏi
- Cậu biết không, khi người ta nhắc đến cái chết với những kẻ ngu ,cần phải cẩn thận , nguy cơ xảy ra thảm sát chứ chẳng chơi đâu ! Các cộng tác viên người Anh của tớ đang muốn thay đổi quyết định . Họ cho rằng Radskin đã vè phần lớn các tác phẩm của ông tại Anh, vì vậy các bức tranh của ông ta phải được đưa ra đấu giá tại Luân Đôn .
-Vladimir là người Nga chứ không phải người Anh !
-Đấy , cảm ơn cậu , tớ cũng bảo với họ đúng như vậy .
-Thế cậu định làm gì bây giờ ?
- Cậu muốn nói tớ đã làm được gì rồi hả ? Tớ đã quyết định buổi đấu giá ấy phải được tiến hành ở nơi nào có nhà thẩm định danh tiếng nhất trong lĩnh vực này .
- Thế nghĩa là sao ?
- Là cậu chứ ai , đồ ngốc , cậu chính là nhà thẩm định danh tiếng nhất trong lĩnh vực này .
- Tớ rất thích nghe cậu nói như thế .
- Vấn đề là hội đồng thẩm định không hề từ chối việc chi trả các khoản chi phí trong thời gian cậu ở Luân Đôn , bao lâu cũng được .
- Nếu vận may mỉm cười với chúng ta , chúng ta có thể sẽ tổ chức một buổi đấu giá lừng lẫy nhất trong vòng mười năm trở lại đây . Thôi tớ đi đây, cậu phải làm sao để tới thứ hai chúng ta được hợp đồng với gái xinh đẹp làm việc bên kia đường .Nếu cuộc đấu giá này tuột khỏi tay tớ , sự nghiệp của tớ coi như chấm dứt tại đây,tớ trông cậy cả vào cậu đấy !
- Tớ sẽ cố gắng hết sức .
- Ừ, cũng đừng cố quá , cậu nên nhớ tớ là người làm chứng của cậu đấy ! Cậu có nhớ được điều đó không ?
- Đôi lúc cậu thật là thô thiển .
- Có thể , nhưng tớ cũng thích nghe cậu nói như vậy .
Peter vỗ vai bạn rồi bước ra khỏi quán cà phê .Jonathan trông theo bạn nhảy lên một chiếc ta-xi , rồi anh cũng rời khỏi quán .
Jonathan dừng lại trên vỉa hè và quan sát Clara qua lớp kính .Cô đang điều chỉnh lại đèn chiếu cho bức tranh được mang tới ngày hôm qua . Cô có vẻ hơi áy náy, bước xuống thang và ra mở của cho anh. Anh anh đã lên đến đỉnh điểm .Cả buổi sáng anh đi lại trước bốn bức tranh .Cứ mười lăm phút một , anh lại đứng lên và kín đáo nhìn ra đường .Từ sau bàn làm việc ,Clara liếc nhìn anh .Anh lại bước tới bức tường kính một lần nữa và ngước mắt ngắm bầu trời .
Trời có vẻ như đang kéo mây , anh nói .
- Điều đó có đúng với đàn ông không ? Clara ngước mắt lên hỏi .
Những câu chuyện về thời tiết !
Tôi nghĩ cũng có thể , Jonathan lúng túng trả lời .
- Anh có nhận ra đường phố rất vắng vẻ không ? Hôm nay là ngày lễ của Anh ,chẳng ai làm việc ngày hôm nay ...trừ chúng ta .Và vì hôm nay là thứ sáu, đa số mọi người đều đã tận dụng kỳ nghỉ cuối tuần .Dân Luân Đôn rất thích về nghỉ ở nông thôn .Chiều nay tôi cũng sẽ về nhà .
Jonathan nhìn Clara , rồi không nói một lời, anh tức giận quay đi .Lúc này đã là giữa trưa, các tiệm bán hàng trên phố đều đóng cửa .Jonathan đứng dậy và thông báo với Clara anh sẽ sang uống cà phê ở quán bên kia đường .Khi anh ra tới ngưỡng cửa , cô vơ vội chiếc áo khoác trên ghế và bước theo anh .Ra đến vỉa hè , cô kéo cánh tay anh lại .
-Anh đừng quá sốt ruột như thế , vẻ mặt đó không thích hợp với anh chút nào .Tôi sẽ thay đổi kế hoạch , đêm nay tôi ở lại Luân Đôn .Vì trời tối, chúng ta sẽ không thể nói chuyện thời tiết , hơn nữa tôi đã biết trước thời tiết cuối tuần này ra sao rồi , mưa thứ bảy , nắng chủ nhật , hoặc là ngược lại , ở đây thì không bao giờ có thể biết chính xác được !
Họ bước vào quán cà phê .Cả buổi chiều, cô giao phòng tranh cho anh và để anh làm việc một mình . Jonathan cứ quay vòng vòng, Peter gọi anh khoảng năm giờ chiều .
- Thế nào rồi ? Cậu ta hỏi giọng sốt ruột .
- Chẳng thế nào cả, Jonathan gắt gỏng trả lời .
- Chẳng thế nào là thế nào ?
- Là như thế ! Tớ chẳng thể làm gì hơn được .
- Khỉ gió !
- Dù sao đi nữa , tớ cũng đồng ý với cậu .
- Thế nghĩa là chúng ta đi toi rồi ,Peter lầm bầm .
- Chưa chắc , ai mà biết trước , nhỡ đâu chúng ta vẫn chưa hẳn tuyệt vọng , tin mừng có thể vẫn còn đó thì sao .
- Đó là trực giác của cậu hay cậu hy vọng thế ? Peter hỏi .
- Có thể cả hai , Jonathan rụt rè thú nhận .
- Đúng như tớ lo sợ , tớ chờ điện thoại của cậu đấy nhé ! Peter kết thúc và bỏ máy .
Anh chàng Frank điềm tĩnh ghé qua phòng tranh vào cuối buổi chiều để đóng cửa .Clara có việc bận , cô hẹn gặp Jonathan ở địa chỉ ghi vội trên một mẩu giấy do ngưỡi cộng sự trẻ tuổi của cô chuyển cho anh .
Khi quay về khách sạn, Jonathan không nhận được tin nhắn trả lời nào cho bức thư anh gửi Anna . Thay quần áo xong , anh lại bấm số Bonston một lần nữa .Vẫn là tiếng nói của chính anh vang lên trong máy nhắn . Anh thở dài và bỏ máy mà không nhắn lại gì .
* * *
Clara đã hẹn anh trong một quầy bar khá sang trọng nằm trong khu Nothing Hill .Ánh đèn sáng dịu và âm nhạc khiến khung cảnh khá dễ chịu .Cô vẫn chưa tới , anh ngồi chờ cô tại quầy bar .Anh đã di chuyển chiếc cốc đựng hạt hanh nhân đến lần thứ mười thì thấy cô xuất hiện ngoài cửa , anh vội đứng dậy .Cô khoác chiếc áo nhẹ , bên trong mặc một chiếc váy dài màu đen ôm sát người .Cô nhìn thấy Jonathan .
- Xin lỗi anh, tôi đến muộn quá .Xe của tôi bị thủng một chỗ khá to dưới lốp phải , mà ta-xi thì ngày càng khan hiếm .
Jonathan nhận thấy những ánh mắt dõi theo bóng Clara khi cô đi ngang qua .Anh chăm chú nhìn cô trong khi cô chọn đồ uống .Trong ánh nến quầy bar, đôi gò mà cô hiện lên cùng với những đường nét rõ ràng của khuôn miệng . Jonathan đợi người phục vụ đi khuất và rụt rè nghiêng người về phía Clara . Họ cùng cất tiếng tiếng một lúc và giọng nói của họ hoà lẫn vào nhau .
- Anh nói trước đi , Clara vừa cười vừa nói .
- Chiếc váy này rất hợp với cô
- Tôi đã thử sáu chiếc liền , mà đến lúc ngồi vào ta-xi rồi tôi còn muốn đổi ý .
- Còn tôi thì là cà -vạt , bốn lần .
- Nhưng anh mặc áo cổ tròn kia mà .
- Vì cuối cùng tôi vẫn không thể quyết định .
- Tôi rất mừng vì có dịp dùng bữa tối với anh, Clara nói và đến lượt cô ngồi nghịch những hạt hạnh nhân .
- Tôi cũng vậy, Jonathan nói .
Clara nhờ người phục vụ quầy bar chọn rượu giúp .Anh ta đề nghị cô nếm thử một ly sancerre , nhưng cô không thích lắm .Khuôn mặt Jonathan chợt bừng sáng, anh nói với người phục vụ quầy bar bằng giọng hóm hỉnh :
- Vợ tôi thích vang đỏ hơn .
Clara mở to mắt nhìn anh, nhanh chóng thay đổi thái độ , cô đưa bảng danh mục rượu cho Jonathan và tuyên bố chồng cô sẽ giúp cô lựa chọn .Anh không hề nhầm lẫn về sở thích của cô .Jonathan gọi hai ly Pomerol .Người phục vụ bỏ đi , để hai người ngồi nói chuyện với nhau.
- Khi anh thư giãn , trông anh thật giống một cậu thiếu niên .Vẻ hài hước rất hợp với anh.
- Nếu cô biết tôi lúc còn thiếu niên , có lẽ cô sẽ không nói như vậy.
- Hồi đó trông anh thế nào ?
- Để tỏ ra hài hước trước mặt một người phụ nữ , có lẽ tôi phải mất khoảng sáu tháng .
- Thế giờ thì sao ?
Giờ thì khá hơn nhiều rồi , càng lớn tuổi tôi càng tự tin hơn , có lẽ chỉ ba tháng là đủ ! Tôi nghĩ có lẽ tôi thấy thoải mái hơn khi bàn về thời tiết, Jonathan thì thầm .
- Nếu như điều này có thể giúp anh , thì tôi muốn nói để anh biết tôi cảm thấy rất thoải mái khi ở bên anh , Clara nói , hai má ửng hồng .
Không gian bên trong mù mịt khói , Clara muốn hít thở không khí trong lành , họ liền rời khỏi quán . Jonathan vẫy một chiếc ta-xi rồi yêu cầu chạy dọc theo bờ sông Tamise .Họ thả bộ trên vỉa hè uốn quanh con sông lững lờ trôi .Ánh trăng phản chiếu trên mặt nước phẳng lặng .Một làn gió nhẹ lướt trên những cánh lá. Jonathan hỏi về thời thơ ấu của cô. Vì những nguyên nhân mà chưa bao giờ có ai giải thích cho cô nghe, cô đã được bà ngoại nhận nuôi từ năm bốn tuổi và năm lên tám bắt đầu theo học tại một trường nội trú của Anh .Cô chưa bao giờ bị thiếu thốn gì, bà cô là một người giàu có và mỗi năm đều đến thăm cô vào ngày sinh nhật . Clara còn giữ mãi hình ảnh lần cuối cùng cô nhìn thấy bà khuất dần sau những bức tường của trường nội trú .Đó là vào ngày sinh nhật lần thứ mười sáu của cô .
Thật kỳ lạ , cô nói thêm , người ta vẫn nói rằng trong ba năm đầu tiên của cuộc đời không ai có thể nhớ được điều gì đã từng xảy ra , vậy mà hình ảnh bố tôi đứng ở đầu con phố nơi chúng tôi từng sinh còn đọng lại mãi trong tôi . Nói đúng hơn , tôi nghĩ rằng đó là bố tôi .Ông vụng về đưa tay vẫy , như để chào tạm biệt , rồi ông ngồi vào một chiếc xe và đi mất .
- Có thể đó chỉ là một giấc mơ của cô ? Jonathan nói .
- Cũng có thể , dù sao thì tôi cũng chẳng bao giờ biết được ông đã đi đâu
Và cô chưa bao giờ gặp lại ông ?
- Chưa bao giờ , mỗi năm tôi đều hy vọng mình sẽ gặp bố . Kỳ nghỉ Noel bao giờ cũng là một chuỗi thời gian lạ lùng .Đa số các nữ sinh trong trường đều về nghỉ cùng gia đình, còn tôi , cho đến năm mười ba tôi vẫn thường cầu xin Chúa để bố mẹ đến thăm tôi .
- Sau đó thì sao ?
- Tôi cầu xin điều ngược lại, mong sao họ đừng tới lôi tôi ra khỏi nơi mà cuối cùng thì tôi cũng đã coi như là nhà .Tôi biết, điều đó quả thật khó hiểu .Khi còn nhỏ, tôi đau khổ vì không bao giờ được ở lâu tại nơi đâu, khi còn sống với bố mẹ , không bao giờ tôi ở dưới mái nhà quá một tháng .
- Tại sao gia đình cô lại phải liên tục chuyển chỗ ở ?
- Tôi không biết , bà tôi không bao giờ muốn nói cho tôi vì sao .Mà cũng chẳng ai khác nói cho tôi biết điều đó .
- Thế cô đã làm gì vào ngày sinh nhật mười sáu tuổi ?
- Người bảo trợ của tôi , tôi vẫn thường gọi bà tôi như thế , đã lái một chiếc xe tuyệt đẹp tới đón tôi tại trường nội trú .Thật ngốc, nhưng nếu anh biết được tôi đã tự hào như thế nào trước những người bạn gái cùng trường .Không phải chỉ vì đó là một chiếc xe Bencley tuyệt vời, mà đúng hơi vì bà đã đích thân lái xe tới . Chúng tôi đã chạy xe khắp Luân-Đôn, và mặc cho tôi ra sức năn nỉ , bà vẫn không chịu ngừng xe lại .Tôi đành phải hài lòng ngắm nhìn những bức tường nhà thờ cổ kính , những mặt tiền quán rượu và những con phố nhộn nhịp dành riêng cho người đi bộ , tất cả những gì trôi qua ngoài cửa kính , nhất là những nẻo đường dọc bờ sông Tamise .
Và kể từ ấy , Clara luôn như có lời hẹn ước với dòng sông ở đâu đó . Trong mỗi chuyến du lịch , cô luôn tìm được cách để thoát ra khỏi mọi ràng buộc và đến dạo bộ bên một dòng nước , ngước nhìn những nhịp cầu cao nối liền hai bờ của một thành phố . Không một bến sông nào còn giữ nổi vẻ bí ẩn đối với cô . Vừa đi dạo dọc con sông Vltara ở Praha, dòng Danube ở Budapest , sông Arno ở Florence, con sông Seine ở Paris hay dòng sông Hoàng Phố ở Thượng Hải , con sông nổi tiếng chứa đựng nhiều bí ẩn nhất , cô vừa tìm hiểu về lịch sử và con người của thành phố đó .Jonathan kế cho cô nghe về bờ sông Charles , về bến cảng cũ ở Boston mà anh rất thích thả bộ lang thang .Anh hứa sẽ đưa cô đi thăm những con đường rải đá nơi phố chợ không có mái che .
Thế hôm ấy hai người đã đi đâu ?Jonathan hỏi tiếp .
- Về nông thôn ! Tôi vô cùng giận dữ , tôi vừa trở về từ một vùng quê khác ! Chúng tôi ngủ trọ trong một phòng khách sạn mà cho tới bây giờ tôi vẫn còn có thể tả cho anh nghe từng chi tiết .Tôi vẫn còn vải bọc tường, cánh cửa tủ kêu cót két, mùi gỗ toả ra từ chiếc tủ giường nơi tôi gục đầu thiếp đi sau khi mệt mỏi chống đối cơn buồn ngủ .Tôi muốn nghe tiếng bà thở đều đặn bên cạnh tôi , cảm nhận được bà ngay bên cạnh tôi . Ngày hôm sau, trước khi đưa tôi quay lại trường nội trú , bà đã đưa tôi tới xem trang viên của bà .
- Trang viên có đẹp không ??
- Nếu xét theo hiện trạng khi đó thì không thể gọi là đẹp được .
- Vậy tại sao bà lại phải đưa cô đi từng ấy quãng đường để chỉ nó cho cô xem ?
Bà tôi là một người kỳ lạ .Bà đã đưa tôi đến tận đó bắt tôi cam kết một vài chuyện .Chúng tôi ngồi trong xe , dừng trước cánh cổng sắt khép kín , bà nói với tôi rằng, đến tuổi mười sáu , con người ta đã đủ trưởng thành để có thể giữ lời hứa .
- Thế cô đã hứa gì ?
- Tôi có làm anh buồn chán vì những câu chuyện của tôi không ? Clara hỏi .
Họ ngồi xuống một chiếc ghế đá .Chiếc đèn trên cột phía sau lưng họ rọi ánh sáng xuống màn đêm bắt đầu buông .Jonathan đề nghị cô kể tiếp .
Có tất cả ba lời hứa .Tôi phải thề với bà rằng ngay sau khi bà qua đời , tôi sẽ rao bán trang viên đó và tôi sẽ không bao giờ bước chân vào bên trong .
-Vì sao?
- Hãy nghe nốt hai lời hứa còn lại .Bà là một người rất quả quyết trong thương lượng .Bà muốn tôi muốn tôi đi theo con đường khoa học , muốn tôi trở thành một nhà hoá học .Có lẽ bà nghĩ tôi có thể trở thành một Marie Curie thứ hai !
- Tôi có cảm giác về điểm này cô đã không giữ lời .
- Còn chưa thấm vào đâu so với điều ràng buộc cuối cùng .Tôi đã phải hứa sẽ không bao giờ được đến gần hoặc tiếp cận bất cứ điều gì có liên quan tới thế giới hội hoạ .
- Đúng vậy , Jonathan nói vẻ băn khoăn , nhưng tại sao , cô được gì để đổi lại những lời hứa ấy .
- Bà để lại cho tôi toàn bộ gia tài, và hãy tin tôi , gia tài của bà khá đồ sộ. Ngay sau khi sau khi tôi hứa, chúng tôi liền quay xe .
- Ngày hôm đó cô cũng không được bước chân vào trang viên ư ?
-Thậm chí chúng tôi còn không bước xuống khỏi xe .
-Thế cô đã bán trang viên đó chưa ?
- Bà tôi qua đời năm tôi hai mươi hai tuổi , khi đó bản thân tôi đang ngồi héo hắt trên giảng đường đại học chuyên ngành năm hoá thứ ba.Tôi đã tự bỏ ngành tự nhiên ngay ngày hôm ấy. Chẳng hề có một buổi lề nào cho đám tang , trong tất cả những điều khoản kỳ quặc của bản di chúc, bà đã ghi chú thêm một điều : công chứng viên thừa hành di chúc không có quyền được cho tôi biết nơi bà yên nghỉ .
Thế rồi Clara, sau khi tự hứa với mình rằng cả đời sẽ không bao giờ đụng tới một ống nghiệm nào nữa , đã chuyển tới sống ở Luân-Đôn để theo học khoá lịch sử nghệ thuật ở bảo tàng Quốc gia .Sau đó cô sang Florence một năm và cùng lúc kết thúc khoá học của mình tại trường Nghệ thuật Paris .
- Tôi cũng học ở đó , Jonathan hào hứng , có lẽ chúng ta đã cùng ở trường trong một thời gian chăng ?
- Không thể nào ,Clara bĩu môi đáp .Tôi rất tiếc nếu anh không nhận ra điều này, chúng ta chắc chắn phải học cách nhau vài khoá !
Jonathan ngồi thẳng người lên , vẻ lúng túng .
- Tôi muốn nói là tôi cũng từng tổ chức vài hội thảo tại đó .
-Anh còn cố biện minh nữa à! Cô vừa nói vừa không giấu được nụ cười .
Thời gian trôi qua mà cả hai người đều không nhận ra .Ánh mắt họ nhìn nhau hoà điệu .
- Anh cũng có cảm giác đã từng thấy phải không?
-Phải, tôi thường xuyên cảm thấy vậy , song điều đó chẳng có gì lạ cả , hôm qua chúng ta cũng đi dạo ở đây .
-Tôi không nói về điều này, Clara nói .
-Thú thật , tôi không muốn thể hiện là một người vô duyên, song tôi vẫn tự hỏi không biết chúng ta đã bao giờ gặp nhau chưa , trước cả lần đầu tiên tôi gặp cô trong quán cà phê ?
-Tôi cùng không biết đường đời của chúng ta có từng giao nhau không, cô nhìn anh không chớp mắt , song đôi lúc tôi cảm thấy như đã biết anh từ trước đó .
Cô đứng lên và họ rời khỏi bờ sông, sóng bước trên những nẻo đường ngoại ô thành phố .Tiếng kim đồng hồ vang to, rành rọt nhịp nhàng trong màn đêm yên tĩnh , như muốn giữ lại mãi khoảnh khắc kỳ diệu này, khi họ đứng trên hè đường lát đá , trong một cõi vô hình mà không một ai khác ngoài hai người cảm nhận được .Giữa hai con người đi sát cạnh nhau như hiện lên một thế giới khác , lặng lẽ , vô hình trôi theo nhịp bước của họ .Một chiếc ta-xi màu đen đi cùng chiều với họ .Jonathan nhìn Clara , một nụ cười buồn bã nở trên môi .Anh đưa tay lên và chiếc xe dừng lại bên lề đường .Anh mở cửa xe .Khi Clara bước lên xe, cô quay lại và nhẹ nhàng nói với anh rằng cô đã có một buổi tối thật thú vị .
-Tôi cũng vậy, Jonathan nói, mắt nhìn xuống mũi giày dưới chân .
-Khi nào anh quay về Boston ?
-Ngàymai Peter sẽ đi về ....tôi còn chưa biết .
Cô bước nhẹ về phía anh
-Nếu vậy , hẹn sớm gặp lại anh .
Cô đặt lên má anh một nụ hôn
Đó là lần đầu tiên da họ chạm vào nhau và cũng là lần đầu tiên điều kỳ lạ đã xảy ra .