📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CONDI CHUYỆN VỀ CONDOLEEZZA RICE

11 trả lời, 2.364 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-01 16:03:15Ct.Ly>
CONDI CHUYỆN VỀ CONDOLEEZZA RICE

LỜI NÓI ĐẦU
 
Khi vừa tròn 10 tuổi, Condoleezza Rice được cha mẹ cho đi thăm Thủ đô Washington D.C. Đối với John và Angelena (cha mẹ của Condi), những người mà Rice mô tả là “các nhà sư phạm mẫu mực” thì thủ đô của nước Mỹ là một địa chỉ nghỉ hè không thể thiếu. Ở đó có rất nhiều địa danh lịch sử, rất nhiều viện bảo tàng danh tiếng cần khám phá, rất nhiều thứ hứng thú với tuổi trẻ. Thả bộ dọc theo đại lộ Pennsylvania, cả nhà dừng lại và chăm chú nhìn vào tiền sảnh của Nhà Trắng. Condi lặng người chiêm ngưỡng hàng hiên bên ngoài của Nhà Trắng. Cả ba im lặng một lúc cho đến khi Condi quay sang phía cha mẹ và nói: “Cha ạ, bây giờ con không vào được toà nhà này, có lẽ do màu da của con. Nhưng nhất định có một ngày con sẽ ở trong đó”.
 
Rice không chỉ là một đứa trẻ sớm phát triển mà có lẽ còn là một nhà tiên tri. Hai mươi lăm năm sau, Condi đã làm việc đến 14 giờ / 1 ngày ở đây trên cương vị cố vấn hàng đầu về các vấn đề Xô Viết của Tổng thống George H.W.Bush, tham gia soạn thảo chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ vào thời kỳ thống nhất nước Đức và kết thúc Chiến tranh lạnh. Mười một năm sau nữa, Condi đã có mặt trong Nhà Trắng với cương vị cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống G. W.Bush.
 
Trong chiến dịch tranh cử của G. W.Bush, Jay Nordlinger đã viết trên tờ National Review: bất kỳ lúc nào sau khi tham gia vào chính quyền, Condi đều được coi là “Ngôi sao lớn”. Cô chưa từng xuất hiện trên các poster tranh cử ở quảng trường Thời đại, nhưng hình tượng của cô đã trở nên nổi tiếng, đặc biệt là sau sự kiện 11-9-2001, khi cô được bổ nhiệm vào nhóm phát ngôn viên của Nhà Trắng về cuộc chiến chống khủng bố. Hình ảnh của cô thường xuyên xuất hiện trên tờ Washington Chủ nhật, cũng như nhiều tạp chí nổi tiếng khác như Vogue, George, Oprah Magazine. Thậm chí ở nhiều khu vực, cô đã trở nên rất nổi tiếng, được coi như một ngôi sao chính trị đang lên, ví dụ ở quận Đông Palo Alto, California, cô đã được coi như vị anh hùng khi đồng sáng lập ra trường dành cho các học sinh thất học từ những quận có ít kinh phí cho giáo dục. Và trên lĩnh vực nghiên cứu vê Xô Viết, lĩnh vực mà cô đã chọn sau khi lần đầu tiên nghe một bài giảng về Đại nguyên soái Stalin, cô đã trở thành chuyên gia và là một học giả hàng đầu về lĩnh vực này.
 
Condi có hai niềm đam mê trong cuộc sống, đó là âm nhạc và nước Nga. Cuốn sách này kể lại về truyền thống âm nhạc của gia đình Condi, nơi đã ươm mầm mơ ước trở thành một nhạc công piano. Mơ ước này của cô đã bất ngờ bị thay đổi khi cô còn trẻ, khi cô nghiệm ra rằng: cô không muốn chỉ là một tay chơi đang hạng hai trong dàn nhạc giao hưởng. Cô đã lựa chọn một bước ngoặt sau khi nghe bài giảng của giáo sư Josef Korbel (cha của nữ Ngoại trưởng Madeleine Albright), đó là bài giảng về Liên bang Xô Viết. Kể từ đó cô chính thức bước vào một lĩnh vực rất khác thường nhưng đầy quyến rũ và cco đã đi theo nó, không bao giờ thay đổi.
 
Kể từ tuổi niên thiếu ở Birmingham, bang Alabama, nơi vào những năm 1950, 1960 là thành phố có nạn phân biệt chủng tộc nặng nề nhất ở phía Nam và cũng là nơi có phong trào về quyền con người mạnh mẽ, gia đình Condi có lịch sử rất đáng tự hào. Condi rất tự hào là con gái của hai dòng họ: Rice và Ray, đó là hai dòng họ có tiếng trong lĩnh vực giáo dục và hoạt động xã hội trong cộng đồng người da màu, cũng như người cha của mình. Cô tự hào về tính cách mạnh mẽ, thẳng thắn của những người trong dòng họ.
 
Những truyền thống tốt đẹp của gia đình đi theo Condi trong suốt cả con đường đến đỉnh cao của quyền lực, nơi thường chỉ dành cho đàn ông. Nhiều đồng nghiệp mô tả cô với tính cách rất cứng rắn, nhưng rất thân thiện “Cô, như mọi người đều thừa nhận, là một nhân cách đặc biệt”. Tờ National Review đã viết: “Tư thế đĩnh đạc, độ lượng, thông minh, giữ được tính cách của người phương Nam sau bao năm sống ở các vùng khác nhau”. Nhiều người được phỏng vấn trong cuốn sách này mô tả về vẻ phấn chấn, ghi nhận rằng cô là một nhân cách có kiến thức rất phong phú và sâu sắc. “Condi là một trong những người vui vẻ và may mắn”. “Trông cô luôn hạnh phúc, tôi chưa bao giờ trông thấy cô buồn bã”, đó là nhận xét của Karen Feste, giáo sư của Đại học Denver. Giải thích về vẻ bề ngoài của mình, Condi nói: “Tôi là người rất thực tế, và tôi không tin rằng tôi sinh ra trên đời này để phải mủi lòng, vì tôi luôn là người lạc quan”. Cô không bao giờ lẩn tránh hoạt động xã hội, đồng thời cũng không bao giờ quá lạc quan về bản thân mình. “Tôi cho rằng tôi chỉ ở mức trên trung bình”, cô nói “và không hơn thế bao nhiêu”. “Khi anh là một giáo sự, là hiệu trưởng trường Đại học Stanford thì anh phải hiểu cái gì là tố chất thiên bẩm cần thiết. Tôi đã thấy điều ấy, nhưng tôi không phải là thiên tài”.
 
Tổng thống George W.Bush dương như không đồng ý như vây. Cha của ông đã khâm phục Condi từ khi cô làm việc cho Cố vấn An ninh Brent Scowcroft. Gia đình Bush đã thừa nhận sự thông minh và trung thành tuyệt đối của cô. Cô từng là bạn của G. W.Bush ngay từ những tuần lễ đầu tiên nhậm chức thống đốc bang Texas và sau đó là chuyên gia hang đầu về chính sách đối ngoại của ông trong chiến dịch tranh cử. Khi đã trở thành cố vấn An ninh quốc gia, cô là trợ lý hàng đầu của Tổng thống, ý kiến của cô rất có trọng lượng đối với các báo cáo của Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao, các Cố vấn An ninh khác khi phải đệ trình lên Tổng thống.
 
Nếu cuộc đời của Condi được ghi lại trên các dòng nhạc của bản Sonata, thì giai đoạn này của cô đang là đoạn cao trào, mỗi một nốt nhạc đều là điểm nhấn cho bước tiến của cô. Ở đoạn cao trào, sự thăng tiến của cô có thể bùng nổ như một khúc tráng ca, như một khải hoàn ca. Đối với một số nhà tiên tri nhiều trí tưởng tượng nhất, đỉnh cao đó có thể là khi Condi trở thành nữ Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, hoặc một kịch bản khác, đó có thể là nữ thống đốc bang California, hoặc một nghị sĩ của bang này. Nhưng đó là chuyện tương lai, còn bây giờ cô đang là một trong số các cố vấn hàng đầu và thân cận của Tổng thống, kể cả ở Nhà Trắng, ở trại David hoặc ở trang trại của Bush ở Crawford, Texas.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-01 16:07:17Ct.Ly>
“Phủ Tổng thống không phải chỉ có Tổng thống. Đó là một tập thể gồm những con người quyết tâm làm mọi việc đến cùng”.
-Condoleezza Rice, 1999
 
 
Đối với mọi người trong nhóm vận động tranh cử, cô được gọi đơn giản là Condi. Mẹ của cô, một người chơi đàn piano và đàn organ, cái tên Condoleezza (kahn-dah-LEE-za) từ tiếng Ý, đó là con dolcezza, đó là ký hiệu trên bản nhạc: “hãy chơi thật tình cảm”! Đây là cách đặt tên truyền thống theo tiếng Ý trong gia đình của hai bên nội, ngoại nhà Condi (Theresa, Angelena, Angela, Genoa, Alto – các tên tiếng Ý theo ký hiệu âm nhạc). Và quả thật, Condi đã được đặt tên đúng như cuộc đời sau này của cô. Trong khi Condoleezza lớn lên, cha mẹ của cô đã hướng cô phát triển theo ý nghĩa tên của mình, luôn tạo điều kiên cho cô trong học tập, giải trí và định hướng cho cô để trở thành vượt trội. Những nền tảng ban đầu của Condi về tình yêu và sự say mê luôn đi theo cô trong từng bước đường đời, kể cả khi cô quyết định bước vào căn phòng trong phủ Tổng thống Hoa Kỳ.
 
Tổng thống thường gọi cô với cái tên là Condi, trong khi các nhân viên cấp dưới thường gọi cô là tiến sĩ Rice. Cô có vẻ tránh thiên hướng hay đặt biệt danh cho mọi người của Tổng thống. Thậm chí đối với một nguyên thủ quốc gia cũng không thoát được cách đặt tên biệt danh. Khi tình bạn của ông với Tổng thống Nga – Vladimir Putin ấm lên vào năm 2002, Tổng thống Bush đã đặt biệt danh cho Putin là “Pootie-Poot”.
 
Condoleezza quyết định gia nhập đội ngũ các chuyên gia của Bush sau một bữa ăn tối tại trường Đại học Stanford vào năm 1987. Khi cùng các đồng nghiệp trong khoa Chính trị, cô tham gia một buổi gặp mà tại đó Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống R.Ford, ông Brent Scowcroft, có bài phát biểu. Trong bữa ăn, nơi có mặt rất nhiều chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của đất nước, Brent đã được nghe chính kiến của một tiến sĩ trẻ, đó chính là tiến sĩ Rice. Bài phát biểu của Condi đã để lại cho ông ân tượng rất tốt vì ông thấy chính kiến của hai người rất thống nhất về vấn đề Xô Viết.
 
Khi đã trở thành cố vấn An ninh của Bush cha, Scowcroft lập tức nhớ đến tiến sĩ Rice. Ngay sau khi chiến dịch bầu cử năm 1988, Scowcroft bắt đầu lựa chọn các cộng sự của mình ở Nhà Trắng. Ông nói: “Người đầu tiên mà tôi điện thoại chính là Condi Rice”. Với kiến thức rất phong phú về Xô Viết học, ông đã bổ nhiệm Condi làm Trưởng phòng nghiên cứu về Xô Viết trong Uỷ ban An ninh quốc gia của mìnhm Condi không những đã hoàn thành tốt nhiệm vụ theo kỳ vọng của đồng nghiệp, mà còn nhanh chóng đứng vào đội ngũ những người gần gũi của Tổng thống Bush và bà Barbara Bush.
 
Cũng như Tổng thống Bush con sau này, trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Bush cha thường sử dụng Condi để chuẩn bị các bài phát biểu của mình về đường lối chính trị và quốc phòng Xô Viết. Trong nhiệm kỳ của mình, khi bức tường Berlin sụp đổ và Liên Xô chao đảo, ông thường xuyên giữ Condi bên mình để chuẩn bị các bài phát biểu về chủ đề đó, thậm chí ông nhận xét rằng: “Cô ta nói với tôi tất cả những gì cần biết về Liên bang Xô Viết”. Sau thời kỳ của Bush cha, Condi lại trở về công việc giảng dạy của mình ở Stanford và vẫn giữ mối quan hệ tốt đối với ông, bà Bush, đôi khi cô đến thăm họ ở nhà riêng tại Houston và nhà nghỉ hè ở Kenenbunkport, Maine.
 
Cô thường xuyên gặp gỡ cựu Tổng thống cùng các nhân viên cũ của ông như Scowscroft để cùng viết một cuốn sách về các sự kiện quốc tế diễn ra trong nhiệm kỳ của Tổng thống Bush cha. Công việc bắt đầu ngày từ năm đầu tiên sau nhiệm kỳ Tổng thống của Bush cha. Condi thường xuyên đến Houston và Kennebunkport đến tận năm 1997 để giúp Bush soạn cuốn sách này.
 
Cuối cùng, cuốn sách Một thế giới chuyển đổi được phát hành năm 1998, trong đó bao quát các sự kiện từ năm 1989 đến năm 1991, bao gồm cả sự sụp đổ của bức tường Berlin, sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết, sự kết thúc của Chiến tranh lạnh và Chiến tranh vùng Vịnh. Trong phần mở đầu, Bush cha và Scowcroft viết: “Một trong những sự kiện bi tráng và có tính thời đại của thế kỷ XX đã diễn ra vào thời kỳ 1989-1991… chỉ trong ba năm nó tạo ra một khoảnh khắc lịch sử - đó là sự kết thúc của Chiến tranh lạnh…”. Condi giúp Bush trong việc làm rõ các nội dung, nhắc lại các sự kiện một cách chi tiết, chia sẻ các kết quả nghiên cứu của cô mà sau đó cô đã viết thành cuốn Nước Đức thống nhất và một châu Âu chuyển đổi, cuốn sách cô viết chung với Philip Zelikow năm 1995.
 
Trong một lần ghé thăm ông, bà Bush tại Houston năm 1995, Bush cha yêu cầu Condi điện thoại cho “Bush con”, lúc đó đang tham gia cuộc tranh cử Thống đốc bang, bước đầu tiên trên con đường chính trị (năm 1978 ông không thành công trong cuộc bầu vào một ghế nghị sĩ của bang). Có lẽ lúc đó Bush cha linh cảm rằng Condi sẽ là người giúp sức cho con trai mình trong sự nghiệp chính trị, sau thời kỳ ở bang Texas. Có lẽ ông đã muốn họ làm quen với nhau vì thấy cả hai cùng thích thể thao và có tính nguyên tắc rất cao trong công việc. Sự tương đồng quan điểm này tạo cơ sở tình bạn và tạo cho họ có điều kiện đàm đạo về các vấn đề chính trị và tình thình quốc tế. Bush cha đã gợi ý là Condi nên gặp vị Thống đốc mới của bang Texas, và Condi đã đồng ý.
 
Hai người gặp nhau rất sớm sau đó, như hai cổ động viên thể thao. G. W.Bush là đồng sở hữu đường đua Texas và họ đàm đạo về cả bóng chày khi Condi nhìn thấy các vật lưu niệm về bóng chày của Bush trong một tủ kính rất ấn tượng. Condi kể cho Bush nghe câu chuyện về Willie Mays - một trong các sinh viên cũ trong lớp của mẹ cô ở trường Cao đẳng Công nghiệp ở Birmingham mà chỉ rất ít người đã từng được nghe. Như những fan của bóng chày, câu chuyện này rất thú vị. Sau này Condi nhớ lại “Thống đốc Bush là một người rất ấn tượng”.
 
Cuộc viếng thăm này không chỉ đem lại cho Condi một tình bạn mà còn tạo cho cô một sự kính trọng. “Ông ta quả là thông minh, là người có tính nguyên tắc, đó là mẫu người tôi rất ngưỡng mộ”. Cô nói: “Ông ta nhạy cảm, điềm đạm, vững vàng… [và] ông ta cũng rất hài hước”. Linh cảm của Bush cha về Condi và con trai mình đã đúng. Kể từ sau lần gặp nhau đó, giữa hai người đã tạo nên một tình bạn, sự kính trọng, chân thành và Condi đã trở thành một nhân vật quan trọng hơn trong bước đường tiếp theo của “Bush con”.
 
Trong một kỳ nghỉ ngắn tại Kennebunkport vào mùa hè năm 1998, Condi và “Bush con” đã có buổi đàm đạo về những vấn đề “nóng” có tính toàn cầu của thời đại. Lúc đó, Bush con đang chuẩn bị cho chiến dịch tranh cử và ông hiểu rằng, bạn bè của ông có thể đem đến cho ông một bức tranh sáng sủa, rõ ràng và có tính tổng hợp về các sự kiện. Họ đàm đạo cả khi nghỉ ngơi với cốc trà đá, cả khi cùng chạy trên máy tập, cùng chơi tennis, đi câu cá. Condi không thích câu cá, cô cũng không thích đi trên biển nhưng cô vẫn đi cùng. Cô nói: “Tôi không say sóng, nhưng tôi cũng không thích sông nước, tôi để hai cha con Tổng thống câu cá còn tôi ngồi cạnh và chúng tôi cùng đàm đạo. Chúng tôi nói về chính sách quốc phòng và hệ thống phòng thủ tên lửa”. Đôi khi “Bush con” đặt ra những câu hỏi rất hóc búa, tựa như “Quan hệ với Nga và Trung Quốc thế nào?, [Và] sức mạnh quân sự của quốc gia thế nào?”
 
Các cuộc đàm đạo này mở đầu mối quan hệ lâu dài của Condi với “Bush con” như một cố vấn thân cận nhất về các chính sách đối ngoại.
 
Cuối năm 1999, khi chiến dịch vận động của “Bush con” đi vào giai đoạn quyết định, Bush đã chọn Condi làm cố vấn số một về chính sách đối ngoại. Trước lời mời của “Bush con”, Condi phải đứng trước sự lựa chọn có từ bỏ chức Hiệu trưởng trường Đại học Stanford hay không?.  Sau này cô đã chứng tỏ sự lựa chọn của vị Tổng thống tương lại là đúng.
 
Khi Condi bắt đầu tham gia chiến dịch tranh cử, cô tham gia với tư cách không chính thức, chỉ giới hạn trong một số ít lần xuất hiện. Bạn của cô – Deborah Carson, người đã tham gia trong chiến dịch tranh cử của Clinton năm 1992, đã nói rất thẳng thắn với Condi. “Khi chúng tôi nói chuyện về điều đấy, cô ấy nói sẽ có một số ý kiến về an ninh quốc gia”. Deborah nói “Condi nói với tôi: tôi thực ra chưa tham gia vào chiến dịch”. Cô ta nghĩ, chắc người ta sẽ đẩy cô ra và cô phải nói một vài điều về an ninh quốc gia! Tôi nói “tốt”, chờ một vài phút, co không hiểu về chiến dịch, cô không phải là đến dự một bữa cơm chiều với thịt gà, đấy không phải là cái xảy ra theo đúng cách của nó, nhưng một khi nó đã xảy ra, nó sẽ lôi kéo cô, cô không thể nói về cái mà họ muốn, cô nói vào thời điểm đó, và sau khi sự việc tiến triển tốt, chúng tôi đã nói chuyện với nhau và Condi nói: “Cô biết đấy, cô đã đúng”.
 
Condi không chỉ nhận trách nhiệm là cố vấn cho George W.S về chính sách đối ngoại và làm việc với ông như cố vấn riêng, cô thường xuyên được gọi để xuất hiện kể cả ở những việc không liên quan đến chính sách đối ngoại, chính dịch đang cần sự tham gia của cô với tư cách là một phụ nữ, để tranh thủ phiếu bầu của nữ cử tri và như một người da màu tranh thủ cử tri da màu trong chiến dịch.
 
Từ thời kỳ đầu của chiến dịch tranh cử, Condi đã có nhiều quan điểm gần với Bush. Họ chia sẻ cả các thông tin về thể thao và thực tế chỉ có Condi là chia sẻ các ý kiến về chính sách đối ngoại với một lượng thông tin đồ sộ và sự phân tích rõ ràng. Và điều quan trọng là họ quý trọng nhau, Thống đốc nói: “Tôi thích được làm việc cùng cô ấy. Tôi thích những người có tấm lòng trong sáng chứ không phải những người chi lo giữ sự đạo mạo cho mình, hơn nữa cô ta rất thông minh”. Ông mô tả Condi như “một người cộng sự gần gũi và tin cậy”. Về  phía Condi, cô cũng rất có ấn tượng về vị Thống đốc, cô nói: “Tôi rất kính trọng ông ấy từ lần gặp đầu tiên, vì rằng ông ấy là người thông minh, có thể đi thẳng vào vấn đề. Anh cần có một nhóm viện sĩ trong phòng của anh và họ có thể nói suốt ba giờ dồng hồ mà không bao giờ đề cập đến điều cần phải nói”.
 
Các cố vấn về các vấn đề chính sách đối ngoại của Bush (cả Bush cha), đa số là các chuyên gia lâu năm như Richard Armitage, Robert Zoellick, Paul Wolfowitz, Robert Blackwill, Richard Perle… Condi được coi như điều phối viên của cả nhóm. Cô chọn cho Bush một biệt danh rất nổi tiếng ở quê hương, đó là tên vị thánh La mã Vulcan, người rất nổi tiếng với các huyền thoại và hình tượng một cái búa và lưỡi tầm thép ám ảnh cả vùng Birmingham, Alabama từ khi Condi còn là một đứa trẻ. Bức tượng bán thân trên cây thánh giá ở khu Red Mountain được khu sản xuất thép của thành phố xây dựng để kỷ niệm vào dịp lễ thánh St.Louis năm1904. Khi Vulcan trở về thành phố quê hương, ông được đặt trên đỉnh núi, ở một cự ly vừa phải để ánh kim loại ít ỏi của nó không làm ai phải giận dữ. Thậm chí người ta còn làm cho nó có ích khi gắn một bóng đèn trên cánh tay trái của tượng, bóng đèn đó có màu xanh nhưng sẽ bật màu đỏ báo động khi thành phố có một tai nạn giao thông nào đó.
 
Condi nói: “Tuổi thơ của tôi lớn lên cạnh Vulcan ở Birmingham. Tôi còn nhớ khi là một cô bé mỗi khi có đèn đỏ là có tai nạn, còn khi đèn xanh là mọi thứ đều ổn cả”.
 
Các thành viên nhóm cố vấn về chính sách đối ngoại được hứa hẹn sẽ trở thành các ứng viên cho các vị trí chủ chốt về chính sách đối ngoại khi chiến dịch tranh cử thành công và trong nhóm đó, Bush đánh giá rất cao Condi. Condi có kiến thức cơ bản về bóng đá và cô tự cho mình là một “Hậu vệ góc” cho đội Vulcans. “Tôi không cố gắng để làm điều đó cho riêng mình”, cô nói: “Như một hậu vệ góc, tôi có thể phá bóng và giữ sân nhà”. Cô thích vị trí này vì George W. đánh giá cao khả năng của cô trong việc diễn đạt vấn đề chính trị phức tạp trở thành dễ hiểu, một thứ ngôn ngữ rất đơn giản, dễ hiểu (nuts-and-bolts). Ông mô tả đó là một chuyên gia “có thể giải thích về chính sách dối ngoại cho ông một cách rất dễ hiểu”.
 
Cho dù khả năng này của Condi là tự nhiên hay đã hình thành trong thời gian giảng dạy về môn khoa học chính trị cho các sinh viên năm cuối ở trường đại học thì phải nói đó là phẩm chất được đánh giá cao ở Washington. “Cô ta có khả năng đặc biệt khi phải làm rõ một vấn đề”, một nhà ngoại giao châu Âu đã nói như vậy về Rice trong tạp chí Vogue. Quyền lực của cô thể hiện trên nhiều lĩnh vực rộng lớn của các chủ đề phức tạp là rất mạnh mẽ. Khả năng có thể trình bày một cách dễ hiểu trên diện rộng các đề tài phức tạp của Condi được nhiều người đánh giá cao, kể cả Philip Zelikow, một đồng nghiệp cũ từ thời Bush cha. “ Một trong những đặc tính khiến Bush đánh giá cao, đó là cô có khả năng kéo các vấn đề lớn trở về thực tại”, ông ta nói. “Các chính trị gia không phải ai cũng làm được điều đó”.
 
Với vai trò như nhóm trưởng các cố vấn đối ngoại của Bush, Condi giữ vị trí mà theo truyền thống thường do một người đàn ông đảm nhận. Cô đảm nhận công việc rất tự tin, với các kinh nghiệm từ thời làm việc dưới thời “Bush cha” và cả thời làm công tác giảng dạy ở Stanford. “Cô ta là một cuốn tiểu thuyết sống”, Ivo Daalder, cựu thành viên Hội đồng An ninh quốc gia quan sát như vậy. “Ở đây có sự kết hợp của một phụ nữ Mỹ gốc Phi… là một phần của cái luôn luôn có ở các Câu lạc bộ đàn ông.
 
Condi cùng với Paul Wolfowitz chuẩn bị các buổi seminar mỗi ngày cho G. W.Bush về chính sách quốc phòng, việc phổ biến vũ khí, tình hình châu Âu và các chủ đề khác. Sự quý trọng giữa Condi và G.Bush cho phép các công việc này diễn ra rất trôi chảy và Condi nhận ra rằng cách tiếp cận vấn đề của họ rất giống nhau. Khi giới báo chí hỏi vị thống đốc về “lỗ hổng kiến thức” còn thiếu trong kinh nghiệm đối ngoại, thì ông cam đoan với báo giới rằng ông có sự trợ giúp rất hùng hâu từ phía sau. “Tôi có thể không trả lời chính xác các vụ việc và tình hình ở Đông Timo, nhưng tôi có chỗ để hỏi ở những người rất có kinh nghiệm như Condi Rice chẳng hạn, hay Paul Wolfowitz hoặc Dick Cheney. Tôi đủ thông minh để hiểu rằng cái gì tôi chưa biết, và tôi có sự bổ sung rất tốt qua các cộng sự có thể nói cho tôi biết về sự thật, hoặc có thể cho biết những nội dung chưa chính xác”.
 
Condi phải làm việc rất vất cả để trợ giúp thống đốc trong các buổi họp báo đó. Condi cố gắng giải thích rằng bất cứ một quan chức nào, kể cả thống đốc, phải chấp nhận đối mặt với những vấn đề mà mình còn chưa có nhiều kinh nghiệm. Tổng hợp các thông tin và ra các quyết định quan trọng đối với các vấn đề gặp phải là phần cốt lõi của công việc lãnh đạo, kể cả với một vị hiệu trưởng. Các kinh nghiệm của Condi có được từ thời cô làm hiệu trưởng trường Stanford, như nhân vật số 2, đứng sau chủ tịch và chịu trách nhiệm về ngân sách tới 1,5 tỷ đôla và các quyết định về hành chính. Còn các kinh nghiệm quản lý của Bush đến từ thời ông còn làm trong ngành dầu khí ở Tây Texas và sau đó là thời kỳ làm thống đốc Texas. Condi nói: “Một khi anh làm lãnh đạo, anh luôn phải đối mặt với các quyết định quan trọng mà các kiến thức cơ bản về nó là những thứ tưởng như nhỏ nhặt nhất. Có ai đó đề nghịe tôi ủng hộ 1 triệu đôla cho chương trình kính viễn vọng. Tôi không biết nhiều về nó nhưng tôi có thể ra câu hỏi và cảm nhận được sự quan trọng của nó cũng như mức độ ưu tiên của nó so với các vấn đề khác”.
 
Khi báo chí chỉ ra yếu điểm của ứng cử viên tổng thống và cách sử dụng từ vựng của ông, Condi đã phản kháng lại đòn tấn công này, và ví nó như một”trò chơi kiểu phòng khách” của các nhà Washington học. Condi đã giải toả sự tập trung của báo chí, cô đã chỉ ra các kinh nghiệm của Bush trong cả hai lĩnh vực: kinh doanh và chính trị, và nhắc họ rằng mỗi một tổng thống đều có đội ngũ các chuyên gia và cố vấn hùng hậu. Cô nói: “Thống đốc Bush chưa có kinh nghiệm nào ở Hội đồng đối ngoại, nhưng ông ta có 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh và thống đốc bang”.
 
Cô đồng thời đã tranh luận với chính hạn chế của mình và thừa nhận rằng úng cử viên không phải là một người duy nhất để học theo. Condi là chuyên gia hàng đầu về Xô Viết học, nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm với các khu vực khác như châu Á, châu Phi, Mỹ, Latinh hoặc các quốc gia không phải châu Âu. “Tôi bắt buộc phải hiểu rằng một phần của thế giới không phải là một phần của tôi”, cô nói như vậy. “Tôi thực ra là một nhà châu Âu học.”
 
Do Bush không có thói quen đọc các tài liệu viết sẵn về các chính sách lớn hay các vấn đề về an ninh quốc gia nên Condi cố gắng bố trí các buổi trao đổi trợ giúp cho ông. Cô thường tổ chức theo cách “hỏi – đáp” giữa ông và các cố vấn. Ngoài ra, cô còn viết một cách ngắn gọn về chính sách hạt nhân để chuẩn bị cho bài phát biểu quan trọng của Bush. Cả nhóm chuẩn bị gần một năm cho đề tài này để hoàn chỉnh bài phát biểu của Bush về chính sách hạt nhân ngày 23-5-2000.
 
Bài phát biểu này chính là đứa con tinh thần của Condi, trước khi trình bày với Bush, Condi đã tham khảo thêm ý kiến của cựu Chánh văn phòng Nhà Trắng – Brent Scowcroft, cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger và cả George P.Shult, tướng Colin Powell và một số người khác. Nhiều khi cô cùng Bush dò từng dòng một. Công việc của cô là làm sao để tổng thống hiểu từng điểm chính cũng như kiến thức cơ sở của từng luận điểm trong bài phát biểu. Condi cùng Paul Wolfowitz chuẩn bị một loạt các câu hỏi - trả lời sẵn theo chủ đề để Bush nghiên cứu. Nhưng Bush không thích đọc những phương án viết sẵn mà thường chuẩn bị theo cách hỏi - trả lời trực tiếp với các cố vấn của mình.
 
Vấn đề cốt lõi của chính sách hạt nhân là đưa ra khuyến cáo cắt giảm vũ khí hạt nhân của Mỹ, giảm bớt vũ khí ở tình trạng báo động cao, thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa, Bush tuyên bố: “Nước Mỹ phải tạo ra được hệ thống phòng thủ hạt nhân có hiệu quả”, dựa trên sự lựa chọn tốt nhất, vào thời điểm sớm nhất. “Hệ thống phòng thủ hạt nhân của chúng ta phải thiết kế để bảo vệ cho cả 50 bang, cho cả các bạn bè và đồng minh của chúng ta và kịp thời phá huỷ từ ngoài biên giới cá cuộc tấn công hạt nhân”. Chính sách của Vulcan buộc phải xoá bỏ hoàn toàn ý nghĩ về Chiến tranh lạnh và đối mặt với nhân tố về một diễn biến mới của chính trường. “Chiến tranh lạnh đã đi vào lịch sử”. Bush tiếp tục nói “Nước Mỹ chúng ta phải ngăn chặn sự đe doạ mới. Về vũ khí hạt nhân, Mỹ có cơ hội hướng tới một thế giới an toàn hơn, kể cả hai mặt đó là phòng thủ chống lại tấn công hạt nhân và ngăn cản chạy đua hạt nhân”.
 
Trong chiến dịch vận động, công việc của Condi và George W.Bush rất thuận lợi, phong cách làm việc hiệu quả đã xác lập tình bạn và sự kính trọng giữa Bush và Condi. Kết quả là George W.Bush đã rất tin cậy Condi và đưa cô tham gia vào cả các lĩnh vực khác trong chiến dịch tranh cử. Dưới sự yêu cầu của bạn cô – Deborah – cô đã được gọi để xuất hiện, điều mà cô không trông đợi từ trước. Một trong những sáng kiến quan trọng đó là khẩu hiệu “W is for Women” (Bush vì Phụ nữ) với hai chữ W đầu của W.Bush và Women để tranh thủ phiếu của nữ cử tri từ Đảng Dân chủ. Cô đã tổ chức một chuyến đi vận động theo chủ đề “W is for Women”, thành phần bao gồm cả mẹ của Bush – bà Barbara, vợ của Bush – bà Laura, và vợ của Richard Cheney – Lynne. Vào giữa thánh 10-2000, Condi tham gia vào tour này và họ đã đi qua các bang Michigan, Pennsylvania và Wissconsin.
 
Chính khẩu hiệu “W is for Women” là một phần quan trọng trong chiến dịch vận động và Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng hoà, đó chính là sự khác biệt giữa hai đảng. Barbara Bush và nhóm của bà đã tạo ra hình ảnh của Bush như một người của Đảng Cộng hoà dám đối mặt với các vấn đề giáo dục và sức khoẻ phụ nữ - Một tiếng khóc từ xa do giận dữ, tiếng súng của chiến tranh, sự chống lại, sự thất trận, một đảng phái của đàn ông da trắng của hiệp ước GOP cũ. Vấn đề khác là ở chỗ Barbara Bush rất xúc động vì George W. rất phù hợp khi tiếp xúc với phụ nữ. “Anh ta luôn được các phụ nữ mạnh mẽ và thông minh ủng hộ”, Barbara đã nói tại một trạm dừng chân ở Blue Bell, Pennsylvania. “Đôi khi là lựa chọn, đôi khi là phải tạo ra”.
 
Khẩu hiệu “W is for Women” cũng phái huy sức mạnh tại Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng hoà ở Philadelphia, nơi có bài phát biểu quan trọng của Laura Bush, Elizabeth Dole, Lynne Cheney và Condoleezza Tice. Trong bài phát biểu của mình, Condi đã nói về truyền thống tự hào của gia đình mình, về quyết định của cha cô khi gia nhập Đảng Cộng hoà. Khi nhận xét về ứng cử viên G.Bush, cô nói: “Ông là người có khả năng quyết đoán đặc biệt. Ông là người rất tập trung cho công việc. Ông tin tưởng người Mỹ chúng ta đang ở giai đoạn tốt nhất khi chúng ta thử thách sức mạnh của mình một cách rất thực tế, không cần các ngôn từ hoa mỹ. Ông phát biểu một cách thẳng thắn và mạnh mẽ:.
 
Trong chiến dịch tranh cử, các phóng viên chính trị tiên đoán Condoleezza Rice sẽ được bổ nhiệm chức vụ quan trọng trong bộ máy của Bush. Có hai vị trí người ta có thể dự kiến đó là Cố vấn An ninh quốc gia và Ngoại trưởng. Khi được hỏi về bản thân mình, Condi thường rất khiêm tốn và nói rằng công việc mà cô mơ ước là chân uỷ viên Ban chấp hành của Liên đoàn Bóng đá quốc gia. Cô hoàn toàn không nói đùa. “Bất kỳ ai hiểu biết về tôi, họ hiểu rằng đó tuyệt đối là sự thật”, cô nói với một phóng viên, “và nếu như công việc của NFL đến thì Thống đốc bang sẽ là chính bản thân mình”. Bởi vì cha cô đã từng là huân luyện viên bóng đa và cô học được rất nhiều điều từ cha từ lúc lên 10 và trở thành fan hâm mộ của môn thể thao này. Cô rất thích đàm luận về bóng đá. “Tôi thực sự hay suy nghĩ về bóng đá với tất cả sự kính trọng, cả với bóng chày như một loại hình thể thao phổ biến, có thể làn con người gặp gỡ nhau thông qua các kênh xã hội, các mối quan hệ bạn bè gần gũi. Và tôi cho rằng đó là một “tổ chức” không phân biệt màu da rất quan trọng của nước Mỹ”. Đôi khi ở một môi trường khác cô lại so sánh giữa các hoạt động quân sự với lích sử bóng đá. Cô từng nói: “lịch sử quân sự đã chứng minh mối quan hệ giữa tính ưu việt của phòng ngự và tấn công, như trong bóng đá vậy”.
 
Giống như các phụ nữ khác trong guồng máy chính trị của Bush, kể cả cố vấn lâu năm Karen Hughes, Condi là một nhân cách mạnh, người hoàn toàn có khả năng làm việc trong lĩnh vực thường là của đàn ồn. Dù rằng Colin Powell đã nhận xét: “Cô từng lớn lên trước hết và tốt nhất như một quý bà”. Mặc dù Condi không có được tính cách đặc biệt như một người phương Nam, người rất có khả năng vượt qua các trở ngại một cách dễ dàng. Trong một bài báo trên tờ The New York Times vào cuối thời kỳ tranh cử, Elaine Sciolino đã viết: Các thành viên của nhóm chính sách đối ngoại không thể đưa ra ý kiến gì khi Condi chưa có ý kiến. Bà tiết lộ: “Cô ấy làm tôi như là một bạo chúa!”, rồi cười và nói tiếp, “Chúng ta cần phải làm việc có kỷ luật”.
 
Chief của cô, ông Brent Csowcroft nhận xét: khi Condi hoàn toàn thoải mái thì cô cũng vẫn rất cứng rắn. “Cô giữ thái độ im lặng”, ông nói, “nhưng bất kỳ ai nghĩ rằng họ có thể thúc đẩy cái đã học được, thì anh sẽ chỉ cố gắng vô vọng”. Cũng trong bài báo này, cựu giám đốc CIA – Robert Gates đã kể lại câu chuyên khi Condi lần đầu tiên làm việc ở Nhà Trắng với cương vị Giám đốc Uỷ ban An ninh quốc gia. Một nhân viên của Cục dự trữ tỏ ra hạ thấp thẩm quyền của cô và kết quả là “với một nụ cười trên môi, cô ta quần cho anh ta một trân, sau đó anh ta ra về thất thểu như một anh chàng đã chết”, Gates nói.
 
Paul Brest, một người bạn của Condi, người từng làm việc ở trường Luật Stanford, khi Condi làm Hiệu trưởng trường dại học, miêu tả về cô: “ kể cả trong tình huống thành công hay thất bại trong công việc, cô đều có khả năng giữ tâm trạng hài hước. Chỉ duy nhất một lần tôi chứng kiến co buồn bã, vì cô là một người nhân hậu, đó là khi có ai đó phải rời khỏi đội ngũ. Khi có ai đó phải dời đội ngũ, Condi tìm cách thông báo rõ ràng ngay cho người đó biết”.
 
Để là một người phụ nữ trong hàng ngũ chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại đã là một điều rất hiếm, nhưng Condi thậm chí còn là chuyên gia có vai trò quan trọng của Bush trong chính sách đối ngoại trong quá trình vận động tranh cử. Trong hai năm làm việc cho chính quyền “Bush cha”, cô đã gặp tình huống khó xử khi nhận lời cầu hôn, và khi ở Nhà Trắng có tin đồn là cô muốn trở về Stanford để chuẩn bị xây dựng gia đình. Bây giờ, cũng như lúc đó, với cương vị cao trong công việc, thường gây sự chú ý, kính trọng của nam giới, nhưng cô chưa tìm được cho mình tiếng nói chung.
 
Vẫn tồn tại một khả năng cho một lời cầu hôn chính thức sẽ đến vào một ngày nào đó. Cô đã được câu hôn một lần (như sẽ kể ở Chương 5) và cô tạo được cảm tình của rất nhiều người, trong đó có vài cầu thủ bóng đá. Những cầu thủ đã lôi cuốn cô vào một lĩnh vực khác, đo là guồng máy của bóng đá Mỹ. Một nhóm các bạn gái và vợ của các cầu thủ thường cùng ngồi trên khán đài xem các trận bóng đá. Nhưng cho dù đã có lời gợi ý về câu hôn nhưng cô không quan tâm lâu dài với ai trong số các bạn trai. Tháng 10-2001, cô nói: “Tôi là một người rất sùng đạo, và nghiệm ra rằng nếu tôi có ý định lấy chồng thì Chúa sẽ tìm cho tôi một ai đó có thể sống cùng tôi”. (Có lẽ tình trạng độc thân của Condi cho phép cô tập trung toàn tâm, toàn ý cho cống việc. Có vẻ như điều này do Tổng thống gợi ra khi vào giữa năm 2002 khi Karen Hughes xin từ chức và cùng gia đình trở về Dallas. Không có một đức ông chồng hoặc bọn trẻ con đã khiến cô có thêm năng lượng và sự tập trung, Condi có lẽ có thêm thời gian cho công việc).
 
Ngay trong thời kỳ 33 ngày sau bầu cử năm 2000, “Bush con” bắt đầu công bố sự lựa chọn của ông cho các vị trí chủ chốt. Ngày 18-12, ông công bố trong một cuộc họp báo 3 vị trí: Chánh văn phòng Nhà Trắng (Al Gonzales); trợ lý tổng thống (Karen Hughes) và Cố vấn An ninh quốc gia – Condoleezza Rice. Ông nói: “Tiến sĩ Rice, không chỉ là một nhân cách sáng chói, cô còn là một người rất có kinh nghiệm, một nhà quản lý tốt. Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi cô. Nước Mỹ sẽ tìm thấy ở cô một nhân cách lớn, và tôi sẽ rất vinh dự khi có cô tham gia voà chính quyền”. Tổng thống đã đề nghị Condi phát biểu, bài phát biểu của cô có một số ý sau:
 
Đây là một thời điểm rất hệ trọng với nước Mỹ, vì rằng các giá trị của chúng ta đang bị đe doạ và một điều rất quan trọng là phải thường xuyên nhớ những giá trị của Tổ quốc chúng ta, và tôi lớn lên ở Birmingham, Alabama. Tôi không được đến học ở trường công cho đến tận năm tôi học lớp 10 khi chúng tôi chuyển đến Denver Colorado. Và đã có nhiều người thường nói dường như chúng tôi đã có những bước tiến bộ như một nước Mỹ thống nhất. Tôi nghĩ, các bạn có thể thấy điều đó trong chiến dịch tranh cử của George W.Bush, để thấy rằng thật quan trọng như thế nào khi suốt 30 năm qua chúng tôi đã tiến về phía trước như một nước Mỹ thống nhất, rằng nếu ông ta sẽ có một chính quyền với tất cả điều đó, một chính quyền không bị chia rẽ, và có lẽ điều quan trọng hơn cả là một chính quyền có thể khẳng định rằng chúng ta là thống nhất thì chúng ta sẽ đứng vững. Bởi vì nếu chia rẽ là sẽ sụp đổ, và tôi rất tự hào có được cơ hội là một thành viên của chính quyền đó.
 
Trong ngày làm việc đầu tiên của Tổng thống Bush ở Nhà Trắng, ngày 22-1-2001, Bush đang chủ trì lễ tuyên thệ với các thành viên chủ chốt ở phòng phía Đông của Nhà Trắng. Đứng bên phía cố vấn Karl Rove của Bush (người được Bush mệnh danh là “cậu bé thiên tài”), Condi giơ cánh tay phải và nghiêm trang thề:
 
Tôi, Condoleezza Rice, long trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, chống lại tất cả kẻ thù trong và ngoài nước, tôi sẽ trung thực và trung thành với Tổ quốc, tôi lãnh trách nhiệm này một cách tự nguyện, không có bất kỳ một điều kiện hay lẩn tránh trách nhiệm nào, và tôi sẽ gánh vác trách nhiệm một cách mẫn cán nhất, nơi tôi đã tự nguyện bước vào. Chúa sẽ phù hộ tôi.
 
Một phóng viên tạp chí (New Presence) chuyên bình luận về các công việc “hậu trường” của cố vấn An ninh quốc gia đã nhận xét: “Cố vấn An ninh quốc gia tầm cỡ như Rice và Kissinger không phải chỉ đưa ra các ý kiến tư vấn mà có khả năng tham gia trtực tiếp làm thay đổi các nhận định và tiếp cân với một vấn đề khi tình huống yêu cầu, để ngăn chặn hoặc thúc đẩy công việc tiếp thêm động lực cho người mà họ tư vấn. Nói một cách đơn giản, sau lưng Tông thống Mỹ là một tập thể luôn có sức sáng tạo tập thể”.
 
Sự quan trọng của vấn đề mà tông thống và cố vấn an ninh phải thảo luận đòi hỏi cả hai người phải có mối quan hệ rất chân thành, Condi thực tế đã trở thành “người tin cậy gần gũi” của tổng thống, điều đó cho phép cô nói ra được các khía cạnh khác nhau của chính sách đối ngoại, nói rõ các ý kiến của mình, Tổng thống chỉ định cô để phát ngôn những vấn đề quan trọng. “Bush con” có được Condi làm cố vấn tin cậy giống như Bush cha có Brent Scowcroft.
 
Trong một bức thư của Bush gửi cho Scowcroft tháng 5-1989, sau phiên họp NATO, ông viết: “Tôi sẽ nhớ những lời tư vấn mà anh đã nói với tôi, cảm ơn về vai trò quan trọng của anh. Cảm ơn anh đã luôn ở bên tôi. Cảm ơn vì anh luôn là người bạn tin cây”. Trong một hồi ký của mình, “Bush cha” còn nói về quan hệ với Scowcroft như sau: “Tôi luôn kỳ vọng là Brent sẽ có thể là một Bộ trưởng Quốc phòng xuất sắc, nhưng tôi luôn cần ông ta bên cạnh tôi ở Nhà Trắng”, và “Bush con” cũng có cảm giác như vậy đối với Rice.
 
Condi đã có thể có lợi khi tham gia Liên đoàn bóng đá quốc gia sau chiến dịch tranh cử, nhưng cô đã đồng ý ở lại làm việc cho chính quyền Bush. Và đối với Condi, khả năng được làm việc cho Liên đoàn Bóng đá ở Park Avenue ở New York sẽ được giữ lại như một câu chuyện đẹp. Trong lúc đó, cô đang từng bước đạt đến đỉnh cao như có người mô tả “một trong những vị trí quan trọng nhất của chính phủ Hoa Kỳ”.
Đăng nhập để trả lời
0
“Tính đa sắc tộc [của xã hội Mỹ] không tồn tại nếu thiếu đi một giá trị quan trọng khác: Đức tin vào tính năng động. Điều mấu chốt như chúng ta thường thấy là khả năng xác định trình độ của lĩnh vực đang hoạt động thông qua đào tạo. Trừ khi nền giáo dục được đem đến cho tất cả…, nếu không, một phần của giấc mơ sẽ biến mất”.
-          Condoleezza Rice
 
 
KHUNG CẢNH: Nội chiến – khu vực Alabama. Ở một rặng cây gần khu Clinton trên cánh đồng Greene, phía sau ngôi nhà lớn cách cánh đồng bông rộng trên 100 mẫu Anh về phía thung lũng có vùng đất màu, có tên là Black Belt. Thung lũng đất màu với các căn nhà nhỏ bao quanh một ngôi nhà lớn, các nô lệ đang tìm chỗ để cất giấu bạc và các đồ quý khác. Phía ngoài, các nam nô lệ đang tìm chỗ làm kho cất giữ đồ ăn. Khi chiến tranh lan đến, đám lính của liên quân đã tìm kiếm lấy đi mọi thứ trong nhà, cách 150 dặm về phía Bắc ở thung lũng sông Tennessee, vẫn diễn ra các trận giao chiến. Cả hai phí cố tìm cách chiếm được vùng cao nguyên phía Nam. Từ năm này sang năm khác, lịch sử của các cuộc xung đột tàn bạo tác động đến các gia đình và nô lện do các đơn vị quân đội liên bang tràn vào khu vực sinh sống của nô lệ và các khu dân cư. Có một người phụ nữ trẻ - Julia – con gái của một ông chủ da trắng và một trong những nô lệ da đen của họ đi theo cha của cô để xây chuồng ngựa, dắt chúng ra một nơi cất giấu mà chỉ có cô mới biết…[/align] 
Đó dường như là cảnh mở đầu một bộ phim trong tiểu sử của Condi, nói về bà ngoại của Rice – đó là Julia Head Rice - một đứa trẻ sinh ra trong chế độ nô lệ ở khu đồn điền Greene. Công việc của bà là tìm cách cất giấu đàn ngựa của gia đình khỏi sự truy lùng của binh lính. Bà dì thứ hai của Condi nhớ lại các nô lệ ở trong trang trại là người làm việc trong nhà chứ không phải là nô lệ làm ngoài đồng, điều đó tạo cho họ rất nhiều cơ hội để học tập. Mẹ của Julia là một nô lệ và tìm mọi cách tốt nhất để các con được ăn học. Cô được học đọc và viết. Các thế hệ nhà Rice đều cos gắng đạt được sự giáo dục tốt.
 
Sau chiến tranh, Julia cưới John Wesley Rice, một nô lệ cũ từ phía Nam Carolina, người cũng đang cố học đọc và viết. Họ làm việc như những người tá điền ở Eutaw, Alabama, và mặc dù cả hai không có điều kiện học tập ở trường, nhưng họ vẫn tạo cho 9 đứa con cơ hội học tập như các nhà sư phạm. Cả 9 đứa con nhà Rice đều được đi học. Họ họp thành nhóm gia đình da màu lớn nhất ở phía Nam sau chiến tranh và sẵn sang lập ra một dòng Thiên chúa giáo như ở phía Bắc. Như một giáo phái thuộc dòng Thiên chúa Phi châu, thành lập năm 1816 với các nhà thờ mới ở khắp vùng các bang phía Nam. Các nhóm cư dân da màu phía Nam đã tạo ra giáo phái riêng của mình, các nhà thờ dòng Methodist Episcopal. Nhà thờ có vai trò cổ vũ các nô lệ có một cuộc sống mới, và giáo dục luôn là đề tài chính, thông qua các bài giảng Kinh thánh.
 
Theo Philus Gould Steward, một mục sư trưởng của nhà thờ giáo phái châu Phi từ nắm 1864 đến năm 1914, đã tóm lược các giá trị của giáo dục đối với người da đen gốc Phi trong một cuốn sách của mình, 50 năm trong giáo phái Gospel:
 
Hiểu biết phải công bằng, kiến thức của ngôn ngữ và hiện thực. Mỗi một yếu tố đòi hỏi một tư duy mới, các ý tưởng mở rộng. Các khoa học là rất mạnh và tiến bộ là đáng kể trong cộng đồng: “Trí tuệ là sức mạnh”, Solomon nói vậy. “Kiến thức là quyền lực”, Bacon nói… người dân ở khu vực Bazbarons là văn minh, một đất nước không hiệu quả, một ngôi nhà của một dân tộc vĩ đại lại có sự đàn áp leo thang, đó là vì không thổi vào nó sức mạnh của đào tạo. Nước Anh phát triển đến trình độ hiện nay là do kết quả của nền giáo dục trong dân chúng. Nước Mỹ trở nên lón mạnh chính là thông qua hệ thống giáo dục và sử dụng các trường học ở nhà. Và giáo dục được truyền bá trong nhân dân chúng ta trong giai đoạn này và tiếp theo, là điều cần thiết để thay đổi mọi điều kiện.
 
Một trong các đứa con trai của Julia và John – John, Jr., đã quyết định từ bỏ các công việc ở đồn điền và đến trường học. Trong bài phát biểu của mình ở Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà, Condi đã nói về ông của mình: “Ông đã quyết định tìm đến sách vở và ông đã tự hỏi: người da màu sẽ đi học ở đâu? Lúc đó ông đã nói về trường trung học Stillman nhỏ bé, cách nhà ông 50 dặm. Ông của Condi đã dành đủ tiền học để đến trường và ông rời bỏ Tuscaloosa”.
 
Đây là một trường dành cho người da màu do tiến sĩ Charles Allen Stillman sáng lập vào năm 1874, tên của trường là tên người đứng đầu nhóm - tiến sĩ Charles Allen Stillman. Hai mươi lănm năm sau, trước khi ông của Condi đến học, trường đã được mở rộng. Trường Stillman không phải là trường nằm trong hệ giáo dục và cho đến năm 1949 nó vẫn chưa có hệ đạo tạo 4 năm. Đây là một trong số ít các trường học mà người da màu ở Alabama có thể đến học.
 
Sau năm học thứ nhất, ông của Condi không còn tiền để trả học phí. Condi đã kể lại lý do ông của cô có thể tiếp tục đi học: “Ông của tôi hỏi các học sinh khác làm sao mà họ có thể tiếp tục đi học?”. Họ trả lời là vì họ có học bổng. Họ nói nếu ông của Condi đồng ý trở thành một linh mục của giáo phái Scotland thì ông cũng có thể có học bổng.
 
Ông của Condi đã đồng ý và ông đã kết thúc khoá học và được bổ nhiệm làm linh mục của giáo phái Scotland. Condi nhớ lại: “Kể từ đó gia đình tôi theo giáo phái này và được hưởng chế độ giáo dục tốt”.
 
John đã trở thành giáo viên và giúp đỡ cộng đồng người da đen học tập. Sau một thời gian phục vụ ở Baton Rouge, Louisiana, ông được cử đến nhà thờ ở Birmingham, gần nhà của ông. Dưới sự chủ trì của ông, nhà thờ này đã trở thành nhà thờ Westminster Presbyterian. Một trong các công việc hàng đầu của ông là động viên thanh niên đến trường và trong mọi trường hợp, đi theo nghiệp của ông, Stillman.
 
Ông của Condi đã lập gia đình khi ông bắt đầu phục vụ ở Baton Rouge và con trai của ông cũng được đặt tên là John Wesley Rice. John giáo dục con trai mình tính trung thực và hướng cho con trai tiếp tục học tập ở nhiều trường đại học. Ông trở thành một nhân vật có vai vế, uy tín trong cộng đồng da màu ở Birmingham. Ông khích lệ thanh niên da màu quyết tâm phấn đấu, trưởng thành và chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. “Ông luôn tin tưởng rằng thậm chí kể cả ở Birmingham, nơi rất phân biệt đối xử với trẻ em da màu, vẫn có thể nơi nuôi dưỡng các giấc mơ”, Condi nhớ lại: “Đó là bởi vì những người như cha tôi luôn cho rằng lũ trẻ ở Birmingham không chấp nhận giới hạn nào”.
 
Cả hai bên nội, ngoại của Condi đều là các gia đình có truyền thống về giáo dục. Ông ngoại của Condi là một người da trắng và là một chủ nô lệ và ông có với một nữ nô lệ da đen một con trai và hai cô con gái. Giống như cụ nội của Condi cũng đến từ một gia đình có truyền thống học tập. Hai con gái của cụ - các bà dì của Condi - đều tốt nghiệp trường nữ y tá của một trong những trường Y nổi tiếng ở vùng phía Nam.
 
Ngay Washington, người đã học về triết học rồi sau đó là giảng viên ở trường Hampton ở Virginia, đã tham gia giảng dạy cho người da màu ở trường Đại học từ năm 1881. Truyền thống của nhà trường là noi theo Washington trong việc giáo dục về đạo đức, sự trong sạch cho các sinh viên. Theo Washington, việc đem đến nền giáo dục toàn diện cho người da đen giúp cho họ tham gia vào cộng đồng cả về kỹ năng làm việc và trách nhiệm xã hội. Theo Washington “Phẩm chất công dân” này đòi hỏi một nền giáo dục tổng hợp cho người da đen để có thể giúp họ “trở lại” với cộng đồng của họ trên cả hai lĩnh vực: Kỹ năng thực tế và hiểu biết xã hội. Bằng sự kết hợp giữa các giờ học trên lớp và thực hành qua huấn luyện. Thường là qua công việc cụ thể để có khoản tiền trả học phí. Washington đã khuyến khích tăng số sinh viên da đen. “Những người có thói quen nhanh tay…, tình yêu công việc, nguyện vọng sở hữu một tài sản, [và] một tài khoản ở ngân hàng”.
 
Các bà đi bên ngoại của Condi là những người đầu tiên tốt nghiệp trường Y và họ trở thành y tá làm việc cho gia đình Ray. Anh trai của họ, Albert Robinson Ray III (ông nội của Condi), là một người cha kiêu hãnh và trung thành, người đã từ chối không nhận đặc ân dành cho bản thân ông và các con của ông. Ông rời nhà từ năm 13 tuổi và bắt đầu làm việc ở hầm mỏ. Khi đã có gia đình, ông đã lao động cật lực để trở thành một trong những gia đình da đen có tiếng ở trong cộng đồng. “Ông tôi”, Condi kể “làm một lúc ba việc, vừa là hướng dẫn viên ở hầm mỏ, vừa là một thợ rèn và vào các ngày thứ 7 ông là thợ xây nhà”. Nhà Ray là một trong những gia đình da đen đầu tiên ở Birmingham có ô tô riêng. Ông đã thề không để một người con nào của mình phải làm việc trong hầm mỏ như ông và vợ ông, bà Mattie Lula, đã phải lao động cật lực để chu cấp cho 5 đứa con đi học. Khi cuộc đại khủng hoảng đến, họ đã hết sức tiết kiệm để có thể mua được nhà.
 
Ông bà ngoại của Condi thường giảng giải cho các con của mình về bộ luật Jim Crow, bộ luật bao trùm cả thành phố Birmingham từ nhà vệ sinh và đại phun nước đến bến xe bus. Một trong số các người con của Ray, chú Alto của Condi kể rằng cha mẹ của ông yêu cầu ông chờ cho đến khi họ đi làm về để cùng đi tắm hoặc đi uống nước, ở một khu vực giải trí khác dành cho người da màu nào đó. Ông kể lại: “Tôi không bao giờ phải đi xe buýt một mình, loại xe phân biệt màu da, trong cuộc đời tôi”.
 
Alabama, trên thực tế đã chi tiết hoá luật lệ phân biệt màu da, Jim Crow không chỉ là một bộ luật, mà còn là một bộ luật bất thành văn về mối quan hệ giữa da trắng và da màu. Bộ luật bất thành văn này dựa trên nhận thức cho rằng người da đen là tầng lớp hạ đẳng so với người da trắng về mặt trí tuệ và văn hoá. Những điều này được áp dụng ở khu vực phía Nam,  từ nhà thờ cho tới trường học. Bộ luật Jim Crow còn bao gồm cả những điều kỳ lạ như người da đen không được bắt tay người da trắng. Nếu họ định bắt tay một phụ nữ da trắng thì có thể bị coi là có ý định “cưỡng bức”. Nếu cả người da trắng và da đen có mặt trong phòng ăn thi người da trắng sẽ được phục vụ trước. Thậm chí hai bạn trẻ da màu không được hôn nhau ở chỗ đông người. Xe ôtô do người da trắng lái luôn được ưu tiên. Người da trắng không bao giờ gọi người da màu là quý ông, quý bà, ngài… mà chỉ gọi họ theo tên riêng. Người da đen bao giờ cũng phải ngồi ở băng ghế sau trên xe ca, xe buýt… Đó là các chuẩn mực xã hội, thậm chí một số điều này còn được ghi vào luật của bang miền Nam, như thành phố Birmingham đã ghi rõ ở các vị trí công cộng từ nhà ăn đến bến xe, tách biệt vị trí của người da trắng và da đen.
 
Vào năm 1914, ở mỗi một bang phía Nam đều đã thông qua luật phân biệt đối xử này. Ở Alabama, luật ghi rõ:
 
·         Y tá: không một bệnh nhân nam da đen nào được phép đòi hỏi y tá nữ da trắng phục vụ, kể cả ở bệnh viện hay nhà riêng.
·         Xe buýt: tất cả các nhà ga hành khách của bang đều phải tách phòng chờ riêng cho người da trắng và da màu, kể cả cửa bán vé cũng riêng.
·         Đường sắt: các nhân viên bán vé tàu khách có quyền và phải phân biệt rõ khách theo màu da, theo các vị trí của toa tàu.
·         Ở nhà hàng: việc phụ vụ ăn uống cho người da trắng và da màu chung một phong là không được phép. Thậm chí là phải khác tầng hoặc phải cách xa ít nhất 7 feet, thậm chí phải có cửa ra vào riêng.
·         Khu vui chơi giải trí: tất cả các cuộc chơi chung của người da trắng và da đen: môn bilia hay các trò chơi khác đều không được phép.
·         Khu vệ sinh: các khu vệ sinh cũng phải phân biệt dành riêng cho da trắng và da màu.
 
Ông bà của Condi cố gắng không để các quy định này của xã hội ảnh hưởng đến con cháu của mình. Ông bà không bao giờ cho phép các con được đi làm thuê cho các gia đình da trắng với mục đích kiếm tiền. Việc nấu ăn hay dọn dẹp vệ sinh có thể là công việc của một số trẻ em da màu ở Birmingham vào những năm 1930, 1940 nhưng với trẻ nhà Ray thì không bao giờ. Condi và các bà cô của cô khi lớn lên luôn được ông của mình dạy cho một nguyên tắc sống là: “Hãy nhớ mình là người nhà Ray!”
 
Dưới ảnh hưởng của gia đình hai bên nội, ngoại, Condi luôn được nhắc nhở rằng, họ luôn sống không bị ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Họ có ý phản đối bộ luật phân biệt đối xử màu da. Cô đã viết trên tờ Birmingham News như sau: “Nếu anh dành thời gian để học từ họ như “những người mẫu mực” thì anh sẽ rút ra một điều quan trọng của thời đại chúng ta. Đó là đôi lúc chúng ta cho rằng cuộc sống của chúng ta bây giờ khó khăn hơn thời ông cha chúng ta. Những người đàn ông và đàn bà, những người dã bị từ chối, đã thay đổi hoàn cảnh riêng của mình và từng ngày, từng tháng chống lại các di chứng của lịch sử, chính họ là những người đã đẩy lịch sử tiến về phía trước”. Bà cô thứ hai của Condi – bà Connie Rice bổ sung: “Ông bà chúng tôi có cách nhìn rất dũng cảm. Họ cho rằng: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là một cách quan niệm cuộc sống sai trái, nó không mang lại điều gi cho anh. Cuộc sống nên theo một chế độ: mỗi ngày đọc một cuốn sách, mỗi ngày dành thời gian cho Đức tin, đức tin và đức tin”.
 
Một trong số con gái của ông bà Albert và Mattie Ray là Angelena đã theo học ngành piano một cách nghiêm túc và quyết tâm dành bằng tốt nghiệp ở trường trung học. Sau đó bà theo học cả âm nhạc và khoa học ở trường cao đẳng công nghẹ ở Fairfield, một trường dành cho sinh viên da đen ở Tây Nam ngoại ô Birmingham, trên một ngọn đồi cao, nơi có thể nhìn thấy các nhà máy cán thép.
 
Trong thời gian giảng dạy ở trường cao đằng này, bà đã gặp chàng linh mục dòng Scotland trẻ tuổi, người đó cũng tham gia giảng dạy thêm ở trường. Đó là John Wesley Rice. Chàng đồng thời là huấn luyện viên đội bóng chày và trợ lý huấn luyện viên đội bóng đá. Những lúc không bận rộn ở trường học và nhà thờ, ông làm tư vấn ở trường trung học Wullman trong trung tâm thành phố Birmingham.
 
John sinh ngày 3-11-1923, tại Baton Rouge, là con của hai ông bà John Wesley Rice và bà Theresa Hardnett Rice. Ông và cô em gái – Angela Theresa lớn lên trong trường trung học công của thành phố. Sau khi tốt nghiệp trường trung học, ông đi theo nghiệp của cha, Stillman College ở Tuscaloosa, nhưng chuyển đến một trường của dòng Scotland dành cho người da màu, đó là trường Johnson C.Smith University ở Charlotte, Nam California. Ngôi trường lịch sử này đã được xây dựng từ năm 1867 bởi hai linh mục dòng Scotland và sau đó trường trung học này phát triển rất nhanh như một trường trung học nhỏ và tu viện. Đầu những năm 1920 nó phát triển thành trường trung học nghệ thuật tự do hệ 4 năm và sau đó đã được đổi tên theo tên một người xây dựng nên nó.
 
Sau khi giành bằng cử nhân ở trường Smith, John đã dành hai năm để lấy học vị thạc sĩ. Năm 1948, ở tuổi 24, ông đứng đầu giáo phái ở Baton Rouge, trước khi chuyển đến Birmingham để thay cho cương vị của cha mình tại nhà thờ Westminster vào năm 1951. Khi ông đến, nhà thờ vừa hoàn tất toà nhà mới toạ lạc ở đại lộ số 6 phía Nam.
 
Người em giá của ông – Angela Therasa Rice Love (người cô của Condi) đã rời Louisiana để theo học ở trường đại học Wisconsin, nơi cô đã bảo vệ học vị tiến sĩ về Văn học Anh. Cô chuyên nghiên cứu về dòng văn học chiến thắng (anh hùng ca) và từng là giáo sư ở đại học Edwardsville phía Nam Illinois. Cô đã viết cuốn sách Charles Dickens và 7 tội đồ vào năm 1979. Cô đã dành nhiều thời gian để giúp xây dựng các trường học cho người da đen ở phía Nam. “Tiến sĩ Love hoàn toàn tận tình đối với sinh viên Mỹ gốc Phi và dành hết tâm trí cho sinh viên của cô”, Betty nói như vậy. “Cô ta là một phụ nữ mà cả sự nghiệp của mình dành hết cho nghĩa vụ cao nhất mà không màng cho cá nhân. Cô ta đã làm việc ở phía Nam, xây dựng nên các trường học cho người da đen khi nó không được mọi người quan tâm”.
 
Khi John và Angelena gặp nhau, họ phát hiện ra rằng họ có cùng chung ý nguyện, đó là tình yêu với nghề giáo và không ngừng hoàn thiện nó. Họ quan tâm giúp đỡ các sinh viên và các bạn trẻ ở Titusville. Cả hai đều muốn cùng nhau lập gia đình. Họ làm lễ cưới đầu năm 1950. Angelena có dáng người nhỏ nhắn, nước da sáng. Mọi người ghép họ với nhau vì thấy họ ăn mặc giống nhau và có nhiều mối quan tâm giống nhau. “Angelena rất đẹp, rất thông minh”, người chị dâu – Connie Ray nhận xét như vậy về Angelena. Còn Condi lại nhận xét rằng mẹ cô luôn biết ăn mặc rất đẹp.
 
Đám cưới của John và Angelena đã liên kết hai dòng họ có truyền thống về giáo dục tin rằng giáo dục đem lại đức tin và thành quả. Một phóng viên chính trị đã mô tả về Condi như “một bức tranh về tính cách năng động của người Mỹ”. Condi đã kế thừa truyền thống và cô chính là sản phẩm của các dòng họ luôn lấy giáo dục làm đầu, với ba thế hệ liên tiếp làm nghề giáo ở trường trung học (bao gồm cả giáo viên, hướng dẫn viên và luật sư). “Vì vậy tôi phải rời khỏi con đường mà tôi đã đi”, cô nói như vậy với tạp chí Financial Times.
 
Coit Blacker - một giáo sư ở Stanford và là bạn của Condi đã nói: “Tôi chưa từng biết nhiều về các gia đình Mỹ mà có cả ông bà, bố mẹ đều là giáo viên và kể cả cô dì, chú bác cũng đều là giáo viên”. Khi biết Condi lớn lên ở Birmingham, nhiều người cho rằng tuổi thơ của cô rất vất vả và cô không thể có được cơ may nào cho đến khi phong trào vì quyền công dân bắt đầu có tác dụng. Nhưng đó không phải là tiểu sử của Condi. Như cô vẫn thường nhớ lại, đó không phải là mục tiêu chính của phong trào vi quyền công dân, nhưng lại là truyền thống của gia đình cô.
 
Với sự ra đời của Condi, John và Angelena như dành được cả sự ủng hộ, sức mạnh, lòng tự hào của Chúa và họ thấy trách nhiệm phải dành hết tâm trí cho sự nghiệp của con cái. Connie Rice nói: “Họ muốn cả thế giới. Họ mong cho Rice của họ không bị vướng víu vào cái tầm thường vật chất của cuộc sống và họ muốn cô sẽ là chủ nhân của thế giới và muốn mang đến cho Condi tình yêu sâu đậm và lòng tin cô sẽ cất cánh trong tương lai”.
Đăng nhập để trả lời
0
“Cha mẹ tôi cố thuyết phục tôi rằng… con có thể không có được một chiếc bánh Hamburger ở Woolworth’s nhưng con có thể trở thành Tổng thống của Hoa Kỳ”.
-                      Condoleezza Rice
 
 
Condi sinh vào sáng một ngày Chủ nhật, trong khi cha của cô đang chủ trì lễ cầu nguyện lúc 11h tại nhà thờ Westminster, một thời khắc ra đời rất đúng lúc đối với con của một gia đình có đức tin tôn giáo. Các tín đồ của giáo phái để ý đến chiếc ghế để trống sau cây đàn piano, nơi Angelena thường ngồi chơi đàn, và im lặng cầu nguyện để mọi sự được tốt đẹp. Họ rất biết rằng gia đình Rice đang rất trông chờ một đứa con trai - một cầu thủ bóng đá, bóng chày hay một cầu thủ bóng rổ tương lai. Nhưng nếu đó là một cô con gái thì cũng rất tuyệt vời, nếu như Chúa đã muốn như vậy. Ngày 14-11-1954, Angelena đã sinh hạ một bé gái và bà đặt tên cho cô con gái tên là Condoleezza. John thì gọi con gái đơn giản là “Ngôi sao bé nhỏ” và ông gọi con gái mình bằng cái tên này cho đến tận cuối đời.[/align] 
John Rice – nhà truyền đạo ở nhà thờ Westminster, trong 11 năm, đã tạo cho Condi cảm giác coi nhà thờ là ngôi nhà thứ hai của mình. Khi Condi ra đời, nhà Rice đang ở trong căn nhà phía trước nhà thờ, sau đó khi nhà thờ xây thêm 8 căn nhà trái ở phía Nam đường 929 thì gia đình Rice chuyển đến đó. Ngôi nhà gạch nằm ở góc khu phố mới của vùng Titusville, một trong những quận của thành phố Birmingham có nhiều người da đen trung lưu sinh sống. Đây là một khu dân cư ven rừng rất đẹp. Vì ngôi nhà ở gần nhà thờ nên Condi dành rất nhiều thời gian ở khu vực nhỏ bé mà an toàn này.
 
Cái cộng đồng rất gắn bó của các nhà giáo, linh mục, tầng lớp trung lưu da màu của Birmingham này song song tồn tại đã tác động rất mạnh đến Condi. Các bậc cha mẹ ở khu vực này đều giáo dục con cái mình sức mạnh tầm hồn và lòng tự tin. Connie Rice, người cô của Condi thường nói: “Họ đơn giản là không cần để ý đến việc ở ngoài xã hội, họ bị coi là công dân hạng hai, anh là người da màu, anh không được tính đến, anh không phải là người có quyền lực”. Tuy nhiên, Condi còn nhận được một phương châm sống khác từ cha mẹ mình. John và Angelena dành cho con gái của mình cả tình yêu, sự quan tâm, khuyến khích và truyền thụ cho Condi các yếu tố của văn hoá phương Tây. Đó là âm nhạc, ba lê, ngoại ngữ, thể thao và thú vui đọc sách. “Tôi được các bậc cha mẹ dành cho tôi mọi cơ hội”, cô nói như vậy. “Họ cũng tin vào sự thành công”. Khi sinh Condi, Angelena đã dành hết tâm huyết của mình để truyền thụ cho cô con gái các kiến thức về âm nhạc và tri thức. Condi đã được làm quen với các bài học piano và các bài học khác từ trước khi cô cắp sách đến trường. Condi nói: “Đó là một môi trường được kiểm soát rất tốt đối với những câu lạc bộ dành cho trẻ em, các bài học balê, các sinh hoạt nhóm và đi lễ nhà thờ vào các ngày chủ nhật”. “Chính tính kỷ luật được hình thành từ đó”.
 
Âm nhạc luôn là trung tâm trong cuộc sống của Angelena và bà đã tạo mọi điều kiện để con gái của mình trở thành một nhạc công chuyên nghiệp. Từ những ngày đầu, Condi đã được làm quen với âm nhạc cổ điển và các bản thánh ca nhà thờ, nghe các bản nhạc trên đàn piano, organ. Những người quen biết đều đánh giá Condi là đứa trẻ biết đọc rất sớm, nhưng Condi thì nói rằng cô biết âm nhạc trước cả khi biết đọc sách.
 
Condi là tay đàn piano thứ tư trong gia đình bên ngoại của mẹ cô. Cô nói: “Mẹ tôi, bà tôi, cụ ngoại tôi đều chơi piano”. Khi bà Angelena trở lại làm việc, Condi sống với bà ngoại – Mattie Ray. Condi đã sống trong âm nhạc, tình yêu thương của bà. Cô bé Condi thức dậy với cây đàn piano, cố gắng tập theo bà ngoại của mình, ở nhà và từng ngày họ đều cùng nhau luyện tập piano. Bà ngoại linh cảm rằng Condi quả là có năng khiếu chứ không phải đơn giản chỉ là tò mò. Và bà ngoại đã đề nghị mẹ của Condi dạy nhạc cho cô. Condi nói: “Khi tôi mới 3 tuổi - mẹ thì cho là hãy còn nhỏ, nhưng bà thì muốn tôi đánh đàn từ sớm và kết quả là tôi tập chơi đàn từ rất sớm”.
 
Angelena cũng không muốn con gái mình đi sâu vào âm nhạc, giống như bà và mẹ của bà cũng đã từng khuyên bà và bà đã rất bất ngờ khi khám phá ra rằng Condi rất chủ động, thích thú với cây đàn piano. “Condi rất tập trung khi chơi đàn, kể từ khi cô còn rất trẻ”, người em gái của mẹ - bà Genoa Ray McPhatter (Hiệu trưởng trường ở Chesapeake, Virginia) nói vậy. “Cô có thể luyện tập với đàn piano vào thời gian nhất định mà không cần ai phải nhắc nhở”. Angelena đưa Condi vào một trong những chương trình cấp tốc, không chỉ các giờ tập piano mà còn thúc đẩy việc học của cô.
 
Lúc 5 tuổi, condi đã đọc thông viết thạo, vì vậy bà Angelena muốn Condi đến trường lúc 5 tuổi. Vị giám thị trường tiểu học dành cho người da màu nói rằng cô hãy còn quá bé, vì vậy Angelena đã đón một gia sư từ Fairfield High về nhà để dạy học cho Condi trong một năm. Suốt từ năm lớp 1 đến lớp 7, Condi luôn trong tốp đầu của lớp.
 
Năm học ở nhà của Condi rất có kỷ luật. Juliemma, một người bạn lâu năm của gia đình, nói rằng Angelena đã tổ chức một ngày học tập của Condi như đang học ở trên lớp. “Họ học, sau đó ăn trưa rồi trở lại học tập”. Juliemma, người giảng dạy ở trường cấp một Davis và đã giúp John tìm kiếm học bổng cho các giáo viên trẻ của nhà thờ được mời đến để xem một chiếc máy đọc ở nhà. “Condi học cách đọc sách nhanh với một cái máy đọc. Tôi đã nghe nói là Tổng thống Kennedy có dùng một chiếc máy như vậy. Angelena và John đã dành cho Condi điều kiện học tập tốt nhất và điều đó sau này đã được đền đáp”.
 
Angelena luôn muốn Condi tận dụng mọi cơ hội để tiến bộ trong nghệ thuật piano cả về cảm thụ và kỹ năng âm nhạc. Hai mẹ con dành khá nhiều thời gian cùng nhau khám phá các kiến thức về âm nhạc, ngôn ngữ và nghệ thuật, kể cả khi ở nhà, trên xe buýt đến thành phố. Condi nhớ lại: “Bà là người rất có tài năng… Tôi nhớ đã xúc động biết bao khi nghe bà giảng giải về nghệ thuật. Tôi nhớ khi tròn 6 tuổi, mẹ đã mua cho tôi chiếc máy ghi âm hiệu Aida”.
 
Việc bà Angelena hướng dẫn Condi luyện tập piano từ khi cô còn rất nhỏ là một truyền thống mà các bậc cha mẹ của các tài năng âm nhạc thường làm. Rất nhiều tay chơi piano nổi tiếng ở trong các gia đình có ít nhất một tài năng từ khi còn rất trẻ và được khuyến khích tập luyện thường xuyên. Van Cliburn là một ví dụ, ông tiếp thu năng khiếu âm nhạc từ người mẹ từ năm lên 3 tuổi và tiếp tục tập luyện với mẹ của mình cho đến khi thi đỗ vào trường Juilliard ở tuổi 17. Earl Wild nghe nhạc cổ điển từ khi mới lọt lòng và bắt đầu các bài học về âm nhạc từ mẹ của mình từ năm lên 3 tuổi. Claudio Arrau bắt đầu các bài học của mình với người mẹ từ trước khi học viết và đọc. Một loạt các nghệ sĩ nổi tiếng khác như Clara Haskil, Alicia de Larrocha, Glenn Gould và Arthur Rubinstein (một nghệ sĩ piano mà Condi rất ngưỡng mộ), Duke Ellington… đều bắt đầu các bài học piano từ khi rất nhỏ. Điều có lợi của các gia đình có truyền thống âm nhạc là tạo nên lòng say mê và cảm thụ âm nhạc từ rất trẻ.
 
Lợi ích của nền giáo dục âm nhạc trong gia đình, sự quan tâm của cha mẹ, một cách làm đã được thừa nhận từ lúc đứa trẻ còn nhỏ (thường là từ lúc 3 tuổi) một cảm nhận ssau lắn về âm nhạc và những (prodigious raw talent) mầm mống của tài năng cần được phát hiện sớm để tạo nên một tài năng lớn. Condi đã có được tất cả các yếu tố đó.
 
Angelena nhận ra rằng cô con gái Condi của mình là một tài năng ngoại lệ. Genoa Ray nói: “Chị gái tôi luôn hiểu rằng Condi là một đứa trẻ khác biệt”. Để khẳng định linh cảm của mình, bà đã đưa Condi đến trường Đại học Nam Baton Rouge để làm các trắc nghiệm tâm lý và kết quả tuyệt vời của Condi không ngoài dự đoán, bà đã nói lại với mọi người sau đó: “Tôi biết rằng con gái của mình là một thiên tài”.
 
Bản nhạc đầu tiên mà Condi tập đánh trên đàn piano là bản “Trước Chúa, chúng ta là bằng hữu”. Rất nhanh sau đó, cô đã trở thành người “chơi bè” của mẹ mình trong dàn nhạc nhà thờ. Khi 4 tuổi, cô đã có thể làm chủ các ngón tay và chơi được bản trình tấu đầu tiên. Condi dành nhiều thời gian cho học piano và tiếng Pháp hơn bất kỳ người bạn gái nào ở trong khu vực. Hai cô bạn hàng xóm của cô nhớ lại: “Họ thường phải ngồi hàng giờ đồng hồ để chờ Condi tập xong bản nhạc của Beethoven hoặc Mozart trước khi cùng đi chơi”. Kể cả khi ra ngoài chơi với bạn bè, Condi cũng không chơi gì lâu. “Cô không phải là loại trẻ hay rong chơi bên ngoài”, một người hàng xóm của Angelena – Ann Dowing - nhớ lại, “Cô thường làm cái gì đó cho cha mẹ ở trong nhà”. Cả Angelena và John đều dốc sức trang bị cho Condi các kinh nghiệm và kiến thức về văn hoá tạo ra cho cô các ấn tượng đặc biệt. Họ dạy dỗ cô con gái với tất cả tình yêu của một gia đình. Sự quan tâm này dựa trên tình yêu bao la cũng như các tiêu chuẩn truyền thống từ lâu của gia đình.
 
Một bằng chứng đặc biệt khắc hoạ rất sâu trong tâm khảm của Angelena. Bà Downing bị chặn lại vào một ngày, khi Angelena đang là quần áo và tất cho Condi. “Chị đang làm cái gì vậy?”, cô ta hỏi. “Tôi rất yêu con bé”, Angelena nhắc lại. Bà Downing liền bảo rằng với tình yêu sâu đậm như thế, cô cần phải sinh thêm một đứa con nữa. “Tôi không thể lấy mất tình yêu mà mình dành cho Condi”, bà nói. John Rice phải tiến hành rất nhiều công việc dành cho cô con gái của mình và luôn nghĩ rằng phải tạo mọi thời cơ cho cô. Một trong số các đồng nghiệp của John kể lại, có lần John đã nói: “Condi không thuộc về chúng tôi, con bé thuộc về Chúa”.
 
Khi bắt đầu vào tiểu học, Condi đã bộc lộ năng khiếu âm nhạc và sự chú tâm hơn hẳng các bạn cùng học. Một ngày, trong khi các bạn học đang nói chuyện vui vẻ thì Condi nói với cô giáo rằng: “Em đang chờ chỉ dẫn của cô giáo, liệu cô có thể kẻ nhạc cho em không?”. Cô luôn chăm chú trong giờ học và giữ trật tự. Cô làm được điều đó vì nó đã hình thành từ khi cô còn nhỏ. “John và Angelena là những bậc phụ huynh tuyệt vời”, Moses Brewer - một người bạn của Condi ở Đại học Denver nói như vậy. “Họ không bao giờ nói chuyện với cô như một đứa trẻ, đó là điều tại sao cô có thể trưởng thành rất sớm”. Một vài bạn học của cô học theo tác phong, sự chăn chỉ của cô, cũng như các hoạt động của cô, kể cả thói quen đi bằng các đầu ngón chân của cô như một dấu hiệu của tính tỷ mỷ. Condi thấy không vui khi thời gian bị bỏ phí. Và sau 7 năm học piano, cô đã thấy nhàm với nó.
 
“Tôi nhớ khi tôi khoảng 10 tuổi, tôi đã rất thích thú được chơi đàn piano”, cô nói vậy. “Tôi dã là một đứa trẻ may mắn, bây giờ tôi đã mười tuổi, có rất nhiều trẻ em khác cũng chơi được đàn ở tuổi lên 10”. Đối với Condi, việc “cắt giảm một chút quan tâm đến piano” đã xảy ra và cô đã sẵn sàng để chuyển sang một lĩnh vực khác. “Nhưng mẹ của tôi nói: con chưa đủ lớn và trưởng thành để quyết định việc này, và bà đã đúng”.
 
Bà đã đưa con gái tới một trường dạy nhạc để cô có điều kiện tập luyện ở trình độ cao hơn.
 
Condi đã nhập học ở nhạc viện Nam Birmingham, lúc cô tròn 10 tuổi. “Tôi nghĩ, tôi là nữ sinh viên da màu đầu tiên nhập học ở một nhạc viện dành cho cả da trắng và da màu”, cô nói, “và tôi bắt đầu tập trung nỗ lực vào đàn piano tại thời điểm đó”. Ở nhạc viện cô còn được học cả sáo và violin ngoài những giờ học ba lê và Pháp văn. Những thời gian rỗi, Condi bắt đầu có ý thích đọc sách, đa số là loại sách phù hợp với lứa tuổi, đó là tác động của mẹ cô về loại sách có chủ đề chứ không phải là sách chỉ để giải trí. Cô kể lại: “Tôi lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ rất chú trọng hướng cho tôi thói quen đọc sách”, “nhưng tôi chưa bao giờ có năng khiếu về văn học”.
 
Bằng cách như vậy, Angelena đã tìm cách mở rộng tầm nhìn cho Condi để chuẩn bị ứng xử trước các tình hướng xã hội khác nhau, gợi mở cho cô cá kình nghiệm xã hội và giáo dục, và không phụ sự kỳ vọng của cha mẹ, cô luôn là người đứng đầu trong các lĩnh vực mà mình tham gia. Có một nguyên tắc bất thành văn để dạy dỗ con cái ở trong gia đình Titusville đó là: “Hãy cố gắng gấp đôi để đuổi kịp trẻ em da trắng và cố gắng gấp ba lần nếu muốn vượt qua họ”. Và đó chính là kỳ vọng mà cả hai dòng họ Ray và Rice mong muốn ở con cái của họ. Để cổ vũ con cái cố gắng vượt trên mức trung bình trong điều kiện ngang bằng nhau. “Sẽ không sai nếu ai đó nói rằng phải làm việc tốt gấp hai”, Condi nói: “Đúng là như vậy, anh phải làm việc tốt gấp hai”.
 
“Cha mẹ của tôi đã rất đúng’, Condi nhớ lại: “Tôi phải chuẩn bị thật tốt và sẵn sàng làm tốt mọi việc mà xã hội da trắng đòi hỏi, để có thể thoát ra khỏi tệ phân biệt chủng tộc. Tôi phải chống lại xã hội da trắng ở chính các điểm mạnh của họ”. Lũ trẻ hỏi cha mẹ mình về khái niệm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mà chúng nghe được hoặc về luật lệ Jim Crow mà chúng quan sát thấy trong một chuyến dã ngoại đến phía bên kia của Birmingham, và cha mẹ nói rằng: “Các con đừng bận tâm về điều đó. Đây không phải là vấn đề của các con”.
 
Mẹ của Condi không chấp nhận bộ luật phân biệt đối xử và Condi đã chứng kiến rất nhiều, Angelena thường đem theo cô đi mua hàng. Khi hai mẹ con Condi đang lựa chọn bộ váy đầm, Condi chọn lấy một bộ mà cô muốn thử và cả hai bước đến “buồng thử” chỉ dành riêng cho người da trắng. Một nhân viên bán hàng da trắng chặn họ lại và giật bộ váy từ tay Condi và chỉ tay về phía nhà kho nói rằng: con bé phải thử váy ở đó. Không hề chớp mặt, Angelena nói thẳng với nhân viên bán hàng rằng: con gái của bà phải được thử bộ váy đúng ở chỗ quy định để thử quần áo hoặc nếu không thì chúng tôi sẽ đi mua đồ ở nơi khác. Angelena rất kiên quyết và không lùi bước, nhân viên quản lý quyết định để họ vào thử bộ váy trong phòng thử ở một vị trí xa nhất. Condi nhớ lại: “Lúc ấy người nhân viên này đứng canh ngoài và luôn mồn ca cẩm nếu bị lộ thì bà ta sẽ bị sa thải”.
 
Một trong những nỗi buồn của lũ trẻ da đen ở thành phố Birmingham là không được phép xem xiếc khi gánh xiếc đến thành phố và biể diễn ở công viên Kiddieland. Condi đã từng không hiểu tại sao lũ trẻ da đen lại không thể đến những khu vui chơi mà chúng thích vì có rất nhiều vật trang trí đẹp và nhiều trò chơi hấp dẫn, kể cả sự có mặt của các loài thú và lễ hội Carnaval. Lúc đó cô không thể hiểu được tại sao cô lại không được đến nơi mà cô thích. Nhưng đối với đa sô trường hợp, cha mẹ của Condi đã an ủi cô về việc không tới được Kiddieland. Với các trò chơi chỉ dành cho người da trắng, thành phố rõ ràng đã chia thành hai phần. Mỗi một năm, công viên chỉ mở cửa một ngày dành cho trẻ em da đen, nhưng các trẻ em nhà Rice không đến đó. John và Angelena cố gắng giữ không cho Condi đến công viên Kiddieland. Ngoài ra, John và Angelena còn đưa Condi đến đảo Coney ở Brooklyn vào mùa hè khi ông đến công tác tại Đại học Columbia. John cố làm cho Condi không nghĩ đến công viên Kiddieland. Condi nhắc lại, để xoa dịu lũ trẻ, cha của cô đã nói: “Các con không cần đến công viên Kiddieland. Chúng ta sẽ đến Disneyland”.
 
Cha mẹ của Condi đưa ra cho Condi các cơ hội còn lớn hơn những gì ở thành phố Birmingham, tạo điều kiện cho cô để làm việc chăm chỉ và có tính mục đích cao. Cô nói: “Cha mẹ tôi cố giải thích tại sao tôi không đến được rạp xiếc”, “Tại sao chúng ta phải đi một đoạn đường dài đến Washington D.C, rồi chúng ta mới có thể vào được khách sạn. Và họ tiếp tục giải thích tại sao tôi không thể có được một cái bánh hamburger trong một khách sạn nhưng tôi có thể trở thành Tổng thống theo một cách nào đó, đó chính là cách mà họ chọn để vượt qua mọi tình huống”.
 
John Rice đóng vai trò rất quan trọng đối với nhiều bạn trẻ ở Titusville. Ông có trái tim nhân hậu, cách nhìn nhận cuộc sống vui vẻ và sẵn sàng đóng góp không mệt mỏi cho cộng đồng. Theo người cô thứ hai của Condi, Connie Rice, John đã từng là một người khá khác thường trong cách sống. Bà cho biết: “Mọi người trong nhà Rice đều có cách sống khá vui vẻ, ngoại trừ cha của Condi”. Các hoạt động của ông tạo điều kiện cho các bạn trẻ có được sự chỉ dẫn ở nhà trường, nhà thờ và ở quỹ học bổng do ông sáng lập.
 
Các học bổng dành cho kỳ nghỉ hè và các kỳ nghỉ lễ là các điều kiện học tập rất tốt, nơi John có thể dạy bọn trẻ chơi cờ, các bước hoạt động nghệ thuật và than quan bảo tàng. Ông đồng thời tổ chức các đội thể thao bóng rổ, các hoạt động ngoại khoá, tập khiêu vũ cho cha mẹ học sinh vào cuối tuần. “Ông là một người đàn ông đặc biệt”, Margeret Cheatham - một trong số giáo viên đã nói như vậy.
 
William Jones, một mục sư của nhà thờ Westminster ở Birmingham, nhớ rằng: John còn tham gia tổ chức một hoạt động rất quan trọng khác của nhà thờ, đó là tổ chức đội hướng đạo sinh. Ông dành rất nhiều công sức để lãnh đạo đội hướng đạo sinh này và hai trong sô đó đã đạt phần thưởng cao trong đội hướng đạo. Jones nhớ lại, “Đội hướng đạo sinh của John được đánh giá là một trong những đội mạnh nhất ở Birmingham. Họ có rất nhiều người đi theo, bao gồm cả hai hướng đạo sinh “Đại bàng”. Một vài đội chưa từng bao giờ có nổi một người đạt danh hiệu “Đại bàng”. Đó là những năm tháng ông làm công tác giáo dục và tận tâm với lũ trẻ trên cương vị lãnh đạo”. Chỉ có 4% lũ trẻ có thể trở thành đội viên hướng đạo sinh “Đại bàng”. Đây là một quá trình nhiều năm tháng hoạt động cộng đồng, cũng như rèn luyện kỹ năng.
 
Có thể nói rằng John Rice là một lãnh tụ thanh niên không biết mệt mỏi và một nhà sư phạm cũng không có gì là khó hiểu. Ngoài các công việc hàng ngày như dạy học, hưỡng dẫn viên và tìm các học bổng cho sinh viên, John còn tham gia các hoạt dộng xã hội khác rộng lớn hơn. Ông đã tham gia xây dựng “trung tâm khởi nghiệp” đầu tiên ở Birmingham, ngay sau khi chương trình này được khởi động tại Washington vào năm 1965. Ông giúp các sinh viên ngheo da đen tìm kiếm công việc ngoài giờ học và kỳ nghỉ hè. Ông gần như là người da đen đầu tiên làm việc trong một cơ quan của nhà nước.
 
Với cương vị là hướng dẫn viên của trường trung học, John có rất nhiều cơ hội để trò chuyện với lũ trẻ về trường học và các bước đi cần thiết để có thể đợc tiếp nhận vào các trường trung học. Ông phụ đạo cho các sinh viên cách giải các trắc nghiệm, giúp chúng thực tế hơn trong việc lựa chọn ngành nghề, môn học. Một giám đốc trường Ullman High, nơi John làm việc, là bà cô của Alma Powell - vợ của ngoại trưởng Collin Powell kể lại là trong gia đình cô thường nói về John Wesley Rice như một thanh niên ưu tú mà cộng đồng da màu ở Birmingham may mắn có được. Lũ trẻ gọi ông là “Rev” và cô con gái của họ rất buồn cười về cái tên này.
 
Condi đã thích môn bóng đá Mỹ như các cô bé khác thích cưỡi ngựa và đọc sách. Cô cho hay “Cha tôi là một huấn luyện viên bóng đá khi tôi ra đời”. Ông đã hy vọng có một cậu con trai để cùng kế thừa năng khiếu bóng đá của ông, nhưng khi cô con gái ra đời, ông đã quyết định truyền lại cho cô các hiểu biết về bóng đá. Từ năm 4 tuổi cô đã ngồi bên cha để xem chương trình trò chơi trên TV vào các chiều chủ nhật. Những lúc ấy, ông giảng giải cặn kẽ cho cô con giá về luật chơi, về các cầu thủ, về chiến thuật của bóng đá. Hàng năm, sau Lễ Tạ ơn, họ tạm dừng việc họ tập để cùng chơi bóng ở mảnh vườn phía sau. Cô rất mê cái kịch tính của môn thể thao này. Thậm chí, mới chỉ là một cô bé, cô đã nói với mẹ của một người bạn cùng lớp rằng: “Sau này, khi lớn lên cháu sẽ lấy một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp”.
 
John còn dành thời gian để giảng giải về lịch sử cho Condi. Condi nói: “Tôi học nhạc với mẹ, học chơi thể thao và môn lịch sử với cha”. Từ trước tuổi đến trường, Condi đã thường xuyên nói chuyện với bạn hàng xóm, Juliemma Smith, về các đề tài thời sự trên báo. “Condi thường xuyên quan tâm đến tình hình chính trị. Từ khi còn trẻ, cô đã thường xuyên hỏi bạn bè các câu hỏi đại loại như: Bạn có biết hôm nay Bull Connor làm gi không? (Bull Connor là một phân tử phân biệt chủng tộc hung hãn ở Birmingham). Dù rằng chỉ là một cô gái bé nhỏ, cô thường quan tâm đến chính trị, vì vậy tôi buộc phải thường xuyên đọc báo để biết được những gì Condi sẽ hỏi”, Juliemma Smith, một người bạn của Condi, kể lại.
 
Cả John và Angelena đều được nghỉ vào dịp hè và họ thường lái chiếc Dodge đưa cả gia đình đi du lịch đường dài. Họ thường ghé thăm các trường học. Những người nhà Rice đã không cưỡng lại được ý thích đi qua các trường đại học hoặc cao đẳng nổi tiếng - Một thánh đường kỳ diệu với ba vạch ký hiệu của tương lai nước Mỹ. Condi nhơ lại: “Chúng tôi thường dừng ở các trường học. Lũ trẻ khác thì đi thăm công viên Đá vàng, còn tôi thì ghé thăm các trường học. Tôi nhớ đã phải đi 100 dặm để thăm trường Columbus ở bang Ohio”.
 
Trong nhiều dịp nghỉ hè, cả hai vợ chồng John gặp gỡ các học sinh tốt nghiệp ở trường đại học ở Denver, nơi chính John đã lấy bằng thạc sĩ về giáo dục năm 1964. Angelena dạy học suốt 20 năm, từ 1961 đến 1982 và lấy học vị thạc sĩ giáo dục năm 1982. Trong lúc cả hai vợ chồng đứng trên lớp, họ muốn con gái của mình sử dụng thời gian rỗi có hiệu quả và kết quả là họ đã quyết định cho Condi tập trượt băng nghệ thuật. “Trượt băng nghệ thuật là thứ chơi cao cấp của lũ trẻ”, Condi nói vậy, nhưng Condi lại rất thích môn thể thao này. Cô dành hàng giờ liền mỗi ngày để luyện tập nâng cao kỹ năng, tập trung vào một điều là, cũng như piano, đạt đượt kết quả tốt nhất. Những thời gian tập ba lê đã giúp cô có sức khỏe, độ dẻo dai để nắm vững các kỹ thuật trượt băng. Sau này cô tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật và tham gia một số cuộc thi. Mặc dù cô chưa bao giờ đạt được một giải thưởng nào như mong muốn, nhưng môn thể thao này có ảnh hưởng tốt để cả phần còn lại của cuộc đời cô.
 
Mùa hè ở Denver quả là lý tưởng so với cái nóng ở Alabama, kể cả nguy cơ bị đe doạ bạo lực, vì vậy người ta đã gọi chệch tên “Birmingham” là “Bombingham” (thành phố bom nổ). Đó là sự đe doạ của Đảng 3K (Ku Klux Klan) đánh bom nhà ở của người da đen. Một trong số bạn bè của nhà Rice, đó là luật sư Arthur Shores, nằm trong số gia đình da đen chuyển đến ở trong khu da trắng và họ đã phải trả giá về điều đó. Vào các ngày 21-8 và 4-9 năm 1963, bom đặt ở gần nhà đã phát nổ, phá huỷ nhà của họ. Condi và cha mẹ của cô đã phải mang quần áo và đồ ăn đến tiếp tế cho gia đình này.
 
Việc đánh bom ở Birmingham còn có động cơ vì phán quyết của Toà án Liên bang về việc hợp nhất các trường học ở Birmingham. Kể cả trường học ở Birmingham cũng bị đe doạ đánh bom và chính thị trưởng George Wallance đã phải phát động chiến dịch thúc đẩy người dân chống lại nạn kỳ thị chủng tộc. Giống như nhiều trẻ em khác ở nhà thờ và hàng xóm, Condi rất bị sốc về các vụ nổ vào năm 1963, như một năm đầy tiếng bom. Cô nói rằng: “Arthur Shores là người bạn, và đây là thời kỳ của bạo lực”. Luật sư Shores chính là mục tiêu của các vụ bạo lực, vì chính ông là người trong nhiều năm bảo vệ quyền con người của người da đen ở Birmingham. Trong một thời gian dài, ông là luật sư da đen duy nhất ở Alabama. Năm 1949, chỉ vì ông đã từng bảo vệ quyền của gia đình da đen chuyển đến ở trong khu của người da trắng mà văn phòng và nhà của ông đã bị đặt bom. Ông đã phát hiện ra trước khi bom phát nổ, nhưng khi ông mang chúng đến cho cảnh sát và FBI thì không một cơ quan nào đứng ra giải quyết. Năm 1963, nhà của Shores lại bị đe doạ, nhưng ông hiểu rằng nếu có báo cảnh sát thì cũng chẳng nhận được sự giúp đỡ nào và chính đồn cảnh sát cũng đóng một vai trò trong vụ đánh bom.
 
Một lần, Shores và những người khác phát hiện bom ở gần nhà mình, ông đã mang nó đến đồn cảnh sát và yêu cầu điều tra vụ việc, nhưng yêu cầu của ông không được đáp ứng. “Cảnh sát có thể làm lộ ra và nói với bất kỳ ai để giải phóng các đường phố”, nhà sử học của Birmingham – Pam King nói như vậy. “Họ dọn sạch các đường phố và đảng 3K có thể đi qua, mang theo cả bom. Họ không hề vì sự an toàn cho công dân mà chỉ làm sạch đường phố cho bọn 3K mang bom đến”. Khi một trái bom lửa được cài ở khu lân cận nhà Rice, John Rice đem nó đến đồn cảnh sát và yêu cầu được điều tra, nhưng yêu cầu này không được đáp ứng.
 
Với các vụ đánh bom mà lúc đo sxuất hiện các nhóm ăn cướp có tổ chức của các đội tự vệ da trắng co vũ trang được gọi là “đội tuần tra đen”, những kẻ tu tập quanh khu da đen để nổ súng và phóng hoả. Cha của Condi và nhiều người hàng xóm trong khu da đen đã phải phân công nhau canh gác ở khu phố của mình để ngăn chặn các vụ đặt bom lén vào ban đêm của bọn phân biệt chủng tộc. Quân đội được trang bị súng ngắn, họ tổ chức các đợt tuần tra ban đem. Ký ức của cha cô về các cuộc tuần tra đó còn ảnh hưởng đến quan điểm của Condi về quản lý súng ngày nay. Với các công dân có súng được đăng ký, có lập luận: Bull Connor sẽ có được hành động hợp pháp để tập hợp những người này, lúc đó việc tấn công một công đồng da đen chỉ đơn thuần coi là hành động tự vệ. “Tôi có một vài quan điểm vè bản phụ trương thứ hai về quyền có vũ khí”, Condi nói như vậy vào năm 2001.
 
Đối với người da đen ở Birmingham, đặc biệt là trẻ em, năm 1963 quả là khủng khiếp. Condi nhớ lại rất nhiều lần lũ trẻ da đen phải ở lại trong trường vì bị đe doạ đánh bom, nhưng các học sinh ở các lớp khác nhau đã giúp đỡ nhau. “Quan hệ ràng buộc với nhau trong cộng đồng da đen tạo cho họ sự tin tưởng”, cô nói vậy. “Tất cả chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau. Các tầng lớp khác nhau trong cộng đồng da đen không có phân biệt rõ rệt. Tất cả chúng tôi ràng buộc lẫn nhau”. Công đồng người da đen là thành-phố-trong-thành-phố. Tầng lớp trung lưu da đen hợp thành một cộng đồng. “Rất khó khăn để đến được đó rồi quay trở lại trên một đoạn đường dài”, nhà sử học Pam King nói vậy. “Quá khó khăn để vào đó, và quá dễ để bị ngã gục”. Nhiều gia đình gửi con gái của mình đến trường trước con trai vì biết rằng phụ nữ da đen có cơ hội tốt hơn vì ít tham gia vào xã hội da trắng. Họ đồng thời bỏ một số người hàng xóm ở Birmingham để về sống ở ngoại ô, cũng như người da trắng ở mọi nơi vẫn làm, mang theo tiền bạc và tài sản. “Khi xảy ra sự di chuyển thì các vị trí như quận Fourth Avenur (quận toàn cửa hàng và khu giải trí của người da đen) và khu da đen đã tan vỡ vì người da đen đã bỏ đi đến các khu vực khác”, Pam Kinh nhớ lại. “Chúng tôi không nói về nhóm đa đen nhưng đó là một hiện tượng tương tự, người da đen đã huyển ra ngoài ngoại ô như người da trắng trung lưu”.
 
Một vài tuần trước cái năm đáng nhớ ấy, Condi than phiền vì các hình thức đe doạ đánh bom khác nhau. Tháng 10-1962, các báo ngày nào cũng đăng tin tức về vụ khủng hoảng tên lửa ởư Cuba. Lúc ấy Condi vừa 7 tuổi và cô đã tranh luân với cha mẹ mình. Không hiểu sao trong phòng của cô có các bài báo với bản đồ về đường đi của tên lửa, trong đó có thành phố Birmingham vủa cô cũng nằm trong tầm của tên lửa.
 
Nhà Rice là bạn bè của mục sư Fred Shuttlesworth - một thần tượng của phong trào chống phân biệt chủng tộc ở Birmingham, người cùng hoạt động rất tích cực với mục sự Martin Luther King, Jr., nổi tiếng. Khi tại bang Alabama, chính quyền đặt phong trào của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP) ra ngoài vòng pháp luật, ông đã thành lập phong trào Thiên chúa vì quyền con người. Một trong những hoạt động của phong trào là tổ chức tuần hành có sự tham gia của trẻ em để thu hút sự chú ý đến phong trào này. Rất nhiều đàn ông da đen đã bị bắt, các cuộc biểu tình là một phần của phong trào C (Confrontation hay Đương đầu). Với các hình thức biểu tình ngồi, tẩy chay các cửa hàng bán lẻ dành cho người da trắng, phong trào vì các chuyến xe buýt chung. Cuộc tuần hành đã trở thành phong trào từ Albama lan đến các bang khác ở phía Nam.
 
Các sinh viên ở trường nơi mẹ Condi lấy bằng thạc sĩ đã tham gia biểu tình “ngồi” để chống lại các cửa hàng phân biệt chủng tộc ở Birmingham từ năm 1960, phong trào này không thành công vì người da trắng ép hiệu trưởng ra lệnh dừng các cuộc biểu tình. “Cơ cấu quyền lực của người da trắng đè nặng áp lực lên vị chủ tịch trường Miles, ông yêu cầu lũ trẻ phải dừng lại”, Jack Davis giải thích – ông là phó giáo sư về lịch sử của Đại học Alabama Birmingham. “Vào bất cứ lúc nào cũng có một cuộc biểu tình nào đó, Bull Connor tức giận và làm mọi cách để có thể giải tán các cuộc phản đối và bảo vệ sự phân biệt đối xử. Ông ta phản đối mọi cuộc nói chuyện về chính sách phân biệt của ông ta”.
 
Jack là một người da trắng, nhớ lại cuộc nói chuyện của cha mình về phản ứng của giới doanh nghiệp Birmingham trong thời kỳ Dự án C của những năm 1960. “Cha tôi làm việc ở trung tâm thành phố, ở tâm điểm của mọi sự kiện và ông nhớ lại rất nhiều vụ bắt bớ, đàn áp và tuần hành. Ông nhớ lại người da trắng đã phản ứng như thế nào trước các cuộc biểu tình và nhiều người trong số họ đã biểu lộ thái độ về việc bảo vệ hiện hành. Nhưng cũng nhiều người cho rằng cần có sự thay đổi”.
 
Hàng nghìn học sinh đã bỏ học để tham gia tuần hành hoà bình vào tháng 5-1963, phản đối luật phân biệt chủng tộc của thành phố. Họ không nề hà sự nguy hiểm có thể đến.
 
Bull Connor - một thế lực phân biệt chủng tộc của thành phố - kiểm soát cả cảnh sát và lực lượng cứu hoả, ông ta tìm cách đàn áp đoàn biểu tình. Như một viên chức cấp cao của thành phố, ông ta làm mọi thứ để nhóm ngọn lửa của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong số người da trắng của giai cấp công nhân. Ông ta viết một số lời kêu gọi để ngăn cản phong trào quyền con người ở Alabama, ví dụ, khi giải thích những kẻ đe doạ tự do phải đứng ngoài vòng pháp luật, theo ông ta thì những người đe doạ tự do chính là những người “thách thức cách sống của chúng ta”.
 
Tháng 5-1963, Bull Connor đã ra lệnh cho cảnh sát trấn áp bằng vũ lực đối với những người biểu tình. Cảnh sát dùng chó và vòi rồng để phun vào đoàn biểu tình, các vòi rồng quá mạnh đã quật ngã lũ trẻ xuống đường phố và rất nhiều người bị thương. Một bài của tờ Montgomery Advertiser vào đầu tháng 5 mô tả một cuộc tuần hành ngày 1-5 với một cái tít: “Lũ chó, vòi phun nước phun vào đoàn biểu tình da đen”:
 
Dưới vòi rồng, cảnh sát với tiếng loa đe doạ: “Giải tán, hoặc sẽ bị ướt”. Lũ trẻ, tuổi từ 13 đến 16 vẫn giữ vững đội hình và tiến về phía trước.
 
Rồi vòi phun nước phun vào chúng, lũ trẻ giơ tay che đầu, rồi sau đó chúng đan tay vào nhau kết thành một chuỗi, bám chắc vào mặt đất.
 
Một phụ nữ - Vivian Lowe bị chảy máu mũi, cô nói mình bị thương vì vòi nước từ các vòi rồng cứu hoả. Một nữ sinh bị thương ở vùng mắt khi bị vòi rồng phun mạnh vào… Một người da đen khác – Henry Lee Shambry, 34 tuổi nói rằng anh đã bị hai con chó của cảnh sát cắn. Một trong hai ống quần đã bị rách gần lìa ra, và quần lót của anh dính đầy máu.
 
Mặc dù John và Angelena Rice ủng hộ phong trào vì quyền con người, nhưng họ không đồng ý với cách làm ở Birmingham. Tẩy chay một cửa hàng là một việc, nhưng đưa lũ trẻ ra để chịu nguy hiểm lại là việc khác. John không đồng ý để các học sinh tham gia tuần hành vì ông tin rằng đưa trẻ em ra đối đầu với đe doạ bạo lực là cách làm không đúng. Ông muốn lũ trẻ chỉ tham gia đấu tranh ở trong trường.
 
Condi nhớ lại: cha của cô không đồng ý mạo hiểm với học sinh, ông không bao giờ cho con cái mình tham gia. Tuy nhiên khi dòng người biểu tình tiếp diễn, John hiểu rằng sức mạnh của lịch sử sẽ thuộc về họ và ông muốn đem đến cho cô con gái Condi tám tuổi của mình một cái nhìn sơ bộ về những gì đang diễn ra. Khi các con nhà Rice đi qua đường phố, nơi một số trẻ em bị bắt giữ trong một cuộc tuần hành vào tháng 5-1963, John đã dẫn Condi đến khu hội chợ phía Tây của thành phố, nơi người ta đang tạm giữ bọn trẻ. Rất nhiều trong số lũ trẻ bị giam giữ là sinh viên của ông và ông muốn xem chúng có được an toàn không. Ông và Condi đứng nhìn từ xa. Từ sáng sớm, họ đã nhìn thấy dòng người biểu tình ở khu thương mại của thành phố từ một khoảng cách an toàn từ xa.
 
Bull Connor đã sử dụng chó nghiệp vụ và vòi rồng để chống lại lũ trẻ và việc này đã được đưa lên đài truyền hình quốc gia vào mùa hè và điều đó làm các sự kiện ở Birmingham trở thành tâm điểm chú ý của hàng triệu người Mỹ. Tháng 5-1963, Tổng thống Kennedy đã phải tuyên bố rằng đã đến lúc quốc hội Mỹ phải có hành động, phải đáp lại đòi hỏi của thế kỷ về việc không để chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có chỗ đứng trong cuộc sống và luật pháp nước Mỹ. Chính vào tháng đó, chính quyền của ông đã dự thảo Luật về Quyền Dân sự.
 
Một sự kiện bi thương vào mùa thu năm 1963 đã đẩy các vụ đụng độ ở Birmingham lên một đỉnh cao mới. Vào sáng Chủ nhật ngày 15-9, tại nhà thờ ở đường 16 có rất đông giáo dân, trong đó có rất nhiều gia đình da đen. Còn ở trong trung tâm thành phố các lớp học chủ nhật mới bắt đầu. Trong một lớp học có 4 nữ sinh: Denise McNair – 11 tuổi và Carole Robertson, Cynthia Wesley, và Addie Mae Collins - đều 14 tuổi. Lúc 10h24 phút sáng, một trái bom từ trường đã nổ tung và làm bay một mảnh tường. Cả bốn nữ sinh đều bị chết, váy áo đều bị cháy, hàng chục trẻ em và người lớn bị thương.
 
Vụ khủng bố nổ ra ở nhiều nơi trong thành phố, bao gồm cả nhà thờ ở cách trung tâm hai dặm, nơi Condi cảm thấy nền nhà dưới chân mình rung động. Cô nhớ lại: “Tôi thấy có cái gì đó rung mạnh và loé sáng, sau đó mọi người lo lắng không biết có ai bị chết trong nhà thờ không”. Denise McNair – cô bé nhỏ nhất bị giết là một trong số bạn thân của Condi, họ đã từng đi nhà trẻ với nhau.
 
Cả nhà Rice đi dự lễ tang và một ấn tượng rất mạnh hôm đó hằn sâu trong tâm trí Condi. “Tôi nhớ nhiều hơn bất cứ điều gì về một cỗ quan tài”, cô nói, “Một cỗ quan tài nhỏ. Và ấn tượng về một Birmingham hoàn toàn bất ổn”. Chỉ hai tháng trước lễ sinh nhật lần thứ 9 của mình, Condi đã phải chứng kiến thực tế về sự đổ máu ở ngay bên ngoài khu phố nơi cha mẹ và cộng đồng đã dày công xây dựng. Có một cái gì đó đã thức dậy trong cô.
 
Phiên toà diễn ra rất chậm xét hỏi bốn kẻ giết người đã là giọt nước cuối cùng để người ta thấy cần phải thông qua luật quyền dân sự. Tháng 5-2002, Bobby Cherry – 71 tuổi đã bị kết tội giết người bởi một bồi thẩm đoàn gồm 9 người da trắng và 3 người da đen. Trước đó là Thomas Blanton bị kết án năm 2001 và Robert Chambliss năm 1977. Tên 3K thư tư tham gia vụ giết người – Herman Cash – đã chết trước khi bị trừng phạt.
 
Mặc dù cố gắng cô lập con gái mình khỏi các ảnh hưởng của tệ phân biệt chủng tộc nhưng quả thật là John không thể đạt được ý định của mình. Cả ông và Angelena không thể tổ chức các khoá học tốt nghiệp cho sinh viên năm cuối ở trường Đại học Alabama, chỉ cách Titusville một dãy phố, vì ở đó người ta không chấp nhận các sinh viên da đen. Và Đảng Dân chủ đã không đạt kết quả khi bỏ phiếu cho luật về quyền công dân, vì luật Dixiecrats của Đảng Dân chủ ở bang Alabama rất cứng nhắc (Luật Dixiecrats được lập ra năm 1948 khi nhóm nghị sĩ dân chủ do Strom Thurmond, bang Nam Carolina dẫn đầu tách ra khỏi Đảng Dân chủ để phải đối chính sách hoà hợp chủng tộc của Truman). Các phần tử này đã kêu gọi chính quyền đàn áp phong trào chống phân biệt chủng tộc, kể cả trong dịp bầu cử của Đảng Dân chủ.
 
Người da đen đã giành quyền tham gia bỏ phiếu khi việc sửa đổi điều luật thứ 15 được thông qua năm 1869, nhưng các bang phía Nam tìm cách kìm hãm thi hành điều luật này. Đến tận những năm 1950, ở Alabama vẫn áp dụng luật thuế và phí bầu cử, làm rất nhiều người da đen không thể tham gia bầu cử. Các thuế khác vẫn rất cứng nhắc khi John Rice đi bầu cử năm 1952. Nhà báo Wil Haygood đã mô tả cảnh này trong bài báo Boston Globe:
 
Năm 1952, John Rice đi đến điểm bầu cử ở Birmingham, ông cùng các đồng nghiệp xếp hàng. Một người đàn ông đưa ra một lọ đầy các hạt đậu và bảo nếu John có thể đếm được trong lọ có bao nhiêu hạt đậu thì sẽ được bầu cử.
 
John nhận ra từ một số ít đảng viên Cộng hoà trong giáo phái của mình rằng GOP không dùng chiến thuật này. Ông quyết định ghi tên ủng hộ Đảng Cộng hoà từ ngày đó và kể từ đó không bao giờ thay đổi nữa. Tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà, Condi đã kể lại chuyện này của cha cô. “Đảng viên Đảng Cộng hoà đầu tiên mà tôi biết chính là cha tôi – John Rice, và đến bây giờ ông vẫn là một đảng viên Cộng hoà mà tôi kính phục”. Cô kể lại: “Cha tôi ủng hộ Đảng Cộng hoà vì Đảng Dân chủ ở Alabama đã không đăng ký cho ông bầu cử vào năm 1952. Nhưng Đảng Cộng hoà thì lại làm được. Tôi muốn mọi người biết rằng cha tôi không bao giờ quên ngày đó, và tôi cũng không bao giờ quên”.
 
Khi Tổng thống Lyndon Johnson ký sắc lệnh về Luật quyền công dân vào ngày 2-7-1964, cả nhà Rice đã đón chờ sự kiện này trên tivi. Một vài ngày sau đó, họ trở lại nhà hàng chỉ dành cho người da trắng (mà phần đầu của cuốn sách này đã nhắc đến), “Các thực khách tại đây dứng ăn trong vài phút”, Condi nhớ lại. Nhưng ngay sau đó mọi người ai lại làm việc của người ấy. Sự thay đổi không phải ở đâu cũng trôi chảy. “Một vài tuần sau đó chúng tôi đã đến một cửa hàng phục vụ tại chỗ (Drive-in)”, cô nói vậy. “Và khi chúng tôi đi ra, tôi mở chiếc bánh Hamburger thì thấy nhân của nó toàn là hành”. Tổng thống Johnson đã đưa ý tưởng của Tổng thống Kennedy trở thành hiện thực. Và ở nhà Rice ông được coi là một nhân vật đáng kính. Condi tin tưởng rằng một phần quan trọng là Luật quyền dân sự nằm ở chính trong con người, những người sẵn sàng đưa luật vào thực tế cuộc sống và người da đen đã thông qua giáo dục để chuẩn bị cho sự thay đổi này. Cô nói: “Sự thay đổi luật pháp đem lại sự khác biệt rất lớn”, cô nói, “nhưng không phải vì sự vắng mặt của những người đã sẵn sàng để đón nhận sự ưu việt dành cho họ, và hơn thế, dành lấy toàn bộ tính ưu việt đó. Anh không thể gạch tên họ ra khỏi lịch sử”.
 
Condi biết cha mẹ cô tiếp cận vấn đề phân biệt chủng tộc như họ đã nhìn nhận và dạy dỗ cô, và họ không bao giờ thoả hiệp trong vấn đề giáo dục đã tạo dấu ấn rất mạnh trong cuộc đời cô: “Tôi rất biết ơn cha mẹ đã giúp tôi vượt qua những thời điểm khó khăn đó. Họ giảng giải cho tôi một cách cặn kẽ về những gì đã xảy ra. Lúc đó chúng tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm vì vấn đề giáo dục đã được giải quyết… Trong số các bạn bè mà tôi lớn lên cùng, tôi đã không dám tin rằng chúng tôi đã lớn lên và được nhập học vào trường chung cho cả người da màu và da trắng như mọi đứa trẻ Mỹ bình thường khác”.
 
Năm 1965, cha của Condi nhận công việc mới, tạo nên một bước ngoặt mới trong sự nghiệp của ông. Như một người quản lý sinh viên tại trường Stillman, ông trở thành một trong những người lãnh đạo của trường đại học và điều đó đánh dấu một mốc mới trong truyền thống giáo dục của gia đình nhà Rice. Đó chính là việc tại sao ông của Condi đa dày công chuẩn bị cho con cái nhà Rice. Kể cả việc ông đã chuẩn bị cho cha của Condi để làm việc ở nhà thờ.
 
Kể từ khi John nhận công việc mới, trường Stillnam đã có một lịch sử lâu dài là trường đào tạo các mục sư da đen từ năm 1876. Vào năm 1930, trường dạy thêm môn y tá và năm 1953 trở thành một trường trung học hệ 4 năm. Bốn năm trước khi John đến, trưởng trở thành thành viên Quỹ thống nhất các trường trung học da đen, bao gồm 40 trường liên kết với nhau.
 
Với công việc mới, gia đình Rice chuyển đến Tuscaloosa, cách Birmingham gần 60 dặm, với khoảng cách này họ vẫn giữ quan hệ gần gũi với bạn bè, người thân, vì quốc lộ 20 nối liền các bang đã được hoàn thành. Một thời gian sau, John đã tiến lên một bước cao hơn theo ngạch giáo dục, ông được bổ nhiệm là giáo sư. Ở vị trí này ông vẫn tiếp tục làm việc với thanh niên như một phần hoạt động của nhà thờ và công tác tình nguyện, nhưng còn công việc giảng dạy thì tiếp xúc nhiều hơn với các sinh viên trẻ và lớn tuổi. Trong khi đó, người học trò số 1 của ông, “Ngôi sao nhỏ” của ông, Condi vẫn đang lớn lên.
Đăng nhập để trả lời
0
“Tôi chưa từng nghĩ tôi là một sinh viên tài năng, tôi chỉ nghĩ tôi là một người chơi đàn piano tốt”.
-                      Condoleezza Rice
 
Sau ba năm làm việc ở trường Stillman, John Rice nhận được một công việc mới có khả năng di chuyển cả gia đình. Thời kỳ này các biến đổi lớn của khu vực có thể tạo ra tác động lớn đến cuộc đời Condi hơn là việc suy tính có phải rời khỏi Birmingham hay không, vì rằng như vậy không phải chỉ vì họ phải rời xa gia đình và bạn bè ở Alabama, mà còn là dời khỏi khu vực phía Nam. John nhận được công việc mới sau khi hoàn thành các khoá học mùa hè ở Đại học Denver để bảo vệ học vị thạc sĩ về giáo dục vào ngày 10 tháng 6 năm 1969. Năm đó trường đại học nhận ông với cương vị trợ lý giám đốc về hành chính, đồng thời kiêm nhiệm công tác giảng dạy.
 
Lúc đầu ông làm việc cả ở phòng Giáo viên và phòng Hành chính của trường. Ông bắt đầu phối hợp và giảng dạy với chủ đề “Các vấn đề về người da đen ở Mỹ”. Cùng với thời gian, ông mở rộng chủ đề và có sự tham gia của một số nhân vật khác để hướng dẫn sinh viên và giới thiệu vấn đề ra công chúng. Các lớp thảo luận về vấn đề tham gia bỏ phiếu của người da đen, vấn đề vai trò của người da đen trong chính trị và nhiều chủ đề văn hoá khác nhau. John còn mời một số diễn giả và nhân vật ở cấp quốc gia về nói chuyện, trong đó có cả Howard Robinson – Giám đốc điều hành của Đại hội người da đen và mục sư Channing Phillips - người da đen đầu tiên được ứng cử trong chiến dịch bầu Tổng thống Hoa Kỳ. Một số hội thảo về văn hoá đại chúng của người da đen do John tổ chức cũng được thực hiện, trong đó có cả nội dung về các nét tính cách của Gordon Parks – Giám đốc và nhà sản xuất của bộ phim Shaft và hồ sơ lớn của Shaft, người dẫn dắt chương trình tranh luận “Người đàn ông da đen trong điện ảnh”.
 
Condi còn nhớ lại một diễn giả khác, đó là Fannie Lou Hamer - một thần tượng của phong trào quyền công dân cho phụ nữ, người đã đưa ra câu nói nổi tiến: Sự ốm đau, mệt mỏi không phải là kẻ ốm đau, mệt mỏi. Fannie Lou lần đầu tiên được đi bầu cử khi bà đã 44 tuổi. Những người tình nguyện đến từ Uỷ ban phối hợp phi bạo lực của sinh viên (SNCC) đã đến thành phố của bà ở Mississippi để cổ vũ cho người da đen đi bầu cử. Khi bà và một số người da đen khác đến phòng bầu cử để ghi tên thì họ bị bắt giam và một số còn bị hành hạ. Thậm chí bà còn bị đe doạ tính mạng sau khi trở về nhà. Fannie Lou đã báo cáo lên Uỷ ban phối hợp phi bạo lực của sinh viên và đi vòng quang đất nước để đăn đàn phát biểu giúp đỡ mọi người ghi danh. Bà chính là sáng lập viên Đảng Dân chủ tự do vùng Missisippi và cảnh báo sự chú ý của hàng triệu người Mỹ đến cuộc bầu cử ở các bang phía Nam thông qua chương trình truyền hình về đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ vào năm 1964.
 
“Tôi không bao giờ quên lần gặp Fannie Lou Hamer khi tôi còn là một cô bé”, Condi nhớ lại tại bài phát biểu với sinh viên tốt nghiệp trường Stanford năm 2002. “Bà không lập luận theo cách chúng tôi nghĩ, với sự so sánh về sức mạnh, thông điệp của bà thậm chí còn vang vọng đến hôm nay. Năm 1964, Fannie Lou từ chối nghe về việc họ sinh lớp 6 không thể và không được chia nhóm theo màu da, việc đưa ra thách thức kiểu này có thể tạo ra một cơ sở cho tệ phân biệt chủng tộc trong Đảng Dân chủ ở Mississippi”.
 
Năm 1974, sau 5 năm giảng dạy, John Rice được thăng chức từ hướng dẫn viên lên chức Phó giáo sư môn Lịch sử. Mặc dù chức vụ này không tạo nên khác biệt gì với cương vị Phó giáo sư, cũng như các phúc lợi bảo hiểm, ở mức lương cao hơn, hoặc có cơ hội thăng tiến cũng không tạo khả năng để John có đủ khả năng chu cấp cho gia đình. Ông nhận được lương cao cho cả chức vụ về hành chính và giảng dạy, điều đó cũng giúp ông có ảnh hưởng đến các chương trình nghiên cứu về da màu của nhà trường. Thời gian đầu, ông nói chuyện với mọi người ở trường về các vấn đề phân biệt chủng tộc ở phía Nam, dần dần ông chuyển trọng tâm đến các nhà tư vấn, giảng viên ở Birmingham để họ chuẩn bị điều kiện truyền thụ cho thế hệ mới những việc phải làm để nâng cao vị thế cộng đồng da màu ở phía Nam.
 
John Rice giữ cương vị về hành chính suốt 13 năm. Ngoài việc theo ngạch ông làm trợ lý giám đốc hành chính, ông đã trở thành phó giám thị của trường Trung học Nghệ thuật và Khoa học năm 1969, rồi sau đó trở thành giám thị chính vào năm 1973. Có một thời gian ông đã là trợ lý cho phó viện trưởng về công tác sinh viên, và vào năm 1974 trở thành phó viện trưởng về các nguồn lực đại học.
 
Khi làm Giám thị chính, John Rice đã giúp cho việc biến trường đại học thành trung tâm nghiên cứu về da màu. DU (University of Denver) ý thức được nhiều hơn đến các vấn đề nhỏ và có lẽ họ cố làm được nhiều điều hơn bất kỳ thời điểm nào trước đó, ông nói vậy vào năm 1972. “Tôi cảm thấy chúng tôi trên thực tế có một trái bóng đang lăn về trước để làm cho ngôi trường này trở thành một trong số ít các ngôi trường có cảm nhận thực tế về chủ nghĩa đa nguyên trong đời sống nước Mỹ”. Ông tuyên bố về việc bổ sung thêm các giảng viên da đen và cổ vũ cho sinh viên da đen tham gia nhiều hơn nữa vào các tổ chức của các trường đại học. Condi nhớ lại: “Tôi cảm thấy như một quả bóng tạo cho trường khả năng đóng góp trong việc tạo ra hình ảnh về chủ nghĩa đa nguyên”.
 
Để có nhiều điều kiện hơn cho công việc, John và Angelena đã tính đến việc di chuyển đến Denver nhằm tạo cơ hội tốt hơn cho con gái của họ.
 
Đối với một nữ sinh trung học như Condi, năm 1969, 1.300 dặm khoảng cách giữa Tuscaloosa và Denver cũng không có gì khác biệt lớn ngoài việc tăng thêm cự ly giữa hai địa điểm. Mặc dù sự thay đổi về thời tiết là lớn, từ khí hậu ẩm ướt, độ ẩm cao nhiệt đới ở Alabama đến khí hậu lạnh của Denver, nơi vào mùa đông tuyết đóng dày tới 60 inch. Nhà Rice mua một căn nhà ở khu Englewood, phía Nam thành phố Denver và Condi vào học trường St.Mary, một trường tư thục dòng Catholic, nơi rất khác biệt so với các trường mà cô đã học ở Alabama. Vào tuổi 13, lần đầu tiên cô được học ở trường chung (cho cả da trắng và da đen).
 
Trường St.Mary’s rất tự hào về trình độ học vấn và như một sinh viên năm thứ 2, Condi nhận được các kinh nghiệm từ các sinh viên lớn tuổi. Trường St.Mary’s được các chị em nhà Loretto sáng lập vào khoảng giữa những năm 1800 để giảng dạy cho các nữ sinh của các gia đình đi tìm vàng chuyển đến phía Tây. Khu vực này nằm trong vùng mà những người đến châu Mỹ đầu tiên tìm ra, họ đã quyết định phải cho con em đi học. Năm 1864, ba nữ tu sĩ trong số các chị em nhà Loretto đã đến Santa Fe và tìm được địa điểm để dựng trường. Họ xây hai toà nhà vào năm 1875 lứa học sinh đầu tiên của khu vực Mississippi đã ra trường, trong đó có cả quý cô Jessi Forshee. Kể từ đó các gia đình theo đạo Catholic hay vô thần đều gửi con gái của mình đến trường này để nhận được chất lượng giáo dục cao, đặc biệt là về nghệ thuật và ngoại ngữ, cũng như các môn học khác.
 
Trường St.Mary’s chỉ cách Đại học Denver vài dãy phố và đã trở thành truyền thống, họ lại tiếp tục theo học ở trường đại học. John đã nghe nói về một trường tư rất tốt ở gần trường đại học, và ông quyết định gửi Condi vào đó. Một giám thị của trường nói rằng: “Điều đó không phải họ tự nhận xét mà là do chính mọi người ở trường Đại học nói chúng tôi có truyền thống đưa các nữ sinh tốt nghiệp của trường đến trường đại học ở cùng thành phố”. Dù có theo đạo Thiên chúa hay không thì nhà trường luôn luôn đòi hỏi các nữ sinh sự chân thành và đức tin. Sự hoà đồng diễn ra rất chậm, một giảng viên của trường nhớ lại là vào những năm 1940 việc nhận một sinh viên gốc Phi là rất khó khăn… nhưng bây giờ, khi Condi đến học thì đã có khá đông sinh viên da đen.
 
Khi Condi nhật học ở trường St.Mary’s vào năm 1969, nhà trường vừa xây xong toà nhà mới cho học sinh trung học. Trong số 70 học sinh của lớp chỉ có ba nữ sinh người da đen. Trong những tuần đầu tiên vào học kết quả học tập của cô chưa đạt cao. Trong học kỳ thứ nhất, một cán bộ của nhà trường nói chuyện với cha mẹ Condi rằng các kết quả kiểm tra chất lượng chỉ ra rằng cô không đủ tiêu chuẩn. Condi rất choáng váng, nhưng cha mẹ cô đã động viên cô rất nhiều. Họ thuyết phục cô rằng bảng kết quả này là không chính xác, cô cần quên nó đi. Tất nhiên không dễ gì giải thích cho một cô bé về các tệ nạn. Nhưng Condi hứa với cha mẹ rằng cô sẽ làm tốt mọi việc ở thành phố Denver. Condi nhớ lại: “Tất cả những gì mà tôi nhớ là tập trung cho việc để tôi có thể được mặc bộ đồng phục lần đầu tiên”, “Tôi có lẽ đã rất thích thú khi đến Denver, nơi tôi có thể trượt băng quanh năm”.
 
Theo bà cô Connie Rice, mọi thứ còn đi xa hơn thế. Thực ra tâm trạng của Condi không có chỗ cho các tác động tiêu cực. “Một khi cô bước ra một thế giới rộng lớn hơn, và cô gặp phải một thông điệp về văn hoá… rằng cô không thể hay rằng trên thực tế cô là một kẻ ngu đần và cô không được phép làm mọi thứ, vào lúc đó đã là quá muộn, vì rằng cô là một cô bé 14 tuổi, cô tin rằng cô có thể làm mọi điều mà cô muốn”. Cả John và Angelena đều giáo dục cho con của mình tính tự lập, tự tin và tự trọng trước mọi vấn đề, chỉ sau một thời gian ngắn cô đã có nhiều tiến bộ. Sau này nhìn lại, có lần Condi ghi nhớ rằng lúc trẻ mà không có sự trợ giúp to lớn của cha mẹ thì cô không thể có được cái gì, cũng như sau khi cô đã phải đứng trong căn phòng của giám thi. Condi không bao giờ quên mình là một thành viên của dòng họ Rice và Ray. Cả ba thế hệ không thể bị quấy nhiễu bởi chỉ một giọng trái ngược. Vào một ngày mùa thu trong lễ khai giảng năm học mới, Condi đã trở thành một sinh viên học giỏi có hy vọng sẽ đạt danh hiệu cao nhất.
 
Sự phân tích của bà giám thị không được công khai cho giáo viên, ít nhất cũng không phương hại đến kỳ vọng của họ đối với một trong những sinh viên sáng giá nhất. “Cô rất tự tin và kiên nhẫn”, chị em nhà Pautler nhớ lại: “Một số đông các cô nữ sinh đi qua giai đoạn thử thách, do thiếu tự tin hoặc không có khả năng hiểu được hoàn cảnh của mình và gia đình. Nhưng Condi không có vướng víu gì, tự tin, và không bối rối với sự lớn lên hoặc về gia đình”.
 
Therese Saracino, một giáo viên của Condi mô tả môi trường của trường St.Mary với chất lượng rất thuyết phục các bậc phụ huynh, những người đang cố tìm cho con cái mình một môi trường học tập tốt trong cái hỗn loạn của những năm 1960. Chị em nhà Loretto là những nhà giáo mẫu mực, họ là những nữ sáng lập viên đầu tiên của nhà trường ở Mỹ, và từ những ngày đầu, công việc của họ là giáo dục các nữ sinh dòng Catholic. Tất cả các trường Catholic đều là môi trường tốt cho học tập và kỷ luật. Đa số các bậc phụ huynh đều cho rằng đó là nơi an toàn trong các vụ bắt bớ và tránh tệ nạn hút sách của những năm 1960.
 
Theresa nhớ lại rằng sự ân cần của Condi tạo được sự yêu quý của mọi người ở trường. “Tôi là cô giáo về toán của Condi, nhưng tôi hiểu rằng ý thích của cô bao giờ cũng xa hơn các bạn cùng học về môn tiếng Anh, xã hội học, lịch sử. Cô là một nữ sinh xinh đẹp, dễ mến, tôi không nghi ngờ rằng rồi cô sẽ trở thành một phụ nữ thành đạt”. “Bất kỳ ai trong chúng tôi đang nuôi dạy trẻ đều biết rằng chất lượng bao giờ cũng hiện hữu. Thoạt nhìn cô rất xinh đẹp, thiện chí và rất thân tình, rất ấn tượng, điều ít gặp ở các cô gái 16, 17 tuổi. Tôi không thể tin có bất kỳ cách biệt nào ngăn cản tiếp xúc với cô, rằng cô không phải là một quý bà. Cô biết là cô cần gì và sẵn sàng hy sinh vì cái đó”.
 
Condi tiếp tục phương châm làm việc của mình, đó là phải làm “tốt gấp đôi” để có thể có được cơ hội mới ở Denver, trước hết phải nói về thể thao. Ngoài việc tiếp tục tập luyện piano, cô còn tham gia tập tennis và trượt băng, cả hai môn này cô đều tham gia thi đấu. Thời gian biểu trong ngày của cô bắt đầu từ lúc 4h30 sáng để tập chạy, đi bộ và tập trượt băng.
 
Trong suốt các giờ tập trên băng, đàn piano vẫn là hoạt động trung tâm. Cô luyện tập đến chiều tối ở trường và luyện tập ở phòng luyện tập của trường đại học, nhưng cha mẹ cô không muốn cô về quá muộn. Họ tìm ra giải pháp là vay một khoản tiền để mua một chiếc đàn cũ hiệu Steinway, như vậy cô có thể luyện tập ở nhà muộn bao nhiêu cũng được. Một người bạn của Condi – Deborah Carson kể lại: “Tôi nhớ Condi kể lại một năm sau đó với vẻ mặt rất xúc động rằng cha mẹ cô đã phải bỏ ra 13.000 đôla để mua cây đàn”. Condi hiểu rằng cha mẹ phải đầu tư một khoản tiền lớn để mua đàn, mỗi khi tập luyện nhìn cây đàn lại nhắc nhở Condi về quyết tâm đầu tư cho sự nghiệp âm nhạc của cô mà cha mẹ cô đã không tiếc công sức.
 
Condi đã học năm cuối và cha mẹ biết rằng cô không được để phí thời gian, cần phải sớm rời trường để chuẩn bị bắt đầu lấy bằng cử nhân ở Đại học Denver. Nhưng ý tưởng về sớm rời trường trung học không làm Condi vui. Cô không thể vượt qua được ý nghĩ là sẽ không lấy bằng của trường trung học, và cô muốn kết thúc khoá học. “Đây là lần đầu tiên tôi không đồng ý với ý định của cha mẹ”, Condi kể lại. “Tôi có cảm tưởng rằng ông bà ủng hộ việc kết thúc trường trung học là có yếu tố xã hội”. Vì vậy, gia đình nhà Rice đành chọn giải pháp trung hoà: Condi có thể bắt đầu học ngoài giờ ở trường đại học và tiếp tục kết thúc khoá học cuối ở trường trung học St.Mary’s. Như vậy, thời gian biểu của cô từ nay dày đặc, từ trước khi mặt trời mọc cô đã dậy để đi tập trượt băng, sau đó là học buổi sáng ở trường đại học và sau đó là các tiết học chiều ở trường St.Mary’s.
 
Condi không cần quá lâu để cảm thấy cô đã trải qua những năm tháng tươi đẹp ở trường trung học và rằng việc trở lại kết thúc trường St.Mary’s thiên về bị ép buộc hơn là một sự cần thiết. Cô phải ở lại trường cả ngày và phải tham gia vào các hoạt động với các bà cô đang chán, nhưng cô vẫn giữ kế hoạch bằng mọi cách. Cô đã khiến mọi người đều quay theo khi cô đi vào trường St.Mary’s trong một vũ điệu vals, trong vòng tay của một đồng nghiệp là cầu thủ chơi hockey trên băng. Dáng vẻ của cô có cái gì đó như trò câu cá của lũ trẻ ở trường. “Một hướng dẫn viên kém cỏi”, cô nói, “Anh ta chiếm vị trí rất xoàng”.
 
Việc tham gia học cùng lúc ở cả trường đại học và trường trung học gần như tạo cho cô cơ hội tham gia nhiều hoạt động âm nhạc ở tuổi 15. Cô đã tham gia biểu diễn thi đấu và giành giải thưởng với phần trình diễn bản concerto trên gam Rê thứ trên đàn piano cùng dàn nhạc giao hưởng Denver.
 
Condi nhận bằng của trường St.Mary’s lúc 16 tuổi, đồng thời cũng được công nhận là nhạc công piano chính của dàn nhạc trường Âm nhạc Lamont của Đại học Denver. Sau khi kết thúc học ở trường St.Mary’s, cô có thể vào nhiều trường đại học, sự lựa chọn đầu tiên của cô là trường Juilliard, nhưng cha mẹ cô không muốn cô giới hạn khả năng của mình chỉ trong một trường âm nhạc. Để tạo cho cô phát huy hết khả năng của mình cô cần phải học thêm các môn khác ở trường đại học. Condi nhớ lại: “Cha tôi rất không đồng ý cho tôi theo học chuyên về âm nhạc”. Việc này không được nhắc lại nữa, vì sau khi kết thúc hai học kỳ ở trường Đại học Denver cô cảm thấy thích thù và quyết định ở lại để bắt đầu khoá học cử nhân. “Lúc đầu tôi chỉ định học ở đó một năm, rồi sẽ chuyển đi. Nhưng tôi đã ở lại vì tôi phát hiện ra rằng Đại học Denver đủ nhỏ để người ta kiểm soát trước cái gì sẽ xảy ra với mình, nhưng không phải là quá nhỏ để mở rộng tầm nghiên cứu học tập”. Cô cho rằng trường này đã tạo cơ hội cho tất cả sinh viên, không kể màu da và giới tính. Tuy nhiên cô bổ sung là nếu bạn là người da màu, lại là phụ nữ thì bạn phải cố gắng làm tốt gấp đôi. Cô cảm thấy được coi trọng, có ý nghĩa và có thời cơ như một tay chơi piano ở trường, và giấc mơ về trường Juilliard không được nhắc đến nữa.
 
Thành tích học tập tốt của Condi ở trường trung học rất có ý nghĩa khi cô bắt đầu học ở trường đại học. Cô được giải thưởng và giành được học bổng, điều này lặp lại từng năm.
 
Trường đại học đối với Condi không phải là ốc đảo (nơi nghỉ dưỡng), có một lần trong năm thứ nhất cô đã tham dự một bài giảng, nơi có khoảng 250 sinh viên nghe một giáo sư giảng về quyền lực của người da trắng. Chủ đề này do William Shockley đưa ra, ông cho rằng sự tiến triển nhân chủng đang chững lại vì nhiều người da đen có chỉ số IQ thấp lại có tỷ lệ tăng trưởng nhanh hơn người da trắng. Lý thuyết này của Shockley gây sự chú ý của dư luận vào cuối những năm 1960, thậm chí đa số các nhà khoa học, bạn bè của ông không tin vào điều này. Sự chú ý của dư luận về lý thuyết này của ông tạo được sự quan tâm như đối với một nhà khoa học được giải Nobel về việc phát hiện ra bóng bán dẫn hay như thời tin học. Condi bước vào trường đại học đúng vào lúc lý thuyết của Shockley đang ồn ào, gây tranh cãi trong cả nước.
 
Shockley tin rằng nghệ thuật, văn học, công nghệ, tất cả là đặc trưng riêng của nền văn minh phương Tây, đều là sản phẩm của trí tuệ của người da trắng. Điều gì đã diễn ra trong tư tưởng của Condi khi một giáo sư đã mô tả lý thuyết của Shockley về người da đen như “khuyết tật bẩm sinh”, “sự hạn chế bản năng”, thay vì lảng tránh trên ghế, Condi đã đứng dậy để tự bảo vệ, cô khẳng khái nói: “Tôi là người duy nhất nói được tiếng Pháp”, cô nói thẳng với vị giáo sư, “Tôi là người duy nhất chơi được nhạc Beethoven. Về văn hoá tôi giỏi hơn ông, nếu ông không tin ôn có thể thử nghiệm”.
 
Cô nữ sinh 15 tuổi Condoleezza Rice không chỉ cho rằng lý thuyết của Shockley là sai lầm mà cô còn công khai phát biểu điều đó trước mặt các sinh viên và giảng viên. Cô không nhớ lúc đó phản ứng của vị giáo sư thế nào, nhưng khi cô nói xong điều đó và rời khỏi lớp học, cô đã hiểu cha mẹ cô quả là có tầm nhìn xa. Rice thừa nhận rằng người da trắng chỉ chờ đợi ở người da đen các phẩm chất trí tuệ và phương pháp tư duy trừu tượng sẽ đạt trên mức trung bình. Cha mẹ của Condi đã đặt ra mục tiêu từ khi cô ra đời là làm cho cô tin rằng cô có thể tự đứng vững trong mọi tình huống. “Đó chính là ý tưởng của cha mẹ tôi”, Condi nói vậy, “Con cần phải hiểu hiết tốt hơn về văn hoá so với họ. Sự thừa nhận rằng anh luôn đi theo hướng phải điều chỉnh khắc nghiệt hơn. Họ làm rõ rằng tôi chưa bao giờ tìm được cái mình muốn”.
 
Dưới ảnh hưởng của các bài giảng mới, Condi tiếp tục phương châm “Phải làm tốt bằng hai” để đạt được kết quả tốt trong khoá học. Đồng thời cô tiếp tục tập luyện trượt băng 4 giờ trong một ngày vào buổi sáng và luyện tập đàn piano vào mỗi tối. Cô đa thừa nhận rằng cô chưa đủ tài năng khi phải nghiên cứu. “Sự thật là tôi rất chần chừ”, cô nói, “Vì đã nhiều lần tôi chưa chuẩn bị được tốt”. Sau này khi đã trở thành giảng viên, cô thường khuyên các sinh viên của mình đừng học tập theo cô với một lịch làm việc dày đặc như vậy. Cô nói với sinh viên của mình là thế nào cô đã đuổi kịp một người bạn học ở trường Đại học Denver, và làm thế nào để cô vượt qua sức ỳ. Cô kể lại: “Tôi đọc đến phút cuối trả bài thi và ngay lập tức quên hết mọi thứ, 15 năm sau tôi đến Nhật Bản, dạo bước quanh các ngôi đền và nghĩ: Tôi đã từng đọc ở đâu đó về chúng, tôi mong có thể nhớ được đó là cái gì”.
 
Mục tiêu lâu dài của cô để trở thành một tay chơi piano chuyên nghiệp đã giúp cô tập trung nhiều tinh lực. Tuy nhiên, trong thời gian học tập ở trường đại học, khoảng giữa năm đầu và năm thứ hai, mục tiêu từ lâu ấy của cô bỗng nhiên bị phá sản. Mùa hè năm đó cô ghi tên tham gia một festival âm nhạc nổi tiếng, và tại đó cô gặp phải cuộc đua tranh mà trước đó cô chưa hề gặp. Cô nhớ lại: “Tôi gặp một cô gái 11 tuổi, người có thể chơi rất tốt mà muốn bằng được thì tôi phải cố gắng cả đời, và lúc ấy tôi hiểu rằng chắc tôi chỉ có thể chơi được ở các quán bar hoặc ở Nordstrom chứ không chơi được ở đại sảnh Carnegie”. Nếu trong sự nghiệp của mình mà không thể xuất hiện cùng dàn nhạc giao hưởng để chơi nhạc Mozart và Beethoven ở tầm cỡ thế giới thì cô không thể theo đuổi sự nghiệp này được. Sự thay đổi này chỉ thoáng qua trong lòng một lần, nhưng nó ám ảnh Condi rất lâu.
 
Darcy Taylor, một người bạn cùng học piano với Condi ở Nhạc viện Lamont, nhận xét: “Condi là một tài năng, nhưng cô tự cho mình không phải như thế. Tất cả chúng tôi đều khá, tuy nhiên có một số thực sự xuất sắc, chỉ có một số ít người coi làm thành viên dàn nhạc giao hưởng là một nghề. Chúng tôi hiểu rằng cuối cùng sẽ chỉ làm một thành viên của dàn nhạc, hoặc làm giáo viên âm nhạc và chúng tôi phải chấp nhận rằng không phải bao giờ cũng chơi đủ tốt để có thể được biểu diễn trong các buổi hoà nhạc lớn. Cũng như Condi, tôi không muốn mình trở thành công dân hạng hai”.
 
Darcy và Condi đôi khi trao đổi với nhau về chế độ tập luyện mệt nhạc mà bạc bẽo của nghề nhạc công. Họ không tìm được gĩ rõ ràng, hết vòng này đến vòng khác trong các cuộc thi trước mặt các giáo sư. “Chúng ta tham gia một loạt các cuộc kiểm tra trong một năm và có rất nhiều buổi biểu diễn lớn trong một năm”, Darcy nói vậy. Darcy nói thêm: “Tất cả chúng tôi đều phải tập nhạc của Beethoven, Bach và Chopin. Condi đặc biệt thích nhạc Chopin và đàm đạo rất nhiều về đề tài cuộc sống của các nhạc công. Chúng tôi nói chuyện nhiều về đề tài này. Bạn cần phải tập luyện chăm chỉ và sau đó, trong cuộc thi hoặc biểu diễn, các giáo sư có thể đưa ra nhận xét, thậm chí dừng buổi biểu diễn của cô ở giữa chừng. Họ nói với chúng tôi về những gì diễn ra trên thế giới và khuyên phải là gì, tôi không thích như vậy và Condi cũng nghĩ giống tôi”.
 
Condi đã quyết định không tiếp tục học tập để trở thành một giảng viên giảng dạy piano, như cô đã từng mong muốn. Cô nói rằng: “Tôi đã quyết định phải làm một cía gì hơn như thế”. Sự thay đổi này đối với cô quả thật là nặng nề vì nó đi ngược lại những gì cô đã tin tưởng trước đó. Nhiều bạn trẻ đã không thực hiện được giấc mơ nghệ thuật của mình, như một vũ nữ balê chẳng hạn, sau một thời gian dài tập luyện cô ta bị nhận xét là không thích hợp, nhưng Condi không đi theo con đường này. Cô tự đánh giá mình: “Là một cô bé tốt nhưng không phải là xuất sắc”. Say này cô giải thích: Tôi có thể chơi được mọi thể loại nhạc, nhưng không chơi được như các tay piano nổi tiếng.
 
Ở giữa chặng đường của mình Condi đã phải thú nhận với cha mẹ về các thay đổi. Tôi đến gần cha mẹ, những người luôn muốn tôi trở thành một tay chơi piano chuyên nghiệp và nói: “Cha mẹ, con quyết định thay đổi mục tiêu”. Cô không thể nói cụ thể với họ, chỉ biết rằng cô không muốn chỉ là một tay chơi piano. Cả ba đa thoả thuận với nhau: thừa nhận mơ ước về một nghề mới của Condi. Nhưng cô phải hoàn thành chương trình cử nhân 4 năm của mình. Cô đã chọn chủ đề văn học Anh và nhà nước, lúc đó đang rất thịnh hành. Cô đã rút tên khỏi các giờ giảng Văn học Anh vì nó dường như quá chú trọng vào một trào lưu, theo cách dùng từ của cô “quá bó hẹp”, và không đủ chính xác. Trên thực tế, cô không thích nó vì nó không làm người ta có cảm giác ngạc nhiên được khám phá, đặc biệt đối với những người trước đó đã đọc sách dưới ánh đèn của một máy đọc nhanh.
 
Môn học nhà nước cũng là chủ đề mong muốn. Các giai tầng ở địa phương và nền hành chính quốc gia, việc bầu cử, các đảng phái chính trị và cơ cấu của nhà nước không xuất hiện sự so sánh hoặc nhu cầu đủ để kích thích sự tò mò của cô. Nhưng khi học kỳ mùa xuân bắt đầu cô đã bước vào lớp, và thời khắc đó đã thay đổi tất cả. Môn học lúc ấy là “Nhập môn Chính trị quốc tế”, chủ đề của bài giảng hôm đó là “Đại nguyên soái Stalin”, giảng viên là ông Josef Korbel - cựu nhân viên ngoại giao Trung Âu, là cha của nữ Ngoại trưởng Madeleine Albright.
 
Cô nói: “Tôi nhớ những suy nghĩ của mình: Nước Nga chính là địa danh mà tôi luôn muốn tìm hiểu. Tôi không giải thích được điểu đó, nhưng quả thật đó là niềm say mê”. Thách thức và sự bí ẩn của chủ nghĩa Xô Viết thực sự là thách thức mà Condi hằng chờ đợi. Đó chính là một phần của mơ ước. Đó là một phần đặc biệt ở Học viện để buộc phải tuân theo, đòi hỏi tính kỷ luật trường học và một thái độ đối với môn ngoại ngữ. Điều đó về tổng thể là một miền đất mới tạo ra cảm giác giống nhau một cách ngẫu nhiên, và nó tạo ra một sự say mê mà cô chưa bao giờ có được ngoài môn âm nhạc. Sự đam mê này quay trở lại với Condi vào năm 1968, khi cô được nghe nói về cuộc hành quân của Hồng quân vào đất nước Tiệp Khắc. Điều đó tác động mạnh đến cô. “Tôi có thể đã có cảm xúc rất mạnh và dường như không tin rằng một con người dũng cảm có thể bị chinh phục”, cô nói.
 
Tiến sĩ Korbel cũng ngạc nhiên về trí thông minh và sự tiến bộ nhanh của Condi. Ông khuyến khích ô chọn chủ đề Quan hệ quốc tế. Condi nhớ lại cô rất thích các bài giảng của ông, cô rất quý ông. Ngay sau đó, Condi đã tập trung sự chú ý của mình vào đề tài Xô Viết, các chính sách Xô Viết và nói chung tất cả những gì thuộc về Xô Viết.
 
Chỉ qua những bài giảng mở đầu, Condi hiểu rằng mình đã tìm được đúng con đường của mình. Cha mẹ của cô rất bất ngờ về sự lựa chọn của cô, nhưng họ ủng hộ điều đó – Cha của Condi nhận xét: “Condi là một người biết rất rõ những gì mình làm và sẽ có quyết định đúng đắn”. “Nhưng khoa học chính trị là gì? Người da đen có nên quan tâm đến chính trị không?”.
 
Một người cùng học với Condi ở môn piano – Darcy - lại sớm đi vào kinh doanh, năm 19 tuổi cô đã bắt đầu xây dựng công ty thiết kế riêng của mình ở Denver. Ngày nay công việc kinh doanh của Darcy rất thành đạt và cô tin rằng cô và Condi đã chọn cho mình một con đường đúng đắn để phát huy hết năng lực của mình. Darcy quả quyết: “Việc thiết kế là một cách để sáng tạo và đó là món quà đáng giá tôi vẫn thường nhận được trong âm nhạc”. Darcy nói: “Condi khi lựa chọn chủ đề về chính sách đối ngoại cũng cần phải sử dụng trí tuệ sáng tạo như một nghệ sĩ và các quyết định của cô chắc chắn là rất sáng tạo”. Darcy rất biết ơn cha của Condi vì ông đã khuyên bảo và giúp cô giành được học bổng khi bước vào trường đại học. “John Rice rất bằng hữu và rất hướng ngoại nhưng đồng thời đòi hỏi rất nghiêm khắc”, cô nhớ lại, “Nếu ông ta bước đến và chìa tay giúp bạn, ông muốn khẳng định rằng bạn thực sự cần điều đó, lao động hăng say vì nó và không lấy đi điều đó của ai, những người đang cần điều đó, nếu bạn đến trường và cố làm mình nổi trội lên thì sẽ rất thú vị nếu có ai đó sẵn sàng hiểu và giúp bạn đạt được điều đó. Ông là một người đàn ông thông minh”.
 
Condi ghi tên dự nghe giảng các môn học về khoa học chính trị và tiếng Nga, nhưng cô vẫn tiếp tục các bài học âm nhạc. Mặc dù cô không tiếp tục sự nghiệp âm nhạc nhưng cô vẫn giữ được niềm say mê đối với các nhạc cụ. “Tôi tìm thấy sự say mê khi nghiên cứu về nước Nga, nhưng trên thực tế tôi vẫn tiếp tục say mê những gì thuộc về âm nhạc một thời gian dài”. Quan điểm này của Condi đưa cô vào danh sách một nhóm các quan chức, các chính khách, những người bắt đầu sự nghiệp của mình bằng âm nhạc. Edward Heath - Thủ tướng Vương quốc Anh thời kỳ 1970-1974 là một tay chơi đàn organ từ khi ông còn là sinh viên ở trường Oxford, sau này khi đã thôi hoạt động chính trị, ông dành nhiều thời gian tham gia các dàn nhạc đi biểu diễn khắp châu Âu. Alan Greenspan - Chủ tịch Federal Reserve cũng đã bắt đầu với vai trò một tay chơi bộ gõ ở trường Juilliard. Ông đã từng chơi kèn clairinet và saxophone và tham gia ban nhạc Jazz trước khi đến trường Đại học New York để học về kinh tế. Năm 2001, Condi nói: “Tôi không hối hận đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc”. “Điều lớn nhất trong âm nhạc đó là anh có thể yêu nó suốt cả cuộc đời”.
 
Condi luôn nhắc lại rằng chính Josef Korbel là nguyên nhân thúc đẩy cô lựa chọn chủ đề về quan hệ quốc tế. Chính các kinh nghiệm của ông trước, trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem lại cho ông sự hấp dẫn đối với các sinh viên trẻ khi học cần tìm hiểu về các quan hệ quốc tế. Ông là đại diện cho thế hệ đã từng trải. Một người bạn cũ của gia đình kể lại: “Korbel không phải là một nghệ sĩ nhưng ông biết cách hấp dẫn các nghệ sĩ đến với mình”. Một sinh viên nhưn Condi đa tài, một nghệ sĩ theo trường phái cổ điển, có trí tuệ đặc biệt, sự tự tin, đúng là mẫu sinh viên mà ông quý trọng. Korbel nhanh chóng lựa chọn Condi như một sinh viên đặc biệt để bồi dưỡng.
 
Josef Korbel sinh tại Czecho Slovakia năm 1909 và học tại Paris trước khi lấy bằng về luật tại trường Đại học Charles ở Prague. Chức vụ đầu tiên trong chính phủ Tiệp Khắc của ông là ở Bộ Ngoại giao, năm 1937 ông được bổ nhiệm là tuỳ viên báo chí của sứ quan Tiệp Khắc tại Belgrade (Nam Tư). Ông đã học tiếng Secbi và có tình bạn tốt với giới báo chí Nam Tư. Các mối quan hệ này giúp đỡ ông và gia đình rất nhiều sau này, khi Hitler tiến vào Tiệp Khắc. Các đội quân Hitler tiến vào Prague tháng 3-1939 và Korbel, một người Do Thái đã bị đưa vào danh sách cần bắt giữ. Cũng như nhiều gia đình Do Thái khác ở Tiệp Khắc, Korbel đã thay đổi giấy tờ. Bất cứ lúc nào mà Josef được yêu cầu chọn ra các tài liệu bào chữa cho đức tin của ông, ông đều viết “không”, Korbel là một trong số ít, rất ít người Do Thái gặt hái được thành công của Bộ Ngoại giao trước chiến tranh”, một trong những người bạn Czech của ông đã viết như vậy trong tiểu sử của Madeleine Albright. Trước đó khoảng một tuần, Korbel đã chuẩn bị một kế hoạch bỏ trốn sang Nam Tư, nhớ sự giúp đỡ của hai nhà báo Nam Tư, họ che dấu ông như một phóng viên ngoại quốc. Ông đã kịp xin được visa cho mình và gia đình, kể cả cô con gái mới 2 tuổi – Medeleine. Họ ở lại Belgrade một vài tuần, sau đó dời đến London, nơi đóng bản doanh của Ban lãnh đạo chính phủ lưu vong của Tiệp Khắc.
 
Korbel được cử làm thư ký riêng của Bộ trưởng Ngoại giao Tiệp Khắc – Jan Masaryk, sau đó trở thành Giám đốc Đài phát thanh Tiệp Khắc. Trong thời gian gia đình lưu lại ở London, cuộc oanh kích chớp nhoáng của Hitler đã nghiền nát khu vực mà họ đã sống, hơn 20 người thuộc gia đình gần gũi của ông đã bị Hitler giết hại tại Holocaust. Ba ông bà của Madeleine, hai bà cô, một ông chú, bà dì đầu và 19 người khác đã bị giết hại tại trại tập trung Auschwitz hoặc Terezin ở Tiệp Khắc.
 
Sau chiến tranh, Korbel trở về Prague và tiếp tục làm việc cho chính phủ Tiệp Khắc. Lúc đó Madeleine đã 8 tuổi, gia đình họ sống trong một căn hộ gần dinh Tổng thống. Korbel là một thành viên trong phái đoàn đàm phán của Tiệp Khắc tại Hội nghị Hoà bình ở Paris năm 1946, nơi người ta cố gắng thiết lập một trật tự thế giới mới. Ở tuổi 36, ông được bổ nhiệm là đại sứ tại Nam Tư và như vậy Madeleine đã lớn lên trong khuôn viên đại sứ Tiệp Khắc tại Nam Tư. Năm cô 10 tuổi, ông Korbel gửi cô theo học ở một trường tư thục tại Thụy Sĩ. Năm 1948, sau khi chính quyền Cộng sản nắm quyền ở Tiệp Khắc, gia đình Madeleine đã di cư sang Mỹ. Trước khi dời Prague, Korbel được Liên hợp quốc chỉ định là Trưởng nhóm công tác của Liên hợp quốc tại Ấn Độ và Pakistan, ông bắt đầu làm việc ở trụ sở Liên hợp quốc. Năm 1949, ông thôi làm việc ở Liên hợp quốc.
 
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, rất nhiều chương trình định hướng về nền chính trị thế giới đã được giảng dạy ở các trường học Mỹ. Trong đó nghiên cứu về chủ nghĩa Xô Viết và phe xã hội chủ nghĩa là một chủ đề đặc biệt. Các trường đại học tìm kiếm các chuyên gia trong lĩnh vực này trong số các công dân châu Âu di cư tới Mỹ, và Korbel đã được trường Đại học Denver lựa chọn. Sau khi dơi Liên hợp quốc, Korbel làm giảng viên ở một trường đại học về quan hệ quốc tế. Năm 1959, ông trở thành giám thị của sinh viên Khoa Quốc tế và đồng thời là Giám đốc Quỹ khoa học xã hội. Trong cả đời giáo viên, ông luôn là người tập trung, dễ gần và rất thông minh. Ông đáp ứng được yêu cầu của một giảng viên giỏi tầm cỡ quốc tế và được mời giảng ở Đại học Oxford, Harvard, Columbia, MIT và các trường khác. Ông đã xuất bản 6 cuốn sách và các bài báo về đề tài Đông Âu và Chiến tranh lạnh.
 
Korbel là người đàn ông quan trọng thứ hai trong cuộc đời Condi sau cha cô là John. John Rice là người đã định hướng từ rất sớm cho Condi về các đề tài chính trị quốc tế, dành rất nhiều thời gian để tranh luận với Condi về các tin thời sự. Condi mô tả Josef Korbel như là “người cha tinh thần” của mình. Cô chia sẻ điểu đó với Madeleine Albright, người cũng như Condi được ông Korbel đặc biệt quan tâm. “Sẽ không là quá nếu nói rằng Madeleine là trung tâm và mơ ước của gia đình ông Korbel”. Dobbs viết như vậy về gia đình Albright. “Cô là người chị cả và là người con sáng giá nhất trong gia đình”. Bản thần Madeleine kể về cha mình như một người “rất đáng yêu” và sẵn sang giúp đỡ mọi người.
 
Một công việc quan trọng trong bước đường đi vào khoa học chính trị với đề tài Xô Viết là việc Condi phải học tiếng Nga. Đây là một ngông ngữ rất khó, nhiều người gọi tiếng Nga là “ngôn ngữ 10 năm” vì có lẽ phải cần đến 10 năm để nắm vững thứ ngôn ngữ có chữ cái hệ Kirin và ngữ pháp rất phức tạp này và đó quả là một thách thức đối với sinh viên. Tuy nhiên, đối với Condi, người đã học qua tiếng Pháp, Tây Ban Nha và tiếng Đức từ bé thì cô đã nhanh chóng nắm được thứ tiếng Nga rất khó này. “Điều đó giúp có thêm một ngoại ngữ khác trong hành trang của bạn”, Jason Galie, một giáo viên tiếng Nga và tiến sĩ ở Đại học Columbia nói vậy, “vì anh sử dụng nhiều về ngữ pháp trong giai đoạn khởi đầu, nên nếu anh không nhớ được ngữ pháp của tiếng Anh, thì sẽ rất khó khăn”. Tiếng Nga là một thứ tiếng khó hơn các ngôn ngữ hệ Latinh khác, trước hết đó là khó khăn khi viết chữ cái tiếng Nga thay vì chữ cái tiếng Anh mà bạn đã học từ bé. Còn cái khó hơn là quy luật đổi đuôi theo các cách của từ tiếng Nga tùy thuộc theo ý nghĩa và giới từ. Đó là điều rất khó với nhiều sinh viên.
 
Ngày qua ngày, Condi chăm chỉ học tập để nắm chắc thứ ngôn ngữ sẽ giúp cô nắm được chìa khoá đề đến được vùng đất mà cô đã xác định mục đích cho công việc của mình. Hai năm trước khi tốt nghiệp, cô không đù thời gian để dự được hết các bài giảng nhưng cô hài lòng với các kết quả học tập và nâng cao kiến thức của mình.
 
Khi cả nhà Rice chuyển đến Denver, John đã trở thành mục sư của nhà thờ Montview và Condi đã sử dụng thời gian buổi chiều thứ năm hàng tuần để tập luyện ở dàn nhạc bán chuyên nghiệp của nhà thờ. Nhà thờ Montview đóng một vai trò quan trọng trong công việc củng cố mối quan hệ hoà hợp ở khu công viên Park Hill của Denver vào những năm 1960. Công viên Park Hill rung động trong thời kỳ phong trào quyền công dân và là nơi diễn ra các hành động của phong trào tương tự như ở công viên Hyde Park ở Chicago. Nhà thờ Montview nhóm họp với nhà thờ Thiên chúa giáo và các tổ chức tích cực ở công viên Park Hill để lập ra ban cán sự Parkview. Tổ chức này rất thành công với các nhóm người da trắng từ các vùng lân cận khi các gia đình da đen bắt đầu chuyển đến. Các thành viên của nhà thờ tập hợp lại và nói: “Chúng tôi không muốn để điều xảy ra lại đến với cộng đồng chúng tôi”, Russ Wehner nói, ông là một thành viên lâu năm của nhà thờ Montview Presbyterian và ông rất biết về nhà Rice, “và chúng tôi cùng sát cánh xây dựng về kinh tế, xã hội và một cộng đồng đoàn kết”. Theo như lịch sử của nhà thờ, cuốn Spirit of Montview, 1902-2002: Các thành viên nhà thờ được yêu cầu ký vào một từ cam kết không phân biệt đối xử khi mua hoặc bán một tài sản nào đó. Montview kết hợp với các nhà thờ khác…, trong công việc làm cho khu Park Hill trở thành cộng đồng hỗn hợp đầu tiên của Denver, thậm chí là đầu tiên của Hoa Kỳ.
 
Vào những năm 1960, mục sư trưởng của Montview – Arthur Millẻ mời các nhà hoạt động da đen đến để thảo luận ở nhà thờ trước mỗi đợt hành động. “Ông ta mời mục sư Martin Luther King, Jr. đến để diễn thuyết ở nhà thờ trong thời kỳ diễn ra phong trào đấu tranh vì quyền công dân. Và đó là điều khích lệ rất lớn vì nó diễn ra trước khi được thừa nhận”, Wehner kể lại. Năm 1969, Montview mời Duke Ellington đến để khai trương hoạt động của nhà thờ, bao gồm cả dàn nhạc của nhà thờ và các thành viên của dàn nhạc giao hưởng thành phố Denver. Đó quả là một sự kiện đáng nhớ của nhà thờ và cộng đồng dân cư nơi đây.
 
Là một trong bốn mục sư của nhà thờ, John Rice giảng đạo mỗi tháng một lần. Ông đã làm việc như một cố vấn và điều hành một chương trình giáo dục dành cho người lớn – Nghiên cứu số 49 – Nhóm nghiên cứu chọn tên này từ tên vị thánh Colorado Rush và cũng phân chia lịch sử cho 49 phút cuối. “Dưới sự hướng dẫn của Rice, hội thảo thứ 49 hiện đại nổi tiếng đã phát triển”, một nhà viết lịch sử nhà thờ nói vậy. Đa số các công việc của John ở nhà thờ liên quan đến nghĩa vụ của một mục sư như là đi thăm người ốm ở bệnh viện, vòn vai trò của ông như một giám thị ở trường đại học cũng đòi hỏi rất nhiều thời gian. John có uy tín rất lớn trong cộng đồng. Wehner nhắc lại rằng mục sư Rice là một nhân vật được kỳ vọng cao. “Anh ta đem đến cho nhà thờ nhiều công việc có ý nghĩa vì quan hệ của ông với trường đại học và vì ông ta là một người Mỹ gốc Phi rất được kính trọng”, ông ta nhớ lại.
 
Ngay khi làm việc với các sinh viên của mình ở trường đại học, John đã giúp đỡ các giáo dân nhà thờ Montview để tìm kiếm các yếu tố tạo ra triển vọng mới cho họ. “Khi John đến làm việc với các nhóm giáo dân, chúng tôi đã tổ chức lại thành các nhóm hỗn hợp của nhà thờ”. Richard Hutchison – mục sư của nhà thờ nhắc lại như vậy. “Anh ta rất sẵn sang giúp đỡ và tạo cho chúng tôi mọi điều kiện trong cuộc họp. Chúng tôi đã nói chuyện về cách làm thế nào lôi cuốn nhiều hơn người da đen, rồi anh ta nói: ‘Vâng, hãy làm mọi thứ mà anh đã đồng ý với nguyên tắc hỗn hợp’. Chúng tôi trả lời rằng: Tất nhiên chúng tôi sẽ làm. Rồi anh ta hỏi: nhà thờ dành cho người da đen gần nhất ở đâu? Chúng tôi nói với anh ta có  một nhà thờ ở cách vài dặm. Rồi anh ta hỏi: Tại sao các bạn không đến dự lễ ở đó? Chúng tôi trả lời rằng chúng tôi tin ở nguyên tắc hỗn hợp, nhưng chúng tôi đặt gánh nặng của công việc lên vai người da đen”. “Ông ta rất hay giúp đỡ và đem lại cho chúng tôi mọi câu trả lời trong cuộc họp. Ông còn khuyến khích mọi người đi lễ nhà thờ. Ông rất đáng quý, dễ mến và an toàn, ông không bao giờ tỏ ra né tránh và giẫn dữ. Condi học được nhiều điều từ cha của mình”.
 
Condi rất hay tham gia ban nhạc. Ban nhạc của nhà thờ Montview thường chơi các bản nhạc cổ điển. Họ thường hát đồng ca và đó là ban nhạc tốt nhất ở thành phố. “Cô có giọng hát rất đẹp”, một người bạn đánh giá như vậy về giọng hát của Condi, “Đồng thời Condi lại chơi piano cho dàn nhạc nhà thờ, vì vậy chúng tôi cứ nghĩ cô ta sẽ đi theo con đường âm nhạc. Tôi nhớ cô ta là người rất cởi mở, cô ta quả là một tài năng và là một phụ nữ rất đáng yêu”. Các buổi biểu diễn của dàn nhạc để lại ấn tượng rất đẹp trong Condi. “Chúng tôi đã từng chơi bản nhạc của Beethoven Chúa Giêsu trên núi Ôlivơ”, Condi đã nhớ lại trong một buổi trả lời phỏng vấn trên đài phát thanh: “Và tôi quả thật là say mê bản nhạc đó, đối với tôi có một thời khắc rất đáng nhớ, đó là vào tháng 8-2000 khi tôi tới Israel lần đầu và đứng trên đỉnh Ôlivơ. Và như vẫn thường xảy ra trong tâm trí, các âm hưởng của bản nhạc đã tràn về trong tôi”.
 
Ngoài công việc ở trường đại học, John Rice còn tham gia công việc ở chính quyền thành phố Denver và đôi khi ông đi công cán đến Washington D.C để thực hiện nhiệm vụ như một nhà tư vấn cho các công việc đối ngoại của Hội đồng bầu cử. Năm 1978, ông đã được Thị trưởng W.H.McNichols, Jr. chỉ định vào chính quyền của quận ngoại ô Denver. Ngoài ra, ông còn tham gia vào một số hội đồng, một số câu lạc bộ, như Câu lạc bộ Kiwanis và Optimist, điều đó giúp ông tiếp xúc với giới doanh nghiệp, giới lãnh đạo, và ở trường đại học, ông là thành viên của Phi Denlta Kappa và Alpha Phi Alpha fraternities.
 
Condi có không ít ý tưởng và sự bận rộn. Môn trượt băng trở thành rất quan trọng đối với cô, và cô đã nhìn lại cả quá trình tập luyện trước kia như một phần quan trọng đã tạo nên tính cách của cô ngày hôm nay. Khi nhớ lại thời kỳ này, cô nói: “Tôi tin rằng thể thao là một phần rất quan trọng, bản thân tôi từng là vận động viên và tôi tin rằng tôi có thể học được nhiều điều mỗi khi vấp ngã khi trượt băng hơn là bất cứ thử thách nào khác. Điền kinh giúp bạn tính cứng rắn và kỷ luật hơn bất kỳ môn nào khác”. Lại thêm một bài học nữa mà cô học được từ cha mình.
 
Condi rất hài lòng khi được chọn ở lại trường đại học để học tiếp. “Trường Đại học Denver là một mẫu trường có giá trị”, cô nói như vậy nhiều năm về sau, “và tôi có ấn tượng rất tốt về vị trí của nó”. Năm 1974, Condi tốt nghiệp và lấy bằng Cử nhân môn khoa học chính trị - năm cô tròn 19 tuổi và là một trong số các sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc của năm học đó. Cô đã tốt nghiệp loại ưu, hoàn chỉnh các khoá học bổ sung đặc biệt để có được kiến thức hoàn hảo. Cô là một trong 10 sinh viên giành được giải thưởng xuất sắc về khoa học chính trị vì “Hoàn thành xuất sắc và có nhiều triển vọng trong khoa học chính trị”. Ngoài ra, cô còn được giải thưởng trong công tác xã hội, công tác phụ nữ, thành tích xuất sắc của cô đã giúp cô gia nhập “Phi Beta Kappa” một tổ chức có học bổng cho các sinh viên xuất sắc. Trong bức thư của tổ chức này đã viết về gia đình Rice – Ray như sau: “Yêu sự thông minh, đó là tâm giấy thông hành vào đời”.
 
Condi đứng đầu các sinh viên xuất sắc, ngoài ra còn các phần thưởng khác được công bố trong lễ tốt nghiệp về các hoạt động của cô: “Người phụ nữ có vị trí dnah dự”. Trường Đại học mô tả phần thưởng này như phần thưởng cao quý nhất dành cho nữ sinh viên năm cuối có học bổng, có trách nhiệm, người có đóng góp cho nhà trường và chính Condi, người lúc đầu bị cho là không đủ tiêu chuẩn cấp trung học là người đã được chọn là nữ sinh viên xuất sắc nhất của niên khóa 1974.
 
Bài phát biểu bình luận năm đó của Luật sư Archibald Cox về sự kiện Watergate - người đã cảnh báo rằng mỗi một sinh viên cần phải tự chịu trách nhiệm chia sẻ với dân tộc để vượt qua tình trạng hỗn loạn về hiến pháp mà vụ Watergate đã để lại. Đáp lại lời phát biểu này, Condi nhớ lại: “Tôi không dám chắc rằng với chỉ một khoá học về nền chính trị để làm được điều đó và tôi bắt đầu nghĩ rằng tôi có lẽ cần ở lại trường học hoặc làm vìa ba việc và quên đi tất cả các thách thức mà mọi người dành cho tôi, bởi vì tôi chưa có thời cơ”. Chính bài phát biểu đó giúp cô có được cách tiếp cận khi giải quyết vấn đề. Và khi cô đã trở thành một giáo sư, cô khuyên các sinh viên của cô để có thể tiếp cận những vấn đề lớn của thế giới với một ý tưởng dũng cảm nào đó mà họ có thể sẵn snag đưa ra, dù là nhỏ nhất.
 
Dời trường đại học với suy nghĩ đó đã giúp cô bước vào giai đoạn làm việc sau khi tốt nghiệp với mục đích rõ ràng mà cô đã lựa chọn, đó là nghiên cứu sâu hơn các vấn đề về nước Nga và chủ nghĩa Xô Viết. Condi đã lựa chọn một chủ đề khó nhưng thú vị nhất trong chính sách đối ngoại của nước Mỹ và cô đã khăn gói lên đường tiếp tục nghiên cứu tại trường Notre Dame, bang Indiana.
Đăng nhập để trả lời
0
“Văn hoá là những giá trị mà bạn có thể cảm nhận và tôi đã có một sự hứng thú về nước Nga… Đó chính là cái gì đó về văn hoá mà bạn chợt nhận ra… Nó cũng giống như tình yêu, bạn không thể giải thích được tại sao bạn lại yêu”.
-                      Condoleezza Rice
 
 
Ngày xửa ngày xưa, ở Nga cổ có một nàng công chúa trẻ tuổi, xinh đẹp. Vì không muốn quyền lực rơi vào tay công chúa, vua cha đã biến nàng thành một con Ếch. Có một hôm, Tsarevina Lyagushka (công chúa Ếch) nhìn thấy một mũi tên từ trên trời lao xuống, nàng chộp lấy và ngậm và miệng. Có một hoàng tử bước ra từ khu rừng để tìm kiếm mũi tên của mình. Hoàng tử Ivan được hướng dẫn là cứ đi theo mũi tên sẽ tìm thấy vị hôn thê của mình. Theo lời nguyền đó, chàng quyết định cưới công chúa Ếch.[/align] 
Khi hai người quay trở về kinh thành, chính là lúc nhà vua tuyên bố mở hội tìm người thông minh, xinh đẹp, đảm đang, người hội đủ các tiêu chuẩn để mọi người ngưỡng mộ. Thử thách đầu tiên mà đức vua đưa ra là may áo, hoàng tử Ivan trở về nhà không vui nhưng công chúa Ếch khuyên chàng đừng lo lắng. Đêm hôm đó, công chúa Ếch biến thành một cô gái xinh đẹp, cô gọi các chị em của mình giúp sức để kịp dệt một tấm áo đẹp từ các sợi vàng và bạc lóng lánh. Sáng hôm sau, hoàng tử mang áo đến dâng cho đức vua, vua cha rất bất ngờ và nói rằng chưa bao giờ được trông thấy một tấm áo đẹp như vậy. Nàng công chúa Ếch tiếp tục làm cho vua cha bất ngờ, trong khi các cô gái khác rất ghét cô. Không một ai, kể cả hoàng tử Ivan yêu quý của cô biết được cô chính là một nàng công chúa.
 
Khi vua cha yêu cầu mọi người đến dự đại hội, hoàng tử Ivan lại rất buồn vì chàng biết rằng mọi người sẽ cười chàng với công chúa Ếch. Công chúa Ếch nói với chàng đừng lo lằng và hãy chờ cô ở bàn tiệc. Tối hôm đó cô đã đến dự tiệc với vẻ bề ngoài của một cô gái xinh đẹp. Khi hoàng tử đến và đang rất khó khăn không biết làm thế nào để giới thiệu vợ mình thì chàng đã rất bất ngờ khi cô hiện nguyên hình là một nàng công chúa xinh đẹp.
 
Các khoá học đã giúp Condi làm quen với văn hoá Nga. Ở khoá học năm thứ ba và năm cuối, sự hoàn thiện học vấn giúp cô hiểu sâu câu chuyện cổ tích Nga kể trên. Ở nước Mỹ, việc một cô gái da đen học đến năm cuối, nghiên cứu văn học và ngôn ngữ nước ngoài và trở thành học giả hàng đầu về lĩnh vực của mình còn rất hiếm. Condi phải chiến thắng mặc cảm vì cô là một cô gái da đen. Cô cảm tưởng rằng những người phân vân về sự hiếm hoi và đặc biệt đó đối với một phụ nữ da đen khó chấp nhận cách mà cô đạt được trong cuộc sống. Nhưng như cô thường giải thích cũng như các câu chuyện cổ tích Nga thường nói: Một dịp may bất ngờ luôn có thể đến với tất cả mọi người. Cô nói: “Tôi cao 5 foot 8 (1m7), lại là một phụ nữ da đen. Tôi không thể ngược dòng thời gian để biến đổi lại mình, tôi không thể làm một thí nghiệm để thay đổi bất cứ cái gì giúp tôi có thể trở thành một người đàn ông da trăng hoặc một cô gái da trắng hay là một người đàn ông da đen vì vậy tôi không việc gì phải mất thời gian để tự than vãn về thân thể mình”.
 
Condi rất say mê đề tài nước Nga, tiếng Nga và Liên bang Xô Viết. Cô không thể giải thích chính xác tại sao cô lại say mê mãnh liệt như vậy. Dường như cô đơn giản là đi theo một sự mách bảo nào đó từ trước. Nhiều năm về sau, cô có thể sẽ gặp những người có chung niềm say mê như cô về chính sách quốc tế, kể cả về đề tài lịch sử Xô Viết và tiếng Nga mà không có cơ sở gì để giải thích một cách cặn kẽ.
 
Việc chọn trường học tiếp theo cho Condi đối với John và Angelena Rice không khó vì học là những pho bách khoa sống về giáo dục. Từ khi Condi mới sinh ra, cha mẹ cô đã thảo luận với nhau về ngôi trường tốt nhất, nơi họ sẽ gửi con gái mình đến học. Chính các chuyến dã ngoại mùa hè đi qua các trường học đã giúp John có nhiều thông tin để lựa chọn. Việc John Rice thực hiện công việc của mình ở nhà thờ và trường học đã cho phép ông tiếp xúc với nhiều nhân vật ở cả hai lĩnh vực, tạo cho ông có thể tham khảo ý kiến vể việc lựa chọn trường học. Một trong các nhân vật như vậy là mục sư Theodore Hesburgh - Chủ tịch Đại học Notre Dame. Ông Rice biết rằng Notre Dame là một trong số các trường đại học tư thục tốt nhất ở Mỹ, nhưng những cuộc nói chuyện của John với Hesburgh đã làm ông thấy rõ hơn về xu hướng bảo thủ và triết lý định hướng giá trị của trường.
 
Trường Notre Dame được một số người thuộc giáo phái Roman Catholic thành lập từ năm 1842, trường có nhiệm vụ giáo dục theo phương châm “Đưa ra các câu hỏi về giá trị và ý nghĩa”. Mặc dù đa số sinh viên không phải là người theo đạo Thiên chúa nhưng một trong những nhiệm vụ của trường là khuyến khích sinh viên thụ giáo các nghi lễ và lối sống như là cách “hướng về hình tượng Chúa”, người hành động thông qua “Con người, sự kiện và vật chất”. Một trong những triết lý khác của trường là “Vẻ thân thiện của Chúa thúc đẩy con người hoạt động tích cực để giúp đỡ thế giới tạo ra công lý”.
 
Quan niệm này của nhà trường rất hấp dẫn mục sư Rice, người luôn tâm niệm giúp đỡ thanh niên để phát triển đức tính thật thà cũng như cách tư duy của họ. Ông cho rằng đây chính là môi trường lý tưởng cho Condi học tập.
 
Người giám thị mới của Condi ở trường Notre Dame là George Brinkley, ông nhớ lại là cô chia sẻ với quan niệm cứng rắn của cha cô đối với hướng phát triển của nhà trường. Ông nói: “Condi đến trường, theo tôi, là vì cô đi theo truyền thống bảo thủ của cha cô. Cô là một nhân cách lớn và khó mà nói rằng đó là lý do cô đã chọn nhà trường. Cô là một người có chính kiến riêng của mình, nhưng tôi nghĩ là cô cũng thích điều đó, vì rằng triết lý và chương trình của nhà trường rất có giá trị và phù hợp. Tôi cũng rất thích điều này, dù rằng tôi cũng như Condi không phải là người theo đạo Thiên chúa La Mã… Có đến một nửa khoa không phải là theo đạo Thiên chúa. Chương trình của năm cuối bậc đại học trên thực tế luôn đem lại nhiều tầm nhìn rộng lớn và có định hướng cho các sinh viên ở giai đoạn kết thúc”.
 
Condi còn một lý do nữa để lựa chọn nhà trường, đó là vì cô đăng ký vào chương trình nghiên cứu khoa học của trường Notre Dame. Khoa nghiên cứu về nhà nước và quan hệ quốc tế là một trong những trung tâm nghiên cứu về Xô Viết nổi tiếng nhất, được sáng lập bởi một người châu Âu nhập cư khác, giống như Korbel ở Denver. Đó là một nhà ngoại giao Hungari – Stephen D.Kertesz, dời đất nước của mình từ năm 1947, ông đã được mời để xây dựng chương trình theo lời khuyên của Philip Mosely - Trưởng khoa nghiên cứu về Liên Xô của trường Đại học Columbia (nay là trường Harriman). Trường Notre Dame đã tham khảo ý kiến của Mosely về việc xây dựng chương trình. Mối quan hệ ở khoa Nga của trường Đại học Columbia đã tạo cho ông cơ hội tiếp xúc với các nhà chính trị nhập cư từ châu Âu.
 
Viện nghiên cứu Nga của Philip Mosely là nới có chương trình nghiên cứu về nước Nga Xô Viết đầu tiên. Chính vào lúc Condi bước chân vào khoa Quốc tế của Đại học Notre Dame, cuộc chạy đua hạt nhân giữa Liên Xô và Mỹ đã diễn ra từ các năm 1950, 1960 và 1970 đã là đề tài được các sinh viên, những người hướng sự nghiệp của mình vào các cơ quan nhà nước và các học viện lựa chọn. Mark L.von Hagen – Giám đốc Đại học Harriman viết: “Đề tài nhà nước cuốn hút tất cả mọi người vì nó tập hợp được các thông tin và hướng dẫn về các quan hệ thời chiến tranh và kế hoạch cho thời hậu chiến. Đa số sinh viên tốt nghiệp đều có công việc đang chờ ở các cơ quan nhà nước”.
 
Stephen Kertesz - người dẫn dắt chương trình của Notre Dame đã từng là một quan chức Bộ ngoại giao Hungari, kể cả cương vị là Bí thư thứ nhất của phái bộ Hungari ở phía Nam bán đảo Transylvania. Ông viét về chính sách Đông Âu sau khi ông gia nhập khoa Nga ở Notre Dame.
 
Một trong sô các giáo sư mới ở khoa Nga là George Brinkley - người đã hoàn chỉnh chương trình của trường và lấy bằng tiến sĩ (Ph.D) về khoa học chính trị của Đại học Columbia. Như một thành viên thế hệ thứ hai nghiên cứu về Liên Xô của trường, ông đã chọn công việc ở học viện và nhập nhóm Kertesz vào năm 1958. Brinkley trở thành một trong những nhân vật chủ chốt của chương trình Notre Dame và sớm công bố nhiều công trình như: “Chủ nghĩa Lênin: những gì đã qua và những gì chưa tới”, “Sự phát triển của Liên bang Xô Viết và Liên hợp quốc: Vai trò thay đổi của các quốc gia đang phát triển”. Một trong các cuốn sách đầu tiên của ông là: Đạo quân tình nguyện và cách mạng ở phía Nam Nga đã được trao giải thưởng của Hiệp hội lịch sử Mỹ - George Louis Beer Prize.
 
Khoa nghiên cứu nhà nước và quan hệ quốc tế của Đại học Notre Dame trở thành một trung tâm quan trọng nghiên cứu về nước Nga và Liên bang Xô Viết từ cuối những năm 1940. Học bổng trong lĩnh vực này được lựa chọn rất kỹ, không giống như các khoa khác. Sự nghiên cứu về Liên bang Xô Viết dành cho những ai muốn đi sâu vào bản chất của Chiến tranh lạnh và chứng kiến nhiều kết cục trong lịch sử và chính trị. với những ai bước chân vào khoa quan hệ quốc tế tức là chấp nhận một sự nghiệp trong các cơ quan có liên quan đến chính sách quốc tế hoặc quan hệ quốc tế, hoặc sử dụng các kiên thức thu được cho công tác giảng dạy, hoặc sẽ làm việc tại các văn phòng Luật sư. Condi lúc đó chưa quyết định cho mình con đường cụ thể, nhưng cô cảm thấy sự lựa chọn công việc của cô sẽ dễ dàng hơn vì ngoài kiến thức chính trị cô còn có năng khiếu về âm nhạc. Khi được hỏi sau khi tốt nghiệp cô sẽ làm gì trong lĩnh vực của mình, cô đã trả lời: “Vâng, công việc liên quan đến lích sử Nga có nhiều cơ hội hơn là một buổi hoà nhạc đàn piano”.
 
Condi đã bước vào năm cuối của trường Đại học Notre Dame và bắt đầu khoá học thạc sĩ về chuyên ngành này dưới sự chỉ đạo của George Brinkley. Ông đã hướng dẫn Condi và tư vấn cho khoa chính trị quốc tế xây dựng cấu trúc chương trình riêng cho phù hợp sức học và ý thích của Condi. Ông cho rằng Condi cũng như nhiều sinh viên khác, chưa có nhiều thực tế trong nghiên cứu về Xô Viết học. Ông nói: “Nhiều người trong số họ cần có các kiến thức cơ bản”. Vì vậy cần truyền cho họ kiến thức cơ bản về lịch sử để giúp họ hiểu về Liên bang Xô Viết và chủ nghĩa cộng sản”.
 
Khác các sinh viên khác, Condi đã dành nhiều thời gian để đọc các sách về đề tài này cả ở năm thứ nhất và năm thứ hai, khi còn học ở Denver. Cô đã từng đọc nhiều về Chiến tranh thế giới thứ hai và các cuộc đối đầu quân sự, đồng thời làm quen cả với tiểu thuyết Nga, bao gồm cả các tác phẩm văn học Nga của Dostoevsky và Solzhenitsyn. Khi nhận xét về Solzhenitsyn, cô nói: “Ông ta hiểu các mảng tối của nước Nga hơn bất cứ ai khác. Như nhiều nhà văn Nga, đó là bi kich không có sự sám hối”. Ngoài các cuốn sách về lịch sử và tiểu thuyết, Condi còn tập trung học tiếng Nga để giúp cô đi sâu vào văn hoá và văn học Nga. Kể từ khi cô bắt đầu các bài học của mình với giáo sư Korbel, cô nghiên cứu các chủ đề và mở rộng danh mục các sách đọc trước.
 
Brinkley nhanh chóng nhận ra sức học vượt trội của cô, ông nhận xét: “Chương trình của chúng tôi về Xô Viết và Đông Âu học là các kiến thức rất cơ bản. Cô là một sinh viên rất sáng dạ, cô được chuẩn bị tốt hơn các sinh viên khác”. Khi ông nhận ra sự vượt trội của cô trong học tập, đông thời ông cũng hiểu vai trò của cha mẹ cô trong sự tự tin và khả năng học tập của Condi. Ông nhận xét: “Cô là một trong các sinh viên có tính tự chủ rất cao”. Từ khi còn là một đứa trẻ, cô đã có ấn tượng về tính tự tin được tích luỹ thông qua kinh nghiệm sống. Cha của cô hướng cho cô một quan điểm rằng những thứ thu được từ khi còn niên thiếu sẽ rất quan trọng, nó giáo dục cô quyết tâm làm những gì mình muốn và phải thành công đối với bất cứ mục tiêu nào mà mình đặt ra.
 
Brinkley còn nhận ra năng khiếu tiếng Nga của Condi. Ông nói: “Condi học tiếng Nga từ trước khi đến Notre Dame, nhưng tôi rất ấn tượng vì Condi học rất nhanh, có thể nói là rất có năng khiếu, kể cả đối với tôi đó là một môn học rất khó, nhưng Condi lại học rất dễ dàng”.
 
Lúc đó, khoa chính trị quyết định dành cho Condi một chương trình riêng, tạo điều kiện cho cô vượt lên. “Ngay từ đầu đã rõ là chúng ta không thể đặt cho cô các yêu cầu cứng nhắc”, Brinkley nói như vậy. “Tôi có thể thấy rằng cô là mẫu người có động cơ rất mạnh và là người ham đọc, như vậy cô có thể có được nhiều cơ hội. Khi phải làm việc một mình và cô muốn làm được điều đó”. Brinkley đã quyết định điều chỉnh chương trình cho Condi với một số nội dung bổ sung, kể cả bổ sung các tài liệu tiếng Nga đọc trực tiếp, tạo điều kiện cho Condi nghiên cứu độc lập. Theo chương trình này cô được nghiên cứu trực tiếp với giáo sư Brinkley, đầu tiên là xác định đề tài, sau đó là danh mục sách đọc và tra cứu. Các năm sau đó cô thường xuyên có các buổi phụ đạo với Brinkley, điều đó giúp cho cô có rất nhiều kinh nghiệm quý báu. Cô đã rất thích thú đối với Đại học Notre Dame do kích thước nhỏ bé của lớp học cuối, nhưng cái mà trên thực tế cô nhận được còn lớn hơn nhiều: một phương pháp “một kèm một”, các hướng dẫn của một trong các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Xô Viết học.
 
Thời còn học ở Denver, Condi rất thích thú với đề tài thế giới đa cực trong quan hệ quốc tế và chính điều đó tạo cho cô sự say mê trong nghiên cứu chính trị khi đọc các công trình của Hans Morgenthau. Cô phát hiện ra khía cạnh thú vị trong chủ nghĩa chính trị hiện thực của Morgenthau. Condi nhớ lại: “Tôi đọc rất nhiều và bị cuốn hút bởi công trình của ông ta”. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của Zbigniew Brzezinski và John Erickson cũng có ảnh hưởng lớn đến cô. Chủ nghĩa hiện thực, hoặc nền chính trị thực dụng, đúng là đề tài được quan tâm trong nghiên cứu trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là các nghiên cứu về Liên Xô ở Đại học Columbia, Notre Dame và trường đại học ở Denver, thậm chí là trong suốt quá trình Chiến tranh lạnh. Các quan điểm của Morgenthau trong cuốn Nền chính trị của các dân tộc đem đến cho Condi cái nhìn rất rõ ràng về chính sách đối ngoại trong thời hiện đại.
 
Condi có cách tiếp cận rất thực dụng của chủ nghĩa hiện thực với quan niệm cho rằng hành động của các quốc gia được dựa trên cơ sở phản ánh bản chất của con người. Cũng như một nhân cách, một dân tộc sẽ đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Morgenthau cho rằng: “Quyền lực chínhlà sự kiểm soát của người này đối với đám người khác”, Morgenthau giải thích mỗi một dân tộc cần hành động vì quyền lợi của mình. Quyền lực là thống trị, bao gồm cả dùng vũ lực chống lại các đan tộc khác khi họ đối kháng với quyền lợi của mình. “Chủ nghĩa duy tâm” hay chính sách tự do, theo một cách khác, lại cho rằng chiến tranh tác động tiêu cực đến quan hệ quốc tế và rằng cơ hội tốt nhất cho hoà bình nằm ở trong sự hợp tác và các hoạt động của tổ chức đa quốc gia như Liên hợp quốc hay Liên minh châu Âu. Các “nhà duy tâm” được khích lệ bởi các giá trị đạo đức và hệ tư tưởng, cái mà các “nhà hiện thực” tính đến như Morgenthau đã gọi “sự duy lý khách quan và vô cảm”. Khi nhìn nhận và xác định mối quan hệ với các dân tộc phải biết cách tin rằng mọi dân tộc đều đang tồn tại. Condi đồng ý với ý kiến cho rằng quyền lợi tốt nhất của một dân tộc không thể đạt được chỉ bằng tác động của hệ tư tưởng trên bình diện quốc tế.
 
Đối với những người theo trường phái hiện thực, sức mạnh quân sự là quyền lực đáng kể nhất của một dân tộc, nó quyết định mối quan hệ về quyền lực giữa các dân tộc trong chiến tranh, các nhà xã hội học thời kỳ hậu chiến thường dựa trên các giá trị đạo đức của các dân tộc để chống lại sự phát triển hạt nhân. Joel H.Rosenthal cho rằng: “Các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng quyền lợi dân tộc chính là giá trị của nước Mỹ”. Trong số các giá trị đó ông liệt kê ra các chỉ số phát triển con người “chủ nghĩa tự do và một sức mạnh để cân bằng các tư tưởng và mục đích tự thân”.
 
Condi mô tả mìh như một chính khách theo trường phái thực tế và giải thích rằng từ thủa ban đầu cô đã “thích thú với khía cạnh Byzantine của nền chính trị Xô Viết và về quyền lực: Khai thác thế nào thì sử dụng như thế”. Cô thậm chí còn đưa ra một kết luận mang tính đạo đức truyền thống rằng hãy mang theo truyền thống Hoa Kỳ đến bàn đàm phán. Cô nói: “Tôi là người theo chủ nghĩa hiện thực. Quyền lực là sức mạnh, nhưng ở đây không thể thiếu yếu tố đạo đức trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và hơn nữa, người Mỹ không thể chấp nhận một sự thiếu hụt như vậy”. Như Ann Reilly Dowd của tạp chí George đã nhận xét: “Condi nhìn nhận Chiến tranh lạnh không phải như một cuộc chiến tranh về hệ tư tưởng giữa chủ nghĩa cộng sản và nền dân chủ, cô so sánh nó như một cuộc “tranh luận” giữa hai thế lực đối đầu với các xung đột quyền lợi về dân tộc”.
 
Thiên hướng của Condi về chiến lược quân sự đã trở thành đề tài tập trung trong luận văn của cô. “Khi cô học ở Notre Dame, Condi phát triển một ý tưởng rất mạnh về nền quân sự Xô Viết và vấn đề quan hệ Xô-Mỹ”. Giáo sư Brinkley nhớ lại: “Cô hoàn chỉnh luận văn thạc sĩ của mình với sự tập trung vào nghiên cứu về nền quân sự Xô Viết”.
 
Những năm tháng học tập của Condi tại Notre Dame tập trung vào đề tài mà cô tiếp tục làm việc với Brinkley đã được phát triển thành đề tài tiến sĩ ở Đại học Denver. Brinkley nhớ lại: “Condi và tôi cùng làm việc để phát triển đề tài tiến sĩ và thậm chí sau khi cô đã đến Denver, chúng tôi vẫn thường trao đổi trên điện thoại để khởi động chương trình nghiên cứu tiến sĩ”.
 
Nhìn lại các nghiên cứu của Condi ở Học viện trong hoạt động chính trị, Brinkley thấy tiến trình phát triển rất lôgic từ khi bắt đầu nghiên cứu ở Notre Dame. Đó là các nghiên cứu đầu tiên ở nhà trường, các công việc của cô ở Lầu Năm góc và công việc của cô trên cương vị Cố vấn An ninh quốc gia của Nhà Trắng. Sự đam mê của cô đối với công việc nghiên cứu Xô Viết bắt đầu từ Denver, đã được tiếp tục từ học kỳ đầu của trường Notre Dame.
 
Mùa thu năm 1974 đến mùa xuân năm 1975 đối với Condi là thời gian thử thách và rất có hiệu quả. Condi có nhiều bạn bè ở South Bend, cuộc sống sinh viên khiến họ có thể làm được nhiều thứ trong một giờ hơn là các công việc trong một tuần. Sau một đêm không thể “tiêu hoá” hết về những gì mà ngày hôm sau cô phải làm ở trường vì cô phải lên lớp rất sớm, trong khi cô phải sống xa cha mẹ, vì vậy thời gian rỗi của cô có nhiều hơn lúc đang học ở Denver. Vào năm 1974, điệu nhảy disco rất thịnh hành ở các trường học và thành phố. Khắp nơi người ta thấy vang lên các bản nhạc của ABBA và Elton John. Mặc dù rất giỏi nhạc cổ điển của Brahms và Mozart, nhưng cô cũng thích nhạc Pop như mọi thanh niên lứa tuổi 20 khác. “Cô ấy luyện tập rất nhiều”, một trong những bạn vong niên của Condi – bà Deborah Carson nói vậy, “cô ta và bạn bè của mình thường phải chờ đợi và đôi khi đứng ngoài đường phố đến tận 5 giờ sáng”.
 
Trong những năm học tập ở Notre Dame, Condi suy nghĩ rất nghiêm túc về việc thi vào trường luật sau khi cô đã lấy bằng thạc sĩ. Bà cô thứ hai của Condi, Connie Rice, lúc đó cũng vừa bắt đầu khoá học của mình ở Harvard; vài năm sau cô thi vào khoa Luật của trường Đại học New York. Condi cũng đăng ký vào khoa Luật và được chấp nhận vào nhiều trường, trong đó có trường Đại học Denver. Tuy nhiên, khi Condi thảo luận với giáo sư Josef Korbel về kế hoạch của mình thì ông thuyết phục cô rằng: “Em rất có năng khiếu, em phải trở thành giáo sư”. Trước đó ý nghĩ này chưa hề đến với Condi. Condi nhớ lại: “Khi nghĩ lại về thời điểm đó, tôi không hiểu liệu điều đó có phải là một tín hiệu của tiềm thức hay không, nhưng tôi rất tin cậy và kính phục ông, vì vậy tôi đã tiếp nhận một cách nghiêm túc ý kiến của ông”.
 
Condi đã gác sang một bên ý định theo ngành luật và sử dụng năm học tiếp theo cho các khoá học về quan hệ quốc tế ở Đại học Denver (GSIS) với hy vọng sẽ đạt được các ý định mà cô đã đặt ra. Cha mẹ của cô đã tạo cho cô ý thích về môn quan hệ quốc tế và cô luôn mong muốn mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, không chỉ như một cô gái da đen mà như một người Mỹ hiểu biết. “Suy nghĩ rộng ra về thế giới, đó là một trong những phương châm quan trọng nhất trong cuộc đời của tôi”, cô nói vậy. “Việc học tập về những vấn đề còn đang vận động phát triển là những thứ rất quan trọng trong cả cuộc đời chúng ta”.
 
Các khoá học mà cô lựa chọn năm đó đã giúp cô hiện thực hoá những ý thích của cô về các đề tài lớn và quan sát xem các phân tích này đi vào thực tế của thế giới như thế nào. Cô đã giải thích rằng các nghiên cứu của năm đó đã dẫn dắt cô đến với khoa nghiên cứu quan hệ quốc tế của trường Denver. Condi nói: “Tôi nghiệm ra rằng tôi thích khoa học chính trị hơn là khoa luật, và tôi nhanh chóng bắt đầu chương trình tiến sĩ”. Dưới sự cổ vũ của giáo sư Korbel, cô quyết định tiếp tục nghiên cứu về khoa học chính trị. Ông ta đã không nói gì nhiều nhưng việc ủng hộ và khích lệ, thậm chí đã đề cao việc tôi bước vào lĩnh vực này”, cô nhắc lại.
 
Condi bảo vệ thành công bằng thạc sĩ về khoa học nhà nước ở đại học Notre Dame vào ngày 8-8-1975 và sau đó cô quay trở về Denver. Vài năm sau, cô sẽ trở lại trường Notre Dame nhưng với cương vị lãnh đạo, thành viên của Hội đồng giảng viên.
 
Khi Condi trở về Denver, cô trở về ngôi nhà của cha mẹ mình với các thú vui cũ và dạo quanh nhà thờ Montview, chơi piano và xem các trận bóng đá Mỹ. Vào các dịp cuối tuần, cô có thể cùng vài người bạn xem các chương trình trò chơi ở nhà, các bạn bè đều thừa nhận Condi là một người hâm mộ đặc biệt các môn thể thao…
 
Robby Laitos là một sinh viên ở GSIS cũng mê môn bóng đá Mỹ, anh nhớ lại: “Hôm đó bọn chúng tôi cùng xem và bàn luận về bóng đá, tôi nhớ đó là ở Oklahoma, bang Ohio và trận đấu vừa kết thúc lúc tôi đến, tôi và một vài người bạn đàm luận với nhau về trận đấu, Condi đến và tham gia bình luận, đó là lần đầu tiên tôi gặp cô. Ngay lập tức tôi hiểu là cô rất hiểu về bóng đá. Đó là lúc bắt đầu hai năm “đàm đạo về bóng đá” giữa hai chúng tôi. Chúng tôi không nói với nhau về nước Nga và nhà trường mà chỉ nói về bóng đá”. Laitos cũng được yêu cầu đi cùng với Rice vào trưa chủ nhật để xem bóng đá và thưởng thức món gumbo nổi tiếng của bà Angelena. “Tôi nhớ mãi việc mẹ của cô đã nấu cho chúng tôi món súp gumbo”, anh ta nhớ lại, “và tất cả chúng tôi vừa xem trận bóng đá buổi trưa vừa thưởng thức món súp gumbo và format”.
 
Chương trình tiến sĩ mà Condi theo đuổi ở Đại học Denver có một lịch sử rất đặc biệt. Chương trình của trường Denver khác so với chương trình về Xô Viết của các trung tâm nghiên cứu ở phía Đông. Khoa Ng của Đại học Columbia có khuynh hướng tập trung nghiên cứu theo định hướng về chế độ hơn là về xã hội, kinh tế và văn hoá. Các trường đại học ở phía Đông tập trung nghiên cứu cấu trúc hạ tần của Matxcơva và các chiến lược Chiến tranh lạnh, và sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, họ hoàn chỉnh việc mở rộng nội dung nghiên cứu sang các lĩnh vực văn hoá, kinh tế và xã hội của cả khu vực. Ở Denver, trên một khía cạnh khác bao gồm cả các đề tài với nội dung của nó từ thủa ban đầu. “Nhìn lại”, Giáo sư Karen Feste nói, “nhà trương hôm nay không có nhiều khác biệt như dạo ban đầu, vì chúng ta chưa bao giờ đuổi kịp các trường ở bờ Đông về lĩnh vực chính sách của Chiến tranh lạnh. Mở rộng tầm nhìn là con đường tất yếu của chúng ta. Chúng ta luôn quan tâm đến sự phát triển xã hội và quyền con người trong sự khác biệt giữa Đông và Tây. Kết quả là khi Chiến tranh lạnh kết thúc, chương trình của chúng ta ít thay đổi với tính bi kịch hơn là các trường học của những người anh em”.
 
Chương trình này rất hấp dẫn Condi khi cô bắt đầu tiếp xúc với nó năm 1976. Josef Korbel không thường xuyên tiếp nhận nữ sinh viên vào khoa, vì ông cho rằng các sinh viên khi tốt nghiệp sẽ tham gia chủ yếu vào các công việc nhà nước mà khu vực này thường không thích hợp với phụ nữ. Khi Karen Feste đến vào đầu những năm 1970, Korbel đã không đồng ý tiếp nhận vào khoa. Tuy nhiên nhờ có đa số ủng hộ, Karen vẫn được chỉ định là giáo sư về môn chính trị quốc tế và các phương pháp nghiên cứu. Trong nhiều năm liền cô là người phụ nữ duy nhất tham gia giảng dạy ở khoa, nhưng quan điểm của Korbel đã thay đổi theo thời gian. Biểu hiện rõ nhất là việc ông ủng hộ con gái mình (bà Madeleine Albright) lựa chọn môn khoa học chính trị vào những năm 1960, Madeleine bảo vệ luận văn thạc sĩ và tiến sĩ ở khoa luật và nhà nước thuộc Đại học Columbia. Đồng thời bà cũng hoàn chỉnh chương trình học tập về nước Nga. Khi Condi bắt đầu các nghiên cứu về quan hệ quốc tế ở Denver năm 1975, sau khi trở về từ Notre Dame, Madeleine đang tham gia chiến dịch vận động thành lập quỹ của Thượng nghị sĩ Edwin Muskie.
 
Karen Feste, một trong các giáo sư của Condi, trở thành người bạn tốt của Korbel, trong hai năm đầu cô được bổ nhiệm ở khoa và cô đã chứng kiến các thay đổi trong quân điểm của ông đối với phụ nữ trong chương trình này. Cô nhớ lại: “Ông ta là thế hệ cũ, tôi là thế hệ mới”. Theo thời gian, khi Condi đến Denver, ông đã thay đổi trong quan niệm của mình. Ông đã quan tâm đến điều tốt nhất và sáng sủa nhất, và như Feste quan sát “yếu tố giống nhau không phải là quan trọng”.
 
Karen Feste dành học vị tiến sĩ tại Đại học Minnesota trước khi đến làm việc tại khoa chính trị của trường Đại học Denver, ngoài công việc giảng dạy, Feste còn tham gia làm cố vấn chính trị về các vấn đề quốc tế cho một số tổ chức như khoa nghiên cứu Ai Cập và Kuwait của Uỷ ban kế hoạch quốc gia. Một giáo sư khác của Condi, đó là giáo sư Jonathan Adelman, tiến sĩ khoa học chính trị của Đại học Columbia (giống Brinkley), ngoài ra ông còn là giảng viên thỉnh giảng của đại học ở Bắc Kinh và Matxcơva. Là một thành viên của Uỷ viên Liên hiệp Mỹ - Israel, và là thành viên của Uỷ viên liên bang của Liên minh Do Thái tại Israel vào năm 2002.
 
Tại GSIS, Condi còn học cùng Catherine Kelleher, một giáo sư mà sau này trở thành một trong những chuyên gia nổi tiếng về vấn đề an ninh. Bà làm việc tại Lầu Năm góc với chức vụ Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng về vấn đề Nga, Ukraine và Belorusia, một thời gian sau trở thành Cố vấn Quốc phòng và đại diện của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ tại NATO. Bà đồng thời còn là Hiệu trưởng của trường Đại học Berlin-Đức, người thường tổ chức các buổi seminar cho các nhà lãnh đạo Mỹ và châu Âu. Mùa xuân năm 2002, bà đã nhận được danh hiệu danh dự Chữ thập vàng Bundeswehr, một danh hiệu quân sự cao nhất của Đức vì “Sự đóng góp cho quan hệ liên bờ Đại Tây Dương (Transatlantic)”, đặc biệt là vì sự tiến triển trong đối thoại chính trị giữa châu Âu và Mỹ trong lĩnh vực ra quyết định. Bà là giáo sư của trường Cao đẳng Hải quân ở Newport, đảo Rhode.
 
Những năm 1970 và 1980 là thời gian rất sôi động để nghiên cứu về quan hệ quốc tế và về Liên Xô. Các sự kiện lớn của Chiến tranh lạnh diễn ra trong thời kỳ Condi đang nghiên cứu các Hiệp định hạn chế vũ khí chiến lược (SALT I) do Liên Xô và Mỹ ký năm 1972. Trong thời gian Condi đang nghiên cứu tại khoa sau đại học thì có thêm Ấn Độ có vũ khí hạt nhân. Năm 1975, Mỹ và Liên Xô cùng 33 quốc gia khác tại Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu đã ký tuyên bố chung kết thúc hội nghị ở Helsinki. Tại đây các quốc gia cũng tuyên bố giữ nguyên đường biên giới châu Âu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
 
Condi đã rèn luyện khả năng đọc tiếng Nga của mình thông qua đọc báo Pravda (Sự thật) được bán ở Mỹ từ năm 1975. Một sự kiện nữa trong năm đó giúp mở rộng quan hệ Xô-Mỹ, đó là sự kiện tàu vũ trụ Apollo của Mỹ ghép nối với tàu vũ trụ Soyuz của Liên Xô. Sáu năm sau khi các nhà du hành vũ trụ Mỹ đổ bộ lên mặt trăng, NASA (Cơ quan hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ) đã chuyển chương trình mặt trăng sang chương trình hợp tác Xô-Mỹ. “Như với nhiều yếu tố của chính sách quốc gia của Hoa Kỳ, chương trình của NASA luôn phản ánh môi trường của sân khấu đối ngoại”, một bài báo trên tạp chí Apollo-Soynz tuyên bố - “Chuyến bay liên kết có thể được coi như một phần của chính sách hoà giải, nhưng các nhân viên của NASA còn nhìn thấy nhiều lợi ích hơn thế”.
 
Chương trình hợp tác Apollo-Soynz (ASTP) giúp NASA hoàn tất mục tiêu của mình, hướng tới sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vũ trụ, bước vào một giai đoạn mới trong sự phát triển công nghiệp vũ trụ. Chương trình hợp tác này được phát sóng trên TV, tạo nên hình tượng hợp tác Xô-Mỹ. Những lời phát biểu của các nhà du hành vũ trụ mô tả sự hoà hợp của thế giới, một luồng gió mới trong quan hệ chính trị giữa hai siêu cường. Nhà du hành vũ trụ Nga – Valery Kubasov phát biểu: “Thưa các công dân Mỹ yêu quý, sẽ là sai lầm nếu có ai hỏi là đất nước nào đẹp hơn, sẽ là đúng đắn khi nói rằng không có gì đẹp hơn trái đất xanh của chúng ta”.
 
Năm 1976, năm mà Condi bắt đầu khoá học tiến sĩ của mình, cô đã ghi tên gia nhập Đảng Dân chủ và bỏ phiếu cho Jimmy Carter trong chiến dịch bầu cử. Carter đã gác lại vấn đề cuộc tiến quân vào Afghanistan của Hồng quân cuối tháng 12-1979. Tuy vậy, suy nghĩ của cô về Tổng thống và Đảng Dân chủ đã thay đổi. Tổng thống mô tả cuộc tiến quân vào Afghanistan của Hồng quân là “một hành động có tính toán bởi một siêu cường nhằm khuất phục người Hồi giáo độc lập”, và ông cảnh báo: “Sự can thiệp của quân đội Xô Viết vào Afghanítan sẽ đe doạ cả Iran và Pakistan và sẽ là một bước quan trọng trong tiến trình của họ để kiểm soát đa số nguồn cung cấp dầu mỏ của thế giới”. Tổng thống nói rằng ông sẽ bị sốc và không hài lòng trước sự kiện này. Để đáp lại, ông quyết định cấm vận các sản phẩm trí tuệ và công nghệ, từ bỏ quyền ưu đãi trong đánh cá ở vùng nước của Hoa Kỳ, hoãn các cuộc đàm phán và không phê chuẩn hiệp ước SALT II mà ông và Tổng Bí thư Brezhnev đã thống nhất vào đầu năm và kêu gọi Mỹ tẩy chay Thế vận hội mùa hè Matxcơva năm 1980. Condi cho rằng các phản ứng của Carter và cảm giác bất ngờ của ông là quá ngây thơ, còn hành động của ông là quá yếu ớt. Cô nói: “Tôi nhớ là mình đã suy nghĩ nhiều về việc ông ta đã nghĩ thế nào và đã làm những gì”.
 
Với những suy nghĩ như vậy, Condi vẫn đang là một người của Đảng Dân chủ. Năm 2000, Condi nói: “Tôi đã đăng ký gia nhập Đảng Dân chủ và có lẽ đã không bao giờ thây đổi nếu không có những gì mà tôi đã chứng kiến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh”. “Tôi nghĩ phía Xô Viết tỏ ra là quyết liệt và muốn chơi chúng ta như chơi đàn violin. Tôi nghĩ Carter đã không hiểu bản chất của Liên bang Xô Viết, đó là một điểm tối”.
 
Condi tỏ ra cực đoan khi phê phán chính sách của Hoa Kỳ đối với Liên Xô. Vào lúc đó, thái độ này còn cao hơn cả thái độ của cô liên quan đến sự ủng hộ của Đảng Dân chủ đối với phong trào quyền công dân. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1980, cô đã ghi tên gia nhập Đảng Cộng hoà và bỏ phiếu cho Ronald Reagan. “Tôi thán phục những gì Lyndon Johnson đã làm cho quyền công dân vào năm 1964, nhưng năm 1980 tôi cho rằng Hoa Kỳ đã không đưa ra chính sách đối ngoại đúng đắn và tôi đã ủng hộ sự mạnh mẽ của Reagan”, Condi nhớ lại.
 
Sự khởi đầu với quan điểm ủng hộ Đảng Dân chủ, thậm chí là một tai họa trong các quan điểm về xã hội như là lập trường của cô trước sự lựa chọn. Điều này tạo cho cô tự mô tả mình như “người ủng hộ” Đảng Cộng hoà, “người rất bảo thủ” trong chính sách đối ngoại, “bảo thủ cực đoan trong lĩnh vực khác, gần như tạo shock cho những người dân chủ trên một số vấn đề, giữ quan điểm ‘ôn hoà’ trong một số lĩnh vực khác, và ‘dân chủ’ gần như đối với cái hư vô”.
 
Rất nhiều người Mỹ đã biết Condi lần đầu tiên kể từ sau bài phát biểu của cô tại Hội nghị Đảng Cộng hoà năm 2000 vì noi theo cha cô, người đã rời bỏ Đảng Dân chủ từ khi ở Albama. Tuy nhiên Condi có lý do riêng của mình. Cô kể: “Đó chính là vấn đề hiến pháp và chính sách đối ngoại, chứ không phải là vấn đề xã hội đã thúc dẩy tôi đến với Đảng Cộng hoà”, cô nói lại như vậy. Condi đã tiếp nhận lời khuyên của bạn bà để trở thành đảng viên Đảng Cộng hoà, nhưng cô rất tự tin và cứng rắn trên cương vị của mình. ‘Tôi muốn chính sách đối ngoại của chúng ta vững vàng hơn. Tôi thực tế chỉ là một nhân viên nhà nước cấp thấp. Tôi không nghĩ mỗi giải pháp đều đến từ Washington”.
 
Vào năm cuối của khoá học tiến sĩ của Condi, chủ tịch Công đoàn đoàn kết Ba Lan – Lech Walesa đã trở thành lãnh tụ phe đối lập. Sau nhiều năm hoạt động bất hợp pháp, Walesa đã trở thành lãnh tụ Công đoàn đối lập và giành được sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Họ cũng không ngờ rằng đó chính là sự khởi đầu cho sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên bang Xô Viết.
 
Các sự kiện này kích thích sự say mê nghiên cứu về Liên Xô của Condi. Không giống như các chủ đề khác, cô đã sử dụng tư liêu cho năm cuối, lĩnh vực này rất phong phú, một thế giới hiện thực ảnh hưởng đến thói quen của cả dân tộc, lối sống của con người, và đó là cách mà lịch sử đặt ra.
 
Đối với giáo sư Josef Korbel, Condi vượt lên trên số các sinh viên của khoa vì cô có tố chất trọn vẹn, đó là trí tuệ sáng láng, mục đích rõ ràng và kiến thức cơ bản về tiếng Nga. Giáo sư Feste nói: “Korbel thích cô học trò này vì cô rất thông minh, nhanh nhẹn, đầy nghị lực và rất hiểu biết về tiếng Nga”. Theo Korbel, ngoại ngữ là một phần quan trọng khi bắt tay vào khoá học. Giáo sư Feste cho hay: “Korbel nói với sinh viên rằng nếu muốn nghiên cứu về Đông và Trung Âu hoặc Liên bang Xô Viết thì trước hết phải hiểu về ngôn ngữ trước khi làm việc với ông. Condi là một ứng cử viên sáng giá vì cô có kiến thức tốt về nước Nga. Đa số các sinh viên khác không có được kiến thức và tiếng Nga như Condi. Ông yêu cầu các sinh viên trước khi đến gặp ông phải nắm vững tiếng Nga hoặc tiếng Ba Lan, hay tiếng Tiệp”.
 
Condi không chỉ tiếp tục các bài học tiếng Nga của cô mà còn bắt đầu học thêm tiếng Tiệp. Giáo sư ngôn ngữ của cô là ông Libor Brom, gốc Tiệp. Lúc đó kiến thức của cô về ngôn ngữ rất phong phú, ngoài tiếng Nga rất trôi chảy còn có tiếng Pháp và tiếng Tiệp.
 
Korbel được biết như một giáo sư rất tận tâm với các sinh viên mà ông yêu thích, nhưng lại rất nghiêm khắc với các sinh viên không đạt những tiêu chuẩn mà ông đặt ra. Giáo sư Feste nhớ lại: “Korbel yêu cầu rất cao ở sinh viên”, Condi đạt được các yêu cầu của ông và ông thúc đẩy mục tiêu học tập của cô cao hơn. Sự ủng hộ và khích lệ của ông với Condi chẳng khác gì sự khích lệ của ông cho con gái mình và điều đó khiến Condi coi ông như một người cha.
 
Một trong những đề tài mà sau này giúp Condi trong lúc làm việc với George Bush (cha) là yêu cầu của Korbel đối với sinh viên phải học cách làm cho chính sách luôn rõ ràng, minh bạch. Ann Blackman đã viết trong tiểu sử của Madeleine Albright: “Korbel thường dạy cho cô rằng một người lãnh đạo phải biết cách diễn giải một chính sách đối ngoại sao cho mọi người bình thường có thể hiểu được”. Condi ghi nhớ bài học này trong tâm khảm và phát triển thành kỹ năng và uy tín khi cần truyền đạt một ý tưởng nào đó. Chính điều đó khiến George Bush đã lựa chọn cô như là người đầu tiên mà ông cần tư vấn về vấn đề chính sách đối ngoại trong chiến dịch tranh cử của mình và đó cũng chính là nhân tố chính trong công việc của Condi trên cương vị Cố vấn an ninh quốc gia.
 
Mặc dù Korbel là người thầy đáng kính của Condi nhưng không phải bao giờ họ cũng đồng ý với nhau trong mọi vấn đề. Condi nói: “Ông dường như thiên về khuynh hướng tự do trong chính sách đối nội hơn tôi. Ông là một nhà tư vấn lịch sử tuyệt vời và rất quan tâm đến sinh viên của mình. Sự quan tâm cộng với khả năng tuyệt vời của ông phát triển một khuynh hướng nào đó về đề tài lịch sử khiến ông trở thành một người thầy vĩ đại”.
 
Khối lượng công việc nghiên cứu độc lập lớn của Condi ở Notre Dame đã đem lại cho cô một cơ sở rất tốt trong chương trình nghiên cứu ở GSIS. Giáo sư Feste nói rằng: “Chương trình của chúng tôi tạo điều kiện nghiên cứu độc lập tốt nhất cho sinh viên và chính Condi là một trong số đó. Cô luôn chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ của mọi người, đó chính là cách tiếp cận của Condi”. Một số đề tài  hóc búa trong khoá học như: lịch sử quân sự, chính sách đối ngoại Liên Xô và văn học Nga… Cô tập trung luận văn của mình vào đề tài chế độ quân sự. Cô thường xuyên làm việc với Jonathan Adelman - Người đồng chủ khảo của Hội đồng chấm luận văn cùng giáo sư George Brinkley. Cô tập trung nghiên cứu, phân tích nền quân sự Tiệp Khắc và các yếu tố ảnh hưởng của nó đối với nền chính trị và xã hội Tiệp Khắc. Đây chính là nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về đề tài này. Adelman nói: “Có rất ít người nghiên cứu về đề tài này”. “Đề tài này chưa được viết nhiều”, Adelman nói, “chưa có đủ thông tin, nhưng cô chưa dừng ở đây. Cô tích trữ thêm tư liệu”. Đối với Adelman thì cách đối diện với các thách thức của cô đã bộc lộ được tính cách của cô. “Mọi người có thể thấy những gì mà cô đã có”, ông nói như vậy, “nhưng cô là người dám làm, có sự năng động và sáng tạo”.
 
Trong chương trình nghiên cứu của cô có chuyến đi thực tế 7 tuần tới Liên Bang Xô Viết với một chặng dừng ở Ba Lan. Ở Matxcơva, cô tập trung cho vấn đề phương pháp nghiên cứu, xử lý các thông tin liên quan. Các kết quả thu được của chuyến thực tập có tác dụng trực tíêp tới đề tài nghiên cứu mà cô đã tập trung tinh lực từ khi còn ở Đại học Denver. Cô nhớ lại: “Trong 5 năm, tôi luôn nghĩ về Bộ Tổng tham nưu của Hồng quân Liên Xô. Tôi phải đến Matxcơva và đến cửa sổ của toà nhà của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu Hồng quân để ước tính xem có bao nhiêu người làm việc bên trong toà nhà đó, bởi vì rằng số liệu này chưa bao giờ được công bố”. Sau này, do cô đã làm việc chính thức trong chính quyền Bush, một dịp cô đã có cơ hội hỏi trực tiếp Nguyên soái Sergei Akhromoyev - Tổng tham mưu trưởng lâu năm của Hồng quân câu hỏi này. Cô nhẩm tính có khoảng 5.000 người trong Bộ tổng tham mưu và khi cô hỏi Nguyên soái câu này ông ta đã trả lời: “Khoảng 5.000 người”. Đó chính là phương pháp nghiên cứu của cô.
 
Trong chuyến đi nghiên cứu, cuối cùng cô đã có được cơ hội thưởng thức văn hoá Nga, chủ đề đã hấp dẫn cô trong nhiều năm. Ở cả Matxcơva và St.Petersburg, cô có cơ hội dự các buổi hoà nhạc ở các Nhà hát lớn, nơi Tchaikovsky trình diễn bản giao hưởng của mình, nơi Rubinstein trình diễn các bản nhạc của Chopin và nơi nhạc sĩ trẻ Rachmaninov trình diễn vở opera của mình. Lần đầu tiên cô được thấy các nhà lãnh đạo cao cấp của Điện Kremlin ngồi tỏng các chiếc xe màu đen lướt ngang bức tường Điện Kremlin, nơi lưu giữ thi hài Lênin và các anh hùng dân tộc. Cô được sống trong môi trường ngôn ngữ tiếng Nga rất đẹp và điều đó giúp cô rất nhiều trong việc nắm vững kỹ năng nghe và đọc tiếng Nga một cách tự tin.
 
Chỉ có một số rất ít người da đen sống ở Matxcơva và mặc dù Condi học tập trong lớp học chung cho cả người da đen và da trắng nhưng khi xuất hiện ở Matxcơva cô vẫn là một công dân Mỹ da đen. Điều đó ở nước Nga rất gây chú ý. Dmitri Gerasamenko - một người gốc St.Petersburg và tốt nghiệp Nhạc viện Quốc gia St.Petersburg đã ghi nhận một câu chuyện về những người nước ngoài, kể cả người da đen lần đầu tiên đến Liên Xô. Ông nhớ lại: “Đại đa số người Xô Viết chưa từng gặp người da đen cho đến năm 1957 là năm mà liên hoan thanh viên sinh viên thế giới được tổ chức ở Matxcơva. Bức màn sắt ngăn cản Liên Xô mở cửa với thế giới 40 năm và bỗng nhiên mọi người dân đủ màu sắc từ khắp nơi tới Matxcơva, mọi người cảm nhận sức sống mới ở Thủ đô Matxcơva, dù rằng người dân vẫn còn nghèo nhưng họ sẵn sàng chia sẻ mọi thứ mà họ có, kể cả chỗ ở trong các căn hộ tập thể.
 
Ông nói thêm: “Các vị khách nước ngoài thấy rằng con người Matxcơva rất năng động và vui vẻ, mặc dù còn nghèo. Sau đó các công dân nước ngoài bắt đầu đến thăm thành phố nhiều hơn và rất nhiều người Matxcơva lần đầu tiên được trông thấy người da đen. Những năm 1960, người ta có thể trông thấy nhiều người da đen đi lại trên đường phố và trò chuyện với người Nga. Những năm 1970 và 1980, lũ sinh viên chúng tôi rất không hài lòng vì cứ phải cố gắng tạo cho họ hài lòng theo cách của văn hoá Nga và phải học để hiểu cách sống của họ, xem họ từ đâu tới. Các công dân của chúgn ta không hiểu gì nhiều về lối sống ở Mỹ hay các nước dân chủ khác”.
 
Phản ánh rõ nét của thời kỳ 5 năm cuối của thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980 là thời kỳ mà Condi đến thăm Matxcơva để chuẩn bị cho luận án của mình, Gerasamenko nói: “Một sinh viên da đen đến từ trường đại học Mỹ, cô lại biết nói tiếng Nga, điều đó làm cô rất được hoan nghênh, lúc đầu người Nga rất thích thú khi có người nước ngoài nói được tiếng Nga, thậm chí mới chỉ vài câu chào hỏi. Tôi cho rằng hiểu biết của Condi và các thông tin về Hoa Kỳ rất có ấn tượng với những ai đã gặp cô trong những năm đó”.
 
Mùa hè năm 1977, Condi có chuyến đi thực tế qua các bang của Hoa Kỳ để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình. Cũng nhờ các chuyến đi này mà cô đã được hiểu biết hơn về tổ hợp công nghiệp Quốc phòng của Hoa Kỳ. Đầu tiên cô tới Washington để làm việc ở Lầu Năm góc, sau đó cô có chuyến đi thực tập mùa hè ở Công ty Rand, một tổ chức nghiên cứu về chính sách được tập đoàn Hàng không Douglas Aircraft thành lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tập đoàn có trụ sở ở Santa Monica, bang California và Arlington, bang Virginia. Công ty Rand là một địa chỉ rất tốt cho các sinh viên chuyên nghiên cứu về an ninh quốc tế. Lĩnh vực nghiên cứu của nó còn bao gồm nền chính trị thế giới, các xu hướng quân sự và kinh tế, các nguyên nhân tiềm ẩn gây xung đột khu vực và các mối đe doạ đối với an ninh Hoa Kỳ.
 
Trở về nhà ở Denver, Condi lại tham gia các hoạt động về bóng đá Mỹ, nhưng bây giờ đã ở tầm cao hơn. Trong những năm đó cô có hẹn với một thành viên đội bóng Broncos của Denver và quan hệ của họ phát triển theo một hướng lãng mạn. Người bạn trai của Condi là một “cầu thủ lớn”. Theo lời của một người bạn (Deborah Carson) kể lại thì họ đã đính ước với nhau. Condi tích cực tham gia các hoạt động xã hội của Liên đoàn bóng đá Mỹ, cô thường ngồi trên khán đài cổ vũ cho các trận đấu và trở thành một thành viên được yêu quý của Liên đoàn. Cô bắt đầu các công việc chuẩn bị đám cưới và hỏi mẹ cô về các công việc cần chuẩn bị. Tuy nhiên đôi bạn này đã chia tay nhau trước khi đám cưới diễn ra. Carson kể lại: “Cô đã tích cực chuẩn bị cho đám cưới và tôi thực sự không hiểu điều gì đã diễn ra, nó không giống một sự kiện lớn, tôi cho rằng họ mới chỉ dừng lại ở một điểm mà sau đó họ không đi tiếp”.
 
Khi Condi hoàn thành khoá học tiến sĩ của mình ở Denver, cô đã 26 tuổi, cô có thể gặp gỡ các cầu thủ bóng đá hoặc các chàng trai khác nhưng cô không đề cập lại chuyện đính ước một lần nào nữa (cho đến lúc viến cuốn sách này năm 2002)
 
Kết quả của quá trình nghiên cứu của Condi là bản luận văn với đề tài Nền chính trị của chế độ chỉ huy tập trung: trường hợp của Tiệp Khắc 1948-1975. Các kiến thức của bản luận văn được Condi sử dụng làm cơ sở để viết cuốn sách đầu tiên của mình: Một liên minh lỏng lẻo: Liên bang Xô Viết và quân đội Tiệp Khắc 1948-1963, cuốn sách này đã được Nhà xuất bản của trường Đại học Princeton xuất bản năm 1984.
 
Sáng ngày 14-8-1981, cùng với các bạn đồng học, Condi đã tham gia một hoạt động ngoại khoá của trường Đại học Denver. Với học vị tiến sĩ về các quan hệ quốc tế và học hàm sau đại học của trường Stanford, cô gái 26 tuổi, Condi bắt đầu bước vào con đường sự nghiệp ở học viện của mình. Mặc dù cha mẹ và bạn bè của cô có mặt lúc đó rất tự hào, nhưng sự vắng mặt của một con người đã làm cho buổi lễ kém phần long trọng. Đó chính là Josef Korbel đã mất vì ung thư năm 1977, ông đã không thể sống thêm để chứng kiến con gái của mình và “cô học trò cưng” trở thành nhân vật tầm cỡ thế giới. Karen Feste nhớ lại: “Ông mất vì căn bệnh ung thư dạ dày, nhưng ông vẫn lạc quan cho đến những giây phút cuối cùng”. Ngay trên giường bệnh, Korbel vẫn tiếp tục viết hồi ký của một người lính Tiệp Khắc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.
 
Các kiến thức mà cô tiếp thu được từ Korbel đã khích lệ cô lựa chọn chủ đề, các kiến thức cô có được ở Denver là rất có ích và cô nhớ lại điều đó như một kỷ niệm ngọt ngào, “Trong thời gian học tập ở khoa chính trị của trường, tôi đã được đào tạo một cách nghiêm túc về triết học chính trị và phương pháp luận”, Condi nhớ lại, “tôi rất thích môi trường kỷ luật của khoa”. Vào một sáng mùa hè khi cô nhận bằng tốt nghiệp, cô đã hoàn tất những năm tháng học tập về một lĩnh vực mà khi mới bước chân voà trường cô chưa từng nghe tới. Sau này, cô thường khuyên các sinh viên của mình cần phải tích cực, sáng tạo trong nghiên cứu kể cả các lĩnh vực rất khó nhưng mà mình say mê, yêu thích. Cô nhớ lại: “Tôi đã nói với sinh viên rằng: nếu bạn không biết bạn đang muốn gì thì hãy khoan bắt đầu. Hãy chọn một lĩnh vực mà bạn thích và một vị giáo sư mà bạn tin cậy, kính phục khi học tập”. Quá trình thay đổi từ định hướng âm nhạc sang say mê nghiên cứu chuyên sâu về chủ nghĩa Xô Viết đã cho cô bài học vế sự linh hoạt, không khép kín bản thân mình chỉ trong một kế hoạch cụ thể. Cô nhớ lại: “Những năm tháng đầu, lúc tôi xác định mục đích trở thành một nhạc công, lúc ấy đó là tất cả những gì tôi muốn. Và sau này khi đã chọn cho mình một hướng đi, tôi không bao giờ quay trở lại nữa. Kể từ thời điểm đó cô tự hoàn thiện mình để có thể làm việc một cách hiệu quả nhưng vẫn sẵn sàng đón nhận những cơ hội mới”.
 
Khoa chính trị của trường chứng kiến sự khởi đầu của Condoleezza Rice. Arthur Gilbert, một trong số giáo sư phản biện cho luận án tiến sĩ của Condi nói: “Tôi nghĩ chúng tôi hiểu rằng Condi sẽ có thể làm nên một điều gì đó lớn hơn các sinh viên trung bình khác”. Karen Feste thì nói: “Chúng tôi luôn tin rằng Condi sẽ thành đạt, qua các năm tháng chúng tôi đã chứng kiến nhiều sinh viên tài năng xuất hiện và mỗi lần như vậy chúng tôi đều chờ đợi sự thăng hoa của họ. Chúng tôi không biết sẽ là lúc nào nhưng chúng tôi biết rằng điều đó nhất định sẽ xảy ra”. Với Condi, điều đó đã xảy ra ngay tại California.
Đăng nhập để trả lời
0

“Sự hiểu biết về quân sự, cái nhìn lạc quan là những thứ thiết yếu đối với một dân tộc, là nền tảng rất quan trọng của chúng ta. Người da đen cần phải là một phần của tiến trình này. Cũng như việc họ cần phải tham gia các lĩnh vực khác của nước Mỹ trong cả ý nghĩ và thực tiễn. Sẽ là đáng tiếc nếu phải chia tay một dân tộc đầy sức sống như chàng trai da trắng ngoài 40 tuổi”.
-          Condoleezza Rice, 1983
 
 Sáng ngày 1-12-1989, màn sương mỏng chùm lên chiếc tuần dương hạm Belknap của Liên Xô đang hướng về phía Hạm đội 6 đang đậu ở vịnh Valletta gần Malta. Thời tiết vào tuần đó không được tốt lắm. Tổng thống Bush được bố trí trong một căn phòng rất tiện nghi của Đô đốc, ông cố gắng nghỉ ngơi trước khi cuộc hội đàm bắt đầu. Tại cuộc gặp ở Malta, Tổng Bí thư Liên Xô – Mikhail Gorbachev và Tổng thống Mỹ luận bàn về rất nhiều vấn đề, kể cả sự ủng hộ của Mỹ đối với công cuộc “cải tổ” của Gorbachev. Cuộc gặp cấp cao Malta được báo chí mô tả là “cuộc gặp trên sóng biển”. Đây là cuộc gặp đầu tiên của hai siêu cường diễn ra trên tàu biển và nó đã phải dời lại một ngày vì thời tiết, sóng ta (đây có lẽ cũng là cuộc gặp báo hiệu thời kỳ tan rã của Liên bang Xô Viết).
 
Đoàn Mỹ bao gồm Ngoại trưởng – A.Banker III, Chánh văn phòng – John H.Sununu và Cố vấn An ninh quốc gia – Brent Scowsroft. Đi cùng Scowcroft là chuyên gia về vấn đề Xô Viết của Uỷ ban An ninh quốc gia – cô gái mới tròn 35 tuổi Condoleezza Rice. Khi Tổng thống Bush giới thiệu tiến sĩ Rice với Gorbachev, ông mô tả Rice như một chuyên gia hàng đầu: “Có thể nói với tôi mọi thứ về Liên bang Xô Viết”. Mọi người có mặt trong phòng đều chứng kiến Gorbachev rất ngạc nhiên, ông quay về phía Condi và nói: “Tôi hy vọng là cô biết rất nhiều”.
 
Một trong những lý do mà Condi trở thành chuyên gia hàng đầu về Xô Viết chính là yếu tố nói lên rằng đó là lĩnh vực thời sự, một lĩnh vực không thay đổi, mà trong đó lịch sử được người ta viết lại hằng ngày. Như một sinh viên tham dự khoá học đầu tiên ở khoa quan hệ quốc tế, cô không thể ngờ rằng có một ngày cô sẽ đứng ở mặt trận trung tâm của một trong những sự kiện lịch sử đáng nhớ nhất trong lịch sử hiện đại, đó chính là sự kết thúc của Chiến tranh lạnh. Ngày đàm phán đầu tiên diễn ra trong gian buồng tác nghiệp của chiến hạm Xô Viết – Maxim Gorky, chiến hạm duy nhất trên vịnh có đủ sức nặng để không bị tròng trành theo sóng. Tám tiếng đồng hồ đàm phán diễn ra trong hai ngày, Tổng thống Bush và Tổng Bí thư Gorbachev tranh luận về vấn đề kiểm soát buôn bán, chính sách ngoại thương, luật nhập cư của Liên Xô, các cuộc can thiệp quân sự ở châu Âu và các chủ đề khác. Kết quả quan trọng nhất của cuộc hội đàm là thoả thuận của hai nhà lãnh đạo về việc hãy để các bất dồng giữa hai dân tộc trở thành quá khứ. Gorbachev nói: “Chiến tranh lạnh cần phải chấm dứt”. Tổng thống Bush nói: “Các cuộc chạy đua vũ trang, sự thiếu tin tưởng, các cuộc đấu tranh về tư tưởng và tâm lý, tất cả đều cần chấm dứt”. Đó chính là tín hiệu báo hiệu kỷ nguyên mới trong quan hệ Xô-Mỹ. Tại Malta, Bush và Gorbachev mở ra một thời kỳ hợp tác mới giữa các siêu cường. Và Condi Rice đã có mặt tại đó.
 
Sự nghiệp của Condi, kể cả công việc giảng dạy và hoạt động chính trị bắt đầu khoảng 8 năm sau thời kỳ học tập ở Stanford. Năm 26 tuổi sau khi tốt nghiệp ở Denver, Condi tiếp tục nghiên cứu về an ninh quốc tế và kiểm soát vũ khí tại Trung tâm nghiên cứu của Đại học Stanford. Trường Đại học Stanford nằm cách San Francisco 35 dặm về phía Nam, trường rất hãnh diện vì đã có những sinh viên tốt nghiệp đạt giải Nobel và giải thưởng Pulitzer. Đây là một trong những trường đại học đẹp nhất đất nước. Ngôi nhà có ngoái đỏ nằm trong cánh rừng gỗ sồi, giữa rặng dừa và các cây khuynh diệp. Khuôn viên của trường chiếm 8.000 hecta, trải dài bên vờ vịnh San Francisco.
 
Học bổng tại trường dành cho Condi một khoản khoảng 30.000 đôla, có phòng làm việc riêng, có quyền sử dụng các thư viện của nhà trường, các phương tiện nghiên cứu của khoa. Như một chuyên gia nghiên cứu về Liên Xô, cô có điều kiện tiếp xúc với các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân, các chuyên gia về an ninh và các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau của trung tâm để nghiên cứu các đề tài về an ninh quốc tế. Đó là cơ sở duy nhất cung cấp “đầy đủ các khoá học về kiểm soát vũ khí của tất cả các quốc gia” và sinh viên sau khi học ở đây có thể đủ điều kiện trở thành các chuyên gia về kiểm soát vũ khí và an ninh. Sau khi tốt nghiệp, đa số sinh viên được làm việc ở các cơ quan nhà nước về lĩnh vực kiểm soát vũ khí.
 
Học bổng này chỉ cấp cho năm cuối của khoá học, tuy nhiên vài tháng trước khi cô tới học tập ở đây, Condi đã tạo được ấn tượng rất lớn khi cô xuất hiện ở khoa khoa học chính trị, nơi cô được đề nghị tham gia hoạt động của khoa. Khoa đang tìm kiếm những nhân vật có trình độ và Condi có đầy đủ điều kiện không chỉ là một người da đen mà còn là một phụ nữ trong lĩnh vực thường dành cho đàn ông. Một khi cô đã quyết định lựa chọn, thậm chí nó không bảo đảm vị trí cho cô nếu cô không tự chứng minh được mình trong công việc. Condi nói: “Họ không cần các chuyên gia khác về Xô Viết, nhưng họ lại tự hỏi: Liệu đã bao giờ có một người phụ nữ da đen đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chúng ta?”. Trưởng khoa nói: “Chúng ta có ba năm để quyết định có nhận cô ta hay không, ở đây không có yếu tố về màu da, không ai xét đến nguồn gốc dân tộc, và cô cũng không là ngoại lệ”. Condi lúc đó nghĩ thầm: “Tốt, có vẻ là rất công bằng”.
 
Khoảng cuối năm 1981, Condi bắt đầu học kỳ với cương vị Phó giáo sư của khoa chính trị. Cô đồng thời được chỉ định là trợ lý giám đốc của Trung tâm nghiên cứu về kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế. Ở tuổi 26, cô bước vào nghề giáo viên và giành được uy tín trong sinh viên và giảng viên. “Tôi nghĩ những gì thuộc về con người trong sự kết hợp giữa mọi người, với các tính cách điềm đạm, nhân hậu và rất biết ơn… Loại kết hợp trí tuệ sắc sảo với bàn tay nhung”. Coit Blacker, một trong số các giáo sư của cô nói vậy. “Cô ta là một tính cách thép”, ông tiếp tục bổ sung thêm rằng các tính cách chịu ơn của người phương Nam kết hợp với một “nét tính cách rất cứng rắn của người ở trung tâm thành phố” và tính kỷ luật cao.
 
John Ferejohn, người được mời làm giáo sư của khoa khoa học chính trị ở Stanford năm 1983, nói rằng Condi là người da đen duy nhất ở khoa. Ông thừa nhận các tố chất lãnh đạo của cô, mọi người đều thừa nhận cô và thậm chí khi cô đã là Phó giáo sư cô vẫn như những gì mà bạn thấy bây giờ, một người lãnh đạo rất có năng lực, quyết đoán, rõ ràng. Thậm chí khi anh không đồng ý điều gì đối với cô, cô vẫn chứng minh được lý lẽ của mình, chính cô thích thuyết phục được anh với các quan điểm trái ngược, cô thường chiến thắng.
 
Trong nhiều năm, Condi đã đi qua các khoá học mà cô gọi là “các môn ứng dụng” của khoa học chính trị như nền quân sự, an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại. Các khoá học đó bao gồm:
 
“Khối Xô Viết và thế giới thứ ba”: Một lý giải về các hoạt động chính trị-quân sự và kinh tế của Liên bang Xô Viết và các đồng minh của họ trong thế giới thứ ba.
 
“Vai trò của các chính sách quân sự”: Một khảo cứu các quan hệ quân sự và các nhà lãnh đạo với ba loại nhà nước: các nước công nghiệp phương Tây, chủ nghĩa cộng sản và các nước đang phát triển, Condi sử dụng ví dụ về các lãnh đạo của Hoa Kỳ, của Liên Xô, Trung Quốc, Brazil và Nigeria.
 
“Nền chính trị của các liên minh”: Các bài giảng về NATO, Hiệp ước Warsaw và các hiệp ước quân sự khác của thế kỷ XIX, thế kỷ XX trong hệ thống tuốc tế.
 
“Các nhà chính trị thông thái”: Một hội thảo về tư tưởng và hành vi của các nhà chính trị trong lĩnh vực chiến lược, hành chính, điều hành và quân sự của nhà nước.
 
“Chính sách An ninh quốc gia của Hoa Kỳ và Liên Xô”: Trách nhiệm của các cường quốc trong kỷ nguyên hạt nhân. Một so sánh về việc hai siêu cường cân bằng như thế nào các nghĩa vụ và quyền lợi quốc nội và quốc tế, với cách nhìn đối với hệ thống an ninh quốc gia của họ.
 
“Tình trạng bạo lực”: Một hội thảo về các thay đổi mang tính cách mạng, vai trò của giới quân sự và cảnh sát.
 
“Sự chuyển đổi của châu Âu”: Cái nhìn của các chính khách ở Washington, Bonn, Matxcơva, Paris và London. Chủ đề này nêu các thay đổi ở câu Âu từ năm 1989 đến năm 1990.
 
Một trong các phương pháp giảng dạy được yêu thích của cô là tạo cho sinh viên cơ hội sáng tạo đối với các quyết định quan trọng của chính sách đối ngoại với các tự đóng vai một nhân vật quan trọng nào đó. Sau khi các sinh viên nghiên cứu, viết ra giấy về các sự kiên, họ phải đóng vai một nhân vật nào đó trong thực tế. Cô cho rằng cách học này tạo cho sinh viên khả năng giải quyết vấn đề trong những điều kiện cụ thể. Điều này giúp họ nắm được vấn đề tốt hơn là chỉ đọc trong sách.
 
Điều đó sẽ tăng thêm độ khó để tích hợp trong sinh viên một kịch bản để can dự một cách tổng thể vào các chính sách đối ngoại theo một phương pháp có thể trong văn hoá của khoa học chính trị và lịch sử. Condi kể: “Cô cảm thấy rằng ‘phương pháp đóng vai’ giúp cho sinh viên nắm vững vai trò quan trọng của nhân vật chính mà họ đóng vai và các tác động cảm tính cũng như vai là Nghị sĩ Quốc hội, một nhà báo, một nhân viên hành chính và các nhóm có lợi ích đặc biệt”. Cô giải thích rằng: “Về nguyên tắc, nói chung các kiến thức trong sách vở không bao quát hết các khía cạnh quan trọng của sự kiện, khi tái hiện lại sự kiện các sinh viên cảm nhận sâu hơn hành vi của họ”. “Rất thú vị khi quan sát các sinh viên thể hiện hành vi của chính mình”, Condi nói vậy. “Họ sẽ nói, tôi không bao giờ nghĩ rằng tôi có thể hành động như vậy”.
 
Troy Eid, một sinh viên của Condi nhớ lại cảm xúc của mình khi tham gia kịch bản với vai Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô, cùng các sĩ quan cao cấp khác. Trong một buổi học, anh chàng sinh viên buồn ngủ ngay trong phòng làm việc của Condi. Condi đã đánh thức anh ta và đưa một tách cà phê để anh ta có thể bám theo chương trình. “Đó là một tuần lễ rất nhạy cảm mà tôi chưa từng phải trải qua”, anh ta nói, cái mà người ta nói nhiều về một người đàn ông trải qua năm cuối ở Đại học Luật Chicago, đã trở thành Giám đốc tư vấn cho Thống đốc bang Colorado, Bill Owens và đã từng là CEO của một công ty lớn phát triển hệ thống Internet.
 
Là đảng viên Đảng Cộng hoà, Condi không theo các truyền thống tự do trong công tác giảng dạy và cô  không cố gắng giữ lại các quan điểm bảo thủ của mình. Một sinh viên nhớ lại rằng cô được biết đến như “Condi đại bàng” và John Ferejohn tuyên bố rằng Đảng Cộng hoà của cô, “không có gì là ngạc nhiên, mọi người đều rất hiểu về cô. Cô là thành viên rất tích cực của cộng đồng. Cô không bao giờ né tránh và luân chân thành”.
 
Khi giảng bài về các vấn đề quân sự, Condi thường mở đầu bài giảng của mình bằng các kiến thức về bóng đá. Mọi người đều biết rằng một trong những niềm say mê của Condi chính là sự so sánh giữa chiến tranh và bóng đá, Paul Brest, cựu giám thị của khoa Luật trường Stanford và bây giờ đang là chủ tịch của quỹ Hewlett đã từng tham gia các chương trình ở trường cùng Condi. Anh được xếp lịch cho một sự kiện ở khoa để xem trận đấu của đội San Francisco 49. Khi biết điều này, Condi nói: “Hãy nói với tôi, tôi sẽ không làm anh ngượng vì tôi biết là anh không biết gì về bóng đá, vì vậy tôi sẽ hướng dẫn anh về môn bóng đá”. Cô ngồi giữa Paul và vợ anh ta, và hướng dẫn họ trò chơi. Điều đầu tiên họ nghe cô nói là câu “bóng đá giống như chiến tranh, bản chất của nó là chiếm lĩnh trận địa”, Paul nhớ lại.
 
Condi không phải là người đầu tiên đưa ra các phân tích này, Stephen Crane – tác giả của tiểu thuyết nội chiến Chiếc phù hiệu màu đỏ của lòng dũng cảm (1895) đã lý giải tại sao anh ta lịa viết hay như thế về chiến tranh, mặc dù anh chưa hề trải qua nó. “Tôi tin tưởng rằng tôi có một kịch bản sống động về cuộc xung đột trên sân bóng đá”. Teddy Roosevelt có lần nói: “Trong cuộc sống, như trên sân bóng đá, nguyên tắc là: tiến sát đến đường ranh giới, không gian lậtn và né tránh nhưng áp sát đường biên”. Và Walter Camp (1859-1925) người đã sáng tạo ra môn bóng đá Mỹ, được mô tả là một “mối dây liên hệ đáng nhớ và thú vị giữa lý thuyết về các trận đấu lớn mà ít chịu các bàn thua vào lưới nhất”.
 
Rất nhiều cầu thủ bóng đá và các nhân vật liên quan tham gia vào nghiên cứu của Condi. Một nữ sinh viên nhận xét rằng cô ta cảm thấy một sự hoà đồng rộng lớn khi tiếp cận, vì vậy cô đã tham dự một bài giảng của Condi về cuộc chiến ở Bosnia năm 1992. “Đó là bài giảng tập trung vào các hành động quân sự và các cuộc xâm lược. Điều này rất thú vị vì nó đề cập đến sự việc vừa xảy ra đó là cuộc khủng hoảng ở Nam Tư. Tiến sĩ Rice dẫn dắt lớp học bằng cách đưa ra các phân tích về bóng đá, so sánh chiến lược chiến thuật trong bóng đá với các cuộc chiến giữa các dân tộc. Điều đó làm tôi quan tâm vì đó là một phụ nữ mà lại có tính cách của một người đàn ông. Tôi nghĩ rằng với các sinh viên thì đó là phương pháp nhưng sẽ là khó vì trong các sinh viên có thể có những người không phải là cầu thủ bóng đá. Tôi nghĩ lúc đó có thể đem chiến tranh ra để so sánh với bóng đá… Lóp học rất sôi động và tôi học được nhiều điều”.
 
Bất kỳ ai gặp các sinh viên sau giờ học của giáo sư Rice đều cảm nhận được bầu không khí sôi nổi mà cô mang lại cho họ. Các sinh viên được nghe giáo sư Rice lên lớp đều hiểu rằng cô rất nghiêm túc trong giờ học. Một sinh viên nhớ lại: “Tôi sẽ mãi nhớ 55 phút nói chuyện điện thoại vào giữa trưa với giáo sư Rice để nhận xét bản tiểu luận trong luận án của tôi”. Một sinh viên khác miêu tả giáo sư Rice như là “một nhà giáo tuyệt vời, một giáo sư theo kiểu trường phái của Socratic. Các chỉ dẫn của cô trong các buổi thảo luận với các đề tài lớn quả là vượt trội trong số các giảng viên mà tôi đã được học ở Stanford”. Condi để lại một ấn tượng rất sâu sắc về vai trò hiện đại của nhóm sinh viên tham gia một trong các seminar của cô. Cô luôn coi mọi sinh viên đều là học trò cưng của mình. Kết thúc các buổi hội thảo, một số lớn các sinh viên đều có chung ý nghĩ làm sao để có thể trở thành một giáo sư uyên bác như cô. “Dường như mọi cái ở cô đều là hiện thân của những gì mà chúng tôi ngưỡng mộ trong trường. Cô là một người hiểu biết nhưng rất giảng giao, là một người có trí tuệ nhưng không tự cao và các bài giảng của cô hoàn chỉnh nhưng không khô khan”.
 
Sau ba năm làm công tác giảng dạy, Condi tri qua một kỳ kiểm tra và cô được bổ nhiệm là phó giáo sư. Và như vậy, trên thực tế cô đã trở thành một giảng viên được đánh giá cao của trường. Năm 1984, trường Đại học Stanford trao tặng cô phần thưởng Walter J.Gores vì có thành tích xuất sắc trong giảng dạy, đây là phần thưởng cao quý nhất của trường. Việc trao giải thưởng diễn ra vào đúng dịp khai trường (ngày 17-6), Hiệu trưởng Albert Hastorf biểu dương Condi: “Vì đã đem đến sự lạc quan và thuyết phục trong các bài giảng của cô và kích thích lòng khao khát muốn khám phá và say mê ở các sinh viên”; đồng thời ông nhắc lại rằng cô nổi danh vì đã đem lại “sự hỗ trợ kịp thời, động viên và gây nguồn cảm hứng cho các sinh viên”.
 
Condi kèm cặp cả các sinh viên năm cuối và năm thứ ba và một trong số các nghiên cứu sinh tiến sĩ của cô đã trở thành một nhân vật đang lên của ngành ngoại giao – Jendayi Frazier, đã được ký hợp đồng để làm công tác giảng dạy tại khoa của Condi, ở trường Denver sau khi tốt nghiệp Stanford vào những năm 1990. Đề tài của cô là nghiên cứu chuyên sâu về các chính sách đối với châu Phi, cô còn là chuyên viên nghiên cứu tại đại học ở Nairobi, Kenya. Trường đại học Harvard đã tuyển dụng cô và phong chức Phó giáo sư cho cô về môn chính sách công ở khoa về nhà nước mang tên Kennedy. Khi Condi trở thành Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Bush, cô đã bổ nhiệm Jendayi làm chuyên gia về các vấn đề châu Phi trong Hội đồng an ninh quốc gia. Chức danh chính thức của cô là trợ lý đặc biệt của Tổng thống và giám đốc cấp cao về các vấn đề châu Phi.
 
Đúng như Josef Korbel đã nhận xét, Condi đã trở thành một giáo sư tài năng và điều đó giúp cô trở thành giáo sư hàng đầu của trường Stanford. Năm 1987, cô được bổ nhiệm là Phó giáo sư và năm 1993, ở tuổi 38 trở thành giáo sư. Cũng năm đó cô còn nhận được một danh vị khác: Giải thưởng của trường Khoa học Nhân văn vì thành tích giảng dạy xuất sắc. Giải thưởng có giá trị 5.000 đôla tiền mặt và được tăng lương thêm 1.000 đôla.
 
Năm 1984, Condi trở thành bạn thân của giáo sư Coit Blacker, người vào đầu những năm 1980 là thành viên trợ giúp cho Thượng nghị sĩ Dân chủ - Gary Hart. Họ tham gia thảo luận chương trình tranh cử của Hart và các ý tưởng cải cách về quốc phòng của ông, những điều mà Condi rất quan tâm. Coit đã giới thiệu Condi cho Thượng nghĩ sĩ Hart, ông đã ngay lập tức chấp nhận vì “sự thông minh và dễ mến của cô”. Condi đã giúp Hart trong chiến dịch tranh cử như một cố vấn về chính sách đối ngoại.
 
Quá trình làm việc với Hart giúp Condi bước vào chính trường. Tuy nhiên, kinh nghiệm cô có được trong bộ máy nhà nước là vào năm 1986, khi cô đến làm việc một năm ở Tiểu ban Quan hệ quốc tế tại Lầu Năm góc. Sứ mạng của các nghiên cứu và cơ cấu của tổ chức này đã được công bố trên tạp chí Chính sách đối ngoại, là “làm tăng hiểu biết của người Mỹ về thế giới và đóng góp vào công tác đối ngoại của Hoa Kỳ”. Hàng năm Hội đồng giải thưởng đưa ra một danh sách lựa chọn trong số các học bổng về quan hệ quốc tế cho các giáo sư ở các trường tham gia các hoạt động của các quan chức nhà nước. Điều này cho phép các giảng viên tiếp cận các cơ quan nhà nước và ngược lại cho phép giảng viên tiếp tục các khoá học trong lĩnh vực công tác của mình. Giáo sư của Condi ở trường Notre Dame – George Brinkley gợi ý cô nên đăng ký để dành một trong 20 học bổng đó.
 
Đó là một thời kỳ say mê về các chủ đề liên quan đến sức mạnh quân sự. Vị trí trợ lý của Condi cho Tham mưu trưởng liên quân tạo cho cô cơ hội tham gia làm việc trong Lầu Năm góc thời kỳ chính quyền của Tổng thống Reagan đang tăng cường đầu tư cho bộ máy quân sự. Dưới thời Reagan, chi phí quân sự tăng 7% mỗi năm. Khi Condi đến làm việc cho chính quyền của Reagan chính là thời gian ông vừa có cuộc hội đàm với Gorbachev. Cuộc gặp Iceland tháng 10-1986 bắt đầu sự thoả thuận cấp cao giữa hai nhà lãnh đạo để cắt giảm các đầu đạn hạt nhân trong vòng 10 năm. Họ cũng đạt được các tiến bộ trong lĩnh vực quyền con người, nhưng Gorbachev yêu cầu Reagan giảm bớt chương trình phòng thủ tên lửa chiến lược mà người ta vẫn gọi là “Chiến tranh giữa các vì sao”. Họ gặp lại nhau vào các năm tiếp theo và ký kết hiệp ước về vũ khí hạt nhân tầm chiến dịch (INF) để giảm số lượng các tên lửa tầm bắn 300-3.500 dặm xuống còn 2.700 đầu đạn.
 
Condi nghiên cứu chương trình hạt nhân và làm quen với không khí làm việc ở Lầu Năm góc và các nhân vật quan trọng trong lĩnh vực quân sự. Cô cảm nhận không khí của cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Cô thấy các quan chức quân sự rất hoan nghênh sự có mặt của các giáo sư. Một năm sau khi trở về trường đại học, trong một lần trả lời phỏng vấn cô nói rằng: “Vị trí thực tập của tôi ở Lầu Năm góc là một trong những kinh nghiệm quý báu nhất trong đời”.
 
Khi cô chuyển đến California để làm việc ở Stanford, Condi lần thứ hai phải sống xa cha mẹ. Không giống như thời kỳ ở trường Notre Dame, thời kỳ ở Stanford dài hơn. Các buổi đi lễ nhà thờ là hoạt động thường xuyên của gia đình, vì vậy năm đầu tiên sống xa gia đình cô không được thường xuyên đi lễ nhà thờ. Có một chủ nhật, cô tâm sự điều đó với một người bạn thì anh ta nói rằng anh ta đang cần tìm một tay chơi piano cho dàn nhạc nhà thờ của anh. Cô nói rằng cô sẵn lòng chơi cho dàn nhạc 6 tháng.
 
Condi gặp lại người bạn thời thơ ấu – Deborah Carson ở Palo Alto và hai người thường tâm sự về thời gian đã qua, cùng ăn tối và đi mua sắm. Giày dép là thú vui mua sắm lớn của Condi và cô rất thích đến cửa hàng ở Quảng trường Thống nhất ở San Francisco – nơi có rất nhiều hàng hoá nhãn hiệu nổi tiếng. Deborah nhớ lại có một lần đi mua sắm, Condi mua tới 8 đôi giày, dép hiệu Ferragamos. Vài tháng sau, cô và Deborah lại xuất hiện ở cửa hàng và người bán hàng cảm thấy rất buồn cười. “Chúng tôi bước vào cửa”, Deborah nói, “và một người bán hàng ở gian cuối cửa hàng nhảy qua dãy ghế để đuổi theo Condi. Chúng tôi đã cười rất to, và tôi nói: Condi, cô hãy tiêu diệt chúng đi! Họ phải nói với nhau rằng khi nhân vật này trở lại thì đó là một ngày may mắn cho cửa hàng”.
 
Condi giữ được sự phấn chấn trong công việc bao gồm cả việc luyện tập chăm chỉ với giáo viên riêng ở phòng tập thể lực của trường Stanford. Bạn bè cố định lịch luyện tập cho cô một cách ngẫu nhiên, nhưng cô đã tìm được thầy giáo cho mình. Cô đã gặp một huấn luyện viên bậc đại học, một giáo sư thỉnh giảng từ một trong 500 công ty được tạp chí Fortune xếp hạng từ phía Đông, người đã tham dự một cuộc hội thảo ở Stanford. Condi vẫn giữ các chương trình hoạt động ngoài trời sôi nổi bao gồm các buổi tập luyện với các huấn luyện viên ở phòng tập thể thao của trường. Bóng đá vẫn là chủ đề say mê của Condi. Một trong số bạn trai lâu nhất ở trường Stanford của cô là cầu thủ trung vệ cánh – Gene Washington của đội San Francisco 49, một sinh viên năm cuối của trường Stanford, anh chơi cho đội San Francisco từ năm 1969 đến năm 1977. Washington là một ngôi sao lớn thường xuất hiện trên phim ảnh và truyền hình. Anh và Condi có hai điểm chung: cả hai đều yêu thích bóng đá và cả hai đều cùng đến từ Birmingham. “Họ quả thật là một đôi”, Deborah Carson nói vậy, “và thậm chí nếu họ không tiếp tục tình bạn nữa thì trong hoạt động xã hội họ vẫn có thể cùng tham gia”. Washington hiện nay là một quan chức cấp cao của Liên đoàn Bóng đá Mỹ (NFL).
 
Bóng đá tiếp tục chiếm một phần thời gian của Condi và như cô nói nếu nó không được truyền trên tivi thì cô sẽ ra sân nhiều hơn. Sự thật việc cô tập chống tay đã được đăng tải ngay khi cô tới Stanford, trên một bài báo trên tạp chí lớn. Trong những năm ở trường Stanford, cô đã viết ba cuốn sách, bắt đầu là cuốn Một liên minh lỏng lẻo: Liên bang Xô Viết và quân đội Tiệp Khắc, đây chính là tác phẩm tiếp nối luận văn tiến sĩ của cô. Tiếp theo là cuốn Kỷ nguyên Gorbachev, đây là cuốn sách tập hợp các bài báo về lịch sử Nga và Xô Viết, cuốn sách này cô viết chung cùng Alexander Dallin. Là một chuyên gia hàng đầu về Đông Âu và Xô Viết, Dallin là một giáo sư ở khoa lịch sử quốc tế của trường Stanford, cuốn sách của họ đã được Nhà xuất bản trường Stanford xuất bản năm 1986.
 
Cuốn thứ ba cô viết chung với Philip Zelikow là cuốn Nước Đức thống nhất và một châu Âu chuyển đổi: Một nghiên cứu tại Statecraft. Cô đã từng cùng làm việc với Philip Zelikow trong bộ máy của Tổng thống Bush trong thời kỳ tái thống nhất nước Đức. Cuốn sách này được trường Đại học Harvard xuất bản năm 1995. Cả hai tác giả đã sử dụng các kinh nghiệm của mình và tham khảo hàng ngàn tư liệu trong kho lưu trữ quốc gia. Sau đây là một đoạn trong cuốn sách mô tả ngày bức tường Berlin sụp đổ:
 
“Sự sụp đổ của bức tường Berlin là một sự kiện có sức lan toả và cảm xúc mà thế giới trong nhiều năm mới được chứng kiến. Mặc dù sự sụp đổ của bức tường lập tức đặt ra vấn đề mà thời kỳ hậu chiến tranh đã đưa ra về tương lai của nước Đức. Điều đầu tiên là vấn đề xã hội, sự đoàn tụ của các gia đình sau một thời gian bị chia cắt. Rất đông người dân Đông Đức đã tràn sang Tây Đức để xem các cửa hàng đầy ắp hàng hoá. Đó là biểu tượng trên tivi của Tây Đức và chính là sự xuất hiện tình cảm của dân tộc Đức… Đã có khoảng 9 triệu người Đông Đức sang thăm Tây Đức trong vòng một tuần lễ thống nhất đầu tiên”.
 
Cuốn sách này là một trong ba cuốn sách được giải thưởng về sách lịch sử cho năm 1994-1995, một giải thưởng danh dự do quỹ Pacific Quest trao tăng về Lịch sử quốc tế. Nước Đức thống nhất cũng được đề xuất cho một đồng giải thưởng của năm 1996 về sách trong lĩnh vực ngoại giao do Học viện Ngoại giao Hoa Kỳ trao và nhận giải thưởng của câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Hoa Kỳ cho bộ sách xuất sắc về chính sách đối ngoại.
 
Condi say mê với đề tài Xô Viết và công tác giảng dạy, cuộc sống của cô ở Stanford rất sôi động (đầy ắp các sự kiện). Cô lên lớp, tư vấn, nghiên cứu, viết sách báo và còn dành thời gian xem bóng đá trên tivi. Sự nghiệp làm giáo viên của Condi chứng kiến hai sự kiện nổi bật vào những năm 1990, tất nhiên trước hết đó là việc cô đã trả lời điện thoại từ Washington với lời đề nghị một vị trí làm việc trong Nhà Trắng, việc thứ hai, đó là sự thăng tiến của cô trong nấc thang sự nghiệp tại trường đại học.
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
“Condi có trí tuệ sáng láng… Cô ta có phong cách đặc biệt, điều đó có thể làm nguội lạnh những cái đầu hiếu chiến nhất. Tại sao? Bởi vì họ hiểu cô ta rất biết mình đang nói điều gì”.
-                      Cựu Tổng thống George H. W.Bush
 
 
Vào năm thứ tư tại Đại học Stanford, Condi được mời phát biểu trước sinh viên năm cuối trong ngày khai giảng. Ở tuổi 30, phó giáo sư Condi trông rất trẻ, như một nữ sinh ở tuổi 22; nhưng bài phát biểu của cô lại chứa đựng rất nhiều kinh nghiệm. Cô giảng giải với họ các vấn đề của Chiến tranh lạnh một cách dễ hiểu, cô còn khơi gợi rằng bất kỳ một sáng kiến nào để tìm ra giải pháp dù là rất nhỏ cũng đều rất có giá trị. Cô nói: “Tất cả các bạn cần phải sẵn sàng làm các công việc lớn hơn, rộng hơn và đối diện với các vấn đề mà chúng ta phải tham gia giải quyết”, “Nếu các bạn tập trung quá nhiều vào bản thân vấn đề mà không cố gắng tìm ra giải pháp, tôi sợ rằng các bạn sẽ trở nên tê liệt, phạm vào các sai lầm và không thể làm được gì để đạt mục tiêu của mình. Người ta nói rằng thời gian sẽ trôi qua nhanh. Vâng, có lẽ… tất cả những gì mà chúng ta có thể làm làm hy vọng rằng chúng ta có thời gian để làm rõ chúng ta phải làm gì tốt nhất vào thời điểm đó”.[/align] 
Đối với Condi, sử dụng thời gian tốt nhất đối với cô bao gồm cả các công việc phục vụ công chúng. Lớn lên tại Birmingham, cô chứng kiến cha mẹ mình lo lắng cuộc sống cho con cái, kể cả ở nhà và trường học. Cách mà họ chống lại sự bất công xã hội chính là định hướng cho bọn trẻ lòng tự tin, học vấn và tạo cho chúng cơ hội. Họ âm thầm chuẩn bị cho lũ trẻ đối mặt với một xã hội bất công. Tất cả những điều này để lại dấu ấn sâu đậm trong Condi và cô hy vọng dùng kiến thức của mình để đóng góp cho các vấn đề có tính quyết định trong lĩnh vực an ninh quốc gia.
 
Thời gian công tác tại Lầu Năm góc đem lại cho cô hiểu biết làm thế nào một chính sách chuyển thành hành động cụ thể và cô muốn được tham gia vào quá trình đó. Mặc dù cô không thích thú với cuộc chiến tranh du kích, nhưng cô đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu phương cách giải quyết các xung đột và chiến lược quân sự, và cô hy vọng đến một ngày sẽ có cơ hội được sử dụng kiến thức của mình ở Washington. Đồng thời cô can dự vào quá trình giải quyết các vấn đề ở ngay cộng đồng Stanford, California của mình.
 
Năm 1986, Condi tham gia vào Hội đồng Giám đốc của Liên minh các quân ngoại ô ở khu trung Peninsula Stanford, đó là một tổ chức tư vấn giúp cộng đồng về vấn đề sức khỏe, nhà ở, khởi nghiệp và các vấn đề khác. Một trong các công việc của liên mnh là điều hành hoạt động của Học viện Peninsula nơi cung cấp khoá học hè cho một nhóm sinh viên có học lực yếu, có nguy cơ bị buộc thôi học. Học viện được thành lập năm 1981 với mục đích phụ đạo cho các sinh viên, tạo ra thái độ tích cực với việc học tập, học cách làm việc và nâng cao trách nhiệm cho những người tham gia, dồng thời chuẩn bị để làm việc tốt sau khi tốt nghiệp. Trở về Birmingham, John Rice cũng làm một việc tương tự như khi ông còn trẻ ở nhà thờ Westminster. Condi giữ cương vị ở Hội đồng trong 3 năm.
 
Năm 1988, Condi được bầu làm lãnh đạo một tổ chức giáo dục định hướng khác, đó là tổ chức KQED của hệ thống truyền thanh công cộng San Francisco. Chức năng của hệ thống là cổ vũ cho ý tưởng: “Học suốt đời, sức mạnh của các ý tưởng và vai trò quan trọng của dịch vụ công và sự tham gia của cộng đồng”. Trong bức thư gửi tổ chức này, Condi mô tả cách thức để cô có thể nắm giữ cương vị Giám đốc của Đài như sau:
 
“Phát thanh và truyền hình đóng một vai trò to lớn và có lẽ là rất lớn trong ương lai của nước Mỹ, đặc biệt là trong các vấn đề và thách thức mà chúng ta phải đối mặt… Cương vị giám đốc có thể nghĩ đến là một người đại diện cho các quan điểm chung của cộng đồng. Có thể từ các dự báo khác nhau, trong việc mô tả được lĩnh vực mà mạng truyền thông công cộng thông qua thông tin và diễn giải các ý tưởng có thể tạo ra một cái gì đó khác biệt. Vùng Vịnh là một cộng đồng quốc tế với các quan điểm khác nhau về tương lai chính trị và quan hệ kinh tế thế giới của nước Mỹ và KQED phải đưa ra một chương trình phù hợp với các xu thế đó. Với tư cách là một giáo sư về chính sách quốc tế và Xô Viết, tôi tham gia vào các vấn đề liên quan như một thách thức mà tôi phải chấp nhận. Tôi có thể mang theo các kinh nghiệm và các cân nhắc của tôi để xem xét các vấn đề quan trọng của đài”.
 
Chỉ khoảng một tháng sau sự kiện cô được bầu vào một vị trí ở Hội đồng Giám đốc KQED thì Condi đã được chấp nhận ở một cương vị của Hội đồng An ninh quốc gia ở Washington. Cô đưa ra quyết định từ chức của mình trước khi kịp tham gia cuộc họp đầu tiên của Hội đồng.
 
Condi đã phát biểu trước đông đảo cử toạ trong cộng đồng vùng Vịnh khi cô được yêu cầu phát biểu ở Câu lạc bộ sức khoẻ cộng đồng, đây là một diễn đàn công cộng, nơi mỗi năm tổ chức hàng trăm sự kiện chính trị, xã hội, văn hoá và các vấn đề khác. Truyền thống tổ chức các buổi nói chuyện tại Câu lạc bộ có từ năm 1911, thời Teddy Roosevelt và các diễn giả thường là các nhà hoạt động xã hội, chính trị, các nhân vật tầm cỡ quốc gia như Luật sư Martin Luther King, Jr., Ronald Reagan, Erin Brockovich, và Bill Gates. Ngày 9-5-1988, Condi đã có bài phát biểu với chủ đề: “Quan hệ Nga-Mỹ: Kỷ nguyên Gorbachev” tại Câu lạc bộ vào bữa ăn trưa ngày thứ sáu ở khách sạn Sheraton Palace ở San Francisco. Bài phát biểu được truyền đi toàn quốc qua hệ thống truyền thanh.
 
Trong giai đoạn này, ở tuổi 33, giáo sư Rice còn có hai bài phát biểu quan trọng káhc. Tháng 11-1987, Condi có chuyến viếng thăm trường Đại học Michigan ở Ann Arbor. Cô lên lớp và hướng dẫn cách tổ chức hội thảo cho các sinh viên của Trung tâm nghiên cứu về nước Nga và Đông Âu của trường, và có bài phát biểu trước cử toạ về Gorbachev. Mùa xuân năm đó, tháng4-1988, cô có chuyến đi tới Liên Xô để phát biểu tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Matxcơva.
 
Các hoạt động xã hội của Condi được khuyến khích bởi động cơ muốn phục vụ nhiều hơn cho cộng đồng. Về tính cách này của Condi, John Riasian – Giám đốc Viện Hoover của Stanford nói: “Tôi nghĩ con người chia làm hai nhóm: một nhóm thì quan sát các chủ trương chính trị của một tổ chức và coi đó như sự thăng tiến nghề nghiệp của mình; nhóm khác thì cho đó là cơ hội để đạt mục đích khác có ý nghĩa cộng đồng, độc lập hẳn với sự thăng tiến về nghề nghiệp. Condi chính là người thuộc nhóm thứ hai”. Ông bổ sung thêm rằng cô là một trong số rất ít người biết các phát triển nhiều ý nghĩa thông qua một công việc. Bổ trợ thêm cho các bài viết, bài giảng và công trình nghiên cứu của cô, ông nói thêm: “Cô thường xuyên có các lời khuyên rất có ý nghĩa và thú vị, cô thường xuyên bận rộn và lo lắng cho công việc”.
 
Lịch làm việc của cô lúc nào cũng kín, ngay từ năm đầu tiên co làm việc ở Stanford với rất nhiều chức vụ ở các hội đồng, các tổ chức ở nhiều trường, trong đó có cả hoạt động ở Uỷ ban điều hành các dịch vụ công, nơi cô làm Chủ tịch từ năm 1987 và 1991-1999; Uỷ ban về trợ giúp tài chính cho sinh viên, nơi cô cũng từng làm Chủ tịch trong một năm (1982-1983 và 1988-1989); Uỷ ban điều hành của khoa Nghiên cứu Quốc tế (1988-1989 và 1991-1993) và Uỷ ban hành chính cho sinh viên tốt nghiệp (1991-1992). Cô đồng thời là Giám đốc của Hội đồng Giám hiệu vào năm 1988 và 1989. Hội đồng Giám hiệu là cơ quan hành chính của trường, nơi đề ra các chính sách, luật lệ và cơ cấu cho chương trình học tập. Các đề xuất của Hội đồng Giám hiệu sẽ đệ trình lên Hội đồng quản trị để phê chuẩn.
 
Năm 1985, Condi nhận được học bổng quốc gia từ Viện Hoover về đề tài Chiến tranh, Cách mạng và Hoà bình, những lĩnh vực cho phép cô tạm dừng công việc giảng dạy để bước vào công việc nghiên cứu chuyên sâu. Được sáng lập bởi Herbert Hoover từ năm 1919, Viện là một trong các lựa chọn đầu tiên tại Hoa Kỳ và là mổt trong các cơ sở nghiên cứ có phòng lưu trữ và thư viện lớn nhất thế giới về chính trị, kinh tế và xã hội của thế kỷ XX. Bản thân Viện Hoover mô tả bản thân mình như một tổ chức để “cộng hưởng các ý tưởng có thể xác lập nên xã hội tự do… [và] đóng góp cho sự nghiệp an ninh và hoá bình, phát triển các điều kiện sống cho con người và hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào đời sống riêng tư của cá nhân”.
 
Trong số các cơ hội giành học bổng để nghiên cứu ở Viện Hoover là chương trình học bổng quốc gia dùng để hỗ trợ các học giả trẻ đang hoàn thiện các đề tài nghiên cứu của mình. Vào năm đó, Condi nằm trong số 14 người trong cả nước được lựa chọn để xét cấp học bổng. Đây cũng chính là học bổng đầu tiên trong số ba học bổng Condi nhận được trong những năm tháng học tập tại Stanford. Với học bổng này, từ tháng 9-1985 đến thàng 8-1986, cô đã hoàn thiện công trình nghiên cứu về Kỷ nguyên Gorbachev cùng với Alexander Dallin, đây là một trong sô ba cuốn sách được xuất bản của cô. Dallin là một vị giáo sư có uy tín về khoa học chính trị và lịch sử của trường Stanford, khi ông qua đời tháng 7-2000, các đồng nghiệp ở trờng mô tả ông như “một học giả đáng kính và là một con người có tầm hiểu biết rộng”. Được cùng làm việc với giáo sư Dallin đã là một vinh dự, vì ông là một chuyên gia nổi tiếng nhất ở Hoa Kỳ về Liên bang Xô Viết và một người trong thế hệ đầu tiên của khoa Nga tại Đại học Columbia.
 
Cuốn Kỷ nguyên Gorbachev là tập hợp các bài tiểu luận của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Xô Viết học, nhiều người trong số họ trưởng thành từ trường Stanford. Trong lời giới thiệu của cuốn sách, Condi tham gia hai bài với chủ đề: “Sự phát triển của sức mạnh quốc phòng Xô Viết” và “Hệ thống liên minh quân sự Xô Viết”. Các bài của Dallin bao gồm “Một huyền thoại đã qua” và “Một kế hoạch tổng thể của Liên Xô? Một tham vọng lớn không thực tế trong quan hệ quốc tế”.
 
Vợ của Dallin, một chuyên gia về Xô Viết của trường Đại học California ở Berkeley, cũng đóng góp hai bài cho cuốn sách, sau này bà kể lại cuốn sách đã được bắt đầu như thế nào: “Trường Stanford có yêu cầu Alex hoàn thiện một số bài giảng cho chương trình mùa hè của họ từ khi Chernenko vẫn đang là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nga. Trong thời gian các bài giảng đang được tiến hành thì Gorbachev đã trở thành nhà lãnh đạo mới và một quá trình chuyển đổi lớn đang diễn ra ở Liên Xô. Thực tế đang thử thách bản chất các giá trị của hệ thống Xô Viết, từ kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, chính sách đối ngoại và đồng thời cũng chỉ ra một trong những lực lượng định hướng cho chính sách Xô Viết dưới thời Gorbachev”. Tiến sĩ Lapidus đóng góp hai bài cho cuốn sách, đó là các bài: “Xã hội Xô Viết đang chuyển đổi” và “Vấn đề dân tộc trong xã hội Xô Viết”. Bà nhớ lại việc chồng bà và Condi đã cùng cộng tác rất tốt, mặc dù quan điểm chính trị của họ khác nhau. “Rõ ràng là cách tiếp cận trong vấn đề quan hệ quốc tế và Liên Xô xuất phát từ cách nhìn chính trị khác nhau, nhưng các khác biệt đó không trở ngại mối quan hệ các nhân nồng ấm của họ và Condi đã đến chia buồn với chúng tôi khi chồng tôi qua đời”.
 
Giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời Condi là năm 1985 khi cô phải sống xa gia đình. Khi trở về Denver, mẹ của cô đang phải vật lộn với căn bệnh ung thư phổi và năm đó, vào tuổi 61, bà đã qua đời. Condi bay trở về nhà chịu tang mẹ và để an ủi cha và mọi người. Bạn bè của mẹ Condi đề nghị cô chơi bản nhạc mà lúc sống bà Angelena - mẹ của Condi rất thích, bản nhạc đó làm mọi người nghĩ nhiều về bà. Evelyn Glover, một người bạn của gia đình từ thời ở Birmingham nhớ lại: “Tôi không thể quên ngày ma chúng tôi trở về từ đám tang mẹ của Condi. Khi chúng tôi đến, mọi người đều đề nghị Condi chơi các bản nhạc mà mẹ cô thích và cô đã bước tới bên cây đàn piano”.
 
Trong thời gian sử dụng học bổng đầu tiên ở Viện Hoover, Condi đồng thời bắt đầu viết cuốn sách về lịch sử và sự phát triển của quân đội Xô Viết và Hoa Kỳ. Cô tiếp tục viết sách sau khi trở về công tác giảng dạy nhưng lúc đó công việc diễn ra chậm do cô có quá nhiều công việc khác. Một vài năm tiếp theo, cô đã đưa cuốn sách cho Nhà xuất bản. Tháng 2-1989, cô nhận được điện thoại từ một người quen cũ – Brent Scowcroft - người đã thuyết phục cô bỏ công việc giảng dạy và sử dụng các kiến thức về Xô Viết của mình cho một công việc khác thực tế hơn.
 
Scowcroft lúc đó đã được bổ nhiệm là cố vấn An ninh Quốc gia cho tổng thống mới đắc cử George Bush và ông ta muốn Condi tham gia đội hình của ông ở Uỷ ban An ninh quốc gia. Là một đảng viên Đảng Cộng hoà kỳ cựu và làm việc lâu năm trong binh nghiệp, cộng với trình độ học vấn của mình ông có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Condi như một chuyên gia trong chính sách đối ngoại. Họ có chung sự say mê về lịch sử Xô Viết, cả hai đều nói được tiếng Nga và cả hai đều có uy tín trong các quan điểm về quan hệ quốc tế.
 
Trở thành cố vấn An ninh quốc gia là một sự chuyển đổi rất lớn với Brent vì ông đã từng làm trong lĩnh vực này từ thời Tổng thống Gerald Ford. Lúc đó, Henry Kissinger đồng thời là cố vấn An ninh quốc gia và Ngoại trưởng Hoa Kỳ và chính Brent lúc đó là phó, cánh tay phải của Kissinger trong lĩnh vực An ninh quốc gia. Khi Kissinger thôi kiêm nhiệm chức cố vấn An ninh quốc gia để tập trung toàn bộ thời gian cho cương vị Ngoại trưởng thì chính Brent đã được bổ nhiệm thay ông làm cố vấn An ninh quốc gia.
 
Brent, với tích cách riêng của mình không thích lộ diện, không bao giờ trả lời phỏng vấn với cương vị cố vấn An ninh quốc gia. Ông làm việc 18 giờ một ngày trong Nhà Trắng và có tầm ảnh hưởng rộng như nhà kiến tạo và chuyên gia về công tác tổ chức. Dưới thời Tổng thống Ford, mọi người đều biết rằng Kissinger là người sáng lập ra đường lối ngoại giao và Scowcroft thì quản lý, tổ chức và điều phối các cơ quan sức mạnh với Phòng bầu dục của Nhà Trắng. Như mọi người thừa nhận, đội của Kissinger về An ninh quốc gia có vai trò cao trong lịch sử và Scowcroft đóng vai trò quan trọng trong đội hình đó.
 
Với tính cách kín đáo và không ồn ào, Brent là một nhà chiến lược trong quan hệ quốc tế, dồng thời lại có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực quốc phòng. Ông sinh tại Ogden Utah, ông là một tín đồ Mormon của giáo phái không bao giờ hút thuốc và uống rượu. Ông và vợ, bà Marian, cưới nhau năm 1951 và chỉ có một cô con gái. Sau khi tốt nghiệp trường West Point, Brent dự định bắt đầu sự nghiệp bằng nghề lái máy bay trong Không quân Hoa Kỳ nhưng một tai nạn do hỏng hóc của phi cơ đã dập tắt ước mơ được bay của ông. Ông tiếp tục học lấy bằng thạc sĩ về quan hệ quốc tế ở Đại học Columbia và trở về trường West Point làm giáo sư về tiếng hệ Slavơ ở trường Georgetown tại Washinton D.C, sau đó ông sử dụng kiến thức của mình trong lĩnh vực đối ngoại ở Sứ quán Hoa Kỳ tại Belgrrade, Nam Tư.
 
Đầu những năm 1960, ông trở thành phó giáo sư của môn khoa học chính trị ở Học viện Không quân Hoa Kỳ tại Colorado, nơi sau này ông trở thành giáo sư và trưởng khoa. Con đường giảng dạy của ông tiếp tục sau khi ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về quan hệ quốc tế ở Đại học Columbia và ông được bổ nhiệm làm giảng viên về chiến lược quân sự và an ninh cho các sĩ quan cao cấp ở Học viện chiến lược của Không quân Hoa Kỳ và nhiều công việc trong lĩnh vực an ninh ở Lầu Năm góc.
 
Năm 1971, ông được phong hàm Đại tá, được bổ nhiệm là một trong các trợ lý về quân sự của Tổng thống Nixơn đến Bắc Kinh năm 1972. Trở về sau chuyến thăm Trung Quốc, Brent được thăng chức Chuẩn tướng. Sau đó ông đến Matxcơva với cương vị trưởng nhóm công tác chuẩn bị cho chuyến thăm của Nixơn đến Liên Xô năm 1972.
 
Trong nhiệm kỳ của Nixơn, Brent là nhân vật đứng ở trung tâm của chương trình vũ khí hạt nhân, tham gia khởi thảo Hiệp ước SALT II. Ông đồng thời là tác giả chiến dịch rút lui khỏi Sài Gòn của quân Mỹ trong cuộc tháo chạy cuối tháng 4-1975.
 
Đối nghịch với chiến lược tương đối ôn hoà của bộ đôi Mixơn/Kissinger, Tổng thống Teagan thực hiện một chiến lược hiếu chiến hơn đối với Liên Xô và Brent không được bổ nhiệm vào các cương vị về an ninh và quốc phòng nữa, nhưng Phủ tổng thống vẫn cần đến kinh nghiệm của ông trong lĩnh vực quân sự, trong lĩnh vực phân tích các diễn tiến của cuộc chạy đua vũ trang như một phần của chiến lược phát triển nhanh hệ thống phòng thủ chiến lược của Reagan. Kiến thức của ông về lĩnh vực an ninh quốc gai tiếp tục được sử dụng. Reagan bổ nhiệm ông làm người đứng đầu Uỷ ban điều tra về vai trò của Uỷ ban An ninh quốc gia trong vụ Iran. Trong báo cáo của mình, ông phê phán Tổng tham mưu trưởng của Reagan, đồng thời phê phán cả tổng thống vì đã không giữ được quan hệ phối hợp của các thành viên uỷ ban và các hoạt động của họ. Ông kết luận rằng cơ cấu của Uỷ ban An ninh quốc gia không có vấn đề gì nhưng vấn đề lại nằm ở những con người làm việc tại đó.
 
Sau khi gặp Condi tại một bữa ăn tối do khoa chính trị, Đại học Stanford, tổ chức vào năm 1987, Brent tiếp tục theo dõi quá trình phát triển của cô và đã ngồi nghe giảng tại một giờ lên lớp của cô. Bài giản của cô hôm đó là về chủ đề “Tên lửa chiến lược vượt đại châu” đã thuyết phục ông rằng cô sẽ là một sự bổ sung lớn cho đội ngũ chuyên gia ở Uỷ ban An ninh quốc gia của ông, dưới thời Bush cha. Ông nói chuyện rất lâu với cô về chính sách đối ngoại tại cuộc gặp ở Aspen, Colorado, sau đó mời cô tham gia Uỷ ban An ninh quốc gia.
 
Với cương vị cố vấn An ninh quốc gia, công việc của ông là phối hợp các quan điểm về chính sách đối ngoại và chiến lược giữa các thành viên Chính phủ, như Bộ trưởng Quốc phòng – Dick Cheney, Bộ trưởng ngoại giao – James Baker và Tổng tham mưu trưởng liên quân - Tướng Colin Powell. Cả ba nhân vật này đều là thành viên của Uỷ ban An ninh quốc gia, nhóm các cố vấn đã thảo luận về các chính sách đối ngoại và dự thảo chiến lược cho việc thực hiện chính sách.
 
Scowcroft sẽ tổng hợp ý kiến các thành viên của Uỷ ban để trình lên Tổng thống và cân bằng các ý kiến khác nhau để bảo đảm mọi quyết định được vận hành trơn tru. Sau này Condi có viết trong cuốn sách về nước Đức thông nhất như sau: “Scowcroft và Baker tạo nên một sự phối hợp tuyệt vời trong điều hành, sự phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và Uỷ ban An ninh quốc gia là nét đặc trưng riêng trong chính sách của Washington kể từ những năm 1960”. Sự đối đầu truyền thống giữa Bộ Ngoại giao và Hội đồng An ninh quốc gia là một đặc trưng của nền chính trị Washington từ những năm 1960. Họ bổ sung rằng mặc dù sự không đồng thuận là một phần trong quan hệ của các lĩnh vực trong chính quyền, một kiểu tư duy trung dung theo kiểu Scowcroft là để ngăn chặn việc phân tán và tập trung cho sự cộng tác. “Sự tranh luận nổi lên nhưng nó nhanh chóng được giải toả”, Condi và Phillip viết như vậy.
 
Tháng 1-1989, Condi trở thành giám đốc Vụ Quan hệ với Liên Xô và Đông Âu của Uỷ ban An ninh quốc gia. Brent nói: “Tôi đã chọn Condi vì cô có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và nền chính trị Xô Viết, biết đánh giá một cách khách quan tương quan các vấn đề đang diễn ra và một sự phân tích sâu sắc về các khuynh hướng phát triển chiến lược. Cô rất hiểu biết và cập nhật kịp thời các vấn đề về quốc phòng”. Ông còn cảm thấy cô biết các giữ thăng bằng khi công việc rất căng thẳng. “Cô rất bình tĩnh và chủ động nhưng sẽ quả quyết khi tình hình đòi hỏi”. Bốn tháng sau cô được bổ nhiệm lên làm giám đốc phụ trách các vấn đề về Liên Xô, đồng thời là trợ lý cho Tổng thống về vấn đề An ninh quốc gia. Một cộng sự gần gũ của Condi – Phillip Zelikow làm Giám đốc về chính sách châu Âu và Dennnis Ross - một chuyên gia khác về Xô Viết làm Giám đốc kế hoạch chính sách. Condi biết Dennis từ thời ở California, nơi ông đã từng là giáo sư của Đại học Barkeley. Cả ba làm việc dưới quyền Robert Blackwill – Giám đốc cấp cao về vấn đề Xô Viết và Đông Âu.
 
Ngoài các thành viên phủ Tổng thống đã nêu ở trên, còn có các nhân vật khác như cấp phó của Brent – Robert Gates, Robert Hutchings, trưởng nhóm về Nam Âu và Đức của Uỷ ban. Trong số các nhân vật khác mà Condi có quan hệ cộng tác gần gũi còn có Robert Zoellick và Paul Wolfowits ở Bộ Quốc phòng.
 
Với cương vị của mình ở Uỷ ban An ninh quốc gia, Condi có ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất, cô phải phối hợp trong quá trình lập chính sách bằng các thông tin tập hợp từ các trợ lý Bộ trưởng và các quan chức cấp vụ khác. Thứ hai, cô là trợ lý của Brent Scowcroft, giúp ông quyết định lựa chọn quan chức ngoại giao nào cần gặp và chuẩn bị cho các chuyến đi thăm chính thức. Condi nói: “Chúng tôi tổ chức các buổi gặp làm việc và tôi phải ghi ra giấy các chủ đề mà ông ta phải chú ý để đề cập tới. Nếu có một vấn đề gì đó không đựoc chuẩn bị ở cấp của tôi và nó được đưa tới Scowcroft, Baker, Cheney hay Powell thì không thucộc trách nhiệm của tôi vì nó đã được Brent xem xét”. Lĩnh vực thứ ba là trợ lý riêng của Tổng thống về chính sách đối ngoại. Đối với nhiệm vụ này, cô có trách nhiệm viết dàn bài chuẩn bị về các vấn đề chính sách đối ngoại trong các cuộc gặp với các nhà lãnh đạo ngoại giao khác.
 
Công việc đầu tiên mà cô phải đối mặt như một trong các chuyên gia chính trị hàng đầu của Tổng thống là việc cắt chiếc bánh gatô nặng 500 pound.
 
Vào ngày làm việc đầu tiên của tháng giêng, Nhà Trắng nhận được một chiếc hộp lớn với đề ngoài bưu điện Liên Xô mà không có thêm thông tin nào khác. Bộ phận dò mìn, an ninh cẩn thận chuyển chiếc hộp sang khu vực khác, sau khi dò mìn xong, mọi người đã mở hộp ra, bên trong là một chiếc bánh gatô rất đẹp và rất to. Condi được giao nhiệm vụ làm rõ tên người gửi. Chỉ với một cái tem ở ngoài hộp, cô đã điều tra và làm rõ rằng đây là món quà từ một thành phố nhỏ của Liên Xô, ở đó người ta làm chiếc bánh đặc biệt cho Tổng thống Bush để chúc mừng ông trong lễ nhậm chức.
 
Tổng thống cảm nhận vấn đề này rất trọng thị, ông đã yêu cầu chụp bức ảnh cả gia đình ông đứng bên chiếc bánh và gửi tặng lại nhóm thợ làm bánh trẻ tuổi. Sau đó ông yêu cầu chia đều bánh cho mọi người thưởng thức. Bộ phận chụp ảnh và công tác an ninh cần vài ngày để thực thi và do mất nhiều thời gian chiếc bánh đã hỏng, nó được gửi trả lại kho của bộ phận an ninh.
 
Tháng ba, Condi lần đầu tiên được giao một công việc quan trọng, nhiệm vụ này đặt cô vào trung tâm của quá trình lập chính sách. Tổng thống lúc đó nhận được một bản báo cáo dài của Uỷ ban thống kê, liệt kê lịch sử các quan hệ, chính trị của Hoa Kỳ với Liên Xô. Tổng thống yêu cầu báo cáo này phải được trình bày theo một cách thức để bắt đầu cuộc đối thoại với Gorbachev. Brent nghĩ rằng báo cáo này được viết chưa ổn vì còn thiếu cả ý tưỏng và chi tiết. Và ông hướng dẫn Condi đứng đầu một nhóm của Uỷ ban để viết lại một bản khác “sâu hơn” tập trung vào chính sách mà Gorbachev đã dựng lên và các ý tưởng dự định của ông ta trong tương lai.
 
Cho đến lúc đó, Condi đã viết nhiều về Gorbachev, đã công bố các bài báo về ông ta trên tạp chí và sách, hợp thành bộ tài liệu nghiên cứu về Liên Xô. Với chủ đề này, lần đầu tiên cô đã có một cơ hội sử dụng các hiểu biết của mình về Gorbachev và hệ thống Xô Viết để đưa ra các nhận xét sắc sảo của chính sách Hoa Kỳ đối với vấn đề Xô Viết. Các tài liệu do nhóm của cô khởi thảo đã trở thành cơ sở để chính quyền Bush hoạch định chính sách với Xô Viết. Scowcroft viết: “Trí nhớ của Condi gợi ra rằng tôi tin tưởng có thể hướng dẫn tiến trình phát triển của chiến lược Hoa Kỳ đối với quan hệ Xô Viết và “điều đó được đưa vào một phương pháp tiếp cận theo 4 bước để gặp gỡ với Gorbachev”.
 
Ông mô tả bốn bước của chiến lược Hoa Kỳ với một cách đề cập rất rõ ràng, tự tin, làm cho các đồng minh của Hoa Kỳ tin tưởng rằng Hoa Kỳ ủng hộ họ và kiểm soát được vũ khí, hành động bao gồm cả ủng hộ kinh tế cho Đông Âu để quảng bá cho tiến trình độc lập do Gorbachev khởi xướng ở cuộc cải tổ và làm việc “một cách mạnh mẽ để giữ ổn định cho khu vực” của thế giới thông qua sự hợp tác Xô-Mỹ.
 
Sự đóng góp của Condi đối với kế hoạch chi tiết cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ bao gồm đoạn mô tả cuộc tranh luận gay gắt trong nội bộ Liên Xô. Cô chỉ ra rằng vì cơ cấu chính trị lạc hậu của Matxcơva đã bị phá vỡ, điều đó mở ra cách tiếp cận mới ra thế giới bên ngoài. Điều này mở ra khả năng có một cách tiếp cận mới đối với Liên bang Xô Viết. Brent Scowcroft mô tả ý tưởng này là “tạo cho chúng ta một cách nhìn về sự chuyển dổi các hành vi của Liên Xô đối với các vấn đề trong nước và quốc tế”.
 
Giai đoạn tiếp theo của Condi, giống như giai thoại về chiếc bánh gatô diễn ra với nhiều kịch tính hơn. Chính quyền mới đã bị phê phán vì đã không xác định rõ vị trí và mụ tiêu được công bố của chính sách dối ngoại hoặc các chiến lược, vạch rõ con đường mà chính quyền phải hướng tới. Một quyết định đã được đưa ra để sắp xếp lịch cho các bài phát biểu của Tổng thống về chính sách trong mùa xuân tiếp theo. Nhưng một sự kiện chấn động ở Đông Âu đã làm chính quyền phải thay đổi lịch trình này. Đầu tháng 4, công đoàn Đoàn kết đã ra đời công khai tại Ba Lan và quốc gai này đã có biến động sau 45 năm dưới chính quyền Cộng sản. Đó là sự phát triển về phía dân chủ của Ba Lan và chính quyền Washington có lý do cần xác định chính sách đối với Đông Âu. Theo lịch trình bố trí, Tổng thống Ba Lan sẽ phát biểu về chính sách Đông Âu tại Hamtrack, Michigan vào ngày 17-4. Brent gọi sự kiện ở Hamtrack như là một sự lựa chọn “tất yếu” vì “nó có sự tập trung cao của các chính khách với các vấn đề của Đông Âu và cụ thể là Ba Lan… và nó cũng sẽ cho phép để nói về sự thay đổi bên trong của xã hội Xô Viết và thái độ của chúng ta với sự tự do của Ba Lan”.
 
Với bài phát biểu chỉ hai tuần trước đó, Bush đã yêu cầu công việc phải đẩy nhanh hơn. Trong trường hợp này, ông ngay lập tức yêu cầu Condi tìm kiếm nguồn kinh phí từ Chính phủ để có thể sẻ dụng thêm nguồn viện trợ kinh tế cho Ba Lan. Điều này là rất khó cho Cchính phủ trong điều kiện ngân sách rất hạn hẹp và lạm phát đang gia tăng. Ngay Tổng thống cũng đã phải quyết định có cần sự trợ giúp về kinh tế như một phần quan trọng của chương trình hay không. Hội đồng An ninh quốc gia trong phiên họp của mình đưa ra hai cách nhìn: gửi tiền cho Ba Lan là mạo hiểm vì bản thân Ba Lan lúc đó không được ổn định. Một thành viên khác gợi ý rằng Hoa Kỳ đã trợ giúp kinh tế cho Ba Lan vào những năm 1970 để ủng hộ cho các biến đổi chính trị nhưng điều đó không tạo ra cách biệt vì tình hình chưa sẵn sàng cho điều đó. Mặt khác, Tổng thống Bush và Ngoại trưởng James Baker cho rằng Ba Lan đã có bước tiến bộ lớn về kinh tế vào lúc này và điều đó đã tạo ra tình hình khác hẳn. Tổng thống đã có quyết định của mình và ông quyết định cố gắng tìm nhiều hơn trợ giúp tài chính có thể có để thúc đẩy chiến lược của ông tại Ba Lan.
 
Câu hỏi đặt ra là: ai trong số các trợ lý tại Uỷ ban An ninh quốc gia và các trợ lý chuyên viết bài của Tổng thống sẽ nhận trách nhiệm viết bài phát biểu này. Brent cảm thấy Uỷ ban An ninh quốc gia là sự lựa chọn hợp lôgic vì họ nắm rất chắc tình hình. Nhưng các trợ lý chuyên viết bài của Tổng thống thì cho rằng họ có đủ khả năng để nắm bắt nội dùng và họ nói rằng bất kỳ ai trong số họ cũng có thể hoàn thành được yêu cầu. Brent chọn giải pháp dung hoà và giao bản dự thảo ban đầu cho Condoleezza và Trưởng nhóm trợ lý viết bài cho Tổng thống – Mark Davis. Tổng thống Bush sau đó bút phê vào phần dự thảo, bổ sung một số ý kiến của ông và sửa lại cho đến khi ông cảm thấy hài lòng vì đã thể hiện đầy đủ quan điểm và tiếng nói của ông.
 
Tháng 7-1989, Condi cùng Brent và các trợ lý khác tháp tùng Tổng thống trong chuyến đi thăm Ba Lan và Hungary, nơi Tổng thống có các bài phát biểu trước đám đông với lời hứa trợ giúp về kinh tế cho phong trào dân chủ châu Âu. Tại Warsaw và Gdansk (Ba Lan), họ gặp lãnh tụ công đoàn Đoàn kết – Lech Walesa và tướng Wojiech Jaruzelski và Bush đã có bài phát biểu tại Quốc hội Ba Lan. Tại Thủ đô Budapest của Hungary, họ gặp lãnh tụ Cộng sản và Thủ tướng Miklòs Nèthem, người đã trình bày với Tổng thống với lời mở đầu hàm ý sẽ có một chuyển biến lớn. Scowcroft viết rằng: “Nèthem đã đưa cho Tổng thống Bush xem một tấm bảng, trong đó gắn một mẩu dây thép gai lấy từ hàng rào biên giới giữa Hungary và Áo, một mẩu nhỏ của ‘tấm màn sắt’”. Hungary đã mở cửa biên giới với Áo và mặc dù điều này ảnh hưởng đến Đông Đức khi có người muốn đến Tây Đức thông qua Hungary. điều này tạo cho Hungary giống như một “lỗ thủng” ở Đông Âu.
 
Mùa thu năm 1989, Condi đối mặt với một tình huống mà thông qua nó, cô làm cho Brent hiểu rõ hơn về khả năng của cô khi có thể làm chủ bản thân trong tình huống đòi hỏi phải tự khẳng định. Đó chính là dịp cô gặp Boris Yeltsin, một nhân vật Nga, một quan chức nghiện rượu nặng của Xô Viết. Tại cổng ra vào Nhà Trắng, cô đã gặp Boris Yeltsin, lúc đó đang là nghị sĩ Quốc hội Nga, một nhân vật đối lập lớn của Gorbachev, luôn phê phán tốc độ đổi mới chậm chạp của công cuộc cải tổ. Trong thời gian đi thăm Mỹ, đối với giới báo chí, ông là một chủ đề có sức hút vì các ý kiến bất ngờ và vẻ mặt lúc nào cũng đỏ.
 
Tổng thống Bush và Scowcroft sẽ quyết định có để Yeltsin thăm Nhà Trắng hay không? Thông thường ông chủ Nhà Trắng và Brent phải cẩn thận khi tiếp xúc với các chính khách nước ngoài theo ba cấp độ khác nhau. Loại quan trọng nhất sẽ được gặp Tổng thống, một nấc thấp hơn là cuộc gặp với Brent, với một chuyến “ghé thăm ngắn” của Tổng thống mà độ dài của nó tuỳ thuộc xem Tổng thống thấy cần bao lâu. Còn loại thứ ba là cuộc gặp với riêng Brent. Lối vào Nhà Trắng có các cửa khác nhau, nếu Brent muốn cho tiếp xúc với báo chí thì họ có thể được đón vào sảnh phía Tây. Nếu khách là người không nên để báo chí gặp thì sẽ vào cửa tầng trệt phía Tây.
 
Tổng thống Bush muốn gặp Yeltsin và ông yêu cầu Brent xếp lịch để có một cuộc “ghé thăm ngắn” tại phòng làm việc của Brent. Ngày 12-9, Yeltsin được hướng dẫn vào phía cửa tầng hầm nơi Condi đang đứng đợi ông. Biết thông tin này, Yeltsin từ chối bước ra khỏi xe ôtô, mặc dù Condi đã hứa sẽ đưa ông tới phòng Bầu dục. “Đây không phải là cửa để đến được phòng Tổng thống”, Yeltsin hét lên với Condi, người đang cố thuyết phục ông ta rằng cuộc gặp của ông là với cố vấn An ninh chứ không phải là Tổng thống Bush. “Tôi chưa bao giờ nghe nói về tướng Scowcroft”, ông ta hét lên với Condi, “Ông ta không phải là nhân vật đủ quan trọng để gặp tôi”, nóng nảy với cánh tay đặt chéo trước ngực, ông ta ngồi lỳ trong ôtô và nhìn chòng chọc Condi, còn Condi cũng nhìn chằm chằm vào ông ta, không nói câu nào. Năm phút trôi qua. Condi bắt đầu quay đi và nói bằng một giọng rất trầm tĩnh rằng ông ta có thể trở về khách sạn để cô có thể thông báo với tướng Scowcroft rằng ông ta chưa đến. Yeltsin tỏ ra dịu xuống và đồng ý gặp Scowcroft, và nhảy xuống khỏi xe ôtô. Condi bắt tay và dẫn ông ta bước lên cầu thang.
 
Những người chứng kiến sự việc này đã kinh ngạc về cách xử lý của Condi. Họ hiểu cô đã tự tin và chắc chắn thế nào để hành động như vậy, nhưng trước đó họ chưa từng biết rõ về tính cách của cô.
 
Yeltsin đã bất ngờ khi Tổng thống ghé vào trong vài phút. Khi ông ta ra xe để rời Nhà Trắng, ông ta phát hiện một nhóm phóng viên đang thu âm bài phát biểu của họ. Ông ta nhảy xuống khỏi xe ôtô tiến về phía đám đông và cô gắng để bắt chuyện vài phóng viên. Mặc dù điều đó không nằm trong dự liệu của Brent “nhưng không có hại gì” và Yeltsin đã trở về Matxcơva.
 
Hai tháng sau, bức tường Berlin sụp đổ đã báo hiệu sự biến dổi sâu sắc ở Đông Âu. Một vài tuần sau sự kiện ghê gớm đó, Condi tháp tùng Tổng thống Bush và phái đoàn của ông tới cuộc gặp ở Malta, với lãnh tụ Xô Viết nơi họ nêu chính kiến của mình về Gorbachev. Như đã miêu tả ở Chương 6, đó chính là lần đầu tiên Condi gặp Gorbachev và các lãnh tụ Xô Viết khác. Tổng Bí thư Liên Xô tỏ ra rất ngạc nhiên khi gặp Condi. Cô nhớ lại: “Tôi nghĩ phía Liên Xô có thể đã nghĩ: một cô gái như cô thì làm cái gì ở đây với các vấn đề về bom đạn?”. Hơn thế nữa, cô có vẻ không phải là mẫu người mà các quý ngài Liên Xô tưởng tượng. “Điều này có lẽ là rất khó khăn cho người Nga phải chấp nhận tôi, tôi chưa bao giờ biểu lộ điều gì tỏ ra thiếu tự tin bởi vì tôi là một phụ nữ, hay một người da đen, hay còn quá trẻ. Nhưng có lẽ họ đã có ý nghĩ như vậy”. Lịch làm việc của cô không cho phép cô suy nghĩ nhiều về điều đó và thái độ của cô chưa bao giờ tỏ ra là bị ám ảnh bởi điều đó. Cô nói: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy cô độc hoặc bị căng thẳng trong môi trường như vậy. Tôi phải làm việc 14-15 tiếng/ngày”.
 
Theo thời gian, Condi lao voà công việc mà quên mình là một cô gái da đen trong hàng ngũ quan chức ngoại giao. Khi Gorbachev thực hiện chuyến đi thăm Mỹ đầu tiên vào tháng 6-1990, Condi đã được chỉ định dẫn đầu phái đoàn Mỹ tháp tùng ông ta đi thăm các thành phố khác nhau. Tại sân bay ở san Francisco, một mật vụ - người không hề biết Condi là ai đã ngăn cản cô ở cửa nhà ga không cho cô đi cùng phái đoàn. Condi nhớ lại: “Anh ta đứng bên phải ở phía đối diện và điều đó kích động thái độ phản kháng của tôi”. Sự việc được đưa ra báo chí và tạo ra chấn động trong đội ngũ các nhân viên mật vụ. Hình ảnh một điệp vụ da trắng giữ chặt tay một cô gái da đen kéo ra khỏi nhóm tháp tùng đoàn đại biểu Xô Viết không phải là một hình ảnh đẹp, đó là sự phân biệt chủng tộc ở Mỹ. Condi ghi nhớ rằng cô không phải là “một bông violet dễ bị bắt nạt” trong các trường hợp tương tự.
 
Một tình tiết khác mô tả thái độ của một phụ nữ khi phải đối mặt trong các quan hệ quốc tế đến với Condi vài năm sau đó, khi cô đã làm việc cho chính quyền của Bush “con” và ở trong chuyến đi thăm Israel. Ariel Sharon, lúc đó là ứng cử viên của chức Thủ tướng Israel nói với các phóng viên rằng: “Tôi đã khó xử, đó là khi rất khó khăn để tập trung vào nội dung hội đàm với Condoleezza Rice vì cô ta có đôi chân rất đẹp”. Một phóng viên khác giải thích rằng tình tiết như vậy nói chung là do phái quân sự thường chiếm ưu thế. Condi nói: “Bạn phải hiểu rằng những người đó phải phục vụ nhiều năm trong quân ngũ, đó là cách họ nhìn nhận sự vật”.
 
Chủ đề ưu tiên trong cuộc gặp thượng đỉnh tháng 12-1989 ở Malta là các cuộc thảo luận về công cuộc tái thống nhất nước Đức, có khả năng là phía Liên Xô sẽ đưa ra lý do: “Điều đó ảnh hưởng đến an ninh của hệ thống”. Gorbachev, người đưa ra nhiều ý tưởng về tự do kinh tế hơn nữa ở các quốc gia vệ tinh của Liên Xô, đã không chống lại quá trình độc lập mà các dân tộc này tìm cách giành lại. Condi là một trong những người tham gia hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ mà Bush đem đến cuộc gặp này, cũng như cức cuộc gặp thượng đỉnh khác ở châu Âu vào năm đó. Nhóm hoạch định chính sách gồm Condi, Phillip Zelikow (người đồng tác giả cuốn sách nói về nước Đức thống nhất với Condi), Robert Blackwill, Peter Zoellick và Dennis Ross. Họ là các trợ lý hàng đầu của Scowcroft về vấn dề tái thống nhất nước Đức.
 
Nhóm của Condi phác thảo ra chính sách của Hoa Kỳ với nước Đức và “châu Âu mới” để có thể đưa nước Đức thống nhất hoà nhập vào NATO. Điều đó cũng làm bất ngờ nhiều người, vì toàn bộ sự chuyển đổi diễn ra một cách “hoà bình và từng phần, từng bước theo một quá trình”. Một mục tiêu khác cần phải đạt được là việc tái thống nhất phải diễn ra rất nhanh, trước khi Liên Xô và các thế lực khác kịp trở tay. Condi đóng vai trò lớn trong triển khai chiến lược này. Trong một làn báo cáo Scowcroft vào đầu năm 1990, cô cho rằng một kế hoạch 5 năm mà Thủ tướng Helmut Kohl tuyên bố là quá chậm, tạo ra quá nhiều thời gian cho Liên Xô để phán ứng bằng các biện pháp cứng. Cô thuyết phục Scowcroft và cộng sự của ông rằng thời gian không chờ đợi. “Đó là một sự vận động đầy mạo hiểm”, Phillip Zelikow nhớ lại “nhưng điều đó tạo ra bước ngoặt cần thiết”.
 
Sự chuyển đổi của nước Đức diễn ra nhanh chóng. Tháng 3-1990, một cuộc bầu cử tự do ở Đông Đức đã diễn ra và các đảng ủng hộ công cuộc thống nhất đã giành chiến thắng lợi lớn. Tháng 9, các lãnh tụ châu Âu gặp nhau ở Matxcơva để ký hiệp ước về hiệp ước về hỗ trợ tài chính cho nước Đức của tương lai…, với sự thừa nhận sự sat nhập Đông Đức và Tây Đưc. Thư ký Báo chí Nhà Trắng – Marlin Fitzwater đã nói: “Sự thoả thuận hôm nay tạo ra cơ hội để thành lập một nước Đức thống nhất và tạo ra một nước Đức năng động, thống nhất, tự do và dân chủ với một bước nhảy vọt”. Trong cuốn sách của Condi Nước Đức thống nhất và châu Âu chuyển đổi có một bức ảnh, trong đó người ta thấy cô đứng trong sự kiện lịch sử này. Cả thảy có khoảng 35 người xuất hiện trong ảnh, cô là một trong hai người phụ nữ duy nhất trong phòng. Ngày 3-10-1990, hai miền nước Đức chính thức ký Hiệp ước thống nhất.
 
Với việc mất Đông Đức, hệ thống của Liên Xô rõ ràng bước vào giai đoạn tan vỡ, điều mà thế giới không nghi ngờ gì. Condi đứng ở trung tâm của chiến lược Hoa Kỳ trong quá trình này cho đến thời điểm cô dời cương vị của mình vào năm 1991. Tháng 1 năm đó, Lithuania và Latvia rung động vì làn sóng đòi độc lập, một trong số ít các sự kiện có đổ máu trong quá trình chuyển đổi. Các nước Baltic ly khai tác động như quân bài domino và tháng 6-1991, nước Nga đã bầu cử chức Tổng thống cho riêng mình và Yeltsin đã trở thành Tổng thống Liên bang Nga, trong khi Gorbachev vẫn là Tổng Bí thư Liên Xô. Tháng 12, lãnh đạo các nước Ukraine, Nga và Belarus bí mật gặp nhau để thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) và như vậy tự nhiên Liên bang Xô Viết không còn tồn tại. Vào ngày lễ Giáng sinh, Gorbachev tự tuyên bố từ chức và ở điện Kremlin lá cờ đỏ búa liềm, biểu tượng của Liêng bang Xô Viết đã tung bay hơn 70 năm đã hạ xuống thay bằng lá cờ xanh, trắng, đỏ của Liên bang Nga.
 
Trong hai năm làm việc ở Uỷ ban An ninh quốc gia, Condi không những trở thành người bạn gần gũi của Tổng thống Bush và vợ ông – bà Barbara, mà cô còn tạo ra một ấn tượng tốt ở ông cũng như các cộng sự khác của ông. Bush thật sự bị thu phục bởi hiệu quả công việc của cô và thật sự không ngạc nhiên sau khi ông giành thắng lợi đầu tiên trong chiến dịch bầu cử Thống đốc bang Texas, ông đã gặp lại cô. Bush cảm ơn Condi một cách rất ngoại giao đúng phong cách rất trí thức của cô, như ông đã viết lại trong một tạp chí năm 2000:
 
Condi là một nhân vật sáng giá nhưng cô không bao giờ cố tỏ ra điều đó trong các buổi họp, làm việc với các lãnh tụ nước ngoài… Tính cách của cô được thể hiện như cách cô biểu lộ sự nhạy cảm với mọi người, cách cô trình bày quan điểm rõ ràng, kể cả khi không có được sự đồng thuận của những người trái chính kiến… Cô biết cách kiềm chế và làm nguội những cái đầu nóng nhất. Tại sao cô làm được như vậy? Bởi vì họ hiểu rằng cô rất tự tin với những điều mà cô nói ra.
 
Các nhân vật khác có điều kiện làm việc với Condi đều thừa nhận cô là một người năng động, kết hợp với trí thông minh tạo ra một tính cách, một tiềm năng để cô có thể gặp hái thành công. George Brinkley, giáo sư của cô ở Đại học Notre Dame tổng hợp tất cả các nhận xét ấy và nói: “Cô không chỉ là một con người với rất nhiều khả năng đặc biệt và trí tuệ uyên bác, cô còn là một nhân cách rất ấn tượng và điều đó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cô”.
 
Đối với Condi, hai năm làm việc trong bộ máy của Bush là quãng thời gian tích luỹ kinh nghiệm quý báu mà cô hiểu rằng không bao giờ lặp lại. Cô nhớ lại: “Bạn có thể lên giường đi ngủ trong một đêm và khi tỉnh dậy ở một đất nước nào đó chỉ sau một đêm đã thay đổi chế độ chính trị khác, với một nền dân chủ mới”. Cô thấy rất biết ơn việc đã là một thành viên trong chính quyền đã tạo nên sự chuyển dổi ở nước Đức một cách êm thấm và rất có lợi cho Hoa Kỳ và các đồng minh: sự thống nhất nước Đức và sát nhập vào NATO, việc quân đội Liên Xô phải rút về nước mà không có va chạm nào trong khi quân đội Mỹ vẫn ở lại, rằng toàn bộ Đông Âu được giải phóng và sát nhập vào khối Tây Âu.
 
Cô cũng cảm ơn những người mà qua họ cô đã được thực tập trong bộ máy nhà nước. “Đồng nghiệp của tôi là những người thông minh mà trước kia tôi chưa từng gặp, và tất cả chúng tôi cùng cố gắng để tìm ra giải pháp cho các vấn đề quan trọng nhất mà chúng tôi gặp phải trong lĩnh vực quan hệ quốc tế”, cô nói như vậy vào năm 1995. Condi nói tiếp: “Tôi tự hỏi nếu có lúc nào đó có được một sự tập hợp lực lượng rộng rãi, thậm chí là với cả các cá nhân có chính kiến khác nhau.. bao gồm cả tổng thống mà tôi rất kính trọng George Bush, mà đối với ông sự kết thúc Chiến tranh lạnh là vấn đề lớn được ưu tiên số một lúc đó”.
 
Hơn tất cả, khi cấp trên làm việc với cô, họ rất khách quan khi chỉ dẫn cô về công việc. Cô nói: “Tôi hài lòng nhất khi làm việc với Brent Scowcroft”.
 
Condi hiểu rằng cô có may mắn được làm việc tại Washington trong một thời điểm diễn ra nhiều sự kiện nhất trong lịch sử. mà lại có vai trò quan trọng như vậy trong tiến trình và cô cũng không nghĩ sẽ trở lại Nhà Trắng sớm. Trong một bài phát biểu sau này, Tổng thống Bush mô tả rất tốt đội ngũ của mình trong các thời điểm đầy sóng gió, nhưng thú vị đó. Một đội hình bao gồm cả người bạn tốt của ông – Condoleezza Rice:
 
Những người mà tôi có ở bên cạnh quả thật là tuyệt vời và điều đó là thú vị, tôi luôn cầu mong được làm việc với mỗi người trong họ.
 
Họ không gây ra bất kỳ sai sót nào, họ là những người tốt và đứng đắn nhưng họ rất nhạy cảm, với quan điểm cứng rắn, họ là những người đàn ông, đàn bà thực tế, những người hiểu rằng quyền lực phải có mục đích. Và hơn thế khi nhìn thấy họ cùng sát cánh làm việc, luôn thấy rõ là họ rất kính trọng lẫn nhau.
 
Dù chúng ta đối diện với một hay nhiều vấn đề, họ sẽ thường xuyên đưa ra quan điểm rất có sức thuyết phục. Nhưng một khi tổng thống đã đưa ra quyết định thì chúng tôi sát cánh bên nhau. Đó là cách để hoàn thành mọi nhiệm vụ.
Đăng nhập để trả lời
0
“Tôi nói với các sinh viên của mình rằng: Nếu bạn phát hiện tháy mình ở trong một nhóm bạn bè mà ở đó họ luôn đồng ý với bạn ở tất cả các vấn đề thì bạn đã chọn nhầm nhóm bạn rồi”.
-                      Condoleezza Rice, 1993
 
 
Mùa xuân năm 1991, khi nước Đức hoàn toàn thống nhất, Condi lại được Scowcroft mời tiếp tục làm việc trên cương vị của cô. Lúc đó chiến tranh vùng Vịnh kết thúc vào ngày 1-3, khép lại một chương trong lịch sử của chính quyền Bush. Và Condi quyết định đây chính là thời điểm cô cần rời khỏi Washington để trở về với công việc giảng dạy của mình. Cô không muốn tìm kiếm một cái gì như cô gọi là “công việc của mọi người”, công việc bao trùm hết cả và theo như Scowcroft, cô đã quyết định như vậy là tuân theo “đồng hồ sinh học” của mình. Ở tuổi 36, cô muốn có một khoảng dừng và có gia đình, Condi không khẳng định điều này nhưng nói rằng sự nghiệp giảng dạy của mình choán hết thời gian. Cô nói: “Điều đó không phải là một quyết định dễ dàng, tôi cảm nhận rằng rất khó khăn để theo đuổi sự nghiệp giảng dạy nếu anh ta đã bỏ nó sau hai năm”. Cô thừa nhận tầm quan trọng của cương vị cao trong công việc ở Uỷ ban An ninh quốc gia, nhưng cô cảm thấy cô cần phải cân bằng giữa công việc giảng dạy và hoạt động xã hội. Cô nhớ lại: “Chúng ta quả là may mắn vì ở Hoa Kỳ chúng ta có thể tự do lựa chọn công việc, nhưng tôi cho rằng đối với cá nhân tôi thì công việc giảng dạy là hàng đầu, điều đó có nghĩa là tôi muốn giữ lại một vài sự nhất quán và thống nhất trong công việc”. Thực tế là cô đã cảm thấy khó khăn với các sinh viên năm cuối sau hai năm không tham gia giảng dạy. Cô nói: “Tôi cố gắng giữ mọi việc cho tốt với sinh viên năm cuối nhưng quả là có khó khăn, bạn không thể rời công việc của mình một khoảng thời gian quá dài”.[/align] 
Khả năng có thể ở lại làm việc trong Uỷ ban An ninh thêm hai năm nữa có nghĩa là lại tiếp tục làm việc 14 giờ/ngày và không có thời gian cho các việc riêng tư khác để cân bằng trong cuộc sống. Condi nhấn mạnh: “Tôi muốn có một cuộc sống bình thường”. Cô cảm nhận rằng cô quá may mắn đa được làm việc trong Uỷ ban An ninh quốc gia trong một thời điểm lịch sử sôi động nhất trong lịch sử chính trị châu Âu và bây giờ là thời điểm để quay trở lại cái mình say mê trong công việc giảng dạy, nghiên cứu và được tiếp tục chơi piano. Cô đã lao động hăng say trong sự nghiệp giảng dạy và không cho rằng sẽ mạo hiểm từ bỏ nó vì một công việc khác. “Khi thời gian tới và tôi được đề nghị ở lại, tôi nghĩ tôi chưa sẵn sàng để quyết định điều đó. Đó là một công việc đòi hỏi rất cao. Sức ép thực sự đối với công việc trong Nhà Trắng là ở chỗ họ chỉ có một tốp nhỏ rất ít người cho một khối lượng công việc rất lớn. Tất cả có 40 người trong danh sách của Uỷ ban, đó quả là một công việc vắt kiệt sức người”.
 
Condi rời khỏi cương vị giảng dạy của mình khi vụ Watergate xảy ra và trở lại bờ Tây, trở lại với công việc giảng dạy để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với sinh viên. Các kinh nghiệm thực tế mang lại cho cô rất nhiều điều để truyền đạt, kể cả “các công việc hậu trường” của các sự kiện. Khi lên lớp cô bao giờ cũng nhấn mạnh yếu tố con người trong quan hệ quốc tế. Thái độ, động cơ và các mối quan hệ, đó là các mẩu chuyện mà cô có thể mang một số trong đó ra để kể lại với sinh viên hàng giờ như những thể nghiệm đầu tiên. Khi trở về Stanford cô nói: “Tôi luôn cố gắng truyền đạt một số ví dụ trong việc đưa ra quyết định trong chính trị. Tôi nghĩ tôi có điều kiện tốt hơn, điều quan trọng là biết mọi người thực sự suy nghĩ về cái gì… Tôi nghĩ tôi có thể đưa ra một số triển vọng phát triển của các sự kiện xuất phát từ các kinh nghiệm thực tế”.
 
Khi cô rời Washington vào tháng 3-1991, Condi không thể ngờ rằng các sự kiện ở Liên Xô lại diễn ra nhanh như vậy. Tuần đầu tiên khi trở về Stanford, cô đã nói: “Các sự kiện ở Liên Xô sẽ diễn ra rất nhanh. Điều đó không như người ta đang nghĩ ở Washington, tôi có thể nhìn thấy các vấn đề cốt tử ở Liên Xô sẽ được đặt ra ngay trong giai đoạn này”. Tuy vậy, cũng như mọi người khác, cô đã rất bất ngờ khi cả một hệ thống Xô Viết sụp đổ trước khi kết thúc năm. Trong một bài phát biểu trước đám đông vào tháng 12, cô mô tả các biến đổi sâu sắc của thế giới kể từ khi cô là một nhà nghiên cứu chính trị ở Đại học Denver: “Tất cả suy đoán của tôi khi khởi đầu từ một sinh viên khoa quan hệ quốc tế quả là không đứng vững, suy đoán cũ là châu Âu bị phân rã, cuộc đối đầu Đông, Tây là đặc trưng của hệ thống quốc tế, rằng lực lượng Xô Viết sẽ đứng vững ở Đông Âu… đã không đứng được lâu. Sức mạnh to lớn của Liên bang Xô Viết đã sụp đổ”.
 
Một khi cô đã quyết định quay trở lại, Condi lại bắt đầu viết báo và sách, các bài báo của cô xuất hiện trên tạp chí Time vào tháng 9-1991. Bốn tuần trước đó, một nhóm các đảng viên cộng sản theo đường lối cứng rắn đã gây ra cuộc đảo chính ở Matxcơva, cố gắng loại bỏ gorbachev ra khỏi chính quyền vì ông đã ký các hiệp ước tạo điều kiện cho các nước cộng hoà ly khai Liên Xô, nhưng phe đối lập với sự tài trợ của một lực lượng quân sự đã làm cuộc đảo chính thất bại. Các bài báo cảu Condi như bài: “Một đội quân mới vì đất nước mới” đã nêu các vấn đề vai trò quân sự trong cuộc đảo chính và vai trò của Gorbachev như một lãnh tụ của nước Nga không cộng sản. Condi viết: “Quân đội Liên Xô có vai trò trung lập với các lực lượng dân chủ của Liên Xô. Nếu điều đó xảy ra thì các thay đổi về con người không đủ, sự ổn định dân chủ cần một thể chế mạnh chứ không chỉ là các quan hệ bị lôi cuốn bởi con người”.
 
Cô đã xuất hiện trước một cử toạ khác, ba tháng sau đó với sự xuất hiện lần thứ hai của cô tại Câu lạc bộ sức khỏ nơi cô đã có bài phát biểu với chủ đề: “Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh: Thách thức với nền chính trị Hoa Kỳ”. Giống như bài phát biểu của cô lần trước, bài phát biểu lần này được phát đi trực tiếp qua đài phát thanh và là một phàn của chương trình “Bữa trưa ngày thứ sau”. Trong bài phát biểu lần này, được diễn ra ở khách sạn St.Francis ở San Francisco vào ngày 13-12-1991, Condi đã nêu các vấn đề, các thách thức đối với Liên bang Xô Viết, mà từ đó đất nước này sẽ bước vào nền kinh tế thị trường với sự bất ổn về chính trị. Cô chia sẻ các nhận định từ kinh nghiệm của mình qua hai năm làm việc cho chính quyền Bush, kể cả một chân dung hào nhoáng về Gorbachev và các cộng sự của ông. Có một người đã ra câu hỏi, sau khi nghe bài phát biểu của cô, yêu cầu cô giải thích sự khác nhau giữa cái nhìn của Gorbachev với thế giới như một lãnh tụ thúc đẩy sự sụp đổ của Liên Xô và cách nhìn nhận của những người dân Xô Viết khác, những người lên án ông vì đã làm tình hình tồi tệ hơn. Cô trả lời:
 
Mọi người dân Xô Viết gắn Gorbachev với các thất bại của chính sách đối nội. Nếu bây giờ họ phải đứng xếp hàng lâu hơn 3, 4 lần so với trước kia thì đó là vì Gorbachev. Điều chưa đầy đủ trong sự phân tích này đó là tất cả điều đó nảy sinh từ thời Breznhev. Gorbachev không hiểu sâu sắc các vấn đề kinh tế một cách đầy đủ khi ông lên nắm quyền. Ông cố gắng rút ngắn các quá trình, đẩy cao tính hiệu quả và bỗng một ngày ông nhận ra rằng toàn bộ hệ thống là sai lầm. Ông cố gắng thay đổi nó nhưng không đủ dũng khí để bước vào nền kinh tế thị trường và do vậy có lẽ ông lựa chọn giải pháp nửa vời. Sai lầm của ông đến từ khía cạnh xã hội của chính sách cải tổ làm cho nền kinh tế Nga hỗn loạn. Vậy nếu bạn muốn làm rõ thì người Nga sẽ nói rằng họ hiểu rằng ông là cha đẻ của cái gì đó quan trọng. Họ đòi hỏi ở ông đơn giản một điều: Ông sẽ làm gì cho họ tiếp theo?
 
Trong 8 năm đầu làm việc ở Stanford, Condi đã viết 15 bài báo đăng trên các tạp chí hoặc trên các cuốn sách lịch sử quan hệ đối ngoại Xô Viết. Trong 6 năm tiếp theo, sau khi cô trở lại trường từ Washington, cô đã cho công bố thêm 5 bài báo và là đồng tác giả cuốn sách thứ ba Nước Đức thống nhất và một châu Âu chuyển đổi: Một nghiên cứu trong nhà nước truyền thống.
 
Condi đồng thời tham gia các công việc dịch vụ công, trong đó có một số công việc thuộc về mảng tư vấn cho Thống đốc bang về tái lập một số quận của California năm 1991. Cô có sự quen biết với Thống đốc mới được bầu – Pete Wilson, người mà sau khi trúng cử vào năm 1990, đã đưa Condi vào danh sách một số ít người ông sẽ đưa vào ứng cử ghế Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ do ông sẽ không tham gia vào năm đó. Ngập sâu vào các công việc ở Washington, Condi nói với ông rằng cô không muốn quan tâm và sau đó cô nói với báo chí rằng cô không nghĩ là sẽ chấp nhận sự bổ nhiệm. Wilson bổ nhiệm Thượng nghị sĩ California – John Seymour vào ghế Thượng nghị sĩ. Như một thành viên trong đội ngũ tư vấn cho Wilson vào năm 1991, Condi chia sẻ các ý tưởng về tái cơ cấu hội đồng, thượng viện và hạ viện của các khu vực.
 
Một lĩnh vực khác trong công việc nhà nước đã lôi kéo Condi đi theo một chuyến công tác kéo dài vài tuần nhưng có tác dụng giúp cô nhớ lại các chủ đề về quốc phòng. Năm 1997, cô đã được bổ nhiệm tham gia Uỷ ban Cố vấn liên bang về đào tạo phối hợp trong lĩnh vực quốc phòng, một uỷ ban do Bộ trưởng Quốc phòng – William S.Cohen thiết lập. Mười một thành viên trong nhóm dân sự, trong đó có một đô đốc đã về hưu và ba vị tướng đã về hưu khác, họ thường xuyên gặp hàng trăm nhân vật trong lĩnh vực quốc phòng trong một ý tưởng để “can thiệp vào các chương trình huấn luyện của quân đội, hải quân và không quân, lính thuỷ đánh bộ và đưa ra các khuyến cáo cách thức tốt nhất để huấn luyện phối hợp các lực lượng tình nguyện, bảo đảm rằng họ có kỷ luật, hành động có hiệu quả với tính sẵn sàng cao”. Uỷ ban đưa ra một danh sách dài các khuyến cáo, bao gồm cả phát triển việc huấn luyện các hạ sĩ quan, cảnh sát vũ trang, các khuyến các về tình trạng lạm dụng tình dục, đưa ra các dịch vụ riêng rẽ cho nam, nữ và thuê nhiều hơn các huấn luyện viên nữ.
 
Sử dụng tối đa kiến thức trong hệ thống quốc phòng, các đề xuất của Condi đại hiện cho một thế hệ mới và một chương trình tăng cường cho sinh viên sau đại học do cô làm đồng sáng lập. Chương trình dành riêng cho trường Ravenswood ở quận Đông Palo Alto. Ý tưởng xuất hiện trong một buổi ăn tối với cha, khi ông trở về California sau cái chết của bà Angelena. Lúc đó ông đã thôi các chức vụ ở trờng Đại học Denver, ông đã lấy một người vợ mới, bà Clara Bailey Rice. Bà là giám thị của trường Trung học Menlo Oaks. Bà nhớ lại: “Hôm đó Condi tới thăm và phát biểu tại lễ tốt nghiệp ở trường của tôi, tôi đề nghị Condi nói về các công việc và suy nghĩ của sinh viên ra trường và cô đã thực sự gây ấn tượng với các sinh viên khi tham gia các công việc và tạo nên các hình tượng rất đẹp. Cô đã hỏi tôi là quận có giúp gì cho thành công của các sinh viên không?”.
 
John có tham gia tư vấn một vài việc ở Stanford và trường của Clara. Giống như Condi, ông quan tâm đến các sinh viên của trường Menlo Oaks. Ông tham gia công việc này để nâng cao chất lượng giáo dục và môi trường giáo dục của trường. “Anh ta rõ ràng không thích cách mà người ta bài trí ở khu vực dành cho trẻ em vui chơi”, Clara nói, “vì vậy, anh ta yêu cầu mọi người đi xa hơn và sửa lại khu vực trò chơi”. Bà Clara trẻ hơn ông tới 17 tuổi, họ gặp nhau khi cùng tham gia các công việc tự nguyện ở nhà trường và họ sớm nhận ra rằng họ có nhiều bạn bè chung từ hồi ở Birmingham. Trước khi trở thành một giám thị, Clara từng là giáo viên dạy toán và khoa học của một trường trung học. Họ cưới nhau vào tháng 7-1989.
 
Dù John đã nghỉ hưu, nhưng uy tín của ông ở California vẫn cao. Một trong những công việc xã hội của ông là một vị trí trong Hội đồng thành phố về các vấn đề trường họ do Thống đốc Pete Wilson lập ra. Kinh nghiệm lâu năm trong nghề dạy học được đánh giá cao vào năm 1995, khi ông nhận được phần thưởng “huyền thoại sống” của liên minh các trường đại học da đen. Năm đó, ông cũng nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Daniel Hale, thành phố Chicago, từ đó người ta thường gọi ông là tiến sĩ Rice.
 
Condi nhận ra rằng trường Ravenswood có một quỹ rất tốt cho người học co thu nhập thấp, nhưng không giúp gì được cho học sinh của trường. Không một sinh viên nào của trường vào được trường Stanford, một trường nằm cách đó có 5 phút đi bộ. Clara nhớ lại: “Cả ba chúng tôi – John, Condi và tôi trong một bữa ăn tối đều có chung một ý nghĩ cần lập một trung tâm đào tạo sau khi tốt nghiệp cho học sinh”.
 
Trung tâm vì thế hệ mới được lập ở trường của Clara, đã mở để đón các học sinh lớp 8 có kết quả học tập tốt, có kết quả ít nhất là C+ và được giáo viên chủ nhiệm đề cử. Ở Trung tâm, họ được học ngaọi ngữ, tin học và phụ đạo về toán, do các sinh viên ở trường Stanford được John cử sang dạy. John tuy đã nghỉ nhưng dành hết tâm lực cho trung tâm. John lập ra một ban nhạc, sắm nhạc cụ và đồng phục cho ban nhạc. Ông còn chuẩn bị cả xe ca để đưa ban nhạc đến các trường của quận, còn hô hào các nhà tài trợ cung cấp lương thực, thực phẩm cho ban nhạc.
 
Condi chính là nhà đồng sáng lập ra trung tâm cùng Susan Ford, một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh và y tế, đồng thời là Giám đốc của quỹ Sand Hill. Chương trình thu hút 100 đến 120 sinh viên tham gia trong năm học và dịp hè thì có 150 sinh viên tham gia. Họ thiết lập mối quan hệ chính thức với Stanford, nơi cung cấp các sinh viên tình nguyện cũng như các giảng viên. John tổ chức một nhóm các nhà tư vấn giáo dục ở trường để giúp các sinh viên khi chúng đã bước vào trường Trung học và khẳng định chúng sẽ được trợ giúp và động viên để có thể kết thúc khoá học.
 
John chỉ cho Condi thấy cách hoạt động này có hiệu quả thế nào, đó là kinh nghiệm thời trẻ của ông ở Birmingham. Trung tâm vì thế hệ trẻ hoạt động rất hiệu quả, chỉ trong vài năm đã có hai trong số học sinh tốt nghiệp thi đỗ vào trường Stanford, còn một số khác thi đỗ vào các trường đại học khác. Năm 1996, công việc nghiên cứu của Condi ở Stanford hạn chế, cô dành nhiều thời gian cho Trung tâm và kiểm soát hoạt động của nó. Trong thời gian đó, cô có gặp nhóm Boys & Girls Club của Peninsula để bàn công việc. Năm 1998, Condi và Susan Ford đã được tằng bằng danh dự vì tổ chức “trợ giúp đặc biệt cho trẻ em và thanh niên”. Tại một bữa ăn tối dành cho các công dân danh dự cho thành phố, theo lời yêu cầu của cha, một ban nhạc từ Trung tâm vì thế hệ mới đã chơi nhạc chào mừng khách.
 
Lũ trẻ ở trung tâm đã trở thành các thành viên của gia đình và công việc ở đó là một phần quan trọng trong cuộc đời cô. Có lần cô nói với cha: “Đó là lũ trẻ của con, chúng có 125 đứa tất cả”. Đem đến cho lũ trẻ các điều kiện tốt là ý nguyện của Condi. “Tôi chưa bao giờ đi xa khỏi trường, đa số các công việc ngoài giờ của tôi là cố gắng đem đén cho lũ trẻ các cơ hội”. Bà dì Connie Ray của cô nói rằng sự tận tâm của Condi là xuất phát từ triết lý sống: “Condoleezza luôn luôn cảm thấy rằng phải trở thành một nhân cách hoàn hảo để hiến dâng cho công việc”.
 
Công việc của Condi với trẻ em ở Đông Palo Alto rất cần vai trò của cô và dù cô chưa bao giờ từ chối một việc gì, cô hy vọng lũ trẻ sẽ không coi trọng giới tính và màu da trong công việc. Cô cho rằng: “Tôi không bao giờ thừa nhận rằng anh phải tìm ai đó có cùng khả năng giống như anh, đủ cho công việc có thẻ trôi chảy”. Vào năm 2000, đại hội Đảng Cộng hoà đã chiếu một đoạn phim video về Trung tâm vì thế hệ mới.
 
Một nhóm hoạt động khác của California cũng đã ghi nhận vai trò của Condi, đó là Hội nghị các nữ Luật sư. Năm 1992, họ bầu Condi là “Người phụ nữ của năm”, sự công nhận này là do các đóng góp của cô trong chính quyền Bush và các cơ quan nhà nước mà cô đã tham gia: “Tiến sĩ Rice đã tham gia vào các công việc có tính lịch sử. Condoleezza là tấm gương mà mỗi một phụ nữ cần phải noi theo: trí thức, rõ ràng, tinh thần trách nhiệm cao. Cô là một mẫu phụ nữ trẻ xuất sắc”, Thượng nghị sĩ Becky Morgan đã nói như vậy khi đề cử cô nhận giải thưởng của năm.
 
Kinh nghiệm của Condi khi làm việc ở Washington đem lại cho cô nhiều khả năng trong lĩnh vực báo chí trong hoạt động của Đảng Cộng hoà và bước vào hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách đối ngoại hàng đầu của Hoa Kỳ. Có rất nhiều ví dụ về đánh giá này: năm 1991, sự xuất hiện của cô trên truyền hình như một cố vấn về vấn đề Xô Viết của ABC News tạo cho cô vai trò như một ngôi sao truyền hình. Năm 1992, cô có bài phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà ở Houston, nơi Tổng thống Bush được chỉ định tái ứng cử chức tổng thống và liên danh với Pat Buchanan.
 
Chính sách đối ngoại của cô được mở rộng khi cô trở thành thành viên Câu lạc bộ Lincohn ở Bắc California, thuộc Hiệp hội Khoa học chính trị Hoa Kỳ và trường Đại học Aspen, nơi cô tham gia các hoạt động từ năm 1991 đến năm 1995. Nhóm nghiên cứu Aspen tập trung vào chủ đề: “Vai trò của Hoa Kỳ thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, quan hệ Hoa Kỳ - Nga và các sáng kiến phòng thủ chiến lược”. Cấp trên cũ của cô ở Nhà Trắng, Brent Scowcroft, đồng thời là đồng chủ tịch của nhóm từ năm 1984.
 
Tại trường Stanford, cô quay trở lại vai trò hành chính trong việc tìm kiếm vị huấn luyện viên bóng đá cho đội của trường, là giám thị và chủ tịch của trường vào năm 1991. Những năm sau đó, cô tham gia Ban giám  hiệu, Hội phụ nữ của trường và Hội đồng chính sách, kế hoạch của trường.
 
Kết quả giai đoạn làm việc tại Nhà Trắng và các công việc ở Đảng Cộng hoà là những bước phát triển rất quan trọng của Condi, đồng thời là cơ sở để cô bước vào các hoạt động doanh nghiệp. Các vị giám đốc được lựa chọn trên cơ sở những kinh nghiệm của họ và đồng thời họ được ghi nhận là các giám đốc chuyên nghiệp, những người có năng lực hoạt động tốt ở các doanh nghiệp và sẽ hoà đồng tốt với các thành viên khác của hội đồng.
 
Những người đã từng làm việc trong các cơ quan nhà nước rất thích hợp với các vị trí trong các Hội đồng quản trị, do cách họ giữ được các mối quan hệ ở Washington. Giống như đa số các phụ nữ tham gia các Hội đồng quản trị công ty, Condi tới Công ty Chevron, TransAmerica, Hewlett-Packard và các công ty khác với các kiến thức cơ bản rất khác nhau giống như các nam đồng nghiệp da trắng khác. Albert A.Cannella, Jr., giáo sư của trường Đại học kinh doanh A&M tại bang Texas đã phân tích sự khác nhau giữa số phụ nữ và năm giới da trắng theo cách truyền thống là những người nổi bật trong công ty, trọng khi có một rào cản vô hình ngăn cản các đồng nghiệp nữ. Ông thấy: “Các đồng nghiệp nam thăng tiến trong các công ty, nhưng các đồng nghiệp nữ lại không có được sự thăng tiến như vậy, càng khó hơn, nếu đó là các nghề nghiệp liên quan đến cơ quan luật pháp, cơ quan nhà nước và các công việc giảng dạy, kể cả khi đã có học hàm tiến sĩ”. Với học vị và kinh nghiệm làm việc cả ở Nhà Trắng và các trường đại học, Condi có cơ hội  và điều kiện rất tốt để ứng cử vào các cương vị lãnh đạo doanh nghiệp và giữ được uy tín cao trong quan hệ ở Washington. Tiến sĩ Cannella nói: “Cô có quan hệ rất tốt, cô biết nhiều người trong chính quyền và điều đó là quan trọng đối với các doanh nghiệp lớn”. Trên thực tế, những người đã có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan nhà nước là rất cần cho ban lãnh đạo các doanh nghiệp vì họ phải tuân theo rất nhiều luật lệ do chính phủ nhà nước ban hành.
 
Trong một nghiên cứu của mình, tiến sĩ Cannella đã giải thích sự khác nhau giữa các thành viên lãnh đạo là nam và nữ. Ông lý giải rằng các doanh nghiệp tìm kiếm thành viên lãnh đạo từ bên ngoài, những chuyên gia trong kinh doanh, các nhân vật có trợ giúp đặc biệt hoặc những người có quan hệ xã hội rộng rãi. Condi đáp ứng loại thứ ba, người có thể đưa ra các giải pháp ngoài kinh doanh các ý tưởng như một chuyên gia và có quan hệ tốt với các nhân vật thế lực trong xã hội. “Các thành viên như thế thường là các chính khách, các viện sĩ, các giáo sĩ hoặc các lãnh tụ hoạt động xã hội. Trong khi loại thứ nhất, các chuyên gia về kinh doanh thường là nữ hoặc các giáo sư từ các học viện hoặc các nhân vật hoạt động xã hội. Trong số họ, một tỷ lệ lớn có học vị tiến sĩ, 56% trong số nữ giám đốc da đen có học vị tiến sĩ thì chỉ có 19% trong số giám đốc là nam da trắng có học vị cao (ví dụ: Tổng giám đốc Chevron – ông David J.O’Reilly là cử nhân, kỹ sư hoá).
 
Một phần khác trong nghiên cứu của Cannella là yếu tố chỉ ra rằng phụ nữ và thiểu số da màu có xu hướng chỉ làm thành viên của một hội đồng, không giống như đa số các đàn ông da trắng, những người thường cùng lúc đảm nhận cượng ở nhiều nơi. Điều này là đúng cho cả Condi và thành viên Hội đồng Chevron sau cô – Carla Hills. Giống như Condi, Carla trở thành uỷ viên Hội đồng với kinh nghiệm ở các cơ quan nhà nước, kể cả thời gian làm việc trong các cơ quan cấp cao của chính quyền Bush như đại diện thương mại Hoa Kỳ (trong khi Condi lúc đó đang làm việc cho Uỷ ban An ninh quốc gia). Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Ford, cô là thư ký về vấn đề nhà ở và phát triển đô thị, cô đồng thời là trợ lý pháp lý của quận ở Los Angeles.
 
Condi tham gia vào Hội đồng Giám đốc của Công ty Chevron, một công ty đa quốc gia về năng lượng, dầu khí, có hoạt động ở 25 quốc gia, ngay khi cô vừa trở về Stanford vào năm 1991. Kinh nghiệm của cô với cương vị là chuyên gia về Xô Viết đã phát huy tác dụng cho quyền lợi dầu khí của Công ty Chevron ở Kazakhstan. Cô làm việc rất hăng say với kế hoạch xây dựng một đường ống dẫn dầu từ bể dầu Tengiz đi xuyên qua miền Nam nước Nga đến một hải cảng ở Biển Đen.
 
Giống như một đồng nghiệp của cô ở Viện Hoover – George Shultz, người đã làm việc như giám đốc của Chevron trước khi Condi đến công ty. Condi được trả thêm so với lương của cô ở Stanford từ Công ty Chevron là 35.000 đôla/năm tiền lương và 1.500 đôla cho mỗi lần dự họp các uỷ ban và hội đồng. Vào năm thứ 10 cô làm cho công ty, cô có 3.000 cổ phần ở Công ty Chevron với giá trị 241.000 đôla. Cũng giống như Shultz, tên của cô được đặt cho một tàu chở dầu, đó là con tàu 136.000 tấn SS Condoleezza Rice.
 
Condi làm việc cho dự án dầu của Chevron ở Kazakhstan – Đây là một sự án đầu tư về xăn dầu lớn nhât sở nước ngoài của Hoa Kỳ. Dự án này xây dựng ở Kazakhstan 935 dặm đường ống dẫn dầu, một tổ hợp đường ống dẫn qua biển Caspian do tập đoàn đường ống Caspian trợ giúp bắt đầu từ năm 1999 và thùng dầu đầu tiên từ bể dầu Tengiz đã chảy vào thùng dầu tại cảng Novorossiysk vào tháng 11-2001. Theo một thông cáo báo chí của Nhà Trắng tháng đó thì công ty này là “lớn nhất, độc quyền dầu tư của Hoa Kỳ vào Nga” và Công ty dầu lửa Hoa Kỳ - Chevron và Exson, trả khoảng một nửa chi phí của gói 2,6 tỷ đôla này cho đường ống dẫn dầu.
 
Gần một thập kỷ làm việc với Chevron đã có thể kết thúc, cô tham gia chính quyền Bush. Không chỉ làm cho các công ty cổ phần dầu mỏ ở Trung Cận Đông, Nam Á và châu Phi có các xung đột quyền lợi mà công ty Chevron còn bị vướng vào các scandal về pháp luật, về quyền con người ở Nigeria. Công ty đã chi thêm cho cảnh sát quân sự Nigeria trong việc đàn áp biểu tình chống lại sự khai thác ở khu lưu vực quốc gia, nơi có rất nhiều dầu mỏ được phát hiện.
 
Condi phục vụ trên cương vị uỷ viên Uỷ ban quan hệ công chúng của Chevron, nơi có trách nhiệm giải quyết các vấn đề về xã hội, chính trị và môi trường của công ty cả trong và ngoài nước. Khi sự tham gia của Condi với Chevron đang đi lên thì bắt đầu chiến dịch tranh cử năm 2000, một phóng viên truyền hình phỏng vấn cô về mối quân hệ với George Bush với công ty dầu mỏ. Cô trả lời: “Công ty dầu mỏ Mỹ là quan trọng đối với sự an ninh của chúng ta, nó đem lại sự ổn định cho chúng ta từ bên ngoài, kể cả ở trong nước Mỹ và đem lại an ninh năng lượng cho Hoa Kỳ”.
 
Việc công ty Chevron bị phản ứng vì các hoạt động môi trường ở châu Phi chưa bị đài phát thanh nhắc tới, nhưng Condi ca ngợi chính sách của Chevron ở Hoa Kỳ. “Công ty dầu mỏ từ lâu đã có chính sách về bảo vệ môi trường, họ là các công dân tốt. Chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ và chúng ta cần có các công ty dầu mỏ của Hoa Kỳ. Tôi tự hào được làm việc với Chevron… và tôi nghĩ chúng ta phải tự hào vì có công ty dầu mỏ của Hoa Kỳ khai thác ở nước ngoài và do đó mang lại an ninh năng lượng cho chúng ta”.
 
Condi thôi không làm cho Công ty Chevron vào 15-1-2001, sau khi được bổ nhiệm là Cố vấn An ninh quốc gia cho Tổng thống Bush (con). Ba tháng sau đó, trong lucd đang có cuộc khủng hoảng năng lượng ở California, Chevron thay đổi tên con tàu chở dầu vẫn mang tên cô. Như một bài báo trên tờ San Francisco Chronicle, con tàu là một trong số các yếu tố bộc lộ quan hệ của chính quyền Bush với các công ty dầu mỏ và “Nhà Trắng phải đối diện với câu hỏi về tên của con tàu”. Chervon không có lời bình phẩm nào theo yêu cầu của Nhà Trắng nhưng người phát ngôn của công ty, Fred Gorell, nói: “Chúng tôi phải thay đổi để hạn chế sự chú ý không cần thiết”. Con tàu bây giờ mang tên Altair Voyager.
 
Các kinh nghiệm của Condi ở Chevron – nơi có mặt rất nhiều quan chức chính phủ, cả đàn ông và phụ nữ bị phê phán vì sự liên minh với công ty, có thể gây nên sự đối lập về quyền lợi. Ví dụ khi Hillary Clinton tham gia Thượng nghị sĩ người ta lại nhớ đến sự tham gia của bà với Wal-Mart, công ty lớn nhất của Arkasas, như người đàn bà số 1 ở Arkasas, bà trở thành Uỷ viên Hội đồng giám đốc công ty và báo chí gọi chính sách không có công đoàn ở Wal-Mart gắn liền với sự ủng hộ của Hillary và rằng khẩu hiệu “Mua hàng của Mỹ” của họ cứng nhắc như Wal-Marrt nhập nhiều hàng ngoại hơn bất kỳ công ty Hoa Kỳ nào khác.
 
Chevron là công ty mà Condi tham gia công việc của Hội đồng giám đốc đầu tiên, kể từ năm 1990. Vào năm 1991, cô trở thành Giám đốc của công ty TransAmerica, một công ty bảo hiểm lớn, đóng tại San Francisco, trụ sở của nó đóng trong toà nhà hình Kin tự tháp nổi tiếng (chính vào tháng 5-2002, khi đang là Cố vấn An ninh quốc gia, Condi đã cảnh báo rằng toà nhà của TransAmerica cùng với tượng Nữ thần Tự do và toà tháp Empire State có thể sẽ là mục tiêu khủng bố). So sánh với thời gian làm việc ở Chevron, cô phục vụ ở Hội đồng Giám đốc của TransAmerica 10 năm. TransAmerica là công ty bảo hiểm nhân thọ lớn thứ 6 ở Hoa Kỳ, nó đồng thời cung cấp cả dịch vụ tài chính và quản lý tài sản. Năm 1999, khi Condi rời Hội đồng, TransAmerica bị một công ty của Hà Lan (Aegon N.V) mua lại. Cô tiếp tục làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính với vai trò là thành viên Hội đồng Giám đốc của công ty Charles Schwab Corp. Vào các năm sau đó, cô quay lại công việ kinh doanh cùng thời với George Shultz, người đã tham gia vào công ty này từ hai năm trước. Cô và Shultz cùng làm trong bộ phận bảo hiểm khách hàng và dịch vụ hoán đổi.
 
Năm 1995, Condi tham gia Hội đồng tư vấn của một công ty tài chính khác – công ty J.P.Morgan, một công ty có lịch sử 140 năm đầu tư vào ngân hàng với 30 triệu khách hàng là các thể nhân, các tổ chức và các chính khách. Hội đồng này do Shultz đứng đầu, họ gặp nhau 8 tháng một lần để tư vấn cho công ty. Vị trí công tác này tạo điều kiện cho cô tiếp xúc với rất nhiều nhân vật quốc tế quan trọng, từ một quan chức cấp cao ở Singapore đến cựu Bộ trưởng tài chính Saudi và tổng giám đốc các công ty đến từ Nam Phi, Brazil, Japan và Mexico.
 
Công ty Hewlett-Packard có trụ sở đặt cạnh trường Stanford ở Palo Alto, được sáng lập bởi hai kỹ sư vốn là sinh viên cũ của trường Stanford, công ty là một bộ phận của thung lũng Silicom – công nghệ mới. Condi tham gia Hội đồng Giám đốc của công ty này voà năm 1991 và phục vụ ở đó hai năm, trở thành một người tin cậy của công ty, rất gần gũi với trường Stanford.
 
Ngoài việc tham gia các hội đồng quản trị doanh nghiệp, Condi còn được trao trọng trách là Giám đốc một Quỹ từ thiện lớn và nhóm nghiên cứu chính sách. Từ năm 1994 đến năm 1997, cô là uỷ viên quản trị của Công ty Carnegie, một trong các tổ chức từ thiện lâu đời nhất, có mục đích hướng vào công tác giáo dục và an ninh quốc tế. Trong thời gian làm việc cho Carnegie, cô phục vụ cho Hội đồng tư vấn mà trong đó có cả các nhân vật nổi tiếng như Jimmy Carter, Robert S.McNamara, Desmond Tutu và Mikhail Gorbachev. Hội đồng này có 16 thành viên, mục tiêu công việc của họ bao gồm cả nghiên cứu phương pháp để giải trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân. Báo cáo của họ với tiêu đề “vạch trần toàn bộ các chất phân hạch: một sáng kiến được đưa ra” đã được đệ trình vào năm 1995. Như một thành viên Hội đồng tư vấn, Condi đóng góp nhiều ý kiến dựa trên các kinh nghiệm của cô trong vấn đề vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô.
 
Đây không phải là kinh nghiệm làm việc đầu tiên của cô ở Carnegie. Năm 1988 và 1989, cô đã phục vụ trong Hội đồng quản trị của tổ chức Carnegie Endowment về hoà bình. Tổ chức nghiên cứu này được mô tả “như một cơ quan tư vấn về ngoại giao cổ nhất ở Hoa Kỳ”, nó nghiên cứu các mối quan hệ giữa nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và xã hội, và thông qua tổ chức này ở Matxcơva tập trung nghiên cứu quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ.
 
Từ năm 1992 đến năm 1997, Condi tham gia Hội đồng Giám đốc công ty RAND, một tổ chức nghiên cứu xã hội nơi cô làm việc vào mùa hè. Đây là tổ chức đầu tiên của Hoa Kỳ được gọi là “Một cỗ máy ý tưởng”, RAND mở rộng mục tiêu nghiên cứu ra lĩnh vực công nghệ quốc phòng, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, nền kinh tế thế giới và các chủ đề khác. Brent Scowcroft cũng tham gia Hội đồng này cùng thời gian với Condi.
 
Năm 1997, cô tham gia Hội đồng Giám đốc quỹ Hewlett, một tổ chức song song với công ty Hewlett-Packard mà cô đang làm việc. QUỹ đã dành 120 triệu đôla cho giải thưởng của tổ chức để theo như sứ mệnh của nó “tạo ra sự đóng góp tích cực cho xã hội”. Với cương vị là uỷ viên Hội đồng, Condi tham gia vào quá trình xây dựng ngân sách, ra các quyết định đầu tư và rà soát lại công việc của rất nhiều trường học được nhận trợ giúp tài chính của Quỹ. Một mục tiêu khác của Hội đồng là lựa chọn một vị chủ tịch và Paul Brest là ứng cử viên được uỷ ban bầu cử lựa chọn. Với cương vị là giám thị của trường Luật thuộc Đại học Stanford, đồng thời là chủ tịch của quỹ Hewlett, Paul Brest trở thành một trong số bạn bè đồng nghiệp gần gũi của Condi. Paul Brest nói rằng: “Condi là một chuyên gia lớn trong lĩnh vực quốc tế của quỹ. Cô quả là rất quan tâm và giúp rất nhiều cho quỹ trong các lĩnh vực đó, tuy nhiên, cũng như các giám đốc khác, cô phải tham gia xử lý tất cả các vấn đề. Hội đồng họp 4 lần trong một năm”.
 
Ở Uỷ ban quốc gia bảo hiểm nhân thọ vì các quyền con người, một tổ chức liên bang đưa ra các giải thưởng để xét tặng cho các trường và tổ chức văn hoá. Condi tham gia hội đông ftừ thiện từ năm 1991 tới năm 1993. Cô đồng thời trở thành một thành viên trong nhóm văn hoá của San Francisco, một thành viên của dàn nhạc giao hưởng trực thuộc chính Thị trưởng San Francisco.
 
Bắt đầu từ năm 1994, Condi quy trở về trường Notre Dame ba lần một năm để họp Hội đồng từ thiện, một trong các mục tiêu của trường đại học này. Cô được bầu là một trong 53 thành viên của Hội đồng sau khi tham gia phục vụ trong Uỷ ban tư vấn của trường Nghệ thuật và Văn chương. Một nghiên cứu của Tạp chí giáo dục cấp cao cho người da đen, công bố năm 2000, đã chỉ ra rằng: Hội đồng của trường Notre Dame với 7 thành viên da đen, bao gồm cả Condi, đã thực hiện nhiều việc từ thiện dành cho người da đen hơn bất kỳ một trường đại học lớn nào khác. Năm 1995 trường thừa nhận công lao đóng góp của Condi trong vai trò nhà giáo bằng cách tặng Condi học vị Tiến sĩ danh dự và mời cô phát biểu trướng các sinh viên tốt nghiệp của năm đó. Hai năm sau cô lại được trường Notre Dame trao bằng danh dự lần nữa, với danh vị là “Tấm gương toàn quốc trong lĩnh vực giáo dục ở Hoa Kỳ”. Sự thừa nhận này được đưa ra trong quá trình phát động chiến dịch lập quỹ, trong thời gian đó Trường đã làm một bộ phim với tên: Các thế hệ: một lễ chúc mừng của trường Notre Dame. Bộ phim đã được trình chiếu khắp cả nước. Bộ phim kể về bốn thế hệ sinh viên tốt nghiệp của trường, những người đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, cho nhà thờ và xã hội.
 
Bổ sung thêm vào danh hiệu Tiến sĩ danh dự của Đại học Notre Dame, Condi còn được nhạn bằng Tiến sĩ danh dự về Luật của trường Morehouse năm 1991 và bằng tiến sĩ về văn học nhân văn của Đại học Alabama năm 1994. Trường Morehouse được thành lập ở Alabama hai năm sau Chiến tranh lạnh, đây là trường dành cho nam giới lâu đời nhất và đã cho phép sinh viên da đen nhập học. Trong số cựu sinh viên của trường có Martin Luther King, Jr., nhà vô địch Olympic Edwin Moses, đạo diễn điện ảnh Spike Lee và diễn viên nổi tiếng Samuel L.Jackson. Phần thưởng của trường Đại học Alabama, cần phải hiểu như sự đánh giá công lao cá nhân trong thành tựu chung của một dân tộc đối với trường đại học mà vào đầu những năm 1960, khi John và Angelena Rice muốn khuyến khích lũ trẻ nhập học, còn là một trường dành riêng cho học sinh da trắng.
 
Sự thành đạt của Condi trong công việc giảng dạy tiếp tục được thừa nhận vào mùa xuân 1997, khi cô được bầu là Viện sĩ khoa học và nghệ thuật của Hoa Kỳ. Danh hiệu này chỉ dành cho những người có thành tích “có đóng góp quý giá cho khoa học, cho công tác giáo dục, công tác xã hội và nghệ thuật” và cô đã là một trong 11 giáo sư được bầu danh hiệu cao quý này của năm đó. Những năm tiếp theo cô còn được bầu là 1 trong 40 người phụ nữ trẻ có uy tín trong giới học thuật Mỹ do tạp chí Change, một tạp chí của Hiệp hội Hoa Kỳ về giáo dục cấp cao, bình chọn. Tại Stanford, cô dành được học bổng ba năm của Viện Hoover để trợ giúp dự án nghiên cứu mới trong khi cô vẫn tiếp tục công việc giảng dạy ở khoa khoa học chính trị.
 
Từ các phòng họp của các hội đồng quản trị các công ty xuyên quốc gia và các trung tâm chính sách cho đến các bài giảng ở các trường đại học, Condi đã trưởng thành cả trong lĩnh vực kinh doanh, giảng dạy và nghiên cứu văn hoá thế giới, ngay sau khi cô trở về từ Nhà Trắng. Cô đã được phong là giáo sư của trường Stanford vào tháng 5-1993 ở tuổi 38. Trong khi cô còn chưa được biết, thì một uỷ ban đã họp để thảo luận một đề tài quan trọng về nhân sự của trường liên quan đến cương vị của cô, một trong số các công việc hàng đầu mà theo truyền thống sẽ dẫn tới khả năng phát triển để trở thành Hiệu trưởng của bất kỳ trường đại học nào.
 
Một tháng sau khi cô trở thành giáo sư, cô nhận được điện thoại từ Gerhard Casper - Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Stanford. Trong nhiều năm, họ thường xuyên trao đổi với nhau về sự phát triển của nhà trường và chia sẻ sự quan tâm đối với khoa khoa học chính trị. Công việc của Gerhard bao gồm hai năm làm phó giáo sư về khoa học chính trị trước khi trở thành giám thị của trường Đại học Luật Chicago. Họ đã gặp nhau vài năm trước khi Condi tới Chicago để đề xuất với Uỷ ban nhân sự về ông Casper như một ứng cử viên cho chức Chủ tịch. Thời gian ông là Hiệu trưởng của trường Đại học Chicago, một nhân vật số hai rất có quyền lực của nhà trường, quản lý ngân sách và đội ngũ giảng viên, báo cáo trực tiếp cho Chủ tịch của nhà trường. Trong phiên họp đầu tiên, Gerhard nhận ra chính Condi là một trong các giảng viên có kinh nghiệm mà ông từng gặp. Ông kể: “Tôi đã rất ấn tượng bởi sự uyên bác, kinh nghiệm, trí tuệ và sự hùng biện của cô”.
 
Vào một ngày tháng 6-1993, vừa chớm một năm sau lần họ gặp nhau lần đầu. Condi không có lý do gì để không nghĩ rằng lời mời gặp ông ở văn phòng của mình là một việc gì đó hơn là một thời cơ mnới để nói về một quyết định của Uỷ ban hoặc một lĩnh vực hành chính nào đó. Cuộc gặp chuyển hướng sang bất kỳ chủ đề nào nhưng dĩ nhiên rất đúng hướng.
 
Gerhard nói: “Tôi không đả động đến Bush. Tôi nói với cô ta: Condi, tôi muốn cô trở thành Hiệu trưởng thay tôi. Và lúc đó là một sự yên lặng, như bạn đã biết, Condi không phải là loại người dễ bị lung lạc, nhưng quả thật lúc đó sự im lặng bao trùm phía bên kia bàn làm việc”.
 
Có nhiều điều để nói lúc đó, với cương vị Hiệu trưởng, cô sẽ là người phụ nữ da đen đầu tiên và trẻ nhất được đứng vào cương vị này. Ở tuổi 38, cô trẻ hơn đến 10 tuổi so với các đồng nghiệp cùng chức vụ khác và cô sẽ là nhân vật quyền lực số 2 của trường, chủ trì các công việc của các khoa chuyên môn. Ngoài trách nhiệm trong quản lý tài chính các khoa, cô phải chịu trách nhiệm về khoản ngân sách hàng năm của trường là 1,5 tỷ đôla. Cô đồng thời là người đứng đầu đội ngũ giảng viên, phải ra các quyết định ảnh hưởng đến 1,400 giảng viên của các khoa. Nhưng Gerhard đã thuyết phục rằng cô sẽ làm tốt công việc này. “Tôi biết điều đó có cái gì đó cần được kiểm soát vì rằng trường có một phạm vi dịch vụ công rất mạnh”, ông nói, “nếu một ai đó trở thành Hiệu trưởng, anh ta phải điều hành, anh ta cần phải ít nhất trưởng thành từ một trưởng khoa.. nhưng tôi đã bị thuyết phục tuyệt đối rằng cô rất xứng đáng”.
 
Gerhard Casper cũng ghi nhận đa số các ý kiến phát biểu không nhắc đến xuất xứ chủng tộc hay phân vân về sự thiếu kinh nghiệm của Ocndi, mà ý kiến phân vân về đảng phái của Condi lại cho rằng “Condi là một người theo Đảng Cộng hoà mà đa số các trường đại học Mỹ lại có cảm tình với Đảng Dân chủ”. Một vài thành viên các khoa có phân vân về quan điểm chính trị bảo thủ có thể ảnh hưởng đến các quyết định của trường, nhưng Condi đã giải toả các ý kiến này bằng cách nói rằng quan điểm chính trị của cô sẽ không ảnh hưởng đến công việc.
 
Condi bắt đầu công việc của mình vào thời điểm rất khó khăn đối với trường Stanford, cũng như các trường khác, họ đang phải đối mặt với sự cắt giảm ngân sách do suy thoái kinh tế. Thêm vào thử thách đó là sự tăng chi phí sửa chữa do trận động đất tàn phá vùng Vịnh tháng 10-1989 và làm hư hỏng 200 toà nhà. Các hoá đơn sửa chữa lên đến 200 triệu đôla. Khi Condi trở thành Hiệu trưởng, nhà trường đang bị thâm hụt khoảng 20 triệu đôla. “Trường Stanford cũng như các trường đại học khác, đang ở trong vòng xoáy của sự thay đổi”, cô nói sau khi chấp nhận chức vụ hiệu trưởng. “Đúng vào lúc tôi có cơ hội để có thể đóng góp với trách nhiệm cho nước Mỹ đối với các sự kiện hỗn loạn sau Chiến tranh lạnh, tôi tự hào rằng Chủ tịch Casper tin cậy cách đánh giá và khả năng đáp ứng các thách thức của trường Stanford”. Cô đồng thời mô tả nguồn gốc thành công của cô. Một sự thừa nhận sâu sắc cho rằng nhà trường sẽ trưởng thành mạnh mẽ cùng thời gian. Cô nói: “Khi tôi quyết định trở về trường hai năm trước, tôi nhận được sự cam kết rất lớn và tôi phải hàm ơn rằng sẽ được tự do suy nghĩ, phát triển và diễn đạt các ý tưởng của mình như các trường học vẫn cho phép. Không có môi trường nào tạo ra năng lượng tốt hơn như ở đây”.
 
Với cương vị mới của mình, Condi thay đổi kế hoạch của cô cho mùa hè. Cô đã lên lịch cho một chuyến đi bốn tuần đến bể dầu ở Kazahkstan, nơi cô sẽ tìm kiếm tư liệu cho cuốn sách mà cô đã mô tả với tạp chí The New York Times. Với cương vị Giám đốc Chevron làm việc ở trên một đất nước như vậy, lịch giảng dạy và lịch làm việc trong công ty của cô kín đặc. Cô huỷ bỏ chuyến đi và thay vào đó là lịch làm việ để làm rõ ngân sách của trường. Cô chưa từng gặp một khoản ngân sách nào lên đến hàng tỷ đôla và việc giảm khoản thiếu hụt ngân sách có thể chắc chắn gây ra phản ứng và việc cắt giảm như vậy có thể phương hại tới uy tín của cô ở trường. Nhưng việc cô bằng mọi giá giữ uy tín các nhân chưa bao giờ là sự lựa chọn đầu tiên của cô và cô hiểu rằng sự mâu thuẫn có thể không vui vẻ, nhưng sự thành công sẽ đưa việc cân bằng ngân sách của trường vào quỹ đạo. Cô chưa bao giờ sợ vấn đề là người ta sẽ nghi ngờ khi cô phải sắp xếp lại khoa và cắt giảm các nhân viên mới. Cô cho biết: “Tôi nói với các sinh viên của mình rằng: nếu bạn phát hiện thấy mình ở trong một nhóm bạn bè mà ở đó họ luôn đồng ý với bạn ở tất cả các vấn đề thì bạn đã chọn nhầm nhóm bạn rồi”.
 
Đối với một số người của trường, sự phát hiện ra tình trạng thiếu hụt ngân sách sẽ làm cho giấc mơ phù du của họ tan thành mây khói. Nhưng Condi đã sử dụng những tháng sau đó để lập một nhóm chiến lược cho phép cô liệt kê ra một bản ghi nhớ gửi cho giám thị và tổ chức hành chính vào tháng 11-1993. Kế hoạch này kêu gọi cắt giảm chi phí của các khoa và dịch vụ của sinh viên, những thứ có thể cắt giảm mà vẫn giữ được sự đoàn kết của các nhân viên. Trong một bài trả lời phỏng vấn với tờ báo của trường, cô cam kết cới sinh viên rằng, nhà trường sẽ không che dấu sự khủng hoảng nhưng sẽ làm việc tích cực nhất để đề ra các giải pháp như các tổ chức khác của đất nước. Condi nói: “Tôi thực sự không nghĩ đây là một khủng hoảng về ngân sách, đây chỉ là sự khiếm khuyết trong điều hành về ngân sách, đây chỉ là sự khuyếm khuyết trong điều hành từ những năm 1990. Mỗi một cơ quan của Mỹ đều có các vấn đề tương tự”.
 
Đó là một cách đối thoại khôn ngoan khi nói nó không thể làm được… rằng sự thiếu hụt là có cơ cấu, rằng chúng ta buộc phải sống chung với nó. Condi nói với một phó giáo sư – ông coit Blacker rằng: “Không, chúng ta sẽ phải cân đối được ngân sách trong hai năm. Đó sẽ là một quyết định đau đớn nhưng phải làm và sẽ là rất phức tạp cho Stanford khi phải gây quỹ để cân bằng ngân sách của bản thân và có tác động để tạo nguồn bổ sung lợi nhuận cho nhà trường”. Rất nhiều các quyết định “đau đớn” như vậy tác động trực tiếp đến quyền lợi của nhiều người, đó là điều mà Condi phân vân nhưng cô cho rằng dứt khoát phải làm để cân bằng được ngân sách. Cô nói: “Tôi thường xuyên cảm thấy bất ổn vì sự phân bổ không đúng ảnh hưởng đến cuộc sống cua rmọi người, khi tôi phải thuyết phục mọi người, tôi cố gắng tạo điều kiện tối đa cho họ trong khả năng của tôi, nhưng đôi khi anh buộc phải chấp nhận, một quyết định rất khó khăn và anh buộc phải tạo cho họ một lối thoát”.
 
Công việc của cô quả là không dễ dàng và thường xuyên căng thẳng. “Trong vài năm đầu tiên, rất ít khi tôi cảm thấy hài lòng”, cô nhớ lại, “Thậm chí tôi buộc phải tái cơ cấu tổ chức hành chính của rất nhiều khoa. Đó là điều rất khó khăn, ảnh hưởng đến nhiều người. Đó không phải là chuyện đùa”. Nhưng cô cảm thấy phải làm rõ mọi quyết định và giữ vững nguyên tắc hiệu quả, không thể bỏ dở giữa chừng chỉ sau 1, 2 năm. Cô cảm thấy tự hào vì đã đưa ra các quyết định đúng đắn. Cô khẳng định: “Tôi nghĩ rằng anh cần phải có tính quyết đoán trong mọi chuyện, người ta hoặc là phải có câu trả lời “không”còn hơn là không có câu trả lời”.
 
Thêm vào những khuất tất của nạn thâm hụt, một nguy cơ khác treo trên đầu trường Stanford khi Condi trở thành hiệu trưởng là vấn đề tài chính. Trường đại học đã đầu tư vào chi phí gián tiếp quá nhiều. Một phần lớn là để xây dựng hàng ngàn dự án nghiên cứu cấp liên bang được tài trợ lớn với hai loại chi phí trực tiếp và gián tiếp. Loại thứ nhất thì dễ xác định như thư viện, trang thiết bị, cung ứng và lương giảng viên cho các dự án. Nhưng chi phí gián tiếp thì bao gồm các tiện ích, cơ sở vật chất thư viện, chi phí bảo dưỡng công sở, trả cho các nhân viên trợ giúp và các khoản chi khác mà không dễ gì tính toán phân bổ vào dự án. Các trường đại học và chính phủ đồng ý với nhau một tỷ lệ bình quân cho một số hàng hoá và dịch vụ coi như chi phí gián tiếp. Trong trường hợp của trường Stanford, chi phí bình quân gián tiếp cao hơn bất kỳ trường nào của Hoa Kỳ là 74%. Điều đó có nghĩa là nếu một giáo sư nhận một ngân sách 100.000 đôla cho một dự án nghiên cứu thì sẽ phải thanh toán thêm 74.000 đôla cho chi phí gián tiếp và lúc đó tổng chi phí sẽ là 174.000 đôla.
 
Năm 1990, các quan chức liên bang được giao theo dõi ngân sách nghiên cứu đã than phiền rằng trường Stanford đã chi cho chi phí gián tiếp hàng triệu đôla. Một cuộc kiểm toán rộng rĩa đã đem lại nét mới rất quan trọng trên báo chí và uy tín của Stanford đã được khôi phục lại. Quá trình kiểm toán tổng hợp được tiến hành với hàng chục kiểm toán viên đã xem xét lại sổ sách của trường vào bất kỳ thời điểm nào, kết quả này đã đem đến cho Condi các số liệu bổ sung quý giá phục vụ cho yêu cầu của công việc. Nhưng khi công việc điều tra được hoàn thiện vào năm 1994, thì không tìm ra sai trái nào. Chính quyền liên bang kết luận rằng “không có một lý do gì chống lại trường Stanford vì một lỗi lầm nào hoặc chi phí gián tiếp nào không có đủ chứng từ”, Gerhard Casper đã viết như vậy trong kết luận công bố trước công chúng.
 
Tiếp theo các phản ứng không hay với ý đồ làm cô phải ngừng công việc trong kế hoạch cắt giảm ngân sách khi Condi đưa ra một số quyết định để kiểm soát với cương vị hiệu trưởng đã đặt cô trước “búa rìu” dư luận. Vài năm trôi qua, các báo cáo tổng kết chỉ ra rằng cần phải có thêm nhiều nữ giảng viên cho các khoa, các báo cáo chỉ ra một sự thật là nhiều khoa chưa từng bao giờ tuyển dụng nữ giảng viên và rằng ngoài cô hiệu trưởng (chính là Condi) không có một nữ giảng viên nào làm việc trong văn phòng của nhà trường. Năm 1997, Condi thừa nhận rằng việc tuyển chọn nữ giảng viên diễn ra rất chậm, cô báo coá rằng năm 1993 tỷ lệ phần trăm nữ giảng viên ở các khoa là 15,8% và năm 1996 tăng là 17,8%, một sự tăng rất nhẹ. Cô nhận xét: “Thực ra, điều này diễn ra rất chậm nhưng đi đúng hướng, nhưng tôi đã tiên lượng là con số không thể tăng đột biến”.
 
Khi nghiên cứu vấn đề này, Condi đi đến kết luận đa số các khối cơ bản chuyển biến rất chậm, đặc biệt là các vị trí chủ chốt. Cô giải thích: “Anh có thể thấy 1 đến 2% chuyển biến ở các khoa quan trọng, nhưng đơn giản là nếu anh không tăn phạm vi, số lượng giảng viên của các khoa, thì tỷ lệ phần trăm nữ giảng viên sẽ tăng rất chậm, đó là yếu tố tăng cơ học rất hợp lý. Con người ta có thể không thích sự thay đổi cơ học này, nhưng đó là một yếu tố tự nhiên”.
 
Một yếu tố quan trọng để tăng số lượng nữ giới làm việc trên các khoa là phải tăng quỹ lương, tăng biên chế cho các vị trí với định hướng nhằm cào các nhân sự là phụ nữ, những người không vị vấp phải các tiêu chuẩn riêng cho các ứng viên nam khác. Hơn nữa, bà hiệu trường còn bị phê phán là đã không có các biện pháp để mạnh để thúc đẩy, thậm chí cô còn bị phê phán trong các cuộc họp rằng cô là sản phẩm của quan niệm cứng nhắc của thời 1981. Condi không muốn làm cho phụ nữ hiểu rằng trường Stanford chỉ làm theo đơn đặt hàng mà các giảng viên nữ ở đây phải được tuyển dụng theo đúng các tiêu chuẩn. Cô linh cảm thấy có các ý kiến phản biện cho rằng các nữ giảng viên được chọn theo đặt hàng “hơn cả việc biết đứng ngoài các mặt tiêu cực, tôi mong muốn làm cho mọi người cảm thấy không phải họ đạt mục tiêu theo một cách sai trái”.
 
Condi tin tưởng vào các hành động của mình như một thời điểm bắt đầu trong một số trường hợp, như công việc của chính mình, khi cô được trao cơ hội nhưng chỉ vào một giai đoạn nào đó, sau đó cô đã cố gắng rất nhiều trong công việc ở khoa khoa học chính trị. Condi nói: “Hãy làm công việc theo cách đúng đắn thì các hành động quyết đoán của mình sẽ là có ích”. Nhưng điều đó không so sánh cô với việc đặt hàng hoặc đưa ra bất kỳ hành động quyết đoán nào khác trong hoạch định chính sách của nhà trường.
 
Các quyết định và lập trường cứng rắn của hiệu trưởng trở thành tin tức hàng đầu ở trường Stanford. Một lần nữa, khi cô tán thành một quyết định của giám thị về việc không trợ cấp cho Karen Sawislak – phó giáo sư về lịch sử, các sinh viên bị động chạm quyền lợi đã tổ chức phản đối trong trường, nhưng Condi giải thích rằng quyết định của giám thi là để giúp có trách nhiệm với chất lượng của khoa và các quyết định của ông là đúng đắn. Hiệu trưởng và Hội đồng tư vấn đã xem xét lại vấn đề trợ cấp để bảo đảm rằng các quy trình xem xét là tuân thủ theo đúng quy định của việc trợ cấp. Trong trường hợp của Sawislak, Condi giải thích tất cả quy trình đều tuân theo quy định. Cô giải thích rằng: trợ cấp là phần dành cho những người có đóng góp thực sự cho quốc gia trong nghiên cứu và giảng dạy. Đây là một tiêu chuẩn rất rõ ràng và giám thị phải quyết định xem người đó có đáp ứng tiêu chuẩn hay không và bảo đảm rằng tiêu chuẩn được áp dụng là khách quan. Sẽ có một cuộc bỏ phiếu ở khoa, thậm chí với một sự nhất trí cao thì cũng không thay thế được vai trò của giám thị trong trường hợp này. Cô bổ sung thêm rằng, hành động quyết đoán không phải là thứ để cân nhắc trong giai đoạn này, đó là chính sách của nhà trường vào năm 1985. Chính sách đó công bố rằng các hành động quyết đoán gắn liền với thời điểm nghiên cứu và vào năm mà phó giáo sư được bổ nhiệm, chứ không rơi vào giai đoạn xem xét trợ cấp. Vào thời điểm Condi phát biểu trong cuộc họp của Uỷ ban về nhu cầu tuyển thêm giảng viên nữ ở các khoa, Condi đã định hướng cho chính sách của trường về việc sử dụng các hành động quyết đoán chỉ là khâu mở đầu.
 
Một công việc khác diễn ra trong quá trình trựo giúp của Condi trong cương vị Hiệu trưởng bao gồm các nội dung mới, “Hướng dẫn các yếu tố con người” mà trong đó hàm chứa cả phương pháp và nội dung về kinh nghiệm của các sinh viên năm cuối. Chương trình này đưa ra vào năm 1997, thay thế cho các nội dung về nhân sự trước đó với phương châm: “Văn hoá, ý tưởng và giá trị” trong khi mở rộng với cách tiếp cận của chương trình đa văn hoá. Các nội dung mới về yếu tố con người bao gồm cả các kế hoạch nghiên cứu mới như dự án về sử dụng internet và nhóm các dự án trong giai đoạn kết thúc. Cả Chủ tịch và Hiệu trưởng nhà trường hoàn toàn ủng hộ và trợ giúp thêm việc sáng tạo các nội dung với hy vọng có thêm nhiều đối tượng mới quan tâm đến chương trình nhân sự này. Chỉ có 12% số mới tỏ ra thích thú với công việc nghiên cứu các khoa học xã hội, triết học, ngôn ngữ, văn học, hoặc nghệ thuật. Có một yếu tố là nhiều khoa và hệ thống cơ quan hành chính không hài lòng khi phải thay đổi chương trình. “Các hướng dẫn về yếu tố con người” bao gồm cả việc đọc các tác phẩm văn học không phải của phương Tây cũng như các nội dung liên quan đến chủng tộc, dân tộc học và di truyền nòi giống.
 
Condi rất ủng hộ nội dung về các yếu tố đa văn hoá trong chương trình mới, cô tuyên bố rằng lịch sử của nền văn minh phương Tây là không hoàn chỉng nếu thiếu lịch sử văn hoá của các lực lượng đối lập. Condi nói: “Giả thiết rằng tôi chưa bao giờ mua… là việc nghiên cứu văn minh phương Tây. Việc nghiên cứu toàn bộ nền văn minh khác giúp cho chúng ta rất nhiều, đó là điều thông minh mà chúng ta cần làm, lịch sử con người là lịch sử các tầng lớp khác nhau của nền văn minh và rằng đó là phần rất thú vị… Tôi chưa bao giờ tin là nah chỉ phải giảng dạy mỗi văn minh phương Tây”.
 
Sự thay đổi về nội dung và phương thức giảng dạy là một nhóm các tác động, được thúc đẩy bởi một uỷ ban của khoa và sự dũng cảm quyết tâm của Hiệu trưởng Rice và chủ tịch Casper. “Kinh nghiệm của tôi chỉ ra rằng một sinh viên năm cuối cách đây hai năm sẽ thấy bây giờ thay đổi 180o”, Condi nhận xét như vậy sau khi chương trình được triển khai. “Rất nhiều việc đã diễn ra với các thành viên của khoa, có nhiều nhóm định hướng, nhiều nhóm nghiên cứu có mục tiêu”.
 
Một nội dung “nóng” khác diễn ra trong thời kỳ Condi làm hiệu trưởng là vấn đề nhà ở cho sinh viên mới ra trường. Tháng 5-1998, trong số 1.000 sinh viên năm cuối, có 100 sinh viên phải ngủ qua đem ở ngoài đường để phản đối chính sách về ký túc xá. Gần 900 sinh viên năm cuối, những người đã đăng ký ở ký túc xá đã bị trả lời là hết chỗ ở. Condi đề nghị nhà trường phải xây thêm ký túc xá mới nhưng dự án này cần hai năm để xây dựng sau khi được phê chuẩn. Trong khi đó, ký túc xá tiếp tục là vấn đề lớn, một trong những công việc mà Condi phải giải quyết một cách trọn vẹn.
 
Bên cạnh việc kiểm soát các hành động cứng rắn của mình trong chương trình đa văn hoá và cá vấn đề khác thì Condi phải đón trước các hoạt động rộng lớn hơn đối với vấn đề ngân sách của trường. Trong một phiên họp của Hội đồng nhà trường năm 1996, cô tuyên bố rằng nhà trường không chỉ đã ra khỏi mức báo động đỏ, mà còn có số dư 14,5 triệu đôla. Cô nói: “Đây là thành công ban đầu mà nhà trường phải tự hào”&gt; Thành công có được là do cắt giảm chi phí, tăng thêm các giá trị khấu hao của đầu tư và mức kỷ lục về tăng quỹ cho trường. Cô nói rất tự hào là nhà trường đã kiểm soát được vấn đề tài chính, nhưng cảnh báo nguy cơ quay trở lại do các thói quen cũ. Cô cho biết: “Nhà trường định hướng các quan hệ đúng lúc để kiểm soát được sự phát triển và các phát sinh và phải dừng các ý nghĩ về các quyết định theo kiểu mặt trận”. Các hạng mục đã bị gạt ra có thể từng trường hợp sẽ được phục hồi. Ví dụ, đẩy các vị trí cuối lên trước bằng các ngân sách khác. “Điều đó hầu như có vẻ như là một con lắc”, cô nói, “và anh phải rất nhạy cảm để không bị vung vẩy như một con lắc”.
 
Trong thời gian giữ cương vị hiệu trưởng, Condi tiếp tục công tác giảng dạy của một giáo sư môn khoa học chính trị. Cô đồng thời tiếp tục tậpluyện chơi đàn piano, tham gia nhóm công tác từ thiện của khoa và nghiên cứu rất nghiêm túc trên các giờ học của mình. Người đã khuyên Condi biểu diễn trở lại là một đồng nghiệp của cô ở Stanford. “Condi là hiệu trưởng khi tôi là giám thị của khoa luật”, Paul Brest - Chủ tịch quỹ Hewlett nhớ lại. Vốn là một tay chơi violin, Paul thường cầm đàn mỗi khi lũ trẻ nhà ông học nhạc. Ông nói: “Thường thì hiệu trưởng gặp giám thị một lần trong tháng và tôi có nghe nói là hiệu trưởng là một tay piano có hạng. Trong một lần đến họp định kỳ hàng tháng tôi đề nghị đưa vào chương trình chơi nhạc piano của Schumann và hỏi Condi: “Chúng ta cùng chơi chứ? Khi cô đồng ý, chúng tôi đã cùng chơi nhạc như một ban tứ tấu trong vòng 5 năm”. Trong nhóm còn có tay chơi Cello Walter Hewlitt và tay chơi Violin Andrea Chevez, người tốt nghiệp khoá đầu của khoa Luật Stanford và một nhân viên nhà trường – Karen Lindblaum.
 
Paul nói rằng: “Condi rất tích chơi piano trong ban tứ tấu hoặc ngũ tấu và quả là một nghệ sĩ nhạc tính phòng tuyệt vời. Cô thường nhắc nhở, ‘Hãy đừng chơi quá nhanh’, hay ‘Hãy chơi tinh tế hơn nữa’. Condi chơi nhạc rất dễ dàng, cô có tai nghe âm nhạc rất tốt và cô là một tay chơi piano tuyệt vời. Thường các thành viên ban nhạc hay nhận xét đàn piano át tiếng các nhạc cụ khác, nhưng cô biết cách làm việc chung trong nhóm, và mọi người phải biết cách hoà âm trong một ban nhạc”.
 
Mọi người trong nhóm biết cách hoà âm trong ban nhạc tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu có đàn piano chơi các bản nhạc của Schumann, Brahms,… Đây là các buổi nhạc không chịu áp lực của khán giả. Nhưng thường thì Condi trở nên nghiêm túc hơn và trở thành chủ lực trong ban tứ tấu Muir, một ban nhạc tầm cỡ quốc tế vẫn thường đến biểu diễn ở Stanford trong chuyến lưu diễn của họ ở Bắc Mỹ. Được thành lập năm 1980, ban nhạc tứ tấu Muir là ban nhạc của trường đại học ở Boston về nghệ thuật và đạt giải thưởng âm nhạc thính phòng Naumburg năm 1981. Nhóm được đặt theo tên của nghệ sĩ nhạc tự nhiên huyền hoại và người sáng lập câu lạc bộ Sierra John Muir và dự kiến sẽ có lợi nhuận trong việc ghi tên như một tổ chức bảo vệ môi trường.
 
Condi đã trở thành bạn bè của nhóm tứ tấu Muir từ thời ban nhạc này đến thăm trường Stanford. Ban nhạc tứ tấu thường xuyên biểu diễn không chính thức ở nhà một ai đó trước khi biểu diễn ở trường và Condi muốn tham gia biểu diễn cùng ban nhạc đó trước khi chính thức biểu diễn ở trường. Ban nhạc đã đồng ý và Condi đã bắt đầu chương trình bằng bản nhạc cung Fa thứ của Brahms trên đàn piano. Bản nhạc này của Brahms là nhạc tính phòng, đòi hỏi kỹ thuật rất điêu luyện, đặc biệt là trường đoạn thứ 3, một khúc Allegro nhanh, sôi động. Condi đã tập kỹ bản này cùng giáo sư George Barth từ khi cô quyết định chọn bản này để biểu diễn.
 
“Khi chúng tôi bắt đầu tập luyện, tôi không biết phải bắt đầu thế nào, cô rất bận và tôi nghĩ rằng có lẽ cô chỉ tham gia một phần rất ngắn. Chúng tôi bắt đầu luyện tập với các bản nhạc của Chopin và bản Sonata số 7 giọng Rê trưởng của Beethoven. Condi nói rằng: Cô muốn dành nhiều thời gian cho bản nhạc này. Vì vậy tôi quyết định cùng cô luyện tập lâu hơn. Tôi phát hiện ra rằng không có gì giới hạn khả năng chơi đàn của cô. Tôi và Condi hoà âm rất tốt, hàng tuần chúng tôi tập luyện chăm chỉ. Cô tập luyện rất tập trung và nhớ tất cả mọi thứ mà tôi nói. Cô đạt được tiến bộ rất lớn và điều đó tạo ấn tượng rất mạnh”, George nhớ lại.
 
Condi tập luyện cùng George khoảng 10 giờ trong một tuần, trong khi cô chuẩn bị để biểu diễn nhạc của Brahms cùng ban nhạc tứ tấu Muir. Dù là khi chuẩn bị cho biểu diễn hay đơn giản chỉ là ôn tập, cô đều rất tập trung và không để bị cắt giữa chừng. Điều này quả là không dễ với một người chơi nhạc nghiệp dư của trường đại học. “Nếu có điện thoại từ văn phòng thì cô sẽ trả lời: ‘Tôi đang chơi nhạc của Brahms’, và cô nói với họ để họ chờ. Cô muốn họ hiểu rằng đó là thời gian dành cho âm nhạc của cô”.
 
George nhơ lại buổi biểu diễn nhạc Brahms của ban nạhc tứ tấu piano, dù là không chính thức, đã là một sự kiện có tiếng vang. Ông nói: “Cô biểu diễn rất tốt, tôi đã xúc động khi cảm nhận tiết tấu Scherzo, thật là hay”. Kể từ buổi tối tháng 11 đó, tình bạn của cô với ban nhạc tứ tấu Muir phát triển. “Chúng tôi bắt đầu chơi, và Condi ghi nhận sự vui vẻ trên khuôn mặt các thành viên của ban nhạc. Rồi họ chơi bản ‘Happy Birthday’ vì hôm đó là sinh nhật của cô, trong khi mọi người hát theo ban nhạc”.
 
George rất thích làm việc với những người như Condi, tuy không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng rất am hiểu nghệ thuật. Ông cho biết: “Đa số các sinh viên của tôi là các nhà thần kinh sinh học (neurobiologists) và các nhà địa chất, những người đến với nghề này một cách nghiệp dư, nhưng lại là các nghệ sĩ thực thụ”. “Tôi rất thích xem các nghệ sĩ nghiệp dư sẽ đi xa thế nào, và tôi đã chứng kiến một số nghệ sĩ piano. Khi tôi biết rằng có một số là nhà vật lý đáng gặp khó khăn nhưng rất tích cực tập luyện, một sinh viên kiểu này sẽ nói thật rằng: ‘Tôi sẽ chơi trong một buổi hoà nhạc từ thiện tuần này’. Sẽ không phải là người chơi nghiệp dư như mọi người nghĩ mà họ sẽ biểu diễn rất nghiêm túc. Với cương vị là nhà nghiên cứu chính trị và hiệu trưởng, Condi nổi bật trong nhóm này”.
 
Các nghệ sĩ thường biểu diễn ở Stanford cho biết có rất nhiều kỹ sư và giảng viên toán có tài năng về âm nhạc. Condi xuất hiện trong một chương trình cùng với George sau khi đã trình diễn một bản nhạc của Brahms, bản trình diễn song tấu piano theo chủ đề nhạc của Haydn. “Chúng tôi luyện tập theo bản nhạc này và biểu diễn nó trong chương tình của khoa”, George nhớ lại, “Quả là rất vui khi được biểu diễn cùng cô, trong buổi biểu diễn của khoa, anh sẽ tìm thấy các tài năng bộc lộ ngoài công việc chính ở khoa, họ như các nghệ sĩ thực thụ”. George nhớ lại rằng Condi sau này đã biểu diễn bản Liebeslieder Waltzes của Brahms, một đoạn ngắn dành cho song tấu piano và dàn nhạc.
 
Mối quan hệ của Condi và ban nhạc tứ tấu Muir String thúc giục cô và các bạn nhạc của cô ở Stanford tham gia vào chương trình mùa hè của ban nhạc. Họ đi đến Utah để nghiên cứu về chương trình nâng cao của ban tứ tấu tại trường Deer Valley, George Barth đã ở lại hai mùa hè để huấn luyện họ theo một số bản nhạc dành cho ban tứ tấu. Condi đồng thời cũng đi theo ban tứ tấu Muir tới Montana trong cả mùa hè, nơi cô học tập ở họ về âm nhạc và có điều kiện biểu diễn một số bản nhạc mà cô ưa thích. Cô nói: “Vào năm 2001, tôi chơi hầu như hết các bản nhạc yêu thích và tôi cần phải lựa chọn. Tôi không có nhiều thời gian để tập luyện và tôi như một nghệ sĩ nghiệp dư chơi các bản nhạc thính phòng yêu thích của mình”. Trước khi cô bắt đầu chơi cùng Paul Brest và các thành viên khác của ban tứ tấu ở Stanford, cô mới chỉ tập chơi solo piano. Nhạc thính phòng mở ra một cách nhìn mới cho cô, tạo cho cô tiếp tục biểu diễn và hưởng thục âm nhạc. Khi được lựa chọn, cô thích chơi với ban tứ tấu nhạc dây hoặc chơi solo hơn là chơi một bản Concerto với một dàn nhạc. Cô nói: “Tôi đã chơi với dàn nhạc một vài lần và thường là rất khó hoà hợp”.
 
George Barth nhớ rằng kỹ năng chơi đàn của Condi như một nghệ sĩ thính phòng, làm cho người nghe rất dễ chịu và cùng rung động với âm nhac. Trong các cuộc họp của khoa, Condi với cương vị là hiệu trưởng vẫn tham dự rất bình đẳng. “Cô quan tâm tới mọi vấn đề và tìm cách để phối hợp các khâu của công việc, mọi người có thể chờ đợi để được nghe Condi biểu diễn và tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao cô thích thú cả hai điều, tôi cũng biết rằng tình bằng hữu của cô ở Stanford rất quan trọng đối với cô cũng như các buổi biểu diễn thính phòng là cách tốt nhất để củng cố tình bạn”. George nhìn thấy Condi đã dành tâm sức thế nào cho các buổi biểu diễn, thay vì các lịch giảng dạy, nghiên cứu và công việc hành chính bận rộn của cô. Cô luôn dành ưu tiên cho âm nhạc và điều đó giúp cô tạo được cân bằng trong công việc, trong nghệ thuật và trong cuộc sống. Ông nói tiếp: “Condi là một người có tính kỷ luật rất cao, cô dành thời gian để làm những việc gì là cần thiết trước, đó chính là cách cô tránh không tập trung vào những việc chưa phải là cấp thiết đối với cô”.
 
Một công việc được ưu tiên khác trong cuộc sống của Condi là thói quen được luyện tập thể thao. Trường Stanford có một khu tập luyện thể thao rất lý tưởng. Condi rất tự hào vì đã được tập luyện cùng Karen Branick, người đã từng là huấn luyện viên về thể lực cho Tiger Woods (tay golf số một thế giới) từ khi Tiger Woods còn là sinh viên của trường Stanford. Sau khi Branick dời trường, Condi đã tập luyện thường xuyên với Mark Wateska, người đã đưa ra một chương trình tập luyện nghiêm ngặt cho Condi.
 
Hai lần trong một tuần cô mặc bộ đồ thể thao và đến tập luyện tại phòng tập thể lực với một giờ tập luyện, 10 phút tập trên máy chạy và 15 phút tập trên các máy tập thể lực. Sau đó cô tập luyện với tạ và dây đánh bụng, tập cơ vài và đùi, tập co duỗi từng chân, tập cơ bụng và nhiều động tác khác, rồi khi kết thúc cô lại tập chạy và đi bộ trên máy tập. Sau này Mark kể lai: “Tôi bắt cô ấy phải theo các chế độ tập giống như bất kỳ vận động viên nào ở Stanford. Cô tự cảm thấy chính các bài tập giúp cô giữ được vẻ đẹp về cơ thể và tinh thần”.
 
Condi với chiều cao 5 foot 8 (khoảng 1m74) và chỉ cân nặng 140 pound (khoảng 63kg), đã tập luyện theo chương trình để phát triển sức bền và độ nhạy trong các giờ chơi tennis để kiểm soát được các áp lực trong công việc và để tự đánh giá xem mình có thể đạt được thành tích như thế nào. Cô đồng thời cũng nghiệm ra rằng chính chương trình luyện tập này làm cô thích ăn uống bất cứ cái gì mà cô muốn, trừ những thứ có thể làm cô tăng cân. Hình ảnh của Condi trong trang phục thể thao áo cộc tây lúc cô xuất hiện trên chương trình TV NAACP tháng 2-2002 cho thấy cô có cánh tay khỏe mạnh thế nào. Condi mô tả các buổi tập ngoài giờ của cô như các giờ nghỉ “giải lao” giữa các công việc căng thẳng, một trong các cách để kéo cô ra khỏi bàn làm việc và các cuộc họp triền miên. Cô giải thích rằng, không giống như những người có con thì họ giải lao bằng cách chơi với con, cô cần tìm ra cách khác để nghỉ ngơi giữa các công việc. Condi nói: “Nếu bạn chưa có con thì bạn phải nghỉ giải lao ngay tại nơi làm việc, lúc đó hầu như bạn phải làm việc liên tục, không có giờ nghỉ”. Cô đồng thời sử dụng thời gian tập luyện trên máy tập để tập trung vào một đề tài nào đó như nhạc rock hoặc nhạc cổ điển, phụ thuộc vào ý tưởng mới xuất hiện của cô. Condi cho hay: “Tôi thường có nhiều ý tưởng tốt đẹp xuất hiện trong lúc tập trên máy”. Đây là thời gian duy nhất cô sử dụng âm nhạc như một công cụ đồng hành cho các chủ đề mà cô đang theo đuổi. Cô nói thêm: “Tôi thường có được các ý tưởng xuất hiện khi đang nghe nhạc”, cô nói như vậy, “vì chỉ khi tôi đang tập luyện tôi muốn thử xem có đúng là âm nhạc là cơ sở để sáng tạo không?”. Cô thường ước lượng thời gian không phải bằng đồng hồ mà bằng âm nhạc. “Tôi cần phải làm một cái gì đó để tư tưởng tách ra khỏ công việc thông thường, kể cả lúc tôi đang chạy trên máy tập khoảng 30 phút và tôi thường nghe trên đĩa CD một khúc nhạc mà tôi đã thuộc, thường là một khúc nhạc mà tôi thường chơi vì tôi có thể lượng được thời gian nghỉ ngơi của tôi bằng cách bắt đầu một khúc Scherzo và tôi biết thời gian để chơi hết khúc nhạc Scherzo hay một khúc nhạc nào đó tương tự”.
 
Mark nhận xét: “Cô là người có tính mục đích cao, có định hướng rất cạnh tranh. Tôi không muốn chống lại ý nghĩ của cô trong bất kỳ tình huống nào”. Mỗi năm, vào dịp sinh nhật của cô, Mark lại “xuất hiện” như một huấn luyện viên thông qua việc nhắc lại với mỗi một năm trong cuộc đời khoảng 100 pound lực đạp chân. Ông nói: “Tôi không nghĩ là cô thích nhận được bất kỳ món quà nào từ tôi, nhưng đó là thời cơ, bạn đã có một năm tập luyện tốt hơn. Đó là cách chúng tôi tiếp cận vấn đề, tuổi tác không phải là cái gì làm cho bạn quay lại được như cũ”.
 
Mark rất có ấn tượng với tính kỷ luật của Condi cũng như các nét tính cách đặc biệt của cô. “Là một huấn luyện viên thể lực, tôi biết rằng tôi là một người ở địa vị thấp trong nấc thang xã hội, nhưng cô không bao giờ tỏ ra mình là một hiệu trưởng, cô không muốn có một chế độ riêng nào mà muốn tôi yeu cầu cao với cô. Vì vậy tôi không bao giờ cảm thấy đang làm việc với bà hiệu trưởng, tôi cảm thấy rất tự nhiên trong công việc của mình, điều đó tạo nên quan hệ rất tốt”. Mark có dự nghe một buổi biểu diễn không chính thức của Condi ở Stanford và rất hài lòng về thể lực của cô mà buổi biểu diễn đòi hỏi. Condi nói: “Anh biết đấy, mỗi một đợt biểu diễn đòi hỏi về thể lực giốn những gì tôi đã quan sát đội bóng đá của nhà trường, tay chơi piano không phải lúc nào cũng đủ mạnh để chơi các buổi hoà nhạc giống như bản giao hưởng của Brahms, cái đòi hỏi thể lực khi biểu diễn”.
 
Năm đầu tiên trên cương vị giáo sư và hiệu trưởng, Condi không có hứng thú quay trở lại với công việc của chính quyền. Lịch làm việc của cô dày đặc các giờ lên lớp, tư vấn và hướng dẫn các giờ học cho sinh viên năm cuối. Nhưng cô vẫn không bỏ qua những gì diễn ra ở Washington. Cô thường thuyết phục sinh viên của mình để tiếp tục phát triển trong nghề giáo viên, với các chuyến đi làm giàu kinh nghiệm cho cô. Năm 1993, cô nói: “Tôi nói với họ rằng tôi đã đi châu Âu tới 30 lần và hơn thế, và tôi chưa bao giờ phải trả tiền cho các chuyến đi này”. Lý lẽ này có lẽ cũng có tác dụng thuyết phục tự mình rằng cô sẽ tốt hơn với cương vị giáo sư hơn là một quan chức ngoại giao ở Washington.
 
Năm 1995, Condi nói: “Tôi không như một số người đã làm việc ở Washington xuất phát từ lưu vực sông Potomac, những người muốn quay trở lại đó. Tôi có thể nói một cách chân thật rằng tôi không bao giờ dùng thời gian khi đi dạo bộ để tính toán xem mình sẽ đi đến đâu. Tôi có thời cơ để kết thúc nhiều thứ trong thời gian hai năm đó, vì vậy tôi không có gì phải tính toán để cố làm lại điều đó”. Nhưng vào cuối năm 1998, cô đã phải thay đổi suy nghĩ của mình.
 
Năm năm trôi qua kể từ khi cô rời chính quyền của Tổng thống Bush cha và cô rất tiếc đã bỏ qua các thời điểm quan trọng trong thế giới ngoại giao. Con trai của cựu Tổng thống Bush cha đã cho tìm cô để được tư vấn về chính sách đối ngoại và các cuộc tiếp xúc đó đã thúc đẩy cô rất nhiều trong kinh nghiệm thực tế của mình. Lúc đó đã xuất hiện thời điểm của sự thay đổi và Condi đã quyết định rời Stanford. Tháng 3-1999, cô đã nói rằng: “Điều quan trọng nhất nổi lên lúc đó là khi trở lại tôi sẽ làm cái gì, đó chính là lĩnh vực chính sách đối ngoại. Tôi chưa quay trở lại nước Nga trong hai năm rưỡi. Đối với tôi, chuyến đi đến nước Nga như một luồng sinh khí mới”.
 
Cô có kế hoạch tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế để có điều kiện áp dụng các kiến thức của cô về quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này. Cô nhớ lại: “Tôi đã quyết định rời trường đại học để tận dụng thời cơ trong khu vực doanh nghiệp tư nhân, nơi sẽ đem đến cho tôi các kinh nghiệm thực tế về kinh tế và cải cách chính trị”, cô hy vọng thu được nhiều kinh nghiệm qua những gì trải nghiệm. Đó chính là: “Tác động của toàn cầu hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế và các thể chế chính trị”. Cô nhấn mạnh rằng cô có dự định sẽ có ngày trở lại Stanford, nhưng “đây là thời điểm tôi phải quay lại với niềm đam mê của tôi: Đó là nền chính trị và quan hệ quốc tế”.
 
Trong bài phát biểu của mình tại lễ chia tay Condi, Gerhard Casper đã xúc động nói rằng không ai có thể tin là Condi sẽ rời bỏ sự say mê đối với lĩnh vực chính sách đối ngoại. Ông nói: “Tất cả chúng tôi đều biết niềm say mê đích thực của cô và rằng trại huấn luyện của NFL chỉ mở cửa trong một vài tuần”. Ông đồng thời cảm ơn các đóng góp của cô “do đóng góp tất cả tài năng và nhiệt tình cho công cuộc cải tổ ngân sách của trường Stanford cũng như công cuộc tái thống nhất nước Đức. Cô có một mục tiêu cao cả hơn sau này và sẽ bận rộn hơn rất nhiều”.
 
Lễ chia tay náo nhiệt hẳn lên khi Brenda Sepolen hát hai bài mà Condi rất yêu thích, đó là bài “Cặp mắt anh hướng về cánh chim nhạn” và bài “Em cần anh từng giờ từng phút”. Tất cả hơn 100 người có mặt trong phòng, kể cả Condi không cầm được nước mắt. Sau đó, Gerhard trao tặng Condi một tặng phẩm rất có giá trị mà ông đã tham khảo trước ý kiến của các nhóm sinh viên để biết về ý thích của Condi. Cô mở gói quà được bọc rất lịch sự với sự hồi hộp, đó chính là 6 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng của Đại văn hào Nga, Lev Tolstoy, cuốn Chiến tranh và hoà bình. Ở trang đầu là lời đề tặng:
 
Tặng Condoleezza Rice.
Hãy để Chiến tranh chỉ là trong tiểu thuyết.
Và Hoà bình mãi hiện hữu.
Với lòng biết ơn to lớn và sâu sắc vì sự phục vụ
ở cương vị Hiệu trưởng thứ 9 của Stanford.
 
Tại buổi họp cuối cùng của lãnh đạo khoa năm đó, đồng nghiệp của Condi, Brad Efron đã nói “lời cảm ơn nồng ấm và tình cảm chân thành cao cả” dành cho Condi với cương vị hiệu trưởng và giáo sư. Ông đồng thời nhắc Condi, trong khi nâng cốc sâm panh, rằng công việc của cô như một giáo sư sẽ được bảo lưu ở Stanford nhưng sẽ không thể hiện ở bất kỳ văn bản nào. “Điều đó giống như Mafia”, ông nói đùa như vậy với cô, “Đó cũng không phải là cái để cô từ bỏ”.
 
Khi Condi chính thức thôi chức hiệu trưởng vào ngày 1-7-1999, cô nói rằng thời gian một năm không có mặt ở trường và thời gian quay trở lại Viện Hoover là rất có ý nghĩa. Với cương vị chuyên gia của nhà nước về Liên bang Xô Viết và Đông Âu, cô đã dành cả kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy và chuyên gia của nhà nước đối với công tác nghiên cứu cơ bản ở Stanford, nơi cô đã mở rộng phạm vi nghiên cứu về chính sách đối ngoại.
 
John Raisian – Giám đốc Viện Hoover, đã ghi nhớ rằng các mối quan hệ của cô rất có ý nghĩa đối với kiến thức của cô. Ông nói: “Cô có tín nhiệm thậm chí thông qua kinh nghiệm của cô, điều còn hạn chế đối với người khác cùng lứa tuổi cô”. John diễn giải khả năng của cô biết giữ “năng lượng” cho hệ thống các mối quan hệ ở Washington, trong đó có quan hệ với một thành viên khác của Viện Hoover, đó là George Shultz, người đã từng là thành viên danh dự của trường từ năm 1989. Ông nhận xét: “George đã có ngôi sao về chất lượng có sức hấp dẫn. Ông ta rời chính quyền của Reagan năm 1989 và hơn 10 năm sau, ông tiếp tục rất nổi tiếng và rất gần gũi với các nhân vật đáng kính trên thế giới. Từ khi còn là một quan chức cấp thấp, Condi đã có sức quyến rũ như vậy. Khi cô xác lập mối quan hệ bạn bè và hợp tác khoảng 10 năm trước với các nhân vật nổi tiếng như Colin Powell, Dick Cheney và Paul Wolfowitz, cô vẫn có ấn tượng trong họ. Cô thường xuyên để lại dấu ấn trong các vấn đề quốc tế, thậm chí cả khi cô rời khỏi chính trường và đi về phía bờ Tây (làm việc ở Stanford)”.
 
John cũng nhơ các tác phẩm đã công bố của Condi và kiến thức của cô trong các tổ chức dịch vụ công khác nhau. “Cô còn có kinh nghiệm và tiềm năng trong tư vấn và đó là điều quan trọng đối với Hoover”. Cô nói rằng: “Cái mà chúng ta cố gắng làm là tích luỹ các ý tưởng để làm cho thế giới tốt hơn lên, an toàn hơn. Chúng ta bình luận các ý tưởng đang diễn ra trên thế giới về nền giáo dục và chính trị thế giới, về các yếu tố nằm sau các chính sách của Hoa Kỳ. Điều này là đúng ý định của cô và là cái cô muốn làm”. Trong một tờ tin của Viện Hoover, John bổ sung thêm: “Condi là một trong số các nhân vật nổi tiêng mà tôi đã gặp. Cô có nhiều kinh nghiệm phong phú và sự nhiệt tình của cô được đánh giá cao. Cô sẽ trở thành một phần không tách rời trong quan điểm về chính sách đối ngoại của Hoover”.
 
Hai tuần sau khi Condi bắt đầu vào nghiên cứu ở Viện Hoover, Condi đã được hai nhà từ thiện Thomas và Barbara Stephenson đề cử nhận học bổng mới. Họ lập nên quỹ này để trợ giúp chương trình của Hoover cho các cá nhân “có hoạt động tích cực như một trong các học bổng đặc biệt cho các lĩnh vực nghiên cứu có liên quan đến triển khai chính sách công”. Chúng tôi dành các cơ hội này để hỗ trợ cả cho tổ chức nhà trường và các cá nhân, những người có đóng góp tích cực và tin cậy cho một thế giới mới đầy biến động”.
 
Một năm sau khi trở thành hiệu trưởng trường Stanford, Condi đã được đưa vào danh sách 50 người phụ nữ trẻ đáng quan tâm do tạp chí Time bình chọn. Tạp chí này lựa chọn trong số các phụ nữ dưới 40 tuổi, những người đã “có tác động về mặt xã hội và dân sự” và những người mà họ đánh giá là “tạo nên sự khác biệt”. Bài báo đã tiên đoán rằng một trong số các phụ nữ được lựa chọn “đã giải quyết một vấn đề để có thể tháo gỡ các vấn đề khác, cho đến khi như vẫn thường xảy ra, một lãnh tụ mới sẽ giải quyết vấn đề ở tầm cỡ không chỉ trong phạm vi một khu vực mà ở tầm cỡ quốc gia, thậm chí là thế giới. Tổng hợp tất cả các yếu tố đó lại để chúng ta lựa chọn họ”.
 
Bài báo đã mô tả ngắn gọn tiểu sử của Condi. Michael Mandelbaum của trường Đại học Johns Hopkins tiên đoán: “Condi có khả năng ở tầm một chuyên gia trong Nhà Trắng. Cô có thể sẽ trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ”. Câu này được tiên đoán từ 5 năm trước khi Condi tham gia chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của George W.Bush, lúc đó đang làm chuyên gia tư vấn về chính sách đối ngoại, 6 năm trước khi cô được bổ nhiệm là Cố vấn An ninh quốc gia. Ở tuổi 40, cô đã sẵn sàng để trở thành một nhân vật lớn trên chính trường theo chuyên ngành của cô và với những ai quan tâm theo dõi bước tiến của cô, không nghi ngờ gì rằng có một ngày cô sẽ xuất hiện trên vũ đài chính trị của quốc gia. Cô sẽ không làm phụ lòng mọi người.
 
Khi người bạn lớn của cô, George W.Bush, bắt đầu phát động chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của mình, cô đã được mời tham gia công việc với ông. Trên cơ sở các kiến thức của mình, cô đã vượt qua các ứng cử viên khác để trở thành cố vấn riêng về chính sách đối ngoại cho Bush (con). Ngoài ra cô còn là trởng nhóm chuyên viết các bài phát biểu về chiến lược hạt nhân cho Bush, là nhân vật hạt nhân, trung tâm cho chiến dịch: “W is for Women” (chiến dịch W vì phụ nữ), W là viết tắt tên của Bush. Trải qua thời gian mọi việc rất tiến triển, uy tín của Bush (con) tăng lên không ngừng. Ông mời Condi ở lại trong cương vị Cố vấn An ninh quốc gia. Ông tạo mọi điều kiện để cô bước vào căn phòng ở cánh Tây của Nhà Trắng, ngay cả góc cạnh của Nhà Trắng và ngay phía dưới phòng bầu dục của Tổng thống.
Đăng nhập để trả lời
0
“Nếu có bài học nào đó của lịch sử, thì đó là một quyền lực nhỏ bé với mọi thứ luôn có thể bị mất thì thường là khó khuất phục hơn quyền lực lớn… Một bài học nữa là nếu đó là cái đáng đẻ chiến đấu thì anh phải biết chuẩn bị tốt hơn để chiến thắng”.
-                      Condoleezza Rice, 2000
 
 
Buổi sáng ngày 11-9-2001, Condi đến văn phòng của mình, như thường lệ, lúc 6h30 sáng. Hôm đó cô phải trải qua một ngày đặc biệt, rất dài, mà phải đến 9h tối cô vẫn chưa thể trở về nhà. Công việc của cô tràn ngập trong các tài liệu như lịch làm việc hàng ngày, tuy nhiên là cố vấn an ninh quốc gia, công việc không phải bao giờ cũng tuần tự theo một thông lệ. Khoảng 2 giờ sau khi cô đến văn phòng, một dự cảm không bình thường đến với cô với tiên đoán đây không phải là một ngày bình thường.[/align] 
Thư ký của cô xuất hiện ở cửa lúc 8h45 phút sáng để báo cáo rằng có một phi cơ đâm vào toà nhà Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York. Condi thoáng nghĩ liệu có phải là một tai nạn. Cô điện thoại cho Tổng thống Bush, lúc đó đang ở Florida tham gia một giờ học của trường trung học và thông báo cho ông biết thông tin này. “Tai nạn gì kỳ lạ vậy?”, Tổng thống hỏi lại. Chỉ một lúc sau đó khi Condi triệu tập một cuộc họp thì cô thư ký xuất hiện ở cửa, cầm theo một tờ giấy: chiếc phi cơ thứ 2 lại húc vào toà nhà khác của Trung tâm Thương mại. Ngay lập tức, trong đầu cô loé lên ý nghĩ, cô khẳng định đây đúng là một vụ tấn công khủng bố.
 
Ý nghĩ tiếp theo của cô là lập tức điện thoại triệu tập cuộc họp của các thành viên hàng đầu của Uỷ ban an ninh quốc gia. Cô bước xuống “Hầm chỉ huy” ở tầng dưới. Đây là sở tham mưu chi huy đặt ở tầng hầm của cánh phía Tây, với đầy đủ hệ thống tổng đài điện thoại. Bên cạnh Tổng thống, các thành viên chủ chốt theo truyền thống của Uỷ ban An ninh quốc gia là Phó Tổng thống (Dick Cheney), Ngoại trưởng (Colin Powell) và Bộ trưởng Quốc phòng (Đonal Rumsfeld). Một thành viên Chính phủ khác có mặt trong uỷ ban là Bộ trưởng công khố (Paul O’Neill) và một số tướng lĩnh hàng đầu trong giới quân sự và tình báo cũng như Tổng tham mưu trưởng (Henry Shelton) và Giám đốc Cục tình báo Trung ương CIA (George Tenet).
 
Tổng thống không phải chỉ có một lần vắng mặt trong các phiên họp khẩn cấp của Hội đồng. Lúc đó Donald Rumsfeld đang trong phòng của ông ở Lầu Năm góc. Ngay sau khi chiếc máy bay số hiệu AA77 đâm vào toà nhà của Lầu Năm góc, lúc 9h43 sáng, ông đã lao ra hành lang xông vào đống đổ nát để tìm cứu các nhân viên bị thương. Sau đó ông đã tham gia họp Uỷ ban thông qua điện thoại. Tướng Powell lúc đó đang ăn sáng với tổng thống mới được bầu ở Peru ở Lima, nhưng đến 10h45 phút sáng thì ông đã đang trên đường trở về Washington. Còn Tổng tham mưu trưởng Shelton thì đang trên một chuyến bay vượt Đại Tây Dương để đến châu Âu trong cmột chuyến bay công cán.
 
Hai phút sau khi chiếc phi cơ đâm vào Lầu Năm góc, tại Nhà Trắng đã ban bố lệnh sơ tán và Condi được hướng dẫn phải rời phòng họp và xuống hầm trú ẩn. Cheney đã ở dưới đó. Nhưng trước khi dời xuống hầm trú ẩn, Condi đã kịp điện thoại cho Tổng thống để cảnh báo Tổng thống không nên quay về Nhà Trắng. Cô cảnh báo rằng văn phòng của tổng thống và một số cơ sở làm việc ở đây có thể sẽ là mục tiêu tấn công tiếp theo ở Washington. Tổng thống đã nghe theo lời khuyên của cô và ông đã bay đến một địa điểm khác trong ngày. Đến tận 6h30 tối hôm đó ông mới trở về Nhà Trắng.
 
Việc đầu tiên mà Condi đã làm khi xuống đến hầm trú ẩn là điện thoại cho bà cô và ông chú của mình – bà Connie và Alto Ray đang ở Birmingham. Cô đề nghị họ thông báo cho mọi người là cô đang bình an. Cuộc điện thoại tiếp theo là cô gọi đến các vị đứng đầu các cơ quan ở nước ngoài của Hoa Kỳ để thông báo với họ rằng chính quyền nước Mỹ đang hoạt động và sẽ hoạt động bình thường. Vào cuối ngày cô sắp xếp một cuộc họp qua điện thoại của Uỷ ban An ninh quốc gia với tổng thống. Lúc 3h55 phút chiều, Dick Cheney và Condi nói chuyện qua điện thoại với tổng thống lúc đó đang ơ căn cứ không quân ở Nebraska.
 
Thứ sáu đó, còn đang trong tâm trạng bàng hoàng như nhiều công dân Hoa Kỳ khác, Condi ngồi trong đội xe của Tổng thống đến nhà thờ quốc gia để dự lễ tưởng niệm, một buổi lễ mà ở đó các đại biểu phát biểu với nhiều ý kiến xúc động. Tuần lễ đầu tiên đó, cảm giác trung thực của Condi đi theo cùng cô, giống như trong các trường hợp khác. Đầu năm 2002, Condi tiết lộ: “Từ khi tôi còn là một cô bé, tôi đã được giáo dục lòng trung thành, một lòng tin rằng tôi không bao giờ phải đối mặt với khó khăn một mình, rằng bản chất tận cùng của sự thật không bao giờ đi quá xa. Rằng đó bao giờ cũng là một phần của tôi và tôi đang cảm thấy điều đó vào lúc này”.
 
Không đầy một năm trước đó, Condi gặp một tin xấu, đó là cái chết của cha cô. John chịu một cơn đột quỵ (nhồi máu cơ tim) vào mùa xuân năm 2000 và sau đó ông đau ốm luôn. Ông vẫn kịp chứng kiến chiến dịch tranh cử của Bush và cuộc khủng hoảng sau bầu cử (do phải kiểm lại phiếu ở hai bàng, do kết quả chênh nhau rất sát sao), Condi đã thường xuyên túc trực bên giường bệnh của cha. Ông đã kịp sống cho đến khi được nghe tin về việc tổng thống vừa đắc cử đã bổ nhiệm “Ngôi sao bé nhỏ” của ông trở thành Cố vấn An ninh quốc gia của tổng thống. Sáu ngày sau đó, vào lễ Nôen của năm 2000, ông đã qua đời. Lúc đó ông ở tuổi 77.
 
Sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11-9, Condi trở nên nổi tiếng do xuất hiện thường xuyên hơn trên các kênh truyền hình quốc gia. Cô xuất hiện và phát biểu nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng về đề tài chiến tranh chống khủng bố. Phong cách này không theo cách mà cô đã học được từ Chief của mình – Brent Scowcroft. Ở Uỷ ban An ninh quốc gia của Tổng thống Bush, ngài Brent không bao giờ phát biểu với báo giới và cố gắng giữ một khoảng cách với các thành phần ở ngoài Nhà Trắng. Ông dành chủ yếu trọng tâm vào công việc điều phối chính sách đối ngoại cho Tổng thống và không dính dáng đến quan hệ báo chí. Một vài tháng sau khi Condi được bổ nhiệm, Brent nói rằng: “Nếu cô làm tốt công việc của mình thì Tổng thống sẽ chú ý đến hơn”. Trên thực tế, Condi bây giờ làm việc theo quan điểm gần với các cố vấn An ninh nổi tiếng như Henry Kissinger (thời Tổng thống Nixon) và Samuel Berger (thời Tổng thống Bill Clinton) - những người thiên về khuynh hướng là nhà hoạch định chính sách hơn là người điều phối và quản lý, và do vậy giành được uy tín cao hơn so với những người tiền nhiệm của họ.
 
Vào mấy ngày đầu sau sự kiện 11-9, Condi thường xuyên điện thoại cho Ngoại trưởng Colin Powell và Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld vào 7h15 phút mỗi sáng. Họ thảo luận các thông tin mới nhất và các ý tưởng giải pháp để sau đó Condi sẽ hoàn chỉnh và báo cáo với tổng thống. Vai trò của người trợ giúp cho tổng thống về công tác an ninh quốc gia, mà người ta hay gọi là cố vấn an ninh quốc gia bao gồm cả các thông tin về chính sách đối ngoại và đưa ra các quan điểm tổng quát, quan trọng cho tổng thống. Vai trò cố vấn an ninh quốc gia có vẻ là vai quản lý hơn là nhà lập chính sách, mặc dù các vị cố vấn trước đó đều có vai trò hoạch định chính sách rất mạnh mẽ. Về mặt kỹ thuật, chức vụ cố vấn an nih quốc gia làm một chức vụ quản lý bên trong, người giữ quan hệ với các thành phần ở bên ngoài Nhà Trắng. Nhưng mỗi một tổng thống có cách riêng của mình trong việc sử dụng các cố vấn an ninh quốc gia và có các quy định riêng về công việc của họ. Không giống như đa số các vị cố vấn trước, Condi đã trở thành ngôi sao trong lĩnh vực báo chí, truyền hình, đặc biệt là sau sự kiện 11-9 khi cô bắt đầu thường xuyên phải chủ trì các cuộc họp báo liên quan đến chiến tranh chống khủng bố”.
 
Condi nhớ lại: “Tôi rất cố gắng để nhớ lại rằng tôi đã giữ quan điểm rất nguyên tắc là phải cung cấp cho tổng thống toàn bộ sự thật, như vậy để tôi tin rằng tổng thống biết tất cả các sự kiện đang diễn ra. Tôi cố gắng để làm mọi việc thật rõ ràng với tổng thống khi cô trinh bày các quan điểm riêng của mình và phải đưa ra chỉ một cách nhìn của mình trong số các quan điểm khác. Tôi có trách nhiệm làm rõ rằng, tôi đã kiểm chứng mọi thông tin trước khi tôi báo cáo lại với tổng thống, và cố gắng để không phải ngồi quá dài để giải thích với ông”.
 
Các quan điểm về chính sách đối ngoại mà Condi chia sẻ với tổng thống là sản phẩm của quan điểm chính trị cứng rắn, thực tế của cô. Trong đó bao gồm cả quan điểm về việc giảm bớt các cuộc hành quân quân sự khi có khủng hoảng ở một số nước. Cách tiếp cận không can thiệp là cách cổ điển của các “chính khách sức mạnh” và quan điểm cho rằng quân sự chỉ là công cụ khi có các xung đột lớn. Quan điểm này được tuyên bố rõ ràng ở một trong các bài phát biểu của Condi ở tuần cuối của chiến dịch. Tháng 10-2000, cô tuyên bố nếu được bầu Bush sẽ rút quân Mỹ ra khỏi Balkans và rời khỏi khu vực châu Âu với vai trò lực lượng gìn giữ hoà bình. Cô giải thích rằng Hoa Kỳ rời khỏi các khu vực đó là để can dự vào các khu vực khác của thế giới như châu Á và vùng Vịnh Ba Tư (Persian). Bài nói của cô tạo nên một phản ứng ở châu Âu. Sau đó, George W.Bush đã thừa nhận rằng: “Chúng tôi đã rút khỏi dấu chân sai lầm ở châu Âu”.
 
Trong thời gian của chiến dịch, Condi cũng đưa ra cách tiếp cận của cô trong chính sách đối ngoại – Cái mà cô đã chia sẻ với Bush con – trong một bài viết dài cho tạp chí Foreign Affairs. Trong đó bao gồm cả tuyên bố rõ ràng về cách thức sử dụng lực lượng quân sự. “Sử dụng lực lượng phản ứng nhanh của Mỹ như lực lượng ‘911’ của thế giới (vai trò sen đầm), (vì số 911 ở Mỹ là số điện thoại ứng cứu nhanh) sẽ tạo nên sự suy giảm khả năng, vai trò của lính Mỹ trong vai trò gìn giữ hoà bình và tạo nên năng lượng cho các lực lượng káhc mà Hoa Kỳ phải quyết định để răn đe về ‘giới hạn lãnh thổ, chủ quyền’ ở tầm quốc tế với danh nghĩa bảo vệ quyền con người… Tổng thống phải nhớ rằng lực lượng quân sự là một công cụ đặc biệt, đó là công cụ bạo lực và nó buộc phải được sử dụng với mục đích đúng ý nghĩa của nó. Đó không phải là lực lượng cảnh sát dân sự, đó không phải là ‘sen đầm’ chính trị và về cơ bản nó không phải là lực lượng dùng để kiến tạo nên một xã hội công dân. Lực lượng quân sự tốt nhất là phải được sử dụng cho các mục đích chính trị rõ ràng”.
 
Quan điểm này phải được làm rõ trong các tháng đầu của nhiệm kỳ của Tổng thống Bush, đa số đã được vận dụng trong cách tiếp cận các vấn đề ở Trung Đông.
 
Condi là một người điềm đạm và biết chịu đựng trước sức ép, đây là yếu tố rất quan trọng khi Tổng thống quyết định lựa chọn cô làm phát ngôn viên của Nhà Trắng sau sự kiện 11-9. Cô không bao giờ xuất hiện vội vã, có khả năng suy nghĩ nhanh và giải thích các vấn đề phức tạp một cách rõ ràng và đơn giản. Nét tính cách này giải thích vì sao cô được lựa chọn trong số rất nhiều đồng nghiệp giỏi và chính tổng thống yêu cầu cô tư vấn cho mình về chính sách đối ngoại trong suốt thời kỳ chiến dịch. Người bạn cũ của cô ở Stanford – Coit Blacker gọi cô là “bộ óc sáng suốt” và Giám đốc Viện Hoover của cô – John Raisian, nhận xét cô có “khả năng rất hiếm gặp” khi diễn giải các ý nghĩ của mình. Ông nhớ lại: “Khi chúng tôi chứng kiến, lắng nghe cô nói, cô không mất nhiều thời gian cho các câu không có ý nghĩa. Cô mô tả rõ ràng các ý nghĩ cần diễn đạt trong đầu mà không cần phải ghi chúng ra giấy”. Khi Condi dường như đồng ý rằng khả năng này là không hiếm gặp trong số các giáo sư, những người dành nhiều thời gian để giảng dạy và trình bày các vấn đề trước lớp học thì cô đã phát triển khả năng này ở cấp độ cao hơn.
 
Tham gia chương trình Sáng chủ nhật ở Washington (Sunday Morning Washington Talk Show) và trình bày các vấn đề chính sách đối ngoại có lẽ là một công việc đơn giản đối với Condi. Vào thời điểm này của lịch sử, công việc của cô đòi hỏi phân tích các khía cạnh, quan điểm khác nhau của Hội đồng An ninh quốc gia về chiến tranh chống khủng bố, chiến tranh ở Trung Đông, nguy cơ chiến tranh ở Ấn Độ, quan hệ với Bắc Triều Tiên và Trung Quốc và rất nhiều vấn đề thời sự khác vào thời điểm hai tháng sau sự kiện 11-9. Samuel Berger nhớ lại: “Trên bậc thang thứ 10 thì độ khó lúc này phải là 15, tôi rất có kỳ vọng vào cô và vào những gì hiện này cô đang làm”.
 
Hội đồng An ninh quốc gia được lập ra từ thời Tổng thống Truman khi một loạt các chính sách phức tạp thời kỳ hậu chiến của Mỹ đòi hỏi phải phối hợp tốt hơn giữa cơ quan đối ngoại của tổng thống và các cơ quan quân sự. Truman phải đối mặt với một loạt các chính sách cần đưa ra vào thời kỳ đầu cùa nhiệm kỳ. Ông hiểu rằng Hoa Kỳ vừa sản xuất vũ khí hạt nhân khi ông nắm chính quyền và đối mặt với vấn đề sử dụng nó ở đâu trên đất Nhật, lúc đó Liên Xô đang thành lập một nhà nước quân sự ở các quốc gia Đông Âu, còn ở các nước Tây Âu thì đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế và phục hồi sau chiến tranh. Tất cả những yếu tố này và còn nhiều việc khác trong một thế giới đang chuyển đổi rất nhanh sau chiến tranh đòi hỏi Truman phải phê duyệt điều luật về Hội đồng An ninh quốc gia (National Security Act) vào năm 1947. Trong đó quy định rõ nhiệm vụ của Hội đồng mới, với sự tham gia của: “Các vị tổng tham mưu trưởng và tư lệnh” mà sau này gọi là Hội đồng An ninh quốc gia (National Security Council).
 
Truman quy định vai trò của Hội đồng như là nhà tư vấn, ông tuyên bố rằng: Ông có toàn quyền chấp nhận, từ chối hay bổ sung các ý kiến tư vấn của Hội đồng và có thể tham khảo thêm với các thành viên khác trong bộ máy của mình. Tổng thống lẽ ra phải có một câu cuối cùng như uỷ quyền cho Hội đồng: “Xác định các chính sách và triển khai thực hiện chúng”.
 
Văn bản đầu tiên của Hội đồng được đệ trình lên Tổng thống với ý kiến liên quan đến một văn kiện quy định trình tự lập chính sách cho tổng thống. Một trong số văn kiện đầu tiên đó là văn kiện xác định nguyên tắc và nội dung cho kế hoạch Marshall, một khoản trợ giúp tài chính khổng lồ cả gói mà Mỹ dành cho châu Âu. Ngoài việc đề ra các văn kiện chính sách thì các công việc khác của Hội đồng là công việc quản lý mà người ta thường gọi là thư ký thường trực. Thư ký thường trực Hội đồng của Truman  lúc đó là Đô đốc Sidney William Souers, một cộng sự gần gũi đã giúp tổng thống tổ chức hệ thống tình báo sau chiến tranh. Đô đốc Souers có kinh nghiệm trên cả hai lĩnh vực quân sự và kinh doanh, và ông đã từng phục vụ một thời gian với cương vị Giám đốc điều hành của CIA. Giống như nhiều cố vấn an ninh quốc gia khác sau này, Souers là người tin cậy của tổng thống. Trong cuốn Lịch sử của Hội đồng An ninh quốc gia, John Prados viết: “Như một nhân vật gần gũi của tổng thống, Đô đốc Souers rất dễ tiếp cận với Harry Truman”.
 
George W.Bush quan niệm thế nào về cố vấn an ninh quốc gia khi ông ta bắt đầu lựa chọn đội ngũ tin cậy của mình? Phẩm chất đầu tiên của vị trí này được xác định rất rõ lúc đầu, đó là công việc của một người đàn ông. Khi Đô đốc Souers xin Truman để ông dời Nhà Trắng trở về với công việc kinh doanh của mình, Truman đã hỏi ông ta xem có thể tìm ai để thay thế. Trong cuốn lịch sử của mình, Prados đã nhắc lại các ý kiến của Souers trả lời cho Tổng thống Truman và bình luận các tiêu chuẩn của cố vấn an ninh quốc gia được lưu truyền đến nay:
 
·         Ông ta phải là một nhân vật không phải là thân cận về chính trị của Tổng thống.
·         Ông ta phải khách quan và tự nguyện trình bày các ý kiến riêng của mình về chính sách với mục tiêu phối hợp các quan điểm của các quan chức có trách nhiệm.
·         Ông ta phải tự nguyện từ bỏ các ý định khuyếch trương cá nhân trong cộng đồng.
 
Prados đã viết điều này hàng chục năm nay từ khi Hội đồng được ra đời. Các quan chức của nó đựoc mô tả trong cuốn sách là: “Quyền lực được trao cho các quan chức của văn phòng Tổng thống, các nhà ngoại giao, các tướng lĩnh”. Người điều hành bộ máy quyền lực này và như một cố vấn thân cận của tổng thống, cố vấn an ninh quốc gia trở thành một nhân vật trung tâm trong Nhà Trắng.
 
Vị cố vấn an ninh quốc gia thứ 20 – Condi là người phụ nữ đầu tiên được ngồi vào vị trí này (lại là người da đen). Cô là người da đen thứ hai, sau tướng Colin Powell được bổ nhiệm vào chức cố vấn an ninh quốc gia thời Tổng thống Reagan.
 
Việc bổ nhiệm Condi tạo cho cô trở thành người phụ nữ nổi tiếng trong chính sách quốc tế. Một bước tiến này tuy chắc chắn nhưng rõ ràng nâng cao vị thế của phụ nữ trên chính trường. Madeleine Albright được bổ nhiệm là Ngoại trưởng thời Tổng thống Clinton nhiệm kỳ hai, đã mở ra cánh cửa cho nhiều phụ nữ tham gia vào tầng quyết sách của chính sách đối ngoại. Trải qua công việc của mình, Madeleine đã minh chứng cho sự tiến bộ của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị và bà coi việc bổ nhiệm bà như một chiến thắng của phụ nữ.
 
Trong thời gian chiến dịch vận động tranh cử của George W.Bush, một trong các đồng nghiệp của Condi ở Stanford đã nói về việc bổ nhiệm cô. “Phải nói thẳng là chức vụ hàng đầu trong chính sách đối ngoại được dành cho đàn ông da trắng, thông minh”, Michael McFaul đã nói như vậy, “và Condi rõ ràng là không giống như họ mô tả”. Theo một số nghiên cứu gần đây của Nhóm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong chính sách đối ngoại, đàn ông vẫn được đề cử là đa số, nhưng một số lượng lớn phụ nữ được đề cử gần đây cho thấy vai trò phụ nữ đã tăng trong lĩnh vực chính trị. Theo nghiên cứu này, “Việc hình thành chính sách quốc tế đa số do nam giới thực hiện, điều này là công khai. Theo các số liệu được ghi nhận, phụ nữ ở Hoa Kỳ đã bước vào lĩnh vực đối ngoại với vai trò lãnh đạo và phá vỡ truyền thống hàng thế kỷ trước… Người ta đã nhìn thấy gương mặt họ và nghe thấy giọng nói của họ ở hành lang và trong các phòng họp của các cơ quan quyền lực cấp cao nhiều hơn bất kỳ thời nào trước đây”.
 
Kết luận của nghiên cứu này tuyên bố rằng thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh tạo ra nhiều thời cơ cho phụ nữ trong lĩnh vực ngoại giao và quốc phòng, trong các lĩnh vực về quyền con người, luật pháp, thương mại, môi trường và truyền thông. Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của Madeleine Albright trong xu hướng này. “Sự bổ nhiệm Madeleine với cương vị Ngoại trưởng thứ 64 của Hoa Kỳ là biểu tượng đáng nhớ thay đổi quan niệm về nghề nghiệp của phụ nữ… Vào năm 1970, phụ nữ chỉ chiếm 4,8% trong giới quan chức ngoại giao Mỹ… Năm 1997, phụ nữ chiếm 18% trong số người làm công tác đối ngoại, 24% trong các giám đốc điều hành, 22% trong số đại sứ… 40% của các công sứ, bí thư ngoại giao… 28% của các trợ lý… và 31 % của các phó trợ lý”.
 
Với khoảng 600 phụ nữ được nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chỉ ra các phẩm chất, tính cách phụ nữ thành đạt trong lĩnh vực đối ngoại. Kết luận này được minh chứng trong kinh nghiệm riêng của Condi và được cô kể lại như sau:
 
Có lòng tự tin, đồng hành với sự tinh tế riêng của mình được phụ nữ mô tả là các phẩm chất quan trọng cho thành công. Có tới 95% những người thành công ghi nhận là các nữ đồng nghiệp phải làm việc chăm chỉ hơn các đồng nghiệp nam để có thể được bổ nhiệm vào cùng một cương vị, có được tín nhiệm và tiền lương ngang nhau. 80% phụ nữ đồng ý có được kinh nghiệm trong công tác đối ngoại là yếu tố quan trọng đối với thành công của một nghề, 74% số phụ nữ đồng ý rằng “phát triển một phong thái mà đồng nghiệp nam thấy là phù hợp” là phẩm chất rất quan trọng.
 
Mặc dù Condi và Madeleine Albright có nghề nghiệp khác nhau trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên cuộc đời của họ có nhiều điểm giống nhau, đó là cả hai đều ngưỡng mộ và kính trọng cha của họ. Madeleine lựa chọn lĩnh vực quan hệ quốc tế là theo định hướng của cha bà – Ngài Josef Korbel. Madeleine tâm sự: “Tôi cố gắng làm theo gương của ông, điều tốt đẹp mà tôi làm, tôi đã làm vì tôi muốn được giống như cha mình". Condi cũng đi theo từng bước cha của mình, giống như cha, sự nghiệp của cô trong lĩnh vực giáo dục đạt thành công trong cả công tác giảng dạy và công tác quản lý. Cô đồng thời đi theo tuyên bố của John Rice về ưu tiên thời tuổi trẻ, cũng như cố gắng đồng sáng lập của cô cho trung tâm vì thế hệ trẻ ở California. Cũng như cha của mình, cô coi lòng chân thành là quan trọng trong cuộc sống.
 
Một điểm tương đồng nữa của Condi và Madeleine thời tuổi trẻ là sự quan tâm, định hướng của cha mẹ cho mục tiêu giáo dục. Madeleine mô tả cha mẹ bà như những người bảo vệ và cha của bà đã làm mọi việc để nâng cao học vấn của bà. Dobbs viết: “Ông quan tâm đến bài tiểu luận…, lựa chọn cho bà vào trường có chất lượng tốt nhất, tạo tương lai cho bà”. Cha mẹ của Condi đã tìm mọi cách giải quyết vấn đề khi con gái phải học trường chỉ dành cho người da đen và tạo điều kiện nâng cao học vấn của cô, tạo cho cô rất  nhiều lời khuyên, hướng dẫn ngay từ trước khi cô đến trường.
 
Một lĩnh vực khác có thể so sánh là những gì mà Condi và Madeleine phải đối mặt từ bên ngoài từ những năm tuổi trẻ. Madeleine đến Hoa Kỳ ở tuổi 11, một người Tiệp nói giọng tiếng Anh với giọng Anh và “sử dụng rất nhiều thời gian vô vị, cố gắng để tin là tôi có thể trải qua nó”. Tình trạng của Condi còn tồi tệ hơn, khi một thiếu nữ da đen lớn lên ở một thành phố có nhiều tệ phân biệt chủng tộc. Nhưng cô đã được giáo dục rất cẩn thận để tin rằng cô không chỉ cố vượt qua điều đó mà còn phải thành công hơn trong việc mở rộng kiến thức về văn hoá.
 
Như mọi nữ sinh khác, Condi và Madeleine, cả hai đều quan tâm đến những gì diễn ra ở Trung Âu và Liên Xô, mặc dù cả hai là các nhân vật lớn trong lĩnh vực đối ngoại, họ có khác biệt trên sân khấu chính trị. Madeleine biết về Condi từ nhiều năm trước, khi cha cô còn giảng dạy ở trường Đại học Denver. Năm 1988 bà đã điện thoại cho Condi để đề nghị nếu có thể, cô giúp cho ứng cử viên Đảng Dân chủ Michael Dukakis trong chiến dịch tranh cử. Sau một thời gian ngắn im lặng trên điện thoại. Condi trả lời: “Madeleine, tôi không biết phải nói với chị thế nào về việc này, nhưng tôi là một người theo Đảng Cộng hoà”.
 
Condi nói rằng, thay vì các khác biệt cô và Madeleine chia sẻ rất nhiều điểm giống nhau quan trọng. Cô nói: “Tôi biết và rất thích Madeleine, bạn có thể cùng có một người cha thông minh và một nguồn thu khác nhau… về việc phải sử dụng quyền lực như thế nào, có lẽ chúng tôi không giống nhau… nhưng có lẽ có một vài khía cạnh về giá trị quyền lực thì chúng tôi giống nhau”.
 
Một ngôi sao trong lĩnh vực đối ngoại khác là Jeane Korkpatrick - người nẽ đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ ở Liên hợp quốc do Tổng thống Reagan bổ nhiệm. Là một nhà kho học trong lĩnh vực chính trị, Korkpatrick đã trải qua kinh nghiệm trên cả hai lĩnh vực: giáo dục và công việc nhà nước. Korkpatrick đã nhiều năm làm việc trong lĩnh vực quốc phòng và giống như Condi, bà từng là cố vấn về chính sách đối ngoại cho ứng viên Tổng thống Reagan. Một phụ nữ khác trong lĩnh vực này là Swanee Hunt, từng có 4 năm làm Đại sứ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Clinton. Bà trở nên nổi tiếng với công việc gìn giữ hoà bình tại Bosnia trong thời gian chiến tranh ở đây, đồng thời bà còn là giảng viên tại trường John F.Kennedy của Đại học Harvard về môn nhà nước.
 
Khi tới Washington để bắt đầu công việc ở Hội đồng An ninh quốc gia, Condi đã mua một căn hộ ở gần Watergate, một khu căn hộ sang trọng, cạnh sông Potomac, nơi có trụ sở Toà án tối cao và các công trình quan trọng khác của Washington. Chiếc đàn piano lớn mà cha mẹ mua cho cô lúc 13 tuổi cũng được dọn đến cùng cô, cùng máy tập thể dục và mớ dầu Ferragamo của cô. Dĩ nhiên cô không có nhiều thời gian để tập luyện như dạo ở Stanford, tuy nhiên khi có điều kiện cô lại chơi một vài bản nhạc. Tháng 4-2002, cô đã bất ngờ khi nhận được điện thoại mời tham gia một buổi lễ, mà trong đó có nhiều người được giải thưởng quốc gia về nghệ thuật.
 
Tay chơi đàn Cello – Yo-Yo Ma, một trong số các thành viên của ban nhạc, đã yêu cầu Condi hoà tấu cùng anh trong một khúc nhạc của buổi lễ. Là một trong những nhạc công dòng cổ điển nổi tiếng của thế giới, Yo-Yo Ma rất thích được biểu diễn cùng các nghệ sĩ nghiệp dư, hỗ trợ họ xuất hiện tại các sân khấu lớn mà anh cho là phù hợp với họ. Anh nghe nói vị Cố vấn An ninh quốc gia là một tay chơi piano và anh đã yêu cầu cô nếu có thời gian hãy tham gia một vài tiết mục trong lễ ở cung Hiến pháp vào ngày 14-4. Cô đã thu xếp được với anh vào buổi trưa của buổi biểu diễn. Anh chọn một khúc của Brahms, bản mà Condi ưa thích - một đoạn Adagio hành khúc từ bản Sônat số 3 trên giọng Rê thứ dành cho đàn violin và cello.
 
Khi Tổng thống Bush giới thiệu Yo-Yo với đồng nghiệp của ông tối hôm đó, ông mô tả anh ta “như một tay chơi cello sáng tạo, người giới thiệu một loại nhạc cổ điển hay nhất”. Ông nhận xét về sự xuất hiện của vị cố vấn An ninh của ông trong buổi hoà nhạc: “Sau này bên cạnh nghệ sĩ lớn của Hoa Kỳ sẽ là sự biểu diễn của một nghệ sĩ tầm cỡ thế giới khác”. Một lúc sau, đệ nhất phu nhân Laura Bush đã giới thiệu cặp nghệ sĩ này. Bà giới thiệu bằng phong cách Tây Texas khi bà giới thiệu với cử toạ rằng Condoleezza Rice sẽ biểu diễn theo phong cách “pi-AN-ah” và với một chút hài hước được đệ nhất phu nhân đưa ra lời cảm ơn các nghệ sĩ theo phong cách quê hương của bà “down-home and unabashed”. Laura rất thích nhạc cổ điển và Condi biết ơn bà vì như vậy cô có thêm một fan của âm nhạc trong Nhà Trắng.
 
Niềm khát vọng, sự trang nghiêm hoà quyện với nhau rất đẹp và chúng đạt đến đoạn cao trào trong tiếng hoan hô của khán thính giả. “Tôi rất vui mừng được nói rằng cô ta quả thật là tuyệt vời”, phóng viên Greg Sandow đã viết như vậy trên tạp chí The Wall Street Journal một vài ngày sau đó: “Cô Rice… là tất cả âm nhạc”. Ông viết tiếp:
 
Kỹ năng của cô quả là ấn tượng, tiết tấu của cô rất rõ ràng, ca từ quả là đầy ý nghĩa, hoặc ít nhất đó là khi cô hoà tấu cùng Mr.Ma. Khi cô chuyển tiếp trong một gam nhạc, cô không tập trung như một nghệ sĩ chuyên nghiệp phải làm và dường như đó là sự kín đáo lạnh lùng hay e thẹn. Nhưng cô đã làm tim tôi ngừng đập. Sau tất cả, tôi nghĩ, trông cô giốn như đang trải qua thời khắc cao trào trong cuộc đời của cô và ai có thể trách cô được? Cô tự mình rung cảm nghệ thuật với niềm kiêu hãnh về Tổ quốc.
 
Yo-Yo Ma biết cách làm thế nào để cảm ơn nghệ sĩ không chuyên khi biểu diễn trước các đồng nghiệp và chứng minh cho họ thấy âm nhạc mà họ thưởng thức còn cao hơn cả một sở thích thông thường. Condi nói lên điều đó trong một buổi phỏng vấn của phóng viên ở Stanford, khi ghi lại một băng nhạc cho các nhạc công trong khi họ đang chờ Condi trong chiếc Mercedes của cô. Người dẫn chương trình bật lên đoạn băng của cô về khúc Scherzo theo tiết tấu bản nhạc của Brahms mà cô đã chuẩn bị rất kỹ với nhóm tứ tấu Muir. “Tôi nghĩ chắc bạn thích nghe tôi biểu diễn”, cô nói vậy với Ann Reilly Dowd của tạp chí George.
 
Trước sự kiện 11-9, Hội đồng An ninh quốc gia gặp nhau hai lần một tháng. Nhưng sau vụ tấn công, họ phải gặp nhau ba lần trong một tháng. Chiến dịch săn lùng Osama bin Laden, các vụ đánh bom tấn công ở Afghanistan, vụ khủng bố bom bẩn, các vấn đề an ninh sân bay và sự đe doạ các vụ khủng bố mới buộc Condi phải cố gắng cao nhất. Trước khi vụ khủng bố xảy ra, Condi từng nói về công việc của cô “giúp làm rõ là chính phủ luôn nói cùng một giọng” cô nhắc lại rằng sau 11-9, “tôi kiểm tra để có thể đạt được một sự nhất trí. Tôi không thấy có lý do gì để tiếp tục đưa ra các ý kiến khác nhau cho tổng thống nếu điều đó là không cần thiết”. Điều đó đôi khi là cần thiết để trình bày một loạt các ý kiến khác nhau, nhưng mục tiêu của bộ máy là tập trung cao độ, đạt được sự đồng thuận, nhất là vào thời điểm sau sự kiện khủng bố. Condi nói rằng mục tiêu của chính quyền là “làm cho thế giới dù chưa thật an toàn… nhưng tốt đẹp hơn”.
 
Vị cố vấn đầu tiên của Tổng thống về chính sách đối ngoại là Phó Tổng thống Dick Cheney, tiếp đó là Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và Ngoại trưởng Colin Powell. Như vai trò trọng tài giữa ba nhân vật lớn đó, cũng như giữa các thành viên khác của Hội đồng An ninh quốc gia – Condi tự ví mình như một tấm bánh Sandwish kẹp giữa các quan điểm rất khác nhau của các vị lão thành ở Washington. Một phía là Cheney, Rumsfeld và phó của ông là Paul Wolfowitz, là phải cứng rắng, phái “diều hâu”, những người ưu tiên dùng bạo lực và can thiệp. Cheney và Rumsfeld đã liên kết với nhau từ thời chính quyền Ford, mà lúc đó Rumsfeld là Bộ trưởng Quốc phòng, còn Cheney là nhân vật kề cận, Chánh văn phòng Nhà Trắng. Rumsfeld được mô tả như “một nhà quản lý quan liêu không ai bằng” và từng nổi tiếng vì kế hoạch SALT II của Kissinger trong 4 năm. Trong hồi ký của mình, Kissinger mô tả ông ta như “một thế lực đặc biệt của Washington: một chuyên gia chuyên nghiệp của trường phái quan liêu chính trị mà theo họ thì xu thế, khả năng và yêu cầu thực tế là yếu tố không quan trọng”.
 
Ở một phía khác là tướng Powell, một người theo chủ nghĩa trung dung, người thường chống lại việc can thiệp quân sự và giống như Condi, không tin rằng vai trò của một dân tộc lại được thể hiện như một sen đầm quốc tế. Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Bush cha, Cheney và sau đó là Bộ trưởng Quốc phòng đã đứng về phía đối lập với Powell, Tổng tham mưu trưởng liên quân. “Bây giờ, sự trớ trêu lại nổi lên ở chính nơi mà 10 năm trước đã thoát ra”, Lawrence Kaplan của tạp chí New Republic đã viết như vậy sau khi George Bush trúng cử. Tổng thống lại tự mâu thuẫn với một triết lý của mình khi ông bổ nhiệm các thành viên nội các mới. Các nhân vật có chính kiến trái ngược nhau của các cá nhân và hệ tư tưởng diễn ra trên cả lãnh thổ và họ đều là các nhân vật (và họ rất coi trọng điều đó). Kết quả là tổng thống có thể đi đến kết luận cuối cùng trên cơ sở các ý kiến khác nhau được đưa ra “chúng có thể dẫn đến sự không nhất trí”, Tổng thống mới đắc cử nói: “Tôi hy vọng đây là sự không nhất trí”.
 
Mặc dù quan điểm của Condi gần với quan điểm của Powell hơn là Cheney và Rumsfeld, thì điều đó không có nghĩa về việc bảo đảm một liên minh rõ ràng nào. “Theo nhiều cố vấn của Bush, Powell là người đòi hỏi cao và rõ ràng là trách nhiệm cảu Rice không phải áp đặt khả năng của mình để hướng dẫn chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Hơn nữa như các thành viên trong Bộ tham mưu của Bush ghi nhận Rice hàng ngày đều xử lý các văn kiện khác nhau và bảo đảm cho con tàu chạy một cách đúng giờ”. Cựu ngoại trưởng George Shultz, một trong số các nhân vật bảo thủ, người đã tiến cử Condi và làm việc cùng từ thời ở Viện Hoover, đã nhìn thấy Rice và Powell như hai nhân vật lớn có thể cùng làm việc với nhau. Ông nói: “Họ có chung một phong thái, cùng làm việc rất thú vị, rất dễ dàng và rất nhiều phẩm chất giống nhau, nhưng họ, cả hai là những người có tính cách mạnh. Không ai là người dễ bị thuyết phục”.
 
Sau 18 tháng làm việc, Condi đã kiểm soát tốt hơn “giữ cho đoàn tàu đi đúng giờ”. Cô đã điều hành công việc một cách chặt chẽ, giữ cho các cá nhân biết kiềm chế và công việc của bộ máy vượt qua hết đợt khủng hoảng này đến khủng hoảng khác. Đó chính là công việc của cô và dĩ nhiên cô đã biết khắc phục cái mà cô vẫn thiếu kinh nghiệm so với Cheney, Rumsfeld và Powell bằng cách tạo một liên minh quyền lực của riêng cô, mối quan hệ của cô với Tổng thống. Tạp chí Business Week nhận xét: “Cô không chỉ có được nhiều thời gian với Tổng thống như trong điện Pantheon của các cố vấn đối ngoại, mà mức độ hài lòng của Tổng thống là cao nhất khi làm việc với cô”.
 
Sau sự kiện phi cơ tiêm kích Trung Quốc tấn công máy bay gián điệp Mỹ vào đầu tháng 4-2001, cuộc khủng hoảng đầu tiên của chính quyền mới, Condi nắm vai trò cố vấn An ninh quốc gia trong điều phối các thông tin để đệ trình tổng thống. Bộ Ngoại giao nhận được nhiệm vụ trước hết đàm phán với phía Trung Quốc để đưa tổ bay trở về. Trong giai đoạn này, cô còn tham gia một hoạt động khác có tính định hướng chính trị hơn, đó là cuộc gặp Ngoại trưởng Ấn Độ Jaswant Singh. Và 4 tháng sau đó, vai trò người điều hành chính sách đối ngoại cũng như người quản lý của Condi đã được khẳng định khi cô bay tới Matxcơva để gặp Tổng thống Nga – Vladimir Putin.
 
Chuyến đi của Condi là chuẩn bị cho chuyến thăm châu Âu của Tổng thống Bush để đạt được thoả ước về hệ thống phòng thủ tên lửa. Một trong các ưu tiên hàng đầu của tổng thống là một hệ thống phòng thủ tên lửa trong chương trình “chiến tranh các vì sao” truyền thống, một kế hoạch mà Nga phản đối quyết liệt. Bush đã chọn Condi để chuẩn bị cho chuyến công du của mình vì cô có rất nhiều kinh nghiệm trong vấn đề vũ khí cũng như về nước Nga. Cô chính là nhân vật đầu tiên cao cấp nhất trong chính sách đối ngoại của chính quyền mới thăm Matxcơva, một sự kiện có ý nghĩa trong lịch sử của các cố vấn An ninh quốc gia. Một quan chức Viện Brookings - Ivo Daalder, tác giả một loạt sách về chính sách đối ngoại nói: “Sứ mệnh của cô ở Matxcơva là không lường trước được”. Ông nói tiếp: “Từ thời Kissinger chưa từng có cố vấn An ninh quốc gia nào tạo được một ‘phong cách ngoại giao con thoi’ với Matxcơva như vậy”.
 
Condi hiểu rằng nhiều thông điệp của cô có thể sẽ không được phổ biến trong các quan chức Nga, đặc biệt là kế hoạch rút khỏi Hiệp ước chống tên lửa chiến lược từ năm 1972, cái mà Bush và Rice dự định là một thời điểm kết thúc các tàn dư Chiến tranh lạnh. Condi nói trong một buổi họp báo trước khi lên đường đi Matxcơva: “Chúng tôi thường xuyên nói rằng chúng tôi tin tưởng rằng Hiệp ước ABM không chỉ có vấn đề về khả năng hạn chế của nó trong kiểm chứng và đánh giá sức mạnh của các hệ thống, mà còn vì nó là một hiệp ước sai trái trong một lĩnh vực sai trái”. “Cần phải kiên quyết và cứng rắn trong các mối quan hệ, nhưng chúng tôi sẽ đối thoại với Nga như một hình thức để giải quyết vấn đề. Tôi nghĩ rằng đó là một phần quan trọng trong công việc tư vấn khiến tôi phải đi đến đó”.
 
Mục tiêu đầu tiên của chuyến đi là làm rõ các đề mục lớn mà Bush và Putin sẽ đam phán và đưa ra một chương trình nghị sự. Cuộc gặp của Condi với Putin, Bộ trưởng QUốc phòng Sergie Ivanov và các quan chức khác đã giúp tạo nên một nền tảng cho các cuộc hội đàm trong tương lai, kể cả cuộc gặp của Tổng thống Bush với Putin ở cuộc gặp thượng đỉnh G8 ở Italia vào mùa hè. Ở cuộc gặp này, hai vị tổng thống đã đồng ý trực tiếp thảo luận về cắt giảm kho dự trữ vũ khí chiến lược.
 
Giới báo chí Nga chú ý đến sự xuất hiện của Condi ở Matxcơva, ca ngợi “vẻ đẹp Nga” với cô và gợi ý cô tới St.Peterburg (Leningrad), nơi cô đã từng ở vài tuần trước đây khi còn là sinh viên năm cuối. Các cuộc gặp gỡ của cô được đưa nhiều trên tivi và trên báo chí. Khi trở về Washington, cô ghi nhớ rằng phong thái của Putin là rất ấn tượng, mới mẻ, khác hơn là ấn tượng về ông trước đó. Condi cho hay: “Tôi đã có mặt trong nhiều cuộc gặp với lãnh tụ Nga và họ dường như có ý định trao đổi các cuộc độc thoại, nhưng Putin thì thiên về đối thoại hơn. Ông ta có nhạy cảm rất tốt, có tính hài hước và thích kể một vài câu chuyện vui về lịch sử “.
 
Đạt được một thoả thuận thông qua đối thoại về phòng thủ tên lửa giữa Nga và Mỹ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Condi. Trong một buổi gặp ở trang trại Texas của Bush, cả Bush và Putin đều đồng ý cắt giảm số lượng lớn các đầu đạn hạt nhân, nhưng họ vấn chưa tiến tới một hoả ước về tái hoạt động Hiệp ước ABM. Họ đã thảo luận trong ba ngày và hứa hẹn một quan hệ ấm dần lên, nhưng hiệp ước thì vẫn là một vấn đề ‘gai góc’”.
 
Sau sự kiện 11-9, liên minh giữa hai nước trong chiến lược chống khủng bố đã có hiệu quả trong các cuộc đàm phán về vũ khí tiếp theo. Chính quyền Bush đã đi trước một bước với kế hoạch rút ra khỏi Hiệp ước ABM, nhưng điều đó không tạo nên phản ứng tiêu cực đến hiệp ước mà Bush và Putin đã ký vào mùa xuân 2002. Chuyến đi của Bush tới Matxcơva và St.Peterburg để gặp Putin vào tháng 5 và kết quả của cuộc đàm phán là một thoả thuận về “thoát khỏi tình trạng đối đầu”, của 2/3 số tên lửa hạt nhân của mỗi nước vượt qua mức của thời kỳ 10 năm trước, Hoa Kỳ chính thức rút khỏi Hiệp ước ABM tháng 6-2002. Thứ trưởng Quốc phòng – Paul Wolfowitz tranh luận về các bước đi đó trên tạp chí Phố Wall:
 
Mối quan hệ với Nga và giữa Nga với khối NATO bước vào một giai đoạn mới và đầy hứa hẹn. Đó là kết quả của quá trình đàm phán tích cực và quyết đoán. Tương lai cuộc gặp Nga-Mỹ sẽ không bị chi phối chỉ bởi vấn đề: chiến trường nào (khu vực chiến lược nào) sẽ được hai bên có kế hoạch ký thoả ước điều chỉng về cân bằng hạt nhân chống lại khủng bố? Thêm vào đó, chúng tôi sẽ tập trung vào việc phối hợp để các thách thức về an ninh mà cả hai bên phải đối mặt có thể được hiểu ngang nhau, cuộc chiến chống khủng bố và những gì cả hai bên có thể làm được để làm giàu thêm cuộc sống của nhân dân hai nước thông qua việc xích lại gần nhau về quan hệ kinh tế, văn hoá và chính trị.
 
Bằng sự đóng góp của Condi cho chính sách phòng thủ tên lửa của Bush và sáng kiến của cô trong phối hợp một khối lượng khổng lồ thông tin ở Hội đồng An ninh quốc gia liên quan đến cuộc chiến chống khủng bố, Condi đã tạo ra một sự cân bằng mới là một cố vấn An ninh quốc gia, người cùng lúc có cả tầm nhìn chiến lược về điều hành chính sách và như một nhà quản trị. Đó là thời điểm khi các quan điểm giống nhau kìm giữ cô về hiệu quả rằng hai trận tuyến đối lập (sự duy trì mối đe doạ) của khủng bố tồn tại ở mỗi người, như là có một hôm cô đã gọi điện cho mọi người ở Birmingham: “Con hãy bảo cô Condi điều con vừa nói ấy”. Cô nghe thấy tiếng Deborah Carson nói với ai đó bên điện thoại. Đứa con trai 3 tuổi của Deborah nắm lấy điện thoại và nói: “Bin Laden là một gã xấu, cô và tổng thống phải tóm cổ Bin Laden vào tù”. Condi cười và nói: “Joe, cô sẽ đến nói với Tổng thống Bush điều đầu tiên sáng nay rằng cháu đã nói tổng thống phải đi tóm cổ Bin Laden vào tù”.
 
Cuộc truy lùng Bin Laden vẫn tiếp tục, một cuộc điều tra của Quốc hội bắt đầu ở Washington với ý định cố tìm xem các hoạt động tình báo đã sai lầm ở đâu. Khi báo cáo hoàn tất vào tháng 5-2002, chính quyền Bush có khả năng đã nắm được thông tin về cuộc không tặc của Al Qaeda từ trước khi nó xảy ra tháng 9-2001. Condi đã có bài phát biểu trước báo chí để làm rõ những gì mà chính quyền đã biết. Ngày 16-5-2002, cô nói: “Đầu tháng 11-2000, các cơ quan tình báo bắt đầu báo cáo về sự gia tăng trên các phương tiện giao thông liên quan đến các hoạt động khủng bố. Đã có các báo cáo về đe doạ đặc biệt về các cuộc tấn công của Al Qaeda chống lại các mục tiêu và quyền lợi của Hoa Kỳ”. Cô bổ sung rằng khả năng xảy ra không tặc cũng đã được đưa ra trong báo cáo. Khoảng cuối tháng 7, Cục hàng không Liên bang FAA đã đưa một báo cáo khác, trong đó có nêu “chưa có một mục tiêu riêng rẽ nào, không có một thông tin đáng tin cậy nào về các cuộc tấn công vào các mục tiêu của Hàng không dân dụng Hoa Kỳ, nhưng các nhóm khủng bố có thể biết cách lập kế hoạch và huấn luyện cho các hoạt động không tặc, và vì vậy chúng tôi đòi hỏi các ông phải nghiên cứu một cách nghiêm túc các nguyên nhân”. Cô nhấn mạnh rằng các dự đoán của hệ thống tình báo đã đưa ra giả thiết có một vụ tấn công chống lại quyền lợi của Hoa Kỳ ở nước ngoài, như toà Đại sứ có thể xảy ra, nhưng lúc đó họ không dự báo một vụ khủng bố sẽ xảy ra ngay trên đất Mỹ. “Tôi muốn nhắc lại”, cô nói, “rằng trong suốt thời kỳ này một số lượng tràn ngập các vụ uy hiếp là cái giống như một cuộc tấn công đã từng xảy ra ở nước ngoài”. Cô cũng tuyên bố rằng, không có một hãng hàng không Hoa Kỳ nào được dự báo máy bay của họ sẽ bị lợi dụng như một trái bom tự sát. Cô nói: “Tôi không nghĩ rằng có ai đó có thể tiên đoán số người đó có thể chiếm lấy một chiếc máy bay và lao nó vào toà nhà Trung tâm Thương mại Thế giới, một chiếc khác thì lao vào Lầu Năm góc”.
 
Thêm vào quá trình điều tra là báo cáo phân tích của chính quyền về các hoạt động khủng bố và các sự kiện hàng ngày trong chiến tranh chống khủng bố. Hội đồng an ninh quốc gia đã tổ chức thảo luận về sự khủng hoảng như tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakistan, các cuộc tấn công tự sát và leo thang bạo lực ở Trung Đông và khả năng về một cuộc tấn công Hoa Kỳ vào Iraq trong vòng nửa đầu năm 2002. Theo cách của Xô Viết, Condi đã trình bày ý kiến của Hội đồng về các vấn đề đó và các vấn đề toàn cầu và các ý kiến về chính sách đối ngoại quan trọng để báo cáo tổng thống.
 
Sau sự kiện 11-9, kỳ nghỉ cuối tuần của tổng thống ở trại David biến thành nơi làm việc. Condi sử dụng nhiều kỳ nghỉ cuối tuần ở trại David hơn bất kỳ cố vấn nào khác. Cô đồng thời là vị khách thường xuyên tại trang trại của Bush ở Crawford, “Nhà Trắng phía Tây” với các chuyến công tác cũng như các hoạt động xã hội. Đôi khi, chính không khí ở trang trại khêu gợi các ý tưởng mới mẻ, như có một ngày, Condi nói tại bàn ăn với Laura Bush và cố vấn tổng thống Karen Hughes tranh luận về chiến tranh ở Afghanistan. Tại đó, mọi người đến với các ý tưởng về lựa chọn lương thực để trợ giúp các nạn nhân ở đất nước này. Các ý tưởng của họ chuyển hướng về tình hình thực tế khi các gói cứu trợ màu vàng sáng đầu tiên bao gồm cả bơ, các thực phẩm, hạt đậu và các thứ khác được thả xuống từ các máy bay phản lực chở hàng vào đầu tháng 10-2001.
 
Trong một bài phát biểu vào đầu năm 2002, Condi đã tổng hợp các cảm tưởng của cô về tác động của sự kiện 11-9 và cách dùng từ của cô biêu rhiện chủ nghĩa lạc quan của cô mở rộng ra trong cách nhìn của cô về tương lai của đất nước. Chúng đồng thời khẳng định ảnh hưởng của cha mẹ cô đến cuộc đời của cô, sự ảnh hưởng đến việc cố gắng tạo sức mạnh cho cô để có được phản ứng tích cực định hướng sức mạnh trên thế giới:
 
Chúng ta hướng tới một thế giới có nền thương mại lớn mạnh, một thế giới có nền dân chủ rộng lớn và quyền con người mở rộng cho tất cả nhân loại, bất kỳ là họ sống ở đâu. Sự kiện 11-9 càng làm cho kết luận  này trở thành quan trọng, không kém. Vì… chuẩn mực Hoa Kỳ đối với sự vật là rất hiện thực. Tiêu chuẩn đó là quyền bất khả xâm phạm và sự thật đó là hiển nhiên. Đó là tiêu chuẩn để so sánh và hy vọng. Sự kiện 11-9 biến đổi nước Mỹ trở thành một phần của bản thân nó, cái mà một vài người nghĩ rằng chúng ta sẽ không tồn tại lâu nữa. Và chúng ta sẽ giữ gìn nó như một phần tốt hơn của chúng ta trong một thế giới rộng lớn.
 
Sự kiện 11-9 đưa cả dân tộc Mỹ vào một kỷ nguyên mới, đưa nước Mỹ bước vào cuộc chiến tranh cãi và hướng tia sáng laser của công luận vào các chính sách trước sự kiện 11-9 của chính quyền Bush. Khi giải thích bổ sung về chính sách của Tổng thống Bush, như mọi sự kiện đã được tiết lộ, Condi đứng trước một Uỷ ban điều tra lịch sử để giải thích công việc của cô trong chính quyền. Cuộc tranh luận đã lôi kéo công luận yêu cầu cô phải ra trước buổi điều trần công khai như một sự kiện đặc biệt trong lịch sử, và có lẽ báo hiệu một giai đoạn sóng gió nhất trong sự nghiệp của cô.
Đăng nhập để trả lời
0
“Tôi hiểu rằng, khi nghĩ đến việc có một cuộc tấn công nhằm vào Washington hoặc New York, lúc đó chúng ta sẽ sẵn sàng dù có phải dời cả địa ngục hay trái đất để ngăn cản cuộc tấn công này. Và tôi hiểu rằng không thể chỉ với các cố gắng đơn lẻ mà có thể ngăn cản được cuộc tấn công đó”.
 
-                      Condoleezza Rice, phát biểu trước
Uỷ ban về vụ 11-9 vào ngày 8-4-2004.
 
Vào mùa hè năm 2004, vai trò của Condoleezza Rice như cố vấn thân cận của Tổng thống Bush trong Nhà Trắng đã cuốn hút cô tập trung vào cả hai việc: chính sách của Hoa Kỳ và chính sách dối ngoại. Tạp chí Forbes xác định sự việc này vào tháng 8 bằng cách điểm tên cô là nhân vật số một trên bảng xếp hạng “Những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới”. Tạp chí thuyết minh rằng “cố vấn cho vị lãnh đạo quyền lực nhất thế giới – và là tai mắt của ông ta trên khắp thế giới – Đó là Rice, 49 tuổi, người phụ nữ quyền lực nhất trên thế giới”.[/align] 
Mặc dù Condi đã trở nên nổi tiếng như một trong những cố vấn an ninh quốc gia năng lực nhất trọng lịch sử, yếu tố đầu tiên đằng sau sự nổi lên khắp toàn cầu từ năm 2002 trở đi chính là cuộc chiến ở Iraq. Khi chính quyền Bush đưa ra kế hoạch tiếp tục cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố bằng cách sử dụng lực lượng quân sự chống lại Iraq, Condi tiếp tục là người phát ngôn hàng đầu của Nhà Trắng, người công bố các thông điệp của Tổng thống đến giới truyền thông trên các hội nghị cũng như trên các cuộc hội đàm chính trị.
 
Tổng thống Bush, Phó Tổng thống Cheney và các thành viên chính phủ khác đã bắt đầu chiến dịch chống lại Iraq vào mùa xuân 2002. Tại một cuộc họp báo vào ngày 17-3, ví dụ, Cheney tuyên bố liên quan đến chương trình vũ khí và tiềm năng hạt nhân của Iraq:
 
Tổng thống đã nói rõ là chúng ta phải quan tâm đến các dân tộc như việc Iraq phát triển vũ khí huỷ diện đồng loạt… Chúng ta biết là họ có vũ khí sinh học và hoá học… và chúng ta cũng có lý do để tin rằng họ đang tìm kiếm vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ rất quan tâm đến điều này. Chúng ta hiểu đó cũng là điều quan tâm của mọi người trên khắp cả khu vực, và chúng ta nghĩ đó là điều quan trọng khi chúng ta tìm kiếm cách để đối xử với sự đe doạ nghiêm trọng này.
 
Tháng 8 tiếp theo, Condi trình bày ý định của Tổng thống về Saddam Hussein trong một cuộc phỏng vấn của BBC. Khi phát biểu với chương trình BBC, kênh 4, cô mô tả nhà lãnh đạo Iraq “đây là người đáng sợ, kẻ đưa ra các mưu kế để gây nên sự tàn phá cho chính người dân của mình, láng giềng của mình và nếu ông ta có được vũ khí huỷ diệt hàng loạt thì ý định của ông ta là trút hết lên chúng ta”. Sự suy luận của cô cho thấy đó là một “trường hợp đe doạ rất mạnh về tinh thần” để lật đổ quyền lực của Hussein, dựa theo các bài học từ lịch sử. Hoa Kỳ cân nhắc rất kỹ lưỡng một cuộc đánh phủ đầu, cô giải thích:
 
Lịch sử đã chứng kiến nhiều trường hợp do dự không hành động đã dẫn tới tình trạng rất nghiêm trọng cho thế giới. Chúng ta vừa nhìn lại và hỏi có bao nhiêu kẻ độc tài đã kết liễu khi đe doạ cả thế giới, giết hại hàng ngàn người dân và đe doạ hàng triệu người khác, liệu chúng ta có thể ngăn chặn con đường của chúng không.
 
Trong cuộc phỏng vấn, một phần của loạt bài về vụ 11-9 của BBC đã đưa ra chủ đề: “Đi cùng chúng ta hay chống lại chúng ta”. Condi đưa ra thông điệp của chính quyền về việc Hussein đã “phát triển vũ khí sinh học [và] lừa dối Liên hợp quốc về kho vũ khí”.
 
Trong số những người chỉ trích chiến lược đòn phủ đầu có người thầy của Condi – Brent Scowcroft, người đã là cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống George H. W.Bush và đã tiến cử Condi cho chính quyền như một chuyên gia về Xô Viết và Đông Âu. Trong một bài nói về quan điểm của mình trên tạp chí Wall Street Journal cùng ngày với bài phỏng vấn của Condi trên BBC, Scowcroft cảnh báo rằng hành động quân sự ở Iraq có thể khiến Hoa Kỳ hứng chịu mũi nhọn của chủ nghĩa khủng bố, cô lập chúng ta với thế giới, những người phản đối cuộc tấn công này và gây rối loạn ở Trung Cận Đông. “Chúng ta chưa có đủ bằng chứng để kết luận Saddam là tổ chức khủng bố và thậm chí không có lý do để nói có liên quan đến vụ tấn công 11-9”, Scowcroft đã nói như vậy. Bằng việc nhằm vào Iraq, ông ta nói, tổng thống cho rằng đất nước đã đặt vào “tình trạng báo động về an ninh” do đe doạ của chiến tranh khủng bố và làm giảm sự ủng hộ quốc tế sau sự kiện 11-9. “Một cuộc tấn công Iraq vào thời điểm này sẽ là nguy cơ nghiêm trọng, nếu không nói là nó sẽ phá huỷ liên minh quốc tế chống khủng bố mà chúng ta đã có”, ông ta nói vậy.
 
Scowcroft tin rằng phát động chiến tranh ở Iraq có thể không chỉ khiến đất nước chuyển từ chiến tranh sang bị khủng bố, nhưng nếu chúng ta mất các nước đồng minh truyền thống thì cái giá phải trả là quá lớn:
 
Ở đây có một xu thế mạnh của thế giới chống lại một cuộc tấn công Iraq vào thời điểm này. Tình trạng này càng kéo dài thì cũng có nguy cơ đẩy Hoa Kỳ vào tình trạng đơn độc trong cuộc chiến Iraq, làm cho các chiến dịch trở nên khó kăhn hơn và đắt đỏ hơn. Một cái giá rất lớn, dĩ nhiên, có thể là một cuộc chiến với chủ nghĩa khủng bố. Phủ nhận yếu tố nhạy cảm rõ ràng này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, phá vỡ khối hợp tác quốc tế trong cuộc chiến chống khủng bố, và vấn đề không chỉ là phạm sai lầm, chúng ta đơn giản là không thể thắng trong cuộc chiến đó nếu không có sự hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tình báo.
 
Ngoài ra, Scowcroft còn đưa ra những điềm xấu trong khu vực nếu Mỹ tấn công Iraq, khu vực Trung Cận Đông, nơi mỗi một sự cân nhắc trong khủng hoảng Isarel – Palestin có thể đựoc diễn giải là một động tác để thoát khỏi các cuộc tranh chấp. Điều đó có thể nhóm lên ngọn lửa, theo Scowcroft mô tả, “một sự bùng nổ trào lưu chống lại chúng ta”. Thay vì đóng góp giải pháp trong cuộc khủng hoảng kéo dài hàng thập kỷ, “chúng ta có thể được coi như động chạm tới quyền lợi cơ bản của thế giới Hồi giáo để thoả mãn cái được xem như lợi ích cục bộ của Hoa Kỳ”, ông ta nói như vậy.
 
Không giống như Scowcroft, tuyên bố của Condi lặp lại chính sách diều hâu hơn của chính quyền thúc đẩy chiến tranh và sự sẵn sàng đi một mình trong cuộc chiến này. Khi Pháp, Đức và Ngà tuyên bố rằng họ sẽ không tham gia liên minh vào mùa xuân 2003, phản ứng của cô là rất sắc sảo và tiến triển từng bước. Cô tham chiến đến chính sách của họ như chính sách “non-nein-nyet” và tuyên bố rằng chiến lược của Hoa Kỳ có thể để “trừng phạt nước Pháp, không quan tâm đến nước Đức và quên đi nước Nga”. Đường lối cứng rắn này đối nghịch với phái dân chủ, đường lối đối ngoại kiểu Scowcroft, được Condi công bố trong bài báo của cô trên tạp chí Foreign Affairs vào tháng 1-2000. Theo các bạn bè gần gũi của cô thì cuộc tấn công ngày 11-9 đã làm biến đổi cách nhìn nhận thế giới của cô và đẩy cô ngả về phía bảo thủ hơn. Sau trận tấn công 11-9, quan điểm về chính sách ngoại giao của cô tiến gần hơn tới quan điểm của Tổng thống và các thành viên Tân bảo thủ trong chính quyền. “Họ tin tưởng rằng sự kiện 11-9 là một tín hiệu thức tỉnh”, Coit Blacker, một người bạn của Condi nói vậy, “và đó có lẽ là việc phải làm – đau đớn, bạo lực nhưng họ buộc phải làm, và hãy để sự đổ vỡ xảy ra như nó phải thế. Họ đã phải xoay chuyển cả bàn cờ và bây giờ không một ai nghi ngờ về khả năng của Hoa Kỳ có thể chấp nhận mạo hiểm, điều mà trước sự kiện 11-9 không ai dám nghĩ tới”.
 
Condi thừa nhận rằng quan điểm đối ngoại thiên về bảo thủ của cô không phải là “một định hướng thoát ra khỏi chỗ mà từ đó cô đã tới”, nhưng nó làm bộc lộ ra quan điểm của Tổng thống về giá trị toàn cầu và tự do. “Tổng thống có một ý chí rất mạnh và có định hướng về chính sách đối ngoại, về sự không rõ ràng giữa cái đúng và cái sai, nhưng cái có thể làm được và cái có thể không làm được gì”, cô nói vậy, “tự tôi tìm ra được giá trị của tất cả những thứ đó”.
 
Một trong những tính cách mạnh của Condi và George W.Bush tạo ho họ có mối liên kết chặt chẽ, đó là niềm tin vào sự thật và giá trị mà Bush đã đưa ra trong bài phát biểu kỷ niệm một năm ngày chủ nghĩa khủng bố tấn công nước Mỹ đã bộc lộ quan điểm cơ bản của Tổng thống về chính sách đối ngoại. Một định hướng tinh thần mà Condi ghi nhận là quan điểm rõ ràng của Bush về trách nhiệm của nước Mỹ để mở rộng tư duy của nó về thế giới. Vào ngày 11-9-2002, ông đã tuyên bố rằng “cuộc tấn công vào dân tộc chúng ta cũng là một cuộc tấn công vào ý tưởng đã sáng lập ra dân tộc chúng ta… Sự thuyết phục mang tính dân tộc sâu sắc nhất là mỗi một cuộc sống, đều đáng quý vì mội một cuộc đời là món quả của Chúa sáng thế, người đã cho chúng ta một cuộc sống tự do và bình đẳng. Hơn tất cả mọi thứ, đó chính là cái phân biệt giữa chúng ta và kẻ thù mà chúng ta phải chiến đấu”. Kẻ thù, ông nhấn mạnh, là “bất kỳ kẻ khủng bố hoặc quấy rối nào đe doạ nền văn minh với vũ khí huỷ diệt”.
 
Tiếp tục ý nghĩ về “lời hứa thiêng liêng” của dân tộc, Bush tuyên bố rằng “những gì thuộc về chúng ta, thậm chí lớn hơn đất nước của chúng ta. Những thứ thuộc về chúng ta là nguyên nhân của quyền con người, tự do được hướng dẫn bởi ý thức và đựoc bảo vệ bởi nền hoà bình. Ý tưởng này của nước Mỹ là hy vọng của cả loài người.. Hy vọng đó rọi chiếu con đường chúng ta đi và ánh sáng soi chiếu vào vùng tối và vùng tối sẽ không bao giờ che phủ chúng ta”.
 
Trong một bài phát biểu trên radio một vài ngày sau đó, Tổng thống nhắc lại quan điểm của mình rằng Hussein chính là mối đe doạ đối với thế giớ cần phải bị Hoa Kỳ và thế giới can thiệp:
 
Quốc hội có thể sẽ làm rõ khi mối đe doạ từ Iraq đã trở thành nguy hiểm, khi họ phát triển vũ khí huỷ diệt hàng loạt, rằng đối với thể chế hà khắc này là không thể chấp nhận đượcónự việc là rất nghiêm trọng, chúng ta buộc phải lựa chọn giữa một thế giới đầy sợ hãi hoặc một thế giới tiến bộ. Chúng ta phải giữ vững nền an ninh của chúng ta và vì yêu cầu của quyền con người. Bằng với truyền thống và sự lựa chọn, Hoa Kỳ sẽ làm điều đó. Cộng đồng thế giới phải làm điều tốt nhất.
 
Một vài tuần sau, Tổng thống thực hiện dự định này, Condi có bài phát biểu tại khách sạn Waldorf Astoria ở New York trình bày chiến lược An ninh quốc gia của Bush. Cô hiểu vai trò của giá trị trong việc định ra chiến lược ngoại giao trong bài báo của mình trên tạp chí Foreign Affairs năm 2000, tại đó cô tập trung diễn giải ý tưởng liên quan đến quyền lực. “Trong cuộc sống thực tế, quyền lực và giá trị có quan hệ chặt chẽ”, cô nói vậy. “Quyền lực tuyệt đối tạo ra việc lớn – nó có khả năng ảnh hưởng đến cuộc sống hàng triệu người và thay đổi cả lịch sử… Và giá trị của quyền lực lớn là đáng quan tâm”. Giống như Tổng thống, bây giờ Condi tập trung vào những quan niệm lý tưởng về chính sách đối ngoại như một công cụ để khẳng định gái trị của dân tộc: “Chính sách đối ngoại phải phục tùng an ninh, để bảo vệ công dân của chúng ta, xã hội của chúng ta và giá trị của chúng ta, giống như tự do, quảng giao, rộng mở và tính đa dạng của cuộc sống”. Và cũng giống như Tổng thống, cô mô tả chính sách đối ngoại theo cách mới, một cuộc chiến đã chia cắt thế giới: “Từ sự kiện 11-9, tất cả quyền lực lớn của thế giới tự coi họ đứng về một phía khi phải phân biệt giữa sức mạnh của thời đại hỗn mang và trạt tự”.
 
Thượng và Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết cho phép Tổng thống sử dụng lực lượng quân sự chống lại Iraq vào tháng 10-2002, và tháng sau đó, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết 1441 kêu gọi tiếp tục thanh sát vũ khí ở Iraq. Tháng 1-2003, Condi công bố một bài trên tạp chí The New York Times với tít lớn: “Tại sao chúng ta biết rằng Iraq là kẻ nói dối”, trong đó cô tổng hợp thái độ không hợp tác của Hussein với các thanh sát viên, các thanh sát viên không được đến các địa điểm mà Nghị quyết 1441 đã yêu cầu. Condi tuyên bố vậy và “việc Iraq hứa hẹn sẽ tạo điều kiện tốt hơn chỉ là cách tạm thời để kéo dài thời gian”. Cô kết luận rằng Iraq coi việc thanh sát như một trò chơi và cảnh báo rằng đất nước “có thể biết rằng thời gian đã hết”.
 
Trên một bài báo trên tạp chí Times, Condi đồng thời tranh luận một đề tài rằng có thể sẽ có một cuộc khủng hoảng nóng trong chính quyền. Khi viết khoảng 12.200 trang giải trình của Iraq báo cáo lên Liên hợp quốc về chương trình vũ khí của họ, Condi nói rằng các tài liệu “ngả về hướng giải thích rằng sự trợ giúp Iraq là từ nước ngoài”. Câu hỏi về việc Iraq mua uranium từ Niger đã được kiểm tra bởi CIA và Bộ Ngoại giao, cả hai cơ quan này kết luận rằng ý định mua vật liệu hạt nhân chưa được khẳng định. Bằng chứng là chưa đủ vì vậy CIA yêu cầu tình báo Anh tìm kiếm thêm các tài liệu minh chứng cho nghi vấn này với liều lượng đủ để công bố vào giai đoạn cuối năm 2002. Thay vì báo cáo của CIA và Bộ Ngoại giao, Tổng thống Bush tuyên bố trong thông điệp liên bang vào tháng 1-2003 rằng “chính phủ Anh đã điều tra được rằng Saddam Hussein bây giờ đã có đủ một lượng uranium từ châu Phi’. Ngoại trưởng Donald Rumsfeld nhắc lại tuyên bố tại một buổi họp báo ở Lầu Năm góc vào những ngày tiếp theo. Ngoại trưởng Colin Powell, tuy nhiên, đã bỏ quên câu chuyện về uranium trong bài nói của mình ở Liên hợp quốc tháng 2-2003, khi cố giải thích rằng ông ta không nghĩ là bằng chứng đủ thuyết phục để công bố. Khi các báo cáo của Anh quốc gần như đã bị lãng quên thì Condi đã thúc đẩy để thừa nhận trên ABC News This Week vào 8-6-2003 rằng “rất rõ ràng rằng đó là báo cáo thực tế, chúng ta đã học được một cách liên tục, liên tục mà chúng ta chưa trả học phí”.
 
Ngày 24-2, chính quyền Bush và hai đồng minh: Anh và Tây Ban Nha dự kiến chính thức hoá vấn đề này bằng cách trình lên Liên hợp quốc nghị quyết nói rằng: “Iraq có ý định sử dụng cơ hội cuối cùng để bào chữa cho họ trong Nghị quyết 1441”. Trong trách nhiệm của mình, Pháp, Đức và Nga đã dự thảo một nghị quyết riêng của họ kêu gọi tiếp tục thanh sát. “Sự lựa chọn quân sự chỉ có thể là lựa chọn cuối cùng”. Công bố bản dự thảo, trong đó luận giải rằng các điều kiện để sử dụng lực lượng quân sự chống lại Iraq là “chưa đủ”.
 
Vào ngày mà cả hai bản dự thảo được đệ trình lên, Condi thuyết phục Tổng thống kêu gọi cho hành động trong vụ Hussein. Trong một cuộc họp báo ở Nhà Trắng, cô mô tả sự đe doạ của Iraq và nhắc giới báo chí về lịch làm việc của Tổng thống. “Tất cả chúng ta phải tiếp tục sống dưới sự đe doạ của chương trình vũ khí huỷ diệt hàng loạt có liên hệ với một số nhân vật trong mạng lưới khủng bố”, cô nói như vậy. “Bây giờ đã là lúc phải giải quyết vấn đề. Và bởi vì rằng bây giờ vấn đề đã quá rõ rằng khi Tổng thống nói, tính bằng tuần chứ không phải bằng tháng”. Condi đồng thời nhắc giới báo chí rằng Tổng thống sẵn sàng hành động một mình: “Tổng thống đã làm rõ rằng Hội đồng bảo an cần hành động và rằng nếu Hội đồng bảo an không đủ năng lực hành động thì cúng ta sẽ hành động cùng với các đồng minh có ý nguyện”.
 
Bản nghị quyết trình lên Liên hợp quốc do Hoa Kỳ, Anh và Tây Ban Nha đưa ra chỉ được một thành viên khác của Hội đồng bảo an ủng hộ, đó là Bulgaria. Ngày 20-3-2003, chính quyền chuyển động theo kế hoạch để hành động một mình và phát động chiến tranh ở Iraq với chiến dịch “Iraq Freedom”. Ngày 9-4, Hoa Kỳ đã tiến vào Baghdad và hàng triệu người xem truyền hình đã thấy hình ảnh bức tượng của Saddam Hussein bị giật đổ.
 
Những tháng tiếp theo, Tổng thống Bush tuyên bố từ trên chiếc phi cơ Abraham Lincoln tại bờ biển San Diego, California rằng chiến dịch lứon nhất ở Iraq đã đi qua, và rằng Hoa Kỳ và đồng minh đã thành công. Đứng chờ chiếc phi cơ phản lực S-3 Viking của Tổng thống là Condi và phát ngôn viên Nhà Trắng – Ari Fleicher, tất cả họ đã bay đến trước trên chuyến C-2 Greyhound. Các hành khách trên chuyến bày Greyhound ngồi quay lưng về phía trước trong bóng tối. Condi, trong bộ đồ thể thao và thiết bị che tai, trông rất điềm đạm, khi bước xuống khỏi phi cơ. Cô giải thích rằng: “thời tiết đã tốt hơn”. Hình tượng của Tổng thống trên bệ cửa máy bay với câu nói một “sứ mạng đã hoàn thành” trở thành mục tiêu cho sự chỉ trích Bush trong một vài tuần và vài tháng tiếp theo, khi cuộc chiến ở Iraq tiếp tục leo thang.
 
Một khía cạnh khác khi có sự xuất hiện của Tổng thống năm 2003 ghi nhận một yếu tố khẳng định Condi chính là cố vấn gần gũi và tin cậy của Tổng thống. Khi Tổng thống Bush bắt đầu kế hoạch về các vấn đề bảo mật nhất thì phải cảm ơn chuyến đi đến Baghdad vào tháng 10, Condi là một trong số các nhân viên được biết về kế hoạch này và chỉ một số nhân viên được lựa chọn đi cùng Tổng thống. Ưu tiên hàng đầu trong số rất nhiều thách thức là về các chuyến bay an toàn của Tổng thống đến vùng có chiến sự. Đệ nhất phu nhân Laura Bush đã được thông báo về chuyến đi, nhưng không được nói gì cho đến khi chiếc phi cơ Air Force One đã bay. Các con gái của Bush không được thông tin gì cho đến khi Tổng thống hạ cánh ở Baghdad. Tín hiệu từ Nhà Trắng là gia đình Bush có thể sẽ đón ngày lễ Tạ ơn (Thanksgiving) ở Crawford.
 
Vào khoảng 8 giờ sáng ngày thứ Tư, 26-11, Tổng thống và Condi đã ngủ thiếp đi trên một chiếc xe không lắp biển. Cả hai nhân vật ăn mặc trang trọng với chiếc mũ lưỡi trai kiểu bóng chày che lấp cả mắt. “Chúng tôi trông như một cặp bình thường”, Bush kể lại với phóng viên. Chuyến đi trên phi cơ Air Force One rất yên lặng, khi họ được tháp tùng bởi một nhóm nhỏ các nhà báo và các nhân viên an ninh. Chuyến bay giữ im lăng, không liên lạc radio. Sân bay quốc tế Baghdad, nơi đã từng là mục tiêu tấn công của tên lửa vào một máy bay chở hàng 5 ngày trước đã chìm trong bóng tối khi phi cơ tiếp cận và dĩ nhiên Air Force One cũng không bật đèn đã hạ cánh ở sân bay.
 
Tổng thống đứng trước 600 binh sĩ đang dự bữa ăn tối dịp lễ Tạ ơn ở sân bay và họ đã đón ông bằng lời hô “Hoo-ah” và các tràng vỗ tay. Sau chuyến thăm bất ngờ kéo dài 2 tiếng rưỡi, Tổng thống, Condi và một nhóm nhỏ nhà báo lại lên phi cơ Air Force One để bay về Hoa Kỳ.
 
Phe phê phán cho rằng Bush tạo ra chuyến đi mạo hiểm với mục đích tuyên truyền chính trị, Condi đã bảo vệ động cơ của Tổng thống: “Hãy để những lời nhỏ nhen rơi ở nơi nó phải rơi”, cô nói. “Nhưng mọi người dân Mỹ, dù thuộc về đảng phái nào đều biết rằng Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội, ông phải đến kiểm tra quân đội và đó là một việc cần thiết”.
 
Quyết định của Bush đem Condi theo suốt chuyến đi bí mật và nguy hiểm, chứng tỏ mối quan hệ gần gũi và tin cậy của họ. Bush cha đã có một quan hệ sâu sắc, tin cậy với cố vấn An ninh quốc gia của ông – Brent Scowcroft, nhưng George W.Bush còn tỏ ra tin cậy vị cố vấn An ninh của mình hơn thế. Họ sử dụng nhiều thời gian để đàm đạo ở Nhà Trắng, tại trại David và ở trang trại Crawford. Condi thậm chí phải tranh thủ chợp mắt trong bữa cơm chiều vào mùa xuân 2004. Có lần cô đã nói “Tôi đã nói với Tổng thống tin cậy – như là nói với chồng của mình…”.
 
Nghi ngờ việc chính quyền đã có thể biết trước về khả năng có vụ tấn công 11-9, các gia định nạn nhân đã yêu cầu một cuộc điều tra chính thức. Một Uỷ ban điều tra vụ 11-9 gồm 10 thành viên đã được Quốc hội Mỹ thông qua vào tháng 11-2002 và có trách nhiệm “trình ra cho cả nước các lý lẽ chấp nhận được về lý do đã tạo ra các cuộc tấn công có thể thực hiện”. Một Uỷ ban độc lập khác đã được lập ra để làm rõ những cáo buộc về các lỗi đặc biệt của chính quyền.
 
Condi đã điều trần riêng trước các thành viên của nhóm. Mùa xuân 2004, cộng đồng yêu cầu cô tiếp tục trình bày trước công chúng, nơi đòi hỏi làm rõ vai trò của cô như cố vấn An ninh quốc gia. Nhưng Condi đã từ chối với lý lẽ rằng quyền lực hiến pháp của nhóm điều hành chính thức ngăn cản cô làm điều đó. “Không có gì là tốt hơn, theo quan điểm của tôi, nếu đứng ra điều trần”, cô tuyên bố trên chương trình 60 phút của CBS. “Tôi thực ra muốn làm điều đó”, cô bổ sung, “nhưng ở đây có một nguyên tắc, một nguyên tắc đã tồn tại từ lâu, đó là cố vấn An ninh quốc gia đang tai vị không phải điều trần trước Quốc hội”.
 
Vấn đề cuộc điều trần công khai của Condi đã được Uỷ ban điều trần của Richard A.Clarke đưa ra, ông là cựu quan chức theo dõi về khủng bố của Bush và Cliton. Clarke lập tức công bố tài liệu về các hành động của chính quyền Bush liên quan đến Al Qaeda. Trong cuốn Chống lại mọi kẻ thù: phía bên trong cuộc chiến của Mỹ chống lại chủ nghĩa khủng bố, Clarke cho rằng chính quyền đã bỏ qua các tin tình báo quan trọng về cuộc tấn công của chủ nghĩa khủng bố và đã thắp ngọn lửa tạo cớ cho Al Qaeda bằng việc tấn công Iraq. Clarke viết:
 
George W.Bush.. muốn hành động ưu tiên đối với vụ 11-9 là tấn công Al Qaeda thay vì nhắc lại sự cảnh báo và rồi phải gặp hái hậu quả chính trị do đã tiến hành các bước sau khi tấn công, và… việc triển khai cuộc chiến không thành công, tốn kém ở Iraq đã kích thích sức mạnh của nhóm khủng bố Hồi giáo khắp thế giới.
 
Tiếp theo cuộc điều trần trước Uỷ ban 11-9, Clarke đã được gọi để công bố tài liệu của chính quyền từ trước cuộc tấn công cũng như các tài liệu khác. Các tài liệu đó có thể bao gồm cả bài điều trần của Condi trước Uỷ ban 11-9 mà các phóng viên cho rằng Clarke đã cộng tác với cô và phó của cô – Stephen Hadley, trong khi ông ta đang phục vụ bên chính quyền.
 
Sức ép ngày càng gia tăng yêu cầu Condi xuất hiện công khai trước Uỷ ban 11-9 và ngày 30-3-2004, Nhà Trắng đã cử Alberto R.Gonzales gửi một bức thư tới Uỷ ban đồng ý để Condi xuất hiện, với hai điều kiện. Gonzales yêu cầu rằng buổi điều trần của Condi không được là tiền lệ cho tương lai để Uỷ ban điều trần yêu cầu một cố vấn An ninh quóc gia hoặc bất kỳ một thành viên nào khác của Nhà Trắng, và yêu cầu Uỷ ban chấp nhận bằng văn bản rằng sẽ không yêu cầu thêm bất kỳ buổi điều trần nào đối với bấy kỳ quan chức nào của Nhà Trắng, kể cả Rice. Đối với một vài quan sát viên, hành động của Condi trong cuộc tranh luận đã buộc Nhà Trắng phải cho phép cô ta ra điều trần. “Bản thân Rice đã làm suy yếu lập luận của chính quyền chống lại sự xuất hiện công khai của cô bằng cách tiến hành một loạt các cuộc phỏng vấn và tuyên bố là cô sẵn sàng ra điều trần”. Condi đã công khai bộc lộ quan điểm trong các tuyên bố ở truyền hình và trên các báo rằng cô không có gì phải lẩn tránh, chính quyền không nên lạm dụng quyền lực để lảng tránh dư luận. Bush đã dồng ý cho cô xuất hiện tại buổi điều trần trước khi các phản ứng xấu về chính trị có thể đi xa hơn.
 
Ngày 8-4, Condi đã đứng trước Uỷ ban 11-9, cô đứng sau mộ chiếc bàn lớn ở trung tâm đối diện với cử toạ. Trong phần mở đầu, cô thừa nhận rằng chính quyền đã phản ứng chậm trước các hoạt động trong thời gian dài của nhóm khủng bố trước sự kiện 11-9. “Lũ khủng bố đã đưa chiến tranh đến sát chúng ta, nhưng chúng ta đã không kịp phát động chiến tranh với chúng”, cô nói vậy. Cô mô tả một loạt sự kiện trong lịch sử mà tại đó Hoa Kỳ đã phản ứng chậm để giải toả nguy hiểm, như là: “Sự đe doạ lớn lên từ Đế quốc Nhật cho đến tận khi nó đã trở thành hiện thực bằng nỗi đau của trận Trân Châu Cảng”. Cô bảo vệ chiến lược của chính quyền trong cuộc chiến chống khủng bố bằng cách trích dẫn lịch làm việc của Tổng thống và các cuộc gặp riêng của cô với các quan chức tình báo, và đưa ra một loạt các biện pháp ban đầu như sự ủng hộ nguồn lực của Cục Ngân khố để tìm kiếm và ngăn chặn các hoạt động khủng bố”.
 
Chủ đề chính của buổi điều trần đã tập trung vào nội dung một báo cáo tình báo được đệ trình lên Tổng thống vào ngày 6-8-2001, trong đó có các thông tin về kế hoạch tấn công vào nước Mỹ của Osama bin Lade. Condi khẳng định báo cáo nhắc nhỏ này không có nội dung nào cảnh báo về một cuộc tấn công, nhưng đã dựa trên “các thông tin lịch sử từ các báo cáo trước đó”. Cô tổng hợp lại nội dung báo cáo này như sau:
 
Nhóm phân tích nhanh điểm lại các báo cáo tình báo trong quá khứ, đa số là từ những năm 1990, liên quan đến khả năng Al Qaeda có kế hoạch tấn công vào bên trong nước Mỹ. Ở đây có tham chiếu một bản báo cáo chưa được kiểm chứng từ năm 1998 rằng nhóm khủng bố có ý định cướp một máy bay Mỹ với mục đích ép chính phủ thả một số kẻ khủng bố đang bị giam từ năm 1993. Các nội dung được điểm tin này đã không nhanh chóng được xử lý một cách đặc biệt. Và nó không làm tăng khả năng của nhóm khủng bố có thể sử dụng máy bay như một trái tên lửa.
 
Trong phần hỏi-đáp, Condi khẳng định rằng chính quyền không hề dự đoán bất kỳ một cuộc tấn công nào ở trong lòng nước Mỹ, nhưng đã hướng sự tập trung vào các hoạt động khủng bố tại các vùng khác của thế giới. Thành viên Uỷ ban – Richard Ben-Veniste đã đưa chủ đề quay lại bản báo cáo ghi nhớ, tuy nhiên để nêu bật ra rằng trong đó ám chỉ rất rõ một cuộc tấn công trong lòng nước Mỹ. Cuộc hỏi đáp rất sắc sảo diễn ra như sau:
 
BEN-VENISTE: Liệu đó có phải là chứng cứ không, thưa tiến sĩ Rice rằng bản báo cáo ngày 6-8 đã cảnh báo khả năng có một cuộc tấn công trên đất nước này? Và tôi muốn hỏi bà là liệu bà có thể nhắc lại đầu đề của báo cáo này không?
 
RICE: Tôi tin rằng đầu đề là: “Bin Laden dự định tấn công trong lòng Hoa Kỳ”, bây giờ nó là P.D.B
 
BEN-VENISTE: Xin cám ơn!
 
RICE: Không, thưa ngài Ben-Veniste –
 
BEN-VENISTE: Tôi sẽ đi vào nội dung –
 
RICE: Tôi muốn kết thúc phần của tôi ở đây.
 
BEN-VENISTE: Tôi không nghĩ đó là một điểm dừng.
 
RICE: Cứ cho là như vậy, ông đã hỏi tôi liệu có hay không sự cảnh báo về một cuộc tấn công.
 
BEN-VENISTE: Tôi hỏi bà đầu đề của nó là gì?
 
RICE: Ông đã nói đó không phải là sự cảnh báo. Nó không phải là sự cảnh báo một cuộc tấn công trong lòng nước Mỹ. Đó là một thông tin lịch sử dựa trên một báo cáo có từ trước. Đó không phải là thông tin đe doạ và nó trên thực tế không phải là sự cảnh báo về bất kỳ một cuộc tấn công nào đang đến trong lòng nước Mỹ.
 
Thông qua cuộc điều trần của cô, bao gồm cả đoạn ghi âm hỏi-đáp nêu ở trên, Condi đã giữ được bình tĩnh và tỉnh táo, cũng giống như tại bất kỳ lần xuất bản nào của cô trước công chúng khi phải tranh luận về chính sách của Tổng thống ở Iraq. Tình thế cho thấy không có bấy kỳ thái độ hay hành vi nào đối lập với sự xuất hiện của Condi trên truyền hình, như một phóng viên quan sát. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn ở Iraq khi cô đang điều trần, một sự thật là mối quan tâm của người Mỹ ngày càng gia tăng, nếu không phải là hơn thế, hơn là những gì trên truyền hình về buổi nghe điều trần. “Mặc dù buổi điều trần của Rice khôn gtạo ra trái bom, nhưng dường như nó tạo ra tiếng vang ở Iraq, thậm chí như là khi cô đang nói”, phóng viên Tony Karon viết như vậy trên tạp chí Time. “Mối hận thù bùng lên giữa dòng Sunni và Shiite ở Iraq gây rối loạn cho lực lượng liên minh ở đó và sự khủng hoảng của kế hoạch của Mỹ có thể tạo ra mối quan tâm ngày càng nhiều về chiến dịch bầu cử ở nước Mỹ hơn là những gì diễn ra sau sự kiện 11-9”.
 
Tháng 6-2004, Uỷ ban 11-9 công bố bản kết luận, trong đó bác bỏ các giải thích của chính quyền rằng mối đe doạ khủng bố, cái mà Tổng thống biết rằng đó là sự đe doạ từ Al Qaeda nằm ở ngay Iraq. “Chúng ta không có đủ bằng chứng rằng Iraq và Al Qaeda đã hợp tác trong cuộc tấn công chống lại Mỹ”, báo cáo này khẳng định như vậy. Những người đã phê phán quyết định của Tổng thống phát động chiến tranh chống Iraq tìm được nguồn năng lượng mới cho lập luận của họ trong báo cáo. Tuyên bố của Uỷ ban được ủng hộ của những người đồng quan điểm như Scowcroft, người chưa bao giờ tin là chiến thắng chống khủng bố có thể tìm thấy ở Iraq. Nhưng vào thời điểm đó, chiến tranh đã diễn ra được 15 tháng. Như đã viết vào tháng 1-2005, số binh sĩ tử vong ở Iraq đã đến con số 1.340 với tổng số binh sĩ của liên minh bị chết là 1.491.
 
Trong chiến dịch bầu cử Tổng thống năm 2004, Condi đã tháp tùng Bush đến một loạt thành phố. Vào ngày 2-9 là chuyến đi đến Columbus đến khu vực bang Ohio. Vào những tuần tiếp theo khi đang hưóng đến thời hạn bầu cử vào ngày 2-11, cô đã có bài phát biểu ở các bang quan trọng, bao gồm cả Oregon, Washington, Bắc California, Pennsylvania, Michigan, và Florida. “Tần suất xuất hiện và địa điểm nơi cô phát biểu đã gây nên ấn tượng rất mạnh trước năm bầu cử”, tờ Washington Post ghi nhận như vậy, “và việc phá vỡ một tiền lệ từ lâu về việc cố vấn An ninh quốc gia cố gắng không bị lôi kéo vào chiến dịch bầu cử Tổng thống”. Một phóng viên tờ New York Times phàn nàn rằng Condi xuất hiện quá thường xuyên “trong chuyến vận động tranh cử người ta cảm thấy như cô là cố vấn báo chí của tổng thống hơn là một cố vấn An ninh quốc gia”. Condi phủ nhận điều đó, khi tuyên bố trên chương trình radio toàn quốc, ví dụ, rằng cô không hề bước quá ranh giới công việc của mình. “Dĩ nhiên là không”, cô nói như vậy với Tavis Smiley. “Tôi là cố vấn An ninh quốc gia. Tôi còn một phần vai trò của tôi là phát ngôn với người dân Mỹ. Chúng ta đang tron tình trạng chiến tranh. Đây là thời điểm để chúng ta, những người có cương vị và trách nhiệm phải hành động để bảo vệ Washington”.
 
Mặc dù Condi tiếp tục phát biểu trong lịch làm việc của chiến dịch vận động nhưng cô không trực tiếp tham gia các sự kiện chính trị như cô đã từng làm trong chiến dịch vận động năm 2000, khi cô đang là cố vấn riêng của Tổng thống về chính sách đối ngoại. Tương phản với những lần xuất hiện của cô dạo năm 2000 với khẩu hiệu “W is for Women” và như một diễn giả chính của Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng hoà, cô đã không có mặt tại Hội nghị ở New York năm 2004. “Theo truyền thống và yêu cầu”, Sean McCormick, phát ngôn viên của Hội đồng An ninh quốc gia giải thích, “Cố vấn An ninh quốc gia không tham gia một cách tích cực trong chiến dịch hoặc các sự kiện chính trị”.
 
Hai tuần sau khi Bush giành thắng lợi vào tháng 11-2004, Tổng thống đã phải đưa ra một quyết định có tính thực tế về vị trí cố vấn An ninh quốc gia và việc bổ nhiệm cô làm Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ tiếp theo của ông. Cô có thể vượt qua Colin Powell, người đã tuyên bố rút lui khỏi vị trí trong chính quyền.
 
Trong buổi lễ tuyên thệ tại Nhà Trắng ngày 16-11, hai ngày sau sinh nhật lần thứ 50, Condi hầu như đã rơi lệ khi nghe bài phát biểu của Tổng thống, sự biểu dương chân thành công việc và kiến thức của cô. “Trong bốn năm vừa qua, tôi đã dựa vào sự tư vấn của cô, thu được rất nhiều thuận lợi từ kinh nghiệm phong phú của cô và xin bày tỏ lòng biết ơn sự phục vụ tận tuỵ và sâu sắc”, Bush nói như vậy. “Và bây giờ tôi rất vinh dự tuyên bố rằng cô đã đồng ý tiếp tục phục vụ trong chính quyền mới của tôi, chức vụ Ngoại trưởng Hoa Kỳ là bộ mặt của nước Mỹ trước thế giới. Và với tiến sĩ Rice, thế giới sẽ thấy một ngoại trưởng mạnh mẽ, dũng cảm, lịch sự như đất nước của chúng ta”. Khi nhắc lại thời niên thiếu của Condi ở Birmingham vào thời kỳ bạo lực trong cuộc chiến và quyền dân sự, Bush nói thêm, “Vượt lên tất cả, tiến sĩ Rice có một đức tin sâu sắc và nhẫn nại vào giá trị và quyền lực của tự do, vì rằng cô đã nhìn thấy tự do bị tước bỏ và tự do được tái sinh”.
 
Trong lời đáp của mình, Condi nói rằng sẽ là rất “khiêm tốn” khi nói về thành công của Colin Powell và nếu không đáng giá đúng công lao của ông thì cô không thể làm việc được với ai ở Nhà Trắng. Những lời tiếp theo là đáp từ của cô với những lời khen ngợi của Tổng thống:
 
Xin cám ơn Tổng thống, tôi rất vinh hạnh và may mắn được làm việc cho ngài trong 4 năm qua, đó là thời điểm của các cuộc khủng hoảng, nhưng là thời cơ và quyết định của dân tộc chúng ta. Dưới sự dẫn dắt của ngài, nước Mỹ sẽ chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố. Ngài là Tổng tư lệnh của liên minh, lực lượng đã giải phóng hàng triệu người khỏi thế lực quân sự. Hiện nay liên minh đang giúp đỡ Iraq và Afghanistan xây sựng nền dân chủ ở ngay Trung tâm của thế giới Hồi giáo. Và ngài đã làm việc vì nền thịnh vượng và tiến bộ.
 
Ngay trong ngày hôm đó, Bush đồng thời tuyên bố bổ nhiệm cấp phó của Condi – Stephen Hadley làm cố vấn An ninh quốc gia. Việc bổ nhiệm Condi là một phần trong việc cải tổ bộ máy của Bush sau bầu cử, bao gồm cả việc cho thôi giữ chức của Bộ trưởng Thương mại – Don Evans, Tổng chưởng lý (Tổng thẩm phán) – John Ashcroft, và Bộ trưởng An ninh nội địa – Tom Ridge.
 
Trước khi Condi được bổ nhiệm, trong lịch sử đã có một phụ nữ - Madeleine Albright và một người da màu – Colin Powell được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Rất nhiều quốc gia châu Âu chờ đợi sự tiến bộ trong quan hệ với Hoa Kỳ dưới kỷ nguyên của Condi trên cương vị Ngoại trưởng. Một phóng viên của một tuần báo Đức – Die Zeit nhắc lại rằng quan hệ với Hoa Kỳ dường như sẽ sáng sủa hơn vì nó không thể tệ hơn so với suốt hai năm vừa qua. Eberhard Sandschneider – Giám đốc cơ quan nghiên cứu quan hệ quốc tế của Đức ghi nhận rằng kiến thức của Condi thiên về hàn lâm hơn là một chính khách chuyên nghiệp, đó là điểm mạnh và rằng quan hệ gần gũi của cô với Tổng thống sẽ là một yếu tố rất quan trọng. “Với Powell anh không thể biết liệu quan điểm của ông ta có được Tổng thống chấp nhận không”, Sandschneider nói như vậy, “nhưng nếu tiến sĩ Rice nói ‘x’ thì bạn có thể hiểu là Tổng thống cũng sẽ nói ‘x’”.
 
Khi viết trên tờ The New York Times, Richard Bernstein giải thích rằng châu Âu giữ hai cách nhìn tổng thể về tiềm năng của Condi. “Một là, cô sẽ làm phái cứng rắn mạnh lên”, và một cách nhìn khác, đó là “tư duy lôgic của cô về quan hệ quốc tế, đặc biệt là về Nga và Đức, sẽ tạo ra cả hai yếu tố… Sự hài hoà hoặc ít ra là sự thấu hiểu về quan điểm của châu Âu”.
 
Ngày 19-11, ba ngày sau khi được bổ nhiệm là Ngoại trưởng, Condi đã phải nhập vào bệnh viện Georgetown University ở Washington D.C. để tiến hành phẫu thuật nhỏ cắt bỏ một khối u lành, u xơ tử cung. Cuộc phẫu thuật diễn ra chỉ trong một tiếng rưỡi và cô chỉ phải lưu lại bệnh viện một đêm, chứ không phải nằm viện dài như đa số các phụ nữ khác. Trong quá trình này, bác sĩ phẫu thuật sẽ tiêm những hạt nhỏ vào trong động mạch của tử cung để ngăn không cung cấp máu cho các u xơ nữa. Từ trước tới nay, hầu hết những phụ nữ trải qua giai đoạn chữa trị bệnh này đều phải cắt bỏ tử cùng với một cuộc phẫu thuật phức tạp hơn nhiều, cần phải gây mê và bệnh nhân sẽ cần một thời gian dài để hồi phục lại. Một bác sĩ phẫu thuật tại Boston nói: “Khi có một ai giống bà Rice chọn cách chữa trị này thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều người phụ nữ khác nghe nói về phương pháp này”.
 
Phương pháp gây nghẽn động mạch đã có từ mười năm nay nhưng mỗi năm, chỉ có khoảng từ 13.000 – 14.000 phụ nữ Mỹ chọn phương pháp này trong khi có xấp xỉ 200.000 phụ nữ chọn phương pháp cắt bỏ tử cung. Theo tờ Tin tức hàng ngày New York, “Tiến sĩ Jacob Cynamon, giám đốc viện X-quang tại Trung tâm Y tế Montefiore ở Bronx nói: “Rất nhiều bệnh nhân cho rằng những người mắc bệnh phụ khoa đã không lựa chọn phương pháp ít nguy hiểm hơn này”. Theo ông Cynamon, phương pháp cắt bỏ tử cung từ lâu được coi là cách chữa trị hiệu quả cho những người mắc bệnh phụ khoa.
 
Condi xuất viện sau đó một ngày, và trở về làm việc ngay ngày thứ hai tiếp theo. Cương vị cao của cô khiến thông tin về việc nhập viện của cô tràn ngập trên trang nhất các báo chí khắp thế giới. Điều đó chứng tỏ hiệu ứng quyền lực của một nhân vật nổi tiếng rất được quan tâm, kể cả khi chỉ là một viẹc rất nhỏ của họ.
 
Condi sẽ có rất nhiều lựa chọn khi kết thúc nhiệm kỳ của mình ở Nhà Trắng. Một vài nhà tiên tri còn cho rằng cô hội đủ yếu tố để trở thành ứng cử viên cho chức Tổng thống. “Một nữ ứng cử viên Tổng thống đầu tiên, với cả lợi thế trong Đảng của mình, phải thể hiện kiến thức sâu rộng về quân sự để có thể chiến thắng một cách tự tin trong chiến dịch bầu cử”, nhà khoa học xã hội Camille Paglia nói như vậy. Cô được mô tả là người thường xuyên nhắc lại điệp khúc của một nhóm phụ nữ tung hô Condi mỗi khi cô xuất hiện trên TV – “Người phụ nữ đó phải là Tổng thống”.
 
Ở California cuộc thăm dò vào mùa hè 2002 cho thấy cô là ứng cử viên hàng đầu của Đảng Cộng hoà cho chức Thống đốc bang. Một vài đồng nghiệp gần gũi lại thấy ở cô một cố vấn nhà băng tầm cỡ quốc tế, lĩnh vực của cô đã trải qua khi cô rời Stanford vào năm 1999. DDDối với NFL (Liên đoàn bóng đá Mỹ) thì đó luôn là thú vui của cô như từ ngày nào cô đã đam mê nó. Cương vị cũ của cô là Hiệu trưởng trường Stanford hoàn toàn thuận lợi để cô trở thành vị chủ tịch của trường đại học. Và cánh cửa bước vào khoa khoa học chính trị, nơi cô từng làm việc, luôn rộng mở với cô. Đa số các vị trí đó đều có thể dẫn đến sự quay trở lại công việc quản lý ở các doanh nghiệp lớn, tất cả những nơi cô đã trải qua trước khi cô được bổ nhiệm làm cố vấn an ninh.
 
Condi có thể sẽ đi qua cây cầu đó khi cô quay trở lại. Cô bộc bạch: “Tôi không phải là người có kế hoạch dài hạn tốt. Tôi dự định làm một việc gì đó vào một thời điểm và rồi lại than phiền là đã nhận công việc đó và vẫn làm tốt việc đó”. Dù là cô quyết định thé nào, cô vẫn sẽ quyết định một cách chắc chắn với một lòng nhiệt huyết như nhau và định hướng với cách tiếp cận như đã từng làm bất kỳ việc gì. Condi tâm sự: “Tôi thích tự suy nghĩ một mình cũng như sự sôi nổi trong công việc. Tôi rất say mê âm nhạc và tôi cũng say mê công việc của mình, say mê với gia đình và với sự trung thực của tôi”.
 
Các bạn bè, người quen của cô ở Birmingham, kể cả mọi người ở nhà thờ do ông của cô sáng lập 60 năm về trước, đều đứng bên cạnh cô với từng bước đi của cô trên đường đời. Mục sư Johns nói: “Chúng tôi dõi theo cô ấy như một người ruột thịt của chính mình, chúng tôi tin là cô sẽ bước lên bục cao quyền lực, vì cô là người rất có khả năng. Chúng tôi cầu nguyện cho cô ấy mỗi ngày”.
 
Sự bổ nhiệm cô vào cương vị cố vấn An ninh quốc gia là một sự tôn vinh cả hai: phụ nữ và người da màu sau 9 năm kể từ khi Carol Moseley Braun trở thành người phụ nữ được bầu là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Với cương vị cao ở lĩnh vực chính sách đối ngoại (Colin Powell là người da đen đầu tiên được bổ nhiệm là cố vấn An ninh quốc gia, do Reagan bổ nhiệm), sự vươn lên của Condi vào vị trí này cũng quan trọng như khi Marian Anderson trở thành người da đen đầu tiên trở thnàh thành viên thường lệ của một dàn opera Hoa Kỳ và Jackie Robinson phá bỏ sự kỳ thị màu da trong bóng rổ. Tổ chức NAACP ghi nhận thành công của cô năm 2002 bằng việc trao cho cô phần thưởng năm của Tổng thống. Phần thưởng danh dự này đượ trao cho những người trong hàng ngũ lãnh đạo hoặc ví dụ, một số ít người được thăng tiến. Theo ý kiến của Chủ tịch NAACP – Kweisi Mfume, Condi đã mở ra một lối đi mới bằng cách tạo ra cách thức bước vào sự nghiệp của mình. Ông phát biểu: “Ở đây không có một lối mòn nào để cô đi theo chỉ bởi rằng không có một ai giống như Condoleezza Rice”.
 
Sự nghiệp của Condi đã đi qua một chặng đường dài kể từ lúc cô lần đầu được bổ nhiệm là phó giáo sư, với cương vị mà cô đã gợi mở cho sinh viên hứng thú nghiên cứu về Liên bang Xô Viết trong thời Chiến tranh lạnh. Trong nhiệm kỳ đầu của Bush, cô đã đứng ở tuyến đầu trong hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách, giúp cho tổng thống và Hội đồng an ninh quốc gia vạch ra chính sách mới, hoạch địh bản đồ chính trị châu Âu. Trong nhiệm kỳ này, cô lại đứng ở tuyến đầu của những người vạch chính sách, đưa ra quan điểm của hội đồng và của cô cho tổng thống về chiến tranh chống khủng bố và các cuộc khủng hoảng quốc tế khác. Hơn cả việc chỉ nghiên cứu lịch sử chính trị thế giới, cô đang tham gia sáng tạo ra nó.
 
Công việc của cô trải qua ở nhiều cấp độ khác nhau, cho phép cô tích luỹ kinh nghiệm trong lĩnh vực mà cô đã chọn. Và cô đi đến nhiều nơi trên thế giới, thường xuyên chứng kiến sự đe doạ cộng đồng, cái tạo nên thù hận trong con người. Trong chuyến đi thăm đến bảo tàng Holocaust ở Jerusalem cô đã bị một phóng viên ăn mặc rất chải chuốt xô đẩy, có một đôi trai gái mặc áo lông rất chải chuốt ngược lại với môi trường ảm đạm của Do thái ở Warsaw của họ. Cô nghe các ý kiến khác rằng có vẻ như đội bạn trẻ này quá xa lạ vì dành quá nhiều thời gian cho sự xuất hiện của họ khi cuộc sống của họ ở trong một điều kiện như vậy. “Tôi đã có phản ứng khác”, Condi nói, “Tôi nó ngày, tôi biết tay thợ ảnh đó. Những người đang nói, tôi vẫn kiểm soát được, tôi vẫn giữ được lòng tự trọng. Họ nói: anh chị có thể lấy bất cứ gì của chúng tôi, kể cả cuộc sống của chúng tôi, nhưng chị không thể động đến lòng tự hào của chúng tôi”. Ở điều này, Condi nhìn thấy lòng tự hào và lòng tự trọng mà với nó mẹ của cô luôn giữ được thời ở Birmingham, luôn ăn mặc rất gọn gàng và tóc cắt rất đẹp”.
 
Chuyến công du vòng quanh thế giới đã đem đến cho cô lòng biết ơn Tổ quốc mình, dù vẫn còn các sia sót của nó và sự tiến bộ của xã hội chưa phải là tuyệt vời. Năm 2002, trước một cử toạ, Condi đã nói: “Khi tôi đi công cán với tổng thống vòng quanh thế giới và có điều kiện gặp gỡ với các nhà lãnh đạo ở các nước khác nhau. Tôi nhìn thấy Hoa Kỳ thông qua cặp mắt của nhưng người khác. Tôi nhìn thấy một đất nước vẫn còn phấn đấu cho ý nghĩa đích thực của nền dân chủ đa sắc tộc, rằng hãy còn phải phấn đấu làm sao có chỗ ở và sâu sắc hơn, làm sao để nêu cao tính đa dạng. Nhưng đó là đất nước làm chúng ta ngưỡng mộ vì.. nó đã làm hết sức mình để trở thành tốt hơn. Vẫn còn chưa phải là tuyệt vời nhưng đó là một quãng đường dài, rất dài từ nơi mà chúng ta đã bắt đầu”.
 
Có thể cô đã ở xa Titusville ở phía Tây Nam của Birningham, nhưng Condi không cách xa những người đã từng ở cùng cô khi cô lớn lên ở đó. Cô vẫn phải tiếp tục làm việc hăng say, và có lẽ không có thời gian để chơi đàn, tập luyện đàn piano một cách nghiêm túc (thậm chí ở hội chợ âm nhạc mùa hè ở Montana đã phải huỷ hoặc cắt ngắn vì các công việc ở Nhà Trắng), cô giữ được sự tự tin và hưng phấn vì mọi việc đều tiến về phía trước và ngày càng tốt hơn (cô đã có công việc ở trong Nhà Trắng – nơi từ 10 tuổi cô đã thấy gần gũi) và cô tỏ ra rất mạnh mẽ trong sự chân thành của cô. Cô không có được thách thức tương tự như nhiều trẻ em da đen bị thiệt thòi khác ở Birmingham, nhưng cô biết chia sẻ trong phấn đấu. Những mảng tối của thời kỳ đó như những ngày đầu mùa xuân trong đời cô, thúc đẩy cô đi đến các tìm tòi xa hơn vì sự thômg minh và tài năng của cô. Giống như cha của cô trước kia, cô hiểu rằng nếu không có sự nỗ lực sẽ không có được sự lớn lên một cách mạnh mẽ và giống như ba thế hệ nhà Rices và Rays trước kia, cô tìm sự vinh quang trong nỗ lực đó:
 
Chúng tôi không lựa chọn hoàn cảnh của mình hay là sự phán quyết nhưng chúng tôi lựa chọn cách làm thế nào để chịu trách nhiệm về chúng. Không phải là lúc nào mọi sự cũng đều tốt, chúng tôi ngủ trong sự vui đùa và hài lòng với điều kiện vật chất và lòng tự trọng, trung thực của chúng tôi. Vậy đó chính là suy nghĩ về sự nỗ lực mà chúng tôi đã cố gắng và tự hiểu nó một cách sâu sắc. Đó là cái mà người nô lệ ở Exodus đã học được và đó là cái mà người nô lệ ở Hoa Kỳ nghĩ đến khi họ cất lên bài hát: “Không ai biết được cái phiền muộn mà tôi đã gặp – Vinh quang Hallelujah”.
 
Khi cha mẹ của Condi truyền cho cô niềm tin rằng có thể một ngày nào đó cô sẽ trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, họ đã chuẩn bị cho cô để trở thành một nhân cách, người có thể để lại dấu ấn cho thế giới. Liệu John Rice đã bao giờ tưởng tượng rằng “Ngôi sao bé nhỏ” của ông có một ngày nào đó được tôn vinh là “Người phụ nữ quyền lực nhất thế giới”, hoặc liệu Angelena Rice có dám tin rằng tài năng âm nhạc của mình có thể chơi nhạc ở Trung tâm Kennedy, do chính Tổng thống phu nhân Hoa Kỳ giới thiệu? Họ có lẽ không dám có được sự tưởng tượng đó nhưng cả John và Angelena Rice đã không giới hạn niềm mơ ước của mình về các tài năng của con gái họ.
 
Ở tuổi 50, Condi đã trở thành một người phụ nữ Phục hưng trên sân khấu thế giới, với tài năng không chỉ ở một lĩnh vực, vừa là một nghệ sĩ và viện sĩ, vừa viết sách báo, vừa là hiệu trường đại học, vừa là cố vấn Tổng thống và người kiến tạo chính sách đối ngoại. Không nghi ngờ gì về mọi điều tốt đẹp sẽ đến với cô và thế giới đang dõi theo điều đó.
Đăng nhập để trả lời
0
PHỤ LỤC I
 
 
Các cố vấn an ninh quốc gia
Hoa Kỳ (1950-2005)
 
Stephen Hadley                                       2005 -
Condoleezza Rice                                    2001 - 2005
Samuel L.Berger                                      1997 - 2001
W.Anthony Lake                                     1993 - 1997
Brent Scowcroft                                      1989 - 1993
Colin L.Powell                                        1987 - 1989
Frank C.Carlucci                                     1986 - 1987
John M.Poindexter                                  1985 - 1986
Robert C.McFarlane                                1983 - 1985
William P.Clark                                       1982 - 1983
Richard V.Allen                                      1981 - 1982
Zbigniew Brzezinski                                1977 - 1981
Brent Scowcroft                                      1975 - 1977
Henry A.Kissinger                                   1968 - 1975
Walt W.Rostow                                       1966 - 1968
McGeorge Bundy                                    1961 - 1966
Gordon Gray                                           1958 - 1961
Robert Cutler                                           1957 - 1958
Dillon Anderson                                      1955 - 1956
Robert Cutler                                           1953 - 1955
James L.Lay                                            1950 - 1953
Sidney Souers                                          1947 - 1949
 
 
 
PHỤ LỤC II
 
 
Các sự kiện chính trong
cuộc đời Condoleezza Rice
 
14-11-1954     Sinh tại Birmingham, bang Alabama
1965                Sinh viên da đen đầu tiên thamg gia lớp học âm nhạc (nhạc viện Nam Birmingham)
1969                Chuyển tới Denver, Colorado và tham gia trường học chung lần đầu
1971                Tốt nghiệp trung học, tốt nghiệp năm đầu trường đại học
1974                Tốt nghiệp khoá cum laude của trường Đại học Denver
1975                Nhận bằng thạc sĩ về khoa học nhà nước ở Đại học Notre Dame
1981                Nhận bằng tiến sĩ tại Khoa Quan hệ Quốc tế - Đại học Denver
1981                Phó giáo sư Khoa học Chính trị của Đại học Stanford
1984                Xuất bản cuốn Một liên minh lỏng lẻo: Liên bang Xô Viết và quân đội Tiệp Khắc, 1984 – 1963 (Nhà xuất bản Princeton University)
1986                Xuất bản cuốn Kỷ nguyên Gorbachev (viết chung với Alexander Dallin – Nhà xuất bản Đại học Stanford)
1986 -1987     Trợ lý đặc biệt của Giám đốc Viện Tham mưu liên quân tại Lầu Năm góc (thông qua học bổng của Hội đồng Quan hệ quốc tế)
1987                Phó giáo sư Khoa học Chính trị - Đại học Stanford
1989-1991      Trưởng nhóm nghiên cứu về Liên Xô và Đông Âu trong chính quyền Bush, trợ lý đặc biệt của Tổng thống về an ninh quốc gia và Giám đốc cấp cao về Xô Viết tại Hội đồng an ninh quốc gia
1991                Tham gia Hội đồng Giám đốc Chevron, TransAmerica, Hewlett-Packard
1992                Phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà
5-1993             Giáo sư Đại học Stanford
9-1993             Hiệu trưởng Đại học Stanford
1994                Bầu vào Hội đồng Quỹ của Đại học Notre Dame
1995                Xuất bản cuốn Nước Đức thống nhất và một châu Âu chuyển đổi: Một nghiên cứu về Statecraft (viết cùng Philip Zelikow, Nhà xuất bản Đại học Harvard)
1995                Tham gia Hội đồng Giám đốc J.P.Morgan
1999                Tham gia Hội đồng Giám đốc Charles Schwab
7-1999             Thôi giữ chức Hiệu trưởng Đại học Stanford; Cố vấn về đối ngoại cho chiến dịch tranh cử Tổng thống George W.Bush
2000                Phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà
12-2000           Bổ nhiệm Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống George W.Bush
1-2001             Tuyên thệ nhậm chức Cố vấn An ninh quốc gia
4-2004             Điều trần trước Uỷ ban 11-9
1-2005             Tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
 
 
 
VỀ TÁC GIẢ
 
 
Antonia Felix là một tác giả của 14 cuốn sách viết về người thật việc thật: Tiểu sử Wesley K.Clark; cuốn sách bán chạy nhất trong nước: Laura: Đệ nhất phu nhân, người mẹ đầu tiên của nước Mỹ; Andrea Bocelli: Buổi lễ ra mắt; và Linh hồn câm lặng: Những điều kỳ diệu và bí mật của Audrey Santo. Cô cũng đã biên tập rất nhiều kịch bản phim, gồm: Windtalkers: Làm phim về người khai chiến cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và Trân châu cảng: Phim ảnh và xu hướng. Ngoài sự nghiệp sáng tác, cô còn là một giọng nữ cao biểu diễn opera trên toàn nước Mỹ và châu Âu. Hiện cô đang sống với chồng, Stanford Felix, tại Lawrence, Kansas.
Đăng nhập để trả lời
0