“Tôi nói với các sinh viên của mình rằng: Nếu bạn phát hiện tháy mình ở trong một nhóm bạn bè mà ở đó họ luôn đồng ý với bạn ở tất cả các vấn đề thì bạn đã chọn nhầm nhóm bạn rồi”.
- Condoleezza Rice, 1993
Mùa xuân năm 1991, khi nước Đức hoàn toàn thống nhất, Condi lại được Scowcroft mời tiếp tục làm việc trên cương vị của cô. Lúc đó chiến tranh vùng Vịnh kết thúc vào ngày 1-3, khép lại một chương trong lịch sử của chính quyền Bush. Và Condi quyết định đây chính là thời điểm cô cần rời khỏi Washington để trở về với công việc giảng dạy của mình. Cô không muốn tìm kiếm một cái gì như cô gọi là “công việc của mọi người”, công việc bao trùm hết cả và theo như Scowcroft, cô đã quyết định như vậy là tuân theo “đồng hồ sinh học” của mình. Ở tuổi 36, cô muốn có một khoảng dừng và có gia đình, Condi không khẳng định điều này nhưng nói rằng sự nghiệp giảng dạy của mình choán hết thời gian. Cô nói: “Điều đó không phải là một quyết định dễ dàng, tôi cảm nhận rằng rất khó khăn để theo đuổi sự nghiệp giảng dạy nếu anh ta đã bỏ nó sau hai năm”. Cô thừa nhận tầm quan trọng của cương vị cao trong công việc ở Uỷ ban An ninh quốc gia, nhưng cô cảm thấy cô cần phải cân bằng giữa công việc giảng dạy và hoạt động xã hội. Cô nhớ lại: “Chúng ta quả là may mắn vì ở Hoa Kỳ chúng ta có thể tự do lựa chọn công việc, nhưng tôi cho rằng đối với cá nhân tôi thì công việc giảng dạy là hàng đầu, điều đó có nghĩa là tôi muốn giữ lại một vài sự nhất quán và thống nhất trong công việc”. Thực tế là cô đã cảm thấy khó khăn với các sinh viên năm cuối sau hai năm không tham gia giảng dạy. Cô nói: “Tôi cố gắng giữ mọi việc cho tốt với sinh viên năm cuối nhưng quả là có khó khăn, bạn không thể rời công việc của mình một khoảng thời gian quá dài”.[/align]
Khả năng có thể ở lại làm việc trong Uỷ ban An ninh thêm hai năm nữa có nghĩa là lại tiếp tục làm việc 14 giờ/ngày và không có thời gian cho các việc riêng tư khác để cân bằng trong cuộc sống. Condi nhấn mạnh: “Tôi muốn có một cuộc sống bình thường”. Cô cảm nhận rằng cô quá may mắn đa được làm việc trong Uỷ ban An ninh quốc gia trong một thời điểm lịch sử sôi động nhất trong lịch sử chính trị châu Âu và bây giờ là thời điểm để quay trở lại cái mình say mê trong công việc giảng dạy, nghiên cứu và được tiếp tục chơi piano. Cô đã lao động hăng say trong sự nghiệp giảng dạy và không cho rằng sẽ mạo hiểm từ bỏ nó vì một công việc khác. “Khi thời gian tới và tôi được đề nghị ở lại, tôi nghĩ tôi chưa sẵn sàng để quyết định điều đó. Đó là một công việc đòi hỏi rất cao. Sức ép thực sự đối với công việc trong Nhà Trắng là ở chỗ họ chỉ có một tốp nhỏ rất ít người cho một khối lượng công việc rất lớn. Tất cả có 40 người trong danh sách của Uỷ ban, đó quả là một công việc vắt kiệt sức người”.
Condi rời khỏi cương vị giảng dạy của mình khi vụ Watergate xảy ra và trở lại bờ Tây, trở lại với công việc giảng dạy để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với sinh viên. Các kinh nghiệm thực tế mang lại cho cô rất nhiều điều để truyền đạt, kể cả “các công việc hậu trường” của các sự kiện. Khi lên lớp cô bao giờ cũng nhấn mạnh yếu tố con người trong quan hệ quốc tế. Thái độ, động cơ và các mối quan hệ, đó là các mẩu chuyện mà cô có thể mang một số trong đó ra để kể lại với sinh viên hàng giờ như những thể nghiệm đầu tiên. Khi trở về Stanford cô nói: “Tôi luôn cố gắng truyền đạt một số ví dụ trong việc đưa ra quyết định trong chính trị. Tôi nghĩ tôi có điều kiện tốt hơn, điều quan trọng là biết mọi người thực sự suy nghĩ về cái gì… Tôi nghĩ tôi có thể đưa ra một số triển vọng phát triển của các sự kiện xuất phát từ các kinh nghiệm thực tế”.
Khi cô rời Washington vào tháng 3-1991, Condi không thể ngờ rằng các sự kiện ở Liên Xô lại diễn ra nhanh như vậy. Tuần đầu tiên khi trở về Stanford, cô đã nói: “Các sự kiện ở Liên Xô sẽ diễn ra rất nhanh. Điều đó không như người ta đang nghĩ ở Washington, tôi có thể nhìn thấy các vấn đề cốt tử ở Liên Xô sẽ được đặt ra ngay trong giai đoạn này”. Tuy vậy, cũng như mọi người khác, cô đã rất bất ngờ khi cả một hệ thống Xô Viết sụp đổ trước khi kết thúc năm. Trong một bài phát biểu trước đám đông vào tháng 12, cô mô tả các biến đổi sâu sắc của thế giới kể từ khi cô là một nhà nghiên cứu chính trị ở Đại học Denver: “Tất cả suy đoán của tôi khi khởi đầu từ một sinh viên khoa quan hệ quốc tế quả là không đứng vững, suy đoán cũ là châu Âu bị phân rã, cuộc đối đầu Đông, Tây là đặc trưng của hệ thống quốc tế, rằng lực lượng Xô Viết sẽ đứng vững ở Đông Âu… đã không đứng được lâu. Sức mạnh to lớn của Liên bang Xô Viết đã sụp đổ”.
Một khi cô đã quyết định quay trở lại, Condi lại bắt đầu viết báo và sách, các bài báo của cô xuất hiện trên tạp chí Time vào tháng 9-1991. Bốn tuần trước đó, một nhóm các đảng viên cộng sản theo đường lối cứng rắn đã gây ra cuộc đảo chính ở Matxcơva, cố gắng loại bỏ gorbachev ra khỏi chính quyền vì ông đã ký các hiệp ước tạo điều kiện cho các nước cộng hoà ly khai Liên Xô, nhưng phe đối lập với sự tài trợ của một lực lượng quân sự đã làm cuộc đảo chính thất bại. Các bài báo cảu Condi như bài: “Một đội quân mới vì đất nước mới” đã nêu các vấn đề vai trò quân sự trong cuộc đảo chính và vai trò của Gorbachev như một lãnh tụ của nước Nga không cộng sản. Condi viết: “Quân đội Liên Xô có vai trò trung lập với các lực lượng dân chủ của Liên Xô. Nếu điều đó xảy ra thì các thay đổi về con người không đủ, sự ổn định dân chủ cần một thể chế mạnh chứ không chỉ là các quan hệ bị lôi cuốn bởi con người”.
Cô đã xuất hiện trước một cử toạ khác, ba tháng sau đó với sự xuất hiện lần thứ hai của cô tại Câu lạc bộ sức khỏ nơi cô đã có bài phát biểu với chủ đề: “Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh: Thách thức với nền chính trị Hoa Kỳ”. Giống như bài phát biểu của cô lần trước, bài phát biểu lần này được phát đi trực tiếp qua đài phát thanh và là một phàn của chương trình “Bữa trưa ngày thứ sau”. Trong bài phát biểu lần này, được diễn ra ở khách sạn St.Francis ở San Francisco vào ngày 13-12-1991, Condi đã nêu các vấn đề, các thách thức đối với Liên bang Xô Viết, mà từ đó đất nước này sẽ bước vào nền kinh tế thị trường với sự bất ổn về chính trị. Cô chia sẻ các nhận định từ kinh nghiệm của mình qua hai năm làm việc cho chính quyền Bush, kể cả một chân dung hào nhoáng về Gorbachev và các cộng sự của ông. Có một người đã ra câu hỏi, sau khi nghe bài phát biểu của cô, yêu cầu cô giải thích sự khác nhau giữa cái nhìn của Gorbachev với thế giới như một lãnh tụ thúc đẩy sự sụp đổ của Liên Xô và cách nhìn nhận của những người dân Xô Viết khác, những người lên án ông vì đã làm tình hình tồi tệ hơn. Cô trả lời:
Mọi người dân Xô Viết gắn Gorbachev với các thất bại của chính sách đối nội. Nếu bây giờ họ phải đứng xếp hàng lâu hơn 3, 4 lần so với trước kia thì đó là vì Gorbachev. Điều chưa đầy đủ trong sự phân tích này đó là tất cả điều đó nảy sinh từ thời Breznhev. Gorbachev không hiểu sâu sắc các vấn đề kinh tế một cách đầy đủ khi ông lên nắm quyền. Ông cố gắng rút ngắn các quá trình, đẩy cao tính hiệu quả và bỗng một ngày ông nhận ra rằng toàn bộ hệ thống là sai lầm. Ông cố gắng thay đổi nó nhưng không đủ dũng khí để bước vào nền kinh tế thị trường và do vậy có lẽ ông lựa chọn giải pháp nửa vời. Sai lầm của ông đến từ khía cạnh xã hội của chính sách cải tổ làm cho nền kinh tế Nga hỗn loạn. Vậy nếu bạn muốn làm rõ thì người Nga sẽ nói rằng họ hiểu rằng ông là cha đẻ của cái gì đó quan trọng. Họ đòi hỏi ở ông đơn giản một điều: Ông sẽ làm gì cho họ tiếp theo?
Trong 8 năm đầu làm việc ở Stanford, Condi đã viết 15 bài báo đăng trên các tạp chí hoặc trên các cuốn sách lịch sử quan hệ đối ngoại Xô Viết. Trong 6 năm tiếp theo, sau khi cô trở lại trường từ Washington, cô đã cho công bố thêm 5 bài báo và là đồng tác giả cuốn sách thứ ba Nước Đức thống nhất và một châu Âu chuyển đổi: Một nghiên cứu trong nhà nước truyền thống.
Condi đồng thời tham gia các công việc dịch vụ công, trong đó có một số công việc thuộc về mảng tư vấn cho Thống đốc bang về tái lập một số quận của California năm 1991. Cô có sự quen biết với Thống đốc mới được bầu – Pete Wilson, người mà sau khi trúng cử vào năm 1990, đã đưa Condi vào danh sách một số ít người ông sẽ đưa vào ứng cử ghế Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ do ông sẽ không tham gia vào năm đó. Ngập sâu vào các công việc ở Washington, Condi nói với ông rằng cô không muốn quan tâm và sau đó cô nói với báo chí rằng cô không nghĩ là sẽ chấp nhận sự bổ nhiệm. Wilson bổ nhiệm Thượng nghị sĩ California – John Seymour vào ghế Thượng nghị sĩ. Như một thành viên trong đội ngũ tư vấn cho Wilson vào năm 1991, Condi chia sẻ các ý tưởng về tái cơ cấu hội đồng, thượng viện và hạ viện của các khu vực.
Một lĩnh vực khác trong công việc nhà nước đã lôi kéo Condi đi theo một chuyến công tác kéo dài vài tuần nhưng có tác dụng giúp cô nhớ lại các chủ đề về quốc phòng. Năm 1997, cô đã được bổ nhiệm tham gia Uỷ ban Cố vấn liên bang về đào tạo phối hợp trong lĩnh vực quốc phòng, một uỷ ban do Bộ trưởng Quốc phòng – William S.Cohen thiết lập. Mười một thành viên trong nhóm dân sự, trong đó có một đô đốc đã về hưu và ba vị tướng đã về hưu khác, họ thường xuyên gặp hàng trăm nhân vật trong lĩnh vực quốc phòng trong một ý tưởng để “can thiệp vào các chương trình huấn luyện của quân đội, hải quân và không quân, lính thuỷ đánh bộ và đưa ra các khuyến cáo cách thức tốt nhất để huấn luyện phối hợp các lực lượng tình nguyện, bảo đảm rằng họ có kỷ luật, hành động có hiệu quả với tính sẵn sàng cao”. Uỷ ban đưa ra một danh sách dài các khuyến cáo, bao gồm cả phát triển việc huấn luyện các hạ sĩ quan, cảnh sát vũ trang, các khuyến các về tình trạng lạm dụng tình dục, đưa ra các dịch vụ riêng rẽ cho nam, nữ và thuê nhiều hơn các huấn luyện viên nữ.
Sử dụng tối đa kiến thức trong hệ thống quốc phòng, các đề xuất của Condi đại hiện cho một thế hệ mới và một chương trình tăng cường cho sinh viên sau đại học do cô làm đồng sáng lập. Chương trình dành riêng cho trường Ravenswood ở quận Đông Palo Alto. Ý tưởng xuất hiện trong một buổi ăn tối với cha, khi ông trở về California sau cái chết của bà Angelena. Lúc đó ông đã thôi các chức vụ ở trờng Đại học Denver, ông đã lấy một người vợ mới, bà Clara Bailey Rice. Bà là giám thị của trường Trung học Menlo Oaks. Bà nhớ lại: “Hôm đó Condi tới thăm và phát biểu tại lễ tốt nghiệp ở trường của tôi, tôi đề nghị Condi nói về các công việc và suy nghĩ của sinh viên ra trường và cô đã thực sự gây ấn tượng với các sinh viên khi tham gia các công việc và tạo nên các hình tượng rất đẹp. Cô đã hỏi tôi là quận có giúp gì cho thành công của các sinh viên không?”.
John có tham gia tư vấn một vài việc ở Stanford và trường của Clara. Giống như Condi, ông quan tâm đến các sinh viên của trường Menlo Oaks. Ông tham gia công việc này để nâng cao chất lượng giáo dục và môi trường giáo dục của trường. “Anh ta rõ ràng không thích cách mà người ta bài trí ở khu vực dành cho trẻ em vui chơi”, Clara nói, “vì vậy, anh ta yêu cầu mọi người đi xa hơn và sửa lại khu vực trò chơi”. Bà Clara trẻ hơn ông tới 17 tuổi, họ gặp nhau khi cùng tham gia các công việc tự nguyện ở nhà trường và họ sớm nhận ra rằng họ có nhiều bạn bè chung từ hồi ở Birmingham. Trước khi trở thành một giám thị, Clara từng là giáo viên dạy toán và khoa học của một trường trung học. Họ cưới nhau vào tháng 7-1989.
Dù John đã nghỉ hưu, nhưng uy tín của ông ở California vẫn cao. Một trong những công việc xã hội của ông là một vị trí trong Hội đồng thành phố về các vấn đề trường họ do Thống đốc Pete Wilson lập ra. Kinh nghiệm lâu năm trong nghề dạy học được đánh giá cao vào năm 1995, khi ông nhận được phần thưởng “huyền thoại sống” của liên minh các trường đại học da đen. Năm đó, ông cũng nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Daniel Hale, thành phố Chicago, từ đó người ta thường gọi ông là tiến sĩ Rice.
Condi nhận ra rằng trường Ravenswood có một quỹ rất tốt cho người học co thu nhập thấp, nhưng không giúp gì được cho học sinh của trường. Không một sinh viên nào của trường vào được trường Stanford, một trường nằm cách đó có 5 phút đi bộ. Clara nhớ lại: “Cả ba chúng tôi – John, Condi và tôi trong một bữa ăn tối đều có chung một ý nghĩ cần lập một trung tâm đào tạo sau khi tốt nghiệp cho học sinh”.
Trung tâm vì thế hệ mới được lập ở trường của Clara, đã mở để đón các học sinh lớp 8 có kết quả học tập tốt, có kết quả ít nhất là C+ và được giáo viên chủ nhiệm đề cử. Ở Trung tâm, họ được học ngaọi ngữ, tin học và phụ đạo về toán, do các sinh viên ở trường Stanford được John cử sang dạy. John tuy đã nghỉ nhưng dành hết tâm lực cho trung tâm. John lập ra một ban nhạc, sắm nhạc cụ và đồng phục cho ban nhạc. Ông còn chuẩn bị cả xe ca để đưa ban nhạc đến các trường của quận, còn hô hào các nhà tài trợ cung cấp lương thực, thực phẩm cho ban nhạc.
Condi chính là nhà đồng sáng lập ra trung tâm cùng Susan Ford, một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh và y tế, đồng thời là Giám đốc của quỹ Sand Hill. Chương trình thu hút 100 đến 120 sinh viên tham gia trong năm học và dịp hè thì có 150 sinh viên tham gia. Họ thiết lập mối quan hệ chính thức với Stanford, nơi cung cấp các sinh viên tình nguyện cũng như các giảng viên. John tổ chức một nhóm các nhà tư vấn giáo dục ở trường để giúp các sinh viên khi chúng đã bước vào trường Trung học và khẳng định chúng sẽ được trợ giúp và động viên để có thể kết thúc khoá học.
John chỉ cho Condi thấy cách hoạt động này có hiệu quả thế nào, đó là kinh nghiệm thời trẻ của ông ở Birmingham. Trung tâm vì thế hệ trẻ hoạt động rất hiệu quả, chỉ trong vài năm đã có hai trong số học sinh tốt nghiệp thi đỗ vào trường Stanford, còn một số khác thi đỗ vào các trường đại học khác. Năm 1996, công việc nghiên cứu của Condi ở Stanford hạn chế, cô dành nhiều thời gian cho Trung tâm và kiểm soát hoạt động của nó. Trong thời gian đó, cô có gặp nhóm Boys & Girls Club của Peninsula để bàn công việc. Năm 1998, Condi và Susan Ford đã được tằng bằng danh dự vì tổ chức “trợ giúp đặc biệt cho trẻ em và thanh niên”. Tại một bữa ăn tối dành cho các công dân danh dự cho thành phố, theo lời yêu cầu của cha, một ban nhạc từ Trung tâm vì thế hệ mới đã chơi nhạc chào mừng khách.
Lũ trẻ ở trung tâm đã trở thành các thành viên của gia đình và công việc ở đó là một phần quan trọng trong cuộc đời cô. Có lần cô nói với cha: “Đó là lũ trẻ của con, chúng có 125 đứa tất cả”. Đem đến cho lũ trẻ các điều kiện tốt là ý nguyện của Condi. “Tôi chưa bao giờ đi xa khỏi trường, đa số các công việc ngoài giờ của tôi là cố gắng đem đén cho lũ trẻ các cơ hội”. Bà dì Connie Ray của cô nói rằng sự tận tâm của Condi là xuất phát từ triết lý sống: “Condoleezza luôn luôn cảm thấy rằng phải trở thành một nhân cách hoàn hảo để hiến dâng cho công việc”.
Công việc của Condi với trẻ em ở Đông Palo Alto rất cần vai trò của cô và dù cô chưa bao giờ từ chối một việc gì, cô hy vọng lũ trẻ sẽ không coi trọng giới tính và màu da trong công việc. Cô cho rằng: “Tôi không bao giờ thừa nhận rằng anh phải tìm ai đó có cùng khả năng giống như anh, đủ cho công việc có thẻ trôi chảy”. Vào năm 2000, đại hội Đảng Cộng hoà đã chiếu một đoạn phim video về Trung tâm vì thế hệ mới.
Một nhóm hoạt động khác của California cũng đã ghi nhận vai trò của Condi, đó là Hội nghị các nữ Luật sư. Năm 1992, họ bầu Condi là “Người phụ nữ của năm”, sự công nhận này là do các đóng góp của cô trong chính quyền Bush và các cơ quan nhà nước mà cô đã tham gia: “Tiến sĩ Rice đã tham gia vào các công việc có tính lịch sử. Condoleezza là tấm gương mà mỗi một phụ nữ cần phải noi theo: trí thức, rõ ràng, tinh thần trách nhiệm cao. Cô là một mẫu phụ nữ trẻ xuất sắc”, Thượng nghị sĩ Becky Morgan đã nói như vậy khi đề cử cô nhận giải thưởng của năm.
Kinh nghiệm của Condi khi làm việc ở Washington đem lại cho cô nhiều khả năng trong lĩnh vực báo chí trong hoạt động của Đảng Cộng hoà và bước vào hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách đối ngoại hàng đầu của Hoa Kỳ. Có rất nhiều ví dụ về đánh giá này: năm 1991, sự xuất hiện của cô trên truyền hình như một cố vấn về vấn đề Xô Viết của ABC News tạo cho cô vai trò như một ngôi sao truyền hình. Năm 1992, cô có bài phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hoà ở Houston, nơi Tổng thống Bush được chỉ định tái ứng cử chức tổng thống và liên danh với Pat Buchanan.
Chính sách đối ngoại của cô được mở rộng khi cô trở thành thành viên Câu lạc bộ Lincohn ở Bắc California, thuộc Hiệp hội Khoa học chính trị Hoa Kỳ và trường Đại học Aspen, nơi cô tham gia các hoạt động từ năm 1991 đến năm 1995. Nhóm nghiên cứu Aspen tập trung vào chủ đề: “Vai trò của Hoa Kỳ thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, quan hệ Hoa Kỳ - Nga và các sáng kiến phòng thủ chiến lược”. Cấp trên cũ của cô ở Nhà Trắng, Brent Scowcroft, đồng thời là đồng chủ tịch của nhóm từ năm 1984.
Tại trường Stanford, cô quay trở lại vai trò hành chính trong việc tìm kiếm vị huấn luyện viên bóng đá cho đội của trường, là giám thị và chủ tịch của trường vào năm 1991. Những năm sau đó, cô tham gia Ban giám hiệu, Hội phụ nữ của trường và Hội đồng chính sách, kế hoạch của trường.
Kết quả giai đoạn làm việc tại Nhà Trắng và các công việc ở Đảng Cộng hoà là những bước phát triển rất quan trọng của Condi, đồng thời là cơ sở để cô bước vào các hoạt động doanh nghiệp. Các vị giám đốc được lựa chọn trên cơ sở những kinh nghiệm của họ và đồng thời họ được ghi nhận là các giám đốc chuyên nghiệp, những người có năng lực hoạt động tốt ở các doanh nghiệp và sẽ hoà đồng tốt với các thành viên khác của hội đồng.
Những người đã từng làm việc trong các cơ quan nhà nước rất thích hợp với các vị trí trong các Hội đồng quản trị, do cách họ giữ được các mối quan hệ ở Washington. Giống như đa số các phụ nữ tham gia các Hội đồng quản trị công ty, Condi tới Công ty Chevron, TransAmerica, Hewlett-Packard và các công ty khác với các kiến thức cơ bản rất khác nhau giống như các nam đồng nghiệp da trắng khác. Albert A.Cannella, Jr., giáo sư của trường Đại học kinh doanh A&M tại bang Texas đã phân tích sự khác nhau giữa số phụ nữ và năm giới da trắng theo cách truyền thống là những người nổi bật trong công ty, trọng khi có một rào cản vô hình ngăn cản các đồng nghiệp nữ. Ông thấy: “Các đồng nghiệp nam thăng tiến trong các công ty, nhưng các đồng nghiệp nữ lại không có được sự thăng tiến như vậy, càng khó hơn, nếu đó là các nghề nghiệp liên quan đến cơ quan luật pháp, cơ quan nhà nước và các công việc giảng dạy, kể cả khi đã có học hàm tiến sĩ”. Với học vị và kinh nghiệm làm việc cả ở Nhà Trắng và các trường đại học, Condi có cơ hội và điều kiện rất tốt để ứng cử vào các cương vị lãnh đạo doanh nghiệp và giữ được uy tín cao trong quan hệ ở Washington. Tiến sĩ Cannella nói: “Cô có quan hệ rất tốt, cô biết nhiều người trong chính quyền và điều đó là quan trọng đối với các doanh nghiệp lớn”. Trên thực tế, những người đã có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan nhà nước là rất cần cho ban lãnh đạo các doanh nghiệp vì họ phải tuân theo rất nhiều luật lệ do chính phủ nhà nước ban hành.
Trong một nghiên cứu của mình, tiến sĩ Cannella đã giải thích sự khác nhau giữa các thành viên lãnh đạo là nam và nữ. Ông lý giải rằng các doanh nghiệp tìm kiếm thành viên lãnh đạo từ bên ngoài, những chuyên gia trong kinh doanh, các nhân vật có trợ giúp đặc biệt hoặc những người có quan hệ xã hội rộng rãi. Condi đáp ứng loại thứ ba, người có thể đưa ra các giải pháp ngoài kinh doanh các ý tưởng như một chuyên gia và có quan hệ tốt với các nhân vật thế lực trong xã hội. “Các thành viên như thế thường là các chính khách, các viện sĩ, các giáo sĩ hoặc các lãnh tụ hoạt động xã hội. Trong khi loại thứ nhất, các chuyên gia về kinh doanh thường là nữ hoặc các giáo sư từ các học viện hoặc các nhân vật hoạt động xã hội. Trong số họ, một tỷ lệ lớn có học vị tiến sĩ, 56% trong số nữ giám đốc da đen có học vị tiến sĩ thì chỉ có 19% trong số giám đốc là nam da trắng có học vị cao (ví dụ: Tổng giám đốc Chevron – ông David J.O’Reilly là cử nhân, kỹ sư hoá).
Một phần khác trong nghiên cứu của Cannella là yếu tố chỉ ra rằng phụ nữ và thiểu số da màu có xu hướng chỉ làm thành viên của một hội đồng, không giống như đa số các đàn ông da trắng, những người thường cùng lúc đảm nhận cượng ở nhiều nơi. Điều này là đúng cho cả Condi và thành viên Hội đồng Chevron sau cô – Carla Hills. Giống như Condi, Carla trở thành uỷ viên Hội đồng với kinh nghiệm ở các cơ quan nhà nước, kể cả thời gian làm việc trong các cơ quan cấp cao của chính quyền Bush như đại diện thương mại Hoa Kỳ (trong khi Condi lúc đó đang làm việc cho Uỷ ban An ninh quốc gia). Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Ford, cô là thư ký về vấn đề nhà ở và phát triển đô thị, cô đồng thời là trợ lý pháp lý của quận ở Los Angeles.
Condi tham gia vào Hội đồng Giám đốc của Công ty Chevron, một công ty đa quốc gia về năng lượng, dầu khí, có hoạt động ở 25 quốc gia, ngay khi cô vừa trở về Stanford vào năm 1991. Kinh nghiệm của cô với cương vị là chuyên gia về Xô Viết đã phát huy tác dụng cho quyền lợi dầu khí của Công ty Chevron ở Kazakhstan. Cô làm việc rất hăng say với kế hoạch xây dựng một đường ống dẫn dầu từ bể dầu Tengiz đi xuyên qua miền Nam nước Nga đến một hải cảng ở Biển Đen.
Giống như một đồng nghiệp của cô ở Viện Hoover – George Shultz, người đã làm việc như giám đốc của Chevron trước khi Condi đến công ty. Condi được trả thêm so với lương của cô ở Stanford từ Công ty Chevron là 35.000 đôla/năm tiền lương và 1.500 đôla cho mỗi lần dự họp các uỷ ban và hội đồng. Vào năm thứ 10 cô làm cho công ty, cô có 3.000 cổ phần ở Công ty Chevron với giá trị 241.000 đôla. Cũng giống như Shultz, tên của cô được đặt cho một tàu chở dầu, đó là con tàu 136.000 tấn SS Condoleezza Rice.
Condi làm việc cho dự án dầu của Chevron ở Kazakhstan – Đây là một sự án đầu tư về xăn dầu lớn nhât sở nước ngoài của Hoa Kỳ. Dự án này xây dựng ở Kazakhstan 935 dặm đường ống dẫn dầu, một tổ hợp đường ống dẫn qua biển Caspian do tập đoàn đường ống Caspian trợ giúp bắt đầu từ năm 1999 và thùng dầu đầu tiên từ bể dầu Tengiz đã chảy vào thùng dầu tại cảng Novorossiysk vào tháng 11-2001. Theo một thông cáo báo chí của Nhà Trắng tháng đó thì công ty này là “lớn nhất, độc quyền dầu tư của Hoa Kỳ vào Nga” và Công ty dầu lửa Hoa Kỳ - Chevron và Exson, trả khoảng một nửa chi phí của gói 2,6 tỷ đôla này cho đường ống dẫn dầu.
Gần một thập kỷ làm việc với Chevron đã có thể kết thúc, cô tham gia chính quyền Bush. Không chỉ làm cho các công ty cổ phần dầu mỏ ở Trung Cận Đông, Nam Á và châu Phi có các xung đột quyền lợi mà công ty Chevron còn bị vướng vào các scandal về pháp luật, về quyền con người ở Nigeria. Công ty đã chi thêm cho cảnh sát quân sự Nigeria trong việc đàn áp biểu tình chống lại sự khai thác ở khu lưu vực quốc gia, nơi có rất nhiều dầu mỏ được phát hiện.
Condi phục vụ trên cương vị uỷ viên Uỷ ban quan hệ công chúng của Chevron, nơi có trách nhiệm giải quyết các vấn đề về xã hội, chính trị và môi trường của công ty cả trong và ngoài nước. Khi sự tham gia của Condi với Chevron đang đi lên thì bắt đầu chiến dịch tranh cử năm 2000, một phóng viên truyền hình phỏng vấn cô về mối quân hệ với George Bush với công ty dầu mỏ. Cô trả lời: “Công ty dầu mỏ Mỹ là quan trọng đối với sự an ninh của chúng ta, nó đem lại sự ổn định cho chúng ta từ bên ngoài, kể cả ở trong nước Mỹ và đem lại an ninh năng lượng cho Hoa Kỳ”.
Việc công ty Chevron bị phản ứng vì các hoạt động môi trường ở châu Phi chưa bị đài phát thanh nhắc tới, nhưng Condi ca ngợi chính sách của Chevron ở Hoa Kỳ. “Công ty dầu mỏ từ lâu đã có chính sách về bảo vệ môi trường, họ là các công dân tốt. Chúng ta không thể sống thiếu dầu mỏ và chúng ta cần có các công ty dầu mỏ của Hoa Kỳ. Tôi tự hào được làm việc với Chevron… và tôi nghĩ chúng ta phải tự hào vì có công ty dầu mỏ của Hoa Kỳ khai thác ở nước ngoài và do đó mang lại an ninh năng lượng cho chúng ta”.
Condi thôi không làm cho Công ty Chevron vào 15-1-2001, sau khi được bổ nhiệm là Cố vấn An ninh quốc gia cho Tổng thống Bush (con). Ba tháng sau đó, trong lucd đang có cuộc khủng hoảng năng lượng ở California, Chevron thay đổi tên con tàu chở dầu vẫn mang tên cô. Như một bài báo trên tờ San Francisco Chronicle, con tàu là một trong số các yếu tố bộc lộ quan hệ của chính quyền Bush với các công ty dầu mỏ và “Nhà Trắng phải đối diện với câu hỏi về tên của con tàu”. Chervon không có lời bình phẩm nào theo yêu cầu của Nhà Trắng nhưng người phát ngôn của công ty, Fred Gorell, nói: “Chúng tôi phải thay đổi để hạn chế sự chú ý không cần thiết”. Con tàu bây giờ mang tên Altair Voyager.
Các kinh nghiệm của Condi ở Chevron – nơi có mặt rất nhiều quan chức chính phủ, cả đàn ông và phụ nữ bị phê phán vì sự liên minh với công ty, có thể gây nên sự đối lập về quyền lợi. Ví dụ khi Hillary Clinton tham gia Thượng nghị sĩ người ta lại nhớ đến sự tham gia của bà với Wal-Mart, công ty lớn nhất của Arkasas, như người đàn bà số 1 ở Arkasas, bà trở thành Uỷ viên Hội đồng giám đốc công ty và báo chí gọi chính sách không có công đoàn ở Wal-Mart gắn liền với sự ủng hộ của Hillary và rằng khẩu hiệu “Mua hàng của Mỹ” của họ cứng nhắc như Wal-Marrt nhập nhiều hàng ngoại hơn bất kỳ công ty Hoa Kỳ nào khác.
Chevron là công ty mà Condi tham gia công việc của Hội đồng giám đốc đầu tiên, kể từ năm 1990. Vào năm 1991, cô trở thành Giám đốc của công ty TransAmerica, một công ty bảo hiểm lớn, đóng tại San Francisco, trụ sở của nó đóng trong toà nhà hình Kin tự tháp nổi tiếng (chính vào tháng 5-2002, khi đang là Cố vấn An ninh quốc gia, Condi đã cảnh báo rằng toà nhà của TransAmerica cùng với tượng Nữ thần Tự do và toà tháp Empire State có thể sẽ là mục tiêu khủng bố). So sánh với thời gian làm việc ở Chevron, cô phục vụ ở Hội đồng Giám đốc của TransAmerica 10 năm. TransAmerica là công ty bảo hiểm nhân thọ lớn thứ 6 ở Hoa Kỳ, nó đồng thời cung cấp cả dịch vụ tài chính và quản lý tài sản. Năm 1999, khi Condi rời Hội đồng, TransAmerica bị một công ty của Hà Lan (Aegon N.V) mua lại. Cô tiếp tục làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính với vai trò là thành viên Hội đồng Giám đốc của công ty Charles Schwab Corp. Vào các năm sau đó, cô quay lại công việ kinh doanh cùng thời với George Shultz, người đã tham gia vào công ty này từ hai năm trước. Cô và Shultz cùng làm trong bộ phận bảo hiểm khách hàng và dịch vụ hoán đổi.
Năm 1995, Condi tham gia Hội đồng tư vấn của một công ty tài chính khác – công ty J.P.Morgan, một công ty có lịch sử 140 năm đầu tư vào ngân hàng với 30 triệu khách hàng là các thể nhân, các tổ chức và các chính khách. Hội đồng này do Shultz đứng đầu, họ gặp nhau 8 tháng một lần để tư vấn cho công ty. Vị trí công tác này tạo điều kiện cho cô tiếp xúc với rất nhiều nhân vật quốc tế quan trọng, từ một quan chức cấp cao ở Singapore đến cựu Bộ trưởng tài chính Saudi và tổng giám đốc các công ty đến từ Nam Phi, Brazil, Japan và Mexico.
Công ty Hewlett-Packard có trụ sở đặt cạnh trường Stanford ở Palo Alto, được sáng lập bởi hai kỹ sư vốn là sinh viên cũ của trường Stanford, công ty là một bộ phận của thung lũng Silicom – công nghệ mới. Condi tham gia Hội đồng Giám đốc của công ty này voà năm 1991 và phục vụ ở đó hai năm, trở thành một người tin cậy của công ty, rất gần gũi với trường Stanford.
Ngoài việc tham gia các hội đồng quản trị doanh nghiệp, Condi còn được trao trọng trách là Giám đốc một Quỹ từ thiện lớn và nhóm nghiên cứu chính sách. Từ năm 1994 đến năm 1997, cô là uỷ viên quản trị của Công ty Carnegie, một trong các tổ chức từ thiện lâu đời nhất, có mục đích hướng vào công tác giáo dục và an ninh quốc tế. Trong thời gian làm việc cho Carnegie, cô phục vụ cho Hội đồng tư vấn mà trong đó có cả các nhân vật nổi tiếng như Jimmy Carter, Robert S.McNamara, Desmond Tutu và Mikhail Gorbachev. Hội đồng này có 16 thành viên, mục tiêu công việc của họ bao gồm cả nghiên cứu phương pháp để giải trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân. Báo cáo của họ với tiêu đề “vạch trần toàn bộ các chất phân hạch: một sáng kiến được đưa ra” đã được đệ trình vào năm 1995. Như một thành viên Hội đồng tư vấn, Condi đóng góp nhiều ý kiến dựa trên các kinh nghiệm của cô trong vấn đề vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô.
Đây không phải là kinh nghiệm làm việc đầu tiên của cô ở Carnegie. Năm 1988 và 1989, cô đã phục vụ trong Hội đồng quản trị của tổ chức Carnegie Endowment về hoà bình. Tổ chức nghiên cứu này được mô tả “như một cơ quan tư vấn về ngoại giao cổ nhất ở Hoa Kỳ”, nó nghiên cứu các mối quan hệ giữa nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và xã hội, và thông qua tổ chức này ở Matxcơva tập trung nghiên cứu quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ.
Từ năm 1992 đến năm 1997, Condi tham gia Hội đồng Giám đốc công ty RAND, một tổ chức nghiên cứu xã hội nơi cô làm việc vào mùa hè. Đây là tổ chức đầu tiên của Hoa Kỳ được gọi là “Một cỗ máy ý tưởng”, RAND mở rộng mục tiêu nghiên cứu ra lĩnh vực công nghệ quốc phòng, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, nền kinh tế thế giới và các chủ đề khác. Brent Scowcroft cũng tham gia Hội đồng này cùng thời gian với Condi.
Năm 1997, cô tham gia Hội đồng Giám đốc quỹ Hewlett, một tổ chức song song với công ty Hewlett-Packard mà cô đang làm việc. QUỹ đã dành 120 triệu đôla cho giải thưởng của tổ chức để theo như sứ mệnh của nó “tạo ra sự đóng góp tích cực cho xã hội”. Với cương vị là uỷ viên Hội đồng, Condi tham gia vào quá trình xây dựng ngân sách, ra các quyết định đầu tư và rà soát lại công việc của rất nhiều trường học được nhận trợ giúp tài chính của Quỹ. Một mục tiêu khác của Hội đồng là lựa chọn một vị chủ tịch và Paul Brest là ứng cử viên được uỷ ban bầu cử lựa chọn. Với cương vị là giám thị của trường Luật thuộc Đại học Stanford, đồng thời là chủ tịch của quỹ Hewlett, Paul Brest trở thành một trong số bạn bè đồng nghiệp gần gũi của Condi. Paul Brest nói rằng: “Condi là một chuyên gia lớn trong lĩnh vực quốc tế của quỹ. Cô quả là rất quan tâm và giúp rất nhiều cho quỹ trong các lĩnh vực đó, tuy nhiên, cũng như các giám đốc khác, cô phải tham gia xử lý tất cả các vấn đề. Hội đồng họp 4 lần trong một năm”.
Ở Uỷ ban quốc gia bảo hiểm nhân thọ vì các quyền con người, một tổ chức liên bang đưa ra các giải thưởng để xét tặng cho các trường và tổ chức văn hoá. Condi tham gia hội đông ftừ thiện từ năm 1991 tới năm 1993. Cô đồng thời trở thành một thành viên trong nhóm văn hoá của San Francisco, một thành viên của dàn nhạc giao hưởng trực thuộc chính Thị trưởng San Francisco.
Bắt đầu từ năm 1994, Condi quy trở về trường Notre Dame ba lần một năm để họp Hội đồng từ thiện, một trong các mục tiêu của trường đại học này. Cô được bầu là một trong 53 thành viên của Hội đồng sau khi tham gia phục vụ trong Uỷ ban tư vấn của trường Nghệ thuật và Văn chương. Một nghiên cứu của Tạp chí giáo dục cấp cao cho người da đen, công bố năm 2000, đã chỉ ra rằng: Hội đồng của trường Notre Dame với 7 thành viên da đen, bao gồm cả Condi, đã thực hiện nhiều việc từ thiện dành cho người da đen hơn bất kỳ một trường đại học lớn nào khác. Năm 1995 trường thừa nhận công lao đóng góp của Condi trong vai trò nhà giáo bằng cách tặng Condi học vị Tiến sĩ danh dự và mời cô phát biểu trướng các sinh viên tốt nghiệp của năm đó. Hai năm sau cô lại được trường Notre Dame trao bằng danh dự lần nữa, với danh vị là “Tấm gương toàn quốc trong lĩnh vực giáo dục ở Hoa Kỳ”. Sự thừa nhận này được đưa ra trong quá trình phát động chiến dịch lập quỹ, trong thời gian đó Trường đã làm một bộ phim với tên: Các thế hệ: một lễ chúc mừng của trường Notre Dame. Bộ phim đã được trình chiếu khắp cả nước. Bộ phim kể về bốn thế hệ sinh viên tốt nghiệp của trường, những người đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, cho nhà thờ và xã hội.
Bổ sung thêm vào danh hiệu Tiến sĩ danh dự của Đại học Notre Dame, Condi còn được nhạn bằng Tiến sĩ danh dự về Luật của trường Morehouse năm 1991 và bằng tiến sĩ về văn học nhân văn của Đại học Alabama năm 1994. Trường Morehouse được thành lập ở Alabama hai năm sau Chiến tranh lạnh, đây là trường dành cho nam giới lâu đời nhất và đã cho phép sinh viên da đen nhập học. Trong số cựu sinh viên của trường có Martin Luther King, Jr., nhà vô địch Olympic Edwin Moses, đạo diễn điện ảnh Spike Lee và diễn viên nổi tiếng Samuel L.Jackson. Phần thưởng của trường Đại học Alabama, cần phải hiểu như sự đánh giá công lao cá nhân trong thành tựu chung của một dân tộc đối với trường đại học mà vào đầu những năm 1960, khi John và Angelena Rice muốn khuyến khích lũ trẻ nhập học, còn là một trường dành riêng cho học sinh da trắng.
Sự thành đạt của Condi trong công việc giảng dạy tiếp tục được thừa nhận vào mùa xuân 1997, khi cô được bầu là Viện sĩ khoa học và nghệ thuật của Hoa Kỳ. Danh hiệu này chỉ dành cho những người có thành tích “có đóng góp quý giá cho khoa học, cho công tác giáo dục, công tác xã hội và nghệ thuật” và cô đã là một trong 11 giáo sư được bầu danh hiệu cao quý này của năm đó. Những năm tiếp theo cô còn được bầu là 1 trong 40 người phụ nữ trẻ có uy tín trong giới học thuật Mỹ do tạp chí Change, một tạp chí của Hiệp hội Hoa Kỳ về giáo dục cấp cao, bình chọn. Tại Stanford, cô dành được học bổng ba năm của Viện Hoover để trợ giúp dự án nghiên cứu mới trong khi cô vẫn tiếp tục công việc giảng dạy ở khoa khoa học chính trị.
Từ các phòng họp của các hội đồng quản trị các công ty xuyên quốc gia và các trung tâm chính sách cho đến các bài giảng ở các trường đại học, Condi đã trưởng thành cả trong lĩnh vực kinh doanh, giảng dạy và nghiên cứu văn hoá thế giới, ngay sau khi cô trở về từ Nhà Trắng. Cô đã được phong là giáo sư của trường Stanford vào tháng 5-1993 ở tuổi 38. Trong khi cô còn chưa được biết, thì một uỷ ban đã họp để thảo luận một đề tài quan trọng về nhân sự của trường liên quan đến cương vị của cô, một trong số các công việc hàng đầu mà theo truyền thống sẽ dẫn tới khả năng phát triển để trở thành Hiệu trưởng của bất kỳ trường đại học nào.
Một tháng sau khi cô trở thành giáo sư, cô nhận được điện thoại từ Gerhard Casper - Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Stanford. Trong nhiều năm, họ thường xuyên trao đổi với nhau về sự phát triển của nhà trường và chia sẻ sự quan tâm đối với khoa khoa học chính trị. Công việc của Gerhard bao gồm hai năm làm phó giáo sư về khoa học chính trị trước khi trở thành giám thị của trường Đại học Luật Chicago. Họ đã gặp nhau vài năm trước khi Condi tới Chicago để đề xuất với Uỷ ban nhân sự về ông Casper như một ứng cử viên cho chức Chủ tịch. Thời gian ông là Hiệu trưởng của trường Đại học Chicago, một nhân vật số hai rất có quyền lực của nhà trường, quản lý ngân sách và đội ngũ giảng viên, báo cáo trực tiếp cho Chủ tịch của nhà trường. Trong phiên họp đầu tiên, Gerhard nhận ra chính Condi là một trong các giảng viên có kinh nghiệm mà ông từng gặp. Ông kể: “Tôi đã rất ấn tượng bởi sự uyên bác, kinh nghiệm, trí tuệ và sự hùng biện của cô”.
Vào một ngày tháng 6-1993, vừa chớm một năm sau lần họ gặp nhau lần đầu. Condi không có lý do gì để không nghĩ rằng lời mời gặp ông ở văn phòng của mình là một việc gì đó hơn là một thời cơ mnới để nói về một quyết định của Uỷ ban hoặc một lĩnh vực hành chính nào đó. Cuộc gặp chuyển hướng sang bất kỳ chủ đề nào nhưng dĩ nhiên rất đúng hướng.
Gerhard nói: “Tôi không đả động đến Bush. Tôi nói với cô ta: Condi, tôi muốn cô trở thành Hiệu trưởng thay tôi. Và lúc đó là một sự yên lặng, như bạn đã biết, Condi không phải là loại người dễ bị lung lạc, nhưng quả thật lúc đó sự im lặng bao trùm phía bên kia bàn làm việc”.
Có nhiều điều để nói lúc đó, với cương vị Hiệu trưởng, cô sẽ là người phụ nữ da đen đầu tiên và trẻ nhất được đứng vào cương vị này. Ở tuổi 38, cô trẻ hơn đến 10 tuổi so với các đồng nghiệp cùng chức vụ khác và cô sẽ là nhân vật quyền lực số 2 của trường, chủ trì các công việc của các khoa chuyên môn. Ngoài trách nhiệm trong quản lý tài chính các khoa, cô phải chịu trách nhiệm về khoản ngân sách hàng năm của trường là 1,5 tỷ đôla. Cô đồng thời là người đứng đầu đội ngũ giảng viên, phải ra các quyết định ảnh hưởng đến 1,400 giảng viên của các khoa. Nhưng Gerhard đã thuyết phục rằng cô sẽ làm tốt công việc này. “Tôi biết điều đó có cái gì đó cần được kiểm soát vì rằng trường có một phạm vi dịch vụ công rất mạnh”, ông nói, “nếu một ai đó trở thành Hiệu trưởng, anh ta phải điều hành, anh ta cần phải ít nhất trưởng thành từ một trưởng khoa.. nhưng tôi đã bị thuyết phục tuyệt đối rằng cô rất xứng đáng”.
Gerhard Casper cũng ghi nhận đa số các ý kiến phát biểu không nhắc đến xuất xứ chủng tộc hay phân vân về sự thiếu kinh nghiệm của Ocndi, mà ý kiến phân vân về đảng phái của Condi lại cho rằng “Condi là một người theo Đảng Cộng hoà mà đa số các trường đại học Mỹ lại có cảm tình với Đảng Dân chủ”. Một vài thành viên các khoa có phân vân về quan điểm chính trị bảo thủ có thể ảnh hưởng đến các quyết định của trường, nhưng Condi đã giải toả các ý kiến này bằng cách nói rằng quan điểm chính trị của cô sẽ không ảnh hưởng đến công việc.
Condi bắt đầu công việc của mình vào thời điểm rất khó khăn đối với trường Stanford, cũng như các trường khác, họ đang phải đối mặt với sự cắt giảm ngân sách do suy thoái kinh tế. Thêm vào thử thách đó là sự tăng chi phí sửa chữa do trận động đất tàn phá vùng Vịnh tháng 10-1989 và làm hư hỏng 200 toà nhà. Các hoá đơn sửa chữa lên đến 200 triệu đôla. Khi Condi trở thành Hiệu trưởng, nhà trường đang bị thâm hụt khoảng 20 triệu đôla. “Trường Stanford cũng như các trường đại học khác, đang ở trong vòng xoáy của sự thay đổi”, cô nói sau khi chấp nhận chức vụ hiệu trưởng. “Đúng vào lúc tôi có cơ hội để có thể đóng góp với trách nhiệm cho nước Mỹ đối với các sự kiện hỗn loạn sau Chiến tranh lạnh, tôi tự hào rằng Chủ tịch Casper tin cậy cách đánh giá và khả năng đáp ứng các thách thức của trường Stanford”. Cô đồng thời mô tả nguồn gốc thành công của cô. Một sự thừa nhận sâu sắc cho rằng nhà trường sẽ trưởng thành mạnh mẽ cùng thời gian. Cô nói: “Khi tôi quyết định trở về trường hai năm trước, tôi nhận được sự cam kết rất lớn và tôi phải hàm ơn rằng sẽ được tự do suy nghĩ, phát triển và diễn đạt các ý tưởng của mình như các trường học vẫn cho phép. Không có môi trường nào tạo ra năng lượng tốt hơn như ở đây”.
Với cương vị mới của mình, Condi thay đổi kế hoạch của cô cho mùa hè. Cô đã lên lịch cho một chuyến đi bốn tuần đến bể dầu ở Kazahkstan, nơi cô sẽ tìm kiếm tư liệu cho cuốn sách mà cô đã mô tả với tạp chí The New York Times. Với cương vị Giám đốc Chevron làm việc ở trên một đất nước như vậy, lịch giảng dạy và lịch làm việc trong công ty của cô kín đặc. Cô huỷ bỏ chuyến đi và thay vào đó là lịch làm việ để làm rõ ngân sách của trường. Cô chưa từng gặp một khoản ngân sách nào lên đến hàng tỷ đôla và việc giảm khoản thiếu hụt ngân sách có thể chắc chắn gây ra phản ứng và việc cắt giảm như vậy có thể phương hại tới uy tín của cô ở trường. Nhưng việc cô bằng mọi giá giữ uy tín các nhân chưa bao giờ là sự lựa chọn đầu tiên của cô và cô hiểu rằng sự mâu thuẫn có thể không vui vẻ, nhưng sự thành công sẽ đưa việc cân bằng ngân sách của trường vào quỹ đạo. Cô chưa bao giờ sợ vấn đề là người ta sẽ nghi ngờ khi cô phải sắp xếp lại khoa và cắt giảm các nhân viên mới. Cô cho biết: “Tôi nói với các sinh viên của mình rằng: nếu bạn phát hiện thấy mình ở trong một nhóm bạn bè mà ở đó họ luôn đồng ý với bạn ở tất cả các vấn đề thì bạn đã chọn nhầm nhóm bạn rồi”.
Đối với một số người của trường, sự phát hiện ra tình trạng thiếu hụt ngân sách sẽ làm cho giấc mơ phù du của họ tan thành mây khói. Nhưng Condi đã sử dụng những tháng sau đó để lập một nhóm chiến lược cho phép cô liệt kê ra một bản ghi nhớ gửi cho giám thị và tổ chức hành chính vào tháng 11-1993. Kế hoạch này kêu gọi cắt giảm chi phí của các khoa và dịch vụ của sinh viên, những thứ có thể cắt giảm mà vẫn giữ được sự đoàn kết của các nhân viên. Trong một bài trả lời phỏng vấn với tờ báo của trường, cô cam kết cới sinh viên rằng, nhà trường sẽ không che dấu sự khủng hoảng nhưng sẽ làm việc tích cực nhất để đề ra các giải pháp như các tổ chức khác của đất nước. Condi nói: “Tôi thực sự không nghĩ đây là một khủng hoảng về ngân sách, đây chỉ là sự khiếm khuyết trong điều hành về ngân sách, đây chỉ là sự khuyếm khuyết trong điều hành từ những năm 1990. Mỗi một cơ quan của Mỹ đều có các vấn đề tương tự”.
Đó là một cách đối thoại khôn ngoan khi nói nó không thể làm được… rằng sự thiếu hụt là có cơ cấu, rằng chúng ta buộc phải sống chung với nó. Condi nói với một phó giáo sư – ông coit Blacker rằng: “Không, chúng ta sẽ phải cân đối được ngân sách trong hai năm. Đó sẽ là một quyết định đau đớn nhưng phải làm và sẽ là rất phức tạp cho Stanford khi phải gây quỹ để cân bằng ngân sách của bản thân và có tác động để tạo nguồn bổ sung lợi nhuận cho nhà trường”. Rất nhiều các quyết định “đau đớn” như vậy tác động trực tiếp đến quyền lợi của nhiều người, đó là điều mà Condi phân vân nhưng cô cho rằng dứt khoát phải làm để cân bằng được ngân sách. Cô nói: “Tôi thường xuyên cảm thấy bất ổn vì sự phân bổ không đúng ảnh hưởng đến cuộc sống cua rmọi người, khi tôi phải thuyết phục mọi người, tôi cố gắng tạo điều kiện tối đa cho họ trong khả năng của tôi, nhưng đôi khi anh buộc phải chấp nhận, một quyết định rất khó khăn và anh buộc phải tạo cho họ một lối thoát”.
Công việc của cô quả là không dễ dàng và thường xuyên căng thẳng. “Trong vài năm đầu tiên, rất ít khi tôi cảm thấy hài lòng”, cô nhớ lại, “Thậm chí tôi buộc phải tái cơ cấu tổ chức hành chính của rất nhiều khoa. Đó là điều rất khó khăn, ảnh hưởng đến nhiều người. Đó không phải là chuyện đùa”. Nhưng cô cảm thấy phải làm rõ mọi quyết định và giữ vững nguyên tắc hiệu quả, không thể bỏ dở giữa chừng chỉ sau 1, 2 năm. Cô cảm thấy tự hào vì đã đưa ra các quyết định đúng đắn. Cô khẳng định: “Tôi nghĩ rằng anh cần phải có tính quyết đoán trong mọi chuyện, người ta hoặc là phải có câu trả lời “không”còn hơn là không có câu trả lời”.
Thêm vào những khuất tất của nạn thâm hụt, một nguy cơ khác treo trên đầu trường Stanford khi Condi trở thành hiệu trưởng là vấn đề tài chính. Trường đại học đã đầu tư vào chi phí gián tiếp quá nhiều. Một phần lớn là để xây dựng hàng ngàn dự án nghiên cứu cấp liên bang được tài trợ lớn với hai loại chi phí trực tiếp và gián tiếp. Loại thứ nhất thì dễ xác định như thư viện, trang thiết bị, cung ứng và lương giảng viên cho các dự án. Nhưng chi phí gián tiếp thì bao gồm các tiện ích, cơ sở vật chất thư viện, chi phí bảo dưỡng công sở, trả cho các nhân viên trợ giúp và các khoản chi khác mà không dễ gì tính toán phân bổ vào dự án. Các trường đại học và chính phủ đồng ý với nhau một tỷ lệ bình quân cho một số hàng hoá và dịch vụ coi như chi phí gián tiếp. Trong trường hợp của trường Stanford, chi phí bình quân gián tiếp cao hơn bất kỳ trường nào của Hoa Kỳ là 74%. Điều đó có nghĩa là nếu một giáo sư nhận một ngân sách 100.000 đôla cho một dự án nghiên cứu thì sẽ phải thanh toán thêm 74.000 đôla cho chi phí gián tiếp và lúc đó tổng chi phí sẽ là 174.000 đôla.
Năm 1990, các quan chức liên bang được giao theo dõi ngân sách nghiên cứu đã than phiền rằng trường Stanford đã chi cho chi phí gián tiếp hàng triệu đôla. Một cuộc kiểm toán rộng rĩa đã đem lại nét mới rất quan trọng trên báo chí và uy tín của Stanford đã được khôi phục lại. Quá trình kiểm toán tổng hợp được tiến hành với hàng chục kiểm toán viên đã xem xét lại sổ sách của trường vào bất kỳ thời điểm nào, kết quả này đã đem đến cho Condi các số liệu bổ sung quý giá phục vụ cho yêu cầu của công việc. Nhưng khi công việc điều tra được hoàn thiện vào năm 1994, thì không tìm ra sai trái nào. Chính quyền liên bang kết luận rằng “không có một lý do gì chống lại trường Stanford vì một lỗi lầm nào hoặc chi phí gián tiếp nào không có đủ chứng từ”, Gerhard Casper đã viết như vậy trong kết luận công bố trước công chúng.
Tiếp theo các phản ứng không hay với ý đồ làm cô phải ngừng công việc trong kế hoạch cắt giảm ngân sách khi Condi đưa ra một số quyết định để kiểm soát với cương vị hiệu trưởng đã đặt cô trước “búa rìu” dư luận. Vài năm trôi qua, các báo cáo tổng kết chỉ ra rằng cần phải có thêm nhiều nữ giảng viên cho các khoa, các báo cáo chỉ ra một sự thật là nhiều khoa chưa từng bao giờ tuyển dụng nữ giảng viên và rằng ngoài cô hiệu trưởng (chính là Condi) không có một nữ giảng viên nào làm việc trong văn phòng của nhà trường. Năm 1997, Condi thừa nhận rằng việc tuyển chọn nữ giảng viên diễn ra rất chậm, cô báo coá rằng năm 1993 tỷ lệ phần trăm nữ giảng viên ở các khoa là 15,8% và năm 1996 tăng là 17,8%, một sự tăng rất nhẹ. Cô nhận xét: “Thực ra, điều này diễn ra rất chậm nhưng đi đúng hướng, nhưng tôi đã tiên lượng là con số không thể tăng đột biến”.
Khi nghiên cứu vấn đề này, Condi đi đến kết luận đa số các khối cơ bản chuyển biến rất chậm, đặc biệt là các vị trí chủ chốt. Cô giải thích: “Anh có thể thấy 1 đến 2% chuyển biến ở các khoa quan trọng, nhưng đơn giản là nếu anh không tăn phạm vi, số lượng giảng viên của các khoa, thì tỷ lệ phần trăm nữ giảng viên sẽ tăng rất chậm, đó là yếu tố tăng cơ học rất hợp lý. Con người ta có thể không thích sự thay đổi cơ học này, nhưng đó là một yếu tố tự nhiên”.
Một yếu tố quan trọng để tăng số lượng nữ giới làm việc trên các khoa là phải tăng quỹ lương, tăng biên chế cho các vị trí với định hướng nhằm cào các nhân sự là phụ nữ, những người không vị vấp phải các tiêu chuẩn riêng cho các ứng viên nam khác. Hơn nữa, bà hiệu trường còn bị phê phán là đã không có các biện pháp để mạnh để thúc đẩy, thậm chí cô còn bị phê phán trong các cuộc họp rằng cô là sản phẩm của quan niệm cứng nhắc của thời 1981. Condi không muốn làm cho phụ nữ hiểu rằng trường Stanford chỉ làm theo đơn đặt hàng mà các giảng viên nữ ở đây phải được tuyển dụng theo đúng các tiêu chuẩn. Cô linh cảm thấy có các ý kiến phản biện cho rằng các nữ giảng viên được chọn theo đặt hàng “hơn cả việc biết đứng ngoài các mặt tiêu cực, tôi mong muốn làm cho mọi người cảm thấy không phải họ đạt mục tiêu theo một cách sai trái”.
Condi tin tưởng vào các hành động của mình như một thời điểm bắt đầu trong một số trường hợp, như công việc của chính mình, khi cô được trao cơ hội nhưng chỉ vào một giai đoạn nào đó, sau đó cô đã cố gắng rất nhiều trong công việc ở khoa khoa học chính trị. Condi nói: “Hãy làm công việc theo cách đúng đắn thì các hành động quyết đoán của mình sẽ là có ích”. Nhưng điều đó không so sánh cô với việc đặt hàng hoặc đưa ra bất kỳ hành động quyết đoán nào khác trong hoạch định chính sách của nhà trường.
Các quyết định và lập trường cứng rắn của hiệu trưởng trở thành tin tức hàng đầu ở trường Stanford. Một lần nữa, khi cô tán thành một quyết định của giám thị về việc không trợ cấp cho Karen Sawislak – phó giáo sư về lịch sử, các sinh viên bị động chạm quyền lợi đã tổ chức phản đối trong trường, nhưng Condi giải thích rằng quyết định của giám thi là để giúp có trách nhiệm với chất lượng của khoa và các quyết định của ông là đúng đắn. Hiệu trưởng và Hội đồng tư vấn đã xem xét lại vấn đề trợ cấp để bảo đảm rằng các quy trình xem xét là tuân thủ theo đúng quy định của việc trợ cấp. Trong trường hợp của Sawislak, Condi giải thích tất cả quy trình đều tuân theo quy định. Cô giải thích rằng: trợ cấp là phần dành cho những người có đóng góp thực sự cho quốc gia trong nghiên cứu và giảng dạy. Đây là một tiêu chuẩn rất rõ ràng và giám thị phải quyết định xem người đó có đáp ứng tiêu chuẩn hay không và bảo đảm rằng tiêu chuẩn được áp dụng là khách quan. Sẽ có một cuộc bỏ phiếu ở khoa, thậm chí với một sự nhất trí cao thì cũng không thay thế được vai trò của giám thị trong trường hợp này. Cô bổ sung thêm rằng, hành động quyết đoán không phải là thứ để cân nhắc trong giai đoạn này, đó là chính sách của nhà trường vào năm 1985. Chính sách đó công bố rằng các hành động quyết đoán gắn liền với thời điểm nghiên cứu và vào năm mà phó giáo sư được bổ nhiệm, chứ không rơi vào giai đoạn xem xét trợ cấp. Vào thời điểm Condi phát biểu trong cuộc họp của Uỷ ban về nhu cầu tuyển thêm giảng viên nữ ở các khoa, Condi đã định hướng cho chính sách của trường về việc sử dụng các hành động quyết đoán chỉ là khâu mở đầu.
Một công việc khác diễn ra trong quá trình trựo giúp của Condi trong cương vị Hiệu trưởng bao gồm các nội dung mới, “Hướng dẫn các yếu tố con người” mà trong đó hàm chứa cả phương pháp và nội dung về kinh nghiệm của các sinh viên năm cuối. Chương trình này đưa ra vào năm 1997, thay thế cho các nội dung về nhân sự trước đó với phương châm: “Văn hoá, ý tưởng và giá trị” trong khi mở rộng với cách tiếp cận của chương trình đa văn hoá. Các nội dung mới về yếu tố con người bao gồm cả các kế hoạch nghiên cứu mới như dự án về sử dụng internet và nhóm các dự án trong giai đoạn kết thúc. Cả Chủ tịch và Hiệu trưởng nhà trường hoàn toàn ủng hộ và trợ giúp thêm việc sáng tạo các nội dung với hy vọng có thêm nhiều đối tượng mới quan tâm đến chương trình nhân sự này. Chỉ có 12% số mới tỏ ra thích thú với công việc nghiên cứu các khoa học xã hội, triết học, ngôn ngữ, văn học, hoặc nghệ thuật. Có một yếu tố là nhiều khoa và hệ thống cơ quan hành chính không hài lòng khi phải thay đổi chương trình. “Các hướng dẫn về yếu tố con người” bao gồm cả việc đọc các tác phẩm văn học không phải của phương Tây cũng như các nội dung liên quan đến chủng tộc, dân tộc học và di truyền nòi giống.
Condi rất ủng hộ nội dung về các yếu tố đa văn hoá trong chương trình mới, cô tuyên bố rằng lịch sử của nền văn minh phương Tây là không hoàn chỉng nếu thiếu lịch sử văn hoá của các lực lượng đối lập. Condi nói: “Giả thiết rằng tôi chưa bao giờ mua… là việc nghiên cứu văn minh phương Tây. Việc nghiên cứu toàn bộ nền văn minh khác giúp cho chúng ta rất nhiều, đó là điều thông minh mà chúng ta cần làm, lịch sử con người là lịch sử các tầng lớp khác nhau của nền văn minh và rằng đó là phần rất thú vị… Tôi chưa bao giờ tin là nah chỉ phải giảng dạy mỗi văn minh phương Tây”.
Sự thay đổi về nội dung và phương thức giảng dạy là một nhóm các tác động, được thúc đẩy bởi một uỷ ban của khoa và sự dũng cảm quyết tâm của Hiệu trưởng Rice và chủ tịch Casper. “Kinh nghiệm của tôi chỉ ra rằng một sinh viên năm cuối cách đây hai năm sẽ thấy bây giờ thay đổi 180o”, Condi nhận xét như vậy sau khi chương trình được triển khai. “Rất nhiều việc đã diễn ra với các thành viên của khoa, có nhiều nhóm định hướng, nhiều nhóm nghiên cứu có mục tiêu”.
Một nội dung “nóng” khác diễn ra trong thời kỳ Condi làm hiệu trưởng là vấn đề nhà ở cho sinh viên mới ra trường. Tháng 5-1998, trong số 1.000 sinh viên năm cuối, có 100 sinh viên phải ngủ qua đem ở ngoài đường để phản đối chính sách về ký túc xá. Gần 900 sinh viên năm cuối, những người đã đăng ký ở ký túc xá đã bị trả lời là hết chỗ ở. Condi đề nghị nhà trường phải xây thêm ký túc xá mới nhưng dự án này cần hai năm để xây dựng sau khi được phê chuẩn. Trong khi đó, ký túc xá tiếp tục là vấn đề lớn, một trong những công việc mà Condi phải giải quyết một cách trọn vẹn.
Bên cạnh việc kiểm soát các hành động cứng rắn của mình trong chương trình đa văn hoá và cá vấn đề khác thì Condi phải đón trước các hoạt động rộng lớn hơn đối với vấn đề ngân sách của trường. Trong một phiên họp của Hội đồng nhà trường năm 1996, cô tuyên bố rằng nhà trường không chỉ đã ra khỏi mức báo động đỏ, mà còn có số dư 14,5 triệu đôla. Cô nói: “Đây là thành công ban đầu mà nhà trường phải tự hào”> Thành công có được là do cắt giảm chi phí, tăng thêm các giá trị khấu hao của đầu tư và mức kỷ lục về tăng quỹ cho trường. Cô nói rất tự hào là nhà trường đã kiểm soát được vấn đề tài chính, nhưng cảnh báo nguy cơ quay trở lại do các thói quen cũ. Cô cho biết: “Nhà trường định hướng các quan hệ đúng lúc để kiểm soát được sự phát triển và các phát sinh và phải dừng các ý nghĩ về các quyết định theo kiểu mặt trận”. Các hạng mục đã bị gạt ra có thể từng trường hợp sẽ được phục hồi. Ví dụ, đẩy các vị trí cuối lên trước bằng các ngân sách khác. “Điều đó hầu như có vẻ như là một con lắc”, cô nói, “và anh phải rất nhạy cảm để không bị vung vẩy như một con lắc”.
Trong thời gian giữ cương vị hiệu trưởng, Condi tiếp tục công tác giảng dạy của một giáo sư môn khoa học chính trị. Cô đồng thời tiếp tục tậpluyện chơi đàn piano, tham gia nhóm công tác từ thiện của khoa và nghiên cứu rất nghiêm túc trên các giờ học của mình. Người đã khuyên Condi biểu diễn trở lại là một đồng nghiệp của cô ở Stanford. “Condi là hiệu trưởng khi tôi là giám thị của khoa luật”, Paul Brest - Chủ tịch quỹ Hewlett nhớ lại. Vốn là một tay chơi violin, Paul thường cầm đàn mỗi khi lũ trẻ nhà ông học nhạc. Ông nói: “Thường thì hiệu trưởng gặp giám thị một lần trong tháng và tôi có nghe nói là hiệu trưởng là một tay piano có hạng. Trong một lần đến họp định kỳ hàng tháng tôi đề nghị đưa vào chương trình chơi nhạc piano của Schumann và hỏi Condi: “Chúng ta cùng chơi chứ? Khi cô đồng ý, chúng tôi đã cùng chơi nhạc như một ban tứ tấu trong vòng 5 năm”. Trong nhóm còn có tay chơi Cello Walter Hewlitt và tay chơi Violin Andrea Chevez, người tốt nghiệp khoá đầu của khoa Luật Stanford và một nhân viên nhà trường – Karen Lindblaum.
Paul nói rằng: “Condi rất tích chơi piano trong ban tứ tấu hoặc ngũ tấu và quả là một nghệ sĩ nhạc tính phòng tuyệt vời. Cô thường nhắc nhở, ‘Hãy đừng chơi quá nhanh’, hay ‘Hãy chơi tinh tế hơn nữa’. Condi chơi nhạc rất dễ dàng, cô có tai nghe âm nhạc rất tốt và cô là một tay chơi piano tuyệt vời. Thường các thành viên ban nhạc hay nhận xét đàn piano át tiếng các nhạc cụ khác, nhưng cô biết cách làm việc chung trong nhóm, và mọi người phải biết cách hoà âm trong một ban nhạc”.
Mọi người trong nhóm biết cách hoà âm trong ban nhạc tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu có đàn piano chơi các bản nhạc của Schumann, Brahms,… Đây là các buổi nhạc không chịu áp lực của khán giả. Nhưng thường thì Condi trở nên nghiêm túc hơn và trở thành chủ lực trong ban tứ tấu Muir, một ban nhạc tầm cỡ quốc tế vẫn thường đến biểu diễn ở Stanford trong chuyến lưu diễn của họ ở Bắc Mỹ. Được thành lập năm 1980, ban nhạc tứ tấu Muir là ban nhạc của trường đại học ở Boston về nghệ thuật và đạt giải thưởng âm nhạc thính phòng Naumburg năm 1981. Nhóm được đặt theo tên của nghệ sĩ nhạc tự nhiên huyền hoại và người sáng lập câu lạc bộ Sierra John Muir và dự kiến sẽ có lợi nhuận trong việc ghi tên như một tổ chức bảo vệ môi trường.
Condi đã trở thành bạn bè của nhóm tứ tấu Muir từ thời ban nhạc này đến thăm trường Stanford. Ban nhạc tứ tấu thường xuyên biểu diễn không chính thức ở nhà một ai đó trước khi biểu diễn ở trường và Condi muốn tham gia biểu diễn cùng ban nhạc đó trước khi chính thức biểu diễn ở trường. Ban nhạc đã đồng ý và Condi đã bắt đầu chương trình bằng bản nhạc cung Fa thứ của Brahms trên đàn piano. Bản nhạc này của Brahms là nhạc tính phòng, đòi hỏi kỹ thuật rất điêu luyện, đặc biệt là trường đoạn thứ 3, một khúc Allegro nhanh, sôi động. Condi đã tập kỹ bản này cùng giáo sư George Barth từ khi cô quyết định chọn bản này để biểu diễn.
“Khi chúng tôi bắt đầu tập luyện, tôi không biết phải bắt đầu thế nào, cô rất bận và tôi nghĩ rằng có lẽ cô chỉ tham gia một phần rất ngắn. Chúng tôi bắt đầu luyện tập với các bản nhạc của Chopin và bản Sonata số 7 giọng Rê trưởng của Beethoven. Condi nói rằng: Cô muốn dành nhiều thời gian cho bản nhạc này. Vì vậy tôi quyết định cùng cô luyện tập lâu hơn. Tôi phát hiện ra rằng không có gì giới hạn khả năng chơi đàn của cô. Tôi và Condi hoà âm rất tốt, hàng tuần chúng tôi tập luyện chăm chỉ. Cô tập luyện rất tập trung và nhớ tất cả mọi thứ mà tôi nói. Cô đạt được tiến bộ rất lớn và điều đó tạo ấn tượng rất mạnh”, George nhớ lại.
Condi tập luyện cùng George khoảng 10 giờ trong một tuần, trong khi cô chuẩn bị để biểu diễn nhạc của Brahms cùng ban nhạc tứ tấu Muir. Dù là khi chuẩn bị cho biểu diễn hay đơn giản chỉ là ôn tập, cô đều rất tập trung và không để bị cắt giữa chừng. Điều này quả là không dễ với một người chơi nhạc nghiệp dư của trường đại học. “Nếu có điện thoại từ văn phòng thì cô sẽ trả lời: ‘Tôi đang chơi nhạc của Brahms’, và cô nói với họ để họ chờ. Cô muốn họ hiểu rằng đó là thời gian dành cho âm nhạc của cô”.
George nhơ lại buổi biểu diễn nhạc Brahms của ban nạhc tứ tấu piano, dù là không chính thức, đã là một sự kiện có tiếng vang. Ông nói: “Cô biểu diễn rất tốt, tôi đã xúc động khi cảm nhận tiết tấu Scherzo, thật là hay”. Kể từ buổi tối tháng 11 đó, tình bạn của cô với ban nhạc tứ tấu Muir phát triển. “Chúng tôi bắt đầu chơi, và Condi ghi nhận sự vui vẻ trên khuôn mặt các thành viên của ban nhạc. Rồi họ chơi bản ‘Happy Birthday’ vì hôm đó là sinh nhật của cô, trong khi mọi người hát theo ban nhạc”.
George rất thích làm việc với những người như Condi, tuy không phải là nghệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng rất am hiểu nghệ thuật. Ông cho biết: “Đa số các sinh viên của tôi là các nhà thần kinh sinh học (neurobiologists) và các nhà địa chất, những người đến với nghề này một cách nghiệp dư, nhưng lại là các nghệ sĩ thực thụ”. “Tôi rất thích xem các nghệ sĩ nghiệp dư sẽ đi xa thế nào, và tôi đã chứng kiến một số nghệ sĩ piano. Khi tôi biết rằng có một số là nhà vật lý đáng gặp khó khăn nhưng rất tích cực tập luyện, một sinh viên kiểu này sẽ nói thật rằng: ‘Tôi sẽ chơi trong một buổi hoà nhạc từ thiện tuần này’. Sẽ không phải là người chơi nghiệp dư như mọi người nghĩ mà họ sẽ biểu diễn rất nghiêm túc. Với cương vị là nhà nghiên cứu chính trị và hiệu trưởng, Condi nổi bật trong nhóm này”.
Các nghệ sĩ thường biểu diễn ở Stanford cho biết có rất nhiều kỹ sư và giảng viên toán có tài năng về âm nhạc. Condi xuất hiện trong một chương trình cùng với George sau khi đã trình diễn một bản nhạc của Brahms, bản trình diễn song tấu piano theo chủ đề nhạc của Haydn. “Chúng tôi luyện tập theo bản nhạc này và biểu diễn nó trong chương tình của khoa”, George nhớ lại, “Quả là rất vui khi được biểu diễn cùng cô, trong buổi biểu diễn của khoa, anh sẽ tìm thấy các tài năng bộc lộ ngoài công việc chính ở khoa, họ như các nghệ sĩ thực thụ”. George nhớ lại rằng Condi sau này đã biểu diễn bản Liebeslieder Waltzes của Brahms, một đoạn ngắn dành cho song tấu piano và dàn nhạc.
Mối quan hệ của Condi và ban nhạc tứ tấu Muir String thúc giục cô và các bạn nhạc của cô ở Stanford tham gia vào chương trình mùa hè của ban nhạc. Họ đi đến Utah để nghiên cứu về chương trình nâng cao của ban tứ tấu tại trường Deer Valley, George Barth đã ở lại hai mùa hè để huấn luyện họ theo một số bản nhạc dành cho ban tứ tấu. Condi đồng thời cũng đi theo ban tứ tấu Muir tới Montana trong cả mùa hè, nơi cô học tập ở họ về âm nhạc và có điều kiện biểu diễn một số bản nhạc mà cô ưa thích. Cô nói: “Vào năm 2001, tôi chơi hầu như hết các bản nhạc yêu thích và tôi cần phải lựa chọn. Tôi không có nhiều thời gian để tập luyện và tôi như một nghệ sĩ nghiệp dư chơi các bản nhạc thính phòng yêu thích của mình”. Trước khi cô bắt đầu chơi cùng Paul Brest và các thành viên khác của ban tứ tấu ở Stanford, cô mới chỉ tập chơi solo piano. Nhạc thính phòng mở ra một cách nhìn mới cho cô, tạo cho cô tiếp tục biểu diễn và hưởng thục âm nhạc. Khi được lựa chọn, cô thích chơi với ban tứ tấu nhạc dây hoặc chơi solo hơn là chơi một bản Concerto với một dàn nhạc. Cô nói: “Tôi đã chơi với dàn nhạc một vài lần và thường là rất khó hoà hợp”.
George Barth nhớ rằng kỹ năng chơi đàn của Condi như một nghệ sĩ thính phòng, làm cho người nghe rất dễ chịu và cùng rung động với âm nhac. Trong các cuộc họp của khoa, Condi với cương vị là hiệu trưởng vẫn tham dự rất bình đẳng. “Cô quan tâm tới mọi vấn đề và tìm cách để phối hợp các khâu của công việc, mọi người có thể chờ đợi để được nghe Condi biểu diễn và tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao cô thích thú cả hai điều, tôi cũng biết rằng tình bằng hữu của cô ở Stanford rất quan trọng đối với cô cũng như các buổi biểu diễn thính phòng là cách tốt nhất để củng cố tình bạn”. George nhìn thấy Condi đã dành tâm sức thế nào cho các buổi biểu diễn, thay vì các lịch giảng dạy, nghiên cứu và công việc hành chính bận rộn của cô. Cô luôn dành ưu tiên cho âm nhạc và điều đó giúp cô tạo được cân bằng trong công việc, trong nghệ thuật và trong cuộc sống. Ông nói tiếp: “Condi là một người có tính kỷ luật rất cao, cô dành thời gian để làm những việc gì là cần thiết trước, đó chính là cách cô tránh không tập trung vào những việc chưa phải là cấp thiết đối với cô”.
Một công việc được ưu tiên khác trong cuộc sống của Condi là thói quen được luyện tập thể thao. Trường Stanford có một khu tập luyện thể thao rất lý tưởng. Condi rất tự hào vì đã được tập luyện cùng Karen Branick, người đã từng là huấn luyện viên về thể lực cho Tiger Woods (tay golf số một thế giới) từ khi Tiger Woods còn là sinh viên của trường Stanford. Sau khi Branick dời trường, Condi đã tập luyện thường xuyên với Mark Wateska, người đã đưa ra một chương trình tập luyện nghiêm ngặt cho Condi.
Hai lần trong một tuần cô mặc bộ đồ thể thao và đến tập luyện tại phòng tập thể lực với một giờ tập luyện, 10 phút tập trên máy chạy và 15 phút tập trên các máy tập thể lực. Sau đó cô tập luyện với tạ và dây đánh bụng, tập cơ vài và đùi, tập co duỗi từng chân, tập cơ bụng và nhiều động tác khác, rồi khi kết thúc cô lại tập chạy và đi bộ trên máy tập. Sau này Mark kể lai: “Tôi bắt cô ấy phải theo các chế độ tập giống như bất kỳ vận động viên nào ở Stanford. Cô tự cảm thấy chính các bài tập giúp cô giữ được vẻ đẹp về cơ thể và tinh thần”.
Condi với chiều cao 5 foot 8 (khoảng 1m74) và chỉ cân nặng 140 pound (khoảng 63kg), đã tập luyện theo chương trình để phát triển sức bền và độ nhạy trong các giờ chơi tennis để kiểm soát được các áp lực trong công việc và để tự đánh giá xem mình có thể đạt được thành tích như thế nào. Cô đồng thời cũng nghiệm ra rằng chính chương trình luyện tập này làm cô thích ăn uống bất cứ cái gì mà cô muốn, trừ những thứ có thể làm cô tăng cân. Hình ảnh của Condi trong trang phục thể thao áo cộc tây lúc cô xuất hiện trên chương trình TV NAACP tháng 2-2002 cho thấy cô có cánh tay khỏe mạnh thế nào. Condi mô tả các buổi tập ngoài giờ của cô như các giờ nghỉ “giải lao” giữa các công việc căng thẳng, một trong các cách để kéo cô ra khỏi bàn làm việc và các cuộc họp triền miên. Cô giải thích rằng, không giống như những người có con thì họ giải lao bằng cách chơi với con, cô cần tìm ra cách khác để nghỉ ngơi giữa các công việc. Condi nói: “Nếu bạn chưa có con thì bạn phải nghỉ giải lao ngay tại nơi làm việc, lúc đó hầu như bạn phải làm việc liên tục, không có giờ nghỉ”. Cô đồng thời sử dụng thời gian tập luyện trên máy tập để tập trung vào một đề tài nào đó như nhạc rock hoặc nhạc cổ điển, phụ thuộc vào ý tưởng mới xuất hiện của cô. Condi cho hay: “Tôi thường có nhiều ý tưởng tốt đẹp xuất hiện trong lúc tập trên máy”. Đây là thời gian duy nhất cô sử dụng âm nhạc như một công cụ đồng hành cho các chủ đề mà cô đang theo đuổi. Cô nói thêm: “Tôi thường có được các ý tưởng xuất hiện khi đang nghe nhạc”, cô nói như vậy, “vì chỉ khi tôi đang tập luyện tôi muốn thử xem có đúng là âm nhạc là cơ sở để sáng tạo không?”. Cô thường ước lượng thời gian không phải bằng đồng hồ mà bằng âm nhạc. “Tôi cần phải làm một cái gì đó để tư tưởng tách ra khỏ công việc thông thường, kể cả lúc tôi đang chạy trên máy tập khoảng 30 phút và tôi thường nghe trên đĩa CD một khúc nhạc mà tôi đã thuộc, thường là một khúc nhạc mà tôi thường chơi vì tôi có thể lượng được thời gian nghỉ ngơi của tôi bằng cách bắt đầu một khúc Scherzo và tôi biết thời gian để chơi hết khúc nhạc Scherzo hay một khúc nhạc nào đó tương tự”.
Mark nhận xét: “Cô là người có tính mục đích cao, có định hướng rất cạnh tranh. Tôi không muốn chống lại ý nghĩ của cô trong bất kỳ tình huống nào”. Mỗi năm, vào dịp sinh nhật của cô, Mark lại “xuất hiện” như một huấn luyện viên thông qua việc nhắc lại với mỗi một năm trong cuộc đời khoảng 100 pound lực đạp chân. Ông nói: “Tôi không nghĩ là cô thích nhận được bất kỳ món quà nào từ tôi, nhưng đó là thời cơ, bạn đã có một năm tập luyện tốt hơn. Đó là cách chúng tôi tiếp cận vấn đề, tuổi tác không phải là cái gì làm cho bạn quay lại được như cũ”.
Mark rất có ấn tượng với tính kỷ luật của Condi cũng như các nét tính cách đặc biệt của cô. “Là một huấn luyện viên thể lực, tôi biết rằng tôi là một người ở địa vị thấp trong nấc thang xã hội, nhưng cô không bao giờ tỏ ra mình là một hiệu trưởng, cô không muốn có một chế độ riêng nào mà muốn tôi yeu cầu cao với cô. Vì vậy tôi không bao giờ cảm thấy đang làm việc với bà hiệu trưởng, tôi cảm thấy rất tự nhiên trong công việc của mình, điều đó tạo nên quan hệ rất tốt”. Mark có dự nghe một buổi biểu diễn không chính thức của Condi ở Stanford và rất hài lòng về thể lực của cô mà buổi biểu diễn đòi hỏi. Condi nói: “Anh biết đấy, mỗi một đợt biểu diễn đòi hỏi về thể lực giốn những gì tôi đã quan sát đội bóng đá của nhà trường, tay chơi piano không phải lúc nào cũng đủ mạnh để chơi các buổi hoà nhạc giống như bản giao hưởng của Brahms, cái đòi hỏi thể lực khi biểu diễn”.
Năm đầu tiên trên cương vị giáo sư và hiệu trưởng, Condi không có hứng thú quay trở lại với công việc của chính quyền. Lịch làm việc của cô dày đặc các giờ lên lớp, tư vấn và hướng dẫn các giờ học cho sinh viên năm cuối. Nhưng cô vẫn không bỏ qua những gì diễn ra ở Washington. Cô thường thuyết phục sinh viên của mình để tiếp tục phát triển trong nghề giáo viên, với các chuyến đi làm giàu kinh nghiệm cho cô. Năm 1993, cô nói: “Tôi nói với họ rằng tôi đã đi châu Âu tới 30 lần và hơn thế, và tôi chưa bao giờ phải trả tiền cho các chuyến đi này”. Lý lẽ này có lẽ cũng có tác dụng thuyết phục tự mình rằng cô sẽ tốt hơn với cương vị giáo sư hơn là một quan chức ngoại giao ở Washington.
Năm 1995, Condi nói: “Tôi không như một số người đã làm việc ở Washington xuất phát từ lưu vực sông Potomac, những người muốn quay trở lại đó. Tôi có thể nói một cách chân thật rằng tôi không bao giờ dùng thời gian khi đi dạo bộ để tính toán xem mình sẽ đi đến đâu. Tôi có thời cơ để kết thúc nhiều thứ trong thời gian hai năm đó, vì vậy tôi không có gì phải tính toán để cố làm lại điều đó”. Nhưng vào cuối năm 1998, cô đã phải thay đổi suy nghĩ của mình.
Năm năm trôi qua kể từ khi cô rời chính quyền của Tổng thống Bush cha và cô rất tiếc đã bỏ qua các thời điểm quan trọng trong thế giới ngoại giao. Con trai của cựu Tổng thống Bush cha đã cho tìm cô để được tư vấn về chính sách đối ngoại và các cuộc tiếp xúc đó đã thúc đẩy cô rất nhiều trong kinh nghiệm thực tế của mình. Lúc đó đã xuất hiện thời điểm của sự thay đổi và Condi đã quyết định rời Stanford. Tháng 3-1999, cô đã nói rằng: “Điều quan trọng nhất nổi lên lúc đó là khi trở lại tôi sẽ làm cái gì, đó chính là lĩnh vực chính sách đối ngoại. Tôi chưa quay trở lại nước Nga trong hai năm rưỡi. Đối với tôi, chuyến đi đến nước Nga như một luồng sinh khí mới”.
Cô có kế hoạch tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế để có điều kiện áp dụng các kiến thức của cô về quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này. Cô nhớ lại: “Tôi đã quyết định rời trường đại học để tận dụng thời cơ trong khu vực doanh nghiệp tư nhân, nơi sẽ đem đến cho tôi các kinh nghiệm thực tế về kinh tế và cải cách chính trị”, cô hy vọng thu được nhiều kinh nghiệm qua những gì trải nghiệm. Đó chính là: “Tác động của toàn cầu hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế và các thể chế chính trị”. Cô nhấn mạnh rằng cô có dự định sẽ có ngày trở lại Stanford, nhưng “đây là thời điểm tôi phải quay lại với niềm đam mê của tôi: Đó là nền chính trị và quan hệ quốc tế”.
Trong bài phát biểu của mình tại lễ chia tay Condi, Gerhard Casper đã xúc động nói rằng không ai có thể tin là Condi sẽ rời bỏ sự say mê đối với lĩnh vực chính sách đối ngoại. Ông nói: “Tất cả chúng tôi đều biết niềm say mê đích thực của cô và rằng trại huấn luyện của NFL chỉ mở cửa trong một vài tuần”. Ông đồng thời cảm ơn các đóng góp của cô “do đóng góp tất cả tài năng và nhiệt tình cho công cuộc cải tổ ngân sách của trường Stanford cũng như công cuộc tái thống nhất nước Đức. Cô có một mục tiêu cao cả hơn sau này và sẽ bận rộn hơn rất nhiều”.
Lễ chia tay náo nhiệt hẳn lên khi Brenda Sepolen hát hai bài mà Condi rất yêu thích, đó là bài “Cặp mắt anh hướng về cánh chim nhạn” và bài “Em cần anh từng giờ từng phút”. Tất cả hơn 100 người có mặt trong phòng, kể cả Condi không cầm được nước mắt. Sau đó, Gerhard trao tặng Condi một tặng phẩm rất có giá trị mà ông đã tham khảo trước ý kiến của các nhóm sinh viên để biết về ý thích của Condi. Cô mở gói quà được bọc rất lịch sự với sự hồi hộp, đó chính là 6 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng của Đại văn hào Nga, Lev Tolstoy, cuốn Chiến tranh và hoà bình. Ở trang đầu là lời đề tặng:
Tặng Condoleezza Rice.
Hãy để Chiến tranh chỉ là trong tiểu thuyết.
Và Hoà bình mãi hiện hữu.
Với lòng biết ơn to lớn và sâu sắc vì sự phục vụ
ở cương vị Hiệu trưởng thứ 9 của Stanford.
Tại buổi họp cuối cùng của lãnh đạo khoa năm đó, đồng nghiệp của Condi, Brad Efron đã nói “lời cảm ơn nồng ấm và tình cảm chân thành cao cả” dành cho Condi với cương vị hiệu trưởng và giáo sư. Ông đồng thời nhắc Condi, trong khi nâng cốc sâm panh, rằng công việc của cô như một giáo sư sẽ được bảo lưu ở Stanford nhưng sẽ không thể hiện ở bất kỳ văn bản nào. “Điều đó giống như Mafia”, ông nói đùa như vậy với cô, “Đó cũng không phải là cái để cô từ bỏ”.
Khi Condi chính thức thôi chức hiệu trưởng vào ngày 1-7-1999, cô nói rằng thời gian một năm không có mặt ở trường và thời gian quay trở lại Viện Hoover là rất có ý nghĩa. Với cương vị chuyên gia của nhà nước về Liên bang Xô Viết và Đông Âu, cô đã dành cả kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy và chuyên gia của nhà nước đối với công tác nghiên cứu cơ bản ở Stanford, nơi cô đã mở rộng phạm vi nghiên cứu về chính sách đối ngoại.
John Raisian – Giám đốc Viện Hoover, đã ghi nhớ rằng các mối quan hệ của cô rất có ý nghĩa đối với kiến thức của cô. Ông nói: “Cô có tín nhiệm thậm chí thông qua kinh nghiệm của cô, điều còn hạn chế đối với người khác cùng lứa tuổi cô”. John diễn giải khả năng của cô biết giữ “năng lượng” cho hệ thống các mối quan hệ ở Washington, trong đó có quan hệ với một thành viên khác của Viện Hoover, đó là George Shultz, người đã từng là thành viên danh dự của trường từ năm 1989. Ông nhận xét: “George đã có ngôi sao về chất lượng có sức hấp dẫn. Ông ta rời chính quyền của Reagan năm 1989 và hơn 10 năm sau, ông tiếp tục rất nổi tiếng và rất gần gũi với các nhân vật đáng kính trên thế giới. Từ khi còn là một quan chức cấp thấp, Condi đã có sức quyến rũ như vậy. Khi cô xác lập mối quan hệ bạn bè và hợp tác khoảng 10 năm trước với các nhân vật nổi tiếng như Colin Powell, Dick Cheney và Paul Wolfowitz, cô vẫn có ấn tượng trong họ. Cô thường xuyên để lại dấu ấn trong các vấn đề quốc tế, thậm chí cả khi cô rời khỏi chính trường và đi về phía bờ Tây (làm việc ở Stanford)”.
John cũng nhơ các tác phẩm đã công bố của Condi và kiến thức của cô trong các tổ chức dịch vụ công khác nhau. “Cô còn có kinh nghiệm và tiềm năng trong tư vấn và đó là điều quan trọng đối với Hoover”. Cô nói rằng: “Cái mà chúng ta cố gắng làm là tích luỹ các ý tưởng để làm cho thế giới tốt hơn lên, an toàn hơn. Chúng ta bình luận các ý tưởng đang diễn ra trên thế giới về nền giáo dục và chính trị thế giới, về các yếu tố nằm sau các chính sách của Hoa Kỳ. Điều này là đúng ý định của cô và là cái cô muốn làm”. Trong một tờ tin của Viện Hoover, John bổ sung thêm: “Condi là một trong số các nhân vật nổi tiêng mà tôi đã gặp. Cô có nhiều kinh nghiệm phong phú và sự nhiệt tình của cô được đánh giá cao. Cô sẽ trở thành một phần không tách rời trong quan điểm về chính sách đối ngoại của Hoover”.
Hai tuần sau khi Condi bắt đầu vào nghiên cứu ở Viện Hoover, Condi đã được hai nhà từ thiện Thomas và Barbara Stephenson đề cử nhận học bổng mới. Họ lập nên quỹ này để trợ giúp chương trình của Hoover cho các cá nhân “có hoạt động tích cực như một trong các học bổng đặc biệt cho các lĩnh vực nghiên cứu có liên quan đến triển khai chính sách công”. Chúng tôi dành các cơ hội này để hỗ trợ cả cho tổ chức nhà trường và các cá nhân, những người có đóng góp tích cực và tin cậy cho một thế giới mới đầy biến động”.
Một năm sau khi trở thành hiệu trưởng trường Stanford, Condi đã được đưa vào danh sách 50 người phụ nữ trẻ đáng quan tâm do tạp chí Time bình chọn. Tạp chí này lựa chọn trong số các phụ nữ dưới 40 tuổi, những người đã “có tác động về mặt xã hội và dân sự” và những người mà họ đánh giá là “tạo nên sự khác biệt”. Bài báo đã tiên đoán rằng một trong số các phụ nữ được lựa chọn “đã giải quyết một vấn đề để có thể tháo gỡ các vấn đề khác, cho đến khi như vẫn thường xảy ra, một lãnh tụ mới sẽ giải quyết vấn đề ở tầm cỡ không chỉ trong phạm vi một khu vực mà ở tầm cỡ quốc gia, thậm chí là thế giới. Tổng hợp tất cả các yếu tố đó lại để chúng ta lựa chọn họ”.
Bài báo đã mô tả ngắn gọn tiểu sử của Condi. Michael Mandelbaum của trường Đại học Johns Hopkins tiên đoán: “Condi có khả năng ở tầm một chuyên gia trong Nhà Trắng. Cô có thể sẽ trở thành Ngoại trưởng Hoa Kỳ”. Câu này được tiên đoán từ 5 năm trước khi Condi tham gia chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của George W.Bush, lúc đó đang làm chuyên gia tư vấn về chính sách đối ngoại, 6 năm trước khi cô được bổ nhiệm là Cố vấn An ninh quốc gia. Ở tuổi 40, cô đã sẵn sàng để trở thành một nhân vật lớn trên chính trường theo chuyên ngành của cô và với những ai quan tâm theo dõi bước tiến của cô, không nghi ngờ gì rằng có một ngày cô sẽ xuất hiện trên vũ đài chính trị của quốc gia. Cô sẽ không làm phụ lòng mọi người.
Khi người bạn lớn của cô, George W.Bush, bắt đầu phát động chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của mình, cô đã được mời tham gia công việc với ông. Trên cơ sở các kiến thức của mình, cô đã vượt qua các ứng cử viên khác để trở thành cố vấn riêng về chính sách đối ngoại cho Bush (con). Ngoài ra cô còn là trởng nhóm chuyên viết các bài phát biểu về chiến lược hạt nhân cho Bush, là nhân vật hạt nhân, trung tâm cho chiến dịch: “W is for Women” (chiến dịch W vì phụ nữ), W là viết tắt tên của Bush. Trải qua thời gian mọi việc rất tiến triển, uy tín của Bush (con) tăng lên không ngừng. Ông mời Condi ở lại trong cương vị Cố vấn An ninh quốc gia. Ông tạo mọi điều kiện để cô bước vào căn phòng ở cánh Tây của Nhà Trắng, ngay cả góc cạnh của Nhà Trắng và ngay phía dưới phòng bầu dục của Tổng thống.
★
★
★
★
★
0