📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thơ Sưu Tầm

Cảm nhận thơ hay cùng với lời bình

68 trả lời, 13.669 lượt xem — Trang 2 / 3
Em Nơi Giáo Đường
Đông Hòa

Em vừa đứng trên Giáo Đường
Ngoài kia mặt trời vừa vương
Nghe bay ngàn gió chướng về
Đễ thì thầm em đọc kinh

Em đứng nơi cạnh Giáo Đường
Cuộc tình nào em đã thương
Nghe tái tê trong tâm hồn
Vừa nhìn mây hôn tóc em

Em như chiếc lá rời nguồn
Bay theo mối tình khói sương
Ai tiếc cho ai bây giờ
Bao chán chường chờ mùa đông

Đâu mây hồng cao vời vợi
Khóc đời khi đã mất em
Tái tê tiếng em kinh cầu
Chôn kín Giáo Đường năm xưa

lời bình:
Ngày nào cũng đi ngang qua nhà thờ nhưng cứ đều đặn mỗi thứ bảy và chủ nhật lại thấy có nhiều người tập trung nghe giảng kinh-cảm giác cũng bình thường thôi và hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc như thể nó là như vậy. Hôm nay, tình cờ đọc được bài thơ của Đông Hòa P chợt bùi ngùi...

Em vừa đứng trên Giáo Đường
Ngoài kia mặt trời vừa vương
Nghe bay ngàn gió chướng về
Đễ thì thầm em đọc kinh

Em đứng nơi cạnh Giáo Đường
Cuộc tình nào em đã thương
Nghe tái tê trong tâm hồn
Vừa nhìn mây hôn tóc em

Đọc đoạn thơ làm P tưởng tượng ra một mối tình thật êm dịu của hai người trẻ tuổi. H và N là đôi bạn từ thời trung học. Đơn giản vì N là con gái nên không thể chủ động, phức tạp vì H là con trai nên không muốn gây phiền toái. Đôi bạn ấy là đôi thanh mai trúc mã trong mắt bạn bè nhưng với họ, họ chỉ là bạn thân mà thôi...

Có người cho rằng: trên đời có hai mẫu người mà con trai không dám "chạm" tới. Một, là người với những đức tính không đẹp, làm người ta e dè . Hai, là người quá tốt, quá lương thiện, làm người ta sợ và giữ khoảng cách đầy kính trọng... Với sự thánh thiện của người ngoan đạo, N càng khiến H không dám để mình phạm sai lầm. Với vẻ lịch lãm, H càng làm N quý mến âm thầm, và tất cả chỉ có thế....

Ngày N quyết định dành trọn cho đức tin, H không có lí do thuyết phục để giữ N ở lại. Và mọi thứ cứ êm đềm xảy đến, mỗi người cuốn theo một ngả đường riêng...

Em như chiếc lá rời nguồn
Bay theo mối tình khói sương
Ai tiếc cho ai bây giờ
Bao chán chường chờ mùa đông

Đâu mây hồng cao vời vợi
Khóc đời khi đã mất em
Tái tê tiếng em kinh cầu
Chôn kín Giáo Đường năm xưa

Một ngày se sẻ lạnh, bạn hãy tượng tượng: với khí hậu như những ngày Đông mưa phùn ở Huế, chàng trai leo lên sân thượng của tào nhà cao cao để làm chi đó hỏng biết, một mình nghe tiếng chuông nhà thờ phía bên kia vọng về. Cảm giác ấy, như có con kiến cắn bao tử khi mình đói bụng, cảm giác hối tiếc như có cái gì đó đã bị đánh mất,... giá mà... Có giọt nước nào lăn trên má nhưng không phải là nước mắt mà là nước mưa, có cái nhoẻn cười buồn bã... Chôn kín Giáo Đường năm xưa

Bài thơ êm đềm mà buồn vời vợi. Biết trách ai bi giờ, thôi thì vẫn sống và sống vậy thôi.
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-25 21:06:11Ct.Ly>
Gửi anh
 
THU NGUYỆT
 
Em ngồi hóa đá thành thơ,
Trả anh ngày tháng anh chờ lúc yêu.
 
Em ngồi hóa đá thành chiều
Trả anh cái nụ hôn liều ngày xưa
 
Em ngồi hóa đá thành mưa,
Trả anh giây phút anh đưa qua cầu.
 
Xa rồi anh có hay đâu,
Đã từ phút ấy bắt đầu hóa em…
 
 
Lời bình:
          Một bài lục bát chỉ có tám câu, chia thành bốn khổ, mỗi khổ có hai câu – cảm nhận đầu tiên về gửi anh của Thu Nguyệt là một sự xinh xắn, nhỏ nhắn, có cái duyên rất con gái, như đa phần những bài thơ của chị.
          Nếu đặt một bài tựa đề cho bài bình luận của mình, chắc chắn cái tên mà tôi sẽ chọn là Hóa đá hay Hóa thân. Bài thơ cứ nhắc ta nhớ đến nàng Tô thị. Mà đúng, chúng ta đang đến với một nàng Tô thị - nàng Tô thị của thơ mà là thơ đương đại hẳn hoi! Có điều ở đây nàng không bị đá hóa mà là hóa đá – hai quá trình hoàn toàn trái ngược nhau.
          Em ngồi hóa đá thành thơ,
Trả anh ngày tháng anh chờ lúc yêu.
           Em ngồi hóa đá thành chiều
Trả anh cái nụ hôn liều ngày xưa
Em ngồi….
          Nàng Tô thị của cổ tích đứng ngàn năm chờ chồng, còn nàng Tô thị của Gửi anh thì ngồi mà đợi. Một sự so sánh có phần ngớ ngẩn. Ngớ ngẩn thật! nhưng không phải là không đáng đẻ so sánh. Bởi nàng Tô thị của Thu Nguyệt chỉ ngồi nên cái tầm mắt nó “hạn hẹp” lắm. Nó không được mở ra với trời đất như nàng Tô thị cổ tích mà chỉ quẩn quanh trong cái sân của tâm hồn. Bởi thế mà không có cái chiều rộng của không gian, chỉ còn lại cái chiều sâu của tâm trạng. Và cũng bởi vậy mà cái dáng hình kia hóa đá hơn vào tâm trí bạn đọc.
          Có một điều mà tôi cứ băn khoăn là tại sao thơ tình lại có nhiều từ “trả” đến thế? Chỉ có tám câu mà đã có đến ba từ “trả”. Khi người ta đã tính đến chuyện trả - vay liệu có còn là tình yêu nữa không? Không! Chắc chắn là không. May là ở đây, cô gái chỉ trả...vờ chứ không trả thật. Cứ xem những thứ mà cô định trả thì biết. Toàn là những thứ đẹp đẽ về tình yêu cả. Là thơ, là chiều, là cơn mưa.. Đó là những thứ vô hình, khó nắm bắt. Chỉ có cơn mưa có vẻ cụ thể, hữu hình hơn, nhưng xem ra cũng vô lường lắm. Nắng mưa là bệnh của trời mà lại! Và chính bởi chỉ trả vờ nên cái sự trả ấy thành ra có tác dụng ngược lại. Nghĩa là em đã nhận về mình tất cả những nhớ mong, chờ đợi. Nói như thi sĩ Nguyễn Bính, em đã nhận về mình cái bệnh tương tư. Vậy sự trả ở đây chỉ là cái cớ, cái cớ để mà nhớ mong, trách móc, giận hờn. Nó cũng giống như tâm trạng của chàng trai đi đòi yếm trong ca dao vậy:
Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Em có chồng rồi trả yếm cho anh
          Một sự đòi hỏi xem ra là vô lí, bởi thực ra chàng trai cũng đâu muốn thế, cho nên cô gái mới trả lời dứt khoát:
Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh
Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi?
          Cô gái trong Gửi anh khéo léo hơn, cô không đòi chỉ trả nên cái vô lý trong cách nói được khỏa lấp đi rất nhiều. Đúng là bài thơ mang âm hưởng giận hơn, nhưng giận hơn mà không ngúng nguẩy, trách móc mà chẳng vùng vằng. Bởi nó rất thật, thật đến mức tội nghiệp! Và cũng bởi có ai đâu mà vùng vằng. Anh đã xa, thật xa, biết có như chàng trai trong cổ tích kia một đi không trở lại? Và cũng bởi anh đã xa nên làm sao thấu hiểu được cho lòng em.
Xa rồi anh có hay đâu,
Đã từ phút ấy bắt đầu hóa em…
          Cái ngụ tình của bài thơ nằm ở đây. Nghĩa là trong những thứ mà em muốn trả có cả em. Nghĩa là trong những thứ anh phải nhận phải có cả em. Nghĩa là em đã hóa thân. Nghĩa là… mà thôi, không cần phải nói hết làm gì. Đôi khi có những cái không nói hết lại nói rất tường tận. Duy có điều này không thể không nói, là cho dù chàng trai kia có là ai đi chăng nữa, khi đọc những tâm sự này không thể không tỉnh ngộ, không thể không nhận ra mình đã đánh mất cái gì. Và biết đâu, nàng Tô thị của Gửi anh lại có một kết cục tốt đẹp hơn nàng Tô thị của cổ tích…
 
 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Vọng Hải Đài
Phạm Hầu
 
Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?

Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu
Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?


Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?

oChẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?

Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?

lời bình:
 
Tình cờ đọc được những bài thơ của một tác giả đối với riêng tôi là lần đầu tiên biết đến. Một nhà thơ mang một căn bịnh điên và qua đời khi mới vừa tròn 24 tuổi. Đó là nhà thơ Phạm Hầu ,ông để lại rất nhiều bài thơ với tâm trạng của một người luôn khao khát với chân _thiện _ mỹ ,ông còn có tài vẽ tranh theo lối lập thể rất giỏi và chơi đàn tranh rất hay. Tiếc thay cho một người tài hoa nhưng bạc mệnh. Bài thơ Vọng Hải Đài là một trong những bài thơ đã cho tôi sự cảm xúc tiếc thương :
Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ôi ! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân Vọng hải đài

Vọng hải đài là có thật hay là một Vọng hải đài trong tâm tưởng của riêng ông mà thôi? Là nơi ông tìm đến khi đầy ấp tâm sự ,là nơi gởi gấm bao khát vọng bay cao hay khi mỏi mệt chân đời. Tự ví mình chỉ là một khách qua đường , dừng chân bên Vọng hải đài mà lòng vương hoài nỗi hoài nghi phân vân.

Chẳng biết trong lòng ghi những ai?

Hỏi ai đây? Hỏi trời? Hỏi đất? Khi trái tim còn phát sinh bao câu hỏi.

Cơn gió nào lên có một chiều
Ai dè thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu

Với sức tàn phá của thời gian nghiệt ngã , có thể xoáy mòn mọi vật. Vọng hải đài của ông cũng không ngoại lệ. Lời ta thán của một trái tim đi tìm lý tưởng của cuộc đời , mà do chứng bịnh khiến ông khi tỉnh khi ngây , tâm hồn và thể xác của ông cũng bị xoáy mòn theo.

Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn , gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa

Ôm cô đơn với tâm trạng người lữ khách , ngày đêm bầu bạn cùng với mây với gió. Hỏi có ai ngăn được dòng cô đơn chảy mà không nỗi dạ xót hoài

Muôn đời e hãy còn vương vấn

Ông muốn nói đến dòng sông ký ức chăng? Nhưng cho dù biển vẫn ngàn năm réo gọi , một ngày con sông cạn kiệt cũng không thể nào xuôi về biển khơi. Sắc màu nào ở tầm nhìn xa? Có phải đó là sắc màu nơi chốn vĩnh hằng? Tuy ở xa lắm nhưng đối với riêng ông lại như rất gần rồi.

Lòng liêu xiêu , hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?

Trong những giờ phút tâm hồn mê mẩn , lang thang bên Vọng hải đài hết đêm. Cho đến khi bình minh thức , mùi hoa nhài thoảng hương trong gió mới khiến cho ông sực tỉnh với hiện thực.

Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận

Bên Vọng hải đài , ông đã nhìn thấy gì và nghĩ gì? Vô tận , một điểm cuối cùng mà ông sẽ đi tới.

Chẳng biết xa lòng có những ai?

Sao trong lòng ông mãi hoài là câu hỏi? Mối day dứt sầu buồn của thi nhân đến bao giờ mới thôi không còn? Khi ông chết những câu hỏi đó không biết ông đã tỏ được hay chưa? Còn lại được mấy ai sẽ còn nhớ tới ông?

Đọc thêm bài Vọng Lâu sẽ rõ hơn một tâm hồn tài hoa :

Mắt theo lầu vọng buồn bên trúc
Trúc rũ buồn trên mái vọng lâu
Tuổi tôi , màu lá : Ai sinh trước?
Hiu hắt đôi bên lúc đọ màu

Lầu đứng bơ vơ lầu vắng vẻ
Lầu mơ đàn địch tiếng lầu xưa
Thẫn thờ lá trúc rưng rưng lệ
Như mắt đa tình lúc tiễn đưa

Quanh tôi là mộng hay bươm bướm?
Lầu dựng buồn cao ngập giấc mơ
Quanh tôi là mộng hay mây sớm?
Lầu dựng buồn cao ngập ý thơ

Tôi buồn cô độc , ôi lầu vọng !
Ai biết cho lòng như thế đâu
Buồn đưa hương lúa , buồn đưa võng
Những cảm tình tôi tựa bóng lầu

Xưa tiếng người bay rực rỡ lầu
Ngày nay lầu quạnh ngắm biển dâu
Tôi buồn rưng rức bên lầu vọng
Ai dựng trong lòng cảnh vọng lâu

Dù là thực hay tưởng tượng cũng thấy rõ bao nỗi day dứt , sự buồn rầu đau thương , của một kẻ tài hoa nhưng mắc chứng bịnh hiểm nghèo , sống trong thất vọng não lòng.

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Tống Biệt Hành

Tg:  Thâm Tâm


Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Môt giã gia đình, môt dửng dưng.
Ly khách! Ly khách! Con tàu nhỏ
Chí lớn chưa về, bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ muà hạ sen nở nốt
Môt chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai giòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu tươi lắm thay
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt ướt
Gói tròn thương nhớ chiếc khăn tay..

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật
Mẹ! thà coi như chiếc lá bay
Chị! thà coi như là hạt bụi
Em! thà xem như hơi rượu cay


lời bình:
Trong bầu trời thơ Việt Nam, những bài viết về chia ly lúc nào cũng nhiều hơn đoàn tụ. Điều này chắc không chỉ xảy ra trong cảm xúc của các nhà thơ Việt. Thế giới cũng thế cả thôi. Chắc hẳn, khi trái tim tràn ngập yêu thương, sung sướng, người ta không có nhiều thời giờ để dành cho thi ca.

Lấp lánh như một viên ngọc giữa bao la đất cát bùn lầy, bài thơ dưới đây có vẻ như chễm chệ một mình một chiếu trong vô vàn bài thơ khác của cả một chiều dài văn học. Như đã nói ở trên, cảm xúc biệt ly được ghi thành thơ thì hằng hà sa số, nhưng cái cách mà bài thơ này bật lên như con chim phượng giữa bầy gà là một điều rất đỗi tự nhiên.

Ngay cả đối với tác giả - người khai sinh ra nó – cũng lâm vào một tình thế chẳng lấy gì làm dễ chịu. Người ta, thay vì nhắc tới anh, làm luận đề về toàn bộ tác phẩm của anh, đã chỉ nói về nó. Làm như thể, cả đời anh chỉ có làm được một bài thơ. Điều này, dẫu vinh dự tới đâu, cũng chẳng phải là điều bất cứ người làm thơ nào ham muốn. Thiên hạ đã thế, kẻ viết bài tùy bút này cũng không là ngoại lệ.
Tôi muốn nói với các bạn về bài Tống Biệt Hành của nhà thơ Thâm Tâm.

Bài này đã được biết bao nhiêu ngòi bút thiên tài lẫn không thiên tài bàn tới. Trong đó, ấn tượng nhất đối với tôi là bài của Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam. Mà không phải toàn bài, chỉ một câu, một câu để đời : Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc.

Ý nghĩa của bài Tống Biệt Hành không nhiều hơn những gì ta nhìn thấy ban đầu. Hầu như không có cái gọi là ý tại ngôn ngoại nơi đây. Có chăng, một ẩn khuất (có lẽ cũng chẳng quan trọng gì lắm nếu ta chỉ để ý tới bài thơ mà không cần tìm hiểu về tác giả). Nhiều người thắc mắc bài này Thâm Tâm viết cho mình hay về một người bạn khác. Theo tôi, điều này không làm tăng hay giảm giá trị của bài thơ. Ai, Thâm Tâm hay một người khác, cũng thế thôi, bởi vì, bài thơ không đưa ra một cảm xúc gì mới mẻ lắm so với những bài thơ khác, cũng diễn tả một cuộc chia tay trên sân ga, với nhiều hệ lụy, bi, tráng…

Có chăng, ở đây, chất tráng có phần mạnh mẽ lấn át chất bi.

Điều tôi muốn nói, là hình thức của bài thơ. Chính cái bộ dạng bên ngoài của TBH đã đưa nó vào lòng độc giả bằng những bước chân gắt, gấp, gân guốc và rắn rỏi.

Thâm Tâm khôn ngoan chọn cho mình thể loại hành để diễn tả. Hành là một thể thơ cổ, khi mà mớ rắc rối của Đường thi chưa thò bàn tay uy lực vào để áp chế nàng thơ, bắt nàng vào khuôn, vào phép, đi thưa về trình, vào ra khép nép…Thể loại cổ phong hào sảng, tự do hơn nhiều.

Trong cái không khí ồn ào của sân ga, rền rĩ những tấm tức, buồn bã, TBH của Thâm Tâm như một bộ phận lọc âm, tiêu trừ những âm thanh thừa mứa. Chúng ta, người đọc, chỉ nghe mồn một cái tiếng lòng của người ra đi, dứt khoát mạnh mẽ với sự lưu luyến dây dưa…

Bóng chiều không thắm / không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?


Câu trước đưa người đọc tới một tâm trạng quân bình bởi phân đoạn trước kết thúc với một âm trắc, và phân đoạn sau cũng thế. Nhưng, từ vọt là một âm khép, lại dấu nặng, nó buông xuống đanh, gọn như một nhát búa vào khối kim loại đặc, nặng và đục. Có lẽ để bù lại cái miên man dàn trải ở câu sau, những thanh bằng nối nhau là đà trôi vào cặp mắt của nhân vật, vào lòng của người đọc bài thơ.

Ly khách / Ly khách / con tàu nhỏ
Chí lớn chưa về / bàn tay không


Nhịp đôi tiếp nhịp đôi ở câu trên gợi âm thanh một chuyến xe lửa đang chầm chậm trôi vào ga. Chậm và lừ lừ với hình khối to lớn, lãnh đạm mà đe dọa, dù chỉ là con tàu nhỏ…Cuộc chia ly đã đến, đã cận kề. Ba tiếng cuối câu dưới, bàn tay không, buông ra như một cái phủi tay…Chính vì cái không này, phải cất bước mà đi…trong bi có tráng, trong âm thanh đều đều buồn tẻ của tiếng con tàu nhỏ, như vọng lên tiếng gươm khua của khách giang hồ…

Không biết, khổ thơ trên có phải đã được Thâm Tâm cố ý đẩy lên thành sáu câu. Du người đọc tới tâm trạng khắc khoải chờ đợi một cái gì đang sẵn sàng bùng phát, vỡ ra…Lúc nhỏ, đọc bài thơ này, tôi chê ý tứ trong đoạn sáu câu lếnh loãng, không rõ ràng, minh bạch. Bước chân ra đi mà còn phải dặn lòng không đạt được cái này cái kia thì không trở về, đã vô tình hiện rõ sự yếu thế. Thuở xưa, Trần Hưng Đạo sở dĩ phải chỉ tay trước dòng sông : Không thắng giặc thề không trở về sông này nữa, cốt để ổn định lòng quân đang dao động. Trường hợp kẻ chinh phu trong TBH cũng vậy.

Sau này, khi lớn lên, tôi mới mơ hồ cảm thấy một điều, Thâm Tâm đã cố ý đưa vào bài hành của mình nỗi dao động của kẻ lên đường rắp tâm chí lớn, là có nguyên do của nó. Thành, bại, được, thua trong cõi nhân sinh, có khi chẳng khác gì nhau, chỉ là những thứ sắc, không huyễn ảo. Như Thanh Tâm Tuyền đã thốt lên run rẩy : Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới…nhiều thi nhân đã dự cảm về một tương lai bất định của mình, của dân tộc mình. (Thâm Tâm mất đi trong màu áo Vệ Quốc Quân ngày 18 tháng 8 năm 1950, thọ 33 tuổi, một cái chết trẻ, rất trẻ)

Khổ thơ kế tiếp, Thâm Tâm chuyển qua sử dụng vần trắc. Âm điệu bài thơ xoay chuyển theo hướng gần như dằn dỗi với người, với chính mình.

Ta biết / người buồn / chiều hôm trước
Bây giờ muà hạ / sen nở nốt
Môt chị / hai chị / cũng như sen
Khuyên nốt em trai / giòng lệ sót


Mỗi ngắt quãng giống như một tiếng nấc. Và bực dọc với sự ủy mị của mình, nhà thơ quăng ra những âm vận cộc lốc một cách cố ý.

Sau đó, giống như một người chuộc lỗi, giọng điệu khổ thơ kế tiếp mềm hẳn đi. Những âm nay, thay, tay như vỗ về, như an ủy người đưa tiễn. Những hình ảnh sáng hôm nay, trời chưa là thu, đôi mắt ướt, chiếc khăn tay…từ thời gian, không gian to rộng bao dung thu lại một cách hiền hòa khép nép với một chiếc khăn tay trong đôi mắt ướt. Kỹ thuật sử dụng hình ảnh này, có lẽ một đạo diễn điện ảnh của Việt Nam bây giờ, cần phải học rất nhiều.

Khổ cuối, nhà thơ sử dụng cách gieo cước vận khác hẳn các khổ thơ trên, vận cách.

Người đi / Ừ nhỉ / người đi thật
Mẹ / thà coi / như chiếc lá bay
Chị / thà coi như / là hạt bụi
Em / thà xem như / hơi rượu cay


Ngữ điệu gấp gáp đến giật cục. Giờ chia tay điểm từng tiếng cuối cùng. Lúc này, cái tráng át hẳn cái bi. Không còn chút gì bi lụy dằn kéo, đã là sự dứt khoát của kẻ khẳng khái bước vào chốn mịt mù vô định. Cuộc chia ly, trên một sân ga lẻ, đĩnh đạc bước vào lòng độc giả dưới ngòi viết của Thâm Tâm, một nhà thơ chưa bao giờ được coi là một nhà thơ lớn của Văn học sử.

Thâm Tâm một thời được nhắc nhở tới với sự xuất hiện ì xèo của một nàng thơ bí ẩn, TTKH. Nhưng gẫm lại, những thứ đó không làm cái bóng của ông lớn hơn, có khi còn có tác dụng ngược. Theo thiển ý, chỉ với một Tống Biệt Hành, Thâm Tâm đã đủ tầm cỡ sánh vai đồng hành với những thi gia lớn nhất của Việt Nam. Đại đa số độc giả đã tự trong tiềm thức, khẳng định điều này, mà không cần bất cứ một sự bảo chứng nào từ những nhà phê bình cổ thụ.

Sức sống của Tống Biệt Hành, trong đó tiềm ẩn sức sống của thể loại hành, bất kể những cơn sóng thơ Đa-Đa, thơ Tự-Do, thơ Hũ-Nút, thơ Tân-Hình-Thức, thơ Hậu-Hiện-Đại, hay thơ gì gì nữa trong tương lai tràn ngập.

Trong khu vườn muôn sắc của thi ca, Tống Biệt Hành là một bông hoa chưa thấy nguy cơ tàn héo.
 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyến Tàu Đời
 
( Kiên Giang )
Chuyến tàu đã chuyển bánh rồi
Xe qua từng trạm kéo còi biệt ly
Khói tàu vơ vẩn thành mây
Mối tình lưu khứ thoáng bay lên trời

Em tôi đứng giữa ga đời
Lần đầu tiên khóc , tiễn người đi xa
Xe qua cổng , khuất nhà ga
Bánh nghiền gió bụi , nghiến qua cõi lòng

Đôi con đường sắt song song
Chạy về một hướng mà không giao đầu
Sân ga nằm nhớ con tàu
Tàu theo bóng sắc để sầu sân ga

Trường đời là bóng đường xa
Tình đời là chuyến tàu qua vội vàng
Đắng cay là cát bụi đường
Lòng ta là một đám tang ... không mồ

Thân tầm gầy guộc xác xơ
Chợ đời , mấy kẻ bán thơ làm giàu
Đời ta lỡ mấy chuyến tàu
Vì chưng vứt bỏ công hầu sau lưng


lời bình:

" Yêu , là chết trong lòng một ít ".(Xuân Diệu)


" Đi , là chết trong lòng một ít " .
Yên cũng chết , đi cũng chết .Chết ít hay chết nhiều , chết vì điều gì cũng là chết . Cảm nhận nỗi chết của sự ly biệt mới là nuốt lấy nỗi đau vô cùng . Lời nào muốn nói không bật thoát ra được , mối tình có thật sự đã bay ? " Thôi em về đi , anh đi . "

Chuyến tàu đã chuyển bánh rồi
Xe qua từng trạm kéo còi biệt ly
Khói tàu vơ vẩn thành mây
Mối tình lưu khứ thoáng bay lên trời


Con tàu cách chia mối tình giữa người đi và người ở lại , là sự khốc liệt của điều ly biệt . Chuyến tàu rong ruỗi có phải như một cuộc an bài ? Còn cô gái ? Chấp nhận trong nước mắt , đứng giữa ga đời bước trở về em có mải mê ? Khi người ra đi cũng mang hồn em đi rồi . Năm tháng trông người trở lại , nước mắt em có khi nào ngừng chảy ?

Em tôi đứng giữa ga đời
Lần đầu tiên khóc , tiễn người đi xa
Xe qua cổng , khuất nhà ga
Bánh nghiền gió bụi , nghiến qua cõi lòng


Những chuyến xe vội đi , những chuyến xe vội về , qua bao nhiêu con đường mang theo những tâm hồn vui có , buồn có . Không có điểm giao đầu làm sao gặp nhau cho đặng . Nhưng vẫn hiện hữu sự tương quan lẫn nhau , cần nhau . Như đời người vẫn miệt mài đi tìm kiếm lẫn nhau . Như sân ga vẫn nằm chờ con tàu và những con tàu đi , về trên nẻo đường quen , mây trên đầu , gió thổi lốc bụi đường , vẫn cần sân ga để đỗ bến . Trời vẫn ở trên cao ...

Đôi con đường sắt song song
Chạy về một hướng mà không giao đầu
Sân ga nằm nhớ con tàu
Tàu theo bóng sắc để sầu sân ga


Trong dòng đời mênh mang , trên những chuyến tàu đời xuôi ngựơc . Tình cờ gặp nhau , cho nhau nụ cười quen biết . Hoặc bắt đầu hoặc sự nối tiếp cho bao lần giã biệt , dặn dò nhau ngày về . Hay chỉ là lần sau cuối đưa tiễn một cuộc chơi đã tới hồi kết thúc . Tàu đi , người vãng , sân ga vắng . Đó là những mảnh đời đích thực , thảng thốt nhận ra còn gì , mất gì . Ai đã đi xa ? Ai sẽ trở về ? Chờ ? hay muộn rồi ? Chỉ cần một bước hụt chân thôi , chuyến tàu đời sẽ đưa người ta đi mãi không có ngày về . Khi gió bụi đời phủ lấp mệt nhoài , nghĩa gì ngoài một nấm mồ chôn thân theo ngày tháng sống đời ảo ảnh .

Trường đời là bóng đường xa
Tình đời là chuyến tàu qua vội vàng
Đắng cay là cát bụi đường
Lòng ta là một đám tang ... không mồ


Chợ đời có giống như một sân ga không ? Cũng có kẻ đón , người đưa ? Mỗi người là mỗi một số phần riêng mang . Chợ đời có đủ loại người , có nam có nữ , có già có trẻ ... Có những rạng rỡ môi cười , no đủ . Cũng có thân trơ gầy , xác xơ . Chợ đời ( bình yên và thực phẩm ) , công hầu danh tước chớ bán chớ mua , trò chơi lừa bịp khiến người đời ngộ nhận . Chợ có đi thì phải có về .

Những chuyến tàu đời đưa xuôi đưa ngược những thân phận , khóc biết vì sao mình khóc , thua biết vì sao mình thua :" Đời ta lỡ mấy chuyến tàu" . Rồi vẫn lại đi tiếp ... thôi thế thì thôi ... đành thôi .

Thân tầm gầy guộc xác xơ
Chợ đời , mấy kẻ bán thơ làm giàu
Đời ta lỡ mấy chuyến tàu
Vì chưng vứt bỏ công hầu sau lưng


Câu thơ " Vì chưng vứt bỏ công hầu sau lưng " làm tôi chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du :

Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu !
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi !


Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
 [/align]KHÔNG ĐỀ[/align]
TG: Puskin

Một chút tên tôi đối với nàng
Sẽ chìm như tiếng sóng buồn tan
Âm thầm, mòn mỏi bên bờ vắng
Như tiếng chim kêu lạc giữa ngàn.


Ngày nào đó trên mặt trang kỷ niệm
Nó chỉ còn là dấu vết không hồn
Giống như tình phai trên mộ chí
Nét ngoằn ngoèo một thứ tiếng xa xăm.

Tên cũ từ lâu bị lãng quên
Chẳng còn gợi lại được trong em
Tình xưa êm ái và trong trắng
Trước mối tình ai mới dấy lên

Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn
Em thầm thì hãy gọi tên lên
Và hãy tin, còn đây kỷ niệm
Em vẫn còn sống giữa một trái tim…

Thúy Toàn dịch
[/align]LỜI BÌNH:[/align]
Em thầm thì hãy gọi tên lên…

Sống trên đời này, ai chẳng khao khát mình có được một tình yêu để được yêu hết lòng, sống hết mình cho người mình yêu dấu. Chả thế mà nhà thơ nổi tiếng Ấn Độ Ta-go đã viết, đại ý: Trước khi từ biệt thế giới này, cho tôi xin được nói một điều rằng: Tôi đã từng yêu!

Cho dù nhiều người cũng như B. Russell hiểu rằng: "Sợ yêu là sợ cuộc sống, và ai sợ cuộc sống thì đã chết ba phần" nhưng đâu phải lúc nào Thần Ái tình cũng mỉm cười cùng bạn. Thế giới hôm qua, hôm nay và mai sau sẽ mãi còn chứng kiến những mối tình dang dở mà nước mắt người trong cuộc có thể chảy thành… sông.

"Mặt trời của nền thi ca Nga" Puskin cũng đã trải qua những tháng ngày đớn đau vì tình yêu tan vỡ. Xin hãy chia sẻ cùng nhà thơ những mất mát buồn đau về cuộc tình "êm ái và trong trắng" của mình trong nghẹn ngào xúc động “trước mối tình ai mới dấy lên". Một tình yêu với bao kỷ niệm đẹp nay bỗng hóa xa lạ. Người thương yêu nay bỗng hóa xa xôi… Mỗi câu thơ, nhà thơ như muốn được sống lại kỷ niệm xưa trong nỗi niềm tiếc nuối khôn nguôi. Cái tên thân thương ngày ấy, những kỷ niệm khắc ghi ngày ấy tưởng chừng mãi mãi tạc ghi này bỗng đi vào quên lãng "chìm như tiếng sóng buồn tan", "Như tiếng chim kêu lạc giữa ngàn".

Nhiều nhà thơ đã bày tỏ tâm trạng của mình khi cuộc tình trắc trở: đau đớn, xót xa… Nhưng ứng xử sao đây thì mỗi người mỗi khác. Với Puskin sự độ lượng, bao dung, lòng nhân hậu, vị tha hiện dần lên qua từng câu thơ tha thiết. Lời cuối với người mình yêu lại là một lời hứa chân tình. Nếu gặp những buồn đau, chỉ cần khẽ gọi tên anh, anh sẽ bên em, bởi: "Em vẫn còn sống giữa một trái tim"…

Trung Hiền
[/align]
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
 
Mẹ ốm
           Trần Đăng Khoa

Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan.

Khắp người đau buốt, nóng ran
Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào.

Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay  hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi.

Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo.

Vì con, mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say.

Rồi ra đọc sách, cấy cày
Mẹ là đất nước, tháng ngày của con...

 
lời bình:
Trần Đăng Khoa nổi tiếng là một thần đồng về thơ khi đang còn học lớp ba trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của Khoa trong sáng giản dị mà dạt dào cảm xúc, đầy tình yêu thương con người và thiết tha yêu quê hương đất nước. Biết bao em nhỏ Việt Nam yêu thích những bài thơ của Khoa viết và bài thơ “Mẹ ốm” cũng vậy. Tác giả đã bộc lộ tình cảm của một người con với mẹ - một tình cảm rất hồn nhiên của tuổi niên thiếu

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả cảnh mẹ ốm bằng hình ảnh so sánh:
“Mọi hôm mẹ thích vui chơi.
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu”

Thường ngày mẹ hay ăn trầu, đôi má lúc nào cũng đỏ hồng lên. Thế mà hôm nay mọi cảnh vật trong nhà thật buồn bã.  Lá trầu cũng như lặng đi và héo khô trong cơi trầu. Những lúc rỗi rãi mẹ thường ngâm nga Truyện Kiều, giờ mẹ bị ốm nên “Truyện Kiều gấp lại trên đầu...”.
Mẹ vốn là người lam làm tần tảo. Khi mẹ ốm thì “Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa”. Cả cuộc đời mẹ vất vả gian nan nay bị ốm, tác giả đã cảm nhận được và thể hiện qua hình ảnh:
“Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”.

Tác giả - một em thiếu niên 10 tuổi đã liên tưởng từ hình ảnh “nắng mưa” mà thấy được sự vất vả, những thăng trầm của cuộc sống mà người mẹ đã phải trải qua. Vì vậy mà tác giả như hiểu được người mẹ đang phải chịu sự “đau buốt, nóng ran” khi bị ốm.
Rồi tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm của mọi người tới mẹ cũng được nhà thơ thể hiện rất mộc mạc, giản dị mà thắm đượm tình người:
“Mẹ ơi, cô bác xóm làng đến thăm.
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào”.

Điều đó chứng tỏ rằng, hàng ngày mẹ sống tốt với mọi người nên khi mẹ ốm mọi người quý mến và thương cảm tới mẹ. Còn nhà thơ - em bé thiếu niên Trần Đăng Khoa bấy giờ đã thấu hiểu nỗi vất vả cực nhọc của mẹ trong cuộc sống lam lũ mà em đã từng chứng kiến và cảm nhận được:
“Cả đời đi gió, đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi”.
“Cả đời đi gió đi sương”
là hình ảnh ẩn dụ diễn tả sự vất vả, gian khổ của người mẹ.
Trong cuộc sống lao động cực nhọc, mẹ đã từng trải qua và vượt lên tất cả để vì cuộc sống và vì tương lai tốt đẹp của các con. Khoa còn hiểu được qua thành ngữ “đi gió đi sương” là nói lên được sự vất vả gian khổ, lao động trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sớm tối lặn lội. Cảm nhận được như vậy, chứng tỏ tác giả rất yêu thương mẹ, muốn làm tất cả những gì để mẹ vui lòng mà chóng khỏi ốm:
“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ, kể chuyện rồi thì múa ca”.

Khoa còn làm được cả những việc vượt ngoài khả năng mà trước đây bản thân chưa làm được: “Một mình con sắm cả ba vai chèo” - một em thiếu niên thật là ngoan ngoãn, có thể lúc trước còn nhõng nhẽo, hay vòi vĩnh mẹ nhưng bây giờ mẹ ốm đã biết thể hiện sự hiếu thảo của mình qua sự chăm sóc mẹ. Nhìn những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt của mẹ, Khoa rất cảm động và thấy vô cùng biết ơn mẹ:
“Vì con mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn”.

Vì vậy mà trong lòng của nhà thơ lúc nào cũng ước:
“Con mong mẹ khoẻ dần dần
Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say”.

Thật cảm động biết bao trước tình cảm đẹp đẽ của một người con - một cậu bé chưa đầy 10 tuổi trước cảnh “Mẹ ốm”. Bài thơ còn hay ở câu kết mà tác giả đã nói hộ chúng ta về lòng biết ơn vô hạn của những đứa con với các bà mẹ:
“Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”.
Phải chăng đó cũng là tình cảm của mỗi chúng ta khi nghĩ về mẹ: Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹ như yêu đất nước và mẹ chính là Tổ quốc của riêng con !
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0












"Biết"
 
Võ Thị Kim Liên

Biết là em yêu chồng tôi
Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng
Biết là em cũng có chồng
Cơm canh không ngọt nên lòng vẩn vơ
Biết là tôi vốn dại khờ
Nhìn đời như thể bài thơ không vần
Tôi không yêu được hai lần
Nên thương em lỡ bước chân khó về

Biết là sau phút đam mê
Mộng mơ tan để não nề xót xa!
Em thất vọng với người ta
Tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời

Biết chồng vẫn chồng của tôi
Chiều ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng

                                                               
Lời bình:

Ghen chứ sao không ghen! Ớt nào mà ớt chẳng cay – Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng không ghen sao mà chua chát thế: Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng. Ba tính từ cay, chát, nồng đều là những tính từ nóng đi liền nhau hỗ trợ nhau nhằm đối phó với ngữ động từ em yêu chồng tôi như bất cứ người vợ nào trên đời cũng lồng lên khi biết là… có người phụ nữ khác yêu chồng mình, muốn chiếm hữu cục cưng của mình.
Tuy nhiên người đàn bà này có cái khác đời khi chị biết em cũng có chồng chỉ vì một lý do nào đó cơm không lành canh không ngọt nên mới sinh lòng vẩn vơ. Có thể chị cũng đã từng trải cảnh ngộ của người phụ nữ ấy nên mới thấu hiểu, độ lượng và bao dung, mới thương em lỡ bước chân khó về đến như vậy. Thương thật đấy chứ không phải làm bộ, làm tịch kiểu mèo vờn chuột đâu?
Hơn ai hết chị hiểu rất sâu, rất rõ chồng mình mới dám cam đoan rằng em mà tằng tịu với chồng chị, sau phút đam mê tất yếu sẽ xảy ra cảnh mộng mơ tan để não nề xót xa. Và như thế cả hai ta cùng khổ: Em thất vọng với người ta còn chị cũng chẳng hơn gì tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời, tuy nhiên em khổ hơn chị nhiều bởi em lỡ bước chân khó về.
Kiếp hồng nhan với nhau, chị hiểu đàn ông ít khi chịu tha thứ cho người phụ nữ lỡ bước trong khi họ thì huênh hoang khoe thành tích chim chuột vợ là vợ của người ta - anh ôm anh ấp như là vợ anh. Chồng em cũng chỉ thế thôi, còn chồng chị vẫn là chồng của chị, em không thể nào chiếm hữu được, có điều niềm yêu trong lòng chị ít nhiều cũng bị thương tổn Chiều Ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng chứ chẳng phải chị sợ sệt gì .
Ngưòi phụ nữ trong bài thơ Biết cho rằng tôi vốn dại khờ nhưng thật ra chị không khờ dại một tí nào mà còn khôn lanh ra phết. Bài thơ không vần không phải là căn cứ quy định chất lượng. Không vần thì còn có ý, có tứ, có nhịp, giọng, điệu, thanh, âm, từ ngữ… nghĩa là còn trăm thứ tạo nên chất cho bài thơ ấy.
Chị rất cao tay vừa phối hợp cứng, mềm lấy tình thương đánh động vào chút phận đàn bà để cảm hóa, dạy dỗ rồi lại đe nẹt đối phương một cách rất đàn chị: vừa nói xa vừa nói gần: tôi không yêu được hai lần đến mộng mơ tan để não nề xót xa, dọn đường cho người những mong chiếm đoạt chồng mình biết nẻo hợp, tan mà quay về với chồng con, tránh được bước chân lầm lỡ, để cỏ hoa ngày đôi lứa yêu nhau vẫn ngát hương trong hồn cả chúng chị, chúng em. Như thế chẳng là hạnh phúc cả đôi đường hay sao?
Rằng ghen tuông cũng chuyện người ta thường tình nhưng đây là một kiểu ghen đẹp, ghen tài hoa và nhân hậu, làm nguội cái máu cả ghen làm toáng lên, của quý bà, quý cô, lại giữ đựơc cơ đồ sắp xẻ đàn tan nghé. Không phải người phụ nữ nào trên đời cũng đủ bình tĩnh và bản lĩnh làm được như người phụ nữ trong bài thơ Biết của Võ Thị Kim Liên. Cái kiểu ghen điệu nghệ này các vị tiểu thư họ Hoạn hiện đại cần học tập và vận dụng, có phải tốt hơn không?
 


NGUYỄN HÀN CHUNG 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
         Mẹ và quả
 
Nguyễn Khoa Điềm

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng

 
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

 
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?

                                                                               
Lời bình
                                      (Nguyễn Ngọc Phú)
 
Những bài thơ thành công của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thường có những tứ thơ sâu sắc về triết lý nhân sinh nhưng được chuyển tải bằng ngôn ngữ thơ nhuần nhị và tươi rói. Mẹ và quả là tứ thơ độc đáo và cảm động khi viết về mẹ.



Quả tượng trưng cho sự sống mà mẹ chính là người gieo trồng chăm bẵm và mong mỏi được hái: Những mùa quả lặn rồi lại mọc - Như mặt trời, khi như mặt trăng. Chữ mọc thì hiển nhiên khi nói về cây trồng thực vật. Nhưng chữ lặn là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ. Ngoài sự chuyển dịch của thời gian, không gian còn có cả sự chuyển dịch không ngừng của sự sống, sức sống trỗi dậy tiềm ẩn chứa những trữ lượng sống nhân văn đầy ắp. Sự vận động này còn mang ý nghĩa triết học biện chứng.
 
Giọng thơ của ông điềm đạm, khiêm nhường trong Mẹ và quả là một ứng xử giao hoà giữa con người với thiên nhiên. Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên rồi và, chúng tôi một thứ quả trên đời. Ở đây nhà thơ không nói lũ chúng con, chúng con có lẽ ông muốn nới rộng biên độ tình cảm với sức khái quát lớn hơn ở một lứa tuổi đã đủ bản lĩnh và tự tin trước sự biến động của cuộc sống.
 
Thường, chúng ta nhìn sự thay đổi của vạn vật bằng sự lớn lên, vươn lên cả về hình khối và thể chất. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là người đầu tiên phát hiện sự lớn xuống hướng tâm về mặt đất không phải bằng độ oằn cong của cành mà bằng chính kích thước của quả của sự lớn nhiều chiều trĩu nặng mang bao ý nghĩa hàm ơn sinh thành: Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên – còn những bí, những bầu thì lớn xuống. Ông gọi tên bí, tên bầu như tên người thân thiết đầy biểu cảm và giao cảm.
 
Phải có con mắt tinh tế và tấm lòng nhân ái mới nhận ra những bí những bầu ấy: Chúng mang dáng giọt mô hôi mặn - rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi. Những giọi mồ hôi ngưng tụ giữa không gian mang một vẻ đẹp thuần khiết kết tinh mà ám ảnh; vừa day dứt, vừa tôn vinh hình ảnh người lao động thật bình thản và tự tin làm chủ cuộc sống. Chữ rỏ đông kết mà lan tỏa ấm nóng sự cộng hưởng của tình người. Tôi nghĩ khó có thể thay được chữ nào hay hơn thế vừa tôn kính thiêng liêng, vừa ấm áp nhân hậu.
 
Bài thơ có một giá trị lay thức thẩm mỹ khi ông thảng thốt: Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi – mình vẫn còn một thứ quả non xanh. Một sự thú nhận nhiều trực cảm; sự lan tỏa của bài thơ vì thế ngân vọng sâu xa hướng con người tới cội nguồn và vẻ đẹp vĩnh cửu của cõi Thiện.
 
(Nguyễn Ngọc Phú)
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0




“Những vầng trăng Đồng Lộc”

Tg: BÌNH NGUYÊN
 



Những vầng trăng Đồng Lộc

Mây bay Đồng Lộc trắng trời
Khói mây thấp thoáng bóng người hiện lên
 
Cô Giêng Hai tóc xanh mềm
Sớm ra đứng ngẩn bên thềm tiếng chim
Có gì thổn thức con tim
Trong chiêm bao cứ lặng im cất lời
 
Cô Tháng Ba hay trông trời
Hễ mưa là nhắc áo tơi mẹ già
Bao lần ngó bóng mây xa
Sau bom nổ giở thư nhà chuyền tay
 
Cô Tháng Tư hay giãi bày
Nhớ mùa chớm hạ nắng đầy sân rêu
Qua rằm vào tuổi đang yêu
Mỗi trang gấp mở bao nhiêu thẹn thùng
 
Cô Tháng Năm hay ngượng ngùng
Mà qua bao trận bão bùng lạ chưa
Lớn thầm trong nắng trong mưa
Biết thương từng luống cày bừa nhà nông
 
Cô Tháng Sáu cặp má hồng
Tóc bồ kết gội gió nồng nã thơm
Nhớ vàng sợi nắng trong rơm
Trận mưa đầu vụ bát cơm cuối mùa
 
Cô Tháng Bảy thích thêu thùa
Tấm khăn gửi kín bốn mùa đấy thôi
Mưa ngâu trời đất sụt sùi
Lại thương hai phía hai người xa nhau
 
Cô Tháng Tám mắt dao cau
Bao đêm ngồi hát sông Cầu trao duyên
Nhớ về từng trận lũ lên
Sông quê neo bóng con thuyền và ai
Cô Tháng Chín dáng mảnh mai
Câu thơ lén gửicho người chưa quen
Bao giờ... ai hẹn mà lên
Đêm đêm trăng sáng bình yên lạ thường
 
Cô Tháng Mười mắt như gương
Se se nắng gió bụi đường bao năm
Cứ vời trông phía xa xăm
Gặp ai cũng gửi lời thăm quê người
 
Cô Một Chạp miệng hay cười
Hồn nhiên chẳng sợ gió trời buốt đêm
Nhớ ai tay hái tay liềm
Chợ quê cái lạt buộc mềm mớ rau
 
Các cô đấy các cô đâu
Nén nhang cháy đỏ xuống màu cỏ non.
 

Lời bình:
 
“Những vầng trăng Đồng Lộc” của nhà thơ Bình Nguyên đăng trên số 5-2006 Văn nghệ Ninh Bình là bài thơ mang hương vị ca dao dân ca. Bài thơ viết về mười cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh vì độc lập dân tộc ở Ngã ba Đồng Lộc - một địa danh mà người dân cả nước và không ít bạn bè quốc tế biết đến như một tượng đài chiến thắng của nhân dân Nghệ Tĩnh và cả nước. Bài thơ mang cảm hứng bi tráng, thương nhớ và lòng thành kính biết ơn những người đồng đội, người em, người chị đại diện cho phụ nữ Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tuổi xuân của mình cho quê hương đất nước.
 
Với lòng cảm phục, thương nhớ các cô gái thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, tác giả Bình Nguyên viết nên bài thơ “Những vầng trăng Đồng Lộc” để góp thêm hoa tươi, hương thơm vào quần thể di tích mười cô gái thanh niên xung phong. Những cáitên Dương Thị Xuân, Phạm Thị Tần, Hồ Thị Cúc…mãi mãi khắc vào bia đá, đi vào nhiều tác phẩm văn thơ, trường tồn cùng thời gian và lịch sử dân tộc.
 
Tôi thích “Những vầng trăng Đồng Lộc” vì “Trăng” trong bài thơ đâu chỉ đơn thuần là một vệ tinh phát sáng huyền ảo cho địa cầu, trăng chính là mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc đã hy sinh xuân sắc, tình yêu lứa đôi, là tri âmđể làm dịu nỗi đau và mất mát chiến tranh. Mười vầng trăng đã chủ động lặng lẽ hạ giới làm bừng sáng cảnh vật, soi tỏ những cánh hoa lấp lánh hương sắc khiến mọi người tự tin hơn vào thế viên mãn của đất nước sau chiến tranh. Bài thơ nói về những người đã khuất - tập thể đồng đội đã hy sinh trong cùng một thời khắc của chiến tranh mà âm hưởng không bi ai, nghe lạc quan sảng khoái. Các cô đã mất nhưng lại hóa thân vào đất trời, vào thời gian, hiển hiện dưới những cái tên Giêng Hai, Tháng Ba, Tháng Tư, … Một Chạp - nghe mới gần gũi, thân thương làm sao.
 
Mấy ai trong đời làm thơ không lấy quê hương đất nước làm điểm tựa, lấy lời ru ca dao, dân ca thuở nằm nôi chắp cánh ước mơ như những vần thơ xao xuyến, thơ thổn thức về quê hương xứ sở, về tuổi thơ, hình ảnh mẹ tần tảo sớm hôm, hai sương một nắng với ruộng đồng như tác giả Bình Nguyên. Trong lịch sử văn học nước ta đã có nhiều bài thơ của các nhà thơ khác nhau ca ngợi hình ảnh người mẹ, người chị, người em - người phụ nữ; từ những ký ức xa xưa, người mẹ trong thơ văn được tác thành những hình tượng gắn với những kỷ niệm khó phai. Từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt, một thế hệ nhà thơ chiến sĩ trong đó có Bình Nguyên được trưởng thành và hình như trên mỗi bước đường hành quân gian lao vất vả, các anh đã được sưởi ấm bới tấm lòng nhân hậu, cao cả và bao dung của các mẹ, các chị, các em ở bất cứ nơi nào họ đi qua.
 
Tôi thích bài thơ “Những vầng trăng Đồng Lộc” cũng là thích những tìm tòi của tác giả với một đề tài vốn có nhiều người viết và viết hay, nhưng cái khác của tác giả Bình Nguyên là, những bài thơ trước đó, mười cô gái thanh niên xung phong được nhìn như những anh hùng liệt nữ, nay họ hóa thân vào vũ trụ, thiên nhiên, gió, mây, thời gian năm tháng bốn mùa, núi sông, đất đai, cánh đồng, vào những trăn trở lo toan của cuộc sống thường nhật không ngừng đổi mới, đi lên…
 
Mạn phép tác giả bài thơ “Những vầng trăng Đồng Lộc”, xin được mượn hai câu kết của bài thơ để kết thúc bài bình, xem như nén tâm hương để mượn gió gửi về bảo tàng văn hóa lồng lộng giữa đất trời Nghệ Tĩnh, nơi lưu giữ những chứng tích hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả nước ta:

“Các cô đấy các cô đâu
Nén nhang chảy đỏ xuống màu cỏ non”.


Dương Kim Anh
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
THAY LÁ
 
TG: Lê Trung Nguyệt

Đã lâu rồi
Anh chắng nhìn em
Như cái thời ấy nữa.
Sao lại thế?
Người ơi sao lại thế?
Cây bàng cũ đã bao lần thay lá
Búp xanh lại ngơ ngác thuở ban đầu
Hãy chớp mắt nhìn nhau
Cho mùa lá rụng
Để cái nhìn lên búp tơ non
Mơn mởn trời xanh trên cành cổ thụ.

Anh sẽ lại thấy em
Như thuở ban đầu
Hãy chớp mắt đi anh
Cho cái nhìn thay lá.

Lời bình:

Một cuộc tình dù đẹp đẽ và hạnh phúc nồng ấm đến đâu chắc hẳn cũng phải có đôi lần người trong cuộc cảm thấy có những điều bất ổn mặc dù có thể đó chỉ là những linh cảm mong manh, khó nói. Tôi đã bắt gặp cái cảm gíac rất mơ hồ nhưng cũng rất thật ấy trong bài “Thay Lá” của Lê Trung Nguyệt.
“Đã lâu rồi
Anh chẳng nhìn em
Như cái thời ấy nữa”

Thời gian có sức mạnh ghê gớm, nó có thể chữa lành những nỗi bất hạnh nhưng cũng có thể bào mòn những niềm hạnh phúc. “Đã lâu rồi”, thời gian đấy!, “anh” đã không còn có ánh nhìn say đắm với “em” như cái thuở ban đầu ấy nữa. Không hiểu rằng ta có đòi hỏi quá nhiều hay không khi biết rằng chẳng có gì trên cuộc đời này là không thay đổi mà vẫn cứ mong muốn có những điều cứ phải tồn tại vĩnh viễn. Khi ánh nhìn của người yêu không còn như trước nữa, ấy là trong cảm nhận của riêng ta, thì bỗng thấy thảng thốt:
“Sao lại thế?
Người ơi, sao lại thế?”

Người phụ nữ thường nhạy cảm và yếu đuối là thế, có một sự thay đổi nào đó dù rất nhỏ cũng làm họ thấy lo lắng về một điều xấu có thể xảy ra và muốn tìm hiểu nguyên nhân của nó. Hai câu hỏi dồn dấp toát lên cái vẻ gấp gáp, nóng lòng muốn biết sự thật mà như một lời thổn thức.”Người ơi”, tôi cảm nhận ở tiếng gọi tha thiết ấy một tình cảm yêu thương da diết nhưng vẫn có gì đó như dè dặt, xa xôi.
“Cây bàng cũ đã bao lần đổi lá
Búp xanh lại ngơ ngác thuở ban đầu”

Câu chuyện của thiên nhiên, cây lá được “xen vào” một cách khéo léo, tự nhiên. Cây thay lá, điều ấy có gì lạ đâu nhỉ? Và rồi…
“Hãy chớp mắt nhìn nhau
Cho mùa lá rụng
Để cái nhìn lên búp tơ non
Mơn mởn chồi xanh trên cành cổ thụ”

Hãy làm mới lại, trẻ lại chính cái nhìn của “anh” để nó trở về “tơ non” của “thời ấy” như cây thay lá mỗi mùa thu. Tình yêu vẫn luôn cần phải hâm nóng để có được cái cảm gíac mới mẻ, vâng, đấy là cái mà “em” mong chờ nơi “anh”. Nỗi mong chờ, khát khao ấy thật giản dị nhưng cũng thật cần thiết, phải không? Nó như khí trời ta vẫn thở mỗi giây, không thể thiếu được dù rất dễ bị lãng quên bởi chính sự hiển nhiên không thể thiếu của nó
“Anh sẽ lại thấy em
Như thuở ban đầu
Hãy chớp mắt đi anh
Cho cái nhìn thay lá”

Hỡi những người yêu dấu của chúng tôi ơi, các anh hãy tự nhìn lại mình đi, các anh có nhận thấy trong lúc nào đó mình đã nhìn người yêu bằng ánh nhìn của những chiếc lá vàng úa mà chưa chịu rời cành không?. Nếu vậy thì “Hãy chớp mắt đi anh, cho cái nhìn thay lá!”, chắc chắn rồi “anh sẽ lại thấy em như thuở ban đầu” và tình yêu sẽ là mãi mãi với những ai biết nuôi dưỡng nó, “thay lá” lá cho nó!
Và cuối cùng tôi xin được trả lời câu hỏi của chính mình: “Không hiểu rằng ta có đòi hỏi quá nhiều hay không khi biết rằng chẳng có gì trên cuộc đời này là không thay đổi mà vẫn cứ mong muốn có những điều cứ phải tồn tại vĩnh viễn?”. Không! Với tình yêu thì không bởi để tình yêu tồn tại vĩnh viễn là ta phải biết thay đổi nó. (chà, nói một hồi thấy luẩn quẩn quá, nhưng mọi người hiểu mà, phải không?)
Đăng nhập để trả lời
0
KHOẢNG CÁCH
(Bùi Kim Anh)

Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh
Chỉ một lần thôi êm ả
Dẫu đã có bao lần vội vã
Anh vẫn là anh xa cách giữa cuộc đời

Sẽ chẳng bao giờ có được giữa lòng tay
Chút ấm áp hương người thương nhớ
Một bông cúc muộn mằn mới nở
Dẫu vàng tươi vẫn trơ trọi cuối mùa

Một tình yêu tha thiết hẹn hò
Anh vói em chỉ là trong mộng ước
Một giấc mơ rất gần mà không thực
Rất mặn nồng mà trống trải đơn côi

Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh
Chỉ một lần thôi là tất cả
Để cứ đến rồi đi trên đường cúc nở
Không hương mùi vẫn gợi nhớ âm thầm.

Lời bình:

“Khoảng Cách”, tựa đề bài thơ đã dự báo “điều chẳng lành” rồi, và quả thế thật: “Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh”, một sự ngăn trở có lẽ là không thể phá bỏ được, bởi thế mà “sẽ chẳng bao giờ” dù “chỉ một lần thôi êm ả”. Giữa hai người là một khoảng cách vời vợi “Anh vẫn là anh xa cách giữa nỗi đời”, đọc đến câu này tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Xuân Diệu “Em là em; anh vẫn cứ là anh/ Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành/ Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật” (Xa Cách), sự xa cách đáng sợ nhất là xa cách về tâm hồn giữa con người với nhau bởi mọi khoảng cách về không gian đều có cách để vượt qua, và thậm chí cả những khoảng cách về thơi gian cũng có thể khắc phục được, ấy là sự đồng điệu giữa hai tâm hồn của những thế hệ khác nhau.

Sẽ chẳng bao giờ có được giữa lòng tay/ Chút ấm áp hương người thương nhớ”, một tâm trạng khát khao trong vô vọng, ấy là biết rằng không bao giờ nắm được “hương người thương nhớ” dù rất muốn thế. “Ấm áp hương người", sao mà thân quen, gần gũi nhưng cũng rất đỗi mong manh, mơ hồ không sao nắm giữ, không sao mô tả được, chỉ thấy thương nhớ thế thôi. Phải chăng sự ngăn trở ở đây là vì cái lẽ gặp không phải lúc khi mà “Một bông cúc muộn mằn mới nở/ Dẫu vàng tươi vẫn trơ trọi cuối mùa” thế đấy, muộn màng thì dù “vàng tươi”, dù tha thiết cũng chỉ là “trơ trọi”, là cô lẻ mà thôi. “Người ơi gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không”, đấy là tâm trạng nàng Kiều, nàng lo lắng cho sự “biết có duyên gì hay không” là lo lắng cho tương lai sợ rằng có thể có trắc trở, nhưng “biết có” thì vẫn còn chút hy vọng là có thể có hoặc không. Còn “em”, “em” chắc chắn một điều rằng “em” gặp anh là một sự muộn màng như hoa cúc nở về thu, bởi thế mà “Sẽ chẳng bao giờ…”

Một tình yêu tha thiết hẹn hò/ Em với anh chỉ là trong mộng ước”, tôi muốn trở về với sự xa cách về tâm hồn giữa hai con người ở khổ thơ đầu, khi đọc khổ thơ ấy tôi tưởng chừng như có sự trách móc nào đó của cô gái vì sự “bất đồng điệu” giữa tâm hồn của hai kẻ yêu nhau bất hạnh ấy, nhưng có lẽ không phải thế! Hình như là tâm hồn họ không dám cùng cất tiếng, không dám đến gần nhau, không dám hòa vào nhau chứ không phải là không tìm thấy “nhịp điệu chung”, bởi vậy mà “Một tình yêu tha thiết hẹn hò” nhưng cô gái vẫn dặn lòng rằng “Em với anh chỉ là trong mộng ước”, vâng chỉ dám nghĩ là mộng thôi, không mong nó là thật. Cảm xúc ấy lại tiếp tục trải dài, miên man với hai câu tiếp theo: “Một giấc mơ rất gần mà không thực/ Rất mặn nồng mà trống trải cô đơn”. Trời ơi! mơ mơ - tỉnh tỉnh, hư hư - thực thực, hai cái ấy cứ đan quện vào suốt khổ thơ để rồi âm hưởng còn sót lại là “trống trải”, là “cô đơn” sau tất cả những “tha thiết”, những “mặn nồng”.

Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh”, điệp khúc này được lặp lại một lần nữa như để nhấn mạnh lại cái sự không thể vượt qua của những ngăn trở, “Sẽ chẳng bao giờ em đến được cùng anh/ Chỉ một lần thôi là tất cả”, dẫu vậy mà vẫn “Để cứ đến rồi đi trên đường cúc nở/ Không hương mùi vẫn gợi nhớ âm thầm”. Muộn màng, cách trở nhưng vẫn "âm thầm" nhớ, nhớ không quên được nên “cứ đến rồi đi” và vẫn mãi khát khao “Chỉ một lần thôi là tất cả”… dù “em” đã “trên đường cúc nở”, đã muộn màng cả tuổi xuân?
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-01 15:12:52coco_trencungtrang>
 
Tan vỡ
 
 TG: Dư thị Hoàn

Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
Bút viết xong không đậy nắp bao giờ
Ôi anh yêu, lơ đãng đến là
Con nai rừng của em...
 
Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng
Nếu không có một lần...
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em
 
Lời bình:
 
   Vâng! chỉ vì cái tội "lơ đãng" mà anh - nhân vật trữ tình của chị - "mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ / bút viết xong không đậy nắp bao giờ”. Chị không hề trách cứ, không lời phàn nàn,... bởi có thể là anh mải nghĩ, mải làm rồi quên đấy thôi. Ai mà chẳng có lúc lơ đãng. Hơn nữa chính sự lơ đãng nhiều khi đem lại cho cuộc sống một chút lãng mạn. Và anh, anh cũng đáng yêu hơn. Dưới mắt nhìn của chị, anh như "con nai rừng ngơ ngác" trong thơ Lưu Trọng Lư giữa đêm vàng hư ảo:

    Ôi anh yêu, lơ đãng đến là
   Con nai rừng của em...

    Hai câu thơ của chị Dư Thị Hoàn đẹp trong cái nhìn thi vị và thật dễ thương bởi tình yêu chân thật. Được biết chị là con người ý tứ và cẩn trọng trong hình thức, thế mà, chị vẫn dành cho anh - nhân vật hay "lơ đãng" được nói đến trong bài thơ - một sự bao dung.
    Cứ ngỡ " tất cả rồi sẽ dễ qua đi, qua đi”, hai con người yêu nhau kia "sẽ thành vợ thành chồng". Câu chuyện thơ khép lại. Nào ngờ... cái điều chị muốn trao gửi đến bạn đọc lại không chỉ là sự "lơ đãng" thường tình mà lại là một vấn đề lớn hơn không thể tha thứ trong tình yêu:

    Nếu không có một lần...
   Một lần như đêm nay
   Sau phút giây
   Êm đềm trên ghế đá
   Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

    Những câu thơ gãy đổ, dự báo một tình yêu tan vỡ. Anh có thể quên đóng ngăn kéo, không đậy nắp bút và gì gì đi chăng nữa nhưng đừng bao giờ “lơ đãng" kiểu đó. Dư Thị Hoàn không đòi hỏi một sự viên mãn trong tình yêu bởi chị đã từng viết: "Nếu anh cũng như em / đòi nhau sự viên mãn / thì điểm gặp nhau của chúng ta / còn thảm hại hơn hai hòn bi" (Viên mãn). Thế nhưng thật khó chấp nhận một sự thật phũ phàng đến thế. Ai mà không có lúc thiếu cẩn trọng trong việc làm song tình yêu lại không cho phép, bởi tình yêu vốn mong manh, dễ vỡ.
    "Người mà đến thế thời thôi...” thì dẫu chỉ một lần, "một lần như đêm nay" cũng dẫn đến một kết thúc buồn. Xin sẻ chia cùng chị nỗi đau được bộc lộ một cách mãnh liệt và trần trụi trong bài thơ Tan vỡ.
 
Nguyễn Mậu Hùng Kiệt




[/align][/align][/align][/align][/align]
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-31 12:58:47coco_trencungtrang>
Tình ca ban mai
(Chế Lan Viên)
 
Em đi, như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về, tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc
Em ở, trời chưa ở
Nắng sáng màu xanh che
Tình em như sao khuya
Rãi hạt vàng chi chít 
Sợ gì chim bay đi
Mang bóng chiều bay hết
Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về
Dù nắng trưa không ở
Ta vẫn còn sao khuya
Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít
Mai, hoa em lại về...

LỜI BÌNH:

 
Nhà thơ Chế Lan Viên với bài thơ Tình ca ban mai có cách biểu hiện thật riêng về nỗi “em đi” và niềm vui “em về”.

Điều sắc sảo mà ân tình trong trạng thái tâm tư trong 4 câu thơ đầu của bài thơ là ở chỗ: Hình ảnh yêu thương của em gắn hoà với sự sống. “Em đi” với không em thì trong nỗi niềm khắckhoải của người yêu em, sự sống cũng rời xa “như chiều đi - gọi chim vườn bay hết”. Tác giả của “Tình ca ban mai” cũng từng thấm thía, chạnh lòng với sự thiếu vắng ấy:
Không em anh chẳng qua vườn
Sợ mùi hương...sợ mùi hương nhắc mình
(Hoa tháng 3)
Cũng chính vì thế mà hình ảnh “em về” như gắn với niềm vui của sự sống, của sức sống thanh tân “Tựa mai về - Rừng non xanh lộc biếc”. Hai câu thơ của Chế Lan Viên diễn tả hình ảnh “em về” sao mà tươi tắn và dạt dào sức sống một cách kỳ diệu - bởi niềm vui như sống dậy, cựa mình trong từng con chữ (rừng – non – xanh- lộc biếc).
Và đây nữa, hình ảnh “em ở” mới thực sự là có em trọn vẹn như màu xanh của sự sống, như ánh nắng sáng của niềm tin yêu, như tình em “rãi hạt vàng chi chít” trên vòm trời đêm của hạnh phúc – tình yêu.
“Em ở” có “tình em” và có “tình em” cũng có nghĩa là tình anh bừng dậy. Tình ý của mấy câu thơ của Chế Lan Viên mang theo cả sự toả lan, hô ứng thật tình tứ và thú vị:


“Tình em như sao khuya
Rãi hạt vàng chi chít
Sợ gì chim bay đi
Mang bóng chiều bay hết”
Sự chuyển vận của cảm xúc tâm tình trong bài thơ tạo được ấn tượng đặc sắc bởi những câu thơ có sự chuyển hoá từ tình cảm mỗi người – tình cảm mỗi em, của anh, sang phía tình cảm của đôi lứa, sang tiếng nói chung điệu, chung tình. Hoá ra, nhà thơ đã khám phá vẻ đẹp mà cũng là sức mạnh lạ lùng của tình yêu. Vẻ đẹp cùng sức sống ấy như ánh lên từ sắc mầu nẩy nở như lộc biếc của tình yêu con người. Hai chữ “lộc biếc” được nhà thơ điệp lại như một thứ thông điệp vĩnh hằng của tình yêu, mà cũng là thứ thông điệp đầy sinh lực của sự sống muôn loài.
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
TRĂNG VÀNG TRĂNG NGỌC
 
Hàn Mặc Tử

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò...
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá:
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là trăng của Rạng Ngời.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
 
 
Lời bình:
 
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Hàn Mặc Tử đang reo to lên với mọi người. Ta ngỡ như nhà thơ đang nhảy nhót mừng vui. Như điên cuồng: “Ai mua Trăng tôi bán Trăng cho”. TRăng nào của riêng Hàn Mặc Tử? Nhưng Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử lại là một góc rất riêng của thi nhân. Như mỗi một Người-Thơ đích thực đều có một vầng trăng của riêng mình. Tôi không so sánh được Hàn Mặc Tử với thi tiên Trung Hoa Lý Bạch – nhà thơ của Rượu và Trăng, bởi giữa hai nhà thơ là hai thế giới hoàn toàn khác. Điều có thể khẳng định là ở Việt Nam ta, Hàn Mặc Tử là người viết về trăng hay số một trong số những thi sĩ lãng mạn 1932 – 1945. Vầng trăng đã trở thành sự gắn bó định mệnh với nhà thơ, trăng càng viên mãn thì thân thể nhà thơ càng bị đau đớn hao khuyết. Vẻ đẹp của trăng đã được Hàn Mặc Tử cảm nhận bằng chính nỗi đau thể phách của mình. Có hiểu vậy ta mới thấy mỗi lời thơ của Hàn Mặc Tử như được rứt ra tự sâu thẳm tâm hồn.
“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Trăng của Hàn Mặc Tử. Mang nỗi đau vò xé thể xác nhưng tâm hồn đầy khát vọng của nhà thơ. Lời, từng lời choáng ngợp, sáng láng. Bệnh tật đẩy nhà thơ ra khỏi thế giới người bình thường, do định kiến của xã hội. Sự đày đọa thể xác cũng không bằng sự đày đọa tinh thần nhà thơ phải gánh chịu: cảm giác cô đơn. Hàn Mặc Tử cô đơn, cô đơn khủng khiếp. Có ai làm người mà lại thích cô đơn, nên người nào lâm vào cảnh đó cũng cố tìm một nguồn chia sẻ. Với Hàn Mặc Tử, là Trăng. Phải, chỉ còn Trăng cạnh nhà thơ, an ủi tâm hồn, vực dậy trong nhà thơ những tâm tư, khát khao vươn về cuộc sống. Khát vọng lớn lắm nên những câu thơ như huyết mạch sôi lên gấp gáp: “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”. Trăng là phần đời, là sự sống của Người:
“Tôi đang cầu nguyện cho Trăng tôi”
Không chỉ là bạn tâm tình, trăng đã thành sự hoá thân: “Tôi cũng Trăng mà nàng cũng Trăng” (Huyền ảo); thành nguồn thơ bất tuyệt: “Cả miệng ta trăng là trăng” (Một miệng trăng). Người “chơi giữa mùa trăng” để thấy mình tan ra trong cảm giác hoà nhập với ánh sáng. Trăng thành nguồn sáng trong đêm tối đời Người. Cho nên ta không lấy làm lạ khi đi vào vườn thơ của Hàn Mặc Tử, ta đã được tắm trong luồng ánh sáng kỳ ảo của Trăng, trong đủ mọi cung bậc cảm giác, lúc ấm nồng, khi ớn lạnh. Nguồn Thơ, Nguồn Trăng, “Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang?”. Một khi còn khat khao giao cảm với đời, nhà thơ làm sao có thể đánh đổi vầng trăng để mua về sự tuyệt vọng?
Hàn Mặc Tử đã vào cõi vĩnh hằng tròn 50 năm*, nhưng đã mấy ai hiểu hết tấm lòng nhà thơ? Viết những câu thơ như đùa, như bỡn kia, nhà thơ đã phải sống, phải cảm “bằng máu, bằng lệ, bằng hồn”, sống đến tận cùng sự sống.
Vẫn là vầng trăng đêm đêm toả sáng, chúng ta có thể coi là chuyện bình thường. Nhưng vầng trăng đã trở thành cõi – thiêng – liêng toả sáng hồn thơ Hàn Mặc Tử: “Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời”. Ngậm ngùi cho cuộc đời thi nhân, ta càng khâm phục, kính yêu người – thơ ấy: từ căn bệnh tuyệt vọng, từ cuộc sống đau thương, vẫn vươn lên nhập cuộc với Đời, bám víu lấy Đời bằng những luồng tơ trăng mỏng mảnh. Để sống. Để kết tụ hương – thơm qua những vần thơ diễm lệ:
“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!”
Qui Nhơn tháng 8 – 10 năm 1990
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-31 12:52:18coco_trencungtrang>
Gửi em, cô thanh niên xung phong
 
(Phạm Tiến Duật)
Có lẽ nào anh lại mê em
Một cô gái không nhìn rõ mặt
Ðại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất

Người tinh nghịch là anh dễ thân
Bởi vì thế có em đứng gần
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn"
Ðêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón

Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru.

Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối

Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đọan đường này các em làm đâu
Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.

Anh đã đi rất nhiều, rất nhiều
Những con đường như tình yêu mới mẻ
Ðất rất hồng và người rất trẻ
Nhưng chẳng thấy em, cô gái ở Thạch Nhọn Thạch Kim

Những đội làm đường hành quân trong đêm
Nào cuốc nào choòng xoong nồi xủng xoảng
Rực rỡ mặt đất bình minh
Hấp hối chân trời pháo sáng
Ðường trong tim anh in những dấu chân.

Chiếc võng bạc trên đường hành quân
Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi
Lại đường mới và hàng nghìn cô gái
Ở đâu em tinh nghịch của anh?

Bụi mù trời mùa hanh
Nước trắng khe mùa lũ
Ðêm rộng dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi, đường vẫn liền đường

Cạnh giếng nước có bom từ trường
En không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiểu bom nổ chậm
Ðêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em, thương em biết mấy...

Dừng tay cuốc khi em ngoảnh lại
Sẽ giật mình đường mới ta xây
Ðã có độ dài hơn cả độ dài
Của đường xá đời xưa để lại
Sẽ ra về bao nhiêu cô gái
Một ngày mai đường sẽ đứng chơ vơ
Ðể cho đời sau còn thấy ngẩn ngơ
Trước những công trình ngoằn ngòeo trên mặt đất.

Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
Có lẽ nào anh lại mê em
Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
Tên em đã thành tên chung anh gọi:
Em là cô thanh niên xung phong. 


lời bình:


1. Sáng tác ngay trên đất lửa ác liệt của khu IV Hà Tĩnh, nơi “giặc điên cuồng trút hàng vạn bom rơi” . Vẻ đẹp những o thanh niên xung phong quả cảm đã đi vào nhiều bài thơ bài hát ca ngợi, nhưng có thể nói bài thơ của Phạm Tiến Duật giúp ta nhận ra rõ dáng nét, tâm hồn của cả một thế hệ thanh niên, những người con gái bằng xương bằng thịt mà lại có sức sống mãnh liệt vượt lên bom đạn.
2. Thơ kháng chiến chống Mỹ gắn với tuyến đường Trường Sơn có nhiều bài sâu sắc mà cảm động, lại rất giàu chất hiện thực. Chính không khí của những ngày chống Mỹ làm nên cảm hứng thơ ca hướng về với con người - biểu trưng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Thơ của Phạm Tiến Duật, người chiến sĩ lái xe, viết ngay trong mưa bom bão đạn mà lại tươi rói sức sống tuổi xuân của một lớp người trưởng thành từ thực tế chiến đấu đã được đông đảo quần chúng đón nhận. Thô ráp, một mạc mà lại rất sinh động, tươi trẻ, chứa đựng tinh thần lạc quan của thế hệ chống Mỹ. Có lúc đằm sâu trong Nhớ, có lúc ngang tàng phóng khoáng bụi bặm đầy chất lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Riêng bài thơ này đã lý giải một tình yêu người lính – tình cảm trong chiến đấu, nảy nở giữa chiến trường, nơi sự sống – cái chết cách nhau một ranh giới mong manh đã ghi đậm dấu ấn tâm hồn tuổi thanh xuân trong hình tượng cô thanh niên xung phong.
3. Cũng như nhiều bài thơ trong giai đoạn này ngồn ngộn những chất liệu hiện thực, tác phẩm của Phạm Tiến Duật kể về cuộc gặp gỡ với những nữ thanh niên xung phong mà trung tâm chính là em - một cô gái không không nhìn rõ mặt. Từ cuộc gặp gỡ cụ thể ấy, nhà thơ đã nâng tầm nhân vật trữ tình thành bức tượng đài nghệ thuật ngôn từ về lực lượng thanh niên xung phong thời chống Mỹ.
4. Cái may mắn của thế hệ hiện nay là được hưởng hoà bình và được hưởng thụ nhiều tiện nghi về vật chất cũng như tinh thần. Nhưng sẽ là một thiệt thòi nếu thiếu những hiểu biết về một thời dân tộc đã anh dũng lập nên bao chiến công, không cảm nhận được về con người của một thời đã trực tiếp viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc. Sẽ là một thiếu sót nếu thế hệ hôm nay lãng quên quá khứ. Chúng ta thường dễ xúc động trước những người ngã xuống vì lý tưởng độc lập tự do của dân tộc, dễ cảm thương trước những thiệt thòi hôm nay của các o pháo binh Ngư Thủy, các o TNXP Đồng Lộc mà có thể không hiểu được rằng: vào thời ấy, họ đã phải hy sinh lặng thầm, không hề tính toán thiệt hơn.
5. Những bài thơ của một thời có thể sẽ bị chìm vào quên lãng, lạc lõng trước những âm thanh hip-hop, rock-rap hiện đại. Nhưng nếu ta chịu khó hiểu, ta sẽ sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân và đất nước mình. Hãy đọc và cùng hoà vào cảm xúc rất trong trẻo của thời đại chống Mỹ ở bài thơ này, ta sẽ hiểu thế nào là Sự Sống, Tình Yêu mạnh hơn bom đạn và cái chết./.
                                                                                    Trần Hà Nam
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0





Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Hoàng Nhuận Cầm
 
Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi
Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới
Như cánh chim trong mắt của chân trời
Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! Dù đau xót một lần thôi
Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa
Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào - nếu chán - gió lại ra
Hò hẹn mãi cuối cùng em đứng đó
Dẫu mùa thu, hoa cúc cướp anh rồi...
(Theo bản in trong tập Xúc xắc mùa thu - NXB Hội Nhà văn - 1992)

Bình thơ
Có những hẹn hò làm tình yêu thêm thi vị. Có những hẹn hò để rồi xa nhau. Có những hẹn hò để rồi có bài thơ như Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến của Hoàng Nhuận Cầm. Tôi vẫn luôn thích những sự lỡ làng trong thơ anh. Một hạnh phúc tưởng như đến tay rồi chợt vỡ, một tình yêu vẹn tròn rồi chia xa, và những hẹn hò từ từ khép lại ….
Đây là một trong những bài thơ viết hay về sự hẹn hò trong tình yêu. Vốn dĩ, hẹn hò là một phần của tình yêu, thật hiếm có những tình yêu mà không hò hẹn. Nhưng cách cảm nhận của Hoàng Nhuận Cầm lại thật đặc biệt. Đặc biệt trong nỗi đợi chờ không phải là vô vọng, vì cuối cùng thì "em cũng tới", nhưng khi em tới thì không phải anh không còn đợi nữa, mà chính mùa thu đã không còn kiên nhẫn với cuộc tình…Bởi lẽ:
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi
 
Hoàng Nhuận Cầm vốn giỏi dùng những hình ảnh thật cụ thể để diễn đạt những cảm giác vô cùng mơ hồ, tinh tế. Thấy bông hoa sót lại cuối cùng để biết một mùa thu đã qua, và người đọc cũng cảm nhận được nỗi đợi chờ đã mòn mỏi thế nào! Cuối cùng em cũng đến, nhưng đến chỉ để thấy có những điều quý giá đã trôi qua...
Ta đã chán lời vu vơ, giả dối
Hót lên! dù đau xót một lần thôi

Tiếng thơ như chưa bao giờ thành thật đến thế, thành thật để kiếm tìm một tiếng nói chân thành từ trái tim không toan tính, để con người đối diện với nhau không qua một tấm mặt nạ nào! Có lẽ cũng bởi sự thành thật một cách hồn hậu đó, mà thơ Hoàng Nhuận Cầm tìm đến được với bao tấm lòng, bao tình cảm tri âm!
Khổ thơ thứ ba của bài thơ, tôi thích nhất, vì nó chất chứa trong đó rất  nhiều suy tưởng. Một sự suy tưởng giản dị, nhưng nó không phải không chứa trong đó một quan niệm rõ ràng về tình yêu!
Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói
Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ
Anh sợ hãi bây giờ anh mới nhớ
Em hay là cơn bão tự ngàn xa

Không hiểu vì đâu nhiều bạn trẻ thường hay chép lệch thành "Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói/ Rằng bồ câu không chết lẻ bao giờ". Nếu như thế, câu thơ vẫn hay nhưng lại hay theo một cách khác. Tôi thích cách suy tưởng của anh, bồ câu không chết trẻ cũng như những mong ước về tình yêu là vĩnh viễn. Tình yêu một mặt nào đó cũng là hiện thân của cái Đẹp mà con người hằng khát khao vươn tới và chiếm lĩnh một cách trọn vẹn. Vì thế mà bồ câu không chết trẻ, cũng như những tình yêu không có quyền chết trẻ, những khát khao không có quyền lụi tàn. Em hay là cơn bão tự ngàn xa. Tứ thơ không mới, nhưng lại lạ trong nỗi sợ hãi của con người, sợ hãi mà vẫn đón nhận, vẫn đợi chờ, vẫn phấp phỏng trong âu lo và hạnh phúc.
Khổ thơ cuối cùng là một sự so sánh có phần chua chát, nhưng chua chát một cách ngộ nghĩnh, một các bâng khuâng và tiếc nuối, cái chua chát của một người còn trẻ:
Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ
Gió em vào - nếu chán gió - lại ra

Tưởng như tình yêu chỉ là một trò đùa, dễ dàng và chóng vánh với người con gái. Nhưng nếu để ý thì ta lại nhận ra một sự bao dung. Trái tim ấy là một tấm lòng, một tình yêu luôn chờ đợi, dẫu bé nhỏ nhưng vẫn là tổ ấm đủ để chở che cho những cơn gió vô tình một lần lạc bước. Để rồi cuối cùng, có một lần em đến, một lần em nói, một lần em đứng đó…. Chỉ có điều "mùa thu hoa cúc cướp anh rồi"… Đã bao lần đọc câu thơ này, tôi vẫn cảm thấy nỗi chông chênh của một con người, vừa quyết định sẽ lên tàu thì con tàu vụt chạy đi mất. Tàu thiếu đi một hành khách và người đi thành kẻ lỡ đường….
Câu thơ cuối cùng của bài thơ lưu lại trong ấn tượng người đọc bởi từ "cướp" rất đậm "chất" Hoàng Nhuận Cầm. Nó giúp ta không quên những ngày anh còn là người lính làm thơ. Chất lính tráng ấy vẫn đôi lần trở về trong thơ anh như một gợi nhớ, một dấu ấn, một nét riêng đặc biệt.
Thoáng đọc Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, người ta có thể nghĩ, ừ, bài thơ này "kết thúc có hậu" vì cuối cùng em cũng đến kia mà. Nhưng dư âm bài thơ, cách kết thúc của bài thơ lại cho ta một cảm nhận khác. Ấy là dư âm của sự lỡ làng... Ta có thể đợi nhau, nhưng cuộc đời không đợi ta. Vì thế mà đã có rất nhiều tình yêu đẹp trong cuộc đời, nhưng chẳng biết có bao nhiêu trong số đó, đi trọn vẹn được đến cuối đường?
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-05 07:14:14coco_trencungtrang>
TIẾNG CƯỜI TRONG TRẺO
Trần Thị Mỹ Hạnh
    
Khi không khóc được thì cười


Cười nghiêng ngửa trước đầy vơi tủi hờn
Nỗi mình lắm cái đa đoan
Nỗi nhà đau đáu mênh mang tuổi đời
Tưởng dòng nước mắt cạn rồi
Đâu ngờ nước mắt khi cười trào tuôn
Ngọt ngào mặn đắng hoàng hôn
Chát chua bươn trải càng thương yêu mình
Đất trời vốn chẳng yên lành
Dòng trong bến đục , ân tình,lo toan
Không khóc được thì cười vang
Tiếng cười trong trẻo át ngàn nỗi đau
                                              

Lời bình
    
Trái tim phụ nữ vốn dĩ đa thanh , phức điệu lắm rồi ,phụ nữ mà ‘’giời  bắt làm thi sĩ ‘’ thì mức độ tăng tiến lại càng  hơn gấp bội,thế nhưng mở đầu bài thơ nữ sĩ họ Trần lại phán một câu gọn ơ khẳng định ;
  ‘’ Khi không khóc được thì cười’’
Thoạt  nghe có vẻ đơn giản  kiểu nói lấy được ,không khóc thì cười  chớ sao,nhưng là loại đơn giản đã được trui  trong lò bát quái nhân sinh quan của người  từng’’ bươn trải ‘’bao nhiêu đắng cay ,thất bát của cuộc đời mới luyện thành bản lĩnh khóc cười như ý làm vậy.Khóc lóc có giải quyết được gì đâu , ông cha đã chẳng từng căn dặn  cháu con đó sao:’’khóc nhục,rên hèn ,van yếu đuối’’.Thế thì cười lên đi ,tiếng cười tạm thời  xua tan bóng tối ,oán thù , ,nói theo y học tiếng cười là liều thuốc bổ, tiếng cười làm giãn nếp nhăn giúp quý ông ,quý bà cãi lão…’’trước đầy vơi tủi hờn’’.Nói như vậy nhưng hàm ẩn trong cái động  thái ‘’cười nghiêng ngửa ‘’ ấy có một cái gì đó xót xa cố nén  ‘’.Mà đúng rồi ‘’tủi  hờn, đa đoan, mênh mang nỗi đời’’ thì đố ai mà cười vô tư cho được  .Giá như tác giả đừng quá bộc bạch :’’Tưởng dòng nước mắt cạn rồi-Đâu ngờ nước mắt khi cười trào tuôn ‘’thì độ nén của tứ thơ sẽ ngấm sâu hơn vào lòng người đọc .Thật ra’’ cười nghiêng ngửa ‘’để’’nước mắt khi cười trào tuôn ‘’thì cũng không có gì là ghê gớm lắm đâu bởi đó là chuyện thường ngày ở…phim ,ở báo  !Phải đạt đến cảnh giới ‘’cười là tiếng khóc khô không lệ ‘’ kia mới tổng hoà các mối quan hệ xã hội trong quá trình sống ‘’ ngọt ngào mặn đắng-chát chua bươn trải’’thì cái độ yêu mình mới không gói gọn trong tính cá thể nhỏ nhoi  mà ít nhiều đã vươn ra ngoài cuộc sống .Có thế sự yêu mình mới phát sáng hơn , đáng quý hơn.
Khổ cuối  tác giả khái quát một vấn đề không có gì mới ,một quy luật muôn đời bất biến với hàng loạt các sáo từ ‘’dòng trong, bến đục, ân tình,lo toan’’ đã được chẳng những thơ ca mà các loại hình nghệ thuật khác đề cập đến từ thuở nảo thuở nao rồi  .Tuy nhiên  Trần Thị Mỹ Hạnh không rườm lời đâu ,chị chỉ muốn mượn hai câu đầu của khổ cuối như lưỡi dao để vót nhọn từ ‘’cười vang’’  trong câu ‘’ Không khóc được thì cười vang ‘’cứa vào tim những con người yếu đuối ,thiếu bản lĩnh dễ đầu hàng nghịch cảnh . Tôi nghe như từ hai chữ ‘’cười vang‘’có  cả hình ,cả ảnh có  âm sắc, âm giai đủ để thôi thúc con người phát tán nỗi đau trong tiếng cười vang tràn đầy tinh thần lạc quan của kẻ đã thấu triệt lẽ đời bi,hoan,ly,hợp . Tôi mãnh liệt tin rằng những con người  yếu  đuối ấy khi đọc bài thơ Tiếng cười trong trẻo ngấm câu này, thấm từ  ‘’cười vang’’ này ,nếu  đang  ‘’tủi hờn,  chát chua đớn đau’’ định sẽ làm một việc dại đột nào đấy  sẽ mau chóng  cười vang . Và khi đã cười vang được rồi thì tội gì mà không sống ,chiến đấu  kia chứ .Cuộc đời dài lắm mà !
Từ những  suy ngẫm mang tình chủ quan, ở góc độ người đọc cố gắng thấu cảm,chiếm lĩnh tác phẩm  tôi mạo muội nghĩ rằng giá như  tác giả cắt câu thơ cuối cùng đi để tiếng cười vang trong câu áp chót làm nhiệm vụ kết bài thì âm hưởng của tiếng cười vang ấy sẽ ngân nga  đồng vọng mãi trong lòng người đọc .Lý giải’’Tiếng cười trong trẻo át ngàn nỗi đau ‘’  làm gì  khi ‘’lòng đã tới rồi bút bất tất phải nói nữa ‘’  (Kim Thánh Thán) .
Bài thơ thuần lục bát ,giản dị ,từ không mới ,tứ không mới mà để lại dư ba cuốn hút người đọc phải chăng  là vì con chữ bình thường đã được nhà thơ điểm nhãn trở thành ‘’con mắt thơ’’?
 
Nguyễn Hàn Chung
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Bờ sông vẫn gió
Tác Giả: Trúc Thông


Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
một lần cuối ... một lần về cuối thôi.
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
Cây cau cũ giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần.
Con xin ngắn lại đường gần
một lần ... rồi mẹ hãy dần dần đi ...
***

 
Lời bình:

Trong đời sống người dân miền châu thổ thì con sông là nguồn sữa phù sa nuôi dưỡng cánh đồng, mùa vụ. Ấy là xét về giá trị thời gian. Còn từ độ nhìn không gian thì hình ảnh con sông được xem là một điểm mốc hẹn mang giá trị lâu dài, có khi thành vĩnh tồn. Vĩnh tồn ngay cả khi nó bị lấp đi! Cái con sông – “Bờ sông” – xưa tiến đưa, nay đang mong đợi ở bài thơ này được Trúc Thông sử dụng với cả hai yếu tố: không gian, thời gian và lồng cộng với hai biểu tượng tinh thần là: lá ngô và làn gió. Một thời gian mang niềm thương nhớ khôn khuây, một không gian không đổi dời, một thứ tiếng gọi thao thiết đêm ngày của gió quê, và một thứ sinh thể mang cái màu sắc thiên thu đã lay động lên, hoá thượng thanh khí lên là chiếc lá ngô – nơi cõi phần ký ức. Bốn thứ lực tác động tạo hình ảnh, hình tượng này, chúng đã hoá thân vào nhau làm một - một niềm hướng tưởng duy nhất: Miền cố hương.

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
một lần cuối ... một lần về cuối thôi.
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh...


Nỗi nhớ quê hương trong tâm tưởng người tha hương mặn mòi, da diết lắm. Người ta xưa nay hằng “chiều chiều ra đứng ngõ sau ...” khi nhìn sông thấy khói sóng lúc cuối ngày mà buồn, khi nhìn trăng sáng đẹp mà nhớ. Vâng, còn biết nói thế nào, đến cả loài cầm thú cũng đã phải “ba năm quay đầu về núi” kia mà.
Niềm tha hương ở bài thơ này, với người mẹ - người đã dành cả quãng ngày xanh tuổi trẻ cho con cháu, nay da mồi, tóc bạc, tuổi đã vào cuối hoàng hôn mà vẫn chưa thực hiện được nguyện ước cuối cùng, về thăm quê hương bản quán, mà khoảng dặm đường nào có xa xôi: “Con xin ngắn lại đường gần ...” . Lẽ thường người con đứng trước khoảng cách “đường xa dặm thẳng” mới phải mong cho “ngắn lại” chứ?! Chính từ cái “nghịch lý” này mới hoạ rõ lên cái “nghịch phận”. Tình thơ bởi thế mới sâu nặng, mới ám ảnh. Và cũng bởi thế mà không phải ngẫu nhiên, trong một bài thơ, nhà thơ đã sử dụng từ “xin” tới ba lần : Xin người hãy trở về quê; Lệ xin giọt cuối để dành; Con xin ngắn lại đường gần . Từ xin trong ngôn ngữ tiếng Việt mang đậm tính thân phận, nhân tính, Phật tính như : cầu xin, xin ăn, xin học ... Vậy nên từ này chỉ được dùng khi tấm lòng có việc chân thành hay ai cảm. Trúc Thông với tâm thi thành và ai đã sử dụng ba lần từ xin . Qua đó niềm thân phận buồn thương, lệ tình mẫu tử lung linh ngời sáng lên tính luân lý và đạo lý sâu sắc.
Sự dụng công đầy tính kỹ thuật của bài thơ cũng là một thành công cần được soi tỏ. Nếu ta thấy tổng lượng câu chữ của bài thơ là 12 câu với 84 chữ, một bài thơ có số lượng câu chữ giản thiểu như vậy, nhưng ở phần phân lượng chữ lại được nhà thơ sử dụng gia tăng, đẩy nhân đầy ắp lên. Tính cả cụm từ “một lần” thì bài thơ có những 6 chữ được sử dụng lặp đi lặp lại thành 24 lần chữ. Lặp ngôn tới tỷ lệ như vậy mà khi thưởng thức không phải người kỹ tính không dễ nhận ra. Ấy là bởi, trong một thi phẩm khi tình thơ, hồn thơ đã toả sáng lên, động vang lên, tạo ra một trường xung cảm mạnh mẽ giữa thi phẩm và người thưởng thức thì khi ấy tính hình thức, kỹ thuật đã trở thành một phương diện cấu thành, biểu đạt của nội dung nghệ thuật; tình thơ khi ấy cất cánh bay thoát ra khỏi cái “cốt – ngôn ngữ”, thơ đã đi từ cái cá thể - mang dấu vết ngôn ngữ và thân phận - đến nhập vào hợp thể, đồng vang nơi tiếng nói (thanh ngữ ) chung. Đó là nơi ẩn cư truyền nối thiêng liêng của cõi phần tâm tình, tâm linh; nơi mà kỹ thuật ngôn ngữ chỉ còn tồn tại như một lễ nghi trước bàn thơ tinh thần: Hồn thơ màu nhiệm.
Bờ sông vẫn gió thực sự là một thi phẩm có giá trị nghệ thuật của Trúc Thông góp cho kho tàng nghệ thuật thơ và thơ lục bát nước nhà
Đỗ Trọng Khơi
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
CHUYỆN DÂN GIAN
 
Vũ Cao

Giữa trưa trời đổ mưa rào
Không quen bỗng gặp cùng vào trú mưa
Bập bùng gió đập phên thưa
Mái nghiêng lại dột không chừa áo em
Nhẹ nhàng tôi nép sang bên
Nhường nơi khất gió cuối thềm cho nhau
Em cười: mưa vậy mà lâu
Anh xem, lại một chuyến tàu nữa qua!
Nhưng rồi mây tản đi xa
Và mưa bỗng tạnh, nắng nhoà bóng cây
Tôi chìa tay để bắt tay
Hỏi thăm nơi ở mai này lại chơi
Thế rồi người ấy yêu tôi
Tôi yêu người ấy thành đôi vợ chồng
Cái duyên nghĩ cũng lạ lùng
Trú mưa một lát, cảm thông một đời
Đến nay người ấy vẫn cười:
- Gía như buổi đó ông trời chẳng mưa!

Lời bình:


          Bài thơ đúng là “chuyện dân gian” nhưng đó là chuyện dân gian thời nay. Nói cặn kẽ, đúng hơn là một “chuyện cổ tích” - một thể loại của chuyện dân gian - có nhân vật, có tình huống, có diễn biến tình huống, có thắt nút, mở nút và nhất là một kết thúc có hậu (đặc trưng của truyện cổ tích), chứ không đơn thuần là… chuyện dân gian chung chung. Và, đã xem như là một chuyện cổ tích thì điều gì trong “chuyện” đã “làm nên” ông Bụt, cô Tiên có phép “thần thông màu nhiệm” đem đến điều lành, cái hậu cho con người trong CHUYỆN DÂN GIAN đây?

Rõ ràng, không có gì khác ngoài MƯA, mưa đã làm nên chuyện “hội ngộ kỳ duyên” cho chàng trai và cô gái trong bài thơ. Cơn mưa rào có vai trò “quyết định” như ông Bụt, cô Tiên đã… kết “thành đôi vợ chồng” cho họ.

Mở đầu CHUYỆN DÂN GIAN là một tình huống: cơn mưa rào đến bất ngờ (giữa trưa trời đổ mưa rào), chàng trai và cô gái không hề quen biết nhau vào trú mưa cùng một lúc. Nếu chỉ vậy thì có gì đáng nói. Điều đáng nói là cơn mưa rào khá lớn, lại có gió to, chỗ trú mưa không được tốt lắm (Bập bùng gió đập phên thư/ Mái nghiêng lại dột không chừa áo em). Cái nút thắt trong CHUYỆN DÂN GIAN là ỏ chỗ này đây. Nếu chàng trai là người vô tình, dửng dưng thì hà cớ gì lưu tâm đến cô gái. Đằng này “chàng” có để ý, có lưu tâm mới phát hiện (đúng hơn là thấy rõ mưa đã “không chừa áo em”. Ngẫm một chút, người đọc dám chắc lá khi vào trú mưa “anh” đã “để mắt” đến “em” rồi, vì nơi trú mưa chỉ có… hai người. Chính vậy mà, khi thấy mưa “không chừa áo em”, “anh” thật áy náy, băn khoăn. Không chần chừ so tính “anh’ đã nhẹ nhàng nép sang bên “Nhường nơi khuất gió cuối thềm cho nhau”. Thế mới gọi là đàn ông, mới đáng mặt là đấng “nam nhi quân tử” chứ! những lời thơ “nhẹ nhàng”, “nép”, “nhường”, “cho nhau” thật gợi, thật cảm, cho thấy cử chỉ, việc làm của “anh” rất ý tứ, khiêm nhường, lịch sự, đầy tính tôn trọng và rất văn hóa đối với “em”. Người đọc hẳn đồng tình và “em” cũng rất xao xuyến, không thể thờ ơ trước việc làm đó của “anh” được. Điều đó có nghĩa là “anh” sẵn sàng hứng chịu cảnh mưa dột và gió lùa, nhưng ta biết chắc là lòng “anh”rất vui, phải không bạn? Hơn thế, theo sự “mách bảo” của trái tim, người đọc sẽ thẩm cảm được độ rung động của “em” qua những lời đằm thắm, chân tình: “Em cười: mưa vậy mà lâu/ Anh xem, lại một chuyến tàu nữa qua!”
Thế là rõ rồi. Bởi lẽ đã là mưa rào thì đâu có lâu, nhưng “em cười: mưa vậy mà lâu” vì “em” sợ mưa lâu thật thì “thương” và “tội” cho anh quá! Chỉ cần qua câu thơ này thôi, đủ thấy nhà thơ Vũ Cao rất tinh tế, sâu sắc về tâm lý, tình cảm của phái đẹp. Và, chỉ cần “em cười: mưa vậy mà lâu”, người đọc cũng ngẫm được bao nhiêu điều… sau đó. Như vậy, cái thắt nút của CHUYỆN DÂN GIAN được mở ra. Từ lúc chàng trai nhường chỗ trú mưa, cũng là lúc cô gái tỏ ra “quan tâm” đến mưa hơn, đúng hơn là mong mưa mau tạnh hơn, thực chất là đã ngầm “để mắt” đến chàng rồi. Chính việc làm đẹp của chàng trai đã “cảm” cô gái, làm cho trái tim cô gái ấm dần lên, rung động lên, “nhịp đập tình yêu” đã có cơ “bừng cháy” khi có điều kiện.

Cái gì đến ắt nó phải đến. Theo “diễn biến” của bài thơ, thì mưa phải tạnh, hai người trú mưa cũng phải tạm chia tay. Điều thú vị chàng trai đã chủ động đưa tay bắt tay “em” tạm biệt, nhưng vẫn không quên “hỏi thăm nơi ở mai này lại chơi”. Chất xúc tác này chính là điều kiện để tạo nên một kết thúc có hậu: “Thế rồi người ấy yêu tôi/ Tôi yêu người ấy thành đôi vợ chồng”
Vui với hạnh phúc, người con trai tự luận một chút về “cái duyên”: “Cái duyên nghĩ cũng lạ lùng/ Trú mưa một lát cảm thông một đời/ Đến nay người ấy vẫn cười/ - Giá như buổi đó ông trời chẳng mưa!”
Quả thật “- Giá như buổi đó ông trời chẳng mưa!” thì chắc chắn không có CHUYỆN DÂN GIAN. Bài thơ thật nhuyễn về vần điệu, đằm thắm, dung dị trong lời chữ, ngọt ngào thi vị ở tứ thơ, thật sự ấn tượng người đọc bởi ý ngĩa dân gian của nó. Cám ơn đại tá – nhà thơ Vũ Cao, từng danh tiếng với bài thơ “Núi đôi” cách đây hàng nửa thế kỷ, nay lại có CHUYỆN DÂN GIAN góp cho nền thơ lục bát Việt Nam thêm một thi phẩm độc đáo.

(MINH QUANG)
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
CÓ MỘT ĐIỀU

(Nguyễn Kim Thuý)


Có những việc em không thể thay anh
Những việc chỉ duy mình anh làm được
Tình yêu đâu là trò chơi cá cược
Em càng không phải người lật quân bài

Có những khó khăn trên chặng đường dài
Em không sợ những gì đang cản lối
Nhưng em sợ một lời anh từ chối
Cầm tay em qua sóng gió cuộc đời

Có những tuổi thơ nay đã xa vời
Anh đã lớn và em không còn bé
Nhưng tại sao chỉ một lời nói khẽ
Ba tiếng thôi mà không ghép thành câu?

Có những điều em chẳng nói được đâu
Rất đơn giản vì em là con gái
Vì trái tim luôn đặt ở bên trái
Nên em sợ mình sai lầm…biết đâu…

Có một điều em đợi từ rất lâu
Dù biết chắc: Chẳng bao giờ anh nói!

Lời bình:

“Thụ động” trong tình yêu, đó là một nét đặc trưng của nữ giới Á Đông, trong đó có Việt Nam. Như vậy không có nghĩa là tình yêu của những cô gái này kém phần mãnh liệt và bỏng cháy mà nó mang một nét rất riêng, ấy là sự kín đáo và ý tứ trong hành động mặc cho lòng có bừng cháy yêu thương. Những “ngọn lửa” tình yêu như thiêu đốt tâm hồn ấy đã tràn thành những vần thơ nóng hổi đợi chờ trong “Có một điều” của Nguyễn Kim Thuý.

“Có những việc em không thể thay anh
Những việc chỉ duy mình anh làm được
Tình yêu đâu là trò chơi cá cược
Em càng không phải người lật quân bài”

Có những việc em không thể làm thay anh được ấy là chính vì anh mới là người phải “chủ động” và chỉ duy một mình anh làm được thôi. Tác giả đem trò cá cược ra để đặt cạnh tình yêu rồi khẳng định rằng tình yêu và trò cá cược không thể là một được, điều đó tưởng chừng không có gì đáng chú ý vì hiển nhiên nó là vậy. Thế nhưng, câu tiếp theo mới là điểm chốt: “Em càng không phải là người lật quân bài”, vâng cũng chỉ là lời khẳng định thêm rằng em không thể chủ động được nhưng với hình ảnh “lật quân bài” của trò cá cược tạo nên cho người đọc một cảm giác đầy mạo hiểm của một trò chơi mà được - thua không thể biết trước, và:

“Có những khó khăn trên chặng đường dài
Em không sợ những gì đang cản lối
Nhưng em sợ một lời anh từ chối
Cầm tay em qua sóng gió cuộc đời”

Nhưng em sợ một lời anh từ chối”, sự được - thua làm cô gái lo ngại nằm ở chính điều này đây. Những khó khăn “cản lối” không làm “em” lo ngại hay chùn bước, “em” sẵn sàng đối mặt, sãn sàng vựợt qua chỉ cần “anh” “cầm tay em qua sóng gió cuộc đời”. Thế nhưng “em” không biết được rằng khi “em” cứ thổ lộ lòng mình cùng “anh” thì “anh” có “từ chối” hay không? Bẽ bàng lắm “anh” ơi, nếu điều thổ lộ của “em” lại chẳng nhận được một sự đồng tình từ phía “anh”. Tâm trạng e ngại này thật dễ hiểu với những phụ nữ Á Đông chúng ta, chúng ta không thể mạnh dạn lao vào tình yêu, thể hiện tình yêu hết mình bất chấp phản ứng của “đối tượng” như những phụ nữ Tây Phương dạn dĩ được.

“Có những tuổi thơ nay đã xa vời
Anh đã lớn và em không còn bé
Nhưng tại sao chỉ một lời nói khẽ
Ba tiếng thôi mà không ghép thành câu?

Có những điều em chẳng nói được đâu
Rất đơn giản vì em là con gái
Vì trái tim luôn đặt ở bên trái
Nên em sợ mình sai lầm…biết đâu…”

Hai khổ thơ tiếp theo mang đầy tâm trạng, như có gì trách móc, giận hờn lại vừa như có gì lo sợ, thẹn thùng. Cô gái trách chàng trai sao chỉ có ba tiếng ấy mà chàng không ghép được thành câu, rằng cô là con gái vì thế mà “em chẳng nói được đâu”. Không chỉ là trách móc, tâm trạng cô gái còn chứa một sự thấp thỏm vì cô thực sự không hiểu ý chàng “Nên em sợ mình sai lầm…biết đâu…”. Rồi sau tất cả những giằng xé của yêu thương mà không dám ngỏ, mà sợ không được đáp lại, bài thơ kết thúc bằng hai câu:

“Có một điều em đợi từ rất lâu
Dù biết chắc: Chẳng bao giờ anh nói!”

“Em” đã thầm mong “anh” sẽ nói điều ấy với “em” từ rất lâu rồi, vậy mà… Hai câu kết của bài thơ như một sự khép lại bởi lời khẳng định: “Dù biết chắc: Chẳng bao giờ anh nói!”, không còn gì nữa, “em” tin chắc là không thể hi vọng điều gì nữa. Nhưng thế thì cô gái có chờ nữa không? Câu hỏi này tôi tự đặt cho mình rồi cứ day dứt mãi về nó. Tôi vừa mong cô gái hãy quên đi hình bóng ấy để đón chờ một tình yêu mới thực sự dành cho cô, lại vừa mong cô hãy chờ thêm chút nữa để rồi một ngày gần đây, khi đọc những dòng này chàng trai kia sẽ hiểu và đáp lại tấm lòng của cô; rồi câu chuyện của họ lại là một chuyện tình kết thúc có hậu. Biết đâu rằng chàng trai lại chẳng trách yêu cô gái bằng câu hát: “em yêu anh rồi sao em chẳng nói?...”

Đấy, ai dám bảo tình yêu như thế là không mãnh liệt, không cháy bỏng? Phải yêu dạt dào lắm “em” mới có thể thốt nên những lời thơ tha thiết như vậy. Cái ý nhị là ở chỗ này đây, chẳng có một lời yêu nào được nói ra, nhưng “em” biết, “anh” biết và người đọc biết rằng… rằng… r ằng “Em y êu anh!” và em mong lắm anh hãy nói đi, nói với em “ba tiếng thôi” ngọt ngào.

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-14 21:44:38coco_trencungtrang>
Nhớ máu
Trần Mai Ninh

Ơ cái gió Tuy Hoà…
Cái gió chuyên cần
Và phóng túng.
Gió đi ngang, đi dọc,
Gió trẻ lại - lưng chừng
Gió nghỉ,
Gió cười,
Gió reo lên lồng lộng.

Tôi đã thấy lòng tôi dậy
Rồi đây
Còn mấy bước tới Nha Trang
- A, gần lắm!
Ta gần máu,
Ta gần người,
Ta gần quyết liệt.

Ơi hỡi Nha Trang!
Cái đô thành vĩ đại
Biết bao người niệm đọc tên mi.

Và Khánh Hoà vĩ đại!
Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người,
Cả hồn ta sát tới
Nhìn mi!
Ta có nhớ
Những con người
Đã bước vào bất tử!
Ơ, những người!
Đen như mực, đặc thành keo
Tròn một củ
Hay những người gầy sắt lại
Mặt rẹt một đường gươm
Lạnh gáy,,,
Lòng bàn tay
Khắc ấn chuỗi dao găm.
Chân bọc sắt,
Mắt khoét thủng đêm dày

Túi chứa cả Nha Trang… họ bước
Vương Gia Ngại… Cung Giũ Nguyên
Chút chít Hoàng Bá San… còn nữa!

Cả một đàn chó ghẻ
Sủa lau nhau
Và lần lượt theo nhau
Chết không ngáp!

Dao găm để gáy,
Súng màng tang

Ồng ộc xối đầy đường máu chó.
Chúng nó rú.
Cả trại giặc kinh hoàng:

Lời bình:





Kết thúc đêm 9/11/1946 tại Tuy Hòa, thời điểm cuối mùa mưa miền Trung, lòng người Việt Nam yêu nước suốt dải đất đòn gánh này chợt rung lên vì một ngọn gió lạ, một ngọn gió đầy phấn khích cuộn lên giữa thời điểm căng như dây đàn trước lệnh Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

"Ơ cái gió Tuy Hòa...
Cái gió chuyên cần
Và phóng túng.
Gió đi ngang, đi dọc,
Gió trẻ lại lưng chừng
Gió nghĩ,
Gió cười,
Gió reo lên lồng lộn"

Trần Mai Ninh đấy! Và bắt đầu từ ngọn gió dữ dội ấy, thơ Việt hiện đại có thêm một nhà thơ, một bài thơ bất tử: bài Nhớ máu. Hãy đọc lại bài thơ này với niềm đam mê, với tình yêu, và chúng ta sẽ thấy, cái nhịp thơ Nhớ máu ấy chính là nhịp rock, một loại hard rock mà ngay tới bây giờ cũng chưa dễ thưởng thức được trọn vẹn. Thơ bắt đầu từ ngôn ngữ, nhưng trên cả ngôn ngữ, siêu-ngôn-ngữ chính là nhịp thơ, chứ không phải vần thơ. Nhịp thơ đẩy bài thơ vọt lên phía trước, ấn vào vô thức người đọc, khuấy động tận đáy sâu tâm cảm người đọc. Đã nhiều năm tôi đọc Nhớ máu, ở nhiều hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau, và sau cùng, cái "ấn" vào tôi sâu nhất vẫn là nhịp (rhythm), cái nhịp kỳ lạ của bài thơ này:
 "- A, gần lắm!
Ta gần máu,
Ta gần người,
Ta gần quyết liệt.
Ơ hỡi, Nha Trang!
Cái đô thành vĩ đại"

Bạn có nghe nhịp rốc-cứng, metal-rock trong những dòng thơ gằn xuống, thở trào lên, lay giật, xối xả, cuống quít ấy không? Một ca sĩ hard-rock sẽ phải toát đầm đìa mồ hôi khi thể hiện một khúc rock như thế này. Và đó chính là hạnh phúc của Thơ, cái hạnh phúc thường hiếm hoi, kén chọn, quay quắt, cái hạnh phúc không bao giờ cho không bất cứ nhà thơ nào mà không đòi phải trả giá. Trần Mai Ninh đã phải trả giá bằng chính cuộc đời mình cho bài thơ Nhớ máu. Giống như Lorca khi viết bài thơ định mệnh Bi ca cho Ignacio Sanchez Mezias ông đã kêu lên: "Tôi không muốn nhìn thấy máu", thì đó chính là máu của ông, máu của một nhà thơ Tây Ban Nha vĩ đại. Trần Mai Ninh đã "nhớ máu", và đó cũng là máu của chính ông, một nhà thơ Việt Nam quyết tử. Không chỉ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", mà còn quyết tử cho Thơ, cho sự đổi mới toàn diện Thơ:
"Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người,
Cả hồn ta sát tới"

Đó là phút giây của xuất thần, của vô thức, của trào dâng, Thơ vọt ra như máu xối - máu của người yêu nước quyết tử, máu của nhà thơ tự do cả thân xác lẫn tâm hồn. "Ơ, những người! - Đen như mực, đặc thành keo - Tròn một củ - Những người gầy sắt lại - Mặt rẹt một đường gươm - Lạnh gáy...". Họ là những chiến binh của nhân dân, một nhân dân dữ dội, quật khởi, bừng ngộ, xứng đáng với một Tổ quốc mới. Tôi nghĩ, nếu không có những phút xuất thần dâng hiến trọn vẹn ấy nơi mỗi người chiến sĩ, mỗi người lính bình thường, thì chúng ta lấy đâu ra chiến thắng sau cùng? Và không có những bài thơ hy sinh toàn diện cho Thơ như bài Nhớ máu, thì lấy đâu ra thơ Việt hiện đại với những bước đi khó nhọc, khổ nạn nhưng chưa bao giờ chịu lùi:
"Dao găm để gáy
Súng màng tang
Chúng nó rú
Cả trại giặc kinh hoàng
Quy-lát khua lắc cắc
Giầy đinh xôn xao
Còi và kèn..." 

Cứ như bạn đang coi một trường đoạn "hot" (nóng) nhất trong phim hành động! Thơ có thể hóa thân không chỉ vào âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mà cả vào điện ảnh nữa! Và những montage dứt điểm trong bài Nhớ máu là những montage mà một đạo diễn điện ảnh mạnh tay nghề có thể thưởng thức sâu sắc. "Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai" Trần Mai Ninh có thể thấy bài thơ của mình ròng ròng nơi "tối cao vinh dự". Nơi ấy, chắc chắn không phải là một giải thưởng, dù là giải thưởng to đến đâu! Nơi ấy, là hồn dân tộc, là khí huyết bừng bừng của những người yêu nước trung trực, là nơi "Việt Nam rồi đứng dậy - Sáng vô chừng!".
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0

Bước đi bước nữa

NGUYỄN BÍNH

Xê lại gần đây, xích lại đây
Lại đây cho mẹ nhủ câu này:
Mẹ không muốn thế nhưng mà nghĩ
Bấy lâu mẹ đã nhiều đắng cay.

Kể con giờ cũng lớn khôn rồi
Chín suối cha con hẳn ngậm cười
Mẹ muốn bước đi thêm bước nữa
Còn đàn em nhỏ cậy con nuôi.

Con ơi! Mẹ khóc suốt đêm kia
Khóc suốt đêm qua nữa, chỉ vì...
Con mẹ có còn thương mẹ dại
Thì con gái mẹ nhận lời đi

Mẹ cũng không mong sướng lấy mình
Nhưng mà số phận bắt điêu linh
Vả chăng thiên hạ nào riêng mẹ
Gái góa qua đò uổng tiết trinh.

Mai mốt con ơi mẹ lấy chồng
Các con coi mẹ có như không
Khuya rồi đấy nhỉ, con đi nghỉ
Gió bấc đêm nay lạnh ngập phòng...



* Lời bình :

Bài thơ Bước đi bước nữa in trong tập Lỡ bước sang ngang của thi sĩ quá cố Nguyễn Bính. Hẳn là bài thơ này ít được biết tới, nhất là trong các tuyển tập thơ Nguyễn Bính thời gian qua không thấy chọn bài này.

Tác giả viết theo giọng tự sự, bài thơ là lời kể lể, phân trần của người mẹ góa với người con gái lớn trước khi bà bỏ nhà đi bước nữa.

Mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng lời nói bình thường của người mẹ, ngôn ngữ thơ giống như lời nói hằng ngày:

Xê lại gần đây, xích lại đây
Lại đây cho mẹ nhủ câu này...

Và cứ thế, người mẹ kể lể sự tình với cô con gái bằng giọng chân quê, mộc mạc. Người mẹ nhắc đến người cha nơi chín suối, nhắc đến phận mình phải dứt gánh ra đi và nhắc đến cảnh ngộ mà người con gái phải thay mẹ gánh vác: Còn đàn em nhỏ cậy con nuôi.

Cái hay ở bài thơ không phải ở ngôn ngữ chắt lọc, mà ở lối tả chân, lối kể lể dẫn dắt người đọc. Người đọc hình dung ra thân phận người đàn bà góa: chồng chết, bà tần tảo nuôi một đàn con dại. Trải qua bao nỗi lận đận, cô quạnh, người đàn bà góa vẫn cam lòng chịu đựng. Rồi cô con gái đầu đã lớn. Rồi người đàn bà góa dự định đi lấy chồng như một số người đàn bà góa khác: Bà tâm sự với con, lời lời như chắt ra từ trái tim nhiều đắng cay, héo hắt: Con ơi! Mẹ khóc suốt đêm kia/ Khóc suốt đêm qua nữa chỉ vì.../ Con mẹ có còn thương mẹ dại/ Thì con gái mẹ nhận lời đi .

Bao nhiêu nỗi niềm sâu kín bà đã nói hết với cô con gái lớn. Bà thú nhận trước con mình rằng bà đã khóc, khóc suốt đêm qua, đêm kia, khóc vì nhiều lẽ... Và bà thốt lên: Con mẹ có còn thương mẹ dại. Chữ mẹ dại ở câu thơ chợt nhói lên, day dứt trong tâm trí người đọc. Người mẹ tâm sự với cô con gái lớn thật lòng như thế, hỏi đã là phận con gái, nào ai nỡ chối từ?

Mẹ cũng không mong sướng lấy mình
Nhưng mà số phận bắt điêu linh.

Người mẹ đã quyết định một điều hệ trọng trong cuộc đời: Bước đi bước nữa. Biết rằng mọi nỗi khôn dại ở đời thật khó lường, nhưng bà mẹ vẫn dứt áo ra đi. Ra đi không phải bà cầu mong điều sung sướng cho mình, ra đi để thoát khỏi thân phận người mẹ góa.

Ở đoạn kết bài thơ, người mẹ đã hình dung ra cảnh mình đi lấy chồng, đi trong tâm trạng tủi hờn, lo lắng. Bởi nhẽ sau lưng bà là một đàn con đã khổ vì thiếu cha, từ đây sẽ càng côi cút hơn vì thiếu mẹ. Cái cơn gió bấc của đất trời hay cơn gió từ đâu thổi lại để bà mẹ cứ buồn lo, cứ thổn thức với chính mình.

Bài thơ gợi ta nhớ đến cảnh ngộ tái giá của những bà mẹ góa thời trước. Còn bây giờ, thời thế đã đổi khác, người mẹ góa tất phải chủ động hơn để chọn lựa cho mình một bước ngoặt mới và những người con hẳn cũng cảm thông, đứng về phía mẹ mình. 

Nguyễn Đức Mậu
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0




Đêm trăng đường Láng
   
Xuân Diệu
 
Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng
Hai con mắt dễ thương, dễ ghét
Đôi mắt, nguồn mặn nồng tha thiết
Em đưa anh vào trong bóng trăng
Anh đưa em cành liễu thung thăng
Đường Láng thơm bạc hà, canh giới
Ôi trăng soi trên lá xà cừ…
Anh với em bên bờ đêm biếc
Những xóm mờ mến thương quen biết
Trăng như sương trên ruộng lúa xanh
Gió như chim xao động trong cành
Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng
 
XUÂN DIỆU
(Trung thu 29-9-1963)


Lời bình:
 
  Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu (1916- 1985) có lần cho biết, ông muốn làm một quyển... "từ điển thơ" về tình yêu, tất nhiên sự sắp xếp ấy lấy từ thơ của chính ông.

Cho đến nay, có lẽ Xuân Diệu - vị hoàng tử của thi ca VN hiện đại vẫn là thi sĩ có thơ tình được nhiều người yêu thích nhất. Nay ta có dịp đọc lại bài thơ tình tiêu biểu của ông - Đêm trăng đường Láng.
 
Với cả hai  cặp câu vần trắc (3-4 và 9-10), ta chỉ đảo vị trí một vài chữ là nhịp thơ xưa hiện ra:
 Hai con mắt dễ thương, dễ ghét / Đôi mắt nguồn tha thiết mặn nồng Anh với em bên bờ đêm biếc / Những xóm mờ quen biết mến thương...
 
Nhưng Xuân Diệu tuyệt đối không dùng vần lưng như thế. Ông kiên quyết đoạn tuyện giọng điệu kể lể, để bài thơ trăng này, gợi nhiều hơn tả.
 
Lại nữa, trong 98 âm tiết toàn bài, có tới 68 thanh bằng (hơn 2/3), khiến bài thơ bỏ giọng trưởng (majeur) nghiêng hẳn sang màu âm mềm mại một gam thứ (mineur), phù hợp với không khí lãng đãng của một đêm trăng mộng nhiều hơn thực.
 
Tiếng chim lẫn vào tiếng gió, ánh trăng lẫn vào hơi sương. Anh và em không phải đi mà đang bay thì mới có thể vừa thơm là là đường rau bạc hà, canh giới ăn được đã vút lên ngọn cao đẹp mắt xà cừ.
Mộng nhiều hơn thực, mộng đến bóng cây mà như bóng người Liêu Trai, sải đôi tay cành liễu thung thăng…
 
Nhà văn TRẦN QUỐC TOÀN

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Dạ khúc

V. BASƠ (Đức) - QUANG CHIẾN dịch

Tình yêu mỏi mệt rồi
ngủ đi em
như con sơn ca trên cánh đồng hoang hóa
như con cá măng nghiêng giấc ngủ giữa khóm lau

Anh mắt vẫn đầy trăng
ngủ đi em
như người dân chài Xômali trong giấc ngủ yên lành
vẫn gác một chân lên mặt trời
và giấc ngủ mạn thuyền bồng bềnh cơn gió thoảng

Hai ta
người này là giấc ngủ của người kia
là nước, là sông
là của nhau một mái chèo
chao đưa trong giấc mộng
ngủ đi em


Bình thơ:

Ru hời làn mi

Và em, sau những mải mê kia là thánh thiện vô ngần, này chim sơn ca bé nhỏ của cánh đồng đã xa mồ hôi lao động, này cá măng ram ráp xương của khóm lau từ bụi bờ nào dân dã, bao nhiêu đó thôi, em gần gũi ạ. Sẽ khép mi em nhé và nghe, những thanh âm của vạt lau và dãy đồng rót vào tai em dịu dàng, chúng không cố ý làm em giật mình đâu, chúng ru em, giấc ngủ đã mơ màng. Hoang mang em cứ đem trải về vô tận đồng hoang và hồn nhiên em cứ nghiêng về phương bình dị.

Ngủ rồi phải không em, và ánh mắt vẫn tràn vạn dòng trăng lấp lánh. Đừng quan tâm đêm nay ba mươi hay tròn trăng viên mãn, à không, em cũng đừng nghĩ đến chuyện ngày đêm, chỉ biết sau những trở trăn kia còn một bàn chân gác lên mặt trời ấm nồng cuộc sống.

Và giấc ngủ khi này bình yên một làn mi, của em, của ta, của người dân chài Xômali và của cả mặt trời. Giấc ngủ ấy kiêu hãnh và trọn vẹn an lành, da có đen và trọng lượng có nhẹ tênh, người dân chài Xômali nghèo khó chân vẫn gác mặt trời quyền uy kia như đứa trẻ gác lên con thú nhồi bông và mỉm cười hạnh phúc.

Nệm gối chăn êm là mạn thuyền bồng bềnh ru cả thực cả mơ. Gom về giấc ngủ em, ta - hành trình đi giữa thiên nhiên và những dòng chảy thao thiết. Phải không em, ta và em đang cuốn phăng, và chảy đi, tình yêu, bình yên và sự mỏi mệt diễn tiến ngay khi ta viết dòng thơ này và khi mi em đã khép…

Ngủ ngoan nhé làn mi, ta sẽ là điềm lành trong giấc em mơ. Khoảng cách ta và em gần hơn khoảng cách mái chèo và nước và sông. Cá măng nhỏ cứ bồng bềnh, sơn ca em cứ ngủ say và cứ gác chân lên mặt trời nồng ấm hay nghiêng mình giữa bụi bờ.

Ta thức canh mặt trời cho em và ta còn giữ êm mái chèo để em và ta có xuôi dòng hay bị cuốn phăng đi vẫn chung một mạn thuyền, một mái chèo, dẫu dòng chảy ấy thực hay mơ, chúng ta là của nhau từ những điều bình dị nhất. Sẻ chia với em bình yên rất thật, từ lời ru hời làn mi…

HƯƠNG YÊN




Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
KHI NGƯỜI TA KHÔNG CÒN YÊU NHAU
Phi Tuyết Ba

Mọi lời giải thích đều có cần đâu
Khi người ta không còn yêu nhau nữa
Có lẽ tốt nhất là nên im lặng


Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
Nhưng không là hoa trắng thửa ban đầu
Khi người ta không còn yêu nhau nữa
Đêm nào trăng cũng lặn
Mùa nào quả cũng đắng
Thế giới đông người ư
Nhưng thiếu vắng

Khi người ta không còn yêu nhau nữa
Giá như quên được nỗi đau
Có lẽ là điều tốt hơn những điều tốt nhất



'Mọi lời giải thích
Nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau nữa
có lẽ tốt nhất là nên im lặng"

 
lời bình:

Đọc những dòng thơ này của phi tuyết ba tôi cảm tưởng dường như chị là con ngưởi rất chín chắn trong tình yêu mới có sự chiêm nghiệm đúng đến vậy
Khi hai người không còn yêu nhau nữa mọi lời phân trần giải thích sẽ chẳng còn tác dụng gì nữa , không còn gì để ràng buộc và níu kéo nhau thì tốt nhất là nên im lặng khoảng cách vô ngôn ấy sẽ làm cho hai con người "không còn yêu nhau nữa"
hiểu ra nhiều điều có khi giải thích lại đẩy họ xa nhau hơn .
Điều thú vị là khi đọc bài thơ nhắn nhủ của vũ Đình Minh nhà thơ cũng có suy nghĩ khá hay- Yêu nhau chẳng cần phải nói ra
"Anh đừng nói gì thêm nhé
để em tự biết thì hơn
em sợ những lời đường mật
mà đời thì lại giản đơn
Ở đây Phi Tuyết ba cũng có suy nghĩ như vậy nhưng trong trường hợp 'chia tay"
Khi hai người không còn yêu nhau nữa thì thế giới xung quang họ có còn là màu hồng hạnh phúc , vườn hoa tươi thắm ,bầu trời xanh thẳm..
có lẽ là không sự chia tay đã để lại trong tâm hồn họ một nỗi đau , khi người đã buồn thì "cảnh có vui bao "
Phi tuyết ba nói đến sự thay đổi tưởng như rất vô lí của quy luật tự nhiên nhưng lại rất hợp lí khi đặt trong lôgic của tình cảm
"Màu hoa đỏ trút màu thành hoa trắng"
Để cụ thể hơn chị nhấn mạnh
"Nhưng không là hoa trắng thửa ban đầu
Khi người ta không còn yêu nhau
Đêm nào trăng cũng lặn
mùa nào quả cũng đắng
Thế giới đông người ư
Nhưng thiếu vắng
Và chính từ mạch cảm xúc đó nhà thơ bày tỏ một mong ước
Khi người ta không còn yêu nhau nữa
giá như quên được nỗi đau
Có lẽ tốt hơn điều tốt nhất
"Quên nõi đau"đó chỉ là mong ước mà thôi.
một khi con người đã yêu bằng một tình yêu chân thành nồng nhiệt để rồi khi chia tay người ta có thể quên dược kỉ niệm đẹp của một thời
Nếu như một ai đó"quên nõi đau "một cách nhanh chóngchawcs gì họ đã yêu thật lòng , phải chăng họ đang tự biến mình thành kẻ vô tâm
Và có lễ theo tôi vội quên để làm gì có khi đó là một cơ hội để ta hiểu lòng ta hơn,thông cảm với con người hơn và vun đắp cho tình yêu sau này
Nhưng dù sao cũng phải quên thôi,thời gian sẽ giúp họ biến nỗi đau thành một kỉ niệm đẹp đẻ mỗi lần nhớ về nó:
"kỉ niệm cũ trở thành viên kẹo ngọt
Để mỗi lần nếm lại thấy ngọt hơn"
Bài thơ là một sự đan xen giữa tình yêu và triết luân.
Nhà thơ vừa trải lòng mình ra để mà yêu để mà chiêm nghiệm về nó
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
HAI SẮC HOA TI-GÔN.

TTKH.


Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn.
Nhặt cánh hoa rơi chẳng biết buồn.
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc.
Tôi chờ người đến với yêu thương.

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong.
Và phương trời ấy mờ sương cát.
Tay vít cành hoa trắng- cạnh lòng!

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi.
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Nói rằng hoa dáng như tim vỡ.
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi.

Ngày ấy nào tôi đã biết gì.
Cánh hoa tan tác thủa sinh ly
Cho lên cười đáp màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy.

Ai biết ngày đi môt lỡ làng.
Dưới trời hoa đỏ chết yêu thương
Người xa xăm quá tôi buồn lắm.
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi, thu, lại thu.
Lòng tôi còn giá đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim dáng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Sắc hồng tụa trái tim tan vỡ.
Và màu như màu máu thắm pha.

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm nỡ tình duyên cũ mất rồi.

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có còn nhớ tới loài hoa vỡ.
Tựa trái tim phai tựa máu hồng.
Han tinh thu sinh kính bút.
 
Lời bình:
 
Bài thơ Hai sắc hoa Ti-Gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy dưới cái tên TKTh đã tạo nên một làn sóng xao động cả xã hội vốn lặng im như mặt nước hồ thu . Một loạt các nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Thâm Tâm đều đưa ra một vài lời phê bình rất náo nhiệt . Có người cho rằng đây là một áng thơ tuyệt tác . Tuyệt tác không phải vì thơ đ1ung luật hay quá hay mà tuyệt tác vì nó nói trúng tâm sự của hầu hết "xóm nhà văn" .

Cả bài thơ là một chuyện tình buồn nhưng tuyệt đẹp, dẫu chia xa nhưng vẫn vương vấn như sen kia "dẫu lìa ngó y vẫn vương tơ lòng "

Một mùa Thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người ấy với yêu đương

Hoa Ti Gôn có hai sắc trắng và hồng, thường nở rộ vào mùa hè, nhưng vào thu thì lại rơi lả tả theo những trận gió thu . Mùa thu phải chăng là mùa của ly biệt, khi mà hoa phải lìa cành, lá úa vàng rơi rụng . Khi người ta đang yêu nhau thì tay nhặt cánh hoa rơi mà lòng chẳng thấy buồn . Buồn làm sao được khi mà nàng đang chìm đắm trong hạnh phúc của riêng mình . Bất kể mùa thu, bất kể ánh nắng tà sắp tắt của hoàng hôn, nàng thiếu nữ chỉ có mỗi một điều để nghĩ , đó là ngóng chờ người yêu đến . Một nàng thiếu nữ thật ngây thơ, vô tư nổi bật giữa bức tranh ảm đạm như báo trước trắc trở của cuộc tình .

Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: “Mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy!”

Lòng nàng thiếu nữ chẳng biến suy nhưng đời thì cứ luôn thay đổi . Nàng không biết buồn, nhưng "người ấy " lại chạnh lòng . Nàng sống trong mơ mộng, đời chỉ dệt bằng hoa nhưng "người ấy" thì nhìn bằng thực tế và lòng như linh cảm một chuyện bất tường

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Giải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương, cát
Tay vít giây hoa trắng, chạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài những lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: “Hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

Chí làm trai luôn muốn được tung hoàng một cõi, tạo nên sự nghiệp cho mình, chứ không thể sống an nhàn một nơi . Có lẽ vì thế mà "người ấy" thường hay dõi mắt trông về một phương trời xa xăm nào đó, để khao khát làm cánh chim bằng tung hoành giữa tầng cao . Nhưng ai biết một lần chia ly là muôn đời cách biệt . Như cánh hoa kia tựa như trái tim vỡ vụn, đã vỡ rồi thì mãi mãi chẳng hoà đôi .

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương

Chàng ra đi, còn nàng thì cất bước sang ngang , để rồi
Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

Nàng ngây thơ, đã từng không tin sẽ có sự chia ly nhưng ai ngờ lời nói năm nào lại trở thành sự thật .

Từ ấy Thu rồi, Thu lại Thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Lấy chồng vì hoàn cảnh ép buộc nhưng lòng nàng tưởng chừng như đã chết "như từng Thu chết, từng thu chết" . Tim nàng sẽ băng giá đến muôn đời vì chính nàng cũng không biết chừng nào sẽ hết giá băng . Lòng nàng dù sống bên cạnh chồng vẫn "Vẫn dấu trong tim một bóng người."

Đến một ngày, tình cờ đọc tiể thuyết mới hay được rằng cánh hoa của ngày xưa

Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha.

Nhưng khi biết được thì đã muộn mất rồi , tình duyên cũ đã mất rồi .

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

Ước gì được trở lại ngày xưa, thì có lẽ cuộc đời sẽ khác . Nhưng hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay thì hối tiếc cũng chỉ là hối tiếc .

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0



ĐƯA CON ĐI THI
 
VŨ TRỌNG QUANG

Ba đang đc báo bên đường và đang cm ci trong
phòng thi kia
h
i hp dài hơn ba mươi năm trước
còn đó mùa tim đ
p vi
nh
ng ch và s nhy khi trang báo ngn ngang
Ch
bước mt đon đường
bao nhiêu nguy
n vng xanh
cây bút đi t
tóc xuân ba ti đôi kính con chưa ngưng ngh
ti
ếng chuông hết gi git mình tui tr
V
n đng đi bên này
tay đ
ưa tay gi tay
đám đông m
t khuôn mt
con c
t lp ra khi cng trường đi din chính ba
hy v
ng là bn nháp hoàn chnh
ph
n x mt câu hi ti nhiu ln
đ
ược không
Con thi ba thi và m
t người khác na
ví d
u cu ván đóng đinh trường đi ta ca
d
u hi trong gic mơ đôi mt m
đ
ược không được không?
 
lời bình:

Một mùa thi vừa đi qua và một mùa khai trường sắp sửa đến. Bao nhiêu người đã đưa con đi thi. Bao nhiêu người đã cùng con vượt một quảng đường, vượt qua nỗi lo, chờ đón một hy vọng. Bao nhiêu người đã thắc thỏm đứng ngoài cổng trường, chờ con đang cặm cụi trong phòng thi. Cây kim đồng hồ nhích theo nhịp đập trái tim của người cha người mẹ. Thời gian tâm trạng đồng hành. Nhà thơ Vũ Trọng Quang viết:
Ba đang đc báo bên đường và đang cm ci trong
phòng thi kia

Một phép phân thân chăng?. Ba đang đọc báo và ba đang ở trong phòng thi?. Đúng ra phải là: “Ba đang đọc báo bên đường và … con đang cặm cụi trong phòng thi kia”. Nhưng không, ở đây một hình ảnh thơ đồng hiện. Ba đang đọc báo ngoài này, mà ba như cũng đang ở trong phòng thi kia. Ba ở đây và ba ở đó. Ba đang “theo” con, ngồi bên con, cầm cây bút của con, đeo mắt kiếng của con… Cố nhiên, đây chẳng phải là chuyện … thi hộ; mà là biểu thị một tâm trạng lo lắng cùng con, ở trong con. Nói rằng, ba đang đọc báo và đang cặm cụi trong phòng thi kia, nhưng kỳ thực ba chẳng làm được gì cả:
những con chữ và số nhảy khỏi trang báo ngổn ngang
Phục hiện một tuổi trẻ:
hi hp dài hơn ba mươi năm trước
Con đi thi mà ba còn hồi hộp hơn con, trái tim còn đập vội hơn con. Hơn cả phút hồi hộp của chính ba ở thời điểm ba mươi năm trước. Câu thơ thú vị(!).
Ch bước mt đon đường
bao nhiêu nguy
n vng xanh
Đoạn đường nào?. Đoạn đường từ hè phố nơi người cha đứng đến ghế ngồi trong phòng thi của con?. Là, đoạn đường từ tuổi trẻ cha đến tuổi trẻ con?. Hay, đoạn đường từ cây bút đến trang giấy?... Có lẽ là tất cả những đoạn đường ấy. Đoạn đường nào cũng chở những nguyện vọng xanh. Những nguyện vọng xanh “nối mạng” vào nhau. Câu thơ biểu cảm(!). Rồi:
tiếng chuông hết gi git mình tui tr
Trong phòng thi, hẳn con vừa giật mình một cái, ngoài đường phố ba cũng giật mình theo. Ba giật mình như ba mươi năm trước ba từng giật mình như vậy. Rồi: “Hết giờ”. Ba đứng bên này đưa tay vẫy vẫy. Đám đông túa ra. Đâu là con?. Sao ba không nhận thấy(!). Trái tim ba hồi hộp vô cùng. Rồi: “Con đứng trước mặt ba”:
hy vng là bn nháp hoàn chnh
Được không?. Niềm hy vọng ở phía trước. Được không con?. Có khả năng đậu không con?. Ba hỏi. Và một người khác nữa, câu hỏi đến dồn dập liên hồi, xô như sóng. Đó là mẹ:
ví dầu cầu ván đóng đinh trường đời tựa cửa
dấu hỏi trong giấc mơ đôi mắt mẹ
được không được không?
Thì ra, cái lo lắng, hồi hộp của ba, cơ hồ cũng không bằng mẹ. Câu hỏi không đến bằng lời mà lặn sâu trong đôi mắt, lặn sâu trong một đời “ví dầu cầu ván đóng đinh”. Được không?. Đáp số còn ở phía trước. Có thể là một kết quả viên mãn, cũng có thể là một thất bại. Nhưng, toàn bộ cấu trúc bài thơ của Vũ Trọng Quang lại đặt ở thì hiện tại; là cái đang diễn ra; là sự xáo trộn, cài đặt, đan chéo nhau trong khoảnh khắc. Khoảnh khắc sống “hồi hộp” nhất của người cha, cũng chính là khoảnh khắc thơ thăng hoa, tạo tần số giao cảm. Một bài thơ hay, giản dị, ghi nhớ.
Nhà thơ Vũ Trọng Quang, quê Quảng Nam; hiện đang sống tại TP.HCM. Đã có thơ in trên nhiều báo và tạp chí. Các tập thơ đã xuất bản: Đã hết giờ của Lọ Lem, Thơ tự do (in chung), Thơ hôm nay (in chung). Bài thơ “Đưa con đi thi” được trích trong tập:Hôm qua Hôm nay và Hôm sau (NXB Đà Nẵng-Hội Nhà văn Tp.HCM 2006). Vũ Trọng Quang làm thơ không nhiều, nhưng chuyên chú, tinh lọc. Đưa con đi thi là một trong những bài thơ giản dị nhưng hàm chứa của Vũ Trọng Quang. Một người cả đời chỉ mong:
Tôi kiếm ăn bng nhiu ngh khác
Làm th
ơ đ được nh lòng mình.
 
 
TRẦN NHÃ THỤY
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
THÊM MỘT
 
Trần Hòa Bình


Anh được em, được trong cuộc đời
So với mất, được còn quá ít
Được một người và mất đi thiên hạ
Chưa được cái chung đã mất cái riêng
Được cái nhìn phàm trần mất cái thiêng liêng
Được và mất cứ luân phiên hoán vị

Anh hiểu vì sao tình yêu chung thủy
Không say người bằng một cuộc phân ly
Em đừng ngạc nhiên trong quán cà phê
Những băng nhạc toàn nói điều mất mát
Có nỗi đau sầu nuôi bền tiếng hát
Niềm vui giả vờ khoảnh khắc rồi tan
Được và mất chu kỳ của thời gian
Ly đắng ngọt ngào vừa môi nhấp cạn
Băng nhạc vô tình trở thành âm bản
Lặp lại vòng đời qua mỗi vòng quay.

Lời bình:

Nói đùa như trong câu nói lệch bản định luật bảo toàn khối lượng của các bạn: "Tình yêu không tự mất đi, nó chỉ di chuyển từ người này đến người khác". Rõ ràng, không phải chỉ là "tình yêu" mà là bất cứ cái gì, khi "nó" di chuyển thì sẽ có một bên "mất" và nơi "nó" di chuyển đến sẽ thành "được" - "Được và mất luân phiên hoán vị" mà. Đôi khi ranh giới của nó cũng mong manh lắm. Bởi "được" và "mất" có bao giờ rõ ràng đâu?
Toàn bài, quả thật có nhiều câu khó hiểu. Chỉ là có nhiều điều tác giả nói lên nó cứ như là một sự thật quá phũ phàng người ta muốn chối bỏ cũng khó.
Khi vui, chỉ cần thể hiện bằng một nụ cười, bằng gương mặt rạng ngời hạnh phúc - thế là vui.
Thế nhưng khi buồn? Người ta muốn nói nhiều về nỗi buồn của mình. Giải bày sao cũng cảm thấy là chưa đủ cả.
Được và mất? Phải chăng bao giờ "được" cũng khiến người ta vui và "mất" sẽ khiến người ta đau khổ? Không hẳn là vậy! Con người thì phức tạp lắm. Đôi khi "được" lại kéo theo nỗi buồn và cái "mất" khiến người ta nhẹ nhõm.
Anh được em, được trong cuộc đời
So với mất, được còn quá ít"
Được thì lo vui đi, không chịu vui, lại bắt đầu so sánh với mất. Cuối cùng anh có vui được đâu? Lại buồn. Vậy anh "được" hay "mất"?
Và rồi lại so sánh
"Anh hiểu vì sao tình yêu chung thủy
Không say người bằng một cuộc chia ly"
Chỉ là cảm giác thôi anh ạ. Cảm giác và cảm giác. Người ta chẳng bao giờ nhận biết được cái mình hiện có đến khi nó mất đi mới quay ra nuối tiếc, buồn nhớ. Thế nên không phải khi chia ly, người ta mới có cảm giác "say người". Chỉ vì khi chia ly, tức là người ta "mất", người ta luyến tiếc cái "được" đang bị di chuyển sang chỗ khác. Thế là luyến tiếc. Hầu ở đời cái gì cũng vậy.
Thích nhất câu kết:
"Băng nhạc vô tình trở thành âm bản
Lặp lại vòng đời qua mỗi vòng quay"
Dầu sao nó cũng là một "định luật" mà. Chẳng thể nào thay đổi được.

 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
XA CÁCH
 
Nguyễn Bính

Nhà em cách bốn quả đồi,
Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng;
Nhà em xa cách quá chừng,
Em van anh đấy, anh đừng thương em”

LỜI BÌNH:

Bài thơ chỉ vẻn vẹn có bốn câu mà làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của cả một làng quê với những cô thôn nữ e ấp. Để nói lên sự cách trở giữa hai người cô gái đã mượn quả đồi, ngọn suối, cánh rừng làm những “chướng ngại vật”. Không hiểu rằng sự cách trở này chỉ đơn thuần là cách trở về địa lý hay còn có những khó khăn không thể vượt qua giữa cô gái và chàng trai bởi “chim vào lồng, cá cắn câu…” nhưng tôi muốn cảm nhận bài thơ theo hướng rằng ấy là chỉ bởi đường xa hay bởi nàng mượn cớ đường xa mà nói thôi.

“Em van anh đấy, anh đừng thương em”, chắc hẳn trong tim cô gái cũng có chút gì đó dành cho chàng trai, bởi thế mà cô phải “van” anh đừng có thương em; “van” là một động từ vừa có tính cầu xin vừa như một lời năn nỉ. Phải chăng cô gái “van” chàng là bởi cô sợ rằng nếu chàng cứ thương thì rồi cô cũng sẽ… đến thương chàng mà thôi. Vậy là cô gái đã từ chối tình cảm của chàng trai nhưng vẫn thể hiện cho chàng biết rằng ấy là tại “Nhà em xa cách quá chừng” chứ chẳng phải tại lòng em hẹp hòi với anh. Từ chối như thế thì làm sao chàng lại đành lòng “ngại núi e sông” mà không đến với nàng, mà không “thương” nàng cơ chứ. Đấy, e ấp, ý vị là ở chỗ này đây, mà chan chứa yêu thương cũng là ở chỗ này đây!

Tôi đã có lần đem so sánh thơ Nguyễn Bính với các món ăn miền quê như tương, cà… và thầm cười cái tâm hồn ăn uống qúa “lớn” của mình. Thế nhưng, thật sự là thơ Nguyễn Bính trong tôi cũng có cái ngon lành, cái hấp dẫn và sự quen thuộc đến không thể dứt bỏ được như những món ăn “quê mùa” (nhưng bây giờ là “đặc sản” rồi!), lâu ngày không ăn là nhớ, là thèm đến bứt rứt.

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0