📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thơ Sưu Tầm

Cảm nhận thơ hay cùng với lời bình

68 trả lời, 13.670 lượt xem — Trang 3 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-10 08:56:36coco_trencungtrang>

Dạ khúc - Hoàng Phủ Ngọc Tường
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa
Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa
Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi  chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy


Ngọt ngào như trái nho tươi
Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh
Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người
Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là chiếc bóng
Hoa tàn một mình em không hay
 
Bình thơ:
 
 
Có lẽ những ai đã từng đọc những trang tùy bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng sẽ không thất vọng khi đọc thơ tình của ông. Rất trong sáng, dịu nhẹ, bâng khuâng...
Dạ khúc là một câu chuyện tình được kể bằng những vần thơ. Câu chuyện có anh, có em, có khởi đầu, và có kết thúc. Lần đầu tiên đọc bài thơ này, tôi đã ngạc nhiên, không hiểu vì đâu một bài thơ đầy ắp những buổi chiều như thế, lại có tên là Dạ khúc.
Cái tên của một bài thơ bao giờ cũng thâu tóm cái thần, cái cốt lõi nhất của bài thơ đó. Với tôi, Dạ khúc là khúc đêm, là một khoảng lặng tĩnh tại, hoang vắng. Thế mà một bài thơ với sáu khổ thơ, sáu buổi chiều, sáu khúc ca hoài niệm lại có tên Dạ khúc !
Nhưng khi đọc trở lại bài thơ tôi đã nhận ra rằng quả thực nhà thơ đã vô cùng hữu ý khi đặt cho bài thơ cái tên đó. Sáu khổ thơ bắt đầu bằng sáu sự tìm kiếm “có buổi chiều nào như chiều …”, với thời gian kéo dần từ quá khứ xa đến hiện tại. Sự lặp lại đó đã tạo cho âm hưởng chung của bài thơ, đó là sự - lần - tìm - kỉ - niệm. Cũng vì sự lần tìm kỉ niệm ấy mà người đọc biết, câu chuyện tình đó đang qua hoặc  đã qua rồi.
Sự vận động mãnh liệt của dòng thời gian qua các khổ thơ cũng là sự vận động mãnh liệt của cảm giác con người trong tình yêu, từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc. Anh và em đã cùng đi qua những buổi chiều, từ buổi chiều xưa, đến buổi chiều qua, và những buổi chiều chỉ có thể gọi tên bằng kỉ niệm “buổi chiều người bỏ vui chơi” “buổi chiều mộng mị vây quanh” “buổi chiều hình như chưa nguôi” , những buổi chiều hạnh phúc, chỉ cho đến một buổi chiều nay, buổi chiều mà lần đầu tiên bóng tối đã đến.
Câu thơ “căn phòng anh bóng tối dâng đầy” là một câu thơ vô cùng tinh tế. Không phải là bóng tối phủ ngập căn phòng mà là bóng tối đang dâng lên, đang xâm lấn dần những khoảng không ánh sáng, thứ ánh sáng của hạnh phúc tình yêu mà con người vẫn chìm đắm. Trong căn phòng ấy , vẫn có anh và em, nhưng hai người dường như đã bị đẩy lùi về hai đầu thế giới mà sợi dây kết nối duy nhất là tình yêu đã không còn.
Hình ảnh “hoa tàn” vô cùng gợi cảm, bởi lẽ chỉ cần hình ảnh đó mà người đọc cảm nhận có một tình yêu vừa đã qua đi, vừa đã tàn lụi. Bông hoa tàn lụi trong bóng tối, như sự kết thúc lặng lẽ của một mối tình. Và người đọc biết rằng sẽ không còn có thể tìm thấy một buổi chiều nào nữa, chỉ còn là bóng tối miên viễn, buồn rầu…. Phải chăng vì lẽ đó, bài thơ có tên “dạ khúc”?
Từ trước đến nay, nhớ đến thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi hay nhớ đến những nàng tiên “quì ôm cát bụi khóc òa như mưa”, nhớ tới những miền không gian giao thoa giữa trần gian và tiên giới… Nhưng Dạ khúc lại là một tình yêu rất đời, rất trẻ, và cũng đầy cảm thông da diết. Nét tài hoa quen thuộc của Hoàng phủ Ngọc Tường, ta vẫn tìm thấy trong những hình ảnh trong sáng, hoặc mơ màng một vẻ đẹp liêu trai. Đó là một bông hoa xuân thì, là vành mi cong hờn dỗi, là mớ tơ xanh, vầng trăng nhân chứng,hay cả lời thề dâng hiến …
Bài thơ là một mối tình đã vỡ, với những dự cảm ngay từ ban đầu, khi chàng trai say đắm trong nụ hôn, anh đã biết “nỗi đau bắt đầu từ đấy” đã biết tình yêu luôn là nơi phát khởi của những nỗi đau. Nhưng đó là nỗi đau đớn ngọt ngào mà ít người chối từ được nó. Và vì lẽ đó, khi bài thơ kết thúc, nó không quá cay đắng, không quá xót xa, mà chỉ là một cảm giác luyến tiếc xa vắng, lặng lẽ….
Rất nhiều bạn trẻ đã chép trong những trang thơ của mình bài thơ Dạ Khúc, và tìm thấy ở đó sự đồng cảm, sẻ chia. Với một bài thơ, một nhà thơ, có còn cần gì hơn thế?

Nguyễn Thu Thủy
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0

Đêm sao sáng
(Nguyễn Bính)

Đêm hiện dần lên những chấm sao
Lòng trời đương thấp bỗng nhiên cao
Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh
Ai biết cầu Ô ở chỗ nào?

Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu
Thấy con vịt lội giữa dòng sâu
Sao Hôm như mắt em ngày ấy
Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu

Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi
Lộng lẫy uy nghi một góc trời
Em ở bên kia bờ vĩ tuyến
Nhìn sao thao thức mấy năm rồi...

Sao đặc trời cao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.
[/align]Lời bình:

Nguyễn Bính viết bài thơ năm 1957 tại Hà Nội. Bấy giờ đã là ba năm kể từ ngày cán bộ ta tập kết ra Bắc, với hy vọng chỉ một vài năm - thông qua Tổng tuyển cử cả nước - nhân dân hai miền Nam - Bắc sẽ được sum vầy (theo tinh thần hiệp định Giơnevơ). Nhưng khả năng ấy đã trở nên ngày một diệu vợi. Tiến trình thống nhất đất nước bị ngăn trở! Không phải vô tình mà hầu hết những nhà thơ sinh trưởng, hoặc từng gắn bó với mảnh đất, con người miền Nam đã bắt đầu róng riết cất lên tiếng kêu của nỗi đau chia cắt. Ta có thể đọc thấy ở Xuân Diệu: Đất nước trong tôi là một khối/ Dòng sông Bến Hải chảy qua tim; ở Tế Hanh: Như đất nước: lòng ta chưa thống nhất/ Em ở đâu rồi, em ở đâu?
Nguyễn Bính, mặc dù quê gốc Nam Định, nhưng một thời gian dài trước và sau Cách mạng Tháng Tám đã sinh sống và hoạt động ở Nam Bộ, từng có lúc ông được chỉ định làm Phó chủ nhiệm Tình bộ Việt Minh Rạch Giá (cũng tại đây, ông lấy vợ và sinh được hai cô con gái). Nỗi đau ấy không phải không xuất phát từ một nguyên cớ trong trái tim nhà thơ:
Đêm hiện dần lên những chấm sao
Lòng trời đương thấp bỗng nhiên cao
Đây là một quan sát khá tinh. Hợp lý thôi: trước khi sao mọc, trời đất còn nhòa một khối, lẫn với bóng đêm. Ánh sáng những vì sao như những vệt dấu làm ta phân định rõ ranh giới trời - đất. Ánh sáng bung nở làm vòm trời như được "nâng" hẳn lên, thậm chí: Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh, dù rằng, trời càng sáng thì - như một nghịch lý - mắt nhà thơ lại mờ đi trong tâm trạng thất vọng, nhung nhớ: Ai biết cầu Ô ở chỗ nào?
Không biết tự bao giờ, và ai là người đầu tiên nhìn dải sao trời ấy mà đặt tên dải Ngân Hà. Rồi sao Thần Nông, rồi cầu Ô Thước? Cách gọi của Nguyễn Bính không thêm gì mới nhưng nó hợp với những điều ông đang nghĩ ngợi và xa xót. Đất nước cắt chia. Ranh giới hai miền Nam - Bắc (đúng ra là hai chế độ chính trị khác biệt) được phân định bởi một con sông. Và, chiếc cầu Hiền Lương đã trở thành biểu tượng của sự ngăn cách ấy: Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh/ Ai biết cầu Ô ở chỗ nào?... Có lẽ hai câu thơ thứ 7, thứ 8 sẽ làm sáng tỏ hơn nguyên do tại sao nhà thơ lại có những liên hệ này: Sao Hôm như mắt em đêm ấy/ Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu.
"Ngày ấy"- đã ba năm trôi qua. Ai đâu hay đã ngàn ngày có lẻ, nhà thơ - và biết bao con người khác nữa - sống trong tâm trạng "đêm Nam ngày Bắc", chưa kể ở trong ấy, ở "bên kia bờ vĩ tuyến", em cũng Nhìn sao thao thức mấy năm rồi...
Khổ thơ thứ ba có lẽ là khổ thơ "lộ ý" nhất toàn bài. Không có nó, bài thơ sẽ chỉ là một thi phẩm được viết theo hướng cũ "hiện thực phê phán", chứ chưa phải "hiện thực xã hội chủ nghĩa". Bởi thế mà ta bắt gặp ở đây hình ảnh Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi/ Lộng lẫy uy nghi một góc trời... Chỉ có điều, trong khổ thơ này của Nguyễn Bính, ý thơ cứng nhưng điệu thơ mềm. Giọng thơ đọc lên thấy bùi ngùi (Có lẽ do những chữ cuối câu trong toàn bài hầu hết tác giả dùng thanh bằng, và chữ cuối của câu thơ cuối khổ là dấu huyền nên âm điệu bao giờ cũng chùng xuống khi hết một khổ). Và bởi thế mà khổ thơ trên bao giờ cũng tràn xuống khổ dưới:
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Đến đây, ở đây, nhà thơ đã học cách nói dân gian để biểu lộ tình cảm trước sau như nhất của mình. Trước Nguyễn Bính, trong bài thơ Ta đi tới viết tháng 8-1945, Tố Hữu cũng đã nhấn mạnh ý đó thông qua một cách nói dân gian khác: Dù ai rào giậu ngăn sân/ Lòng ta vẫn giữ là dân cụ Hồ. Bây giờ lại đến Nguyễn Bính - thông qua hình ảnh những ngôi sao chi chít, dày đặc, đoàn tụ trên trời mà - cùng với các đồng nghiệp - "tập kết" ý tưởng của mình. Chỉ lạ, đến hai câu cuối: Trời còn có bữa sao quên mọc/ Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em... "hệ câu chữ" vẫn thống nhất (trên sao, dưới vẫn nói về sao), nhưng rõ ràng có một nhánh nhỏ được tách ra từ đây, nó thể hiện tâm trạng đơn lẻ của tác giả: ông vẫn ghì riết lấy nỗi niềm riêng nhớ nhung của mình (dù rằng nó được đặt trong bối cảnh chung của đất nước). Điều này cho thấy có một cái gì đó "bất kham" ở con người Nguyễn Bính. Độc giả hiểu và đồng cảm với nhà thơ, bởi dẫu sao trong số những bài thơ gắn với chủ đề đấu tranh và thống nhất đất nước, Đêm sao sáng vẫn là một trong những bài thơ đi sâu được vào lòng người, dù rằng trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Bính, có thể nó chỉ được xếp vào loại "bậc hai" mà thôi.

(Phạm Nhật Linh)[/align]
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-11 05:40:13coco_trencungtrang>
 Nhà chật
Lưu Quang Vũ

Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi
Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo
Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo
Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình

Nhà chật như khoang thuyền nhỏ hẹp giữa sông
Vừa căng buồm để đi, vừa nấu cơm để sống
Phải bỏ hết những gì không cần thiết
Ta chỉ có mấy thước vuông cho hành lý của mình

Khoảng không gian của anh và em
Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác
Anh không giấu em một nghĩ lo nào được
Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui

Anh ngẩng lên là ở cạnh em rồi
Bạn thuyền ơi, ngoài kia chiều lộng gió
Bên cửa sổ của gian phòng nhỏ
Mắt em xanh thăm thẳm những chân trời

Lời bình:

Có lẽ, phải đến thế kỷ này, song song với việc gia tăng dân số, nhu cầu nhà ở đã trở nên bức bách đối với mỗi con người và trở thành vấn đề nan giải của toàn xã hội... Lưu Quang Vũ từng có những vần thơ ca ngợi thành phố nơi anh sinh trưởng: "trải bao đời thành phố có nhà tôi". Hay đâu, cũng chính bởi "trải bao đời" mà căn phòng anh ở chỉ còn là một ô ngăn, nhỏ nhoi lọt thỏm giữa một khu dân cư náo nhiệt.
Căn phòng hẹp, thật hẹp! Đến độ, sống trong căn phòng ấy, người ta không còn biết cách sao giấu được thái độ, tâm trạng của chính mình:
"Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác
Anh không giấu em một nghĩ lo nào được"
Thậm chí, hơn thế nữa:
"Nhà chỉ mấy thước vuông sách vở xếp cạnh nồi"
Thì ra, cuộc sống đã nhắc người ta phải biết giữ thăng bằng. Sách vở - Nồi niêu tưởng xa lạ với nhau, ấy vậy mà lại có quan hệ "hữu cơ". Thi hào Đức Hai-nơ từng vẽ ra một xã hội tương lai: đó là xã hội của hoa hồng, bánh mỳ và thơ ca. Dĩ nhiên, để giữ được một cuộc sống hạnh phúc, cuộc sống "hoa hồng" thì người ta cần phải có thơ ca và cũng cần phải có cả... bánh mỳ. Ngay đến giấc mơ của con người cũng có thoát ra ngoài thực tế được đâu:
"Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo"
Trước kia, Xuân Quỳnh có câu thơ được nhiều người thích:
"Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức"
Chính nỗi lo toan thường nhật đã khiến trong giấc mơ người ta vẫn làm chủ được trạng huống của mình. Đành vậy, biết sao được! "Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo" Cùng chung tồn tại trên một khoảng tường, dưới cái đinh của "chủ nghĩa hiện thực" là "bộ vỏ", là thân xác và cốt lõi của tâm hồn.
Như vậy là, với các biểu tượng đối lập: sách vở-xong nồi, tranh treo-áo phơi (khổ đầu), thuyền-sông, căng buồm-nấu cơm, đi và sống (khổ giữa), cửa sổ (gian phòng) và mắt em _ cửa sổ tâm hồn (khổ cuối), Lưu Quang Vũ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người bài trí sân khấu và gây dựng tình huống cho vở kịch. Độc giả đã nhận ra được phần nào khả năng liên tưởng của anh. Tuy nhiên, nếu nói về sự ví von, thì sự ví von hay nhất và cảm động nhất vẫn là:
"Nhà chật như khoang thuyền nhỏ hẹp giữa sông"
Ngôi nhà này không thuộc dạng "bất động sản". Ngoài ý nghĩa là nơi trú ngụ của con người, nó còn phải có "chức năng" đưa chủ nhân của mình tới những bến bờ xa xăm: "Vừa căng buồm để đi vừa nấu cơm để sống". "Con thuyền" ấy phải chịu tác động của giông bão bầu trời cũng như của nghìn trùng sóng nước. Thậm chí nó có thể bị chìm, bị đắm nếu con người không biết "bỏ hết những gì không cần thiết" trong "hành lý" của mình.
Tuy nhiên, với lá buồm được căng lên bằng tâm hồn đầy khát vọng và với chiếc neo của trái tim sâu nặng nghĩa đời, con thuyền ấy đã vượt qua bao thác ghềnh.
Tiếc thay, trên con đường từ sông ra biển, cách đây gần chục năm, con thuyền ấy đã mắc cạn bên một chiếc cầu... Tai nạn giao thông ập đến bất ngờ đã cướp đi một gia đình nghệ sĩ tài hoa!
Qua bài thơ, Lưu Quang Vũ muốn giãi bày với chúng ta một hoàn cảnh, nhưng trên hết là một phương châm sống, một cách vượt lên gian khó đời thường.
Phạm Khải (1997)
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
HAI QUẢ HỒNG
(Vũ Nho)

"Hai tay cầm hai quả hồng
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai
Đêm nằm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều"
[/align] 
Lời bình:

Người gì mà quái lạ đến như vậy? Ca dao đã từng nói đến chuyện có vẻ lạ lùng:
"Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này"
Hoặc quá hơn chút nữa:
"Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
Đêm nắm tơ tưởng nghĩ ông láng giềng".
Nhưng người đời rồi cũng chấp nhận. Còn người đàn bà này lại cư xử với chồng như thế thì không thể nào... thương được! Rành rành đây là cách ăn ở cư xử của một người và cũng là một loại người thiếu chính chuyên, được đưa ra đây để mọi người chê bai, diễu cợt, làm gương cho khách hồng quần.
Bao năm nay, người viết bài này vẫn yên tâm với cách hiểu như vậy. Nhưng gần đây ngẫm lại, chợt nhận thấy hình như mình thiếu công bằng và khắt khe.
Người con gái này không yêu chồng hoặc yêu chồng ít hơn yêu trai thì đã hẳn. Nhưng chúng ta đừng vội đem ngay luân lý đạo đức ra kết án cô mà tội nghiệp. Trên đời này có người phụ nữ nào lại không muốn yêu chồng, thương con. Nhưng chẳng may lấy phải người chồng chẳng bao giờ yêu mến thì làm sao mà yêu cho được? Cái thời của những câu ca dao là cái thời "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" thì những chuyện trái duyên không phải là hiếm hoi. Có bao nhiêu cảnh cọc cạch: "chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho bằng". Có bao nhiêu trường hợp chồng chỉ là một "ông lão móm", cô gái "lấy cho qua lần thì thôi". Hay đây nữa một anh chồng:
"Chồng em vừa xấu vừa đen
Vừa kém con mắt vừa hèn chân đi
Chồng em rỗ sứt rỗ sì
Chân đi chữ bát mắt thì ngưỡng thiên".
Người chồng bị ép gả như thế làm sao cô gái có thể yêu cho được? Ông chồng đó chỉ là người được ràng buộc vào cuộc đời người con gái bằng tập tục, lễ giáo mà thôi. Chồng của cô gái này chắc cũng là một người như thế. Còn người được gọi là "trai" đối lập với ông chồng kia là ai? Dĩ nhiên, đó là người không lấy được cô, là người không được thừa nhận trong giấy tờ là chồng. Nhưng có thể anh chính là người bạn "biết nhau từ thuở buông thừng", anh chính là người trai làng mà cô đã từng hò hẹn thề nguyền. Chỉ tại bác mẹ, tại mối manh, tại bao nhiêu trắc trở mà cô không lấy được anh. Nhưng tình xưa vẫn còn nguyên đó, "dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng". Làm sao có thể ngăn được lòng cô vẫn hướng về anh? So ra, người khác còn quyết liệt hơn cô nhiều:
"Ví dù thầy mẹ đan rọ thả trôi
Thả trôi thì thả, lòng tôi vẫn thương chàng"
Còn cô không dám cưỡng lại tập tục, cô đi lấy người chồng mà mình không yêu. Vậy nên cô mới cư xử với trai hậu hơn với chồng, dành phần hơn cho cái người không phải là chồng về danh nghĩa nhưng là chồng trong tình cảm, trong tâm trí của cô.
Điều đáng nói ở đây là đức hy sinh của cô gái này và sự nhân hậu vốn như là bản tính tự nhiên trong tấm lòng phụ nữ. Anh chồng, tuy cô không yêu, nhưng cô vẫn dành cho anh ta một trái, dù là trái hồng chát. Và dù cô không yêu, nhưng cô vẫn dành cho anh ta một phần tình thương chứ không phải "bỏ rơi" tuyệt đối. Duy có bản thân mình thì cô chẳng dành cho mình một chút gì hết. Hai quả hồng, cô đem cho cả hai người. Tình thương cô cũng dành chia cho hai người tất cả. Cô chẳng giữ lại chút gì cho mình, cô chẳng hề nghĩ về mình. Mặc dù hoàn cảnh của cô chắc chắn là hết sức ái ngại, đáng thương.
Dân tộc ta quả thật là nhân ái và độ lượng!
[/align]
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Tâm sự nàng Thúy Vân

Trương Nam Hương
Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim.
Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Ðời em thể thắt một vòng oan khiên

Sụt sùi ướt cỏ Ðạm Tiên
Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Ðất không thể nhốt linh hồn đời yêu!

Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh đâu đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Ðường

Chị nhiều hờn giận yêu thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa con tim

Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đến nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?


Tôi chú ý đến cái tên Trương Nam Hương từ khi đọc "Tâm sự nàng Thuý Vân" cách đây vài năm. Hai mươi tư câu lục bát cuốn hút tôi từ đầu đến cuối. Không một chữ thừa. Toàn bài là một sự dồn nén, dồn nén đến tức tưởi, để rồi vỡ dần, vỡ dần, hiện ra một bi kịch trọn vẹn. Truyện Kiều là một chuỗi những bi kịch nối tiếp nhau, những "cung gió thảm mưa sầu" xoay quanh cuộc đời nàng Kiều. Nhưng bên cạnh đó còn ẩn sâu một bi kịch mà chỉ đến Trương Nam Hương mới được phát hiện, khai thác:

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim!

Ðọc Truyện Kiều, người ta thường ít chú ý đến Thuý Vân. Bởi so với cô chị tài sắc mà bạc mệnh, số phận của cô em xem ra may mắn, suôn sẻ mọi bề. Có nhà phê bình thời xưa nặng lời khi đánh giá nàng "Thuý Vân như một khối đá trơ... chỉ để làm bà quan là hợp..." Người ta quên rằng nàng cũng là một người con gái có tâm hồn, có tình cảm. Trong cuộc đời không chông gai như chị song nàng cũng mang niềm đau khổ khó ai thấu hiểu. Trương Nam Hương đã nói hộ tâm sự của nàng:

Lấy người yêu chị làm chồng
Ðời em thể thắt một vòng oan khiên

Ta còn nhớ, Thuý Vân nhận lấy Kim Trọng bởi lời nhờ cậy "trao duyên" của Kiều. Nàng lấy chồng như một nghĩa cử, cốt cho yên lòng người chị đau khổ. Người chồng ấy- chàng Kim- dù sống với nàng nhưng vẫn canh cánh bên lòng mối tình sâu nặng với Kiều:

Khi ăn ở, lúc ra vào
Càng âu duyên mới, càng đào tình xưa

Tâm tình ấy, dù là người vô tâm nhất cũng nhận ra Thuý Vân làm sao không chạnh lòng, tủi phận! Có người nói: Cái gì cũng có thể chia sẻ, trừ tình yêu. Tình Kim- Kiều chẳng thể san sẻ cho nàng Vân. Còn Thuý Vân, nàng cũng chưa bao giờ yêu Kim Trọng. Cái buổi gặp gỡ trong tiết Thanh minh, tuy "hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa" nhưng "tình trong như đã, mặt ngoài còn e" thì chỉ có Kiều với Kim. Cho nên:

Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim!

Chấp nhận làm vợ Kim Trọng, thay chị trả nghĩa cho chàng, nhưng Thuý Vân không thể dập tắt niềm khao khát được sống được yêu như mọi người con gái bình thường. Bởi vì, đến "máu còn biết chảy về tim để hồng" kia mà! Hai câu thơ tiếp sau như một lời trách cứ:

Sụt sùi ướt cỏ Ðạm Tiên
Chị thương kẻ khuất đừng quên người còn

Chị đa cảm, thương người lắm, chị đừng quên đứa em, đã hy sinh cho chị, sống một cuộc hôn nhân không tình yêu! Trách cứ dồn nén lại để vỡ oà hai câu thơ rất tài tình:

Mấp mô số phận vuông tròn
Ðất không thể nhốt linh hồn đời yêu!

Tôi yêu nhất hai câu thơ này. Bao nhiêu tài hoa, tình cảm dồn đúc nên mười bốn chữ ấy. Có lẽ Trương Nam Hương là người đầu tiên tạc nên hình ảnh "mấp mô số phận". Phải chăng tác giả muốn gợi đến những nấm mồ, mỗi nấm mồ là một số phận không ai giống ai, long đong, khúc khuỷu, nhọc nhằn. Ðất đen đã chôn kín kiếp người nhưng không thể chôn vùi những linh hồn cháy bỏng khát khao yêu đương. Thế thì em, làm sao có thể chôn vùi niềm khao khát ấy bên chuyện tình của chị, chị ơi! Từng chữ trong câu thơ như linh hồn muốn phá tung song sắt của định mệnh để sống và yêu hết mình. Ðây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, đầy biểu cảm của Trương Nam Hương.

Thuý Vân hiểu rõ cuộc đời oan khổ của chị. Nàng thương chị vô ngần:

Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Ðường

Nhưng chị còn hạnh phúc hơn em:

Chị nhiều hờn giận yêu thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

Câu thơ như một tiếng nấc xót xa tức nghẹn "Tiết trinh- thương chị- đánh lừa trái tim". Chị đã yêu và được yêu. Còn đó vầng trăng vằng vặc chứng giám tình yêu của chị. Còn em, em chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ được thế. Vì thương chị mà em phải đánh lừa trái tim biết yêu và khao khát tình yêu đích thực của mình để thành vợ người yêu chị. Nỗi đau của em, chị có thấu chăng? Bi kịch của Thuý Vân đã lên đến đỉnh điểm. Nỗi đau dồn vào từng chữ nặng như chị, nhức nhối, xoáy sâu vào tim óc. "Tiết trinh thương chị- đánh lừa trái tim". Oan khốc đổ xuống đầu gia đình Kiều không chỉ làm cho một người con gái phải lìa bỏ người thân yêu, dấn mình vào kiếp giang hồ nhục nhã, xé nát trái tim "trong giá trắng ngần" mà còn khiến một người con gái khác phải "đánh lừa trái tim" mình, dìm sâu nỗi khao khát sống và yêu để trọn tình với chị. Có cái gì như một lời phản kháng, gào thét trong lặng lẽ, căm uất, nghẹn ngào bật lên trong câu thơ.

Bài thơ kết lại bằng một câu hỏi day dứt, quặn lòng:

Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Câu hỏi vọng vào không gian và thời gian. Biết đến kiếp nào em mới được yêu, chị Kiều ơi! Kiếp này em đã là vợ chàng Kim, làm tròn việc thừa gia, trả nghĩa. Nhưng đến bao giờ, bao giờ em mới được một lần dưới "vầng trăng lấm mùi hương hẹn hò" như chị đã từng được thế?

Bài thơ khép lại, mà dư âm về nỗi đau, nỗi khát khao của nàng Vân vẫn đọng mãi trong lòng người đọc. Ðọc "Tâm sự nàng Thuý Vân" ta hiểu thêm một bi kịch mà xã hội Truyện Kiều đã gây ra. Không rõ rệt trào sôi như những thảm cảnh trong đời nàng Kiều, nhưng sâu sắc lắng đọng, day dứt và ám ảnh, Trương Nam Hương đã mở ra tấn bi kịch ấy một cách tài hoa. Cái tài ấy xét cho cùng, chính là cái tình của anh với Truyện Kiều, với nàng Vân tưởng như chìm khuất bên Kiều, nhưng tâm anh đã soi một ánh sáng mới vào hình ảnh ấy. Như Nguyễn Du đã viết:

"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-13 11:42:57coco_trencungtrang>
Về với ruộng đồng

Trần văn Lợi


Mỏi mê với chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Thôi ta về với ruộng đồng
Lại gieo tục ngữ, lại trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thong dong rau mắm,nhẩn nha mùa màng
Tiếng chào mở lối dọn làng
Bát cơm gạo mới thơm sang láng giềng

Cõi người là chốn thiêng liêng
Quê hương là chốn bình yên đời mình
Bao lời bia đá anh linh
Khói hương thơm suốt nghĩa tình thế gian

Bến sông ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn,âu lo
Lợi danh một thực, mười hư
Trăm điều khao khát cũng phù sa trôi

Nắng mưa vun xới tuổi đời
Tình quê bồi đắp vào nơi sâu đằm
Ta về hát khúc trăm năm
Gối lên tiếng ếch mà nằm chiêm bao

Bình thơ :

Mãi bon chen giữa cuộc đời bận rộn, đầy rẫy lo toan, bộn bề ích kỷ, có khi nào, mỗi chúng ta chợt nhớ và thèm được trở về một vùng trời bình yên – một quê hương để thương để nhớ:
Mải mê với chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Cái sự “mỏng”, sự “nông” mà tác giả nói đến phải chăng là thước đo cái quan hệ người – người ? Đáng buồn thay, ngay cả những cử chỉ đơn giản nhất để biểu hiện tình người kia lại “mỏng”, lại “nông” đến thế sao ? Thì “thôi ta về với ruộng đồng, lại gieo tục ngữ, lại trồng dân ca”.
Đôi chân bôn ba trên đường đời giờ đã mỏi, đây là lúc trở về. Về với ruộng đồng bao la bát ngát, về với lũy tre làng dày mịt, về với giếng làng sâu thăm thẳm. Nơi đó ta cùng gieo trồng ca dao, tục ngữ. Ôi, vui sướng biết bao nhiêu ! Hình ảnh của dòng sữa dân gian mát lành lại được gắn với những động từ “gieo”, “trồng” làm cho ý thơ thêm mộc mạc, quê mùa mà lại thanh bạch, sáng trong. Ở đó, tình quê luôn lai láng:
Thỏa thuê cùng với cỏ hoa,
Thong dong rau mắm, nhẩn nha mùa màng
Tiếng chào mở lối dọn làng
Bát cơm gạo mới thơm sang láng giềng
Thật là một chốn yên bình ! Những từ láy “thỏa thuê”, “thong dong”, “nhẩn nha” đã lột tả khá đầy đủ hồn quê sảng khoái, rộng mở, bao dung và phóng khoáng. Điều mà ngày xưa những bậc đại ẩn đã từng tìm thấy ở những vùng quê đạm bạc nhưng lắm nghĩa tình, nơi “ao cạn vớt bèo cấy muống, đìa thanh phát cỏ ương sen”, nơi mà “thu ăn măng trúc đông ăn giá, xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”
Nói đến quê hương là nói đến những điều giản dị mà thân thương ấy, những cây nhà lá vườn, những “đặc sản” rau mắm, cơm gạo mới…Bình thường lắm nhưng đi xa thì da diết nhớ. Đó không chỉ là vật chất để ngắm nhìn, để hít thở, để nếm ngửi mà còn là những ý niệm thiêng liêng, là cội nguồn tinh thần ẩn náu nơi sâu kín ở mỗi tâm hồn. Hóa ra cái điều tưởng chừng vô cùng trừu tượng là tình yêu quê hương lại hết sức cụ thể, thân thiết và gắn bó với mỗi con người. Lại một định nghĩa mới về quê hương: “Quê hương là chốn bình yên đời mình…”
Đó là chùm khế ngọt, là con diều biếc, là dòng sông quê, là bến đò trăng…Đó là nguyên cớ của bao nỗi nhớ thương khi xa vắng, khao khát trở về khi lầm lạc, thèm được tựa nương khi mệt mỏi với dòng đời thị thành xuôi ngược. Ôi, sao thật thơ thới thảnh thơi. Giọng thơ càng lúc càng như một khúc hát đồng dao vô tư mà nhẹ nhõm:
Bến sông ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều khao khát cũng phù sa trôi
Nơi dòng sông tuổi thơ đó, giờ đây, kỳ diệu thay lại một lần nữa tắm gội cho ta những nhọc nhằn, những âu lo, những tranh giành bon chen nhỏ nhen, ích kỷ tầm thường…Đưa ta về với tuổi thơ hồn nhiên mà trong sáng. Lợi danh, thắng thua rồi cũng như một giấc chiêm bao đầy hư ảo mà thôi. Cái còn lại trong lòng mỗi người rồi cũng chỉ là cái tình quê ấy - bình dị mà chung thủy lắm thay !
Đoạn thơ cuối cùng là một khúc hát đậm đà tình nghĩa mà tác giả đã dành trọn cho quê hương
Nắng mưa vun xới tuổi thơ
Tình quê bồi đắp vào nơi sâu đằm
Ta về hát khúc trăm năm
Gối lên tiếng ếch mà nằm chiêm bao
Ôi, đẹp làm sao tình quê và cũng là tình người ấy. Những hiình ảnh hết sức thôn dã cùng những động từ quen thuộc đã trở thành những lời có cánh lột tả chân thực nhất tình cảm quê hương. Đó cũng là sự gắn kết tự nhiên giữa con người với ruộng đồng làng xóm bởi một tầng nền vô cùng vững chắc “nắng mưa vun xới”, rồi “tình quê bồi đắp”. Khúc hát dân ca xưa từ đây lại ngân nga, rộn ràng. Vâng, đó chính là “khúc hát trăm năm” ru ta vào giấc ngủ mà ở đó, tiếng ếch bên tai văng vẳng như lời đồng vọng thiết tha đưa đến giấc chiêm bao kỳ diệu – một giấc mơ về một vùng trời bình yên của đời người. Giấc mơ ấy có tiếng gọi đò đầy nuối tiếc để kịp trở lại bến sông ngập ánh trăng vàng, là cánh đồng tuổi thơ ước ao với cánh diều căng gió…
Cảm ơn “Về với ruộng đồng” của Trần Văn Lợi. Cảm ơn tình cảm chân thành ấm áp của tác giả. Cảm ơn một tâm hồn rất đồng quê đã cho tôi một sự hòa điệu, đồng cảm. Bài thơ như một khúc ca dao lục bát ngọt ngào bình dị, thâm tình làm sống dậy trong tôi những hình ảnh quê nhà thân thiết có lúc tưởng chừng như đã phôi pha trong vòng xoáy đô thị hóa. Rồi thời gian sẽ trôi, mọi thứ sẽ đổi thay nhưng với bài thơ rất đẹp này, tôi tin có một thứ sẽ còn vẹn nguyên giá trị. Cuộc sống sẽ hiện đại hơn nhưng tâm hồn và tình cảm của con người xin đừng xơ cứng, những mối quan hệ giữa người với người xin đừng “mỏng”, đừng “nông”. Hãy đọc và yêu bài thơ như tôi đã yêu.
Và còn chờ gì nữa, bạn hãy cùng tôi về với quê xưa, về với ruộng đồng, về với chốn bình yên nhất của đời mình. 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
TIẾNG VỌNG (BÌNH THƠ LÊ HẢI)

TIẾNG VỌNG
                                              Lê Hải
Trời lạ cuối Thu lạc bước
Trong ta âm sắc nửa cuộc đời
Yêu hay không vẫn nhận vết xước
Em có nghe tiếng vọng phía chân trời.
 
Lời bình :
 
 Thu nào chả giống nhau, cũng lá vàng và trời xanh thẳm.Nhưng có một lần nhà thơ lạc bước vì phát hiện ra hôm nay Thu khác trước, nó mang “âm sắc nửa cuộc đời”. Ôi “nửa cuộc đời ” rồi sao. Có cái gì man mác buồn tiếc nuối. Nửa cuộc đời nhưng nhà thơ thấy mình chưa làm gì được nhiều. Nhà thơ muốn hối hả đi và tìm, nhưng anh cũng lại đang “lạc bước”. Có cái gì nữa lại như một điều thảng thốt:
                                      Trời lạ cuối Thu lạc bước
Mà “lạc bước” trong “trời lạ”. Ta đọc chậm và nghĩ đi, bất chợt ta thấy một khoảng trống mênh mông, và nhà thơ đang muốn dừng lại. Dừng lại để làm gì? Để nhận thức lại bản thân và cuộc đời, nhà thơ bật thốt lên nỗi đau:
                                                     Yêu hay không vẫn nhận vết xước
Vâng, yêu thì nhận vết xước kiểu của yêu. Bởi vì khi ta yêu, ta chưa chắc đã được yêu. Mà khi được yêu, ta lại thất vọng về đối tượng yêu vì ta lý tưởng quá nhiều vào cái thời tuổi trẻ, cái thời ta chưa nhận thức được là ta có lúc sẽ có:
                   Trong ta âm sắc nửa cuộc đời
nhưng rồi, dừng lại để suy nghĩ, và dù đó là khoảng trống mênh mông ta vẫn cứ bước. Bước đi biết đâu, giữa khoảng trống ấy, ta lại viết lên một điều gì cho chính ta, cho cuộc đời. Thôi thì dù thất vọng kiểu gì cũng là có ích, để ta có thể viết lên giữa khoảng trống ấy những sắc màu mà ta mơ ước, dù có thể không còn nhiều thời gian để làm lại, nhưng không phải là không có thể, ta có quyền hy vọng. Nhà thơ buông dịu dàng một câu: Em có nghe tiếng vọng phía chân trời. “Tiếng vọng” đó là cái gì nữa? Đó chính là nốt nhạc nhân từ của sự tha thứ, độ lượng, của mến yêu cái mà nàng chưa hoàn hảo, nhưng biết đâu vì cả hai người mới có “nửa cuộc đời” thôi mà. Còn đi tiếp. ừ biết đâu…
Bài thơ là một tiếng thở dài của lá nhỏ xôn xao sau một cơn mưa…
 
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
Khát quê

Nguyễn Xa
Mẹ à thành phố ồn ghê
Người đi đi vội, người về về mau
Người quen hiếm lúc gặp nhau
Giữa đông người vẫn buồn sao là buồn
Thành phố có vạn con đường
Con đi cứ vẫn phải nhường người ta
Đêm thị thành sáng đèn hoa
Chúng con cứ phải ở nhà ngủ thôi
Quán hàng mở khắp nơi nơi
Bữa cơm cũng chỉ nhạt lời bán mua
Nắng dội đầu những ban trưa
Con đi, chẳng gặp vườn thưa láng giềng
Thành phố của người có tiền
Con là của ruộng, làm chim lạc bầy
Bốn năm học ở chốn này
Khát quê, con khát ngày mai – ngày về
 

Từ thuở nằm nôi, cứ mỗi độ trưa hè tôi cứ đắm mình trong câu hát à ơi của mẹ:
“Con đi con nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống,nhớ cà dầm tương”
Thời gian  gõ nhịp nhẹ nhàng để tuổi thơ lớn dần trong ký ức. Ôi hình ảnh quê hương sao dạt dào đến vậy. Kỷ niệm đơn sơ đôi khi chỉ gắn với những sản vật tầm thường: Trái cà, trái ổi với những con người một nắng hai sương. Chỉ có vậy mà hôm nay, ta lên chốn thị thành, phồn hoa đô hội, cuộc sống nhộn nhịp ồn ào thật sự làm ta không sao quen được
Mẹ à thành phố ồn ghê
Người đi đi vội người về về mau
Đó là lời cảm nhận đầu tiên của tác giả Nguyễn Xa đứa con lần đầu tiên xa quê, xa cái tĩnh lặng của trưa hè để rong ruổi nơi đất khách mong thực hiện hoài bão của mình.Tác giả thật sự ngỡ ngàng trước cuộc sống ồn ào, vội vã nơi đây với sự chuyển bước liên tục “đi vội, về mau”. Cái không gian chật chội, bức bối làm sao ta có thể quen được.Ta đã quen rồi với những lúc buồn thường đi lân la nhà bên cạnh tán gẫu. Giờ đây dù chốn đông người sao cảm thấy lạc lõng, đơn côi.
Người quen hiếm lúc gặp nhau
Giữa đông người vẫn buồn sao là buồn
Những lúc buồn nhớ nhà, tác giả chỉ muốn kiếm một vài người quen để trò chuyện nhưng cuộc sống tất bật khiến ai cũng có công việc của riêng mình. Đôi khi trên phố, nhác thấy một vài người quen, nhưng không phải tay bắt mặt mừng chào hỏi vồn vã mà họa hoằn chỉ là cái cười xã giao rồi lại đi ngay. Ôi sao tình ngưòi nơi đây nhạt nhẽo đến vậy.?
 T hành phố có vạn con đường
Con đi cứ vẫn phải nhường người ta
Đêm thành thị sáng đèn hoa
Chúng con cứ phải ở nhà ngủ thôi
Đã xa rồi những con đường mòn trơn trợt khi trời không may đổ mưa, chiếc áo học sinh lấm lem bùn đất. Xa rồi những chiếc đèn dầu leo lét sau những đêm thức trắng học bài thi cuối cấp. Giờ nơi chốn phồn hoa, những con đường chồng chéo, tấp nập, những ánh đèn điện sáng choang không làm cho lòng tác giả ấm áp dù đó là cuộc sống rất văn minh, đối lập hoàn toàn với miền quê xưa đầy gió cát. Nhưng phải chăng qua những phút vui thâu đêm suốt sáng những gì còn sót lại trong hồn mỗi người cũng là tình quê. Đó là thứ tình cảm không giống bất kỳ thứ tình cảm nào trên đời bởi nó đã gắn với mỗi con người từ thuở lọt lòng. Ôi! Sao dạt dào và ấm áp đến vậy?
Cô đơn đi vào giấc ngủ mang theo cả nỗi ước vọng, nhớ quê nhà tha thiết lắm nhưng biết bao giờ mới sống lại không khí xưa, cảm giác bình yên êm ấm của quê xưa:
Quán hàng mở kháp nơi nơi
Bữa cơm cũng chỉ nhạt lời bán mua
Quê nhà, nhớ những bữa cơm gia đình rất đầm ấm dù chỉ đôi ba con cá rô đồng, vài cọng rau đắng nhưng sao tình người chan chứa quá. Giờ đây còn đâu nữa, chẳng còn đâu những buổi bắt tép hái rau lặn lội, giờ chỉ việc muốn ăn giờ nào thì đây, quán hàng mọc san sát nơi nơi. Nhưng sao nhạt nhẽo quá mẹ à! Đó cũng chỉ là những cuộc bán mua vô vị lạ lẫm. “Nhạt lời bán mua”, giọng điệu của tác giả có gì đó chua chát lắm, có phải chăng trong cuộc bán mua ấy tình người cũng nhạt nhoà đi, lợt lạt theo cuộc sống kim tiền?
Nắng đội đầu những ban trưa
Con đi chẳng gặp vườn thưa láng giềng 

Với khói bụi công nghiệp, cái nắng ban trưa thật ngột ngạt, dữ dội. Những lúc ấy, hình ảnh con đường nhỏ dẫn lối đến trường lại hiện về trong ký ức tác giả. Ngày ngày đi len dưới hàng cây xanh che mát, con đi dưới ban trưa mà nghe hồn lắng dịu, một chút gì là kỷ niệm vẫn còn đọng lại mãi trong tim để ta xa quê mang theo cả hành trang là nỗi nhớ. Giờ đây, chiếc bóng ngả nghiêng dưới trưa hè gay gắt, con cảm thấy sao đơn độc trên con phố dài đến thế? Vâng, tác giả đã gởi gắm nơi đây một tâm sự đơn côi không bờ bến, phải chăng lòng mình không thể hòa hợp được với chốn phồn hoa đô hội ?
Thành phố của người có tiền
Con là của ruộng, làm chim lạc bầy
Tác giả cô đơn bởi không hòa nhập được với cuộc sống nơi đây ? Vì sao vậy ? Phải chăng người thành thị không sống tình cảm như người quê ? “Con là của ruộng”, vâng, con biết mình vốn dĩ là người của ruộng đồng quanh năm một nắng hai sương, đầu trần chân đất. Bao năm đắm mình trên con kênh nặng phù sa chốn miền quê đầy nắng gió, vui buồn trên ruộng lúa nương dâu. Biết nâng niu hứng từng giọt sương trên ngọn cỏ lúc bình minh, biết ngắm từng đàn én về tổ khi ráng chiều khuất dần trong nắng nhạt. Bản chất của người quê là vậy, yêu ghét rõ ràng, sống chứa chan tình nghĩa. Giờ sống giữa phố phường đông đúc, tác giả chỉ là cánh chim lạc bầy bơ vơ thiếu tình thân ái.
Bốn năm học ở chốn này
Khát quê, con khát ngày mai - ngày về
Đó là lời nhắn nhủ của tác giả, một nỗi nhớ khát khao một ngày nào đó sẽ trở lại quê xưa. Vâng, một ngày không xa lắm, trên mảnh đất của chốn quê nghèo sẽ đón đứa con xa quê bôn ba xứ người tạo dựng sự nghiệp trở về góp tay vào xây dựng quê hương.
Cảm ơn tác giả Nguyễn Xa đã nói hộ nỗi lòng chúng tôi – những người xa quê lần đầu bước chân lên đại học. Nhưng tôi tin rằng cả tác giả và chúng ta phải biết vượt qua những gian nan nơi đất khách, hòa nhập vào cuộc sống mới để hướng tới tương lai. Hãy đón nhận những gì tốt đẹp nhất bởi vì đâu đó trong cuộc sống, lúc nào tình người và tình quê luôn là những thứ tinh tuý nhất của cuộc sống.   
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
TRĂNG KHUYẾT
Phi Tuyết Ba
 
Anh ngỏ lời yêu em
Vào một đêm trăng khuyết

Bởi tình yêu tha thiết
Biết tròn trước đêm rằm.
Em vui lúc trăng tròn
Chạnh lòng khi trăng khuyết
Anh ơi anh có biết
Trăng hay tình lứa đôi.
Sao anh lại ngỏ lời
Vào một đêm trăng khuyết
Để bây giờ thầm tiếc
Một vầng trăng không tròn.

Lời bình:
 
Ánh trăng muôn đời là chứng nhân của tình yêu. Ánh trăng đã từng chứng kiến bao mối tình từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Ánh trăng trong trẻo, hiền hòa đưa tình yêu lên đỉnh cao của thi vị để tình yêu thăng hoa, ấy là những đêm trăng tròn đầy, viên mãn. Sẽ đau buồn biết bao nhiêu khi tình yêu đẹp đẽ đã vỡ tan, vầng trăng khuyết hao gầy như nỗi lòng trống trải, cô liêu. Có lẽ vì thế mà những bài thơ hiện đại khi viết về trăng đều gắn với tình yêu? Tôi yêu bài thơ "Trăng khuyết" của Phi Tuyết Ba, bởi khi vui hay buồn đều có thể tìm thấy trong đó sự sẻ chia. Tâm hồn người phụ nữ rất nhạy cảm, yếu đuối. Có phải vì thế mà đôi khi chỉ một câu thơ thôi cũng có thể trở thành chỗ dựa tinh thần để vui, để thấy cuộc đời đáng yêu, đáng sống?
Anh ngỏ lời yêu em
Vào một đêm trăng khuyết
Bởi tình yêu tha thiết
Biết tròn trước đêm rằm.
Tình yêu đến, tình yêu đi đều không báo trước, nhưng dù thế nào tình yêu qua đi cũng để laị nỗi niềm luyến tiếc không nguôi. Cô gái trong bài thơ cũng vậy. Trong sâu thẳm nỗi buồn tiếc, nhớ thương tình yêu buổi đầu hiện về đẹp đẽ. Ấy là lúc anh ngỏ lời yêu em. Niềm hạnh phúc trong tình yêu đầu tiên đâu có làm cho hai đứa nghĩ nhiều về sự hiện diện của vầng trăng khuyết. Hồn nhiên và vụng dại một cách đáng yêu, chúng mình đều tin đó là tình yêu tha thiết nên tròn trước đêm rằm.
Em vui lúc trăng tròn
Chạnh lòng khi trăng khuyết
Anh ơi anh có biết
Trăng hay tình lứa đôi.
Anh ngỏ lời yêu em vào một đêm trăng khuyết, để rồi sau đó là những ngày trăng tròn, em đã vui và hạnh phúc biết bao nhiêu khi ngắm vầng trăng ấy. Có hay đâu trăng tròn để rồi khuyết, nhìn vầng trăng khuyết chạnh lòng nghĩ đến lúc tình yêu chúng mình biết đâu có một ngày cũng như vằng trăng kia. Và rồi cái điều linh cảm ấy cũng trở thành hiện thực. Anh đã ra đi. Tình yêu chỉ còn là kỉ niệm. Quá khứ không thể đốt thành tro, nên nỗi đau buồn không dễ gì quên. Tại em hay tại anh? Hay tại vầng trăng khuyết? Cô gái không thể hiểu nổi và cũng không thể lý giải được. Đau khổ. Dằn vặt. Trước mắt cô sao cứ hiện ra hình ảnh vầng trăng khuyết? Đúng rồi, lời yêu được ngỏ vào một đêm trăng khuyết. Cô hờn giận trách chàng trai:
Sao anh lại ngỏ lời
Vào một đêm trăng khuyết
Để bây giờ thầm tiếc
Một vầng trăng không tròn.
Tiếc nuối làm hiện lên một tình yêu tha thiết vẫn còn cháy bỏng nơi trái tim cô gái. Trăng muôn đời cứ tròn rồi khuyết, chỉ có tình yêu khuyết rồi không thể tròn đầy trong trái tim em. Anh biết không?[/align]
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»