📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Sự tích cây huyết dụ 🔒

5 trả lời, 1.690 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-19 01:26:34Ct.Ly>

 
Sự tích cây huyết dụ

Khuyết danh




Đã mang vào thư viện
📎 huyetdu
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0




Thiếu Phụ Nam Xương


Khuyết danh

Ngày xưa, có một cô gái lấy chồng họ Trương, ăn ở với nhau mới được một con, thì người chồng phải đi thú biên thùy, ở vùng mạn ngược. Thuở ấy, đường đi lại khó khăn, người vợ ở nhà với con, tháng ngày trông đợi, không được tin tức, chẳng thấy chồng về.

Ngày chồng ra đi con đang bồng ẵm, đến khi con đã biết nói, biết đi, thiếu phụ cũng vẫn sớm khuya vò võ một mình. Đêm đêm với ngọn đèn dầu, khâu vá trông chừng cho con ngủ, thiếu phụ thao thức thương nhớ đến chồng. Một hôm trời nổi giông tố, sấm chớp rung chuyển dữ dội, gió mạnh phụt tắt ngọn đèn, đứa con đang ngủ bỗng giựt mình khóc thét. Thiếu phụ ôm chầm lấy con, khêu thắp lại ngọn bấc, thấy con vẫn khóc, mới chỉ cái bóng mình ở trên phên, dỗ con:
"Nín đi con, con đừng sợ, có bố con đây này!"
Đứa bé nhìn bóng rồi nín khóc.

Đêm hôm sau, đứa bé lại đòi gặp cha trước khi đi ngủ. Người mẹ càng nhớ đến chồng, ngồi nghiêng mình trước đèn cho bóng chiếu vào phên. Nàng dạy con chắp hai tay lại trước bóng mà nói:
"Bố ạ, con đi ngủ".
Thằng bé bắt chước làm theo mẹ mà gọi cha. Thiếu phụ một mình đối bóng, trông con nằm ngủ mà nghĩ đến chồng.

Rồi một ngày kia, người chồng mãn lính trở về. Sau bao nhiêu năm xa cách, mừng mừng tủi tủi thiếu phụ lặng nhìn chồng sung sướng ứa nước mắt. Để chồng chơi với con, nàng chạy ra chợ mua thức ăn về làm lễ tạ ơn trên và mừng chồng về.

Trong lúc vắng vợ, người chồng hôn nựng con, bảo nó gọi mình là bố, thì đứa bé vùng vằng nói:
"Không, ông không phải là bố con. Bố con đến tối mới về cơ".

Nghe lời con trẻ, người chồng đau xót tận đáy lòng, song vì tự ái không hỏi han gì vợ mà âm thầm đau khổ một mình. Thái độ lạnh nhạt bất ngờ của người chồng khiến cho người vợ ngạc nhiên khó hiểu, song đành lặng im chịu đựng.

Khi làm lễ bàn thờ tổ tiên để tạ ơn trên đã phù hộ cho trở về bình an, người chồng lạy xong rồi cuộn ngay chiếu lại, không để cho vợ lễ. Thiếu phụ nước mắt lưng tròng tủi nhục, nghẹn ngào không hiểu duyên cớ vì đâu.

Không khí trong nhà bỗng trở nên nặng nề, khó thở. Trước những lời thắc mắc bóng gió cũng như những cử chỉ âu yếm kín đáo của vợ, người chồng chồng lạnh lùng lảng tránh. Với con cũng không buồn ngó ngàng đến nữa.

Mâm cơm cúng ở bàn thờ bưng xuống, người chồng không mó đến đũa. Cơm canh đã nguội lạnh, người vợ lặng yên chờ đợi, trong lòng khốn khổ không cùng. Rồi bỗng nhiên người chồng đứng lên, xách khăn áo ra đi, không một lời nói năng.

Người vợ không hiểu chồng làm sao bỗng dưng lại thế, nhẫn nhục chờ đợi, ngày này qua ngày khác. Âm thầm đau đớn, khóc hết nước mắt, cho đến một hôm, không còn chịu đựng được nữa, thiếu phụ gởi gắm con lại cho người hàng xóm, ra bờ sông gieo mình xuống giòng nước cuốn trôi đi.

Người chồng hay tin vợ trầm mình, trong lòng nghi hoặc trở về nhà. Tối đến, khi thắp đèn lên, người chồng bỗng thấy con chắp tay lại chào bóng mình in trên phên để đi ngủ. Người chồng lạnh toát người nhận ngay ra tất cả sự lầm lẫn ghê gớm của mình đã giết mất người vợ chung thủy.

Qua hôm sau, người chồng ẵm con ra bờ sông mà khóc than thảm thiết, rồi lập đàn tràng để làm siêu cho vợ thác oan. Để tạ tội với vợ, người chồng thề nhất quyết sống một mình cho đến chết, lo nuôi con học hành thành đạt.

Dân ở trong vùng nghe chuyện người vợ tiết nghĩa bèn lập miếu thờ ở bờ sông, gọi là Miếu vợ chàng Trương.

Đến đời hậu Lê, vua Thái Tôn nhân qua đó, nghe chuyện lấy làm cảm kích, có vịnh một bài thơ còn truyền đến ngày nay:

Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu nhắn đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng...


📎 ThieuPhuNamXuong
0
Thánh Mẫu Cao Tiên

Ngày xưa, vào thời Vĩnh Trị nhà Lê, năm 1675, vua Lê Hi Tôn phải chống nhau với Mạc Kính Vụ, cháu Mạc Đăng Dung, kẻ võ tướng xuất thân thuyền chài đã chiếm đoạt ngôi vua trong một thời.

Bị quan quân nhà Lê đánh đuổi, con cháu Mạc Đăng Dung lui về miền thượng du, chiếm cứ bốn châu ở vùng Cao Bằng, truyền kế mấy đời trong 85 năm. Mạc Kính Vụ là kẻ nối dõi cuối cùng của nhà Mạc, xây thành đắp lũy ở hạt Vũ Thúy, tỉnh lỵ Cao Bằng ngày nay, để chống lại nhà Lê. Vua Lê Hi Tôn cầu viện Tổng Đốc Quảng Tây là Lai Thập Lợi phái một đạo quân từ Tàu đánh sang Cao Bằng, còn một mặt cử Đinh Văn Tả thống xuất một đạo quân từ Trung Châu kéo lên tấn công Mạc Kính Vụ. Bị vây đánh cả hai mặt Mạc Kính Vụ phải chạy lánh sang Trung Hoa để Cao Bằng lọt vào tay nhà Lê.

Khi thành trì nhà Mạc rơi vào tay đối phương, công chúa Mạc Cao Tiên ngồi lên xe voi chạy thoát. Voi chở công chúa đi về phía sông Bằng Giang, dấn mình xuống giòng nước chảy xiết để vượt qua sông, nhằm hôm nước lũ đổ về, sóng nước cuồn cuộn lôi cuốn cả voi theo, công chúa bị giòng nước mạnh kéo đi. Xác công chúa chìm đắm trôi dạt đến Vực Sô ở ngay dưới chân thành Cao Bằng. Quân sĩ không khỏi để ý thấy một đàn chim hàng mấy nghìn con sà cánh bay liền nhau bên trên xác người con gái nổi ở mặt nước, quanh quẩn che nắng cho nàng suốt cả một ngày, đến lúc mặt trời nghiêng bóng mới đi.

Một người con trai trông thấy trên mặt nước xác một thiếu nữ vận sắc phục sang trọng, tính lại gần để vớt lên, thì xác kẻ bạc mạng như tị hiềm nỗi trai gái gần kề, bèn trôi xa khỏi bờ, rồi tấp đến chân một người đàn bà vừa bước xuống bến sông.

Các quan được tin vị công chúa nhà Mạc đã bỏ mình một cách linh hiển như vậy, liền ra lệnh tống táng nàng theo nghi lễ trọng thể và chôn ở trên thành cao.

Dân chúng ở trong vùng được công chúa hiển linh ban ơn, ban phước mới dựng một ngôi đền dưới gốc cây đa ở Vực Sô, thờ nàng như một vị thần. Sau đó đền dời vào giữa tỉnh Cao Bằng, ở hạt Cam Mỹ. Để tỏ lòng thành kính đối với công chúa, mỗi vị quan đến trị nhậm nơi đây đều tự tay trồng lấy một cây đa ở trước cửa đền. Ngày nay còn nhiều cây đa to lớn trước đền, có ngọn cao đến bốn, năm mươi thước, rễ trùm lấp cả bia.

Đến triều Nguyễn, vua Thành Thái phong nàng Cao Tiên là Thánh Mẫu Bảo Quốc. Người ta kể lại rằng Thánh Mẫu rất thiêng, ai qua lại trước cửa đền mà không giở nón hay xuống ngựa thì lập tức bị một sức vô hình quật ngã, phải hương đèn cúng lạy mới được yên.
0
Thần Cuống
Ngày xưa, tại xã Khúc Phụ, tổng Thổ Bình, châu Chiêm Hóa, thuộc tỉnh Tuyên Quang, có một bà lão góa không con, ở thôn Mô Cuống, mỗi ngày thường đến thác Cuống bắt tôm cá về ăn.

Một hôm bà lão trông thấy một quả trứng màu trắng, to gần bằng trứng gà, lấy làm sợ bèn lượm vứt đi xa. Song luôn hai ba lần, bà lão lại gặp quả trứng đó ở mấy nơi khác, bèn đem về cho gà ấp.

Lối một tháng sau, quả trứng nở ra một con vật giống hình con lươn, bà lão đem bỏ vào một chĩnh nước. Con vật chóng lớn, bà lão đưa qua một cái vại, rồi nó lớn lên chật vại, bà đem thả nó xuống suối Mô Cuống, mới hay nó là con giao long. Con vật sắc trắng này thuộc loài thủy tộc, song thỉnh thoảng lại hóa thành người nói được. Nó gọi bà lão là mẹ nuôi và bắt tôm cá về nuôi bà. Vì thế mỗi lần có cúng giỗ, bà lão đến bên giòng thác gọi: "Cuống, Cuống!", rồi thấy nó trồi đầu lên mặt nước mới bảo: "Ngày mai ở nhà có giỗ, con bắt cho mẹ một ít cá". Giao long lập tức vâng lời, bắt nhiều cá để lên bờ cho mẹ nuôi đến lấy về. Có bao nhiêu người ăn, số cá giao long cho vẫn đủ, và luôn luôn như vậy.

Về sau, có một con giao long khác, sắc đen, ở giòng thác lớn Sa Hương thuộc xã Miên Hương, cách đó mấy dặm, ngược giòng thác Cuống đến đánh nhau với giao long trắng để rồi chiếm lấy nơi này. Cuộc giao chiến kéo dài đã ba ngày, chưa rõ con nào thắng, bỗng thấy con giao long trắng chạy về nhà cầu cứu bà lão đến giòng thác để giúp nó một tay, làm theo lời nó dặn: "Lúc nào thấy thân hình đen (tức là giao long đen) trồi lên mặt nước thì mẹ lấy dao mà chém". Bà lão nghe lời con nuôi mang theo một con dao dài mài sắc, đến hôm sau, vào giờ ngọ, ra bờ thác, trông thấy hai con giao long đang đánh nhau, quấy đục cả mặt nước. bà cầm con dao chờ sẵn khi thấy thân hình đen nổi lên mặt nước, liền chém xuống thật mạnh, chẳng may lại trúng nhằm con giao long trắng. Con vật hiện lên rên xiết với bà lão, nói: "Mẹ ơi, mẹ đã chém lầm vào bụng con rồi. Số mệnh con phải chịu như vậy, xin mẹ đừng tiếc thương con". Nói xong rồi nó biến mất. Ba ngày sau xác nó nổi lên ngay chỗ ấy, dân trong vùng trông thấy vớt đem về chôn ở cánh đồng trước nhà bà lão.

Ngày nay mộ con giao long vẫn còn, người ta gọi là mộ Thần Cuống, được sùng bái coi như một vị thần, mỗi năm vào dịp tháng hai, dân ở bốn xã vùng này đều kéo nhau đến cúng lễ.
0
Tam Thánh Nội Ðịa

Ngày xưa, ngoài những tiên ở thượng giới xuống sống trên đất nước Việt Nam, còn có một số người Việt thành tiên. Như anh chàng không một manh khố che thân Chử Đồng Tử lấy công chúa Tiên Dung rồi cả hai vợ chồng học đạo mà thành tiên. Hay anh chàng thư sinh đa tình yêu người đẹp trong tranh là Tú Uyên, được nàng Hà Giáng Kiều kết làm vợ chồng rồi dìu dắt cùng về cõi tiên. Hay là vị quan thoát tục Từ Thức ngao du lạc vào nơi tiên ở. Đó là các người thành tiên danh tiếng.

Còn một số người thành tiên nhờ tu đạo thoát tục, ít được nhắc nhở đến.

Như chuyện "Ông già Na Sơn" dưới đây:

Về đời nhà Trần, triều Xương Phù (1377-1388), có một ông già người đời vẫn gọi là Tú Na tu tiên đắc đạo, ở ẩn tại Na Sơn, Thanh Hóa. Núi này thuộc vùng Cổ Định, huyện Nông Cống, dân thường vẫn gọi là núi Nưa, ở trên đỉnh cao có một ngôi đền kêu là Am Tiên, có một động sâu đường rất khó đi. Người ta vẫn gọi ông tiên ở đây là ông già Na Sơn.

Dưới đời Lê, cứ mười hoặc hai mươi năm, có người lại gặp ông.

Tục truyền rằng đời Hồ, Hồ Hán Thương (1404-1407) có gặp ông già núi Nưa trong một cuộc đi săn. Biết là gặp tiên, vua Hồ nài nỉ mời ông ra giúp nhưng ông một mực từ chối, chỉ cho hai câu thơ tiên đoán cái chết bi đát của cha con họ Hồ.

Đến đời Minh Mạng (1820-1840), người ta gặp tại tỉnh lỵ Thanh Hóa một ông lão lưng còng ngoài trăm tuổi ngồi trong quán uống hết vò này đến vò khác. Thiên hạ ở khắp trong tỉnh kháo nhau đi xem. Bỗng nhiên không ai thấy ông đâu. Bấy giờ người ta mới biết ông lão đó là ông già núi Nưa.

Đời Trần, ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, có một vị đạo sĩ ở ẩn tại chùa Lệ Kỳ trên núi Niết Sơn (hay là Phụng Hoàng Sơn) để chế tiên dược. Người đời gọi ông là Huyền Vân Chân Nhân.

Vua Trần Dụ Tôn cho vời đạo sĩ Huyền Vân vào triều để dạy cho vua cách chế thuốc trường sinh. Sau khi gặp đạo sĩ, vua tặng cho ông một nơi để ở gọi là Huyền Thiên động.

Về sau người ta không tìm thấy dấu tích Huyền Vân chân nhân, cho là ông đã thành tiên bay về Bồng Lai.

Cuối đời Lê, có chàng thư sinh trẻ tuổi thi đỗ tiến sĩ, nhưng sớm chán đời nên bỏ mộng làm quan, bầu rượu túi thơ, ngao du sông núi khắp nơi. Trên đường giang hồ, thư sinh gặp đạo sĩ Phạm Viên ở dãy núi Hồng Lĩnh, liền bén gót theo người. Khắp những chốn danh lam thắng cảnh đều có vết chân của thư sinh.

Một hôm, chàng theo Phạm Viên đi ra phía ngoài biển. Giữa cảnh sông sóng nước trùng dương hiện ra một con đường quanh co. Hai người lần đến một ngọn núi có nhiều cây đào nặng trĩu trái lớn chín đỏ.

Họ ngồi dưới bóng cây nghỉ mát. Phạm Viên lấy rượu ra mờ thư sinh cùng mấy kẻ đi theo. Đào được hái xuống ăn, Phạm Viên dặn mọi người đừng giữ lấy hột.

Uống cạn rượu xong, Phạm Viên ra đi trước. Nhân dịp có mấy người cùng đi theo lấy hột đào cất dấu vào trong túi áo.

Họ ra đi lạc mất đường, cứ quanh quẩn ở trong núi, hơn nửa ngày không tìm thấy Phạm Viên. Biết là còn hột đào trong túi thì không tìm thấy đường ra, họ bèn vứt cả đi. Đến lúc ra khỏi núi, họ gặp Phạm Viên đang ngồi uống rượu trên một tảng đá bên đường.

Phạm Viên hỏi: "Làm sao các ngươi về muộn thế"? Rồi sau khi trao cho thư sinh một chồng sách về đạo tiên, Phạm Viên ra đi cùng các môn đệ.

Thư sinh từ đó lấy danh hiệu là Thành Đạo Tử và bắt đầu học đạo.

Một hôm, chàng gặp một người đàn ông mắc chứng bịnh nội thương mà không có thuốc men, phù phép nào chữa nổi, bèn ngỏ lời muốn giúp. Con bệnh hỏi:
"Phải làm lễ cúng ra sao"?
Chàng đáp:
"Không phải cúng lễ gì cả! Ông chỉ có việc bắt một con cóc buộc lên sà nhà rồi la lớn lên là được"!
Người bệnh làm theo lời quả nhiên khỏi bệnh ngay. Thành Đạo Tử từ chối mọi sự đền ơn mà ra đi.

Trong vòng ba năm sau, Thành Đạo Tử mới ra khỏi núi. Về sau người ta không biết chàng ra sao.
0
Sự Tích Thần Núi Tản Viên

Ngày xưa, có một người tiều phu cứ sáng tinh mơ thì vác búa vào rừng đốn củi. Mọi lần, anh chặt một ít cây khô ở rừng, được nặng gánh thì trở về; nhưng lần này anh định chặt thêm một cây gỗ cứng để đem về chống túp lều tranh, nên anh phải đi vào rừng sâu. Ðang đi, anh chợt nghe có tiếng tre khóc. Anh đứng lại nghe xem tiếng khóc ấy ở đâu đưa lại thì thấy ở phía trước mặt, dưới một lùm cây to, có một con dê rừng rất lớn đang lấy chân trước bới một đống cỏ khô, tiếng tre khóc ở đống cỏ đưa ra.

Người tiều phu rón rén đến nấp sau một gốc cây lớn ở gần xem con dê làm gì. Con vật bới đống cỏ rất nhẹ nhàng, lòi dần ra một đứa trẻ còn đỏ hỏn, bụ bẫm, rồi nó nằm xuống cho đứa trẻ bú.Ðứa trẻ rít lấy rít để bầu sữa căng, một chốc con dê đứng dậy liếm mớ tóc bờm xờm của đứa trẻ rồi chạy đi. Con dê vừa đi khỏi thì một đàn chim bay đến phủ những cỏ khô lên người đứa bé, chỉ trong chớp mắt lại bay vù cả đi.

Người tiều phu lẩm bẩm một mình: "Số mệnh đứa trẻ này thật kỳ lạ." Anh đến bới đống cỏ khô, thì thấy là một đứa con trai. Anh bế lấy, đem về nuôi. Ðứa bé rất chóng lớn, người tiều phu chăm nom như con đẻ có một số mệnh kỳ lạ, anh đặt tên cho nó là Kỳ. Lớn lên, Kỳ rất khoẻ mạnh. Ngày ngày Kỳ vác búa theo cha nuôi vào rừng đốn củi. Một hôm, Kỳ chặt một cây lớn đến hai người ôm, chặt từ sáng tinh mơ đến nhá nhem tối mà vẫn chưa xong, nên đành bỏ dở ra về. Sáng hôm sau, đến gốc cây định chặt tiếp thì anh hết sức ngạc nhiên: Cái cây lớn chặt dở hôm qua bây giờ lại liền ruột liền vỏ như chưa có một vết búa nào chạm đến. Thấy thế, Kỳ không ngả lòng, anh lại giáng những nhát búa thật mạnh vào chỗ thân cây đã chặt hôm trước. Tuy anh gắng hết sức, nhưng đến nhá nhem tối anh vẫn chưa hạ xong cây, sáng sớm hôm sau, Kỳ lại vác búa định tiếp tục công việc còn bỏ dở thì anh thấy vết chặt hôm trước hôm nay lại liền như cũ. Anh không nản chí, lại bắt đầu chặt ,nhưng đến lúc nhọ mặt người, anh vẫn chưa chặt xong. Lần này anh không về. Anh leo lên một cây gần để rình xem ban đêm cây tự liền da liền thịt như thế nào.

Ðến nửa đêm trăng sao vằng vặc đầy trời, bỗng có một ông già chống gậy đi từ từ đến cái cây chặt dở. Ông cụ cầm gậy chỉ vào cây, trong chớp mắt vết chặt lại liền như cũ. Kỳ vội tụt từ trên cây xuống, chạy đến hỏi ông cụ:

-Tôi khó nhọc mới sắp hạ được một cây lớn, sao cụ lại phá hỏng công việc của tôi như thế ?

Ông cụ đáp:

-Ta là Thái bạch tinh quân đây, ta không muốn người chặt cây cổ thụ này. Thôi ta cho ngươi cái gậy ngươi đi tìm cây nhỏ mà chặt.

Nói xong ông cụ trao cho Kỳ cái gậy chống ở tay rồi biến mất. Một hôm đi chơi men sông, Kỳ nhìn thấy con rắn lớn bị đánh dập đầu, đã chết từ lâu, Kỳ cầm gậy chỉ vào đầu rắn.Thốt nhiên rắn sống lại vẫy đuôi, ngẩng đầu lên nhìn Kỳ rồi bò xuống sông mất.

Một buổi tối Kỳ đang ngồi trong lều tranh thì một chàng thanh niên tuấn tú khăn áo chỉnh tề, đem châu báu đến tạ ơn Kỳ. Chàng xưng là Tiểu Long hầu con Long Vương ở biển Nam, bị trẻ chăn trâu đánh dập đầu chết ở bờ sông và được Kỳ cứu sống hôm nọ. Kỳ nhất định không nhận lễ vật. Chàng thanh niên có ý băn khoăn, cố mời Kỳ xuống thủy cung chơi. Chàng đưa cho Kỳ một ống linh tê để rẽ nước đi xuống. Ðược Kỳ xuống chơi, Long Vương rất lấy làm mừng rỡ, mở yến tiệc linh đình thết đãi. Ðến khi về, Long Vương đưa tiễn đủ các thứ vật lạ dưới biển, nhưng Kỳ nhất định không nhận. Sau Long Vương lấy ở tráp ra một quyển sách nói với chàng rằng:

-Ngài cứu sống con lão, lão không biết lấy gì đáp lại. Nay biếu vật gì ngài cũng không nhận, lão xin có quyển sách này tặng ngài. Dùng quyển sách này, ngài sẽ ước gì được nấy.

Kỳ nhận sách ước và trở lại trần gian. Từ đó, Chàng cầu được ước thấy, có phép biến hoá trở nên một vị thần cứu nhân độ thế. Thần đi qua cửa bể thần phù, theo dòng sông lớn, đổ ngược mãi lên, tìm nơi đất cao phong cảnh đẹp để cắm chỗ ở. Ðến một nơi thấy có một ngọn núi cao chót vót ba tầng, tròn như cái tán, thần hoá phép mở một con đường qua các động và các suối lên đỉnh núi và hoá phép thành lâu đài để ở. Khi đã định cư rồi thần thường xuống núi đi xem khắp phong cảnh đẹp và dùng phép cứu nhân dân rất nhiều. Ngọn núi thần ở là núi Tản Viên, nên người ta gọi thần là thần Tản Viên hay Sơn Tinh .
0