📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người ngoại quốc

Văn hào Nga Alexander Solzhenitsyn

5 trả lời, 453 lượt xem — Trang 1 / 1



Văn hào Nga Solzhenitsyn từ trần


04/08/2008









Văn hào Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel văn chương năm 1970Văn hào Nga được trao giải Nobel văn chương Alexander Solzhenitsyn, từng bị buộc phải sống lưu vong vì những bài viết chỉ trích mạnh mẽ chính phủ Xô Viết, đã từ trần, hưởng thọ 89 tuổi.

Hôm chủ nhật, thân nhân cho biết ông Solzhenitsyn đã từ trần vì nhồi máu cơ tim, trong lúc tin của truyền thông Nga lại nói rằng ông đã bị tai biến mạch não.

Ông Solzhenitsyn là một biểu tượng của chính sách kiểm duyệt hà khắc và đàn áp dưới hệ thống chính trị thời Liên Xô.

Ông ra đời năm 1918, từng theo học ngành toán tại một đại học Nga.

Năm 1945, ông bị kết án 8 năm tù giam trong các trại lao cải và sau đó đã bị đày sang Kazakhstan vì đã gửi cho một người bạn một lá thư chỉ trích nhà độc tài Joseph Stalin.

Ông cũng đã sống sót sau khi phải chiến đấu với căn bệnh ung thư.

Trở lại nước Nga, ông nắm lấy thời cơ khi lãnh tụ Xô Viết Nikita Khrushchev nới lỏng chế độ kiểm duyệt chính thức, để mô tả kinh nghiệm trong trại lao cải của ông qua tiểu thuyết xuất bản năm 1962 mang tựa đề 'Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovich'.

Nhưng những gì ông viết sau đó đã bị điện Kremlin đàn áp và văn hào Solzhenitsyn thường xuyên bị mật vụ KGB sách nhiễu.

Ông được trao giải Nobel văn chương năm 1970. Nhưng nhà cầm quyền Nga đã tước bỏ tư cách công dân của ông rồi buộc ông phải sống lưu vong năm 1974 sau khi cuốn tiểu thuyết 'Quần Đảo Ngục Tù' của ông được xuất bản tại phương Tây.

Một thời gian sau đó ông đến định cư tại Hoa Kỳ và hồi hương năm 1994, khoảng 3 năm sau khi Liên Xô sụp đổ.

http://www.voanews.com/vietnamese/2008-08-04-voa2.cfm
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-04 23:51:19Như Ý P>
04 Tháng 8 2008 - Cập nhật 02h32 GMT
Nhà văn Solzhenitsyn qua đời =



Ông Solzhenitsyn bị bệnh nhiều năm nay
Nhà văn người Nga từng phơi bày hệ thống nhà tù thời Stalin trong các cuốn tiểu thuyết, sau đó buộc phải sống tị nạn 20 năm đã qua đời gần Moscow ở tuổi 89.
 
[/align]
Alexander Solzhenitsyn, tác giả các cuốn ‘Quần đảo ngục tù' (the Gulag Archipelago) và ‘Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich’ (One Day In The Life Of Ivan Denisovich), đã trở về Nga năm 1994.
Một hãng tin Nga trích lời con trai ông, Stephan cho hay bố mình qua đời tại nhà hôm 3/8 vì bị trụy tim, trong khi một hãng khác trích lời các nguồn tin trong giới văn học cho hay ông bị đột quỵ.
Người từng được trao giải Nobel bị bệnh huyết áp cao nhiều năm nay.
Sau khi quay trở về Nga, ông Solzhenitsyn đã viết một số cuộc bút chiến về lịch sử và bản sắc Nga.
Một phát ngôn viên của Điện Kremlin cho hay, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã gửi lời chia buồn tới gia đình nhà văn.

Tù nhân, bệnh nhân và nhà văn
Ông Solzhenitsyn là sĩ quan pháo binh trong quân đội Soviet thời Thế Chiến II và từng được tặng thưởng huân chương vì lòng can đảm. Tuy nhiên, năm 1945, ông bị tố giác vì đã viết thư chỉ trích Stalin.
Tám năm sau đó, ông bị cầm tù trong hệ thống trại tập trung thời Soviet, hay còn được biết tới với cái tên Gulag, trước khi ông bị đày tới Kazakhstan, nơi ông được chữa trị thành công bệnh ung thư dạ dày.
Cuốn tiểu thuyết về một ngày trong nhà tù Gulag của Denisovich đã khiến ông trở nên nổi tiếng thời kỳ hậu Stalin.
Tuy nhiên, trong vòng một thập kỷ, nhà văn được trao giải Nobel văn học năm 1970, và cùng lúc bị mật vụ KGB quấy nhiễu.


Alexander Solzhenitsyn
Sinh ngày 11/12/1918
1945: bị kết án tám năm tù giam vì chống Xô Viết
1962: Một ngày trong cuộc đời Ivan Denisovich được xuất bản ở Nga
1970: Được trao giải Nobel Văn học
1974: Phần đầu của ‘Quần đảo ngục tù’ ra đời
13/2/1974: Đi lưu vong
1994: Trở về Nga
3/8/2008: Qua đời ở Matxcơva

Năm 1973, phần đầu trong ba tập cuốn ‘Quần đảo ngục tù' đã được xuất bản tại phương Tây.


Tập sách này miêu tả tỉ mỉ những lạm dụng có hệ thống trong hệ thống nhà tù và trại tập trung thời Soviet khoảng thời gian 1918 tới 1956.
Cuốn sách đã gây ra những chỉ trích mạnh mẽ trong báo chí Soviet. Họ gọi ông là một kẻ phản bội tổ quốc.
Đầu năm 1974, chính quyền Soviet tước quyền công dân của ông và trục xuất ông khỏi đất nước.

Tiếng nói lương tri
Ông sau đó sống tại Vermont, Mỹ, nơi ông hoàn thành nốt hai tập tiếp theo của cuốn tiểu thuyết ‘Quần đảo ngục tù’.
Trong khi sống ẩn dật tại đó, ông phản bác cái ông coi là sự xuống cấp đạo đức ở phương Tây.
Chỉ trích mạnh mẽ đường lối dân chủ của Boris Yeltsin, ông không quay trở lại Nga ngay khi Liên Xô sụp đổ năm 1992 như những người lưu vong khác.
Lần hồi hương năm 1994 của ông cũng đầy kịch tính, khi ông trở về bằng đường bộ từ vùng Viễn Đông của Nga.
Những tác phẩm sau này của Solzhenitsyn, trong đó có các bài luận về tương lai của Nga, đã gây ra các tranh cãi.
Năm 2000, ông ra tác phẩm lớn cuối cùng, ‘Hai trăm năm cộng sinh’ (Two Hundred Years Together) phân tích vị thế của người Do Thái trong xã hội Nga cũng như vai trò của họ trong cuộc Cách mạng tháng Mười Nga.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2008/08/080804_solzhenitsyn_death.shtml


.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-08-05 00:03:36Như Ý P>
04 Tháng 8 2008 - Cập nhật 13h29 GMT
Cuộc đời Alexander Solzhenitsyn 



Hoa tưởng niệm được đặt đầy bênngoài tư gia của nhà văn Alexander Solzhenitsyn

Alexander Solzhenitsyn, vừa qua đời ở tuổi 89, là người từng đóng một vai trò quan trọng trong việc chấm dứt chủ nghĩa cộng sản.
[/align] 
[/align]Ông sáng tác các tiểu thuyết cao đẹp, lên án sự đàn áp của chế độ Soviet.
Sinh ra trong một gia đình trí thức Cossack, Alexander Solzhenitsyn tốt nghiệp ngành toán lý chỉ vài tuần trước khi Liên bang Soviet có cuộc chiến sinh tồn với Hitler.
Solzhenitsyn trở thành sỹ quan pháo binh và được tặng thưởng về lòng quả cảm. Tuy nhiên, năm 1945, ông đã bị lên án về tội dám chỉ trích Stalin trong một lá thư.

Cuộc đời Solzhenitsyn

Tám năm sau đó của ông bị chôn vùi giữa muôn ngàn người khác trong trại tù. May mắn hơn một số người, ông đã sống sót qua thời kỳ này.
Tiếp theo đó, ông bị lưu đày tại Kazakhstan, cũng là thời gian ông được chữa khỏi chứng ung thư dạ dày.
Sau vụ thất thế của nhà cải cách Khrushchev, cơ quan mật vụ Nga KGB tăng cường sách nhiễu Solzhenitsyn, buộc ông phải đem xuất bản các tác phẩm của mình ở nước ngoài.
Tiểu thuyết "Vòng tròn đầu tiên" (The First Circle) và "Trại ung thư" (Cancer Ward) tiếp tục lên tiếng về hệ thống Soviet.
Năm 1970, ông được trao giải Nobel Văn học. Tuy nhiêu, ông không tới Stockholm dự lễ trao giải vì sợ sẽ không được trở về quê nhà.
Năm 1973, tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết "Quần đảo ngục tù" gồm ba tập được xuất bản tại phương Tây. Ông đã phải giấu giới chức về tác phẩm này vì sợ những người được nhắc tới trong đó bị báo thù.

Bị coi là kẻ phản bội
Tuy nhiên, người từng giúp việc cho ông là Elizaveta Voronyanskaya đã tiết lộ nơi để tác phẩm khi bị KGB thẩm vấn. Sau đó, bà đã treo cổ tự vẫn.


[/align]

Ông Solzhenitsyn đã trải qua 8 năm trong trại cải tạoSolzhenitsyn quyết định công bố tác phẩm. "Quần đảo ngục tù" kể một cách chi tiết về việc lạm dụng có hệ thống của chính quyền Soviet trong thời gian từ 1918 tới 1956 tại hệ thống rộng lớn các nhà tù và trại cải tạo.
Việc công bố tác phẩm đã dẫn tới một chiến dịch bạo lực chống lại Solzhenitsyn trên hệ thống báo chí Soviet, nơi người ta gọi ông là một kẻ phản bội.
Đầu năm 1974, danh tiếng quốc tế của Solzhenitsyn cũng không giúp ông thoát khỏi cảnh bắt bớ.
Tuy nhiên, thay vì bỏ tù ông, giới chức Soviet đã tước quyền công dân và trục xuất ông ra khỏi đất nước.
Khi sống lưu vong, ông tiếp tục gây nhiều tranh cãi, đáng kể là khi ông ra một loạt các tài liệu nói về những nghi ngờ về việc sáng tác tiểu thuyết "Sông Đông êm đềm" của nhà văn Mikhail Sholokhov.
Cuối cùng, ông định cư tại Vermont, Hoa Kỳ cùng người vợ thứ hai và ba người con trai. Tại đây, ông đã hoàn tất nốt hai tập của tiểu thuyết "Quần đảo ngục tù".

Trở lại nước Nga
"Đêm Phổ", một tác phẩm truyện thơ dài về cuộc tiến quân báo thù của Hồng Quân vào vùng Đông Phổ năm 1945 được công bố năm 1977.
Ông được cho là đã sáng tác và ghi nhớ truyện thơ này từ 25 năm trước, trong thời gian chịu cảnh tù đày.


[/align]

Việc công bố "Quần đảo ngục tù" khiến Solzhenitsyn trở thành đối tượng đấu tố của truyền thông Nga hồi thâp niên 70 Tuy nhiên, Solzhenitsyn bác bỏ chủ nghĩa tự do, bác bỏ khái niệm dân chủ mà Gorbachev và Yeltsin đưa ra như một sự hoang đường. Ông cũng chỉ trích chủ nghĩa tự do Tây phương.
Ông trở lại nước Nga hồi 1994 và nói với Quốc hội Nga (Duma) rằng người Nga hậu cộng sản vẫn đang chưa được sống trong một nền dân chủ.
Ông lên án các chính trị gia là tham nhũng. Ông thường xuất hiện trên truyền hình để lên tiếng phản đối đất nước từng sỉ nhục, rồi sau lại vinh danh ông.
Năm 2000, tác phẩm "Hai trăm năm cộng sinh" của ông lại bàn tới vấn đề nhạy cảm, khi tìm hiểu về vị thế của người Do thái trong xã hội Soviet.
Ông bác bỏ một số cáo buộc về chủ nghĩa bài Do thái. Dần dần, người Nga không còn mấy quan tâm tới những lời chỉ trích của ông.
Cá nhân cựu Tổng thống Vladimir Putin từng tới thăm ông hồi năm 2007 để trao tặng ông giải thưởng quốc gia Liên bang Nga vì những tác phẩm mang đầy tính nhân văn.
Năm 2006, bộ phim Nga đầu tiên dựa trên một trong các tiểu thuyết của ông, "Vòng tròn đầu tiên", được trình chiếu trên truyền hình quốc gia, bốn thập niên sau khi tác phẩm được công bố.
Bộ phim truyền hình 10 tập nói về sự khủng bố dưới triều đại Stalin, mô tả Liên bang Soviet như một nhà tù khổng lồ.
Cũng trong năm 2006, Solzhenitsyn, khi đó 87 tuổi, đã chỉ trích Nato và cáo buộc tổ chức này là tìm cách kiểm soát nước Nga.
Khi đó, Alexander Solzhenitsyn đã giành được vị trí trong lịch sử như một trong các nhà văn Nga xuất sắc nhất thế kỷ 20.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/magazine/story/2008/08/080804_russian_writer.shtml


[/align] [/align]
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
 
30 Tháng 1 2006 - Cập nhật 09h59 GMT

Nga có phim truyền hình về thời Stalin
Bộ phim Nga đầu tiên dựa theo tiểu thuyết của nhà văn đoạt giải Nobel, Alexander Solzhenitsyn, đã được chiếu trên truyền hình nhà nước Nga.
Phim truyền hình 10 tập, Vòng tròn đầu tiên (V Kruge Pervom), được nhà văn viết hơn 50 năm trước đây.
Tác phẩm mô tả những kinh hoàng do chế độ của Joseph Stalin gây ra, và xem Liên Xô như một trại tù lớn.
Solzhenitsyn quay về Nga năm 1994 sau 20 năm sống lưu vong.
Vòng tròn đầu tiên đặt bối cảnh ở Moscow, kể về một nhóm tù chính trị.
Nhân vật chính, Glbe Nerzhin, đồng ý tham gia các dự án nghiên cứu bí mật của nhà nước để tránh bị tù lao động khổ sai.
Solzhenitsyn đã viết kịch bản cho bộ phim và cũng đọc lời bình luận đằng sau ống kính.
Nhan đề tiểu thuyết nhắc đến các vòng luân chuyển địa ngục trong tác phẩm Thần khúc của nhà văn Ý thời Trung Cổ, Dante Alighieri.
Nhiều triệu người ở Liên Xô đã chịu đau khổ dưới thời kì Stalin, tuy nhiên, hiện nay ở Nga, các thăm dò thường cho thấy uy tín của Stalin đang tăng lên.
 
Một phóng viên BBC ở Moscow nói các nhóm nhân quyền ở Nga bày tỏ hy vọng bộ phim này sẽ giúp đất nước thay đổi ý kiến về quá khứ dân tộc.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2006/01/printable/060130_solzhenitsyn_movie.shtml
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Tạp ghi văn nghệ: Một ngày Ivan Denisovich - Một đời Solzhenitsyn
Friday, July 29, 2005
 
Nguyễn Mạnh Trinh

Có người đã phát biểu, văn học Việt Nam ở hải ngoại đã bão hòa với những đề tài về ngục tù Cộng Sản cũng như các đề tài liên quan đến thời sự như vượt biên hoặc chiến tranh. Họ viện lý đã có quá nhiều người viết về những đề tài chỉ có tính nhất thời trên nên không được sự tán thưởng của độc giả. Và họ kết luận rằng chỉ có những đề tài liên quan đến vóc dáng của con người muôn thuở mới có hy vọng vượt qua được sự đãi lọc của thời gian.
Sự chính xác của nhận xét ấy còn phải bàn luận lại từ những nhà nhận định văn học khả tín. Ðề tài có phải quan trọng đến mức ắt có và đủ cho những tác phẩm giá trị? Hay chỉ là một trong những yếu tố cần thiết mà thôi. Dù đã có nhiều người viết về nhưng nếu từ những chân tài nghệ thuật và vượt qua được những ước muốn cá nhân để viết về mình sẽ thành những áng văn chương có thể biểu hiện cho cả một thời đại. Ðất nước Việt Nam đã có nhiều cảnh huống tuy của cá nhân nhưng bao hàm nhiều tính bi thảm và hào hùng chung, có nhiều cuộc đời ngoại khổ nếu được dựng lại thành tác phẩm. Vấn đề là tài năng sáng tạo của người cầm bút.
Câu hỏi trở lại với cá nhân tôi khi đọc những trang sách của Alexander Solzhenitsyn từ “One day in the life of Ivan Denisovich,” “The Gulag Archipelago,” “The First Circle,” “Cancer Ward”...
Cũng đề tài về ngục tù, vẫn những con người sống trong sự bóp nghẹt tự do, mà, sao được nhân loại tán thưởng đến thế. Không phải chỉ với Giải Nobel Văn Chương của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển năm 1970 mà thôi, mà, hàng triệu ấn bản được in ra và trong các hệ thống đại học ở Mỹ, Anh, hàng chục ngàn bài viết hoặc luận án về đề tài chung quanh tác giả và tác phẩm của Solzhenitsyn.
Trong “Nobel Lectures, Literature 1968-1980” Solzhenitsyn viết về mình:
“Tôi sinh tại Kislovodsk ngày 11 tháng 12 năm 1918. Cha tôi đã là sinh viên khoa triết lý tại đại học Moscow nhưng không hoàn tất học vị vì tình nguyện nhập ngũ năm 1914 và là một sĩ quan pháo binh tại mặt trận đối diện với quân Ðức. Ông tử trận năm 1918 khoảng 6 tháng trước khi tôi ra đời. Mẹ tôi nuôi dưỡng tôi với nghề đánh máy tốc ký ở thành phố Rostow bên bờ sông Don. Nơi đó tôi đã trải qua cả thời thơ ấu và tuổi trẻ. Khi còn là một đứa trẻ, mặc dù có sự ngăn cản từ nhiều người khác tôi mong ước muốn thành một nhà văn và tôi đã tích tụ nhiều vốn liếng sống từ tuổi thơ ấu ấy. Năm 1930 tôi cố gắng tìm chỗ để trình bày những bài viết của tôi nhưng tôi không thể kiếm được người chấp nhận những tác phẩm ấy. Tôi muốn theo học về văn chương nhưng tại đại học Rostow không có những môn học ấy và đến Moscow để học là một việc xa vời vì gia đình tôi nghèo và sinh kế chật vật. Tôi bắt buộc phải học tại phân khoa Toán Học tại đại học Rostow nơi đã tỏ ra có uy tín về chuyên ngành này. Mặc dù tôi đã kiếm tìm được phương cách học toán hợp lý tôi vẫn không nghĩ mình sẽ suốt đời đeo đuổi với những con toán ấy. Tuy nhiên, nó đã thành một lợi thế cho tôi trong số phận tôi sau này và ít nhất là một nguyên nhân giúp tôi vượt khỏi nỗi chết. Có một xác suất tôi sẽ không vượt được tám năm khổ sai nếu không là một toán học gia, được chuyển dụng thành tên “sharashia”, và bốn năm sau trong thời kỳ bị lưu đầy. Tôi đã theo những phương pháp của toán và vật lý, giúp tôi dễ dàng hiểu được thực thể đời sống và làm tôi tạo thành nét riêng biệt khi cầm bút...”
Ông học toán và vật lý tại đại học Rostow và ra trường năm 1941. Trong khoảng hai năm từ 1039-1941 ông lấy những môn học hàm thụ về văn chương tại đại học Moscow. Ông lập gia đình lần đầu năm 1940, ly dị năm 1950, lập gia đình lần thứ hai năm 1957 và ly dị năm 1972. Lần sau cùng năm 1973 với Natalia Svetlova và có ba người con.
Trong thế giới chiến tranh lần thứ hai, Solzhenitsyn gia nhập Hồng Quân và quân hàm là đại úy pháo binh và đã hai lần được tuyên dương chiến công. Nhưng từ năm 1945 đến 1953 thì ông bị tù vì lý do viết một lá thư cho bạn phê bình lãnh tụ độc tài Joseph Stalin là “nhân vật có bộ râu cá chốt.” Thơ bị kiểm duyệt và Solzhenitsyn bị giam tại Moscow và lưu đầy tám năm tại Ekibastuz, Fazakhstan. Nhờ căn bản học vấn về toán và vật lý ông hầu như thoát được lao động khổ sai trong nhiều năm nhưng đến năm 1950 bị đến trại trừng giới của những tù nhân chính trị và lao động cực nhọc như mọi người. Trong “The Gulag Archi pelago”, ông viết: “Kolyma là một đảo lớn nhất và nổi tiếng nhất, một cực độ của sự hung bạo thành một lãnh thổ lừng danh của Gulag, với, rải rác theo vị trí địa lý của quần đảo, là, trong cảm nhận tâm lý, hỗn hợp với hệ thống trong lục địa, hầu hết vô hình, hầu hết không nghe thấy về xứ sở sinh sống của dân xứ Zek...”
Ở trại tù đặc biệt Marfino, ông làm công việc khảo cứu của khoa học gia và toán học gia. Sau bị chuyển đi lao động khổ sai tại trại tù cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-Viết Kazakh và bị ung thư bao tử tại đây. Từ 1953 đến 1956 bị chỉ định cư trú tại một làng ở Kok-Terek, nam Kazakhstan và dạy toán cho học sinh. Ông vẫn bí mật cầm bút và thu lượm những kinh nghiệm qua đời sống thực tế. Ông bị ung thư và được chữa trị hiệu quả. Tất cả, ông đã ghi chép lại trong hai tiểu thuyết “First Circle” và “Cancer Ward.”
Ở tuổi 42, ông đã viết được khá nhiều nhưng không có hy vọng được xuất bản. Khi Nikita Khrushchev công kích những sai lầm trong lãnh đạo của Stalin, hệ thống mật vụ theo dõi có nới lỏng và một tác phẩm của Solzhenitsyn xuất hiện trên nhật báo văn học hàng đầu Novyi Mir : “One day in the life of Ivan Denisovich” bắt đầu một loại văn chương viết về ngục tù Xô- viết. Ông viết ở thể kể chuyện về một ngày của tù nhân tên Denisovich Shukhov, số tù S-854, gốc gác thợ mộc, bị tù 10 năm vì tội phản động nhưng đã trải qua 6 năm tại nhiều nhà tù Cộng Sản. Thời gian của truyện khá ngắn chỉ từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm và không gian là một trại lao động cải tạo vùng Siberia.
Một ngày bắt đầu với tiếng kẻng báo thức và anh tù Ivan muốn nằm nán lại và xin khai bệnh. Người quản giáo dẫn anh ra khỏi phòng giam bắt làm vệ sinh trạm gác trước khi được khám bệnh tại trạm xá. Ivan làm quấy quá cho xong, nhận phần ăn sáng rồi đi khám bệnh. Anh không được nghỉ và phải đi làm như mọi người. Giấu được phần bánh mì vào nệm giường xong, anh theo các bạn tù đến nơi lao động. Nơi này là một công trường xây dựng nhà máy điện và vệ binh canh gác rất chặt chẽ. Trong thời tiết lạnh lẽo buổi sáng, tất cả tù nhân kiếm chỗ trú ẩn thì nhóm tù đại diện thương lượng về công việc phải hoàn tất trong ngày và theo kết quả ấy làm căn cứ để cấp phát lương thực. Làm việc xây gạch ở tầng thứ hai đến trưa, bữa ăn sơ sài nhưng Ivan đã mánh mung được hai tô cháo đặc, một cho mình và một cho người đại diện tù. Anh còn mua được thuốc lá và lấy trộm một thanh sắt để dùng.
Buổi chiều làm việc Ivan quá hăng hái nên làm cả toán chờ đợi và về trại trễ giờ. Trước khi vào cổng phải kiểm soát toàn bộ, Ivan mang theo thanh sắt rất nguy hiểm nếu bị khám phá, nhưng nhờ may mắn nên thoát khỏi bàn tay của tên quản giáo.
Sau khi bị khám xét và điểm danh buổi tối, Ivan đi ngủ và nói chuyện về Thượng Ðế cùng sự cầu nguyện với một người bạn tù theo đạo Báp-Tít Alyosha. Sau cùng, khi điểm danh lần chót xong, Ivan ngủ với một tâm trạng vui vẻ vì những may mắn hoặc những gian lận mánh mung nhỏ nhặt với đời thường nhưng to lớn với người tù khổ sai.
Trại giam nào cũng thế, cũng giống hệt nhau, Solzhenitsyn kể chuyện một nhân vật khá quen thuộc, rất bình thường trong cái xã hội tận cùng ấy. Chính đó là nét hấp dẫn và tiểu thuyết ấy đã thành một bản cáo trạng để lên án một chế độ độc tài toàn trị khắc nghiệt của chế độ Stalin.
Solhzenitsyn bị vào tù trong một trường hợp đặc biệt. Hiện thực đời sống của nước Nga từ chiến tranh tàn khốc đến cuộc sống gian khổ mất tự do khiến ông trăn trở trong tâm nhiều ý nghĩ và thường bộc bạch với một người bạn thân đang đóng quân tại mặt trận phía Bắc bằng thư từ. Cả hai người trẻ này cùng chung một kết luận rằng nguyên nhân của các tệ hại từ suốt 15 năm nay là do sự tôn sùng quá đáng lãnh tụ Joseph Stalin và những sai lầm to lớn của ông ta. Chính những người thân cận trong giới lãnh đạo Cộng Sản Bolshevik cũng chống đối và bị tử hình không thương tiếc. Vì sự độc tài ngu dốt của lãnh tụ mà cả một đơn vị và tướng Vlasov đã đào ngũ đầu hàng quân Ðức Quốc Xã.
Từ từ bị kiểm duyệt qua cơ quan mật vụ NKVD và đơn vị quân đội cùng ở bưu điện. Từ mặt trận Konigsberg ác liệt, đại úy Solzhenitsyn bị giải về trình diện bộ chỉ huy trung đoàn, ngưng chức với tội danh phản động và áp giải về trại giam Lubyanka nổi tiếng ác độc. Ra tòa án quân sự với những quan tòa mật vụ NKVD, Solzhenitsyn bị kết án, bị lao động khổ sai tại tòa nhà số 30 khu xây dựng Lenin với số tù 232 in trên mũ và ngực áo.
Những kinh nghiệm tù con so này được ông thu thập và viết lại trong cuốn tiểu thuyết “The First Circle.” Một cuốn sách viết về vòng tròn đầu tiên của đời tù ngục của mình. Cái hay của ông là mô tả những sự kiện khá bình thường nhưng bên trong chứa đựng tất cả những gì mà những người chưa nếm qua không hiểu thấu. Sau bốn năm lao tù là ba năm cưỡng bách lao động tại tỉnh Karaganda thuộc vùng trung tâm Kazakhstan, tây nam Siberia. Ở đây, ông xây dựng ý tưởng và sắp xếp ngôn từ để viết “One day in the life of Ivan Denisovich.” Một ngày nhưng cũng có nghĩa là một đời trong cái ngục tối mịt mù đen tối. Cũng chính ở đây, ông bị ung thư dạ dày, vì ăn uống khổ cực và đời sống nhiều “stress” căng thẳng. Cuốn tiểu thuyết “Cancer Ward” như một thiên bán tự thuật mà nhân vật Kasioglotov phảng phất giống tác giả bị ung thư và chữa trị giải phẫu trong bệnh viện kinh hoàng đến như thế nào. Kinh nghiệm ngục tù và bệnh tật đã hiện thực trong tác phẩm của ông, sinh động và nhiều chất tố cáo bạo quyền và sự chà đạp nhân phẩm đến mức tồi tệ. Sự đau khổ về thể chất con người còn khả dĩ chịu đựng nhưng sự chà đạp nhân phẩm làm hạ giá con người xuống như thú vật còn kinh khủng gấp bội cho khả năng gánh chịu của người tù khổ sai.
Khi giai đoạn bài Stalin bắt đầu sau Ðại Hội Ðảng Nga lần 20, tác phẩm “One day in the life of Ivan Denisovich” được đăng trong nhật báo Novyy. Mir sau sự chấp thuận của lãnh tụ Khruschev đã gây ra tiếng vang lớn trong văn giới và dư luận. Kinh nghiệm sống được mô tả bằng ngôn ngữ đơn giản có nhiều chất sống thực phản ánh đời sống của người tù dưới chế độ Stalin đã gây thành một phong trào viết để tố khổ cơ cấu chính quyền mật vụ cũ.
Nhưng sau khi Khruschev bị hạ bệ, lại một thời gian đàn áp bóp nghẹt. Những tác phẩm của ông dù đã hoàn tất nhưng không được in phải dùng đến cách phổ biến lậu như “The Incident at Krechetovskaya Station,” “Matryona's House,” “For the Good of the Cause.”
Tháng 4-1964, Solzhenitsyn bị đả kích trên nhật báo của Ðảng Pravda và không đồng ý với việc ông được giải Lenin. Cuối năm 1964, ông viết xong “The First Circle” nhưng bản thảo bị công an tịch thu cùng với những giấy tờ riêng tư khác. Ông phản đối tại Ðại hội các nhà văn lần thứ tư nhưng vô hiệu. Năm 1968, ông bị trục xuất khỏi hội nhà văn Liên Xô. Cũng trong năm, bà vợ Natalya cũng ly dị theo.
Hai tác phẩm “The First Circle” và “Cancer ward” được xuất bản bằng Anh ngữ khiến dư luận thế giới bắt đầu để ý đến ông. Nhà văn Rolf Hochhuth và các tác giả khác như Heinrich Boll, Arthur Miller, Martin Niemoeller, Giangiacomo Feltrinelli cùng ký tên trên một kháng thư gửi Chủ tịch nước Nga Podgorny phản đối cách ứng xử bất công và độc ác với Solzhenitsyn. Năm 1970, ông được trao giải Nobel Văn Chương vói sự tuyên dương của Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển “Vì sức mạnh của đạo đức mà ông đã theo đuổi trong truyền thống siêu đẳng của văn học Nga.” Ông không đi Stockholm nhận giải vì sợ sẽ bị không cho trở lại. Phần đông báo chí Nga đều phê phán chống đối việc ông được giải văn chương này. Nhưng cũng có người ủng hộ mà tiêu biểu là 37 nhân vật đối lập mà dẫn đầu là Pyotr Yakir và Zinaida Grigorenko. Nhạc sĩ hồ cầm Mstislav Rostropovich viết lá thư tán đồng với việc ông nhận giải cũng như phản kháng việc kiểm duyệt cấm đoán tự do tư tưởng và báo chí. Nhạc sĩ này cũng bị cấm trình diễn.
Năm 1973, ông phổ biến phần đầu của tác phẩm “The Gulag Archipelago.” Gulag là chữ viết tắt của “Glavnoye Upravleniye Lagereig” một cơ quan đặc trách quản lý các trại cải tạo lao động. Trong tác phẩm này, Solzhenitsyn mô tả chuyện bắt người tùy tiện vô cớ, phương pháp thẩm vấn đầy ải tù nhân, cách chuyên chở giam giữ cũng như hệ thống ngục tù tổ chức khoa học và tàn ác. Ông còn trích dẫn các lời trăn trối, di chúc của tù nhân mà cách xác thực đã làm cho dư luận thế giới không ngờ đến sự vô nhân đạo đến mức độ như thế.
Năm 1973, ông bị kết tội và trục xuất khỏi nước Nga. Ông qua Tây Ðức, Na Uy, trở lại Tây Ðức rồi qua Thụy Sĩ. Năm 1976 ông định cư ở Hoa Kỳ. Sống âm thầm ở thành phố Cavendish, tiểu bang Vermont. Các tác phẩm tiếp là “The Mortal Danger,” “August-1914,” “The Rad Wheel,” “October-1916,” “March-1917,” “April-1917.”
Trong bài diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương năm 1970, Alexander Solzhenitsyn viết: “...Có người sẽ hỏi chúng ta: Văn học có thể làm gì để chống lại sức tấn công tàn khốc của bạo lực công khai. Chúng ta đừng quên rằng bạo lực và dối trá bao giờ cũng đi đôi và bạo lực một mình nó cũng chẳng nên trò trống gì. Cả hai bạo lực và dối trá có quan hệ mật thiết với nhau, tự nhiên và cật ruột nhất. Bạo lực được che đậy bằng dối trá và dối trá được nuôi dưỡng bằng bạo lực. Bất kỳ kẻ nào đã tuyên bố bạo lực là phương cách của mình thì bắt buộc phải dùng dối trá để chỉ đạo hành động. Ở giai đoạn đầu, bạo lực ngang nhiên bất chấp lẽ phải thậm chí còn kiêu hãnh khinh thường tất cả nữa. Nhưng khi đã bành trướng lớn mạnh, đã có thế đứng, nó sẽ cảm thấy xung quanh là gió bão và sẽ không tồn tại được nếu không náu ẩn vào dối trá bằng những ngôn từ ngọt ngào che đậy ngụy trang. Bạo lực không phải luôn luôn mọi lúc dùng tay sắt bóp cổ mọi người, mà phần đông nó dụ dỗ thần dân của nó sự thề thốt của dối trá và tham dự vào cuộc chơi dối trá.
Bước đi giản dị của một con người dũng cảm là gì ngoài sự tẩy chay dối trá, chống đối dối trá... Cứ để nó thống trị trong thế giới nhưng ta không tham dự vào! Nhà văn và nghệ sĩ còn có thể làm hơn thế: Chiến thắng dối trá! Chính trong cuộc chiến sanh tử với dối trá, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự đó hiển nhiên, tất cả chúng ta không chối cãi được! Dối trá có thể chống được tất cả mọi thứ trên hoàn vũ này ngoài nghệ thuật. Và khi dối trá bị xua tan, bạo lực hiện ra trần trụi một cách tởm lợm. Và bạo lực rệu rã ấy sụp đổ tan tành...”
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=29715&z=16
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
Aleksandr Solzhenitsyn – nhà văn GULAGer thành danh

Aleksandr Isaevich Solzhenitsyn (sinh năm 1918) là nhà văn Nga – đoạt giải Nobel văn chương năm 1970 –, nhà bình luận chính trị và hoạt động xã hội, nhà bất đồng chính kiến đối với chế độ Xô-viết.

A. I. Solzhenitsyn sinh trưởng trong một gia đình nông dân tại thành phố Kislovodsk, thuộc địa hạt hành chính Stavropol’skiĭ Kraĭ ở khu vực Bắc Kavkaz, nam phần lãnh thổ Đông Âu của nước Nga. Say mê văn chương, lịch sử và hoạt động xã hội từ thời học sinh phổ thông, nhưng Solzhenitsyn lại chọn học khoa toán-lý Đại học Quốc gia Rostov (acronym theo tiếng Nga ‘RGU’). Tuy nhiên, trong thời gian học chính thức ở RGU (1936–1941), Solzhenitsyn cũng tự nghiên cứu sử học và chủ nghĩa Marx-Lenin, rồi theo học hàm thụ (từ 1939) tại Viện Triết học, Văn chương và Lịch sử Moskva (MIFLI). Sau khi tốt nghiệp RGU, Solzhenitsyn bị gọi nhập ngũ tháng 10.1941, được cử đi học Trường Sĩ quan Pháo binh Kostroma, một năm sau ra trường với cấp bậc trung uý, ra mặt trận tháng 2.1943 với cương vị khẩu đội trưởng trinh sát pháo binh, được đề bạt quân hàm đại uý tháng 6.1944, được tưởng thưởng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc và Huân chương Sao Đỏ.

Tháng 2.1945, khi đang phụng sự ở mặt trận Đông Phổ, Solzhenitsyn bị bắt vì bộc lộ thái độ phê phán và chửi rủa Stalin trong thư từ trao đổi với một người bạn đồng ngũ, bị “Hội đồng Đặc biệt” (Osoboe soveshchanie) kết án tám năm lao động cải tạo và vĩnh viễn lưu đày biệt xứ. Từ tháng 8.1945 đến tháng 2.1953, Solzhenitsyn trải qua một loạt nhà tù / trại giam GULAG, trong đó có một giai đoạn (9.1946–5.1950) ông làm việc trong các sharashka – những “phòng thí nghiệm R&D” sử dụng nhân lực là tù nhân có trình độ chuyên môn. Mãn hạn tù (1953), Solzhenitsyn tiếp tục bị phát vãng đến Kok-Terek (Kazakhstan) theo bản án lưu đày suốt đời. Năm 1956, sau khi được “phục hồi” theo quyết định của Toà án Tối cao Liên Xô (lúc này Nikita Khrushchëv mới lên nắm quyền), Solzhenitsyn chuyển đến định cư ở làng Torfoprodukt thuộc hạt Vladimirskaĭa Oblast’.

Được khuyến khích bởi bầu không khí bài Stalin vào đầu thập niên 1960, Solzhenitsyn tiếp cận nhà thơ Aleksandr Tvardovskiĭ (1910–1971), tổng biên tập tạp chí văn chương Xô-viết hàng đầu Thế giới mới (Novyĭ mir), với bản thảo truyện vừa Một ngày của Ivan Denisovich (Odin den’ Ivana Denisovicha, viết từ 1959). Sau khi được sửa chữa và được đích thân Nikita Khrushchëv phê chuẩn, thiên truyện xuất hiện trên các trang của Novyĭ mir vào 1962, đem lại cho tác giả của nó sự nổi tiếng tức thì. Một ngày… mô tả trải nghiệm của chính Solzhenitsyn về cuộc sống của tù nhân trong một trại cưỡng bức lao động thời Stalin. Là một trong số những tác phẩm văn học đầu tiên của thời kỳ hậu-Stalin trực tiếp viết về đề tài này, thiên truyện đã gây xúc động mạnh mẽ cả ở trong và ngoài Liên Xô, truyền cảm hứng cho một số nhà văn Xô-viết khác tiếp tục khai thác những kinh nghiệm lao tù của họ dưới chế độ stalinist. Tuy nhiên, giai đoạn ân sủng ngắn ngủi này sớm kết thúc cùng với sự “ngã ngựa” của Nikita Khrushchëv (1964): sau lần một tuyển tập truyện ngắn của Solzhenitsyn được ấn hành vào năm 1963, tác phẩm của ông bắt đầu hứng chịu sự chỉ trích và phiền nhiễu của chính quyền.

Sự chấp chính của Leonid Brezhnev đã lấy đi của Solzhenitsyn cơ hội được hợp pháp xuất bản tác phẩm và phát biểu trước công chúng. Tháng 9.1965, KGB đã ra lệnh tịch thu những trước tác “chống Xô-viết nghiêm trọng nhất” của ông. Solzhe quay lại việc phổ biến văn học của mình dưới hình thức samizdat, đồng thời gửi ra nước ngoài để xuất bản. Những năm cuối thập niên 1960 của Solzhe được đánh dấu bởi việc công bố bên ngoài lãnh thổ Liên Xô một số tiểu thuyết đầy tham vọng – Vòng tròn đầu tiên (V kruge pervom, 1968), Khu nhà ung thư (Rakovyĭ korpus, 1968), v.v... –, những tác phẩm đã đảm bảo cho ông một uy tín văn chương quốc tế, song cũng khởi động một chiến dịch chống lại ông của truyền thông đại chúng Xô-viết. Cũng trong thời kỳ này, Solzhe đã bí mật hoàn thành bản thảo thiên phóng sự điều tra Quần đảo GULAG (Arkhipelag GULAG), một hồ sơ văn học đồ sộ, người thật việc thật về sự đàn áp Xô-viết đối với quyền con người, được bắt đầu viết từ 1958. (GULAG là acronym theo tiếng Nga của “Tổng cục các trại lao động cải tạo”, chính thức tồn tại ở Liên Xô trong khoảng thời gian 1930–1960.) Thỉnh thoảng, lợi dụng những khoảnh khắc lơi lỏng của nhà đương cục, Solzhe cũng tích cực gặp gỡ và cho phỏng vấn các ký giả nước ngoài.

Năm 1969, Solzhenitsyn được đề cử lần đầu cho giải Nobel văn chương, và mặc dù năm đó giải này không được trao cho ông, Solzhe đã bị khai trừ khỏi Liên đoàn Nhà văn Liên Xô. Năm 1970, Solzhe tiếp tục được đề cử cho giải Nobel và lần này thì ông trúng cử, “vì sức mạnh đạo đức mà với nó, ông đã theo đuổi những truyền thống không thể bị lãng quên của văn chương Nga” (trích Thông cáo của Giải Nobel Văn chương 1970). Chính quyền Liên Xô đã mô tả quyết định của Uỷ ban Giải Nobel là “thù địch về chính trị”, truyền thông Xô-viết một lần nữa lại om sòm phỉ nhổ Solzhe; chính quyền yêu cầu Solzhe dời Liên Xô, nhưng ông đã cự tuyệt. Năm đó, Solzhenitsyn đã không đến Stockholm dự lễ trao giải Nobel của mình, vì ông đoan chắc một khi ông ra khỏi đất nước, ông sẽ bị tước quyền hồi hương. Phía Thuỵ Điển cũng từ chối đề nghị của Solzhe về một lễ trao giải riêng được tổ chức tại toà đại sứ Thuỵ Điển ở Moskva vì e ngại việc này sẽ chọc giận Liên Xô, gây tổn hại đến quan hệ của vương quốc với siêu cường. Chỉ đến tháng 12.1974, sau khi bị trục xuất khỏi Liên Xô, Solzhe mới sở hữu giải Nobel của mình.

Cuối năm 1973, quan hệ giữa chính quyền Liên Xô và giới bất đồng chính kiến gia tăng căng thẳng. Tháng 8.1973, vào ngày mà Solzhenitsyn cho báo giới nước ngoài một cuộc phỏng vấn dài, KGB đã bắt giữ một trong những nữ trợ lý của nhà văn, Elizaveta Voronĭanskaĭa. Bị tra khảo, Voronĭanskaĭa đã khai ra nơi cất giấu một bản sao của bản thảo Arkhipelag GULAG, rồi treo cổ tự vẫn sau khi được thả. Đầu tháng 9, được tin bản thảo Arkhipelag GULAG đã đến tay một nhà xuất bản Nga di cư ở Tây Âu (YMCA-Press, Paris) và chuẩn bị được in, Solzhe bèn gửi tới các nhà lãnh đạo Liên Xô một bức thư (Pis’mo vozhdĭam Sovetskogo Soĭuza), kêu gọi từ bỏ ý thức hệ cộng sản, chuyển đổi Liên bang Xô-viết thành một quốc gia - dân tộc của người Nga.

Một chiến dịch chống dissidentsiĭa (giới bất đồng chính kiến) lại rộ lên trên báo chí Xô-viết, trong cùng một lúc với chiến dịch báo chí bênh vực họ và cá nhân Solzhenitsyn ở phía tây “bức màn sắt”. Qua trung gian người vợ đầu của Solzhenitsyn thu xếp, ngày 24.9.1973, KGB đã tiến hành một cuộc đàm phán với nhà văn nhưng không đạt được một thoả thuận nào. Vào những ngày cuối cùng tháng 12.1973, volume đầu tiên của Arkhipelag GULAG được chính thức phát hành ở Paris và, cùng với sự ra mắt của cuốn sách, từ “gulag” đã đi vào từ vựng chính trị phương Tây, phiếm chỉ một hệ thống đàn áp chính trị nội bộ vô nhân đạo nhất trong lịch sử hiện đại, xuất hiện ngay sau cuộc cách mạng bol’shevik tháng 11.1917.

Chính quyền Liên Xô đã phản ứng mau lẹ. Trong phiên họp ngày 7.1.1974, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô đã thảo luận về “những biện pháp ngăn chặn hoạt động chống Xô-viết của Solzhenitsyn”. Ngày 7.2.1974, thủ lĩnh KGB Ĭuriĭ Andropov gửi thư cho tổng bí thư Leonid Brezhnev, chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của Arkhipelag GULAG đối với giới trí thức và đề xuất đuổi nhà văn ra khỏi đất nước. Ngày 12.2, Solzhenitsyn bị bắt với tội danh “phản bội tổ quốc”. Ngày 13.2, ông bị tước quyền công dân Liên Xô và bị trục xuất khỏi lãnh thổ Liên Xô bằng một chuyến bay tới Cộng hoà Liên bang Đức. Những người còn lại trong gia đình Solzhenitsyn dời Liên Xô ngày 29.3.1974.

Thời gian từ sau đó cho đến trước năm 1990, gia đình Solzhenitsyn sinh sống chủ yếu ở Hoa Kỳ. Trong hơn 17 năm sống lưu vong, Solzhe đầu tư công sức cho bộ truyện lịch sử về cuộc Cách mạng Nga 1917 – Bánh xe đỏ (Krasnoe koleso), gồm bốn phần, hoàn thành vào năm 1992 –, và một số công trình ngắn hơn.

Quá trình perestroĭka đã làm thay đổi thái độ của xã hội Xô-viết đối với sáng tác và hoạt động của Solzhenitsyn. Năm 1990, Solzhenitsyn được khôi phục quyền công dân Liên Xô. Cùng năm đó, bộ sách Arkhipelag GULAG được chính phủ Liên Xô trao tặng Giải thưởng Nhà nước. (Cho đến lúc đó, ở Liên Xô bộ sách này cũng như hầu hết các sáng tác của Solzhenitsyn chỉ được lưu hành dưới dạng samizdat.) Ngày 27.5.1994, gia đình Solzhenitsyn đã trở về nước Nga sau hơn 20 năm sống lưu vong. Trừ Solzhe, vợ và các con ông đều đã vào quốc tịch Hoa Kỳ.

Ngày 11.12.1998, tổng thống Liên bang Nga Boris El’tsin đã ký sắc lệnh số 1562, trao tặng nhà văn Aleksandr Isaevich Solzhenitsyn Huân chương Thánh Andreĭ Pervozvannyĭ, huân chương cao nhất vừa được khôi phục của Liên bang Nga, có truyền thống từ thời Đế quốc Nga. Tuy nhiên, nhà văn đã từ chối vinh dự, với lý do “quyền lực tối cao đã đưa nước Nga đến thảm trạng ngày nay, (khiến) tôi không thể nhận sự tưởng thưởng này”. Cũng trong năm 1998, Solzhenitsyn đã được Đoàn chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAN) trao tặng Đại Huy chương Vàng M. V. Lomonosov, “vì những đóng góp xuất sắc trong sự phát triển nền văn chương Nga, ngôn ngữ Nga và lịch sử nước Nga.” Trước đó, từ năm 1994, Solzhenitsyn đã được bầu làm thành viên quốc ngoại của Viện Ngôn ngữ và Văn chương – Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Serbia, cơ quan học thuật hàn lâm uy tín nhất của Cộng hoà Serbia và cả Liên bang Nam Tư cũ.

Trong “những năm ở phương Tây”, Solzhenitsyn đã rất tích cực tham gia vào những cuộc tranh luận về lịch sử nước Nga, về Liên Xô và về chủ nghĩa cộng sản, với một nỗ lực nhằm hiệu chính những điều mà ông cho là “những nhầm lẫn Tây phương” (Western misconceptions) trong các chủ đề nói trên. Về một quan niệm phổ biến ở phương Tây – xuất phát từ luận điểm của nhà sử học Mỹ gốc Ba Lan Richard Pipes – cho rằng cuộc Cách mạng tháng Mười Nga và thể chế toàn trị hung bạo mà nó sản sinh ra là sự tiếp nối lịch sử của chế độ tsarist – điển hình là các triều đại Ivan Groznyĭ và Pëtr Velikiĭ – và nền văn hoá Nga, Solzhenitsyn quả quyết rằng đây là một ý niệm sai về cơ bản, công trình của Pipes chỉ là “phiên bản Ba Lan của lịch sử Nga”. Solzhe biện luận rằng nước Nga tsarist chưa bao giờ có khuynh hướng bạo lực như Liên Xô. Để thí dụ, thời đế quốc nước Nga chưa từng thực hành chế độ kiểm duyệt truyền thông, tù nhân chính trị chưa từng bị cưỡng bức lao động kiểu nô lệ trong các trại tập trung, và số lượng tù nhân chính trị chỉ bằng một phần vạn so với số lượng này ở Liên Xô; cảnh sát mật vụ của chế độ tsarist chỉ tồn tại ở ba thành phố lớn của đế quốc là Peterburg, Moskva và Kiev, và tuyệt nhiên không có hệ thống mật thám trong quân đội như Liên Xô. Việc sử dụng bạo lực dưới thời sa hoàng hoàn toàn không so sánh được với quy mô của bạo lực thời Xô-viết. Solzhe khẳng định rằng sự lạm dụng bạo lực của chủ nghĩa bol’shevik trong thế kỷ XX không phải là sự kế thừa các sự kiện lịch sử Nga thế kỷ XVI (thời Ivan Groznyĭ) và thế kỷ XVIII (thời Pëtr Velikiĭ), mà chính là đã được truyền cảm hứng từ giai đoạn khủng bố Gia-cô-banh (Jacobin) của Cách mạng Pháp (1789–1799). Thay vì đổ lỗi cho các điều kiện lịch sử của nước Nga, Solzhe khuyến cáo hãy quy trách nhiệm cho những giáo lý của Karl Marx và Friedrich Engels: chủ nghĩa Marx tự thân là một chủ nghĩa bạo lực. Chủ nghĩa cộng sản, cho dù được áp dụng ở bất cứ đâu, đều đồng hành với toàn trị và bạo lực; lịch sử nước Nga không có ảnh hưởng đặc biệt nào tới kết quả của sự áp dụng đó. (Có thể kiểm chứng lập luận này của Solzhenitsyn đối với trường hợp Việt Nam.)

Solzhenitsyn cũng chỉ trích ý kiến cho rằng “Liên Xô về mọi phương diện chính là nước Nga”. Ông biện luận rằng chủ nghĩa cộng sản là một mưu đồ quốc tế, nó chỉ viện đến chủ nghĩa quốc gia như một công cụ để tranh đoạt quyền lực, cũng như để lừa gạt dân chúng. Một khi đã có được quyền lực, chủ nghĩa cộng sản sẽ nỗ lực xoá sạch từng quốc gia, triệt phá nền văn hoá dân tộc và nô dịch nhân dân của quốc gia đó. Theo Solzhe, nền văn hoá Nga chưa bao giờ là nền văn hoá thống trị ở Liên Xô cả. Trên thực tế, ở Liên Xô không có nền văn hoá dân tộc nào có được địa vị thống trị: nền văn hoá của tất cả các dân tộc đều bị đàn áp vì lợi ích của văn hoá vô thần Xô-viết. Hơn thế, Solzhe còn cho rằng nền văn hoá của dân tộc Nga còn bị áp bức nhiều hơn các nền văn hoá thiểu số, vì lẽ chế độ ít lo sợ sự nổi dậy của các sắc tộc thiểu số hơn sự phản kháng của chính người Nga.

Về khái niệm stalinism, Solzhenitsyn bác bỏ quan điểm cho rằng bản thân Iosif Stalin đã tạo ra nhà nước toàn trị, còn Vladimir Lenin (và cả Lev Trotskiĭ) là (những) “người cộng sản chân chính”. Ông chứng minh rằng chính Lenin đã khởi động guồng máy giết người hàng loạt, làm sụp đổ nền kinh tế Nga, sáng lập Che-Ka – tiền thân của KGB –, và đặt nền móng cho hệ thống nhà tù - trại tập trung GULAG, mặc dù dưới thời Lenin hệ thống này chưa có cùng tên gọi.

Về cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Solzhenitsyn đã lên án Đồng Minh về động thái trì hoãn mở mặt trận thứ hai chống nước Đức quốc xã. Ông buộc tội các quốc gia dân chủ phương Tây, trong khi chỉ chăm lo chấm dứt chiến tranh một cách nhanh chóng và ít đổ máu nhất cho phía mình, đã phớt lờ những tổn thất của mặt trận phía đông, và chính điều này cũng đã giúp áp đặt sự thống trị Xô-viết lên các dân tộc Đông Âu.

Về cuộc Chiến tranh Việt Nam, trong bài phát biểu nhan đề Một thế giới bị chia cắt (A World Split Apart), đọc tại lễ trao bằng tốt nghiệp của Đại học Harvard ngày 8.6.1978, Solzhenitsyn tuyên bố rằng nhiều người ở Hoa Kỳ không hiểu về cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông biện luận rằng mặc dù những nhà hoạt động chống chiến tranh đã rất thành thực trong mong muốn chấm dứt mọi cuộc chiến càng sớm càng tốt, họ “đã trở thành đồng loã… trong nạn diệt chủng và nỗi thống khổ mà ba mươi triệu người (Việt Nam) ở đó đang phải chịu đựng hôm nay.” Rồi ông đặt câu hỏi: “Liệu điều này có thức tỉnh những người hoà bình chủ nghĩa giờ đây nghe thấy những âm thanh rên siết từ Việt Nam?” Lưu ý rằng Solzhenitsyn nói những lời này vào năm 1978, khi chiến tranh Việt Nam vừa chấm dứt được ba năm.

Về cuộc Chiến tranh Kosovo (1996–1999), Solzhenitsyn đã lên án mạnh mẽ cuộc ném bom Nam Tư năm 1999 của các đồng minh NATO. Ông nói: “Chẳng có gì khác nhau giữa NATO và Hitler.”

Về thế giới phương Tây, trong lời phát biểu qua radio BBC ngày 26.3.1979, Solzhenitsyn nói: “Trước khi tôi đích thân đi đến phương Tây và bỏ ra hai năm quan sát xung quanh, tôi chưa bao giờ hình dung nổi cái mức độ cực đoan mà phương Tây đã thực sự trở nên một thế giới không có ý chí, một thế giới đang từ từ tê liệt trước mối hiểm nguy mà nó đương đầu như thế này… Tất cả chúng ta đang đứng bên bờ của một trận đại hồng thuỷ lịch sử, một trận lụt sẽ nuốt chửng nền văn minh và làm thay đổi toàn bộ các thời đại.”

Về tư tưởng chính trị, Aleksandr Solzhenitsyn không phải là người theo chủ nghĩa tự do (liberalism) trong cách hiểu khoa học chính trị của thuật ngữ này. Từ nhiều năm qua, ông là một trong những lãnh tụ tinh thần của Phong trào Yêu nước Chính Thống giáo (tiếng Nga Pravoslavno-patrioticheskoe dvizhenie), chủ trương xây dựng một quốc gia Slav thống nhất trên lãnh thổ Nga, Belarus và một phần Ukraina, thiết lập trên quốc gia mới một thiết chế nhà nước mạnh, từng bước chuyển dịch về dân chủ, hướng những tài nguyên của quốc gia tương lai vào sự phát triển tinh thần, đạo đức và tôn giáo của nhân dân, trước hết là của người Nga. Quan điểm Ki-tô giáo và bảo thủ (conservative) của Solzhenitsyn, thể hiện trong một số tiểu luận và trước tác, đã từng bị một số nhà bất đồng chính kiến Xô-viết nổi tiếng – trong đó có Andreĭ Sakharov và Vladimir Voĭnovich – phản bác.

Solzhenitsyn cũng nổi tiếng với những công trình về vấn đề người Do Thái ở Nga và Liên Xô cũ.


Maksim Gor’kiĭ – “con chim sơn ca của cách mạng”

Ở Việt Nam, nhiều người biết về Maksim Gor’kiĭ (tên khai sinh Alekseĭ Maksimovich Peshkov, 1868–1936) như một trong những nhà văn Nga / Liên Xô lớn nhất, người đã sáng lập “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” – phương pháp sáng tác chính kinh của văn học - nghệ thuật trong thế giới Xô-viết và pro-Soviet trước đây. Đại toàn thư Liên Xô ‘BSĖ’ gọi Gor’kiĭ là “tổ phụ của nền văn chương Xô-viết” (rodonachal’nik sovetskoĭ literatury).

Ở Liên Xô cũ, trước và sau khi ông chết, Gor’kiĭ được tôn vinh như một con người vĩ đại mẫu mực, hoàn toàn xuất lộ từ giai cấp vô sản: những tượng đài và hoạ phẩm về Gor’kiĭ, trong đó ông đang ở những tư thế kiêu hùng, được dựng / trưng bày rải rác khắp đất nước. Một trong những đường phố chính của Moskva – con phố Tverskaĭa dẫn đến quảng trường Đỏ, đồng thời đi qua toà biệt thự mà Stalin ra lệnh cấp cho ông –, cùng với thành phố quê hương ông – Hạ Novgorod –, đã được gọi bằng tên (đúng hơn là pseudonym) Gor’kiĭ trong suốt thời Xô-viết: ulitsa Gor’kogogorod Gor’kiĭ.

Thật ra, cùng với sự nghiệp văn chương, Gor’kiĭ còn có một cuộc đời hoạt động chính trị bắt đầu khi ông còn rất trẻ. Công khai chống đối chế độ tsarist và bị bắt nhiều lần, ông kết bạn với nhiều nhà cách mạng có tư tưởng marxist và trở thành bạn thân của Lenin từ 1902. Là một tác giả, nhà biên tập và biên kịch thành công về tài chính, ông hỗ trợ tiền bạc cho Đảng Lao động Dân chủ - Xã hội Nga (RSDRP), một nửa tiền thân của Đảng bol’shevik. Cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất (1905) đã đẩy ông liên kết dứt khoát với cánh Bol’shevik của Lenin trong RSDRP.

Mặc dầu vậy, quan hệ giữa Gorkiĭ với Lenin và các lãnh tụ bol’shevik ngày càng nhiều gai góc. Mùa xuân năm 1917, khi RSDRP phân ly thành hai đảng – đảng của những người bol’shevik RSDRP(b) và đảng của những người men’shevik (vẫn giữ tên RSDRP) –, do bất đồng với những người bol’shevik trong vấn đề tính hợp thời của một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, Gor’kiĭ đã từ chối tái đăng ký tư cách đảng viên của RSDRP(b), chính thức ra khỏi đảng này.

Hai tuần sau khi Cách mạng tháng Mười nổ ra, Gor’kiĭ viết: “Lenin và Trotskiĭ không có bất cứ ý niệm nào về tự do và quyền con người. Họ đã bị nọc độc nhơ nhuốc của quyền lực mua chuộc, thứ quyền lực rõ ràng đã có được bằng sự khinh thị đáng hổ thẹn của họ đối với tự do ngôn luận và mọi quyền tự do dân sự khác mà nền dân chủ đã đấu tranh vì chúng.” Lập tức, tờ báo do Gor’kiĭ chủ nhiệm – Đời mới (Novaĭa zhizn’), nguyên là cơ quan ngôn luận của RSDRP – đã làm mồi cho kiểm duyệt bol’shevik. Gor’kiĭ cho xuất bản (1918) tập tiểu luận Những tư tưởng không hợp thời (Nesvoevremennye mysli), trong đó ông so sánh Lenin với cả tsar’ và Nechaev, gọi Lenin là “tên bạo chúa của những cuộc bắt bớ và trấn áp điên rồ đối với tự do thảo luận, và là kẻ vô chính phủ trong những chiến thuật thâm hiểm.” Khi kịch liệt lên án thái độ của những người bol’shevik đối với giới trí thức từ chế độ cũ, trong các năm 1917–1919 Gor’kiĭ đã rất tích cực sử dụng ảnh hưởng của mình để cứu nhiều đại biểu của giới này khỏi nanh vuốt của bạo lực đỏ. Lenin đã viết (1919) trong thư gửi Gor’kiĭ: “Lời khuyên của tôi cho anh: hãy thay đổi những người xung quanh anh, quan điểm và hành vi của anh, nếu không, cuộc sống có thể quay lưng lại với anh.”

Tháng 8.1921, nhà thơ Nikolaĭ Gumilëv – bạn của Gor’kiĭ và chồng cũ của nữ sĩ Anna Akhmatova (đồng thời là thân sinh của nhà sử học Xô-viết nổi tiếng Lev Gumilëv sau này) – bị Che-Ka Petrograd bắt. Gor’kiĭ vội vã đi Moskva và đòi được một lệnh thả Gumilëv từ đích thân Lenin, nhưng khi Gor’kiĭ còn đang trên đường trở lại Petrograd, Gumilëv đã bị bắn. Tháng Mười cùng năm, Lenin khẩn khoản yêu cầu Gor’kiĭ quay trở lại Italy, nơi ông từng cư ngụ những năm 1906–1913, để chữa trị bệnh lao tái phát.

Từ năm 1928, theo lời mời của chính phủ Liên Xô và đích thân Stalin (lúc này Lenin đã chết), Gor’kiĭ dập dồn về thăm cố quốc. Ông đi khắp đất nước và cho ra đời series phóng sự Trên Liên bang Xô-viết (Po Sovetskomu Soĭuzu), ngợi ca những thành tựu của Liên Xô. Đặc biệt, Gor’kiĭ đã đến thăm Solovki vào tháng 6.1929, với sứ mạng giải độc dư luận phương Tây về hạnh kiểm nhân quyền ở đây. Đương nhiên, chính quyền cai ngục ở Solovki đã cho “làm vệ sinh” quần đảo để đón Gor’kiĭ, trong khi các tù nhân thì hy vọng “Gor’kiĭ sẽ nhìn thấy, sẽ nhận ra tất cả. Ông ấy rất từng trải, đừng hòng lừa ông ấy.” (D. S. Likhachëv, “Vospominaniĭa”, Priezd Maksima Gor’kogo i massovye rasstrely 1929 goda.) Không ai rõ Gor’kiĭ đã nhìn thấy gì và đã nghĩ gì, nhưng trong phóng sự Solovki, Gor’kiĭ đã viết những dòng này: “Tôi cho rằng kết luận đã rõ ràng: những trại như Solovki là cần thiết… Chính bằng cách này, chính phủ sẽ nhanh chóng đạt được một trong những mục tiêu của mình: xoá bỏ hết các nhà tù.” Sau chuyến viếng thăm của Gor’kiĭ, khoảng 3–4 trăm tù nhân đã bị bắn không xét xử trong một cuộc thảm sát. (D. S. Likhachëv, tài liệu đã dẫn.)

Trên tờ Sự thật (Pravda), cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng bol’shevik, số 314, ra ngày 15.11.1930, dưới tiêu đề Khi kẻ thù không quy hàng, – nó sẽ bị tiêu diệt, Maksim Gor’kiĭ đã viết: “… Chống lại chúng ta là tất cả những gì đã quá hạn, một thời hạn mà lịch sử đã ấn định cho chúng. Điều này khiến chúng ta có quyền coi mình vẫn đang ở trong tình trạng nội chiến. Từ đó rút ra một kết luận hiển nhiên: nếu kẻ thù không quy hàng, – nó tất bị bắn bỏ.” (La Thành highlight.) Châm ngôn nổi tiếng, sực mùi “bạo lực cách mạng” này của Gor’kiĭ được Stalin rất ưa thích và đã từng trích dẫn lại trong một chỉ lệnh của mình.

Từ năm 1931, Gor’kiĭ vĩnh viễn tái định cư tại Liên Xô theo thỉnh cầu của Stalin. [A. I. Solzhenitsyn thì cho rằng cuộc hồi hương lần này của Gor’kiĭ đã được thúc bách bởi những nhu cầu vật chất: sống ở Sorrento (Italy) những năm 1922–1928, Gor’kiĭ đã thấy mình thiếu thốn cả tiền bạc và tiếng tăm.] Cuộc trở về của Gor’kiĭ từ nước Italy phát-xít đã được cỗ máy tuyên truyền Xô-viết tận dụng hết công suất. Ông được tặng thưởng Huân chương Lenin – huân chương cao nhất của Liên Xô –, được cấp toà biệt thự của nhà tài phiệt đã bỏ chạy Rĭabushinskiĭ trên đường Tverskaĭa, nay là Bảo tàng Gor’kiĭ, cùng với một dacha ở ngoại ô Moskva. Tên “Maksim Gor’kiĭ” còn được đặt cho kiểu máy bay Tupolev ANT-20, niềm hãnh diện của công nghệ Xô-viết những năm 1930. Vào những ngày lễ trọng của chế độ Xô-viết, người ta thường nhìn thấy Gor’kiĭ có mặt trên kỳ đài Lăng Lênin, bên cạnh lãnh tụ Stalin và các đại thần như Mikhail Kalinin, Vĭacheslav Molotov, Lazar’ Kaganovich và Kliment Voroshilov.

Gor’kiĭ đã được Stalin giao cho một “đơn đặt hàng xã hội”: tổ chức đại hội đầu tiên của các nhà văn Liên Xô. Để chuẩn bị cho sự kiện này, trong giai đoạn 1931–1934 rất nhiều tờ báo và tạp chí Xô-viết đã được Gor’kiĭ thành lập. Năm 1934, Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn các nhà văn Liên Xô (Soĭuz pisateleĭ SSSR, acronym SP SSSR, thành lập từ tháng 4.1932 sau một nghị quyết của Uỷ ban Trung ương Đảng bol’shevik) đã được Gor’kiĭ dẫn dắt với báo cáo chính do ông trình bày. Trong suốt lịch sử tồn tại của mình (1932–1991), SP SSSR có nhiệm vụ thật sự là thực hiện sự kiểm soát của ‘nhà nước - đảng’ toàn trị trong văn học. Tư cách hội viên SP là tối thiết thân đối với người làm văn chuyên nghiệp ở Liên Xô: không được kết nạp vào SP, nhà văn sẽ có vô cùng ít cơ hội được in tác phẩm; còn việc bị khai trừ khỏi SP thì hoàn toàn đồng nghĩa với bị cấm xuất bản. Được cử làm chủ tịch đầu tiên của SP SSSR, Maksim Gor’kiĭ đã lên đến đỉnh điểm của danh vọng.

Trong “giai đoạn hồi chánh” này, Gor’kiĭ còn tham gia biên tập (1933) cuốn sách ô nhục về con kênh đào Belomoro-Baltiĭskiĭ nối biển Trắng với vịnh Phần Lan, mô tả công trình này như một thí dụ về “sự tu phục thành công những kẻ thù trước đây của giai cấp vô sản”, bất chấp một sự thật: giá của con kênh đào dài 227 ki-lô-mét này là một trăm nghìn sinh mạng tù nhân GULAG.

Giữa thập niên 1930, những chiến dịch của “Ðại Thanh trừng” (Great Purge) mở màn, điển hình là vụ ám sát Sergeĭ Kirov tháng 12.1934. Bản thân Gor’kiĭ bị quản thúc tại nhà: giống như trường hợp của Kirov, sự nổi tiếng của Gor’kiĭ bắt đầu phát huy tác hại. Tháng 5.1935, con trai Gor’kiĭ – Maksim Peshkov – đột ngột tử vong trong một hoàn cảnh đầy bí hiểm. Hơn một năm sau (18.6.1936) thì đến lượt Gorkiĭ. Như nhiều danh nhân khác của thời đại Xô-viết, ông được chôn ở nghĩa trang Bên Tường Kreml’, trên quảng trường Đỏ, cách không xa lăng tẩm của người bạn thân và đối tượng của những phê phán chính trị gay gắt một thuở của ông: Vladimir Lenin. Trong số những người khiêng linh cữu Gor’kiĭ, người ta thấy có đích thân Iosif Stalin và Vĭacheslav Molotov.

Điều thú vị là trong quá trình xét xử “các vụ án Moskva” (1938), một trong những cáo buộc được đưa ra để chống lại Genrikh Ĭagoda – nguyên ‘tổng uỷ công an Liên Xô’ (cấp hàm công an tương đương nguyên soái Liên Xô), dân uỷ (tức bộ trưởng) NKVD (Bộ Nội vụ) trước khi bị bắt – là cha con Gor’kiĭ đã bị hạ độc bởi chính các nhân viên NKVD! Sinh thời Gor’kiĭ, Ĭagoda từng ở trong số các thân hữu của nhà văn. Sau này, một số xuất bản phẩm thời kỳ perestroĭka đã cáo giác rằng chủ mưu thực sự trong cái chết bất thường của Gor’kiĭ là không ai khác ngoài Stalin.

Nhiều trí thức bất đồng chính kiến thời Xô-viết coi Gor’kiĭ là nhà văn thiên vị ý thức hệ, trong khi giới nghiên cứu phương Tây lại chú ý nhiều hơn đến những nghi ngờ / phê phán của Gor’kiĭ, cũng như những cảnh báo sáng suốt của ông về viễn tượng nguy hiểm trên bình diện đạo đức của cuộc Cách mạng bol’shevik 1917.

Maksim Gor’kiĭ đã sống một cuộc đời sóng gió và trải qua những diễn biến thế giới quan phức tạp, có cả thanh danh và tai tiếng, cả hiển vinh và hoạn nạn.


Lev Gumilëv – “người Á-Âu cuối cùng”

Lev Nikolaevich Gumilëv (1912–1992) là nhà sử học nhân chủng (tiếng Nga историк-этнолог, tiếng Anh historian-ethnologist), người sáng lập “lý thuyết độ đam mê” (теория пассионарности, passionarity theory) trong tộc nguyên học (этногенез, ethnogeny – bộ môn khoa học về nguồn gốc các chủng tộc), đồng thời là nhà triết học, nhà thơ, dịch giả từ tiếng Fârsi (tên gọi ngôn ngữ của người Iran).

Lev Gumilëv là con trai của cặp vợ chồng thi sĩ xuất chúng Anna Akhmatova (1889–1966) và Nikolaĭ Gumilëv (1886–1921), hai trong số những nhà thơ có ảnh hưởng nhất của Acmeism (tiếng Nga Акмеизм, tạm dịch: “trào lưu Tuyệt Đỉnh”) trong thơ ca Nga đầu thế kỷ XX. Năm Lev Gumilëv lên sáu tuổi (1918), cha mẹ ông ly dị. Chín tuổi, Lev mồ côi cha: cha ông bị chính quyền bol’shevik bắt tháng 8.1921 với cáo buộc đã được mưu dựng và bị bắn ngay sau đó. Những sáng tác của mẹ ông cũng bị đặt dưới sự kiểm duyệt gắt gao từ 1922. Năm 1934, Gumilëv vào học khoa sử Đại học Quốc gia Leningrad (LGU), sau một năm học (1935) thì bị đuổi khỏi trường vì lý lịch xấu – “là con trai kẻ thù của nhân dân”, “không xứng đáng được học đại học” –, bị bắt một thời gian rồi lại được thả và được học tiếp LGU. Năm 1938, Lev Gumilëv lại bị bắt khi đang học dở LGU, lần này bị kết án 5 năm “lao động cải tạo” tại một hầm mỏ GULAG ở Noril’sk, tây-bắc Sibir’. Năm 1943, từ trại cải tạo, Gumilëv tình nguyện nhập ngũ giữa lúc chiến tranh ác liệt nhất, trở thành binh sĩ sư đoàn phòng không 31 thuộc phương diện quân Belorusskiĭ thứ Nhất, và đã tham gia trận đánh chiếm Berlin vào cuối cuộc chiến tranh thế giới. Năm 1945, sau khi giải ngũ, Gumilëv được khôi phục việc học tập ở LGU.

Tốt nghiệp đại học năm 1946, ông trở thành nghiên cứu sinh (aspirant) ở Phân viện Leningrad – Viện Đông phương học của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, nhưng không lâu sau thì bị loại khoá, vẫn vì lý lịch. Gumilëv xin vào làm thủ thư trong một nhà dưỡng trí và tiếp tục theo đuổi luận án. Năm 1948, ông bảo vệ luận án kandidat (“tiến sĩ” theo cách dịch hiện nay ở Việt Nam) về khoa học lịch sử tại LGU, rồi trở thành cán bộ của Bảo tàng Nhân-chủng-chí các Dân tộc Liên Xô (Muzeĭ ėtnografii narodov SSSR). Tháng 11.1949, Gumilëv bị bắt (lần thứ ba) và bị kết án 10 năm tù GULAG. Sau khi Stalin chết (1953) và Nikita Khrushchëv chấp chính (1955), năm 1956, Gumilëv được “hồi phục danh dự đầy đủ” cùng với hàng trăm nghìn nạn nhân khác từ thời Stalin: lúc này Gumilëv đã 44 tuổi, và đã sống tổng cộng 12 năm trong các trại giam GULAG (1938–1943 và 1949–1956). Ra tù, Gumilëv được nhận vào làm việc tại Bảo tàng Quốc gia Hermitage ở Leningrad. Năm 1961, ông bảo vệ luận án doktor nauk (“tiến sĩ khoa học”, học vị cao nhất ở Liên Xô cũ / Liên bang Nga hiện nay) ngành sử học, với đề tài cổ sử người Turkic, sau đó được mời làm việc tại Viện Nghiên cứu Ðịa lý của LGU; trước đó (từ 1960) ông đã tham gia giảng dạy ở LGU. Tại cơ quan làm việc cuối cùng này của đời mình, vào năm 1974 Gumilëv còn bảo vệ một luận án doktor nauk thứ hai, lần này là về ngành địa lý.

Lev Gumilëv là tác giả nguyên thuỷ của một phức hợp phương pháp trong tộc nguyên học, bao gồm việc khảo sát các sử liệu song song với những thông tin về khí hậu, địa chất, địa lý của Landschaft (tạm dịch: “bối cảnh”) mà được phản ánh thông qua các chứng tích khảo cổ và văn hoá. Sử dụng phức hợp phương pháp này, kết hợp với các phương pháp truyền thống, ông đã khảo sát lịch sử hình thành, phát triển, biến đổi / biến mất của nhiều dân tộc trên lục địa Á-Âu, trong đó có dân tộc Nga La Tư. Đặc biệt, Gumilëv là người khởi xướng học thuyết “độ đam mê”, cho một khả năng giải thích tính quy luật của nhiều quá trình nhân chủng sử. Theo thuyết này, các “hệ thống nhân chủng” (ethnic system) được phân cấp thành các super-ethnos (siêu chủng) &gt; ethnos (chủng) &gt; sub-ethnos (phân chủng) &gt; convixion (quần xã) &gt; consortion (minh hội) &gt; individ (cá nhân). (Trong đa số ngữ cảnh, đơn vị nhân chủng cơ bản ethnos tương đồng với khái niệm “dân tộc” / “sắc tộc” quen thuộc.) Mỗi hệ nhân chủng là kết quả tiến hoá của một đơn vị nhân chủng cấp thấp hơn, hoặc là hệ quả thoái hoá của một hệ nhân chủng cấp cao hơn. Cấp càng cao, hệ nhân chủng càng có nhiều khả năng trường tồn. Sự phát triển của mỗi hệ nhân chủng được thực hiện nhờ tích luỹ “năng lượng sinh tồn” bên trong hệ. Tiêu biểu cho năng lượng sinh tồn của một hệ nhân chủng là những cá nhân (individ) giàu “độ đam mê” (пассионарность, passionarity) – tức là cái khát vọng bất khả cưỡng nội tại muốn hành động để đạt tới một mục tiêu nào đó (không hiếm khi chỉ là ảo tưởng). Những individ như thế được Gumilëv gọi là những “người đam mê” (пассионарий, passionary): đối với những người này, mục tiêu cao hơn cuộc sống, ngay cả cuộc sống của bản thân chứ chưa nói đến cuộc sống của những người cùng thời đại hoặc cùng chủng tộc. Sự tích luỹ liên tục năng lượng sinh tồn của một hệ nhân chủng sớm muộn cũng sẽ dẫn tới những biến chuyển bùng phát – những “cú hích về độ đam mê” (пассионарный толчок, passionary impulse) –, mà kết quả là sự ra đời của một hệ nhân chủng mới, thường có cấp bậc cao hơn hệ xuất phát. Ngược lại, nếu một đơn vị nhân chủng nào đấy tự tiêu hao năng lượng sinh tồn của mình bằng nội chiến, bằng những chính sách sai lầm, bằng sự đàn áp và bức hại các passionary thì nó sẽ tất yếu thoái hoá, tan rã thành những đơn vị nhân chủng nhỏ hơn hoặc thậm chí biến mất.

Bằng hệ thống phương pháp và khái niệm của mình, Gumilëv đã đi đến nhiều kết luận khác biệt với những mô tả truyền thống về lịch sử. Đánh giá của Gumilëv về “ách đô hộ Mông-Thát” (монголо-татарское иго, Mongol-Tatar yoke) là một thí dụ. Trong khi phần lớn giới sử học Xô-viết đều nhất trí nhận định rằng nền đô hộ Mông-Thát (1241–1480) trên các miền đất Nga La Tư đã chỉ gây ra sự phá huỷ và thoái bộ, tạo ra lực hãm đối với sự tăng trưởng sức sản xuất của các công quốc Đông Slav – bấy giờ vốn đã ở trình độ kinh tế - xã hội cao hơn so với xã hội Mông Cổ - Tatar còn đang ở giai đoạn tự nhiên –, và là nguyên nhân chính dẫn đến sự tụt hậu của nước Nga so với phương Tây; thì Gumilëv thuyết phục rằng khái niệm “ách đô hộ Mông-Thát” chỉ là một tưởng tượng, mức độ tác hại của nó đã được cường điệu: hãn quốc Kim Trướng (ханство Золотой Орды, Khanate of the Golden Horde) – vốn là một thiết chế lỏng lẻo và yếu ớt, lại ở khoảng cách tương đối xa so với các lãnh địa Nga La Tư lúc đó đang ở tình trạng bị chia cắt và tự xâu xé lẫn nhau – chưa bao giờ là một kẻ áp bức thực sự và trực tiếp đối với các công quốc Đông Slav. Theo Gumilëv, cuộc va chạm nhân chủng Nga La Tư - Mông Cổ trong các thế kỷ XIII-XV là một sự “cộng sinh” (simbioz, trong hệ thuật ngữ của Gumilëv), trong đó các đơn vị nhân chủng Đông Slav và Mông Cổ - Tatar không tranh giành, mà đã chia sẻ những nhân tố địa lý - khí hậu khác nhau của Landschaft: người Đông Slav khai thác châu thổ của các dòng sông, trong khi người Mông Cổ - Tatar khai thác những thảo nguyên steppe.

Một hệ luận quan trọng khác của học thuyết Gumilëv là vấn đề về nguồn gốc và tính chất của nền văn hoá Nga. Trong khi các học giả theo ‘chủ nghĩa hướng Âu’ (евро[по]центризм, eurocentrism), trong đó có Dmitriĭ Likhachëv, tìm kiếm luận cứ để kéo văn hoá Nga vào bản đồ văn hoá châu Âu (chính xác hơn: văn hoá Tây Âu) với cội nguồn Hy Lạp - La Mã và Ki-tô giáo, thì Lev Gumilëv và những người cùng quan điểm với ông đã biện luận rằng: sự khác biệt về những điều kiện địa lý - tự nhiên, ổn định trong suốt chiều dài lịch sử, giữa Nga và Tây Âu (Nga: lục địa &lt;--&gt; Tây Âu: đại dương) đã hình thành nên ở Tây Âu và Nga hai super-ethnos riêng biệt, chia sẻ những đặc điểm tâm lý khác nhau và những giá trị văn hoá khác nhau. Nói riêng, Gumilëv khẳng định rằng người Rusy (Русы) hay Rusiny (Русины) – thành phần cư dân chính của nhà nước Nga La Tư - Kiev trung đại (Киевская Русь, Kievan Rus) – và dân tộc Nga hiện đại (Русские, Russkie hay Russians) là hai ethnos khác nhau: trên bình diện văn hoá, trong khi người Nga La Tư trung đại là một sắc tộc Đông Slav đã hấp thụ văn hoá Âu châu qua ngả Byzantium, người Nga hiện đại thuộc về “nền văn minh Á-Âu” (евразийская цивилизация, Eurasian civilization) – hợp nhất sự đóng góp lịch sử của các yếu tố Slavic-Hellenic của châu Âu và Mongolic-Turkic của châu Á –, có đầy đủ tư cách của một nền văn hoá riêng biệt, khả dĩ so sánh với văn hoá Tây Âu. Các dân tộc Eurasian – bao gồm người Nga và các sắc tộc nói ngôn ngữ Turkic (Kazakh, Uzbek, Tatar, Uyghur, Azerbaijani, Kyrgyz…) –, nói theo thuật ngữ của L. Gumilëv, đã tạo thành “siêu chủng Á-Âu” (суперэтнос Евразии, Eurasian superethnos). Tin tưởng vào hạt nhân chân lý trong học thuyết nhân chủng sử của mình và tư tưởng Á-Âu chủ nghĩa, Gumilëv đã tuyên bố câu nói nổi tiếng “Tôi là người Á-Âu cuối cùng!” (“Я последний евразиец!”)

Những phương pháp và khái niệm phi chính kinh của Gumilëv đã hứng nhận những phản ứng dị hoá dữ dội từ giới sử học Nga-Slav truyền thống. Hệ thống lý luận của ông bị phê phán là thiếu chặt chẽ, vi phạm phương pháp luận khoa học (kinh điển). Những chỉ trích gay gắt nhất thì kết án lý thuyết passionarity là “giả khoa học”. Nhà sử học trung đại người Ba Lan Andrzej Poppe thậm chí còn gọi công trình của Gumilëv là “một cuốn tiểu thuyết về quá khứ”, không đáng để quan tâm một cách nghiêm túc (từ khía cạnh khoa học lịch sử). Đa số bản thảo công trình của Gumilëv bị cấm xuất bản trong gần suốt thời Xô-viết, cho đến trước những năm perestroĭka (một phần có thể do lý lịch của ông).

Hiện nay, sau hơn hai thập kỷ được biết đến, học thuyết Gumilëv đã giành được một mức độ đại chúng đáng kể, thậm chí đã trở thành cơ sở lý luận của “chủ nghĩa Á-Âu mới” (ново- hoặc нео-евразийство, neo-eurasianism), trào lưu tư tưởng - chính trị Nga xuất hiện trong giai đoạn cuối của Liên bang Xô-viết và trở nên thịnh hành sau khi thiết chế này tan rã, đối thủ cạnh tranh chủ yếu của chủ nghĩa hướng Âu. Ở Liên bang Nga, trong phạm trù học thuật, vào năm 2001 Hiệp hội Xã hội học Á-Âu (EASA) đã được thành lập; chủ tịch hiệp hội là Viện sĩ Gennadiĭ Osipov, giám đốc đương nhiệm của Viện Nghiên cứu Chính trị - Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Nga. Trên chính trường Nga, một đảng chính trị mang tên ‘Á-Âu’ (‘Евразия’) đã đăng ký hoạt động từ tháng 6.2002, do Aleksandr Dugin làm chủ tịch. Một số nhà quan sát còn cho biết đảng này đã nhận được sự hậu thuẫn về tài chính và tổ chức từ Văn phòng Tổng thống Vladimir Putin.

Cũng không đáng ngạc nhiên khi lý thuyết của Lev Gumilëv được nhiều quốc gia / dân tộc Turkic trong không gian địa chính trị Xô-viết trước đây nồng nhiệt đón nhận. Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbaev, trong khi kiến thiết thủ đô mới Astana (1994–1997), đã ra lệnh xây dựng “Đại học Quốc gia Á-Âu Lev Gumilëv” (Lev Gumilev Eurasian National University) ở vị trí đối diện với phủ tổng thống qua quảng trường trung tâm của thành phố. Chính quyền Cộng hoà Tatarstan (một chủ thể thành phần của Liên bang Nga) cũng đã quyết định đặt tượng đài cho Lev Gumilëv tại thủ phủ Kazan’ nhân kỷ niệm 1000 năm thành phố này (tháng 8.2005). Bản thân Dmitriĭ Likhachëv, trong bức thư gửi tạp chí Novyĭ mir, một mặt buộc tội chủ nghĩa Á-Âu đã “thủ đắc tính chất đầy dã tâm của một chính sách ngu dân”, mặt khác cũng phải thừa nhận rằng quan điểm của Gumilëv “đang cố kết các dân tộc khác nhau về văn hoá trên đất nước chúng ta”.

Mặc dầu vậy, trên bình diện chính trị, phong trào Á-Âu mới cũng đối mặt với không ít chỉ trích. Những người phản đối phong trào bình luận rằng: trong khi tự mô tả mình như một ý thức hệ quốc gia canh tân khả dĩ thay thế cho cả chủ nghĩa bol’shevik (bolshevism) lẫn chủ nghĩa tự do (liberalism), lập trường Á-Âu đã tỏ ra mang màu sắc của một chủ nghĩa biệt lập địa chính trị (a geopolitical isolationism) trong bối cảnh toàn cầu hoá, mà một hệ luỵ của nó là cản trở quá trình dân chủ hoá xã hội Nga theo hình mẫu Tây Âu, một quá trình mà những người ủng hộ chủ nghĩa hướng Âu hy vọng là sẽ nhanh chóng khép kín “vành đai dân chủ Bắc bán cầu”: Bắc Mỹ - Liên Âu (EU) - Liên bang Nga - Nhật Bản.

Để kết thúc thiên tiểu sử này về Lev Gumilëv, có thể nói mặc dù còn có những khiếm khuyết, không thể phủ nhận rằng lý thuyết nhân chủng sử của ông đã cung cấp một công cụ khả dĩ cho phép nhận thức đầy đủ về lịch sử nước Nga trên nhiều phương diện của sự chuyển biến lịch sử: dân tộc học, văn hoá, kinh tế, chính trị, v.v... Để thí dụ, từ lý thuyết của Gumilëv, người ta dễ dàng thấu hiểu vì sao Liên bang Xô-viết đã sụp đổ vào tháng Mười Hai năm 1991, điều mà nếu áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử marxist, người ta phải nhận được một hệ quả ngược lại.

Lev Gumilëv được nhận định là “một trong những sử gia Nga có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.”

Hà Nội, tháng Năm – tháng Bảy 2007


Tài liệu tham khảo chính:


  • Большая Советская Энциклопедия, «БСЭ» (Đại toàn thư Liên Xô).
  • Encyclopædia Britannica 2005 Deluxe Edition CD.
  • Encarta Premium Library 2005 DVD.
  • Энциклопедия «Кругосвет» (Toàn thư trực tuyến Krugosvet).
  • Wikipedia – The Free Encyclopedia, các nhánh tiếng Anh và tiếng Nga.
  • Lib.Ru/Современники: Солженицын Александр (tài nguyên trực tuyến về A. I. Solzhenitsyn).
  • Lib.Ru/Классика: Горький Максим (tài nguyên trực tuyến về M. Gor’kii).
  • Gumilevica – гипотезы, теории, мировоззрение (tài nguyên trực tuyến về L. N. Gumilev).
  • С. В. Кортунов, «Евразийство: национальная идея или химера?», журнал «Золотой лев», № 77–78 (bài viết phê phán tư tưởng Á-Âu, đăng trên tạp chí Sư tử vàng).

  • © 2007 talawas
    [/align]http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10612&rb=08[/align]
    .....Như-Ý
    Đăng nhập để trả lời
    0