📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tam Hạ Nam Đường (Mộng Bình Sơn Dịch) 🔒

60 trả lời, 7.001 lượt xem — Trang 1 / 3
Mộng Bình Sơn dịch
Tam Hạ Nam Đường
Bevanng Text & Hiệu Đính

Lời Giới Thiệu
Bộ Tam Hạ Nam Đường là một truyện thuộc đời Tống của nước Trung Hoa, khởi đầu từ vua Tống Thái Tổ tức là Triệu Khuông Dẫn lập quốc, truyền đến đời vua Tống Chơn Tôn.
Trong thời gian ấy, nước Tống chinh phục các nước lân bang, gồm thâu thiên hạ:
Cũng như các bộ truyện Tàu khác, tác giả đã thần thoại hóa qua các cuộc đua tài giữa thần tiên và yêu quái bằng pháp thuật, làm cho cốt truyện chứa nhiều màu sắc ly kỳ.
Thế giới thần tiên đã tham dự vào cõi trần tục, như Dư Hồng, Dư Triệu, lôi cuốn một số tiên, làm khổ chốn trần gian.
Mặt khác, trong chiến tranh tiêu diệt, sát phạt lẫn nhau, lại nẫy ra những mầm non, những mối tình yêu đương giữa những cặp trai tài, gái sắc rất nên quyến rũ, trong tàn tạ, hũy diệt lại vươn lên những mầm sống trong quy luật tự nhiên.
Tam Hạ Nam Đường còn ghi nhận cho chúng ta thấy những xấu xa hèn hạ của những con người vì danh lợi mà hành động phi nghĩa, lại có những nhân vật quên mình để bão vệ nhân tính, bão vệ đạo nghĩa làm người.
Bộ Tam Hạ Nam Đường đã phãn ảnh sâu sắc cho chúng ta thấy rằng giá trị con người không phải ở trong những kẻ có quyền chức, uy thế, mà nó rải khắp trong dân gian, trong những kẻ cô đơn nghèo khổ, nhưng biết tôn trọng đạo nghĩa làm người.
Đọc Tam Hạ Nam Đường là nhìn vào tấm gương xã hội, là suy xét những biến chuyển của tâm trạng người xưa, so sánh với người thời nay.
Người biên soạn
MộNG BìNH SƠN


Hồi Thứ Nhất

Xích Mi sai đệ tử phạt Thái Tổ
Dư Hồng quyết hạ san giúp Nam Đường


Tại núi Thái Sơn có một vị tiên trưởng tên là Xích Mi lão tổ tu luyện hơn mấy ngàn năm, phép tắc vô cùng, tinh thông đúng mực. Ngày nọ các bạn tiên là: Lê Sơn Thánh Mẫu, Trần Đoàn lão tổ Hy Dy tiên sanh, Tôn Tẩn chơn nhơn, cùng tới động ông Xích Mi đàm đạo việc nhân gian.
Xích Mi lão tổ nói:
- Nay thiên hạ gần về một mối, Hương Hài Nhi vâng lệnh Thượng Đế nối nghiệp vua Châu Thế Tông, lại được Tào Bang, Triệu Phổ, Cao Hoài Đức, Trịnh ân, kẻ văn người võ phò tá, dựng nên cơ nghiệp. Nghĩ lại Châu Thế Tôn hiền lành nhơn đức, nối cơ nghiệp của Quách Ngạn Oai trị nước bấy lâu, sáng suốt hơn bốn đời vua trước. Nhưng lúc Châu Thế Tông băng hà, truyền ngôi cho ấu chúa, Hương Hài Nhi kế tục trị vì, đến khi Trần Kiêu làm phản, chư tướng hết lòng báo quốc, thuận lòng dân, hợp ý trời ấy cũng vì trời xui lòng người mới an thuận như vậy. Hương Hài Nhi lên ngôi, lẽ phải yêu mến các tướng của mình, lại ham mê tửu sắc, giết trung thần, trảm Trịnh Ân là em nuôi rất trung nghĩa. Rõ ràng là vua vô nhân đạo! Bởi kế ấy, ta muốn sai yêu quái xuống phá Hương Hài Nhi để trừng phạt tội bất nhân, bất nghĩa ấy.
Trần Đoàn lão tổ nói:
- Việc ấy cũng tưởng đáng trừng phạt, song chẳng qua cuộc đời phải vậy. Xưa nay hễ bề tôi có công lớn rồi thì phải giữ mình chẳng nên khinh xuất làm cho vua nghi ngờ nên mượn cớ đi tu mà lánh nạn, còn các tôi có công khác không đề phòng đều bị Cao Tổ giết hết. Còn như Hàn Tín, Anh Bố, Bành Việt là những người ham phú quý công danh, ỷ mình có công lớn, không đề phòng nên bị hại. Nếu họ noi theo Phạm Lãi thuở xưa, hay bắt chước Trương Lương mà tránh, thì ai hại mình được.
Xích Mi lão tổ nghe Trần Đoàn nói thì cười lớn:
- Lời bàn của đạo hữu có thể giác ngộ các trung thần có công dựng nước. Nhưng cõi tục hễ được chim thì bẻ ná, cho nên các vị vua hễ được nước rồi lại nghi tướng giỏi. Dù vậy Hương Hài Nhi và Trịnh ân, tuy bề ngoài là nghĩa chúa tôi, mà trong là tình thủ túc. Lấy lẽ phải mà nói thì nếu không đẹp lòng, không dùng nữa thì đuổi đi. Lẽ đâu giết oan người ta như vậy? Nếu không bị trừng phạt thì sao gọi là lẽ công bằng.
Tôn Tấn nói :
- Nếu lão tổ trừng phạt một mình vua vô đạo mà hại trăm họ dân đen, dẫu công bình cũng là tội nghiệp!
Xích Mi lão tổ nói:
- Nếu vậy ta không sai yêu quái xuống quấy rối, mà sai một vị thần thông phép tắc xuống đó trừng phạt cho vui lòng kẻ tôi trung, làm gương người bội bạc.
Các tiên thấy Xích Mi lão tổ định trừng phạt một mình Triệu Khuông Dẫn thì đều bằng lòng, không cãi nữa, cùng nhau từ giã lui về.
Xích Mi lão tổ bèn kêu một người đệ tử tên là Dư Hồng đến dạy rằng:
- Bởi ta trách vua Thái Tổ giết oan Trịnh ân, nên ta sai ngươi xuống nước Nam Đường, đầu vua Lý Cảnh, khiến Lý Cảnh đem quân đánh Tống, và bắt phục làm tôi. Vua Thái Tổ tính nết hung hăng, nghe chẳng phục tùng, ác là vấn tội. Lúc ấy ngươi phải ra tài thao lược, hóa phép thần thông, dạy người bạc nghĩa ít năm, giải oan kẻ trung thần nơi chín suối. Song ta cấm ngươi một điều là chẳng nên sát sánh giết tướng, bắt sống thì vô can, giết oan thì có tội. Ta chỉ muốn làm cho vua Thái Tổ đau lòng nhọc trí, khổ sở mà thôi. Khi mãn hạn ngươi sẽ về non mà tu luyện.
Nguyên Du Hồng cốt là chim hồng nhạn, có công tu luyện ngàn năm mới được hóa hình người, sau theo lão tổ học phép thần thông. Nay nghe có lời thầy cho hạ san thì muốn chớp cánh bay liền. Xích mi lão tổ trao phép, Dư Hồng vâng lệnh đằng vân xuống núi.
Bấy giờ vua nước Nam Đường là Lý Cảnh đóng đô tại đất Kim Lăng. Khi trước bị vua Châu Thế Tông hưng binh chinh phạt nên Vua Nam Đường sợ mà bỏ hiệu Hoàng Đế. Từ khi Tống Thái Tổ hùng cứ nhất phương, gồm thâu bốn nước, thì vua Nam Đường trở lại xưng đế, chiêu hiền đãi sĩ, kén chọn tướng tài ngày đêm rèn luyện ba quân. Quan văn tướng võ ước chừng vài mươi, quân giỏi binh hùng chừng hai mươi vạn. Vả lại vua Nam Đường thông minh trí tuệ, còn các danh tướng như: Huỳnh Phủ Huy, Huỳnh Nguyên Thế, Phụng Dương, đều là anh hùng cái thế, còn Tuyết Lữ, Tần Phụng, La Anh, Trịnh Phi Hổ đều là con dòng cháu giống thời trước lưu truyền. Lại có hai tướng tài là Long Văn, Văn Bảo, Lâm Văn Thả là tay hào kiệt. Vua sáng, tôi ngay quả Nam Đường là một nước hưng thịnh.
Một hôm Vua Nam Đường lâm triều, các quan chầu chực đủ mặt. Vua phán:
- Tống Thái Tổ dẹp nước Hớn Nam của Lưu An, lại trừ Cao Quí Hưng nơi phương tây, dẹp Mạnh Trí Tường nơi nước Thục đều nhờ binh tướng như Cao Hoài Đức, Vương Toàn Ban, Tào Ban, Phan Nhơn Mỹ, cầm binh như thần nên mới thâu các nước ấy được, trong thiên hạ mười phần về tay Thái Tổ hết tám. Tuy họ lấy đất Giang Nam ta chưa được, song ta cũng phải lo, vì sợ túi tham không đáy.
Các quan văn võ đều tâu:
- Tống mạnh tám phần, Đường chẳng được hai. Một góc Kim Lăng cự sao cho lại. Dẫu có binh hùng tướng mạnh cũng cự không nổi họ Vương, họ Tàu, họ Cao, họ Phan, chi bằng bỏ hiệu Hoàng Đế giữ bực chư hầu, dâng sớ chịu làm tôi, sắm lễ cống sứ thì giữ được cơ nghiệp, khỏi động đao binh.
Vua Nam Đường chưa kịp có ý kiến thì một viên tướng võ quì tâu:
- Chẳng nên ép mình làm tôi nước Tống. Nhà Đường là chính thống, cai trị mấy đời, còn nước Tống là dòng quan, một tên tướng soán ngôi, huống chi nước ta vua sáng tôi ngay, binh ròng tướng mạnh, bất quá Tống lo nghiệp Tống, Đường giữ nhà Đường, không lẽ họ dám cất quân đi đánh nước mạnh mẽ? Chi bằng bệ hạ sai sứ đem thơ, mượn cớ dọ thám việc binh tình để biết thiệt hư mà liệu bề xử sự, đừng thấy người đồn đại mà sợ.
Vua Nam Đường gật đầu khen phải.
Trong lúc chúa tôi đang bàn luận, xảy có quân vào báo:
- Có một đạo sĩ xin ra mắt.
Vua Nam Đường nghĩ thầm:
- Chắc có duyên cớ gì đạo sĩ mới đến đây.
Nghĩ rồi truyền lệnh cho vào ra mắt. Đạo sĩ bước vào thấy vua diện mạo oai nghi, hình dung mạnh mẽ, đôi mắt sáng ngời, liền qui tung hô vạn tuế.
Vua Nam Đường mời ngồi và hỏi:
- Chẳng hay đạo sĩ đến đây có việc chi dạy bảo?
Người đạo sĩ chính là Dư Hồng. Khi nghe vua Nam Đường hỏi, liền thong thả đáp:
- Tôi ở núi Thái Sơn, có nghe bệ hạ chiêu hiền đãi sĩ, yêu nước thương dân. Còn vua Tống tuy đã thâu được tám phần thiên hạ nhưng không lấy nổi Kim Lăng là vì phía đông có sông dài ngăn cách, tôi e bệ hạ kiêng oai mà phục tùng vua Tống, nên xuống giúp Bệ hạ, chưa rõ ý định Bệ hạ thế nào. Nếu Bệ hạ cần tôi giúp sức, tôi chẳng dám khoe, nhưng biết tài giá võ đằng vân, lại rõ vị lai quá khứ. Bởi số Bệ hạ nối nghiệp nhà Đường một cõi lâu dài.
Vua Nam Đường nghe nói rất đẹp lòng, hỏi:
- Trẫm đang nghị luận với bá quan, song chẳng biết nên đầu hay nên thủ, nay có đạo sư đến cùng luận việc ấy thì may cho trẫm biết chừng nào, nếu đạo sư sẵn lòng giúp đỡ thì trẫm khỏi lo, ấy cũng nhờ phước trời mới gặp người tài đức.
Nói rồi truyền quân sĩ dọn cuộc đăng đàn bài tướng, phong Dư Hồng làm Hộ Quốc Quân sư.
Dư Hồng lên đứng trên đàn, văn võ hai bên hầu hạ . Vua Nam Đường thưởng ba chén rượu, Quân sư nhậm lễ uống xong rồi xuống đài về dinh.
Hôm sau các quan vào chầu đủ mặt, vua Nam Đường hỏi Quân sư cách dùng binh. Dư Hồng đáp ứng rất trôi chảy, bá quan đều phục tùng, vui mừng không còn lo bị Thái Tổ xâm phạm đến Giang Nam. ấy cũng bởi trời xuôi cõi Kim Lăng có giặc.
Lời bàn.
Lòng tham vọng của con người phát xuất từ lúc đã thành công trên sự nghiệp. Xưa nay những vị về khôi phục đất nước, thường hy sinh chịu những đắng cay khổ cực, nhưng lúc cơ nghiệp đã vững vàng thái bình thạnh trị thì lại quên những lúc khổ đau, ham hưởng thụ những thú vui bỏ bê việc nước. Mặt khác lại theo lời kẻ nịnh thần áp chế và vong ơn đối với những trung thần có công dựng nước. Ấy vậy những kẻ có mưu lược hiểu được lòng người, khi nguy biến họ hế t mình phò vua giúp nước, nhưng đến khi hưởng thụ họ không màng. Tấm gương phạm Lãi, Trương Lương thuở xưa thật đáng là một bài học cho những ai ỷ vào công trạng của mình mà đòi hỏi vinh hoa phú quí để rồi chịu đau khổ vì lòng ganh tị của kẻ có quyền thế.

0
Hồi Thứ Hai

Chúa Nam Đường trả lời ngỗ nghịch
Vua Thái Tổ ngự giá thân chinh


Bấy giờ Triệu Khuông Dân nối ngôi Châu Hậu chúa nhường cho, cải tên nước là Đại Tống, xưng hiệu là Thái Tổ, đánh đông dẹp tây gom về một mối, các vua nước nhỏ đều đầu hàng cống sứ.
Ngày nọ, vua Thái Tổ ăn lễ mừng thọ, bá quan đều dâng lễ chúc mừng. Các nước gần xa đều sai sứ đem lễ vật đến bái kiến. Vua Tống Thái Tổ rất vui truyền dọn yến thết đãi. Giữa tiệc vua Thái Tổ uống ba tuần rượu rồi phán:
- Nay trẫm đã năm mươi tuổi thọ, các nơi đều dâng lễ, trong ngoài đều một lòng, duy có Lý Cảnh ở Kim Lăng, ỷ mình ở nơi hiểm hóc, khinh rẻ nước ta, đã không cho người đến viếng, cũng chẳng chúc mừng. Các quan nghĩ thế nào?
Quan Binh Bộ Thượng Thơ là Phan Mỹ tâu:
- Tôi nghe Lý Cảnh chiêu hiền đãi sĩ, tích thảo dồn lương, chắc là có ý làm phản. Nay các nước nhỏ đều về chầu cống lễ, chúc thọ bệ hạ. Nam Đường có chúa, coi Đại Tống không người, sẵn dịp này vấn tội Kim Lăng là điều chính đáng.
Vua Thái Tổ chưa kịp nói thì Quân sư Miêu Huấn tâu:
- Tội Nam Đường đáng trách phạt, nhưng nay thiên hạ theo phò, giá một khoảng Giang Nam chống trời sao nổi. Xin Bệ hạ xuống chiếu trách phạt vua Lý Cảnh làm nhục triều đình. Nếu Nam Đường biết lỗi, dâng thơ chịu tội thì tha. Như vậy cũng rõ lòng nhân của Bệ hạ.
Vua Thái Tổ phán:
- Trẫm cũng thuận lòng trời, không ưa sát phạt, vậy thì khanh thảo một lời hịch cho sứ cầm đến Nam Đường.
Mãn tiệc bá quan ai về dinh nấy.
Hôm sau, Miêu Huấn thảo xong tờ hịch dâng lên cho vua xem.
Vua Thái Tổ bằng lòng, đóng ấn rồi sai khâm sai đem qua cho Lý Cảnh.
Ngày nọ vua Nam Đường đang ngự, bỗng có quân vào báo:
- Vua Tống sai sứ đem thơ, xin vào ra mắt.
Vua Nam Đường đòi vào. Khâm sai dâng hịch trước sân chầu, vua Nam Đường mở ra xem, thấy tờ hịch viết như sau:
“Xưa nhà Đường có suy yếu, khiến nước chia năm, sau nhà Châu hưng thịnh cũng khó bề thâu về một mối. Nay nước ta vua nhân, tôi sáng, đổi họa làm an, cứu dân trong nước lửa, đức bủa khắp non sông, trăm họ đội ơn, bốn phương mến đức.
Nước ngươi là Nam Đường, trộm xưng đế hiệu, chúa ta là Đại Tống muốn đem binh vấn tội bấy lâu, song trước phải dạy khuyên chớ chưa vội trừng phạt, kém việc nhơn từ. Nay đem bút mực mà khuyên, ngõ vẹn bề hòa hảo.
Vua Nam Đường có lẽ tai từng nghe, mắt đã từng thấy những gương xưa, bởi vì trời không có hai mặt nhựt, nước không thể có hai vua. Người sánh thấy họa khí chưa bay mùi, kẻ trí lánh nạn khi chưa có cớ. Cho nên Vi Tử bỏ nhà Thương mà chịu chức nhà Châu, A Đẩu dâng nước Thục mà làm quan nước Tấn. Vua Nam Đường cũng nên bắt chước theo, thì bình an một nước êm ái muôn dân, kẻ làm ruộng không bỏ đồng, người đi buôn không bỏ chợ, yên nhà, lợi nước, không tổn tướng hao binh. Nếu chấp nhất chẳng suy thì ngọc đá cháy tiêu, binh Tống đến thành thì nóc nhà lật úp, không kịp trở tay, ăn năn thì đã muộn ".

Vua Nam Đường giật mình, mời triều thần bàn luận. Dư Hồng xem tờ hịch giận lắm, nói:
- Ngòi bút kẻ nho tuy sắc sảo, song ta lương đủ, binh ròng, có sợ gì chúng nó.
Nói rồi lấy bút viết một bài thơ đằng sau tấm hịch rằng:
Nam Đường nối nghiệp của tiền Đường
Rằng muốn đem binh đánh Biện Lương
Trí sẵn Tôn Ngô, thông chiến trận
Mạng thêm La Tiết giỏi cung thương.
Trói mèo Hoài Đức chiêng chưa gióng
Bắt sống Tam Xuân ná chửa giương,
Sớm biết mạng trời âu cống lễ
Kẻo lâm rìu búa thấy Diêm Vương.

Ở dưới ký tên Đại Đường Hoàng Đế chánh tông gởi cho Tống Đế thâu khán.
Khâm sứ lãnh hịch đem về dâng cho Tống Thái Tổ.
Tống Thái Tổ xem hịch nổi giận vỗ bàn hét:
- Nam Đường quả thật to gan, lớn mật! Lý Cảnh thật có bụng khinh người. Ta đã dung cho nó một vùng đất ở an, vì thương đến muôn dân lê thứ. Nay nó đã bày lời phản nghịch, dung tha thì các nước chê cười. Nó đã dám nói như vậy thì chắc còn dám làm nhiều việc đối nghịch khác. Cỏ non chẳng nhổ, để lớn nhọc công, lửa đốm không dập tắt để nó bừng lên thì khó chữa.
Nói rồi vua Tống hỏi các quan văn võ:
- Nay trẫm quyết đem quân phạt Nam Đường, làm cho Lý Cảnh vỡ mật mới vui lòng, chẳng hay chư khanh nghĩ thế nào?
Đông Bình vương Cao Hoài Đức tâu:
- Quận Kim Lăng có tám mươi mốt châu, được bao nhiêu lương thực, còn các quan Nam Đường thì khoe môi hưởng lộc, khua miệng làm oai, nhỏ muốn cự to, yếu không nhường mạnh.  Ấy là đi tìm tai họa, mang nạn vào thân. Không cần Bệ hạ phải nhọc sức, hạ thần chỉ xin mượn oai hùm cũng trừ đặng loài cáo.
Vua Thái Tổ phán:
- Khanh luận bàn cũng phải, song trẫm mười tám năm cầm đao, cưỡi ngựa, xông pha chiến trận, nay Lý Cảnh khoe tài xấc láo để quả nhơn ngự giá thân chinh, bắt sống nó mà rửa hờn. Trẫm đã có ý như vậy khanh chớ ngăn cản. Nay phong cho Đông Bình vương làm chức Chinh thảo Đại Nguyên Soái, Sử Khuê và Thạch Thủ Tín lãnh tả hữu tiên phong, Phùng Ích làm tham quan, Tào Ban, Phan Mỹ, Vương Ngạn Thăng, La Ngạn Oai làm phụ quân.
Còn Quân sư Miêu Tùng Thiệu đi làm hộ giá. Vương Toàn Ban giải lương. Vậy các khanh ra công hợp lực, đồng lòng trừ nghịch, thắng trận trở về trẫm sẽ luận công ban thưởng.
Các quan văn võ đều tuân lệnh. Vua Thái Tổ ra lệnh bắt chầu.
Hôm sau Thái Tổ nói với Hoàng đệ là Triệu Quang Nghĩa rằng:
- Ngự đệ ơi! Nay trẫm xuống Giang Nam phạt Lý Cảnh, giao nước lại cho Ngự đệ thay mặt triều đình, trẫm đi chừng một năm sẽ trở về .
Triệu Quang Nghĩa vâng lời. Thái Tổ lại trình với Đỗ Thái hậu mọi dự tính.
Đỗ Thái hậu nói:
- Hoàng nhi mười tám năm chinh chiến, nay lại hưng binh chinh phạt làm cho nhọc mình vàng. Cứ sai tướng đi đánh cũng đủ. Vả lại cách hai đêm nay mẹ chiêm bao thấy một điều không tốt.
Vua Thái Tổ hỏi:
- Chẳng hay mẫu hoàng thấy điềm gì?
Đỗ Thái hậu nói:
- Ta thấy Hoàng nhi leo lên cây lý rồi sút tay té xuống, năm con phụng từ trên trời bay xuống một lúc, xòe cánh mà đỡ. Sau đó ta giật mình thức dậy. Vậy lần này Hoàng nhi sai tướng thì hay hơn.
Thái Tổ thưa:
- Xin Mẫu hậu đừng lo việc ấy, con từ mười sáu tuổi đã dạo khắp bốn phương, cả trong thiên hạ, từ Biện Lương đến Kim Lăng đi chừng bốn mươi ngày, chẳng xa xôi gì đó. Vả lại Mẫu hậu thấy điềm rất tốt. Con leo lên cây lý, mà lý là họ vua Đường, còn năm con phụng đỡ con, là có năm nữ tướng tài hoa giúp sức. Bấy lâu ở trong cung tù túng, nay con dạo ra ngoài cho thảnh thơi, huống chi thiên hạ mười phần đã thu hết tám, còn Kim Lăng là một khoảng núi non, lấy dễ như trở bàn tay. Nếu để nó ngỗ nghịch thì các nước chê cười. Lẽ thường, trời không hai mặt đất chẳng hai vua, xin mẫu hậu cho con đi, nếu không ngự giá thân chinh thì tướng sĩ không hết lòng.
Đỗ Thái hậu biết lánh Thái Tổ không ưa câu thúc, nên mỉm cười nói:
- Nếu Hoàng Nhi muốn đi xin chớ ra trận, phải giữ mình làm trọng thì mẹ mới an lòng.
Vua Thái Tổ vâng lời mẹ lui ra, về cung từ giã Hoàng hậu.
Hoàng hậu biết không cản được vua, liền rót rượu tiễn hành cầu xin thắng trận.
Lời bàn:
Tranh chấp quyền thế là bản chất của loài người tạo ra chiến tranh, đánh giết lẫn nhau, từ xưa đến nay vẫn không tránh khỏi.
Vua Thái Tổ mỡ tiệc mừng thọ, các nước đều đem lễ vật triều cống, vua nước Nam Đường không tham dư, làm cho vua Thái Tổ thấy bị mất danh dự trong thiên hạ. Ấy cũng chỉ vì tự xem mình là cao hơn cả mọi người. Bản tính tự cao tự phụ gây nên những tệ hại trong cuộc sống, làm tất cả những việc thiếu nhân tâm. Còn vua Nam Đường bị sỉ nhục không thể ngồi yên, thì đó cũng chỉ là bị đụng chạm danh dự của mình. Cả hai đều từ bản chất tự cao tự phụ mà gây nên chiến tranh, giết hại lê dân. Nếu tánh tự cao tự phụ mà ở trong một người thường thì tai hại bản thân không bao nhiêu, còn ở trong một ông vua thì tai hại cả đất nước.

0
Hồi Thứ Ba

Tống Thái Tổ bị vây Thọ Châu thành
Dư Quân sư dùng phép bắt Hoài Đức


Bấy giờ Cao Hoài Đức lãnh chức nguyên soái trở về dinh, vào tâm sự với vợ là Hoàng cô Tiêu Mỹ Dung, kể hết mọi việc.
Tiêu Mỹ Dung nói:
- Chẳng hay vương gia bữa nay đi chầu có việc gì lo lắng vậy?
Cao Hoài Đức nói:
- Ta nay vâng chỉ kéo quân đánh Kim Lăng. Thiên tử đã sai không thể chối từ. Việc chinh phạt chỉ một vài năm, ít lâu sẽ trở về. Song chỉ còn một nỗi mẹ già đầu bạc, con trẻ mày xanh, vậy nhờ Hoàng cô phụng dưỡng huyên đường, dạy Thế tử tinh thông võ nghệ, chớ cho nó hoang đàng, mang tiếng họ Cao.
Vợ chồng bàn tính xong, mở tiệc cùng nhau ăn uống. Người con trai là Cao Quỳnh, tên chữ là Quân Bảo đã mười tám tuổi, nghe tin cha vâng lệnh chinh Nam, liền bẩm:
- Con ở nhà không làm gì, xin đi theo hầu cha và đánh giặc, cho trọn niềm thần tử, đáp nghĩa quân ân.
Hoàng cô nói:
- Ngươi tài cán bao nhiêu mà dám nói phách như vậy? Ngươi tưởng đánh giặc dễ lắm hay sao?
Cao Quân Bảo thưa:
- Xin mẹ đừng cho con là đứa vô dụng. Nay con đã biết cầm cung lên ngựa, gươm giáo tinh thông, một lớp với con đều không địch nổi. Con xin tùy tùng ra chiến trận cho quen thuộc binh cơ, như vậy mới nên con nhà tướng. Xin cha mẹ an lòng.
Cao Hoài Đức nghe con nói tỏ ý khen:
- Lời con nói rất phải, tính toán rất thông, ngặt vì bà nội con già nua, con thì còn bé, chi bằng ở nhà thế cho cha thờ phụng bà nội cho trọn niềm hiếu thảo.
Cao Quân Bảo nghe cha khuyên không dám trái ý.
Đêm ấy, Cao Hoài Đức từ giã gia đình. Cả nhà đều bận bịu nhưng vẫn làm lễ tiễn hành.
Đến ngày xuất quân, Cao Hoài Đức dẫn binh đến diễn võ trường, vua Thái Tổ ngự đến. Các quan văn võ đều đứng hai hàng làm lễ tiễn đưa. Vua Thái Tổ ngự giá lên đường quân đi rầm rầm rộ rộ nhưng trật tự rất nghiêm, không ai dám phạm của ai một mảy.
Quân sĩ Nam Đường hay tin về báo lại. Vua Nam Đường nghe Thái Tổ ngự giá thân chinh lòng kinh hãi, bèn triệu tập các quan đến nghị luận. Khi các quan tề tựu đông đủ, vua Nam Đường phán:
- Ngày trước vì phê bài thơ vào tấm hịch mà gây việc Tống chinh Nam. Người ta thì binh hùng tướng mạnh, còn mình thì lực yếu thế cô chống cự sao lại, nên trẫm mời các khanh đến đây nghị luận xem nên hòa nên chiến. Nếu để giặc đến, quân dân khốn khổ.
Dư Hồng tâu:
- Xin Bệ hạ chớ lo. Nước Tống mạnh là mạnh với các nước khác kia, còn đối với nước ta hễ tướng Tống qua đây bao nhiêu, tôi bắt sống bấy nhiêu, để Bệ hạ biết phép thần thông của tôi lợi hại thế nào. Tôi quyết đền ơn tri ngộ, xin Bệ hạ đừng than thở mà làm cho binh tướng ngã lòng.
Vua Nam Đường phán:
- Quân sư vốn thần thông binh pháp, lại hết lòng giúp trẫm, thì trẫm còn sợ gì. Song tướng Tống đại tài, phải đề phòng cho kỹ.
Dư Hồng tâu:
- Tôi đoán chắc binh Tống kẻo qua đây sẽ đi qua ngã Thọ Châu.
Vua Nam Đường hỏi:
- Sao quân sư biết chắc như vậy?
Dư Hồng tâu:
- Vua Tống đã chinh chiến mười tám năm, từng trải việc binh cơ đồ trận. Nay đi đánh xa muôn dặm phải lo việc lương thảo làm đầu, nên phải đi ngõ Thọ Châu, trước lấy lương, sau đó nơi theo đường Phụng Dương thì thẳng đến Kim Lăng rất dễ.
Vua Nam Đường phán:
- Như vậy thì phải sai một vị Đại tướng qua giữ Thọ Châu.
Dư Hồng nói:
- Binh Tống mới kéo sang, tinh thần còn hăng lắm, quân ta khó bề giữ đặng Thọ Châu, chi bằng cứ để thành trống, gạt chúng nó vào đó rồi bao vây thì quân Tống có mấy mươi vạn cũng phải chết đói.
Vua Nam Đường nghe tâu, gật đầu nói:
- Quân sư liệu kế rất hay, tướng Tống dù anh hùng thế nào cũng không thoát khỏi.
Sau đó, Dư Hồng sai Huỳnh Phủ Huy và Lâm Văn Báo lãnh kế đến Thọ Châu truyền rằng:
- Nay ta vâng lệnh Hoàng Đế, rao truyền cho dân chúng đất Thọ Châu hay, bất luận quan dân phải dọn đồ ra khỏi thành, nếu chậm trễ, giặc Tống vào sẽ giết hết.
Hai mươi vạn dân Thọ Châu nghe lệnh thất kinh, kẻ cõng con, người dắt vợ cấp tốc lên đường.
Trong thành dọn hết kho lương, không còn một mảy, rồi về báo lại Dư Hồng.
Lúc này vua Thái Tổ kéo binh đi đã ngót một tháng mới đến địa phận đất Kim Lăng, trước tiên đánh ải Giới Bài giết hai đại tướng rồi chiếm thành. Còn Cao Hoài Đức chia một muôn rưỡi binh cho Phan Mỹ trấn ở đó, rồi cùng nhau bàn tính việc vào Kim Lăng.
Vua Thái Tổ nói:
- Nên đi vào ngõ Thọ Châu thì dễ hơn.
Cao Hoài Đức tâu:
- Thọ Châu là yếu địa của Kim Lăng, bên Nam Đường nghe ta lấy ải Giới Bài thế nào cũng đem binh tướng trấn thủ hoặc mai phục, nếu đi ngõ ấy e mắc kế chăng . Chi bằng đi ngõ Lư Châu , rồi đem binh lén qua sông Hiệp Phi, binh Đường không ngờ thì rất dễ phá.
Miêu Quân sư nói:
- Kim Lăng khi trước là xứ Đông Ngô, chỗ cũ của Tôn Quyền, ở đó tám mươi mốt châu địa hiểm trở, phải dè dặt mới được.
Vua Thái Tổ phán:
- Trẫm há chẳng biết tánh dè dặt của nguyên soái hay sao, nhưng đánh nước nào thì phải cẩn thận, còn Nam Đường binh thưa tướng ít ta mới đến đã chiếm ải Giới Bài, có phải chúng nó yếu kém hay không? Vả lại, ngõ Lư Châu nước sâu núi cao khó bề vận lương, sao bằng đi đường Thọ Châu rộng rãi, ta cứ đánh một trận xem sao rồi sẽ liệu.
Các tướng vâng lệnh kẻo binh đi ngõ Thọ Châu.
Khi binh đến còn cách thành năm mươi dặm thì Cao Hoài Đức truyền quân hạ trại, đào giếng mà dùng, không cho uống nước ao của Nam Đường e có bỏ thuốc độc.
Hôm sau, Cao Hoài Đức hạ chiến thơ cho Nam Đường. Vua Nam Đường bèn sai Lâm Văn Báo và Huỳnh Phủ Huy lãnh một muôn binh đi đánh, Cao Hoài Đức lại sai Sử Khuê, Thạch Thủ Tín ra trận giao tranh.
Hai tướng Đường đánh không lại, vào bế thành mà trốn.
Cao Hoài Đức thừa thắng đem binh vây thành Thọ Châu, chẳng ngờ hai tướng vâng lệnh Dư Hồng trá bại rồi bỏ thành đi mất. Té ra binh Tống chỉ vây thành không. Đến khi vào thành không thấy một tên quân nào cả.
Sử Khuê Thạch Thủ Tín lấy làm lạ cho người chạy về báo với vua Thái Tổ rõ sự tình.
Vua Thái Tổ nghe báo lấy được Thọ Châu thì rất mừng, đinh ninh chẳng bao lâu sẽ lấy Kim Lăng như trở bàn tay.
Cao Hoài Đức hộ tống vua vào thành tra xét lương thảo không có gì hết, ngoài đồng trong chợ cũng không thấy một bóng người. Vua Thái Tổ thất kinh, biết là mình mắc kế, còn Cao Hoài Đức thì cúi đầu không dám nói điều gì. . .
Miêu Quân sư nói:
- Chắc là bị kế không thành, chớ lẽ nào chỗ địa đầu mà không có quân canh giữ. Vậy phải mau kéo binh ra khỏi, nếu chậm trễ ắt bị khốn.
Vua Thái Tổ biết lỗi, nhưng ăn năn thì việc đã rồi. Xảy nghe tiếng quân ó vang trời, ngoài thành có quân vào báo:
- Bốn phía binh Đường đang kéo vào, đèn đuốc sáng chói.
Binh Tống thất kinh, không dám kéo ra. Cao Hoài Đức truyền quân thủ thành nghiêm ngặt, rồi thỉnh vua Thái Tổ và Quân sư lên lầu xem hư thiệt. Lúc này binh Đường vây phủ trùng trùng. Xa xa, thấy một đạo sĩ mặc áo bát quái, cưởi con nai bông, miệng hỏa lò, hàm răng cào cỏ, mắt sáng như sao, tay trái cầm quạt lông, tay mặt cầm gậy sắt, xăm xăm đến cửa thành chỉ mặt vua Thái Tổ mắng rằng:
- Vua Tống trở lòng cướp ngôi Châu hậu chúa, lại bất nghĩa giết Trịnh ân, nên thầy ta là một vị đại tiên, sai ta xuống trừng phạt. Nay đã mắc kế rồi, chúa tôi nhà ngươi như chim ở trong lồng, như cá ở trong chậu, nếu còn tưởng mình là anh hùng trong thiên hạ thì khó mong giữ nước. Nếu khôn khéo tùng phục vua Đường thì cũng được làm vua một cõi, bằng chống cự ắt không toàn mạng.
Dư Hồng đang diễu võ giương oai thì vua Thái Tổ nổi giận hét:
- Đạo sĩ ở trong rừng nào tới đây, dám nói nghịch quả nhân.
Nói rồi truyền quân trên thành bắn xuống như mưa.
Dư Hồng cười lớn:
- Ta có sá gì mấy mũi tên khốn đó, dẫu ngàn muôn gươm giáo cũng chẳng làm gì ta được.
Nói rồi niệm thần chú, lấy quạt lông quạt mấy cái, tên bắn đều vẹt ra hai bên, chẳng động đến Dư Hồng.
Thạch Thủ Tín thấy vậy tức mình, xin phép xuống đánh, Cao Hoài Đức nói:
- Ta xem yêu đạo rất lợi hại, vậy ngươi có ra trận đừng đuổi theo mà khốn.
Thạch Thủ Tín vâng lệnh, lãnh năm ngàn quân khai thành múa đao xốc tới chém Dư Hồng. Hai bên đánh nhau mười hiệp, Dư Hồng thối lui lại ít bước rồi lấy một cái chiêng nhỏ gọi là Lạc Hồn La đưa trước mặt Thạch Thủ Tín đánh lên một tiếng, Thạch Thủ Tín bất tỉnh té xuống ngựa, binh Đường bắt trói lại.
Vua Thái Tổ trông thấy rụng rời. Sử Khuê nổi giận nói:
- Yêu đạo không tài cán gì, bất quá dùng phép tà mà bắt tướng, xin Bệ hạ cho tôi ra trận thử sức xem sao.
Vua Thái Tổ phán:
- Không nên! Yêu đạo có phép thuật như vậy, dùng lực làm sao đấu lại.
Cao Hoài Đức cũng chẳng cho đi. Sử Khuê cũng nằng nặc một mình một ngựa ra thành, kêu Dư Hồng hét lớn:
- Yêu đạo! Nếu ngươi không thả Thạch Thủ Tín cho ta thì ta nguyện bêu đầu ngươi trên ngọn giáo!
Dư Hồng mỉm cười nói:
- Tướng Tống không biết thời cơ. Vua ta là dòng chính nối nghiệp Đường Cao Tổ trên ba trăm năm, không phải là chúa của ngươi soán ngôi xưng đế. Nay đã sa vào lưới rọ, nếu biết mạng trời thì trở về bảo vua Tống dâng biểu đầu hàng, bằng nghịch mạng thì vua tôi làm quỉ không đầu.
Sử Khuê nghe Dư Hồng nói liền nạt lớn:
- Yêu đạo đừng nói xàm. Hãy coi chừng mũi thương ta đây.
Nói rồi vung thương chém tới. Dư Hồng đỡ đánh rồi dùng phép như cũ, bắt Sử Khuê trói lại.
Tào Bản nổi nóng xông ra, cũng bị Dư Hồng dùng chiêng lạc hồn bắt nữa.
Trận này Dư Hồng bắt luôn ba tướng đem về dâng trước bệ tiền.
Vua Nam Đường mừng rỡ, nói:
- Quân sư phép tắc dường ấy, bắt ba tường Tống trong một giờ. Vậy thì việc lấy Tống không khó. Chắc là giang sơn họ Lý thâu về, cơ nghiệp nhà Đường phục lại.
Bá quan văn võ đều khen:
- Bệ hạ có Quân sư như rồng gặp mây, như cá gặp nước, ắt khôi phục nhà Đường không khó.
Còn vua Thái Tổ thấy Dư Hồng bắt luôn ba tướng thì không dám cho ai ra trận nữa, truyền quân ráng sức thủ thành.
Hôm sau, Cao Hoài Đức nghe quân báo có Dư Hồng khiêu chiến tức giận nói:
- Nó vừa bắt mất ba tướng còn hiên ngang khiêu chiế n, xin Bệ hạ cho hạ thần liều sinh tử với nó một phen, nếu không nó sẽ làm nhục không chịu nổi.
Thái Tổ nói:
- Nguyên soái xem ba tướng bị bắt đó có phải dở đâu. Yêu đạo có nhiều yêu thuật nguyên soái đánh sao cho lại nó. Nếu rủi có bề nào, trẫm biết nương tựa vào ai? Nguyên soái hãy nhẫn nhịn để tìm mưu mà cứu ba tướng đó.
Cao Hoài Đức tâu:
- Tôi làm nguyên soái có lý nào chịu nhục để chúng khinh bỉ. Nay nhờ hồng phước Bệ hạ, nếu giết được nó thì Nam Đường rất dễ chinh phục.
Nói rồi liền cầm thương lên ngựa, dẫn binh ra thành rồi hét:
- Yêu đạo! Hãy coi cây thương của bổn soái đây.
Dư Hồng thấy một tướng đội ngân khôi, mặc bạch giáp, mặt trắng như tuyết, giọng thanh như chuông, nghĩ chắc là Đông Bình Vương Cao Hoài Đức, là tướng mạnh nhất trong đời, bèn giục hươu tới hỏi lớn:
- Tướng Tống hãy mau xưng tên rồi chịu chết.
Cao Hoài Đức nói:
- Khá khen cho yêu đạo, không sợ phép trời, cả gan gây chiến với Đại Tống. Nay bổn soái đến đây thì chớ trách ta không có lòng nhân đức. Ta là Đông Bình Vương Cao Hoài Đức, lẽ nào ngươi không biết danh ta?
Dư Hồng cười ha hả nói:
- Ta há không biết ngươi là rường cột của vua Tống hay sao, song đã gặp ta thì uy danh trôi trên dòng nước.
Nói rồi đập mạnh một gậy. Cao Hoài Đức đỡ gạt ra làm cho Dư Hồng ê ẩm cả cánh tay, muốn rơi gậy xuống đất. Dư Hồng biết sức mình thua xa nên giục hươu bỏ chạy. Cao Hoài Đức không đuổi theo, Dư hồng quay lại mắng:
- Dù cho ngươi có quỷ quyệt đến bực nào ta cũng bắt được.
Nói rồi trở lại giao tranh, lấy chiêng phép đưa ngay trước mặt Cao Hoài Đức đánh một tiếng. Cao Hoài Đức hôn mê, sa xuống ngựa bị quẩn Nam Đường bắt trói lại. Binh Tống thất kinh chạy vào thành hết. Dư Hồng bị cấm sát sinh nên không chém giết, bèn đánh kiểng thâu quân, dẫn Cao Hoài Đức về nạp trước ngai.
Vua Nam Đường khen:
- Quân sư pháp thuật cao cường nên mới bắt được Hoài Đức. Nay Tống đã mất hết nhuệ khí, thì Đường càng vững vàng, khỏi lo sợ.
Dư Hồng truyền quân khiêng thây Cao Hoài Đức bỏ chung với các tướng vừa bị bắt.
Còn vua Thái Tổ thấy Dư Hồng bắt Cao Hoài Đức thì buồn rầu, than thở mãi không nguôi. Triều thần can gián, vua Thái Tổ nói:
- Trẫm chinh phạt lâu nay, đánh đâu thắng đó, dựng nên cơ nghiệp, ba cõi phục tùng. Không dè nay đến Kim Lăng lại gặp yêu đạo bắt hết bốn tướng, nhắm lại giang sơn khó giữ, nếu chịu nhục mà đầu Nam Đường thì uổng công bấy lâu trận mạc, lại để nhục ngàn thu. Vậy các khanh có mưu chi làm cho khỏi cảnh vua buồn tôi nhục không?
Miêu Quân sư tâu:
- Xin Bệ hạ bớt phiền não. Xưa nay thắng bại trong trận mạc là chuyện thường. Bệ hạ là chúa trong đời còn Lý Cảnh bất quá là tên soán nghịch. Xưa Văn Vương bị giam nơi Dũ Lý bảy năm, Quan Võ bị vây ở đất Công Dương rất ngặt, nhưng tai nạn này cũng qua đi, sự nghiệp vẫn bền vững. Nay tuy bốn tướng bị bắt, song Nam Đường còn ngại chưa dám giết. Bởi Bệ hạ cãi lời Nguyên soái vào Thọ Châu nên mắc kế không thành, sớm muộn cũng sẽ tìm phương giải cứu.
Lúc này vua Nam Đường thấy Dư Hồng bắt luôn một lúc bốn viên tướng Tống thì mừng rỡ, truyền quân mở tiệc ăn mừng, tự tay rót rượu đến trước mặt Dư Hồng ban thưởng.
Dư Hồng hai tay bưng ly rượu nói:
- Hạ thần chỉ có một chút công lao mà Hoàng Thượng trọng hậu như vậy, tôi đâu dám .nhận. Nhưng Bệ hạ đã ban không thể chối từ.
Nói rồi bưng rượu uống.
Tiệc mãn, vua Nam Đường liền ra lệnh đem tướng Tống ra chém bêu đầu, rồi sẽ cử binh đến Thọ Châu bắt vua tôi Thái Tổ, đưa sự nghiệp nhà Đường vào một mối giang san.
Dư Hồng tâu:
- Chẳng nên giết tướng Tống, bởi Bệ hạ chưa rõ. Nguyên tỉ tôi tu luyện lâu năm, sau học đạo Xích Mi lão tổ nên biết Thái Tổ là chánh vì vương, bởi cớ ấy không nên giết tướng của người. Bất quá vây cho Tống sợ, không dám đánh Kim Lăng mà giải hòa, ai lo nước nấy.
Vua Nam Đường phán:
- Hai nước giao tranh, lẽ nào bắt tướng mà không giết, vả lại những tên tướng ấy chẳng khác nào lại hùm dữ, nếu để nó sống rất nguy hại cho cơ nghiệp nhà Đường.
Dư Hồng tâu:
- Mười hai tướng mạnh của Tống đều thân thích của nhà vua. Nay bắt được thì nên dùng phép bắt nó đầu Đường đánh Tống cho Thái Tổ thất kinh, không dám đánh nữa, phải cầu hòa. Vả lại làm cho chúng đánh giết lẫn nhau, chúng ta khỏi phải mang tiếng dữ.
Vua Nam Đường nói:
- Người đã thác rồi còn sống sao được. Lại những tướng ấy là thân thích của vua, làm cho nó sống lại, rồi thả nó trở về chẳng khác nào thả cọp về rừng, thật khó tin nổi.
Dư Hồng đáp:
- Phép tiên hay lắm, cho hoàn hồn sống lại coi như chơi, lại có bùa linh, khiến đâu làm đó. Chúng sẽ không biết đến vua tôi cha mẹ, vợ con nữa, mà chỉ biết có hiệu lệnh mà thôi, nên tôi mới dám mạo hiểm như vậy.
Vua Nam Đường nửa tin nửa ngờ, nói gượng:
- Quân sư đã có phép lạ, vậy thử thực hiện xem sao?
Dư Hồng tâu:
- Tôi đâu dám giấu, để tôi làm thì thấy.
Lời Bàn.
Làm tôi không đem thân bảo vệ đất nước là bất trung, nhưng làm vua mà giết hại tôi trung là bất nghĩa. Hai hành động đó đều là vô nhân đạo, nhưng lịch sử vẫn diễn biến ngàn xưa, sanh ra nhiều cuộc tranh chấp.
Sư nghiệp của một quốc gia không thể một cá nhân nào xây dựng nổi, mà phải nhờ vào sức mạnh của toàn dân. Nếu một vị vua, lúc nguy biết dựa vào sức dân để xây dựng cơ đồ, rồi đến lúc thành công không nghĩ đến dân, chỉ biết hưởng thụ riêng mình thì đó là một vì vua bất nghĩa. Huống chi, lúc được việc quên ơn những kẻ có công, giết oan họ thì đó là một hành động bạo tàn. Ở hồi này, Xích Mi lão tổ cho Dư Hồng xuống trần trừng phạt vua Tống là một quan niệm răn những kẻ bạo tàn, vong ơn bội nghĩa. Điều này cốt làm cho người đọc tự xét mình, xét đời, để rút ra bài học về đạo nghĩa làm người.

0
Hồi Thứ Tư

Bị bùa độc họ Cao phản chúa
Rõ phép tà vua Tống hết nghi


Dư Hồng truyền lệnh khiêng mười hai tướng Tống để xếp hàng dưới thềm, rồi dùng máu chó, máu gà và giấy vàng vẽ bùa mười hai con hình nhơn, niệm chú, giắt vào chiếc mũ cho mười hai tướng, đội lên đầu. Xong, Dư Hồng cầm gươm, vỗ bàn một cái nạt lớn:
- Mỗi người ba vía một hồn nhập xác, còn hai hồn bốn vía thu vào bùa ở mái tóc, không được cãi lệnh.
Sau đó Dư Hồng lại cầm gươm chỉ vào các tướng mà bảo:
- Phụng sắc hồi dương cấp cấp như luật lệnh.
Mười hai tướng lồm cồm ngồi dậy, bộ tịch như điên như dại , hai con mắt trợn tròn vo, đứng trơ trơ không nói gì hết. Các viên quan Nam Đường đều rởn ốc, mồ hôi ướt áo, sợ tướng Tống hại nhầm.
Dư Hồng thấy vậy cười nói:
- Tướng đầu Đường là đồng liêu với các ông, việc gì mà sợ.
Vua Nam Đường nghe báo, liền ngự ra xem thấy mười hai tướng Tống đứng hầu hạ hai hàng. Dư Hồng tâu:
- Các tướng đã theo phù phép, đầu hàng Bệ hạ rồi, xin đừng sợ.
Vua Nam Đường phán:
- Tuy phép Quân sư hay thật, song sợ họ không chịu đầu Đường, thành ra rước voi về phá mồ, trẫm lấy làm lo.
Dư Hồng tâu:
- Bệ hạ và bá quan còn nghi ngại, để tôi sai thử cho Bệ hạ xem.
Nói rồi niệm chú, cầm gươm chỉ Cao Hoài Đức kêu lớn:
- Cao Hoài Đức đến đây ta bảo!
Cao Hoài Đức bước tới thưa.
- Chẳng hay Quân sư đòi tôi có việc chi sai bảo?
Dư Hồng nói:
- Ngươi lãnh một ngàn quân sang đánh Thọ Châu, không được cãi lệnh.
Cao Hoài Đức phụng mạng đi liền.
Vua Nam Đường xem thấy mới tin, các quan đều khen phép lạ.
Vua Nam Đường bảo:
- Cao Hoài Đức là tôi lương đống của nhà Tống, nay nhờ bùa linh sai khiến thì lo chi cơ nghiệp không dựng lại được như xưa.
Dư Hồng tự đắc nói:
- Bệ hạ thật có phước mới giữ gìn được đất Kim Lăng. Thái Tổ tuy là vị chính vương mà vẫn không làm hại Nam Đường được.
Bấy giờ vua Thái Tổ đang bị vây, và bị bắt hết tám tướng, tuy chưa thấy bêu đầu, nhưng trong lòng buồn bã không an.
Xảy có quân vào báo:
- Cao Nguyên soái dẫn quân Nam Đường về đứng ngoài thành khiêu chiến. Chúng tôi không rõ thiệt hơn, nên chạy về thông báo.
Thái Tổ nghe nói giận lắm, than:
- Chúng bay là quân thấp thố, không nhìn kỹ lại về báo láo.
Nói rồi liền cùng Quân sư lên mặt thành xem xét, quả thấy Cao Hoài Đức ngồi trên ngựa múa gươm, coi binh lính phá thành.
Thái Tổ thấy việc lạ, gọi lớn hỏi:
- Bớ ngự đệ ? Trẫm cùng khanh tuy bề ngoài là tôi chúa nhưng bên trong là nghĩa tay chân. Hai mươi năm nay tin nhau một lòng một dạ, nay sao lại tham sống mà bỏ nghĩa xưa. Hãy nghe lời trẫm vào thành bàn kế chiến chinh, cho vẹn đạo tôi thần, cho trọn nghĩa anh em.
Tiếng kêu không làm cho Cao Hoài Đức chú ý, chỉ thấy Cao Hoài Đức trợn mắt, múa thương, miệng hét liên hồi làm cho vua Thái Tổ nổi giận nói:
- Đồ thất phu? Tham sống sợ chết, lẽ đâu lại lãnh binh về phá đánh thành, không biết thẹn.
Thái Tổ truyền lệnh quân bắn vãi xuống. Miêu Quân sư can:
- Không nên bắn ? Tôi chắc lòng Đông bình vương trung dũng có thừa, chắc là bị phép thuật của yêu đạo nên sanh ra như vậy.
Thái Tổ nghe nói suy nghĩ, rồi phán:
- Nếu Quân sư không nói thì trẫm đã mắc mưu yêu đạo rồi. Cao Hoài Đức trung nghĩa thuở nay, không lẽ lại phản chúa, cũng bởi có cớ gì đây.
Thái Tổ vừa đi xuống lầu vừa khóc. Miêu Quân sư nói:
- Bệ hạ chớ nên phiền não, tuy các tướng bị bắt, song Nam Đường không dám làm hại đâu. Chỉ sợ một điều là bị vây trong thành lâu ngày, lương thực bị cạn kiệt. Tối nay xin Bệ hạ đặt bàn hương án cầu phật trời cứu độ, có khi thần tiên đến giúp.
Vua Thái Tổ khen phải. Đoạn có quan coi lương vào tâu:
- Lương còn dùng chừng một tháng nữa là hết.
Ai nấy nghe nói kinh hãi, vua Thái Tổ phán:
- Như vậy thì khổ lắm, biết liệu làm sao?
Miêu Quân sư cũng hết kế.
Lời Bàn.
Trong đời người, những kẻ hy sinh có hai mục đích.Một là: Vì quê hương dân tộc, hai là: Vì phú quí vinh hoa.
Cao Hoài Đức là một trung thần nước Tống bị địch bắt dùng bùa phép để sai khiến phản lại đất nước. Nếu nước Tống không rõ bản chất của Cao Hoài Đức thì Cao Hoài Đức đã bị giết oan. Cao Hoài Đức trung với vua không phải vì danh lợi mà chỉ vì đất nước, dân tộc. Chỉ có những kẻ chạy theo quyền lợi vật chất, để hưởng thụ thì mới gặp đâu theo đó, miễn có lợi cho mình.
Tình yêu quê hương dân tộc là tình yêu cao cả, thiêng liêng. Đối với những loài vật mà còn biết thương giống nòi, thương cái ổ của mình, huống hồ là con người. Vua Thái Tổ hiểu rõ điều đó nên không lầm mưu địch.
Trong xã hội con người, mỗi người có một bản chất khác nhau, muốn luận tâm ý kẻ nào, phải biết bản chất của họ thì mới khỏi bị lầm lẫn.

0

Hồi Thứ Năm

Thái Tổ cầu xin cứu nạn,
Trần Đoàn cho tướng hạ san


Đêm ấy, vua tôi Thái Tổ ăn chay cầu nguyện, quì trước bàn hương án cầu trời, và đọc sớ như sau:
“Triệu Khuông Dẫn xin cáo với Hoàng Thiên. Tôi từ mười ba năm trước, đem binh dẹp loạn cứu dân. Trời cho được nối ngai vàng ra ơn bủa đức, gồm tám phần thiên hạ, đem về một mối giang sơn. Mạng trời đã cho, lòng người mến phục. Nào ngờ nay Lý Cảnh gởi thơ nhục mạ triều thần. Cực chẳng đã tôi mới cử binh chinh phạt Kim Lăng, chẳng ngờ mắc kế bị vây, bởi Dư Hồng yêu đạo xúi Lý Cảnh nghịch thần, dùng tà pháp bắt tướng, bày kế dụ hàng. Tôi thế không đương, lương gần hết. Nhờ ơn trời phật sai tướng thần thông xuống trừ Dư Hồng yêu đạo, cứu hai mươi vạn sinh linh. Khi tôi về nước rồi, sẽ giảm thuế tha tù, làm phước mà chuộc tội ".
Thái Tổ vái xong đất sớ, thì đã hết canh ba, vua tôi vào trướng an nghỉ.
Du thần đem sớ về dâng cho Ngọc Hoàng. Biết Thái Tổ bịt vây ba năm tại thành Thọ Châu, vì giết oan trung thần nên Xích Mi phạt tội. Ngặt lương đã kiệt mà cứu binh chưa tới, mấy mươi muôn sanh linh chắc phải chết đói. Vậy phải sai phi thử vận hai mươi vạn giạ lúa của Lý Mật năm xưa mà cứu Tống.
Hôm sau, vào lúc trời rạng sáng, các quan đang chầu chực trong thành, xảy có trận gió ào ào, không biết thứ gì bay vào kho lúa, rồi lại bay ra hết.
Quan coi kho vào tâu:
- Có bầy chuột tha lúa nhả đầy kho, được hơn ba mươi muôn giạ.
Vua Thái Tổ và các quan nghe tâu mừng rỡ vô cùng, định chắc là có thần linh giúp đỡ.
Bấy giờ Trần Đoàn lão tổ ở núi Hoa Sơn biết vua Thái Tổ bị Dư Hồng vây phủ ngày đêm cũng bởi Xích Mi lão tổ muốn trừng phạt Triệu Khuông Dẫn, về tội giết oan Trịnh ân. Vả lại Trịnh Ấn tuy bị giết oan, song ta đã cứu được con của Trịnh Ấn là Trịnh Ấn về dạy pháp thuật đã ba năm. Vậy nay sai nó xuống phò vua Thái Tổ mà chế ngự Dư Hồng, sau nữa kết duyên Tần Tấn.
- Nghĩ rồi, Trần Đoàn gọi Trịnh Ấn vào hầu.
Trịnh Ấn lau nước mắt, theo đồng tử vào , quỳ thưa :
- Chẳng hay sư phụ đòi tôi vào có việc chi dạy bảo?
Trần Đoàn nói:
- Thầy đem con về núi nay đã ba năm, dạy cặp song chùy đã giỏi, nay thầy cho con xuống Thọ Châu, trước là vua tôi biết mặt, sau nữa là mẹ con sum vầy cho thỏa lòng nhung nhớ. Sau đó se duyên cá nước, trả nợ áo cơm, đền ơn dưỡng dục. Vậy con hết lòng trung nghĩa mà lo việc công danh.
Trịnh Ấn thưa:
- Nhờ ơn thầy dạy dỗ cứu con thoát hiểm, song vua Thái Tổ không có lòng nhân đức, giết oan cha con, nay thành cừu địch, làm sao con phò vua Thái Tổ.
Nói xong khóc ròng, Trần Đoàn nói:
- Ngươi đừng lo việc ấy làm chi, vua Thái Tổ giết oan cha con sau đó đã hối lỗi. Ngặt chuyện đã lỡ, không biết làm sao.
Con là dòng dõi trung thần, trời cho phước lộc, đừng vì thù cha mà oán chúa, cũng nên suy xét bỏ qua. Vì cha con quen miệng mắng vua nên bị hại mạng. Còn con nay nếu đem lòng phò chúa thì hưởng phước trọn đời.
Nói xong, truyền tiên đồng đem kim khôi kim giáp giao cho Trịnh ấn, rồi lấy cây kim định hồn găm trên mão để trừ tà phép của Dư Hồng.
Trịnh Ấn vâng lệnh lạy thầy xuống núi.
Trần Đoàn dặn:
- Con phải đến Thọ Châu, đường xa ngàn dặm, hãy xoè tay ra để thầy làm phép.
Trịnh Ấn xòe tay, Trần Đoàn lấy viết vẽ bùa phong vân,  rồi bảo nhắm mắt lại, chừng nào nghe hết gió sẽ mở mắt ra.
Vua Thái Tổ lúc này đang lo sợ cái chiêng lạc hồn của Dư Hồng, bỗng thấy trên mây có một người bay xuống, lưng có dắt cặp song chùy thì thất kinh la lớn:
- Có thích khách?
Trịnh Ấn nói lớn:
- Không phải thích khách! Ta là Trịnh Ấn con của Nhữ Nam Vương Trịnh ân, vâng lệnh sư phụ đến Thọ Châu cứu giá!
Các tướng nghe rõ nhìn thấy Trịnh Ấn tuổi độ mười lăm, mình cao, mũi nhọn, mặt đen mắt dài, tướng mạo mạnh dạn giống như Trịnh ân.
Miêu Quân sư hỏi:
- Ngươi xưng là con Nhữ Nam Vương xuống đây cứu giá sao không làm lễ bệ hạ cho rõ đạo vua tôi?
Trịnh Ấn nghe nói bèn sụp lạy vua Thái Tổ.
Vua Thái Tổ thấy Trịnh ấn, nghĩ nhớ đến Trịnh ân, lòng rất hối hận, ăn năn thì đã muộn, nên mủi lòng rơi lệ, bước xuống nắm tay Trịnh Ấn nói:
- Cháu hãy đứng dậy, nghe câu chuyện cho rõ ràng. Khi trẫm hai mươi tuổi kết làm anh em với Nhữ Nam Vương, tuy khác họ mà anh như ruột thịt. Bởi trong cơn say, ta đã làm hại Nhữ Nam Vương, lúc tỉnh rượu ăn năn không kịp. Nay thấy ngự điệt hình dung như tạc, thì mủi lòng, vậy trẫm cho ngự diệt giữ chức Nhữ Nam Vương để đền đáp lúc ngự đệ bị thác oan, cho rõ sự lỗi lầm của trẫm.
Vua Thái Tổ nhắc đến chuyện cũ làm Trịnh Ấn khóc ròng, rồi kể lể:
- Ba năm trước cháu bị gió thổi bay mất, được sư phụ là Trần Đoàn đem về nuôi dưỡng, rèn luyện võ nghệ. Nay sư phụ sai xuống Thọ Châu cứu giá nhưng sức tôi đánh với Dư Hồng sao cho lại, chừng có đủ mặt năm vị âm tinh mới thắng nổi. Đó là lời thầy tôi dạy bảo.
Vua Thái Tổ mừng rỡ nói:
- Cách ba đêm trước trẫm có cầu trời khẩn phật xin có người tài phép đến Thọ Châu giải vây. Trẫm có hứa khi dẹp giặc xong rồi sẽ về nước giảm thuế, tha tù mà chuộc tôi. Nay có ngự diệt vâng lệnh tiên ông xuống đây thì trẫm hết lo sợ.
Trịnh Ấn tâu:
- Thầy tôi có nói Dư Hồng là con chim hồng nhạn, tu cả ngàn năm, học trò của Xích Mi lão tổ, phép tắc thần thông không ai đánh lại. Tôi đến đây là bảo hộ thành Thọ Châu cho an lòng bệ hạ mà thôi. Thầy tôi có nói rằng: Đợi đủ mặt năm tướng ngũ âm xuống chừng ấy mới lấy được Nam Đường, và có đưa tám câu thơ xin bệ hạ xem qua thì rõ.
Vua Thái Tổ lấy xem, thấy bài thơ như vầy:
Muốn thắng Nam Đường đặt cõi ba,
Cho năm tướng gái giúp triều ca,
Phải Lưu Kim Đính cầm mây lại,
Chờ Ngại Ngân Bình cưỡi gió qua,
Còn Út Sanh Hương bay cứu giá,
Nhành hoa Giải Nữ giỏi trừ tà,
Tiến Tiêu Dẫn Phụng về sân Thuấn
Cá nước rồng mây hiệp một nhà.

Vua Thái Tổ xem thơ xong mà không rõ ý bèn trao cho Miêu Quân sư.
Miêu Quân sư là người giỏi thiên văn, thông việc xét đoán hiểu rõ lời sấm của Trần Đoàn, biết là có năm tướng gái đến bảo giá. Đó là: Lưu Kim Đính, Ngại Ngân Bình, Út Sanh Hương, Hoa Giải Nữ, Tiêu Dẫn Phụng.
Vua Thái Tổ phán:
- Lúc gần đi chinh nam, Thái Hậu có thấy một điềm là trẫm trèo lên cây lý, sa tay rớt xuống, có năm con chim phụng bay đến đỡ trẫm. Nay Trần Đoàn tiên ông nói có năm tướng gái đến dẹp giặc, thì chính là điềm ứng mộng đó.
Trịnh Ấn tâu:
- Nay tiên ông sai ngự điệt xuống giúp, vậy xin cho ra trận một phen giải phá trùng vây để về Biện Lương mà cầu viện.
Vua Thái Tổ mừng rỡ, viết chiếu trao cho Trịnh ấn, sai phá vòng vây đi cầu cứu.
Trịnh Ấn lãnh chiếu, lạy vua lên ngựa, ra khỏi thành mới nghĩ thầm:
- Mình đến Thọ Châu chưa lập được công gì, vậy thì phá trùng vây cho biết sức.
Vua Thái Tổ và Miêu Quân sư đồng lên đứng trên mặt thành xem Trịnh Ấn ra đi thế nào, thấy Trịnh Ấn tay xách cặp roi, xông vào dinh Nam Đường, bị binh tướng chậu lại, dùng cung tên bắn như mưa. Trịnh Ấn múa cặp roi gạt hết tên, làm cho binh Nam Đường thất kinh chạy tứ tán, tránh cho Trịnh Ấn đi ra.
Trịnh Ấn thừa thắng phá hết các vòng binh, cho đến vòng thứ tư thì có đại tướng Huỳnh Phủ Huy phục binh ở đó, kêu Trịnh Ấn nói:
- Ngươi là tướng gì bên Tống, cả gan dám phá trùng vây?
Trịnh Ấn không thèm xưng tên, cứ múa cặp roi đánh tới làm cho Huỳnh Phủ Huy bị thương chạy dài. Các tướng Nam Đường xông tới bao nhiêu đều bị Trịnh Ấn đánh chạy ráo.
Phá đến vòng vây thứ bảy, Trịnh Ấn gặp một tướng cưỡi hươu xông ra đón lại. Trịnh Ấn biết là Dư Hồng liền nạt lớn:
- Yêu đạo! Người biết lòng trời đã định, hãy về núi cho mau kẻo uổng công tu luyện.
Dư Hồng cười lớn, nói:
- Như là đứa con nít, đã không biết sợ chết lại dám nói hỗn hào.
Nói rồi vung gậy đánh Trịnh Ấn hai bên giao đấu một lúc,
Dư Hồng cự không lại bèn giục hươu bỏ chạy. Trịnh ấn xách roi đuổi theo.
Vua Thái Tổ đứng trên mặt thành nhìn thấy thất kinh, kêu lớn:
- Bớ ngự diệt, đừng đuổi theo. Yêu đạo có tà phép rất nguy hiểm.
Lời Bàn
Trong cuộc sống, ai cũng có sai lầm, nhưng biết sai lầm mà sửa chữa thì không thiệt hại đến danh dự, mà còn rèn luyện được bản thân.
Vua Thái Tổ giết Trịnh ân, Trịnh ấn là con của Trịnh Ân vẫn không oán trách, mà tiếp tục phò chúa. Đó là vì vua Thái Tổ biết ăn năn hối hận, cải tạo lỗi tầm.
Trong cuộc sống con người, nhiều kẻ vì tự ái, tự phụ mà dẫu có lỗi lầm cũng viện lý để che đậy, không tự sửa chữa, đó là một tai hại rất nguy hiểm cho bản thân không được sửa chữa, rồi tiếp tục phạm những lỗi lầm khác.
Không ai khen những kẻ tự cao, tự phụ, tìm cách che đậy những lỗi lầm của mình, mà nhiều kẻ hiểu đời lại ngợi khen những người biết lỗi lầm để sửa chữa.

0
Hồi Thứ Sáu

Phá trùng vây, Trịnh Ấn viện binh
Gặp tướng tài, Dư Hồng độn thổ

Dư Hồng thấy Trịnh Ấn đuổi theo, bèn lấy chiêng lạc hồn gióng lên. Vua Thái Tổ càng thêm hết hoảng, té ra coi lại Trịnh Ấn vẫn như thường.
Trịnh Ấn lướt tới đập xuống một roi, chiêng lạc hồn gần bể.
Dư Hồng thất kinh, xách chiêng chạy dài, không rõ vì cớ gì mà phép hết linh, liền rút cây đạo trảm thần phóng lên, hào quang sáng rực, Trịnh Ấn trông thấy cũng hoảng kinh, chẳng ngờ hào quang trên chiếc mão chiếu lên, làm cho đao phép sa xuống đất.
Dư Hồng tức mình thấy hào quang trên mão của Trịnh Ấn chiếu ra biết trên mão Trịnh Ấn có bửu bối, liền hốt đậu trong túi vải lên, đọc thần chú hóa ra vài ngàn binh mã bao vây Trịnh ấn.
Trịnh Ấn nhờ mặc giáp tiên nên binh quỷ không dám đến gần. Trịnh Ấn múa roi đánh binh tướng té lăn, hóa ra toàn là đậu đen, đậu đỏ.
Dư Hồng ngả lòng muốn trở về e vua Nam Đường cười chê, nhưng muốn đánh nữa lại sợ không thắng nổi, ngẫm nghĩ một lúc không ra kế.
Trịnh Ấn nhớ lời thầy dặn, biết mình không phải là đối thủ với Dư Hồng nên tính ra tay trước, liền lấy trái chùy ném vào Dư Hồng.
Dư Hồng tránh không khỏi trúng vào chân mày, đau nhức quá sức, gần té xuống hươu, Trịnh Ấn lại quăng bồi một trái chùy nữa, Dư Hồng bên độn thổ về trại, còn hươu bị chùy ngã xuống đất chết tươi.
Trịnh Ấn thấy Dư Hồng độn thổ, tiền múa roi trở lại lên yên giục ngựa trở về nước viện binh. Còn vua Thái Tổ và Miêu Quân Sư thấy rõ mừng rỡ vô cùng, biết Trịnh Ấn thế nào cũng viện được binh tướng đến giải cứu.
Trịnh Ấn đi hơn mấy ngày mới tới ải Giới Bài, thấy một vị tướng đi có quân hầu rất đông, trên cờ đề chữ Phan, coi lạ là cờ nguyên soái.
Trịnh Ấn nghĩ thầm:
- Người này bất quá là một đại tướng mà thôi, lẽ thì phải xuống ngựa chào mình, sao dám làm kiêu, ngồi trên lưng ngựa.
Vị tướng này là Phan Nhơn Mỹ thấy Trịnh Ấn tuy nhỏ tuổi mà mặc sắc phục nhà vua, nhìn ra là Trịnh ấn, nên Nhơn Mỹ xuống ngựa hỏi chào :
- Người ngồi trên ngựa đó có phải là con Nhữ Nam Vương không? Vì tôi không biết nên thất lễ.
Trịnh Ấn thấy Phan Nhơn Mỹ giữ lễ, cũng xuống ngựa chào hỏi, và nói:
- Chú có phải là Phan tướng quân không? Cháu thiệt Trịnh ấn, năm trước bị gió thổi bay lên núi, học võ nghệ tinh thông, nay vâng lệnh tiên ông xuống Thọ Châu cứu giá. Nhờ ơn thiên tử cho thế chức Nhữ Nam Vương, nay phá được trùng vây về viện binh ứng tiếp.
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Như vậy ngài lên ngựa trước tôi nối gót theo sau.
Hai người dắt nhau vào ải Giới Bài, cùng nhau trà nước.
Trịnh Ấn hỏi:
- Chú có rõ bệ hạ và các quan đang bị vây tại Thọ Châu không?
Phan Nhơn Mỹ nói:
- Tôi có nghe, nhưng ngặt không chiếu chỉ, lại phải trấn ải địa đầu nên không dám tự tiện mà bỏ đi. Song bệ hạ và các tướng bị vây đã lâu nên nay tôi định đánh liều dẫn binh đi cứu giá, may gặp ngài về đây, vậy thì tôi khỏi đi.
Trịnh Ấn nói:
- Tôi đến Biện Lương nhờ giám quốc sai năm nữ tướng ra giải vây cứu chúa, vậy chú giữ ải này cho nghiêm ngặt, đợi binh trào kéo đến sẽ hiệp nhau phá Nam Đường.
Phan Nhơn Mỹ tuân lệnh, Trịnh Ấn từ giã ra đi không đầy mấy bữa đã đến Biện Lương.
Trịnh Ấn tính nết cũng lỗ mãng như cha, vừa bước vào cửa đã kêu mẹ và đi thẳng vào nhà. Có mấy tên lính mới chưa từng thấy mặt, đón Trịnh Ấn lại nạt lớn:
- Thằng nhỏ này từ đâu đến mà dám đi thẳng vào cung vua?
Bọn lính xô Trịnh Ấn ra, may có tên lính già nhận rõ là con Nhữ Nam Vương, vội chào hỏi rồi dắt Trịnh Ấn vào cung.
Mẹ con mừng rỡ, Trịnh Ấn quỳ lạy kể lại mọi chuyện. Đào Tam Xuân nói:
- Có phải vua đòi mẹ đem quân cứu giá không? Dù vua không nói rõ, bổn phận làm tôi phải xông vào cứu nguy. Chỉ có một điều là cha con công lao rất lớn mà bị chết oan, ấy là vua vô tình bạc nghĩa, lúc hoạn nạn cùng lo, lúc giàu sang không cùng hưởng. Tuy nay có chiếu mặc lòng, song lòng mẹ không thấy vui.
Nay mẫu tử đoàn viên, mẹ xin hưu trí cho thông thả, dẫn nhau về xứ cũ mà vui vầy, làm ruộng chăn tằm, thức khuya dậy sớm, miễn mẹ con ta sum họp là hơn, lựa phải tước lộc quan quyền báu quí.
Trịnh Ấn thấy mẹ giận, khó nổi can gián nên lặng im.
Đào Tam Xuân mừng con, thức đến canh ba chưa ngủ bỗng mơ màng thấy một ông thần mặc giáp vàng, đội mão vua, hình tựa diêm vương. Đào Tam Xuân thất kinh cúi lạy, nhìn lên thì quả thấy người ấy là chồng mình, nên kêu lớn:
- Bấy lâu Đại Vương đi đâu, bỏ thiếp một mình.
Nhữ Nam Vương cúi xuống đỡ vợ, khuyên giải nhiều lời:
- Khi trước là chồng vợ, tình nghĩa với nhau, nay đã biệt ly, âm dương cách trở, tuy dứt niềm ái ân mà không quên nghĩa tào khang. Phu nhân số mạng còn dài, đợi chừng nào tới tuổi, ta sẽ rước lại cảnh tiên. Trước khi ta bị thác oan là bởi khi vua nên trời giảm thọ tuổi, ấy là số định, phu nhân chớ đem lòng oán chúa. Nay chúa bị vây tại Thọ Châu, có đốt sớ cầu trời giải cứu, phu nhân chớ chấp trách mà lỗi đạo quân thần, ta về để mách bảo là muốn cho phu nhân đem binh ta cứu giá, nghe theo lời Trịnh Ấn cho trọn nghĩa trọn trung.
Đào Tam Xuân nghe mấy lời khuyên không còn hờn trách nữa, giật mình thức dậy mới biết là chiêm bao.
Sáng hôm sau Trịnh Ấn vào hầu. Đào Tam Xuân rơi lệ than:
- Con ơi ! Số trời đã định, hồn trung nay đã được thành thần, vậy chẳng nên oán vua mà lỗi niềm thần tử, vậy ta kịp đến đơn trì dâng chiếu lãnh binh ra Thọ Châu cứu giá.
Trịnh Ấn nghe mẹ nói mừng rỡ, theo mẹ vào chầu.
Giám quốc là Tân Vương Triệu Quang Nghĩa thấy Đào Tam Xuân trình sớ, mới hay là Thái Tổ bị vây tại Thọ Châu nên than rằng:
- Vương huynh ngự giá thân chinh làm chi cho đến nỗi bị vây, khó biết việc hung kiết.
Nói rồi cho đòi năm nữ tướng vào nghe chiếu.
Năm nữ tướng vâng lệnh lo đem binh đi cứu giá, duy chỉ có một mình Triệu Hoàng Cô nói:
- Cao Hoài Đức tại sao lại phản, phải hỏi cho rõ ngọn ngành.
Trịnh Ấn quì thưa:
- Tôi có nghe rõ là Cao Nguyên soái bị Dư Hồng bắt, sau đầu giặc mà đánh vua.
Triệu Mỹ Dung sợ hãi vào lạy anh mà chịu tội. Triệu Quang Nghĩa nói:
- Cao nguyên soái lòng trung trọng nghĩa, trong thiên hạ đều hay, ngự muội chớ phiền, chắc có sự gì mờ ám. Hoàng Cô than thở, rồi từ tạ về dinh.
Lời Bàn.
Tình vợ chồng, cha mẹ thiêng liêng, nếu phải đem trách nhiệm vua tôi mà cân nhắc, thì không xoá hết nỗi đau lòng.
Triệu Khuông Dẫn chém Trịnh ân, dù đã hối hận, thì việc hối hận chỉ là việc sửa chữa lỗi lầm đối với Triệu Khuông Dẫn, còn Đào Tam Xuân, và Trịnh Ấn là tình nghĩa vợ chồng, con cái, tình cảm thiêng liêng ông thể nào nguôi được. Vì chuyện đã lỡ rồi nên Đào Tam Xuân và Trịnh Ấn phải buộc lòng xóa những nỗi đau buồn để làm nhiệm vụ phò vua cứu nước. Hoàn cảnh như vậy chúng tôi không thể trách Đào Tam Xuân và Trịnh Ấn không lưu hận trong lòng. Ở đây, tác giả viết câu chuyện đã đặt tình cảm cá nhân và nhiệm vụ đất nước để diễn tả lòng đại nghĩa của mẹ con Đào Tam Xuân. Thật là một hoàn cảnh đáng thương.

0
Hồi Thứ Bảy

Cao Quân Bảo trốn mẹ đến Thọ Châu
Đào Tam Xuân cử binh đi cứu giá


Triệu Hoàng Cô về đến dinh buồn bã . Thế tử Cao Quân Bảo thấy vậy hỏi:
- Chẳng hay mẹ vào chầu có nghe việc chi mà mặt mày buồn bực như vậy ?
Triệu Hoàng Cô nghe con hỏi, sụt sùi nói:
- Chắc con chưa hay sự cố. Cha con làm nguyên soái bị yêu đạo bắt đã sợ chết mà hàng Đường, lại đem binh về đánh chúa, có phải làm xấu cả họ Cao không? Mẹ không rầu sao được.
Cao Quân Bảo nghe nói thất sắc, bèn hỏi:
- Mẹ ơi. Chẳng hay ai về thuật chuyện này.
Triệu Hoàng Cô nói:
- Trịnh Ấn về thuật lại, mà trong chiếu cũng nói xa gần, không phải đồn đãi đâu mà bán tính bán nghi.
Cao Quân Bảo ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói:
- Cha con trung nghĩa trên đời, mẹ cũng từng biết, lẽ nào sợ chết mà đầu Nam Đường? Có lẽ cha con gặp biến mà phải tùng quyền, xin mẹ đừng phiền. Nay có chiếu viện binh, con xin đến Thọ Châu cứu giá, một là đền nợ nước, hai là biết rõ tin cha.
Triệu hoàng Cô nói:
- Các tướng đều bị địch bắt, con còn nhỏ chưa từng việc chiến chinh, có đi cũng vô ích. Cực chẳng đã mẹ phải đi vì có chiếu triệu của vua. Như con có nhớ thì gởi thơ thăm mẹ cũng được, hãy cố gắng tập luyện nghiệp võ nghề văn, chẳng nên ham chơi mà quên lời dặn.
Cao Quân Bảo nhiều lần năn nỉ mà Triệu Hoàng Cô vẫn nhất mực không cho, túng thế phải vào thư phòng thuật lại cho em là Cao Quân Bội nghe.
Cao Quân Bội nói:
- Vương bá Mẫu đã chẳng cho anh theo, còn tin chiến trận mập mờ làm sao an lòng được. Lúc này là lúc nên lập công, anh thừa dịp lén trốn đi, còn phần em ở nán chờ cơ hội. Em tính như vậy ý anh nghĩ sao?
Cao Quân Bảo nói:
- Lời nói rất hợp ý ta. Vậy em đừng tiết lộ với ai.
Hôm sau, Cao Quân Bảo nai nịt hẳn hòi, giả đò đi săn bắn.
Triệu Hoàng Cô thấy vắng mặt hỏi bọn gia nhân, nhưng không ai biết cả.
Triệu Hoàng Cô nghĩ thầm:
- Không xong rồi? Nó đã nghênh ngang, không nghe lời dạy, thế nào cũng bị giặc bắt mà thôi.
Lý phu nhân khuyên giải:
- Cháu gần hai mươi tuổi, võ nghệ tinh thông, nhưng đơn thân độc mã chẳng khác nào xông vào cá chậu chim lồng. Nay nó đến Thọ Châu thế nào cũng đi qua ải Đồng Quan chắc là mượn binh đi cứu giá. Xin chị sai người theo ngã đó mà bắt về.
Triệu Hoàng Cô nói:
- Nó ra đi ba bốn bữa rày, dù cho người theo cũng không kịp.
Lý phu nhân nói:
- Dẫu theo không kịp cũng hỏi thăm cho biết tin tức.
Triệu Hoàng Cô nói:
- Sẽ sai người đi theo.
Lý phu nhân hỏi Cao Quân Bội:
- Mày có bày tính gì với anh mày không?
Cao Quân Bội nói:
- Anh tôi nay đã trốn rồi, tôi ở nhà một mình buồn bực, xin cho theo dò la tin tức.
Triệu Hoàng Cô nói:
- Con nhà tướng ít chịu ngồi không, nếu chẳng cho nó đi, chắc nó cũng trốn, thà đem theo thì khỏi lo.
Lý phu nhân vâng lời, Cao Quân Bội vô cùng mừng rỡ. Hôm sau, Triệu Hoàng Cô và Lý phu nhân tựu đến võ trường thì gặp La thị, Dư thị, Nhị vị phu nhân, cùng nhau mừng rỡ đồng vào ra mắt Đào Tam Xuân là nguyên soái lãnh binh cứu giá. Triệu Hoàng Cô đi tiên phong, Lý phu nhân làm tham quân, La phu nhân đi tả chi, Dư phu nhân đi hửu giựt.
Triều đình văn võ bá quan đưa tiễn. Đào Tam Xuân truyền nổi ba tiếng pháo, kéo mười vạn binh lên đường. Các nữ tướng đều kéo đi rầm rộ, qua khỏi sông Hoàng Hà, đến Ngôi Dương, khi lên bộ, lúc xuống thuyền rất cực nhọc.
Lúc này Cao Quân Bảo tuy đã trốn đi, nhưng không dám noi theo đường lớn, sợ mẹ sai người theo bắt, nên cứ tuôn bụi băng rừng, miễn đi cho khỏi. Đường sá gập ghềnh, một thân trơ trọi, đói thì ăn, khát thì uống, ngựa không ngừng vó, mệt mỏi vô cùng.
Ngày kia, Quân Bảo đến một xóm làng, gặp cơn mưa, xin vào trú ngụ. Khi đến cửa gặp một ông già, hỏi:
- Chú bé này đi đâu đó?
Cao Quân Bảo nói:
- Tôi lỡ đường rủi bị mắc mưa, xin vào trú ngụ một đêm.
Ông già ấy là Lưu An trả lời rằng:
- Xin quí khách ngủ nhờ chỗ khác, vì xóm này hôm kia bị ăn cướp, nên chúng tôi cấm người lạ mặt.
Nói xong, ông già ấy đóng cửa đi mất.
Cao Quân Bảo nghĩ thầm:
- Nếu chẳng vô đây thì không chỗ trú.
Cao Quân Bảo cứ năn nỉ mãi, bọn gia nhân giả cách không nghe, làm cho Cao Quân Bảo tức  hét lớn:
- Đồ chó má? Ta là khách lỡ đường, xin cho vào nghỉ đỡ, nếu không bằng lòng cũng bước ra nói dứt một lời, lẽ đâu lại không biết phải, giả điếc làm lơ. Để ta phá cửa xem thử thế nào.
Bọn gia đinh nghe nói cười với nhau:
- Người đó bộ điên khùng, hình như một kẻ đi săn chớ không phải bọn lâu la, tướng cướp, phá cửa sao nổi.
Cao Quân Bảo nổi giận, hét một tiếng, xô hai cánh cửa gãy đôi. Bọn gia đinh thất kinh, than:
- Tướng học trò mà giò ăn cướp! Nếu gặp tay chánh đảng chắc chết hết cả xóm.
Tức thì chúng vào báo với tiểu thơ. Cao Quân Bảo thấy chúng rùng rùng chạy hết, biết sẽ có chủ nhà ra làm dữ, nên tạm ngồi ghế ngoài, coi chủ nhà ra sao. Cao Quân Bảo vẫn biết mình phá cửa là tội lỗi, song nghĩ mình là con cháu nhà vua, năn nỉ người ta cũng kỳ.
Giữa lúc đó có tiếng nói:
- Ông ra đó.
Cao Quân Bảo thấy một ông già phất phơ tóc bạc, mặc áo rộng đen, mắt sáng tỏ sao, nhắm tuổi chưa cao, cầm quạt lông quá lớn.
Ông chủ xông ra trước, nhìn thấy Cao Quân Bảo là chàng trai lịch sự, tướng mạo khỏe mạnh, tuổi chừng hai mươi, trong tay có cầm thương, ngựa buộc trước cửa, khôi giáp đoan trang, làm cho ông chủ biết đây là con nhà tướng, hèn đổi giận làm vui.
Còn Cao Quân Bảo thấy ông già thái độ hoà nhã, thì hổ mình tính nết ngang tàng, nên làm ra vẻ cung kính.
Ông chủ nhà điềm đạm hỏi:
- Lúc nãy bọn gia đinh nó không hiểu nên đã vô lễ với quí khách. Chỉ vì hôm kia có bọn ăn cướp vào xóm nên tôi mới cấm người lạ mặt ngủ nhờ, e chúng làm nội công ngoại kích. Nay gặp khách quí mà tôi không biết để tiếp nghênh, thật có lỗi.
Cao Quân Bảo nghe chủ nhà nói có lễ nghi, thì cám cảnh vô cùng, ăn năn vì mình là con nhà tướng mà hung hăng vô lễ, nên vội bước xuống ghế, bái ba bái, nói:
- Tôi còn nhỏ tuổi, tánh hay thô lỗ, lỡ làm hư cánh cửa, có tội rất nhiều, bởi trời mưa ướt quần áo, túng phải vô nhà mà núp, vậy tôi xin đền tiền mà chuộc lỗi mình. Tôi tạm ngoài hiên, đợi rạng ngày sẽ dời gót, song tôi chưa rõ lão trượng tên họ là chi.
Ông chủ nhà nói:
- Cánh cửa đáng giá là bao nhiêu mà nói việc bồi thường. Tôi họ Lưu tên Nãi, buồn đời nên ở ẩn nơi đây. Chẳng hay công tử quý danh là chi, xin cho tôi rõ.
Cao Quân Bảo không muốn nói thật, nên né tránh:
- Tôi họ Cao tên Bội, làm chức chỉ huy, vâng lệnh thiên tử đi Thúc Lương, tình cờ ghé lại đây, may gặp ông thương tưởng.
Lưu Nãi nghe nói, mừng rỡ, hỏi:
- Như vậy ngài là một vị tướng quân, để ngồi ngoài hiên sao phải, xin mời vào nhà khách dùng dưa muối với tôi.
Nói rồi dắt tay Cao Quân Bảo vào nhà trước. Cao Quân Bảo dựng cây giáo vào dựa cửa. Lưu Nãi truyền gia đinh dắt ngựa vào chuồng, dặn dò cho ăn tử tế. Một già một trẻ dùng rượu cúc trà thung nói chuyện rất vui tai, hiệp ý.
Bọn gia đinh dọn tiệc, chén ngọc que vàng bưng ra, trân châu hải vị ê hề, thật là một bữa tiệc thịnh soạn.
Tánh Quân Bảo còn con nít rượu vào sao khỏi lời ra, khi bọn gia đinh đã tản đi hết, với nói Lưu Nãi rằng:
- Tôi thấy ông tử tế, nên nói thiệt cho ông biết. Tên tôi là Cao Quân Bảo, con trai Đông Bình Vương, cha tôi đánh bắc dẹp nam, dựng nên cơ nghiệp nhà Tống.
Rượu càng hứng càng nói nhiều, chẳng ngờ Lưu Nãi là em họ Lưu Sùng ở nước Bắc Hớn. Lưu Nãi làm chức trấn quốc tướng quân, khi trước cần quân đánh tống, bị Cao Hoài Đức đánh thua một trận, còn vua Bắc Hớn ham mê tửu sắc, không ai can gián được nên Lưu Nãi bỏ về ẩn trú nơi đây.
Khi nghe Cao Quân Bảo khoe tài Cao Hoài Đức anh hùng, thì nghĩ đến vua anh, động lòng rơi lệ.
Cao Quân Bảo đang trò chuyện vui vẻ, bỗng thấy Lưu Nãi lau nước mắt, thì thất kinh đứng dậy hỏi:
Tôi thuật lại chuyện người trên của tôi, cớ gì mà ông lại khóc?
Lưu Nãi nói:
- Không can gì hết, chỉ vì tôi có việc sầu tư.
Cao Quân Bảo biết mình nói lỡ lời, không biết làm sao, hèn bước xuống ghế chấp tay chịu tội.
Lưu Nãi đỡ dậy, nói:
- Ấy là việc cũ, cũng chẳng can chi. Trước đây hai mươi năm hai nước tranh đua, ai thờ chúa nấy, vì số trời đã định. Vả lại, vua Bắc Hớn đam mê tửu sắc, không nghe lời can gián, nên tôi trả chức mà ẩn mình cho khỏi tai họa. Tôi muốn gởi một lời cho thái tử, nếu thái tử không chấp thì tôi mới dám nói.
Cao Quân Bảo hỏi:
- Ông là người trên trước, từng trải việc đời, nay đem lòng thương mến mà dạy bảo, thì tôi hết sức cám ơn, xin lắng tai nghe dạy.
Lưu Nãi nói:
- Kẻ trượng phu coi mòi mà lui trước, người quân tử sợ họa phải dè chừng. Xin thế tử từ nay nếu bèo nước gặp nhau, xin đừng tỏ thiệt cùng kẻ mới quen, e họ trở mặt hại mình phải lụy.
Cao Quân Bảo vâng dạ, nói:
- Ông đã ban lời vàng ngọc, tôi xin tạc dạ ghi xương, vâng lời dạy bảo trọn đời, không phải cám ơn một lúc.
Hai người ngồi ăn uống cho đến lúc trống đổ canh ba, Lưu Nãi bảo người tâm phúc là Lưu An trải chiếu hoa cho thế tử am giấc điệp, Lưu Nãi say quá, vừa vào phòng đã nằm ngủ mê man.
Còn Cao Quân Bảo bước vào phòng khách, ngồi với ngọn đèn chong, vì có việc sầu riêng nên không ngủ được chỉ mong đến Thọ Châu để cứu giá.
Bấy giờ Lưu Kim Đính tiểu thơ là con Lưu Nãi mồ côi mẹ từ thuở bé, mộ đạo thần tiên. Lúc mười ba tuổi đã luyện binh thơ nổi tài kiếm cung, được Lưu Nãi dắt lên núi Lê Sơn cho học phép tiên với Thánh Mẫu, kết làm chị em với bốn nàng con gái xinh đẹp là Tiêu Dẫn Phụng, Út Sanh Hương, Ngại Ngân Bình, Hoa Giải Nữ. Trời sanh năm ả này phòng sau thâu cơ nghiệp nhà Đường, dựng giang sơn nhà Tống. Bà Lê Sơn Thánh Mẫu thương Lưu Kim Đính hơn bốn nàng kia, nên truyền phép cho năm vì sao để sau giúp Tống, mà Lưu Kim Đính được Lê Sơn Thánh Mẫu truyền dạy nhiều hơn cả, nào là giá võ đằng vân, nào là di sơn đảo hải, nào là hô phong hoán võ, sái đậu thành binh, với các phép thần thông rất nhuần nhã. Bà đã nói cho Lưu Kim Đính biết trước rằng:
- Ngày sau con có số kết duyên cùng tướng Tống, dòng dõi nhà vua.
Bấy giờ Lê Sơn Thánh Mẫu tiếp được chiếu trời truyền Thánh Mẫu phải cho năm vì sao xuống núi giúp Tống.
Bởi vậy bà cho năm nàng đâu về đó. Lưu Kiến Đính về nhà được ít tháng, thì Cao Quân Bảo đến nơi phá cửa.
Lúc Cao Quân Bảo làm dữ, thì con đòi có vào báo với tiểu thư nhưng Kim Đính ngờ là tướng cướp nên nai nịt ra, kế nghe gia đinh nói không phải là tướng cướp, nên tiểu thơ hỏi lại:
- Vậy người đó là ai mà hung dữ như vậy?
Bọn gia đinh thưa:
- Người đó là một quan chức bên Tống, ông nhà đã rước vào phòng khách đãi đằng.
Sau đó, Lưu An nói:
- Người ấy là con Đông Bình Vương, tên là Cao Quân Bảo.
Lưu Kim Đính nghe nói nhớ lại lời thầy, lén ra sau bức bình phong xem thử người thế nào mà hung dữ như vậy? Chẳng ngờ vừa nhìn qua thấy chàng mặt sáng như ngọc, môi đỏ như son, miệng nói rất có duyên, lời lời kinh sử, thật thông thái nghề văn, am tường nghiệp võ.
Lưu tiểu thơ thấy mặt, biết rõ duyên trời bèn van vái cho cha mẹ xét định phải chỗ trao thân. Song nghĩ lại, người ta là lá ngọc cành vàng, việc lứa đôi ở tại mẹ cha, không mai mối khó gầy duyên loan phụng.
Lúc này Cao Quân Bảo ngại nói lỡ lời, sợ e mắc họa nên không dám ngủ, Lưu An vào thấy Cao Quân Bảo còn ngồi, nên hỏi:
- Sao thế tử không nghỉ ngơi mai đi cho khỏe?
Cao Quân Bảo nói:
- Tôi vì lạ nhà không ngủ được, trong lòng lại có việc riêng nên giấc ngủ không yên.
Quân Bảo lại ngồi nói chuyện với Lưu An để chờ trời sáng.
Khi hỏi đến việc nhà ông chủ đặng có mấy người con thì Lưu An đáp:
- Ông chủ tôi góa vợ, mải lo việc nước việc binh, chỉ sánh hạ một vị tiểu thơ, nay mới mười lăm tuổi mà võ nghệ rất cao cường.
Cao Quân Bảo nói:
- Chẳng hay nghề võ tiểu thơ để dùng vào việc gì?
Lưu An đáp:
- Tôi nói thật tình, tiểu thơ tôi không phải tầm thường đâu! Chẳng những thông thạo về văn võ mà nhan sắc thì cá lặn chim sa. Nếu ra giúp nước thì ít ai bì kịp, trên đời có một, e không kẻ nào sánh kịp.
Cao quân Bảo chúm chím cười và nói:
- Từ xưa đến nay thì con gái cầm kỳ thi họa, nếu biết võ nghệ cũng chỉ sơ sài, còn luận về cầm đao ra trận, khiển tướng điều binh, phò vua dẹp giặc thì có mấy ai được nổi tiếng. Vả lại tiểu thơ dù tài giỏi đến đâu, không gần thầy giỏi bạn hay, hiu quạnh một mình thì làm sao nổi tiếng được. Tôi đây chẳng phải là một tướng nhác, sợ sệt những lời nói ngoa, xin đừng quá khoe khoang.
Cao Quân Bảo đã không tin, lại kiêu ngạo nữa, nên mới nói như vậy
Lời bàn.
Tình yêu là lẽ sống con người là bản chất thiên nhiên, dù trong tham vọng tranh đoạt chém giết lẫn nhau, tình yêu vẫn luôn luôn chớm nở trong lòng người.
Quan niệm Đông Phương, mọi việc đều do trời định, từ cuộc chiến tranh trên việc hôn nhân lứa đôi. Con người sống do quy luật thiên nhiên và hứng chịu những hậu quả của hành động con người. Lưu Kim Đính, một gái sắc nước hương trời, tài năng lỗi lạc, nhưng lại mong ước được kết hôn với trai hào kiệt, thì đó cũng là lẽ tự nhiên, nhưng ở đây tác giả lại quy cho lương duyên trời định. Lẽ trời là quy luật của mọi sinh vật, nhưng lẽ trời cũng phải cấu tạo trên bản năng của con người, không thể định đoạt một cách nhất thiết.
Trong quang cảnh chém giết, tranh đoạt uy quyền, thế lực vẫn nảy sinh tình yêu, đó là lẽ sống, là quy luật bảo tồn lẽ sống vậy.

0
Hồi Thứ Tám

Kim Đính treo bài khích tướng
Quân Bảo đập bảng chiêu phu.


Lưu An thấy thế tử không tin, bèn cười rằng:
- Phải chi thế tử tới trước đây vài ngày, mới thấy tài tiểu thơ thứ nhất.
Cao Quân Bảo hỏi:
- Như tới sớm thì thấy tài chi?
Lưu An nói:
- Bởi vì cõi bờ loạn ly, thiên hạ chia phôi, những trai võ nghệ quen cầm giáo múa đao, cậy mình là anh hùng, coi người như thảo giới. Họ chụm ba chụm bảy đi phá xóm làng, sáng ẩn núi rừng, tối ra thành thị. Canh ba, hôm kia, có năm trăm ăn cướp tên nào cũng thương búa, to nách lớn lưng, mắt sáng như sao, tiếng vang dường sấm, kéo tới dộng cửa. Tiểu thơ bèn lên ngựa cầm đao đánh một hồi như Triệu Tử trận Đương Dương, được mấy khắc chẳng khác Mã Siêu dạ chiến. Tiểu thơ đánh lũ ăn cướp tan tàn như hoa rơi lá rụng, đứa thì quì lạy xin tha, đứa thì gãy chân nằm vạ. Chủ tôi không nỡ giết, khuyên chúng nó ăn năn, vì người sẵn lòng nhơn tha hết như Thành Thang mở lưới. Phải khi ấy có thế tử, làm sao cũng ngợi khen, để hồi hôm mới vô, bọn gia tướng hồ nghi là chánh đảng !
Cao Quân Bảo nghe thuật chuyện lấy làm lạ, bèn nói lớn:
- Thiệt là con gái anh hùng đó! Chắc là trời có sanh trai cọp sánh duyên mới xứng gái rồng, lẽ nào hạc lộn bày gà, châu xen mắt cá ? Vậy tiểu thơ đã có người dâng ngọc hay còn kén khách giao cầu? Hoặc là tu chín kiếp chưa thành, nên mới đặng ba sanh chẳng rủi đó!
Lưu An cười nói:
- Thế tử chớ hỏi thăm việc ấy, tôi nói ra nhắm ngài cũng không tin, dầu chẳng nghi nan cũng là biếm nhẽ.
Cao Quân Bảo nói:
- Nếu không duyên đằm thắm, lẽ nào tôi dám cười chê?
Lưu An nói:
- Xưa nay việc gả cưới tự nên cha mẹ, ấy là thiên hạ thường lệ. Chủ tôi còn đang kén rể đông sàng, xứng hương trời sắc nước. Cũng có nhiều chỗ cầu hôn, song còn chờ kẻ bắn binh tước mới đành. Còn tiểu thơ lại cầm duyên, chê kẻ nọ bất tài, chê người kia liệt nhược, nên có xin cha cho phép treo bảng chiêu phu. Chẳng luận hèn sang, ai đánh lại tiểu thơ, thì ông tôi bắt rể? Từ treo bảng tại non Song Tỏa, bốn phương hào kiệt đồng hay, anh hùng các xứ tới hoài, cậu nào cũng khoe tài võ nghệ. Mà tráng sĩ mọi nơi thua mãi, thảy đều sút miếng nữ lưu. Khi xưng tên thì gương mặt tươi như chong, lúc đấu lực thì mồ hôi nhỏ giọt, miễn đặng còn hồn, hết mong việc nọ, cho nên bảng chiêu phu ít kẻ dám nhìn, núi Song Tỏa không ai tìm đến! Sài Thiệu chưa ra mặt, Lý thị buồn cũng phải chờ duyên. Đinh San chẳng trổ tài, Lê Huê tức đã thành ở góa!
Cao Quân Bảo nghe nói khích, tức thí nổi nóng ngứa nghề, bèn nói lớn:
- Nếu trong đời có tướng gái hơn người, tôi xin học đường roi kẻo uổng. Vậy ngày mai tôi xin tỉ thí, kẻo hổ mặt anh hùng, song lại thắng tiểu thơ thì bị ông bắt rể, bày đặt cho rồi cuộc hoa chúc, thì trễ việc giải cuộc vây có phải làm mất thảo với cha, không ngay cùng chúa không?
Quân Bảo còn nghĩ việc xa gần, cân điều nặng nhẹ, xảy ra gà gáy sáng, trống đã tan canh, vừa tạnh hột mưa, bóng hồng ló rạng. Cao Quân Bảo nóng lòng trung hiếu, cần việc chiến chinh, phần Lưu Nãi ngủ trưa, nếu đợi dậy giã từ thì e trễ việc, mới nói với Lưu An rằng:
- Đáng lẽ đợi ông thức dậy, từ tạ mà đi, ngặt việc gấp quá chừng, nên chờ không đặng. Xin quản gia làm ơn nói lại, tôi cảm tình hậu đãi đến thác không quên, đợi thắng trận về trào, sẽ tính đến tạ ơn đáp nghĩa.
Lưu An cố ý mời mọc nhiều phen mà Cao Quân Bảo kiếu hoài không chịu ở nán lại. Lưu An túng thế phải đem ngựa cho Cao Quân Bảo. Cao Quân Bảo cầm giáo lên yên từ giã vài lần rồi giục ngựa ra khỏi ngõ. Lưu An thế chủ đưa một đoạn đường, thấy Cao Quân Bảo đi ngay không quẹo qua núi Song Tỏa thì
Lưu An kêu lớn nói:
- Thế tử đi lạc đường rồi đó ?
Cao Quân Bảo dừng ngựa ngó lại nói:
- Cám ơn quản gia, chẳng hay ngã nào đi xuống Nam Đường?
Lưu An chỉ qua lộ bên tả, đặng đi ngang Song Tỏa sơn, là chỗ Kim Đính treo bảng chiêu phu. Ấy là mưu Kim Đính rập với Lưu An đặt lờ đuổi cá.
Cao Quân Bảo nghe nhắc, hèn nóng họng ngứa nghề, quay ngựa qua Song Tỏa sơn, sẵn dịp thuận đường, coi bảng chiêu phu luôn thể.
Xảy thấy trên núi tre cao tàn rậm, vượn hú chim kêu, dưới thì đồng trống mênh mông, lộ ngay thẳng tắp, dựa núi có treo tấm bảng cao chừng hai thước bề dài, một thước bề rộng. Trên bảng có đề hai bài tứ tuyệt như sau:
Bài thứ nhất:
Gái rồng thường bữa múa đao thương
Chưa gặp trai hùng sức dám đương,
Huề đặng cũng đàng theo sửa tráp,
Liệu thua làm rể, chớ phô trương !

Bài thứ hai:
Tài hay sẽ đến đấu đao thương
Sức yếu đừng mơ tới chiến trường,
E sĩ sa cơ mà uổng mạng.
Thuốc hàn không có, khó liền xương.

Cao Quân Bảo thấy lời nói xấc xược nên đỏ mặt phừng phừng, liền mắng:
- Thiệt con nhỏ này phách quá ! Dầu là trai hào kiệt cũng chưa dám đăng bảng như vậy. Sức con gái bao nhiêu, mà khinh khi anh hùng quá vậy. Nếu ta để lại lời kiêu ngạo, thì mất thể trượng phu ?
Nói rồi đấm một đấm khiến tấm bảng gãy làm hai khúc.
Lưu An ngó thấy hèn la lớn rằng:
- Cha chả ! Thế tử báo hại rồi, về bữa nay chắc bị quở phạt.
Cao Quân Bảo nói:
- Tại tôi đấm gãy bảng mà chú bị quở phạt phải không?
Lưu An nói:
- Bữa nay nhằm phiên tôi gác, như có ai muốn thí võ thì về thưa lại với tiểu thơ, nay thế tử không quyết việc giao thương, mà lại làm hư tấm bảng, té ra tôi chẳng gìn giữ, không tội làm sao?
Cao Quân Bảo nói:
- Tôi thấy hai bài thơ nói phách, nổi xung đánh gãy lỡ rồi.
Quản gia có sợ bị quở, thì tôi ở đây mà đợi, chú về mời tiểu thơ ra đặng tôi khuyên giải phân minh, chú khỏi tội lỗi.
Lưu An nghe nói mừng lòng, lật đật chạy về. Ấy là trời khiến trai tài gái sắc gặp hội nhân duyên, vợ Bắc chồng Nam phải thời hào hiệp. Cái nợ tam sanh trời đã định trước, bài thơ tứ tuyệt quá lời mai ?
Lưu Kim Đính từ khi thấy Cao Quân Bảo diện mạo khôi ngô, hình dung tuấn tú, phải lòng vừa ý, mê mặt đồng tình. Nàng nghĩ tới thánh mẫu không sai, nhắm việc nhơn duyên đã xứng ngặt một điều là lòng đã quyết, tình khách khó dò. Thế thường phụng cầu hoàng, không lẽ hoa tìm bướm? Canh khuya không hề nháy mắt, sáng rạng vội vã điểm trang, tiểu thơ ngồi tủi phận hồng nhan lòng đau quặn quặn. Xảy thấy con đòi mặt mày hồ hải vào thưa:
- Quản gia Lưu An về đó, hối tôi vào thưa với cô rằng cậu ngủ nhờ hồi hôm đi ngang núi Song Tỏa đấm gãy bảng chiêu phu, cậu ấy còn chờ cô, đặng thử tài cao thấp.
Lưu Kim Đính nghe nói dường hạn gặp nước vào, liền đổi buồn làm vui. Biết Quân Bảo mắc kế mình, chắc nhân duyên tiền định song chẳng nên thố lộ, e miệng thế chê cười, nàng liền mặt giận mà nói:
- Người này quả vô tình, đã phá cửa hồi hôm, nay lại đập bảng chiêu phu bể nữa!
Nói rồi truyền bốn con đầy tớ tên là Xuân Đào, Hạ Liên, Đông Mai, Thu Cúc, bốn người này là tì nữ của Lưu tiểu thơ ca tập luyện. Bốn nàng vâng lệnh chủ nai nịt gọn gàng. Lưu Kim Đính cầm siêu, bốn tì nữ cầm song kiếm. Tớ đi chân, chủ cỡ ngựa, đồng ra núi Song Tỏa một lần.
Lưu Kim Đính ngó thấy Cao Quân Bảo dừng ngựa đợi làm bộ hỏi:
- Ông thân tôi bày bảng chiêu phu mà kén rể đông sàng việc ấy không can phạm tới công tử, sao công tử đập bảng bể đi? Thế công tử khi người quá!
Cao Quân Bảo nói:
- Xin tiểu thơ bớt giận nghe lời thẳng bày ngay, việc hôn nhơn do ở lệnh cha mẹ, tại nơi lời mai mối, không lẽ làm bia chọn rể, dựng bảng kén chồng? Thế thường trâu tìm cột chớ bao giờ cột lại tìm trâu. Vả lại tánh tôi ghét lời kiêu ngạo mà câu thơ trong bảng cậy mình có sức coi bốn biển không người. Tiểu thơ là phận khuê môn bất xuất, thêu rồng vẽ phụng, khảy nguyệt hoặc ngâm thi, là tài nghệ thục nữ, chớ như việc cầm đao lên ngựa ra trận giao thương, ấy là phận đàn ông, không phải nghề con gái. Tôi xin từ nay sắp tới, tiểu thơ phải nhớ câu tại gia tùng phụ, đừng dựng bảng chiêu phu nữa. Khi nào mẹ cha định đâu, thì con đành đó.
Lưu Kim Đính nói:
- Thấy thơ còn ngại thử sức mới tin, bởi công tử chưa bị ngọn đao của ta nên còn khinh suất!
Cao Quân Bảo nói:
- Cũng muốn vâng lời đó, song còn ngại dạ này, sợ mũi thương của ta chẳng biết vị tình mà miệng thế trách rằng bạc ngãi. Trước cám ơn ông thết đãi, sau là thương dáng đó mảnh mai, lẽ nào gái lại hơn trai, mà ve kia so chấu? Xin nàng trở ngựa, cho ta dời chân.
Lưu Kim Đính nói:
- Thiếp dựng bảng kén duyên, người người đều thua tài chạy mặt. Công tử chẳng xét mình thiếu sức, cứ quen tánh khinh người, làm oai đánh bảng lỡ rồi, kiếm chuyện nói cho khỏi đánh! Nay thiếp cũng dung người lầm lỗi, song đừng xưng đấng anh hùng, e khi gặp gái chẳng lành mà phải làm ma oan mạng! (Tiểu thơ nói khích cho công tử nổi xung)
Cao Quân Bảo nghe nói giận lắm, bèn đáp lại:
- Sao, sao tiểu thơ cũng muốn thí võ với ta à! ấy là tại nhà ngươi sanh sự, chớ trách ta chẳng vị tình!
Nói dứt lời, Cao Quân Bảo hèn đâm một giáo. Lưu Kim Đính đưa siêu ra đỡ. Hai người đánh ẩu đả một hồi, ban đầu Cao Quân Bảo thấy Lưu tiểu thơ, mặt hoa tươi trắng vóc liễu dịu dàng, ngỡ là con gái tầm thường, học võ nghệ được đôi ba miếng, giỏi đá mấy thằng ăn cướp, không lẽ nào sánh với trai anh hùng? Chẳng ngờ đánh sáu mươi hiệp có dư, gái rồng không thua trai cọp, múa siêu đao sáng giới gạt lưỡi giáo ngả ngang. Chừng ấy Cao Quân Bảo mới khen gái anh hùng, hết ỷ mình hào kiệt, hèn chi nói kiêu cũng phải, sức mạnh khá khen!
Lưu Kim Đính thấy ngọn thương của Cao Quân Bảo như rồng, tài cao khó sánh, sức mạnh không đương, nếu thầy không dạy đao vàng, thì mình khó ngăn mũi bạc. Vả lại công tử da vàng mặt ngọc, mắt phụng mày tằm, lại là cháu của vua, con dòng thao lược, người trong hàng rồng cọp, khách trên giống phụng hoàng. Nếu đánh ráng thì mệt thêm, thà giả thua làm phép đặng bắt sống cho nên duyên, bỏ đi thì uổng lắm! Nghĩ rồi Lưu tiểu thơ trá bại chạy dài, Cao công tử ỷ tài đuổi riết, và kêu lớn mà nói:
- Bớ tiểu thơ ! Chuyến này đã biết sức, khi khác chớ khoe danh!
Quân Bảo rượt tiểu thơ chạy trối chết, vừa rượt vừa nói:
- Chẳng phải tôi cậy tài đuổi cô nương một cách bức xúc, mà chỉ muốn cô nương xuống ngựa chịu thua, biết tài kẻ dũng sĩ, nếu để lòng cô nương bất phục, e sinh ra tính khinh người.
Lưu Kim Đính nhìn lại, liếc mắt cười nói:
- Nay đã thấy công tử rồi, tôi rất vừa ý, muốn chịu phục tùng, nhưng phải theo lời trong bảng chiêu phu, đến thưa với thân phụ mà tính việc cho xong.
Cao Quân Bảo đã rõ lòng Kim Đính, ngặt vì nóng việc giải vây cho chúa, chuộc tội cho cha, trong bụng rối như tơ vò đâu còn tưởng đến chuyện se duyên kết toc. Vả lại, chưa biết lòng cha mẹ có chấp thuận hay không, nên không dám tự chuyên.
Cao Quân Bảo nghĩ thầm:
- Nếu cứ ở đây lo việc vợ chuồng, thì lỗi niềm cha chúa. Chi bằng ta kiếm lời nói cho nó mắc cỡ bỏ đi cho rồi, để ta còn đi giải vây cứu chúa kẻo trễ thời gian.
Nghĩ lại, Cao Quân Bảo kêu Lưu Kim Đính nói:
- Tôi rất tiếc cho tiểu thơ, mặt hoa mày liễu, má phấn môi son mà không biết giữ nếp nhà. Vả lại đạo làm con không thể mặc áo qua khỏi đầu. Ta cùng nàng gặp gỡ, chưa có tiếng mối mai, cũng không có ý kiến cha mẹ, nếu nói việc vợ chồng thì khác nào như kẻ trêu hoa ghẹo nguyệt. Tôi chưa từng thấy một người con gái nào lại dựng bảng kén chồng. Vậy xin tiểu thơ xét lại cho mạt tướng chịu thua.
Kim Đính giận hét lớn:
- Thất phu! Ta dùng lời lễ phép đối xử, đó trả lại bằng cách kiêu ngạo, thật là người vô lễ, không phải khách hữu tình. Phen này ta quyết đánh thẳng tay cho nhà ngươi biết sức.
Nói rồi vung đao chém tới. Cao Quân Bảo cũng trở lại giao tranh, nhưng lần này rất dữ dội.
Lưu Kim Đính nói:
- Xin công tử bớt giận, duyên trời xui khiến gặp nhau, chúng ta không thù oán, chẳng phải đánh giặc mà quyết lấy đầu. Để thiếp về thưa lại với cha, rồi cùng chàng gầy duyên cầm sắt.
Cao Quân Bảo nói:
- Nay ta đã biết sức nhau, vậy xin giã từ để nàng ở lại kén chồng, còn tôi qua Nam Đường cứu chúa.
Lưu Kim Đính thấy Cao Quân Bảo quay ngựa bỏ đi, hèn nắm đuôi ngựa kéo lại làm cho Cao Quân Bảo thất kinh hồn vía, không dè sức con gái mà mạnh hơn voi, nên la hoảng:
- Ôi chao? Thật là bậc kỳ tài, trên đời chưa từng thấy.
Kim Đính giả giận, nói:
- Chàng chê thiếp thì thôi, không lẽ ép duyên. Song phải bồi thường tấm bảng rồi mới đi. Lúc đó mặc sức đến Thọ Châu cứu giá.
Cao Quân Bảo nghe mấy lời biết nàng quyết hơn thua, nên nạt lớn:
- Để ta bắt đền cho nàng một ngọn giáo là xong.
Lưu Kim Đính hèn niệm chú cho cây giáo Quân Bảo nặng đến độ dỡ lên không nổi. Quân Bảo xấu hổ, không biết nói sao còn Lưu Kim Đính thì cười mỉa mai, nói:
- Bởi tôi biết công tử là con nhà danh giá, nên muốn trao thân gởi phận, chớ thiệt tình công tử đánh sao cho lại tôi. Bởi muốn giao hòa nên tôi mấy phen trá bại. Sao công tử thấy ngữ lành lại phụ, gặp châu sáng không ham, tưởng rằng sức gái hơn trai, nên phụ tình cầm sắt.
Cao Quân Bảo nói:
- Xin nàng chớ giận để tôi bày rõ thiệt hơn. Chúng ta tuy đã thuận, nhưng còn ba điều chưa an. Một là: Cha tôi là em rễ Tống trào, còn bác nhà là người thân của Bắc Hớn. Chuyện tuy cũ nhưng oán hận chưa nguôi, không lẽ trở thành thông gia. Hai là: Nếu nay mạt tướng hứa lời kết tóc, sau song thân nặng tiếng quở la, có phải là mang câu bất hiếu không? Ba là: Thiên tử đang bị vây, thân phụ đang bị bắt, lúc này phải xông vào trận chiến cho trọn tiếng hiếu trung, có rảnh đâu mà tính việc vợ chồng, hưởng vui với mối tình gặp gỡ. Bởi có ba điều chẳng tiện đó nên không thể làm vừa ý nàng. Còn tiểu thơ là hoa thơm ngàn dặm, sắc chói mười phương, thiếu gì anh hùng hào kiệt, đừng thấy đá mà tưởng làm ngọc, thấy mắt mà tưởng là châu.
Lưu Kim Đính nghe mấy lời càng yêu quý mười phần, yêu quý chừng nào lại không muốn buông tha chừng ấy, nên nói:
- Xét lời công tử đáng bậc hiền lương. không có lòng say đắm nguyệt hoa, cũng chẳng có dạ phụ tình bạc ngài. Thật nên trang quân tử, đáng mặt trượng phu. Duyên nợ tôi với công tử là do Nguyệt lão đã se. Thánh Mẫu biết trước trời xui gió bấc mưa cầm, nếu không duyên nợ ba sinh, chưa dễ vấn vương dường ấy. Xin công tử chớ chấp nhất mà lỗi đạo xướng tùy. Vả lại, Dư Hồng pháp thuật rất cao, công tử làm sao đánh lại. Nếu không có tôi trợ giúp, chắc công tử bị Dư Hồng bắt nữa. Nếu công tử không chê thiếp hư hèn, thiếp nguyện theo chàng phò chúa cứu cha.
Cao Quân Bảo nói:
- Nàng là gái nghiêng thành đổ nước, lại thêm võ giỏi văn hay, ai lại không kính mến. Tuy chúng ta đã quyết, e cha mẹ không vừa lòng làm cho sau này hai ta cùng đeo dạ thảm, mua sầu, thì chẳng khổ tâm lắm sao?
Kim Đính nghe nói nổi giận liền ném dây hồng tươi sách lên không và niệm thần chú hào quang chiếu sáng, trói Quân Bảo treo trên cây, lửng lơ trước gió.
Quân Bảo nhìn lại thấy tiểu thơ đã biến đi mất, trong rừng xuất hiện một tướng mặt mũi đen sì, cầm siêu lớn tiếng, hét:
- Cao Quân Bảo phụ bạc duyên trời, cho nên ta là thần núi phải ra đây, chém một đao cho bõ ghét.
Cao Quân Bảo thất kinh năn nỉ:
- Xin sơn thần bớt giận, tiểu tướng xin vâng lời.
Thần núi mắng cho mấy lời, rồi bỏ vào rừng. Xảy thấy tiểu thơ ngồi trên ngựa lướt ngang qua, rồi biến mất.
Cao Quân Bảo hèn kêu lớn:
- Tiểu thơ ơi! Nỡ nào làm phép hại ta, rồi khoanh tay ngồi ngó, mặc kệ cho rơi xuống nát thân sao?
Lưu Kim Đính đáp:
- Thiếp đã nói hết lời mà chàng không nghe. Phận vô duyên nên đành giục ngựa về nhà, ai có phước ở đó chờ ngươi cứu mạng.
Nói rồi giục ngựa bỏ đi. Cao Quân Bảo kêu lớn:
- Tiểu thơ ơi? Tôi Chịu! tôi Chịu! Xin mở sợi dây oan gia!
Lưu Kim Đính nói:
- Chàng đừng năn nỉ uổng công, thiếp đã cạn lời mà chàng một mực phũ phàng.
Dứt lời Kim Đính niệm chú mở dây. Cao Quân Bảo sa xuống như một tàu lá.
Mừng được thoát nạn, Cao Quân Bảo nói:
- Cám ơn tiểu thơ cứu mạng, ngày sau trở lại đền ơn.
Nói rồi cầm giáo lên ngựa bỏ đi.
Lưu Kim Đính thấy vậy trở về gọi bốn con tỳ nữ, trao cho phù phép tàng hình đuổi theo.
Bấy giờ Cao Quân Bảo mừng được thoát nạn giục ngựa thẳng một nước, chạy năm sáu dặm đường không hề ngó lại. Người hết hơi, ngựa hết sức, bụng thì đói, quán xá thì không, rờ vào túi không có một đồng tiền, nên buông lời than:
- Chao ôi! Hai lượng bạc đem theo bỏ quên trên giường. Nếu trở lại không dám, còn đi biết lấy chi làm lộ phí?
Đang lo lắng, bỗng thấy xa xa có một quán rượu, chàng vội giục ngựa chạy tới, thấy trong quán không có đàn ông, chỉ thấy ba cô gái đang ngồi đong rượu. Cao Quân Bảo đem ngựa cho uống nước, rồi nghĩ thầm:
- Bây giờ ta phải ăn giựt một bữa mới xong. Quán toàn đàn bà ta không sợ.
Cao Quân Bảo liền xông vào. Ba cô gái ân cần chào hỏi:
- Khách vào đây uống rượu phải chăng?
Cao Quân Bảo gật đầu, nói:
- Phải ? Hãy dọn đồ ăn ngon và đem rượu thượng hạng ra đây !
Một trong ba cô gái nói:
- Rượu thịt ngon đã có sẵn, song tiền bạc phải cho phân minh, bởi chốn này là rừng núi, không ai dám buôn bán, chỉ có mình ba chị em tôi một chợ, nên giá đắt mười phần. Có đành thì dọn, không muốn thì thôi.
- Các người hãy dọn cơm trắng cá tươi, món ngon vật núi, ăn rồi sẽ hay, và cho con ngựa của tôi nó ăn nữa rồi tính tiền luôn thể.
Ba cô gái nghe nói liền dọn đồ ăn ra, rượu thịt ê chề. Cao Quân Bảo cứ việc ăn no, uống rượu như uống nước, chỉ một bữa mà đồ ăn còn nửa quán. Ba cô gái dọn dẹp đồ thừa thấy chẳng còn bao nhiêu. Ăn rồi Cao Quân Bảo tính lên ngựa bỏ đi, thì ba người đàn bà chặn lại, nói:
- Xin khách tính tiền ăn uống rồi sẽ lên yên.
Cao Quân Bảo nói:
- Tính hết là bao nhiêu đó?
Một cô gái nói:
- Tất cả là tám mươi hai lượng.
Cao Quân Bảo biết mình không có tiền, túng phải nói đỡ:
- Hãy biên vào sổ để cho nhớ. Tôi đi có việc quan, lúc trở về sẽ trả đủ.
Một cô bèn nói:
- Chị em tôi với khách không quen. Thuở nay quán cơm không ai biên sổ. Cứ theo tục lệ cháo múc là tiền phải trao, nếu liệu trong người không có tiền thì đừng bước vào quán. Công tử coi bộ là người ăn học, sao xử sự theo lối bợm đường. Không thấy đôi liễn trước quán sao.
Cao Quân Bảo ngó lên, thấy hai câu liễu như vầy:
Trong lưng có bạc thời kêu rượu,
Nhắm túi không tiền chớ hỏi cơm.
Cao Quân Bảo coi rồi làm thinh. Một cô gái nói tiếp:
- Công tử tưởng của không vốn nên ăn liều lĩnh, bây giờ tính sao?
Cao Quân Bảo túng phải nói thật:
- Tôi là Cao Quân Bảo cháu vua Tống Thái Tổ, con của Đông Bình Vương, vì gấp rút đi giải vây, quên đem theo tiền lệ phí. Vậy cho xin thiếu ngày sau trả đủ, chớ tôi không phải là người ăn giựt.
Một cô gái nói:
- Người này thật là điếm đàng, đã ăn giựt lại mạo con vua cháu chúa mà hăm dọa bọn đàn bà chúng tôi, chúng tôi không biết con cháu nhà ai, hễ thiếu tiền cơm thì phải trả, nếu không để con ngựa lại đây, rồi sẽ đem tiền mà chuộc.
Cao Quân Bảo thấy ba cô gái quyết bắt ngựa để thế chân, nếu đi bộ đường rừng biết chừng nào mới tới?
Nghĩ như vậy, Cao Quân Bảo liều mạng rút gươm ra, ba nàng thấy Quân Bảo làm dữ, bèn nói:
- Không xong! Phải thỉnh bà ra mới được.
Nói rồi ba cô gái chạy thẳng vào nhà trong. Tức thì có một bà già hình thù cổ quái bước ra hét lớn:
- Ngươi có biết ta là người nước nào không? Ta vâng lệnh vua Nam Đường giả lập quán tại nơi đây, chờ tướng Tống lỡ bước ghé vào chém lấy đầu mà nạp cho vua. Nay nhà ngươi đã sa vào đây, thật số trời đã định!
Nói rồi truyền mấy cô gái, khóa cửa ngõ, bắt tên giặc ăn giựt nạp cho vua lãnh thưởng. Cao Quân Bảo biết mình mắc kế, tính bỏ ngựa chạy bộ, ngặt cửa ngõ khóa rồi, mụ đàn bà lại cầm dao rượt theo muốn chém.
Cao Quân Bảo thấy hình thù bà già ấy mà ghê: Da mặt tổ than hồng' con mắt sâu tợ giếng, cái miệng hỏa lò, cặp nanh rắn hổ.
Cao Quân Bảo bị ba nàng kia áp lại bắt trói khiêng vào quán.
Mụ già nói:
- Tội thằng này đã đáng, đừng nạp đến vua làm chi. Hãy làm thịt để bán hàng, thấy thịt trừ tiền cũng đủ. Ba đứa bay hãy sửa soạn bắt nước mài dao cho sẵn.
Cao Quân Bảo nghe nói thất kinh nghĩ thầm:
- Lúc trước Kim Đính trói mình, bởi có tình thương nên năn nỉ được, nay gặp lũ ác nhơn này, chắc là phải thịt nát xương tan. Uổng công ăn học, nợ nước chưa đền, tình nhà chưa báo. Dẫu chết tấm thân không tiếc, chỉ phiền mất chữ hiếu trung.
Mụ đàn bà thấy Quân Bảo khóc, thì cười lớn nói:
- Thấy quân ăn giựt cũng giận,thấy kẻ than khóc cũng thương. Thôi, nếu nghe lời ta thì việc dữ cũng lành, cãi lời thì sẽ chết yểu.
Cao Quân Bảo nói:
- Chuyện gì tôi cũng chịu, xin cứ nói ra.
Mụ đàn bà nói:
Hãy nghe lời này thì đã khỏi họa e lại sướng thân, chồng ta đã bỏ mình, phận thiếp hai mươi năm trường cô phòng lạnh lẽo muốn chọn người xứng sức mà không gặp kẻ vừa lòng. Nay thấy chàng có sắc có tài, nên xui thiếp nở gan nở ruột. Lời tục người hằng nói: "Vợ già chồng trẻ là tiên". Nếm mùi đời chưa đủ thiệt quê, gặp cuộc biến phải quyền mới trí! Chết sống một bên con mắt, mất còn cũng tại trái tim. Thuận thời mở trói vào phòng, nghịch ắt khiêng thây xuống bếp!
Cao Quân Bảo nghe nói càng tức tối, nghĩ cũng lạ lùng, tuổi tác này mà còn muốn thế này, xuân sanh nọ há đành duyên ấy. Bị bà kia hỏi thét nên công tử đáp rằng:
- Tôi đến nước này lẽ nào dám cãi. Nghe nói phòng loang lạnh lẽo tình cũng khá thương. Song xem qua tóc bạc phất phơ lẽ đâu dám loạn? Chết thân là việc nhỏ, trái lẽ ấy tội dày. Bằng thương, dung mạng tôi nhờ, như ghét, nát thân cũng chịu.
Bà ấy giận nói lớn rằng:
- Trước sợ chết mà than khóc, nay nói cứng chẳng kiên gì? Tánh ở không chừng, nói càng vô ích. Vậy chúng bay cứ việt thọc huyết, rồi cứ việc làm hàng.
Cao Quân Bảo xem thấy ngọn đao, chắc hồn về chín suối:
Xảy thấy một con nhỏ vào hớt hải, nói với bà ấy rằng:
Lầm rồi mẹ ơi ? Người này là chồng của Lưu tiểu thơ, mình không biết bắt lỡ. Nay Kim Đính hay tin đến tiếp, đang phá cửa xông vào?
Bà ấy nghe nói thì thất kinh, than với mấy người kia rằng:
- Ba đứa bây phải trốn theo ta, kẻo Kim Đính giết luôn bốn mạng.
Nói rồi cả bọn bỏ Quân Bảo ngồi đó, ra cửa sau trốn đi mất.
Lưu Kim Đính dắt thế nữ xông vào, thấy Quân Bảo trói mèo nằm đó thì Kim Đính cười nói:
- Tôi đi tiếp trễ, để cho công tử bị gia hình. Người ép duyên, tình nặng hơn tôi, sao chàng nỡ phũ phàng không chịu. Đã là trai tài gái sắc, sao không phụng chả loan chung? Chớ như phận tôi là: Bị gạt đã nhiều phen, mắc mớp đà hai thứ. Chàng chê cũng phải, thiếp dám trách đâu. Trắc trở đã đành phận thiếp, thày lai dám cướp duyên người. Thôi, giả chàng nằm đó nghỉ ngơi, cho thiếp gia trung trở lại.
Nói rồi, Kim Đính cười chúm chím lên yên giục ngựa trở về. Cao Quân Bảo hổ thẹn trăm bề, làm thinh sượng mặt, thấy Kim Đính đi thẳng, mới kêu lớn:
- Tiểu thư ôi! Tôi biết lỗi rồi, xin mở dây này, thì đành duyên nợ!
Lưu Kim Đính nghe nói, trả lời rằng:
- Chàng hay nói gạt, tôi chẳng dám tin?
Cao Quân Bảo nói:
- Nếu nàng chẳng tin lòng, tôi thề cho biết mặt.
Lưu tiểu thơ nói:
- Xin chàng thề độc, thiếp mới chịu tin.
Cao Quân Bảo thề rằng:
- Trên có trời soi xét, dưới có đất chứng minh, bằng tôi phụ tình nàng thì thác nơi giếng lạng.
Kim Đính thấy thề thốt, bèn mở trói. Cao quân Bảo đặng mở trói, mới nói rằng:
- Nay tôi phải đến Nam Đường cứu giá, công thành rồi về thưa với cha mẹ ta, dùng sáu lễ dâng sang, đem xe loan rước lại. Nói rồi Quân Bảo cầm giáo lên ngựa dông thẳng, chạy một hồi ngó lại, không thấy quán lều chi hết.
Xuân Đào nói với tiểu thơ:
- Tôi coi bộ công tử vô tình đi chẳng nói trả ơn một tiếng. Thiệt là thề mắc, thắt rối cho đặng mà đi!
Lưu Kim Đính cười nói:
- Lời thề ăn trượt ta chẳng biết hay sao? Giếng lạng khô rơm, không nước làm sao mà chết? Bởi công tử lánh khẳng khái, nói êm chẳng biết nghe. Phải làm cho cơ cực nhiều phen, mới cảm tình chịu phép! Nếu muốn cho nó mắc lời thề nọ, thì ta phải dụng phép này.
Lưu Kim Đính bèn họa phù cho bốn con đòi, tới trước chậm đầu đào giếng.
Quân Bảo vừa đi vừa thấm thía nực cười, nói:
- Gặp dâm phụ bất nhơn, tưởng ta đà tận số! Nhờ tiểu thư giải cứu, nên ta đặng toàn sanh. Nàng thiệt đấng hữu tình, ta là người bạc ngài, như tiểu thơ hình dung tợ ngọc, nhan sắc như hoa, biết phép thần thông, thêm tài võ nghệ, vị tình hết sức, cứu mạng nhiều phen. Ta mấy thứ trớ trinh nàng một lòng tin cậy. Mình chẳng phải là săn cỏ, lẽ nào không nghĩa không tình, lại duyên đã xứng duyên, phận đà đẹp phận? Song còn ba điều ngăn trở nên đôi lứa dở dang, bây giờ xin phụ tình nàng, ngày sau sẽ đền ơn nghĩa ấy. Nghĩ mình thề dối mà nàng vẫn tin lòng, ai đời té giếng khô mà chết bao giờ.
Mãi còn ngẫm nghĩ, mặt trời đã xế về Tây, Quân Bảo cứ đi tầm quầng trong rừng, không biết chỗ nào mà nghỉ.
Cao Quân Bảo thấy trời đã tốt, trong lòng thầm nghĩ:
- Hôm qua bị đụt mưa mà sanh ra nhiều việc. Nay chẳng nên ngủ đỡ nhà ai, vì sách có câu: "họa vô đơn chí", e bị hại một lần nữa. Vậy ta phải tìm đường cái mà đi.
Thật là mang sao đôi nguyệt, chải gió dầm sương, trông đến chốn thị thành, sẽ tìm nơi nương tựa. Vừa đi vừa nghĩ, đương kiếm nẻo kiếm đường, phần trời tối mập mờ, nào dè cả người cả ngựa đồng sa xuống giếng lạng.
Cao Quân Bảo ngỡ là sa xuống địa ngục, té ra là cái giếng khô nhắm bề sâu ba chục thước có dư, trên miệng giếng thấy trời bằng cái chén, Cao Quân Bảo mới than rằng:
- Mới nói gạt vừa rồi, mắc lời thề lập tức! Những tưởng khôn ngoan thề thốt, nào hay quỉ thần chứng minh, nếu trời mưa xuống một đám, uống nước chắc cũng chết. Phải chi có ai đi ngang dòng dây mà kéo mình lên, hoặc may sống đặng. Phần không cơm không nước, ắt ở đây chờ ngày mà ra mắt Diêm vương !
Than rồi, Quân Bảo hèn xuống ngựa mà ngồi, hơi ra lạnh lắm. Bỗng thấy có ngọn đèn nhấp nháy ở đằng xa. Cao Quân Bảo đoán rằng:
- Có lẽ hầm rộng mênh mông nên có người ta ở?
Khi ấy Quân Bảo đành mò theo chỗ đèn sáng, thủng thẳng bò lần không vật chi ngăn cản. Giây lâu gặp đường hẻm, Cao Quân Bảo mới nghĩ:
- Đường hẻm vừa một người đi, chắc ngõ ấy có khi lên đặng! Không biết chỗ gì lạ vậy? Thôi Chẳng cần gì ngựa, miễn đặng còn hồn.
Quân Bảo bèn cầm giáo mà đi, đi khoảng chừng một dặm trường mới khỏi đường chẹt, thấy lộ cái trước mặt, sao mọc trên trời trăng tỏ làu làu, hương bay thơm phức, trăm hoa rực rỡ, năm sắc rõ ràng.
Cao Quân Bảo thấy cảnh vui lòng, đi hoài không mỏi. Xảy thấy một tòa cao lớn, dường thể đền vua, khác nào tiên động. Cao Quân Bảo xem xét lại kỹ lưỡng thì không phải đền vua, cũng chẳng phải dinh miếu. Chỗ không người ở, thì đây có phải dinh quan. Một là động tiên, hai là đền vua thập điện? Quân Bảo bèn đến ngõ, nghe tiếng giày nhẹ nhẹ, giọng nói thanh thanh, thì nghĩ là con gái đàn bà, song chưa rõ người tiên hay kẻ tục. Nghĩ rồi Quân Bảo làm gan gõ cửa, coi thử thế nào?
Xảy thấy một nàng, tay cầm phất chủ, dung nhan có vẻ, cất cách tợ tiên, tiếng hỏi dịu dàng rằng:
- Khách ở đâu đến đây vậy?
Cao Quân Bảo thưa tự sự mình lạc đường sa xuống giếng, xin làm ơn chỉ ngả trở về, đặng qua cứu giá tại Thọ Châu thành.
Nàng ấy cười chúm chím và nói:
- Chàng đến đây chẳng khác Lưu Thần và Nguyễn Triệu, lạc lối thiên thai mà kết duyên cùng tiên nữ. Chắc là số trời đã định, nên khiến người lạc bước lỡ đường như vậy? Chớ đây không phải là đền vua, cũng đừng tưởng rằng cảnh phật. Ấy là tiên động của Thánh Mẫu ở núi Lê Sơn. Thánh Mẫu có nói trước rằng: Ngày này tháng này, có công tử Cao Quỳnh tới đây. Còn ngươi tên chữ là Quân Bảo phải không? Thánh Mẫu lại dặn nữa: Quân Bảo là kẻ vô tình, thề liều mạng. Khi lòng, ấy là khi chúng, dối người tức là dối trời. Vậy nên Thánh Mẫu có để bốn câu thơ, dặn đưa cho nhà ngươi xem thử.
Cao Quân Bảo nghe nói trúng tên thì thất kinh, mọc ốc rùng mình, run en phát rét, gượng đọc bài thơ, lời lẽ như vầy:
Hang sâu người ngựa phải sa ngay
Cái giống vô tình thật đáng thay!
Cho biết thề sao thì có vậy,
Giữ lời vàng đá, khỏi tai bay.

Nàng ấy kêu Quân Bảo mà hỏi rằng:
- Bốn câu thơ đó Thánh Mẫu viết đã lâu. Công tử quả như vậy không? Xin nói cho tôi biết.
Cao Quân Bảo nghe nói như ngó thấy, nên không dám giấu tình, mới thuật hết đầu đuôi và xin mở đường chỉ nẻo. Nàng ấy cười nói:
- Nếu vậy thì Kim Đính hửu tình hết sức, còn Cao Quỳnh bạc ngãi quá chừng! Chẳng những trượng phu quân tử đều chê, dẫu cho con nít đàn bà cũng ghét. Thề thì mắc, thắt thì rối, chạy sao cho khỏi, trốn sao cho xong, ai chỉ ngõ làm chi, giếng lạng ấy là huyệt tốt! Tuy vậy mà Thánh Mẫu có dặn: "Ta mắc đi chầu Thượng Đế, như Quân Bảo có đến đây phải ở chờ”, vậy công tử ở đây mà chờ, hoặc may Thánh Mẫu có tha về thì là phước đức mười đời để lại.
Cao Quân Bảo nghe nàng ấy hỏi tội thì mặt mũi sượng trân tức mình hết sức, biết là ưng tội nên mới làm thinh, chờ Thánh Mẫu trở về hoặc thương hại mà cho chỗ nghỉ. Đứng một hồi mỏi quá, xảy câu nghe tiếng nhạc vang trời, thì nàng ấy nói:
- Thánh Mẫu chầu trời về đó !
Giây lâu nàng ấy ra nói:
- Thánh Mẫu đòi Quân Bảo vào hầu.
Cao Quân Bảo theo vào tới trước sân, thấy phía tả trồng tùng xanh, bên hữu trồng lựu đỏ, nhiều thứ hoa tươi cỏ tốt, thiếu chi cây lạ có một bà ngồi chính giữa, có mang xâu chuỗi hột bồ đề, tóc bạc phơ như bông, đầu đội mão thất tinh, mà mặt là mặt con gái. Cao Quân Bảo bước vào bèn lạy. Thánh Mẫu nói:
- Thôi, công tử hãy đứng dậy, đặng ta khuyên bảo vài lời.
Quân Bảo quì và bẩm:
- Bởi tôi lạc đường nên mới sa xuống giếng lạng, đến cảnh tiên, vậy xin Thánh Mẫu lòng thương cho người đưa lại phàm trần, tôi đội ơn cứu mạng.
Thánh Mẫu nói:
- Ngươi dầu không nói ra, ta cũng biết rồi? Khen cho trí cả hơn người, lòng ngay vì nước, anh hùng đệ nhất, trung hiếu lưỡng toàn. Song yêu đạo phép cao, công tử đánh sao cho lại, người cự yêu sao nổi, tài đánh phép đặng nào, nếu có Kim Đính giúp công, trừ Dư Hồng mới đặng! Học trò ta muốn nâng khăn sửa tráp, sao nhà ngươi cứ chê ngọc bỏ châu, nhà ngươi coi tác hãy xuân xanh, khá khen bì Hạ Huệ. Đến nay lửa hương chưa bén, cầm sắc không hòa, tại cớ làm sao nhà ngươi cư xử như vậy, hãy nói thử?
Cao Quân Bảo đọc lại ba điều trở ngại đã nói với Kim Đính cho Thánh Mẫu nghe và nói:
- Bởi cho nên khó nổi vị tình, sợ không vẹn trước sau, chớ dám nào phụ bạc .
Thánh mẫu nói:
- Suy ba điều rất phải, song phải biết tùng quyền. Lời xưa có nói: "Đời thái bình lấy đức làm quan, cơn bát loạn trổ tài làm tướng". Tánh sao hay chấp nhất, lòng lại chẳng tùng quyền? Nay hai nước đua tranh phải nhờ người tài phép. Nam Đường có Di Hồng mới thắng, Đại Tống không Kim Đính sao xong? Vả lại nội nhà công tử đều hưng binh liều mình báo chúa, song đến đó mà dâng thủ cấp cho Dư trồng, chớ đánh sao cho lại? Nếu để đến chừng đó ăn năn sao kịp? Chi bằng trước vầy duyên nữ hiệp sau giải nạn mình rồng, sẵn có kẻ trừ yêu, mới vẹn bề cứu giá.
Cao Quân Bảo còn giục giặc, Thánh mẫu thấy vậy mới nói nữa rằng:
- Bởi duyên trời đã định, chẳng phải ta là người làm mối mà ép việc nhơn duyên! Nếu công tử không tin thì ta mời bà Nguyệt ông Tơ tới đây, người soạn bộ chồng vợ cho ngươi coi.
Quân Bảo nghe nói liền dạ thưa rằng:
- Nhắm đó đây rất xứng đôi vừa lứa, dám đâu phụ nghĩa bạc tình, chỉ e sầu cha mẹ tôi trách rằng không thưa mà cưới. Cho nên chắc là chẳng nhậm ngôn có phải lỡ việc nhơn duyên thiệt lòng thục nữ!
Thánh Mẫu nói:
- Công tử lo chi cho mệt! Chừng đôi ba tháng nữa, Kim Đính tới Thọ Châu cũng làm tôi một triều, cha mẹ lẽ nào chê mà không dụng.
Lời Bàn.
Tài năng và pháp thuật khi nó sử dụng đúng tâm lý cũng có thể chinh phục tình yêu giữa trai gái.
Trong cốt truyện, tác giả vận dụng tài năng và pháp thuật tranh tài nơi chiến trận, nhưng ở đây, tác giả đã sử dụng tài năng và pháp thuật để chinh phục tình yêu. Đó là một câu chuyện khá ly kỳ làm độc giả thích thú theo dõi.
Lưu Kim Đính lập bảng chiêu phu, con gái lập bảng kén chồng là điều hiếm thấy, nhưng rất sôi động, làm cho anh hùng hào kiệt phải nể mặt.
Nhưng xét ra, Lưu Kim Đính kén chồng đã chọn ba điểm:
- Thứ nhất: Tài năng, điểm này nàng chọn lựa bằng cách giao đấu.
- Thứ hai: Dòng giống, nàng chọn bằng cách dò xét tâm ý và công việc làm của Cao Quân Bảo.
Thứ ba: Tâm hồn, điểm này nàng chọn bằng cách dụ dỗ bướm ong, và lòng trung hiếu của Cao Quân Bảo.
Ở đây điểm khó khăn nhất đối với Lưu Kim Đính là tìm hiểu tâm hồn. Khi đã biết Cao Quân Bảo không chê nhan sắc của nàng chỉ vì lo đi giải vây và cứu cha nên không màng đến việc nhân duyên, làm cho Lưu Kim Đính càng kính phục.
Cái giá trị của Cao Quân Bảo là ở chỗ đó, mà tác giả đã diễn tả một cách tế nhị từ lời nói, cử chỉ của Cao Quân Bảo.
Lưu Kim Đính dùng pháp thuật để ràng buộc tình nhân của mình cũng để thăm dò đạo nghĩa và tâm hồn của người mình yêu. Lối kén chồng như vậy quả là bậc nữ lưu trong thiên hạ.


0

Hồi Thứ Chín

Vâng lệnh hứa hôn gái sắc
Vì nước tạm biệt má hồng


Chẳng bao lâu, có ông Tơ đến, tay ôm sổ bộ đến ra mắt Thánh Mẫu.
Thánh Mẫu truyền mở sổ ra tra xét, thấy tên họ, căn duyên rõ ràng bằng những hàng chữ.
 “Cao Quân Bảo, lưu Kim Đính là duyên nợ với nhau”.
Cao Quân Bảo xem thấy lấy làm lạ, thưa:
- Tôi cũng muốn vâng lời Thánh Mẫu cho xong việc nhân duyên, ngặt vì tôi ở một nơi, tiểu thơ ở một ngả, làm sao hứa hôn, vậy nhờ ơn Thánh Mẫu chỉ giáo cho tôi đi phò vua giúp nước kẻo trễ.
Thánh Mẫu nói:
- Thật công tử trọn thảo vẹn ngay.
Cao Quân Bảo thúc giục trở về dương thế để lo việc cầu hôn, nên Thánh Mẫu ngước mặt lên nói:
- Lưu Kim Đính! Hãy xuống đây cho thầy dạy bảo.
Vừa kêu lên ba tiếng bỗng thấy Kim Đính đằng vân bay xuống.
Cao Quân Bảo thấy tiểu thơ nét mặt khác hơn trước, nết na chỉnh tề, diện mạo nghiêm trang, vừa bước tới thấy Cao Quân Bảo đã hổ thẹn không dám nhìn mặt. Lưu Kim Đính lạy Thánh Mẫu và nói:
- Nay công tử đi gấp lo việc cứu giá Thọ Châu, sao lại ghé non tiên làm trễ nải công việc?
Cao Quân Bảo lau nước mắt, thuật lại mọi điều, Lưu Kim Đính mỉm cười nói:
- Tuy là chuyện tình cờ, nhưng cũng tại lời thề của công tử. Từ nay về sau chớ nên thề như vậy.
Cao Quân Bảo nói:
- Lời tiểu thơ đáng ngàn vàng, tôi ghi lòng tạc dạ.
Thánh Mẫu bèn kêu hai người, nói:
- Hai vợ chồng có nợ ba đời, căn duyên tiền định. Nay tới kỳ hội hiệp, còn nhắc chuyện cũ làm chi? Công tử đã bằng lòng rồi, ngày mai phải cần gấp đưa về dương thế. Còn đêm nay nhằm kỳ hòa hiệp, để trễ không nên. Tuy cha mẹ hai đàng chưa biết, song có ta làm chứng, Nguyệt lão làm mai, phải lo việc hoa chúc cho rồi. Nếu chờ có lệnh cha mẹ gả cưới, thì lấy ai tác hợp đến già, vang danh cả họ. Còn Dư Hồng là loài chim chóc, có công tu hành, nhưng tính nết hung hăng, công đức ba ngàn chưa đủ, nay vâng lệnh Xích Mi lão tổ vây phủ Thọ Châu, nếu không phạm sát sinh thì vài trăm năm nữa cũng thành tiên, bằng phạm sát sinh thì bỏ thây ngoài trận. Thôi, việc chưa đến thẩy không nói nhiều.
Dứt lời, Thánh Mẫu rũ tay áo một cái, vầng mây năm sắc sa xuống trước mặt, Thánh Mẫu bước lên ngồi, đằng vân bay đi.
Cao Quân Bảo thấy việc lạ lùng, nên nhìn sững. Lưu Kim Đính rút gươm làm phép, lâu đài biến mất, nhìn lại thì thấy là khu rừng cũ, không có hầm hang chi hết, con ngựa còn buộc tại gốc cây.
Lưu Kim Đính bước lại vỗ vai công tử nói:
- Phép tiên biến hóa vô cùng, đừng cho là lạ lùng mà ngơ ngác như vậy.
Sau đó, Lưu Kim Đính đòi bốn con tỳ nữ tới, mời công tử lên yên trở lại nhà. Hai vợ chồng hai ngựa song song ra khỏi cụm rừng trông thấy ánh trăng vằng vặc.
Kim Đính nói:
- Xin công tử trở lại nhà nghỉ ngơi, rồi mai sáng sẽ đăng trình không trễ đâu mà sợ.
Cao Quân Bảo nói:
- Đêm hôm tối tăm khó đi lắm. Còn trở lại nhà bác bắt lỗi biết nói làm sao?
Kim Đính đáp:
- Công tử nói rất phải, song mọi việc tôi tính cũng xong.
Liền kêu bốn con tỳ nữ dặn rằng:
- Các người về trước bẩm với ông có chàng săn bắn trở về đã đi gần tới.
Kim Đính vẽ một lá bùa trao cho Quân Bảo nên ai nhìn cũng không thấy.
Đêm ấy, Kim Đính dắt tay về phòng ân ái mà không một ai biết, chỉ có bốn con tỳ nữ biết thôi.
Sáng hôm sau, tiểu thơ nói với công tử:
- Đêm nay đã kết nghĩa trăm năm, nếu ngày sau cha có bắt bẻ thế nào thiếp cũng liều mình cho trọn tiết.
Quân Bảo nói:
- Tiểu thơ có tình sâu nghĩa nặng, tôi tạc dạ ghi lòng. Đã đáng bậc anh hùng phải trọn niềm chung thủy. Xin nàng chớ ngại.
Kim Đính nghe nói mừng rỡ, đáp:
- Như vậy mới là vàng đá.
Hai người tình mặn nghĩa nồng, lòng yêu dạ mến.
Sáng hôm sau, Cao Quân Bảo giã từ tiểu thơ lên yên đi cứu giá. Kim Đính sợ cha trông thấy, nên chẳng dám cầm, buồn bã nói với Quân Bảo:
- Đã tưởng nghĩa vợ chồng, xin nhớ lời dặn. Đây đến Đồng Quan ngàn dặm, phải giữ gìn bản thân, trước là cha mẹ khỏi lo, sau là vợ chồng sum hiệp.
Cao Quân Bảo thấy tiểu thơ ân cần săn sóc, động lòng nói với Kim Đính:
- Tiểu thơ chớ lo xa ! Tôi biết giữ gìn lời vàng ngọc. Thánh mẫu đã có nói, vài ba tháng nữa nàng cũng đến Thọ Châu, thì sớm muộn vợ chồng cũng họp mặt. Xin đừng bịn rịn kẻo bị tiếng chê cười.
Kim Đính lau nước mắt nói:
- Chàng đã khuyên dạy, thiếp phải vâng lời. Xin nhớ lời thề chớ quên điều tình nghĩa.
Quân Bảo vừa lên ngựa, tiểu thơ kéo lại nói:
- Tôi buồn rầu mà quên việc lớn, chút nữa để chàng phải khốn.
Quân Bảo giật mình hỏi:
- Chuyện gì mà quan trọng vậy?
Kim Đính nói:
- Công tử đến Thọ Châu giải vây, nếu gặp Dư Hồng thì chẳng nên cự địch, vì tài không lại phép, người phải thua yêu.
Kim Đính liền vẽ một lá bùa, giắt lên đầu Quân Bảo và dặn nhỏ rằng:
- Bùa này linh lắm! Phép tà chẳng hại đặng mình, mà chớ khá đánh lâu e nó phép cao nhiều món?
Quân Bảo thấy tiểu thơ bận bịu, liền vịn vai tuôn lụy hai hàng, mà không dám dĩ hơi, sợ người ta hay biết.
Tiểu thơ đưa công tử bảy tám dặm đường bốn con thiếu nữ thúc tiểu thơ và nói:
- Dẫu đưa ngàn dặm cũng giã có một lời. Vậy xin cô trỡ về, kẻo ông hay khó dễ.
Tiểu thơ nghe nói than thở, khóc lóc. Quân Bảo thấy nàng rơi lụy thì gan ruột như bào. Tiểu thơ nói:
- Chàng đi tới ải đặng cứu giá, thiếp dựa nương phòng thẳm chờ tin.
Cao Quân Bảo nói:
- Nếu ta vào tới bệ rồng, sẽ tâu cho rõ trước sau, và rước nàng ra ải.
Nói rồi họ từ giã, kẻ tới người lui.
Lưu Kim Đính trở về nhà, ngày đêm vò võ buồn rầu, ngại nỗi Dư Hồng phép tắc, lo vì công tử can cường, nếu chàng chẳng nhịn thua, ắt là mang họa, nên đêm nào Kim Đính cũng thấp hương van vái cầu trời cho công tử bình yên.
Còn Cao công tử lộ trình hiểm trở, tối ngủ sáng đi, đói ăn khát uống. Đi gần tới ải Đồng Quan, ấy là chỗ Tam Vương Triều Quang Mỹ trấn thủ, có binh nhiều tướng mạnh. Cao Quân Bảo tới trước cửa hối quân vào thưa rằng:
- Có Cao Quỳnh đến thăm cậu!
Tam vương đòi vào ra mắt, cậu cháu vui mừng. Cao Quân Bảo thăm mợ xong rồi, Tam vương bày tiệc thết đãi.
Cao Quân Bảo thưa:
- Tôi nóng giải vây nên đi trước, vậy nhờ cậu giúp binh Đào nguyên soái và mẹ tôi kéo binh đi sau, ít ngày nữa cũng tới.
Tam vương nghe nói bèn ừ.
Hôm sau Triệu Quang Mỹ, cấp cho Quân Bảo một muôn binh ròng, khí giới hẳn hoi, lương thảo đầy đủ. Cao Quân Bảo biết mình vi lệnh nên không dám ở lâu, bèn tạ từ kéo binh đi gấp.
Vài ngày sau đó, kế quân của Triệu hoàng cô đến ải Đồng Quan ghé nghỉ binh và hỏi thăm việc Cao Quân Bảo trốn mẹ đi trước. Tam vương nghe tức mình hết sức, sợ Hoàng cô phiền trách mình nên lập tức cho quân theo kêu, song theo không kịp.
Cao Quân Bảo được binh rồi kéo rầm rộ, giục ngựa bôn ba, chẳng bao lâu gần tới thành Thọ Châu.
Đến nơi Cao Quân Bảo thấy binh vây trùng trùng điệp điệp. Lúc chưa đến nơi cũng ngỡ là tầm thường, bây giờ xem thấy binh gia đông quá, Cao Quân Bảo mới ghê mình, ví như thấy biển mênh mông, sánh với sông nhỏ xíu.
Quân Bảo nghĩ vậy bèn truyền lệnh đồn quân lại, cho ăn uống no nê.
Quân lính lấy làm lạ không biết vì cớ gì.
Cao Quân Bảo nói:
- Lương đã cạn hết rồi, nếu ở lâu sẽ chết đói. Hễ giải vây được vào thành thì không thiếu gì cơm, nếu không ráng sức xông vào thì ở đó cũng chết.
Nói xong rồi vào trước, quân binh ráng sức theo sau, liều mạng đánh đùa, một người cự cả hàng trăm người. Cao Quân Bảo cầm giáo đâm chém binh Đường ngã nghiêng ngã ngửa.
Binh Đường vào phi báo. Dư Hồng lập tức ra trận thấy binh tướng bỏ chạy tơi bời. Quân Tống đang xông vào hăm hở, bên trong có một tiểu tướng, mặt sáng như gương, đi tới đâu binh Đường chết tới đó, chẳng khác Trịnh ấn ngày xưa.
Dư Hồng xông tới nạt lớn:
- Có tổ sư ở đây nhà người đừng hung hăng nữa.
Cao Quân Bảo nhìn thấy diện mạo, biết ngay là yêu đạo hư Hồng, liền nói:
- Nay ta vào thành cứa chúa, nếu ngươi biết điều thì đừng cản ngăn, còn ỷ tài phép thì sẽ bêu đầu nơi ngọn giáo, uổng công tu luyện ngàn năm. Bởi ngươi dùng phép tà, bắt cha ta phản chúa làm hư danh tiết thật đáng tội hành hình.
Dư Hồng nghe mấy lời, biết là con trai Cao Hoài Đức, khen thầm.
- Cha hùm đẻ con cọp, quả là Thái Tổ thạnh thời, nên có nhiều tướng tài phò tá. Chắc là đấu tài không thắng, phải dùng phép mới xong.
Nghĩ rồi, Dư Hồng lấy chiêng lạc hồng đánh lên một tiếng không ngờ trong mão của Quân Bảo có bùa định hồn nên chiêng phép không linh.
Cao Quân Bảo cười lớn nói:
- Yêu đạo! Người làm cái gì mà đánh chiêng inh ỏi vậy? Còn phép gì nữa cứ đem ra thử coi cho biết.
Ấy là lời khách sáo của Quân Bảo mà làm cho Dư Hồng giật mình nghĩ thầm:
- Thằng nhỏ này không sợ chiêng phép, hay nó cũng học phép tiên, nếu ta dùng món khác mà không làm gì được nó thì ắt mang xấu. Thôi thì cho nó vào thành tuyệt hết lương thực thì cũng bó tay.
Nghĩ như vậy, Dư Hồng nói lớn:
- Thằng con nít kia? Ta cho ngươi vào thành, không ngăn cản làm chi.
Quân Bảo mừng rỡ kéo binh vào thành như đi vào chỗ không người.
Bấy giờ Tống Thái Tổ từ khi sai Trịnh ấn về viện binh đã được Trịnh Ấn lại báo tin:
- Binh viện đã đến gần, nay mai ắt được giải vây.
Tống Thái Tổ ngày đêm mong đợi, bỗng có Cao Quân Bảo đứng ngoài thành kêu lớn:
- Có Cao Quân Bảo đến cứu giá, xin mở cửa thành mà tiếp binh.
Tống Thái Tổ và Miêu quân sư vội lên mặt thành xem thử, quả thấy có cờ Đại Tống. Chúa tôi mừng rỡ mở cửa thành đón tiếp.
Cao Quân Bảo vào đến nơi quì lạy chúc mừng. Vua Thái Tổ phán:
- Sao năm vị phu nhân chưa thấy đến?
Cao Quân Bảo tâu:
- Bởi mẹ cháu cản trở, nên cháu trốn đi trước một mình vì nghe cha cháu bị bắt, lại đầu Đường phản chúa chưa rõ thiệt hư, nên cháu ghé ải Đồng Quan mượn một muôn binh đến trước. Còn mẹ cháu và bốn vị phu nhân ít ngày nữa cũng đến.
Vua Thái Tổ nghe nói mừng rỡ phán:
- Cháu tuy nhỏ tuổi mà chí khí rất cao. Nếu nghe lời mẹ thì quên chúa bỏ cha. Còn Cao Nguyên soái lòng trung liệt thuở nay có lẽ đâu đầu Đường đánh Tống. Chẳng lẽ là phép yêu đạo nó làm cho tôi chúa giận nhau. Nếu Hoàng cô có đến đây quở trách thì trẫm sẽ xin tha tội cho.
Cao Quân Bảo mừng lạy tạ ơn. Vua truyền dọn yến thết đãi.
Trong khi ăn uống, vua Thái Tổ hỏi Quân Bảo:
- Chẳng hay quân giặt thì đông binh cháu thì ít, còn Dư Hồng có nhiều phép thuật, cháu làm sao phá nổi trùng vây.
Cao Quân Bảo tâu:
- Cháu nhờ trên đầu có dắt lá bùa linh, nên yêu đạo không làm chi nổi.
Vua Thái Tổ khen:
- Cháu thuở nay ăn học, chưa từng việc chiến chinh mà tài ta lại rất đáng khen. Nay phép yêu không hại được, chắc là trừ giặc Nam Đường không khó.
Cao Quân Bảo cúi đầu lạy tạ. Vua Thái Tổ hỏi:
- Bùa linh ở đâu mà cháu có? cao Quân Bảo chưa kịp tâu, bỗng té nhào xuống đất. Vua Thái Tổ và bá quan thất kinh, vội đỡ Cao Quân Bảo dậy, thì Cao Quân Bảo đã nhắm hai con mắt, cắn chặt hàm răng, nằm bất tỉnh, nhưng còn hơi ấm.
- Cháu đang khỏe mạnh sao bệnh phát bất thường như vậy . Nghĩ thương hại cho vợ chồng Hoàng cô, nửa đời mới được chút trai, lại nữ trang hào kiệt. Nếu chẳng may thì đau xót biết chừng nào?
Miêu Quân sư tâu:
- Xin bệ hạ chớ lo, bệnh ấy không chết đâu mà sợ. Bởi công tử chưa từng lao khổ, nay trải gió dầm sương, phá trùng vây vào đây, đang mệt mà uống rượu nên bị hôn mê. Xin cứ giao cho ngự y điều trị sẽ bình phục.
Vua Thái Tổ theo lời tâu đòi thái y đến. Quan thái y khám bệnh xong liền cạy răng đổ thuốc vào. Quân Bảo tỉnh dần, nhân nói chưa được, phải hằng ngày chăm sóc mới thuyên giảm.

Lời bàn.
Lòng nhiệt tình sinh ra sức mạnh và can đảm.
Cao Quân Bảo đem lòng nhiệt thành đến giải vây Thọ Châu mặc dầu binh ít, tài trí thô sơ, nhưng nhờ có lòng nhiệt thành đã khiến cho Quân Bảo có thêm sức mạnh và lòng dũng cảm.
Mặt khác, vì Quân Bảo nặng lòng hiếu đạo, nên may gặp được Lưu Kim Đính yêu thương và giúp đỡ.
Ấy vậy những kẻ có đạo nghĩa bao giờ cũng gặp mà nếu không gặp Lưu Kim Đính thì tài năng của Cao Quân Bảo không thể nào vào được Thọ Châu thành.
Lẽ đời, những kẻ làm điều lành, biết phụng sự đạo nghĩa thì tránh được những phản ứng. Đừng tưởng mỗi hành động mỗi ý nghĩ của mình không phải là nguyên nhân để gây nên một hậu quả không thể lường trước.


0
Hồi Thứ Mười

Tam Xuân phá vây cứu chúa
Dư Hồng nỗ lực giao tranh.


Bấy giờ Triệu Hoàng Cô thấy gia đinh trao thơ của Triệu Quang Mỹ, liền mở ra xem hiểu rõ sự việc, mới hay Cao Quân Bảo mượn một muôn binh, nối dối rằng vâng lệnh đi cứu giá.
Xong việc đã lỡ rồi, Hoàng Cô không biết làm sao, phải dằn lòng hiệp với Đào Nguyên soái kéo viện binh đi giải cứu.
Cực khổ nửa tháng trời, binh mới đến Thọ Châu, rồi tìm chỗ dồn binh, đóng trại cách thành hai mươi dặm.
Hôm sau, Đào Nguyên soái truyền lệnh xua quân đến. Binh tướng đều vâng lời, hăng hái đánh vào trại binh Đường.
Trình Anh là tướng tiên phương của Nam Đường thấy binh Tống kẻo đến, liền chận lại giao tranh.
Trình Anh cười ha hả, nói:
- Bên Tống hết tướng nên sai đàn bà ra trận.
Đào Nguyên soái nổi giận, đưa roi sắt lên, đánh vào mặt Trình Anh, làm cho Trình Anh đỡ không kịp té nhào xuống ngựa chết tươi. Binh Đường thấy chủ tướng bỏ mạng đều bỏ chạy. Kế đó bốn nữ tướng nối tiếp nhau tới. Cao Quân Bảo xách cặp roi bạc đánh vào, mấy tướng bên Đường thua chạy về phi báo với Nam Đường.
Vua Nam Đường cùng bá quan văn võ đều thất kinh hỏi:
- Tướng tống là người nào mà lợi hại như vậy?
Quân thám thính tâu:
- Có năm tướng đàn bà đến giải vây đánh Trình Anh bể sọ, quân sĩ chạy tán loạn.
Vua Nam Đường nghe báo thất kinh. Bỗng có Lâm Văn Thã tuổi đã ngoài bảy mươi, là anh ruột Nguyên soái Lâm Văn Bản xin ra đấu chiến.
Dư Hồng can:
- Bữa nay là ngày xấu, không nên ra trận, vả lại binh chúng nó mới đến còn đang hăng, cứ để cho chúng nó vào thành, quá ba ngày sẽ đem binh đi đánh.
Lâm Văn Thả nói:
- Giặc đã đến thành Thọ châu, không lẽ chờ cho đến ngày tốt mới ra ngăn cản. Tôi bình sanh không tin việc dị đoan như vậy chắc Quân sư chê tôi già nên chẳng muốn cho đi.
Dư Hồng nói:
- Tướng quân tuy tuổi già mà sức còn khoẻ mạnh, tôi đây dám khinh khi. Bởi vì đêm qua tôi có xem thiên văn, thấy sao của tướng quân lu lắm. Nay hoãn lại ít ngày cũng chẳng can chi.
Lâm Văn Thả không nghe nghĩ thầm:
- Dư Hồng trước khi thắng trận, ỷ thế kiêu căng, nay thấy tướng Tống có tài nên sợ sệt.
Nghĩ vậy, Lâm Văn Thả nằng nặc truyền quân thắng ngựa khiêng đao ra, quyết dẫn binh ra trận.
Dư Hồng thấy vậy, chỉ còn biết lắc đầu, than:
- Thật là liều lĩnh.
Bên Tống, Đào Nguyên soái thấy quân Đường chạy loạn, hèn dẫn binh vào thành, xảy có một tướng già cưỡi ngựa cho tới hét:
- Có ta đây! Chạy đâu cho khỏi!
Triệu Hoàng Cô nghe nói đáp lại:
- Già gần xuống lỗ, còn muốn làm gió xoáy hay sao?
Nói rồi giục ngựa tới hét lớn:
- Tướng Đường đã chết hết, còn sót một mình lão phải không?
Lâm Văn Thả tuy tuổi đã cao, mà máu dê còn đỏ, thấy Triệu Hoàng Cô tuổi ngoài ba mươi, cốt cách dịu dàng, dung nhan đẹp đẽ thì ngó không nháy mắt, và nói lớn:
- Bên Tống có kẻ anh hùng, không người làm tướng hay sao mà đàn bà con gái ra đối địch binh Đường? Ta thấy gương mặt nàng như hoa nên ta không nỡ giết, ở nhà đây tuy tác đã già, mà sức mạnh còn hơn trai. Vậy nàng cũng nên theo ta, về làm bé một vị công hầu cũng là vinh dự, nếu đợi Đường lấy Tống thì mắc họa liên can, ta thương chút phận hồng nhan, chẳng muốn cho nàng bạc mạng!
Nói rồi, Lâm Văn Thả vuốt râu cười chúm chím và nhìn mặt Hoàng Cô.
Triệu Hoàng Cô nghe nói vô lễ, giận mắng:
- Mi là con trâu già không biết xấu hổ? Cốt nhà ngươi là thú thấy vợ chúng thì mê, tao quyết chém đầu, mới là đã giận.
Hoàng Cô giá siêu chém xuống. Lâm Văn Thả đỡ liền. Đàn bà cự với đàn ông, đánh mười hiệp chưa ai thắng bại. Lâm Văn Thả khen rằng:
- Đường đao của nàng giỏi lắm? Ngặt một điều là sức đàn bà.
Triệu Hoàng Cô thấy Lâm Văn Thả tuổi già mà sức mạnh hơn trai, mình lại cầm cây siêu quá nặng, tính đánh không lại mới nhịn thua, đánh vài hiệp rồi quất ngựa chạy dài, Lâm Văn Thả ráng hơi theo mãi.
Lâm Văn Thả đuổi gần kịp thì cười và nói:
- Chuyến này chắc bắt đặng nữ tướng đem về làm tiểu thiếp ?
Triệu Hoàng Cô liếc mắt thấy Lâm Văn Thả đến gần, liền rút ba mũi tên thần ra lấy cung nỏ lắp tên vào bắn Lâm Văn Thả. Hai mũi tên trúng vào gò má, một mũi trúng màng tang.
Lâm Văn Thả la to:
- Chao ôi !
Chưa kịp nhổ tên thì Triệu Hoàng Cô đã tới, chém Lâm Văn Thả bay đầu? Tiếc thay một tướng anh hùng, bị đàn bà mà chết, vậy mới biết sanh nghề tử nghiệp, vậy mới tin sắc lịch hại anh hùng!
Triệu Hoàng Cô chém rồi, chê đầu xấu nên không thèm lấy. Quân bên Đường áp tới, khiêng thây Lâm Văn Thả về thành.
Vua Nam Đường đương ngồi trông tin Văn Thả, xảy thấy quân khiêng thây về, vua Nam Đường biến sắc phán:
- Lão tướng quân không nghe lời Quân sư, nên không toàn tánh mạng. Nay tướng quân vì nước mà tử tại sa trường, rất nên trung nghĩa với triều đình.
Vua Nam Đường truyền chôn cất Lâm Văn Thả theo lễ chôn vua. Người đời sau có đặt hai bài thơ biếm Lâm Văn Thả như vầy:
1 - Đàn ông nhiều kẻ lạc lòng thương
Nên bị thuyền quyên sát hại thường.
Hào kiệt xưa nay lầm mãi mãi
Khuyên ai xem đó lấy làm gương!
2 - Làm trai chớ khá dễ đàn bà,
Tên độc trong mình bắn chẳng tha.
Thành tặc bởi già mà chẳng biết,
Nhờ nàng đưa xuống tới Diêm la.

Vua Đường thấy binh Tống mạnh quá, bền phán hỏi Dư Quân sư.
- Tuy chúa tôi Thái Tổ bị vây, mà có viện binh đến giải cứu bận trước tướng trai cũng thắng, đem binh cả vạn vô thành, bây giờ năm ả đàn bà, giết thác của mình hai tướng. Vậy xin Quân sư xét lại tại sao mình trước thắng rồi sau bại?
Dư Hồng tâu:
- Xin bệ hạ chớ lo, tại Văn Thả cãi lời nên phải chết, ấy là số trời đã định, huống chi thắng bại lẽ thường, tử sanh hữu mạng, có phải là tại bại ở đâu? Ngày mai tôi ra trận một phen, chắc đặng mười phần trọn thắng.
Vua Nam Dường nghe tâu mừng rỡ liền phán:
- Nếu Quân sư đến chốn chiến trường thì trẫm còn lo chi nữa !
Nói rồi vua truyền thị thần dọn yến tiệc mà đãi Quân sư. Nội ngày đó tôi chúa vui say, vì theo lời Quân sư, chắc mai thắng trận.
Còn Triệu Hoàng Cô tuy thua mà thắng, giết đặng một lão già yêu Đào Nguyên soái rất ngợi khen vì ba mũi tên thần đều trúng, khi ấy trời đã tối nên họ truyền quân đóng trại ở ngoài.
Rạng ngày, Đào Nguyên soái truyền cho quân binh đồng kéo rốc vào thành, xảy thấy Dư Hồng đem binh đến cản lại. Đào Nguyên soái nói rằng:
- Nay có binh Dư Hồng ngăn trở, nó có phép tắc cao kỳ, ai giao thương cũng phải giữ mình, nếu nó bại trận chớ đuổi theo mà chết !
Lý Túy Huê nói:
- Binh mình đã thắng hai trận, chắc sao yêu đạo cũng báo thù, trận này chẳng phải tầm thường, phải ráng giữ gìn cho lắm. Vậy xin Nguyên soái hiệp năm tướng lại, chẳng nên để cho một Hoàng Cô ra trận.
Đào Nguyên soái khen:
- Lý phu nhân phải lắm?
Rồi truyền gom binh tả hữu lại đồng theo tiếp tiên phong.
Triệu Hoàng Cô đi trước bỗng gặp đạo sĩ đón đường, nghi cờ tướng này là Dư Hồng, bắt chồng mình ngày trước, nên nổi giận nghiến răng trèo trẹo không thèm hỏi họ tên, xốc tới đánh chém đầu. Dư Hồng đưa gậy ra đỡ, biết là gái cọp, đến sức như Lâm Văn Thả còn phải bay đầu, nên Dư Hồng không dám đánh lâu, chỉ ít hiệp rồi chạy.
Triệu Hoàng Cô thấy Dư Hồng chạy thì biết không phải thiệt thua, ấy là kế trá bại gạt mình đặng dùng phép yêu mà bắt, biết thế không đuổi theo, truyền quân giục ngựa vô thành. Dư Hồng thấy Hoàng Cô không đuổi theo thì khó nổi dụng phép tà. Vì như cá không ăn câu làm sao bắt đặng, liền trở lại mà nói khích:
- Ta biết rồi, bên Tống hết tướng tài, cứ quen thói đem mồi câu cá. Lâm Văn Thả mê nhan sắc mày mà chết, cũng khá khen cho son phấn ròng nghề, song nghề là nghề với ai kia, cứ như ta là một vị thần tiên, không ham hoa đắm nguyệt. Ta không lòng Lữ Bố, mà đó phải bán dạng Điêu Thuyền, liệu bề dỡ thì chạy đi, bằng có tài thì đánh nữa. Ta nói thiệt, nguyện bắt cho đặng nhà ngươi mà tế mồ Văn Thả, kẻo vong hồn còn thương gió nhớ mây!
Triệu Hoàng Cô nghe nổi xung, hét lớn một tiếng và mắng:
- Ngươi là yêu đạo ! Quen thói gạt người, ta cho ngươi phải tội trời mà phải bỏ mình giữa trận!
Dư Hồng vừa nghe vừa ngẫm nghĩ:
- Cái lạc hồn ta đây giờ chẳng linh nghiệm như trước, còn đánh đấu lực thì mang xấu với quan gia, vậy phải dụng phi đao giết con cọp cái này mới được!
Nghĩ rồi Dư Hồng lấy con dao nhỏ, phóng đại lên trời, đao ấy hóa ra lớn và dài dường như cái mống. Triệu Hoàng Cô ngồi trên ngựa thấy cái mống trên trời sa ngay vào mình, hào quang chiếu sáng lòa, ai nấy cũng thất kinh hồn vía. Triệu Hoàng Cô giục ngựa chạy dài, mà coi lại thì cái mống ấy theo hoài, Triệu Hoàng Cô không biết tránh cách nào, đương lính quýnh bỗng bị cái mống ấy sa nhằm cánh tay mặt, liền té nhào xuống ngựa tức thì Dư Hồng xốc tới định chém đầu, thì may gặp Đào Nguyên soái đón lại, đâm Dư Hồng một giáo. Dư Hồng liền đỡ. Kế có La phu nhân và Dư phu nhân ra phò Triệu Hoàng Cô trở lại dinh trại.
Đây nói về Dư Hồng bị Đào Nguyên soái đâm một giáo. Dư Hồng vừa đỡ vừa thốt lui, thì Đào Nguyên soái lấy cây cờ nhỏ đen phất qua phất lại, niệm thần chú lâm râm, bỗng nhiên ám địa hôn, gió thổi đến ào ào, cát tuôn bay mù mịt, hóa ra hùm beo tây tượng bấu ăn thịt binh Đường. Dư Hồng thấy thất kinh độn thổ đi về mất.
Thương hại cho binh Đường bị thú dữ cắn chết biết bao nhiêu ! Phần binh Tống đuổi theo, giáo đâm gươm chém, máu tràn như mây, thây chất tựa gò.
Đào Nguyên soái mới thâu phép thần thông lại và đem binh về trại, thì thấy Triệu Hoàng Cô mặt thâm đen sì, nằm thiêm thiếp bốn vị phu nhân ngồi than vắn thở dài.
Còn Dư Hồng độn thổ về ra mắt vua Đường, tâu sự phi đao chém Hoàng Cô chắc nội bảy ngày phải chết, chỉ trừ ra có thuốc Tiên phép Phật thì mới cứu đặng cho, còn việc hao binh cũng là tiểu sự. Vua tôi cùng bàn luận, tính đem thêm binh vây thành Thọ Châu.
***
Lại nói Lưu Kim Đính ở Song Tỏa sơn từ khi đưa công tử rồi bèn dẹp bảng chiêu phu không còn kén chồng nữa. Lưu Nài không rõ vì cớ nào vậy, mới hỏi tiểu thơ:
- Con tuổi cũng trọng rồi mà kén không gặp đặng rể, không gặp người đồng lực mà sao con dẹp bảng chiêu phu đi?
Lưu Kim Đính thưa :
- Khi Cao Quân Bảo ghé tránh mưa đó, sáng ra y đi qua núi Song Tỏa, ỷ mình ròng võ nghệ đấm gãy bảng chiêu phu, con tức mình ra đánh với chàng, là quyết rửa hờn, chẳng ngờ cây thương của Quân Bảo hơn hết mọi người, con thua phải chạy dài nên thẹn mình dẹp bảng. Con nghĩ lấy làm thẹn mặt nên chưa dám thưa lại với cha.
Lưu Nãi nghe nói mừng trong lòng và nói:
- Khi ấy sao con không cho cha hay, để cho chàng đi mất như vậy? Cao công tử là cháu Tống Thái Tổ, con Đông Bình Vương, người đã vẹn hiếu vẹn trung, lại văn võ song toàn, cha mà đặng rể đông sàng như vậy thì mừng biết dường nào! Chẳng biết công tử có tưởng tình có lời chi giao ước hay không?
Lưu Kim Đính thưa :
- Công tử cũng yêu tài mến sắc con lắm, song gặp một điều đi cứu chúa cứu cha, nên có hẹn cùng con rằng: để đến thành Thọ Châu rồi sẽ tâu Thiên từ cho người đến rước. Đường từ đây đi Thọ Châu hơn nửa tháng, đi vừa khứ hồi chừng bốn mươi ngày, nay cũng đà hai tháng, sao mà bặt tin nhạn cá.
Lưu Nãi nói:
- Hồi trước cha phò vua Bắc Hớn đánh với Tống nhiều phen, bây giờ tính việc sui gia ắt là Thái Tổ ngại nước cừu không khứng. Lúc này sẵn dịp Tống Thái Tổ bị vây, con nên đem binh đánh giúp lập công, thì Thái Tổ hết lòng nghi ngại: trước làm quen với Tống, sau cho xong việc nhân duyên, ấy là con lấy tiếng với người, cho khỏi uổng công ăn học.
Lưu Kim Đính nghe cha nói cho đi, như đặng ngàn vàng, liền vui vẻ rồi trở vào phòng sửa sang đi cứu giá, có đem theo các phép của Lê Sơn Thánh Mẫu và bốn con thế nữ đã tập rèn. Sữa soạn xong ra lạy tạ từ cha, rồi Kim Đính lên yên giục ngựa. Đường đi mang sao đội nguyệt, chải gió dầm mưa, đi nửa tháng trường mới tới thành Thọ Châu.
Lời Bàn.
Lấy chồng phải theo chồng, theo chồng phải gánh sự nghiệp nhà chồng. Đó là quan niệm Khổng học.
Vợ chồng là một khối thống nhất giữa tình cảm và ý thức trong cuộc sống. Nếu hai bên không kết hợp được thì cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Lưu Kim Đính theo chồng, đem thân phụng sự nhà chồng, đó là việc làm theo ý nghĩa xây dựng gia đình theo quan niệm Đông Phương. Lưu Nãi, một ngươi cha đã biết dạy con gái mình, và giúp cho Lưu Kim Đính thực hiện đúng nhiệm vụ làm vợ, làm dâu khi về nhà họ Cao.

0
Hồi Thứ Mười Một

Vâng lời cha, Kim Đính giá,
Mang ơn chúa, Quân Bảo vầy duyên.


Khi tới Thọ Châu, nhằm lúc Triệu Hoàng Cô bị thương nằm trong trại la, Kim Đính bèn sai bốn con đòi vào báo với Đào Nguyên soái hay. Đào Nguyên soái với ba vị phu nhân chưa rõ ra cội rễ. Lưu Kim Đính bước vào ra mắt, và thưa hết sự tình.
Đào Nguyên soái và ba vị phu nhân nghe nói mới hay rằng: công tử đi dọc đường tỉ võ và hứa việc nhân duyên, nên nay Lưu tiểu thơ vâng lệnh cha đến giúp. Lý phu nhân thấy tiểu thơ sắc nước hương trời thì lòng mừng thầm cho cháu phỉ duyên đẹp phận. Lưu Kim Đính thưa cùng mấy vị phu nhân xin ra mắt mẹ chồng cho biết mặt.
Đào Nguyên soái nói rằng:
- Triệu Hoàng Cô ra trận bị phi đao của Dư Hồng, hôm rày thuốc thang cũng chẳng lành bịnh làm khi mê khi tỉnh, lúc mê thì nằm hoài nằm hủy, khi tỉnh lại la nhức la đau, còn nằm tại dinh sau, không biết thuốc chi mà xức! Vì Hoàng Cô bịnh trọng quá nên phá vây chưa đặng mà đem binh tướng vào thành.
Lưu Kim Đính nghe nói, lật đật thưa:
- Xin cho tôi coi thử thương tích ra thế nào, tôi có thuốc linh đơn hoặc may cứu đặng.
- Lý phu nhân mừng rỡ nói:
- Vậy thì cháu đi với thím ra sau coi có thuốc chi cho thử.
Lưu Kim Đính vào coi kỹ lưỡng thấy một vết trên vai thì nói rằng:
- Cái đao này đã rèn một trăm năm, ai phạm tới nó thì mục xương mà chết, không thuốc chi cứu đặng, trừ ra có một món tiên đơn, Lê Sơn Thánh Mẫu có cho tôi để đem theo mình, hễ uống vào thì lành mạnh.
Bốn vị phu nhân đồng nói rằng:
- Trời khiến tiểu thơ đến đây cứu Hoàng Cô khỏi nạn!
Sau đó Lưu Kim Đính sai con đòi đem nước lạnh ra lấy hoàn thuốc nhỏ màu đỏ như son, hòa ra một chum, nửa thoa, nửa cho uống. Triệu Hoàng Cô uống rồi giây lát trong vai chảy nước độc đen như mực, ra đặng chừng một chén đầy thì vết ấy tự nhiên gom miệng, Hoàng Cô hết la đau nhức, ngủ một giấc thẳng thừng, khi thức dậy ngồi tỉnh rồi hỏi:
- Tôi bị phi đao, nhờ thuốc chi mà hết?
Bốn vị phu nhân bèn chỉ Kim Đính và nói:
- Nhờ Lưu Kim Đính tiểu thơ đến đây quyết ra tay giúp Tống, nhân dịp cho Hoàng Cô uống thuốc linh đơn, bởi mình làm lành nên gặp lành, dầu mắc cạn cũng khỏi nạn.
Triệu Hoàng Cô nghe rõ, bèn bước xuống tạ ơn. Lưu Kim Đính chối từ không dám nhận.
Lý phu nhân kéo Hoàng Cô lại, rồi thuật chuyện trước sau, Triệu Hoàng Cô nghe rõ mừng và nói:
- Ấy cũng là duyên tiền định nên khiến cho Quân Bảo trốn nhà đi mà gặp đặng duyên lành! Nay có nàng dâu đến cứu, nhắm cũng xứng trai tài gái sắc, hiệp nhau mà phò Tống dẹp Đường. Thiệt là nàng trung hiếu lưỡng toàn, đã nên trang tài nữ.
Lưu Kim Đính làm lễ và thưa rằng:
- Công tử đã hứa lời vàng đá, nên cha tôi sai đến tiếp binh xin Nguyên soái biên tên đặng lập công với nước.
Đào Nguyên soái ghi tên vào sổ công rồi truyền quân dọn yến mà thết đãi tiểu thơ. Tiệc rồi ai nấy đều nghỉ ngơi, song có Hoàng Cô với tiểu thơ không ngủ. Mẹ chồng với nàng dâu mới nói chuyện, hỏi thăm từ chân tóc kẽ răng, tình ưa càng kể càng dài mà không hay trời sáng.
Rạng sáng, Đào Nguyên soái truyền lệnh hiệp binh đặng giải phá trùng vây. Binh gia bốn mươi vạn, kéo đi rầm rầm rộ rộ, Lưu tiểu thơ có phép nên đi tiên phong thế chức cho Hoàng Cô, đặng nếu gặp Dư Hồng sẽ ra tài đấu phép, trước là vào thành cho Hoàng Đế hay tin, sau là giáp mặt Cao Quỳnh kẻo lâu ngày trông đợi. Lưu Kim Đính lãnh lệnh tiễn rồi, cầm đao lên ngựa tức thì.
Đào Nguyên soái bèn hỏi:
- Tiểu thơ muốn lãnh bao nhiêu binh đặng đi trước giải vây cho chắc thắng?
Lưu Kim Đính thưa:
- Đánh giặc với giải vây khác xa nhau lắm! Đánh giặc thì dụng binh đông cho mạnh thế, lập trận khỏi thiếu người, còn như việc giải vây đem binh đông càng khó giữ, bốn con đòi của tôi đây cũng đủ, chẳng dùng binh tướng làm chi!
Đào Nguyên soái khen phải nên dẫn binh tướng đi sau, một mình Kim Đính đi tiên phong với bốn con thế nữ.
Lưu Kim Đính một người một ngựa, vào chém loạn đả Đường binh, gặp tướng thì tướng nhào, gặp binh thì binh chết, phá luôn luôn như vậy, hết bảy vòng binh Đường.
Còn trên thành Thọ Châu khi nghe binh ó vang trời, tôi chúa lên thành coi thử, ngỡ là năm vị phu nhân đến tiếp, song coi lại ngọn cờ không phải của nước mình. Tôi chúa hồ nghi không hiểu là binh của ai và ở đâu kéo đến, xảy thấy một nữ tướng cưỡi ngựa đến thành, hình dung tươi tốt như hoa, diện mạo xem dường tiên nữ, nàng ấy nói lớn:
- Tôi vào báo tin cho Bệ hạ hay, có năm vị phu nhân đem binh đến cứa giá còn đi sau.
Tống Thái Tổ mới hỏi rằng :
- Nữ tướng là ai đó?
Lưu Kim Đính tâu:
- Tôi là con gái Lưu Nãi, tên là Kim Đính, vợ của Cao Quỳnh, xin vào ra mắt Bệ hạ.
Tống Thái Tổ nghi ngờ:
- Lưu Nãi làm quan Bắc Hớn là nước cừu thù, sao con này lại đến đây giải vây, xưng là vợ của Cao Quân Bảo? Vả lại Quân Bảo thuở nay chưa có vợ, chuyện này không biết giả chân, còn Quân Bảo nằm mê man biết làm sao mà hỏi cho rõ?
Nghĩ rằng Nam Đường làm kế, gạt mở cửa cho quân vào nên Tống Thái Tổ hỏi lớn:
- Nữ tướng nói vâng lệnh Nguyên soái xin nhập thành, vậy chớ có lệnh tiễn hay không, đưa ra coi thử.
Lưu Kim Đính nói có, liền thò tay rờ trong túi thì đâu mất, bèn phách lạc hồn xiêu, mồ hôi ra ướt áo, mới tâu lớn:
- Tôi vâng lệnh Nguyên soái đi tiên phong, có lãnh lệnh tiễn, bởi phá bảy vòng binh lâu lắm. chắc là làm rớt dọc đường, xin Bệ hạ rộng suy, dung tội cho hạ thần thứ nhất.
Tống Thái Tổ phán:
- Viện binh cứ tin ở cờ lệnh tiễn, nếu không làm sao biết đặng thiệt hư? Trẫm cũng muốn cho vào, lại sợ lầm mưu của giặc.
Lưu Kim Đính bèn tâu:
- Tuy mất cờ lệnh tiễn mà còn có vật làm tin, xin Bệ hạ xem qua, thì hết lòng nghi ngại. Tống Thái Tổ truyền quân dòng cái thùng xuống, Kim Đính lấy đôi vòng của Quân Bảo để vào thùng. Quân rút dây lên, lấy đôi vòng dâng cho Thái Tổ. Thái Tổ cầm vòng coi rõ có chạm chữ Cao Quỳnh thì lòng đã tin rồi, chẳng còn nghi ngại, song nghĩ lại con này tài lắm, mới phá nổi trùng vây, chi bằng giả dạng hồ nghi cho nó trở lại một lần nữa. Trước là thử tình thiệt dối, sau là giết bớt binh Đường. Như vậy đặng lợi hai phần, song cũng là lòng độc!
Tống Thái Tổ mới nói rằng:
- Đôi vòng thiệt có tên Quân Bảo, song e khi nó làm mất mà nàng xí được chăng? Lại cũng nhiều người trùng họ trùng tên, có chỗ chi làm chắc?
Lưu Kim Đính tâu:
- Nếu Bệ hạ không tin, thì cho Quân Bảo ra đây sẽ biết.
Tống Thái Tổ nghe nói khen thầm:
- Mình tính kế cũng sâu, nó kêu nài cũng phải. Muốn vậy cho vậy, để gạt nó đi cho giáp vòng thành.
Thái Tổ bèn nói:
- Nàng muốn gặp cháu trẫm, cũng chẳng khó chi. Quân Bảo đang trấn tại thành Nam, vậy hãy đi tới Nam môn thì gặp.
Lưu Kim Đính túng thế, phải giục ngựa qua thành Nam.
Lưu Kim Đính nghe Thái Tổ nói Cao công tử trấn tại thành Nam, vì muốn thấy mặt chồng, nên bèn dẫn bốn con thế nữ phá trùng vây thẳng tới cửa Nam. Lưu Kim Đính đi tới đâu binh tướng tránh đường, không ai dám ngăn cản. Tiểu thơ giục ngựa đến cửa Nam kêu lớn rằng:
- Có Cao công tử ở đó không?
Kêu rồi bỗng thấy một người mặt đỏ đứng trên thành, coi lại là Thái Tổ.
Lưu Kim Đính thấy Thái Tổ thì chúc vạn tuế rồi tâu:
- Chẳng hay công tử đi đâu vắng, không có lên thành?
 Thái Tổ nói:
- Bởi vì binh Đường phá thành Tây không ai đánh lại, phải triệu ngự sanh qua đó mà trấn thủ thành Tây nên trẫm đến đây trả lời cho nữ tướng rõ.
Lưu Kim Đính nửa giận nửa nghi. Song đã lỡ bề, lui không tiện mà tới cũng gay, nghĩ vậy tạ từ Hoàng Đế, một đoàn kéo tới thành Tây.
Khi Kim Đính dẫn mấy con tỳ nữ đi đặng một hồi, bỗng có tướng canh ra đón đường, bị tiểu thơ chém chết, bốn con đòi lướt tới phá nát vòng binh. Lưu Kim Đính giục ngựa tới cửa thành và kêu lớn:
- Cao công tử ! Có Lưu Kim Đính tới đây !
Kêu rồi xảy thấy Thái Tổ lên mặt thành phán:
phá bên thành cửa Bắc rất gấp cho nên ngự sanh phải đến Bắc môn ứng tiếp, vậy nữ tướng phải đi qua thành Bắc thì chắc gặp chẳng không !
Lưu Kim Đính nghe nói liền khóc và than:
- Mình phá thành Đông, thành Nam, thành Tây là ba cửa chẳng nài đụt pháo xông tên, mà không thấy mặt chồng, thiệt lấy làm vô duyên bạc phận! Không rõ vì cớ nào mà chẳng cho chồng vợ gặp nhau?
Lưu Kim Đính đứng lau nước mắt hoài, không tung hô vạn tuế nữa. Con đòi của Kim Đính tên là Hạ Liên thấy vậy liền thưa:
- Chuyện này tôi đã rõ rồi, Tống Thái Tổ tánh nghi như Tào Tháo, thấy mình không có lệnh nên nghi là Nam Đường giả mạo vào thành, nên cố ý thử hoài, bắt đi cùng bốn cửa. Một là coi thiệt giả, nếu quả là binh trá hàng thì đánh chẳng thiệt tình, hai là mượn sức mình, giết bớt binh Đường cho Thái Tổ, nên phá ba cửa mà chẳng gặp công tử của cô. Mình đã phá ba dinh chỉ một cửa lẽ nào trở lại? Huống chi bây giờ trở về cũng khó, biết làm sao thưa lại với ông? Công đào giếng đã lâu, chỉ một thước nữa bỏ đi uổng lắm! Nếu phá xong thành Bắc, không lẽ vua còn biểu đi đâu? Dầu người hiểm bậc nào cũng phải cho gặp mặt.
Tiểu thơ đánh phá ba cửa đà hết nửa ngày trong bụng thì đói lòng, ngoài lại mệt hết hơi. Lưu Kim Đính mới lấy năm hoàn thuốc chia nhau mà uống đỡ lòng, rồi ráng qua cửa Bắc.
Còn về Nam Đường từ lúc ban mai đến nửa ngày thì nghe quân báo, lần đầu:
- Có năm tướng gái đến phá vây cửa thành Đông.
Hai lần sau:
- Chúng nó qua cửa thành Nam, thành Tây, mà Quân sư làm lảng.
Vua Nam Đường không lẽ ép đi, nay nghe quân báo rằng:
- Năm nàng ấy xông vào cửa thành Bắc nữa!
Vua Nam Đường mới tức giận nói:
- Trong nửa ngày mà bị năm con a hoàn phá bốn vòng binh tan nát, coi như thế đến chỗ không người, đi giáp vòng không biết sợ ai, thế này phải thỉnh Quân sư ra cứu binh mặt Bắc.
Dư Hồng nghe báo rằng có năm nàng nữ tướng phá hết ba mặt binh thì rõ biết là Kim Đính, học trò của Lê Sơn Thánh Mẫu, chắc nàng này phép tắc cao lắm, báu vật cũng nhiều, nghĩ vậy nên làm lảng làm ngơ, chẳng dám ra thành cự địch. Chẳng dè vua Đường ép trí, không lẽ từ chối. Dư Hồng bèn cử binh ra thành mà chỉ thấy có năm tướng gái phá nát các vòng binh!
Dư Hồng hỏi:
- Nữ tướng có phải là Lưu tiểu thơ, đệ tử của Lê Sơn Thánh Mẫu chăng?
Lưu Kim Đính đáp:
- Phải!
Rồi Lưu Kim Đính hỏi lại Dư Hồng:
- Dư sư huynh có phải học trò Xích Mi lão tổ chăng?
Dư Hồng đáp phải và hỏi lại Lưu Kim Đính:
- Ông thân đại hữu hồi trước phò Lưu Sùng là vua Bắc Hớn, vả lại ngài là em của vua. Làm quan đến cực phẩm, sau Thái Tổ lấy Bắc Hớn vậy có phải Tống là nước cừu thù! Đạo hữu là dòng dõi họ Lưu, cháu vua Bắc Hớn, đáng lẽ thì oán Tống, qua giúp với Đường, bởi vì Đường đánh Tống trận này, cũng để trả thù ho Bắc Hớn. Ông thân đạo hữu hồi trước là tôi Bắc Hớn, nay tuy tuổi già mà không lẽ phụ quân vương, sao đạo hữu lại đánh Đường, mà giúp Tống là nước cừu nước oán là nghĩa lý gì? Xin đạo hữu xét lại có phải là trái lẽ chăng? Đạo hữu với tôi tuy khác thầy song cũng là một đạo. Nếu đua tranh như thế, chắc là thiên hạ chê cười, vả lại ngao cò chẳng nhịn nhau, chắc ông câu có lợi chi bằng xét lại lời can gián về giúp Đường thì vua Đường kính trọng mười phần, mà đạo hữu cũng đặng làm quan tột phẩm. Tôi cũng bày lời hơn thiệt, xin đạo hữu xét lại thử coi, chớ như Thái Tổ là người bạc nghĩa vô tình, đến nỗi Trịnh ân là em bạn có công mà còn sát hại. Nếu tin lòng đầu Tống, ra công lấy nước Đường thì Thái Tổ như Hớn Cao Tổ còn đạo hữu như Hàn Tín, hẳn đặng chim rồi bẻ ná, bắt đặng cá lại quên nôm, chừng đó đạo hữu mới ăn năn sao kịp?
Lưu Kim Đính đáp lại:
- Mấy lời nói đó, nghe ra chẳng khác kẻ nghịch thiên, mình đã lầm lỗi lại muốn cho người khác phải khốn! Khi trước cha ta có làm quan Bắc Hớn, bởi vua chẳng nghe lời can gián, bỏ việc chánh nhân, dùng kẻ gian tà, tham lòng sắc dục, lòng dân chẳng phục, vận nước hầu suy, cha ta liệu khó nỗi phò trì, nên từ chức lui về phường rẫy. Ấy là người minh triết, biết họa mà lánh trước, còn sư huynh không biết tùng quyền, cứ chấp kinh mà trách? Vả lại đệ tử Xích Mi lão tổ cũng là một vị thần tiên, há không biết cơ trời xây giang sơn về cho Tống? Khí số nhà Đường đã hết, cãi trời sao đặng mà phò, tiếc cho sư huynh công tu hành đã tám trăm năm, cũng gần thành chánh quả, nếu mến công danh phú quí, làm nghịch ý trời, sợ bỏ xác nơi chiến trường, rất uổng công tu luyện.
Dư Hồng nghe Kim Đính nói mình là: "Sợ bỏ thây nơi chiến trường” thì nổi giận, mình nói lành mà nó sanh dữ. Nên Dư Hồng đỏ mặt tía tai, hét lớn:
- Mi là con khốn! ăn nói hỗn hào, quyết một trận cho biết thấp cao ?
Nói rồi đánh xuống một gậy, Lưu Kim Đính đưa đao ra đỡ.
Hai đàng đánh đặng mười hồi mà không phân thắng bại. Dư Hồng có tuổi, mà Quân sư cũng ít tài, bị Kim Đính đánh đỡ đà không kịp.
Dư Hồng nghĩ:
- Chắc đấu tài không lại, phải dụng phép mới xong!
Liền lấy phi đao quăng lên, hào quang chiếu ra sáng giới.
Còn Tống Thái Tổ đứng trên thành nhìn xuống, ban đầu mới thấy hai người nói chuyện, ở xa nghe rõ ràng, kế thấy Dư Hồng móc túi lấy phi đao quăng lên. Thái Tổ thất kinh hồn vía, chắc lưỡi nói:
- Nếu nữ tướng bị phi đao, thì cũng như trẫm giết, phải cho vào trước, đâu đến đỗi nước này.
Thái Tổ đương than thở, bỗng thấy Kim Đính lấy một cây cờ nho nhỏ năm sắc quăng lên phía trên hào quang chiếu sáng, thì cây phi đao ấy sa xuống đất tức thì.
Tống Thái Tổ mừng rỡ khen:
- Không dè con nhỏ này có phép tiên như vậy? Ai cũng sợ yêu đạo mà Kim Đính lại có phép cao hơn, chắc phải nhờ con này giải vây mới đặng! Thiệt đáng làm cháu dâu của trẫm lắm. Chắc là trời sanh gái anh hùng đặng dẹp Đường giúp Tống, thôi để trẫm đánh trống trợ oai cho nữ tướng.
Dư Hồng đang đấu phép với Kim Đính, bỗng bị cờ Ngũ Thể âm dương đánh phi đao rơi xuống thì Dư Hồng thâu phi đao lại mà cất, rồi niệm thần chú hớp một hơi gió bên Tây Bắc thổi qua, Dư Hồng cầm gươm báu trong tay mà chỉ, xảy đâu gió giông như bão, không thấy mặt trời, cát bay ào ào vãi tới.
Lưu Kim Đính cười và nói:
- Yêu đạo làm phép ấy rất nhỏ mọn và không biết hổ ngươi!
Kim Đính liền niệm thần chú rồi vỗ tay tức thì sấm vang một tiếng, hết giông hết gió, trời nắng như thường.
Dư Hồng thấy Kim Đính phá phép mình thì ngẫm nghĩ:
- Nếu mình dùng mấy phép tầm thường thì nó biết hết, bây giờ không biết dùng phép chi lạ mà hại nó cho đặng?
Lưu Kim Đính thấy Dư Hồng đứng trơ trơ, biết anh ta hết phép và nghe trống trên thành giục tới, coi lại là Thái Tổ cầm dùi. Kim Đính muốn làm phép cao kỳ cho Thái Tổ ngó thấy. Nhớ lại Thánh Mẫu có cho một báu vật là cây roi đả tiên, dầu cho quỉ thần nó cũng đánh hết. Kim Đính liền lấy cây roi ấy quăng lên, hào quang chiếu sáng cả trời. Dư Hồng ngó thấy liền nhảy xuống hươu độn thổ trốn mất, bỏ hươu đứng đó. Kim Đính thấy Dư Hồng chạy mất rồi, liền đánh binh Đường, bốn con đòi cũng đuổi theo chém giết, còn tên nào chưa tới số thì thoát đặng chạy về trào. Còn Lưu Kim Đính trở ngựa đến ngoài thành với bốn con thế nữ.
Lúc ấy Tống Thái Tổ mới truyền mở cửa thành rước vào hết thảy, năm nàng bước tới đồng lạy và chúc thọ nhà vua.
Tống Thái Tổ cho ngồi và phán:
- Chẳng phải trẫm không cho nữ tướng thấy mặt ngự sanh bởi vì hai tháng trước nó vào thành bị bịnh nằm liều, nói năng không đặng. Nay nữ tướng muốn thấy mặt nó thì đi thẳng đến nhà sau.
Kim Đính nghe nói chồng đau đã hai tháng thì thất kinh, bèn tâu:
- Tôi tuy chẳng biết làm thầy, song có thuốc của Thánh Mẫu để cho hộ thân, trị bệnh cũng mạnh, chắc là công tử bị trải gió dầm sương, nên bị chứng thương vong mà mê mẩn. Đến như Hoàng Cô bị phi đao bịnh trọng, thuốc tiên tôi còn chữa lành thay huống chi công tử chứng ấy, mà lo ngại gì, hễ gặp thuốc tiên thì phải hết, không hề gì đâu?
Tống Thái Tổ nghe Kim Đính nói có thuốc, thì mừng rỡ vô cùng, bèn truyền cho Miêu Quân sư dẫn tiểu thơ và bốn con đòi đến nhà sau, nơi công tử nằm, và dẫn Lưu Kim Đính đi trị bệnh. Lưu Kim Đính truyền a hoàn đi múc nước, rồi tán thuốc linh đơn, bước lại giường ngà thấy Cao công tử mặt như tàu lá, nằm nhắm hai con mắt, không động đậy chân tay. Kim Đính thấy chồng như vậy, đau lòng rơi lụy và than:
- Cách hai tháng trước, gặp chàng mạnh dạn, nay chẳng may mang bệnh bất kỳ mà sanh ốm gầy thể ấy, vì tôi đến đây chậm bước nên chàng bệnh nhiều ngày, ấy là lỗi tại tôi, vậy mà cứ trách chàng sao lỗi hẹn!
Khóc rồi Kim Đính sai bốn con đòi đỡ công tử dậy.
Kim Đính một tay đỡ lưng Quân Bảo, một tay bưng thuốc linh đơn cho công tử uống, rồi đỡ công tử nằm xuống lấy mền gấm đắp lên. Công tử nằm một hồi lâu đổ mồ hôi như tắm, qua nửa ngày mới tỉnh, bèn cựa quậy chân tay, dụi con mắt thở ra và chống tay ngồi dậy.
Tống Thái Tổ mừng rỡ và khen:
- Không ngờ con cháu dâu có thuốc tiên hay quá ! Bệnh hơn hai tháng trị có nửa ngày, ngự y điều trị thuở nay mà chẳng hề thuyên giảm, may gặp đặng thuốc hay, dầu Lư Y, Biển Thước đời xưa trị cũng không mau lành như vậy!
Cao Quân Bảo thấy Thái Tổ ngự đến, liền bước xuống giường làm lễ tức thì. Thái Tổ khuyên:
- Cháu chẳng nên giữ lễ làm chi, bệnh mới khá hãy nằm mà nghỉ, ít ngày cho thiệt mạnh, rồi sẽ ra ngoài.
Cao Quân Bảo tâu:
- Tôi bây giờ mạnh khỏe như thường, xin Bệ hạ đừng lo chi nữa. Song chưa rõ Lưu tiểu thơ đến hồi nào đó?
Tống Thái Tổ nghe hỏi thì biết công tử bệnh nhiều nên không hay tới chuyện ngoài, liền cười chúm chím, phán:
- Lúc cháu phá vòng vây vào ải, trẫm truyền dọn yến ăn mừng, cháu đương dự tiệc bởi nhiễm gió bệnh hơn hai tháng nay, nay có vợ cháu đến giúp, cho cháu uống thuốc tiên. Có nhờ sức tiểu thơ cháu mới lại hoàn sanh mạng, vậy cháu phải tạ ơn Lưu tiểu thơ cứu mạng.
Cao Quân Bảo thấy Kim Đính đến đó thì lo sợ mười phần, e Thái Tổ chấp rằng một mình hứa việc nhân duyên, chẳng thưa cùng cha mẹ. Nay nghe Thái Tổ thuật chuyện lại thì Quân Bảo biết vua đã hay rồi, mới nói đỡ:
Khi cháu quyết đến đây cứu giá, lỡ đường ghé nghỉ nhà họ Lưu, có nói lỡ một lời chớ chưa có giáp mặt tiểu thơ mà giao lời ước hẹn, sao tiểu thơ dám kể chắc đến đây tâu trước bệ rồng?
- Tôi chưa bẩm với song thân, biết cha mẹ có khứng? Nay tiểu thơ nói quả quyết như vậy có phải là buộc tội cho tôi không?
Lưu Kim Đính nghe Quân Bảo nói thì nổi giận trả lời:
- Nếu vậy thì công tử là người bội ước, còn tôi đây cũng chẳng phải là hoa tàn héo úa chi mà mọng đeo theo lá ngọc cành vàng?
Công tử nhớ lại mà coi, khi đập bảng chiêu phu tại Song Tỏa, cùng nhau đấu võ, tôi có giao rằng: "Hễ ai hơn tôi thì phải nâng khăn".
Câu nhứt ngôn thiết quá, công tử hứa chắc rồi mới đi cứu giá. Nay cha tôi sai tôi xuống, một là lập công với Bệ hạ mà đánh phá Dư Hồng, hai là cứu Đông Bình Vương cho trọn niềm phụ tử, không phải tại tôi tự ý, sao chàng buông tiếng bạc đen?
Tống Thái Tổ hiểu ý nên cười và nói:
- Thôi! Hai cháu chớ đôi co, trẫm dã biết hết! Chắc ngự sanh có hứa, song sợ phạm tội triều đình, một là chưa thưa với cha mẹ, hai là kết duyên với nước giặc, sợ e phạm luật, cũng như lâm trận chiêu thân. Thôi, nay trẫm đứng chủ hôn, không bắt tội chi hết. Vả lại cháu đặng vợ như vậy phước biết chừng nào, khi ở ngoài trại thì cứu Hoàng Cô lành bệnh phi đao, bây giờ vào thành cứa ngươi đặng thuyên cửu bệnh. Cứu được hai mạng nhờ có một tay nàng, ngươi phải lạy tiểu thư tạ ơn cứu mẹ, chẳng nên sợ tội mà nói bạc tình. Huống chi Kim Đính đánh đuổi Dư Hồng có công với trẫm, việc lứa đôi đã xứng còn cãi lẫy làm chi?
Khi ấy Cao Quân Bảo cười chúm chím, cúi đầu mà lạy Lưu tiểu thơ. Lưu Kim Đính hai tay đỡ dậy và nói:
- Đạo làm dâu phải vậy, chớ có ơn chi!
Tống Thái Tổ nghe hai vợ chồng thuận hòa, lòng mừng khấp khởi lại nghe quân báo:
- Đào Nguyên soái và Triệu Hoàng Cô đã đến.
Thái Tổ liền truyền cho các quan văn võ và hai vợ chồng Quân Bảo mở cửa thành ra nghinh tiếp.
Năm vị phu nhân vào thành, đồng quì lạy vua và tung hô vạn tuế, vua Thái Tổ cho ngồi và giả ơn cứu giá.
Cao Quân Bảo lạy mừng mẹ và thưa:
- Xin mẹ dung tội cho con, một là trốn đi cứu giá, hai là tội thí võ nghệ mà hứa việc nhơn duyên nhờ Bệ hạ dung thứ, đem công trừ tội.
Hoàng Cô mới nghe qua bèn quở trách, thì Thái Tổ giải khuyên:
- Trốn đi cứu chúa, cứa cha, trốn ấy cũng nên dung tội!
Mấy vị phu nhân cũng nói giúp nên Hoàng Cô đổi giận làm vui. Còn Cao Quân Bảo ra mừng em là Cao Quân Bội, cùng nhau thuật chuyện đi đường.
Lúc ấy, Thái Tổ nói với Hoàng Cô rằng:
- Kim Đính tài sắc song toàn thiệt xứng đôi với Quân Bảo, nàng ấy phép tiên nhiều lắm, đánh mới lại Dư Hồng, trị bệnh cho Hoàng Cô và Quân Bảo nữa. Vậy phải chọn ngày huỳnh đạo mà lập cuộc đuốc hoa, rồi lo phá Nam Đường mà ban sư về nước cho sớm. Vả lại Đông Bình Vương lòng ngay dạ thẳng, mật giải gan trung, nếu để sau về đây chắc không cho con kết duyên cùng gái nước nghịch, thì sanh ra lỗi nguyền ước hẹn, phụ tình Kim Đính trẫm chẳng bằng lòng. Thà một mình Hoàng Cô đứng chủ hôn tính trước.
Triệu Hoàng Cô tâu rằng:
- Vương huynh tính vậy hay lắm! Kim Đính ân tình đã nặng tài phép cũng cao, tánh nết lại dễ thương, việc ấy cũng nên tính gấp kẻo ngày sau trắc trở lứa đôi.
Tống Thái Tổ mừng rỡ liền phán:
- Mai đây đặng ngày lành, vậy phải dọn phòng hoa chúc.
Nói rồi vua truyền quân sửa soạn cho kịp ngày mai.
Triệu Hoàng Cô bèn tâu:
- Tôi nghe nói Đông Bình Vương bị bắt, đầu Đường đem binh về đánh Tống, vua mắng, chẳng hay có vậy chăng? Xin cho tôi tường kẻo ngại!
Thái Tổ phán:
- Quả có như vậy, ban đầu trẩm giận lắm, sau Quân sư bàn rằng: Đông Bình Vương trung nghĩa, không lẽ như vậy, chắc là bị bùa mê thuốc lú của Dư Hồng nó khiến cho Nguyên soái danh nhơ tiếng xấu. Trẫm nghe phải lẽ nên không chấp. Hoàng Cô còn ngại làm chi.
Hoàng Cô và Quân Bảo nghe vua nói như vậy đồng lạy tạ ơn. Qua đêm sau dọn tiệc giao duyên.
Về sau ông Háo Cổ có làm một bài thơ như vầy:
"Tuy hai người mới, mà một cặp quen
Thiên nhai ngõ cũ, bánh xe đi đã êm đường,
Đỉnh Giáp điềm sau, giấc điệp xem liền biết mặt
Ong chưa nếm nhụy, khôn tìm một điểm mật hoa.
Mưa tối dầm non, trực nhớ hai phần mái nước. "

Đêm ấy hai người vâng chỉ hiệp vầy cầm sắt, gắn chặt keo sơn, hoa đuốc rỡ ràng, bây giờ dạn dĩ hơn khi trước. Bởi Cao Quân Bảo khi có mặt Thái Tổ nên chối việc hẹn hò, e tiểu thơ không suy, trách mình phụ bạc, nên trả lời cùng Kim Đính rằng vì mình sợ tội nên phải nói màu.
Tiểu thư nghĩ thông nên không hề giận, liền nói với công tử:
- Nhờ ơn hoàng đế đứng việc chủ hôn, nên vợ chồng ta mới đặng kết nghĩa trăm năm, vầy duyên cá nước. Vậy đôi ta phải quyết liều thân trâu ngựa mà đền đáp nghĩa quân vương.
Hai người kể hết ân tình, xảy nghe gà gáy sáng, vợ chồng mới trang điểm ra lạy tạ ơn vua, rồi lạy Hoàng Cô, tạ ơn sanh thành dưỡng dục.
Hoàng Cô thấy con dâu thuận thảo, rất mừng nên nói:
- Hai vợ chồng bây nên đôi là nhờ ơn vua cậu, phải hết lòng ráng sức mà báo nghĩa quân ân. Còn mẹ từ khi đến đây cũng chưa rõ việc cha bây ra thế nào, trong lòng rất ái ngại. Ngày mai phải ra trận đánh với Nam Đường đặng dò tin cha bây coi thử đầu thiệt hay đầu đỡ.
Cao Quân Bảo nghe mẹ nói thì thưa:
- Khi con vào thành, quyết dò tin cha cho rõ, rủi mang bệnh nặng, mê mẩn nằm liều, mấy ông ngự y cho thuốc không mạnh, may nhờ linh đơn của Thánh Mẫu, nên mới tỉnh hồn, hai vợ chồng con cũng có bàn luận ngày mai xin ra trận.
Trịnh ấn từ khi Quân Bảo mang bệnh, vua sai Trịnh ấn đi vận lương, khi giải lương về gặp mẹ tới ải, mẹ con cùng nhau mừng rỡ, tức thời liền tâu cho vua hay.
Thái Tổ phán:
- Nhữ Nam Vương rất dày công, vận lương lao khổ, vậy trẫm cho nghỉ ngơi cho khỏe, sẽ ra trận giao thương.
Trịnh ấn tạ ơn lui về.
Bữa sau, Thái Tổ thấy lương thảo đã đủ, binh tướng cũng đông, bèn truyền lệnh đánh Nam Đường, quyết tranh tài cao thấp.
Đến khi hai bên giáp chiến thì Nam Đường bại trận luôn luôn.
Dư Hồng làm phép bao nhiêu, bị Kim Đính phá tan hết thảy không còn như khi trước mà bắt tướng như chơi !
Vua Nam Đường thấy Quân sư ra trận bại hoài, hết chỗ trông cậy, nên ra tuồng lợt lạt, không trọng đãi như xưa. Đã vậy vua Nam Đường theo nói khích hoài, cho Dư Hồng ráng sức.
Dư Hồng thấy vua nói khích, tức mình tâu:
- Việc binh thắng bại là lẽ thường, Bệ hạ hơi nào mà lo sợ? Tôi là học trò của một vị tiên lớn, tu luyện ngàn năm, lẽ nào chịu thua đàn bà con gái! Vậy để tôi làm miếng cũ, cho bên Tống chúa tôi hờn giận nhau, con nói cha chẳng trung, vợ trách chồng làm phản, khi ấy trong thành nó có điều xao xuyến, trễ việc binh cơ, chúng ta thừa dịp sẽ kéo qua đánh ùa, lo chi không thắng?
Vua Nam Đường nói:
- Trẫm giang sơn một khoảng, nhờ cậy có Quân sư, xin làm phép bày mưu, cho yên lòng trẫm.
Dư Hồng nói:
- Để mai tôi dùng phép ấy, chắc là bên Tống sảng kinh, như vậy nghĩa là:
“Nếu có tướng tài đều thối chí,
Dầu cho gái phép cũng co tay!”
Lời Bàn:
Tình thương cha mẹ đối với con cái là thiêng liêng, nó vượt lên trên những nguyên tắc thông thường của lễ giáo.
Lưu Kim Đính yêu Cao Quân Bảo là một mối tình của tuổi xuân xanh, tình cảm ấy là Lưu Kim Đính dùng tài năng, tình nghĩa chinh phục. Phương pháp chinh phục tình yêu ở đây vận dụng rất nhiều mặt, nàng chiêu phu bài để thách thức những kẻ có tài, rồi dùng pháp thuật gây ra những tai nạn để người mình yêu chịu công ơn, và cuối cùng đem thân làm nghĩa vụ để phụng sự cho đường lối của người yêu. Việc chinh phục ấy thật hoàn hảo.
Đến như Lưu Nãi, xóa bỏ nguyên tắc và quyền hạn làm cha, để cho hôn nhân của con mình được thành tựu. Điều đáng nói là Lưu Nãi đã đặt nặng ý thức tùng phu, tức là phụng sự tư tưởng và công nghiệp của Cao Quân Bảo, nên đã sai Lưu Kim Đính đi giải giá Thọ Châu, làm cho chồng nàng và cả vua tôi nước Tống phải khâm phục.


0
Hồi Thứ Mười Hai

Dư Hồng túng thế dùng phép cũ
Hoài Đức hai lượt đánh vua anh.


Từ lúc Dư Hồng vâng lệnh vua Nam Đường làm mưu hại Tống, song nghĩ lại đánh phép thì không hơn Kim Đính. Vả Đường như nai, Tống như cọp, khó nổi đua tài, chi bằng làm phép sai Cao Hoài Đức về phá thành, cho vợ chồng, cha con đánh lộn với nhau, vua nghi tôi làm phản, binh noi theo tướng mà đầu Đường! Tống chém giết Tống, mình ngồi không cho khỏe. Tính rồi, Dư Hồng bèn làm phép phun nước trong mặt Đông Bình Vương, rồi giắt bùa lên đầu, y như hồi trước. Cao Hoài Đức bị phù phép, biểu gì nghe nấy không dám cãi lời. Dư Hồng cấp cho năm ngàn binh, sai kéo đến Thọ Châu đánh Tống.
Tống Thái Tổ nghe quân báo nói có Đông Bình Vương kéo binh Đường về đánh thì kinh hãi, bèn kêu Hoàng Cô và Quân Bảo đồng lên mặt thành mà xem. Thật quả thấy Cao Hoài Đức dẫn mấy ngàn quân Đường, chỉ lên thành mà múa giáo. Hoàng Cô giận, mặt mũi đỏ lơ, tay chân lạnh ngắt. Quân Bảo thấy thất kinh hồn vía, chẳng dè cha mình đến thế này !
Hoàng Cô tâu:
- Chồng tôi đã trở lòng, xin xuống bắt lên thành trị tội.
Thái Tổ nói:
- Nguyên soái thuở nay trung nghĩa, trời đất cũng biết lòng, nay đến thế này chắc là mắc phép yêu, chớ không phải tham sanh húy tử. Dầu chẳng nghĩ tình tôi chúa, cũng nghĩ tình chồng vợ cha con, vậy Hoàng Cô với ngự sanh ra thành mà khuyên dỗ, họa may Đông Bình Vương có hồi âm lại, thì chúa tôi, cha con, chồng vợ sum hiệp một đoàn, nhược bằng chẳng nghe lời thì bắt sống chớ nên giết chết, e lầm mưu tà thuật mà giết oan kẻ chí thân!
Hai mẹ con Cao Quân Bảo vâng lệnh. Đem binh ra thành, gặp Cao Hoài Đức dẫn binh Đường đến khiêu chiến, Hoàng Cô xem thấy giọt lụy chứa chan, kêu Đông Bình Vương mà hỏi:
- Vì cớ nào phu quân đầu Đường mà đánh chúa? Vậy xin phu quân vào thành sum vầy vợ con. Lòng vua cũng rộng dung, chẳng làm tội đâu mà sợ?
Té ra Cao Hoài Đức bị bùa, tâm thần mê mẩn, không biết vợ con gì hết nên hét lớn:
- Con nào dám tới đây !
  Nói rồi vung đao muốn chém. Hoàng Cô né tránh, than:
- Đông Bình Vương là anh hùng, đội trời đạp đất, xông pha công trạng đã nhiều, nay lại đầu Đường đánh Tống, cũng không nhìn đến vợ con, cố thay lòng đổi dạ, để tiếng xấu ngàn thu, thật nhơ nhuốc cho dòng họ Cao, còn mặt mũi nào đứng trên đời.
Cao Hoài Đức bị bùa mê, nên nói gì cũng không biết. Còn Cao Quân Bảo quì lạy, và khóc:
- Xin cha nghe lời mẹ trở về với vua.
Cao Hoài Đức không trả lời. Hoàng Cô thấy vậy tức giận, nhưng không dám chống cự, bỏ ra ngoài.
Cao Hoài Đức cứ việc mắng nhiếc, các quan đều tức giận không ai nói lời nào.
Tống Thái Tổ phán:
- Coi bộ Đông Bình Vương chẳng kể tôi chúa, nếu mở trói ắt là hại trẫm, còn cứ phép giết đi thì tội cho Hoàng Cô và Quân Bảo. Trẫm chẳng biết xử lý sao cho phải.
Các quan đồng tâu:
- Xưa nay phép nước hễ làm phản thì giết ba họ, nay bệ bạ đã tha không giết thì không khỏi trái luật triều đình.
Hoàng Cô và Quân Bảo nghe nói thất kinh, quì lại xin vua tha tội.
Tống Thái Tổ than:
- Hai mẹ con đừng than khóc nữa. Trẫm nghĩ tình xưa nghĩa cũ bỏ phép nước mà tha, song phải làm cho tàn phế, không thể để cọp dữ trong nhà.
Cao Quân Bảo lau nước mắt, lạy tạ ơn vua, tâu:
- Bệ hạ rộng lòng, tha không giết, ơn ấy thật như trời biển.
Lúc này Lưu Kim Đính ở nhà sau, nghe câu chuyện muốn ra khuyên giải, nhưng mới về chưa dám khuyên vua nên bước ra hỏi thăm Hoàng Cô đầu đuôi câu chuyện.
Hoàng Cô nói:
- Tuy bệ hạ thương tình chẳng giết, nhưng mặt nào còn đứng trên đời. Không biết họ Cao thất đức điều chi mà rủi ro như vậy.
Kim Đính động lòng, liền lạy Đông Bình Vương ra mắt.
Cao Hoài Đức không nhìn đến tiểu thơ, còn Lưu Kim Đính nhìn thấy con mắt Cao Hoài Đức lúc xanh, lúc vàng, màu da biến đổi nhiều sắc, giật mình la lớn:
- Không xong rồi!
Thái Tổ và Hoàng Cô vội hỏi:
- Chuyện gì vậy?
Lưu Kim Đính nói:
  - Nếu tôi đến trễ, chắc là lầm mưu độc của Dư Hồng. Nó đã dùng bùa yêu cài lên mái tóc nên mê sảng không biết gì hết.
Cao Quân Bảo nói:
- Vậy phu nhân có cách nào giải cứu không?
Lưu Kim Đính liền bước lại, giở mão của cha chồng ra, quả nhiên trên mái tóc có một tấm giấy vàng, chữ bùa bằng châu sa, nàng vội đem dâng cho Thái Tổ.
Tống Thái Tổ nổi giận nói:
- Tên yêu đạo này thật là độc ác! Thiếu chút nữa trẫm gãy mất một cánh tay.
Tống Thái Tổ lại bảo Kim Đính:
- Cháu có phép trị bùa độc này không? Nếu có thì cứu Nguyên soái tỉnh lại để biết mặt vợ con.
Lưu Kim Đính tâu:
- Chẳng cần làm phép gì cả, đã lấy được bùa mê rồi thì phụ thân tôi sẽ lần lần tỉnh lại. Còn muốn cho mau tỉnh thì đốt lá bùa ấy đi, hoà với nước lã cho uống thì hồi phục tức khắc.
Cao Quân Bảo nghe nói lật đật đốt bùa hòa nước cho cha uống, còn Lưu Kim Đính thì đứng một bên đọc thần chú truy hồn.
Cao Hoài Đức mở mắt ra như người ngủ mới thức dậy.
Lưu Kim Đính bảo Cao Quân Bảo:
- Hãy mở trói cho cha đi.
Tống Thái Tổ sợ hãi, nói:
- Hãy khoan! Đông Bình vương mạnh như cọp, biết đã chịu phép chưa mà mở trói. Nếu còn hung hăng trẫm biết chạy trốn nơi đâu.
Lưu Kim Đính tâu:
- Trước khi bị bùa mê thì như thể hùm dữ, bây giờ đã tỉnh lại rồi xin bệ hạ chớ ngại, bề nào cũng có cháu ở đây.
Tống Thái Tổ kêu Quân Bảo nói:
- Cháu mở dây thì mở, song phải đề phòng cẩn thận. Hãy ôm chặt cha cháu lại, xem thử có còn hung hăng hay không?
Cao Quân Bảo vâng lệnh, mở trói cho cha.
Cao Hoài Đức đứng dậy dụi mắt, nhìn quanh quất, thấy vợ con đứng hai bên, còn vua Thái Tổ thì sợ sệt không biết chuyện gì còn chưa kịp hỏi, thì Hoàng Cô đã khóc lóc, nói:
- Thiếu chút nữa thì phu quân đã mất mạng rồi, lại để tiếng xấu cho vợ con. Hãy mau quì lạy vua mà xin tội, rồi thiếp thuật lại chuyện cho mà nghe.
Cao Hoài Đức thất kinh, không biết mình đã phạm tội gì, song cũng nghe lời vợ liền quì xuống lạy vua:
Lời Bàn.
Kế ly gián làm cho người thân oán nhau, từ xưa đó là một độc kế.
Dư Hồng bắt được Cao Hoài Đức không giết, mà dùng bùa mê làm phép ly gián, để cho vua tôi nhà Tống thù ghét lẫn nhau.
Từ xưa đến nay, kế sách ly gián đã làm cho nhiều hoàn cảnh hiểu lầm, gây đau thương không ít. Bởi vậy, mọi việc xảy ra, nếu chúng ta không đủ bình tĩnh, nhìn vào âm mưu của   địch thì sẽ thất bại trước mọi cơ nghiệp của mình.
Để chiến thắng kế sách ly gián, chỉ có những kẻ bình tĩnh tìm hiểu bản chất của kẻ khác thì mới đối phó được.
Chẳng những trong chiến trường, mà trong tình yêu, xưa nay người ta vẫn dùng kế ly gián để chiến thắng kẻ khác, tranh đoạt quyền lợi về cho mình, và nó trở thành tấm gương để cho người sau soi xét.


0
Hồi Thứ Mười Ba

Hoài Đức một nhà đoàn tụ,
Dư Hồng tức trí trái thầy.

     
Cao Hoài Đức khi tỉnh hồn vía, không biết chuyện gì, thất kinh liền quì xuống. 
Hoàng Cô và Cao Quân Bảo kể chuyện động lòng, lụy nhỏ dầm dề, tức tối nói không ra tiếng, còn Cao Quân Bảo kể chuyện đầu Đường đem binh về khiêu chiến, mắng chúa phá thành.
Cao Hoài Đức nghe thuật lại thì sững sờ, thất kinh lạy Thái Tổ và tâu:
- Tôi làm con giặc, xin bệ hạ chiếu theo phép nước luật vua xử trảm cho rồi, kẻo các quan noi gương phản quốc?
Tống Thái Tổ nghe tấu, động lòng rơi lụy, bước xuống kim giai đỡ Cao Hoài Đức dậy phán:
- Hoàng đệ có tội chi mà hành phạt ấy là tại tà thuật của yêu đạo nó làm cho Hoàng đệ hôn mê, thiếu chút nữa trẫm mất một tôi lương đống! Chẳng những mất tôi lương đống, cũng như rụng hết tay chân. Nay nhờ trời đặng hiệp. thiệt rủi mà may. Hoàng đệ hãy ngồi, kẻo vợ con buồn bực.
Cao Hoài Đức tạ ơn rồi ngồi xuống, hỏi thăm việc nhà cửa và giã ơn vợ con.
Lý phu nhân và các phu nhân đồng vào ra mắt, thuật chuyện các việc trước sau, lúc ấy Cao Hoài Đức mới hay Trịnh Ấn còn sống và vâng lệnh đi viện trợ năm vị phu nhân. Lúc đó Cao Quân Bội và Cao Quân Bảo vào làm lễ. Triệu Hoàng Cô cũng thuật chuyện Cao Quân Bảo sánh duyên cùng Lưu Kim Đính nên nay có dâu đến cứu giá và cứu cha chồng.
Cao Hoài Đức nghe rõ trách rằng:
- Sao con lại làm rể tôn thờ vua Bắc Hớn? Ấy là con kết duyên cùng giá giặc mà không thưa với mẹ cha, tội ấy lẽ nào dung đặng? .
Thái Tổ phán:
- Nếu không có Lưu Kim Đính trợ chiến thì vua tôi, chồng vợ cha con, thân thích, họ hàng sao đặng sum vầy? Cuộc đoàn viên hôm nay đều nhờ sức cháu dâu có công giúp nước, chẳng những cứu Hoàng đệ, lại trị bệnh cho Hoàng Cô, đáng lẽ nội nhà phải cảm ơn Lưu Kim Đính ? Hoàng Cô bị phi đao gần chết, nếu không nhờ thuốc của Lưu Kim Đính thì đã bỏ mạng rồi. Trẫm đã đứng chủ hôn, khanh chẳng nên quở cháu!
Triệu Hoàng Cô bèn tiếp nói:
 Nội nhà mình đều mang ơn Lưu Kim Đính, nhờ có nàng mà cha con chồng vợ sum vầy. Huống chi nàng tài phép cao kỳ, cũng đáng một tôi lương đống.
Cao Hoài Đức nghe vợ nói, liền đổi giận làm vui, lúc ấy Lưu Kim Đính mới dám ra ngoài làm lễ cha chồng.
Lúc Tống Thái Tổ truyền dọn tiệc đãi Cao Hoài Đức, và nội thành bá quan văn võ. Đang ăn uống, Cao Hoài Đức giận đỏ mặt và nói:
- Dư Hồng nó hại tôi, dầu sống thác cũng cam, tức có một điều là nó buộc chữ "phản" cho tôi, làm cho danh trung nghĩa của tôi bấy lâu trôi theo dòng nước, để tiếng lại sau muôn đời, thật là thù yêu đạo ví tợ biển sâu! Mai tôi sẽ hỗn chiến với Dư Hồng quyết một còn một mất  . 
Lưu Kim Đính nghe nói, bước ra thưa :
- Xin bệ hạ với công công xét lại, chẳng nên đấu lực với Dư Hồng. Chỉ có một mình Nhữ Nam Vương dám cự mà thôi, nếu công công ra trận, ắt là bị tà thuật nữa. Để mai tôi ra trận đánh báo cừu cho công công, may nhờ hồng phúc của trời mà thắng đặng nó chớ công công bị bùa mê, bệnh chưa thuyên giảm, xin công công phải tịnh dưỡng trong mười ngày, thì mới dứt hậu hoạn.
Tống Thái Tổ nghe nói, liền khen:
 - Lời cháu luận phải lắm? Trẫm cũng nhậm ngôn.
Nói rồi, Vua tôi ăn uống no say, đến khuya mới nghỉ.
Đêm ấy, Cao Hoài Đức vợ chồng con cái mừng rỡ, kể chuyện đến canh tư.
Sáng sớm, Lưu Kim Đính nai nịt vào xin lãnh binh mã của Đông Bình vương đặng ra trận. Cao Hoài Đức cấp cho tiểu thơ một muôn hai ngàn rưỡi. Lưu Kim Đính lãnh binh, từ tạ kéo rầm rộ ra thành.
Trước khi Cao Hoài Đức chưa bị bắt về thì mẹ con Hoàng Cô đánh binh Đường chạy rót. Quân ấy về báo vơi Nam Đường.
Vua Nam Đường hỏi Quân sư:
- Nay Quân sư toan liệu lẽ nào?
 Dư Hồng nói:
- Tôi nhắm Tống bắt đặng Cao Hoài Đức về thành, cũng như cướp đặng một đứa điên, không hồn không tánh. Chắc Tống Thái Tổ bắt tội Hoài Đức phản chúa nghịch quân, rồi cũng xử tử. Vậy là trừ đặng một tướng rồi, chắc Tống Thái Tổ cũng làm tội tới vợ con. Nếu không có Lưu Kim Đính thì bao nhiêu binh tướng Tống cũng phải thua ta.
Vua Nam Đường nghe Quân sư nói vậy thì tin bằng lời.
 Rạng ngày, quân vào báo:
 - Có nữ tướng là Lưu Kim Đính đến khiêu chiến, kêu đích danh vua Nam Đường với Quân sư ra đối địch. vua Nam Đường nghe tin kinh hãi. Dư Hồng thấy vua sợ sệt thì nói:
- Có khi con khốn đó coi ra biết có lá bùa trên đầu?
Nói rồi Dư Hồng cỡi cọp mắt vàng ra trận, có đem theo một vạn binh.
Ra trận đã gặp Kim Đính đánh một hồi không phân thắng bại. Dư Hồng nghĩ rằng:
- Mình phải ra tay trước, chẳng nên mê trận mà thất cơ!
Nghĩ rồi Dư Hồng thối lui lại, giở bầu phép và niệm chú, tức thì một bầy quạ lửa nho nhỏ ở trong bầu bay ra thẳng lên mây rồi hóa ra lửa hơn mấy vùng, bay xuống đốt binh Tống thiệt là : 
Thình lình lửa dậy thiêu binh Tống
Vụt vụt gió giông giúp tướng Nam,

Lưu Kim Đính thấy Dư Hồng hóa phép cười, nói :
- Biến hóa ngũ hành là phép sơ học, người đừng múa búa trước cửa Lỗ Bang !
Rồi Lưu Kim Đính rút gươm báu chỉ về hướng Bắc, niệm thần chú lâm râm, tức thì trận giông nổi dậy lên, thổi ngọn lửa trở lại Dư Hồng hóa lửa mà đốt binh Đường, không ngờ lửa trở lại đốt binh mình, quân sĩ thất kinh chạy tứ tán, Dư Hồng nổi giận, mau mau thâu lửa lại mà cứu quân, rồi lấy thần đao quăng lên, bỗng hóa ra muôn muôn ngàn ngàn thần đao bay chém binh Tống. Lưu Kim Đính cũng quăng bửu kiếm, lên hóa ra thiên vạn phi đao mà cự với thần đao. Thần đao của Dư Hồng bị bửu kiếm của Lưu Kim Đính đánh sa xuống hết. Kim Đính bèn thâu bửu kiếm lại.
Dư Hồng tức giận hét lớn:
- Con khốn này dữ thiệt, dám phá thần đao của ta !
Nói rồi quăng cây gậy lên, nó hóa ra muôn ngàn con rít chúa bay cắn binh Tống. Kim Đính xem thấy liền lấy xâu chuỗi bồ đề quăng lên niệm chú hóa ra con cú dài hơn hai trăm thước bắt nuốt hết bầy rít chúa, không còn sót con nào, rồi cây gậy Dư Hồng cũng sa xuống đất.
Dư Hồng thâu gậy lại và ngẫm nghĩ rằng:
- Mình hóa phép chi, đều bị con này phá hết! Còn có một bửu bối nữa của Xích Minh lão tổ, phép ấy chẳng hiền, nếu quăng ra thì phạm tội sát sanh. Vì cái chuông Hóa huyết kim chung đó dẫu thần tiên chụp nhằm cũng tiêu ra tro bụi. Chẳng những là người phàm, vì muốn khỏi thất danh, nên phải chịu phạm sát sanh mới đặng!
Nghĩ rồi Dư Hồng quăng chuông Hóa huyết lên chiếu ra muôn đạo hào quang gần chụp đầu Kim Đính. Kim Đính biết vật ấy chẳng hiền, liền lấy trái cầu nhật nguyệt trấn yêu của Thánh Mẫu quăng lên, hiện ra hào quang sáng giới, đỡ cái hóa huyết kim chung, nên chuông ấy lững đững nửa chừng, chụp xuống không đặng.
Dư Hồng kinh hãi nghĩ thầm:
- Con này thiệt có nhiều phép thần thông quá ! Không biết lấy vật chi mà trừ nó!
Lúc ấy hai báu vật chiếu hào quang nửa lừng dằn quay chống trả với nhau, không báu vật nào chịu sút. Dư Hồng thấy vậy niệm chú thâu chuông, liền cất vào túi. Lưu Kim Đính cũng ngoắt trái cầu xuống mà cất đi.
Dư Hồng lại nghĩ:
- Mình không còn phép gì mà trị Kim Đính. Thà thừa dịp binh mình chưa bại, lui trước kẻo hư danh.
Nghĩ rồi truyền quân lui binh, giục cọp mắt vàng chạy mất.
Còn Lưu Kim Đính quyết bắt cho được Dư Hồng, trước trả thù cho cha chồng, sau nữa trừ hậu hoạn cho yên nhà lợi nước nên liền đốt bùa niệm chú. Bỗng trên trời hiện ra bốn vị thần tướng giáng hạ tức thì. Bốn ông ấy tóc râu đỏ hoét, ông cầm roi, ông cầm búa, ông cầm kích, ông cầm chùy, đến trước Lưu Kim Đính mà hầu việc.
Lưu Kim Đính cảm tạ nói:
- Bốn vị tôn thần giáng hạ, tôi rất cảm ơn! Bởi vua Nam Đường không thuận theo lòng trời, lại rước đạo triệt giáo là Dư Hồng, phong cho làm chức quân sư mà cự với Tống. Tội Dư Hồng đáng đày xuống địa ngục Phong đô. Nay nó đã chạy qua phía đông nam, vậy xin bốn vị tôn thần theo bắt giùm nó lại.
Bốn vị vâng lệnh giã từ Kim Đính, theo đuổi Dư Hồng.
Dư Hồng cỡi cọp đang đi không biết vì cớ gì mà con cọp hộc lên và đứng ngừng lại. Dư Hồng thấy cọp không đi nữa và hộc tiếng chỉnh ghê, thì biết có điềm bất lợi. Bèn ngó quanh quất, thấy bên hửu có thần Bạch Hổ, tả có thần Thanh Long, phía trước thần Huỳnh Phan, phía sau thần Báo Vĩ. Bốn thần mặc giáp vàng, cầm khí giới, bốn bề áp lại, trợn con mắt ngó Dư Hồng lườm lườm.
Dư Hồng xem thấy kinh hãi, nghĩ rằng:
- Phải hay cãi trời chẳng đặng, thì không sát sanh làm chi cho phạm tội, mà nay phải mắc nạn này. Thiệt là mình làm khôn mà hóa vụng!
Nghĩ rồi Dư Hồng liền bái bốn vị thần, nói:
- Tôi vâng lệnh thầy xuống vây Thái Tổ, trước phạt tội giết Trịnh Ân, sau nữa bảo hộ cho cõi Giang Nam, cho nhà Đường còn chút hương lửa. Bấy lâu nay giữ phép, không hại một vị tướng Tống nào. Thiệt tình vây cầm chừng, kẻo Nam Đường mang hại. Nay chư thần xuống đây tôi xin trở lại non tiên giữ phận tu hành, không màng việc thế nữa. Xin chư thần vị tình thầy tôi mà dung thứ một phen!
Bốn thần tướng nghe nói, nổi giận đáp :
- Thầy ngươi giận Tống Thái Tổ giết Trịnh Ân nên sai ngươi vây cho bỏ ghét, lại cấm ngươi sát sanh. Nay ngươi đã không vâng lời thầy dặn, tham giàu sang mà phạm tội sát sanh. Muốn đặng đại danh, không gìn ngũ giới, tuy chưa hại tướng, song đã giết binh, dư muôn vàn thác oan, ngươi không thương xót, chẳng nghĩ trời che đất chở, làm cho quỷ giận thần hờn. Sao ngươi dám phò Nam Đường là nước hết thời mà đánh đại Tống là vua trở mặt, đến nay cùng đường hết nẻo mới là xuống nước cầu hòa? Chúng ta đã có lệnh bắt ngươi, không lẽ vị tình tha được. Quyết đưa ngươi xuống Phong đô mới đành tội nghịch!
Dư Hồng nghe bốn thần vừa nói, chắc là tánh mạng không còn. Nghĩ lại giận thầy sao sai mình phò Đường làm chi cho bị đọa, rất uổng công tu luyện. Đang suy nghĩ vụt nhớ lời thầy dặn:
- Nếu gặp quỉ giận thần hờn, sẽ xổ cây cờ ấy ! Nay gặp hung thần, chắc nhờ cờ ấy giúp mình.
Nghĩ vậy Dư Hồng liền lấy cây ấy trương ra hào quang chiếu sáng. Bốn vị thần kinh hãi, đồng bay thẳng về trời. Dư Hồng mừng dường như chết đi sống lại.
Trong cờ nhỏ đó là hình bà Đẩu Mẫu, quyền cai trị các thần, nên khi bốn vị thần thấy cờ đó thì thất kinh bay đi hết. Dư Hồng khỏi nạn, liền độn thổ về dinh, bỏ hai vạn binh Đường tại trận.
Lưu Kim Đính kể chắc bắt được yêu đạo, không dè nó còn phép làm cho thần tướng phải lui. Ấy cũng bởi Tống Thái Tổ chưa mãn hạn bị vây đó.
Khi ấy Lưu Kim Đính đánh đuổi binh Đường chạy tứ tán rồi thâu quân vào thành, Kim Đính đắc thắng vào thành, liền tâu cho vua hay, và thưa cho cha chồng rõ. Tống Thái Tổ mừng rỡ, truyền dọn tiệc thưởng công.
Mặc dầu thắng trận, song Lưu Kim Đính còn lo, vì sợ không bắt được Dư Hồng, thì chẳng biết ngày nào hết giặc, tuy ngồi vào bàn tiệc chớ trong dạ không vui, Tống Thái Tổ biết ý, liền lấy lời an ủi, ban rượu ngự tửu giải lao. Cao Quân Bảo thấy vua trọng đãi Kim Đính thì mừng thầm. Trong bà con bên chồng đều phục tài Lưu Kim Đính.
Nói về Dư Hồng độn thổ về tới Nam Đường, vua Nam Đường nghe nói Dư Quân sư không đánh lại nữ tướng thì hoảng kinh và phán, hỏi:
- Thật trẫm không dám ỷ phép nữa, tuy không tổn tướng chớ cũng hao binh, chi bằng dâng sớ chịu làm tôi cũng không mất một phương bờ cõi. Lẽ nào yếu không nhường mạnh, châu chấu chống xe sao nổi, mà làm cho cha thác bỏ con, chồng chết bỏ vợ, ấy là tội trọng mười phần ? Từ nay về sau, xin quân sư đừng nói chi chiến thủ nữa. Nếu còn nói chiến thủ nữa, ấy là làm họa cho Nam Đường.
Dư Hồng bị vua Nam Đường nói nhục mấy điều thì hổ thẹn chịu không nổi, nghĩ:
- Cũng tại mình khi trước cậy phép thần thông, cản Nam Đường không cho đầu Tống, ban sơ ra binh trận nào cũng thắng, nên vua Đường hậu đãi mười phần. Nay thua một người con gái mà lui về, thì mặt mũi nào còn ngó thầy cho đặng?
Nghĩ rồi Dư Hồng gắng gượng tâu:
- Xin bệ hạ đừng phiền não! Bên Tống có một mình Lưu Kim Đính dám cự với tôi, song muốn giết nó cũng không khó, ngặt thầy tôi dặn chẳng sát sanh, nếu giết mạng người thì sau không thành chánh quả. Nay Lưu Kim Đính nó ỷ quá, tôi nhịn hoài. Nếu hại nó thì uổng công tu luyện của tôi. Còn nếu giúp bệ hạ đặng thái bình mà đền ơn tri ngộ, tôi dẫu bỏ mình cũng đành thỏa dạ?
Lúc đó các tướng võ bên Đường nghe nói, đồng tâu:
- Quân sư đã tận tâm, vậy xin bệ hạ chớ ngã lòng đầu Tống.
Binh còn trăm vạn, tướng mạnh dư ngàn, dầu Lưu Kim Đính có phép mầu, thì cậy có Quân sư cự địch. Lẽ nào bại một trận mà xếp giáp đầu hàng?
Vua Nam Đường thiệt tình không muốn đầu Tống, chẳng qua là mượn lời thối chí nói khích Dư Hồng đó thôi, mà các tướng ngỡ thiệt nên nhiều người can gián. Vua Nam Đường nghe các tướng tâu như vậy, liền nhận lời rồi ngự vào cung.
Rạng ngày, các tướng đến xin quân sư trừ Lưu Kim Đính.
Dư Hồng nghe nói than:
- Thôi thôi đã đành bỏ công tu luyện ngàn năm, không lẽ tiếc nữa !
Nói rồi truyền dọn bàn hương án, thắp bốn mươi chín ngọn đèn. Dư Hồng bổn thân cầu thần chiếm quẻ, tra ra ngày sinh tháng đẻ của Lưu Kim Đính, biết tướng tinh nàng là Thiên Ma nữ đầu thai, nhắm không dùng phép độc thì trừ không đặng. Chiếm quẻ xong Dư Hồng đọc thần chú truyền cho Huỳnh Nguyên Tế rằng:
- Nay là ngày Quí Hợi. ngươi phải đem năm trăm binh đến núi Thanh Lưu là nơi kỵ với họ Kim Đính, cứ theo họa đồ ta vẽ, mà cất một cái đài bằng cây, đến giờ Ngọ mai ta sẽ đến đó làm phép.
Huỳnh Nguyên Tế vâng lệnh đi liền, Dư Hồng lại sai Lý Huy Phụng lấy cỏ bện bù nhìn làm hình Lưu Kim Đính, gắn tóc người thiệt, cho bận áo thiệt, trang điểm rỡ ràng cho kịp giờ Ngọ mai làm phép. Lại sai Tống Kế Tụ sắm sửa cái chậu và kiếm gà ô chó mực, đợi trưa mai lấy huyết làm phù. Các tướng nghe nói nửa tin nửa nghi, song không dám cãi lệnh, đồng lo sắm sửa các món cho kịp giờ.
Rạng ngày, vua Nam Đường chúa tôi đồng đến coi Quân sư làm phép. Quân sư sắp đặt xong rồi, đợi tới canh hai lên đài đốt bùa niệm chú, giây phút triệu một vị cầu hồn giả quỉ vương đến đứng trước đài. Lúc ấy nhằm đêm rằm tháng bảy (Trung Nguyên) trăng tỏ như ban ngày.
Dư Hồng mới hét lớn:
- Vong quỉ nghe ta dặn: ngươi hãy vâng lệnh tới Thọ Châu ở một bên Lưu Kim Đính, đợi khi nào ta bắn tên phép thì thâu hồn đem nạp tại đài.
Vong quỉ vâng lệnh đi lập tức!
Lúc Dư Hồng bỏ tóc xõa, cầm gươm làm phép trên đài một hồi sao Nữ Ma sa xuống, nghe rổn rảng hào quang chiếu sáng.
Dư Hồng lấy sao ấy đựng vào một cái mái, đậy nắp thật kín mà để trên đài, xung quanh có bốn mươi chín ngọn đèn, dùng máu chó mực, máu gà ô mà thắp. Trên nắp mái ấy, cũng niêm phong bằng giấy vàng nhúng máu chó mực gà ô, lại đem bù nhìn lấy lòi tói cột cổ vào cây trụ, dưới chân đóng hai cây đinh, rồi lấy cung tên bắn con mắt bên tả, làm phép đến canh năm mới thôi.
Làm như vậy bảy đêm, mỗi đêm bắn bảy mũi tên, nếu bắn đủ bốn mươi chín mũi thì dầu Lưu Kim Đính da đồng xương sắt cũng phải chết. Dư Hồng lại chọn ba mươi sáu người đồng tử, làm thiên can giữ gìn, đừng cho kẻ tục ngó vào, nếu trái lệnh thì xử trảm. Ba mươi sáu người đồng tử vâng lệnh ở giữ đài.
Còn Lưu Kim Đính là học trò của Lê Sơn Thánh mẫu biết ngũ độn ngũ lôi, hô phong hoán võ, sái đậu thành binh tàng hình đổi xác, phép nào cũng tinh thông, duy có một điều là không biết trước được người làm trù mình. Thiệt là :
"Trước mặt còn dễ đỡ,
Sau lưng khó giữ gìn "

Đêm ấy, vợ chồng Cao Quân Bảo ngủ mê man, rạng ngày Lưu Kim Đính thức dậy sao bị trẹo cổ, mình mẩy như dần, nhức và đau hai bàn chân, và con mắt bên tả xốn như kim chích, cổ đơ như bị trói, con mắt tả không thấy người, không rõ vì cớ gì lạ vậy Kim Đính thất kinh thuật chuyện lại với chồng.
Cao Quân Bảo sảng sốt bàn:
- Hay là mình chinh chiến nhiều nên đau mình? Khi tôi mới vào Thọ Châu cũng bệnh như vậy, ngặt một điều đau con mắt không rõ cớ gì, để ta bẩm với mẹ cha sẽ tâu với Thiên tử, đặng cho thái y viện điều trị thuốc thang, mình hãy dưỡng cho mạnh lành chẳng nên làm động dạng.
Nói rồi Cao Quân Bảo ra thưa tự sự cho cha mẹ tỏ tường. Vợ chồng Cao Hoài Đức nghe tấu trong lòng không an, truyền đòi quan thái y đến chẩn mạch trừ bệnh.
Đêm sau, Cao Quân Bảo nằm không an giấc, qua canh năm Lưu Kim Đính vùng la lớn:
- Con mắt bên hữu cũng đau nữa ?
 Thương hại cặp mắt mây che mù mịt chẳng thấy đường đi. Cao Quân Bảo ngồi đứng không yên, vào ra than thở, rạng đông vào bẩm với cha mẹ rồi đồng vào tâu với vua.
Tống Thái Tổ thất kinh, truyền đòi mười lăm vị ngự y tới, hỏi thăm căn bệnh thế nào?
Các thái y đồng tâu rằng:
- Bệnh Lưu phu nhân rất kỳ lạ ! Vì mạch không phù, trầm, trì sát chẳng biết cớ nào mà có bệnh nơi chân, cổ và con mắt, chúng tôi xem không phải là bệnh khí huyết, nên không dám đầu thang, xin bệ hạ dung tình thứ tội!  
Lời Bàn.
Tình người chứa trong mọi hành động, chẳng phải bằng nói.
Cao Quân Bảo chưa có sự thỏa thuận của vua, và mẹ cha, sớm thành hôn với Lưu Kim Đính đã tỏ lòng trung thành của mình đối với cha chúa thì lỗi ấy đã tỏ rõ và lòng trung thành đã vượt qua mọi tội lỗi khác bằng hành động của mình. Nếu Lưu Kim Đính không giải giá được Thọ Châu, thì cuộc tình duyên với Cao Quân Bảo chưa chắc đã tác thành. Lòng người chỉ phát xuất từ hành động, chớ không phải bằng lời nói. Đời nay, nhiều người chỉ đem lời nói suông để bảo vệ cho giá trị của mình, thì đó là những lối phỉnh phờ, chỉ dùng đưa đẩy cho qua chuyện mà thôi, thực tình trong lòng họ, chưa chắc đã như vậy. Cho nên, giá trị của lòng người phải bằng hành động, chứ không phải bằng lời nói.

 
0
Hồi Thứ Mười Bốn
 

Dư Hồng trừ Lưu Kim Đính,
Miêu Huấn viện tướng ngũ âm.


Tống Thái Tổ thấy các ngự y đều chạy bệnh Kim Đính thì càng kinh hãi bội phần. Vợ chồng Cao Hoài Đức nghe tin cũng buồn rầu thảm thiết.
Tống Thái Tổ than:
- Trẫm tuy có hùng binh hai mươi vạn, và dõng tướng cũng đông mà trị không lại yêu đạo, nhờ có cháu dâu nó đặng, nay rủi mắc phải bịnh kỳ, nếu chẳng thuyên giảm, thì Dư Hồng đắc thế?
Nói rồi lau nước mắt thở ra!
Hoàng Cô khóc và than rằng:
- Dâu tôi là đệ tử Thánh Mẫu, lẽ nào không biết chứng bệnh mình?
Tống Thái Tổ và Cao Hoài Đức nghe Hoàng Cô nói phải, liền hối Hoàng Cô vào hỏi Kim Đính coi thế nào? Chẳng ngờ Kim Đính mê man bị Dư Hồng bắt vía, Hoàng Cô hỏi lắm mà Kim Đính nói ú ớ. Tống Thái Tổ nghe Hoàng Cô tâu lại mọi điều càng thêm ủ dột.
Miêu Quân sư thấy vậy tâu:
- Phàm làm thầy phải biết căn bệnh người đau thì trị mới đặng. Nay thái y coi mạch không hiểu thì biết làm sao mà trị? Vậy tôi xin bói một quẻ thử coi, xỉn bệ hạ đừng ưu phiền mà tổn hao long thể.
Tống Thái Tổ nghe quân sư nói, có ý mừng, liền xin quân sư bói thử.
Miêu Quân sư lập bàn xủ quẻ rồi tâu:
- Không trách chi Lưu phu nhân đau chứng bệnh lạ lùng nhu vậy? Ấy là bị người ta trù ẻo bắt hồn mà cầm nơi phía Đông Bắc hơn mấy ngày nay, tôi chắc Dư Hồng sợ Lưu phu nhân nên bày kế ấy.
Cao Quân Bảo nghe nói bị trù thì nói phăng:
- Xin quân sư cứu mạng vợ tôi, không lẽ bó tay mà chờ chết?
Miêu Quân sư nói:
- Cứ theo quẻ này thì trong bảy ngày tuyệt mạng?
Cao Quân Bảo khóc nước mắt như mưa. Tống Thái Tổ thở dài than vắn, rồi phán hỏi Quân sư:  
- Quân sư có phép chi mà giải cứu hay chăng?
Miêu Quân sư tâu:
- Nay đang bối rối, tôi chưa đoán được việc kiết hung. Xin để coi sao thì mới rõ đường họa phước. Ấy là nghề sở trường của tôi.
Đêm ấy, Miêu quân sư lên lầu, xem coi các vị tinh tú. Từ giờ Tuất đến giờ Sửu mà kiếm không đặng Thiên ma nữ tinh thì kinh hãi than:
- Chắc Lưu phu nhân phải khốn !
Vì Quân sư đánh tay coi rõ, biết Dư Hồng thâu đặng vì sao đó rồi, nên xuống lầu tâu với Thái Tổ:
- Dư Hồng đã thâu bổn mạng của Lưu Kim Đính phu nhân mà giam cầm, nếu vậy thì tôi chẳng biết làm sao?
Thái Tổ và Quân Bảo đều chắt lưỡi.
Miêu quân sư mới tâu:
- Để tôi chiếm một quẻ nữa, coi nội trong bảy ngày có ai tới cứu chăng?
Hoàng Cô khóc và nói:
- Xin Quân sư chịu phiền coi giúp, tôi mang ơn muôn thuở.
 Miêu Quân sư liền chiếm quẻ hóa lục hạp, coi rồi mừng rỡ:
- Không hại gì! Chỉ trong ba ngày sẽ có người đến cứu Lưu phu nhân, mà bệ hạ lại được thêm một tướng nữa.
Tống Thái Tổ và vợ chồng Cao Hoài Đức nghe nói an tâm, chỉ có Cao Quân Bảo làm thinh ngồi ủ rủ.
Hoàng Cô thấy vậy liền khuyên:
- Con chẳng nên buồn rầu, mẹ đã nửa đời người chỉ có một mình con nương cậy lúc trở về già, nếu con buồn thảm rủi sanh bệnh thì không hay. Con hãy làm khuây cho vui lòng cha mẹ.
Cao Quân Bảo tuy ngoài mặt làm vui, nhưng trong lòng vẫn sầu khổ.
Tống Thái Tổ thấy Cao Quân Bảo khóc lóc, liền phán:
 - Vậy Quân sư tìm cách giải cứu vì sao bổn mạng của tiểu thơ.
Miêu Quân sư tâu:
- Tôi từ thuở bé không học nghề trấn yếm, thì làm sao giải cứu được chỉ có thần tiên giáng hạ, sai người lấy vía mà thả sao bổn mạng mới được. Song tôi chắc trong đôi ba ngày nữa sẽ có người đến cứu, xin bệ hạ an lòng.
 Lúc ấy Kim Đính vẫn mê man, bốn con tỳ nữ là Xuân Đào, Hạ Liên, Thu Cúc, Đông Mai bàn với nhau:
- Mình không rõ tiểu thơ đau bệnh gì, nay Quân sư nói tiểu thơ bị cầm hồn tại hướng Đông Bắc, vậy chúng ta đi coi thử xem sao. Nếu có gì sẽ cùng nhau giải cứu.
Bốn cô tỳ nữ đều khen phải, lấy bùa của Kim Đính đằng vân bay qua phía Đông Bắc, thấy có một cái đài đèn đuốc sáng chói. Bốn nàng vội đến đó bị các thần giữ vía cản trở chẳng cho vào Bốn nàng tỳ nữ pháp thuật không bao nhiêu, liệu cự không lại nên phải lui về.
Bấy giờ vua Nam Đường thấy luôn ba ngày mà quân Tống không khiêu chiến, thì biết Quân sư đã yếm được rồi, chỉ còn trông đủ bảy ngày thì Kim Đính sẽ bỏ mạng, liền truyền dẫn quân đến khiêu chiến, quyết phá thành báo oán. Dư Hồng cản ngăn không được.
Vua Nam Đường truyền cho Tần phụng, Tiết Lữ, La Anh, Trình Phi Hổ dẫn mười vạn binh đến khiêu chiến dưới thành Thọ Châu.
Tống Thái Tổ có nghe báo binh Đường đến khiêu chiến, thì nghĩ thầm:
 - Chắc Nam Đường thấy mấy bữa nay ta không ra quân, nên tìm cách khiêu chiến để biết thiệt hư. Vậy ta phải mạnh dạn, kẻo chúng nó thừa cơ đoạt ải.
Nghĩ rồi truyền cho Đào phu nhân, Triệu Hoàng Cô, Lý phu nhân, Cao Quân Bảo, Cao Quân Bội dẫn binh ra thành cự địch.
Khi binh Tống dẫn binh ra thành đánh với binh Đường, thì cả hai bên đều có hao binh, không ai chịu thua ai.
Hai bên đang giao chiến đồng lực thì Dư Hồng đi đến cười và nói lớn:
- Các ngươi đừng ỷ mạnh, không mấy ngày nữa sẽ đến chầu Diêm Vương. Mạng Lưu Kim Đính chỉ còn sợi chỉ treo chuông.
Cao Quân Bảo nghe nói nổi giận xông đến đâm Dư Hồng một giáo. Dư Hồng đỡ không kịp liền lui lại, niệm chú, gió thổi ào ào, cát bay mù mịt, binh Tống bỏ chạy vào thành.
Cao Quân Bảo nhờ có lá bùa hộ mệnh nên gió thổi không bay, lướt tới hỗn chiến, giết binh Đường vô số.
Cao Hoài Đức thấy phép yêu hại binh Tống quá nhiều liền đánh kiểng thu quân lại. Cao Quân Bảo nghe lệnh kiểng cũng phải trở vào thành. Binh Đường đắc thắng, vây thành dày mịt hơn xưa, tướng Tống không ai dám ra cự địch nữa.
Bấy giờ Miêu quân sư chiếm quẻ, biết ngày mai có người đến cứu Lưu Kim Đính, nên tâu với vua:
- Xin bệ hạ tạm giao ấn soái cho tôi để tôi sai tướng đi tìm cho đủ Ngũ âm thì trừ Dư Hồng mới được.
Tống Thái Tổ hỏi:
- Khi trước Trần Đoàn lão tổ có tặng thơ, ý nói chờ năm tướng gái đến giải vây, nên trẫm đã dùng đủ năm vị phu nhân. Nay còn tướng Ngũ âm nào mà tìm nữa.
 Miêu Quân sư tâu:
- Ấy là Ngũ âm trẻ, không phải ngũ âm già. Ngặt thiên cơ không nên tiết lộ.
Tống Thái Tổ liền truyền Cao Hoài Đức giao ấn soái cho Quân sư.
Hôm sau, Miêu quân sư ra phòng khách liền phát một cây lệnh tiễn cho Cao Quân Bội và dặn:
- Hãy lén vào Song Long trấn, nửa đêm bắn tên lửa vào đốt lương thảo. Ấy là việc cần gấp. Cao Quân Bội thưa:
- Nghe nói tướng giữ Song Long trấn tánh kỹ càng lắm, e tôi làm chẳng nên việc, vậy xin Quân sư thay tướng khác tài năng hơn.
Miêu Quân sư nói:
- Tuổi nhỏ mà trí dày, đáng con giòng cháu giống. Song ta đã liệu trước rồi, ngươi hãy lãnh phong thơ này chờ tiết trung thu gặp Trịnh Ấn sẽ xé ra coi theo đó mà làm, bề nào ngươi cũng thành công mà lại gặp duyên cá nước nữa.
Sau đó, Miêu quân sư liền phát một cây lệnh tiễn nữa cho Trịnh Ấn và dặn:
- Ngươi mau qua Thạch Châu viện binh về trợ chiến.
Hai tướng tạ từ dời gót.
Miêu Quân sư bước xuống lầu, trả ấn lại cho Đông Bình vương.
Lúc này vua Nam Đường thắng trận, vây thành Thọ Châu như xưa, mà không thấy Lưu Kim Đính ra quân, nên khen Dư Hồng là bậc thần thông quảng đại, sai Dư Hồng thường bữa đem quân đến khiêu chiến làm cho Tống Thái Tổ nóng lòng như lửa đốt, sợ quân Nam Đường hãm thành nên buồn thở than:
- Nay cháu trẫm mang bệnh, không ai trị nổi Dư Hồng, e khó bề giữ nổi giang sơn, xã tắc.
Miêu Quân sư quì tâu:
- Xin bệ hạ đừng lo, chờ người đến cứu Kim Đính rồi sẽ phá vòng vây.
Tống Thái Tổ nghe Quân sư khuyên giải cũng khuây khỏa, ra lệnh bế thành mà thủ. Còn quân Nam Đường ngày đêm cứ việc công phá không lúc nào yên.
Lúc này bốn con tỳ nữ rủ nhau đi lấy vía không được bị thần tướng đuổi về, vào thuật lại chuyện cho Cao Quân Bảo nghe, rồi đêm ngày sầu thảm.
Cao Quân Bảo nghĩ thầm:
- Nếu quả như lời bốn con tỳ nữ đã nói, thì mười phần Lưu Kim Đính khó bề cứu sống.
Bấy giờ, Lê Sơn Thánh Mẫu đã hay việc Lưu Kim Đính bị nạn tình thầy trò nghĩ càng chua xót, ý muốn xuống cứu, song nghĩ lại ở núi Huỳnh Hoa có ông Huỳnh Thạch Công có tên học trò là phùng Mậu, con của Phùng ích, theo học đã lâu, nay cho Phùng mậu xuống giúp Tống, sẵn việc này ta qua đó bàn chuyện sai phùng Mậu xuống cứu Kim Đính thì tiện hơn.
Nghĩ rồi, Thánh Mẫu đằng vân qua núi Huỳnh Hoa.
Huỳnh Thạch Công là một vị tiên ông, hồi trước qua Hớn, có hóa ra một ông già, đi ngang qua cầu Hạ Bì, giả đò làm rớt dép, thấy có đứa nhỏ chơi gần đó, mượn xuống lấy giùm. Đứa nhỏ vui lòng xuống lấy đưa cho ông. Ông đi ít bước lại làm rớt nữa, đứa nhỏ ấy cũng lượm giùm cho ông. Ba lần như vậy, Huỳnh Thạch Công khen:
- Thằng nhỏ này dễ biểu.
Sau ông hẹn với nó đến cầu ấy cho cuốn binh thơ, trong binh thơ có đủ thiên văn địa lý, đủ việc binh cơ. Đứa nhỏ ấy là Trương Lương, tên chữ là Tử Phòng, sau nhờ sách này mà phò Hán Cao Tổ, dẹp Tần đánh Sở, được vua phong đến chức Lưu công hầu.
Hôm đó, Thánh Mẫu đến cửa động, có đồng tử bước ra, hình tướng tuy lùn, mà tuổi vừa thành nhân. Đó chính là Phùng Mậu.
 Thánh Mẫu nói:
 - Ta là Lê Sơn Thánh Mẫu đến ra. mắt Huỳnh tiên ông.
 Phùng Mậu vội vàng trở vào báo tin. Huỳnh Thạch Công vội vã ra nghinh tiếp.
Lê Sơn Thánh Mẫu nói:
- Dư Hồng làm phép đinh đầu thất tiễn mà trù Lưu Kim Đính vậy xin đại nhân sai lệnh đồ kíp xuống Thọ Châu, trước là cứu giùm học trò tôi, sau nữa dẹp Đường giúp Tống thì chẳng uổng công dạy dỗ của đạo huynh.
 Huỳnh Thạch Công nói:
- Dư Hồng cãi lời thầy, phải bị tội chết, còn học trò tôi rèn lập tám năm văn võ, nay cũng đã gần tới kỳ vầy hiệp nhân duyên, cũng nên cho xuống Thọ Châu đặng quần thần phụ tử sum hiệp. Dầu Thánh Mẫu không đến, tôi cũng sai đi. Vả lại lệnh đồ Kim Đính là đầu dọc của năm vị ngũ âm, không lẽ để Dư Hồng hại chết? Xin Thánh Mẫu yên lòng về động, tôi sai nó đi!
Lê Sơn Thánh Mẫu nói:
- Việc ấy tôi cảm ơn đạo huynh nhiều lắm!
Nói rồi, từ giã đằng vân về động.
Sau đó, Huỳnh Thạch Công kêu Phùng Mậu mà dạy:
- Ngươi ở núi đã tám năm, tuổi ngươi năm nay đã hai mươi, vậy phải xuống Thọ Châu mà cứu chúa, trước là cho gặp mặt cha, sau nữa là kết duyên Tần Tấn. Nhân dịp cứu Lưu Kim Đính mắc nạn. Song đánh với Dư Hồng hễ nó bại trận khá chẳng đuổi theo, mà cũng không nên giết nó. Nếu chọc giận tới thầy nó là Xích Mi lão tổ chắc là khó dễ tới ta !
Phùng Mậu lạy thầy và khóc:
- Tôi ở non tiên tám năm, nhờ thầy dạy dỗ, nay xuống phàm trần, biết chừng nào về núi cho gặp mặt thầy nữa!
Huỳnh Thạch Công mỉm cười nói:
- Ngươi chẳng quên ơn, thiệt là người trung hậu. Song số người thành tiên không được, hưởng công danh phú quí mà thôi. Vả lại còn nhân duyên dưới trần, phải lo việc hương lửa cho họ Phùng mới tròn ngay thảo.
Phùng Mậu lau nước mắt cúi đầu lạy tạ. Huỳnh Thạch Công liền truyền cho các phép hộ thân, đặng xuống cự với Dư Hồng.
Phùng Mậu thưa:
- Việc đằng vân là đi đường, còn đánh giặc lấy chi mà đỡ gót xin thầy chỉ biểu cho luôn.
Huỳnh Thạch Công nói:
- Sau non tiên chẳng thiếu chi cầm thú, mặc ý người chọn lựa mà dùng.
Nói rồi dắt Phùng Mậu ra sau vườn.
Phùng Mậu xem thấy lấy làm lạ, bèn nghĩ:
- Mình ở tám năm trên núi mà nay thầy mới dắt tới vườn này?
Đương nghĩ trong bụng xảy thấy trên cửa vườn có đề chữ: “Phi Cầm Động". Huỳnh Thạch Công niệm chú, tự nhiên cửa động mở ra. Huỳnh Thạch Công dắt Phùng Mậu bước vào, Phùng Mậu ngó thấy thần thú tiên cầm không biết bao nhiêu mà kể. Những cầm thú ấy đều cúi đầu hết thảy, dường như làm lễ chào mừng.
Huỳnh Thạch Công kêu một thần nha là con quạ cao lớn hơn hết. Thần nha liền bay tới. Huỳnh Thạch Công bèn dạy:
- Nay ta sai ngươi theo Phùng Mậu sư huynh xuống phò Tống, trừ xong yêu đạo thì trở về cũng đặng thành tiên vậy.
Thần nha gật đầu bay theo Phùng Mậu. Huỳnh Thạch Công dặn Phùng Mậu:
- Ngươi hãy đi cho gấp! Đừng dần dà, nếu trễ việc binh thì tội rất nặng, hãy cứu Lưu Kim Đính kẻo trễ ngày giờ.
Phùng Mậu tạ thầy, cỡi quạ bay vút lên mây .
Lời Bàn
Danh lợi làm tối mắt con người, nếu muốn giữ vững được giá trị lòng người cần phải coi thường danh lợi.
Dư Hồng, một kẻ tu tiên, thế mà khi xông vào thế sự, cõi trần đã biến Dư Hồng trở thành người phàm tục, mến chuộng giàu sang phú quí, đầy lòng tự ái, tham lam danh dự, trái lời thầy để bảo vệ tham vọng của mình.
  Trong cuộc sống loài người, danh lợi là miếng mồi đưa sinh vật vào cạm bẫy. Kẻ trọng danh dự, đạo nghĩa làm người coi danh lợi như mây khói, kẻ đã trọng danh lợi thì coi danh dự con người không có giá trị gì.
Nếu tham vọng trong cuộc sống có một định mức rõ ràng thì tham vọng con người không đến nỗi mê hồn. Lòng tham con người không đáy, càng được càng muốn nhiều hơn, kẻ chưa có thì mong cho được, kẻ đã có thì mong cho có nhiều hơn nữa. Đó là một thảm họa trong cõi sống loài người. Dù thụ hưởng đến bực nào, khi nhắm mắt xuôi tay, chỉ là một cơn ảo mộng, thế mà con người trong lúc sống vẫn tranh đua tìm cách thụ hưởng để tranh đoạt lẫn nhau, gây rối trong xã hội.


0
Hồi Thứ Mười Lăm

Phá chiêng phép, Dư Hồng bỏ chạy
Dẹp binh ma, Phùng mậu dọn đường.


Phùng Mậu cỡi quạ bay bổng lên không, gần hai giờ mới đến Thọ Châu, lòng nghĩ thầm:
- Mình mới đến chưa lập được công chi, nếu vào thành tướng sĩ không phục, chi bằng đánh một trận rồi mới vào yết kiến vua Tống, cho mọi người biết tài.
Nghĩ rồi giục quạ bay đến dinh Đường, thấy binh mã như rừng.
Lúc này vua Nam Đường đang ăn cơm trưa, thấy một người lùn, hai tay cầm cây thước, cỡi quạ ngũ sắc, mắt đỏ tròng vàng bay xuống trước thềm. Vua Đường định chắc binh Tống sai người đến thích khách, nên thất kinh buông đũa đứng dậy, la lớn:
- Có thích khách vào điện. Bá quan cứu trẫm cho mau.
Các quan hộ giá đều rút gươm ra thềm đón lại. Phùng Mậu nói:
- Các ngươi là đồ bất tài, dám cả gan nạp mạng.
Nói rồi hai tay vung thước đánh chết quân ngự lâm rất nhiều, còn các quan hộ giá đều kiếm đường tẩu thoát.
 Lúc ấy vua Đường chạy ra sau trướng ẩn mình. Phùng Mậu xông vào bắt được, muốn đem về nạp cho Tống Thái Tổ mà dâng công, nhưng lại nghĩ thầm:
- Người ta là vua một nước, bất quá nghe lời yêu đạo mà tranh hùng, nếu giết đi thì mang tội.
Nghĩ rồi buông lời hăm dọa:
- Tội ngươi nghịch mạng trời, dám cự với chơn chúa, tội đáng chết, song ta nghĩ chỗ này không phải chiến trường, nếu giết người cũng không đúng cách. Ta cần đuổi Dư Hồng để chúa tôi hàng đầu Đại Tống khỏi bị yêu đạo quấy rầy, làm hại lương dân.
Nói vừa dứt, bỗng thấy Dư Hồng cỡi cọp xông vào, đánh Phùng Mậu một gậy.
Phùng Mậu đưa xác vua Đường ra đỡ, làm cho Dư Hồng phải thối lui Phùng Mậu nhân cơ hội ném vua Nam Đường xuống đất. Dư Hồng vội đỡ dậy, truyền tả hữu phò vào phòng, quay nhìn lại thấy Phùng Mậu hình thù như đứa con nít mười hai tuổi, liền cười ngất nói:
- Đại Tống hết người rồi, mới sai đứa trẻ thơ ra trận. Thôi hãy quì lạy xin tội ta tha cho. bởi chưa thành nhơn ta không nỡ giết.
Phùng Mậu nghe Dư Hồng chê mình là con nít, liền nói:
- Ngươi là đứa con bất hiếu. Ta là cha mày dạy hoài cũng không nghe, chắc ngày sau bị trời đánh, có phải làm cho cha mang tiếng, tức mình nên phải đến đây.
Dư Hồng nổi giận, quyết đánh một gậy cho bỏ mạng, chẳng ngờ Phùng Mậu múa cặp thước như gió, đánh trước đập sau, làm cho Dư Hồng đỡ không kịp, bị một thước nhằm bả vai bên tả té xuống lưng cọp. Phùng Mậu muốn đập một thước cho rồi, song trực nhớ thầy có dặn đừng giết Dư Hồng nên phải ngưng tay. Còn Dư Hồng bị té gãy răng cửa, máu chảy dầm dề, bò dậy thoát lên lưng cọp.
Phùng Mậu cười ngất nói:
- Đã bị gãy răng thì phải ăn năn lạy cha xin lỗi, nếu chọc cha giận nữa thì chẳng còn hồn. Ta cũng vị tình thầy ngươi, mà dung tha cho một lần, mau về non tiên mà tu luyện, nếu mê mùi phú quí mà ở lại đây, lần sau gặp cha ắt là bỏ mạng.
Dư Hồng giận quá, hét lớn:
- Thằng giặc lùn, ta nói cho mày biết, nếu bữa nay ta không giết ngươi thì chẳng phải kẻ thần thông.
Dứt lời liền đánh một gậy. Phùng Mậu vội vàng đỡ và cười lớn:
- Thằng con ngỗ nghịch! Chẳng những cha đánh con gãy răng mà còn phải giáo dục nữa.
Dư Hồng đau răng quá lại nghe Phùng Mậu nói khích, bụng muốn nuốt sống thằng giặc lùn cho đã giận, ngặt Phùng Mậu cặp thước quá hay, đánh Bắc đỡ Nam, sợ rủi sa cơ quân tướng sẽ cười chê, chi bằng dùng phép mà bắt sống cho xong.
Nghĩ như vậy liền nhảy trái sang một bên. Phùng Mậu rõ biết âm mưu của Dư Hồng, liền niệm chú định hồn, rồi giục thần nha bay tới, Dư Hồng thấy Phùng Mậu mắc kế liền lấy lạc hồn chiêng đánh lên mấy tiếng, nhưng Phùng Mậu vẫn đứng trơ trơ, cười nói lớn:
- Dư Hồng! Ngươi đánh chiêng không cách, để ta đánh thử cho mà xem.
Nói rồi ném một trái chùy trúng lạc hồn chiêng bể nát.
Dư Hồng thất sắc, không dè thằng con nít tài cao. Chiêng lạc hồn đã bể rồi, nhắm dùng phép khác cũng vô ích, chi bằng chạy trước là xong.
   Nghĩ rồi hẹn độn thổ đi mất.
 Phùng Mậu thấy Dư Hồng trốn chạy, không nỡ giết quân sĩ vô tội nên vội vã đi cứu Lưu Kim Đính.
Phùng Mậu giục quạ bay thẳng vào thành Thọ Châu.
Đến nơi, thấy vua và các quan đang xúm xít lo buồn. Tống Thái Tổ xem thấy, nghĩ chắc là thần tiên giáng hạ cứu cháu dâu mình, nhưng xem lại thì thấy đó là một đứa con nít chừng mười hai tuổi .
Tống Thái Tổ suy nghĩ:  
- Con nít chừng đó sao lại có phép thần thông? Hay là Dư Hồng dùng tà thuật vào đây thích khách?  
Phùng Mậu bước xuống lưng quạ, quì tâu:
- Tôi chẳng phải kẻ gian tế bên Nam Đường, tôi là Phùng Mậu con của Phùng ích, đệ tử ông Huỳnh Thạch Công ở núi Huỳnh Hoa, nay vâng lệnh thầy xuống Thọ Châu cứu giá.
Tống Thái Tổ nghe nói nghĩ thầm:
- Phùng ích có một con trai tên Phùng Mậu, năm xưa đi săn bắn bị cọp tha mất, té ra là tiên rước về động dạy phép thần thông, đến nay cũng gần hai mươi năm, tại sao như đứa con nít?
Nghĩ rồi Tống Thái Tổ phán hỏi:
- Phùng Mậu, ngươi ở non tiên đã tám năm, sao thể xác có bao lớn? Hay là ngươi tịch cốc nên không lớn được chăng? Vì cớ nào ngươi chẳng đến Biện Lương thăm quê hương, lại đến Thọ Châu làm gì. Thân hình ngươi bé bỏng, mà đánh giặc làm sao?
Phùng Mậu nói:
Tôi không dám khoe, nhưng thiệt tỉnh tôi không phải là đứa bất tài.
Phùng Mậu tâu chưa dứt lời thì Phùng ích đã bước ra mừng con. Phùng ích đã ngoài năm mươi tuổi, có một chút trai, nay thấy mặt về đây rất mừng mà quân tướng con xấu xí. Còn Thái Tổ nhắm không nên dũng tướng, lòng chẳng vui mừng, ngồi làm thinh không hỏi thăm chi nữa.
Phụng Mậu bèn tâu:
- Nay tôi vâng lệnh tiên ông xuống Thọ Châu trợ chiến, thuận đường vào bắt Lý Kiên, hăm nộ một hồi, kế Dư Hồng ra bị tôi đập bể chiêng Lạc hồn, rồi độn thổ trốn mất!
Tống Thái Tổ nghe tấu nửa tin nửa ngại, đổi ghét làm yêu, liền phán hỏi:
- Khanh làm phép chi mà phá Lạc hồn la của yêu đạo đặng?
Phùng Mậu tâu:
- Tiên ông có dạy tôi phép Định hồn chú, lại cho một cái thần chùy, nên tôi liệng Lạc hồn bể nát.
 Tống Thái Tổ nghe tâu rất đẹp và phán khen:
- Không dè khanh nhỏ mà có công to, sức đánh đặng Dư Hồng, dầu phong hầu cho cũng đáng!
Cha con Phùng Mậu đồng tạ ơn chúa rồi về phòng, truyền dọn yến ăn mừng cho đến tối, rồi nói chuyện tới khuya.
Lúc Phùng Mậu gần đi ngủ, nghe cách vách có tiếng rên la, Phùng Mậu hỏi thăm:
- Thưa cha! Chẳng hay ai ở bên phòng và vì cớ nào mà khóc than rên xiết?
Phùng ích nghe hỏi, thở ra mà than:   
- Bên phía tả là chỗ Đông Bình vương, còn người rên la ấy là Lưu phu nhân, vợ Cao Quân Bảo bị Dư Hồng yêu đạo trù đã gần miền, nay đã đặng ba ngày, không phương chi giải cứu, nên cả nhà khóc than thảm thương. Tội nghiệp Lưu Kim Đính tuổi còn xanh mà phép giỏi tài hay, bởi đánh đuổi Dư Hồng nên bị báo oán, làm cho Lư Kim Đính lập công chưa đặng mà tánh mạng gần mòn ? Quân sư có xủ quẻ đoán rằng nội ba ngày thì cao nhơn đến cứu, mà chưa thấy như lời, nếu để tới bảy ngày thì không còn tánh mạng.
Phùng Mậu nghe cha nói thì thưa:
- Người đến cứu Kim Đính là con đây, song con chưa kịp tâu với bệ hạ. Thầy con thường nói: Lưu Kim Đính là vị sao Nữ ma đầu thai, vâng sắc Thiên đình xuống phò Tống. Tuy Dư Hồng làm hại song có người giải cứu Nữ tinh, thầy nàng là Lê Sơn Thánh Mẫu có đến bàn luận với sư phụ tôi, và có dặn tôi phải lấy trộm cho được sách Thất bửu của Dư Hồng thì mới trừ được, và giải cứu cho mười hai vị tướng bị mê hồn. Nhưng việc ăn trộm không phải dễ.
Phùng ích nghe con nói mừng rỡ, biết con đã học được phép thần thông.
Hôm sau, Phùng ích vào chầu Tống Thái Tổ, kể lại những điều con đã nói, và khen Miêu Quân sư đoán quẻ không sai.
Lời Bàn.
Xưa nay trong cuộc sống có đủ bản chất: mừng, vui buồn, giận, mà khôi hài cũng là phương pháp làm vui trong cuộc sống.
Trong lúc chiến trường đang sôi động, tài năng, trí tuệ, phép tắc trở thành luồng sát khí nóng rực, thì tác giả lại đưa Phùng Mậu, một người học trò tiên, từ trên núi xuống, để chọc ghẹo, phá phách, làm trò cười trong cuộc chiến. Ấy vậy tài năng không chỉ ở trong những thân hình cao to mạnh mẽ, mà ngay trong con người bất bình thường, phải chứa đựng một tiềm năng mà kẻ khác không thể có được.
Nếu ra trận, dùng pháp thuật, sức mạnh làm cho kẻ thù thất bại thì trong bóng tối một tên lùn như Phùng Mậu cũng đủ tài làm cho những kẻ anh hùng át tiếng cũng phải sợ hãi. Nếu không thắng bằng sức lực thì thắng bằng mưu trí vẫn là một yếu tố lợi hại trong cuộc chiến.


0

Hồi Thứ Mười Sáu

Phùng Mậu mưu trộm sách bí thơ,
Kim Đính khỏi nạn trừ yêu đạo.


Cao Hoài Đức và các tướng nghe Phùng Mậu có phép cứu đặng mười hai vị tướng mừng rỡ vô cùng. Cha con Cao Hoài Đức năn nĩ Phùng Mậu trong đêm phải đi trộm sách để kịp thời cứu Lưu tiểu thơ.
Tống Thái Tổ cũng kêu Phùng Mậu nói:
- Khanh lo cứu cháu trẫm cho mau kẻo Lưu Kim Đính bịnh tình quá nặng, nếu được thành công, trẫm trọng thưởng.
Đêm ấy, Phùng Mậu đợi tới canh hai độn thổ thẳng qua dinh Đường. Đến nơi, vừa ló đầu lên thấy giáo gươm tề chỉnh, đèn đuốc sáng lóa. Vua Nam Đường ngồi ngự trên ngai, còn Dư Hồng và các quan đều chầu chực. Phùng Mậu thấy vậy sụp xuống đất lần lại chỗ vua ngồi để nghe ngóng mọi việc.
Vua Đường phán:
- Ban ngày trẫm bị thích khách, thiếu chút nữa là mất mạng. Còn Quân sư bị đánh gãy răng, trẫm oán hận thằng lùn đó mà không biết làm sao trừ được.
Dư Hồng tâu:
- Nếu bệ hạ gắn chí bền lòng, thì tôi cũng liều mình giúp nước. Tôi đã dùng phép trù yếm Lưu Kim Đính cũng đã gần miền, mười hai tướng Tống cũng còn nằm đó dầu gỡ bùa mà đốt cũng còn dại dại điên điên, trừ ra có sách Thất bửu coi trong đó mà cứu thì mới tỉnh. Nay tôi tuy thất trận, xong chẳng nên phiền muộn.
Vua Đường tin Dư Hồng là bậc thần thông quảng đại, nên phán:
 - Cái thằng lùn ban ngày đó coi như con nít thơ ngây, không dè nó lại tài cao phép trọng, đập nát Lạc hồn chiêng, không phải là tướng tầm thường. Nếu ngày mai có giao phong Quân sư phải giữ gìn cho lắm!
Dư Hồng tâu:
- Tuy Tống có nhiều tướng giỏi, mà bạn hữu tôi cũng nhiều vị thần thông, nếu một mình tôi làm không xong, thì thỉnh anh em trợ chiến có lo chi không trừ được tướng Tống.
Phùng Mậu đang núp dưới đất nghe rõ mọi điều, nép mình đợi Dư Hồng ngủ mê đặng lén qua phía Đông Bắc hành sự. Đến nơi, thấy đài rộng, dưới có ba mươi sáu đồng tử mặc đồ chế, cầm gậy tang, dường như một đám trẻ đang đợi lệnh. Qua đến nửa canh ba thấy chúng nó ngủ gục, Phùng Mậu thừa dịp thổi vào mặt chúng những luồng hơi mê rồi ló đầu lên thấy có bốn vị hung thần giữ trận, bèn niệm thần chú, rồi cầm gươm chỉ bốn vị thần tướng:
- Các thần kia sao dám vâng lời yêu đạo mà hại nữ tướng của trời sai, không sợ mang tội hay sao?
Bốn vị thần đáp:
- Chúng tôi vâng lệnh Dư Đại nhân cũng chẳng qua vì pháp thuật, đâu dám nghịch lòng trời. Nay pháp sư đã quở như vậy, chúng tôi xin dời gót.
Nói rồi bốn vị thần tướng bay thẳng lên mây. Phùng Mậu bước lên đàn, thấy hương khói mờ mịt, chính giữa có một cái mái. Trên nắp đậy có niêm phong. Phùng Mậu không rõ yêu đạo làm phép gì mà giở nắp không nổi. Bỗng thấy cây gươm phép để trên đài, liền lấy gươm chém vào chỗ niêm phong, tức thì nắp mái văng ra, hào quang trong mái vụt bay trên mây, ấy là sao Nữ Ma, bổn mạng của Lưu Kim Đính. Sau đó Phùng Mậu ngó thấy trên đầu cột có một con bù nhìn bằng cỏ, mặc y giáp thật, hai mắt đều bị tên, dưới lư hương có để một cuốn sách, Phùng Mậu lấy ra xem, thấy đề mấy chữ: "Thất Tiễn Đinh Đầu Thơ”. Mở ra xem thì đó là sách dạy trù yếm, và bày đồ cúng tế, có đủ các câu thần chú thỉnh tướng sai ma, chứ không dạy phép chi giải cứu.
Phùng Mậu than:
- Sách dạy phép trù mà không dạy phép giải, thì làm sao cứu người?
Liền đưa tay nhổ bốn mũi tên cho con bù nhìn, cất sách và gươm xong xả, lấy bù nhìn đem đốt, bốn mươi chín ngọn đèn đang cháy lan ra, Phùng Mậu thất kinh nhảy xuống đất đốt cháy luôn ba mươi sáu đồng nhi.
Lúc ấy trống trở canh ba, Quân tuần trông thấy đều kinh hãi chạy vào báo Dư Hồng. Đêm ấy Dư Hồng đang say rượu ngủ mê, kêu mãi mới tỉnh dậy, nghe quân báo bàn trù bị cháy thì giậm đất than:
- Không xong rồi ! Chúng nó không kỹ càng làm hư mọi việc.
Dư Hồng nhảy ra chữa lửa thì mười phần cháy hết tám, các thần tướng đi đâu mất và cuốn sách đã ra tro.
Chẳng ngờ Phùng Mậu lấy sách và gươm còn đang ở dưới đất chờ nghe tin cho rõ, khi nghe Dư Hồng nói Phùng Mậu nghĩ rằng:
- Chúng nó đang bối rối với nhau, mình thừa dịp này lấy sách cứu người luôn thể.
Nghĩ rồi độn vào phòng Dư Hồng, thấy đèn chong chưa tắt, có một cái gối sơn đen. Phùng Mậu đập nát gối lấy được sách “Thất Bửa bí thư”, liền cất vào túi áo rồi ra sau tìm mười hai tướng, thấy tất cả đều ngủ ngáy pho pho.
Phùng Mậu nghĩ rằng:
- Mười hai tướng mê man như vậy biết cứu làm sao?
Liền giở Thất bửu bí thư ra xem thấy có lời giải rằng: trước phải niệm chú như vầy... rồi đốt lá bùa trên đầu tự nhiên tỉnh lại.
Phùng Mậu làm như vậy, tức thì mười hai tướng tỉnh liền.
Phùng Mậu kể chuyện cho các tướng nghe, ai nấy đều nổi giận, nguyền rủa Dư Hồng.
Phùng Mậu nói:
- Chúng ta cũng nên đồng tâm hiệp lực, giải phá mà về thành lại e mười hai ông mới mạnh cự không lại tướng Đường, chắc khó ra.
Thái Thạch Hùng và Sử Khuê bàn:
- Vậy thì công tử hãy về trước mà cất sách và gươm, rồi dẫn binh qua ngoại công, trong chúng tôi nội ứng, cứ nổi pháo làm hiệu lệnh, đồng một lượt kéo ra, như vậy thì mười phần vẹn cả !
Phùng Mậu khen phải, bèn nhào xuống đất biến đi, mười hai vị tướng quân đều trầm trồ phép lạ.
Phùng Mậu địa hành về dinh Tống thì chưa hết canh tư, liền tâu các việc Tống Thái Tổ và Cao Hoài Đức mừng rỡ vô cùng.
Xảy thấy Cao Quân Bảo tâu:
- Vợ tôi hồi đầu canh tư đã tỉnh lại, con mắt sáng như thường, vai và chân cũng hết nhức, mười phần mạnh khỏe như xưa.
Tống Thái Tổ nghe tâu, mừng rỡ khen rằng:
- Nhờ Ngự điệt cứu cháu dâu trẫm đặng lành, công lao đáng ghi nhất!
Sau đó, Cao Hoài Đức chọn năm vạn binh mã, truyền các tướng ra thành, có một mình Tống Thái Tổ và Quân sư ở lại. Phùng Mậu dẫn lộ, kéo binh thần lén đến dinh Đường. Lúc ấy trăng nửa tỏ nửa mờ, binh tợ rồng tợ cọp. Phùng Mậu địa hành như trước, liền mở cửa thành, binh tướng Tống kéo vào, quân Đường chạy tản. Vì cớ nào vào thành dễ như vậy? Bởi các tướng lúc ấy đi chữa lửa, vua Nam Đường cũng ra xem.
Dư Hồng than:
- Rủi có một giờ, uổng công khó bấy lâu làm phép! Tức vì cháy sách báu, hết thông dụng phép mầu?
Lời Bàn
Kẻ có tật có tài lời người xưa để lại không sai.
Dư Hồng là một tên đại tướng khét tiếng trong thiên hạ, thế mà khiếp sợ trước một anh chàng Phùng Mậu lùn tịt như một đứa con nít chẳng những thua về tài năng lại thua về trí tuệ, mất cả gươm báu mất cả sách binh thơ. Cái gì bất thường trong cuộc sống thì nó cũng hành động bất thường trong cuộc đấu tranh giành quyền lợi. Phùng Mậu một tướng thân xác không bình thường đã dùng cái hình xác không bình thường ấy làm những chuyện không bình thường, để mọi người không lường trước được. Những cái gì bình thường trong cuộc sống đều không nguy hiểm lắm, vì mọi người đã biết đến nó, còn những cái không bình thường, thì mọi người chưa ai biết đến, vì vậy muốn chiến thắng mọi việc trong thiên hạ, nên đề phòng những cái bất thường có thể xảy ra.

0
Hồi Thứ Mười Bảy
 
Lập công cao, Phùng Mậu đặng Phong vương
Mất báu vật, Dư Hồng dùnq quạt phép.

Chúa tôi đang buồn rầu, xảy nghe trong dinh pháo nổ, tiếng binh la ó vang đầy. Kế quân báo rằng:
 - Binh tướng Tống đến cướp dinh, quân gia hao nhiều lắm.
Dư Hồng nghe báo kinh hãi, liền trở về dinh, ngó thấy mười hai tướng Tống đã tỉnh, đồng cầm khí giới cưỡi ngựa bước ra. Dư Hồng không rõ vì cớ nào mà mười hai tướng tỉnh đặng! Còn binh Đường kinh hãi, vỡ chạy như ong. Dư Hồng sãng sốt nghẹn ngào, tuy có phép cũng như người không phép.
Bên Tống thắng trận rồi kéo về, không ai ngăn trở.
Vua Nam Đường nghe báo ngỡ là bên Tống thấy lữa cháy mà thừa cơ đến cướp dinh Đường càng sợ hãi. Lại nghe quân báo nữa:
- Mười hai tướng Tống đã tỉnh dậy trốn đi rồi ?
Vua Nam Đường hoảng kinh, bèn hỏi Quân sư:
- Vì cớ nào lạ vậy?
Dư Hồng cũng không biết tại đâu, xảy thấy tướng Đường đến tâu:
- Binh hao tính năm ngàn có lẻ!
Vua Nam Đường càng thêm buồn bực, phán: 
- Thiệt mạng Tống chưa cùng, công việc gần xong mà hóa ra uổng công vô ích, ấy là thiên số định như vậy, nghịch ý trời thì hao binh tổn tướng. Thà chịu thua đầu Tống cho xong!
Dư Hồng thấy vua Đường than trách thì hổ thẹn trăm bề, liền bói một quẻ vì cớ nào kẻo tức. Trang quẻ xong xuôi. Dư Hồng mới vỗ ghế mà nói:
- Không xong rồi ! Té ra thằng lùn đốt bàn trù , ăn trộm gươm linh và sách báu, lại giải cho mười hai tướng tỉnh hồn! Nếu Tống Thái Tổ có người giỏi như vậy, thiệt trời hại ta đó! Song mười hai tướng bị phù mê lâu lắm, lẽ nào mau tỉnh như vậy? Thiệt nghĩ không ra cách ấy.
Nói rồi ngồi lơ láo suy nghĩ. Vua Nam Đường thì rầu rĩ không nói tới Quân sư.
Dư Hồng hổ ngươi đi vào phòng một nước, ngồi trong phòng mà nghĩ:
- Tướng lùn phép tắc tài năng như vậy, ta khó nổi phò Đường, chi bằng về núi mà tu luyện cho xong, khỏi buộc điều phiền não.
Nghĩ như vậy bèn khoác màn vào ngủ cho khỏe tinh thần, vào phòng kiếm hoài không đặng cái gối, ngó xuống dưới giường thấy gối rách tan một đống Dư Hồng lấy lên coi đã mất sách rồi, thất kinh nổi giận hét:
- Chẳng biết đời trước ta thù oán chi với thằng lùn này mà nay nó hại ta đến thế! Nay nó xé gối mà lấy sách nên mới giải bùa mê cho mười hai tướng. Nay ta quyết với nó một còn một mất, không chịu nhịn tướng lùn.
 Dư Quân sư ngồi buồn rầu, tức mình ngủ không đặng, chờ cho trời sáng lo mưu.
Sáng ra cơm nước xong xuôi, Dư Hồng dẫn binh đi khiêu chiến.
Lúc các tướng Tống kéo về Thọ Châu đồng ra mắt Thái Tổ.
Tống Thái Tổ mừng rỡ khen:
- Chúa tôi hiệp mặt, cháu dâu trẫm cũng đặng toàn sinh, thì đều nhờ công lao Phùng Mậu. Nay trẫm phong cho một chức xứng đáng là Bình nam vương.
Phùng Mậu lạy tạ ơn, coi bộ vui mừng lắm. Cao Hoài Đức và Cao Quân Bảo cũng tạ ơn Phùng Mậu vì đã cứu Lưu phu nhân.
Ngày ấy Thái Tổ truyền dọn yến thưởng công và ăn mừng thắng trận, sau bữa mừng cháu dâu nạn khỏi tai qua, cho tới tam quân cũng nhờ ngự tửu. Quan binh đều chúc tụng muôn năm. Đến trưa có quân vào báo: 
- Có Dư Hồng đến khiêu chiến, quyết mời Bình nam vương ra trận mà thôi!
Phùng Mậu nghe báo, liền để chén rượu xuống, xin ra cự chiến với Dư Hồng.
Tống Thái Tổ phán:
- Dư Hồng bị ngự điệt lấy sách báu, nên nổi xung tới làm quỉ chắc là dụng phép màu kế độc, quyết trả cho đặng thù. Sách binh thơ có nói rằng: Giặc giận cùng thì mình phải tránh. Chi bằng giả điếc làm lơ, nó đương hăng chẳng nên cự địch, đợi ít ngày Lưu phu nhân thiệt mạnh sẽ hiệp công một trận, cũng chẳng muộn gì.
Phùng Mậu vâng lời không dám nghịch chỉ, Tống Thái Tổ truyền đem thêm rượu, chúa tôi cứ việc uống hoài.
Kế quân vào báo nữa:
- Dư Hồng phá thành gấp quá, một hai kêu cho đặng Bình Nam Vương.
Phùng Mậu tâu:  
- Bệ hạ dạy đừng đánh với giặc giận cùng, thiệt là phải phép. Vả chăng Dư Hồng yêu đạo, bất quá sở cậy ở Lạc hồn la và bửu kiếm mà thôi, chớ như hú gió kêu mưa, dời non trút biển, sái đậu thành binh, chỉ có hóa hình, các phép ấy đạo tiên gọi là thường sự, dầu có phép báu chi lạ nữa, nhờ hồng phước bệ hạ cho tôi ra trận một phen, đánh đuổi yêu đạo, họa may Lý Kiên vỡ mật mà chịu đầu hàng, nếu để Dư Hồng ở chờ ngày, sợ bày thêm kế khác. Xin bệ hạ cho tôi giao chiến, kẻo nó dễ ngươi!
Cao Quân Bảo cũng tâu xin theo, hiệp lực đánh đuổi yêu đạo. Tống Thái Tổ y lời tâu, Phùng Mậu cùng Cao Quân Bảo nai nịt, dẫn một muôn binh mã ra thành.
Dư Hồng thấy Phùng Mậu bước ra trước, bèn nổi giận trợn con mắt và mắng:
- Thằng giặc lùn quen nghề cắp trộm, không ra trận cho phân minh, tập thói đào hầm, theo loài khoét vách! Bởi Kim Đính chưa tới số nên người làm lén mà nên công. Ta cũng bỏ qua không bắt mày tội gian giảo song hai cuốn sách và một cây gươm, là của thầy ta cho để làm kỷ niệm, phải mau mau trả lại cho ta, nếu để trễ lâu thì nội dinh Tống thành đều chết chém?
Phùng Mậu cười nói:
- Ta cũng muốn vị thầy ngươi mà trả sách và gươm lại. Song ngươi nói năng vô lễ nên ta không trả sách, lại quyết lấy đầu ngươi. Nếu dung nhà ngươi, thì ngươi xúi giục Nam Đường nghịch thiên cự Tống!
Dư Hồng nghe nói nổi xung đánh Phùng Mậu một gậy. Phùng Mậu đưa thước ra đỡ. Hai người hỗn chiến một hồi. Dư Hồng biết đánh không lại Phùng Mậu nên tính phải dùng quạt phép mới xong, liền giục cọp trá bại. Phùng Mậu tưởng Dư Hồng hết phép, đánh không lại nên chạy dài. Quyết đánh đuổi Dư Hồng cho vua Nam Đường thất kinh mà đầu Tống. Chẳng ngờ Dư Hồng còn phong hỏa phiến, quạt núi thì núi ngã, quạt đất thì đất tan, còn người thì tiêu hóa ra tro bụi. Phùng Mậu ngỡ trộm hết phép của Dư Hồng rồi nên giục thần nha theo đuổi. Dư Hồng quạt Phùng Mậu một quạt, lửa cháy rần rần. Phùng Mậu thất kinh giục thần nha bay bổng. Dư Hồng quạt bồi ít quạt nữa, bỗng nổi gió đùng đùng, phùng Mậu như diều bông, hay biệt mù hết thấy phần bị hơi  lửa nên Phùng Mậu hôn mê.
Còn Cao Quân Bảo trước khi thấy Dư Hồng quạt Phùng Mậu bay cao bốn trượng, thì kéo binh tới tiếp nhau, xảy thấy binh trước bị thiếu cả ngàn, kinh hãi thâu binh bại tẩu vào thành tâu các việc với Thái Tổ. Tống Thái Tổ nghe báo thất kinh, còn Phùng ích nghe con bị gió thổi lửa thiêu, không rõ mất còn, mười phần sầu thảm. Cao Hoài Đức điểm binh lại, hao hơn một ngàn.
Quạt phép của Dư Hồng quạt bay xa ngàn dặm. Bởi Phùng Mậu có thần nha là quạ lửa, tu luyện lâu năm, nên không sợ lửa.
Nhờ có nó bay mau quá nên Phùng Mậu khỏi chết thiêu. Bay được mấy dặm rồi thần nha sa xuống ngồi nơi vườn họ Ngại.
Rạng đông, gia nhân ngó thấy một thằng con nít chừng mười hai tuổi nằm chết trong vườn, chúng nó bàn:
- Cửa vườn chưa mở, sao lại có thây ma ở đây, chắc là đồ yêu quái!
Bàn vậy rồi chúng thất kinh vào báo cho chủ hay.
Nguyên chủ vườn ấy họ Ngại, tên chữ Vạn Thanh, cũng là người nước Nam Đường, không có con cái chi hết, khi trước cũng làm quan, vì không trai nên từ chức ở ẩn theo ruộng vườn, sau hạ sanh một gái, tên là Ngân Bình. Tiểu thơ nay mười lăm tuổi mà chưa nơi kết tóc xe tơ. Ngại Vạn Thanh cưng con lắm. Khi gia đình vào báo rằng có một vật quái gở chết tại sau vườn thì cha con lấy làm lạ đồng bước ra xem thử, coi lại là đứa con nít chết hồi nào không biết, chớ không phải vật quái gở gì, thấy thây nó nằm sải tay, mặt như trái táo. Ngại Vạn Thanh không rõ vì cớ nào, bèn lại gần mà coi thử thì còn thở thoi thóp, liền truyền cho gia đinh đổ thuốc Giây phút, Phùng Mậu tỉnh lần, ngồi dậy mở mắt ra, thấy có một già và một người con gái, nghe gia đinh nói rằng:
- Chết rồi nhờ người ta cứu sống lại mà không tạ ơn còn bỏ đi chớ?
Phùng Mậu đứng dậy thưa :
- Tôi bị mê man không rõ, chẳng biết ai đã làm phước cứu tôi.
Ngại Vạn Thanh thuật lại đầu đuôi câu chuyện, Phùng Mậu liền lạy tạ. Ngại Vạn Thanh hỏi thăm nguyên nhân vì sao xiêu lạc đến đây?
Phùng Mậu nói:
- Tôi là tướng bên Tống, đánh với Dư Hồng bị quạt phép của nó nên bay đến đây, nhờ ơn ông cứa mạng.
Phùng Mậu nói chưa dứt lời thì thấy có một người con gái chạy vào nhà trong, rồi nai nịt chỉnh tề, cầm thương bước ra xốc tới đâm Phùng Mậu.
Phùng Mậu kinh hãi, tránh qua một bên hỏi:
 - Ân nhân cứu tôi, sao lại muốn giết?
Cô gái đáp:
- Cha ta làm quan nước Đại Đường, vì triều đình nghe lời Quân sư nên bị nước Tống giết tướng, đoạt thành. Vậy nay ngươi là cừu địch của ta, ta quyết bắt ngươi cho tận trung với chúa.
Phùng Mậu nghe rõ liền rút cặp thước đánh với cô gái hơn mười hiệp. Cô gái này tên là Ngại Ngân Bình, không địch lại Phùng Mậu nên bỏ chạy. Phùng Mậu giục quạ đuổi theo, Ngại Ngân Bình liền quăng Hồng sắc lên, hào quang chiếu sáng, trói chặt Phùng Mậu, làm cho Phùng Mậu sa xuống đất, còn con quạ bay bổng lên không trung.
Ngại Vạn Thanh thấy con mình bắt được Phùng Mậu liền truyền gia đinh dẫn vào nhà trong. Phùng Mậu tỉnh lại mới biết cô gái đó có phép thuật liền than:
- Mới khỏi nạn Dư Hồng, lại mắc vào tay nữ tướng, mười phần chắc chết mà thôi.
Ngại Vạn Thanh truyền đem Phùng Mậu ra chém. Phùng mậu mừng thầm:
- Ta biết phép độn thổ, đợi khi đem chém ta sẽ trốn đi.
Quả nhiên, bọn gia đinh vừa mới khai đao thì Phùng Mậu đã chui xuống đất. Cha con Ngại Vạn Thanh lấy làm lạ nói:
- Mới thấy đó nó liền biến mất, chắc là học trò của thần tiên.
Còn Phùng Mậu độn thổ trốn đi rồi tính trở lại lấy cặp thước, nên cởi quạ lửa bay vào quyết đánh một trận nữa.
Cha con Ngại Ngân Bình thấy tướng lùn biến đi rồi trở lại, lập tức bủa lưới bao vây.
Ngại Ngân Bình vừa xông ra thấy phùng Mậu thì cười lớn:
- Tướng bại trận còn dám ỷ mạnh, không sợ bị trói nữa hay sao.
Phùng Mậu hét lớn:
- Tiện tỳ! Phen này chắc người không còn tánh mạng.
Ngại Ngân Bình không thèm trả lời, đánh với Phùng Mậu ít hiệp, rồi giả thua chạy vào nhà khách. Phùng Mậu nghi ngờ.
Chắc là trá bại đặng quăng dây Hồng sắc bắt mình, chớ không có gì lạ. Nếu nó dùng phép đó thì ta độn thổ là xong.
Ngại ngân Bình nói khích:
- Tên tướng lùn. Ngươi có giỏi thì đến đây đánh chơi với ta ít hiệp nữa.
Phùng Mậu giục thần nha vào thềm, thì con quạ đã mắc lưới bay lên không nổi.
Phùng Mậu biết trúng kế liền giục quạ bay lên không, móng chân quạ sắc như gươm, giật đứt lưới bay bổng, còn Phùng Mậu ngồi không vững, té xuống bị lưới quấn khắp mình. Thần nha bay lên mây nhìn chủ có vẻ chờ đợi.
Lời Bàn
Không nên tin chắc vào cái gì mình đã dự liệu, thà nên đề phòng, những cái bất trắc xảy ra.
 Dư Hồng dùng phép trấn yếm tướng tài của nước Tống, đinh ninh rằng số mạng những tướng ấy sẽ bị mai một. Đó chỉ là lòng tin. Mọi việc đều có thể xảy ra bất ngờ. Chính lòng tin của Dư Hồng về pháp thuật đã đề Dư Hồng đi vào con đường thất bại. Vua tôi nhà Đường cũng chính vì tin vào tài năng của Dư Hồng mà đưa đến những thất vọng ê chề, không thể cứu vãn kịp.
Ngạc nhiên, hối hận, là hai trạng thái mà người đời thường gặp chính là lòng tin tưởng, bởi sự suy đoán của mình, không chịu đề phòng, đến lúc xảy ra sự cố, thì mới chán nản, hối hận.
Nguyên nhân sự chán nản và hối hận con người chính là lòng tin tưởng thiếu suy xét và đề phòng những biến cố có thể xảy ra.

 
0
   
Hồi Thứ Mười Tám 

Phùng Mậu bị treo vì  ỷ thế
Ngân Bình gá nghĩa bị rượu say.


Khi Phùng Mậu mắc lưới, thì gia đinh áp tới trói bền.
Phùng Mậu nghĩ thầm:
- Nếu biết nàng có phép thuật, thì ta chẳng trở lại làm chi cho mắc lưới. Nay đã bị trói, ăn năn thì đã lỡ, chỉ còn có một kế là tìm cách trốn thoát.
Ngại Vạn Thanh nói với Ngại Ngân Bình:
- Tướng lùn không chịu phép, con định xử làm sao?
Ngại Ngân Bình thưa:
- Con nhắm tướng ấy có nhiều phép tắc, không phải tầm thường, nếu giết cách nào nó trốn cũng được, vậy để ngày mai giải nó đến nạp triều đình thì cha sẽ được trọng thưởng, bằng nóng giận để nó trốn đi thì uổng lắm.
Ngại Vạn Thanh khen phải, truyền cho gia tướng giữ gìn.
Chiều hôm ấy, trong lúc đang ăn uống, cha con vì mừng rỡ nên đem rượu ra uống đến say mèm. Ngại Vạn Thanh hỏi con rằng:
- Đêm nay con tính thế nào mà giữ gìn tên tướng lùn ấy.
Ngại Ngân Bình thưa:
 - Xin cha đừng lo, con có cách giữ gìn chắc chắn lắm.
Phùng Mậu lắng tai nghe, không biết nàng ấy làm cách nào, nên trong lòng rất lo sợ.
Khi đã quá canh hai, tiểu thơ truyền a hoàn đem cái túi lớn ra. Phùng Mậu xem thấy nghĩ thầm:
Không lẽ nó bỏ mình vào cái túi ấy mà quăng xuống nước? Nếu quăng xuống nước thì độn thủy trốn đi, chỉ sợ không ai mở trói.
Trong lúc đang lo lắng, nghe Ngại Ngân Bình truyền cắt dây bỏ vào túi rồi gút miệng lại, trên yếm một lá bùa, và dặn:
- Tướng này không phải tầm thường, các ngươi không giữ được phải đem treo giữa buồng ta, để ta coi chừng, đợi ngày mai sẽ giải đi.
Các con a hoàn vâng lệnh đem Phùng Mậu treo lủng lẳng giữa phòng, Phùng Mậu lấy làm đắc ý, vì thân xác Phùng Mậu thì nhỏ mà cái túi thì lớn, không tù túng chút nào, ở trong dòm thấy bọn a hoàn di tản hết, chỉ còn Ngại Ngân Bình cởi hết giày áo, mình mẩy mảnh mai, mặt hoa da tuyết, trông rất dịu dàng. Ở trong dòm ra, Phùng Mậu rất đắc ý, kiếm cớ lên tiếng nói:
- Phùng Mậu này không ngờ chết vì tay con gái, như vậy thầy mình hại mình rồi.
Ngại Ngân Bình khi trước không rõ họ tên Phùng Mậu, chỉ biết Phùng Mậu bị Dư Hồng dùng quạt phép, nên ngỡ là giặc, nay nghe xưng tên thì giật mình, nghĩ thầm:
- Ta nghe Phùng Mậu học đạo tại núi Huỳnh Hoa, lẽ nào đến Thọ Châu mà bị Dư Hồng đánh đuổi? 
Phùng Mậu ở trong túi nói tiếp :
 - Ta là Phùng Mậu, đệ tử của Huỳnh Thạch Công, bởi ta sơ ý nên bị nàng bắt được, chớ ta không phải là kẻ bất tài.
Ngại Ngân Bình nghe nói sững sờ, hơi rượu thấm vào người, nên buồn ngủ nằm sải trên giường mà ngủ say.
Phùng Mậu muốn mở túi mà ra, ngặt có lá bùa yếm chặt túng thế phải dùng phép chuột, dùng răng cắn túi vải chui ra. Khi đã thoát ra.khỏi, Phùng Mậu lén mở cửa phòng mà chạy, nhưng nợ tình quấn quít, đã đi khỏi cửa rồi, Phùng Mậu còn nghĩ thầm:
- Ban ngày nó bắt ta trói mèo, rất nên xấu hổ, vậy bây giờ ta phải trở vào phòng phá nó một hồi cho bỏ ghét. Nếu nó chịu làm vợ mình, thì ta có phước biết chừng nào. Bởi vì nó có phép thần thông lại thêm nhan sắc.
Nghĩ rồi liền trở lại, sẽ lén bước lên giường, nhờ Ngân Bình quá say, nên Phùng Mậu mặc tình làm mưa làm gió.
Ngại Ngân Bình khi tỉnh rượu, giật mình khi biết hoa kia ong đã nếm nhụy, nhưng tay chân rũ liệt, không cục cựa nổi, mới giả bộ hô hoán lên.
Phùng Mậu liềm bụm miệng cô gái và nói nhỏ:
- Tiểu tướng là học trò Huỳnh Thạch Công, vâng lệnh thầy đến đây ấy cũng là lương duyên do túc đế, xin tiểu thơ xét lại, kẻ chân trời người góc biển mà được hiệp hội như vầy, không lẽ đổi dời duyên khác, xin dung tha tội lỗ mãng, cho thỏa nợ ba sinh. Tôi thiệt lòng vàng đá, không phải loài bướm hoa, xin tiểu thơ suy xét.
Ngại Ngân Bình mắc cỡ, làm mặt giận nói:
- Ngươi thiệt nhỏ mình mà lớn mật? Khen cho mặt dạn mày dày. Ngươi xưng là học trò của một vị tiên, lẽ nào không biết lễ phép. Ôi dầu vì danh tiết mà bưng kín miệng mình, thì cha tôi lẽ nào dung thứ. Tủi phận tôi mồ côi mẹ từ thuở bé, một cha dạy dỗ lễ nghi, nay rủi hư thân, còn mặt nào nhìn cha sao đặng?
Ngân Bình nói rồi sụt sùi khóc. Phùng Mậu năn nỉ:
- Tôi là trai chưa vợ, lẽ nào thấy gái sắc không thương. Vả lại nước Nam Đường khí số đã tuyệt, Tống Thái Tổ chánh vị hoàng đế ra đời, một tay thu hết giang san, bề tôi sau này được mão vàng đai ngọc. Tôi với tiểu thơ vốn có duyên cầm sắc, không phải thói mây mưa, xin tiểu thơ xét lại.
Ngại Ngân Bình nghe nói, thở dài than:
 - Tuy vậy cũng duyên trời, thầy ta đã cho biết trước. Nay đã rõ họ tên, việc đã lỡ rồi, thôi thì y lời Thánh Mẫu. Song xin chàng trước sau một dạ, chớ có vong tình.
Phùng Mậu nghe nói như cởi mở tấc lòng, mừng rỡ đáp:
 - Mong tiểu thơ không chê người tài sơ đức bạc, nỡ nào tôi đem dạ phũ phàng. Xin nàng đừng nghi ngại.
Hai bên tâm sự đến đây thì trống đã trở canh tư Phùng Mậu mới hỏi nhỏ tiểu thơ:
- Vì cớ nào mà nàng có nhiều phép quá vậy?
 Ngại Ngân Bình nói:
- Thiếp là học trò của Kim Quang Thánh Mẫu, các phép ấy đều là của thầy cho.
Phùng Mậu nghe nói mừng rỡ:
- Nay nàng đã cùng ta trời xui giai ngẫu, vậy phải đầu Tống lập công cho thuận lòng trời, cho tổ tông nhờ tiếng.
Ngại Ngân Bình nói:
- Đã đành là vợ thì phải tùng phu, song phải giấu cho tôi mới đặng, vả chăng lúc ban ngày tôi có nói mai đây giải công tử đến đơn trì. Bây giờ tư tình kết nghĩa với nhau, không biết cha thương hay ghét, nếu hay mà quở phạt thì khó dễ nhiều bề, thà tôi giả đò đi giải rồi thẳng qua dinh Tống mới tiện hơn. Khi cứu chúa xong rồi, sẽ lo kế rước cha mới tiện.
Phùng Mậu khen kế rất hay. Ngại Ngân Bình thấy trời gần sáng sợ a hoàn vào phòng ngó thấy nên phải biểu chồng chui vô túi may lại rồi rút lên như cũ.
Rạng ngày a hoàn pha nước đem vào cho tiểu thơ rửa mặt,
Ngại Ngân Bình giả đau nói:
- Trong mình ta bữa nay có bịnh, hãy thưa lại với ông xin đình chỉ việc giải tướng giặc lại.
A hoàn ra thưa lại với Ngại Vạn Thanh. Ngại Vạn Thanh ngỡ là con mình vì đánh với Phùng Mậu mà bải hoải tứ chi, liền bước vào phòng thăm viếng và than:
- Không dè con bệnh thình lình, chắc là trễ việc giải phạm nhân.
Ngại Ngân Bình bèn thưa:
- Nhắm thế nó có cánh cũng khó bay, cha lo làm chi cho mệt, đợi vài ngày con lành bệnh, sẽ giải đến cho thiên nhan, nhắm chẳng trễ gì song phải cho nó ăn, giải tướng sống mới lớn công, chớ giải tướng chết vô ích.
Ngại Vạn Thanh khen phải, rồi dặn a hoàn lo săn sóc tiểu thơ.
Đêm ấy tiểu thơ truyền cho a hoàn để mình nghỉ an, thiệt sáng sẽ vào phòng, kẻo xao động tiếng người ngủ không an giấc.
A hoàn tưởng thiệt, chẳng dám cãi lời. Lúc ban ngày thì Ngại Ngân Bình nằm liệt, còn ban đêm đóng cửa phòng lại, mở túi càn khôn thả Phùng Mậu ra ăn uống nghỉ ngơi. Phùng Mậu ban ngày tuy bị treo song ban đêm thong thả vô cùng, phỉ tình phong nguyệt nặng tình non sông. Phùng Mậu nhớ sực lại con thần nha, mới hỏi:
- Không biết con thần nha của tôi nó ở đâu?
Ngại Ngân Bình nói:
- Con quạ ấy vốn vật linh, khi chàng bị bắt thì nó bay liệng rên không mà ngó chừng hoài, đến khi chúng ta gá nghĩa với nhau thì nó lại trà trộn ở chung với gà vịt.
Phùng Mậu mừng rỡ và nói:
 Con quạ ấy của thầy cho mà đỡ chân, bởi nó thuộc hỏa mới chịu nổi quạt phép của Dư Hồng.
Từ ấy về sau, hai vợ chồng khi chén rượu khi cuộc cờ, khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. Thật là ba sinh đã phỉ lời nguyền.
 Còn Phùng ích cha Phùng Mậu ở trong thành ngày đêm trông đợi con về, mà càng trông càng bặt tin nên thảm sầu than khóc?
***
Nói về Nhữ Nam Vương Trịnh Ấn, từ khi vâng lệnh quân sư đi lên Thạch Châu (San Hậu) viện binh, bởi tánh Trịnh Ấn cộc cằn lỗ mãng, hễ nghe sai thì đi liền, không hỏi lại cho rõ ràng, được lệnh thì vụt ra đi như cơn gió xoáy, không đem tiền lộ phí tùy thân, cũng không biết đường biết nẻo, nên đi lẩn quẩn trong đất Kim Lăng hoài. Ăn đã hết cơm khô mà đi chưa tới chỗ. Trịnh Ấn túng phải nhịn đói, hỏi thăm đường sá, đi bất kể ngày đêm.
Ngày kia đến một chỗ nọ phồn hoa thị tứ, Trịnh Ấn thấy có tiệm cơm, quán rượu rất nhiều, muốn vào đó ăn uống nhưng ngại vì túi rỗng, thật là tấn thối lưỡng nan, lại ngẫm nghĩ:
- Thiên hạ đều phải nạp lương đóng thuế nhà vua, vả lại mình cũng là một vị vương, quyền hành rất lớn, dầu ăn không của bá tánh, rồi tha thuế mà trừ cũng xong? Huống chi mình vâng lệnh vua sai, quan sở tại còn phải đãi đằng, huống chi là dân sự!
Nghĩ rồi Trịnh Ấn chăm chỉ vào quán cơm.
***
Lời Bàn.
Trong sự khôn ngoan thường khi bị những tình trạng lắt léo phản lại.
Lời xưa nói: Kẻ thông minh, tài trí thường hay bị những việc rất tầm thường phản ứng. Bởi vì kẻ thông minh thường nghĩ đến chuyện quá sâu xa mà không đề phòng những việc tầm thường trước mắt.
Ngại Ngân Bình bắt được Phùng Mậu, một thằng lùn tịt những tưởng dễ sửa trị, nhưng điều Ngại Ngân Bình đề phòng Phùng Mậu là sợ Phùng Mậu trốn đi, nên bắt bỏ vào túi đem treo trên sà nhà, nhưng còn sợ không ai đủ sức canh giữ nên truyền đem treo trong phòng ngủ của mình, để đến nỗi Phùng Mậu thoát ra, làm những điều ô nhục. Ấy vậy Ngại Ngân Bình tuy là kẻ có tài trí tuyệt vời, nhưng không nghĩ đến một chuyện rất bình thường, mà người bình thường mới đề phòng được. Phùng Mậu là một tên hài hước, đã trốn được lại còn nghĩ đến hành động chọc phá thiên hạ, thật đáng buồn cười nhưng buồn cười hơn cả là sự việc đã dĩ lỡ, khiến cho thân phận một cô gái tài sắc tuyệt trần kết duyên với một thằng lùn xấu xí. Nếu đó là một tương duyên trời định thì cũng oái oăm lắm!


0
Hồi Thứ Mười Chín
 

Bởi Lơ Đễnh, Trịnh, Cao Bị Bắt  
Biết máy thơ, Tiêu, Úc tùng quyền.


Nói về Trịnh Ấn tính xàm trong lòng, nên mang túi rỗng vào tiệm kêu tửu bảo biểu đem rượu ngọt và đồ ngon. Tửu bảo coi bộ quan khách tác lớn lại cao, biết sức ăn uống như rồng như cọp, liền đem ra ít bầu rượu và dọn đủ đồ ngon. Trịnh Ấn ăn uống trội hơn ngày thường, vì nhịn đói đã một ngày rưỡi, ăn uống một hồi lại kêu thêm rượu, hối đồ ăn. Tửu bảo thấy khách y phục đoan trang, ngỡ tiền lưng nhiều lắm, nên lựa toàn món ngon vật lạ, lại trông cho khách ăn ráng cho nhiều. Tuy nghe tiếng Trịnh Ấn nói khác tiếng mình, song thấy mặc sắc phục nhà vua nên tửu bảo không dám tra hỏi.
Khi Trịnh Ấn ăn no say và trà nước xong thì sửa soạn xuống lầu không nói gì đến việc tiền bạc. Tửu bảo thấy vậy liền nghĩ:
- Bộ người này tính ăn lường, nên cố thực quá, ăn rồi mà không nói đến việc bạc tiền, lại coi bộ muốn lên lưng ngựa mà đi!
Nghĩ rồi, bèn đón lại đòi tiền.
Trịnh Ấn nói:
Nhữ Nam Vương có ăn uống bao nhiêu thì bổn địa phải chịu, ngươi còn đòi bạc gì? Thôi bao nhiêu thì ngươi tính đi, tới ngày trừ bạc thuế, hay là muốn đến trình huyện mà lấy của công nho, hai lẽ ngươi muốn lẽ nào?
Chủ quán nghe ra mới biết là một vị vương hầu bên Tống, cừu địch với nước mình, nên tính đi báo quan mà lãnh bạc thưởng, liền nạt tửu bảo rồi làm bộ vui vẻ thưa:
- Khi nãy thằng bạn tôi con mắt mù quáng, không biết đại vương, nó thất lễ mười phần, tôi xin cam chịu lỗi.
Nói rồi liền cúi lạy, Trịnh Ấn mừng rỡ khi thấy chủ quán tôn kính mình. Còn chủ quán thì hối các tửu bảo đem trà thơm ra đãi, còn làm bộ giả lả đãi đằng chu đáo gấp đôi khi trước rồi nói:
- Tôi có mắt mà như mù, không biết đại vương, nay nhờ ơn bề trên cho tính tiền trừ thuế. Song vương gia nói miệng, sợ quan thâu thuế không tin, vì chẳng có dấu chi làm cớ, vậy xin đại vương phê cho ít chữ và đóng ấn vào, ngày sau có quan thâu thuế đến, tôi chiếu giấy mà trừ, thiệt ơn  đại vương sánh tựa non biển ?
Trịnh Ấn nghe nịnh êm tai thì khen rằng:
- Chủ quán thiệt là người có trí, ta khá khen cho đó !
Nói rồi biểu đem giấy mực ra.
Trịnh Ấn đề rằng:
“Phải chiếu theo giấy này trừ thuế cho thân tộc tiệm này mười năm" rồi ký tên đóng dấu kỹ lưỡng.
Chủ tiệm làm bộ mừng rỡ cúi lạy tạ ơn, rồi truyền cho tửu bảo đem rượu tốt và đồ ăn ngon no đủ mọi món, nào thịt rừng nào cá biển.
Trịnh Ấn thấy đãi những món mỹ vị thì ráng ăn uống thêm.
Chủ quán thì càng ân cần khuyên ép, rồi bước vào nhà trong sai bạn đi mách với quan Tổng binh, dặn rồi trở ra hầu rượu.
Tổng binh xứ nọ họ Tiêu tên chữ là Hóa Long, nghe gia tướng của chủ quán đến bẩm:
- Chủ tôi phục rượu cho một vị vương nước Tống, còn ngồi trong quán, coi bộ đã say, nên chủ tôi sai đến bẩm với ông, xin đem binh đến bắt.
Tiêu Hóa Long nghe báo mừng rỡ vô cùng, dẫn năm ngàn binh mã ra đi. Đến quán thì Trịnh Ấn đang uống rượu. Tiêu Hóa Long hét lớn:
 - Khen cho Tống tặc cả gan còn ngồi uống rượu !
Trịnh Ấn nghe rõ mới hay mình còn ở trong địa phận đất Kiên Lăng, bị chủ quán làm mưu sai người đi báo cáo. Muốn cầm roi lên ngựa, mà cự với tướng Đường, ngặt say quá nên tay chân rã rượi, Trịnh Ấn túng thế thót lên ngựa mà chạy. Binh Nam Đường vây phủ quá đông. Trịnh Ấn ngồi không vững vàng liền nhào xuống ngựa, quân Nam Đường áp lại bắt trói Trịnh Ấn.
Tiêu Hóa Long mừng rỡ mười phần, liền thường quán nhân năm trăm lạng bạc. Chủ quán mừng rỡ tạ ơn. Tiêu Hóa Long truyền quân dẫn Tống tặc về ải.
Về đến ải, Tiêu Hóa Long truyền đem giam Tống tặc được ít ngày đêm giải mà lập công. Bởi qua bữa sau là trung thu trăng tỏ, bạn đồng liêu thăm viếng chơi bời, tại nhà quan nên việc ăn chơi trọng thể lắm!
Ngày ấy có người đồng liêu thiết nghĩa với Tiêu Hóa Long là Úc Thoại làm chức trấn quốc tướng công, có người con gái là Úc Sanh Hương, tài cao phép lạ. Hai cha con họ Úc đi giải một tên tội phạm, thuận đường ghé viếng Tiêu Hóa Long, tên phạm ấy cũng là tướng bên Tống.
Tiêu Hóa Long tiếp đãi Úc Thoại và hỏi thăm vì cớ nào mà bắt được Tống tướng. Úc Thoại nói:
- Tống tướng họ Cao tên Quân Bội, đêm hôm qua đơn thương độc mã đến bắn tên lửa vào thành quyết đốt kho lương, may trời khiến tôi hay đặng đem binh ra vây nó. Không dè nó tướng nhỏ mà sức mạnh như thần, đánh nhằm cánh tay tôi bị thương. Khi quân báo lại con gái tôi là Sanh Hương ra đánh bắt nó đem về. Tôi tính giải nó đến vua, trước là lập công sau là báo thù roi sắt, e Tống tướng đón đường cướp giựt, bởi khi trước khi có chiếu truyền rút binh các ải về thủ thành vua, nên binh tôi mười phần nay còn có một. Nay mới giải Tống tướng, có năm trăm binh mà thôi, nên ghé lại Tổng binh mượn thêm nhân mã ba ngàn đặng đi giải, chẳng hay Tổng binh có đành chăng?
Tiêu Hóa Long nghe nói:
- Không dè anh cũng như em, đồng bắt được tướng Tống.
Nói rồi thuật chuyện bắt Trịnh Ấn.
 Úc Thoại nghe qua mừng vội. Tiêu Hóa Long nói:
- Tôi cũng định giải nó đi, may gặp anh đi giải cùng đường, song đêm nay là đêm Trung thu, mời anh ở lại vui chơi, rồi ngày mai anh em ta cùng đi giải, cũng không trễ nải chi? Úc Thoại là con sâu rượu, nghe bạn mời ăn tiệc liền bằng lòng.
Nói về Tiêu Dẫn Phụng là con gái Tiêu Hóa Long, lại là em bạn với Úc Sanh Hương tình chi lan như keo sơn gắn chặt.
Tiêu Dẫn Phụng cũng là con một như Úc Sanh Hương, nghe tin chị em đến thì mừng rỡ, lại nghe cha mời ở lại ăn tết Trung thu, Tiêu Dẫn Phụng lại mừng nhiều hơn nữa.
Đêm ấy chị em lên lầu, xem trăng uống rượu, nói chuyện đến khuya, lúc đó mọi người đều ngủ hết, chỉ còn hai chị em còn thưởng nguyệt. Xảy nghe có tiếng than thở, hai chị em đều lén đi rình nghe thì thấy hai người nói chuyện với nhau trong tù xa như vầy:
- Đại trượng phu chết giữa chiến trường thì rạng danh như nhật nguyệt, ngặt vì thương nỗi mẹ già cui cút, ngày sau trăm tuổi già không ai thọ chế cư tang.
Kế nghe người khác nói:
 - Phàm con người ở đời hễ đặng thảo mất ngay, đặng ngay mất thảo, mấy ai mà đặng trung hiếu lưỡng toàn! Chúng ta không phải thường tình nhi nữ?   
Người kia đáp lại:
- Anh Trịnh, anh nói cũng phải, song ta nghĩ lại giận Miêu Quân sư, không chịu sai tướng khác, quyết ép tôi vào chốn hang cọp miệng hùm, chắc là không còn tính mạng. Quân sư có đưa cho tôi một phong thư, dặn đêm trung thu gặp anh sẽ giở ra xem dầu bị tai nạn cũng khỏi. Song bị buộc tay chân thì làm sao mà lấy được thơ trong túi mà xem thì chắc tai qua nạn khỏi.
Hai tướng nói chuyện thì hai chị em nghe rõ ràng, hai nàng bèn trở lại Bá Hoa Đình xem hoa thưởng nguyệt.
Tiêu Dẫn Phụng nói với Úc Sanh Hương:
- Chị ôi? Lúc em ở núi về, Thánh Mẫu có dặn, sau hai chị em sẽ kết duyên cùng trai Tống. Nay nghe hai tướng Tống nói chuyện: Miêu Quân sư có đưa bức thư chi, dặn coi thì khỏi nạn, chi bằng ta sai con đòi thừa dịp này mà móc túi, lấy thư coi thử nói những chuyện gì. Chị xét lại thử coi có đáng hay là không đáng?
Úc Sanh Hương khen phải, Tiêu Dẫn Phụng sai con đầy tớ tâm phúc đến lục túi lấy thơ. Trịnh Ấn không cho, làm bộ quỉ thần nạt nộ.
 Cao Quân Bội nói:
 - Mình có thơ mà coi không được, cũng nên để cho người ta coi, hoặc tai qua nạn khỏi, nên đừng trở ngại!
Trịnh Ấn giận làm thinh không thèm nói lại. Con đòi lục túi Cao Quân Bội, lấy được phong thơ mừng rỡ lật đật đem về cho chủ.
Tiêu Dẫn Phụng thấy phong thơ điểm kỹ càng, khai ra thấy tám câu thơ như sau:
Nhân duyên ngàn dặm Tống hòa Đường,
Căn dặn gia nhân phải chủ trương.
Đẹp phận Trịnh vương cùng Dẫn Phụng,
Phỉ nguyền Quân Bội với Sanh Hương,
Tù xa khỏi nạn hương thêm đượm.
Vừng nguyệt làm mai lửa cháy hường,
Mới biết duyên trời đà định trước,
Phần ai nấy gặp bởi tơ vương. 

Hai chị em xem thơ nghĩ giật mình. Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bài thơ này nói rõ tên họ đôi lứa của chúng ta, như lời Thánh Mẫu đã dạy. Nay đã gặp gỡ lẽ nào dám trái lòng trời mà nỡ cãi lời thầy cho được! Chị tính thế nào bây giờ?
Úc Sanh Hương nói:
- Phải thuận sẽ trời, nghe lời thầy chớ, duyên lành dễ kiếm hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Đã biết vậy mà bây giờ vâng lời thầy lại mang tiếng là bỏ cha phản chúa, tội bất trung bất hiếu, sao mặt nào dám ngó cha già ?
Úc Sanh Hương nói:
- Người phải có kinh có quyền, không phải giữ hoài một mực, nay coi Tống hưng thạnh. Nay chị em ta vâng lời thầy lén cha mà kết tóc cùng tướng Tống, cứ theo lẽ thì ta bất hiếu bất trung, song ngày sau mình phò Tống cứu cha, cũng đã đem công mà trừ lội, lại đặng hưởng vinh hoa phú quý, không uổng công ăn học thuở nay cho nên nay là bất hiếu sau đặng trọn thảo trọn ngay. Nếu phò Nam Đường mà chết cả dòng, mới gọi là hiếu hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói khen:
- Lời luận tùng quyền của chị hay lắm!
Hai chị em bàn luận rồi cấm a hoàn chớ nên tiết lậu. Truyền đóng cửa vườn lại hối con đòi tâm phúc ra tháo tù xa; thuật các việc cho hai tướng ấy nghe, rồi mở đây rước vào thương nghị, a  hoàn vâng lệnh, y theo lời dạy mà làm, mở tù xa và mở trói cho  hai tướng rồi mời đi theo mình đến ra mắt nhị tiểu thơ.
Hai nàng thấy mặt tướng Tống thì hổ thẹn, song gượng nói:
 - Xin nhị vị công từ hãy xem thơ của Quân sư rồi sẽ tính lẽ nào cho chị em tôi biết với!
Nói rồi sai con đòi đưa thơ cho nhị vị công tử.
Cao Quân Bội liền xem thơ. Còn Trịnh Ấn chưa kịp coi nên làm dữ, mắng người sao vô lễ xem thơ của mình. Cao Quân Bội lắc đầu rồi trao thơ cho Trịnh Ấn. Trịnh Ấn xem rồi khen thầm Quân sư tuyên thánh, nhân duyên trước mặt, họ tên ngày tháng rành rành.
Lúc ấy, hai nàng cúi mặt xuống và nói:
 - Tuy bài thơ ấy của Quân sư, nhị vị công tử đọc xong rất hiệp với lời dặn của thầy tôi là Kim Hoa Thánh Mẫu nên không cãi lẽ trời cho đặng, vậy chẳng hay hai vị công tử chước lượng làm sao?
Cao Quân Bội thấy hai nàng hữu tình, cứu mình trong cơn hoạn nạn, nếu nghịch mà không chịu, chắc là bị giải đến vua Nam Đường, thì tánh mạng mười phần còn một, mình chết không tiếc, riêng thương nỗi mẹ không kẻ phụng thờ. Huống chi Quân sư đề tên họ rõ ràng, không phải tội nơi mình làm mà sợ? Nghĩ rồi nói hơn thiệt cho Trịnh Ấn nghe, anh em cùng bằng lòng như một.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bây giờ đã thuận cả, mới nhất định đôi lứa làm sao?
Úc Sanh Hương sợ Tiêu Dẫn Phụng dành người trắng trẻo của mình, liền đáp:
- Lời xưa có nói: "Vợ chồng là căn nợ" và sách có câu: “Vô ân trái bất thành phu phụ, hễ tướng nào của ai bắt đặng là duyên nấy, còn nghị luận làm chi!
Ban đầu Tiêu Dẫn Phụng chê Trịnh Ấn mặt mày như quỷ, sao bằng Cao Quân Bội tốt trai, nay nghe Úc Sanh Hương cắt nghĩa cũng phải, vả lại trong thơ có đề vợ nào chồng nấy, nếu đổi chọn đặng sao? Tuy Trịnh Ấn xấu tướng mặc lòng, mà quyền cao chức lớn, vợ cũng là một vị vương phi, bù đi chế lại cũng vừa, nên thuận theo thơ ấy.
Bốn người cứ theo thơ mà làm chồng vợ, đồng thề thốt và giao của tin. Rồi hai nàng than:
- Đêm nay thề thốt giao ước như vậy mà không biết nhị công tử ngày sau giữ lời quân tử hay không?
Cao Quân Bội và Trịnh Ấn đồng nói:
- Đại trượng phu chẳng hề thất tín, hẹn việc nhỏ cũng không sai, huống chi việc vợ chồng là việc trăm năm, lại cũng đứng vào hàng tam cang nữa, lẽ nào xuất hồ nhĩ phản hồ nhĩ sao? Xin tiểu thơ chớ nghi ngại!
Hai nàng nghe nói đều tin bằng lời, liền truyền cho a hoàn dọn rượu cơm thết đãi. Hai người ăn uống xong. Trịnh Ấn nói:
- Hai nàng gá nghĩa với hai ta, thì phải bỏ Đường đầu Tống, đặng ta về tâu lại với chúa và thưa với cha mẹ. Ngặt lịnh tôn công đã nhất định giải hai ta tới vua Đường, vậy biết tính làm sao cho đặng?
Hai nàng ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:
- Ngày mai chúng ta làm như vầy, như vầy. . . thì lo chi công tử thoát thân không đặng?
Cao công tử nghe kế mừng rỡ, rồi cùng nhau uống rượu tới canh tư. Lúc ấy hai nàng nói với hai công tử, xin chịu phiền vế chốn tù xa và cũng phải chịu trói kẻo lộ. Hai người y như lời dặn còn chị em vào phòng nghỉ ngơi.
Nói về Tiêu Hoá Long với Úc Thoại mắc say mèm ngủ ngáy pho pho, nên chuyện của nhị tiểu thơ không ai hay biết, ấy cũng là trời đất khiến xui, nên mới gặp cơ hội may như vầy.
Sáng sớm ai nấy đều thức dậy, có một mình Úc Thoại còn ngủ mê man vì bị Cao Quân Bội đánh một roi, đau nhức chỗ vết rên siết nằm hoài. Úc Sanh Hương vào thăm cha mà Úc Thoại dậy không nổi. Tiêu Hóa Long cũng lại xem trong mình nguyên tại chứng chi? Úc Thoại nằm mà đáp:
- Tôi sẵn bị thương, nay lại uống rượu nhiều nên phát bệnh, giờ phải uống thuốc một bữa thì mạnh, nhắm chẳng hề chi, ngặt một điều, đi giải Tống tướng không đặng. . .
Tiêu Dẫn Phụng thừa dịp thưa:  
- Xin bác đừng lo việc ấy, chị em tôi sức chẳng thua ai, xin lãnh phần giải tội cho, còn bác ở đây mà dưỡng bệnh, cha tôi ở nhà mà lo thuốc rước thầy, chắc chị em tôi đi lo kham mọi việc.
Tiêu Hoá Long cũng khen phải và nói:
Anh hãy ở đây dưỡng bệnh chừng thuốc thang lành bệnh sẽ về.
  Úc Thoại bằng lòng và dặn:
 - Đi giải giặc chứ không phải tù thường phải cẩn thận cho lắm!
Úc Sanh Hương thưa:
- Xin cha an lòng dưỡng bệnh, việc này con biết đề phòng không sao.
Tiểu Dẫn Phụng thưa:
- Con gái lộn với con trai lấy làm khó lắm, tôi có hai trăm nữ binh, tập luyện nhuần nhã. Chị Sanh Hương cũng có hai trăm nữ binh, võ nghệ tinh thông, sức một đứa cự nổi một trăm, ôi giải bấy nhiêu cũng đủ. Bởi vì mình ở trong địa phận đất mình nhắm không đến nỗi nào.
Tiêu Hoá Long và Úc Thoại đều bằng lòng.
Hai nàng mừng rỡ đồng thay quần áo con trai, đội kim khôi, mang thiếp giáp, kéo nữ binh đi giải Tống tướng.
Đi một hồi ra khỏi ải, cả bọn nhắm Thọ Châu thẳng tới. Khi đã đỏ đèn đã ghé vào quán, xảy thấy sau lưng có một đội nhơn mã rượt theo, hai nàng kinh hãi:
- Có khi đã lộ việc rồi nên có binh gia theo bắt!
A Hoàn trở lại thám thính, giây phút về báo:
- Xin tiểu thơ đừng lo sợ, ấy là đạo binh của Ngại Ngân Bình.
Cao Quân Bội nghe báo hỏi thăm:
- Nữ tướng ấy là người ở đâu vậy?
Úc Sanh Hương nói:
- Nàng ấy là con gái Ngại Vạn Thanh, cũng là người bổn quốc, là học trò Kim Quan Thánh Mẫu, nàng ấy tên Ngại Ngân Bình, tuy vẫn khác họ tình quá ruột rà, nay không biết đi chuyện chi mà cũng kéo binh vào quán. Xin hai vị công tử ẩn mặt đằng sau, đặng tôi mời nàng ấy đến đây hỏi thăm cho biết.
Hai anh em nghe nói, liền ẩn mặt phía sau. Úc Sanh Hương sai a hoàn mời Ngại tiểu thơ, Ngại Ngân Bình nghe mời liền đi qua. Hai nàng chào mừng đàm đạo tỏ nỗi hàn huyên song giấu một điều là đầu Tống, cứ nói đi giải tội mà thôi còn Ngại Ngân Bình cũng nói đi giải Phùng  Mậu. Nói chuyện giây lâu, Ngại Ngân Bình liền kiếu về phòng cơm nước.
Còn Cao Quân Bội và Trịnh Ấn lóng tai nghe rõ mọi điều, liền năn nỉ với hai nàng, cậy nói với Ngại Ngân Bình xin tha phùng Mậu, vì người ấy là anh em với mình, sau thấy hai công tử cầu khẩn hết lòng, vị tình phải chịu, song không dám kể chắc, chừng nào nói đặng sẽ hay.
Hai người ra sau ẩn mặt, Tiêu Dẫn Phụng sai thế nữ mời Ngại tiểu thơ trở qua nói chuyện.
 Ngại Ngân Bình vừa mới ăn cơm tối, thấy a hoàn qua nói tiểu thơ mời thì Ngại Ngân Bình qua và hỏi:
 - Chẳng hay chị mời tôi qua đây có chuyện chi?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Lâu nay gặp hiền muội, không ngờ tình cờ hội ngộ giữa đàng, nên mời qua nói chuyện cho phỉ tình, kẻo chị Sanh Hương cũng ao ước, chớ thiệt tình không có chuyện chi.
Ngại Ngân Bình đáp:
- Tôi đội ơn hai chị có tình thương tưởng.
Rồi cùng nhau ngồi nói chuyện, uống rượu tới canh ba.
Tiêu Dẫn Phụng bưng chén rượu đầy, hai tay đưa cho Ngại Ngân Bình và nói:
Hiền muội hãy uống rượu mừng này cho cạn.
Ngại Ngân Bình cười chúm chím rồi hỏi:
- Tôi có chuyện chi mà mừng?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Hiền muội bắt đặng Tống tướng, ngày mai dẫn đến trào Đường mà lãnh công thì chắc là lệnh tôn công và hiền muội đặng trọng thưởng, cho nên tôi phải dâng chén rượu mừng.
Ngại Ngân Bình nói:
- Tôi nghe nói hai chị cũng bắt được hai Tống tướng, cũng đi giải như nhau, vậy thì ba chị em đều có một công hết mà mừng một mình tôi sao phải?
Nói rồi cùng rót rượu dâng lại, cùng nhau chén tạc chén thù và đàm đạo cho tới canh tư.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
 - Mai ba chị em ta đi một lượt với nhau cho có bạn.
Ngại Ngân Bình sợ lậu tiếng, liền đáp lại:
- Tôi còn đợi cha tôi đi cùng, hai chị đi trước, nếu đợi tôi thì trễ ngày giờ, lúc về thì tôi sẽ ghé thăm hai chị.
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói nghĩ thầm:
 - Ngại Ngân Bình bắt được tướng Tống, sao còn do dự đợi cha làm cho chắc là có ý gì đây.
Nghĩ rồi hỏi thử.
- Tôi muốn bày tỏ đôi lời, chỉ sợ hiền muội tiết lộ thì khó lòng.
Ngại Ngân bình nói:
 - Ba chị em mình, đồng lòng kết nghĩa, lẽ nào dám tiết lộ những chuyện riêng, dù quan trọng đến đâu chị cứ nói chẳng hề gì.
Tiêu Dẫn Phụng lấn cấn mãi không chịu nói. Ngại Ngân Bình hỏi:
- Chị nghi bụng tôi như vậy mà bấy lâu nay tôi lại tin lòng chị. Như vậy uổng biết chừng nào?
Úc Sanh Hương khuyên giải:
- Ngại hiền muội là người trung tín, chẳng phải như kẻ khác mà hồ nghi.
Tiêu Dẫn Phụng sai con đòi thân tín ra ngoài xem có ai nghe lén không, rồi mới dám nói:
- Tôi mời hiền muội qua đây, mục đích là bày tỏ việc này: Tôi nghe đồn Phùng Mậu là học trò giỏi của Huỳnh Thạch Công, phò Tống được phong vương, nay lại về tay hiền muội, ấy là trời định lương duyên, sao hiền muội chẳng giao kết làm vợ chồng, lại đi nạp làm chi vậy. Nhà Tống đang thịnh trị, còn Nam Đường thì khí số mỏng manh, mình lánh nạn cứu cha là tốt, biết cơ trời thì mới hiển vinh, chỉ sợ hiền muội được ngọc mà bỏ đi, đến sau ăn năn không kịp. Hiền muội hãy suy đi nghĩ lại cho kỹ.
 Ngại Ngân Bình nghe nói trúng ý, nên thẹn đỏ mặt, ngồi ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
- Chị khuyên em cũng phải.Vậy hai chị bắt được hai tướng Tống sao lại không kết duyên?
Tiêu Dẫn Phụng không biết nói sao, ngồi cười chúm chím bị Ngại Ngân Bình hỏi thét, túng quá phải nói:
- Ba chị em ta như thể ruột rà, lẽ nào dám giấu. Hai chị em tôi cũng tính việc đó mà tìm mưu đặng theo về Tống.
Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng nói thì biết ý, đáp:
- Tôi cũng có ý đó, song không dám cãi lệnh mẹ cha.
Úc Sanh Hương nói:
- Gặp biến phải tùng quyền, hễ là quân bất minh, thần đầu tha quốc.
Ngại Ngân Bình nói:
- Hai chị thật là người thấy xa hiểu rộng.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Thật tình hai chị em tôi đã biển hẹn non thề, thuận lòng trút bỏ chỗ tối theo về chỗ sáng, cùng nhau đầu Tống lập công, sau vinh hiển một nhà.
 Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng tỏ hết tâm tình, liền đáp:
- Cảm ơn hai chị, phần em cũng đã thề nguyền hôm trước rồi.
Mọi điều tâm sự đã được bày tỏ, song Ngại Ngân Bình chỉ giấu có một điều là Phùng Mậu đã làm hỗn mà thôi. Úc Sanh Hương vỗ tay cười nói:
- Ý chúng ta đã một lòng, hễ là người trí thì sớm gặp nhau.
 Nói rồi hai nàng lật đật vào thuật chuyện lại cho hai tướng hay:
- Hai chị em tôi nói với Ngại Ngân Bình và mọi việc đã xếp đặt xong, vậy xin hai chàng cùng ra ngoài đặng thỉnh Phùng Mậu qua cho gặp mặt.
Hai anh em nghe nói công việc đã tính xong, cùng nhau mừng rỡ bước ra. Tiêu Dẫn Phụng nhờ Ngại Ngân Bình về mời Phùng Mậu đến để gặp mặt nhau, kẻo hai chàng còn nghi ngại. ngại Ngân Bình về thuật chuyện với Phùng Mậu rồi cùng Phùng Mậu đến gặp mặt.
Ba anh em gặp nhau mừng rỡ, thuật chuyện cho nhau nghe:
- Chẳng qua việc này là thiên số, lời Quân sư đã đoán trước chẳng sai.
Sau đó ba anh em mở tiệc chuyện trò, còn ba chị em cũng đàm đạo với nhau suốt đêm không ngủ. 
***
Lời Bàn
Trong mọi sinh vật, cái gì bị tiêu diệt thì cũng có mầm sống vươn lên.
Chiến trận xảy ra liên miên, người chết ngã gục không kể hết, đó là một thảm họa. Nhưng trong mầm họa ấy sẽ nảy ra những chồi xanh, những cặp hôn nhân cũng luôn luôn được nảy nở như các chàng trai nước Tống, lại kết duyên với các cô gái nước Đường. Như vậy, trong hủy diệt có phát sinh. Đó là lẽ tuần hoàn của tạo hóa cấu tạo quy luật sanh diệt trong con người. Ở đây tác giả đã đưa quan niệm ấy để diễn tả luật sanh tồn của vũ trụ một cách tự nhiên, theo quan niệm triết học Đông phương, phải giới thiệu cho người đời thấy luôn luôn trong cái buồn có cái vui, trong nước mắt có nụ cười, trong hủy diệt có sự sống.
Cuộc sống con người sở dĩ tồn tại là do luật sanh tồn của thiên nhiên, mà quy luật ấy vẫn là muôn thuở.

 
0
Hồi Thứ Mười Chín
 

Bởi Lơ Đễnh, Trịnh, Cao Bị Bắt  
Biết máy thơ, Tiêu, Úc tùng quyền.


Nói về Trịnh Ấn tính xàm trong lòng, nên mang túi rỗng vào tiệm kêu tửu bảo biểu đem rượu ngọt và đồ ngon. Tửu bảo coi bộ quan khách tác lớn lại cao, biết sức ăn uống như rồng như cọp, liền đem ra ít bầu rượu và dọn đủ đồ ngon. Trịnh Ấn ăn uống trội hơn ngày thường, vì nhịn đói đã một ngày rưỡi, ăn uống một hồi lại kêu thêm rượu, hối đồ ăn. Tửu bảo thấy khách y phục đoan trang, ngỡ tiền lưng nhiều lắm, nên lựa toàn món ngon vật lạ, lại trông cho khách ăn ráng cho nhiều. Tuy nghe tiếng Trịnh Ấn nói khác tiếng mình, song thấy mặc sắc phục nhà vua nên tửu bảo không dám tra hỏi.
Khi Trịnh Ấn ăn no say và trà nước xong thì sửa soạn xuống lầu không nói gì đến việc tiền bạc. Tửu bảo thấy vậy liền nghĩ:
- Bộ người này tính ăn lường, nên cố thực quá, ăn rồi mà không nói đến việc bạc tiền, lại coi bộ muốn lên lưng ngựa mà đi!
Nghĩ rồi, bèn đón lại đòi tiền.
Trịnh Ấn nói:
Nhữ Nam Vương có ăn uống bao nhiêu thì bổn địa phải chịu, ngươi còn đòi bạc gì? Thôi bao nhiêu thì ngươi tính đi, tới ngày trừ bạc thuế, hay là muốn đến trình huyện mà lấy của công nho, hai lẽ ngươi muốn lẽ nào?
Chủ quán nghe ra mới biết là một vị vương hầu bên Tống, cừu địch với nước mình, nên tính đi báo quan mà lãnh bạc thưởng, liền nạt tửu bảo rồi làm bộ vui vẻ thưa:
- Khi nãy thằng bạn tôi con mắt mù quáng, không biết đại vương, nó thất lễ mười phần, tôi xin cam chịu lỗi.
Nói rồi liền cúi lạy, Trịnh Ấn mừng rỡ khi thấy chủ quán tôn kính mình. Còn chủ quán thì hối các tửu bảo đem trà thơm ra đãi, còn làm bộ giả lả đãi đằng chu đáo gấp đôi khi trước rồi nói:
- Tôi có mắt mà như mù, không biết đại vương, nay nhờ ơn bề trên cho tính tiền trừ thuế. Song vương gia nói miệng, sợ quan thâu thuế không tin, vì chẳng có dấu chi làm cớ, vậy xin đại vương phê cho ít chữ và đóng ấn vào, ngày sau có quan thâu thuế đến, tôi chiếu giấy mà trừ, thiệt ơn  đại vương sánh tựa non biển ?
Trịnh Ấn nghe nịnh êm tai thì khen rằng:
- Chủ quán thiệt là người có trí, ta khá khen cho đó !
Nói rồi biểu đem giấy mực ra.
Trịnh Ấn đề rằng:
“Phải chiếu theo giấy này trừ thuế cho thân tộc tiệm này mười năm" rồi ký tên đóng dấu kỹ lưỡng.
Chủ tiệm làm bộ mừng rỡ cúi lạy tạ ơn, rồi truyền cho tửu bảo đem rượu tốt và đồ ăn ngon no đủ mọi món, nào thịt rừng nào cá biển.
Trịnh Ấn thấy đãi những món mỹ vị thì ráng ăn uống thêm.
Chủ quán thì càng ân cần khuyên ép, rồi bước vào nhà trong sai bạn đi mách với quan Tổng binh, dặn rồi trở ra hầu rượu.
Tổng binh xứ nọ họ Tiêu tên chữ là Hóa Long, nghe gia tướng của chủ quán đến bẩm:
- Chủ tôi phục rượu cho một vị vương nước Tống, còn ngồi trong quán, coi bộ đã say, nên chủ tôi sai đến bẩm với ông, xin đem binh đến bắt.
Tiêu Hóa Long nghe báo mừng rỡ vô cùng, dẫn năm ngàn binh mã ra đi. Đến quán thì Trịnh Ấn đang uống rượu. Tiêu Hóa Long hét lớn:
 - Khen cho Tống tặc cả gan còn ngồi uống rượu !
Trịnh Ấn nghe rõ mới hay mình còn ở trong địa phận đất Kiên Lăng, bị chủ quán làm mưu sai người đi báo cáo. Muốn cầm roi lên ngựa, mà cự với tướng Đường, ngặt say quá nên tay chân rã rượi, Trịnh Ấn túng thế thót lên ngựa mà chạy. Binh Nam Đường vây phủ quá đông. Trịnh Ấn ngồi không vững vàng liền nhào xuống ngựa, quân Nam Đường áp lại bắt trói Trịnh Ấn.
Tiêu Hóa Long mừng rỡ mười phần, liền thường quán nhân năm trăm lạng bạc. Chủ quán mừng rỡ tạ ơn. Tiêu Hóa Long truyền quân dẫn Tống tặc về ải.
Về đến ải, Tiêu Hóa Long truyền đem giam Tống tặc được ít ngày đêm giải mà lập công. Bởi qua bữa sau là trung thu trăng tỏ, bạn đồng liêu thăm viếng chơi bời, tại nhà quan nên việc ăn chơi trọng thể lắm!
Ngày ấy có người đồng liêu thiết nghĩa với Tiêu Hóa Long là Úc Thoại làm chức trấn quốc tướng công, có người con gái là Úc Sanh Hương, tài cao phép lạ. Hai cha con họ Úc đi giải một tên tội phạm, thuận đường ghé viếng Tiêu Hóa Long, tên phạm ấy cũng là tướng bên Tống.
Tiêu Hóa Long tiếp đãi Úc Thoại và hỏi thăm vì cớ nào mà bắt được Tống tướng. Úc Thoại nói:
- Tống tướng họ Cao tên Quân Bội, đêm hôm qua đơn thương độc mã đến bắn tên lửa vào thành quyết đốt kho lương, may trời khiến tôi hay đặng đem binh ra vây nó. Không dè nó tướng nhỏ mà sức mạnh như thần, đánh nhằm cánh tay tôi bị thương. Khi quân báo lại con gái tôi là Sanh Hương ra đánh bắt nó đem về. Tôi tính giải nó đến vua, trước là lập công sau là báo thù roi sắt, e Tống tướng đón đường cướp giựt, bởi khi trước khi có chiếu truyền rút binh các ải về thủ thành vua, nên binh tôi mười phần nay còn có một. Nay mới giải Tống tướng, có năm trăm binh mà thôi, nên ghé lại Tổng binh mượn thêm nhân mã ba ngàn đặng đi giải, chẳng hay Tổng binh có đành chăng?
Tiêu Hóa Long nghe nói:
- Không dè anh cũng như em, đồng bắt được tướng Tống.
Nói rồi thuật chuyện bắt Trịnh Ấn.
 Úc Thoại nghe qua mừng vội. Tiêu Hóa Long nói:
- Tôi cũng định giải nó đi, may gặp anh đi giải cùng đường, song đêm nay là đêm Trung thu, mời anh ở lại vui chơi, rồi ngày mai anh em ta cùng đi giải, cũng không trễ nải chi? Úc Thoại là con sâu rượu, nghe bạn mời ăn tiệc liền bằng lòng.
Nói về Tiêu Dẫn Phụng là con gái Tiêu Hóa Long, lại là em bạn với Úc Sanh Hương tình chi lan như keo sơn gắn chặt.
Tiêu Dẫn Phụng cũng là con một như Úc Sanh Hương, nghe tin chị em đến thì mừng rỡ, lại nghe cha mời ở lại ăn tết Trung thu, Tiêu Dẫn Phụng lại mừng nhiều hơn nữa.
Đêm ấy chị em lên lầu, xem trăng uống rượu, nói chuyện đến khuya, lúc đó mọi người đều ngủ hết, chỉ còn hai chị em còn thưởng nguyệt. Xảy nghe có tiếng than thở, hai chị em đều lén đi rình nghe thì thấy hai người nói chuyện với nhau trong tù xa như vầy:
- Đại trượng phu chết giữa chiến trường thì rạng danh như nhật nguyệt, ngặt vì thương nỗi mẹ già cui cút, ngày sau trăm tuổi già không ai thọ chế cư tang.
Kế nghe người khác nói:
 - Phàm con người ở đời hễ đặng thảo mất ngay, đặng ngay mất thảo, mấy ai mà đặng trung hiếu lưỡng toàn! Chúng ta không phải thường tình nhi nữ?   
Người kia đáp lại:
- Anh Trịnh, anh nói cũng phải, song ta nghĩ lại giận Miêu Quân sư, không chịu sai tướng khác, quyết ép tôi vào chốn hang cọp miệng hùm, chắc là không còn tính mạng. Quân sư có đưa cho tôi một phong thư, dặn đêm trung thu gặp anh sẽ giở ra xem dầu bị tai nạn cũng khỏi. Song bị buộc tay chân thì làm sao mà lấy được thơ trong túi mà xem thì chắc tai qua nạn khỏi.
Hai tướng nói chuyện thì hai chị em nghe rõ ràng, hai nàng bèn trở lại Bá Hoa Đình xem hoa thưởng nguyệt.
Tiêu Dẫn Phụng nói với Úc Sanh Hương:
- Chị ôi? Lúc em ở núi về, Thánh Mẫu có dặn, sau hai chị em sẽ kết duyên cùng trai Tống. Nay nghe hai tướng Tống nói chuyện: Miêu Quân sư có đưa bức thư chi, dặn coi thì khỏi nạn, chi bằng ta sai con đòi thừa dịp này mà móc túi, lấy thư coi thử nói những chuyện gì. Chị xét lại thử coi có đáng hay là không đáng?
Úc Sanh Hương khen phải, Tiêu Dẫn Phụng sai con đầy tớ tâm phúc đến lục túi lấy thơ. Trịnh Ấn không cho, làm bộ quỉ thần nạt nộ.
 Cao Quân Bội nói:
 - Mình có thơ mà coi không được, cũng nên để cho người ta coi, hoặc tai qua nạn khỏi, nên đừng trở ngại!
Trịnh Ấn giận làm thinh không thèm nói lại. Con đòi lục túi Cao Quân Bội, lấy được phong thơ mừng rỡ lật đật đem về cho chủ.
Tiêu Dẫn Phụng thấy phong thơ điểm kỹ càng, khai ra thấy tám câu thơ như sau:
Nhân duyên ngàn dặm Tống hòa Đường,
Căn dặn gia nhân phải chủ trương.
Đẹp phận Trịnh vương cùng Dẫn Phụng,
Phỉ nguyền Quân Bội với Sanh Hương,
Tù xa khỏi nạn hương thêm đượm.
Vừng nguyệt làm mai lửa cháy hường,
Mới biết duyên trời đà định trước,
Phần ai nấy gặp bởi tơ vương. 

Hai chị em xem thơ nghĩ giật mình. Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bài thơ này nói rõ tên họ đôi lứa của chúng ta, như lời Thánh Mẫu đã dạy. Nay đã gặp gỡ lẽ nào dám trái lòng trời mà nỡ cãi lời thầy cho được! Chị tính thế nào bây giờ?
Úc Sanh Hương nói:
- Phải thuận sẽ trời, nghe lời thầy chớ, duyên lành dễ kiếm hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Đã biết vậy mà bây giờ vâng lời thầy lại mang tiếng là bỏ cha phản chúa, tội bất trung bất hiếu, sao mặt nào dám ngó cha già ?
Úc Sanh Hương nói:
- Người phải có kinh có quyền, không phải giữ hoài một mực, nay coi Tống hưng thạnh. Nay chị em ta vâng lời thầy lén cha mà kết tóc cùng tướng Tống, cứ theo lẽ thì ta bất hiếu bất trung, song ngày sau mình phò Tống cứu cha, cũng đã đem công mà trừ lội, lại đặng hưởng vinh hoa phú quý, không uổng công ăn học thuở nay cho nên nay là bất hiếu sau đặng trọn thảo trọn ngay. Nếu phò Nam Đường mà chết cả dòng, mới gọi là hiếu hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói khen:
- Lời luận tùng quyền của chị hay lắm!
Hai chị em bàn luận rồi cấm a hoàn chớ nên tiết lậu. Truyền đóng cửa vườn lại hối con đòi tâm phúc ra tháo tù xa; thuật các việc cho hai tướng ấy nghe, rồi mở đây rước vào thương nghị, a  hoàn vâng lệnh, y theo lời dạy mà làm, mở tù xa và mở trói cho  hai tướng rồi mời đi theo mình đến ra mắt nhị tiểu thơ.
Hai nàng thấy mặt tướng Tống thì hổ thẹn, song gượng nói:
 - Xin nhị vị công từ hãy xem thơ của Quân sư rồi sẽ tính lẽ nào cho chị em tôi biết với!
Nói rồi sai con đòi đưa thơ cho nhị vị công tử.
Cao Quân Bội liền xem thơ. Còn Trịnh Ấn chưa kịp coi nên làm dữ, mắng người sao vô lễ xem thơ của mình. Cao Quân Bội lắc đầu rồi trao thơ cho Trịnh Ấn. Trịnh Ấn xem rồi khen thầm Quân sư tuyên thánh, nhân duyên trước mặt, họ tên ngày tháng rành rành.
Lúc ấy, hai nàng cúi mặt xuống và nói:
 - Tuy bài thơ ấy của Quân sư, nhị vị công tử đọc xong rất hiệp với lời dặn của thầy tôi là Kim Hoa Thánh Mẫu nên không cãi lẽ trời cho đặng, vậy chẳng hay hai vị công tử chước lượng làm sao?
Cao Quân Bội thấy hai nàng hữu tình, cứu mình trong cơn hoạn nạn, nếu nghịch mà không chịu, chắc là bị giải đến vua Nam Đường, thì tánh mạng mười phần còn một, mình chết không tiếc, riêng thương nỗi mẹ không kẻ phụng thờ. Huống chi Quân sư đề tên họ rõ ràng, không phải tội nơi mình làm mà sợ? Nghĩ rồi nói hơn thiệt cho Trịnh Ấn nghe, anh em cùng bằng lòng như một.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bây giờ đã thuận cả, mới nhất định đôi lứa làm sao?
Úc Sanh Hương sợ Tiêu Dẫn Phụng dành người trắng trẻo của mình, liền đáp:
- Lời xưa có nói: "Vợ chồng là căn nợ" và sách có câu: “Vô ân trái bất thành phu phụ, hễ tướng nào của ai bắt đặng là duyên nấy, còn nghị luận làm chi!
Ban đầu Tiêu Dẫn Phụng chê Trịnh Ấn mặt mày như quỷ, sao bằng Cao Quân Bội tốt trai, nay nghe Úc Sanh Hương cắt nghĩa cũng phải, vả lại trong thơ có đề vợ nào chồng nấy, nếu đổi chọn đặng sao? Tuy Trịnh Ấn xấu tướng mặc lòng, mà quyền cao chức lớn, vợ cũng là một vị vương phi, bù đi chế lại cũng vừa, nên thuận theo thơ ấy.
Bốn người cứ theo thơ mà làm chồng vợ, đồng thề thốt và giao của tin. Rồi hai nàng than:
- Đêm nay thề thốt giao ước như vậy mà không biết nhị công tử ngày sau giữ lời quân tử hay không?
Cao Quân Bội và Trịnh Ấn đồng nói:
- Đại trượng phu chẳng hề thất tín, hẹn việc nhỏ cũng không sai, huống chi việc vợ chồng là việc trăm năm, lại cũng đứng vào hàng tam cang nữa, lẽ nào xuất hồ nhĩ phản hồ nhĩ sao? Xin tiểu thơ chớ nghi ngại!
Hai nàng nghe nói đều tin bằng lời, liền truyền cho a hoàn dọn rượu cơm thết đãi. Hai người ăn uống xong. Trịnh Ấn nói:
- Hai nàng gá nghĩa với hai ta, thì phải bỏ Đường đầu Tống, đặng ta về tâu lại với chúa và thưa với cha mẹ. Ngặt lịnh tôn công đã nhất định giải hai ta tới vua Đường, vậy biết tính làm sao cho đặng?
Hai nàng ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:
- Ngày mai chúng ta làm như vầy, như vầy. . . thì lo chi công tử thoát thân không đặng?
Cao công tử nghe kế mừng rỡ, rồi cùng nhau uống rượu tới canh tư. Lúc ấy hai nàng nói với hai công tử, xin chịu phiền vế chốn tù xa và cũng phải chịu trói kẻo lộ. Hai người y như lời dặn còn chị em vào phòng nghỉ ngơi.
Nói về Tiêu Hoá Long với Úc Thoại mắc say mèm ngủ ngáy pho pho, nên chuyện của nhị tiểu thơ không ai hay biết, ấy cũng là trời đất khiến xui, nên mới gặp cơ hội may như vầy.
Sáng sớm ai nấy đều thức dậy, có một mình Úc Thoại còn ngủ mê man vì bị Cao Quân Bội đánh một roi, đau nhức chỗ vết rên siết nằm hoài. Úc Sanh Hương vào thăm cha mà Úc Thoại dậy không nổi. Tiêu Hóa Long cũng lại xem trong mình nguyên tại chứng chi? Úc Thoại nằm mà đáp:
- Tôi sẵn bị thương, nay lại uống rượu nhiều nên phát bệnh, giờ phải uống thuốc một bữa thì mạnh, nhắm chẳng hề chi, ngặt một điều, đi giải Tống tướng không đặng. . .
Tiêu Dẫn Phụng thừa dịp thưa:  
- Xin bác đừng lo việc ấy, chị em tôi sức chẳng thua ai, xin lãnh phần giải tội cho, còn bác ở đây mà dưỡng bệnh, cha tôi ở nhà mà lo thuốc rước thầy, chắc chị em tôi đi lo kham mọi việc.
Tiêu Hoá Long cũng khen phải và nói:
Anh hãy ở đây dưỡng bệnh chừng thuốc thang lành bệnh sẽ về.
  Úc Thoại bằng lòng và dặn:
 - Đi giải giặc chứ không phải tù thường phải cẩn thận cho lắm!
Úc Sanh Hương thưa:
- Xin cha an lòng dưỡng bệnh, việc này con biết đề phòng không sao.
Tiểu Dẫn Phụng thưa:
- Con gái lộn với con trai lấy làm khó lắm, tôi có hai trăm nữ binh, tập luyện nhuần nhã. Chị Sanh Hương cũng có hai trăm nữ binh, võ nghệ tinh thông, sức một đứa cự nổi một trăm, ôi giải bấy nhiêu cũng đủ. Bởi vì mình ở trong địa phận đất mình nhắm không đến nỗi nào.
Tiêu Hoá Long và Úc Thoại đều bằng lòng.
Hai nàng mừng rỡ đồng thay quần áo con trai, đội kim khôi, mang thiếp giáp, kéo nữ binh đi giải Tống tướng.
Đi một hồi ra khỏi ải, cả bọn nhắm Thọ Châu thẳng tới. Khi đã đỏ đèn đã ghé vào quán, xảy thấy sau lưng có một đội nhơn mã rượt theo, hai nàng kinh hãi:
- Có khi đã lộ việc rồi nên có binh gia theo bắt!
A Hoàn trở lại thám thính, giây phút về báo:
- Xin tiểu thơ đừng lo sợ, ấy là đạo binh của Ngại Ngân Bình.
Cao Quân Bội nghe báo hỏi thăm:
- Nữ tướng ấy là người ở đâu vậy?
Úc Sanh Hương nói:
- Nàng ấy là con gái Ngại Vạn Thanh, cũng là người bổn quốc, là học trò Kim Quan Thánh Mẫu, nàng ấy tên Ngại Ngân Bình, tuy vẫn khác họ tình quá ruột rà, nay không biết đi chuyện chi mà cũng kéo binh vào quán. Xin hai vị công tử ẩn mặt đằng sau, đặng tôi mời nàng ấy đến đây hỏi thăm cho biết.
Hai anh em nghe nói, liền ẩn mặt phía sau. Úc Sanh Hương sai a hoàn mời Ngại tiểu thơ, Ngại Ngân Bình nghe mời liền đi qua. Hai nàng chào mừng đàm đạo tỏ nỗi hàn huyên song giấu một điều là đầu Tống, cứ nói đi giải tội mà thôi còn Ngại Ngân Bình cũng nói đi giải Phùng  Mậu. Nói chuyện giây lâu, Ngại Ngân Bình liền kiếu về phòng cơm nước.
Còn Cao Quân Bội và Trịnh Ấn lóng tai nghe rõ mọi điều, liền năn nỉ với hai nàng, cậy nói với Ngại Ngân Bình xin tha phùng Mậu, vì người ấy là anh em với mình, sau thấy hai công tử cầu khẩn hết lòng, vị tình phải chịu, song không dám kể chắc, chừng nào nói đặng sẽ hay.
Hai người ra sau ẩn mặt, Tiêu Dẫn Phụng sai thế nữ mời Ngại tiểu thơ trở qua nói chuyện.
 Ngại Ngân Bình vừa mới ăn cơm tối, thấy a hoàn qua nói tiểu thơ mời thì Ngại Ngân Bình qua và hỏi:
 - Chẳng hay chị mời tôi qua đây có chuyện chi?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Lâu nay gặp hiền muội, không ngờ tình cờ hội ngộ giữa đàng, nên mời qua nói chuyện cho phỉ tình, kẻo chị Sanh Hương cũng ao ước, chớ thiệt tình không có chuyện chi.
Ngại Ngân Bình đáp:
- Tôi đội ơn hai chị có tình thương tưởng.
Rồi cùng nhau ngồi nói chuyện, uống rượu tới canh ba.
Tiêu Dẫn Phụng bưng chén rượu đầy, hai tay đưa cho Ngại Ngân Bình và nói:
Hiền muội hãy uống rượu mừng này cho cạn.
Ngại Ngân Bình cười chúm chím rồi hỏi:
- Tôi có chuyện chi mà mừng?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Hiền muội bắt đặng Tống tướng, ngày mai dẫn đến trào Đường mà lãnh công thì chắc là lệnh tôn công và hiền muội đặng trọng thưởng, cho nên tôi phải dâng chén rượu mừng.
Ngại Ngân Bình nói:
- Tôi nghe nói hai chị cũng bắt được hai Tống tướng, cũng đi giải như nhau, vậy thì ba chị em đều có một công hết mà mừng một mình tôi sao phải?
Nói rồi cùng rót rượu dâng lại, cùng nhau chén tạc chén thù và đàm đạo cho tới canh tư.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
 - Mai ba chị em ta đi một lượt với nhau cho có bạn.
Ngại Ngân Bình sợ lậu tiếng, liền đáp lại:
- Tôi còn đợi cha tôi đi cùng, hai chị đi trước, nếu đợi tôi thì trễ ngày giờ, lúc về thì tôi sẽ ghé thăm hai chị.
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói nghĩ thầm:
 - Ngại Ngân Bình bắt được tướng Tống, sao còn do dự đợi cha làm cho chắc là có ý gì đây.
Nghĩ rồi hỏi thử.
- Tôi muốn bày tỏ đôi lời, chỉ sợ hiền muội tiết lộ thì khó lòng.
Ngại Ngân bình nói:
 - Ba chị em mình, đồng lòng kết nghĩa, lẽ nào dám tiết lộ những chuyện riêng, dù quan trọng đến đâu chị cứ nói chẳng hề gì.
Tiêu Dẫn Phụng lấn cấn mãi không chịu nói. Ngại Ngân Bình hỏi:
- Chị nghi bụng tôi như vậy mà bấy lâu nay tôi lại tin lòng chị. Như vậy uổng biết chừng nào?
Úc Sanh Hương khuyên giải:
- Ngại hiền muội là người trung tín, chẳng phải như kẻ khác mà hồ nghi.
Tiêu Dẫn Phụng sai con đòi thân tín ra ngoài xem có ai nghe lén không, rồi mới dám nói:
- Tôi mời hiền muội qua đây, mục đích là bày tỏ việc này: Tôi nghe đồn Phùng Mậu là học trò giỏi của Huỳnh Thạch Công, phò Tống được phong vương, nay lại về tay hiền muội, ấy là trời định lương duyên, sao hiền muội chẳng giao kết làm vợ chồng, lại đi nạp làm chi vậy. Nhà Tống đang thịnh trị, còn Nam Đường thì khí số mỏng manh, mình lánh nạn cứu cha là tốt, biết cơ trời thì mới hiển vinh, chỉ sợ hiền muội được ngọc mà bỏ đi, đến sau ăn năn không kịp. Hiền muội hãy suy đi nghĩ lại cho kỹ.
 Ngại Ngân Bình nghe nói trúng ý, nên thẹn đỏ mặt, ngồi ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
- Chị khuyên em cũng phải.Vậy hai chị bắt được hai tướng Tống sao lại không kết duyên?
Tiêu Dẫn Phụng không biết nói sao, ngồi cười chúm chím bị Ngại Ngân Bình hỏi thét, túng quá phải nói:
- Ba chị em ta như thể ruột rà, lẽ nào dám giấu. Hai chị em tôi cũng tính việc đó mà tìm mưu đặng theo về Tống.
Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng nói thì biết ý, đáp:
- Tôi cũng có ý đó, song không dám cãi lệnh mẹ cha.
Úc Sanh Hương nói:
- Gặp biến phải tùng quyền, hễ là quân bất minh, thần đầu tha quốc.
Ngại Ngân Bình nói:
- Hai chị thật là người thấy xa hiểu rộng.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Thật tình hai chị em tôi đã biển hẹn non thề, thuận lòng trút bỏ chỗ tối theo về chỗ sáng, cùng nhau đầu Tống lập công, sau vinh hiển một nhà.
 Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng tỏ hết tâm tình, liền đáp:
- Cảm ơn hai chị, phần em cũng đã thề nguyền hôm trước rồi.
Mọi điều tâm sự đã được bày tỏ, song Ngại Ngân Bình chỉ giấu có một điều là Phùng Mậu đã làm hỗn mà thôi. Úc Sanh Hương vỗ tay cười nói:
- Ý chúng ta đã một lòng, hễ là người trí thì sớm gặp nhau.
 Nói rồi hai nàng lật đật vào thuật chuyện lại cho hai tướng hay:
- Hai chị em tôi nói với Ngại Ngân Bình và mọi việc đã xếp đặt xong, vậy xin hai chàng cùng ra ngoài đặng thỉnh Phùng Mậu qua cho gặp mặt.
Hai anh em nghe nói công việc đã tính xong, cùng nhau mừng rỡ bước ra. Tiêu Dẫn Phụng nhờ Ngại Ngân Bình về mời Phùng Mậu đến để gặp mặt nhau, kẻo hai chàng còn nghi ngại. ngại Ngân Bình về thuật chuyện với Phùng Mậu rồi cùng Phùng Mậu đến gặp mặt.
Ba anh em gặp nhau mừng rỡ, thuật chuyện cho nhau nghe:
- Chẳng qua việc này là thiên số, lời Quân sư đã đoán trước chẳng sai.
Sau đó ba anh em mở tiệc chuyện trò, còn ba chị em cũng đàm đạo với nhau suốt đêm không ngủ. 
***
Lời Bàn
Trong mọi sinh vật, cái gì bị tiêu diệt thì cũng có mầm sống vươn lên.
Chiến trận xảy ra liên miên, người chết ngã gục không kể hết, đó là một thảm họa. Nhưng trong mầm họa ấy sẽ nảy ra những chồi xanh, những cặp hôn nhân cũng luôn luôn được nảy nở như các chàng trai nước Tống, lại kết duyên với các cô gái nước Đường. Như vậy, trong hủy diệt có phát sinh. Đó là lẽ tuần hoàn của tạo hóa cấu tạo quy luật sanh diệt trong con người. Ở đây tác giả đã đưa quan niệm ấy để diễn tả luật sanh tồn của vũ trụ một cách tự nhiên, theo quan niệm triết học Đông phương, phải giới thiệu cho người đời thấy luôn luôn trong cái buồn có cái vui, trong nước mắt có nụ cười, trong hủy diệt có sự sống.
Cuộc sống con người sở dĩ tồn tại là do luật sanh tồn của thiên nhiên, mà quy luật ấy vẫn là muôn thuở.

 
0
Hồi Thứ Mười Chín
 

Bởi Lơ Đễnh, Trịnh, Cao Bị Bắt  
Biết máy thơ, Tiêu, Úc tùng quyền.


Nói về Trịnh Ấn tính xàm trong lòng, nên mang túi rỗng vào tiệm kêu tửu bảo biểu đem rượu ngọt và đồ ngon. Tửu bảo coi bộ quan khách tác lớn lại cao, biết sức ăn uống như rồng như cọp, liền đem ra ít bầu rượu và dọn đủ đồ ngon. Trịnh Ấn ăn uống trội hơn ngày thường, vì nhịn đói đã một ngày rưỡi, ăn uống một hồi lại kêu thêm rượu, hối đồ ăn. Tửu bảo thấy khách y phục đoan trang, ngỡ tiền lưng nhiều lắm, nên lựa toàn món ngon vật lạ, lại trông cho khách ăn ráng cho nhiều. Tuy nghe tiếng Trịnh Ấn nói khác tiếng mình, song thấy mặc sắc phục nhà vua nên tửu bảo không dám tra hỏi.
Khi Trịnh Ấn ăn no say và trà nước xong thì sửa soạn xuống lầu không nói gì đến việc tiền bạc. Tửu bảo thấy vậy liền nghĩ:
- Bộ người này tính ăn lường, nên cố thực quá, ăn rồi mà không nói đến việc bạc tiền, lại coi bộ muốn lên lưng ngựa mà đi!
Nghĩ rồi, bèn đón lại đòi tiền.
Trịnh Ấn nói:
Nhữ Nam Vương có ăn uống bao nhiêu thì bổn địa phải chịu, ngươi còn đòi bạc gì? Thôi bao nhiêu thì ngươi tính đi, tới ngày trừ bạc thuế, hay là muốn đến trình huyện mà lấy của công nho, hai lẽ ngươi muốn lẽ nào?
Chủ quán nghe ra mới biết là một vị vương hầu bên Tống, cừu địch với nước mình, nên tính đi báo quan mà lãnh bạc thưởng, liền nạt tửu bảo rồi làm bộ vui vẻ thưa:
- Khi nãy thằng bạn tôi con mắt mù quáng, không biết đại vương, nó thất lễ mười phần, tôi xin cam chịu lỗi.
Nói rồi liền cúi lạy, Trịnh Ấn mừng rỡ khi thấy chủ quán tôn kính mình. Còn chủ quán thì hối các tửu bảo đem trà thơm ra đãi, còn làm bộ giả lả đãi đằng chu đáo gấp đôi khi trước rồi nói:
- Tôi có mắt mà như mù, không biết đại vương, nay nhờ ơn bề trên cho tính tiền trừ thuế. Song vương gia nói miệng, sợ quan thâu thuế không tin, vì chẳng có dấu chi làm cớ, vậy xin đại vương phê cho ít chữ và đóng ấn vào, ngày sau có quan thâu thuế đến, tôi chiếu giấy mà trừ, thiệt ơn  đại vương sánh tựa non biển ?
Trịnh Ấn nghe nịnh êm tai thì khen rằng:
- Chủ quán thiệt là người có trí, ta khá khen cho đó !
Nói rồi biểu đem giấy mực ra.
Trịnh Ấn đề rằng:
“Phải chiếu theo giấy này trừ thuế cho thân tộc tiệm này mười năm" rồi ký tên đóng dấu kỹ lưỡng.
Chủ tiệm làm bộ mừng rỡ cúi lạy tạ ơn, rồi truyền cho tửu bảo đem rượu tốt và đồ ăn ngon no đủ mọi món, nào thịt rừng nào cá biển.
Trịnh Ấn thấy đãi những món mỹ vị thì ráng ăn uống thêm.
Chủ quán thì càng ân cần khuyên ép, rồi bước vào nhà trong sai bạn đi mách với quan Tổng binh, dặn rồi trở ra hầu rượu.
Tổng binh xứ nọ họ Tiêu tên chữ là Hóa Long, nghe gia tướng của chủ quán đến bẩm:
- Chủ tôi phục rượu cho một vị vương nước Tống, còn ngồi trong quán, coi bộ đã say, nên chủ tôi sai đến bẩm với ông, xin đem binh đến bắt.
Tiêu Hóa Long nghe báo mừng rỡ vô cùng, dẫn năm ngàn binh mã ra đi. Đến quán thì Trịnh Ấn đang uống rượu. Tiêu Hóa Long hét lớn:
 - Khen cho Tống tặc cả gan còn ngồi uống rượu !
Trịnh Ấn nghe rõ mới hay mình còn ở trong địa phận đất Kiên Lăng, bị chủ quán làm mưu sai người đi báo cáo. Muốn cầm roi lên ngựa, mà cự với tướng Đường, ngặt say quá nên tay chân rã rượi, Trịnh Ấn túng thế thót lên ngựa mà chạy. Binh Nam Đường vây phủ quá đông. Trịnh Ấn ngồi không vững vàng liền nhào xuống ngựa, quân Nam Đường áp lại bắt trói Trịnh Ấn.
Tiêu Hóa Long mừng rỡ mười phần, liền thường quán nhân năm trăm lạng bạc. Chủ quán mừng rỡ tạ ơn. Tiêu Hóa Long truyền quân dẫn Tống tặc về ải.
Về đến ải, Tiêu Hóa Long truyền đem giam Tống tặc được ít ngày đêm giải mà lập công. Bởi qua bữa sau là trung thu trăng tỏ, bạn đồng liêu thăm viếng chơi bời, tại nhà quan nên việc ăn chơi trọng thể lắm!
Ngày ấy có người đồng liêu thiết nghĩa với Tiêu Hóa Long là Úc Thoại làm chức trấn quốc tướng công, có người con gái là Úc Sanh Hương, tài cao phép lạ. Hai cha con họ Úc đi giải một tên tội phạm, thuận đường ghé viếng Tiêu Hóa Long, tên phạm ấy cũng là tướng bên Tống.
Tiêu Hóa Long tiếp đãi Úc Thoại và hỏi thăm vì cớ nào mà bắt được Tống tướng. Úc Thoại nói:
- Tống tướng họ Cao tên Quân Bội, đêm hôm qua đơn thương độc mã đến bắn tên lửa vào thành quyết đốt kho lương, may trời khiến tôi hay đặng đem binh ra vây nó. Không dè nó tướng nhỏ mà sức mạnh như thần, đánh nhằm cánh tay tôi bị thương. Khi quân báo lại con gái tôi là Sanh Hương ra đánh bắt nó đem về. Tôi tính giải nó đến vua, trước là lập công sau là báo thù roi sắt, e Tống tướng đón đường cướp giựt, bởi khi trước khi có chiếu truyền rút binh các ải về thủ thành vua, nên binh tôi mười phần nay còn có một. Nay mới giải Tống tướng, có năm trăm binh mà thôi, nên ghé lại Tổng binh mượn thêm nhân mã ba ngàn đặng đi giải, chẳng hay Tổng binh có đành chăng?
Tiêu Hóa Long nghe nói:
- Không dè anh cũng như em, đồng bắt được tướng Tống.
Nói rồi thuật chuyện bắt Trịnh Ấn.
 Úc Thoại nghe qua mừng vội. Tiêu Hóa Long nói:
- Tôi cũng định giải nó đi, may gặp anh đi giải cùng đường, song đêm nay là đêm Trung thu, mời anh ở lại vui chơi, rồi ngày mai anh em ta cùng đi giải, cũng không trễ nải chi? Úc Thoại là con sâu rượu, nghe bạn mời ăn tiệc liền bằng lòng.
Nói về Tiêu Dẫn Phụng là con gái Tiêu Hóa Long, lại là em bạn với Úc Sanh Hương tình chi lan như keo sơn gắn chặt.
Tiêu Dẫn Phụng cũng là con một như Úc Sanh Hương, nghe tin chị em đến thì mừng rỡ, lại nghe cha mời ở lại ăn tết Trung thu, Tiêu Dẫn Phụng lại mừng nhiều hơn nữa.
Đêm ấy chị em lên lầu, xem trăng uống rượu, nói chuyện đến khuya, lúc đó mọi người đều ngủ hết, chỉ còn hai chị em còn thưởng nguyệt. Xảy nghe có tiếng than thở, hai chị em đều lén đi rình nghe thì thấy hai người nói chuyện với nhau trong tù xa như vầy:
- Đại trượng phu chết giữa chiến trường thì rạng danh như nhật nguyệt, ngặt vì thương nỗi mẹ già cui cút, ngày sau trăm tuổi già không ai thọ chế cư tang.
Kế nghe người khác nói:
 - Phàm con người ở đời hễ đặng thảo mất ngay, đặng ngay mất thảo, mấy ai mà đặng trung hiếu lưỡng toàn! Chúng ta không phải thường tình nhi nữ?   
Người kia đáp lại:
- Anh Trịnh, anh nói cũng phải, song ta nghĩ lại giận Miêu Quân sư, không chịu sai tướng khác, quyết ép tôi vào chốn hang cọp miệng hùm, chắc là không còn tính mạng. Quân sư có đưa cho tôi một phong thư, dặn đêm trung thu gặp anh sẽ giở ra xem dầu bị tai nạn cũng khỏi. Song bị buộc tay chân thì làm sao mà lấy được thơ trong túi mà xem thì chắc tai qua nạn khỏi.
Hai tướng nói chuyện thì hai chị em nghe rõ ràng, hai nàng bèn trở lại Bá Hoa Đình xem hoa thưởng nguyệt.
Tiêu Dẫn Phụng nói với Úc Sanh Hương:
- Chị ôi? Lúc em ở núi về, Thánh Mẫu có dặn, sau hai chị em sẽ kết duyên cùng trai Tống. Nay nghe hai tướng Tống nói chuyện: Miêu Quân sư có đưa bức thư chi, dặn coi thì khỏi nạn, chi bằng ta sai con đòi thừa dịp này mà móc túi, lấy thư coi thử nói những chuyện gì. Chị xét lại thử coi có đáng hay là không đáng?
Úc Sanh Hương khen phải, Tiêu Dẫn Phụng sai con đầy tớ tâm phúc đến lục túi lấy thơ. Trịnh Ấn không cho, làm bộ quỉ thần nạt nộ.
 Cao Quân Bội nói:
 - Mình có thơ mà coi không được, cũng nên để cho người ta coi, hoặc tai qua nạn khỏi, nên đừng trở ngại!
Trịnh Ấn giận làm thinh không thèm nói lại. Con đòi lục túi Cao Quân Bội, lấy được phong thơ mừng rỡ lật đật đem về cho chủ.
Tiêu Dẫn Phụng thấy phong thơ điểm kỹ càng, khai ra thấy tám câu thơ như sau:
Nhân duyên ngàn dặm Tống hòa Đường,
Căn dặn gia nhân phải chủ trương.
Đẹp phận Trịnh vương cùng Dẫn Phụng,
Phỉ nguyền Quân Bội với Sanh Hương,
Tù xa khỏi nạn hương thêm đượm.
Vừng nguyệt làm mai lửa cháy hường,
Mới biết duyên trời đà định trước,
Phần ai nấy gặp bởi tơ vương. 

Hai chị em xem thơ nghĩ giật mình. Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bài thơ này nói rõ tên họ đôi lứa của chúng ta, như lời Thánh Mẫu đã dạy. Nay đã gặp gỡ lẽ nào dám trái lòng trời mà nỡ cãi lời thầy cho được! Chị tính thế nào bây giờ?
Úc Sanh Hương nói:
- Phải thuận sẽ trời, nghe lời thầy chớ, duyên lành dễ kiếm hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Đã biết vậy mà bây giờ vâng lời thầy lại mang tiếng là bỏ cha phản chúa, tội bất trung bất hiếu, sao mặt nào dám ngó cha già ?
Úc Sanh Hương nói:
- Người phải có kinh có quyền, không phải giữ hoài một mực, nay coi Tống hưng thạnh. Nay chị em ta vâng lời thầy lén cha mà kết tóc cùng tướng Tống, cứ theo lẽ thì ta bất hiếu bất trung, song ngày sau mình phò Tống cứu cha, cũng đã đem công mà trừ lội, lại đặng hưởng vinh hoa phú quý, không uổng công ăn học thuở nay cho nên nay là bất hiếu sau đặng trọn thảo trọn ngay. Nếu phò Nam Đường mà chết cả dòng, mới gọi là hiếu hay sao?
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói khen:
- Lời luận tùng quyền của chị hay lắm!
Hai chị em bàn luận rồi cấm a hoàn chớ nên tiết lậu. Truyền đóng cửa vườn lại hối con đòi tâm phúc ra tháo tù xa; thuật các việc cho hai tướng ấy nghe, rồi mở đây rước vào thương nghị, a  hoàn vâng lệnh, y theo lời dạy mà làm, mở tù xa và mở trói cho  hai tướng rồi mời đi theo mình đến ra mắt nhị tiểu thơ.
Hai nàng thấy mặt tướng Tống thì hổ thẹn, song gượng nói:
 - Xin nhị vị công từ hãy xem thơ của Quân sư rồi sẽ tính lẽ nào cho chị em tôi biết với!
Nói rồi sai con đòi đưa thơ cho nhị vị công tử.
Cao Quân Bội liền xem thơ. Còn Trịnh Ấn chưa kịp coi nên làm dữ, mắng người sao vô lễ xem thơ của mình. Cao Quân Bội lắc đầu rồi trao thơ cho Trịnh Ấn. Trịnh Ấn xem rồi khen thầm Quân sư tuyên thánh, nhân duyên trước mặt, họ tên ngày tháng rành rành.
Lúc ấy, hai nàng cúi mặt xuống và nói:
 - Tuy bài thơ ấy của Quân sư, nhị vị công tử đọc xong rất hiệp với lời dặn của thầy tôi là Kim Hoa Thánh Mẫu nên không cãi lẽ trời cho đặng, vậy chẳng hay hai vị công tử chước lượng làm sao?
Cao Quân Bội thấy hai nàng hữu tình, cứu mình trong cơn hoạn nạn, nếu nghịch mà không chịu, chắc là bị giải đến vua Nam Đường, thì tánh mạng mười phần còn một, mình chết không tiếc, riêng thương nỗi mẹ không kẻ phụng thờ. Huống chi Quân sư đề tên họ rõ ràng, không phải tội nơi mình làm mà sợ? Nghĩ rồi nói hơn thiệt cho Trịnh Ấn nghe, anh em cùng bằng lòng như một.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Bây giờ đã thuận cả, mới nhất định đôi lứa làm sao?
Úc Sanh Hương sợ Tiêu Dẫn Phụng dành người trắng trẻo của mình, liền đáp:
- Lời xưa có nói: "Vợ chồng là căn nợ" và sách có câu: “Vô ân trái bất thành phu phụ, hễ tướng nào của ai bắt đặng là duyên nấy, còn nghị luận làm chi!
Ban đầu Tiêu Dẫn Phụng chê Trịnh Ấn mặt mày như quỷ, sao bằng Cao Quân Bội tốt trai, nay nghe Úc Sanh Hương cắt nghĩa cũng phải, vả lại trong thơ có đề vợ nào chồng nấy, nếu đổi chọn đặng sao? Tuy Trịnh Ấn xấu tướng mặc lòng, mà quyền cao chức lớn, vợ cũng là một vị vương phi, bù đi chế lại cũng vừa, nên thuận theo thơ ấy.
Bốn người cứ theo thơ mà làm chồng vợ, đồng thề thốt và giao của tin. Rồi hai nàng than:
- Đêm nay thề thốt giao ước như vậy mà không biết nhị công tử ngày sau giữ lời quân tử hay không?
Cao Quân Bội và Trịnh Ấn đồng nói:
- Đại trượng phu chẳng hề thất tín, hẹn việc nhỏ cũng không sai, huống chi việc vợ chồng là việc trăm năm, lại cũng đứng vào hàng tam cang nữa, lẽ nào xuất hồ nhĩ phản hồ nhĩ sao? Xin tiểu thơ chớ nghi ngại!
Hai nàng nghe nói đều tin bằng lời, liền truyền cho a hoàn dọn rượu cơm thết đãi. Hai người ăn uống xong. Trịnh Ấn nói:
- Hai nàng gá nghĩa với hai ta, thì phải bỏ Đường đầu Tống, đặng ta về tâu lại với chúa và thưa với cha mẹ. Ngặt lịnh tôn công đã nhất định giải hai ta tới vua Đường, vậy biết tính làm sao cho đặng?
Hai nàng ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi đáp:
- Ngày mai chúng ta làm như vầy, như vầy. . . thì lo chi công tử thoát thân không đặng?
Cao công tử nghe kế mừng rỡ, rồi cùng nhau uống rượu tới canh tư. Lúc ấy hai nàng nói với hai công tử, xin chịu phiền vế chốn tù xa và cũng phải chịu trói kẻo lộ. Hai người y như lời dặn còn chị em vào phòng nghỉ ngơi.
Nói về Tiêu Hoá Long với Úc Thoại mắc say mèm ngủ ngáy pho pho, nên chuyện của nhị tiểu thơ không ai hay biết, ấy cũng là trời đất khiến xui, nên mới gặp cơ hội may như vầy.
Sáng sớm ai nấy đều thức dậy, có một mình Úc Thoại còn ngủ mê man vì bị Cao Quân Bội đánh một roi, đau nhức chỗ vết rên siết nằm hoài. Úc Sanh Hương vào thăm cha mà Úc Thoại dậy không nổi. Tiêu Hóa Long cũng lại xem trong mình nguyên tại chứng chi? Úc Thoại nằm mà đáp:
- Tôi sẵn bị thương, nay lại uống rượu nhiều nên phát bệnh, giờ phải uống thuốc một bữa thì mạnh, nhắm chẳng hề chi, ngặt một điều, đi giải Tống tướng không đặng. . .
Tiêu Dẫn Phụng thừa dịp thưa:  
- Xin bác đừng lo việc ấy, chị em tôi sức chẳng thua ai, xin lãnh phần giải tội cho, còn bác ở đây mà dưỡng bệnh, cha tôi ở nhà mà lo thuốc rước thầy, chắc chị em tôi đi lo kham mọi việc.
Tiêu Hoá Long cũng khen phải và nói:
Anh hãy ở đây dưỡng bệnh chừng thuốc thang lành bệnh sẽ về.
  Úc Thoại bằng lòng và dặn:
 - Đi giải giặc chứ không phải tù thường phải cẩn thận cho lắm!
Úc Sanh Hương thưa:
- Xin cha an lòng dưỡng bệnh, việc này con biết đề phòng không sao.
Tiểu Dẫn Phụng thưa:
- Con gái lộn với con trai lấy làm khó lắm, tôi có hai trăm nữ binh, tập luyện nhuần nhã. Chị Sanh Hương cũng có hai trăm nữ binh, võ nghệ tinh thông, sức một đứa cự nổi một trăm, ôi giải bấy nhiêu cũng đủ. Bởi vì mình ở trong địa phận đất mình nhắm không đến nỗi nào.
Tiêu Hoá Long và Úc Thoại đều bằng lòng.
Hai nàng mừng rỡ đồng thay quần áo con trai, đội kim khôi, mang thiếp giáp, kéo nữ binh đi giải Tống tướng.
Đi một hồi ra khỏi ải, cả bọn nhắm Thọ Châu thẳng tới. Khi đã đỏ đèn đã ghé vào quán, xảy thấy sau lưng có một đội nhơn mã rượt theo, hai nàng kinh hãi:
- Có khi đã lộ việc rồi nên có binh gia theo bắt!
A Hoàn trở lại thám thính, giây phút về báo:
- Xin tiểu thơ đừng lo sợ, ấy là đạo binh của Ngại Ngân Bình.
Cao Quân Bội nghe báo hỏi thăm:
- Nữ tướng ấy là người ở đâu vậy?
Úc Sanh Hương nói:
- Nàng ấy là con gái Ngại Vạn Thanh, cũng là người bổn quốc, là học trò Kim Quan Thánh Mẫu, nàng ấy tên Ngại Ngân Bình, tuy vẫn khác họ tình quá ruột rà, nay không biết đi chuyện chi mà cũng kéo binh vào quán. Xin hai vị công tử ẩn mặt đằng sau, đặng tôi mời nàng ấy đến đây hỏi thăm cho biết.
Hai anh em nghe nói, liền ẩn mặt phía sau. Úc Sanh Hương sai a hoàn mời Ngại tiểu thơ, Ngại Ngân Bình nghe mời liền đi qua. Hai nàng chào mừng đàm đạo tỏ nỗi hàn huyên song giấu một điều là đầu Tống, cứ nói đi giải tội mà thôi còn Ngại Ngân Bình cũng nói đi giải Phùng  Mậu. Nói chuyện giây lâu, Ngại Ngân Bình liền kiếu về phòng cơm nước.
Còn Cao Quân Bội và Trịnh Ấn lóng tai nghe rõ mọi điều, liền năn nỉ với hai nàng, cậy nói với Ngại Ngân Bình xin tha phùng Mậu, vì người ấy là anh em với mình, sau thấy hai công tử cầu khẩn hết lòng, vị tình phải chịu, song không dám kể chắc, chừng nào nói đặng sẽ hay.
Hai người ra sau ẩn mặt, Tiêu Dẫn Phụng sai thế nữ mời Ngại tiểu thơ trở qua nói chuyện.
 Ngại Ngân Bình vừa mới ăn cơm tối, thấy a hoàn qua nói tiểu thơ mời thì Ngại Ngân Bình qua và hỏi:
 - Chẳng hay chị mời tôi qua đây có chuyện chi?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Lâu nay gặp hiền muội, không ngờ tình cờ hội ngộ giữa đàng, nên mời qua nói chuyện cho phỉ tình, kẻo chị Sanh Hương cũng ao ước, chớ thiệt tình không có chuyện chi.
Ngại Ngân Bình đáp:
- Tôi đội ơn hai chị có tình thương tưởng.
Rồi cùng nhau ngồi nói chuyện, uống rượu tới canh ba.
Tiêu Dẫn Phụng bưng chén rượu đầy, hai tay đưa cho Ngại Ngân Bình và nói:
Hiền muội hãy uống rượu mừng này cho cạn.
Ngại Ngân Bình cười chúm chím rồi hỏi:
- Tôi có chuyện chi mà mừng?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Hiền muội bắt đặng Tống tướng, ngày mai dẫn đến trào Đường mà lãnh công thì chắc là lệnh tôn công và hiền muội đặng trọng thưởng, cho nên tôi phải dâng chén rượu mừng.
Ngại Ngân Bình nói:
- Tôi nghe nói hai chị cũng bắt được hai Tống tướng, cũng đi giải như nhau, vậy thì ba chị em đều có một công hết mà mừng một mình tôi sao phải?
Nói rồi cùng rót rượu dâng lại, cùng nhau chén tạc chén thù và đàm đạo cho tới canh tư.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
 - Mai ba chị em ta đi một lượt với nhau cho có bạn.
Ngại Ngân Bình sợ lậu tiếng, liền đáp lại:
- Tôi còn đợi cha tôi đi cùng, hai chị đi trước, nếu đợi tôi thì trễ ngày giờ, lúc về thì tôi sẽ ghé thăm hai chị.
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói nghĩ thầm:
 - Ngại Ngân Bình bắt được tướng Tống, sao còn do dự đợi cha làm cho chắc là có ý gì đây.
Nghĩ rồi hỏi thử.
- Tôi muốn bày tỏ đôi lời, chỉ sợ hiền muội tiết lộ thì khó lòng.
Ngại Ngân bình nói:
 - Ba chị em mình, đồng lòng kết nghĩa, lẽ nào dám tiết lộ những chuyện riêng, dù quan trọng đến đâu chị cứ nói chẳng hề gì.
Tiêu Dẫn Phụng lấn cấn mãi không chịu nói. Ngại Ngân Bình hỏi:
- Chị nghi bụng tôi như vậy mà bấy lâu nay tôi lại tin lòng chị. Như vậy uổng biết chừng nào?
Úc Sanh Hương khuyên giải:
- Ngại hiền muội là người trung tín, chẳng phải như kẻ khác mà hồ nghi.
Tiêu Dẫn Phụng sai con đòi thân tín ra ngoài xem có ai nghe lén không, rồi mới dám nói:
- Tôi mời hiền muội qua đây, mục đích là bày tỏ việc này: Tôi nghe đồn Phùng Mậu là học trò giỏi của Huỳnh Thạch Công, phò Tống được phong vương, nay lại về tay hiền muội, ấy là trời định lương duyên, sao hiền muội chẳng giao kết làm vợ chồng, lại đi nạp làm chi vậy. Nhà Tống đang thịnh trị, còn Nam Đường thì khí số mỏng manh, mình lánh nạn cứu cha là tốt, biết cơ trời thì mới hiển vinh, chỉ sợ hiền muội được ngọc mà bỏ đi, đến sau ăn năn không kịp. Hiền muội hãy suy đi nghĩ lại cho kỹ.
 Ngại Ngân Bình nghe nói trúng ý, nên thẹn đỏ mặt, ngồi ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
- Chị khuyên em cũng phải.Vậy hai chị bắt được hai tướng Tống sao lại không kết duyên?
Tiêu Dẫn Phụng không biết nói sao, ngồi cười chúm chím bị Ngại Ngân Bình hỏi thét, túng quá phải nói:
- Ba chị em ta như thể ruột rà, lẽ nào dám giấu. Hai chị em tôi cũng tính việc đó mà tìm mưu đặng theo về Tống.
Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng nói thì biết ý, đáp:
- Tôi cũng có ý đó, song không dám cãi lệnh mẹ cha.
Úc Sanh Hương nói:
- Gặp biến phải tùng quyền, hễ là quân bất minh, thần đầu tha quốc.
Ngại Ngân Bình nói:
- Hai chị thật là người thấy xa hiểu rộng.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Thật tình hai chị em tôi đã biển hẹn non thề, thuận lòng trút bỏ chỗ tối theo về chỗ sáng, cùng nhau đầu Tống lập công, sau vinh hiển một nhà.
 Ngại Ngân Bình nghe Tiêu Dẫn Phụng tỏ hết tâm tình, liền đáp:
- Cảm ơn hai chị, phần em cũng đã thề nguyền hôm trước rồi.
Mọi điều tâm sự đã được bày tỏ, song Ngại Ngân Bình chỉ giấu có một điều là Phùng Mậu đã làm hỗn mà thôi. Úc Sanh Hương vỗ tay cười nói:
- Ý chúng ta đã một lòng, hễ là người trí thì sớm gặp nhau.
 Nói rồi hai nàng lật đật vào thuật chuyện lại cho hai tướng hay:
- Hai chị em tôi nói với Ngại Ngân Bình và mọi việc đã xếp đặt xong, vậy xin hai chàng cùng ra ngoài đặng thỉnh Phùng Mậu qua cho gặp mặt.
Hai anh em nghe nói công việc đã tính xong, cùng nhau mừng rỡ bước ra. Tiêu Dẫn Phụng nhờ Ngại Ngân Bình về mời Phùng Mậu đến để gặp mặt nhau, kẻo hai chàng còn nghi ngại. ngại Ngân Bình về thuật chuyện với Phùng Mậu rồi cùng Phùng Mậu đến gặp mặt.
Ba anh em gặp nhau mừng rỡ, thuật chuyện cho nhau nghe:
- Chẳng qua việc này là thiên số, lời Quân sư đã đoán trước chẳng sai.
Sau đó ba anh em mở tiệc chuyện trò, còn ba chị em cũng đàm đạo với nhau suốt đêm không ngủ. 
***
Lời Bàn
Trong mọi sinh vật, cái gì bị tiêu diệt thì cũng có mầm sống vươn lên.
Chiến trận xảy ra liên miên, người chết ngã gục không kể hết, đó là một thảm họa. Nhưng trong mầm họa ấy sẽ nảy ra những chồi xanh, những cặp hôn nhân cũng luôn luôn được nảy nở như các chàng trai nước Tống, lại kết duyên với các cô gái nước Đường. Như vậy, trong hủy diệt có phát sinh. Đó là lẽ tuần hoàn của tạo hóa cấu tạo quy luật sanh diệt trong con người. Ở đây tác giả đã đưa quan niệm ấy để diễn tả luật sanh tồn của vũ trụ một cách tự nhiên, theo quan niệm triết học Đông phương, phải giới thiệu cho người đời thấy luôn luôn trong cái buồn có cái vui, trong nước mắt có nụ cười, trong hủy diệt có sự sống.
Cuộc sống con người sở dĩ tồn tại là do luật sanh tồn của thiên nhiên, mà quy luật ấy vẫn là muôn thuở.

 
0
Hồi Thứ Hai Mươi

Cao, Phùng, Trịnh, vâng chỉ thành hôn,
Nghiệp, Duyên, Hoa cướp dinh phá giặc.


Sáng hôm sau, cơm nước xong ba người đồng đi một đường, bất luận ngày đêm trở về thành Thọ Châu.
Khi đến nơi, ba tướng vào tâu tự sự cho Tống Thái Tổ hay, và thú tội rằng:
- Vì muốn hoàn thiện công việc nên phải quyền biến.
Tống Thái Tổ phán:
- Nhân duyên ba người chẳng khác với Cao Quân Bảo với Lưu Kim Đính trước đây, trẫm không làm tội mà lại cho phụng chỉ kết hôn.
Nói rồi, truyền chỉ cho ba vị nữ anh hùng vào ra mắt.
Ba nàng được lệnh rất mừng, liền vào tung hô vạn tuế. Tống Thái Tổ phong cho ba nàng nhất phẩm phu nhân, và bày tiệc đuốc hoa cho ba tướng thành hôn. Ba vợ chồng đồng bái lạy tạ ơn.
Tống Thái Tổ phán:
 - Tướng ngũ âm nay đã đủ bốn, chỉ còn thiếu một nàng, song trận trước mình hao binh quá nhiều, nay phải qua Sơn Hậu mượn thêm binh mới phá Nam Đường nổi.
Cao Quân Bội bước ra lãnh lệnh đi viện binh.
Tống Thái Tổ chấp thuận, vì biết rằng Cao Quân Bội tuy nhỏ tuổi song trí vẫn có thừa.
Cao Quân Bội đi tới Thạch Châu, liền kêu quân vào phi báo.
Dương Nghiệp nghe Tống Thái Tổ sai người tới trại, liền ra nghênh tiếp thấy Cao Quân Bội hỏi thăm mọi việc.
Cao Quân Bội bày tỏ sự tình, Dương Nghiệp nói:
- Nay cháu đường xa đến đây chẳng hay có việc chi?
Cao Quân Bội thưa:
- Nay Thái Tổ bị vây tại Thọ Châu, sai cháu đến mượn năm vạn binh để phá Nam Đường, ngặt đường sá xa xôi, nên khó đem theo lễ vật.
Dương Nghiệp nói:
- Xưa cha ngươi làm quan binh Tống, nay ngươi cũng phò Tống mà đặng hiển vinh, bởi Nam Đường không chịu phục tùng nên tranh đua với Tống, lẽ thì sẽ sai người đến trợ chiến mà phá Nam Đường cần gì phải có lễ vật mới giúp sức.
Cao Quân Bội thưa:
- Chúa tôi có dặn phải năn nỉ hết lời, để xin binh cầu cứu.
Dương Nghiệp dọn tiệc đãi đằng, cả nhà ăn uống. Đêm ấy Cao Quân Bội chuyện vãn rồi nghỉ ngơi.
Hôm sau, Dương Nghiệp và vợ là Dư Thái Hoa cùng cháu trai lớn là Diêm Bình đem năm vạn quân qua Thọ Châu ứng tiếp.
Cao Quân Bội tạ ơn rồi đi trước dẫn lộ, ngày đi đêm nghỉ chẳng bao lâu đã tới Thọ Châu.
Tống Thái Tổ nghe tin liền truyền bá quan văn võ ra nghênh tiếp. Dương Nghiệp kéo binh vào thành ra mắt Tống Thái Tổ và tâu:
- Tôi muốn về Biên Kinh mà phò chúa, gặp cha tôi tuổi tác đã già, không lẽ bỏ mà đi cho đành.
Tống Thái Tổ phán:
- Lệnh tôn xưa kia từng trải việc chiến binh nay còn sức khỏe, thật là phước tường, nay chốc đã ngoài chín mươi.
Dương Nghiệp tâu:
- Cha tôi năm nay chín mươi tuổi, mà không bệnh chi cho lắm.
Tống Thải Tổ truyền lệnh dọn tiệc đãi đằng vợ chồng Dương Nghiệp rất long trọng.
Bấy giờ, tại Thọ Châu trước đã có Lưu Kim Đính, Trịnh Ấn, Phùng Mậu, là những tướng có phép tiên, nay lại được thêm ba nàng thần thông quảng đại nữa là Ngại Ngân Bình, Tiêu Dẫn Phụng, và Úc Sanh Hương mười phần thanh thế. Tống Thái Tổ thấy đã có thêm vây cánh, nhắm dẹp Nam Đường chẳng khó, liền truyền lệnh dẫn binh đi khiêu chiến.
Bấy giờ về phía Nam Đường thấy binh Tống treo miễn chiến bài đã hơn mười bữa, nay lại thấy đem binh khiêu chiến, liền thỉnh Quân sư luận bàn kế sách.
Dư Hồng tâu :
- Để tôi ra trận xem sao?
  Nói rồi cưỡi cọp phát pháo khai thành, nhưng lại nghĩ thầm:
- Trước đây mình dùng phép gì cũng bị Kim Đính phá hết, sau đó dùng Phong hỏa phiến quạt Phùng Mậu, té ra quạt ấy cũng hết linh.
Nghĩ chừng nào càng giận chừng ấy, nên vừa cưỡi cọp ra thấy Phùng Mậu liền thét lớn:
- Thằng lùn! Mày là tên trộm cắp, vua Tống dùng mày không biết xấu, vậy nay hãy trả gươm và sách lại thì ta bỏ qua, nếu trái lời thì ta về thỉnh lão tổ xuống đây, bắt ngươi lóc từng miếng thịt.
Phùng Mậu cười lớn nói:
- Dư Hồng! Ngươi muốn ta trả gươm và sách cũng chẳng khó gì, hãy về bảo vua Nam Đường hàng đầu thì ta trả lại, nếu không nghe lời thì ta lấy đầu ngươi, chẳng những là gươm sách mà thôi.
Dư Hồng nổi giận đập Phùng Mậu một gậy, Phùng Mậu dùng cặp thước đánh Dư Hồng đỡ không kịp, nên Dư Hồng bị trúng một cây thước đau quá té xuống lưng cọp, tức thì binh Tống bắt trói.
Bởi đau quá nên Dư Hồng độn thổ không kịp. Lưu Kim Dính sợ Dư Hồng biến hoá liền bước tới đưa cho Phùng Mậu một lá bùa bảo cài lên mão của Dư Hồng rồi truyền lệnh thâu quân trở về Các tướng thấy bắt được Dư Hồng ai nấy đều vui mừng.
Phùng Mậu dẫn Dư Hồng yêu đạo vào thành, quan thấy yêu đạo trợn mắt nghiến răng đều ghê sợ. Phùng Mậu biết ý tâu với vua Thái Tổ rằng?
Lúc xuống núi thầy tôi có dặn chẳng nên giết Dư Hồng, nếu giết nó thì thầy nó là Xích Mi lão tổ nổi giận xuống đây, e bệ hạ không còn xã tắc. Xin bệ hạ hãy tha cho nó trở về, may ra nó biết ăn năn mà khuyên vua Đường đầu hàng nước Tống.
Nếu nó còn cự địch thì lần sau bắt được sẽ giết đi, thì nó không còn chỗ nào oán trách.
Tống Thái Tổ nghe Phùng Mậu xin tha cho Dư Hồng thì nghĩ thầm:
- Ta cũng từng nghe danh ông Xích Mi lão tổ là thần thông quảng đại, kẻ nào dám giết học trò của ông ấy mà gây thù oán.
Vả lại binh tướng Tống đã đông, lại nhiều người có tài phép, nhắm tha Dư Hồng cũng không nổi gì.
Nghĩ rồi truyền dẫn Dư Hồng đến.
Cao Hoài Đức nghe Thái Tổ muốn tha Dư Hồng, liền quỳ tâu:
- Vua Nam Đường cậy có Dư Hồng mới dám cự Tống. Nay đã bắt được nó, xin bệ hạ giết đi.
Tống Thái Tổ chỉ mặt Dư Hồng nói:
- Yêu đạo to gan? Dám nghịch mạng trời, hại binh tướng tử trận quá nhiều. Nay đã bị bắt rồi tội đáng phanh thây xẻ thịt. Trẫm nay vị tình Xích Mi lão tổ dung cho ngươi đặng toàn thân, song phải mau về bảo Lý Cảnh đầu hàng, kẻo muôn dân đồ thán. Nếu ngươi không y lời dặn, ta bắt được một lần nữa, thì chặt đầu chẳng tha.
Phán rồi, Thái Tổ truyền mở trói cho Dư Hồng mà thả về.
Lúc này vua Nam Đường nghe tin Dư Hồng bị bắt thì chắc là không thể toàn mạng, nên lo bề bỏ khí giới đầu hàng để cho nhân dân lạc nghiệp.
Bỗng thấy Dư Hồng về thành, nửa mừng nửa sợ, phán nói:
- Quân sư đã bị bắt, vì sao trở về được?
Dư Hồng thấy vua Đường trọng đãi mình, nên hổ thẹn, sợ nói thiệt thì mất thể diện, nên kiếm cớ nói:
- Tống triều làm chi tôi được, vừa bắt vào thành tôi độn thổ bỏ đi, làm cho chúng nó thất kinh.
Vua Nam Đường mở tiệc, giải lao, lo bề cố thủ.
Dư Hồng vốn có tánh háo thắng, lại có tài nói dối, nên vua Nam Đường không hay việc Tống Thái Tổ rộng lượng thả về, nên đã không biết ơn, lại còn tìm mưu đánh Tống.
Cách mấy hôm, Tống Thái Tổ không thấy Nam Đường dâng hàng thơ liền sai Phùng Mậu đi vấn tội. Phùng Mậu đem quân đến khiêu chiến. Dư Hồng túng phải ra trận.
Phùng Mậu trông thấy Dư Hồng cười lớn:   
- Hôm trước ngươi bị ta đập một thước nhào xuống đất, ta bắt trói đem vào thành, thiếu chút nữa cái đầu đã rụng. Nhờ ơn chúa ta rộng lượng tha cho về. Chẳng ngờ ngươi khỏi chết lại làm thinh, không khuyên vua Đường dâng hàng biểu, nếu nay ta bắt được ngươi, thì không thể tha được nữa.
Dư Hồng bị Phùng Mậu mắng trước ba quân, hổ thẹn xông tới đánh cho đỡ xấu.
Vừa giao tranh được ít hiệp, Dư Hồng như chim bị ná, giật mình bỏ chạy. Phùng Mậu quyết bắt Dư Hồng, không ngờ Dư Hồng đã chạy mất, cực chẳng đã phải thu quân về trại.
Dư Hồng chạy được một lúc, nghĩ thầm:  
- Các phép hay đều bị Phùng Mậu lấy cắp, còn các phép khác thì trị không nổi thằng lùn. Ta cũng muốn về non cho rảnh, ngặt vì oán cừu chưa trả, pháp thuật không còn. Thì ăn năn đã muộn.
Bỗng sực nhớ lại có bạn đồng song là Dư Triệu, nguyên trước là con quạ thành tinh, tu luyện ngàn năm, thần thông quảng đại,  chi bằng thỉnh Dư Triệu xuống giúp mình thì xong việc.
Nghĩ rồi, Dư Hồng đằng vân bay qua động Hoả Long.
Đến nơi được Dư Triệu ra nghênh tiếp. Hai người dắt tay vào động. Dư Triệu chê Dư Hồng vì ham muốn công danh phú quý nên lận đận lao đao.
Dư Hồng nói:
- Nếu biết trước sự việc khó khăn này, tôi đã không vâng lời sư phụ .
Dư Triệu nói :
- Tôi nghe đạo huynh làm Quân sư cho Đường chúa,chắc là sung sướng lắm.
Dư Hồng bèn thuật hết mọi việc.
Dư Triệu nói:
- Nếu nước Tống có nhiều người tài phép như vậy, thì đạo hữu cũng nên lui về núi, ham mê làm chi cõi hồng trần cho mang nhục, lại mất cả bửu bối. Vả lại, đạo hữu phạm tội sát sanh nhiều lắm, vì hôm trước thầy có truyền lệnh cho tôi xuống bắt đạo huynh về, song vì tình nghĩa bạn bè cùng học một trường, nên xin thầy hoãn lại ít hôm, chắc nay mai cũng có lệnh thúc tôi đi bắt đạo huynh nữa .
Dư Hồng nói:
- Như vậy thầy mình nói lôi thôi lắm. Trước đây thầy sai xuống phò Đường đánh Tống, không ngờ bà Lê Sơn Thánh Mẫu sai học trò là Lưu Kim Đính xuống phá Đường. Trần Đoàn lão tổ ở núi Hoa Sơn lại sai Trịnh Ấn xuống trợ Tống nữa. Còn Huỳnh Hoa Sơn, Huỳnh Thạch Công cũng sai Phùng Mậu xuống đánh tôi. Bởi chúng nó đông quá, một mình tôi thiếu sức, không cự nổi. Nay thầy không giận chúng nó lại bắt học trò về. Thật là chúng nó có thầy còn anh em mình không ai binh vực. Thôi, tôi về núi cho thầy hành tội, dẫu kẻ có lòng thành cũng không dám theo thầy mà tu nữa.
Nói rồi, Dư Hồng làm bộ hờn tủi, đứng dậy giã từ.
Thực ra Xích Mi lão tổ không có sai Dư Triệu bắt Dư Hồng về chỉ vì Dư Triệu đặt điều mà hỏi Dư Hồng cho rõ.
Bấy giờ Dư Triệu nắm tay Dư Hồng, nói:
- Đạo quân khoan đi đã ! Lẽ nào Phùng Mậu dám khi dễ chúng ta như vậy? Hay là đạo quân đã phán đoán sai.
Dư Hồng trợn mắt nói lớn:
- Đừng có nói nhiều lời. Thầy đã chịu nhục thì chúng ta đành bỏ mạng. Không nghĩ lại bạn hữu là bạn đồng song, nên nói cho hay trước mà giữ mình, nếu để nước dâng tới, nhảy sao cho kịp. Thôi tôi về núi mà chịu tội.
Dư Triệu nghe Dư Hồng nói nổi giận:   
- Quả chúng nó khinh chúng ta như vậy sao?
Dư Hồng nói:
- Tôi không hề nói dối. Đạo hữu không tin thì cứ dò hỏi ở nơi khác.
Dư Triệu nổi nóng hét:
- Nếu quả như vậy thì chúng nó là cừu địch với anh em mình.
Anh đừng về núi làm chi, để tôi xuống ra mắt vua Đường mà trừ chúng nó, kẻo ngày sau man khốn.
Dư Hồng biết ý Dư Triệu đã quyết, nên nói khích:
- Ta đã chịu ơn Đường chúa hậu đãi, phải có lệnh thầy sai khiến, dầu mệt nhọc hay sống chết cũng không phiền. Còn sư đệ đã gần thành tiên lẽ nào xuống cõi hồng trần cho mang khổ. Huống chi Phùng Mậu, Trịnh Ấn, Lưu Kim Đính, đều là những tên có pháp thuật cao cường, nếu xuống mà không nên việc e chúng nó chê cười.
Dư Triệu nói:       
- Thầy nó hay, thầy mình cũng không dở, chúng nó dù giỏi chúng ta cũng chẳng thua, lẽ nào chịu hổ mặt. Em quyết trổ tài chúng nó được biết tài cao hay thấp; dù không thành chánh quả cũng được.
Dư Hồng nghe nói mừng thầm. Còn Dư Triệu thu nhặt các bửu pháp đem theo, rồi dặn học trò giữ động. Hai anh em đồng đằng vân xuống Thọ Châu.
Đến nơi, Dư Hồng vào trước, tâu với vua Đường:
- Bần đạo một mình khó cự với số đông, nay bần đạo đã thỉnh được một đạo hữu đồng song, người ấy tài phép vô cùng, chắc là dẹp nổi binh Tống, xin bệ hạ truyền cho bá quan ra nghênh tiếp, cho rõ ý cầu hiền.
Vua Nam Đường mừng rỡ, truyền các quan ra ngoài thành.
Dư Triệu vào bái yết, vua Nam Đường bước xuống ngai phán:
- Xin thượng tiên ngồi cùng trẫm thương nghị việc đánh Tống.
***
Lời Bàn.
 Khích tướng là kế sách của xưa dùng làm cho lòng tự ái của người khác phải tùng phục chủ trương của mình.
Dư Triệu là bạn của Dư Hồng, đã biết Dư Hồng làm trái ý trời phạm tội sát sinh, lại không thắng nổi kẻ địch, có ý khuyên Dư Hồng về núi để tránh tai nạn, thế mà Dư Hồng khích lệ, làm cho Dư Triệu quên hết những gian nan nguy hiểm có thể xảy đến cho bản thân, tình nguyện dấn thân vào con đường nguy hiểm. Như vậy, trước khi nghe lời khích lệ của Dư Hồng thì Dư Triệu bình tỉnh và sáng suốt, còn sau lời khích lệ của Dư Hồng, thì Dư Triệu đã bị mù quáng, không còn biết suy tính lợi hại.
Bởi vậy lời khích lệ là một liều thuốc độc, làm cho con người vì tự cao tự phụ mất cả lương tri.
Trong con người, tính tự cao tự phụ là nguồn gốc giúp cho kẻ lợi dụng sai khiến mình, mà mình không biết cho đó là chuyện tình nguyện đảm đương.


0
Hồi Thứ Hai Mươi Mốt      

Dư Hồng bại trận cầu đạo hữu
Dư Triệu nghe lầm quyết hạ sơn
 
    
Vua Nam Đường thấy Dư Triệu mới đến, chưa biết tài năng ra sao, nên bàn với Dư Hồng nên để Dư Triệu đem binh đánh một trận cho biết thấp cao.
Dư Triệu cũng muốn trổ tài một trận cho ba quân thấy mặt nên vội vàng kéo binh ra trại, kéo đến thành Thọ Châu khiêu chiến.
Quân thám thính vào báo lại với Lưu Kim Đính, nhưng lúc này nàng còn đang chưa khỏe.
Phùng Mậu xin ra trận. Vua Thái Tổ nói:
- Đã bảy hôm nay, binh Đường không ra trận, nay lại khiêu chiến, chắc là yêu đạo có lập kế chi đây. Nếu Phùng Mậu ra quân một mình e bất lợi.
Ngại Ngân Bình thấy chồng mình xin ra trận, liền quì tâu:
- Thiếp xin theo trợ chiến.
Tống Thái Tổ y lời. Hai vợ chồng Phùng Mậu lập tức kéo binh ra.
Dư Triệu đang khiêu chiến, xảy thấy một viên nữ tướng dung nhan như ngọc, cưỡi ngựa mặc áo giáp vàng, ngỡ là Lưu Kim Đính nên quyết báo cừu, liền hét lớn:
- Con tiện tỳ kia có phải là Lưu Kim Đính đó không?
Ngại Ngân Bình chưa kịp trả lời thì Phùng Mậu đã lướt đến thấy không phải Dư Hồng, liền nói:    
- Cần gì phải Lưu Kim Đính mới trừ nổi bọn yêu đạo hay sao, nội hai vợ chồng ta cũng đủ lấy thủ cấp của các ngươi mà.
Dư Triệu nghe nói ngó lên thấy một thằng con nít lùn tịt cỡi con quạ thì tức cười, nói lớn:
- Vợ chồng bay thật xứng đôi. Liền chi lời tục nói: Không nên chồng cũng thành chị em. Lấy đó mà suy nghĩ thì biết Tống triều không làm nên đại sự. Nhắm sức các ngươi gãi không đã ngứa, thì còn trông gì đến việc chiến tranh.
Phùng Mậu nghe nói nổi giận, mắng:
- Ngươi bất quá là một con súc vật hóa hình người, dù có tu luyện đến đâu thì cũng chỉ là một con thú vật mà thôi, sao dám khi  dễ chúng ta?
Nói rồi vung thước đánh liền. Dư Triệu vung kiếm đánh lại.
Hai người đánh với nhau cầm chừng. Ngại Ngân Bình xông vào đánh quân Đường rối loạn. Dư Triệu thấy vậy, niệm chú rồi cầm gương chỉ về phương Nam, tức thì lửa cháy rần rần, binh Tống bị lửa đốt, khói bay khét lẹt. Phùng Mậu thất kinh đang thắng lại bị lửa phải lui về. Xảy thấy Dư Triệu cầm gươm chỉ vào mình, làm cho lửa áp vào tận mặt, Phùng Mậu vội vã giục quạ bay luôn.
Còn Ngại Ngân Bình thấy lửa cháy tưởng là chồng mình bị cháy thiêu, liền quăng dây Khốn tiên lên mà trói Dư Triệu, chẳng ngờ Dư Triệu cầm gươm chỉ vào Khổn tiên sách làm cho dây Khổn tiên bị cháy rụi.
Ngại Ngân Bình kinh hãi, thâu quân vào thành tâu lại với vua Thái Tổ:
- Chúng tôi đang thắng trận, bị yêu đạo hóa lửa đốt binh không biết chồng tôi sống chết thế nào, cả dây Khổn tiên cũng bị lửa đốt, nên phải chịu thua.
Tống Thái Tổ nghe nói buồn bực. Nhưng chỉ chốc lát đã thấy Phùng Mậu cưỡi quạ trở về, nhìn thấy mặt vợ bị cháy nám thì nổi giận xin vua ra đánh nữa.
Vua Thái Tổ chẳng dám y tấu, truyền các tướng giữ bốn cửa thành cho nghiêm ngặt, chờ cho Lưu Kim Đính lành bệnh sẽ hay.
Bấy giờ Dư Triệu đắc thắng trở về hết lời khoe khoang, chúa tôi vua Đường dọn tiệc đãi đằng rất nên trọng hậu.
Dư Hồng khen: :
- Phùng Mậu là thằng ăn trộm, làm cho tôi mất hết bửu bối, may nhờ có sư đệ đến đây, đốt cho một trận phỏng mình, thật đáng đời tên xảo quyệt đó.
Hôm sau Dư Hồng cậy có Dư Triệu, đồng dẫn quân đến thành khiêu chiến, mắng nhiếc bao nhiêu bên Tống cũng bế thành, không ra đối địch.
Liền mấy hôm, trong thành đều treo miễn chiến bài. Hai anh em Dư Hồng đốc quân phá thành nhưng vẫn không làm gì nổi.
Ngày kia, hai anh em đang khiêu chiến thì Trịnh Ấn nổi xung, tâu với vua xin ra ứng chiến.
Vua Thái Tổ phán:
- Vợ chồng Phùng Mậu pháp thuật cao cường, không thua gì ngự điệt, mà còn bại trận cả hai. Vì yêu đạo có phép hóa lửa, ngự điệt không nên ỷ mình mà hy sinh.
Tiêu Dẫn Phụng tâu:
 - Trị lửa ấy không khó, chỉ cần lấy máu chó và máu ngựa ném vào thì phép ấy không còn linh nghiệm.
Tống Thái Tổ nghe nói có lý liền phán:
- Như vậy thì hai vợ chồng khanh ra trận thử một phen.
Tiêu Dẫn Phụng truyền quân lấy máu chó, máu ngựa bôi vào tên, chờ lửa cháy thì bắn ra, rồi ném vật ô uế vào.
Dặn xong, hai vợ chồng kéo binh ra trận, thấy Dư Triệu đang khiêu chíến còn Dư Hồng lượt trận theo sau. Dư Triệu thấy mặt Trịnh Ấn thì nổi giận mắng:
- Trịnh Ấn! Ngươi là người hay thú vật mà chẳng biết ơn nghĩa vậy? Anh em ta vì việc cha ngươi bị giết oan, không nài gian khổ đến đây rửa hận cho cha ngươi phạt Tống. Tại sao ngươi không lấy đó làm ơn, lại phò Tống đánh lại chúng ta? Vả lại sức ngươi là con nít, hãy vào kêu Phùng Mậu và Lưu Kim Đính ra đây đặng ta trừ luôn một thể, rồi ta trở về núi tu hành.
Trịnh Ấn nói:
- Cha Trịnh Ấn tuy thác oan, nhưng làm tôi không thể thù vua. Tại các ngươi muốn đánh Tống giúp Đường bày trò nói khích. Ngươi đã làm điều trái nghịch, tàn sát quân binh, nghĩ nên trở về tu hành mới mong thành chánh quả, nếu còn nấn ná ở đây e uổng công tu luyện.
Dư Triệu nghe nói nổi giận vung kiếm chém liền. Hai bên đánh nhau ít hiệp, Dư Triệu cầm gươm chỉ về hướng Nam thì lửa cháy rần rần. Tiêu Dẫn Phụng truyền quan bắn tên máu vào, và lấy máu chó, máu ngựa tạt tới thì lửa bỗng tắt hết. Trịnh Ấn lập tức rút Đả thần tiên ném lên, đánh nhằm Dư Triệu té xuống Trịnh Ấn vội nhảy tới muốn chém Dư Triệu, không ngờ Dư Triệu độn thổ đi mất.
Giây lát, Dư Triệu lại từ dưới đất chui lên nạt lớn:
- Ngươi đánh ta một roi đau quá, không lẽ nhịn thua.
Nói rồi phun lửa tam muội ra đốt binh Tống chết thiêu vô số Tiêu Dẫn Phụng truyền bắn tên máu vào, lửa vẫn không tắt.
Vợ chồng Trịnh Ấn kinh hãi, thâu binh vào thành bại tẩu.
Tống Thái Tổ nghe tin càng hối hận, không dám cho tướng nào ra trận nữa .
Còn Lưu Kim Đính từ ngày ra trận đánh với Dư Hồng cho đến nay vẫn chưa thật mạnh. Cao Quân Bảo thấy vợ chưa bình phục, còn Dư Hồng thì viện thêm Dư Triệu đến, ngày nào cũng khiêu chiến mãi, nên Cao Quân Bảo lo lắng, buồn bã không nguôi.
Lưu Kim Đính hiểu ý, nói:
- Hay là chàng buồn việc binh, xin cho thiếp ra trận để trừ bọn yêu đạo.
Cao Quân Bảo nói:
- Hiện nay Dư Hồng rủ được người bạn đồng song là Dư Triệu đến giúp sức. Dư Triệu thần thông quảng đại, dùng phép đốt cháy vợ chồng Phùng Mậu và vợ chồng Trịnh Ấn, rồi ngày nào chúng nó cũng đem binh khiêu chiến. Phần nàng chưa lành bệnh nên ta rất lo buồn.
Kim Đính nghe chồng nói, nổi giận xô gối ngồi dậy, quyết ra trận hơn thua. Cao Quân Bảo ngăn cản vẫn không được.
Tống Thái Tổ hay tin cũng tỏ ý ngăn cản, nhưng thấy Lưu Kim Đính đã quyết lòng liền truyền các nữ tướng đồng đi theo trợ chiến.
Khi ấy Dư phu nhân, Đào Tam Xuân, La phu nhân, Ngại Ngân Bình, Tiêu Dẫn Phụng, Úc Sanh Hương đồng theo Kim Đính ra trận.
Hai bên chưa kịp xưng tên đã xông vào đánh nhau, Lưu Kim Đính được các nữ tướng trợ lực nên thế mạnh vô cùng. Dư Triệu liền niệm thần chú hóa lửa rần rần. Lưu Kim Đính rút gươm chỉ một cái, lửa tắt hết làm cho Dư Triệu thất kinh nghĩ thầm:
- Con nhỏ này thật là thần thông, phép tắc cao cường, hèn chi sư huynh ta bại trận nhiều phen cũng phải.
Nghĩ rồi liền hét lớn:
- Ngươi phá được lửa tam muội của ta, vậy hãy xem gươm báu của ta đây.
Nói rồi Dư Triệu quăng bửu kiếm lên hóa ra muôn ngàn bửu kiếm bay xuống chém Kim Đính, ai nấy trông thấy đều thất kinh.
Lời Bàn.
Lòng tự ái con người sinh ra mọi tật xấu, kể cả việc dối gạt, lừa phỉnh kẻ khác, cốt làm cho thỏa mãn lòng mình.
Dư Hồng được Xích Mi lão tổ sai xuống núi để phạt vua Tống về tội giết trung thần, như vậy, nhiệm vụ là chỉ làm cho vua Tống khổ cực mà hối cải, thế mà Dư Hồng ỷ tài tranh đua với tướng Tống, để rồi thất bại mang nhiều tự ái.
Vì tự ái mà Dư Hồng dối gạt lừa phỉnh Dư Triệu, Dư Triệu vì tình cảm bạn bè mà sa vào tai họa.
Một lỗi lầm rất lớn, khi con người nặng lòng tự ái đã không kể đến tình nghĩa bạn bè. Trong cuộc sống loài người cũng thế tình người chỉ được tôn trọng khi nó không bị lợi dụng để làm lợi cho kẻ khác.
Dư Hồng biết việc Dư Triệu giúp mình là vào chỗ nguy khốn, nhưng vì lòng tự ái thắng cả tình bạn bè, nên Dư Hồng đã hại mạng Dư Triệu.

 
0
Hồi Thứ Hai Mươi Hai

Đua phép báu, Kim Đính thắng Dư triệu.
Phá binh Đường Thái Tổ lấy Huy Châu.


Lưu Kim Đính lấy roi kim tiên quăng lên, cũng hoá ra muôn ngàn mà cự với bửu kiếm. Giây phút roi kim tiên đánh bửu kiếm sa xuống. Dư Triệu kinh hãi thâu gươm, sợ kim tiên đánh mình, liền thiềm thừ độn thổ. Lưu Kim Đính thấy binh Đường chạy vỡ, không nỡ đuổi theo, liền thâu binh trở lại.
Lưu Kim Đính thắng trận vào thành tâu hết các việc, Tống Thái Tổ khen:
- Cháu đương bệnh mà vì vua ra trận, đuổi yêu đạo bại tẩu, thiệt đáng phong Nhất phẩm phu nhơn.
Lưu Kim Đính tạ ơn, Cao Hoài Đức liền tâu:
- Phép binh thơ chẳng nên huởn giặc, phải thừa thắng mà phá dinh Đường: thì lấy thành Huy Châu như nháy mắt.
Tống Thái Tổ bị vây đã lâu nên cũng rủn chí, muốn mau ban sư về viếng thăm Thái hậu nên y lời Cao Hoài Đức, truyền lệnh cho binh tướng đồng hay.
Còn Dư Triệu bại tẩu về dinh thì trời đã gần tối. Vua Nam Đường hỏi Dư Triệu thắng bại thế nào? Dư Triệu nói:
- Việc ấy rất dài, để vắng người sẽ thuật chuyện lại cho bệ hạ rõ.
Vua Nam Đường hồ nghi, song không lẽ hạch quá, bèn truyền dọn tiệc đãi đằng. Chẳng ngờ bên Tống đợi trời tối lén kéo binh qua, xuất kỳ bất ý cướp dinh, bên Đường đang ăn tiệc nên trở tay không kịp, người chưa kịp mặc áo giáp, buông đũa chạy rần rần đạp nhau mà chết, bị binh Tống giết rất nhiều.
Vua Nam Đường đang uống rượu với Dư Hồng, Dư Triệu, xảy nghe quan báo rằng binh Tống cướp trại thì vua nam Đường kinh hãi hết say, buông chén rượu rớt xuống đất, còn Dư Hồng Dư Triệu độn thổ trốn êm. Vua Nam Đường cứ kêu cứu giá, nhờ có Huỳnh Phủ Huy cõng vua chạy trước, Tiết Lữ cản hậu đỡ thương, Tần Phụng, La Anh đồng hộ giá.
Khi binh Tống vào dinh kiếm không đặng Dư Hồng, Dư Triệu, bèn giết binh Đường và tướng canh rất nhiều. Tướng giữ ải Thanh Lưu là Giao Phụng, đêm ấy nghe tin quân báo tin nên vội vàng ra thành tiếp giá. Bên Tống thừa thắng đuổi theo, đoạt khí giới và ngựa xe nhiều lắm. Bởi ải Thanh Lưu canh tuần nghiêm ngặt, nên Cao Hoài Đức liệu bề phá thành không nổi phải kéo binh trở lại.
Còn vua Nam Đường ngự trong ải, xảy thấy hai vị Quân sư độn thổ chạy tới, vua Nam- Đường không đẹp ý, liền phán:
- Bởi trẫm không biết cơ yếu mạnh, nên mới gây cừu với đại Tống. Còn các tướng võ cũng khoe tài, khuyên trẫm cự địch.
Nào hay trận bại tướng vong, mỗi ngày tốn hao không biết bao nhiêu nay đã hết trông cậy ! Bình thường ai cũng khoe trung nghĩa, đến trận rồi ai cũng đều bỏ trẫm mà lánh nạn! Nếu không có Huỳnh Phủ Huy, Tiết Lữ, Tần Phụng, La Anh liều mình cứu giá, thì trẫm đã bị giặc giết rồi, còn đâu mà gặp mặt nhị vị! Như vậy thì bề nào nước Nam Đường cũng phải mất nay mai, nên trẫm tính đầu Tống trước cho xong. Vậy xin hai vị về núi tu hành cho thành chánh quả, họa may ngày sau nước trẫm có nhờ phước đức cùng chăng?
Dư Triệu, Dư Hồng thấy vua Nam Đường nói mắc nghẹn họng hồi lâu rồi đồng tâu:
- Bệ hạ nói chơi, chúng tôi hổ thẹn hơn là mắng nhiếc. Tuy nay bại trận mặc lòng, song cũng chưa nỗi mất nước. Bởi chúng tôi vâng lệnh thầy, cấm sát sanh, nên chẳng hề giết một tướng bên Tống. Nay chúng nó làm thói tiểu nhơn, rình bữa ăn mà cướp trại xuất kỳ bất ý, giết hơn trăm tướng và mười vạn tinh binh. Ấy là nó bất nhơn, chớ trách mình thất đức. Nay biến lắm thì phải quyền, chắc là khó cữ sự sát sanh. Xin bệ hạ đừng than thở mà quân sĩ ngã lòng, anh em chúng tôi quyết dẹp yên giặc Tống.
Tiết Lữ, Huỳnh Phủ Huy đồng tâu:
- Ban sơ mười ba tướng Tống bị Quân sư bắt đặng lại tha, nay hai vị bằng lòng sát sanh thì lo chi không thắng trận! Vả lại trong nước ta binh còn hơn ba mươi muôn, tướng trận cũng đông lắm, xin bệ hạ đừng thấy bại một trận mà ngã lòng, lẽ nào giao mạng cho giặc? Nếu đầu hàng chắc là Thái Tổ không cho, dầu có là một chức nhỏ cũng không được nữa, mà còn hại đến thân.
Vua Nam Đường nghe nói có lý, đổi giận làm vui. Còn Dư Hồng Dư Triệu thấy vua không có ý đầu hàng thì sẵn sàng báo cừu cho đã giận.
Dư Triệu nói với Dư Hồng:
- Tôi liều phạm tội sát sanh chỉ dùng phép năm chục ngày là mấy vạn binh Tống không còn một đứa.
Dư Hồng nói:
- Xin sư đệ trổ tài cho sớm mà về núi tu luyện. Ta đến đây là vâng lệnh thầy, đâu phải tự chuyên mà lo.
Tống Thái Tổ cướp trại xong, lấy được thành Huy Châu, ghi công lao cho các tướng, rồi phán:
- Trẫm mừng lấy được Huy Châu, và Lưu Kim Đính đã khỏi bệnh chỉ lo một nỗi lương thảo không còn bao nhiêu. Chẳng biết làm sao viện lương đủ để dùng. Vậy thì trẫm sai Phùng Mậu trước về thăm mẹ, sau vận thêm ba chục hộc lương, như vậy mới an toàn.
Ngại Ngân Bình cũng xin theo Phùng Mậu về ra mắt mẹ chồng và thuận đường ghé thăm cho luôn thể.
Tống Thái Tổ y tấu, phán:
- Như vậy là phải lẽ! Hễ con người biết trọng thảo với mẹ cha, thì làm tôi mới trung quân. Song đi đường phải cho cẩn thận.
 Hai vợ chồng vâng chỉ ra đi.
Cách ít lâu, đến ngày lễ vạn thọ của Tống Thái Tổ. Cao Hoài Đức và các quan đồng dâng rượu chúc mừng.
Đêm ấy, Dư Triệu quyết làm hại binh tướng Tống nên lúc canh hai lấy cỏ ẩn thân bỏ vào túi, lén qua thành Huy Châu.
Vì có cỏ ẩn thân, nên Dư Triệu vào dinh Tống mà không ai thấy. Coi lại quân tướng trong phòng lớp thì say quá ngủ vùi, người còn thức cũng gật gù không biết gì nữa. Dư Triệu biết chúa tôi đều bị men say, không ai còn tỉnh táo, nên thừa cơ hội làm phép lấy bốn cây cờ đen trong túi áo, niệm chú thâu thổ địa và truyền rằng:
- Ngươi đem bốn cây cờ này cấm trên cửa thành, ngày đêm canh giữ, không cho ai nhổ đi.
Thổ địa vâng lệnh làm y lời dặn. Dư Triệu lại đọc thần chú thấy ma quỉ hiện hình tới, liền trao phép cho các hồn và dặn:
- Đây là ôn hoàng sa, các ngươi đem bỏ xuống giếng và những nơi có nước, đợi thành công chúng bay sẽ được đầu thai vào chỗ tử tế. Âm hồn vâng lệnh, lãnh ôn hoàng sa đem bỏ xuống các giếng nước và ao hồ xung quanh thành.
Xong việc, Dư Triệu đằng vân về thuật chuyện cho Dư Hồng nghe.
Dư Hồng mừng rỡ nói:
- Sư đệ có phép thần thông, lo chi quân tống nữa: Để ta vào tâu lại với vua.
Bấy giờ nước Nam Đường tuy ruộng nương tốt, thuế vụ nhiều, song từ khi chiến tranh tới nay lương phạn mỗi ngày cũng hao hụt lại thêm hai tên yêu đạo cầm binh tốn hao không kể xiết.
Đang lo tính xảy thấy Dư Hồng. Dư Triệu vào tâu:
- Chúng tôi đã rải ôn hoàng sa xuống giếng và các ao hồ, hễ binh Tống uống nhằm nước độc ấy thì chỉ trong bốn mươi chín ngày lớn bụng mà chết.
Vua Nam Đường lo việc thiếu lương, nên chỉ nghe qua mà không để ý đến.
Dư Triệu nói:  
- Tôi đã qua tới dinh Tống để dò xét thấy phép mầu rất linh nghiệm.
Lâu nay vua Nam Đường nghe Dư Hồng khoe khoang đã nhiều lần mà lần nào cũng chẳng thành công, nên nay nói chi cũng không tin nữa. Bởi vậy vua Đường phán:
- Nếu đợi bốn mươi chín ngày thì binh tướng trẫm đã chết đói, còn ai mà thấy binh Tống sống thác ra sao?
Dư Triệu thấy vua nghi ngờ, liền tâu:
- Nếu bệ hạ nôn nóng thì nội hai mươi ngày trở lại, tôi sẽ dâng thủ cấp vua tôi nước Tống để bệ hạ xem.
Vua Nam Đường chỉ tin độ hai phần, ngồi gục đầu không nói.
Trong lúc ấy bên dinh Tống uống nhằm nước độc, nên mấy mươi vạn binh Tống bụng quặn đau, sau đó nấy đều lớn bụng như có nghén, trừ ra Đào Tam Xuân, Dư phu nhân, Lưu Kim Đính, Úc Sanh Hương, Tiêu Dẫn Phụng vì có phép tiên nên không cùng một bệnh như nhau, song cũng ngầy ngật khó chịu. Thấy binh tướng cùng một bệnh như nhau, năm người biết là trúng độc, nhưng không rõ Dư Triệu làm ra, mỗi ngày bệnh một thêm nặng, tất cả đều khoanh tay chờ chết.
Phùng Mậu mắc vận lương độn thổ đi hơn nửa tháng mới về, thấy binh tướng trong thành Huy Châu đau bệnh mười hai ngày rồi, vì Phùng Mậu đi vắng nên không dự lễ chúc thọ.
Khi lương thực giải đến thì trời đã hoàng hôn, kêu mãi cửa thành vẫn không chịu mở, Phùng Mậu lấy làm lạ, dặn vợ coi sóc lương thực còn mình cỡi quạ bay vào thành. Vào đến nơi, thấy Tống Thái Tổ và bá quan văn võ đều nằm ngủ như say, hỏi mãi không nói, người nào bụng cũng phình lên to tướng. Phùng Mậu kinh hãi mở cửa thành chuyển lương vào trong rồi thuật chuyện cho vợ nghe, không biết cách nào cứu giải.
Ngại Ngân Bình nói:
- Binh tướng đồng một bệnh như nhau, tôi chắc là bị trúng độc để tôi vào thành thăm mấy chị em coi thử?
Nói rồi Ngân Bình vào thành ra mắt và hỏi thăm năm vị phu nhơn.
Lưu Kim Đính nói:       
 - Kể từ ngày chúc thọ sau đó binh tướng đều bị yếu đuối và lớn bụng, chắc là yêu đạo dùng thuốc độc để hại ba quân. Ba chị em ta mấy ngày vẫn nhắc hoài trông đợi vợ chồng nàng, xin nàng ra sức lo việc cứu chữa. Chẳng nên dùng nước ao, nước giếng trên bốn cửa thành.
Ngại Ngân Bình đem câu chuyện thuật lại với Phùng Mậu. Phùng Mậu bực tức ra cửa thành thấy trên chót cửa thành có cắm bốn cây cờ đen, có thổ địa canh giữ.
Phùng Mậu hét lớn:
- Thổ tiên! Dám cắm cờ yêu mà hại chơn chúa, sao không sợ tội chết.
Thổ địa nói:
- Tôi thật vô can! Tạỉ Dư tiên sư có lệnh sai nên tôi phải giữ cho phải phép.
Phùng Mậu nói:
 - Hãy nhổ cờ cho mau !
Thổ địa vâng lời nhổ cờ rồi đi mất.
Xảy thấy cả lũ âm hồn đang coi giếng nước, kéo đến. Phùng Mậu hỏi:
- Chúng bay ở đó làm chi?
Âm hồn  nói:
 - Chúng tối vâng lệnh Dư Tiên sư bỏ phép xuống giếng nước và ao hồ để hại binh Tống. Đợi thành công tiên sư sẽ lo cho chúng tôi được đầu thai làm con kẻ giàu sang.
Phùng Mậu nạt:
- Âm hồn chớ nghe yêu đạo. Hễ hại mạng người ta thì phải đoạ xuống âm ty, làm sao đầu thai được. Đừng nghe lời phỉnh phờ, hãy di tản cho mau.
Âm hồn nghe nói đều khóc lóc rồi đi mất hết.
Phùng Mậu vào thuật chuyện cho vợ nghe, Ngại Ngân Bình nói:
- Thiếp có nghe Thánh Mẫu dạy rằng: ôn hoàng sa là một thứ cát độc nếu bỏ vào giếng nước, ao hồ ai uống cũng bị lớn bụng mà chết. Trừ ra Huỳnh tôn sư mới biết phép cứu chữa mà thôi. Vậy chàng phải lên nhờ thầy xin thuốc cứu chữa.
Phùng Mậu y lời, lên lưng quạ, xảy nghe gươm báu sau lưng kêu veo véo. Phùng Mậu liền nói:
- Ta phải ở nán lại đây, đêm nay có giặc hãm thành.
Ngại Ngân Bình hỏi:
- Vì cớ gì mà chàng biết được?
Phùng Mậu nói:   
- Thầy ta có cho cây gươm Long A và dạy rằng: Gươm ấy rèn đã một trăm năm, phơi hốc nắng mưa nên đặt tên là Long A, biết việc xảy đến. Nếu có reo thì chém giặc, hoặc có kẻ cướp dinh. Bởi vậy ta đoán chắc yêu đạo đêm nay sẽ kéo binh đến thừa cơ hãm thành.
Ngại Ngân Bình nghe nói than thầm:
- Như vậy chàng chẳng nên đi, phải ở lại thủ thành với thiếp.
Phùng Mậu y lời, chia nhau mai phục cửa thành phía Nam, và phía Đông, nhờ có một số binh mới giải lương về chưa bệnh hoạn, nên dùng sai khiến.
Dư triệu biết lúc này trong thành binh tướng đều to bụng nằm ngay, dầu dậy cũng không được, bèn sai Trình Phi Hổ, Lâm Văn Báo dẫn ba ngàn binh xông vào thành.
Trình Phi Hổ và Lâm Văn Báo lắc đầu nói:
    - Bấy lâu nay chúng ta đánh ban ngày còn không lại Tống, bởi trong thành binh hùng tướng mạnh rất đông. Hôm nay Quân sư sai hai chúng tôi đi làm công việc nguy hiểm, thật chúng tôi không dám tuân hành.
Dư Triệu cười nói:
- Hai vị tướng quân không biết rõ sự tình. Hiện nay trong thành đã bị thuốc độc không còn một người, nên ta mới sai hai ngươi vào thành chặt đầu chúng nó. Vả lại hôm trước ta có đi thám thính, thấy chúng nó nằm liệt cả lũ, chỉ còn đợi ta đến chặt đầu mà thôi.
Trình Phi Hổ và Lâm Văn Báo vẫn lắc đầu nói:
- Hai tôi dẫu chết cũng chẳng tiếc chi chỉ sợ bên Tống cười Quân sư là người nông cạn, không thấy được tài năng của kẻ khác.
Dư Triệu thấy hai tướng không đi ý cũng không muốn ép, liền nói:
- Hai vị tướng quân nếu không tin ta thì ta xin đánh cuộc cho mà coi.
Trình phi Hổ và Lâm Văn Báo nói:
- Quân sư muốn đánh cuộc thế nào?  
Dư Triệu nói:     
- Nếu hai ngươi vào thành có một kẻ nào cản trở thì ta thua cuộc và bồi thường mấy trăm lạng bạc.   
Vua Nam Đường nghe nói liền phán:  
- Việc này chưa biết ai thắng, bề nào cũng kẻ được người thua, chi bằng cứ thử xem một trận.
Hai tướng nghe lời vua nói, viết tờ cam đoan đánh cuộc xong, đợi cho đến canh hai, Trình Phi Hổ và Lâm Văn Báo mỗi người dẫn ba ngàn binh, lặng lẽ ra đi.
Lúc đến cửa thành trống trở canh ba, Trình Phi Hổ bàn với Lâm Văn Báo rằng:
- Quân sư dặn chúng ta lên thành một lượt, nhưng nếu trúng kế thì biết ai tiếp cứu chi bằng để ta nhảy lên trước xem thử thế nào. Nếu Quân sư nói không sai, ta sẽ mở cửa thành cho quân ào vào.
Chẳng ngờ hai tướng đang bàn luận, Phùng Mậu ở trên thành nghe rất rõ, vì đêm vắng và thuận gió.
Bấy giờ Trình Phi Hổ, xách búa nhảy lên trước, nhưng vừa đứng trên mặt thành thì bị Phùng Mậu đánh cho một thước, nhào xuống bể đầu.
Còn Lâm Văn Báo ngỡ là Trình Phi Hổ nhảy trượt chân bị té, nên chuẩn bị nhảy theo. Chẳng ngờ trên thành bắn xuống như mưa, quân sĩ chết phân nửa, làm cho Lâm Văn Báo kinh sợ thu quân, trở về.
Lúc này Dư Triệu đang ngồi xem sách, đinh ninh hai tướng sẽ đem các thủ cấp của vua tướng binh Đường về nạp, xảy thấy Lâm Văn Báo hớt hải chạy về.
 Vừa thấy mặt Dư Triệu, Lâm Văn Báo nổi giận hét to:
- Báo hại Trình lão tướng đã bị chết về tay Phùng Mậu rồi.
Dư Triệu nghe nói ngỡ là Lâm Văn Báo sợ chết kiếm lời nói gạt nên hỏi quân sĩ. Quân sĩ thuật lại làm cho Dư Triệu thất kinh nhào xuống đất chết giấc.
Dư Triệu vừa tỉnh giấc, vội vào triều tâu rõ mọi việc. Vua Đường bỏ qua không nói, truyền chỉ truy tặng công lao Trình Phi Hổ và nuôi dưỡng vợ con.
Còn Dư Triệu thì hồ nghi, không biết tại sao rải ôn hoàng sa mà còn có kẻ không bệnh hoạn, lại còn thừa dịp gạt mình, làm cho hư danh xấu tiếng, hổ thẹn với văn võ bá quan. Từ nay về sau chưa dám nói sự việc chưa đến.
Phùng Mậu thắng trận, vào nói với vợ:
- Nam Đường bị một trận kinh hãi, chắc là không dám tới nữa. Vậy phu nhân thủ thành, để ta xin thuốc giải độc.
Nói rồi cỡi quạ bay đến động Huỳnh Hoa, vào lạy ra mắt thầy và thưa:
- Đệ tử đi vận lương về, thấy chúa tôi và binh tướng điều lớn bụng nằm dài, không ai ngồi dạy nổi. Xin thầy ra ơn giải cứu giùm mấy mươi vạn binh tình.
Huỳnh Thạch Công nói:
- Ấy là Dư Triệu bỏ ôn hoàng sa xuống giếng nước, binh tướng uống phải nước độc mới sanh chứng ấy. Bệnh này có thể giải cứu được, nhưng làm sao có đủ thuốc mà uống tới mấy muôn người. Ngươi hãy qua Nam Hải, mượn cành dương liễu của Phật Quan âm, đem về rửa nhành dương liễu ấy vào máng nước, rồi rảy cho mọi người tức thì hết nhiễm độc.
Phùng Mậu tạ ơn thầy, bay qua Nam Hải, mượn cành dương liễu Của Phật bà Quan âm.
Phùng Mậu lãnh nhành dương liễu lên lưng quạ bay đi.
Khi về đến thành, Phùng Mậu làm y theo lời thầy dạy. Chỉ chốc lát, mọi người đều ngồi dậy, và lành mạnh như xưa, chỉ trừ Thạch Thủ Tín, Sử Khuê, vì tuổi quá cao nên còn mệt mỏi, nên không dậy được. Sau đó từ trần.
Tống Thái Tổ thấy hai người. vì công trận mà bỏ mình nên thương hại truyền chỉ tẩm liệm chờ ban sư sẽ đem linh cửu về kinh chôn  cất.Các tướng đã lành bệnh, lại tỏ ý trách Phùng Mậu rằng:
- Ngày trước bắt được Dư Hồng, bởi Phùng Mậu xin tha, nên ngày nay mới bị nó đầu độc.
Phùng Mậu nghe các tướng nói, tâu với vua Thái Tổ, rằng:
- Tôi chẳng phải thương gì Dư Hồng, song sợ thầy nó là Xích Mi lão tổ nghe giết đệ tử, nóng lòng xuống báo cừu, thì rất khó cho thiên tử.
Tống Thái Tổ nói:
- Trẫm đã rộng dung tha thứ cho Dư Hồng một lần, mà nó không biết ăn năn, nếu các tướng bắt được hai yêu đạo ấy thì phải giết lập tức.
Sáng hôm sau, Lưu Kim Đính dẫn binh đến ải Thanh Lưu khiêu chiến. Dư Hồng Dư Triệu đồng nói:
- Nay nữ tướng khiêu chiến, chúng ta làm sao ngồi yên được, chúng tôi tu luyện đến ngàn năm, lẽ nào thua một đứa con gái.
Nói rồi dẫn một muôn binh ra trận, đồng thời bàn với nhau:
- Nếu phen này bị thua nữa thì về núi thỉnh thầy đến đây, thế nào cũng bị chết.
Lưu Kim Đính thấy Dư Hồng, Dư Triệu dẫn binh ra, liền chỉ mặt hét lớn:
- Các ngươi là tướng bại trận, không biết hổ thẹn lại còn bỏ ôn hoàng sa xuống giếng nước, mưu hại quân binh nhà Tống. Hôm trước thầy các ngươi là Xích Mi lão tổ giận các ngươi không vâng lời, làm chuyện sát sinh, nên ông đã đến hòa giải với vua Tống, và nói ít bữa sẽ sai người bắt các ngươi về trị tội, chẳng cho các ngươi đầu thai. Ta nhắm không bao lâu nữa, các ngươi không còn được ra trận. Nay thầy ngươi đã hòa giải, nên ta không đánh với các ngươi làm chi, đợi ít ngày thầy các ngươi xuống bắt các ngươi về núi mà thôi.
Ấy là lời Lưu Kim Đính nói, nghĩ cũng hiệp với lời Dư Triệu trước kia nên nghĩ thầm:
- Hôm trước Dư Triệu rải ôn hoàng sa, chuyện này không ai biết, sao Lưu Kim Đính lại rõ ngọn ngành, chắc là thầy mình đã xuống giải hòa và cứu chúng nó khỏi trúng độc.
Nghĩ như vậy lòng càng ngơ ngẩn như say như tỉnh.
Thấy Lưu Kim Đính dẫn quân vào thành thì Dư Hồng cũng thâu quân vào ải tâu với vua Nam Đường:
- Kim Đính ra trận thấy tôi liền kéo binh về, tôi nhắm bên Tống gần hết lương, ít hôm nữa cũng tính ban sư, xin bệ hạ đừng lo làm chi Lưu Kim Đính không khó.
Vua Nam Đường nghe nói, không tin vì Dư Hồng đã nhiều phen nói không thiệt.
Dư Hồng từ giã vua Nam Đường vào sau ải về thuật chuyện lại với Dư Triệu.
Dư Triệu giật mình, than thầm:
- Ta biết rõ tánh Dư Hồng, tánh Dư Hồng háo thắng, nên có ý khuyên can, kẻo uổng công tu luyện. Không ngờ mình cũng lại nóng giận xuống giúp Dư Hồng. Nay tới lui đều khó khăn. Chắc nay mai thầy ta cũng xuống không sai. Nếu ta bắt Dư Hồng về trị tội thì ta cũng mắc tội liên can, vì không có lệnh sai đi mà dám xuống trợ lực cho kẻ sai phạm.
Lời Bàn
Mọi kế sách đối phó với địch thủ, đều tốt nhất là không cho địch thủ biết ý định của mình.
Lưu Kim Đính muốn gạt Dư Hồng thì phải làm cho Dư Hồng không rõ ý định của mình, chẳng phải chỉ bằng lời nói, mà phải nghiên cứu kỹ tình hình và tâm trạng của đối phương.
Lưu Kim Đính gạt Dư Hồng là Xích Mi lão tổ sẽ xuống núi bắt Dư Hồng về trị tội, mà Dư Hồng ngỡ thật, chỉ vì tâm trạng Dư Hồng lúc này đang lo lắng về việc đã làm trái ý thầy, sát sanh hại nhiều mạng người. Tâm trạng ấy giúp cho mưu Lưu Kim Đính thành công, mà cũng có nghĩa là Dư Hồng đã thua trí Lưu Kim Đính.


0
Hồi Thứ Hai Mươi Bốn

Hà Tiên lập trận âm dương
Tôn Tẩn cầm binh khiển tướng


Tử Hà Tiên truyền trói mười người ấy lại, rồi nói:
- Từ khi có giặc đến nay, các anh hùng hào kiệt vì vua bỏ mạng không biết bao nhiêu, còn các người chỉ là vợ dân, người tàn tật thì sinh mạng đáng giá bao nhiêu. Vả lại, sau này vua ban ơn trọng thưởng, còn ức hiếp điều gì.
Nói rồi truyền tả đao mổ bụng, song có hai người đàn bà chửa còn tiếp tục chửi rủa mà thôi.
Sau đó, thấy thân quyến các người ấy xông vào than khóc, vua Nam Đường đem bốn ngàn lượng bạc thế mạng cho bốn mươi người, nhưng chỉ cỏ hai mươi người tham của chịu lãnh, còn hai mươi người kia không chịu lãnh bạc, bỏ ra về, vừa khóc vừa mắng:
- Đồ yêu tinh! Làm việc bất nhân. Bệ hạ nỡ nào nghe lời mà hại kẻ vô tội.
Tử Hà Tiên truyền cắt hai mươi bộ đồ lòng của hai mươi người câm rồi đem lên đài cầm gươm phun nước làm phép. Giây lâu thấy trên mây bay xuống một vị thần là Nhị Lan Hiển Thánh, ba con mắt sáng lòa, mặc áo hồng bào, tay cầm gươm báu, dẫn Hạo Thiên Khuyển bay tới hỏi:
- Pháp sư mời ta có chuyện chi?
Tử Hà Tiên nói:
- Ta lập trận mà đánh Tống, mời Nhị Lan tôn thần xuống trấn phía Đông nếu tướng Tống vào đánh trận thì đừng cho ra.
Nhị Lan Hiển Thánh vâng lệnh đi liền.
Tử Hà Tiên đốt bùa niệm chú nữa, từ phía Tây có một vị thần giáng hạ, đầu đội mũ vua, mình mặc giáp, cầm cây hoá kích, ấy là Tháp Thiên Vương Lý Tịnh.
Lý Tịnh đáp xuống hỏi:
- Pháp sư triệu ta có việc chi?
Tử Hà Tiên nói:
Nay tôi lập trận âm dương chống lại nhà Tống. Xin nhờ tôn thần trấn thủ hướng Nam.
Lý Thiên Vương vâng lệnh.
Tử Hà Tiên lại đất bùa niệm chú thì trên mây có một vị thần cưởi xe xuống, hỏi:
- Chẳng hay pháp sư đòi Na Tra tôi xuống có chuyện chi?
Tử Hà Tiên nói:
- Tôi lấy làm phục tài phép của Tam Thái Tử, khi trước trợ Châu phạt Trụ, nay cũng rất mừng được nhờ Tam Thái Tử trấn cửa âm dương phía Bắc.
Na Tra lãnh lệnh ra đi.
Tử Hà Tiên lại niệm chú, đốt bùa thì có một vị thần cưởi ngựa hồng sa xuống, mặc áo giáp đỏ, chân mày dựng ngược, râu mọc ngạnh trê. Ông này là thần Ngữ Đạo, đến hỏi:
- Pháp sư cần tôi có chuyện gì vậy?
Tử Hà Tiên nói:
- Nay có Lưu Kim Đính và Phùng Mậu pháp lực cao cường, nên tôi thỉnh Tôn thần xuống trấn cửa âm Dương phía Tây, đừng cho nó thoát ra khỏi trận.
Thần Ngũ Đạo vâng lệnh đi liền.
Tử Hà Tiên sắp xếp đâu đó an bài, nói với Dư Triệu:
- Có bốn vị đạo thần giúp ta, lo chi Kim Đính và Phùng Mậu chạy thoát.
 Dư Triệu nói:
 - Còn giữa trận tính cho vị thần nào trấn thủ?
Tử Hà Tiên nói:
- Việc này tôi đã tính rồi.
Liền đất bùa niệm chú, thỉnh Độc Hỏa Quỉ Vương giáng hạ.
Độc Hỏa Quỉ vương đầu đội kim cô râu tóc đỏ hoe, quần áo da cọp, miệng có bốn cái nanh, lướt tới hỏi:
- Có chuyện chi quan trọng lắm mà pháp sư mời ta?
Tử Hà Tiên nói:
- Tôi lập trận âm dương đánh với Phùng Mậu và Lưu Kim Đính, hai người này tài phép vô cùng, nên tôi đã thỉnh bốn vị tiên trưởng, trấn xong bốn cửa trận. Còn nơi trung ương, nhắm có tôn thần mới xứng đáng. Xin tôn thần ra sức trấn giữ, đừng để tướng Tống trốn khỏi.
Độc Hỏa Quỉ Vương gầm lên một tiếng, nhảy vào đứng giữa trung ương.
Dư Triệu hỏi Tử Hà Tiên:
- Còn hai cái hầm này tính nhờ ai trấn thủ?
Tử Hà Tiên nói:
- Để tôi triệu mấy vị hung thần là: Châu Tước, Quyền Vũ, Tán Môn và Điếu Khách trấn thủ nơi đây.
Nói rồi truyền sắp hai mươi tử thi đàn bà chửa dựa theo hầm, rồi sắp hai mươi tử thi người câm dựa theo hầm bên kia, và truyền giết thêm thú vật bỏ vào hai hầm ấy, để cho có đông âm hồn.
Sau đó Tử Hà Tiên niệm chú, ngậm nước phun vào bốn mươi cái thây ấy làm cho các thây ấy đứng dậy như người sống, xong hai con mắt nhắm kín. Tử Hà Tiên liền khai nhãn cho hai mươi thằng căm cầm gậy tang, còn hai mươi đàn bà chửa thì mặc áo chế cùng đứng ngay hiệu lệnh.
Tử Hà Tiên truyền rằng:
- Bốn mươi đứa bay hễ thấy binh Tống phá trận thì các ngươi chạy theo kêu oan, khóc mà đòi mạng.
Các thây ma đều vâng lệnh.
Hôm sau Tử Hà Tiên truyền lệnh cho Dư Triệu đem ba trăm sáu mươi bốn tên quân, mình mặc áo trắng, tay cầm Bạch kỳ trấn thủ cửa trận chỗ có dựng cờ phướn. Dưới gốc cây có bốn cái thây người câm và bốn cái thây đàn bà chửa. Đợi binh Tống vào trận thì cứ theo lời dặn mà làm.
Lại sai Linh Tiên dẫn ba trăm sáu mươi bốn tên quân, mặc đồ đỏ cầm Hồng kỳ, trấn thủ cửa trận phía Nam, cũng dựng cờ phướn chiêu hồn, có tám thây ma giữ phướn.
Lại dùng tám tên phó tướng trấn thủ ngoài trận bốn cửa Hứa, Sánh, Thương, Đỗ, Kiến, Tử, Kính, Khai, mỗi cửa đều có một tướng cạnh tùy tùng.
Trận được bố trí xong, hào quang chiếu sáng rực, ai ngó thấy cũng rùng mình.
Tử Hà Tiên cầm phướn ngũ sắc, truyền quân sĩ treo chuông Lạc hồn và dây âm hồn trước trận.
Lại sai Bất dật Tiên dẫn ba trăm sáu mươi bốn tên quân, mặc đồ xanh, cầm cờ đen trấn thủ cửa phía Tây, cũng có tám thây ma đứng hầu dưới cột phướn.
Lại sai Huệ Tiên dẫn ba trăm sáu mươi bốn tên quân mặc đồ đen, cầm cờ đen trấn thủ cửa phía Tây, cũng có tám thây ma giữ phướn.
Giữa trận có tám thây ma canh giữ. Như vậy mỗi cây phướn có tám thây ma, năm cây cờ bốn chục tử thi.
 Công việc xong xuôi, Tử Hà Tiên tâu với vua Đường:
- Tôi lập trận bát quái âm dương vừa rồi, xin bệ hạ cho một tướng đi khiêu chiến.
Vua Nam Đường y lời.
Lúc này Lưu Kim Đính nghe quân về báo:
- Có một tướng đến khiêu chiến nói nhiều lời ngạo mạn, tôi không dám thưa lại.
Lưu Kim Đính hỏi:
- Tướng ấy bộ tịch ra sao, và nói những gì?
Quân báo thưa:
Nó nói vâng lệnh Tử Hà Tiên kêu nguyên soái Lưu Kim Đính và tên tướng lùn đến xem trận cho mau. Nếu biết mình không đủ tài phép thì trốn đi, đừng đến đây mà oan mạng.
Lưu Kim Đính nghĩ thầm:
- Nếu mình không đi e chúng khi dễ. Chi bằng đến đó xem sao?
Nghĩ rồi, truyền các tướng đồng kéo binh ra trận. Đến nơi ngó thấy hào quang sáng giới, sát khí mịt mù, biết là trận dữ, Lưu Kim Đính truyền các tướng lui ra sau, không cho đến gần trận e nhiễm khí, rồi bảo ba người có phép đi theo mình là Tiêu dẫn Phụng, Úc sanh Hương, Ngại Ngân Bình.
Tử Hà Tiên bước ra ngoài trận nói:
- Các ngươi là đệ tử của Thánh mẫu, tự xưng pháp lực cao cường, vậy có dám phá trận này hay không? Ta sẽ giết các ngươi cho tuyệt mạng để báo cừu cho Dư Hồng.
Lưu Kim Đính nói:
- Đã có phép lập ra, lẽ nào không phép giải hóa?
Tử Hà Tiên cười lớn rồi vào trận.
Lưu Kim Đính nghĩ thầm:
- Chắc là trận âm dương, song rất khó phá, tuy vậy cũng nên vào trong xem thử thế nào.
Kim Đính bảo ba chị em đồng họa phù giữ mình rồi xông vào cửa trận thấy có mấy vị hung thần xông tới, bốn chị em đều đánh ấn thối lui. Còn các tử thi không dám xông tới, Tử Hà Tiên đọc thần chú giục các hung thần áp tới.
Lưu Kim Đính nói:
- Chị em tôi chỉ đi xem trận ra thế nào, chớ chưa phá trận. Vậy xin nán đợi bữa khác.
Tử Hà Tiên biết Lưu Kim Đính chưa học phép phá trận âm dương nên dẫu có hẹn lại cũng không sao.
Bốn chị em Kim Đính ra khỏi trận lui về tâu với vua Thái Tổ rằng:
- Nam Đường rước yêu tiên xuống lập trận rất độc.
Tống Thái Tổ hỏi:
- Trận ấy tên chi? Và phải dùng bao nhiêu binh tướng mới phá được?
Lưu Kim Đính tâu:
- Yêu tiên lập trận bát quái âm dương, song phép tôi còn non nên không phá nổi.
Tống Thái Tổ hỏi:
- Trận ấy lợi hại thế nào mà cháu không phá nổi.
Lưu Kim Đính tâu:
- Trận âm dương có nhiều vị chánh thần canh giữ, bởi tôi pháp lực không bao nhiêu, nên chẳng dám khoe tài phá trận.
Tống Thái tổ nghe tâu kinh hãi, nói:
- Cháu phải tính phương cách nào mà phá trận ấy mới xong.
Lưu Kim Đính nói:
- Tôi nhắm Phùng Mậu có thần nha bay rất nhanh, xin bệ hạ truyền cho Phùng Mậu đi thỉnh thầy là Huỳnh tiên sư, vì chỉ có một mình Huỳnh Thạch Công mới phá được trận này mà thôi.
Vua Thái Tổ y tấu.
Phùng Mậu cỡi thần nha bay về động Huỳnh Hoa, vào ra mắt thầy, rồi bẩm:
- Nay Dư Triệu viện yêu tiên lập trận âm dương, sức chúng tôi còn non nên phá trận ấy không nổi. Nay vâng lệnh Thiên tử về động thỉnh thầy, xin xuống phàm ra oai phá trận.
Huỳnh Thạch Công nói:
- Trận âm dương có nhiều vị hung thần, một mình ta cũng phá không nổi. Vậy ngươi phải thỉnh cho được Trần Đoàn lão tổ và Tôn Tẩn chân nhân cùng giúp sức với ta thì phá trận âm dương mới được.
Phùng Mậu vâng lệnh đi thỉnh Tôn Tẩn và Trần Đoàn.
Giây phút Huỳnh Thạch Công thấy Tôn Tẩn tới trước. Hai người mừng rỡ cùng nhau đàm đạo.
Không bao lâu, Trần Đoàn lão tổ cũng tới, Huỳnh Thạch Công và Tôn Tẩn ra nghênh tiếp.
Vào động trò chuyện được một lúc, Huỳnh Thạch Công truyền Phùng Mậu về báo tin cho Tống Thái tổ biết sẽ cứu giúp.
Phùng Mậu trở về ra mắt Tống Thái Tổ tâu rằng:
- Thầy tôi đã viện thêm Tôn Tẩn chân nhân và Trần Đoàn lão tổ hiệp lực phá trận âm dương.
Tống Thái Tổ mừng rỡ truyền dọn bàn hương án, nghinh tiếp ba vị tiên ông.
Chẳng bao lâu, ba vị tiên ông đã đằng vân bay đến. Tống Thái Tổ và triều thần nghinh tiếp xong thì đã nghe quân vào báo:
- Có ba vị Thánh mẫu xin vào ra mắt.
Tống Thái Tổ mừng rỡ truyền bá quan tiếp tục nghinh đón.
I ê Sơn Thánh Mẫu, Kim Quan Thánh Mẫu, Kim Hoa Thánh Mẫu đồng vào đến. Tống Thái Tổ và các vị tiên ông đều chào mừng.
Tống Thái Tổ nói:
- Ba vị tiên ông và ba vị Thánh mẫu vì giang san đại Tống mà chịu khó đến đây, trẫm không biết lấy chi đền ơn cho xứng đáng.
Sáu vị tiên đồng nói:
- Bệ hạ chánh vì thiên tử, trời cho gồm thâu một mối giang sơn. Còn Nam Đường khí số đã hết rồi, còn lẽ đâu dám nghịch, chẳng qua nghe lời yêu đạo, gây việc đua tranh. Nay nó lập ác trận, bọn đệ tử chúng tôi tài phép còn non nên không phá đặng. Bởi cớ ấy chúng tôi phải đến giúp bệ hạ, ấy là vâng mệnh trời, chớ có công khó chi mà đền đáp.
Sau đó, các đệ tử ra làm lễ mừng thầy. Trong lúc Tống Thái tổ truyền lập đài bái tướng thì sáu vị đại tiên đi xem trận âm dương, chỉ giây phút đã trở lại.
Huỳnh Thạch Công nói với Trần Đoàn lão tổ:
- So về việc trận đồ thì Tôn chân nhân tinh thông hơn hết, vậy xin phong cho Tôn Tẩn làm nguyên soái mà điều binh.
Khi đăng đàn bái tướng, Cao Hoài Đức đem ấn soái giao cho Tôn Tẩn.
Tôn Tẩn nói:
- Bần đạo tài phép bao nhiêu mà dám lãnh ấn soái? Song vì yêu đạo lập trận âm dương rất lợi hại. Trước đây thầy tôi là Quỉ Cốc Tiên sư có chỉ phép phá trận ấy, nên anh em mới ép tôi từ chối không được nên tôi phải vâng lời.
Tôn Tẩn lên đài lãnh ấn, rồi đòi Phùng Mậu đến nói:
- Ngươi hãy lãnh phong thơ này qua động Túy Châu, núi Thanh phong dâng cho Tô Châu thánh mẫu mà mượn trái châu định phong, phá trận xong sẽ trả lập tức.
 Phùng Mậu vâng lệnh đi liền.
Tôn Tẩn lại đòi Trịnh Ấn bảo:
- Ngươi đi kiếm cho được một mớ cỏ cao đường đem về đây cho ta.
Trịnh Ấn lãnh mạng ra đi.
Tôn Tẩn lại đòi Cao Quân Bảo tới nói:
- Ngươi dẫn hai ngàn binh cung ná sẵn đến nó Tụ thú lấy cho được đầu con chim độc đem về.
 Nguyên cách thành hơn ba trăm dặm có núi Tụ thú, trong núi có một con chim ôn hoàng, lớn như chim đại bàng, mỗi ngày cứ đến giờ mùi thì bay ra, gặp người thì mổ người, gặp thú thì ăn thú.
Bởi bấy lâu nó hại nhiều mạng lắm, nên nay đã tới số rồi, nên Tôn Tẩn sai Cao Quân Bảo đem binh đến đó mai phục, đợi đến giờ mùi thấy có gió lớn tức là con chưa ấy quạt cánh bay ra thì truyền quân bắn cho được con chim ẩy, chặt đầu đem về, đặng dùng phá trận.
Cao Quân Bảo vâng lệnh ra đi.
Tôn Tẫn lại đòi Cao Quân Bội đến bảo:
- Ngươi hãy dẫn hai mươi tên quân đi lấy đầu Thập linh về nạp.
Cao Quân Bảo thấy nguyên soái sai mình đi sau, sợ trễ nải nên phụng mệnh đi liền chưa kịp hỏi lại.
Tôn Tẩn thấy vậy mỉm cười làm thinh, rồi đòi Dương Diên Bình đến nói:
- Ngươi dẫn hai mươi tên quân đi lấy cho được huyết của Đỗ Nữ.
Dương Diễn Bình vốn cẩn thận, liền hỏi lại:
- Bẩm nguyên soái! Chẳng hay Đỗ Nữ là người chi, ở đâu và làm cách nào để lấy được huyết nó.
Tôn Tẩn nổi:
- Ngươi hãy đến tại Hoa Chi, hỏi Hoa Giải Ngữ thì biết.
Dương Diễn Bình lại hỏi:
- Tôi thuở nay không quen với Hoa Giải Ngữ, biết làm sao mà hỏi thăm?
Tôn Tẩn nói:
- Ngươi hãy đến tại Hoa Chi thì biết chẳng cần phải cậy nó làm gì, tự nhiên nó sẽ giúp, đã đặng việc nước lại nên việc nhà, đã xong việc công lại được việc tư, sau mới biết ơn ta chỉ vẽ .
Dương Diễn Bình nghe nói chưa rõ nguồn cơn, nhưng không dám hỏi nhiều vội vã ra đi.
Tôn Tẩn truyền lệnh xong bước xuống soái đường. Tống Thái Tổ truyền mở tiệc chạy đãi chư tiên và nói:
- Năm xưa trẫm có đánh cờ với Trần tiên sư, nay xin hầu thêm một bàn cho toàn sau trước.
Nói rồi Thái Tổ truyền quân bày cờ ra đánh với Trần Đoàn một hồi.
Trần Đoàn giả thua đứng dậy nói:
- Tôi mừng cho bệ hạ phước lớn tâm linh, không phải như năm trước. Coi điềm này đủ biết bệ hạ sẽ thâu được giang sơn, Nam Đường cự sao cho lại.
Giây phút, Trần Đoàn lão tổ chép lại bài luận về cờ tướng trao cho Tống Thái Tổ.
Tống Thái Tổ xem xong, biết Trần Đoàn lão tổ can sự mê cờ, để lo việc nước, nên từ đó không ham đánh cờ nữa.
Lúc này Trịnh Ấn lãnh mạng đi lấy cỏ cao đường, nhưng đi được một lúc lại than thầm:
- Khổ thay! Mình không biết cỏ cao đường ra làm sao, và mọc ở đâu mà kiếm? Bây giờ đi đã xa rồi không lẽ trở về hỏi lại, chi bằng hỏi thăm mọi người thì cũng có kẻ biết.
Nghĩ rồi lầm lũi đi mãi.
Giây phút đi đến chỗ non cao rừng rậm, gặp ai cũng hỏi thăm, nhưng không ai biết mà chỉ.
Trịnh Ấn nghĩ thầm:
- Chữ đường là giếng, là ao, chắc cỏ ấy mọc trên ao cao thì phải, song ở chân núi làm gì có ao cao.
Trịnh Ấn liền truyền quân ở dưới mà đợi, còn mình lên núi tìm ao.
Khi lên đến đầu non, thấy người ta nhỏ như con kiến, nhìn bốn phía có một cái ao, Trịnh Ấn lần đến thấy nước trong veo, cỏ mọc xanh dờn, nên mừng thầm, nói:
- Không ngờ đi kiếm bơ vơ mà cũng gặp. Vậy thì ta cắt một mớ đem về nạp trước mà lập công.
Nói rồi rút gươm cắt cỏ, lấy dây nịt cột thành một bó, xách xuống núi rồi truyền quân trở về thành. Chẳng ngờ đi được nửa đường thấy một người hình dung giống vợ mình như đúc, Trịnh Ấn lấy làm lạ, khi đến gần thì đúng là Tiêu Dẫn Phụng.
Tiêu Dẫn Phụng hỏi:
- Chẳng hay chàng đi kiếm cỏ ấy được chưa?
Trịnh Ấn cười, nói:
Tôn nguyên soái sai chuyện rất khó. May ta đoán ra mới lên chót núi mà kiếm được mớ cỏ này. Nó vốn là cỏ mọc trên mấy ao cao nên cắt đem về nạp cho nguyên soái.
Tiêu Dẫn Phụng nghe nói xem lại rồi cười lớn:
- Không xong rồi! Chàng không chịu hỏi lại cho rõ cứ cắm đầu mà chạy, nên thiếp mới cải trang đi theo, nếu chàng đem cỏ này nạp thì chỉ để nuôi ngựa mà thôi.
Trịnh Ấn nghe nói rầu rĩ tiếc công khó nhọc, liền ném bó cỏ xuống đất và hỏi:
 - Vậy chớ cỏ cao đường là cỏ gì ?
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Đàn bà có thai khi sinh đẻ thì lót cỏ ấy mà ngồi. Bởi xưa có người đầy tớ tên là Cao Đường chủ sai đi bỏ cỏ ấy nên gọi là cỏ cao đường. Tôn tiên sinh là thần tiên không chịu nói tục nên mượn tên ấy mà nói cho thanh. Chàng đem cỏ này về không có uế trược thì phá trận yêu sao đặng?
Trịnh ân nghe vợ nói, thở dài than:
- Khéo đặt tên gì lạ tai, ai biết đâu mà kiếm. Nếu không có hiền thê cắt nghĩa thì ta lầm rồi.
Tiêu Dẫn Phụng nói:
- Vậy chàng phải lần vào xóm, hỏi thăm xem có ai mới sanh đẻ thì chắc là có cỏ ấy. Nếu gặp phải năn nỉ xin cho được.
Tiêu Dẫn Phụng dặn rồi từ giã ra về.
Trịnh Ấn nghĩ thầm:
- Tôn nguyên soái thật là kỳ lạ, hết chuyện sai ta hay sao, mà bắt ta phải đi tìm loại cỏ nhơ uế này. Phải như vật gì thì dễ kiếm dễ mua, còn loại cỏ này không phải lúc nào cũng có sẵn. Ngặt vì việc nước không lẽ từ chối.
Nghĩ rồi giục ngựa xông vào xóm, chẳng ngờ dân ở đây trốn chạy sạch trơn, nhà cửa bỏ trống. Trịnh Ấn đi hồi lâu mới gặp được một ngôi nhà có khói, thấy bà già xách giỏ đi ra, trong giỏ có váy tro và huyết. Trịnh án xem thấy mừng rỡ, chắc là vật ấy chẳng sai liền xuống ngựa gọi bà lão và hỏi:
- Cỏ ấy có phải là đồ sanh sản hay không?
Bà lão nói phải. Trịnh Ấn nói:
- Xin bà bán cho tôi giá bao nhiêu cũng được.
 Bà lão nghe nói lấy làm lạ, nghĩ thầm:
- Mình không có tôi tớ để sai, nên phải xách đồ dơ đi bỏ, ai ngờ gặp thằng điên này quyết mua cho đặng, bất kỳ giá bao nhiêu. Nhưng xem không phải thằng khùng, sao nói tiếng quê mùa như vậy.
Trịnh Ấn thấy bà lão đứng ngẫm nghĩ thì tưởng bà lão không bằng lòng, nên năn nỉ.
Bà lão nghĩ thầm:
- Có khi họ mua nhau, tục gọi là tử hà sa mà làm thuốc chi đây. Vả lại dâu mình mới sinh thai, không có tiền mua gừng và rượu, nay thời nay bán được bao nhiêu tiền cũng đủ gỡ ngặt.
Nghĩ rồi bà lão chịu bán.
Trịnh Ấn mừng rỡ lấy năm lượng bạc trả cho bà lão rồi lấy giỏ cỏ xách đi rất vội vàng. Đi được nửa đường bỗng gặp Cao Quân Bội chạy tới hỏi:
- Anh đi lo việc ấy xong chưa?
Trịnh Ấn nói:
- Đi tình cờ mà thành công, đã gặp vật đó rồi.
Cao Quân Bội nói:
- Anh em ta thật là hên, không hỏi lại cho dứt tiếng lại bôn ba đi liền. Nay phận anh lại gặp được tình cờ, còn phần tôi biết chừng nào mới xong việc?
Trịnh Ấn nói:
- Người lành thì trời giúp, có lý nào đi không lại trở về không. Hiền đệ hãy gắng công, thế nào cũng nên việc.
Cao Quân Bội liền cười từ giã Trịnh Ấn rồi đi quẩn đi quơ.
Đi gần ba đậm đường, bỗng thấy thiên hạ tụ tập rất đông, vội hỏi một ông lão đi đường:
- Chẳng hay chuyện gì mà thiên hạ đi coi đông như vậy?
Ông lão nói:
 - Chẳng phải hội hè, nơi đây gần núi Phượng Dương có xóm Trương gia dân cư rất trù mật. Mới đây có một ông thầy bói tên là Trương Thập Linh về cất nhà ở xóm ấy, bởi vậy thiên hạ tìm đến hỏi quẻ.
Cao Quân Bội nghe tên Thập Linh là thầy bói hay, thì nghĩ chắc chân nhân sai lấy đầu người ấy, nên vội vã tiến đến. Khi đến nơi, nghe thiên hạ nói:
- Thầy Trương Thập Linh vì cớ nào mà bữa nay không coi quẻ? Hay là mấy bữa rày bị đông người coi quá nên mệt mỏi, bữa nay đóng cửa mà nghỉ chăng?
Mấy người trong xóm trả lời:
- Bởi các người không rõ, hôm kia người đoán trước rằng: còn hai ngày nữa thời ta tới số, nên đóng cửa lo việc mai sau. Song còn đợi một người nào đó mới chịu theo tiên bỏ xác. Ngặt không biết người ấy là ai.
Thiên hạ nghe nói than rằng:
- Như vậy rủi tại chúng ta tới trễ, nên bói không được một quẻ nào rất uổng !
Than rồi họ rùng rùng kéo nhau đi về.
Còn Cao Quân Bội nghe rõ chừng nào thì hãi kinh chừng ấy. Bèn nghĩ thầm: .
- Như vậy thì Tôn tiên sư đã biết trước, mới sai lấy đầu Thập Linh.
Nghĩ rồi giục ngựa đến đó, thấy lều tranh xích xác ba căn.
Có một người bước ra nghinh bếp và hỏi:
- Ông cưỡi ngựa đó có phải là Cao tướng quân chăng?
Cao Quân Bội lấy làm lạ nghĩ thầm:
- Người này không quen với mình, vì cớ nào mà biết tên họ! Có khi thầy Trương Thập Linh đó chăng?
Quân Bội xuống ngựa, người ấy mời vào nhà, Cao Quân Bội hỏi thăm người ấy họ chỉ?
Người ấy nói:
- Tôi là Lý Phương, đệ tử của thầy Trương Thập Linh. Thầy tôi có nói rằng: Tướng quân vâng lệnh Tiên ông đi kiếm thầy tôi cho được. Song thầy tôi sợ tướng quân còn lạ, nên sai tôi đón rước vào nhà.
Cao Quân Bội hỏi:
- Vậy chớ Tôn sư bây giờ ở đâu?
 Lý Phương nói:
- Thầy tôi ngồi nghĩ ở nhà trong.
Cao Quân Bội xin vào ra mắt.
Khi bước vào nhà trong thì Cao Quân Bội thấy một thầy đạo sĩ, ngồi xếp bằng trên nệm mà chờ. Ngó thấy Cao Quân Bội bước tới đạo sĩ liền mời ngồi và nói:
- Tôi biết Cao tướng quân bữa nay vâng lệnh đến lấy đầu bần đạo về đặng phá trận âm dương. Nếu không có đầu bần đạo thì phá trung ương chẳng được. Nay Cao tướng quân đã đến, xin xử trảm cho rồi.
Cao Quân Bội nói:
- Vua thánh chẳng giết kẻ vô can, gươm bén nỡ chém người vô tội sao đành? Tuy tiên sư có truyền lệnh mặc lòng, mà tôi cầm gươm chém người lành không nỡ. Thà về không mà chịu tội cho xong.
Trương Thập Linh nói:
- Bởi tướng quân không rõ cội rễ, để tôi cắt nghĩa cho mà nghe. Nguyên tôi đây kiếp trước là Ngụy Trưng, vâng lệnh chém đầu rồng dữ. Sau Lão Long đã kiện chúa ta rằng: đã hứa cứu khỏi sau còn bị chém đầu? Bởi cớ ấy nó làm hại bá tánh lắm! Tôi thấy vậy mới hứa trước đền vua Diêm Vương rằng: Tôi tình nguyện đền đầu cho Lão Long, đặng chịu tội thế cho chúa. Đến đời nay tôi đầu thai kiếp này tu hành đã gần thành, không bao lâu cũng bỏ xác, nên tiên sư sai đến giết ta mà trả quả cho rồi. Sau dùng đầu ta mà phá trận âm dương, thì là một công mà hai chuyện. Có phải làm hại ta đâu mà ngươi ái ngại! Bởi tướng quân là người phàm tục, không rõ cơ trời, nên phải cắt nghĩa cho mà tường. Nếu không có cớ ấy, lẽ nào ta liều mạng mà chi?
Cao Quân Bội thấy Trương Thập Linh nói chuyện thinh không, chẳng có bằng cớ, trả lời rằng:
- Tôi không cừu oán chi với ông, nỡ nào giết ông là người vô tội.
Trương Lập Linh nài nỉ mãi mà Cao Quân Bội làm lảng kiếu về. Trương Thập Linh nói thế rằng:
- Tướng quân nán lại cho tôi nói một lời: nay tưởng quân nhân từ, chẳng nỡ giết người vô cớ, tôi đội ơn rất nặng, không biết lấy chi đền bồi. Vậy xin tướng quân ngồi đợi đây giây lát đặng tôi vào lấy sách binh thơ dâng cho tướng quân lấy thảo.
Cao Quân Bội ngỡ thiệt nên y lời, ngồi nói chuyện với Lý Phương cả buổi.
Hồi lâu không thấy Thập Linh đem sách ra Cao Quân Bội lấy làm lạ, hỏi Lý Phương:
- Tôn sư vì cớ nào không thấy trở ra đàm đạo?
Lý Phương khóc và nói:
- Chắc thầy tôi đã xuất hồn khỏi xác. Bởi tướng quân không nỡ giết, nên thầy tôi sợ trễ giờ theo chư tiên, mới dụng trí đặng vào phòng mà thoát kiếp cho tướng quân lấy thủ cấp đem về.
Cao Quân Bội nghe nói kinh hãi, cậy Lý Phương dắt mình vào đến nơi, thấy Trương Thập Linh đã tự vẫn. Lý Phương mới đem thây xuống vuốt ve khóc kể một hồi.
Giây phút, Lý Phương nói với Quân Bội rằng: .
 - Đạo thầy như cha mẹ, tôi lẽ nào dám nói thất lễ. Song thầy tôi đã tỏ việc báo ứng, nếu không trả quả, e kiếp khác phải đầu thai. Vậy nay thầy tôi đã thị giải rồi, xin tướng quân hãy xuống một đao, lấy thủ cấp đem về, cho dứt quả báo.
Cao Quân Bội cũng mủi lòng rơi lụy, song nghĩ lại:
- Người tiên tri như vậy, chắc sau cũng thành thần, chẳng nên cãi di chúc. Vả lại người đã thác chẳng lẽ hoàn hồn cũng nên chém thây cho tuyệt quả báo.
Nghĩ rồi Quân Bội cầm đao ngó lảng mà chặt thủ cấp Thập Linh không thấy máu chảy. Cao Quân Bội lấy làm lạ, lấy thủ cấp gói lại rồi trao bạc vàng cho Lý Phương dùng làm lễ tống táng, lại nói với Lý Phương rằng:
- Chẳng phải bấy nhiêu bạc ấy là đền đáp đủ ơn kia miễn là phá trận mà thành công, ta sẽ tâu vua phong tặng tôn sư, đền ơn cứu nước.
Lý Phương tạ ơn lãnh bạc, lo quan quách mai táng xác thầy.
Còn Cao Quân Bội thì đem quân và thủ cấp về phục lịnh.
Nói về Dương Diên Bình vâng lệnh Tôn chân nhân đi lấy huyết Đỗ Nữ cũng y lời trước tìm tới trại Hoa Chi, hỏi thăm nhiều người, họ chỉ mới đi gần tới trại ấy. Dương Diên Bình gặp kẻ nông đinh liền hỏi thăm:
- Chẳng hay xóm này gần trại Hoa Chi chăng?
Nông đinh nghe nói, nhìn sững, rồi trả lời:
- Đây là trại Hoa Chi, song xỉn tướng quân xuống ngựa, đợi tôi về trại báo tin đã.
Nói rồi lật đật chạy về phi báo.
Nói về chủ trại Hoa Chi là nàng Hoa Giải Ngữ.
Hoa Giải Ngữ nghe gia tướng vào báo:
- Có một vị tướng quân nhỏ tuổi tốt trai, không biết có bà con với cô chăng mà hỏi thăm Hoa chủ trại.
 Hoa Giải Ngữ liền cầm đao lên ngựa, đến nơi thấy một người cầm giáo bạc, cỡi ngựa kim, đội ngân khôi, mang bạch giáp, nhan sắc như Tống Ngọc, Phan Anh là trai lịch sự đời trước, Hoa Giải Ngữ khen thầm và hỏi:
- Chẳng hay quí khách danh hiệu chi, vô cớ nào mà tìm đến trại thiếp?
Dương Diễn Bình trước kia ngỡ chủ trại là trai, hoặc trẻ nào hay là một vị nữ tướng quân mắt phụng mày ngài, nhan sắc hoa nhường, nguyệt thẹn! Dương Diễn Bình nghĩ thầm:
- Mình thuở nay thấy gái tốt cũng nhiều song chưa lịch sự như dung nhan nàng này !
Nghĩ rồi liền đáp:
- Tôi là Dưỡng Diên Bình, vâng lệnh quân sư đến trai Hoa Chi mà kiếm tên Đỗ Nữ. Chẳng hay trong trại có Đỗ Nữ hay chăng?
Hoa Giải Ngữ nghe hỏi thì đã hiểu liền đáp:
- Thiệt đây có nàng Đỗ Nữ song công tử hãy tỉ thí cùng tôi nếu quả thật công tử đại tài, tôi dâng nàng ấy lập tức, cần gì hỏi thăm làm chi.
Dương Diễn Bình ngẫm nghĩ:
- Tài tránh đánh đại tướng cũng lui sá gì một đứa con gái mà thắng nó không nổi.
Nghĩ rồi Diễn Bình liền đáp:
- Ta xin vâng! Song nàng phải nhớ lời, nếu nàng thua ta thì phải giao Đỗ Nữ lập tức.
Hoa Giải Ngữ bằng lòng. Hai người giao chiến có hai giờ mà không phân thắng bại. Hoa Giải Ngữ nghĩ thầm:
- Thiệt con dòng họ Dương cây thương ròng lắm!
Hoa Giải Ngữ đánh ráng ít hiệp nữa rồi trá bại chạy dài.
Dương Diên Bình thừa thắng đuổi theo, không dè mắc kế, giây phút người ngựa đều sụp té xuống hầm.
Khi Dương Diên Bình té xuống thì binh của Hoa Giải Ngữ lấy câu móc kéo lên, trói tay dẫn về trại. Dương Diễn Bình ngó thấy một bà già ngồi trên giường, chừng năm mươi tuổi, mà diện mạo oai nghi. Hoa Giải Ngữ thưa:
- Có một tướng Tống Dương Diễn Bình bị con dụng kế bắt đem vào dâng cho mẹ phân xử.
 Nói rồi tiếc Dương Diễn Bình cười chúm chím, đi thẳng vào phòng. Dương Diên Bình ngẫm nghĩ, không biết cớ gì, nàng ấy bắt mình mà không hành phạt lại giao cho một bà già?
Lát sau, Dương Diễn Bình thấy nàng ấy thay áo trở ra, hình dung tươi tốt, thật là lịch sự vô hồi, kế nghe bà già ấy hỏi:
- Anh hùng đã bị bắt có úy tử hay không?
Dương Diễn Bình nổi giận nói lại rằng:
- Con a đầu đánh không lại ta, bất quá dùng kế mà gạt ta sa hầm. Đại trượng phu coi sự chết như lông hồng, lẽ nào tham sánh úy tử! Ai ai lại chẳng biết danh cha ta là Dương lịnh công San Hậu, nếu chúa ta và cha ta hay được, e cho các ngươi bị tru di tam tộc, mà trại Hoa Chi cây cờ cũng không còn.
Bà già cười, nói:
- Ấy là già nói chơi với công tử, chớ lòng thiệt muốn dùng công tử làm rể đông sàng hầu nhờ thân sau, lẽ nào lại làm hại!
Dương Diễn Bình ngỡ là mắng giặc mà chết, không dè bà này lại có ý gả con nên liền nói:
- Việc hôn nhân đứng thứ ba trong ngũ luân, phải có lệnh cha mẹ, lẽ nào làm con dám tự chuyên.
Bà ấy nói:
- Nhỏ mà nói như vậy, thiệt đáng con dòng không phải bậc tầm thường, già càng kính phục mười phần. Song già sớm góa chồng may sanh được một con này là Hoa Giải Ngữ, khi trước nó đi học với bà Tố Châu Thánh Mẫu, tài phép xảo thông, Thánh Mẫu có dạy rằng: sau có duyên nợ với trai lớn Dương lịnh công nên phải đầu Tống triều mà hưởng vinh hoa phú quí. Nay tình cờ tướng quân tới đây rõ ràng là duyên ngàn dặm, phải nợ ba sinh, nên già mở miệng làm mai, thì già không biết tam càng ngũ thường hay sao? Đã hay rằng không xứng đáng với công tử, bất quá như buộc đứng tranh dựa cây ngọc, dây sắt quấn nhành tùng, già cũng biết công tử không màng đó! Song già vâng lệnh Thánh Mẫu nên phải nói cho cạn lời, cho như công tử muốn lấy huyết Đỗ Nữ, không có con Hoa Giải Ngữ giúp sức thì chẳng khi nào thành công. Xin hãy xét suy mà dung tội nó phạm oai công tử.
Dương Diễn Bình nghe nói nghĩ thầm:
- Mình thiệt không biết Đỗ Nữ ở đâu, làm sao lấy huyết nó cho đặng? Vả lại Tôn chân nhân có dặn, nhờ có Hoa Giải Ngữ giúp sức lấy mới được huyết Đỗ Nữ, lại có nói công tư lưỡng vẹn, chắc là ta có lương duyên với Hoa Giải Ngữ. Lại thêm Tố Châu Thánh Mẫu cũng có nói tiên tri nữa. Nàng ấy có sắc có tính, đủ tài đủ phép, lại học trò của Thánh Mẫu cũng chẳng kém chi. Vậy thì mình hứa cho xuôi việc đặng lấy huyết Đỗ Nữ đem về tâu thiệt với vua nhằm cũng vô tội!.
Nghĩ rồi liền thưa:
- Tôi mà muốn hứa việc nhân duyên cũng đặng, song trước phải giúp tôi lấy cho được huyết Đỗ Nữ, rồi tôi vào tâu với vua chúa tôi, sau tâu lại với gia nghiêm gia từ, khi ấy sẽ làm lễ cưới, thì mới trọn thảo trọn ngay, vẹn ơn vẹn nghĩa.
Bà ấy khen:
- Công tử dùng nghĩa cử như vậy vẹn cả đôi bề.
Khen rồi truyền mở trói cho Dương Diên Bình.
Dương Diễn Bình liền đứng dậy làm lễ . Hoa Giải Ngữ thấy Dương Diên Bình giữ theo đạo rể con, mắc cỡ bỏ vào phòng.
Tối hôm đó , hai mẹ con dọn tiệc đãi Dương Diên Bình. Trong lúc ăn uống Dương Diên Bình nói:
- Khi Tôn chân nhân cầm quyền nguyên soái có sai tôi đi lấy huyết Đỗ Nữ, tôi vội vã ra đi quên hỏi Đỗ Nữ là ai, ở đâu, nhưng Tôn nguyên soái không cắt nghĩa cứ bảo tôi đến Hoa Chi thì rõ, nên tôi tìm đến đây.
Hoa mẫu nghe Diễn Bình nói thì mỉm cười đáp:
- Bởi con ta có vâng lệnh thầy truyền nên mới biết cội rễ.
Nói rồi bèn kêu con bảo phải cắt nghĩa cho công tử để hiểu rõ.
Hoa Giải Ngữ nói:
- Công tử làm sao biết được chân tướng của nó. Đỗ Nữ vốn là một con hồ ly cái, vợ của Huyền Hồ, nay Huyền Hồ đã theo Dư Hông xuống lập trận tại Nam Đường tự xưng là Huệ Tiên. Còn Đỗ Nữ mấy năm nay đã trà trộn vào các cửa lều xanh, hút tinh của trai tơ luyện phép riêng, nó quyến rũ và sát hại cho được một trăm người thì lên bậc trên các yêu hồ, nay nó giết cũng gần đủ số người, nên phép thần thông cao lắm. Song nó sát nhiều mạng nên trời đất không dung. Tôi phải thừa dịp này mà bắt nó, ngặt một điều là đàn bà khó trị đàn bà, cần phải có người dũng tướng ra oai thì giết nó mới chết. Vậy công tử hãy làm y theo kế của tôi thì giết nó mới được.
Dương Diên Bình nghe nói nghĩ thầm:
- Nếu mình không gặp Hoa Giải Ngữ thì khó bắt Đỗ Nữ lắm. Ấy cũng nhờ hồng phúc của thiên tử, nên khiến Hoa Giải Ngữ chiu phò Tống diệt Đường.
Hoa mẫu nói:
- Nếu hiền tế không chê cơm khô rượu lạt xin ăn uống cho say.
Dương Diễn Bình nói:
- Con đội ơn nhạc mẫu mà gã tiểu thơ cho con. Phận rể con đâu dám làm khách.
Hoa mẫu nghe nói rất vui lòng, còn Dương Diên Bình mừng gặp kỳ duyên Hoa Giải Ngữ cũng phỉ tình mơ ước.
Lúc này Đỗ Nữ từ khi trà trộn vào nhà chứa điếm, xưng tên là Đỗ Ngọc Lan, khách làng trai thấy nàng có nhan sắc quí như vàng ngọc. Vả lại tánh Hồ Mỵ hay làm màu mè, nên nhiều người mê mẩn, tặng nàng danh hiệu là Tiền Thọ. Từ khi Đỗ Nữ vào lầu xanh thì lũ son phấn cũ ế độ hết lại thêm đất Hoài Dương là xứ ăn chơi, kẻ giàu sang thường tìm đến đó, các vương tôn công tử đều quăng tiền để hưởng lạc, bởi vậy xe ngựa dập dìu, đêm nào cũng đông như hội.
Bấy giờ có công tử Trần Lý vốn con quan lớn đời trước, nhà giàu lắm bạc, một mình hào phú ở gần trại Hoa Chi. Trần Lý tuy chẳng làm quan cũng được ăn bổng lộc. Bởi cớ ấy Trần Lý ở với Đỗ Nữ như vợ chồng, còn khi nào Trần Lý vắng tới thì Đỗ Nữ ngồi kiệu đến thăm, mỗi lần ở chơi năm ba bữa, rồi đem bạc vàng về cho mụ trùm.
Trần Lý đắm mê nàng ấy, lâu ngày nhiễm khí yêu nên bị bại liệt.
Đêm ấy Hoa Giải Ngữ định giết Đỗ Nữ song nghĩ lại nó ở tại lầu xanh thì khó mà sát hại. Chi bằng thừa dịp Trần Lý bị bệnh lập kế mà giết mới xong.
Hôm sau Dương Diên Bình làm theo kế, dẫn hai gia tướng mai phục giữa đường phòng khi tiếp ứng.
Còn Hoa Giải Ngữ làm phép biến ra Trần Lý, có gia đinh khiêng kiệu đến lầu xanh, tìm Đỗ Nữ. Nàng vội vàng bước ra chàohỏi .
Trần Lý giả nói :
- Hôm nay có bệnh trong mình, tuy mới khá mặc lòng, mà hễ có hơi trong người thì mệt lắm. Nhắm ở đây ăn tiệc bất tiện chi bằng rước nàng về nhà cùng nhau chuyện vãn thì hay hơn.
Đỗ Nữ nghe nói mừng thầm:
 - Nó mới mạnh mà muốn gần mình, chắc là mau chết lắm.
Nghĩ rồi nói:
- Mấy bữa rày thiếp vắng thăm, không phải phụ tình bạc nghĩa, có ý để cho chàng tịnh dưỡng mới mau mạnh. Nay đã khá, lý nào thiếp chẳng sang chơi.
Trần Lý giả cố làm bộ vuốt ve, lén dắt lá bùa trên đầu Đỗ Nữ mà nó không hay.
Giây phút Đỗ Nữ bảo đem kiệu ra rồi cùng đi theo kiệu Trần Lý giả. Đi được vài dặm bỗng có Dương Diên Bình kéo quân ra đoạt kiệu Đỗ Nữ. Hai tên khiêng kiệu kinh hãi bỏ chạy Dương Diễn Bình bắt được Đỗ Nữ. Đỗ Nữ kinh hồn toan rùng mình biến đi không ngờ bị lá bùa nên nhảy vọt lên không nổi, mà đến thổ cũng không xong, túng phải qui xuống ăn nỉ xin tha.
Dương Diên Bình hét lớn:
- Yêu hồ đã hại người vô số, phạm tội rất trọng nay lẽ nào dung tha.
Nói rồi liền chém đầu mổ bụng lấy huyết Đỗ Nữ rồi bỏ thây ngoài đồng.
Giết Đỗ Nữ xong Dương Diễn Bình lấy huyết trở lại trại Hoa Chi cảm ơn Hoa tiểu thơ và từ tạ nhạc mẫu trở về thành.
Mạnh thị nói:
- Ta mừng cho hiền tế thành công, tiệc đã dọn vậy ở nán lại chuyện vãn đôi lời, bữa sau cũng chẳng muộn.
Dương Diễn Bình không dám cãi lời, ở lại ăn tiệc no say.
Trong bữa tiệc, Mạnh thị nói:
Tiệc này là tiệc thành hôn, bởi con ta vâng lời Thánh mẫu nên bỏ Đường về Tống lập công. Nay ta tính cho nó theo hiền tế luôn thể. Vậy khi hiền tế về thành dâng huyết Đỗ Nữ thì phải tâu rõ trước sau, nói rằng Hoa Giải Ngữ qua đầu Tống mà lập công, thì chắc Thiên tử sẽ thu dụng. Dương Diễn Bình thưa:
- Nếu tiểu thơ giúp sức với tôi chắc là đẹp lòng Thiên Tử. Sau đó tôi sẽ về Sơn Hậu thưa lại cha mẹ tôi hay để giúp gia đình đoàn viên.
Mạnh thị nói:
- Được như vậy ta rất phỉ tình, ấy là phước nhà khiến xui như vậy.
Hôm sau hai vợ chồng lạy tạ Mạnh thị mà đi, mẹ con sụt sùi chia tay.
Dương Diên Bình về đến thành Thọ Châu vào trước phục chỉ dâng huyết Đỗ Nữ, thì Tôn Tẩn cười hỏi:
- Ta sai các tướng đi cũng nhiều, song có một mình công tử là may hơn cả.
Dương Diên Bình biết Tôn Tẩn đã biết mọi việc nên phải thưa qua việc hôn nhân.
Tôn Tẩn nói:
- Ta đã coi tay biết bữa nay có Hoa Giải Ngữ đến đầu Tống. Nếu không có nàng thì không đủ năm vị Ngũ âm làm sao phá trận được. Cũng nhờ hồng phước của thiên tử nên khiến nàng đến bảo giá.
Nói rồi liền truyền lệnh cho đòi Hoa Giải Ngữ vào.
Hoa Giải Ngữ là học trò của Tô Châu Thánh Mẫu, tài phép tinh thông lại có công giúp Diên Bình lấy huyết Đỗ Nữ, nên triều thần rất trọng dụng.
 Tống Thái Tổ thấy Hoa Giải Ngữ nhan sắc không nhường bốn nàng nữ tướng trước lại nghĩ Dương Diễn Bình chưa vợ, nên thuận cho đôi lứa kết duyên.
Vợ chồng Dương Diên Nghiệp nghe nói cũng mừng rỡ lạy tạ ơn vua. Hoa Giải Ngữ tuy được kết duyên song có vẻ e thẹn vì đã cùng Dương Diên Bình ân ái trước rồi.
Tống Thái Tổ thấy các tướng sai đi đều đem đồ về nộp đủ thì hỏi Tôn Tẩn định ngày phá trận.
Tôn Tẩn đã chọn được ngày chuyên giải, nên tâu với Thái Tổ hay và truyền lệnh các tướng đầu canh năm điểm binh tụ đến trước đài nghe lệnh.
Lời bàn
 Lẽ trời là quy luật thiên nhiên bắt mọi vật phải phục tùng.
 Thiên thần là thế giới tu hành, nhưng vẫn không ra ngoài định mệnh của vũ trụ mà phục vụ cho định mệnh của thiên nhiên giúp cho thiên nhiên biến chuyển đúng theo quy luật.
Định mệnh của vua nước Tống gồm thâu thiên hạ, nước Đường đến hồi diệt vong sự biến chuyển ấy tác động vào giới thần tiên, các vị tiên ông đả căn cứ vào định mệnh ấy của vũ trụ mà giúp Tống. Dư Hồng, Dư Triệu được Xích Mi lão tổ sai xuống, mục đích cũng chỉ để trừng phạt Tống Thái Tổ bất nghĩa giết cả trung thần mà thôi, không có ý cãi lại mệnh trời.
Ấy vậy, những kẻ không thông hiểu mệnh trời thì hay làm trái qui luật thiên nhiên, gây đau khổ cho xã hội loài người.
Lời xưa có nói: Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong, đó là quan niệm tùng thiên lý. Theo triết học Đông Phương mệnh trời tức là sự biến chuyển trong vũ trụ là bao trùm tất cả lẽ sống, đạo nghĩa làm người cũng không thoát ra khỏi quan niệm ấy.


0
Hồi Thứ Hai Mươi Lăm

Thần tiên hạ san phá trận
Yêu đạo sút thế mạng vong


Rạng ngày, Tôn chân nhân đến tướng đài nói:
- Tôi tài phép không bao nhiêu, bởi các vị đạo hữu ép hoài nên không lẽ từ chối. Nay đến ngày phá trận, xin các vị giúp sức giùm tôi cho tận tình.
Nói rồi bước lên tướng đài cầm một cây lệnh tiễn kêu lớn:
- Xin mời Trần đạo hữu đem Cao Hoài Đức, Phan Nhân Mỹ, Tào Bàn, Trương Quang Viễn, La Ngạn Oai lên đài lãnh lịnh.
Trần Đoàn và năm tướng già đồng vâng lệnh lên đài, Tôn chân nhân mới nói:
- Đạo hữu lãnh năm điệu phù này, đưa cho ngũ lão tướng gắt trong đầu tóc, kẻo vào trận bị yêu khí nó hớp hồn, rồi dẫn một ngàn năm trăm binh đều dùng cờ vàng, còn năm tướng thì đội kim khôi, mặc giáp vàng, cỡi ngựa đạm vào phá cửa phía Bắc, bởi màu vàng thuộc thổ, khắc màu đen thuộc thủy gọi là thổ khắc thủy. Năm tướng xông vô cửa phải chặt cây phướn của nó giết chết các thây ma chửa và thây ma câm, còn chủ tướng cửa ấy là lão Huyền Hổ, bởi nó là hồ ly thành tiên, nên phép tắc cao lắm phải đổ huyết vợ nó vào mình nó, ấy là dụng tà trừ tà thì giết nó mới được.
Huỳnh Thạch Công và năm tướng vâng lệnh xuống đàn.
Tôn chân nhân mời Lê Sơn Thánh Mẫu và Đào Tam Xuân, Triệu Hoàng Cô, Lý Thái Huê (Lý phu nhân), Dư Thoại Hoa (Dư Phu nhân), La phu nhân đều lên đài truyền rằng:
- Thánh mẫu lãnh năm điệu phù này đưa cho ngũ lão âm tướng, giắt vào tóc, kẻo vào trận bị yêu khí nó hớp hồn, rồi dẫn một ngàn năm trăm binh đều dùng cờ đen vào phá cửa phía Nam và năm tướng phải đội mũ sắt, mặc giáp đen, cỡi ngựa ô, bởi màu đen thuộc thủy khắc màu đỏ thuộc hỏa, gọi là thủy khắc hỏa. Năm tướng xông vô cửa phải chặt cây phướn của nó và giết chết các thây ma, còn chủ tướng trận ấy là con giả nhân thành tinh phải dùng óc chim ôn hoàng mà rải vào mình nó, thì nó biến hóa không đặng, vật ấy gọi là ôn hoàng sa, vì óc chim ôn hồn mạnh lắm, vấy nhằm mình yêu thú tức thì hiện nguyên hình, thời giết nó mới đặng.
Lê Sơn Thánh mẫu và năm tướng vâng lệnh xuống đài.
Tôn chân nhân lại mời kim Quang Thánh mẫu và Lưu Kim Đính, Tiêu Dẫn Phụng, Ngại Ngân Bình, Úc Sanh Hương, Hoa Giải Ngữ lên đài mà truyền rằng:
- Thánh mẫu lãnh năm điệu phù này, phát cho ngũ thiếu âm tướng giắt trên đầu tóc mà trị khí yêu rồi dẫn một ngàn năm trăm binh đều dùng cờ đỏ còn năm nàng ấy phải mặc áo điều, cưỡi ngựa hồng, vào phá cửa phía Tây, bởi màu đỏ thuộc hỏa, khắc màu trắng thuộc kim, gọi là hỏa khắc kim. Năm tướng xông vào cửa phải chặt cây phướn của nó, và giết chết các thây ma. Còn chủ tướng trận ấy là tinh bươm bướm, thần thông quảng đại chẳng phải tầm thường, phải rải Cao Đường thảo cho nó bị uế nhơ thì biến hóa không đặng, tức thì hiện nguyên hình rồi dùng trảm yêu kiểm mà chém nó.
Kim quang thánh mẫu và năm tướng đồng vâng lệnh xuống đài.
Lúc ấy, Tôn chân nhân mới nói:
- Còn cửa trung ương, Tử Hà Tiên trấn thủ, nguyên Tử Hà Tiên là Tiên hạc, tu ngàn năm hóa đặng hình người, nếu nó tu đôi ba năm nữa cũng thành chánh quả, nên phép tắc cao hơn các yêu tinh kia. Ta phải đem đầu Thập Linh và Định Phong Châu, dẫn một ngàn rưỡi binh mặc áo xanh cầm cờ xanh vào phá cửa trung ương mới đặng. Vì màu xanh thuộc mộc, khắc màu vàng thuộc thổ gọi là mộc khắc thổ. Năm đạo binh đồng phá một lượt, trận âm dương mới tan.
Tống Thái Tổ thấy Tôn chân nhân sửa soạn xuống đài thì bước tới nói:
- Chân nhân điểm các tướng hết thảy rồi, sao không đến quả nhân?
Tôn. chân nhân nói:
- Bệ hạ là Thiên tử, lẽ nào đến chốn hiểm nghèo làm chi?
Tống Thái Tổ nói:
- Khi trước trẫm cũng chinh chiến, từng ra trận giao công, nay giặc ở trước mặt, ấy là việc lợi hại cho tổ tông đến như các vị thần tiên còn đình việc thanh nhàn mà giúp trẫm thay, huống chi trẫm dám cậy đặng áo vàng mà không ra sức?
Tôn chân nhân nói:
- Bệ hạ có lòng lo việc nước như vậy song chẳng nên đem mình rồng vào trận nguy hiểm. Như bệ hạ muốn chia sự mệt nhọc với chúng tôi, xin nai nịt lên lầu, cầm dùi đánh trống; một là lợi oai chúng tướng, hai là mình rồng chấp lệnh mà ếm tế tà tinh, như vậy có ích lợi hơn cầm đao ra trận.
Tống Thái tổ mừng rỡ khen phải, liền nai nịt lên mặt thành thị sự.
Khi ấy năm vị tiên ông dẫn binh tướng vào phá trận âm dương một lượt. Vô đến trận thấy tối tăm mù mịt nghe những tiếng quỉ khóc thầm rên! Còn những vị chánh thần như Lý thiên vương, Na tra Nhị Lan hiển thánh là bậc thần thông quảng đại lẽ nào phò yêu mà diệt Tống, bởi Tử Hà Tiên dùng bùa chú theo phép mà triệu, cùng chẳng đã phải giáng hạ đó thôi. Nay thấy mấy vị đại tiên vào phá trận, thì các thần đều bỏ trận mà thăng thiên. Còn át sát hung thần cũng trốn hết. Trừ ra thây ma câm, thây ma chửa còn ở giữ trận mà thôi?
Dư Triệu biết thế không xong, liền độn thổ trốn trước. Còn năm vị yêu tiên bị vật ký biến hóa không đặng, đều chết hết cả năm .
 Tôn chân nhân truyền cho các tướng giết thây ma chửa, thây ma câm và đánh giết binh Đường chết thôi không biết bao nhiêu mà kể.
Khi phá trận rồi, vua Nam Đường thấy binh chết rất nhiều, nên truyền quân đào hầm dập lại.
Còn Tống Thái Tổ thấy trận âm dương bị phá tan nát, trong lòng mừng rỡ vô cùng truyền quân khai cửa thành nghinh tiếp binh tướng. Lại truyền dọn tiệc chạy đãi các vị thần tiên.
Tống Thái Tổ giã ơn nói:
- Các vị giúp trẫm tận lực, thật chẳng biết dùng vật chi mà đền đáp cho xứng công.
Các tiên nói:
- Trời đã định cho bệ hạ ra đời, tiếp tục Ngũ đại lẽ nào Nam Đường giữ đặng Kim Lăng. Bởi yêu tinh nghịch thiên nên phải bỏ mạng, ấy là hồng phước của bệ hạ, chúng tôi có công chi mà bệ hạ tạ ơn?
Khi mãn tiệc, các vị tiên kêu các đệ tử mà bảo rằng:
- Các con hãy trả bùa pháp lại, đặng thầy đem về động, vì từ đây đã hết việc chiến chinh bửu pháp không còn dụng nữa.
Các đệ tử đều trả bửu giáp lại cho thầy.
Lưu Kim Đính thưa:
- Khi phá trận rồi, tôi không thấy Dư Triệu, chắc nó chạy thoắt sau chắc báo cừu.
Tôn chân nhân nói:
Ta cũng nghĩ tới việc ấy, nên có vẽ họa đồ trận Ngũ lôi, e vậy ta cho ngươi hãy xem đó mà lập trận. Nếu Dư Triệu không đến thì thôi bằng nó cự địch nữa, thì lập trận Ngũ lơi trừ nó.
 Lưu Kim Đính lạy tạ và lãnh trận đồ.
Các tiên từ giã Thái Tổ. Tống Thái Tổ nói:
- Xin các vị thượng tiên ở lại với trẫm một đôi ngày, trẫm rót hầu tiệc ít lần, kẻo lòng chưa thỏa.
Trần Đoàn nói:
- Bệ hạ nói bấy lời cũng đủ thấy có tính hậu đãi. Chúng tôi đều cảm ơn. Song chúng tôi không muốn ở lâu giữa chốn chiến chinh. Từ nay sắp sau bệ hạ vô sự, xin đừng lo mà mệt lòng rồng. Nay tuy chúng tôi lui về, song cũng còn ngày gặp gỡ nữa.
Tống Thái Tổ thấy cầm lòng không đặng, liền theo đưa khỏi cửa thành. Các đệ tử cũng theo lạy đưa. Năm tiên đằng vân bay về động. Đoạn Tống Thái Tổ phán:
- Mới phá trận, tướng binh còn mệt, trẫm cho nghỉ ba ngày, rồi sẽ kéo tới vây thành bắt Lý Cảnh, ráng tận tâm một phen rồi khải tấu ban sư .
Bữa sau, quân vào báo với Tống Thái Tổ:
- Chúng tôi thấy Dư Triệu vào ải Thanh Lưu.
Tống Thái Tổ phán:
- Nay Dư Triệu đã trở lại, chắc nó đi viện yêu đạo nữa, bận này khó nỗi cầu các tiên xuống đây mà bắt nó, biết tính làm sao?
Lưu Kim Đmh tâu:
- Khi Tôn chân nhân gần về có cho tôi họa đồ trận Ngũ lôi nếu Dư Triệu đến đây thì lập trận ấy mà bắt nó. Nay nó còn trở lại chắc chạy không khỏi số trời.
Tống Thái Tổ phán:
- Tà lẽ nào thắng chánh, đốn cây cũng nên bứng rễ mới khỏi hậu hoạn về sau!
 Lưu Kim Đính vâng chỉ.
Về bên Nam Đường trận bị phá, binh chết hơn mười muôn, năm vị yêu tiên đều chết tuyệt. Vua Nam Đường thấy còn ít vạn binh và quân sĩ lão nhược, cả ngàn tướng cạnh chết hết phân nửa, tính bề cự không lại Tống thì ăn năn than:
- Phải chi đầu hàng trước thì bây giờ đã an. Nay lỡ quá rồi, sợ đầu hàng Tống không chịu. Chi bằng lạy tông miếu, giết hết vợ con, rồi mình cũng tự vận cho xong, kẻo bị Tống bắt về làm nhục.
Bá quan thấy vua tính như vậy đồng can hết lời, song vua Nam Đường không chịu nghe.
Vua Nam Đường tính liều mình kế Dư Triệu về ải, nghe việc ấy liền can rằng:
- Bệ hạ không sợ chết, thì đánh liều một trận họa may, lẽ nào liều mình mà giao nước cho giặc! Vả lại bị trận này là bị năm thầy nó xuống giúp Tống đánh Đường. Chúng nó có thầy trợ lực tôi lại không thầy hay sao? Bấy lâu tôi không về núi mà thỉnh thầy là sợ thầy tôi quở sao chẳng bảo Dư Hồng sư huynh về núi. Nay bại trận này, đạo hữu chết nhiều lắm, cừu này trả không đặng thì khó ngủ khó ăn. Tôi phen này quyết đánh liều về lạy thầy xuống, dầu bị quở phạt cũng an tâm. Nếu thầy tôi xuống giúp Đường, chẳng những Kim Đính, Phùng Mậu chết hết mà thôi, dầu Tôn Tẩn, Trần Đoàn, Huỳnh Thạch Công, Lê Sơn Thánh mẫu, Kim Quang Thánh mẫu cũng chịu phục và xin lỗi nữa!
Vua Nam Đường lúc cùng trí nghe Dư Triệu nói mạnh mẽ như vậy cũng muốn cầu may, nên y lời lo đánh nữa. Còn Dư Triệu lén qua thám thính, rõ các việc bên Tống nên tâu:
- Năm vị đại tiên đã thâu phép các học trò về động, như vậy là Kim Đính với Phùng Mậu đã hết phép, sá chi binh tướng Tống là phàm phu, chẳng đi thỉnh thầy tôi làm chi, một mình tôi báo cừu cũng đặng!
Chúa tôi nam Đường nghe rõ, hết khóc liền cười. Vua Nam Đường phán:
- Tiêu Dẫn Phụng, Ngại Ngân Bình và Úc Sanh Hương, cha mẹ chúng nó là người nước Nam Đường, chẳng biết tại sao chúng nó lấy tướng Tống mà làm phản triều đình. Bấy lâu trẫm muốn giết cha mẹ chúng nó cho rõ tội phản thần, song ngại một điều ba đứa ấy là học trò của Thánh mẫu phép lực cao cường nếu giết cha mẹ nó, ắt là nó báo cừu cho đã giận. Nay chúng nó đã bị thầy thâu phép, khỏi lo việc báo thù vậy trẫm truyền chỉ đòi Tiêu Thăng, Úc Thoại về triều, giả thương nghị việc nước, tôi sẽ phục binh mà giết phứt đi, mặt khác lại sai một ngàn binh đến Ngại gia trang giết cho tuyệt tộc họ Ngại.
Các quan đồng nói phải, rồi y theo kế mà làm.
Tiêu Thăng, Úc Thoại thật tình vâng chỉ mà về trìều bị ba trăm đạo quân mai phục áp ta giết chết. Còn nội nhà cha Ngại Ngân Bình bị tướng bình tỏi vây giết không còn một mạng rồi nổi lửa đất nhà, lửa cháy hai ngày mới tắc. Thảm thay!
Đoạn vua Nam Đường cho triệu binh các ải về, cộng hơn mười vạn, đều giao cho Dư Triệu cầm quyền Còn vua Nam Đường cứ uống rượu giải buồn.
Ngày kia, Dư Triệu dẫn hai vạn binh đi khiêu chiến. Quân về báo lại thì năm tướng nhỏ quyết ra cự chiến.
Lúa Kim Đính can:
- Chẳng nên nóng nãy mà hư việc, hãy nán đợi trong ba ngày, như nó hồi tâm thời thôi, bằng khiêu chiến luôn luôn sẽ tính
Các tướng cũng y lời.
Dư Triệu khiêu chiến hơn nửa ngày không thấy tướng nào ra trận, bữa sau khiêu chiến một ngày nữa cũng không ai ra, bữa thứ ba mắng nhiếc cũng trơ trơ. Dư Triệu nổi giận cho phá thành, bị đổ nước sôi và lăn đá. Binh Nam Đường bị bệnh cũng nhiều, lại thêm cung ná bắn xuống nữa. Dư Triệu túng phải lui binh, nín một ngày không khiêu chiến nữa.
Khi ấy Lưu Kim Đính liền ngẫm nghĩ:
- Có lẽ nào Dư Triệu biết ăn năn mà không đánh nữa? Bất quá phá thành không nổi nên về đỡ đó thôi. Chắc ngày khác cũng khiêu chiến, lẽ nào mình bế thành hoài? Ấy là nó tới số, chừng nào chết mới thôi khiêu chiến.
Nghĩ rồi Kìm Đính lấy họa đồ Ngũ lôi trận ra xem, lời dặn bảo rõ ràng. Tức thì Kìm Đính sai Phùng Mậu đem binh qua phía Đông Nam gần kẹt núi, chọn chỗ đất bằng phẳng, đào một cái hầm vuông vức ba trượng, sau năm thước đổ thuốc súng cho đầy, để lá bùa dằn trên mặt rồi lấp đất lại trên mặt đất trồng cây tre như chữ thập, gọi là trận Ngũ lôi. Phùng Mậu vâng lệnh đi lập tức.
Lưu Kim Đính sai Trịnh Ấn đem năm ngàn binh mai phục ngoài trận sau núi, bắn xuống trận Ngũ lôi. Trịnh Ấn vâng lệnh đi nữa.
Lưu Kim Đính lại sai Cao Quân Bảo chọn năm tên lính già yếu tàn tật, đội kim khôi, mặc thiết giáp, giả làm dũng tướng đi du lịch. Cao Quân Bảo y lời.
Khi Lưu Kim Đính sai cắt xong rồi liền tám gội thay áo mới lấy năm lá phù của Tôn chân nhân để lại đến trận Ngũ lôi, dán phù treo ngọn tre rồi niệm chú thâu lôi, tức thì sấm nổ vang tai. Lưu Kim Đính trở về sai Cao Quân Bảo đi khiêu chiến, và dặn phải lời nói khích luôn luôn. Lại truyền cho năm tương già yếu tàn tật, dẫn hai mươi tên lính chưa rõ ốm o, vây chung quanh trận ấy. Rồi truyền cho năm ngàn binh mai phục ngoài thành, đợi Dư Triệu vào trận rồi sẽ áp tới vây phủ.
Còn Cao Quân Bảo đơn thân độc mã đến ải Thanh Lưu khiêu chiến: Dư Triệu cỡi ngựa ra trận, Cao Quân Bảo nói:
 - Nay ta chẳng đấu lực, nên chẳng đem binh. Bởi trước ngươi lập trận đã bị năm vị tiên sư phá rồi, giết chết hết, Nam Đường hao binh tướng cũng nhiều, đáng lẽ ngươi biết hổ thẹn, mình trốn về non bên tu luyện cũng phải. Sao còn đem binh khiêu chiến, quyết việc đua tranh, nay nữ tướng lập trận lạ, ngươi đến xem mà cắt nghĩa phép phá trận ấy ra thể nào. Nếu ngươi cắt nghĩa được ta sẽ không đánh Nam Đường nữa. Bằng ngươi biết mình phá không nổi thì lui về cho mau.
Dư Triệu nói:
- Ngươi đã lập thì phá đặng, lẽ nào không dám đi coi?
Cao Quân Bảo thấy Dư Triệu đi, liền chạy về báo tin với Lưu Kim Đính.
Lưu Kim Đính nghe nói, liền giục ngựa ra trận. Kế Dư Triệu cỡi ngựa đến. Lưu Kim Đình chỉ trận mà nói rằng:
- Nếu người dám vào trận ba lần, thì ta về tâu xin vua bãi binh, nhượng đất Nam Đường cho Lý Cảnh. Bằng ngươi không dám thì lui về cho mau, dưng gánh việc trần, mà báo đời thiên hạ.
Dư Triệu ngó thấy trận xơ bơ, có năm tướng già và hai mươi người lính tật nguyền thủ trận coi không thấy hào quang và thần tướng chỉ có trên ngọn tre nhẹ nhàng hơi lửa, bèn nghĩ:
- Chắc là Kim Đính dùng lửa đốt binh mình, mà mình chẳng đem binh, nó đốt minh sao đặng? Bề gì độn ra cũng khỏi, nhắm chẳng hề cho. Chắc là Lưu kim Đính hết phép rồi nên lập trận hồ nghi mà gạt cho mình về núi, cũng như Khổng Minh dụng trí đờn cầm, ấy là làm túng mà gạt Tư Mã ý. Ta cũng nên vào trận cho chúng hết hồn, rọi phun lửa đốt cả bầy cho bỏ ghét?
Nghĩ rồi Dư Triệu nói lớn rằng:
- Kim Đính, ngươi lập cái trận lôi thôi như vậy, chẳng những ta vào ba lần, dầu vô ra ba chục thứ cũng chẳng khó gì?
Lưu Kim Đính làm bộ thất sắc nói cách yếu ớt:
- Xin hãy suy xét rồi sẽ vào, kẻo thất đanh và uổng mạng!
Dư Triệu nghe nói càng mạnh mẽ mười phần.
Dư Triệu cầm song kiếm giục ngựa vào trận. Năm tướng già và hai mươi người lính tàn tật vây phủ đánh liền. Dư Triệu đánh chúng nó ngã lăn, liền xông vào trận giữa. Lưu Kim đính phát pháo, năm ngàn phục binh áp tới vây phủ ngoài xa, còn Cao Quân Bảo ở ngoài tuần vãng. Trịnh Ấn nghe hiệu lệnh dẫn binh pháo thủ lên núi, bắn xuống như mưa, tên bay tơi bời.
Lưu Kim Dính niệm chú và đánh lôi quyết năm vị lôi công nổi sét ầm ầm. Dư Triệu thất kinh đằng vân bay lên thì bị lôi công đánh ngã xuống. Dư Triệu tính bề độn thổ, ngặt đất đã cứng như đồng, túng phải nhảy vào trung ương mà độn hỏa, chẳng ngờ tứ bề có thiên la địa võng, không ngõ thoát thân, bị ngũ lôi đánh chết bay hơi tanh khét vô cùng. Năm tướng già và hai mươi người lính tàn tật cũng bị thuốc súng mà chết.
Lời Bàn.
Nếu kẻ phô trương tài năng để đe dọa thiên hạ thì cũng có kẻ làm ra cách không hiểu biết để chiến thắng kẻ tự cao tự phụ.
Dư Triệu lập trận âm dương, vận dụng hết khả năng của mình để làm cho tướng Tống sợ hãi, các vị tiên phục tùng, thì trái lại Tôn Tẫn chỉ lập một trận sơ sài, tưởng như kẻ không biết gì về trận pháp. Như Dư Triệu phải bỏ mình vì vào cái trận sơ sài ấy, chứng tỏ Dư Triệu là người tự cao tự đại không lường được tài năng của kẻ khác và không rõ sự dốt nát của mình.
Trong cuộc sống đời người, kẻ nào không hiểu được cái dốt nát của mình, thường khinh bỉ việc làm của kẻ khác, cuối cùng, họ đã bị kẻ khác lợi dụng cái dốt nát của kẻ tự cao tự phụ để chiến thắng.
Ấy vậy cái khôn không phải đem sự hiểu biết của mình khoe khoang, mà chính là làm cho họ không thấy sự hiểu biết của mình.


0
Hồi Thứ Hai Mươi Sáu
 
Nam Đường sa cơ đầu Tống
Thái Tổ thương tướng phong thần


Khi Dư Triệu bị thiên lôi đánh chết, hiện nguyên hình là con quạ lửa cháy thành than? Lưu Kim Đính niệm chú thâu lôi, mấy vị Lôi thần lui hết.
Lưu Kim Đính sợ vua Nam Đường hay tin, trốn qua ải khác, mất công truy nã lâu ngày, chi bằng xuất kỳ bất ý mà phá thành thì khỏi lo hậu hoạn. Tức thì Kim Dính về điểm binh tướng, nổi đèn đuốc đì ban đêm, đến vậy phủ ải Thanh Lưu, hãm thành một lượt Năm tướng già nhảy lên thành, chém binh giữ cửa rồi mở cửa ải cho binh tướng Tống kéo vào.
Trong lúc ấy vua Nam Đường đang uống rượu với các thê thiếp không hay giặc đã vào thành. Cao Quân Bảo và Lưu Kim Đính xông vào bắt vua Nam Đường trói lại. Hoàng hậu và bốn mươi quí phi đều quì lạy xin dung cho họ toàn tánh mạng. Lưu Kim Đính y lời, truyền đóng cửa cung không cho binh vào phá hại rồi đem vua Nam Đường vào thành về đến nơi thì trời đã sáng.
Rạng ngày Kim Đính cho vua Nam Đường đến trình Thái Tổ. Tống Thái Tổ liền xá tội truyền quân mở trói.
Vua Nam Đường lạy tạ ơn khóc và tâu:
- Tôi bị các tướng võ đốc vô, và yêu đạo khoe tài ép trí, nên mắc tội với bệ hạ đã nhiều. Nay tôi đã ăn năn chừa lỗi, xin bệ hạ mở lượng trời đất mà rộng dung ơn tôi giữ theo đạo thần tử đời đời chẳng hề dám quên ơn mà làm phản.
Ban đầu Tống Thái Tổ còn nóng giận chẳng chịu cho đầu hàng, sau thấy vua Nam Đường năn nỉ hết lời, khóc lạy đủ lễ, nên động lòng thương, phong vua Nam Đường là Thuận nam vương, trấn thủ đất Kim Lăng như cũ, và cho tướng quân bảo hộ nhiều người, phòng ngày sau có sự biến cải!
 Từ ấy sắp sau, thiên hạ đều về Tống. Nam Đường không dám trả lòng phản phúc nữa.
Tống Thái Tổ hồi tâm, rất thương các tướng, vì bị vây đã ba năm dư, nay mới đặng Nam Đường gom về một mối, nên truyền dọn tiệc khao binh thưởng tướng rồi sẽ ban sư đặng các tướng thăm nhà thăm cửa.
Đoạn Miêu quân sư liền xin vua trao bảng an dân kẻo thiên hạ sanh sự. Tống Thái Tổ y tấu.
Miêu quân sư đặt bảng tịnh dân yết khắp nơi, dân nước Nam Đường đều kính phục, không có ý báo oán trả cừu.
Khi ấy Tiêu Dẫn Phụng, Úc Sanh Hương, Ngại Ngân Bình, ba nàng vào ải Thanh Lưu, có ý tìm cha mà không gặp, tìm về nhà thấy nhà cửa tan hoang! Ba nàng than khóc một lúc thì có người gia tướng cũ chạy đến thuật lại chuyện trước sau. Ba nàng mới rõ vì mình mà gia quyến bị tru di.
Ba nàng trở về Thọ Châu tâu với vua Thái Tổ, kẻ rõ nỗi thảm khổ cho chồng hay. Tống Thái Tổ nghĩ công lao ba nàng vì đầu Tống mà cả nhà bị hại nên truyền dán cáo thị khắp nơi, nếu ai tìm được hài cốt cha của ba nàng thì được thưởng ngàn lượng bạc.
Chỉ ba bữa sau, có ba người đến lãnh bảng, và kể nguyên do:
- Thây Tiêu Thang nhờ người bạn học chôn lén. Thây Úc Thoại nhờ vị quan già chôn lén Thây Ngại lão gia nhờ người giữ vườn chôn lén. - Bởi ba người ấy chết rất thảm thiết nên những kẻ chôn lén xót thương mà không sợ tội.
Ba nàng đồng lạy tạ ơn và đi tìm ân nhân để trả nghĩa, rồi chọn ngày dời đến chỗ đất tốt để mai táng .
 Đến ngày đi táng, Tống Thái Tổ dẫn các quan văn võ đến điếu tế. Thiên hạ đến coi rất đông ai cũng khen:
- Cũng thời cái chết, mà ba ông này có phước lớn mới được Thiên tử và bá quan đi điếu.
Vua Thái Tổ còn xuất bạc vàng cất ngôi mộ cao lớn, cấp cho họ Ngại, họ Úc, họ Tiêu một số làm hương hỏa phụng sự ba vị tướng quân.
 Lưu Kim Đính tâu:
- Tôi lập trận Ngũ Lôi, hao hết hai mươi tám người già bệnh, ấy cũng vì việc nước mà bỏ mình, vậy xin bệ hạ rước pháp sư cầu siêu cho hồn đặng tiêu diêu mới khỏi mang tội.
Tống Thái Tổ y tấu, sai Phùng Mậu đi rước pháp sư.
Pháp sư đến lập đàn cầu hồn chín ngày đêm, rồi từ tạ Tống Thái Tổ về núi.
Lời Bàn
Không vì những lỗi nhỏ nhặt mà trả thù bằng những lỗi lầm lẫn.
Tống Thái Tổ chỉ giết lầm một trung thần trung tín, mà Xích Mi lão tổ sai Dư Hồng, Dư Triệu xuống giúp Đường phạt Tống trong một thời gian. Thời gian ấy việc chiến tranh xảy ra hao tốn biết bao nhiêu. Xét về lẽ công bằng thì sự trừng phạt ấy không gọi là xứng đáng. Vua Tống chỉ giết một ngườì còn Xích Mi lão tổ giết cả hàng vạn người thì ai phạt Xích Mi lão tổ. Đây là một câu chuyện thần thoại trong lịch sử mà người xưa đặt ra để cấu tạo thành cốt truyện, mà người đời sau nên để ý một câu chuyện huyền hoặc ấy không có gì là công bằng.
 Có phải vua Tống là người phàm tục, nên bị tội giết người còn Xích Mi lão tổ là bậc thần tiên, không phạm tội ấy chăng?

 
0
Hồi Thứ Hai Mươi Bảy
 
Bởi nằm mộng. Kim Đính bâng khuâng,
Nghe đệ tử, Xích Mi giáng hạ


Tống Thái Tổ chọn ngày ban sư, Lưu Kim đính đứng chầu, bỗng rùng mình, nhớ lại điềm mộng đêm qua, không biết cha già mạnh yếu ra sao, lòng thấy bồi hồi, liền thưa với Miêu quân sư:
- Đêm hôm qua tôi nằm mộng, không biết điều hung kiết thế nào, xin quân sư làm ơn bói cho một quẻ.
Miêu quân sư đặt bàn hương án, xử quẻ, rồi đoán:
- Cứ theo quẻ này, thì hão phụ mẫu vẫn bình yên, duy có việc bản thân hình không sáng sủa mà thôi. Song tôi xét lại phu nhân thuận lẽ trời, giết kẻ nghịch, lẽ nào ma quỷ dám hại mình? Trong quẻ nay có quí nhân phò hộ, không đến tai hại mà lo.
Lưu Kim Đính nghĩ thầm:
- Trước đây mình giết Dư Hồng, sau trừ Dư Triệu, chắc là Xích Mi lão tổ xuống báo cừu cho học trò. Nay quân sư đoán quẻ như vậy e ta bị lâm nạn chăng?
Miêu quân sư thấy Lưu Kim Đính nghĩ ngợi, liền nói:
- Ba ngày nữa thì có họa, song có năm vị sao giải cứu, phu nhân gặp dữ cũng hóa lành.
Lưu Kim Đính thây quân sư thuở nay đoán vẻ linh nghiệm nên cũng bớt lo đánh liều tới đâu hay tới đó.
Bấy giờ Dư Triệu bị trận Ngũ Lôi xuất hồn bay về núi. Thể Vân đồng tử hỏi:
- Có phải Dư Triệu sư huynh đó không? Sao tôi coi sắc diện khác thường, không phải như xưa.
Hồn Dư Triệu nói:
- Nay ta hiện hình về thăm thầy và thưa một chuyện.
Thể Vân đồng tử vào báo lại. Xích Mi lão tổ cho đòi vào. Dư Triệu bước tới quì trước mặt thầy vừa lạy vừa khóc kể lể mọi việc.
Xích Mi lão tổ nửa thương nửa giận:
 - Ngươi đã chẳng kêu Dư Hồng về thì thôi, sao lại giúp nó làm điều trái lẽ? Hai đứa bay chết về nghiệp đao binh là tự định hại lấy mình, còn than khóc nỗi gì?
Nay tôi vè đây có ý xin thầy răn chúng nó một phen, nếu không thì sau chúng nó còn làm những việc khinh dễ đến thầy nữa.
Xích Mi lão tổ nghe Dư Triệu nói nổi giận mắng:
- Lũ trẻ này dám khi dễ ta quá lẽ. Mấy vị thầy nó lại binh đệ tử không vị tình ta. Dư Triệu, hãy theo ta xuống Thọ Châu một chuyến.
Nói xong Xích Mi lão tổ dẫn hồn Dư Triệu xuống Thọ Châu, rũ tay áo một cái thì trời đất tối tăm. Tống Thái Tổ đang chọn ngày ban sư không hiểu vì sao mà trời ban ngày lại tối như ban đêm, giây phút giông tố ầm ầm, thành Thọ Châu rung rinh như chiếc ghe dậy sóng.
Ai nấy đều kinh hãi, Miêu quân sư đánh tay rồi tâu:
- Ấy là Xích Mi lão tổ giáng hạ, có ý quở trách chúa tôi, xin bệ hạ dẫn võ ra thành thấp hương bái lạy.
Tống Thái Tổ y tấu, lập bàn hương án vái rằng:
- Tôi là Đại Tống có tội xin cao tiên dạy bảo và làm tội một mình tôi, kẻo nội thành liên lụy.
Xích Mi lão tổ thấy vậy liền vén tay áo, tức thì thành vách hết xao động nắng trở lại như thường
Xích Mi lão tổ tiên hiện hình, vòng tay bái Thái Tổ và nói:
- Bởi các con a hoàn ấy nhục mạ ta, nên nay ta xuống xem pháp thuật chúng nó ra thế nào?
Tống Thái Tổ nói:
- Điều ấy là Dư Triệu nói gian, thiệt tình không có ai dám khinh dễ cao tiên.
Năm nàng nữ tướng cũng quì lạy Xích Mi lão tổ và thưa:
- Xin sư bá xét lại, kẻo oan chúng tôi lắm.
 Xích Mi lão tổ nổi giận mắng:
- Chúng bay là những đứa bất hiếu, vì tình duyên chồng vợ mà sát hại mẹ cha, chẳng bằng loài cầm thú. Đã vậy còn dám cả gan giết hại đệ tử của ta. Hãy mau trả gươm linh và sách báu lại đây, rồi tự cắt đầu mà đền mạng. Nếu không vâng lời, ta sẽ làm thành Thọ Châu nát như tro bụi.
Tống Thái Tổ lạy lục xin tha. Xích Mi lão tổ nói:
 - Lưu Kim Đính giết học trò ta, vì học trò ta kình địch với nó, thì tội ấy cũng rộng dung, song cái tội giả danh ta mà gạt Dư Hồng thì sỉ nhục ta lắm, không thể tha thứ. Ta phải trị tội phạm thượng cho năm đứa ấy phải chết mà thôi.
Lời Bàn
Lời nói của kẻ có quyền thế bao giờ cũng nguy hiểm hơn một kẻ bình thường.
Xích Mi lão tổ sai Dư Hồng, Dư Triệu xuống giúp Đường phạt Tống, thì trong chiến tranh ai cao mưu túc trí thì đoạt thắng lợi. Trong chiến đấu, không ai cấm dùng mưu kế nào, miễn mưu kế ấy có thể thắng được kẻ địch.
Xích Mi lão tổ bắt tội Lưu Kim Đính giả hình mình, phạt Dư Hồng, thì đó chẳng qua là Dư Hông thua trí Lưu Kim Đính mà thôi, đâu phải hành động phạm thượng, khinh Xích Mi lão tổ.
Lời khiển trách của Xích Mi lão tổ, chẳng qua la lời nói của kẻ trưởng thượng với kẻ nhỏ hơn mình. Dù vậy, kẻ có quyền lực khi nói ra một lời làm cho người khác yếu thế hơn phải sợ hãi.
Trong xã hội loài người cũng thế, lời nói của kẻ có chức quyền bao giờ cũng quan trọng. Lời xưa có nói: Lời nói của kẻ mạnh bao giờ cũng là lẽ phải.

 
0
Hồi Thứ Hai Mươi Tám
 
Xích Mi xuống núi phạt Ngũ âm Tinh,
Trần Đoàn viện tiên nữ cứu nữ tướng.


Lưu Kiến Đính thấy Thái Tổ năn nỉ hết tiếng mà Xích Mi lão tổ cũng không nghe. Lưu Kim Đính lấy làm lạ, vì một mình làm tội mà liên lụy đến mấy chị em, muốn cãi lẽ một đôi lời, song sư bá nổi sùng thì chắc cả thành chết hết. Nghĩ rồi kim Đính quì lạy nói:
- Xin sư bá rộng dung cho các đệ tử ba ngày về từ gia quyến thuộc rồi sẽ đem nạp sách và gươm, và uống độc dược mà chết. Xin sư bá mở lòng từ bi cho sống thừa ba bữa, chúng tôi sau dầu thác cũng đội ơn.
Nói rồi đồng lạy.
Tống Thái Tồ cũng lau nước mắt mà nói giùm. Xích Mi lão tổ chưa nguôi, chịu cho ba ngày chớ không đặng quá hạn, rồi liền đằng vân về động.
Dư Triệu mừng sẽ giết đặng Kim Đính, trả chút tư cừu, song còn tức một điều vì giết Phùng Mậu không đặng.
Khi ấy Cao Quân Bảo, Cao Quân Bội, Trịnh Ấn, Phùng Mậu, Dương Diên Bình thấy vợ bị mắng nhiếc đều tức mình, song biết đánh chẳng lại Xích Mi nên không dám cự. Sau khi Lưu Kim Đính hẹn ba ngày uống thuốc độc tự vận thì Xích Mi lão tổ mới chịu về, năm tướng đều ôm vợ mà khóc. Tống Thái Tổ với bá quan vãn võ cũng mủi lòng rơi lụy oán Xích Mi lão tổ vô cùng.
Còn Lưu Kim Đính khóc mà nói:
- Bởi tôi quyết dẹp cho đặng Nam Đường, cùng chẳng đã mới giết Dư Hồng và Dư Triệu, nay sư bá xuống làm tội như vậy cầu khẩn cũng không đặng, chắc nội ba ngày tôi phải chết. Xin tướng quân nghĩ tình phu phụ, một ngày cũng tiếng vợ chồng, nuôi dưỡng giùm cha thiếp, hoạ may thiếp khỏi tội bất hiếu. Sau lang quân có chọn đặng người hiền đức cũng tốt, bằng không xin dùng đỡ bốn con tỷ tất ấy làm hầu, chẳng nên sầu thảm vì tôi mà sanh bệnh hoạn.
Cao Quân Bảo nghe trối, gục mặt khóc hoài.
Bốn vợ chồng kia cũng ôm nhau mà khóc, đều than rằng vô tội mà thác oan. Lưu Kim Đính thấy vậy can rằng:
- Một mình tôi làm, thì một mình tôi chịu tội, lẽ nào liên lụy tới chị em! Để ba ngày tôi trả sách trả gươm, sẽ thưa như vậy bề nào cũng chết, nói cho rành mà chết cũng rạng danh, lẽ nào sư bá vì Dư Triệu, Dư Hồng mà giết tới năm mạng?
Nói về Trần Đoàn lão tổ đánh tay biết ngũ âm tướng mắc nạn, bởi Dư Triệu nói khích nên Xích Mi xuống Thọ Châu, e các nữ tướng nói lỡ lời bị Xích Mi giết chết hết, chi bằng hội chư tiên đi khuyên giải mới xong. Nghĩ rồi Trần Đoàn mới ra khỏi núi Hoa Sơn thì gặp Huỳnh Thạch Công và Tôn Tẩn, cũng thương nghị đi hoà giải. Chẳng ngờ đi nửa đường lại gặp Lê Sơn Thánh mẫu, các tiên ông gặp nhau mới hỏi rằng:
- Mấy vị Thánh mẫu đi đâu đó vậy?
Các Thánh mẫu nói:
- Đệ tử chúng tôi mắc nạn dưới thành Thọ Châu, nên chúng tôi xuống cứu.
Các tiên ông nói:
- Chúng tôi cũng vì các vị hiền đồ hàm oan, nên xuống Thọ Châu nói giúp.
Các vị Thánh mẫu cám ơn rồi đằng vân bay xuống.
Nói về năm nàng thấy hào quang chiếu sáng trời, đồng bước ra xem thử, thấy chư tiên và các thánh mẫu giáng hạ, trong lòng mừng rỡ mười phần, đồng làm lễ rước vào thành Thọ Châu. Chúa tôi mừng rỡ nghinh tiếp.
Năm nàng ấy lạy các thánh mẫu, khóc và thưa :
- Sư bá tin lời Dư Triệu thưa dối nên xuống đòi giết chị em tôi. Chúng tôi xin lại ba ngày sẽ uống thuốc độc mà tự vận. Nay thầy xuống xin nhờ cứu đệ tử một phen!
Các thánh mẫu khuyên:
- Có thầy và mấy vị tiên ông đến đây, không can chi mà sợ. Bề nào có các thánh mẫu cũng bình an.
Các đệ tử đồng lạy tạ ơn. Năm người chồng cũng mừng rỡ.
Khi ấy Tống Thái Tổ phán hỏi:
- Chẳng hay các vị tiên sư, thánh mẫu sẽ lấy lời khuyên giải Xích Mi lão tổ cho hết giận hay là phải đụng đao binh?
Trần Đoàn tâu:
- Lý Cảnh đã đầu hàng, thì hết việc chinh chiến. Còn chuyện này lấy lời phải quấy khuyên giải mà thôi. Để mai chúng tôi đến khuyên giải một đôi lời, đặng bệ hạ ban sư về nước.
Tống Thái Tổ mừng rỡ phán:
- Chư tiên và thánh mẫu gián can, chắc lão tổ cũng vị tình dung thứ.
Các đệ tử cầu mấy vị ra sức nói giùm. Huỳnh Thạch Công nói với Tôn Chân Nhân:
Đạo hửu phải đến thiên cung, nói với Tống Sánh Tư Mã rằng các nữ tướng vâng chỉ đầu thaí thánh Đường phò Tống, nay Xích Mi ép phải tử vận mà thường mạng cho học trò, xin Tư Mã khuyên giùm thì xong việc.
Tôn chân nhân y lời đằng vân đến dinh Tống sanh Tư Mã.
Tống sanh Tư Mã mừng rỡ hỏi thăm có chuyện chỉ? Tôn chân nhân thuật hết các việc.
Tống sánh Tư Mã nói:
- Ngũ âm tinh vâng lệnh đầu thai, phò Tống đoạt Đường gom về một mối, còn các yêu đạo nghịch trời thì chết ấy lẽ thường! Xích Mi là một vị đại tiên, lẽ nào không rành sự ấy? Sao lại binh học trò quyết làm cho cạn nước thấy cá, chẳng để chút ơn riêng? Thôi, chuyện này tôi chẳng tâu trình làm gì, bây giờ tôi đi với các ông đến khuyên giải Xích Mi lão tổ, chừng nào nói không linh, sẽ tâu với Thượng Đế xử phân, coi Xích Mi cải lẽ làm sao cho biết!
Tôn chân nhân nói phải, rồi đằng vân đến thành Thọ Châu.
Các vị tiên ông và các vị thánh mẫu thấy Tống sanh Tư mã giáng hạ thì mừng rỡ vô cùng đồng thương nghị qua kim ngao đảo. Phùng Mậu, Lưu Kim Đính cũng đem gươm ôm sách theo sau, còn Xích Mi lão tổ thấy chư viên và các thánh mẫu đến biết là xin tội cho học trò, nên trong lòng chẳng đẹp song vị tình chào hỏi gọi là.
Xlch Mi mời Tống Sanh Tư Mã ngồi trước và hỏi:
- Chẳng hay tôn thần và chư tiên đến tôi có dạy chuyện chi?
Trần Đoàn thưa:
 - Chúng tôi vì sự các học trò phạm tội với đại tiên nên đến cầu xin ân xá.
Xích Mi lão tổ tỏ sắc buồn và đáp:
- Tôi chẳng phải kiếm cớ mà quở phạt hiền đồ. Bởi nó làm lộng quá dám giả mạo hình tôi, gạt bắt Dư Hồng mà giết, nên tôi phạt tội ấy mà thôi!
Tôn chân vân nói:
- Luận tội Kim Đính dám giả hình sư bá thì xử tử đã đành song còn chỗ này có lẽ chết đặng, vì khi trước khi bắt đặng Dư Hồng tức thì tha về, chẳng hề làm hại. Sau Dư Hồng không chịu về núi cứ phò Đường đánh Tống lại viện thêm Dư triệu xuống rải độc mà hại cả thành. Bấy nhiêu cớ ấy Tống Thái Tổ quở Lưu Kim Đính vì tha tội Dư Hồng mới mọc thêm Dư Triệu. Kim Đính tính bề khó bắt, túng phải mạo hình, là tại thế bất đắc dĩ. Còn Dư Triệu bắt rồi tha về sau cũng viện yêu tiên lập trận, đến nỗi chúng tôi phải xuống phá trận, nó trốn rồi cũng trở về. Đường cứ đem binh khiêu chiến mãi .Nếu kim Đính không giết Dư Triệu, làm sao lấy đặng Nam Đường? Xin đại tiên xét suy thứ tội.
 Tống sanh Tư Mã thấy Xích Mi còn hơi giận mới lấy bức Thánh thế hồng đồ trong tay áo rộng trải ra giữa ghế đá mà nói:
- Xin lão tiên xem bức đồ này, vẽ có thứ lớp. Từ khi Ngũ âm tinh đầu thai cho đến lớp vần duyên giúp Tống có lớp giết tướng nghịch, có lớp trừ yêu đạo rõ ràng. Ấy là trời định trước khi đầu thai, chẳng phải tại người sinh sự.
Không phải Xích Mi lão tổ chưa hiểu việc Ngũ âm tướng phụng chỉ đầu thai, bởi nghe lời Dư Triệu khai gian nóng giận đứa hậu học vô lễ không biết kính người trên, dám nhục mạ sư bá, nên nạt nộ chị em Kim Đính mà đòi sách gươm, làm cho mấy nàng ấy hãi kinh, lạy lục cho bỏ ghét đó thôi!
Xích Mi lão tổ xem Thánh thế hồng đồ rồi nói:
- Tuy các lệnh đồ phụng chỉ xuống phò Tống đánh Đường, xong các lệnh đồ vô lễ lắm. Dầu giết Dư Hồng, Dư Triệu, sơn nhân chẳng chấp, bởi chúng nó cãi lời thầy mà sát sanh thì phải bị tử trận. Các lệnh đồ rõ biết sơn nhân là bạn bè với các đạo hữu, đã kêu bằng sư bá rõ ràng, sao vì chuyện Dư Triệu, Dư Hồng mà sỉ mạ sơn nhân tới nước? Như không phục sơn nhân cũng phải trọng thầy một chút, lẽ nào dám nhục mạ người bạn thân thiết của thầy mình, ấy là tội phạm thượng rõ ràng không lẽ bỏ qua cho kẻ hậu sanh bắt chước?
Chư tiên và các thánh mẫu nghe nói kinh hãi, cùng lấy làm lạ?
Các thánh mẫu thưa rằng:
- Các học trò tôi tuy chưa tu hành theo phép đạo mặc lòng, chớ nết na phép đà thuần lắm. Lẽ nào dám phạm thượng như vậy?
Chắc là Dư Triệu cố oán mà nói thêm. Xin đạo huynh xét lại.
Mấy vị tiên sư cũng nói:
- Không phải đạo huynh xuống phò Đường đánh Tống, lẽ nào chúng nó dám nói động đến người trên? Chắc là Dư Triệu muốn cho đạo huynh xuống đánh báo cừu nên mới đặt điều nói khích như vậy.
Trong lúc Lưu Kim Đính và Phùng Mậu đứng ngoài nghe rõ mọi điều như vậy, liền đánh điều vào lạy rồi nói:
- Xin sư bá xét lại, mấy lời ấy là Dư Triệu cố oán đặt điều chớ chúng tôi còn biết kính thầy, lẽ nào dám nói động đến sư bá?
Xích Mi lão tổ bèn kêu Dư Triệu vào mà hỏi:
- Mi nói Phùng Mậu và Kim Đính mắng ta làm sao?
Dư Triệu thấy mặt hai người ấy, lấy làm ngỡ ngàng, vì hai người không nói giáp mặt mình, nên khai nói bợ ngợ lắm, nên Dư Triệu cứ thiệt khai ngay rằng:
- Tuy hai người không nói trước mặt tôi mà nói với Dư Hồng rằng: Xích Mi lão tổ là yêu tiên dạy đệ tử những loài cầm thú, sai ra khuấy chúng phá đời. Không bao lâu mấy thầy ta sẽ xuống trừ cho tuyệt loài tà đạo, bởi tôi nghe tiếng nói ấy, giận Phùng Mậu và Kim Đính nên mới xuống giúp Dư Hồng. Nay chúng sợ thầy nên chối đó thôi.
Xích Mi .lão tổ nổi giận mắng:
 - Mày là đồ súc sinh, bị Dư Hồng nó khích, sao hôm trước mày về nói quả quyết rằng chúng nó mắng ta tại trận? Mày có thể chẳng hề nói gian, nay có mặt Phùng Mậu, Kim Đính thì mày lại nói khác, rằng chuyện ấy, Dư Hồng thuật lại!
May có các sư thúc phân giải, nếu không thì Ngũ âm tướng đã thác oan! Thiếu chút nữa thì ta với các sư thúc giận hờn ra việc tuyệt ngãi. Ta thề từ rày sắp sau chẳng truyền phép cho các đệ tử nữa thì khỏi sanh sự báo đời?
Các tiên và các thánh mẫu cũng nói theo như vậy.
Đoạn Kim Đính và Phùng Mậu trả sách dâng gươm. Xích Mi đều thâu cất. Các tiên và Thánh Mẫu cùng Tống sanh Tư Mã đồng từ giã lui về. Phùng Mậu và Kim Đính cũng tạ ơn rồi trở lại.
Xích Mi lão tổ đưa các tiên ra động và dặn:
 - Các đạo hữu có về Thọ Châu thì nói lại vơi Tống Thái Tổ rằng: Bởi sơn nhân nghe lầm ác đồ là Dư Triệu nên xuống quở phạt dưới Thọ châu, nay đã rõ rồi, xin Tống quân miễn chấp.
Các tiên y lời, lui về thành Thọ Châu.
 Nói về Tống Thái Tổ từ hồi các tiên đem Kim Đính vừa Phùng Mậu qua Kim Ngao đảo trả gươm và sách, xong không biết họa phước ra thế nào nên chúa tôi đều lo sợ. Nay thấy các tiên và Thánh Mẫu trở về thành, Tống Thái Tổ dẫn bá quan ra nghênh tiếp.
Khi các tiên và Thánh mẫu vào thành,Tống Thái Tổ hỏi:
- Chẳng hay ông thần Tống sanh đâu vắng?
Các tiên tâu rằng:
- Tống sanh Tư Mã đã từ giã về trời rồi.
Tống Thái Tổ hỏi thăm việc giải hoà ra thế nào? Chư tiên thuật lại hết các việc Tống Thái tỏ và gia quyến năm nàng ấy đều vui mừng như được ngọc vàng, chúa tôi đồng tạ ơn cứu giúp, rồi dọn tiệc chay đãi các tiên và ăn mừng cho Ngũ âm tướng.
Tiệc xong rồỉ Tống Thái Tổ phán rằng:
- Xin chư tiên và các Thánh Mẫu bằng lòng cho trẫm rước về Biện Lương, đợi trừ đặng U Châu, Khiết Đơn và phủ Thái Nguyên gom về một khối, khi ấy sẽ chia nước mà tạ ơn.
Các tiên và Thánh mẫu đồng từ giã và nói:
- Chúng tôi là kẻ tu hành không tham phú quí. Bởi tính quen thung dung nên đã thành tật làm biếng! Nay vì việc bệ hạ gom thâu một mối nên phải xuống trần. Trông mau xong việc mà về non, lẽ nào dám đắm say quyền tước xin bệ hạ đừng lo việc đền ơn.
Tống Thái Tổ phán:
- Ngày trước trẫm bị Dư Triệu rãi độc, nếu không có Huỳnh tiên sư cứu giá thì chúa tôi đâu còn sống đến nay ! Vả lại bây giờ nhiều chỗ chưa đầu hàng, nếu có người như Dư Triệu, Dư Hồng khuấy đời trẫm biết làm sao mà thỉnh các tiên sư Thánh Mẫu nữa cho đặng.
Trần Đoàn tâu:
- Xích Mi lão tổ đã thề rồi, chẳng truyền phép cho đệ tử nữa sau không có người như Dư Hồng, Dư Triệu mà lo! Tuy U Châu, Thái Nguyên chưa hề mặc lòng, song còn vương gia là Khuông Nghĩa sẽ thế việc thân chinh cho bệ hạ. Lại thêm cha con họ Cao và Tào Ban quốc cựu, văn, võ đủ giúp nước, bệ hạ còn lo lắng làm chi! Từ nay về sau bệ hạ phải nhớ câu: "Đối tửu dương ca, nhân sanh kỳ hà" bấy nhiêu đó cũng đủ.
Tống Thái Tổ hỏi thăm việc nước, và số mạng mình như thế nào?
Trần Đoàn tâu:
- Việc nước hễ có đức thì thịnh, không có đức thì suy, còn người có nhân thì sống lâu, bất nhân thì chết yểu. Ấy gọi là nhân định thắng thiên, nghĩa là dù trời định số mạng nhưng con người có thể cải biến được. Mọi việc đều tại nơi bệ hạ.
Thái Tổ nói:
- Ta vốn chẳng có nhân đức chi, bất quá chinh phạt được cầu may mà được làm Hoàng Đế, chắc là trời cho không lâu dài, nên Trần Đoàn mới nói như vậy.
Thấy vua còn lưỡng lự, Trần Đoàn viết ra bốn câu thơ:
Mười tám năm xưa đạn chiến tràng,
Khác nữa Châu Võ với Thành Thang
Lúc này ngọn đuốc lòa đêm tối,
Qua khỏi luồng đông, tuổi quá ngàn.
Bài thơ ý nói vua Thái Tổ gần băng hà, Triệu Khuông Nghĩa nối ngôi.
Tống Thái Tổ biết ý Trần Đoàn không dám nói rõ nên làm thinh phú cho số trời định mệnh.
 Huỳnh Thạch Công nói :
- Tuy số trời định vậy song bệ hạ cầm cân họa phước, suy nghĩ chi cho nhọc lòng. Bệ hạ bị vây ba năm, lại thêm Dư Triệu đầu độc tuy là có uống thuốc giải, song ngũ tạng vẫn tổn thương phát ra chứng không ngờ. Vậy xin bệ hạ từ nay phải bỏ tửu sắc, họa may mới tránh được độc chứng.
Vua Thái Tổ phán:
- Huỳnh tiên sư thương trẫm, mới dặn lời này .
Bởi tửu sắc là chứng bệnh của Tống Thái Tổ, nay Huỳnh Thạch Công chỉ bảo, nên Tống Thái Tổ kính phục, truyền dọn tiệc thiết đãi chư tiên. Chư Tiên và các thánh mẫu đòi các học trò đến, bảo:
- Nay các con ở lại phò chúa vẹn ngay, chớ khá ỷ tài sanh sự.
Dặn rồi tất cả đều từ giã Tống Thái Tổ và các đệ tử đồng tiễn đưa.
Lúc này Dương Nghiệp sai dâu con đi rước bà sui, đồng về thành Thọ Châu cùng nhau đàm đạo. Dương Nghiệp tâu:
- Nay các việc đã xong, xin từ giã bệ hạ trở về San Hậu.
Tống Thái Tổ nói:
- Trẫm muốn mời các khanh về Biện Lương phong tước gọi là báo đáp công lao.
Dương Nghiệp tâu:
 - Tôi cũng muốn vâng chỉ về kinh, song cha tôi yếu quá, chẳng khác ngọn đèn trước gió, nên chẳng dám đi xa. Vậy xin bệ hạ cho tôi về San Hậu vẹn chữ thần hôn.
Vua Thái Tổ nhận lời. Dương Nghiệp liền dắt hết gia quyến tư giã ra đi. Bốn nữ tướng đều rót rượu đưa Hoa Giải Ngữ lên đường. Chúa tôi tống biệt hơn mười dặm mới trở về.
Hôm sau, Lý Cảnh dẫn bá quan đem bốn xe vàng bạc châu báu đến đưa Tống Thái Tổ về kinh.
Tống Thái Tổ phán:
- Trẫm đến đây đã ba năm, nay mới thu giang sơn về một mối vậy thì Thuận Nam vương ở lại chăn dân cùng lo việc nước, trẫm sẽ về sai sứ trọng thưởng khao binh.
Thuận Nam Vương tâu:
- Bệ hạ xá tội cho tôi, ơn vạn trời biển, nay tôi xin đưa ra khỏi nước, gọi chút lòng thành.
Tống Thái Tổ thấy Lý Cảnh thiệt tình, truyền kéo binh đi, đến đâu cũng thấy dân chúng đặt bàn hương án tiễn đưa.
Khi ra đến địa giới, Thuận Nam Vương bái tạ Tống Thái Tổ rồi lui về
Tống Thái Tổ đi chẳng bao lâu đã về tới Biện Kinh.
Lời Bàn
Thế mạnh là nguồn lực cao quí, nhưng xen vào cuộc sống của kẻ khác thì sức mạnh ấy biến thành tai hại.
Xích Mi lão tổ là một đại tiên, tu hành ở một thế giới khác, thế mà sai đệ tử can thiệp vào trần gian, làm xáo trộn thiên hạ, rồi lại vì đệ tử mà oán thù kẻ đồng nghiệp của mình hành động của Xích ià lão tổ là nguồn gốc lôi kéo tiên gia ở bên kia thế giới loài người xông vào tranh tài nhau trong cõi thế gian. Ấy vậy thế gian là nơi khổ, nơi để cho mọi thế lực làm chỗ tranh tài với nhau, mà chốn trần tục gánh cho mọi cái khổ đau của kẻ khác gieo vào.
Tại sao các thần tiên không đua tài nhau ngoài vòng thế sự, chỉ vì câu chuyện thần thoại mà tác giả muốn đem quan niệm mình gắn vào thế giới thần tiên để diễn tả bản chất của con người. Sống trong xã hội, dù là thần tiên cũng không thoát khỏi bản chất ấy.

 
0
Hồi Thứ Hai Mươi Chín

Trừ Nam Đường, Thái Tổ ban sư,
Phong tướng sĩ, nhị vương sợ tội.


 Lúc ấy, quân vào báo lại, Giám Quốc Triệu Khuông Nghĩa và Tả  thừa tướng Triệu Phổ Đồng dẫn bá quan ra cách mười dặm trường đình mà tiếp giá.
Tống Thái Tổ về đền ngồi ngự. Triệu Khuông nghĩa và bá quan văn võ đồng lạy và vấn an. Tống Thái Tổ thuật sơ việc đánh Nam Đường lao khổ.
Còn Cao Hoài Đức dâng ấn nguyên soái cho Thái Tổ và giao quân lại cho quan Hộ bộ đâu đó xong xuôi, đoạn Tống Thái Tổ phán:
- Trẫm cho các tướng sĩ về nhà thăm gia quyến, ngày mai sẽ đến chầu.
Phán rồi lại vào cung ra mắt Đỗ Thái hậu. Mẹ con mừng rỡ chuyện vãn hồi lâu. Hoàng hậu và các cung phi đồng vào kiến giá.
Còn các tướng cũng về thăm bà con, ai nấy đều mừng vui, duy chỉ có hai nhà không vui là nhà Sử Khuê và Thạch Thủ Tín thấy quân khiêng hai linh cữu tới đều than khóc và lo việc ma chay.
Hôm sau, Tống Thái Tổ lâm triều, các quan chầu chực đủ mặt, Tống Thái Tổ nghĩ thầm:
- Cao Hoài Đức công lao cả nhà, song phong đến chức vương đã là tột bực rồi còn Miêu quân sư và các tướng khác cũng nên gia phong cho xứng đáng công lao.
Nghĩ như vậy liền phán:
- Miêu quân sư giúp việc thiên văn và bói toán rất linh nghiệm, giúp trẫm thành công không nhỏ. Nay phong tước vương và chức trụ quốc, cho ăn lộc muôn nóc gia. Còn Đông Bình vương công lao cả nhà, tuy hết bậc gia phong, song cũng được hưởng trọng thể. Lưu Kim Đính, Ngại Ngân Bình, Tiêu Dẫn Phụng, Úc Sanh Hương và Hoa Giải Ngữ năm nữ tướng trước trẫm đã phong làm phu nhân, nay phong làm Ngũ công chúa Nhất phẩm phu nhân. Còn Cao Quân Bảo, Cao Quân Bội, Trịnh Ấn, Phùng Mậu, Dương Diên Bình trẫm phong làm Ngũ thiếu vương nhất phẩm, sau con cháu đều nối chức như vậy. Còn Thạch Thủ Tín, Sử Khuê vì nước chết tại Thọ Châu, nay phong vương chôn theo lễ vua.
Tất cả mọi người đều lạy tạ ơn.
Cao Quân Bảo quì tâu:
- Xin bệ hạ ban ơn cho tôi rước nhạc phụ là Lưu Nãi đem về nuôi dưỡng cho trọn đạo rể con.
Tống Thái Tổ y tấu, ban xe ngựa cho vợ chồng đi rước Lưu Nãi về và phong cho Lưu Nãi làm chức lễ bộ Thương thư.
 Sau đó, Tống Thái tổ truyền chỉ cho Cao Quân Bội đem vàng bạc qua Thạch Châu, Sơn Hậu ban thưởng cho cha con Dương Nghiệp và binh tướng.
Tính ra Tống Thái Tổ ban thưởng và phong tặng không sót một người chỉ trừ Giám quốc là Triệu Khuông Nghĩa không thấy được ban khen.
Không bao lâu, đến ngày lễ bát tuần cua Đỗ Thái Hậu, Tống Thái Tổ và Triệu Khuông Nghĩa và Triệu Khuông Mỹ, anh em đồng đến chúc thọ. Tống Thái Tổ nhớ lời cũ, truyền chỉ giảm thuế tha tù.
Một hôm, Đỗ Thái Hậu nói với Tống Thái Tổ rằng:
- Vương nhi! Mười tám năm chính chiến mớiđươc ngôi trời. Triệu Khuông Nghĩa, Triệu Khuông Mỹ cũng đồng là con cả. Nếu ngày sau vương nhỉ băng hà mẹ muốn vương nhi nhường ngôi cho Khuông Nghĩa, như vậy là anh em đồng hưởng giàu sang, không hình không trọng. Lòng mẹ như vậy không biết vương nhi thế nào?
 Tống Thái Tổ nghe mẹ hơi, nghĩ thầm:
- Mình may mắn mà đặng ngôi Thiên tử là cũng tại khi đến Trần Kiều, các tướng sanh lòng bất phục Hậu Châu, đem long bào mà mặc cho mình, tôn lên Hoàng đế. Ấy là tại lòng trời xui khiến. Nay mẹ ta muốn nhường ngôi cho em ruột, nối nghiệp mã trời rồi sau giao cho các em khác, thay đổi mà lo việc giữ nước. Chi bằng vâng lời cho vừa ý mẹ.
 Nghĩ rồi Tống Thái Tổ nói:
 - Mẹ tính như vậy cũng phải, con xin vâng theo.
Đỗ Thái Hậu khen:
- Mẹ nói một lời mà con không cãi, thật và con chí hiếu trên đời.
Lời Bàn.
Trong lúc khốn đốn, ai cũng muốn kẻ khác giúp mình, nhưng đến lúc thành công ít người nghĩ đến công lao của kẻ khác. Đó cũng chỉ vì tham vọng.
Tống Thái Tổ chinh phục Nam Đường công lao rất lớn, những tướng có công lực được Tống Thái tổ đền ơn bằng chức quyền. Đó là lòng tri ân của những bậc vua chúa có đức độ.
Thói thường, các bậc vua thiếu lòng nghĩa nhân, lúc thành công chẳng những chỉ biết có mình, hưởng thụ một mình, mà còn tìm cách làm hại những kẻ đã giúp mình, vì sợ kẻ ấy can ngăn, không cho mình thụ hưởng.
Cai trị con người không phải ở chức vị, mà ở chỗ biết đạo nghĩa làm người, không vì quyền lợi riêng mình mà bỏ điều nhân nghĩa, làm cho dân chúng không phục tùng. Chỉ có nhân nghĩa mới giữ được địa vị của một ông vua.

0
«« « 1 2 3 » »»