DÙI MÀI KINH SỬ
Sau khi tôi hoàn toàn bình phục, bác sĩ cho phép xuất viện. Tôi được chuyển đến Paris ở tại Postcure de Seaux vào tháng 1 năm 1954. Đây là nơi dành cho sinh viên nghỉ dưỡng sức sau thời gian dài nằm bịnh viện để vừa đi học vừa được săn sóc sức khỏe, tập thích nghi dần trước khi trở lại cuộc sống bình thường. Điều này cũng giống như những phi hành gia từ trên không gian khi trở về trái đất phải ở cách ly một thời gian ngắn rồi mới trở lại sống trong môi trường cũ.
Tôi được phép ra ngoài mỗi tuần hai ngày nên ghi tên vào Khoa Âm nhạc ở Đại học Sorbonne, chương trình này dạy phân tách những bản nhạc cổ điển của Pháp. Tôi cũng ghi tên học môn Lịch sử Việt Nam tại Collège de France do Giáo sư Emile Gaspardone dạy, trong lớp này còn có các anh Lê Văn Sáu, Nguyễn Văn Cổn và anh Lê Thành Khôi.
Ông Emile Gaspardone là một người Pháp rất giỏi chữ Hán và tiếng Việt. Ông làm cả một thư mục về Việt Nam đăng trong tạp chí của Trường Viễn đông Bác cổ năm 1934, trong đó ghi lại cả ngàn cuốn sách của Việt Nam từ chữ Hán đến chữ Nôm, để tựa là Thư mục của những người An Nam (Bibliographie Annamite).
Lớp học này đã khai sáng cho tôi nhiều điều. Tôi thích nhứt những bài giảng của thầy Emile về danh nhân Nguyễn Trãi. Ông phân tích bức thơ Nguyễn Trãi gởi cho Vương Thông mà theo ông đáng làm kiểu mẫu cho cách viết thơ từ ngoại giao, diễn đạt được những điều mình muốn nói bằng lời lẽ vô cùng cứng rắn mà lại rất mực lễ độ. Nguyễn Trãi kêu Vương Thông bằng đại huynh, xưng là tiểu đệ, bức thơ của người chiến thắng gởi cho kẻ bại trận mà không làm cho kẻ chiến bại mất mặt hay bẽ bàng, nhờ vậy đã đem lại cho đất nước Việt Nam gần ba thế kỷ hòa bình. Ông Emile Gaspardone nhắc lại việc Nguyễn Trãi là người theo Nho học nhưng không thích viết chữ Hán mà ưa dùng chữ Nôm. Ông giảng nhiều đoạn trong Ức Trai thi tập, trong đó có đoạn Nguyễn Trãi không chấp nhận việc Lương Đăng lấy nhạc nhà Minh của Trung Quốc làm mẫu để tổ chức nhã nhạc cung đình cho triều đình nhà Lê. Trong cuốn này Nguyễn Trãi cũng có bàn về nền âm nhạc nước Việt thời bấy giờ.
Tôi nghe vậy mừng quá hỏi thăm thì được thầy Gaspardone cho biết những tư liệu về âm nhạc Việt Nam có ghi rải rác trong các cuốn Đại Việt sử ký toàn thơ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Ức trai thi tập. Đó chính là những tư liệu đầu tiên giúp tôi tìm hiểu về âm nhạc cung đình nước Việt thời Hậu Lê cũng như hiểu thêm được tâm hồn của một vĩ nhân là Nguyễn Trãi. Khi đề cập về âm nhạc với vua nhà Lê, Nguyễn Trãi đã viết : “Bệ hạ nên thương dân để cho lòng dân không còn ta thán thì chừng đó tiếng nhạc sẽ được êm dịu”.
Tôi vừa đi học vừa được theo dõi sức khỏe thường xuyên, hàng tháng đều có kiểm tra xét nghiệm, kết quả cuối cùng là không còn vi trùng lao trong người nữa. Đối với tôi đó là một chuyện mầu nhiệm, nhưng niềm vui không kéo dài được lâu. Bỗng nhiên tôi bị đi tiêu ra máu, bác sĩ cho biết tôi bị nội trĩ rất nặng và bị cả mạch lươn. Bác sĩ chuyên khoa tiết niệu tên Arnous xác định đây là vết thương cũ do lần tôi bị bịnh ở Lộc Ninh hồi năm xưa nay tái phát và bị nhiễm trùng.
Một lần nữa tôi phải lên bàn mổ và lần này phải nằm bịnh viện ít nhứt là sáu tháng. Tôi rất buồn vì cứ hết hạn nọ tới hạn kia, hết bịnh này tới bịnh khác, không hiểu mình có duyên gì với bịnh viện mà không rứt ra được, không biết đến chừng nào mới ra khỏi được Postcure này.
Trong bịnh viện, tôi lo học và tịnh dưỡng nên ít theo dõi tin tức thời sự bên ngoài. Một hôm, vào tháng 7 năm 1954 tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Văn Cổn báo tin Pháp đã đầu hàng Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ. Anh nói:
- Vậy là bao nhiêu sĩ quan tốt nghiệp trường quân sự lừng danh Saint Cyr của Pháp đã phải chịu thua một vị tướng Việt Nam xuất thân là một giáo sư sử học chứ không tốt nghiệp một trường quân sự nào. Tôi xúc động quá Khê ơi! Tôi đọc cho Khê nghe bốn câu thơ vừa sáng tác để tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
Đây, Đại tướng của một dòng Đại tướng
Đây, tài ba trên tất cả những tài ba
Đây, tinh hoa nở giữa những tinh hoa
Đây, anh dũng nêu một đời anh dũng
Bốn câu thơ được anh Cổn đọc với giọng run run vang bên tai tôi từ năm 1954 cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ.
Anh Cổn vốn là bạn thơ của tôi, là người làm luận án tấn sĩ về cách viết chữ quốc ngữ trong đó anh chứng minh rằng ông Alexandre de Rhôdes không phải là người đầu tiên sáng tạo chữ quốc ngữ. Người đã nghĩ ra chữ quốc ngữ là ông Gaspard de Amaral, một tu sĩ Bồ Đào Nha, sau đó ông Alexandre de Rhôdes thấy hay mới nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống hóa lại và làm ra cuốn tự điển tiếng La tinh và tiếng Việt in theo vần quốc ngữ là Dictionarium lusitanum latinum annamiticum, bản viết tay nay còn để tại thư viện Latran ở Vatican. Anh Cổn có đọc qua cuốn tự điển này cùng những cuốn sách mà ông Gaspard de Amaral viết bằng tiếng quốc ngữ để truyền đạo.
Nghe anh Cổn báo tin tôi cũng rất xúc động. Buổi tối ngồi coi truyền hình, đài của Pháp để nhạc buồn như để tang cho nước Pháp bại trận. Những ngày này người Việt Nam tại Pháp ra đường đều hơi e ngại sợ dân Pháp tức giận vì thua trận mà hành hung mình. Trong bịnh viện may mắn không ai có thái độ thù địch gì với tôi, mặc dầu những người Pháp tại đây rất buồn. Tôi tuy vui sướng trong lòng nhưng cũng không dám lộ ra ngoài.
Mấy tháng cuối ở trong bịnh viện, khi vết thương gần lành, có nhiều giờ rảnh nên tôi học lái xe. Không đầy ba tuần lễ tôi đã thuộc Luật giao thông rồi đi thi lấy bằng mặc dầu lúc đó tôi chưa có xe hơi.
Tới tháng 10 năm 1954 tôi mới lành hẳn bịnh. Bác sĩ rất mừng vì nếu bịnh không dứt được có nghĩa là nguồn gốc do một bịnh khác như lao hay ung thư thì rất nguy hiểm.
Tôi ra khỏi bịnh viện, hết bịnh nhưng cũng hết tiền. Thời may được anh Huỳnh Tấn Đốc, chủ Hãng phim Vạn Ý mời hợp tác lồng tiếng cho phim vì anh biết trước đây tôi đã làm việc này. Tôi rất mừng và nghĩ rằng rõ ràng tôi luôn được quới nhơn phò hộ. Mấy năm tôi nằm bịnh viện, chi phí do Nhà nước Pháp đài thọ, chỉ phải đóng một khoản tiền rất nhỏ là một quan ruỡi một ngày mà không phải lúc nào tôi cũng có tiền để đóng.
Khi tôi nằm tại Bịnh viện Aire sur L’Adour, ông quản lý tài chánh của bịnh viện có cô con gái cũng đang điều trị bịnh lao tại đây. Cô sắp thi tú tài nên cha cô muốn kiếm người dạy kèm cho con. Trong bịnh viện có nhiều người đã đậu cử nhơn Anh văn, đang học tiếp để thi cao học, nhưng họ còn trẻ nên ông quản lý không muốn nhờ, có lẽ ông sợ họ chọc ghẹo con gái mình. Tôi tuy chưa có cử nhân nhưng trình độ tiếng Anh cũng khá, lại được lợi thế là lớn tuổi nhứt trong đám bịnh nhân nên ông tin cậy nhờ tôi dạy con gái ông mỗi tuần bốn giờ. Tôi được trả lương tám quan, số tiền này gần đủ trả chi phí cho bịnh viện.
Trong thời gian này Nhà xuất bản Tinh Hoa bên Việt Nam cho in bản nhạc Đi chơi chùa Hương do tôi phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp, sau đó có tái bản. Nhờ tiền Việt Nam lúc đó rất cao giá, một đồng bạc Việt Nam đổi được mười bảy quan (cũ) của Pháp nên tiền nhuận bút bên nhà gởi qua cũng đủ trả tiền bịnh viện.
Lần này mới ra khỏi nhà thương, tôi chưa có chỗ ở nên anh Huỳnh Tấn Đốc rủ về ở chung với anh. Anh mướn một căn nhà gồm một phòng ngủ và phòng khách lớn. Có thêm tôi nên anh cho treo một tấm màn chia phòng khách ra làmhai, ban ngày để rộng rãi tiếp khách, buổi tối kéo màn lại, tôi ngủ một bên còn bên kia là chỗ anh làm việc. Anh lại có chiếc xe Citroen nhưng không thích lái xe vì phải mất công tìm chỗ đậu nên anh thường đi taxi. Khi biết tôi có bằng lái anh bèn giao xe cho tôi, mỗi buổi sáng tôi đưa anh tới chỗ làm rồi được sử dụng xe cả ngày.
Công việc lồng tiếng này chúng tôi làm từ đầu chí cuối. Đầu tiên là dịch lời thoại ra tiếng Việt do anh Nguyễn Văn Cổn phụ trách. Trong khi dịch phải tìm đặt lời sao cho khớp với cách phát âm trong phim, phải chú ý tiết tấu câu đối thoại và tâm lý nhân vật phù hợp với hình ảnh trên phim. Anh Cổn và tôi làm tốt công việc đó nên anh Đốc rất bằng lòng.
Anh Đốc có liên hệ với cơ sở của Hãng Kikoine do hai anh em người gốc Do Thái làm chủ, chuyên lồng tiếng phim từ tiếng Mỹ ra tiếng Pháp, về sau hãng này mướn tôi lồng tiếng phim cho họ luôn. Tôi vừa làm vừa học, hàng tuần đều tới gặp ông thầy để xúc tiến luận án tấn sĩ.
Cũng trong năm 1954 tôi gặp lại Phạm Duy khi anh sang Paris. Những năm 1951, 1952 khi Phạm Duy còn đi kháng chiến, ở Pháp thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được những bài hát mang âm hưởng dân ca của anh như Mùa Đông chiến sĩ, Bên ni bên tê, Bà mẹ Gio Linh, Nhớ người thương binh… Năm 1954 Phạm Duy về thành, vẫn tiếp tục sáng tác những bản nhạc ca ngợi tiếng nói, con người và đất nước Việt Nam như bài Tình ca chẳng hạn.
Sang Pháp lần này, Phạm Duy vừa học sáng tác nhạc vừa ghi tên dự lớp âm nhạc mà tôi đang học với tư cách bàng thính viên, nghĩa là anh chỉ tới lớp nghe giảng chớ không dự thi lấy chứng chỉ. Thời gian này Phạm Duy bắt đầu viết trường ca Con đường cái quan.
Hàng ngày trước giờ tới trường chúng tôi thường đi chơi bi da điện (billard électrique). Cả hai đứa tôi đều chơi rất giỏi, bởi vậy người chủ thấy mặt chúng tôi là rầu lắm vì chỉ thu tiền được hai ly cà phê. Chúng tôi tốn 5 francs mua bi là đủ chơi suốt buổi vì cứ thắng hoài nên không phải trả tiền thêm. Một bữa Phạm Duy tới nhà tôi sớm, không chịu đi chơi bi da như thường lệ mà nói là có chuyện muốn bàn với tôi.
Anh cho biết đang ôm ấp ý tưởng viết một trường ca, lấy hình ảnh một thanh niên Việt Nam đi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đến địa phương nào thì nghe hát dân ca nơi đó. Tôi thấy ý tưởng này rất hay. Phạm Duy hình dung chàng trai vừa bước chân ra đi trên con đường cái quan thì một thôn nữ cất tiếng:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại… cho em (đây) than đôi lời
Đi đâu vội mấy anh ơi…?
Chàng bèn trả lời:
Tôi đi từ ải Nam Quan
Tôi gặp nàng Tô Thị
…
Đây là những lời mở đầu của trường ca Con đường cái quan mà tôi là người đầu tiên được Phạm Duy hát cho nghe vào năm 1955 tại Pháp (về sau anh đã đổi lời vài câu trong đoạn này).
Trở lại việc lồng tiếng, tôi làm với anh Đốc được ba phim thì anh có việc riêng phải về nước còn tôi vẫn ở nhà anh và tiếp tục cộng tác với Hãng phim Kikoine để có tiền đi học. Tôi rất vui vì công việc này tự do, giờ nào rảnh thì làm mà bận học thì thôi. Thời gian này tôi làm rất ít, cho đến mấy năm về sau mới bắt đầu làm nhiều hơn. Trong suốt thời gian soạn luận án tôi đã lồng tiếng cho cả trăm phim, có khi chỉ nói một hai câu, có khi nhận đóng vai lớn. Như trong phim Gengis Khan (Thành Cát Tư Hãn), vai Thừa tướng Kao King do tài tử James Mason đóng nói tiếng Anh, trong bản tiếng Pháp, vai Thừa tướng Kao Ling do tôi lồng tiếng. Trong năm này tôi cũng thâu những bản nhạc cuối cùng cho Hãng dĩa hát Oria.
Những người chủ hãng phim rất nể nang tôi, một mặt vì tôi đã quen việc nên làm mau, có lợi cho họ; mặc khác tôi lại rất cẩn thận luôn tìm hiểu kỹ lưỡng những giao ước giữa chủ và người làm công. Có lần một anh bạn than phiền phải lồng tiếng rất nhiều mà chỉ được trả 8.500 quan (cũ), tức là hãng phim tính cho anh nội dung đối thoại chỉ trong vòng 20 câu. Tôi coi kỹ và tính ra anh đã nói 21 câu, mà theo giao kèo khi lời đối thoại có từ 21 đến 50 câu phải trả 12.500 quan. Anh bạn tôi khiến nại nhưng hãng phim không đồng ý. Tôi bèn tranh luận với họ, đưa bản giao ước hợp đồng trong đó ghi rõ khi nói những tiếng chào hỏi riêng rẽ (như “Bonjour”, “Salut”, “Ca va”) không được tính thành câu, nhưng hễ cứ nói ba lần như vậy, dầu trong ba đoạn khác nhau thì được tính là một câu. Anh bạn tôi đã nói ba lần chào nên phải tính thành 21 câu chớ không thể bỏ qua được, rốt cuộc hãng phim phải trả thêm tiền cho bạn tôi.
Tôi ý thức rõ người chủ luôn luôn có khuynh hướng bóc lột người làm công nên nghiên cứu rất kỹ luật lệ để tự bảo vệ mình và bạn bè cùng làm chung. Chẳng hạn như trong việc sáng tác có quy định nếu một bản nhạc có dưới 16 phách (mesures) thì tiền tác quyền rẻ, nhưng trên 16 phách giá cao hơn nhiều vì được kể là một nhạc phẩm. Có lần tôi được mời đờn cò phụ họa cho một diễn viên xiệc biểu diễn vì vậy phải sáng tác một điệu nhạc phỏng theo bản Ngũ điểm, bài tạ. Người chịu trách nhiệm ghi âm tính nhịp hai theo cách ký âm nhạc phương Tây nên chỉ có 14 nhịp, tôi không đồng ý vì cho rằng đây là nhạc Việt Nam viết theo hơi Quảng nên phải tính theo nhịp một là gần 30 nhịp. Ban sản xuất phim chấp nhận lý lẽ của tôi nên trả tiền sáng tác cho một tác phẩm dài trên 16 nhịp.
Lần khác một anh đạo diễn rủ tôi đi ăn trưa, sau khi ăn xong đi ngang qua tiệm bán đồ cổ, anh nhờ tôi chỉ cho biết trong số những bình phong bày bán ở đây, cái nào của Nhựt Bổn, cái nào của Trung Quốc hay của Việt Nam. Tôi hỏi anh muốn biết để làm gì, anh trả lời rằng để mướn làm cảnh cho phim quảng cáo, bình phong của nước nào dùng trong phim sẽ bán cho nước đó. Tôi nói ngay:
- Nếu anh muốn mua bình phong về chưng trong nhà, tôi sẵn sàng giúp anh không tính công, nhưng trong trường hợp này anh cần một nhận xét về mỹ thuật của tôi để thực hiện phim quảng cáo thì phải trả tiền cố vấn nghệ thuật.
Anh đạo diễn cười:
- Anh chỉ nói một câu mà cũng tính tiền!
- Muốn trả lời chính xác câu hỏi của anh, tôi phải tích lũy từ nhiều năm học hỏi, phải đọc qua sách vở về nghệ thuật của các nước châu Á. Hơn nữa ý kiến của tôi có lợi cho việc làm ăn của anh thì anh phải trả tiền.
Anh công nhận tôi có lý và đồng ý trả tôi một ngày công.
Năm 1955 tôi làm thêm một công việc nữa là đóng phim quảng cáo sản phẩm như giới thiệu rượu Martini, xe hơi Peugeot… Từ đó tôi bắt đầu mở rộng giao thiệp với giới làm phim.
Bước qua năm 1956, sau một thời gian nghiên cứu, tôi bắt tay viết bản luận án, phải vừa viết vừa đối chiếu rất nhiều tư liệu, ghi rõ xuất xứ các sách báo tham khảo. Tôi phải đọc nhiều sách chữ Hán như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định, Đại Nam hội điển sử lệ. Kiến thức hán học của tôi chưa đủ để làm công việc này cho hoàn hảo nên tìm đến xin thọ giáo với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn mỗi tuần một buổi. Gặp những chữ khó như chữ “văn” mà cụ Nguyễn Trãi thường dùng, chính Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cũng thừa nhận chữ này nghĩa rất sâu nên cẩn thận viết thơ về Hà Nội hỏi ý kiến ông Đào Duy Anh giùm tôi. Việc nghiên cứu tư liệu rất công phu và tôi luôn phải kiểm tra cẩn thận từng chi tiết.
Đây cũng là năm đầu tiên Bảo tàng viện Guimet mời tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam định kỳ mỗi năm một lần. Đây là Bảo tàng viện lưu trữ những hiện vật có giá trị nghệ thuật của những nước châu Á như Trung Quốc, Nhựt Bổn, Việt Nam, Lào, Campuchia, Chăm, Thái Lan… Nơi đây có cả thư viện, phòng chứa dĩa hát và băng từ ghi âm nhạc truyền thống châu Á.
Khi diễn thuyết tại đây tôi phải có kiến thức chính xác về âm nhạc Việt Nam, trình bày có minh họa bằng hình rọi dương bản, băng từ ghi âm, đôi khi phải đờn ca cho thính giả nghe. Nhưng mỗi buổi nói chuyện như vậy tôi chỉ được trả 5.000 quan (cũ), trong khi lồng tiếng cho phim thì thù lao cao hơn. Có phim tôi lồng tiếng cho vai người gác cửa, chỉ cần nói vài câu chào đã được trả 8.500 quan.
Một xã hội văn minh như nước Pháp vẫn còn có những bất công. Một người đem tất cả tâm trí và hiểu biết trình bày một vấn đề hết sức nghiêm túc về âm nhạc truyền thống Việt Nam cho những người cần tìm hiểu nghe cả tiếng đồng hồ lại được trả công không bằng công việc lồng tiếng phim chỉ nói vài câu. Nhưng dẫu sao cũng phải chấp nhận một thực tế chưa thay đổi được.
Tại Bảo tàng viện Guimet tôi được giới thiệu với bà Mireille Helffer, người giữ kho dĩa hát. Thấy tôi làm việc nghiêm túc nên bà đề nghị Bảo tàng viện cho tôi được giữ riêng chìa khóa kho, hàng tuần vào ngày thứ năm là ngày bà nghỉ làm việc, tôi có thể tới đây nghe tất cả các dĩa nhạc lưu trữ. Trong hai năm từ 1956 đến 1958, hàng tuần tôi đều tới nghe hết các dĩa nhạc Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và băng ghi âm nhạc của các dân tộc ít người được chuyển từ “Bảo tàng viện con người” (Musée de l’homme) về đây.
Thêm một lần tôi được quới nhơn phò hộ, điều mình hằng ao ước nay bỗng nhiên thực hiện được, không phải chỉ một lần mà suốt trong một thời gian rất dài. Ngày thứ năm hàng tuần tôi vào bảo tàng viện từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, mua đồ khô đem theo để ăn trưa, trong phòng làm việc đã có sẵn ấm nước có thể pha trà hay cà phê.
(Con trai tôi, Trần Quang Hải, từ năm 1964 cũng theo tôi tập sự công việc ghi âm hay chép tư liệu trên băng từ tại đây để làm quen với nhiều loại nhạc truyền thống dân gian hay bác học của nhiều nước châu Á. Nhờ đó sau này tôi mới mạnh dạn giới thiệu con tôi vào làm việc trong các bảo tàng viện).
Cũng vào năm 1956, thầy tôi là Giáo sư Jacques Chailley mở một khóa học vô cùng đặc biệt về “Sự hình thành và biến thái của ngôn ngữ âm nhạc ngoài âm nhạc châu Âu”. Nhờ vậy tôi có cơ sở để nghiên cứu về sự hình thành và biến thái của nhạc ngữ Việt Nam nhìn từ bên ngoài. Những bài học này hết sức quan trọng, cho tôi có cái nhìn khoa học và khách quan hơn về âm nhạc các dân tộc, kể cả âm nhạc Việt Nam, chớ không phải chỉ nhận thức và tin tưởng theo chủ quan. Kể từ năm đó, tôi kiểm tra lại tất cả những hiểu biết lâu nay của mình, xem xét cơ bản từ âm nhạc đến việc thành lập từng thang âm, cách thể hiện điệu thức và những biến thái của nó, nghiên cứu một cách tỉ mỉ và tường tận hơn.
Tôi được thầy Chailley giới thiệu vô Thư viện Quốc gia Pháp để học thêm tài liệu về âm nhạc học. Tại đây, chỉ cần điền tên quyển sách cần dùng cùng số bàn mình ngồi vào phiếu là được người của thư viện đem sách đến tận nơi, sau khi đọc xong cũng sẽ có người đem đi cất. Trường hợp muốn trở vào ngày hôm sau, chỉ cần viết giấy để lại thì nhân viên thư viện sẽ giữ sách cho mình sử dụng tiếp chớ không cất đi.
Tôi lui tới Thư viện Quốc gia thường xuyên và tìm thấy những bản thảo chữ Hán chép tay của Trung Quốc để nghiên cứu và đối chiếu với tài liệu của Việt Nam. Khi đọc cuốn “Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ” ghi chép tất cả những việc xảy ra trong triều đình nhà Thanh, tôi biết được sau khi Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh trong trận Đống Đa rồi lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung vào năm 1780 – cũng là năm Cách mạng Pháp – ông đã gởi một dàn nhạc và cống vật qua cầu hòa với vua Càn Long. Sách Trung Quốc ghi rõ nhạc công dàn nhã nhạc nước Việt lúc đó ăn mặc như thế nào, khăn, áo, thắt lưng màu gì, nhạc khí sử dụng hình dáng ra sao cùng thành phần dàn nhã nhạc thời kỳ Tây Sơn mà họ gọi là “An Nam quốc nhạc”. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, dàn nhạc đó được đổi tên là “Việt Nam quốc nhạc”.
Cũng trong năm này tôi phải thay đổi chỗ ở. Anh Huỳnh Tấn Đốc không trở qua Pháp nữa nên tôi phải rời căn nhà của anh, đang lo kiếm mướn nhà tình cờ tôi gặp anh Phạm Gia Huỳnh là một người bạn góa vợ, trước đây hay đến nghe tôi đờn hát ở tiệm Bồng Lai. Thời gian tôi nằm bịnh viện, mỗi lần được nghỉ phép về Paris chơi, anh Huỳnh thường mời tôi đi ăn cơm, thậm chí có khi anh còn bỏ tiền mua vé xe lửa cho tôi. Anh là dược sư nên mở một tiệm thuốc tây rất lớn, lại có cả một kho chứa thuốc trong căn nhà ba từng lầu ờ số 19 Đại lộ Brune tại quận 14. Từng trệt anh Huỳnh làm nơi chứa một số thuốc quí, có văn phòng làm việc và điện thoại, lâu lâu anh mới tới đây một lần vì văn phòng chánh đặt tại nhà thuốc của anh. Từng lầu hai anh cho mướn còn lầu một đang bỏ trống. Anh Huỳnh mướn một người có nhiệm vụ mỗi tuần đánh bóng cầu thang bằng gỗ. Nay anh đề nghị cho tôi ở trên từng lầu một khỏi trả tiền, đổi lại hàng tuần tôi đánh bóng cầu thang, ngoài ra khi nào anh Huỳnh cần thuốc gì tại kho thì gọi điện thoại để tôi mang tới liền. Tôi được quyền tiếp khách trong văn phòng, được sang tên thuê số điện thoại.
Được có chỗ ở không tốn tiền, dưới nhà lại có bàn làm việc luôn cả điện thoại, tôi vui mừng nhận lời. Từng lầu một trước đây chứa thuốc nên sàn nhà dơ bẩn, trước khi dọn về tôi phải chùi rửa sạch sẽ. Thời may một anh bạn khác tên Hiển có cơ sở chuyên lãnh trang trí nhà cửa, thấy tôi lui cui chùi nhà cực khổ anh bèn cho người đem máy tới cạo rửa và đánh bóng sàn nhà.
Vậy là một người bạn cho mượn nhà, một người khác đem máy móc tới làm vệ sinh, có phải là gặp được “quới nhơn” không các bạn? Tôi chỉ cần mua một cái giường để năm. Kế bên phòng ngủ là một nhà bếp nhỏ có lò ga. Tại đây không có phòng tắm nên khi cần phải tới phòng tắm công cộng ở gần nhà.
Tôi nhận làm thêm cho Đài phát thanh Pháp, chuyên đóng những vở thoại kịch của anh Phạm Văn Ký, người từng được giải thưởng văn chương của Hàn lâm viện Pháp. Anh Ký sáng tác mười câu chuyện về những sứ quán hay cơ sở ngoại giao đầu tiên của châu Âu thiết lâp tại châu Á, khi người Pháp bắt đầu tiếp xúc với chúa Trịnh, vua các nước Lào, Trung Quốc, Cao Miên rồi dựng thành kịch. Mỗi vở kịch đều có một nhân vật người châu Á như chúa Trịnh, vua Tàu, vua Lào và tôi được mời đóng vai này. Vai sứ thần châu Âu do các kịch sĩ chuyên nghiệp xuất thân là giáo sư của Trường Kịch nghệ Pháp đóng như Jean Marchat, Pierre Larquey. Khi nghe nói tôi tốt nghiệp trường Chánh trị thì các kịch sĩ này không đồng ý đóng chung vì cho rằng tôi không ở trong nghề, không thể nhìn qua kịch bản mà đóng tuồng cho có hồn nên sẽ làm họ mất nhiều thì giờ để tập đi tập lại. Anh Phạm Văn Ký giải thích cho họ anh cần một người biết nói tiếng Pháp theo giọng của từng nước châu Á mà tôi là người có thề nói được như vậy, đó là chưa kể tôi còn soạn nhạc dân tộc từng nước cho các vở tuồn, một mình tôi cáng đáng đủ thứ chuyện. Anh đề nghị cứ để tôi đóng thử, sau hai buổi tập dợt, các kịch sĩ đều rất hài lòng. Không những vậy các ông lại tỏ ý tiếc rằng nếu được học trường kịch nghệ thì tôi sẽ là một kịch sĩ có hạng.
Thời gian này tôi gặp lại cô em họ Nguyễn Trung Nghĩa, có biệt hiệu Mộng Trung, là một trong số bốn người bạn cùng tuổi con gà chơi thân với nhau hồi mùa hè năm 1938 khi tôi còn học bậc trung học. Em Nghĩa lúc bấy giờ đã có sáu đứa con, người chồng ở lại Việt Nam còn em đưa con sang Pháp để tiếp tục làm công việc của chồng là in Tự điển Anh Việt của tác giả Nguyễn Văn Không. Năm 1954 em có đến thăm lúc tôi nằm bịnh viện Postcure tại Sceaux.
Thấy tôi hàng ngày phải tự nấu ăn nên em dặn tôi mỗi chiều ghé ăn cơm với mấy mẹ con em cho vui, còn buổi trưa tôi ăn ở căn-tin của thư viện. Kể từ đó mỗi buổi chiều tôi được ăn ngon lại khỏi mất thời giờ nấu nướng, thay vào đó hai anh em cùng hòa đờn, tập hát. Tôi tập cho em Nghĩa đóng tuồng Tục lụy, sang năm 1957 hai anh em cùng hợp tác thâu băng cho Đài BBC.
Phòng tôi ở chỗ kho thuốc rất đơn sơ. Một cô bạn gái của tôi – đúng ra là một cô em “kết nghĩa” sau lần tôi giúp em thoát khỏi sự “tấn công” tình cảm của một anh chàng mà cô không thích – thường tới chơi với tôi để nghe tôi đờn hát, thấy căn phòng trống rỗng nên trang hoàng lại. Cô rất khéo tay, cắt giấy thành hình cây tre, con chim… dán bên ngoài của kiếng như những bức tranh nho nhỏ, buổi tối ánh đèn đường rọi vô, gió thổi nhẹ làm những hình ảnh này lay động lung linh. Cô lại vẽ cho tôi bức tranh một thiếu nữ đẹp, tóc cài trâm, mặc áo tay rộng, vén màn nhìn xuống chỗ tôi nằm.
Anh Nguyễn Văn Cổn, lúc này đã xong luận án tốt nghiệp tấn sĩ, thường tới chơi với tôi để được an cơm Việt Nam vì tôi nấu ăn rất vừa miệng anh. Tôi lấy mật ong thay thế nước dừa để kho thịt, làm dưa giá, nấu mì, toàn làm những món anh thích để đãi anh.
Nhìn thấy thiếu nữ trong tranh anh đặt tên là nàng Nhạc và nói:
- Một hôm nào đó nàng Nhạc sẽ từ trong tranh bước ra hiện thành người thật đến thăm Khê. Tôi làm bài thơ diễn tả từ hư tới thực, bắt đầu từ 2 chữ, rồi 3, 4, 5 chữ, tới ahi câu lục bát là lúc cô hiện hình:
Em đây
Em đây
Em là nhạc
Em yêu đời
Em không không gian
Em không thời gian
Trăm năm em vẫn trẻ
Ngàn năm em vẫn xinh
Đêm nay em đến với mình
So dây nắn phím, tang tình tình tang…
Tôi rất thích bài thơ này nên khi anh Cổn vừa ra về tôi lấy đờn tranh ra phổ thành nhạc. Tuần sau anh trở lại, nghe bản nhạc phổ thơ anh thích quá liền sáng tác thêm một bài nữa.
Anh Cổn cho là nhạc sĩ đã so dây nắn phím thì nàng Nhạc phải ở lại và nói rằng:
Ngồi lại đây,
Ngồi lại đây
Hỡi người nghệ sĩ!
Cảm hứng tuyệt vời!
Với em đây
Là với em đây
Má bình minh vẫn thắm
Môi cánh đào không phai
Tóc em vừa gội tắm
Dưới ánh trăng sáng ngời
Ta sẽ cầm tay
Ta kề má ấm
Ta gợi nguồn cảm hứng
Trong tiếng nhạc mê say
Khi ái ân,
khi âu yếm
Khi mơ màng,
khi chờ đợi
Khi xa xôi,
khi gần gũi
Thời gian không lạnh nữa
Không gian không xa nữa
Tình tang tính, tang tính tình
Đêm nay em đến với mình
Trở về chốn cũ, có mình có em.
Khi anh về, tự nhiên tứ nhạc đến với tôi. Tôi phổ nhạc bài thơ này đồng thời ghi âm gởi tặng anh Cổn, anh rất thích và gìn giữ quí trọng cho tới khi anh từ giã cõi đời vào năm 1980.
Trong năm 1956 tôi làm thêm rất nhiều việc, vừa lồng tiếng phim, đóng kịch truyền thanh lại đóng phim quảng cáo, từ đó nhiều hãng phim biết đến tôi. Tôi được mời đóng một phim trinh thám của Pháp tựa đề là Ba chiếc thuyền trên dòng sông (La rivière des trois jonques). Tôi đóng hai vai, một vai chánh là cảnh sát trưởng và vai phụ đóng một người Tàu bán đồ cổ. Hai diễn viên chánh trong phim là Dominique Wims và Jean Gaven. Phim quay ngoại cảnh ở miền Nam Việt Nam, còn nội cảnh thâu ở phòng quay tại Pháp.
Tiền thù lao đóng phim chẳng được bao nhiêu nhưng cũng đủ cho tôi sống cả tháng trời. Tôi đã lồng tiếng phim, nay lại đóng phim lớn, bạn bè đều nghĩ tôi sẽ theo nghề này luôn, vừa vui vừa dễ kiếm tiền. Nhưng tôi vẫn bền chí theo đuổi luận án tấn sĩ, hễ kiếm tiền vừa đủ sống thì dầu có được mời đóng phim tôi cũng không nhận để tập trung thời giờ và công sức cho luận án.
Tóm lại năm 1956 là một năm hết sức phong phú trong cuộc đời tôi. Tôi được nghe nhiều dĩa nhạc trong Bảo tàng viện Guimet, được thầy cho phép một tháng hai lần tới gặp riêng để thầy trò cùng thảo luận, nhờ đó mà tôi tiến bộ rất mau. Điều đáng mừng nhứt là tôi thâu thập được nhiều kiến thức về âm nhạc nhờ cách dạy hết sức mới mẻ của thầy tôi, chú trọng đến những nền âm nhạc ngoài châu Âu, nhứt là phong cách dân gian, chớ không chỉ là những kiến thức có tính kinh điển, bác học.
Bên cạnh đó, trong việc kiếm sống tôi vừa làm vừa chơi lại học hỏi được nhiều điều để tích lũy vốn sống. Tất cả những công việc tôi làm chỉ là phương tiện để phục vụ cho mục đích duy nhứt tôi hướng tới là luận án về âm nhạc Việt Nam.
Ngoài việc dồn công sức viết luận án và làm thêm kiếm sống, tôi còn đeo đuổi một việc quan trọng nữa, không phải đối với sự học mà là đối với cuộc đời, vì công việc này thỏa mãn được một sở thích tôi vẫn ao ước từ khi còn nhỏ. Đó là làm một diễn viên điện ảnh thực thụ.
Lúc bấy giờ bên Anh có khởi quay một phim tựa đề Thành phố tựa như Alice (A town like Alice) phóng theo tiểu thuyết của nhà văn người Úc Neville Shute, viết về một thành phố của nước Úc tên Alice Springs trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Câu chuyện phim ghi lại giai đoạn quân đội Nhựt Bổn chiếm tất cả vùng Thái Bình Dương, cai quản và hành ạh dân bổn xứ, hà khắc đến mức đem đóng đinh người dân trên cây thập tự chỉ vì họ ăn cắp con gà của quan ba cai quản trại. Hãng phim Anh tìm người đóng vai viên đại úy Nhựt Sugaya, một người tàn ác trác tứ tuần cai quản một trại tù binh.
Lúc đạo diễn qua tận bên Pháp tìm diễn viên thích hợp thì tôi đang lồng tiếng cho nhiều phim nên hãng phim ở Pháp giới thiệu tôi với ông ta. Đạo diễn mời tôi qua Anh một ngày đóng thử coi có phù hợp với vai diễn không, nếu thấy được họ sẽ ký hợp đồng. Được dịp đi qua Anh chơi không tốn tiền, tôi ưng thuận liều dầu không chắc mình sẽ được giao vai diễn này.
Vừa bước chân xuống phi trường London tôi đã nghe loa phóng thanh thông báo: “Yêu cầu diễn viên điện ảnh Trần Văn Khê đến tại văn phòng sân bay có đại diện hãng phim đón”. Ở bên kia biển Manche tôi là sinh viên Đại học Sorbonne, qua tới bên này bỗng nhiên biến thành “diễn viên điện ảnh”!
Đường từ phi trường về đến hãng phim mất 50 phút, họ trao cho tôi một bảng phân cảnh ngắn để đọc trên xe, khi đến nơi sẽ đóng thử ngay. Cảnh này diễn ra khoảng năm phút, viên sĩ quan Nhựt đi từ điểm A sang điểm B, xoay người đi tới điểm C, giận dữ nói vòai câu với một người rồi bạt tai người đó, vậy là xong.
Tại phim trường đã có gần 30 người Nhựt Bổn đang ngồi chờ thử vai, tôi thấy khó có hy vọng tranh được với những người Nhựt chính gốc vừa rành tiếng Nhựt lại giỏi tiếng Anh. Quan sát thấy có ba chỗ ghi sẵn điểm A, B, C dưới đất, tôi liền đi thử, từ điểm A đi tám bước đến điểm B, từ đây tới C mất bảy bước. Mỗi khi người diễn viên đóng thử có một máy quay phim chạy dọc trên đường rầy để thu hình.
Khi thử vai, một số người Nhựt bước đi từ điểm A rồi cúi nhìn xuống đất canh chừng cho đến đúng điểm B, do đó bước đi không tự nhiên. Một số người khác có lẽ tinh thần căng thẳng nên nét mặt lộ vẻ lo sợ chớ không phải tức giận như vai diễn đòi hỏi nên cũng không đạt yêu cầu về diễn xuất. Đến phiên tôi đóng thử, người quay phim hô “stand by” là chú ý, hô tiếp “action” thì bắt đầu diễn. Tôi nhập vai liền nên vừa bước đi nét mặt đã hầm hầm sẵn sàng gây sự, từ điểm A tôi đi đúng tám bước, xoay lại bước tiếp bảy bước, cau có nói mấy câu rồi bạt tai người đối diện. Đạo diễn tới bắt tay tôi khen ngợi.
Sau đó đạo diễn mời mọi người, kể cả những người đã thử vai trong mấy ngày trước, yêu cầu hô một khẩu lịnh theo quân đội. Những người Nhựt Bổn này phần lớn chưa đến ba mươi tuổi, hầu hết là sinh viên và không ai từng ở trong quân đội nên không biết cách hô khẩu lịnh ra sao. Riêng tôi biết cách hô của quân đội Nhựt vì hồi năm 1941 – lúc Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ vùng Đông Dương – tôi học trường Thuốc ở Hà Nội, mỗi sáng đi ngang qua trại lính Nhựt đều nghe hô khẩu lịnh nghiêm: “Kyô – Ske”.
Đạo diễn chọn được năm người, yêu cầu diễn cảnh viên đại úy ra lịnh: “Đem nón và gươm ra đây” để ông đi thi hành hình phạt người dân ăn cắp gà. Những người khác nói câu này một cách bình thường, riêng tôi ra lịnh với một giọng hùng hổ, loại “giọng gan” trong “ngữ khí hát tuồng” nên cũng được khen.
Một tuần lễ sau khi tôi trở về Pháp, hãng phim Arthur Rank mời tôi sang Anh ký hợp đồng. Điều kiện làm việc rất thuận lợi, khi cần quay phim họ sẽ báo trước một tuần, đài thọ tiền máy bay cho tôi qua Anh ở tại một khách sạn lớn, đóng phim trong một hay hai ngày rồi về. Nếu tôi bận học thì báo trước để họ thu xếp không bị trùng với lịch quay phim. Khi biết được tiền lương tôi còn giựt mình hơn. Vì là người nước ngoài nên tôi được trả 12 bảng Anh (pound sterling) tiền ăn ở, cộng với 50 bảng Anh tiền lương mỗi ngày, trừ thuế ra tôi còn hơn 30 bảng Anh. Lúc đó một bảng Anh đổi ra được 1.200 centimes tiền của Pháp, mà mỗi bữa ăn sinh viên chỉ có 75 centimes, nghĩa là một ngày lương đủ cho tôi ăn gần 500 bữa cơm! Đó là khoản tiền rất lớn đối với tôi nên khi cầm viết ký tên trên hợp đồng lòng tôi hơi hồi hộp! Theo luật của nước Anh, tôi phải ủy quyền cho một người – ông này tên là Heller, người đã giới thiệu tôi với hãng phim – thay mặt tôi lãnh lương, đóng thuế rồi gởi số tiền còn lại qua Pháp cho tôi.
Tôi làm viêc cho hãng phim tổng cộng 16 ngày, vừa có tiền vừa rất vui, lại thỏa mãn mơ ước của tôi từ khi còn nhỏ muốn được đóng phim để rồi ngồi trước màn ảnh xem mình đóng tuồng.
Trước đó tôi đã từng đóng phim ở Pháp nhưng chỉ là một vai nhỏ, lại không được coi lúc phim chiếu ở các rạp. Còn đây là một vai khá quan trọng, phải học tuồng, tập dợt, hóa trang, nên ngẫm nghĩ lại cũng thấy lạ lùng. Tôi đang là một sinh viên ở Pháp, hàng ngày tới bữa trưa phải xếp hàng đợi tới phiên đưa thẻ sinh viên mua một dĩa cơm với giá 75 centimes, chỉ đủ chất dinh dưỡng để sống qua ngày chớ không phải ngon miệng.
Nay bỗng nhiên được mời qua Anh đóng phim, đi trên chuyến bay tốt nhứt có tên là “Người yêu đời” (Epicurien), vé của chuyến bay này mắc hơn các chuyến khác, trên máy bay được uống rượu champagne, được ăn ngon. Khi đến nơi xe của hãng phim đón về khách sạn Kensington Palace là một khách sạn lớn. Tôi dặn tiếp tân khách sạn đánh thức tôi lúc bảy giờ, nên mỗi buổi sáng chuông điện thoại reo và tiếng cô tiếp tân êm ái chào: “Thưa ông, đã bảy giờ rồi”. Bữa ăn sáng được đem lên tận phòng, sau đó điện thoại lại reo: “Thưa ông, có xe đến đón ông’. Ở bên Pháp tôi tiết kiệm từng đồng, qua đây mỗi ngày tiền nước cho tài xế tính ra bằng năm sáu bữa cơm sinh viên của tôi, nhưng không thể khác hơn vì “nhập giang tùy khúc”. Bên nầy quên tiền nước sẽ bị tài xế cho là mình không biết điều.
Tám giờ sáng xe đưa tới phim trường, tôi hóa trang và bận đồ sĩ quan. Bắt đầu từ lúc đó tôi nhập vai thành viên sĩ quan Nhựt Bổn, đến nỗi có lần ông đạo diễn kêu “ông Trần Văn Khê” tôi không để ý cứ đi tiếp, tới khi ông ta sửa lại “Đại úy Sugaya” tôi mới quay lại trả lời bằng tiếng Nhựt Bổn với giọng gây gổ làm ông đạo diễn khen rối rít.
Mỗi ngày làm việc từ 9 giờ sáng tới 12 giờ, buổi trưa ăn cơm và nghỉ ngơi, khoảng 1 giờ 30 tiếp tục quay cho đến 4 giờ 30, sau đó họ dọn trà cho uống, 5 giờ trở về khách sạn. Việc đóng phim có vẻ như một trò chơi khiến tôi rất vui thích.
Vai diễn này kể ra cũng khó đối với tôi, bản chất tôi vốn không dữ lại không quen đánh người, vậy mà tôi phải đánh hết người này đến người khác. Có lần tôi bạt tai người bạn diễn nhẹ quá, ông đạo diễn nhắc nhở phải đánh mạnh, nếu không ông ta sẽ biểu diễn đánh tôi một cái cho tôi biết được phải đánh mạnh tới cỡ nào. Hai người đóng vai đại tá đứng im chịu trận cho tôi bạt tai, không phải đánh một lần mà phải diễn đi diễn lại mấy lần, đánh xong tôi còn nhìn thấy rõ dấu tay của mình hằn trên mặt họ. Không phải chỉ mấy sĩ quan, đám tùy tùng cũng bị tôi bạt tai ráo trọi. Viên đại úy Sugaya chẳng những rất hung dữ đối với lính mà cả với phụ nữ cũng vậy, xô luôn một bà té xuống vũng bùn. Sau mỗi buổi làm việc tôi luôn luôn xin lỗi các bạn diễn.
Riêng tôi được hãng phim cho xe đưa đón chớ còn vài người Nhựt Bổn đóng các vai nhỏ thì hàng ngày phải đi xe buýt từ năm giờ sáng đến phim trường. Thấy vậy tôi nói họ đến khách sạn để đi chung xe với tôi.
Mỗi buổi sáng tôi lững thững đi từ từng lầu một xuống phòng tiếp tân khách sạn, vừa thấy tôi hai cậu người Nhựt đang ngồi chờ liền đứng bật dậy thẳng người chào nghiêm trang rồi chạy ra mở cửa xe sẵn, vì họ cũng nhập vai coi tôi là người chỉ huy. Nhiều người trong khách sạn ngạc nhiên không biết tôi là ai mà được đưa đón chào hỏi long trọng như vậy!
Ngoài tiền lương lãnh theo hợp đồng, mỗi ngày hãng phim cấp cho tôi 12 bảng Anh tiền ăn nên rất dư dả, nếu xài không hết thì phải đóng thuế lợi tức trên số tiền còn lại. Vì vậy nên buổi chiều tôi thường mời một hai sinh viên Việt Nam đến ăn cơm với tôi hoặc mua vé đi xem hòa nhạc để xài cho hế số tiền này.
Cuộc sống quả thật là một hí trường. Sống trên đời đã là sống trong một sân khấu lớn, lúc thủ vai này, khi làm vai khác, nay tôi lại phải đóng thêm một vai hết sức trái ngược với bản chất của mình. Bước vào vai mới này, cuộc sống của tôi cũng hoàn toàn thay đổi, ăn ở sang trọng, đi đâu cũng có tài xế lái xe. Tôi như sống trong một giấc mơ.
Phim này về sau đem qua Pháp chiếu, lấy tên là Cuộc đời tôi bắt đầu tại Mã Lai (Ma vie commence en Malaysie). Bối cảnh chuyện phim diễn ra trong một cánh rừng Mã Lai là vùng nóng nực, tù binh phải ăn mặc rách rưới, lao động nặng nhọc nên đổ mồ hôi đầm đìa. Nhưng phim khởi quay tại Anh từ mùa hè sang tới mùa thu. Trời bắt đầu trở lạnh mà diễn viên đóng vai tù binh phải đi chân không trong đất bùn, ăn bận rách rưới, kể cả cô đào chánh cũng vậy. Trời lạnh mà còn phải chịu xịt nước vô người giả làm mồ hôi. Tôi đóng vai sĩ quan nên sướng hơn nhiều, bên trong mặc áo ấm, ngoài mặc quân phục sĩ quan. Trời mùa thu bên Anh có lúc mưa lâm râm. Khi quay phim ngoài trời, đạo diễn sợ bộ đồ sĩ quan của tôi bị ướt, không đúng với thời tiết của cảnh trong phim đang lúc khô ráo nên cho người cầm dù đi theo che cho tôi, khi bắt đầu quay phim họ mới chạy ra chỗ khác. Tôi thấy rõ ràng mình gặp may, chớ nếu đóng vai tù binh biết chừng đâu sẽ bịnh trở lại. Vai tôi đóng nhẹ nhàng hơn mà lại hưởng lương lớn hơnn nhiều người khác. Nghĩ vậy mà thấy vừa vui lại vừa băn khoăn, vì mình sống một cuộc đời thật mà không thật, bản thân mình lấy cái không thật này để nuôi sống cuộc đời thật khác của mình!
Sau khi đóng xong phim này, hãng phim Rank đề nghị tôi qua nước Anh sống để tiếp tục đóng phim chuyên nghiệp, vì nếu tôi ở Pháp thì có hai trở ngại cho họ. Một là họ phải chứng minh rằng vai tôi đóng không tìm được diễn viên thích hợp tại nước Anh. Hai là hãng phim phải xin Chánh phủ một giấy phép hành nghề ngắn hạn cho tôi trong thời gian làm việc tại Anh, chưa kể phải đóng thuế rất cao, thiệt thòi cho cả hãng phim lẫn diễn viên. Tôi cười trả lời họ việc đóng phim chỉ là nghề tay trái, là phương tiện tôi kiếm sống còn làm luận án về âm nhạc mới là mục đích của đời tôi. Đạo diễn nghe vậy hết sức ngạc nhiên vì ông cứ đinh ninh rằng tôi là diễn viên nhà nghề.
Phim tôi vừa đóng được giới thiệu tại Luân Đôn, trước khi chiếu ra nước ngoài, hãng phim tổ chức một buổi lễ giới thiệu long trọng có mời chánh quyền và báo chí tham dự. Những diễn viên chánh trong phim đều phải có mặt và được yêu cầu phải mặc lễ phục. Một bần sĩ như tôi làm gì có được lễ phục (smoking) nên hãng phim phải mướn cho tôi. Theo hợp đồng đã ký, hãng phim có quyền dùng tên tuổi, hình ảnh và sự có mặt của tôi trong những chương trình quảng cáo. Phải đi thì cứ đi. Tôi bay qua Anh một ngày để dự buổi lễ, chào hỏi giới báo chí, tươi cười với mọi người, ăn uống trong các buổi tiệc rồi trở về Pháp. Tôi không vui vì mất hai ngày vô ích, tuy được hãng phim đài thọ vé máy bay nhưng họ không trả lương, phải cười cười nói nói ngoài ý muốn, cảm thấy lúc đó mình không còn là mình nữa.
Cuối năm 1957 hãng phim gọi điện thoại báo tin sắp có một phim lớn là Trên cầu sông Kwai (Sur le pont de la rivière Kwai) do diễn viên nổi tiếng Humphrey Boggart đóng vai chánh, sẽ khởi quay vào năm sau tại Tích Lan và muốn mời tôi đóng một vai. Tôi nghe vậy cũng thích, nghĩ bụng thời gian đó đúng vào lúc tôi hoàn thành luận án, tôi dự định sẽ đóng thêm một bộ phim nữa thôi.
Nhưng trong đời tôi hình như có một đấng khuất mặt linh thiêng phò hộ hướng dẫn, cuối cùng một việc bất ngờ xảy ra khiến tôi không đóng được phim Trên cầu sông Kwai: Humphrey Boggart qua đời thình lình. Hãng phim phải tức tốc chọn một diễn viên khác là William Holden để thay thế. Mỗi diễn viên có ê kíp riêng của họ, do đó William Holden chọn một diễn viên khác người Nhựt Bổn chính gốc đóng vai dành cho tôi. Vậy là tôi thoát khỏi guồng máy điện ánh rồi!
Bạn bè biết chuyện có người tiếc cho tôi lỡ mất một dịp may. Phần tôi lấy làm mừng vì đang lúc còn do dự nhưng chưa đủ ý chí cũng như không có lý do chánh đáng để từ chối. Nếu tôi đóng phim này không biết chừng sẽ được nổi tiếng, rồi tiếp tục được mời đóng các phim khác, lần lần biết đâu sẽ bị cuốn theo điện ảnh luôn?
Từ đó tôi quay trở lại với tâm nguyện của mình chớ không lạc lối qua hướng khác. Có được khoản tiền đóng phim nên sau đó tôi không cần phải tiếp tục hoàn tất luận án để kịp bảo vệ vào tháng 6 năm sau. Sau khi đóng phim bên Anh, tôi có được một số kinh nghiệm trong cuộc sống, thỏa mãn được ước vọng hồi nhỏ và từ đó về sau tôi không nhận lời đóng phim nào nữa.
Cũng trong năm 1957, phong trào “Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ” (Jeunesse musicale Suisse) mời tôi qua nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại 24 nơi trong vòng ba tuần lễ. Tôi chỉ đem theo cây đờn cò và đờn tranh. Tại biên giới Thụy Sĩ, đại diện của Ban tổ chức là một cô gái rất dịu dàng tên Anne Marie đón tôi và cho biết lịch trình của chuyến biểu diễn hết sức thú vị này. Họ sắp xếp cho tôi ở nhà người dân địa phương, vùng nào không có người tiếp thì mình ở khách sạn. Tôi nói chuyện về đề tài âm nhạc với đời sống người Việt Nam. Qua sự trình bày của tôi thanh niên Thụy Sĩ biết được rằng ở Việt Nam, khi mới sanh ra đứa trẻ đã được nghe mẹ hát ru, lớn lên đi làm việc đồng áng thì có câu hò, trai gái gặp gỡ trao đổi với nhau bằng đối ca nam nữ. Tôi cũng giới thiệu nhạc thính phòng với các loại đờn cò, đờn tranh cùng các làn điệu – điệu Bắc, điệu Xuân, điệu Ai. Tiếp theo âm nhạc phát triển thành nhạc mới và cuối cùng tôi ngồi trước piano đờn bản nhạc của Võ Đức Thu tựa là Bóng hoàng hôn để kết thúc buổi nói chuyện.
Báo chí Thụy Sĩ sau đó đăng tin với lời khen ngợi, đồng thời bày tỏ sự bất ngờ và thú vị vì từ nước Pháp láng giềng lại có một người Việt Nam đến đây giới thiệu tiếng nhạc lời ca êm ái của một đất nước xa xôi vừa trải qua chiến tranh.
Tại Genève, thủ đô của Thụy Sĩ, ngoài buổi nói chuyện cho phong trào thanh niên, tôi còn nói chuyện tại “Bảo tàng viện dân tộc học” trước những người nghiên cứu âm nhạc. Với đối tượng này tôi chú trọng nói thêm về đặc điểm của thang âm điệu thức. Tôi sắp hoàn thành luận án âm nhạc nên những hiểu biết về lịch sử, nhạc khí và thang âm điệu thức đã khá chính xác.
Chuyến đi Thụy Sĩ không được nhiều tiền như khi đóng phim bên Anh nhưng tôi lại thích thú hơn vì được nói về âm nhạc dân tộc một cách nghiêm túc, để cho người nước ngoài chẳng những hiểu được nền nghệ thuật của đất nước mà còn cảm nhận cả bề sâu tâm hồn của người Việt Nam. Khi họ đặt câu hỏi về lịch sử hoặc cần đối chiếu giữa âm nhạc Việt Nam và Trung Quốc, tôi cũng có đủ những hiểu biết để trình bày tường tận. Tuy lần này không được đi máy bay sang trọng mà chỉ di chuyển bằng xe lửa nhưng tôi rất vui gặp được những người yêu mến âm nhạc Việt Nam. Tôi cũng khâm phục khi thấy Thụy Sĩ là một nước nhỏ nhưng giới thanh niên may mắn có được một tổ chứ đứng ra mời người nơi khác tới nói cho nghe về âm nhạc. Lòng hiếu khách của họ đã cho tôi được dịp sống chung, tiếp xúc với người dân địa phương.
Năm này tôi chơi thân với một anh bạn học chung trường nhạc người Đài Loan tên là Hsu Tsang Houei (Hứa Thường Tuệ). (Về sau chúng tôi còn gặp lại nhau nhiều lần khi anh mời tôi tới Đài Loan dạy với tư cách giáo sư thỉnh giảng). Anh sang Pháp học nghiên cứu âm nhạc với thầy Jacques Chailley cho đến khi tốt nghiệp đại học chớ không làm luận án tấn sĩ. Anh cũng học sáng tác, chuyên sử dụng nhạc cụ phương Tây. Chúng tôi thích đi ăn cơm chung với nhau sau buổi học, cả hai đều nghèo nên thường tới Gare de Lyon nơi có bán mì giá rẻ để ăn tối. Chúng tôi lại giống nhau ở điểm thích uống rượu Tây, lâu lâu có chút đỉnh tiền thì đi uống một ly rượu thiệt ngon, thỉnh thoảng lại cùng đi nghe nhạc. Cả hai đều mong khi học xong sẽ về nước làm việc, tôi muốn phát huy âm nhạc dân tộc, còn anh thì áp dụng âm nhạc phương Tây để sáng tác một loại nhạc đặc biệt của người Trung Quốc.
Năm 1957 anh tốt nghiệp đại học, lúc chia tay anh nói với tôi:
- Anh ở lại để hoàn tất luận án tấn sĩ còn tôi về nước. Tôi mong rằng một ngày nào đó tôi có điều kiện để mời anh qua nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại đất nước tôi.
Chúng tôi đi ăn bữa tiệc chia tay và nhiều năm sau đó anh Hsu Tsang Houei đã thực hiện được lời hứa. Từ giã anh, tôi trở về trong lòng hơi buồn. Cả hai chúng tôi đều mong mỏi được về phục vụ đất nước, nay anh đã toại nguyện còn tôi thì chưa. Rời quê hương năm 1949, tám năm đã trôi qua mà tôi vẫn chưa biết tương lai của mình sẽ ra sao. Thấy anh về nước, lòng tôi lại càng thôi thúc nỗi mong ước được hồi hương, nhưng là một chuyện, còn thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Ước mong này phải đến 17 năm sau – vào năm 1974 – tôi mới có được dịp “ghé” qua Sài Gòn chớ cũng chưa được về hẳn. Tới năm 1976 tôi mới chánh thức về thăm quê hương lần đầu tiên.
Năm 1958 có nhiều chuyện quan trọng xảy ra trong đời tôi mà ấn tượng nhứt là việc bảo vệ luận án tấn sĩ âm nhạc vào tháng 6.
Sau khi đóng phim ở bên Anh, tôi trích một phần tiền lương gởi về cho vợ đặt cọc mua căn nhà cho mấy mẹ con, phần còn lại tôi xài tiện tặn trong cả năm trời để khỏi phải đi làm thêm, quyết tập trung công sức vào việc hoàn chỉnh luận án. Những năm trước thông thường khi hoàn thành luận án phải in ra để gởi cho tất cả các đại học, về sau nhà trường thông cảm với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nên cho phép sử dụng bản đánh máy chớ không buộc phải in thành sách.
Tôi không đủ khả năng tài chánh nên làm đơn xin phép được trình luận án bằng bản đánh máy, sau đó in ronéo thành nhiều bản (lúc bấy giờ chưa có kỹ thuật photocopy) cho đỡ tốn kém. Nhưng tôi cũng không đủ tiền mướn người đánh máy bổn chánh và quay ronéo thêm cả trăm bổn phụ để gởi cho các giám khảo, báo chí, bạn bè. Anh Hiển, người đã giúp tôi sửa sang dọn dẹp căn phòng ở nhà anh Huỳnh trước đây, lãnh phần phụ đánh máy bản thảo và rút số tiền 50.000 quan (cũ) trong sổ tiết kiệm cho tôi mượn. Vợ chồng cháu Phương – cháu gọi tôi bằng cậu – cho mượn thêm 200.000 quan (cũ), chừng đó mới đủ trang trải cho việc in ấn. Thật ra trước đó hai anh Phạm Văn Mười – chủ nhà hàng La Table du Mandarin - và anh Nguyễn Khắc Viện – lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp – mỗi ngừoi có gởi cho tôi 200.000 quan (cũ). Tôi viết thơ cám ơn và gởi trả hai ngân phiếu để các anh giúp cho sinh viên nào gặp cảnh khó hơn tôi, vì tôi luôn cố gắng “tự lực cánh sinh” trong suốt quãng thời gian từ khi qua Pháp cho tới khi đậu xong tấn sĩ.
Khi trình bày luận án, nói đến đâu phải đưa ra những hình ảnh, cho nghe những bản nhạc để minh họa tới đó. Tôi nghèo quá không đủ tiền mua nên phải mượn máy đèn chiếu và máy ghi âm của vợ bác sĩ Phan Tấn Thiệt cả tuần lễ trước. Ngày trình luận án tôi mượn xe của một người cháu là nha sĩ Chánh để chở máy móc, sách vở, tài liệu tới trường Sorbonne. Một cô bạn học tên là Weber đi theo để giúp tôi trong việc gắn máy móc, sắp xếp đồ đạc, sau này chúng tôi còn làm việc chung với nhau một thời gian dài tại Đại học Sorbonne.
Ban giám khảo gồm ba người do ông Jacques Chailley làm chủ khảo chấm về nhạc học, ông Emile Gaspardone theo dõi về Hán học và lịch sử Việt Nam còn ông Jacques Gernet chấm về phần âm nhạc dân gian. Luận án chánh của tôi là Âm nhạc truyền thống Việt Nam gồm ba phần: lịch sử, nhạc khí và ngôn ngữ âm nhạc. Luận án phụ viết về đề tài Khổng tử và âm nhạc do chính thầy Garpardone hướng dẫn. Ngoài ra còn phần thư mục và danh sách tất cả các dĩa hát hiện có tại Pháp, thêm phần ghi chú những thuật ngữ bằng chữ Hán cho người đọc đối chiếu, tất cả là 580 trang đánh máy.
Đầu tiên luận án của tôi rất dài vì đi sâu vào các vấn đề kỹ thuật như tả tỉ mỉ các cây đờn mà Khổng Tử biết sử dụng như đờn cầm, đờn sắt, ống sanh… Thầy Garpardone nhìn nhận tôi làm rất công phu nhưng thầy đưa ra lời khuyên rất chí lý:
- Anh phải viết ngắn gọn lại người ta mới nhận đăng lên báo hay tạp chí và như vậy sẽ được phổ biến rộng rãi. Sau này đậu tấn sĩ rồi anh hãy viết thêm vì khi đó đã có tiên tuổi rồi, viết dài bao nhiêu người ta cũng sẵn sàng đăng tải.
Tôi nghe lời thầy, bỏ bớt nhiều phần, tóm tắt cô đọng lại còn gần 100 trang nhưng vẫn đầy đủ ý. Trong công trình này tôi đề cập đến việc mọi người biết nhiều về Khổng Tử là một triết gia chớ ít ai biết ông còn là một nhạc sĩ, chẳng những biết đờn, biết luật về âm nhạc mà còn sáng tác được nữa. Như vậy nếu sống trong thời hiện đại Khổng Tử sẽ được gọi là một nhà nhạc học, một chuyên gia lý luận về âm nhạc và là một nhạc sĩ vừa biểu diễn vừa sáng tác.
Sau này bài viết về “Âm nhạc dân gian” trong luận án của tôi đề cập tới vị trí của âm nhạc trong đời sống dân gian được đăng trong tạp chí “Kỷ yếu những bài nghiên cứu về Đông Dương” (Bulletin des études Indochinoises). Ngoài ra, Tạp chí “Nước Pháp và châu Á” (France-Asie) xuất bản tại Nhựt Bổn tóm tắt lại luận án Khổng Tử và âm nhạc của tôi đăng trên số báo 183 vào mùa Xuân năm 1966. Tôi cũng tóm lược bài này đăng trong cuốn Tiểu phẩm xuất bản năm 1997 tại Việt Nam.
Sau khi tôi trình bày xong luận án, Giáo sư Chailley phát biểu:
- Tôi lấy làm vui mừng vì thí sinh bảo vệ luận án hôm nay là một người học trò đã áp dụng một cách hoàn hảo phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ âm nhạc của tôi. Tôi hài lòng thấy học trò của mình đã chứng minh được quan điểm của tôi đưa ra là không sai, có thể làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu sau này về những loại âm nhạc không phải của phương Tây.
Tôi không ngờ luận án của mình đạt được điểm tối ưu với lời ngợi kheo của Ban giám khảo. Tôi được nhiều người tới chúc mừng, bắt tay khen tặng trong đó có một người Pháp cao niên nắm tay tôi nói:
- Tôi không ngờ âm nhạc Việt Nam có những nét đặc thù khác hẳn âm nhạc Trung Quốc. Tôi là nhà nhạc học Roland Manuel, đang làm chủ biên cho bộ Bách khoa tự điển về lịch sử âm nhạc thế giới trong đó không có trang nào đề cập đến âm nhạc Việt Nam hết. Hôm nay sau khi dự buổi bảo vệ luận án của anh tôi mới thấy mình thiếu sót. Tôi muốn mời anh tới gặp tôi để bàn về vấn đề này.
- Xin cảm ơn ông. Ngày mai tôi sẽ đến gặp ông.
Sau buổi trình luận án của tôi, thầy Chailley chấp nhận trả lời trên Đài phát thanh Pháp Á tại Sài Gòn về luận án tấn sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise ở Sài Gòn đăng tin tôi đậu tấn sĩ và trích lại những lời khen của thầy Chailley phát biểu trong bài phỏng vấn trên đài.
Thường thì những anh tân khoa thết tiệc lớn để ăn mừng, tôi đã nghèo lại còn mang nợ nên chỉ mời Ban giám khảo cùng vài người bạn thân vào một tiệm cà phê ở góc đường uống ly rượu chát để tạ ơn thầy dạy, đáp nghĩa ân sư và chia vui với bạn.
Tối hôm đó em Mộng Trung nấu một bữa cơm để “khao” người anh mới đậu tấn sĩ. Buổi tiệc có gia đình em Mộng Trung, anh Hiển và vợ chồng cháu Phương. Nhớ công em Mộng Trung trong suốt cả năm trời lo buổi cơm chiều cho tôi khỏi mất thời giờ đi chợ nấu ăn nên tôi có viết mấy câu thơ trong quyển luận án gởi tặng em:
Hôm nay luận án mới vừa xong
Thân mến tặng em với tấm lòng
Khảo cứu bao năm, nay kết quả
Sưu tầm mấy độ đã thành công
Mong đền nợ nước, bồi văn nghệ
Muốn đáp nghĩa nhà, rạng tổ tông
Đường khó, bền lòng nay đến chốn
Vui thay! Được phỉ chí tang bồng.
Anh Hai Trần Văn Khê
Ngay hôm sau, tôi đi đến nhà Ông Roland Manuel, Chủ biên Bách khoa Tự điển Lịch sử âm nhạc.
Cuốn Bách khoa tự điển nói trên có tên là Encyclopédie de la Pléiade do nhà xuất bản Gallimard phát hành năm 1960. Khi gặp tôi, Ban chủ biên cho biết bộ sách sắp được in nên không thể thêm trang, do đó phải cắt bớt phần viết về âm nhạc của Nhựt Bổn, Trung Quốc, Ba Tư, Ấn Độ, Ả Rập… mỗi nước một trang, cộng lại được chín trang và nhờ tôi viết lịch sử âm nhạc Việt Nam để thêm vào đó. Tôi vừa hoàn thành luận án tấn sĩ, bỗng nhiên được mời tham gia vào việc viết cho một bộ Bách khoa tự điển về âm nhạc nên nhận lời ngay. Hơn nữa, so với nên âm nhạc rất lớn như Trung Quốc và Ấn Độ mà cũng chỉ có được hai ba mươi trang thì âm nhạc Việt Nam có chín trang cũng tạm được.
Về sau khi nghiên cứu cuốn Bách khoa tự điển này tôi mới nhận ra sự bất công trong việc soạn thảo. Một nền âm nhạc phong phú như của Trung Quốc mà chỉ giới thiệu khoảng 25 trang trong khi nhạc sĩ Johann Sébastian Bach lại được dành đến mấy trăm trang. Do đó nhiều năm sau, khi UNESCO mời tôi cùng với năm người nữa xem xét và nhận định lại những sách về âm nhạc đã xuất bản, tôi có phê bình về việc này. Nhờ vậy UNESCO đưa ra đề án để thực hiện một công trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới và mời tôi vào Ban chủ biên.
Thế nhưng dẫu sao thì đó cũng là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam có được chín trang trong cuốn Bách khoa tự điển âm nhạc thế giới viết theo phong cách của người Việt Nam. Thật ra trong quyển Bách khoa từ điển phát hành từ đầu thế kỷ 20 do Albert Lavignac chủ biên cũng có bài của một người Bỉ là ông Gaston Knosp viết về âm nhạc Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên. Những bài viết của ông Knosp từ năm 1907 có nhiều điểm sai. Chẳng hạn ông giải thích tên đờn gọi là tỳ bà vì khi đờn phải tỳ (dựa) vào người, hoặc ông cho rằng nhạc Việt Nam lề mề buồn bã nên rất dở, còn nhạc dân tộc Khmer hay vì tiết tấu rộn rã vui hơn. Ông Knosp viết về âm nhạc Việt Nam theo cách nhìn của người phương Tây nên không chính xác, còn bài của tôi tuy chỉ có chín trang nhưng được viết theo quan điểm của người Việt Nam với các chi tiết xác thực hơn.
Công việc này không được trả nhiều tiền nhưng đó vừa là một vinh dự, vừa là bước đầy để sau này tôi tham gia vào những cuốn tự điển khác như Larousse. Đây cũng là một bực thang để tôi bước lên đài quốc tế trong việc giới thiệu nhạc Việt Nam qua sách báo.
Hơn 20 năm sau, vào năm 1981, khi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh), tôi có thuật lại việc viết chín trang trong Bách khoa tự điển của Pháp. Sau đó một thính giả tặng tôi bài thơ 60 câu ký tên Thuận Hóa để mừng tôi được sáu mươi tuổi, trong đó có mấy câu:
Chín trang âm nhạc đã thành công
Giờ được tuyên dương thật thỏa lòng
Nhạc sĩ kiên cường như chiến sĩ
Đấu tranh bằng nhạc quá uy hùng…
Sau khi báo chí đăng tin khen ngợi tôi đậu tấn sĩ, đài BBC cử người sang Pháp mời tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam mỗi tuần một lần trong mười phút. Tôi cộng tác với chương trình này suốt một năm, hàng tuần nói chuyện âm nhạc từ câu hò, hát ru đến đối cả nam nữ, từ nhạc thính phòng, nhạc sân khấu tới nhạc mới. Tôi nói về truyền thuyết trong âm nhạc như Trương Chi, truyền thuyết về đờn đáy, cả về lịch sử như chuyện Nguyễn Kỵ với người đào nương hay kịch Tụy lụy của Lưu Hữu Phước. Đài BBC sắp xếp cho tôi ghi âm tại phòng thâu nhạc của đài này ở Pháp.
Tôi nhớ lại khi học trường Chánh trị, nhà trường thường ra những đề tại lớn cho sinh viên, chẳng hạn như “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ chiến tranh thế giới thứ nhứt tới chiến tranh thế giới thứ hai”. Cả một mảng rộng lớn bao gồm không biết bao nhiêu sự kiện mà sinh viên chỉ có được một tiếng đồng hồ suy nghĩ, tổng hợp và cô đọng lại để trình bày trong vòng mười phút. Nếu nói dưới thời gian qui định thì bị chê là đề tài rộng lớn như vậy mà chưa đầy 10 phút đã hết chuyện nói, còn nói quá giờ thì bị phê bình không biết chọn lọc những yếu tố quan trọng để trình bày đầy đủ trong thời gian qui định. Do đó chúng tôi phải thường xuyên tập dợt cho việc thuyết trình những đề tài lớn trong thời gian ngắn. Nhờ vậy khi Đài BBC yêu cầu tôi nói chuyện về âm nhạc trong mười phút cho mỗi lần phát thanh thì tôi có thể làm dễ dàng.
★
★
★
★
★
0