📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hồi ký Trần Văn Khê tập 2 - Đất khách quê người

3 trả lời, 3.534 lượt xem — Trang 1 / 1
Hồi ký Trần Văn Khê tập 2 - Đất khách quê người
Nhà xuất bản trẻ - 2001


Lời tựa
 
Bạn đọc thân mến,
 
Thật là một hạnh phúc quá lớn cho tôi, chỉ vài ngày sau khi tập hồi ký thứ nhứt ra mắt, tôi đã nhận được rất nhiều tình cảm của bạn đọc ở nhiều nơi, thuộc nhiều lứa tuổi, bày tỏ qua thơ từ hay điện thoại gọi đến.
 
Tôi cũng nhận được những góp ý phê bình của các nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp, những lời nhận xét chân tình của bạn bè thân thuộc gần xa.
Không có niềm vui nào bằng khi được biết các bạn theo dõi thật kỹ trong từng chi tiết những đoạn đời của tôi, từ lúc ấu thơ cho đến khi vào trường trung học rồi đại học; thân thiết chia sớt niềm vui nỗi buồn của tôi bằng những tiếng cười vang to hay giọt lệ nhỏ thầm qua những trang sách mà các bạn cho là “đặc sệt giọng miền Nam”.
 
Tất cả là nguồn khích lệ mà cũng là một cây kim chỉ nam giúp tôi hoàn thành tập hồi ký thứ hai này và chuẩn bị cho tập hồi ký thứ ba.
 
Trước kia tôi e dè, ngần ngại khi nói đến chuyện riêng tư của mình vì nghĩ rằng bạn đọc thường chỉ muốn biết về công việc học tập, sưu tầm, nghiên cứu, phát huy và phổ biến âm nhạc Việt Nam. Tôi không ngờ rằng các bạn lại quan tâm đến cả tâm tình của một con người rất bình thường cũng biết thương biết khổ biết buồn biết lo như tôi.
 
Để đáp lại thạnh tình của các bạn, lần này xin mời bạn đọc cùng với tôi sang Pháp, theo dõi cuộc sống của một sinh viên nghèo tự lực cánh sinh, phải vừa học vừa làm thêm nhiều việc khác nhau; đã trải qua những cơn đau thập tử nhất sinh, liên tục ra vào bịnh viện trong nhiều năm, mà ngay trên giường bịnh vẫn tiếp tục nấu sử sôi kinh cho đến ngày thành tài. Rồi tôi bắt đầu đi những bước đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học về âm nhạc, giảng dạy tại Đại học Sorbonne bên Pháp và nhiều đại học trên thế giới, đem tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu qua những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc.
 
Kể từ đó, công việc hàng ngày trong cuộc đời tôi không ngoài theo đuổi các mục đích: (1) Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam và mở rộng ra là các nước châu Á (2) Dạy âm nhạc học tại nhiều trường đại học ở các nước Âu, Mỹ, Á, (3) Dự hội nghị và đảm nhận trách nhiệm trong Ban chấp hành của nhiều cơ quan quốc tế, (4) Thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam.
 
Nhưng cuộc đời có mấy khi suôn sẻ! Có được cái vui khi trùng phùng hội ngộ thì cũng chịu cái buồn sinh tử biệt ly. Có được sự hài lòng khi hoàn tất chuyện học hành – mà người đời thường nói là “công thành danh toại” – thì cũng có nhiều âu lo khi phấn đấu chống lại bịnh tật, vượt qua bản thân để không rơi vào cảnh tuyệt vọng, cũng như khỏi sa vào những quyến rũ lạc lòng.
 
Mong rằng, qua tập hồi ký này, thêm một lần nữa tôi lại tìm được niềm cảm thông và sự chia sớt của bạn đọc.
 
                                                                                    TRẦN VĂN KHÊ

Đăng nhập để trả lời
0
ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI
 
Từ đầu năm 1947 tôi đưa vợ con về sống tại Sài Gòn. Tại đây tôi gặp được người quen là anh Nguyễn Chí Mai, một người hoạt động tích cực trong phong trào kháng chiến, vợ anh là người cùng xứ sở với tôi. Anh Mai có một biệt thự lớn ở số 80 đường Monceau nên cho gia đình tôi ở chung với anh, chia nhau mỗi bên một nữa. Tôi vừa đi dạy học ở nhiều trường, vừa viết cho các tờ Việt Báo và Thần Chung là nhóm làm báo có cảm tình với kháng chiến đồng thời ủng hộ lập trường thống nhứt đất nước. Dạy học kiếm sống cũng vừa đủ, làm thêm nghề viết báo rất vui vì nhờ đó mà tôi bắt liên lạc với một số anh em cùng đi kháng chiến trước đây.
 
Cuộc sống của tôi thời gian này rất ổn định, cho tới một hôm, anh Nguyễn Chí Mai bị điềm chỉ, mật thám đến xét nhà và bắt anh, tôi ở chung nhà nên cũng bị bắt giam ở bót Catinat. Anh Mai bị đày đi Bà Rá còn tôi bị giam hai tuần lễ sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó tôi bị mật thám theo dõi.
 
Anh em bạn bè khuyên tôi nên xin đi Pháp một thời gian để lánh mặt. Nhân dịp này tôi có thể học thêm mà cũng là cơ hội được đi đây đi đó, thỏa mãn mộng ham thích viễn du. Vậy là tôi dự định đi Pháp trong hai năm sẽ trở về. Vợ chồng tôi đã có ba đứa con, hai trai, một gái và vợ tôi đang có thai đứa con thứ tư. Chuẩn bị cho cuộc sống ở Pháp, toà soạn Thần Chung và Việt Báo cấp cho tôi một thẻ phóng viên làm việc tại nước ngoài. Khi đến Pháp tôi sẽ ở nhờ nhà anh Francois Lebouteiller, một người bạn mà tôi quen khi anh ở Việt Nam, cha mẹ anh là người đứng tên bảo lãnh cho tôi qua Pháp.
 
Tháng 5 năm 1949 tôi rời Sài Gòn bằng đường thủy. Như bạn đọc đã biết, nhờ anh Năm Châu và ông chủ nhà hàng Phong cảnh khách lâu giới thiệu tôi cho ông quan ba tàu Champollion nên tuy mua vé hạng tư nhưng tôi được phép lên boong tàu hàng nhứt; nhờ bác sĩ Tại mà tôi được ăn chung với những ông sếp lò bánh mì, sếp kho lương thực và sếp nhà bếp trên tàu.
 
Hàng ngày ngoài những lúc nghỉ ngơi, tôi lên khoang hạng nhứt chơi. Trong chuyến đi này có vua nước Lào đang trên đường qua Pháp công du. Một hôm tôi tới ngồi gần ông và bắt chuyện bằng tiếng Pháp, tự giới thiệu mình là ký giả của hai tờ báo tại Sài Gòn rồi xin phép được phỏng vấn ông. Vua Lào đồng ý, chỉ yêu cầu không nói đến chuyện chánh trị. Như vậy là ngay những ngày đầu tiên trong chuyến đi, tôi đã gởi bài phỏng vấn vua Lào với hàng tựa: “Đặc phái viên bổn báo đã gặp được vua Lào trên tàu Champollion”, một sự kiện độc đáo không báo nào có được.
 
Những khi rảnh rỗi tôi vô phòng uống nước giải khát, trong đó có trò chơi cá ngựa. Trò chơi này có sáu con ngựa gỗ mang tên khác nhau được đánh số thứ tự từ một đến sáu, nhà cái đổ hột lúc lắc sáu mặt, ra số nào thì con ngựa số đó đi tới một khoảng chừng hai tấc tây. Ngựa nào tới đích trước – cách điểm khởi hành khoảng hai thước – người bắt cá con ngựa đó được ăn tiền. Mỗi người đậu 100 francs, người thắng được 600 francs (đồng franc cũ).
 
Tôi thấy một con ngựa mang tên Sérénade dễ thương nên chọn đánh, không ngờ lại thắng. Xưa nay tôi mua giấy số chưa bao giờ trúng, lần này mới đặt lần đầu mà đã thắng, đủ tiền mời mỗi người có mặt trong phòng uống một ly rượu. Một phụ nữ Trung Hoa đi cùng cô con gái vui vẻ chúc mừng tôi. Tôi có dịp làm quen và được biết bà trong tương lai sẽ là Tổng lãnh sự Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch đang trên đường tới Ý, khi đến Marseille sẽ chuyển sang tàu khác hay đi xe lửa đến Roma. Hai mẹ con bà chỉ biết tiếng Anh chứ không nói được tiếng Pháp. Tôi đờn piano cho cô gái nghe, dạy cô một bài hát Việt Nam còn cô dạy cho tôi một bài tình ca Trung Hoa. Bài hát rất hay nhưng cô không chịu dịch lời nên tôi chỉ biết phát âm đúng theo cô dạy mà không hiểu ý nghĩa.
 
Mãi sau này, trong chuyến đi Bắc Kinh, khi cô thông dịch hỏi tôi có biết bài hát nào bằng tiếng Trung Quốc không, tôi hát lại bài ca đó. Nghe xong cô cười hỏi tôi muốn dùng bài hát nhắn gởi với cô hay sao? Tôi ngạc nhiên vì không hiểu nội dung bài này nói gì, cô bèn dịch lời cho tôi biết:
 
Tôi chẳng biết tôi yêu cô từ lúc nào
 
Muốn nói ra lại sợ cô giận
 
Nhưng nếu không nói thì làm sao cô biết rằng tôi yêu cô
 
Sau khi suy nghĩ rất lâu
 
Có lẽ tôi sẽ giữ bí mật này suốt đời
 
Không bao giờ thổ lộ với cô
 
Ai ngờ bài hát có nội dung trữ tình dữ vậy?
 
Trong chuyến đi có tổ chức khiêu vũ, ông quan ba thuyền trưởng gởi thiệp mời tôi tham dự. Lúc đó tàu đang đi trong vùng Ấn Độ Dương, khí hậu nóng nên không bắt buộc mặc lễ phục mà chỉ cần mặc “com lê” thắt cà vạt là đủ. Tôi chỉ có một bộ đồ “vía” bạn bè may cho nên diện vô để đi nhảy đầm. Bà Tổng lãnh sự mấy ngày qua quan sát con gái bà và tôi trò chuyện với nhau nên yên lòng cho phép cô con gái làm bạn nhảy với tôi. Chúng tôi trải qua một đêm khiêu vũ hết sức vui vẻ.
 
Mấy người bạn đồng hành ở khoang hạng tư tối nào cũng chờ tôi về buồng rồi xúm lại háo hức nghe tôi kể chuyện sanh hoạt ở khoang hạng nhứt, họ cũng tò mò hỏi han về cô bạn gái mới quen người Trung Hoa. Đến nay tôi vẫn giữ ấn tượng về một tình bạn đẹp đẽ ngắn ngủi thoáng qua trong gần một tháng trên chuyến tàu này.
 
Mỗi lần tàu cập bến, tại Colombo hay Porsaid, tôi đều xuống ngắm phong cảnh địa phương, chụp ảnh viết bài gởi về nước đăng trong loạt “Phóng sự của đặc phái viên bổn báo trên đường từ Việt Nam qua Pháp”. Anh em bên nhà rất thích và hoan nghinh.
 
Khi tàu cập bến Marseille, một người em họ tên Võ – con người cậu thứ tư bên vợ tôi – đang học trường Thuốc ra đón và đưa tôi đi chơi một đêm, sáng hôm sau tiễn tôi lên xe lửa đi tiếp lên Paris.
 
Tôi đã viết thơ trước báo tin ngày giờ đến tại Gare de Lyon cho anh Francois Lebouteiller, nhưng khi đến nơi không thấy ai ra đón. Tôi mới chân ướt chân ráo qua Tây lần đầu, bơ vơ ở ga không biết xoay trở ra sao nên có phần lo lắng. Bỗng nhiên có một người Việt Nam tới hỏi thăm, cho biết anh đi đón mấy người Việt vừa mới tới, thấy tôi không có ai đón nên đề nghị tôi cùng đi về với anh.
 
Tôi vui mừng xách cái vali nhỏ với hai cây đờn cò và đờn tranh theo anh về “nhà hội” ở quận 16 của Paris. Đây là nơi tiếp nhận những người Việt Nam mới qua Pháp, cho tá túc tạm thời một tuần lễ trước khi có nơi ở ổn định. Ngay chiều hôm đó anh đưa tôi đi tìm nơi Francois ở tại một chung cư rất lớn của quận 1. Mọi người trong nhà gặp tôi mừng rỡ, cho biết vì họ ra ga trễ mười phút nên chúng tôi không gặp được nhau.
 
Tôi được dẫn lên một căn phòng nhỏ bỏ trống dành cho người giúp việc trên từng lầu thứ sáu. Hồi bên Việt Nam tôi ở chung với anh Nguyễn Chí Mai trong căn biệt thự lớn, có sân vườn, phòng tắm tiện nghi, nên khi mới bước vào nơi đây tôi bỡ ngỡ vì căn phòng nhỏ xíu, chỉ vỏn vẹn bốn thước vuông, mỗi bề hai thước, có cái giường kê sát tường và một tủ áo nhỏ trong góc. Cũng may đồ đạc của tôi chỉ có một bộ đồ tây, hai sơ mi và một bộ đồ ngủ nên cũng vừa với cái tủ. Đầu giường có một miếng ván nhỏ gắn vô tường, khi cần thì mở lên dùng cây chống thành một cái bàn tạm bợ vừa làm bàn viết vừa làm bàn ăn.
 
Ba má Francois ái ngại về chỗ ở chật hẹp này, nhưng anh trấn an họ rằng tôi chỉ dùng buồng để ngủ thôi còn ban ngày xuống ở trong nhà của họ. Hàng ngày tôi ăn chung với gia đình Francois, bữa ăn có rượu chát, hàng tháng đóng tiền ăn rất rẻ. Nhà có máy giặt, đồ dơ bỏ ra nhờ hai cô em gái của Francois giặt dùm, lại có sẵn điện thoại, mỗi lần gọi ghi sổ rồi cuối tháng trả tiền. Vậy là cũng giống như hồi đi tàu, tôi mua vé hạng chót mà được lên khoang hạng nhứt chơi.
 
Chỗ ăn ở tạm ổn định, tôi vô trường Thuốc hỏi thăm thì được biết trường hợp tôi mới qua không được cấp học bổng. Chỉ có cách nếu tôi làm đơn khai là nạn nhân chiến tranh ở đất thuộc địa sẽ được giải quyết cho học chương trình năm thứ ba và thứ tư dồn lại, chương trình này thi cử không khó. Tôi không đồng ý làm đơn, vì tôi hưởng ứng cuộc chiến tranh giành độc lập cho dân tộc chớ tôi không phải là “nạn nhân chiến tranh”. Hơn nữa tôi muốn học để có kiến thức chứ không phải để lấy bằng cấp nên không thích học theo kiểu dồn hai năm nhập một. Vả lại học Thuốc phải bận suốt ngày, sớm mai đi thực tập ở bịnh viện, chiều vào trường học lý thuyết, không có thời giờ đi làm thêm kiếm sống. Vậy là tôi đành bỏ ý định học trường Thuốc.
 
Tôi tiếp tục viết bài gởi về nước đăng báo để sinh sống. Tôi xin cấp coupe-file là loại thẻ cho phép nhà báo vô các công sở như Quốc hội hoặc đến xem các cuộc triển lãm khỏi phải trả tiền. Lúc đầu hàng ngày tôi tới Trung tâm báo chí đọc báo để biết tin tức, về sau tòa soạn ở Sài Gòn gởi tiền qua cho tôi mua báo để cắt bài gởi về khi có tin tức liên quan đến Việt Nam.
 
Thời kỳ làm báo ở Sài Gòn trước đây tôi có quen một anh bạn người Mỹ làm việc tại Tòa Tổng lãnh sự Mỹ. Cảm kích việc tôi thường cung cấp những tin tức xác định thực về kháng chiến nên anh hứa sẽ xin cho tôi một bổng đi học ở Mỹ. Tôi đến Pháp ít lâu thì nhận được tin anh báo cho biết đã xin được cho tôi học bổng tại Khoa báo chí của Trường Michigan. Tôi rất mừng, chờ giấy tờ gởi qua để làm thủ tục xin đi Mỹ cho kịp nhập học vào đầu niên học tới.
 
Trong khi chờ đợi, vào tháng 8 năm 1949, anh Nguyễn Ngọc Hà, một người hoạt động tích cực trong phong trào sinh viên Việt Nam ở Pháp, rủ tôi đi dự Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức hai năm một lần tại các nước Đông Âu. Năm đó liên hoan được tổ chức tại Budapest, thủ đô của Hungary. Một vài người bạn lưu ý tôi nếu đi chuyến này có thể ảnh hưởng đến việc xin đi Mỹ, nhưng tôi chấp nhận. Quả nhiên sau khi đi Budapest về thì việc đi học ở Mỹ của tôi không thành.
 
Liên hoan này là cuộc gặp gỡ của thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa hoặc các tổ chức thanh niên của Đảng Cộng Sản ở những nước tư bản, thanh niên thuộc Đảng Cộng Sản Pháp cũng có tham dự. Mỗi đoàn đại biểu phải chuẩn bị hai chương trình văn hóa tiêu biểu của dân tộc mình để tham gia liên hoan. Ngoài ra còn cử đại diện dự thi đơn ca, hợp xướng, múa, biểu diễn nhạc…
 
Tôi mới chân ướt chân ráo qua châu Âu, chưa hiểu rõ cách thức tham dự các cuộc thi như thế nào. Các bạn cho biết đây là lần đầu tiên phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được mời dự Liên hoan Thanh niên. Trong nước đang có chiến tranh nên chỉ cử một đại diện đi từ Miến Điện sang Hungary, mang theo một lá cờ thi đua để tặng thưởng cho người nào có công làm cho mọi người biết đến đất nước Việt Nam nhiều hơn hết. Đoàn thanh niên Việt Nam tại Pháp gồn 17 người đi Hungary dự liên hoan, hầu hết đều rất trẻ, toàn là học sinh sinh viên, không ai biết đờn hát, trừ anh Nguyễn Ngọc Hà đờn được lục huyền cầm Hạ uy di.
 
Anh Hà đề nghị tôi đi theo để cùng anh tổ chức chương trình văn nghệ. Khi qua đến nơi, thấy đoàn đại biểu các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Xô đem theo lực lượng hùng hậu, chuẩn bị chương trình biểu diễn công phu, chúng tôi rất lo lắng. Anh Nguyễn Ngọc Hà bàn với tôi chỉ còn cách làm một chương trình giới thiệu những khía cạnh độc đáo của âm nhạc dân gian từ hát ru, điệu hò, đến nhạc thính phòng và tân nhạc. Tôi trình bày bằng tiếng Pháp được thông dịch ra tiếng Hungary và tiếng Nga, có cả minh họa. Đến phần giới thiệu ca khúc mới thì anh Hà đờn guitare, tôi đệm piano và kết thúc bằng bản nhạc Bóng hoàng hôn của Võ Đức Thu.
 
Đêm văn nghệ của đoàn đại biểu Việt Nam có đại biểu tất cả các nước đến tham dự. Chúng tôi dựng chương trình này vào giờ chót để “chữa cháy”, không ngờ được đại biểu các nước hoan nghinh nhiệt liệt. Khi kết thúc mọi người đứng dậy hô “Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Hungary và kéo cờ Việt Nam lên. Sau đó các đoàn trao đổi huy hiệu cho nhau, không phải đổi ngang mà huy hiệu có giá trị khác nhau tùy theo mức độ được ưa chuộng. Một huy hiệu Komxômôl của Đoàn thanh niên Cộng sản Liên Xô đổi được tới năm huy hiệu khác. Riêng huy hiệu Việt Nam có hình cờ đỏ sao vàng khắc chữ Việt Nam tuy nhỏ nhưng lại có giá trị gấp đôi huy hiệu Komxômôl vì số lượng bên nhà đem qua quá ít. Đúng theo luật cung cầu phải không các bạn?
 
Xong được chương trình đầu tiên anh em trong đoàn đều vui mừng, nhưng Ban tổ chức cho biết mười ngày sau đó đoàn Việt Nam sẽ phải biểu diễn chương trình thứ nhì.
 
Anh Nguyễn Ngọc Hà nghĩ ra đề tài “Thanh niên Việt Nam qua các thời đại”. Mở đầu là tiết mục ngâm thơ theo điệu sa mạc, giới thiệu thời kỳ sĩ tử còn mặc áo dài khăn đóng lên kinh thành ứng thí. Đến thời Tây học, thanh niên bận âu phục hát một bản nhạc tiếng Pháp. Thời kỳ sau đó thanh niên bắt đầu học đòi ăn chơi, hát bài Tình kỹ nữ của Phạm Duy. Tiếp theo là bài Lên đàng của Lưu Hữu Phước đánh dấu thời kỳ thanh niên ý thức được nhiệm vụ đối với đất nước. Chương trình kết thúc bằng hoạt cảnh Hội nghị Diên Hồng, dựng lại một sự kiện lịch sử đời nhà Trần khi quân Nguyên xâm lược nước ta, vua cho mời các bô lão để hỏi ý kiến và tất cả đều đồng tâm hiệp lực quyết chíên chống ngoại xâm.
 
Tôi lãnh phần cố vấn nghệ thuật và đạo diễn. Chúng tôi đề nghị Ban tổ chứ dựng sân khấu khung cảnh hoành thành Việt Nam cho hoạt cảnh này. Ban trang trí sân khấu không biết có nghe rõ không mà dựng cảnh cung điện Kremlin của Liên Xô! Chúng tôi phải vẽ cung điện Việt Nam với các cột có biểu tượng rồng quấn xung quanh cho họ coi để theo đó mà làm. Chương trình này cũng được hoan nghinh vì tạo được hào khí làm khán giả say mê.
 
Đến phần thi biểu diễn nhạc. Khi ở Pháp anh em dự định các sinh viên trong đoàn sẽ thi đơn ca hay hợp xướng, nhưng qua đây thấy thí sinh của các nước đều là người đã tốt nghiệp thanh nhạc ở các nhạc viện, anh em đều sợ không dám ghi tên đua tài.
 
Anh Nguyễn Ngọc Hà đề nghị tôi dự thi biểu diễn nhạc cụ dân tộc, tôi nhận lời mặc dầu rất e ngại. Dàn nhạc dân tộc Liên Xô gồm hơn hai mươi người biểu diễn đờn balalaika đủ cỡ từ nhỏ đến lớn. Hungary đưa cả dàn nhạc phụ họa cho màn độc tấu đờn cymbalon. Mông Cổ có Mã đầu cầm, thùng đờn hình thang có hai dây do cung kéo, đầu cây đờn chạm hình con ngựa, tiếng kêu trầm ấm chứ không nỉ non như đờn cò của Việt Nam. Ba Lan có dàn violon biểu diễn theo phong cách dân tộc. Bungary giới thiệu một tiết mục độc đáo, nhạc sĩ cầm chiếc lá thổi một bản nhạc có cả dàn nhạc phụ họa. Nước nào cũng phô trương lực lượng hùng hậu, nhạc khí độc đáo, trong khi tôi “đơn thương độc mã” với cây đờn cò và đờn tranh vô cùng khiêm tốn.
 
Tôi vừa biểu diễn vừa cắt nghĩa cách thức gảy đờn, đờn cò “đổ hột” thế nào, nhấn, vuốt, rung cung ra sao; giới thiệu đờn tranh có thể nhấn từ nửa bậc đến một bậc, hai bậc, hai bậc rưỡi trên một dây, có nhấn rung, nhấn vuốt, nhấn mổ v.v…
 
Tôi hồi hộp vì đơn độc trên sâu khấu, lại không biết qua lời của thông dịch Ban giám khảo có thể hiểu được hay không? Không ngờ khi tuyên bố kết quả, đoàn Liên Xô được hạng nhứt, đồng hạng nhì là hai đoàn Mông Cổ và Việt Nam, Hungary hạng ba, Bungary hạng tư.
 
Khi Ban giám khảo xướng tên đoàn nào được giải thưởng thì cờ nước đó được kéo lên, đoàn Việt Nam cũng được vinh dự này và chúng tôi hết sức xúc động. Tôi được nhận một giấy khen thưởng cùng với một bình cắm hoa bằng đất nung của Liên Xô và chiếc cà vạt dệt tại Hungary có thêu hình ba gương mặt người da trắng, da đen, da vàng tượng trưng cho các dân tộc trên thế giới. Sau đó các tiết mục đoạt giải được mời đi biểu diễn nhiều nơi tại Hungary.
 
Chuyến đi này của đoàn sinh viên Việt Nam đươc báo chí cả hai miền Nam và Bắc đưa tin. Báo Thần Chung và Việt Báo tại Sài Gòn đăng tin tôi được giải nhì đờn dân tộc tại Budapest, còn người đại diện Chánh phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa tặng tôi lá cờ thi đua vì cho rằng tôi có công tạo được tiếng vang cho đất nước.
 
Khi trở về Pháp tôi bị ghi tên vào sổ bìa đen của chánh quyền sở tại vì lý do có quan hệ với phía Chánh phủ Cộng sản ở Việt Nam. Khi tôi viết thơ cho người bạn Mỹ hỏi thăm học bổng tại Michigan thì anh bạn cho hay bên Mỹ cũng đã biết tin tôi được giải nhì trong cuộc thi nhạc khí dân tộc tại Budapest. Anh rất buồn cho biết vì tôi dự liên hoan thanh niên tại một nước Cộng sản nên sẽ không được cấp chiếu khán vào nước Mỹ. Tôi đã dự trù trước tình huống này và không hề hối tiếc về việc không được du học ở Mỹ.
 
Tôi tiếp tục viết báo kiếm sống, nhưng thấy trình độ nhận thức của mình còn kém cỏi, bài viết không được sâu sắc nên tôi xin vô trường Chánh trị Paris (Sciences Politiques de Paris). Trước đây trường này chỉ dành riêng cho con nhà quí tộc, đến khi chánh phủ De Gaulle nắm quyền mới mở rộng cho những người có cử nhơn Luật và Văn chương được vào học. Còn nếu không có hai bằng cấp đó thì phải học một năm dự bị rồi thi vô năm thứ nhứt. Tôi đã học qua hai năm đại học tại Việt Nam nên chỉ phải qua cuộc thi gồm một bài luận văn và một bài về lịch sử bằng tiếng Pháp. Tôi thi đậu và được nhận vào trường mà khỏi học năm dự bị. Mặc dầu rất vui mừng nhưng tôi cũng e ngại vì các bạn cùng lớp phần nhiều là cử nhơn Luật hoặc cử nhân Văn chương Pháp. Chương trình ở đây học theo tín chỉ, đậu được mười hai tín chỉ thì được thi bài viết và hạch miệng để lấy bằng tốt nghiệp (Diplôme de l’Institut d’études politiques de Paris). Ngay trong năm đầu tôi đã lấy được tám tín chỉ nên năm sau chỉ cần lấy thêm bốn tín chỉ và thi các môn chánh như Lịch sử ngoại giao, Luật quốc tế và một môn thi đặc biệt là thuyết trình trong đúng 10 phút, không được nhiều hoặc ít hơn, về một đề tài bắt thăm trong số nhiều đề tài về “Giao dịch quốc tế”.
 
Một anh bạn tên Trương Lê thấy tôi học giỏi nên có ý thưởng tôi một điều gì mà tôi thích. Tôi liền đề nghị anh cho tiền để ghi danh học khóa Luật Quốc tế tại Hòa Lan. Khóa học này kéo dài một tháng và chỉ dành cho những người có cử nhơn Luật hoặc đã học xong năm thứ hai trường Chánh trị, được thực tập ngay tại Tòa án Quốc tế La Haye, tham dự những phiên xử tại đây. Tôi được học chung với anh Lê Thành Khôi lúc đó sắp tốt nghiệp tấn sĩ Luật. Anh là con của giáo sư Lê Thành Ý, giám khảo môn Việt văn là sinh ngữ thứ nhì khi tôi thi Tú tài ở trường Pétrus Ký. Chúng tôi là hai sinh viên Việt Nam duy nhứt trong số bảy tám trăm sinh viên của khóa này. Từ đó về sau hai chúng tôi vẫn thường liên lạc trao đổi những vấn đề về sử học và thân thiết với nhau cho tới bây giờ.
 
Thời gian học tại đây tôi ở tại một nhà trọ gồm sáu sinh viên mang quốc tịch khác nhau: Pakistan, Miến Điện, Thụy Sĩ, Pháp, Cameroun và Việt Nam. Ông bà chủ nhà thường nói đùa là chưa gì mà nhà họ đã giống một cơ quan Liên hiệp quốc với đại biểu nhiều quốc tịch tụ họp lại. Dịp này anh bạn Pakistan dạy cho tôi một bài hát dân gian bằng tiếng Urdu của quê hương anh. Sau này khi đi khắp nơi giới thiệu âm nhạc dân tộc, thỉnh thoảng tôi hát bài dân ca Pakistan này và đã làm cho nhiều người ngạc nhiên. Hai cô con gái của ông bà chủ thì dạy tôi hai câu nói bằng tiếng Hòa Lan thường dùng là chào buổi sáng và mời khiêu vũ. Sáng nào tôi cũng chào cả nhà bằng câu “Ông (hay bà, hay anh) ngủ có ngon không?” và hôm dạ vũ do Trường Luật tổ chức, tôi có dịp mời hai cô gái khiêu vũ bằng tiếng Hòa Lan.
 
Xong khóa học này tôi trở về Pháp, còn ít tiền thưởng của anh Trương Lê vừa đủ để đi qua Ý chơi. Đây là Năm Thánh (Année Sainte) nên sinh viên các trường Chánh trị và Văn khoa được nhà trường tổ chức đi Roma bằng vé xe lửa và ăn ở tại nhà của sinh viên Ý với giá rẻ. Dịp này Đức Giáo hoàng có một buổi gặp gỡ đặc biệt dành cho sinh viên bên Pháp qua. Tôi tuy không theo đạo Thiên chúa nhưng cũng biết rằng được diện kiến Đức Giáo hoàng là một dịp may hiếm có trong cuộc đời. Một sự trùng hợp, nhạc gia tôi cũng đang ở Roma với tư cách nhà báo nên hai cha con cùng đi viếng Roma và sau 10 ngày ở Ý, nhạc gia tôi sang Pháp thăm Paris trong một tuần lễ.
 
Hết hè, tôi vẫn vừa đi học vừa viết báo để kiếm sống. Có lần báo bị đóng cửa hai tháng, không còn nhuận bút bên nhà gởi qua, tôi lâm vào tình cảnh khó khăn. Một hôm đang đi trên đại lộ Saint Michel, tôi gặp mấy sinh viên Việt Nam bên nhà mới qua. Biết tôi đang cần việc làm, một anh giới thiệu tôi với chú của anh là ông Từ Bá Hòa, chủ tiệm ăn La Paillote (Túp lều tranh) ở số 30 đường Sommerard, quận 5. Ông Hòa nhận tôi vào đờn nhạc dân tộc mỗi tuần hai lần vào chiều thứ năm và thứ bảy, từ 7 giờ 30 đến 10 giờ 30 tối, trả lương 1.000 quan cũ (tương đương 10 quan mới hiện nay), ngoài ra tôi còn được ăn bữa cơm rất ngon trước giờ làm việc. Số tiền này không nhiều nhưng cũng giúp tôi qua lúc khó khăn. Tuy vậy, mỗi lần ngồi đờn tôi cảm thấy rất tủi thân vì ít ai chú ý nghe. Lâu lâu có người khách nước ngoài tò mò hỏi thăm về cây đờn tranh, sau khi nghe tôi giải thích họ thường cho tiền “boa” (pourboire). Tôi mắc cỡ không nhận, anh Hòa thấy vậy bèn để một cái đĩa ở chỗ tôi ngồi để khách muốn cho thì bỏ tiền vô đĩa. Anh nói theo thông lệ khách cho tiền thì phải lấy, chưa kể khoản tiền này thường khi còn nhiều hơn cả tiền lương của nhà hàng.
 
Một chuyện làm cho tôi cảm động là có vợ chồng bác sĩ Thống, một chuyên viên tai mũi họng ở Việt Nam qua Pháp làm việc, sau lần đến ăn tại nhà hàng, anh chị rất thích nghe tôi đờn. Từ đó trở đi hàng tuần anh chị đều trở lại ăn tối vào hai buổi có tôi đờn, vừa thưởng thức nhạc vừa để cho tôi đỡ tủi thân. Tôi rất vui có được hai khán giả trung thành nên đêm nào cũng đến ngồi gần bàn anh chị, đờn những bản nhạc họ yêu cầu. Lâu ngày rồi chủ nhà hàng cũng tính bớt tiền cho hai người khách quen này.
 
Thỉnh thoảng các anh em sinh viên học sinh tổ chức cho tôi nói chuyện về âm nhạc tại nhà Société Savante, khách tham dự không phải mua vé mà chỉ đóng góp tùy hỷ. Số tiền thầu được sau khi trừ chi phí tổ chức thì tôi được hưởng.
 
Làm việc tại La Paillote khoảng sáu tháng, tôi được anh Bùi Văn Tuyền mời về làm tại nhà hàng Bồng Lai của anh, một tiệm ăn lớn ở gần đường Champs Elysées là đại lộ đẹp nhứt của Paris. Tôi làm việc trong hai đêm cuối tuần, giới thiệu đờn tranh, đờn cò rồi hát một bản nhạc dân tộc và một bài hát tiếng Pháp trong vòng mười lăm phút. Anh Tuyền trả tôi 3.000 quan (cũ) mỗi đêm, lương gấp ba lần chỗ cũ mà công việc lại vui hơn. Tôi làm tại đây cho đến năm 1951, được quen biết và kết bạn thêm với rất nhiều người.
 
Trong thời gian làm tại nhà hàng Bồng Lai, có một người chủ quán rượu ở Le Caire (Ai Cập) mời tôi qua hát ba tháng tại nước ông, trả gấp ba lần tiền lương tại Pháp, nhưng vì sắp tới ngày thi tại trường Chánh trị nên tôi từ chối.
 
Nhưng không phải mọi chuyện đều suôn sẻ, đôi khi tôi cũng gặp tình huống đặc biệt. Có một phụ nữ lớn tuổi là khách quen nhà hàng, thường mời tôi đến uống nước với bà sau khi diễn xong. Bà khoe có một cây đàn tranh cẩn rất đẹp mua tại Việt Nam trước đây nên muốn tôi đến xem đàn và lên dây giùm bà. Tôi đến nhà được bà tiếp đãi ân cần, thấy tôi khen cây đờn đẹp bà ngỏ ý muốn tặng tôi. Không phải chỗ quen biết thân tình nên tôi lưỡng lự không muốn nhận. Đến đây thì bà nói thẳng ý mình, đề nghị hàng tuần tôi nhận lời đi chơi, ăn tối và khiêu vũ với bà một bữa, bà sẽ đài thọ tiền ăn học cho tôi khỏi phải đi làm thêm. Tôi nghiêm trang trả lời bà đã nhìn người sai rồi, tôi tuy là một bần sĩ phải đi làm thêm để kiếm sống nhưng không phải là người mà bà có thể bỏ tiền ra mua được. Tôi không nhận cây đờn và từ giã bà ra về. Bà vội vàng xin lỗi tôi và từ đó về sau thỉnh thoảng có gặp tôi tại nhà hàng Bồng Lai, bà luôn tỏ thái độ rất lễ phép và tôn trọng. Không chỉ có người phụ nữ đứng tuổi này, nhiều cô gái kể cả những diễn viên, nghệ sĩ vẫn hay mời mọc tôi đi chơi. Tuy đối xử với nhau thân mật như đồng nghiệp nhưng tôi vẫn luôn giữ khoảng cách nhứt đinh để không xảy ra chuyện gì đi quá giới hạn. Và nhứt là không bao giờ vì chuyện đi chơi mà tôi sao nhãng việc học.
 
Ngoài đi hát, tôi còn làm thêm một nghề nữa là dịch văn kiện chánh thức từ tiếng Pháp ra tiếng Việt và ngược lại. Các cơ sở dịch vụ pháp lý mướn tôi dịch hôn thơ hôn thú, khai sanh, các giấy tờ cá nhân từ tiếng Việt qua tiếng Pháp cho những người Việt định cư tại đây. Ngoài ra, tôi cũng dịch các thơ tình của lính viễn chinh Pháp đã hồi hương liên lạc với người yêu còn ở Việt Nam.
 
Đôi khi tôi cũng phải dịch những câu chửi nhau cho Tòa xử trong các vụ kiện tụng. Một lần có người bị kiện vì dùng cây đánh người khác bị thương sau khi người đó chửi: “Bố tiên sư cha mày”. Phòng thông dịch bảo tôi dịch nghĩa câu này để Tòa đánh giá xem mức độ nặng nề ra sao đến độ anh kia phản ứng như vậy. Khi nghe tôi dịch nghĩa là “Cha của tổ tiên mày” (Le père de tes ancêtres de ton père), ông chủ Phòng thông dịch nói: “Vậy thì có gì nặng nề đâu”. Người Pháp không hiểu được ý nghĩa xúc phạm của câu này. Tôi phải giải thích tiếng chửi ở đâu cũng đều nhằm mục đích xúc phạm tới điều quí trọng nhất của người mình chửi, mà người Việt Nam vốn rất quí trọng cha mẹ ông bà, chỉ cần kêu tên cũng đủ giận rồi, đằng này lôi cả tổ tiên ra tức là một điều rất nặng nề. Trong khi đó ở Pháp tiếng chửi “Chị mày” (Ta soeur) mới coi là nặng vì họ quí trọng chị em.
 
Còn rất nhiều chuyện vui chung quanh việc bất đồng ngôn ngữ cũng như tập quán trong công việc mà sau này tôi thường gặp.
 
Tôi cũng thâu âm cho Hãng dĩa Oria do anh Lê Văn Tư – là dân Sài Gòn sang Pháp sinh sống nhiều năm trước – làm chủ. Lúc này tân nhạc bắt đầu thạnh hành trong nước, nhưng ca sĩ hát chỉ có một vài cây đờn phụ họa. Anh Tư muốn làm dĩa tân nhạc với cả một dàn nhạc đệm phối khí theo phương Tây. Thời gian đó tôi vẫn còn tư tưởng vọng ngoại, nghĩ rằng muốn phát triển nhạc Việt Nam phải dựa vào phương pháp của phương Tây. Tôi nhờ ông Georges Ghestem, một nhạc sĩ phối khí cho Nhà hát lớn Châtelet của Pháp, phối âm các bản nhạc sao cho phù hợp với phong cách Việt Nam. Ông phối khí theo sự góp ý của tôi trong từng bài. Đến ngày thâu thanh, ban nhạc chỉnhìn tổng phổ đờn qua một lần theo tiếng ca của tôi rồi kỹ sư thâu âm liền chớ hông cần tập dợt trước.
 
Cho đến nay tôi vẫn còn giữ những dĩa hát 78 vòng này, tôi lấy nghệ danh Hải Minh là tên hai đứa con trai của tôi. Tổng cộng chúng tôi thâu đĩa được hơn hai mươi bài của những nhạc sĩ danh tiếng thời đó.
 
Nhạc sĩ Lê Thương có các bản nhạc trào phúng như Hòa bình 78, Liên hiệp quốc, Chúc Tết năm Dần; tình ca thì có bài Tiếng thùy dương (phổ thơ Ngậm ngùi của Huy Cận), Bông lan rừng (phổ thơ Thế Lữ), Hòn Vọng Phu 3, Biển sau giông tố.
 
Nhạc của Phạm Duy thì có Chiến sĩ sông Lô, Chiến sĩ vô danh, Nhớ người thương binh, anh viết trong thời kỳ đi kháng chiến. Có những bản của giáo sư Nguyễn Hữu Ba như Lửa rừng đêm, Quãng đường mai, hoặc những bài hành khúc của nhạc sĩ Võ Đức Thu lúc đó đang dạy đờn piano ở miền Nam. Thêm bài Thanh niên của Thẩm Óanh, Hờn sông Gianh của Lưu Hữu Phước.
 
Công việc này được trả công hậu hĩ, mỗi bài nhạc ghi xong tôi lãnh được 5.000 quan là tiền tham gia phối khí và biểu diễn. Mỗi buổi sáng thâu được nhiều nhứt là năm bài, trung bình hai ba tháng làm một lần. Nhưng có khi bốn năm tháng không thâu bài nào nên cũng không thể trông cậy vào đó để sống. Công việc này tôi làm lai rai từ cuối năm 1949 kéo dài đến năm 1955.
 
Tháng 2 năm 1950, trong dịp Tết âm lịch tôi được mời sang trường Exeter là một trong những trường đại học lớn ở miền Nam nước Anh trong hai tuần lễ. Tôi quen một anh tên Thân đang học khoa Kinh tế tại đại học này, biết tôi được giải thưởng đờn dân tộc ở Budapest nên anh vận động trường đài thọ chi phí mời tôi qua nói chuyện về nhạc Việt Nam truyền thống và tân nhạc cho sinh viên nghe. Tôi nói chuyện trong ba buổi, một buổi nói cho toàn trường và hai buổi còn lại nói trong các học xá.
 
Tôi có một kỷ niệm rất vui trong chuyến đi này. Khi đến Học xá Lopes của nữ sinh viên, tôi được mời ăn chiều trước khi nói chuyện. Trong phòng ăn có tới mấy trăm nữ sinh viên, tôi vừa bước vô họ đồng loạt đứng dậy chào. Mấy trăm cặp mắt phụ nữ đổ dồn quan sát tôi là thanh niên duy nhứt có mặt lúc đó lại là người châu Á khiến tôi thấy ớn xương sống! Bà hiệu trưởng giới thiệu tôi, mọi người vỗ tay chào mừng. Tôi được mời ngồi vào một bàn đặc biệt cùng với bà hiệu trưởng, bà phó giám đốc và một đại diện phụ huynh học sinh. Ăn xong mọi người qua giảng đường, tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam truyền thống và kết thúc bằng bài Bóng hoàng hôn, một sáng tác cho đờn piano của nhạc sĩ Võ Đức Thu.
 
Sau đó các sinh viên đặt câu hỏi, nhưng vì đông người tôi nghe không rõ, bà hiệu trưởng đề nghị ai muốn đặt câu hỏi thì bước đến gần chỗ tôi ngồi. Bà vừa dứt lời tôi nghe một tiếng ào như giặc châu chấu, ngước lên đã thấy các cô xúm quanh tôi đông nghẹt, thay nhau hỏi han đủ chuyện.
 
Nhân cơ hội này tôi tự giới thiệu với bà hiệu trưởng mình là ký giả của hai tờ báo tại Sài Gòn, xin phép được viết bài về sanh hoạt và cuộc sống của nữ sinh viên tại đây. Bà hiệu trưởng đồng ý và cho phép tôi đến thăm phòng ngủ của các cô. Các nữ sinh viên dọn dẹp phòng cho ngăn nắp rồi đứng tại giường chờ đón tôi đến thăm.
 
Tôi thú vị thấy mình may mắn vì ai đến trường cũng chỉ được vào phòng khách hay phòng hòa nhạc là cùng. Đằng này chẳng những được vào phòng ăn, tôi lại còn được lên tận phòng ngủ của các cô, hỏi han quan sát rồi viết bài gởi về cho báo tại Sài Gòn.
 
Trở về Pháp, đến hè năm 1950, anh Francois Lebouteiller rủ tôi đến thăm ông ngoại anh là xã trưởng của thành phố Bâle ở Thụy Sĩ. Francois mang giấy thông hành Pháp nên được tự do qua lại Thụy Sĩ, còn tôi mang giấy thông hành Việt Nam nên muốn đi đến nơi nào của châu Âu cũng phải xin chiếu khán nhập cảnh. Chúng tôi không biết điều này, do đó khi tới thành phố Bâle tôi bị cảnh sát biên phòng địa phương yêu cầu trở về Pháp xin chiếu khán nhập cảnh. Francois trình bày rằng hai chúng tôi từ Paris đến đây thăm ông ngoại của anh là xã trưởng Bâle, người nhân viên Thụy Sĩ bèn điện thoại cho ông xã trưởng. Ông ngoại Francois đến bảo lãnh cho tôi được vào thành phố không cần có chiếu khán (lại được quới nhơn phò hộ!).
 
Dịp này tôi được đi thăm nhiều vùng tại Thụy Sĩ, biết thêm về cuộc sống ở đây. Dân địa phương này nói tiếng Đức, trong bữa cơm mọi người uống sữa chứ không uống rượu như bên Pháp. Tôi được thưởng thức món súp đuôi bò do bà ngoại anh Francois nấu theo lối Thụy Sĩ rất ngon. Ông bà ngoại Francois hết sức cưng tôi và khen tôi lễ phép, nói tiếng Pháp trôi chảy. Tôi mồ côi từ nhỏ nên được chăm sóc ân cần thì rất xúc động. Khi chúng tôi chuẩn bị hành lý trở về Pháp, bà ngoại Francois giành sắp vali để dúi trong hành lý của tôi một mớ chocolat. Từ đó tôi vẫn liên hệ thơ từ thường xuyên cho đến khi ông bà quá vãng.
 
Trong năm 1950 tôi cũng quen và kết thân với anh dược sĩ Phạm Gia Huỳnh và em gái của anh là cô Phạm Thị Kiến. Anh Huỳnh sang Pháp đã lâu, thường xuyên nghe tôi đờn ở Bồng Lai và thường mời tôi về nhà chơi. Anh Huỳnh là người Việt Nam đầu tiên tại đây có máy ghi âm, anh mua thêm một cái gởi về cho thân sinh của anh ở Hà Nội để ông có thể nghe được tiếng nói của con và thâu những bài ca trù mà anh thích rồi gởi qua Pháp. Ngược lại anh Huỳnh thâu những bài hát mới của Lê Thương gởi về cho cha. Chúng tôi thân thiết với nhau cho đến khi anh Huỳnh qua đời.
 
Một hôm tôi báo với anh Huỳnh tôi có buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam do Trường Sorbonne tổ chức tại một địa điểm gần nhà anh. Anh Huỳnh mới vài bạn cùng đi, đến nơi thấy vắng vẻ không có ai, anh còn ngơ ngác thì tôi chạy tới nói “cá tháng tư” (poisson d’Avril).
 
Hôm đó là ngày “cá tháng tư”, theo tục lệ phương Tây, hàng năm vào ngày 1-4 mọi người có quyền đặt chuyện gạt bạn bè mà không ai giận. Tôi đặt điều để giỡn chơi chớ không có buổi nói chuyện nào hết. Anh cười vui nhưng đã lỡ rủ mấy người bạn ở xa bỏ công việc đến đây nên anh đòi tôi “bắt đền”. Tôi mời mọi người đi nghe nhạc tại quán cà phê Le Globe (Địa cầu) ở vùng Strasbourg – Saint Denis, nơi này có dàn nhạc “tzigane” thường xuyên chơi rất hay. Tình cờ hôm đó tại đây có tổ chức cuộc thi hát, khách tới quán lên hát có máy cho điểm, ai được vỗ tay tán thưởng nhiều thì đạt điểm cao và được thưởng. Tôi lên hát bài “Alors, racontes” của Gilbert Bécaud được xếp hạng nhứt, nhận phần thưởng gồm ba chai rượu Martini và ba cục xà bông thơm.
 
Người tổ chức cuộc thi hỏi thăm thân thế tôi và đưa danh thiếp, dặn tôi liên lạc để anh giới thiệu đi hát sẽ kiếm được nhiều tiền hơn là làm công chức sau khi đậu đại học. Tháng sau anh nhắn tôi tới cùng anh đi dự cuộc thi hát tại một quán cà phê khác. Lần này tôi hát dân ca Pháp “Le petit Grégoire” của Théodore Botrel được hoan nghinh còn hơn lầu trước và cũng được chấm hạng nhứt. Anh này lại thuyết phục tôi bỏ học, hứa giới thiệu tôi cho các hãng làm dĩa hát, nhưng tôi dứt khoát từ chối.
 
Tôi vừa học vừa làm việc lặt vặt trong hai năm cho đến khi tốt nghiệp trường Chánh trị vào tháng sáu năm 1951. Trong kỳ thi tốt nghiệp, những sinh viên có điều kiện thì làm một bài luận văn về đề tài nào đó để lấy điểm cộng thêm vào điểm thi và như vậy sẽ được sắp hạng cao hơn. Tôi phải lo mưu sống, không có thời giờ rảnh nên chỉ thi hết các môn học. Mặc dầu vậy tôi cũng đậu hạng năm trong số 32 sinh viên tốt nghiệp.
Đăng nhập để trả lời
0
ĐOẠN TRƯỜNG AI CÓ QUA CẦU MỚI HAY
 
Tháng 7 năm 1951 có đại hội của Liên hiệp quốc diễn ra tại Paris, Ban tổ chức yêu cầu phía Pháp cung cấp 15 thơ ký chuyên về Luật Quốc tế làm việc cho hội nghị. Chánh quyền Pháp chọn 15 sinh viên đậu đầu niên khóa trước của Trường Chánh trị, trong số đó có tôi. Sau khi trải qua một buổi khảo sát trình độ, tôi được nhận và họ hẹn đến ngày 1 tháng 9 bắt đầu làm việc.
 
Trong khi chờ đợi, tôi chuẩn bị đi nghỉ hè với anh Trương Lê nhưng thình lình vào ngày 14 tháng 6 lại bị sưng ruột dư. Tôi được đưa vào bịnh viện lúc năm giờ sang, bác sĩ trực khám xong gọi điện cho bác sĩ chuyên khoa, ông này quyết định mổ lập tức. Tôi xin bác sĩ chậm lại vài phút, ông trả lời:
 
-        Năm phút thì được chớ không thể chậm hơn. Ông cần việc gì?
 
-        Bịnh này phải mổ gấp nghĩa là tôi có thể chết, vì vậy xin ông cho mở cửa sổ phòng để tôi nghe tiếng chim hót ban mai, không biết chừng đây là lần cuối cùng tôi được nghe.
 
Bác sĩ đồng ý, sau đó tôi xin giấy viết ghi lại vài hang. Tôi không có gì đáng giá ngoài hai vật kỷ niệm, một cái áo len của vợ tôi đan cho tôi ngày lên đường đi Pháp, nay xin gởi về cho vợ và cuốn Tự điển của Đào Duy Anh để lại cho con trai Trần Quang Hải nếu chẳng may tôi qua đời.
 
Bác sĩ mổ trong nửa tiếng, vài giờ sau thì tôi tỉnh lại. Sau khi làm xét nghiệm bác sĩ phát hiện tôi bị lao màng bụng. Về nhà được ít ngày, vết mổ bị sưng to nên tôi phải trở vào nhà thương gấp để mổ lần hai. Buổi chiều bịnh viện bơm nước rửa ruột để sáng hôm sau mổ sớm. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó tôi phải tập đi, vịn thanh giường lần từng bước, đi được vài bước phải ngừng vì đau. Bạn bè vô thăm, tôi tự trào:
 
-        Tôi nặng nợ với bịnh viện nên đã về nhà rồi mà phải trở vô để:
 
Sông trong rửa ruột sạch trơn
 
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
 
Đến khi mổ xong, còn đau quá mà bị bắt đi tới đi lui nên “bước đi một bước giây giây lại ngừng”. Bởi vậy nên “đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”. Bạn bè lắc đầu cười anh bịnh nhân bị cắt ruột mà còn trào phúng!
 
Mổ xong tôi được chuyển đến Trung tâm Pessac ở gần tỉnh Bordeaux nằm trong bốn tháng, hàng ngày bác sĩ cho chiếu tia cực tím ngay tại vết mổ cho mau lành.
 
Bịnh nhân ở đây có đủ hạng người, từ dân Pháp nghèo đến người Á Rập. Nằm bên trái tôi là anh Djaker, người Algérie, bị lao xương. Vì xương bị mục nên anh phải năm trong một cái bọc bằng vôi, đi vệ sinh phải có người đến giúp. Anh rất ham học, nhờ tôi dạy tiếng Anh. Tôi đề nghị hễ tôi dạy anh một tiếng Anh thì anh dạy tôi một tiếng Á Rập. Chỉ trong vòng ba tháng tôi đã có thể nói lỏm bỏm vài câu tiếng Á Rập, còn anh cũng bập bẹ được mấy câu tiếng Anh.
 
Người năm bên tay mặt tôi bị lao thận. Cậu này tên Mohamed, còn trẻ và rất vui tính. Trước đó tôi có đọc cuốn sách “Giấc mộng” của Bergson trong đó tác giả viết rằng khi người ta ngủ, tất cả giác quan vẫn nhận thức được mọi chuyện nhưng trí não không làm việc nên chỉ ghi nhận mà không phân tích được. Thí dụ luồng ánh sáng mạnh chiếu qua đôi mắt nhắm khi đang ngủ, mắt thấy màu đỏ mà óc không phân tích được nên ghi nhận đó là những tia lửa. Vì vậy một người đang ngủ mà bị rọi ánh sáng vào mắt thì có thể nhìn thấy lửa trong giấc chiêm bao. Tôi bèn làm thí nghiệm chơi, nói với Mohamed: “Tối nay tôi sẽ làm cho cậu chiêm bao thấy lửa”. Đêm đó tôi thức dậy mấy lần, rọi đèn pin vào mắt cậu này, khi cậu ta chớp mắt sắp tỉnh thì tôi tắt đèn.
 
Quả nhiên sáng hôm sau Mohamed kể lại hồi hôm nằm chiêm bao thấy lửa và đi rao khắp phòng rằng tôi là phù thủy! Rồi cậu năn nỉ tôi làm phép cho đêm ngủ được nhìn thấy người yêu! Tôi nhận lời, kêu cậu đưa hình, bắt kể tỉ mỉ lúc hai người gặp nhau, quen nhau hồi nào, nói chuyện về cô này suốt ngày. Tối đó tôi điểm mặt cậu và nói nghiêm trang: “Đêm nay cậu sẽ thấy được người yêu trong giấc ngủ” rồi bắt cậu ta lập lại ba lần câu: “Tối nay tôi sẽ gặp người yêu của tôi”. Phương pháp tự kỷ ám thị của tôi thành công, Mohamed gặp được người yêu trong chiêm bao. Khi nghe cậu kể lại, các bịnh nhân trong phòng phục lăn tài “phù thủy” của tôi.
 
Thấy vậy một người khác đến nhờ tôi làm phép cho được gặp mẹ, tôi lúng túng trả lời:
 
-        Việc này khó hơn. Nhưng để thử xem sao.
 
Tôi cũng áp dụng cách cũ, bắt anh này đưa hình và kể chuyện về người mẹ cho tôi nghe. Lần này phải mất tới mấy ngày sau anh mới gặp mẹ trong chiêm bao! Nhờ vậy mà tôi được mấy người Á Rập trong bệnh viện hết sức nể phục, nhứt là khi biết tôi có bằng “certificat” giống như thầy giáp của họ!
 
Các bịnh nhân tại đây rất chân chất, có một cậu bị khối u trong bao tử, bác sĩ đến khám hỏi đau ở đâu, cậu trả lời:
 
-        Ông là thầy thuốc phải biết tôi đau ở đâu chớ tại sao lại hỏi tôi?
 
Một anh khác bỗng nhiên lên cơn sốt cao, bác sĩ hỏi anh có uống thuốc gì ngoài thuốc nhà thương phát cho hay không? Anh cho biết có người bạn đưa thuốc dăn mỗi ngày uống hai viên sẽ bớt bịnh nên bèn uống hết một lần 12 viên thuốc, nghĩ rằng như vậy sẽ càng mau hết bịnh hơn!
 
Ông bác sĩ tổ chức cho tôi một buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại Trung tâm, có cá học sinh sinh viên Việt Nam trong tỉnh Bordeaux đến giúp. Mấy tháng nằm tại bịnh viện này tôi được quen thêm một số người, học được tiếng Á Rập và giữ được vài kỷ niệm vui trong cuộc đời.
 
Sau bốn tháng năm bịnh viện, tôi được đi phép mười ngày sau đó sẽ trở vô điều trị tiếp. Tôi bèn đi Paris thăm bạn bè, gặp đúng dịp phong trào Hội Phụ nữ mới thành lập, đang dựng vở kịch thơ Tây Thi gái nước Việt để trình diễn nhân buổi lễ ra mắt. Các chị đã nhờ một anh tên Sanh làm đạo diễn nhưng anh không điều khiển được mọi người, nhứt là chị Nguyễn Thị Vui, sinh viên Luật, là người đóng vai chánh. Các chị e ngại Hội Phụ nữ mới thành lập mà chỉ dựng một vở kịch cũng không xong thì làm sao tạo được niềm tin cho mọi người nên nhờ tôi làm đạo diễn. Kịch này của anh Mai Văn Bộ là bạn thân của tôi. Tôi lại từng sống trong gánh hát cải lương từ nhỏ, vốn rất thích sáng tạo nên dầu chưa thật lành bịnh vẫn nhận lời hợp sức cùng cách chị ráo riết tập dợt trong vòng một tuần. Tôi làm đạo diễn, họa sĩ Lê Thị Lựu thiết kế cảnh trí, chị Nguyễn Thị Vui đóng vai Tâp Thi, chị Nguyễn Thị Bình – con cụ Nguyễn An Ninh – đóng vai Ngô Phù Sai và các sinh viên khác đảm nhận các vai còn lại.
 
Giống như hồi tới Hall Lopes, học xá nữ sinh viên nội trú của Trường Exeter bên Anh, lần này tôi cũng là thanh niên duy nhứt xông xáo giữa một nhóm toàn phụ nữ. Tuy là kịch thơ mới nhưng tôi hướng dẫn các chị diễn theo phong cách hát tuồng với kiểu cười của vai nịnh thần, động tác rút kiếm của Ngũ Tử Tư sao cho đúng cách và chế ra màn các cung nữ múa cho Ngô Phù Sai thưởng thức với đờn tranh phụ họa. Vở kịch khi ra diễn rất thành công, được tán thưởng nhiệt liệt, nhưng phần tôi do tập trung sức lực làm việc đêm ngày nên trở bịnh nặng.
 
Tôi được đưa vô bịnh viện Hôpital de la Cité universitaire dành cho sinh viên. Nơi đây làm xét nghiệm phát hiện tôi bị lao thận bèn chuyển sang Nhà dưỡng lao dành cho sinh viên (Centre Universitaire de cure) chớ không đưa về Pessac. Nằm dưỡng bịnh tại đây có điều lợi là trường đại học giúp cho sinh viên có thể tiếp tục học để không bị gián đoạn. Biết vậy tôi rất mừng bèn ghi tên làm luận án tấn sĩ tại Đại học Sorbonne vì nghĩ rằng làm luận án phải mất khoảng ba bốn năm, tôi chưa biết thời gian nằm dưỡng bịnh bao lâu, nếu đợi tới lúc khỏi bịnh mới học thì uổng phí thời gian. Tôi ghi danh trước khi nhập viện để có tên trong danh sách sinh viên niên khóa này mà lại không bắt buộc phải có mặt trong trường.
 
Tôi được Giáo sư Paul Marie Masson nhận hướng dẫn luận án, nhưng đối với ông đề tài của tôi về “Âm nhạc dân tộc Việt Nam” rất lạ, nên ông muốn nghe tôi trình bày chi tiết trước khi chính thức ghi danh luận án. Là một giáo sư sắp về hưu, ông hứa sẽ giới thiệu tôi cho Giáo sư Jacques Chailley, người thầy sau này dẫn dắt tôi đi từng bước trên con đường nghiên cứu âm nhạc.
 
Sau đó tôi được đưa về Nhà dưỡng lao mang tên Trung tâm Đại học chữa bịnh cho sinh viên bị lao không truyền nhiễm (Centre Universitaire de Cure pour non contagieux) tại vùng Aire sur L’Adour cách Paris hơn sáu trăm cây số.
 
Đây là một thế giới khác, thế giới của những sinh viên bị bịnh. Ở Pháp, bất cứ nơi nào mà sinh viên sống tập trung như trường đại học, ở nội trú, bịnh viện, đều có kỷ luật riêng trong đó có thủ tục gọi là “ma cũ ma mới” (bizuthage), những người mới tới (bizuth) phải phục tùng mạnh lịnh những người cũ. Chẳng hạn trường Bách khoa, sinh viên đàn anh bắt sinh viên mới phải đo chu vi sân trường rộng lớn bằng cây diêm quẹt và báo lại chiều dài mỗi phía là bao nhiêu cây diêm: hoặc tại trường Kiến trúc còn chơi ác hơn bằng cách bắt sinh viên mới đứng trần truồng cho đàn anh vẽ lên người cho thiên hạ coi chơi.
 
Tôi vào đây cũng phải trải qua thủ tục “ma cũ ma mới”. Khi mới bước vô phòng ăn, nhóm sinh viên “ma cũ” bắt tôi đến hôn cô y tá, việc này không có gì khó khăn. Sau đó họ đòi tôi đọc một bài diễn văn. Tôi biết thông thường mọi người vẫn nói mấy câu chào hỏi nhún nhường xin được gia nhập vào nhóm “ma cũ”, nhưng nhìn thấy có mấy người mặt mày bặm trợn, nói năng xấc xược, tôi nghĩ rằng nếu mình ăn nói nhỏ nhẹ đàng hoàng chắc họ sẽ làm tới. Vì vậy tôi bèn nói giọng “du côn” theo kiểu dân anh chị, lại dùng tiếng lóng của sinh viên:
 
-        Chào các ma cũ. Tao là ma mới, vừa mới vô tới tụi bây hỏi tao có vui không, nếu trả lời vui là tao nói láo. Bây nghĩ coi tao đang đi học mà phải vô đây thì vui sao được? Nói thiệt với tụi bây tao đang “bể mình”, vì vậy tụi bây đừng chọc tao nổi khùng. Tao mà đổ quạu chưa biết sẽ xảy ra chuyện gì. Tụi bây để yên cho tao dưỡng bịnh, tao sẽ để yên cho tụi bây sống theo cách của tụi bây. Hôm nay tao “ra mắt” như vậy là đủ lễ rồi đó. Chào!
 
Nghe “khẩu khí” tôi như vậy nhóm ma cũ cũng hơi ớn, không biết tôi là người như thế nào. Mấy người sếp nhóm chạy tới hỏi thăm, nghe nói tôi đang làm luận án tấn sĩ thì có phần nể nang, lại nghe tôi biết đờn biết hát, nên cuối cùng họ cử tôi làm xếp nhóm chuyên tiến hành thủ tục nhận “ma mới”.
 
Tôi thay đổi cách thức, không bắt làm những việc bậy bạ khó coi. Bịnh viện có một Đài truyền thanh nội bộ, tôi yêu cầu các “ma mới” tự giới thiệu trên đài, nói rõ lý lịch và tình trạng sức khỏe của mình, rồi chọn một trong ba cách: thuật một câu chuyện vui, hát một bản nhạc hoặc lựa một bản nhạc hay để đài phát lên tặng cho mọi người. Đài truyền thanh nội bộ tại đây hàng ngày thông báo cho sinh viên mọi hoạt động của bịnh viện, từ thực đơn trong ngày đến danh sách các bịnh nhân phải đi làm xét nghiệm và chương trình văn nghệ. Sau phần văn nghệ đến tiết mục “giới thiệu ma mới”. Chương trình nầy được rất nhiều bịnh nhân theo dõi.
 
Tôi tham gia chương trình văn nghệ mỗi tháng hai lần, một buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam và một buổi kể chuyện cổ tích Việt Nam có nhạc minh họa, trong đó có chuyện Trương Chi Mỵ Nương được mọi người mê nhứt.
 
Tôi không chỉ nói chuyện thuần túy về âm nhạc mà còn đề cập đến hoàn cảnh lịch sử cũng như vị trí địa dư của đất nước Việt Nam, nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa. Tôi tập cho hơn hai mươi sinh viên Việt Nam hát bài “Tám mươi năm sống đời tối tăm” của Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng viết trên đường đi từ Hà Nội về Sài Gòn mấy năm trước đó, bài hát đầy hào khí của người dân một  nước đang sống trong ách thống trị. Một lần sau buổi nói chuyện âm nhạc Việt Nam, chúng tôi hát bài này, trong đó có câu:
 
Quyết mưu chuộc tự do
 
Quyết rửa sạch hận thù
 
Những người ủng hộ dân tộc Việt Nam nghe bài này rất thú vị, nhưng cũng có người không bằng lòng vì nội dung chống đối sự cai trị của người Pháp, do đó họ đi tố cáo. Công an địa phương tới gặp bác sĩ giám đốc bịnh viện nói rằng trong số bịnh nhân tại đây có người là chánh trị, tuyên truyền chống người Pháp và chánh sách thuộc địa nên họ đến gặp để bắt về bót. Ông giám đốc trả lời nếu đó là một người dân bình thường bên ngoài thì công an muốn bắt khi nào là quyền của họ. Còn bịnh nhân đang điều trị tại đây thuộc sự quản lý của bịnh viện nên ông chống lại lịnh này để bảo vệ bịnh nhân của mình. Công an đành phải nói họ sẽ bắt khi tôi ra khỏi bịnh viện.
 
Sau khi Công an ra về bác sĩ giám đốc kêu tôi lên khuyên từ đây về sau không nên đi ra ngoài, có cần gì thì nhờ người khác mua giùm (hàng tuần bịnh nhân được phép ra ngoài vào ngày thứ năm). Ông nói với tôi:
 
-        Tôi giữ anh ở lại đây để trị bịnh, anh phải chịu mất tự do để còn được có người chăm sóc sức khỏe cho mình, bởi nếu anh đi ra ngoài sẽ bị công an bắt liền.
 
Nhân sự việc này tôi mới thấy rằng cũng có những người Pháp đầy lòng nhân đạo sẵn sàng bảo vệ người thế cô mà bất chấp luật pháp của nước họ. Tôi rất cảm động, hứa với ông bác sĩ không đi ra ngoài và ở luôn trong bịnh viện suốt mấy tháng, sau đó thì mọi việc cũng đi vào quên lãng.
 
Tôi tiếp tục nói chuyện trên Đài truyền thanh nội bộ nhưng chú ý đưa ra nội dung nhẹ nhàng hơn, nói chuyện về văn hóa Việt Nam, kể những chuyện đời xưa như Tấm Cám, Sơn Tinh Thủy Tinh… Đài chúng tôi phát đi xa trên hai cây số, dân trong vùng chung quanh rất thích nghe những buổi nói chuyện này, hôm nào biết có Trần Văn Khê kể chuyện cổ tích Việt Nam thì không nghe đài quốc gia mà nghe đài của bịnh viện.
 
Bịnh tình của tôi trong thời gian này khá trầm trọng khiến đôi lúc tôi cảm thấy không vui, thậm chí có khi bị mất tinh thần. Tâm trạng bi quan khiến tôi buồn viết mấy câu thơ:
 
Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng
 
Bốn tường vôi trắng xóa một màu tang
 
Nhìn cảnh buồn, dạ khách cũng bàng hoàng
 
Chiều im lặng, trăng ngừng lên, lá rụng.
 
Nhưng sau đó lại tự nhủ:
 
Nhưng ta phải cố vui
 
Vui để cho tiếng cười
 
Át lên cả tiếng khóc
 
Đời sẽ được xinh tươi.
 
Những lúc lòng buồn tôi tự hỏi:
 
Xuân là xuân nhân loại chẳng riêng ai
 
Trong bịnh viện, mùa Xuân sao chẳng tới?
 
Rồi tôi lại tìm thấy niềm lạc quan, tự ví mình như:
 
Cành thông xanh
 
Lá thông xanh
 
Tiết đông lạnh
 
Cành vẫn xanh.
 
Những đêm khó ngủ, tôi nằm lắng nghe:
 
Bên tai thỏ thẻ vài con muỗi
 
Ngoài phố tò le mấy giọng kèn.
 
Nhưng cảm giác bi quan chỉ thoáng qua, tôi luôn luôn tìm được niềm vui dầu rơi vào hoàn cảnh khắc nghiệt đến mấy đi nữa.
 
Một hôm nhân được đi phép, ngồi uống một tách cà phê ở Paris, tôi mua bưu thiếp gởi về cho các bạn kèm mấy câu thơ:
 
Cà phê buổi sáng một ly thôi
 
Uống tại Ba-lê chớ phải chơi
 
Sung sướng, hôm nay hùm tháo củi
 
Sổ lồng chim phụng sắp tung trời
 
Thời gian này tôi được điều trị bằng thuốc Streptomycin. Khi chích tới chai 126 thì tôi bị điếc, một tờ báo vò kết bên tai nghe như âm thanh một thùng thiếc đánh bên tai. Tôi vừa lo vừa buồn vô hạn, nhớ tới trước đây nhạc sĩ Beethoven cũng bị điếc nhưng ông có tài năng nên vẫn sáng tác được. Còn mình đã không biết sáng tác, trong việc nghiên cứu cần phải nghe cho rõ thì lại bị điếc, sợ e không thể tiếp tục hoàn thành luận án, rồi sau này còn làm gì được nữa! Cung may, sau vài tháng ngưng chích thuốc Streptomycine, tôi lần lần nghe được tiếng người nói chuyện và tiếng nhạc qua đài phát thanh.
 
Thời gian này tôi bắt đầu nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam. Trong bịnh viện có người chuyên lo việc cung cấp tư liệu cho sinh viên. Ai cần sách gì cứ ghi ra, hàng tuần ông này liên hệ mượn sách về cho sinh viên tra cứu, sau đó thu hồi sách gởi trả cho các thư viện. Năm 1951 khi học ở trường Chánh trị tôi vẫn thường lui tới các bảo tàng viện nên biết tại những nơi này có một số sách về âm nhạv Việt Nam. Nhờ vậy tôi biết các sách hiện cần dùng đang có tại thư viện nào và tôi được cung cấp đầy đủ. Thành ra tuy phải nằm thúc thủ một chỗ, bạn bè ai cũng tội nghiệp thương cảm, nhưng về phần mình tôi lại nhìn ra mặt tích cực của hoàn cảnh. Các bạn tôi tuy khỏe mạnh nhưng đang bị quay cuồng trong cơn lốc của chuyện áo cơm. Tôi tuy bịnh hoạn phải ở bên lề cuộc sống nhưng lại may mắn tiếp xúc được với nhiều nguồn văn hóa đa dạng và phong phú bên ngoài, đọc được những sách mình muốn đọc mà khỏi phải mất công đi tới thư viện. Ngày ngày nằm trên giường bịnh, chịu đựng kim đâm xuyên da thịt, nhìn thuốc nhỏ giọt qua gân vào người, nhưng tay tôi vẫn cầm sách đọc.
 
Xã hội Pháp lúc đó có điểm ưu việt là lo được cho sinh viên tới nơi tới chốn, dầu lâm bịnh nặng cũng không bị dở dang việc học hành. Những sinh viên bịnh không nặng lắm thì hàng tuần được phép ra ngoài một hai lần để tới trường học rồi trở về.
 
Nhờ ghi tên làm luận án tấn sĩ trước khi vào bịnh viện nên tôi được bác sĩ giám đốc cho nằm một phòng riêng và được phép thức khuya tới mười giờ đêm, trong khi bịnh viện qui định bịnh nhân phải ngủ trước chín giờ tối. Tôi lại được phép nấu ăn trong phòng, mỗi khi thèm chút hương vị Việt Nam có thể nấu vài món đơn giản như gà kho gừng, thịt kho tiêu, cháo trắng, hột vịt muối. Ai tới phòng tôi cũng thích vì tôi được ở riêng, cửa sổ mở ra khu vườn rộng rãi, tự do ngồi nằm thoải mái.
 
Có thời gian bịnh tôi trở nặng, trong suốt ba tháng chỉ được phép ngồi dậy hai tiếng đồng hồ mỗi ngày, ngoài ra phải nằm yên trên giường để tiếp nước biển và điều trị bằng rất nhiều thứ thuốc. Nhìn thuốc rơi chầm chậm đều đặn bên trong cái chai trước khi vào cơ thể, tôi làm bài thơ theo tiết tấu của từng giọt nước:
 
Nằm yên
 
đếm giọt
 
Thuốc tiên
 
cứ rót
 
Từng giọt
 
vào người
 
Từng giọt
 
vào người
 
Giọt dài
 
giọt ngắn
 
Khi mau
 
khi chậm
 
Đợi thấm
 
vào người
 
Bực lắm
 
ai ơi!!
 
Đôi khi cảm thấy bực bội, tôi làm bài thơ “yết hậu”, nhấn mạnh chữ chót để trút hết nỗi niềm:
 
Hôm nay trời nóng bức
 
Canh khuya còn thao thức
 
Lăn trở ngủ không yên
 
Nực!!!
 
Ngày hôm sau trời mưa, tôi cảm thấy khỏe hơn nhưng tâm hồn chưa được thư thái, tôi ghi thêm mấy câu:
 
Sáng mưa tuôn xối xả
 
Gió lạnh lòng buồn bã
 
Mưa chẳng dứt, mưa luôn
 
Buồn quá!
 
Trong những buổi chiều thu lòng tôi càng thêm ảm đạm:
 
Cảnh tiêu điều
 
Cảnh đìu hiu
 
Trời xám ngắt
 
Lúc về chiều.
 
Khi mùa xuân đến lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn:
 
Đàn chim cao tiếng hát
 
Lơ lửng áng mây hồng
 
Vòm trời xanh xanh dịu
 
Ánh sáng vờn gió Đông.
 
Thỉnh thoảng lại có những “Đêm khó ngủ”:
 
Đêm khuya vắng lặng, giọt sương sa
 
Văng vẳng làng xa chó sủa ma
 
Trăng khuất, gió gào, mưa nặng hột
 
Mơ màng trằn trọc đến canh ba
 
Bạn bè gởi thơ hỏi thăm tôi nằm bịnh viện lâu quá không thấy về, họ nói giỡn bộ muốn tu ở đó luôn hay sao. Tôi bèn gởi cho họ bài thơ tự trào và nói đùa là tôi đang “Tu… hú”:
 
Đang lánh trần gian ở chốn này
 
Thơ ai vừa nhận sáng hôm nay
 
Trong khi đạo hữu nghe đờn hát
 
Chính lúc bần tăng ngắm bướm bay
 
Trên ấy tín đồ thơ với thẩn
 
Dưới này sư cụ nhậu rồi say
 
Tu thơ, tu nhạc, tu đờn hát
 
Chánh quả mong chi được đến ngày.
 
Trong số gần hai mươi sinh viên Việt Nam điều trị ở bịnh viện, tôi lớn tuổi nhứt nên được kêu là anh Cả. Mọi chuyện các em đều tới hỏi ý kiến tôi, lỡ bị phạt hay bị kỷ luật lại nhờ tôi lên xin với Ban giám đốc. Kỷ luật tại đây rất nghiêm, ai vi phạm sẽ bị phạt không được ra ngoài ngày thứ Năm hàng tuần hoặc bị cắt thời gian nghỉ phép.
 
Có lần một em tên Điệp đang rửa  phim ảnh trong phòng tối, một cậu người Pháp tự tiện mở cửa phòng cho nên ánh sáng ùa vào làm hư hết hình. Điệp giận quá la lên. Ỷ mình to lớn, cậu kia cầm trái lê đang ăn dộng lên đầu Điệp khiến nước lê chảy ròng ròng xuống mặt. Điệp tức giận mất bình tĩnh rút luôn giá máy chụp hình đập vô đầu cậu kia đến chảy máu, cậu ta ngã ra bất tỉnh. Hội đồng kỷ luật của bịnh viện họp lại, không triệu Điệp lên hỏi nguyên cớ mà quyết định đuổi em ra khỏi nhà thương.
 
Biết chuyện, tôi bèn mượn biên bản cuộc họp để đọc rồi xin gặp bác sĩ giám đốc và hội đồng kỷ luật. Biên bản ghi rằng sau một cuộc xô xát, Điệp đã lấy chân giá máy ảnh đập lên đầu một bịnh nhân do đó bị kỷ luật vì không giữ hòa khí lại còn đánh một bịnh nhân khác bị thương nặng.
 
Tôi trình bày biên bản ghi như vậy là thiếu sót vì không đề cập đến nguyên nhân xảy ra xô xát. Điệp vốn nhỏ con còn cậu kia cao lớn hơn nhiều nên không phải vô cớ Điệp dám hành hung, mà do cậu kia đã làm điều gì đó khiến Điệp giận dữ lắm mới phản ứng như vậy.
 
Ban giám đốc bèn cho gọi Điệp lên thuật lại những việc đã xảy ra. Sau khi Điệp thuật lại mọi chuyện, tôi nói thêm:
 
-        Đối với người Việt Nam cái đầu là để thờ trời đất, thờ ông bà cha mẹ. Đầu chúng tôi như cái bàn thờ tức là một nơi thiêng liêng. Cậu kia dùng trái lê đập lên đầu Điệp là một hành động xúc phạm làm ô uế nơi thiêng liêng. Điều này đôi khi có thể dẫn tới việc giết nhau chớ không phải chỉ đánh nhau mà thôi. Tôi hoàn toàn thông cảm được phản ứng của Điệp.
 
Nghe nói vậy mọi người hiểu ra và công nhận đó là một sự xúc phạm nặng nề. Điệp cũng bày tỏ sự ân hận, xin lỗi cha mẹ cậu kia nhưng đồng thời tôi cũng yêu cầu cậu kia phải xin lỗi Điệp vì đã vô tình làm ô uế nơi Điệp thờ ông bà cha mẹ. Ban giám đốc đồng ý, nên sau khi lành bịnh cậu bịnh nhân Pháp đã tới xin lỗi Điệp, hai bên làm hòa với nhau và Điệp khỏi bị đuổi.
 
Sau chuyện đó, mỗi lần có sinh viên Việt Nam nào bịnh nặng hay có việc cần, ông bác sĩ giám đốc đều mời tôi lên bàn bạc. Chẳng hạn có một sinh viên đang đi học thì bị bịnh nên khủng hoảng tinh thần vì không biết tương lai sẽ ra sao, em uống thuốc tự tử nhưng được cứu sống. Có hai trường hợp như vậy trong bịnh viện, bác sĩ giám đốc gởi hai em này luân phiên tới ở chung với tôi vì phòng tôi có hai giường. Bác sĩ rất mừng thấy chỉ sau thời gian ngắn cả hai lại tìm được niềm vui sống. Tuy cũng là bịnh nhân nhưng tôi lại tiếp tay với bác sĩ đem lại sự bình tĩnh trong tâm hồn những người bịnh khác.
 
Mang bịnh nặng nhưng lúc nào tôi cũng lạc quan vì cho rằng nếu cứ lo nghĩ hoài sẽ không thể nào bình phục được. Thay vì lo nghĩ, tôi để ý coi việc uống thuốc có đem lại kết quả hay không để góp ý với bác sĩ. Ngoài ra tôi tìm việc làm để quên đi căn bịnh của mình. Công việc của tôi lúc đó là nghiên cứu âm nhạc Việt Nam, một mặc để soạn luận án tấn sĩ, mặt khác tìm hiểu âm nhạc truyền thống của dân tộc mà lâu nay tôi đã phản bội nó khi hướng theo âm nhạc phương Tây. Làm công việc này như đi trên biển cả hay vào rừng sâu. Trên mặt biển, ta muốn đi đến chân trời, mà càng đi tới chân trời càng xa, nhưng không phải vì vậy mà ta không đi nữa. Vào rừng sâu thì phải cẩn thận từng bước chân, phải đốn cây nhổ cỏ để vạch một con đường mòn. Mà thú vị thay, khi đi trên biển tầm mắt ta mở rộng, khi vào rừng sâu gặp bao hoa thơm cỏ lạ chưa ai thấy được trước mình. Công việc đó trường kỳ, không biết bao giờ mới xong, mà cũng không ai bắt buộc mình phải hoàn thành trong một thời gian cố định. Nhờ mải lo tìm tòi nghiên cứu mà tôi tạm quên căn bịnh của mình.
 
Thời gian đó tôi thường xuyên viết thơ cho cậu Nguyễn Tri Khương của tôi. Hàng tháng tôi đều nhận được thơ cậu, ngoài việc biết được tin tức gia đình, tôi còn nhận được những bài học rất quí giá. Cậu Năm kể về những nhạc sĩ cùng thời với cậu, nhắc đến từng người cùng với sở trường của họ về các loại đờn. Tất cả những bức thơ này tôi vẫn còn giữ cho đến nay. Đây là tài liệu rất quí và sinh động liên quan đến lịch sử âm nhạc truyền thống thời kỳ đầu thế kỷ 20 cũng như giai đoạn đầu tiên của âm nhạc tài tử tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang).
 
Tôi vừa điều trị bịnh vừa chuyên tâm lo công việc của mình mà không bị bắt buộc lúc nào phải hoàn thành, nhờ vậy mà có được sự thoải mái, tâm hồn thanh thản.
 
Nhưng mặc dầu ráng vận dụng ý chí và nghị lực như vậy, không phải lúc nào tôi cũng giữ được niềm lạc quan. Đôi khi lòng cũng hoang mang, nhứt là thời gian bịnh trở nặng, tai bị điếc vì sử dụng Streptomycine quá nhiều. Lúc đó bác sĩ buộc phải tiêm thuốc P.A.S trị bịnh lao nhưng rất hại cho bao tử, cho uống thêm Rimifon là loại thuốc trị lao mới, sử dụng hầu hết các loại thuốc hiệu nghiệm nhứt có trong bịnh viện lúc bấy giờ để điều trị cho tôi. Phần mình tôi hy vọng sẽ qua khỏi mặc dầu niềm tin này thỉnh thoảng trộn lẫn với nỗi hoang mang. Buồn nhứt là đôi khi bác sĩ muốn trấn an người bịnh, khuyên bịnh nhân chịu khó uống thuốc, chỉ đôi ba tháng rồi sẽ được bình phục. Nhưng đôi ba tháng nầy kéo dài thêm đôi ba tháng khác, tôi có cảm giác như không bao giờ căn bịnh chấm dứt.
 
Tháng 2 năm 1952 tôi được đi phép bốn ngày đến tỉnh Bordeaux để ăn Tết với sinh viên Việt Nam. Tôi ở đậu nhà anh Lê Văn Thả, một sinh viên sắp tốt nghiệp kỹ sư. Anh mướn một căn phòng rộng rãi nên cho tôi tá túc. Bữa sau tôi đến chơi nhà một sinh viên khác là anh Tô Phương Trung, có cô em gái tên Tô Ngọc Dung hát rất hay. Một người anh khác của Dung là Tô Phương Hiếu biết đờn mandoline, trước đây sáng tác bài hát Tỉnh ngộ cùng với Lưu Hữu Phước.
 
Tối đó Ngọc Dung làm món gà xé phay đãi mọi người, chúng tôi cùng nhau đờn ca vui vẻ đến quên hết giờ giấc. Khi sực nhớ thì đã quá mười một giờ đêm, thấy có trở về giờ cũng không vô nhà anh Thả  được, vì bà chủ nhà có lệ quá 10 giờ đêm sẽ không mở cửa. Đêm đó tôi ngủ lại nhà anh Tô Phương Trung.
 
Sáng hôm sau tôi đã trở về nhà anh Thả, vừa tới cửa đã thấy bà chủ nhà đứng trên lầu khoát tay ra hiệu đừng vô. Tuy không hiểu gì nhưng thấy tình hình có vẻ bất thường nên tôi bỏ đi. Sau đó mới biết nhà anh Thả đang bị cảnh sát Pháp canh chừng còn anh thì bị bắt lúc năm giờ sáng, bị kết tội làm rối trị an của nước Pháp rồi bị trục xuất về miền Nam Việt Nam cùng với anh Phạm Huy Thông. Nếu đêm hôm trước tôi trở về đây chắc cũng bị bắt và biết đâu cũng chịu số phận như anh Thả! Đúng là tôi luôn luôn có quới nhơn phò hộ.
 
Mùa hè năm 1952 tôi lại đi phép lần nữa. Thỉnh thoảng bịnh viện vẫn cho bịnh nhân đi chơi vài ngay cho khuây khỏa chớ nếu ở liên tục trong này lâu ngày dễ bị xuống tinh thần. Tôi về Paris chơi đúng vào lúc anh Nguyễn Trọng Thu đang bắt tay vào việc lồng tiếng Việt cho một phim của Pháp có tựa đề Tarzan nổi giận. Đây là công việc rất mới mẻ thời bấy giờ. Anh Thu đang tìm người lồng tiếng cho vai Rokov, khi tôi vô làm thử thì giọng rất phù hợp và đúng với tinh thần của nhân vật nên được nhận.
 
Anh Nguyễn Trọng Thu đang học ngành dược, trong thời gian đó anh làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống mà công việc anh thích nhứt là lồng tiếng Việt cho phim ảnh. Sau khi tốt nghiệp tấn sĩ dược, anh học thêm các môn khoa học tự nhiên, sinh học, y học rồi thi đậu hai bằng tấn sĩ nữa. Trong một dịp khác tôi sẽ nói rõ hơn về những công trình nghiên cứu rất đặc biệt của anh trong nhiều lãnh vực. Đây là một người bạn rất tốt và chúng tôi giữ mối giao hảo cho đến tận bây giờ.
 
Tarzan nổi giận là phim đầu tiên được lồng sang tiếng Việt. Anh Khai đóng vai tarzan, vai này chỉ cần rú lên và nói mấy tiếng “um ga oa” thôi. Chị Lệ Vân đóng vai cô Jane. Tôi đóng vai Rokov phải nói nhiều nhứt.
 
Trong dịp này tôi cũng gặp lại một người bạn là anh Đặng Trần Vận lúc đó đang học kỹ sư về âm thanh. Năm 1941 hồi còn học ở Hà Nội anh Vận ở sát bên nhà tôi trọ tại đường Jacquin. Sau khi rời Hà Nội chúng tôi không gặp lại nhau cho đến khi tình cờ tái ngộ trong dịp làm phim. Anh Vận ngâm thơ điệu sa mạc rất hay, tôi học được của anh bài thơ Anh Khóa mà sau này tôi vẫn thường biểu diễn nhiều nơi trên thế giới.
 
Có việc làm vừa vui vừa được chút tiền lại quen thêm nhiều bạn nên chuyến đi nghỉ phép một tuần tại Paris rất thú vị đối với tôi.
 
Tết năm 1953, nỗi buồn nhớ quê hương nặng trĩu trong lòng, tôi gởi gắm tâm trạng trong bài hát tựa là Xuân khói lửa theo hơi Xuân trong nhạc cổ, nhạc và lời viết theo lối mới, để nhớ về quê hương còn đang chìm đắm trong chiến tranh.
 
Xuân đã về hôm nay
 
Xuân thấm nhuần cỏ cây
 
Xuân lan tràn sông núi
 
Xuân mang về nguồn sống tươi vui
 
Xuân trở lại, Xuân đi
 
Xuân có cần biết chi!
 
Xuân vô tình với Việt Nam
 
Nên khắp bốn phương trời, rền tiếng súng kêu vang.
 
Đoạn sau nhắc đến cảnh khói lửa, người chinh phụ đợi chinh phu và mọi người chung sức đấu tranh để sau đó là:
 
Ngày mai Xuân sáng tươi
 
Toàn dân hát ca vui cười
 
Toàn non sông sẽ vang tiếng trống chiêng
 
Người Việt Nam sẽ phá tan gông xiềng
 
Vui tưng bừng! Hát vang lừng
 
Cờ bay phấp phới
 
Trong mùa nắng mới
 
Tiếng reo hò chen lẫn tiếng quân ca
 
Xuân sẽ làm rộn rã cả lòng ta
 
Trong bịnh viện có đờn piano, tôi vừa đờn vừa hát vô máy ghi âm. Đây là máy ghi âm đầu tiên trong đời tôi, mua lại của một người bạn để thâu âm những bản đờn tranh, đờn cò trong thời gian làm luận án và thỉnh thoảng ghi âm những bài tôi đờn piano nhạc mới.
Sau Tết năm đó, mặc dầu tôi cố giữ niềm lạc quan cũng như được bác sĩ tận tâm chữa trị nhưng bịnh tôi ngày càng nặng và thêm biến chứng. Kết quả xét nghiệm nước tiểu cho thấy có nhiều vi trùng lao, thận bên mặt bị lủng một lỗ lớn ở vùng chíng giữa, ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bọng đái bị vi trùng lao tấn công đã xơ cứng. Bác sĩ quyết định cắt bỏ thận bên mặt để khỏi lây qua thận trái, trấn an tôi là trái thận còn lại sẽ làm việc bằng hai. Sau này, khi anh Nguyễn Trọng Thu làm luận án tấn sĩ về sinh học, đề tài anh chọn – tình cờ trùng hợp với bịnh trạng của tôi – nghiên cứu tình hình vận hành của trái thận còn lại, đã chứng minh lập luận của ông bác sĩ hồi đó là đúng. Tôi có đi dự buổi bảo vệ luận án này của anh.
 
Tôi không có cách lựa chọn nào khác, chỉ xin bác sĩ cho đi phép một thời gian trước khi giải phẫu để được khuây khỏa. Tôi mượn chiếc Lambretta của anh Đào Tiến Hỷ là bạn học cũ rồi cùng với mấy người bạn đi viếng nhiều nơi dọc miền Nam nước Pháp.
 
Anh Hỷ và tôi có một kỷ niệm khó quên thời đi học trường Thuốc ở Hà Nội. Lần đó anh phản ứng với giáo sư người Pháp tên Joyeux vì ông ta có thái độ khinh miệt sinh viên Việt Nam. Tôi chứng kiến cuộc tranh luận này, anh Hỷ đối đáp với ông thầy rất chững chạc, tuy tranh cãi gay gắt nhưng không hề có lời lẽ nào vô phép. Sau đó ông thầy yêu cầu nhà trường đuổi anh. Hội đồng kỷ luật của trường họp lại, mời các giáo sư và triệu tập những người đã chứng kiến cuộc tranh cãi nói trên, do đó tôi cũng bị kêu lên. Tôi thuật lại trung thực những điều đã nghe thấy và khẳng định anh Hỷ không nói điều gì vô phép, chỉ có điều anh dùng lời lẽ cứng rắn vì không chấp nhận việc thầy Pháp khinh miệt sinh viên Việt Nam. Tôi nói rằng dầu ông Joyeux là thầy của tôi, nhưng tôi cũng không đồng ý việc ông đuổi sinh viên chỉ vì người đó muốn bảo vệ danh dự dân tộc mình.
 
Nhờ vậy mà anh Hỷ không bị đuổi học nhưng từ đó thầy Joyeux đâm ra ác cảm với tôi. Trong kỳ thi cuối năm, hầu hết các môn tôi đều đậu rất cao, riêng môn của ông tôi bị điểm 0. Lần đó ông ra đề tài Chu kỳ thụ thai là môn tôi học rất kỹ, nhưng tôi vừa sơ ý nói sai một tính từ trong câu đầu tiên, lập tức ông cho tôi điểm zéro để đánh rớt. Gặp trường hợp này các sinh viên khác đành chấp nhận rồi thi lại, nhưng tôi không chịu mà kiện lên ông Khoa trưởng là giáo sư Gaillard. Tôi cho rằng đây là một sự bất công, chỉ vì một lỗi nhỏ về văn phạm mà ông Joyeux cố tình đánh rớt tôi về chuyên môn. Ông Gaillard giải thích nguyên tắc của trường Thuốc là một khi ông thầy đã cho điểm rồi thì không thể thay đổi được. Tôi nhứt quyết nói rằng nếu vậy tôi sẽ xin thôi học. Lúc đó tôi đang là nhạc trưởng dàn nhạc của trường, được nhiều người biết đến, nên việc tôi xin thôi học như vậy sẽ làm trường bị mang tiếng, tại vậy mà ông Gaillard phải đi dàn xếp.
 
Ông thầy Joyeux tuy cho tôi điểm zéro nhưng không buộc đó là điểm triệt, nghĩa là nếu các môn khác của tôi được điểm cao, tính ra đủ điểm trung bình vẫn được lên lớp. Tuy vậy năm sau tôi phải thi lại môn của ông. Tôi cũng không đồng ý thi lại vào đầu niên khóa sau, nếu phải thi lại thì tôi đề nghị cho thi ngay trong năm đó. Ông Gaillard lại phải điều đình để ông Joyeux chấp nhận cho hai giáo sư khác ra đề cho tôi thi lại. Cuối cùng khi thi lại tôi được một thầy cho tám điểm  còn thầy kia cho bảy điểm. Cả ba điểm cộng chung chia ra trung bình tôi được năm điểm nên đậu môn này. Các môn khác tôi được điểm cao nên cuối năm tôi vẫn đứng hạng nhứt.
 
Đến khi qua Pháp anh Hỷ bị bịnh và nằm chung bịnh viện với tôi. Tôi mượn xe của anh rồi cùng đi chơi với ba người bạn là Điệp, Vĩnh và Xuân. Tôi chở Điệp còn hai người kia đi chung một xe. Trước hết chúng tôi đi thăm thành phố Lourdes (Lộ Đức) một vùng đất thiêng liêng của Thiên Chúa giáo, kế tiếp đi Bayonne, Biarritz dọc theo vùng duyên hải miền Tây Nam nước Pháp. Tôi không theo đạo Thiên Chúa, cũng không tin tưởng hay cầu xin gì khi qua vùng Lourdes. Nhưng sau đó một việc lạ lùng xảy ra mà nhiều người cho là tôi đã được ơn trên khi đi qua vùng này.
 
Chuyến đi hết sức thú vị nhưng trên đường về tôi bị tai nạn. Bữa đó trời nhá nhem tối, tôi đang chở Điệp đi trên đường bỗng bị đèn pha của một chiếc xe chạy ngược chiều rọi vào làm chóa mắt nên lạc tay lái rồi đâm vào một gốc cây. Ngay lúc té xuống tôi có cảm tưởng mình đang đứng trên võ đài bỗng nhiên bị một cú đánh mạnh vào “chớn thủy”, tai nghe tiếng trọng tài đếm một, hai, đến mười và hô “nốc ao”, trong đầu còn thoáng qua ý nghĩ mình đã bị “nốc ao” rồi lịm đi không biết gì nữa.
 
Hai chúng tôi nằm bất tỉnh bên vệ đường suốt bảy tiếng đồng hồ. Gần sáng một người đi ngang qua thấy vậy bèn chở hai đứa vào bịnh viện. Tôi bị thương trên trán, môn bị cắt một vệt, bể mắt kiếng, được báo sĩ vá môi và may vết thương. Còn Điệp thì bị thương ở mi mắt phải mổ cấp cứu, may mà không bị mù.
 
Tôi nằm tại nơi này hai ngày, trong lòng lo lắng vì sắp phải mổ thận mà lại bị tai nạn. Bịnh viện điện thoại báo cho Nhà dưỡng lao đem xe đón chúng tôi về. Bác sĩ kêu trời, đáng lẽ tuần sau chuyển tôi lên Paris mổ thận nhưng bịnh viện đành phải dời ngày mổ để bổi dưỡng trong một tháng cho tôi lại sức.
 
Khi các vết thương của tôi hoàn toàn bình phục, bịnh viện làm xét nghiệm lại trước khi lên lịch mổ. Kết quả chụp X quang khiến mọi người bất ngờ: chổ lủng trong thận trước đây không còn. Bác sĩ ngạc nhiên, cho xét nghiệm thật kỹ thêm lần nữa nhưng vẫn không tìm thấy dấu vết nào của chỗ lủng trước đây. Lạ hơn nữa là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bọng đái đã bị xơ cứng nay có dấu hiệu phục hồi. Xét nghiệm nước tiểu cũng không còn vi trùng lao, kể cả một khối u bên háng trước đây nay tự nhiên nhỏ dần rồi biến mất. Khối u này đầu tiên chỉ bằng hột đậu sau đó phát triển lớn lên bằng trái cerise, bác sĩ dự kiến khi mổ thận sẽ cắt bỏ luôn một thể vì đó là ổ tiềm ẩn vi trùng lao.
 
Hơn một tháng sau ngày bị té xe, sức khỏe tôi gần như trở lại bình thường mà không ai cắt nghĩa được tại sao. Những biểu hiện của căn bịnh trầm trọng cách đây hai tháng nay đã hoàn toàn biến mất, tất cả xét nghiệm máu đều cho kết quả tốt. Trường hợp của tôi trở thành đầu đề bàn tán trong Nhà dưỡng lao. Dưới góc độ khoa học có người giải thích do tôi vừa trải qua một “choc traumatique”, tức là bị một chấn thương tác động mạnh đến não bộ làm thay đổi cơ chế vận hành của cơ thể, máu huyết tuần hoàn điều hòa, cơ thể hấp thu tốt thức ăn khiến sức khỏe phục hồi nhanh chóng. Nhưng cũng có người nói rằng: “Biết đâu nhờ đi qua vùng Lourdes mà được ơn trên phù hộ”.
 
Triết gia Hy Lạp Socrate có dặn rằng: ”Nếu vẫn còn nghi ngại thì không nên khẳng định”, do đó tuy không dám khẳng định nhưng tôi cũng không phủ nhận giả thuyết này. Thoát được cơn bịnh hiểm nghèo một cách lạ lùng, tôi tạ ơn Đức Mẹ cũng như ơn trên đã giúp tôi khỏi phải trải qua cuộc giải phẫu cắt bỏ thận.
Đăng nhập để trả lời
0
DÙI MÀI KINH SỬ
 
Sau khi tôi hoàn toàn bình phục, bác sĩ cho phép xuất viện. Tôi được chuyển đến Paris ở tại Postcure de Seaux vào tháng 1 năm 1954. Đây là nơi dành cho sinh viên nghỉ dưỡng sức sau thời gian dài nằm bịnh viện để vừa đi học vừa được săn sóc sức khỏe, tập thích nghi dần trước khi trở lại cuộc sống bình thường. Điều này cũng giống như những phi hành gia từ trên không gian khi trở về trái đất phải ở cách ly một thời gian ngắn rồi mới trở lại sống trong môi trường cũ.
 
Tôi được phép ra ngoài mỗi tuần hai ngày nên ghi tên vào Khoa Âm nhạc ở Đại học Sorbonne, chương trình này dạy phân tách những bản nhạc cổ điển của Pháp. Tôi cũng ghi tên học môn Lịch sử Việt Nam tại Collège de France do Giáo sư Emile Gaspardone dạy, trong lớp này còn có các anh Lê Văn Sáu, Nguyễn Văn Cổn và anh Lê Thành Khôi.
 
Ông Emile Gaspardone là một người Pháp rất giỏi chữ Hán và tiếng Việt. Ông làm cả một thư mục về Việt Nam đăng trong tạp chí của Trường Viễn đông Bác cổ năm 1934, trong đó ghi lại cả ngàn cuốn sách của Việt Nam từ chữ Hán đến chữ Nôm, để tựa là Thư mục của những người An Nam (Bibliographie Annamite).
 
Lớp học này đã khai sáng cho tôi nhiều điều. Tôi thích nhứt những bài giảng của thầy Emile về danh nhân Nguyễn Trãi. Ông phân tích bức thơ Nguyễn Trãi gởi cho Vương Thông mà theo ông đáng làm kiểu mẫu cho cách viết thơ từ ngoại giao, diễn đạt được những điều mình muốn nói bằng lời lẽ vô cùng cứng rắn mà lại rất mực lễ độ. Nguyễn Trãi kêu Vương Thông bằng đại huynh, xưng là tiểu đệ, bức thơ của người chiến thắng gởi cho kẻ bại trận mà không làm cho kẻ chiến bại mất mặt hay bẽ bàng, nhờ vậy đã đem lại cho đất nước Việt Nam gần ba thế kỷ hòa bình. Ông Emile Gaspardone nhắc lại việc Nguyễn Trãi là người theo Nho học nhưng không thích viết chữ Hán mà ưa dùng chữ Nôm. Ông giảng nhiều đoạn trong Ức Trai thi tập, trong đó có đoạn Nguyễn Trãi không chấp nhận việc Lương Đăng lấy nhạc nhà Minh của Trung Quốc làm mẫu để tổ chức nhã nhạc cung đình cho triều đình nhà Lê. Trong cuốn này Nguyễn Trãi cũng có bàn về nền âm nhạc nước Việt thời bấy giờ.
 
Tôi nghe vậy mừng quá hỏi thăm thì được thầy Gaspardone cho biết những tư liệu về âm nhạc Việt Nam có ghi rải rác trong các cuốn Đại Việt sử ký toàn thơ, Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Ức trai thi tập. Đó chính là những tư liệu đầu tiên giúp tôi tìm hiểu về âm nhạc cung đình nước Việt thời Hậu Lê cũng như hiểu thêm được tâm hồn của một vĩ nhân là Nguyễn Trãi. Khi đề cập về âm nhạc với vua nhà Lê, Nguyễn Trãi đã viết : “Bệ hạ nên thương dân để cho lòng dân không còn ta thán thì chừng đó tiếng nhạc sẽ được êm dịu”.
 
Tôi vừa đi học vừa được theo dõi sức khỏe thường xuyên, hàng tháng đều có kiểm tra xét nghiệm, kết quả cuối cùng là không còn vi trùng lao trong người nữa. Đối với tôi đó là một chuyện mầu nhiệm, nhưng niềm vui không kéo dài được lâu. Bỗng nhiên tôi bị đi tiêu ra máu, bác sĩ cho biết tôi bị nội trĩ rất nặng và bị cả mạch lươn. Bác sĩ chuyên khoa tiết niệu tên Arnous xác định đây là vết thương cũ do lần tôi bị bịnh ở Lộc Ninh hồi năm xưa nay tái phát và bị nhiễm trùng.
 
Một lần nữa tôi phải lên bàn mổ và lần này phải nằm bịnh viện ít nhứt là sáu tháng. Tôi rất buồn vì cứ hết hạn nọ tới hạn kia, hết bịnh này tới bịnh khác, không hiểu mình có duyên gì với bịnh viện mà không rứt ra được, không biết đến chừng nào mới ra khỏi được Postcure này.
 
Trong bịnh viện, tôi lo học và tịnh dưỡng nên ít theo dõi tin tức thời sự bên ngoài. Một hôm, vào tháng 7 năm 1954 tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Văn Cổn báo tin Pháp đã đầu hàng Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ. Anh nói:
 
-        Vậy là bao nhiêu sĩ quan tốt nghiệp trường quân sự lừng danh Saint Cyr của Pháp đã phải chịu thua một vị tướng Việt Nam xuất thân là một giáo sư sử học chứ không tốt nghiệp một trường quân sự nào. Tôi xúc động quá Khê ơi! Tôi đọc cho Khê nghe bốn câu thơ vừa sáng tác để tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
 
Đây, Đại tướng của một dòng Đại tướng
 
Đây, tài ba trên tất cả những tài ba
 
Đây, tinh hoa nở giữa những tinh hoa
 
Đây, anh dũng nêu một đời anh dũng
 
Bốn câu thơ được anh Cổn đọc với giọng run run vang bên tai tôi từ năm 1954 cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ.
 
Anh Cổn vốn là bạn thơ của tôi, là người làm luận án tấn sĩ về cách viết chữ quốc ngữ trong đó anh chứng minh rằng ông Alexandre de Rhôdes không phải là người đầu tiên sáng tạo chữ quốc ngữ. Người đã nghĩ ra chữ quốc ngữ là ông Gaspard de Amaral, một tu sĩ Bồ Đào Nha, sau đó ông Alexandre de Rhôdes thấy hay mới nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống hóa lại và làm ra cuốn tự điển tiếng La tinh và tiếng Việt in theo vần quốc ngữ là Dictionarium lusitanum latinum annamiticum, bản viết tay nay còn để tại thư viện Latran ở Vatican. Anh Cổn có đọc qua cuốn tự điển này cùng những cuốn sách mà ông Gaspard de Amaral viết bằng tiếng quốc ngữ để truyền đạo.
 
Nghe anh Cổn báo tin tôi cũng rất xúc động. Buổi tối ngồi coi truyền hình, đài của Pháp để nhạc buồn như để tang cho nước Pháp bại trận. Những ngày này người Việt Nam tại Pháp ra đường đều hơi e ngại sợ dân Pháp tức giận vì thua trận mà hành hung mình. Trong bịnh viện may mắn không ai có thái độ thù địch gì với tôi, mặc dầu những người Pháp tại đây rất buồn. Tôi tuy vui sướng trong lòng nhưng cũng không dám lộ ra ngoài.
 
Mấy tháng cuối ở trong bịnh viện, khi vết thương gần lành, có nhiều giờ rảnh nên tôi học lái xe. Không đầy ba tuần lễ tôi đã thuộc Luật giao thông rồi đi thi lấy bằng mặc dầu lúc đó tôi chưa có xe hơi.
 
Tới tháng 10 năm 1954 tôi mới lành hẳn bịnh. Bác sĩ rất mừng vì nếu bịnh không dứt được có nghĩa là nguồn gốc do một bịnh khác như lao hay ung thư thì rất nguy hiểm.
 
Tôi ra khỏi bịnh viện, hết bịnh nhưng cũng hết tiền. Thời may được anh Huỳnh Tấn Đốc, chủ Hãng phim Vạn Ý mời hợp tác lồng tiếng cho phim vì anh biết trước đây tôi đã làm việc này. Tôi rất mừng và nghĩ rằng rõ ràng tôi luôn được quới nhơn phò hộ. Mấy năm tôi nằm bịnh viện, chi phí do Nhà nước Pháp đài thọ, chỉ phải đóng một khoản tiền rất nhỏ là một quan ruỡi một ngày mà không phải lúc nào tôi cũng có tiền để đóng.
 
Khi tôi nằm tại Bịnh viện Aire sur L’Adour, ông quản lý tài chánh của bịnh viện có cô con gái cũng đang điều trị bịnh lao tại đây. Cô sắp thi tú tài nên cha cô muốn kiếm người dạy kèm cho con. Trong bịnh viện có nhiều người đã đậu cử nhơn Anh văn, đang học tiếp để thi cao học, nhưng họ còn trẻ nên ông quản lý không muốn nhờ, có lẽ ông sợ họ chọc ghẹo con gái mình. Tôi tuy chưa có cử nhân nhưng trình độ tiếng Anh cũng khá, lại được lợi thế là lớn tuổi nhứt trong đám bịnh nhân nên ông tin cậy nhờ tôi dạy con gái ông mỗi tuần bốn giờ. Tôi được trả lương tám quan, số tiền này gần đủ trả chi phí cho bịnh viện.
 
Trong thời gian này Nhà xuất bản Tinh Hoa bên Việt Nam cho in bản nhạc Đi chơi chùa Hương do tôi phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp, sau đó có tái bản. Nhờ tiền Việt Nam lúc đó rất cao giá, một đồng bạc Việt Nam đổi được mười bảy quan (cũ) của Pháp nên tiền nhuận bút bên nhà gởi qua cũng đủ trả tiền bịnh viện.
 
Lần này mới ra khỏi nhà thương, tôi chưa có chỗ ở nên anh Huỳnh Tấn Đốc rủ về ở chung với anh. Anh mướn một căn nhà gồm một phòng ngủ và phòng khách lớn. Có thêm tôi nên anh cho treo một tấm màn chia phòng khách ra làmhai, ban ngày để rộng rãi tiếp khách, buổi tối kéo màn lại, tôi ngủ một bên còn bên kia là chỗ anh làm việc. Anh lại có chiếc xe Citroen nhưng không thích lái xe vì phải mất công tìm chỗ đậu nên anh thường đi taxi. Khi biết tôi có bằng lái anh bèn giao xe cho tôi, mỗi buổi sáng tôi đưa anh tới chỗ làm rồi được sử dụng xe cả ngày.
 
Công việc lồng tiếng này chúng tôi làm từ đầu chí cuối. Đầu tiên là dịch lời thoại ra tiếng Việt do anh Nguyễn Văn Cổn phụ trách. Trong khi dịch phải tìm đặt lời sao cho khớp với cách phát âm trong phim, phải chú ý tiết tấu câu đối thoại và tâm lý nhân vật phù hợp với hình ảnh trên phim. Anh Cổn và tôi làm tốt công việc đó nên anh Đốc rất bằng lòng.
 
Anh Đốc có liên hệ với cơ sở của Hãng Kikoine do hai anh em người gốc Do Thái làm chủ, chuyên lồng tiếng phim từ tiếng Mỹ ra tiếng Pháp, về sau hãng này mướn tôi lồng tiếng phim cho họ luôn. Tôi vừa làm vừa học, hàng tuần đều tới gặp ông thầy để xúc tiến luận án tấn sĩ.
 
Cũng trong năm 1954 tôi gặp lại Phạm Duy khi anh sang Paris. Những năm 1951, 1952 khi Phạm Duy còn đi kháng chiến, ở Pháp thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được những bài hát mang âm hưởng dân ca của anh như Mùa Đông chiến sĩ, Bên ni bên tê, Bà mẹ Gio Linh, Nhớ người thương binh… Năm 1954 Phạm Duy về thành, vẫn tiếp tục sáng tác những bản nhạc ca ngợi tiếng nói, con người và đất nước Việt Nam như bài Tình ca chẳng hạn.
 
Sang Pháp lần này, Phạm Duy vừa học sáng tác nhạc vừa ghi tên dự lớp âm nhạc mà tôi đang học với tư cách bàng thính viên, nghĩa là anh chỉ tới lớp nghe giảng chớ không dự thi lấy chứng chỉ. Thời gian này Phạm Duy bắt đầu viết trường ca Con đường cái quan.
 
Hàng ngày trước giờ tới trường chúng tôi thường đi chơi bi da điện (billard électrique). Cả hai đứa tôi đều chơi rất giỏi, bởi vậy người chủ thấy mặt chúng tôi là rầu lắm vì chỉ thu tiền được hai ly cà phê. Chúng tôi tốn 5 francs mua bi là đủ chơi suốt buổi vì cứ thắng hoài nên không phải trả tiền thêm. Một bữa Phạm Duy tới nhà tôi sớm, không chịu đi chơi bi da như thường lệ mà nói là có chuyện muốn bàn với tôi.
 
Anh cho biết đang ôm ấp ý tưởng viết một trường ca, lấy hình ảnh một thanh niên Việt Nam đi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đến địa phương nào thì nghe hát dân ca nơi đó. Tôi thấy ý tưởng này rất hay. Phạm Duy hình dung chàng trai vừa bước chân ra đi trên con đường cái quan thì một thôn nữ cất tiếng:
 
Hỡi anh đi đường cái quan
 
Dừng chân đứng lại… cho em (đây) than đôi lời
 
Đi đâu vội mấy anh ơi…?
 
Chàng bèn trả lời:
 
Tôi đi từ ải Nam Quan
 
Tôi gặp nàng Tô Thị
 

 
Đây là những lời mở đầu của trường ca Con đường cái quan mà tôi là người đầu tiên được Phạm Duy hát cho nghe vào năm 1955 tại Pháp (về sau anh đã đổi lời vài câu trong đoạn này).
 
Trở lại việc lồng tiếng, tôi làm với anh Đốc được ba phim thì anh có việc riêng phải về nước còn tôi vẫn ở nhà anh và tiếp tục cộng tác với Hãng phim Kikoine để có tiền đi học. Tôi rất vui vì công việc này tự do, giờ nào rảnh thì làm mà bận học thì thôi. Thời gian này tôi làm rất ít, cho đến mấy năm về sau mới bắt đầu làm nhiều hơn. Trong suốt thời gian soạn luận án tôi đã lồng tiếng cho cả trăm phim, có khi chỉ nói một hai câu, có khi nhận đóng vai lớn. Như trong phim Gengis Khan (Thành Cát Tư Hãn), vai Thừa tướng Kao King do tài tử James Mason đóng nói tiếng Anh, trong bản tiếng Pháp, vai Thừa tướng Kao Ling do tôi lồng tiếng. Trong năm này tôi cũng thâu những bản nhạc cuối cùng cho Hãng dĩa hát Oria.
 
Những người chủ hãng phim rất nể nang tôi, một mặt vì tôi đã quen việc nên làm mau, có lợi cho họ; mặc khác tôi lại rất cẩn thận luôn tìm hiểu kỹ lưỡng những giao ước giữa chủ và người làm công. Có lần một anh bạn than phiền phải lồng tiếng rất nhiều mà chỉ được trả 8.500 quan (cũ), tức là hãng phim tính cho anh nội dung đối thoại chỉ trong vòng 20 câu. Tôi coi kỹ và tính ra anh đã nói 21 câu, mà theo giao kèo khi lời đối thoại có từ 21 đến 50 câu phải trả 12.500 quan. Anh bạn tôi khiến nại nhưng hãng phim không đồng ý. Tôi bèn tranh luận với họ, đưa bản giao ước hợp đồng trong đó ghi rõ khi nói những tiếng chào hỏi riêng rẽ (như “Bonjour”, “Salut”, “Ca va”) không được tính thành câu, nhưng hễ cứ nói ba lần như vậy, dầu trong ba đoạn khác nhau thì được tính là một câu. Anh bạn tôi đã nói ba lần chào nên phải tính thành 21 câu chớ không thể bỏ qua được, rốt cuộc hãng phim phải trả thêm tiền cho bạn tôi.
 
Tôi ý thức rõ người chủ luôn luôn có khuynh hướng bóc lột người làm công nên nghiên cứu rất kỹ luật lệ để tự bảo vệ mình và bạn bè cùng làm chung. Chẳng hạn như trong việc sáng tác có quy định nếu một bản nhạc có dưới 16 phách (mesures) thì tiền tác quyền rẻ, nhưng trên 16 phách giá cao hơn nhiều vì được kể là một nhạc phẩm. Có lần tôi được mời đờn cò phụ họa cho một diễn viên xiệc biểu diễn vì vậy phải sáng tác một điệu nhạc phỏng theo bản Ngũ điểm, bài tạ. Người chịu trách nhiệm ghi âm tính nhịp hai theo cách ký âm nhạc phương Tây nên chỉ có 14 nhịp, tôi không đồng ý vì cho rằng đây là nhạc Việt Nam viết theo hơi Quảng nên phải tính theo nhịp một là gần 30 nhịp. Ban sản xuất phim chấp nhận lý lẽ của tôi nên trả tiền sáng tác cho một tác phẩm dài trên 16 nhịp.
 
Lần khác một anh đạo diễn rủ tôi đi ăn trưa, sau khi ăn xong đi ngang qua tiệm bán đồ cổ, anh nhờ tôi chỉ cho biết trong số những bình phong bày bán ở đây, cái nào của Nhựt Bổn, cái nào của Trung Quốc hay của Việt Nam. Tôi hỏi anh muốn biết để làm gì, anh trả lời rằng để mướn làm cảnh cho phim quảng cáo, bình phong của nước nào dùng trong phim sẽ bán cho nước đó. Tôi nói ngay:
 
-        Nếu anh muốn mua bình phong về chưng trong nhà, tôi sẵn sàng giúp anh không tính công, nhưng trong trường hợp này anh cần một nhận xét về mỹ thuật của tôi để thực hiện phim quảng cáo thì phải trả tiền cố vấn nghệ thuật.
 
Anh đạo diễn cười:
 
-        Anh chỉ nói một câu mà cũng tính tiền!
 
-        Muốn trả lời chính xác câu hỏi của anh, tôi phải tích lũy từ nhiều năm học hỏi, phải đọc qua sách vở về nghệ thuật của các nước châu Á. Hơn nữa ý kiến của tôi có lợi cho việc làm ăn của anh thì anh phải trả tiền.
 
Anh công nhận tôi có lý và đồng ý trả tôi một ngày công.
 
Năm 1955 tôi làm thêm một công việc nữa là đóng phim quảng cáo sản phẩm như giới thiệu rượu Martini, xe hơi Peugeot… Từ đó tôi bắt đầu mở rộng giao thiệp với giới làm phim.
 
Bước qua năm 1956, sau một thời gian nghiên cứu, tôi bắt tay viết bản luận án, phải vừa viết vừa đối chiếu rất nhiều tư liệu, ghi rõ xuất xứ các sách báo tham khảo. Tôi phải đọc nhiều sách chữ Hán như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định, Đại Nam hội điển sử lệ. Kiến thức hán học của tôi chưa đủ để làm công việc này cho hoàn hảo nên tìm đến xin thọ giáo với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn mỗi tuần một buổi. Gặp những chữ khó như chữ “văn” mà cụ Nguyễn Trãi thường dùng, chính Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cũng thừa nhận chữ này nghĩa rất sâu nên cẩn thận viết thơ về Hà Nội hỏi ý kiến ông Đào Duy Anh giùm tôi. Việc nghiên cứu tư liệu rất công phu và tôi luôn phải kiểm tra cẩn thận từng chi tiết.
 
Đây cũng là năm đầu tiên Bảo tàng viện Guimet mời tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam định kỳ mỗi năm một lần. Đây là Bảo tàng viện lưu trữ những hiện vật có giá trị nghệ thuật của những nước châu Á như Trung Quốc, Nhựt Bổn, Việt Nam, Lào, Campuchia, Chăm, Thái Lan… Nơi đây có cả thư viện, phòng chứa dĩa hát và băng từ ghi âm nhạc truyền thống châu Á.
 
Khi diễn thuyết tại đây tôi phải có kiến thức chính xác về âm nhạc Việt Nam, trình bày có minh họa bằng hình rọi dương bản, băng từ ghi âm, đôi khi phải đờn ca cho thính giả nghe. Nhưng mỗi buổi nói chuyện như vậy tôi chỉ được trả 5.000 quan (cũ), trong khi lồng tiếng cho phim thì thù lao cao hơn. Có phim tôi lồng tiếng cho vai người gác cửa, chỉ cần nói vài câu chào đã được trả 8.500 quan.
 
Một xã hội văn minh như nước Pháp vẫn còn có những bất công. Một người đem tất cả tâm trí và hiểu biết trình bày một vấn đề hết sức nghiêm túc về âm nhạc truyền thống Việt Nam cho những người cần tìm hiểu nghe cả tiếng đồng hồ lại được trả công không bằng công việc lồng tiếng phim chỉ nói vài câu. Nhưng dẫu sao cũng phải chấp nhận một thực tế chưa thay đổi được.
 
Tại Bảo tàng viện Guimet tôi được giới thiệu với bà Mireille Helffer, người giữ kho dĩa hát. Thấy tôi làm việc nghiêm túc nên bà đề nghị Bảo tàng viện cho tôi được giữ riêng chìa khóa kho, hàng tuần vào ngày thứ năm là ngày bà nghỉ làm việc, tôi có thể tới đây nghe tất cả các dĩa nhạc lưu trữ. Trong hai năm từ 1956 đến 1958, hàng tuần tôi đều tới nghe hết các dĩa nhạc Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và băng ghi âm nhạc của các dân tộc ít người được chuyển từ “Bảo tàng viện con người” (Musée de l’homme) về đây.
 
Thêm một lần tôi được quới nhơn phò hộ, điều mình hằng ao ước nay bỗng nhiên thực hiện được, không phải chỉ một lần mà suốt trong một thời gian rất dài. Ngày thứ năm hàng tuần tôi vào bảo tàng viện từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, mua đồ khô đem theo để ăn trưa, trong phòng làm việc đã có sẵn ấm nước có thể pha trà hay cà phê.
 
(Con trai tôi, Trần Quang Hải, từ năm 1964 cũng theo tôi tập sự công việc ghi âm hay chép tư liệu trên băng từ tại đây để làm quen với nhiều loại nhạc truyền thống dân gian hay bác học của nhiều nước châu Á. Nhờ đó sau này tôi mới mạnh dạn giới thiệu con tôi vào làm việc trong các bảo tàng viện).
 
Cũng vào năm 1956, thầy tôi là Giáo sư Jacques Chailley mở một khóa học vô cùng đặc biệt về “Sự hình thành và biến thái của ngôn ngữ âm nhạc ngoài âm nhạc châu Âu”. Nhờ vậy tôi có cơ sở để nghiên cứu về sự hình thành và biến thái của nhạc ngữ Việt Nam nhìn từ bên ngoài. Những bài học này hết sức quan trọng, cho tôi có cái nhìn khoa học và khách quan hơn về âm nhạc các dân tộc, kể cả âm nhạc Việt Nam, chớ không phải chỉ nhận thức và tin tưởng theo chủ quan. Kể từ năm đó, tôi kiểm tra lại tất cả những hiểu biết lâu nay của mình, xem xét cơ bản từ âm nhạc đến việc thành lập từng thang âm, cách thể hiện điệu thức và những biến thái của nó, nghiên cứu một cách tỉ mỉ và tường tận hơn.
 
Tôi được thầy Chailley giới thiệu vô Thư viện Quốc gia Pháp để học thêm tài liệu về âm nhạc học. Tại đây, chỉ cần điền tên quyển sách cần dùng cùng số bàn mình ngồi vào phiếu là được người của thư viện đem sách đến tận nơi, sau khi đọc xong cũng sẽ có người đem đi cất. Trường hợp muốn trở vào ngày hôm sau, chỉ cần viết giấy để lại thì nhân viên thư viện sẽ giữ sách cho mình sử dụng tiếp chớ không cất đi.
 
Tôi lui tới Thư viện Quốc gia thường xuyên và tìm thấy những bản thảo chữ Hán chép tay của Trung Quốc để nghiên cứu và đối chiếu với tài liệu của Việt Nam. Khi đọc cuốn “Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ” ghi chép tất cả những việc xảy ra trong triều đình nhà Thanh, tôi biết được sau khi Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh trong trận Đống Đa rồi lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung vào năm 1780 – cũng là năm Cách mạng Pháp – ông đã gởi một dàn nhạc và cống vật qua cầu hòa với vua Càn Long. Sách Trung Quốc ghi rõ nhạc công dàn nhã nhạc nước Việt lúc đó ăn mặc như thế nào, khăn, áo, thắt lưng màu gì, nhạc khí sử dụng hình dáng ra sao cùng thành phần dàn nhã nhạc thời kỳ Tây Sơn mà họ gọi là “An Nam quốc nhạc”. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, dàn nhạc đó được đổi tên là “Việt Nam quốc nhạc”.
 
Cũng trong năm này tôi phải thay đổi chỗ ở. Anh Huỳnh Tấn Đốc không trở qua Pháp nữa nên tôi phải rời căn nhà của anh, đang lo kiếm mướn nhà tình cờ tôi gặp anh Phạm Gia Huỳnh là một người bạn góa vợ, trước đây hay đến nghe tôi đờn hát ở tiệm Bồng Lai. Thời gian tôi nằm bịnh viện, mỗi lần được nghỉ phép về Paris chơi, anh Huỳnh thường mời tôi đi ăn cơm, thậm chí có khi anh còn bỏ tiền mua vé xe lửa cho tôi. Anh là dược sư nên mở một tiệm thuốc tây rất lớn, lại có cả một kho chứa thuốc trong căn nhà ba từng lầu ờ số 19 Đại lộ Brune tại quận 14. Từng trệt anh Huỳnh làm nơi chứa một số thuốc quí, có văn phòng làm việc và điện thoại, lâu lâu anh mới tới đây một lần vì văn phòng chánh đặt tại nhà thuốc của anh. Từng lầu hai anh cho mướn còn lầu một đang bỏ trống. Anh Huỳnh mướn một người có nhiệm vụ mỗi tuần đánh bóng cầu thang bằng gỗ. Nay anh đề nghị cho tôi ở trên từng lầu một khỏi trả tiền, đổi lại hàng tuần tôi đánh bóng cầu thang, ngoài ra khi nào anh Huỳnh cần thuốc gì tại kho thì gọi điện thoại để tôi mang tới liền. Tôi được quyền tiếp khách trong văn phòng, được sang tên thuê số điện thoại.
 
Được có chỗ ở không tốn tiền, dưới nhà lại có bàn làm việc luôn cả điện thoại, tôi vui mừng nhận lời. Từng lầu một trước đây chứa thuốc nên sàn nhà dơ bẩn, trước khi dọn về tôi phải chùi rửa sạch sẽ. Thời may một anh bạn khác tên Hiển có cơ sở chuyên lãnh trang trí nhà cửa, thấy tôi lui cui chùi nhà cực khổ anh bèn cho người đem máy tới cạo rửa và đánh bóng sàn nhà.
 
Vậy là một người bạn cho mượn nhà, một người khác đem máy móc tới làm vệ sinh, có phải là gặp được “quới nhơn” không các bạn? Tôi chỉ cần mua một cái giường để năm. Kế bên phòng ngủ là một nhà bếp nhỏ có lò ga. Tại đây không có phòng tắm nên khi cần phải tới phòng tắm công cộng ở gần nhà.
 
Tôi nhận làm thêm cho Đài phát thanh Pháp, chuyên đóng những vở thoại kịch của anh Phạm Văn Ký, người từng được giải thưởng văn chương của Hàn lâm viện Pháp. Anh Ký sáng tác mười câu chuyện về những sứ quán hay cơ sở ngoại giao đầu tiên của châu Âu thiết lâp tại châu Á, khi người Pháp bắt đầu tiếp xúc với chúa Trịnh, vua các nước Lào, Trung Quốc, Cao Miên rồi dựng thành kịch. Mỗi vở kịch đều có một nhân vật người châu Á như chúa Trịnh, vua Tàu, vua Lào và tôi được mời đóng vai này. Vai sứ thần châu Âu do các kịch sĩ chuyên nghiệp xuất thân là giáo sư của Trường Kịch nghệ Pháp đóng như Jean Marchat, Pierre Larquey. Khi nghe nói tôi tốt nghiệp trường Chánh trị thì các kịch sĩ này không đồng ý đóng chung vì cho rằng tôi không ở trong nghề, không thể nhìn qua kịch bản mà đóng tuồng cho có hồn nên sẽ làm họ mất nhiều thì giờ để tập đi tập lại. Anh Phạm Văn Ký giải thích cho họ anh cần một người biết nói tiếng Pháp theo giọng của từng nước châu Á mà tôi là người có thề nói được như vậy, đó là chưa kể tôi còn soạn nhạc dân tộc từng nước cho các vở tuồn, một mình tôi cáng đáng đủ thứ chuyện. Anh đề nghị cứ để tôi đóng thử, sau hai buổi tập dợt, các kịch sĩ đều rất hài lòng. Không những vậy các ông lại tỏ ý tiếc rằng nếu được học trường kịch nghệ thì tôi sẽ là một kịch sĩ có hạng.
 
Thời gian này tôi gặp lại cô em họ Nguyễn Trung Nghĩa, có biệt hiệu Mộng Trung, là một trong số bốn người bạn cùng tuổi con gà chơi thân với nhau hồi mùa hè năm 1938 khi tôi còn học bậc trung học. Em Nghĩa lúc bấy giờ đã có sáu đứa con, người chồng ở lại Việt Nam còn em đưa con sang Pháp để tiếp tục làm công việc của chồng là in Tự điển Anh Việt của tác giả Nguyễn Văn Không. Năm 1954 em có đến thăm lúc tôi nằm bịnh viện Postcure tại Sceaux.
 
Thấy tôi hàng ngày phải tự nấu ăn nên em dặn tôi mỗi chiều ghé ăn cơm với mấy mẹ con em cho vui, còn buổi trưa tôi ăn ở căn-tin của thư viện. Kể từ đó mỗi buổi chiều tôi được ăn ngon lại khỏi mất thời giờ nấu nướng, thay vào đó hai anh em cùng hòa đờn, tập hát. Tôi tập cho em Nghĩa đóng tuồng Tục lụy, sang năm 1957 hai anh em cùng hợp tác thâu băng cho Đài BBC.
 
Phòng tôi ở chỗ kho thuốc rất đơn sơ. Một cô bạn gái của tôi – đúng ra là một cô em “kết nghĩa” sau lần tôi giúp em thoát khỏi sự “tấn công” tình cảm của một anh chàng mà cô không thích – thường tới chơi với tôi để nghe tôi đờn hát, thấy căn phòng trống rỗng nên trang hoàng lại. Cô rất khéo tay, cắt giấy thành hình cây tre, con chim… dán bên ngoài của kiếng như những bức tranh nho nhỏ, buổi tối ánh đèn đường rọi vô, gió thổi nhẹ làm những hình ảnh này lay động lung linh. Cô lại vẽ cho tôi bức tranh một thiếu nữ đẹp, tóc cài trâm, mặc áo tay rộng, vén màn nhìn xuống chỗ tôi nằm.
 
Anh Nguyễn Văn Cổn, lúc này đã xong luận án tốt nghiệp tấn sĩ, thường tới chơi với tôi để được an cơm Việt Nam vì tôi nấu ăn rất vừa miệng anh. Tôi lấy mật ong thay thế nước dừa để kho thịt, làm dưa giá, nấu mì, toàn làm những món anh thích để đãi anh.
 
Nhìn thấy thiếu nữ trong tranh anh đặt tên là nàng Nhạc và nói:
 
-        Một hôm nào đó nàng Nhạc sẽ từ trong tranh bước ra hiện thành người thật đến thăm Khê. Tôi làm bài thơ diễn tả từ hư tới thực, bắt đầu từ 2 chữ, rồi 3, 4, 5 chữ, tới ahi câu lục bát là lúc cô hiện hình:
 
Em đây
 
Em đây
 
Em là nhạc
 
Em yêu đời
 
Em không không gian
 
Em không thời gian
 
Trăm năm em vẫn trẻ
 
Ngàn năm em vẫn xinh
 
Đêm nay em đến với mình
 
So dây nắn phím, tang tình tình tang…
 
Tôi rất thích bài thơ này nên khi anh Cổn vừa ra về tôi lấy đờn tranh ra phổ thành nhạc. Tuần sau anh trở lại, nghe bản nhạc phổ thơ anh thích quá liền sáng tác thêm một bài nữa.
 
Anh Cổn cho là nhạc sĩ đã so dây nắn phím thì nàng Nhạc phải ở lại và nói rằng:
 
Ngồi lại đây,
 
Ngồi lại đây
 
Hỡi người nghệ sĩ!
 
Cảm hứng tuyệt vời!
 
Với em đây
 
Là với em đây
 
Má bình minh vẫn thắm
 
Môi cánh đào không phai
 
Tóc em vừa gội tắm
 
Dưới ánh trăng sáng ngời
 
Ta sẽ cầm tay
 
Ta kề má ấm
 
Ta gợi nguồn cảm hứng
 
Trong tiếng nhạc mê say
 
Khi ái ân,
 
khi âu yếm
 
Khi mơ màng,
 
khi chờ đợi
 
Khi xa xôi,
 
khi gần gũi
 
Thời gian không lạnh nữa
 
Không gian không xa nữa
 
Tình tang tính, tang tính tình
 
Đêm nay em đến với mình
 
Trở về chốn cũ, có mình có em.
 
Khi anh về, tự nhiên tứ nhạc đến với tôi. Tôi phổ nhạc bài thơ này đồng thời ghi âm gởi tặng anh Cổn, anh rất thích và gìn giữ quí trọng cho tới khi anh từ giã cõi đời vào năm 1980.
 
Trong năm 1956 tôi làm thêm rất nhiều việc, vừa lồng tiếng phim, đóng kịch truyền thanh lại đóng phim quảng cáo, từ đó nhiều hãng phim biết đến tôi. Tôi được mời đóng một phim trinh thám của Pháp tựa đề là Ba chiếc thuyền trên dòng sông (La rivière des trois jonques). Tôi đóng hai vai, một vai chánh là cảnh sát trưởng và vai phụ đóng một người Tàu bán đồ cổ. Hai diễn viên chánh trong phim là Dominique Wims và Jean Gaven. Phim quay ngoại cảnh ở miền Nam Việt Nam, còn nội cảnh thâu ở phòng quay tại Pháp.
 
Tiền thù lao đóng phim chẳng được bao nhiêu nhưng cũng đủ cho tôi sống cả tháng trời. Tôi đã lồng tiếng phim, nay lại đóng phim lớn, bạn bè đều nghĩ tôi sẽ theo nghề này luôn, vừa vui vừa dễ kiếm tiền. Nhưng tôi vẫn bền chí theo đuổi luận án tấn sĩ, hễ kiếm tiền vừa đủ sống thì dầu có được mời đóng phim tôi cũng không nhận để tập trung thời giờ và công sức cho luận án.
 
Tóm lại năm 1956 là một năm hết sức phong phú trong cuộc đời tôi. Tôi được nghe nhiều dĩa nhạc trong Bảo tàng viện Guimet, được thầy cho phép một tháng hai lần tới gặp riêng để thầy trò cùng thảo luận, nhờ đó mà tôi tiến bộ rất mau. Điều đáng mừng nhứt là tôi thâu thập được nhiều kiến thức về âm nhạc nhờ cách dạy hết sức mới mẻ của thầy tôi, chú trọng đến những nền âm nhạc ngoài châu Âu, nhứt là phong cách dân gian, chớ không chỉ là những kiến thức có tính kinh điển, bác học.
 
Bên cạnh đó, trong việc kiếm sống tôi vừa làm vừa chơi lại học hỏi được nhiều điều để tích lũy vốn sống. Tất cả những công việc tôi làm chỉ là phương tiện để phục vụ cho mục đích duy nhứt tôi hướng tới là luận án về âm nhạc Việt Nam.
 
Ngoài việc dồn công sức viết luận án và làm thêm kiếm sống, tôi còn đeo đuổi một việc quan trọng nữa, không phải đối với sự học mà là đối với cuộc đời, vì công việc này thỏa mãn được một sở thích tôi vẫn ao ước từ khi còn nhỏ. Đó là làm một diễn viên điện ảnh thực thụ.
 
Lúc bấy giờ bên Anh có khởi quay một phim tựa đề Thành phố tựa như Alice (A town like Alice) phóng theo tiểu thuyết của nhà văn người Úc Neville Shute, viết về một thành phố của nước Úc tên Alice Springs trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Câu chuyện phim ghi lại giai đoạn quân đội Nhựt Bổn chiếm tất cả vùng Thái Bình Dương, cai quản và hành ạh dân bổn xứ, hà khắc đến mức đem đóng đinh người dân trên cây thập tự chỉ vì họ ăn cắp con gà của quan ba cai quản trại. Hãng phim Anh tìm người đóng vai viên đại úy Nhựt Sugaya, một người tàn ác trác tứ tuần cai quản một trại tù binh.
 
Lúc đạo diễn qua tận bên Pháp tìm diễn viên thích hợp thì tôi đang lồng tiếng cho nhiều phim nên hãng phim ở Pháp giới thiệu tôi với ông ta. Đạo diễn mời tôi qua Anh một ngày đóng thử coi có phù hợp với vai diễn không, nếu thấy được họ sẽ ký hợp đồng. Được dịp đi qua Anh chơi không tốn tiền, tôi ưng thuận liều dầu không chắc mình sẽ được giao vai diễn này.
 
Vừa bước chân xuống phi trường London tôi đã nghe loa phóng thanh thông báo: “Yêu cầu diễn viên điện ảnh Trần Văn Khê đến tại văn phòng sân bay có đại diện hãng phim đón”. Ở bên kia biển Manche tôi là sinh viên Đại học Sorbonne, qua tới bên này bỗng nhiên biến thành “diễn viên điện ảnh”!
 
Đường từ phi trường về đến hãng phim mất 50 phút, họ trao cho tôi một bảng phân cảnh ngắn để đọc trên xe, khi đến nơi sẽ đóng thử ngay. Cảnh này diễn ra khoảng năm phút, viên sĩ quan Nhựt đi từ điểm A sang điểm B, xoay người đi tới điểm C, giận dữ nói vòai câu với một người rồi bạt tai người đó, vậy là xong.
 
Tại phim trường đã có gần 30 người Nhựt Bổn đang ngồi chờ thử vai, tôi thấy khó có hy vọng tranh được với những người Nhựt chính gốc vừa rành tiếng Nhựt lại giỏi tiếng Anh. Quan sát thấy có ba chỗ ghi sẵn điểm A, B, C dưới đất, tôi liền đi thử, từ điểm A đi tám bước đến điểm B, từ đây tới C mất bảy bước. Mỗi khi người diễn viên đóng thử có một máy quay phim chạy dọc trên đường rầy để thu hình.
 
Khi thử vai, một số người Nhựt bước đi từ điểm A rồi cúi nhìn xuống đất canh chừng cho đến đúng điểm B, do đó bước đi không tự nhiên. Một số người khác có lẽ tinh thần căng thẳng nên nét mặt lộ vẻ lo sợ chớ không phải tức giận như vai diễn đòi hỏi nên cũng không đạt yêu cầu về diễn xuất. Đến phiên tôi đóng thử, người quay phim hô “stand by” là chú ý, hô tiếp “action” thì bắt đầu diễn. Tôi nhập vai liền nên vừa bước đi nét mặt đã hầm hầm sẵn sàng gây sự, từ điểm A tôi đi đúng tám bước, xoay lại bước tiếp bảy bước, cau có nói mấy câu rồi bạt tai người đối diện. Đạo diễn tới bắt tay tôi khen ngợi.
 
Sau đó đạo diễn mời mọi người, kể cả những người đã thử vai trong mấy ngày trước, yêu cầu hô một khẩu lịnh theo quân đội. Những người Nhựt Bổn này phần lớn chưa đến ba mươi tuổi, hầu hết là sinh viên và không ai từng ở trong quân đội nên không biết cách hô khẩu lịnh ra sao. Riêng tôi biết cách hô của quân đội Nhựt vì hồi năm 1941 – lúc Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ vùng Đông Dương – tôi học trường Thuốc ở Hà Nội, mỗi sáng đi ngang qua trại lính Nhựt đều nghe hô khẩu lịnh nghiêm: “Kyô – Ske”.
 
Đạo diễn chọn được năm người, yêu cầu diễn cảnh viên đại úy ra lịnh: “Đem nón và gươm ra đây” để ông đi thi hành hình phạt người dân ăn cắp gà. Những người khác nói câu này một cách bình thường, riêng tôi ra lịnh với một giọng hùng hổ, loại “giọng gan” trong “ngữ khí hát tuồng” nên cũng được khen.
 
Một tuần lễ sau khi tôi trở về Pháp, hãng phim Arthur Rank mời tôi sang Anh ký hợp đồng. Điều kiện làm việc rất thuận lợi, khi cần quay phim họ sẽ báo trước một tuần, đài thọ tiền máy bay cho tôi qua Anh ở tại một khách sạn lớn, đóng phim trong một hay hai ngày rồi về. Nếu tôi bận học thì báo trước để họ thu xếp không bị trùng với lịch quay phim. Khi biết được tiền lương tôi còn giựt mình hơn. Vì là người nước ngoài nên tôi được trả 12 bảng Anh (pound sterling) tiền ăn ở, cộng với 50 bảng Anh tiền lương mỗi ngày, trừ thuế ra tôi còn hơn 30 bảng Anh. Lúc đó một bảng Anh đổi ra được 1.200 centimes tiền của Pháp, mà mỗi bữa ăn sinh viên chỉ có 75 centimes, nghĩa là một ngày lương đủ cho tôi ăn gần 500 bữa cơm! Đó là khoản tiền rất lớn đối với tôi nên khi cầm viết ký tên trên hợp đồng lòng tôi hơi hồi hộp! Theo luật của nước Anh, tôi phải ủy quyền cho một người – ông này tên là Heller, người đã giới thiệu tôi với hãng phim – thay mặt tôi lãnh lương, đóng thuế rồi gởi số tiền còn lại qua Pháp cho tôi.
 
Tôi làm viêc cho hãng phim tổng cộng 16 ngày, vừa có tiền vừa rất vui, lại thỏa mãn mơ ước của tôi từ khi còn nhỏ muốn được đóng phim để rồi ngồi trước màn ảnh xem mình đóng tuồng.
 
Trước đó tôi đã từng đóng phim ở Pháp nhưng chỉ là một vai nhỏ, lại không được coi lúc phim chiếu ở các rạp. Còn đây là một vai khá quan trọng, phải học tuồng, tập dợt, hóa trang, nên ngẫm nghĩ lại cũng thấy lạ lùng. Tôi đang là một sinh viên ở Pháp, hàng ngày tới bữa trưa phải xếp hàng đợi tới phiên đưa thẻ sinh viên mua một dĩa cơm với giá 75 centimes, chỉ đủ chất dinh dưỡng để sống qua ngày chớ không phải ngon miệng.
 
Nay bỗng nhiên được mời qua Anh đóng phim, đi trên chuyến bay tốt nhứt có tên là “Người yêu đời” (Epicurien), vé của chuyến bay này mắc hơn các chuyến khác, trên máy bay được uống rượu champagne, được ăn ngon. Khi đến nơi xe của hãng phim đón về khách sạn Kensington Palace là một khách sạn lớn. Tôi dặn tiếp tân khách sạn đánh thức tôi lúc bảy giờ, nên mỗi buổi sáng chuông điện thoại reo và tiếng cô tiếp tân êm ái chào: “Thưa ông, đã bảy giờ rồi”. Bữa ăn sáng được đem lên tận phòng, sau đó điện thoại lại reo: “Thưa ông, có xe đến đón ông’. Ở bên Pháp tôi tiết kiệm từng đồng, qua đây mỗi ngày tiền nước cho tài xế tính ra bằng năm sáu bữa cơm sinh viên của tôi, nhưng không thể khác hơn vì “nhập giang tùy khúc”. Bên nầy quên tiền nước sẽ bị tài xế cho là mình không biết điều.
 
Tám giờ sáng xe đưa tới phim trường, tôi hóa trang và bận đồ sĩ quan. Bắt đầu từ lúc đó tôi nhập vai thành viên sĩ quan Nhựt Bổn, đến nỗi có lần ông đạo diễn kêu “ông Trần Văn Khê” tôi không để ý cứ đi tiếp, tới khi ông ta sửa lại “Đại úy Sugaya” tôi mới quay lại trả lời bằng tiếng Nhựt Bổn với giọng gây gổ làm ông đạo diễn khen rối rít.
 
Mỗi ngày làm việc từ 9 giờ sáng tới 12 giờ, buổi trưa ăn cơm và nghỉ ngơi, khoảng 1 giờ 30 tiếp tục quay cho đến 4 giờ 30, sau đó họ dọn trà cho uống, 5 giờ trở về khách sạn. Việc đóng phim có vẻ như một trò chơi khiến tôi rất vui thích.
 
Vai diễn này kể ra cũng khó đối với tôi, bản chất tôi vốn không dữ lại không quen đánh người, vậy mà tôi phải đánh hết người này đến người khác. Có lần tôi bạt tai người bạn diễn nhẹ quá, ông đạo diễn nhắc nhở phải đánh mạnh, nếu không ông ta sẽ biểu diễn đánh tôi một cái cho tôi biết được phải đánh mạnh tới cỡ nào. Hai người đóng vai đại tá đứng im chịu trận cho tôi bạt tai, không phải đánh một lần mà phải diễn đi diễn lại mấy lần, đánh xong tôi còn nhìn thấy rõ dấu tay của mình hằn trên mặt họ. Không phải chỉ mấy sĩ quan, đám tùy tùng cũng bị tôi bạt tai ráo trọi. Viên đại úy Sugaya chẳng những rất hung dữ đối với lính mà cả với phụ nữ cũng vậy, xô luôn một bà té xuống vũng bùn. Sau mỗi buổi làm việc tôi luôn luôn xin lỗi các bạn diễn.
 
Riêng tôi được hãng phim cho xe đưa đón chớ còn vài người Nhựt Bổn đóng các vai nhỏ thì hàng ngày phải đi xe buýt từ năm giờ sáng đến phim trường. Thấy vậy tôi nói họ đến khách sạn để đi chung xe với tôi.
 
Mỗi buổi sáng tôi lững thững đi từ từng lầu một xuống phòng tiếp tân khách sạn, vừa thấy tôi hai cậu người Nhựt đang ngồi chờ liền đứng bật dậy thẳng người chào nghiêm trang rồi chạy ra mở cửa xe sẵn, vì họ cũng nhập vai coi tôi là người chỉ huy. Nhiều người trong khách sạn ngạc nhiên không biết tôi là ai mà được đưa đón chào hỏi long trọng như vậy!
 
Ngoài tiền lương lãnh theo hợp đồng, mỗi ngày hãng phim cấp cho tôi 12 bảng Anh tiền ăn nên rất dư dả, nếu xài không hết thì phải đóng thuế lợi tức trên số tiền còn lại. Vì vậy nên buổi chiều tôi thường mời một hai sinh viên Việt Nam đến ăn cơm với tôi hoặc mua vé đi xem hòa nhạc để xài cho hế số tiền này.
 
Cuộc sống quả thật là một hí trường. Sống trên đời đã là sống trong một sân khấu lớn, lúc thủ vai này, khi làm vai khác, nay tôi lại phải đóng thêm một vai hết sức trái ngược với bản chất của mình. Bước vào vai mới này, cuộc sống của tôi cũng hoàn toàn thay đổi, ăn ở sang trọng, đi đâu cũng có tài xế lái xe. Tôi như sống trong một giấc mơ.
 
Phim này về sau đem qua Pháp chiếu, lấy tên là Cuộc đời tôi bắt đầu tại Mã Lai (Ma vie commence en Malaysie). Bối cảnh chuyện phim diễn ra trong một cánh rừng Mã Lai là vùng nóng nực, tù binh phải ăn mặc rách rưới, lao động nặng nhọc nên đổ mồ hôi đầm đìa. Nhưng phim khởi quay tại Anh từ mùa hè sang tới mùa thu. Trời bắt đầu trở lạnh mà diễn viên đóng vai tù binh phải đi chân không trong đất bùn, ăn bận rách rưới, kể cả cô đào chánh cũng vậy. Trời lạnh mà còn phải chịu xịt nước vô người giả làm mồ hôi. Tôi đóng vai sĩ quan nên sướng hơn nhiều, bên trong mặc áo ấm, ngoài mặc quân phục sĩ quan. Trời mùa thu bên Anh có lúc mưa lâm râm. Khi quay phim ngoài trời, đạo diễn sợ bộ đồ sĩ quan của tôi bị ướt, không đúng với thời tiết của cảnh trong phim đang lúc khô ráo nên cho người cầm dù đi theo che cho tôi, khi bắt đầu quay phim họ mới chạy ra chỗ khác. Tôi thấy rõ ràng mình gặp may, chớ nếu đóng vai tù binh biết chừng đâu sẽ bịnh trở lại. Vai tôi đóng nhẹ nhàng hơn mà lại hưởng lương lớn hơnn nhiều người khác. Nghĩ vậy mà thấy vừa vui lại vừa băn khoăn, vì mình sống một cuộc đời thật mà không thật, bản thân mình lấy cái không thật này để nuôi sống cuộc đời thật khác của mình!
 
Sau khi đóng xong phim này, hãng phim Rank đề nghị tôi qua nước Anh sống để tiếp tục đóng phim chuyên nghiệp, vì nếu tôi ở Pháp thì có hai trở ngại cho họ. Một là họ phải chứng minh rằng vai tôi đóng không tìm được diễn viên thích hợp tại nước Anh. Hai là hãng phim phải xin Chánh phủ một giấy phép hành nghề ngắn hạn cho tôi trong thời gian làm việc tại Anh, chưa kể phải đóng thuế rất cao, thiệt thòi cho cả hãng phim lẫn diễn viên. Tôi cười trả lời họ việc đóng phim chỉ là nghề tay trái, là phương tiện tôi kiếm sống còn làm luận án về âm nhạc mới là mục đích của đời tôi. Đạo diễn nghe vậy hết sức ngạc nhiên vì ông cứ đinh ninh rằng tôi là diễn viên nhà nghề.
 
Phim tôi vừa đóng được giới thiệu tại Luân Đôn, trước khi chiếu ra nước ngoài, hãng phim tổ chức một buổi lễ giới thiệu long trọng có mời chánh quyền và báo chí tham dự. Những diễn viên chánh trong phim đều phải có mặt và được yêu cầu phải mặc lễ phục. Một bần sĩ như tôi làm gì có được lễ phục (smoking) nên hãng phim phải mướn cho tôi. Theo hợp đồng đã ký, hãng phim có quyền dùng tên tuổi, hình ảnh và sự có mặt của tôi trong những chương trình quảng cáo. Phải đi thì cứ đi. Tôi bay qua Anh một ngày để dự buổi lễ, chào hỏi giới báo chí, tươi cười với mọi người, ăn uống trong các buổi tiệc rồi trở về Pháp. Tôi không vui vì mất hai ngày vô ích, tuy được hãng phim đài thọ vé máy bay nhưng họ không trả lương, phải cười cười nói nói ngoài ý muốn, cảm thấy lúc đó mình không còn là mình nữa.
 
Cuối năm 1957 hãng phim gọi điện thoại báo tin sắp có một phim lớn là Trên cầu sông Kwai (Sur le pont de la rivière Kwai) do diễn viên nổi tiếng Humphrey Boggart đóng vai chánh, sẽ khởi quay vào năm sau tại Tích Lan và muốn mời tôi đóng một vai. Tôi nghe vậy cũng thích, nghĩ bụng thời gian đó đúng vào lúc tôi hoàn thành luận án, tôi dự định sẽ đóng thêm một bộ phim nữa thôi.
 
Nhưng trong đời tôi hình như có một đấng khuất mặt linh thiêng phò hộ hướng dẫn, cuối cùng một việc bất ngờ xảy ra khiến tôi không đóng được phim Trên cầu sông Kwai: Humphrey Boggart qua đời thình lình. Hãng phim phải tức tốc chọn một diễn viên khác là William Holden để thay thế. Mỗi diễn viên có ê kíp riêng của họ, do đó William Holden chọn một diễn viên khác người Nhựt Bổn chính gốc đóng vai dành cho tôi. Vậy là tôi thoát khỏi guồng máy điện ánh rồi!
 
Bạn bè biết chuyện có người tiếc cho tôi lỡ mất một dịp may. Phần tôi lấy làm mừng vì đang lúc còn do dự nhưng chưa đủ ý chí cũng như không có lý do chánh đáng để từ chối. Nếu tôi đóng phim này không biết chừng sẽ được nổi tiếng, rồi tiếp tục được mời đóng các phim khác, lần lần biết đâu sẽ bị cuốn theo điện ảnh luôn?
 
Từ đó tôi quay trở lại với tâm nguyện của mình chớ không lạc lối qua hướng khác. Có được khoản tiền đóng phim nên sau đó tôi không cần phải tiếp tục hoàn tất luận án để kịp bảo vệ vào tháng 6 năm sau. Sau khi đóng phim bên Anh, tôi có được một số kinh nghiệm trong cuộc sống, thỏa mãn được ước vọng hồi nhỏ và từ đó về sau tôi không nhận lời đóng phim nào nữa.
 
Cũng trong năm 1957, phong trào “Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ” (Jeunesse musicale Suisse) mời tôi qua nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại 24 nơi trong vòng ba tuần lễ. Tôi chỉ đem theo cây đờn cò và đờn tranh. Tại biên giới Thụy Sĩ, đại diện của Ban tổ chức là một cô gái rất dịu dàng tên Anne Marie đón tôi và cho biết lịch trình của chuyến biểu diễn hết sức thú vị này. Họ sắp xếp cho tôi ở nhà người dân địa phương, vùng nào không có người tiếp thì mình ở khách sạn. Tôi nói chuyện về đề tài âm nhạc với đời sống người Việt Nam. Qua sự trình bày của tôi thanh niên Thụy Sĩ biết được rằng ở Việt Nam, khi mới sanh ra đứa trẻ đã được nghe mẹ hát ru, lớn lên đi làm việc đồng áng thì có câu hò, trai gái gặp gỡ trao đổi với nhau bằng đối ca nam nữ. Tôi cũng giới thiệu nhạc thính phòng với các loại đờn cò, đờn tranh cùng các làn điệu – điệu Bắc, điệu Xuân, điệu Ai. Tiếp theo âm nhạc phát triển thành nhạc mới và cuối cùng tôi ngồi trước piano đờn bản nhạc của Võ Đức Thu tựa là Bóng hoàng hôn để kết thúc buổi nói chuyện.
 
Báo chí Thụy Sĩ sau đó đăng tin với lời khen ngợi, đồng thời bày tỏ sự bất ngờ và thú vị vì từ nước Pháp láng giềng lại có một người Việt Nam đến đây giới thiệu tiếng nhạc lời ca êm ái của một đất nước xa xôi vừa trải qua chiến tranh.
 
Tại Genève, thủ đô của Thụy Sĩ, ngoài buổi nói chuyện cho phong trào thanh niên, tôi còn nói chuyện tại “Bảo tàng viện dân tộc học” trước những người nghiên cứu âm nhạc. Với đối tượng này tôi chú trọng nói thêm về đặc điểm của thang âm điệu thức. Tôi sắp hoàn thành luận án âm nhạc nên những hiểu biết về lịch sử, nhạc khí và thang âm điệu thức đã khá chính xác.
 
Chuyến đi Thụy Sĩ không được nhiều tiền như khi đóng phim bên Anh nhưng tôi lại thích thú hơn vì được nói về âm nhạc dân tộc một cách nghiêm túc, để cho người nước ngoài chẳng những hiểu được nền nghệ thuật của đất nước mà còn cảm nhận cả bề sâu tâm hồn của người Việt Nam. Khi họ đặt câu hỏi về lịch sử hoặc cần đối chiếu giữa âm nhạc Việt Nam và Trung Quốc, tôi cũng có đủ những hiểu biết để trình bày tường tận. Tuy lần này không được đi máy bay sang trọng mà chỉ di chuyển bằng xe lửa nhưng tôi rất vui gặp được những người yêu mến âm nhạc Việt Nam. Tôi cũng khâm phục khi thấy Thụy Sĩ là một nước nhỏ nhưng giới thanh niên may mắn có được một tổ chứ đứng ra mời người nơi khác tới nói cho nghe về âm nhạc. Lòng hiếu khách của họ đã cho tôi được dịp sống chung, tiếp xúc với người dân địa phương.
 
Năm này tôi chơi thân với một anh bạn học chung trường nhạc người Đài Loan tên là Hsu Tsang Houei (Hứa Thường Tuệ). (Về sau chúng tôi còn gặp lại nhau nhiều lần khi anh mời tôi tới Đài Loan dạy với tư cách giáo sư thỉnh giảng). Anh sang Pháp học nghiên cứu âm nhạc với thầy Jacques Chailley cho đến khi tốt nghiệp đại học chớ không làm luận án tấn sĩ. Anh cũng học sáng tác, chuyên sử dụng nhạc cụ phương Tây. Chúng tôi thích đi ăn cơm chung với nhau sau buổi học, cả hai đều nghèo nên thường tới Gare de Lyon nơi có bán mì giá rẻ để ăn tối. Chúng tôi lại giống nhau ở điểm thích uống rượu Tây, lâu lâu có chút đỉnh tiền thì đi uống một ly rượu thiệt ngon, thỉnh thoảng lại cùng đi nghe nhạc. Cả hai đều mong khi học xong sẽ về nước làm việc, tôi muốn phát huy âm nhạc dân tộc, còn anh thì áp dụng âm nhạc phương Tây để sáng tác một loại nhạc đặc biệt của người Trung Quốc.
 
Năm 1957 anh tốt nghiệp đại học, lúc chia tay anh nói với tôi:
 
-        Anh ở lại để hoàn tất luận án tấn sĩ còn tôi về nước. Tôi mong rằng một ngày nào đó tôi có điều kiện để mời anh qua nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại đất nước tôi.
 
Chúng tôi đi ăn bữa tiệc chia tay và nhiều năm sau đó anh Hsu Tsang Houei đã thực hiện được lời hứa. Từ giã anh, tôi trở về trong lòng hơi buồn. Cả hai chúng tôi đều mong mỏi được về phục vụ đất nước, nay anh đã toại nguyện còn tôi thì chưa. Rời quê hương năm 1949, tám năm đã trôi qua mà tôi vẫn chưa biết tương lai của mình sẽ ra sao. Thấy anh về nước, lòng tôi lại càng thôi thúc nỗi mong ước được hồi hương, nhưng là một chuyện, còn thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Ước mong này phải đến 17 năm sau – vào năm 1974 – tôi mới có được dịp “ghé” qua Sài Gòn chớ cũng chưa được về hẳn. Tới năm 1976 tôi mới chánh thức về thăm quê hương lần đầu tiên.
 
Năm 1958 có nhiều chuyện quan trọng xảy ra trong đời tôi mà ấn tượng nhứt là việc bảo vệ luận án tấn sĩ âm nhạc vào tháng 6.
 
Sau khi đóng phim ở bên Anh, tôi trích một phần tiền lương gởi về cho vợ đặt cọc mua căn nhà cho mấy mẹ con, phần còn lại tôi xài tiện tặn trong cả năm trời để khỏi phải đi làm thêm, quyết tập trung công sức vào việc hoàn chỉnh luận án. Những năm trước thông thường khi hoàn thành luận án phải in ra để gởi cho tất cả các đại học, về sau nhà trường thông cảm với các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nên cho phép sử dụng bản đánh máy chớ không buộc phải in thành sách.
 
Tôi không đủ khả năng tài chánh nên làm đơn xin phép được trình luận án bằng bản đánh máy, sau đó in ronéo thành nhiều bản (lúc bấy giờ chưa có kỹ thuật photocopy) cho đỡ tốn kém. Nhưng tôi cũng không đủ tiền mướn người đánh máy bổn chánh và quay ronéo thêm cả trăm bổn phụ để gởi cho các giám khảo, báo chí, bạn bè. Anh Hiển, người đã giúp tôi sửa sang dọn dẹp căn phòng ở nhà anh Huỳnh trước đây, lãnh phần phụ đánh máy bản thảo và rút số tiền 50.000 quan (cũ) trong sổ tiết kiệm cho tôi mượn. Vợ chồng cháu Phương – cháu gọi tôi bằng cậu – cho mượn thêm 200.000 quan (cũ), chừng đó mới đủ trang trải cho việc in ấn. Thật ra trước đó hai anh Phạm Văn Mười – chủ nhà hàng La Table du Mandarin -  và anh Nguyễn Khắc Viện – lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp – mỗi ngừoi có gởi cho tôi 200.000 quan (cũ). Tôi viết thơ cám ơn và gởi trả hai ngân phiếu để các anh giúp cho sinh viên nào gặp cảnh khó hơn tôi, vì tôi luôn cố gắng “tự lực cánh sinh” trong suốt quãng thời gian từ khi qua Pháp cho tới khi đậu xong tấn sĩ.
 
Khi trình bày luận án, nói đến đâu phải đưa ra những hình ảnh, cho nghe những bản nhạc để minh họa tới đó. Tôi nghèo quá không đủ tiền mua nên phải mượn máy đèn chiếu và máy ghi âm của vợ bác sĩ Phan Tấn Thiệt cả tuần lễ trước. Ngày trình luận án tôi mượn xe của một người cháu là nha sĩ Chánh để chở máy móc, sách vở, tài liệu tới trường Sorbonne. Một cô bạn học tên là Weber đi theo để giúp tôi trong việc gắn máy móc, sắp xếp đồ đạc, sau này chúng tôi còn làm việc chung với nhau một thời gian dài tại Đại học Sorbonne.
 
Ban giám khảo gồm ba người do ông Jacques Chailley làm chủ khảo chấm về nhạc học, ông Emile Gaspardone theo dõi về Hán học và lịch sử Việt Nam còn ông Jacques Gernet chấm về phần âm nhạc dân gian. Luận án chánh của tôi là Âm nhạc truyền thống Việt Nam gồm ba phần: lịch sử, nhạc khí và ngôn ngữ âm nhạc. Luận án phụ viết về đề tài Khổng tử và âm nhạc do chính thầy Garpardone hướng dẫn. Ngoài ra còn phần thư mục và danh sách tất cả các dĩa hát hiện có tại Pháp, thêm phần ghi chú những thuật ngữ bằng chữ Hán cho người đọc đối chiếu, tất cả là 580 trang đánh máy.
 
Đầu tiên luận án của tôi rất dài vì đi sâu vào các vấn đề kỹ thuật như tả tỉ mỉ các cây đờn mà Khổng Tử biết sử dụng như đờn cầm, đờn sắt, ống sanh… Thầy Garpardone nhìn nhận tôi làm rất công phu nhưng thầy đưa ra lời khuyên rất chí lý:
 
-        Anh phải viết ngắn gọn lại người ta mới nhận đăng lên báo hay tạp chí và như vậy sẽ được phổ biến rộng rãi. Sau này đậu tấn sĩ rồi anh hãy viết thêm vì khi đó đã có tiên tuổi rồi, viết dài bao nhiêu người ta cũng sẵn sàng đăng tải.
 
Tôi nghe lời thầy, bỏ bớt nhiều phần, tóm tắt cô đọng lại còn gần 100 trang nhưng vẫn đầy đủ ý. Trong công trình này tôi đề cập đến việc mọi người biết nhiều về Khổng Tử là một triết gia chớ ít ai biết ông còn là một nhạc sĩ, chẳng những biết đờn, biết luật về âm nhạc mà còn sáng tác được nữa. Như vậy nếu sống trong thời hiện đại Khổng Tử sẽ được gọi là một nhà nhạc học, một chuyên gia lý luận về âm nhạc và là một nhạc sĩ vừa biểu diễn vừa sáng tác.
 
Sau này bài viết về “Âm nhạc dân gian” trong luận án của tôi đề cập tới vị trí của âm nhạc trong đời sống dân gian được đăng trong tạp chí “Kỷ yếu những bài nghiên cứu về Đông Dương” (Bulletin des études Indochinoises). Ngoài ra, Tạp chí “Nước Pháp và châu Á” (France-Asie) xuất bản tại Nhựt Bổn tóm tắt lại luận án Khổng Tử và âm nhạc của tôi đăng trên số báo 183 vào mùa Xuân năm 1966. Tôi cũng tóm lược bài này đăng trong cuốn Tiểu phẩm xuất bản năm 1997 tại Việt Nam.
 
Sau khi tôi trình bày xong luận án, Giáo sư Chailley phát biểu:
 
-        Tôi lấy làm vui mừng vì thí sinh bảo vệ luận án hôm nay là một người học trò đã áp dụng một cách hoàn hảo phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ âm nhạc của tôi. Tôi hài lòng thấy học trò của mình đã chứng minh được quan điểm của tôi đưa ra là không sai, có thể làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu sau này về những loại âm nhạc không phải của phương Tây.
 
Tôi không ngờ luận án của mình đạt được điểm tối ưu với lời ngợi kheo của Ban giám khảo. Tôi được nhiều người tới chúc mừng, bắt tay khen tặng trong đó có một người Pháp cao niên nắm tay tôi nói:
 
-        Tôi không ngờ âm nhạc Việt Nam có những nét đặc thù khác hẳn âm nhạc Trung Quốc. Tôi là nhà nhạc học Roland Manuel, đang làm chủ biên cho bộ Bách khoa tự điển về lịch sử âm nhạc thế giới trong đó không có trang nào đề cập đến âm nhạc Việt Nam hết. Hôm nay sau khi dự buổi bảo vệ luận án của anh tôi mới thấy mình thiếu sót. Tôi muốn mời anh tới gặp tôi để bàn về vấn đề này.
 
-        Xin cảm ơn ông. Ngày mai tôi sẽ đến gặp ông.
 
Sau buổi trình luận án của tôi, thầy Chailley chấp nhận trả lời trên Đài phát thanh Pháp Á tại Sài Gòn về luận án tấn sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise ở Sài Gòn đăng tin tôi đậu tấn sĩ và trích lại những lời khen của thầy Chailley phát biểu trong bài phỏng vấn trên đài.
 
Thường thì những anh tân khoa thết tiệc lớn để ăn mừng, tôi đã nghèo lại còn mang nợ nên chỉ mời Ban giám khảo cùng vài người bạn thân vào một tiệm cà phê ở góc đường uống ly rượu chát để tạ ơn thầy dạy, đáp nghĩa ân sư và chia vui với bạn.
 
Tối hôm đó em Mộng Trung nấu một bữa cơm để “khao” người anh mới đậu tấn sĩ. Buổi tiệc có gia đình em Mộng Trung, anh Hiển và vợ chồng cháu Phương. Nhớ công em Mộng Trung trong suốt cả năm trời lo buổi cơm chiều cho tôi khỏi mất thời giờ đi chợ nấu ăn nên tôi có viết mấy câu thơ trong quyển luận án gởi tặng em:
 
Hôm nay luận án mới vừa xong
 
Thân mến tặng em với tấm lòng
 
Khảo cứu bao năm, nay kết quả
 
Sưu tầm mấy độ đã thành công
 
Mong đền nợ nước, bồi văn nghệ
 
Muốn đáp nghĩa nhà, rạng tổ tông
 
Đường khó, bền lòng nay đến chốn
 
Vui thay! Được phỉ chí tang bồng.
 
                                       Anh Hai Trần Văn Khê
 
Ngay hôm sau, tôi đi đến nhà Ông Roland Manuel, Chủ biên Bách khoa Tự điển Lịch sử âm nhạc.
 
Cuốn Bách khoa tự điển nói trên có tên là Encyclopédie de la Pléiade do nhà xuất bản Gallimard phát hành năm 1960. Khi gặp tôi, Ban chủ biên cho biết bộ sách sắp được in nên không thể thêm trang, do đó phải cắt bớt phần viết về âm nhạc của Nhựt Bổn, Trung Quốc, Ba Tư, Ấn Độ, Ả Rập… mỗi nước một trang, cộng lại được chín trang và nhờ tôi viết lịch sử âm nhạc Việt Nam để thêm vào đó. Tôi vừa hoàn thành luận án tấn sĩ, bỗng nhiên được mời tham gia vào việc viết cho một bộ Bách khoa tự điển về âm nhạc nên nhận lời ngay. Hơn nữa, so với nên âm nhạc rất lớn như Trung Quốc và Ấn Độ mà cũng chỉ có được hai ba mươi trang thì âm nhạc Việt Nam có chín trang cũng tạm được.
 
Về sau khi nghiên cứu cuốn Bách khoa tự điển này tôi mới nhận ra sự bất công trong việc soạn thảo. Một nền âm nhạc phong phú như của Trung Quốc mà chỉ giới thiệu khoảng 25 trang trong khi nhạc sĩ Johann Sébastian Bach lại được dành đến mấy trăm trang. Do đó nhiều năm sau, khi UNESCO mời tôi cùng với năm người nữa xem xét và nhận định lại những sách về âm nhạc đã xuất bản, tôi có phê bình về việc này. Nhờ vậy UNESCO    đưa ra đề án để thực hiện một công trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới và mời tôi vào Ban chủ biên.
 
Thế nhưng dẫu sao thì đó cũng là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam có được chín trang trong cuốn Bách khoa tự điển âm nhạc thế giới viết theo phong cách của người Việt Nam. Thật ra trong quyển Bách khoa từ điển phát hành từ đầu thế kỷ 20 do Albert Lavignac chủ biên cũng có bài của một người Bỉ là ông Gaston Knosp viết về âm nhạc Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên. Những bài viết của ông Knosp từ năm 1907 có nhiều điểm sai. Chẳng hạn ông giải thích tên đờn gọi là tỳ bà vì khi đờn phải tỳ (dựa) vào người, hoặc ông cho rằng nhạc Việt Nam lề mề buồn bã nên rất dở, còn nhạc dân tộc Khmer hay vì tiết tấu rộn rã vui hơn. Ông Knosp viết về âm nhạc Việt Nam theo cách nhìn của người phương Tây nên không chính xác, còn bài của tôi tuy chỉ có chín trang nhưng được viết theo quan điểm của người Việt Nam với các chi tiết xác thực hơn.
 
Công việc này không được trả nhiều tiền nhưng đó vừa là một vinh dự, vừa là bước đầy để sau này tôi tham gia vào những cuốn tự điển khác như Larousse. Đây cũng là một bực thang để tôi bước lên đài quốc tế trong việc giới thiệu nhạc Việt Nam qua sách báo.
 
Hơn 20 năm sau, vào năm 1981, khi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh), tôi có thuật lại việc viết chín trang trong Bách khoa tự điển của Pháp. Sau đó một thính giả tặng tôi bài thơ 60 câu ký tên Thuận Hóa để mừng tôi được sáu mươi tuổi, trong đó có mấy câu:
 
Chín trang âm nhạc đã thành công
 
Giờ được tuyên dương thật thỏa lòng
 
Nhạc sĩ kiên cường như chiến sĩ
 
Đấu tranh bằng nhạc quá uy hùng…
 
Sau khi báo chí đăng tin khen ngợi tôi đậu tấn sĩ, đài BBC cử người sang Pháp mời tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam mỗi tuần một lần trong mười phút. Tôi cộng tác với chương trình này suốt một năm, hàng tuần nói chuyện âm nhạc từ câu hò, hát ru đến đối cả nam nữ, từ nhạc thính phòng, nhạc sân khấu tới nhạc mới. Tôi nói về truyền thuyết trong âm nhạc như Trương Chi, truyền thuyết về đờn đáy, cả về lịch sử như chuyện Nguyễn Kỵ với người đào nương hay kịch Tụy lụy của Lưu Hữu Phước. Đài BBC sắp xếp cho tôi ghi âm tại phòng thâu nhạc của đài này ở Pháp.
 
Tôi nhớ lại khi học trường Chánh trị, nhà trường thường ra những đề tại lớn cho sinh viên, chẳng hạn như “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ chiến tranh thế giới thứ nhứt tới chiến tranh thế giới thứ hai”. Cả một mảng rộng lớn bao gồm không biết bao nhiêu sự kiện mà sinh viên chỉ có được một tiếng đồng hồ suy nghĩ, tổng hợp và cô đọng lại để trình bày trong vòng mười phút. Nếu nói dưới thời gian qui định thì bị chê là đề tài rộng lớn như vậy mà chưa đầy 10 phút đã hết chuyện nói, còn nói quá giờ thì bị phê bình không biết chọn lọc những yếu tố quan trọng để trình bày đầy đủ trong thời gian qui định. Do đó chúng tôi phải thường xuyên tập dợt cho việc thuyết trình những đề tài lớn trong thời gian ngắn. Nhờ vậy khi Đài BBC yêu cầu tôi nói chuyện về âm nhạc trong mười phút cho mỗi lần phát thanh thì tôi có thể làm dễ dàng.
Đăng nhập để trả lời
0